📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Viện nghiên cứu

11 trả lời, 592 lượt xem — Trang 1 / 1



Ra mắt viện nghiên cứu chính sách tư đầu tiên

14:44' 12/12/2007 (GMT+7)



(VietNamNet) - "Thực hiện các nghiên cứu và tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn về chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân... là một trong những mục tiêu của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS", TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng cho biết.
 
"Mở cửa" cho các nghiên cứu về chính sách, chiến lược
 








TS Nguyễn Quang A. Ảnh: Ngọc Lê

Theo một nghiên cứu mới đây về hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, thì ở Việt Nam hiện nay có gần 2.000 các hội, tổ chức, viện... Thành lập mới một Viện Nghiên cứu tư nhân trong bối cảnh rất nhiều viện nghiên cứu chiến lược đã ra đời, vậy điểm khác biệt của Viện IDS là gì, thưa ông?
- IDS là một viện nghiên cứu mở theo nghiều nghĩa. Về mặt tổ chức, Hội đồng Viện sẽ là một hội đồng mở, mời các nhà khoa học, doanh nhân, chính khách tham gia tùy vào thời điểm thích hợp.
"Mở" thứ hai là Viện sẽ mời các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia dưới hình thức thường xuyên hay cộng tác viên.
Viện sẽ chủ yếu hoạt động qua môi trường mạng. Các nhà nghiên cứu cùng làm việc với nhau trong một đề tài dù họ ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, New York, London, Paris hay Tokyo.
Các seminar định kỳ của chúng tôi cũng mở cho tất cả những ai quan tâm. Ngoài các seminar định kỳ, Viện IDS sẽ tổ chức các seminar bất thường khác.
 
Phát biểu trong một Hội thảo, có chuyên gia kinh tế đã cho rằng các kết quả nghiên cứu của nhiều Viện, nhiều tổ chức lâu nay vẫn bị "đắp chiếu", không có tác động nhiều đến việc hoạch định đường lối, chính sách. IDS dự định đột phá điều này thế nào?
-  Chúng tôi mong muốn sẽ là một viện nghiên cứu chính sách. Nói cách khác, những nghiên cứu của Viện là những nghiên cứu độc lập, nhằm đưa ra những khuôn khổ lý luận dựa trên nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và khu vực.
Chúng tôi sẽ dùng những khuôn khổ đó để phân tích các chính sách hiện hành trên tinh thần phê phán và xây dựng, qua đó kiến nghị các lựa chọn cải thiện chính sách. Và những kết quả đó sẽ được công bố chứ không để “đắp chiếu”.
 





Viện Nghiên cứu Phát triển (Institutes of Development Studies - IDS) gồm một nhóm các nhà nghiên cứu độc lập: TS Nguyễn Quang A, TS Lê Đăng Doanh, GS Chu Hảo, GS Tương Lai, Bà Phạm Chi Lan, GS Phan Huy Lê, Ông Trần Đức Nguyên, Ông Trần Việt Phương, GS Hoàng Tụy.
Hội đồng Viện cử ông Nguyễn Quang A làm Viện trưởng và bà Phạm Chi Lan làm Phó Viện trưởng.
Ông kỳ vọng những cơ quan hoạch định chính sách sẽ lắng nghe bao nhiêu phần trăm các cảnh báo mà chuyên gia của Viện đưa ra?
-  Đào xới vấn đề lên, khuấy động được thành một phong trào, để tất cả những người dân, trí thức, đặc biệt các trí thức trẻ có thể hiểu được, có thể tham gia là một việc rất quan trọng.
Nếu những người có trách nhiệm hoạch định chính sách lắng nghe và dùng hay tham khảo những kết quả thì rất tốt, còn nếu không, chúng tôi cũng không vì thế mà buồn. Chúng tôi mong tham gia phản biện, cảnh báo. Chúng tôi không đặt mục tiêu họ nghe mình bao nhiêu.
 
Hiện ở Việt Nam vẫn đang thiếu những tổ chức cung cấp các dịch vụ tư vấn về các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội, thậm chí các cá nhân là chính khách, doanh nhân. Viện nghiên cứu phát triển có dự tính "tiếp thị" các dịch vụ của mình để tạo nguồn thu hay không?
- Cung cấp dịch vụ cũng là một lĩnh vực mà chúng tôi đã đăng ký trong danh mục hoạt động. Khách hàng của Viện có thể là các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, các tổ chức xã hội và kinh tế, các tổ chức quốc tế.
Viện phải tự tạo nguồn thu cho mình và để mở rộng hoạt động, có tích lũy để phát triển, hoạt động như một doanh nghiệp phi vụ lợi. Nếu có lợi nhuận thì lợi nhuận đó là của Viện, để phát triển Viện, không chia cho bất kỳ ai.
 
Ông đánh giá như thế nào về khả năng "cạnh tranh"  với các viện nghiên cứu chính thống, có bộ chủ quản và được rót kinh phí để hoạt động?
- Có cạnh tranh là tốt. Chúng tôi mong muốn cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm của mình. Nhưng chúng tôi sẽ không “xin” đề tài để có kinh phí hoạt động. Bên cạnh việc cạnh tranh lành mạnh chúng tôi cũng muốn hợp tác chặt chẽ với họ, vì họ có nguồn lực, kể cả nhân lực, phong phú hơn nhiều.
 
Nông nghiệp, nông thôn sẽ là trọng tâm của năm 2008
 









GS Phạm Duy Hiển trao đổi với nhà giáo Phạm Toàn trong seminar của IDS về giáo dục. Ảnh: Ngọc Lê


Những vấn đề phát triển nào sẽ được IDS ưu tiên trong năm 2008 sắp tới?
 - Trong sáu tháng tới, chúng tôi cũng sẽ đi vào một số vấn đề trọng tâm: giáo dục đào tạo, y tế, hai hệ thống cốt tử của xã hội. Ngoài ra là hệ thống an sinh xã hội, lương bổng, trợ cấp thất nghiệp. Hoặc, chất lượng tăng trưởng kinh tế, tư duy nhiệm kỳ, tư duy cuối năm.
Cụ thể, Hội đồng Viện đã xác định 3 đề tài nghiên cứu cho đến hết tháng 6/2008, đó là: Cải cách giáo dục và y tế nhìn từ khía cạnh kinh tế học nhằm xác định những khuôn khổ cho thảo luận cải cách giáo dục và y tế. Kinh nghiệm quốc tế và khu vực, tình hình nước ta, những khuyến khích, các chính sách hay cải thiện chính sách có thể lựa chọn.
Thứ hai, một số vấn đề về nông thôn và nông dân. Trước mắt nghiên cứu vấn đề di cư từ nông thôn vào thành thị - nông dân ly hương, các vấn đề đô thị hóa khác có liên quan; các hình mẫu đã biết của quá trình di cư trên thế giới trong 200 năm qua, tình hình ở Việt Nam và các nước lân cận, những hệ lụy đô thị hóa hay đô thị hóa nông thôn, các hệ lụy xã hội, kinh tế nông thôn, v.v...
Thứ ba, về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Một số vấn đề đặt ra, như những tàn dư của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung: tăng trưởng nóng vội, hội chứng cuối năm, cuối kỳ, cuối nhiệm kỳ, thành tích số lượng. Những vấn đề chất lượng tăng trưởng và những kiến nghị chính sách hay cải thiện chính sách.
Đây là những đề tài lớn cần đến những nghiên cứu dài hạn. Sáu tháng chỉ là mốc thời gian ban đầu. Chúng tôi mong nhận được sự tham gia, hợp tác, cộng tác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài.
 
Ông vừa nói các hoạt động của Viện sẽ nhằm mục tiêu trang bị nền tảng kiến thức cơ bản cho nhiều giới, vậy có thể tiếp cận các kết quả nghiên cứu của Viện thông qua các "kênh" nào?
-  Trang web của Viện đang được xây dựng và IDS sẽ đưa kết quả nghiên cứu của mình lên đó. Chúng tôi cũng sẽ kết hợp với các nhà xuất bản, các tạp chí để phổ biến những kiến thức, hoặc qua các seminar và hội thảo khoa học.
Vậy còn hoạt động hợp tác quốc tế đầu tiên của Viện?
-  Viện IDS đã có một buổi làm việc thú vị với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kenedy School of Government, Đại học Harvard Hoa Kỳ.
Ngày 7/12 tuần trước, Viện đã tổ chức buổi seminar định kỳ đầu tiên của mình về “cải cách giáo dục nhìn từ khía cạnh kinh tế học”. Seminar đã thảo luận rất sôi nổi với những ý kiến đóng góp quý báu của các ông Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, GS Hoàng Tụy, GS. Phạm Duy Hiển, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà giáo Phạm Toàn (nhà văn Châu Diên - PV)... và sự tham gia của khá nhiều bạn trẻ. Chúng tôi cùng Nhà xuất bản Tri Thức tổ chức các seminar định kỳ vào 14h thứ sáu tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng tại 53 Nguyễn Du (Hà Nội) và hoan nghênh tất cả những người quan tâm đến dự.
Chúng tôi cũng tham gia và có báo cáo tại Hội thảo “Đổi mới tài chính dịch vụ bệnh viện” do Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế tổ chức tại Hà Nội ngày 11/12/2007.
 
Trong thành phần của Hội đồng Viện hiện chủ yếu là các chuyên gia lớn tuổi. Vậy ông có dự định thu hút những người trẻ hơn?
 
-  Chúng tôi rất muốn thu hút những tinh hoa của giới trẻ, cả trong và ngoài nước. Và tôi biết rằng họ cũng rất quan tâm đến các vấn đề về chính sách, chiến lược phát triển đất nước.
Xin cảm ơn ông.

  • Lê Nhung (thực hiện)

http://204.9.200.198/chinhtri/2007/12/759325/
 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-09 06:09:01Như Ý P>
Thứ ba 8/7/2008 -+- Ngày 6 tháng 6 năm Mậu Tý  

Viện nghiên cứu chính sách độc lập đầu tiên ở VN

[/align]


Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS- ảnh:T.SơnLần đầu tiên tại Việt Nam, một viện nghiên cứu chính sách độc lập ra đời, tập hợp những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia hàng đầu của đất nước. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng đầu tiên của Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã có cuộc trò chuyện với Thanh Niên.

* Đâu là điểm khác biệt, là lợi thế của IDS so với các viện nghiên cứu nhà nước, thưa ông?
- Có hai điểm sẽ nhìn thấy rõ nhất về Viện chúng tôi: độc lập và mở. Các nghiên cứu của chúng tôi sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất cứ ai, Nhà nước, Chính phủ, các hiệp hội, tổ chức doanh nghiệp, cá nhân nào, kể cả các nhà tài trợ cho chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn độc lập. Thậm chí quan điểm của các thành viên trong Viện cũng có thể khác nhau và chúng tôi tôn trọng các ý kiến đó. Viện sẽ không có quan điểm riêng về bất kỳ vấn đề gì.
Thứ hai, Viện sẽ là một tổ chức nghiên cứu mở về nhiều nghĩa. Về mặt tổ chức, Hội đồng Viện sẽ là một Hội đồng mở, mời tất cả các nhà khoa học, doanh nhân, chính khách tham gia tùy vào thời điểm thích hợp. Viện cũng sẽ không giới hạn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia. Mở cũng có nghĩa là nghiên cứu đa ngành, có cái nhìn đa ngành trong tổng thể phát triển.
Tôi nghĩ điểm khác biệt cũng là lợi thế của chúng tôi. Từ sự độc lập các thành viên của Viện sẽ có những tư duy mới, suy nghĩ độc lập chắc chắn sẽ ra đời những ý tưởng mới, những nghiên cứu có tính phản biện cao, tạo nên một làn sóng mới của ý kiến mới mẻ.

Viện Nghiên cứu phát triển (Institutes of Development Studies - IDS) là tập hợp một nhóm các nhà nghiên cứu độc lập: TS Nguyễn Quang A, TS Lê Đăng Doanh, GS Chu Hảo, GS Tương Lai, bà Phạm Chi Lan, GS Phan Huy Lê, ông Trần Đức Nguyên, ông Trần Việt Phương, GS Hoàng Tụy. Hội đồng Viện cử ông Nguyễn Quang A làm Viện trưởng và bà Phạm Chi Lan làm Phó viện trưởng.



* Tại sao bây giờ mới có Viện này ?

- Thực ra những Viện nghiên cứu như thế này đã ra đời từ thế kỷ trước ở các nước phát triển. Ở Việt Nam không ai cấm, nhưng nhiều người cũng mơ hồ, người ta cứ nghĩ ra đời một Viện như thế này phải xin phép rất khó khăn. Tôi nhấn mạnh: lâu nay có những quyền mà người dân không biết. Những việc pháp luật không cấm thì người dân hoàn toàn có thể làm. Có thể việc ra đời Viện này cũng là một dấu hiệu cho thấy người dân còn có rất nhiều quyền mà chưa được sử dụng đến.

* Ông đánh giá khả năng cạnh tranh của Viện thế nào?
- Tôi vốn là một người mê cạnh tranh. Chúng tôi ủng hộ cạnh tranh, nền khoa học Việt Nam chưa có nhiều sự cạnh tranh, chúng tôi muốn sự ra đời của Viện thực sự là một sự cạnh tranh với các viện của Nhà nước. Có cạnh tranh thì khoa học Việt Nam mới phát triển, mới hiệu quả và chất lượng được nâng cao. Viện sẽ là một dạng "think tank" (viện nghiên cứu chính sách phổ biến ở các nước phát triển).

* Có lẽ khó khăn lớn nhất của các ông là tiếp cận thông tin?
- Đúng vậy, là một tổ chức độc lập, đó là một bất lợi cho chúng tôi trong việc tiếp cận thông tin. Nhưng chúng tôi không quan tâm và không cố gắng tiếp cận những bí mật quốc gia, những thông tin bị cấm. Chúng tôi muốn những loại thông tin không thuộc loại trên phải được công khai, để chúng tôi có quyền tiếp cận. Chúng tôi đang tính đến việc vận động để cho ra một luật về cung cấp thông tin công khai cho người dân. Đó là quyền chính đáng của công dân được tiếp cận thông tin chính thức từ Nhà nước.

* Hoạt động trước mắt của Viện, thưa ông?
- Trước mắt, chúng tôi sẽ tiến hành các hội thảo định kỳ trong tuần thứ nhất và tuần thứ ba của tháng, mở cho tất cả những ai quan tâm. Ngoài ra sẽ có các hội thảo bất thường. Viện cũng sẽ liên kết với các phương tiện truyền thông, nhà xuất bản để công bố các nghiên cứu của mình.
Viện IDS đã có một buổi làm việc thú vị với nhóm tác giả của nghiên cứu "Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam" của trường John F.Kennedy School of Government, Đại học Harvard Hoa Kỳ.
Ngày 7.12, Viện đã tổ chức buổi seminar định kỳ đầu tiên của mình về "cải cách giáo dục nhìn từ khía cạnh kinh tế học". Chúng tôi cùng Nhà xuất bản Tri Thức tổ chức các seminar định kỳ vào 14 giờ thứ sáu tuần thứ nhất và tuần thứ ba hằng tháng tại 53 Nguyễn Du (Hà Nội) và hoan nghênh tất cả những người quan tâm đến dự. Chúng tôi cũng tham gia và có báo cáo tại hội thảo "Đổi mới tài chính dịch vụ bệnh viện" do Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế tổ chức tại Hà Nội ngày 11.12.2007.

* Ông kỳ vọng thế nào vào tương lai của Viện?
- Chúng tôi phấn đấu sẽ phát triển thành một viện nghiên cứu chính sách lớn mạnh ở Việt Nam trong việc thực hiện các nghiên cứu và cung cấp dịch vụ về chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các cá nhân trong cũng như ngoài nước. Khuôn khổ lý luận sẽ dựa trên nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và khu vực để phân tích các chính sách hiện hành trên tinh thần phê phán và xây dựng, qua đó kiến nghị các lựa chọn cải thiện chính sách. Và những kết quả đó sẽ được công bố chứ không phải để "đắp chiếu". Đào xới vấn đề lên, khuấy động thành một phong trào, để tất cả những người dân, trí thức tham gia, đặc biệt là trí thức trẻ.

* Đâu là những ưu tiên trước mắt của Viện?
- Trong 6 tháng tới, chúng tôi cũng sẽ đi vào một số vấn đề trọng tâm: giáo dục-đào tạo, và y tế - hai hệ thống cốt tử của xã hội. Ngoài ra là hệ thống an sinh xã hội, lương bổng, trợ cấp thất nghiệp, chất lượng tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, Hội đồng Viện đã xác định 3 đề tài nghiên cứu cho đến hết tháng 6.2008. Thứ nhất là cải cách giáo dục và y tế nhìn từ khía cạnh kinh tế học, kinh nghiệm quốc tế và khu vực, các khuyến nghị chính sách. Thứ hai, một số vấn đề về nông thôn và nông dân; trước mắt nghiên cứu vấn đề di cư từ nông thôn vào thành thị, các vấn đề đô thị hóa khác có liên quan; các hình mẫu đã biết của quá trình di cư trên thế giới trong 200 năm qua, tình hình ở Việt Nam và các nước lân cận, những hệ lụy đô thị hóa hay đô thị hóa nông thôn, các hệ lụy xã hội, kinh tế nông thôn... Thứ ba là chất lượng tăng trưởng kinh tế và những kiến nghị chính sách.

 Như Nguyễn (thực hiện)


Theo Thanh Nien Online

[size=-2]Cập nhật: December 20 2007 12:57:08.[/size]


http://vnthuquan.net/diendan/http://www.tinvietonline.com/0/0/2007/12/205440/]tp://www.tinvietonline.com/0/0/2007/12/205440/[/align] [/align] [/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
 










TOẠ ĐÀM: Toạ đàm ngày 04-07-2008: Báo cáo điều tra các dịch vụ ngân hàng Việt Nam
[30/06/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
Thời gian: 14h ngày 04-07-2008 tại Hội trường tầng 3 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Hai chuyên gia Lê Trọng Nhi và Nguyễn Văn Sơn sẽ trình bày: "Báo cáo điều tra các dịch vụ ngân hàng Việt Nam".






GIỚI THIỆU: Thông báo Danh sách Thành viên Hội đồng Viện IDS
[19/06/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS xin thông báo Danh sách thành viên Hội đồng Viện:






TOẠ ĐÀM: Toạ đàm ngày 20-06-2008: Giáo dục - đào tạo
[16/06/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
Thời gian: 14h ngày 20-06-2008 tại Hội trường tầng 3 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Gs Hoàng Tuỵ sẽ tiếp tục trình bày về chủ đề: Giáo dục - đào tạo.






TOẠ ĐÀM: Toạ đàm ngày 06-06-2008: Giáo dục - đào tạo
[25/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
Thời gian: 14h ngày 06-06-2008 tại Hội trường tầng 3 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Gs Hoàng Tuỵ sẽ trình bày chủ đề: Giáo dục - đào tạo.






GIỚI THIỆU: Nhận ra sai lầm là tiền đề của đổi mới
[14/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]






3 vị khách mời và nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trong cuộc Bàn tròn trực tuyến ngày 9/5Chính phủ đã nhận ra những sai lầm, yếu kém của mình thể hiện trong báo cáo trước QH. Biết rõ sai lầm, điềm tĩnh tìm ra giải pháp có thể là tiền đề cho một bước đổi mới, nhảy vọt hơn. Hãy biến những khó khăn hiện nay thành động lực để quyết liệt cải cách thể chế đi trước cải cách kinh tế, đưa đất nước bước sang giai đoạn phát triển cao hơn - Ý kiến chung của TS Nguyễn Quang A, Trần Đức Nguyên và Nguyễn Trung trong cuộc trực tuyến chiều 9/5.

VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc trực tuyến này.







GIỚI THIỆU: Vượt bão: Cởi chiếc áo chật của cơ chế
[14/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]






Các vị khách mời tại buổi trực tuyến chiều 9/5Không vì khó khăn mà nao núng, chúng ta cần nhận ra yếu kém, thành tâm, và đủ quyết tâm khắc phục khó khăn, bình tĩnh nhìn ra đây là cơ hội cải tổ sâu sắc hơn, phù hợp với đòi hòi của tình hình, đưa đất nước vượt lên. Hơn lúc nào hết, cần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, của cả hệ thống chính trị, các chuyên gia phát biểu trong buổi trực tuyến kéo dài gần 2h.






GIỚI THIỆU: Trực tuyến: Chung sức vượt bão
[14/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
15h30 chiều nay (9/5), mời độc giả cùng tham gia bàn tròn trực tuyến với các chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A, Trần Đức Nguyên, Nguyễn Trung về chủ đề: Các vấn đề kinh tế xã hội 2008: Chung sức vượt bão.






GIỚI THIỆU: Nói với thế hệ trẻ
[12/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]






TS Lê Đăng Doanh - Thành viên IDSTốt nghiệp đại học mới chỉ là cơ sở để mở đầu cuộc đời của người cán bộ nghiên cứu. Có bằng tiến sĩ cũng là bắt đầu con đường nghiên cứu khoa học. Hãy ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Học để làm việc, làm người, làm cách mạng. Học để phục vụ nhân dân”.






TOẠ ĐÀM: Toạ đàm ngày 16-05-2008: Vấn đề nông thôn và nông dân từ hướng tiếp cận xã hội học
[11/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]
Thời gian: 14h ngày 16-05-2008 tại Hội trường tầng 3 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Gs Tương Lai sẽ trình bày chủ đề: Vấn đề nông thôn và nông dân từ hướng tiếp cận xã hội học.

Sau đây là đề cương trình bày được gửi tới văn phòng:






GIỚI THIỆU: Kiếm tìm "sức đề kháng" của văn hoá nông thôn
[08/05/2008 - INSTITUTE OF DEVELOPMENT STUDIES]






GS Tương Lai - Thành viên IDS... "Ở các nước công nghiệp phát triển, càng ngày người ta càng hiểu ra rằng “nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn và sản xuất nông nghiệp mà còn đảm nhiệm những chức năng mà thành phố không đáp ứng được”. Trong đó có vấn đề bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống, gìn giữ và khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các giá trị nhân văn và tài nguyên con người, các giá trị, truyền thống lịch
 
http://www.vnids.com/modules.php?name=News&amp;file=categories&amp;catid=3



📎 1nc
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-10 04:12:32Như Ý P>
07 Tháng 7 2008 - Cập nhật 14h58 GMT
Vai trò của Viện nghiên cứu IDS
[/align] 



Ông Nguyễn Quang A cho rằng Viện ông làm việc hiệu quả và xây dựng

Viện nghiên cứu chính sách tư nhân đầu tiên của Việt Nam hay còn gọi là Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) trong thời gian gần đây đã thu hút nhiều sự chú ý của giới quan tâm chính trị - thời sự trong và ngoài nước.
 
[/align]Đây là cơ quan nghiên cứu chiến lược theo mô hình think-tank của nước ngoài đầu tiên ở trong nước, tập trung nhiều trí thức hàng đầu Việt Nam.
Thế nhưng cũng có tin một số cơ quan quản lý và chuyên môn của nhà nước cho rằng Viện có những nghiên cứu không phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước.
Một số người trong đó cho rằng Viện IDS đã hoạt động vượt qua chức năng đăng ký được cho phép của mình và do vậy cần thu hồi giấy phép của IDS.

Phỏng vấn ông Nguyễn Quang A
[/align]

TSKH. Nguyễn Quang A, Viện trưởng của IDS trong cuộc trả lời phỏng vấn với BBC Việt ngữ hôm 07/7/2008 nói:
"Tôi cũng có nghe người ta kháo nhau như vậy. Và chúng tôi thì không quan tâm đến các tin đồn".
Tuy nhiên, ông Quang A cũng cho biết, ông và các đồng nghiệp thuộc Ban lãnh đạo của Viện đã chuẩn bị sẵn tâm thế trong trường hợp tin đồn trở thành sự thực, tức là khi Viện của ông bị yêu cầu đóng cửa.
Nhà kinh tế học xuất thân từ một chuyên gia công nghệ điện tử này nói:
"Nếu chúng tôi làm cái gì mà có vi phạm quy định của luật, thì phải xử lý theo luật.
''Nếu họ xử lý đúng thì phải bàn với nhau, còn nếu họ xử lý không đúng, họ muốn làm việc trái pháp luật, thì chúng tôi phải kiện họ thôi. Bất luận họ là ai!".

Xã hội dân sự
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được thành lập vào cuối năm 2007 tại Hà Nội. Đây là một Viện nghiên cứu 100% tư nhân và do các nhà khoa học, các thành viên sáng lập tư nhân, góp vốn xây dựng.





Chuyên gia UNDP cho biết các tổ chức dân sự có thể góp tiếng nói xây dựng

Viện trưởng Nguyễn Quang A cho BBC Việt ngữ biết từ khi thành lập đến nay, Viện đã tổ chức được 15 cuộc Toạ đàm khoa học về chính sách, chiến lược trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế tới giáo dục, y tế, thể chế v.v...
Viện hoạt động trên cơ chế độc lập và mở. Độc lập cả về quan điểm nghiên cứu tới cơ chế tài chính, không chịu sự ảnh hưởng của bất cứ ai, kể các nhà nước, các hiệp hội, doanh nghiệp, cá nhân và các nhà tài trợ.
Trong khi đó, tính chất mở, vẫn theo người lãnh đạo Viện này, được xác định qua việc Hội đồng Viện luôn dành chỗ để mời tất cả các nhà khoa học, doanh nhân, chính khách tham gia. Các cộng tác viên khoa học có thể đến từ trong và ngoài nước.

Đánh giá về Viện IDS, TS Trịnh Tiến Dũng, Trợ lý Giám đốc Quốc gia, Trưởng phòng Quản trị Quốc gia của UNDP tại Việt Nam, trong một ý kiến cá nhân, cho BBC Việt ngữ biết:


 Mỗi một quốc gia cần nhiều tiếng nói khác nhau cho sự phát triển, miễn là các tiếng nói đó là khách quan, có cơ sở khoa học và xây dựng.
[/align] 
[/align]Jonathan Pincus, Kinh tế gia trưởng UNDP tại VN
[/align][/align]
"Tôi cho rằng những bài trình bầy các kết quả nghiên cứu mà các học giả tiến hành và đem ra chia sẻ trong khuôn khổ của Viện IDS là rất tốt."
Chuyên viên phụ trách nhiều dự án, chương trình của UNDP liên quan tới các tổ chức thuộc xã hội dân sự của Việt Nam, trong đó có các tổ chức nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ này đánh giá:

"Nó làm tăng thêm sự tiếp cận của những người quan tâm tới các cách nhìn, quan điểm, đặc biệt tới các kết quả nghiên cứu... Những diễn đàn của IDS cung cấp thêm các cứ liệu, số liệu, tình hình thực tế, nên cũng rất sát với hơi thở cuộc sống."

Trong khi đó, một đồng nghiệp khác của ông Dũng, TS. Jonathan Pincus, Kinh tế gia Trưởng của UNDP tại Việt Nam, đưa ra đánh giá cá nhân, về vai trò của các tổ chức dân sự và sự cần thiết của tiếng nói độc lập:
"Mỗi một quốc gia cần nhiều tiếng nói khác nhau cho sự phát triển, miễn là các tiếng nói đó là khách quan, có cơ sở khoa học và xây dựng. Xã hội dân sự không chỉ có vai trò trong các dịch vụ xã hội mà còn trong các lĩnh vực về tri thức và phát triển khác".

Được biết, Viện Phát triển Chiến lược IDS hiện có 12 thành viên khoa học. Chủ tịch Hội đồng Viện là Giáo sư toán học Hoàng Tuỵ.

Ngoài ông Nguyễn Quang A ra, Hội đồng còn bao gồm nhiều thành viên khoa học khác được nhiều giới trong và ngoài nước biết đến như bà Phạm Chi Lan (Viện phó), TS. Lê Đăng Doanh, PGS. TS. Chu Hảo, GS Phan Huy Lê, GS. Tương Lai, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Trần Việt Phương và các vị khác.

[/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/07/080707_nguyen_quang_a.shtml
 [/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Ông Nguyễn Quang A, thành viên HĐQT Ngân hàng ngoài Quốc doanh (VP Bank): Tôi học từ cuộc đời[/align] [/align]26/12/2007[/align] [/align]





TSKH Nguyễn Quang A -Viện trưởng IDSKhông khó để nhận ra Tiến sĩ Nguyễn Quang A trên báo chí bởi ông góp mặt đều đặn mỗi tuần trong chuyên mục “Thời luận” của báo Lao động Cuối tuần và viết trên một vài tờ báo khác.

Những đề tài thời sự nóng hổi, từ chuyện thuế thu nhập cá nhân đến Đề án 112 hay chất lượng giáo dục, đều được đề cập dưới ngòi bút sắc sảo gai góc của ông, thể hiện tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của một trí thức. Quyết liệt và rạch ròi khúc chiết trong từng câu chữ, ông soi rọi các vấn đề xã hội bằng tư duy phản biện của một nhà khoa học và vốn kiến thức của một nhà kinh doanh.

Sinh năm 1946, tiến sĩ vô tuyến điện ở Hungary, từng mở công ty tin học 3C nổi tiếng hồi đầu thập niên 1990 rồi tham gia sáng lập VP Bank, ngoài đời nhìn doanh nhân Nguyễn Quang A trẻ hơn khá nhiều so với tuổi, mặc dù cuộc đời ông đầy những biến động và cả khúc ngoặt do số phận “bẻ lái”. Song chính những trở ngại ấy đã góp phần tạo nên một tiến sĩ khoa học - doanh nhân thành đạt.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A còn là một dịch giả uyên thâm với nhiều tác phẩm kinh tế - chính trị kinh điển, như “Hệ thống Xã hội chủ nghĩa” và “Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường”.

Hình như, ông không bao giờ chịu ngồi không và ở ông không có khái niệm nghỉ ngơi. Bằng chứng là bận rộn với việc quản trị ngân hàng như thế mà ông vẫn tham gia viết báo và dịch sách. Ông không sợ bị nói là ôm đồm sao?

Tôi không nghĩ là mình ôm đồm. Làm việc là cách tốt nhất để giữ cho trí não không bị lão hóa và đầu óc tỉnh táo. Hơn nữa, công việc thường ngày của tôi, dù là ở ngân hàng hay ngồi viết báo dịch sách, cũng là phương thức để theo kịp những đổi thay chóng mặt của thời đại toàn cầu hóa ngày nay. Không làm việc cũng đồng nghĩa với sự tụt hậu và tự loại bỏ mình ra khỏi dòng chảy cuộc sống.

Ông đi du học ở Hungary từ khi còn rất trẻ và có học vị tiến sĩ chuyên ngành vô tuyến điện, từng công tác tại Viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc phòng và sau này lại trở thành một doanh nhân. Theo ông, làm khoa học hay làm kinh doanh khó hơn? Hai công việc này có hỗ trợ cho nhau không?

Cả hai công việc đều khó (cười). Bởi vì mỗi công việc đòi hỏi một kỹ năng khác nhau nhưng vẫn hỗ trợ cho nhau. Nếu làm một nhà kinh doanh hiểu biết về khoa học thì điều này sẽ giúp cho mình về mặt tư duy và tính toán. Những người làm khoa học tự nhiên có một phẩm chất là luôn luôn nghi ngờ bởi vì không có lý thuyết nào được coi là vĩnh viễn hay tuyệt đối đúng cả. Người ta tìm mọi cách để nghi ngờ lý thuyết ấy và tìm cách lật đổ nó. Như vậy, tính nghi ngờ vốn có của một nhà khoa học là rất bổ ích trong công việc kinh doanh, vì trong kinh doanh ẩn chứa vô vàn rủi ro. Đứng trước mỗi quyết định, đặc biệt có liên quan đến chuyện tiền tệ, thì càng phải biết nghi ngờ.

Vì vậy, việc lựa chọn, lật đi lật lại vấn đề, xem phương án này, nghiên cứu phương án kia… tất cả những yếu tố này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc ra quyết định. Và nghi ngờ là một đức tính cần thiết và có ích cho công việc kinh doanh trên thương trường.

Tại sao ông quyết định rẽ sang lĩnh vực ngân hàng khi đã lăn lộn trong ngành công nghệ thông tin và ít nhiều thành công?

Có lẽ phải quay lại thời điểm cách đây khoảng 14, 15 năm, khi VP Bank ra đời vào năm 1993. Tôi cho rằng, lúc đó ở nước ta, tuy có các tổ chức được gọi là ngân hàng thương mại nhưng thực sự chưa phải là ngân hàng. Từ năm 1975 đến khoảng những năm 1991-1992 không có hoạt động ngân hàng thực sự cho nên kể cả những người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng thì đại bộ phận cũng không biết gì về ngân hàng và kinh doanh ngân hàng.

Chúng tôi cũng không biết gì về ngân hàng ở thời điểm đó nhưng vẫn nghĩ làm ngân hàng là hay, có nhiều triển vọng và tôi cùng với một số anh em doanh nghiệp mới thành đạt có chút ít vốn liếng bắt tay thành lập ngân hàng vì nghĩ rằng mình có khả năng. Chỉ có thế thôi chứ không có lý do gì đặc biệt cả.

Tôi là một người làm khoa học kỹ thuật, nghiên cứu lĩnh vực xử lý thông tin và tôi rút ra một điều rằng toàn bộ hoạt động của ngân hàng cũng chỉ xoay quanh việc xử lý thông tin, làm việc với thông tin mà thôi. Bản thân đồng tiền cũng chỉ là một dạng thông tin đặc biệt. Tưởng rằng khoa học kỹ thuật và tiền tệ khác xa nhau một trời một vực nhưng thực chất, chúng lại có cái gốc rất giống nhau.

Nghe thì đơn giản nhưng không phải ai làm khoa học cũng có thể trở thành một chuyên gia ngân hàng được, nhất là nghề này ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất cao. Ông có nghĩ rằng mình là người đặc biệt với những phẩm chất đặc biệt?

Tôi chỉ là người bình thường. Không có gì đặc biệt hay phẩm chất vượt trội nào cả. Chỉ có điều, tôi tự học và đọc rất nhiều. Thực sự là rất nhiều. Có lẽ đó là cái mà chúng ta hay gọi là bí quyết chăng?

Chưa kể ông còn là dịch giả và nhà báo.

Tôi quan niệm thế này. Trong một thế giới biến đổi không ngừng một cách siêu tốc như trong “thế giới phẳng” mà chúng ta đang sống, phải tự trang bị và chuẩn bị cho mình đầy đủ để có thể thích nghi với nhiều mặt của cuộc sống. Phải tự thay đổi mình, một cách nhanh nhất có thể, trong các lĩnh vực và bắt buộc bản thân tự học hỏi, tự trau dồi để thành công trong những lĩnh vực đó. Khi bạn tự ép mình làm một công việc trên cơ sở sự đam mê và lòng kiên nhẫn thì khả năng thành công sẽ cao.

Vậy thời gian một ngày ông phân chia ra sao để giải quyết bao nhiêu công việc?

Tôi dậy từ sớm, xem tin thế giới trên CNN và BBC, rồi đến cơ quan làm việc. Tôi vẫn làm việc từ 8 giờ sáng đến 7-8 giờ tối hàng ngày. Ngoài công việc ở ngân hàng, tôi dành thời gian để đọc sách báo, tán gẫu với bạn bè, đi nhậu.

Đi nhậu?

Đúng. Tôi có khả năng chơi với nhiều loại người. Có thể nhậu vỉa hè với những người bình dân hoặc vào những chỗ rất sang trọng với giới doanh nhân hay với báo chí, văn nghệ sĩ. Tôi tự nhận mình là người khá dễ tính.

Và ông học được gì từ nhiều bạn bè như vậy?

Một người dù giỏi đến bao nhiêu vẫn có thể học rất nhiều từ người khác, thậm chí cả những người không có điều kiện học hành nhiều. Học từ sách vở cũng quan trọng nhưng học từ trường đời có khi còn quan trọng hơn. Tôi cũng học nhiều từ cuộc đời.

Ông tham gia dịch những cuốn sách được viết bằng tiếng Anh thuộc dạng khó như Thế giới phẳng của Thomas Friedman, Giả kim thuật tài chính và Xã hội mở của George Soros… nghe nói đó là do nỗ lực tự học. Điều này có đúng không?

Đúng là tôi tự học tiếng Anh. Nhưng để dịch được một cuốn sách tiếng Anh, nhất là loại sách mà tôi chọn thì khả năng tiếng Anh không thôi chưa đủ. Nó đòi hỏi nhiều yếu tố khác nhưng tựu trung lại vẫn là lòng say mê, tinh thần kỷ luật và ý chí. Còn kiến thức thì tự trang bị cho mình theo kiểu “năng nhặt chặt bị”. Tôi cho rằng, các bạn trẻ ngày nay đang đứng trước cơ hội rất lớn để học hỏi từ Internet, kho kiến thức khổng lồ của nhân loại. Tất nhiên là phải biết sàng lọc thông tin và tiếp cận một cách khoa học.

Thế giới phẳng là cuốn sách thứ 13 mà ông đã dịch trong tủ sách SOS2 của ông. Nên hiểu về tên gọi của tủ sách này như thế nào, thưa ông?

Nhiều người cũng hỏi tôi về tên gọi SOS2 này. Đây không phải là “cấp cứu” như nghĩa tiếng Anh của từ viết tắt “SOS” mà chúng ta đã biết. Đơn giản, đây là chữ viết tắt của từ tiếng Anh “Social Operating System”, nghĩa là “Phần mềm hệ điều hành xã hội”.

Xã hội mà chúng ta đang sống, về cơ bản, cũng giống như một hệ thống máy tính, phức tạp và nhiều tầng nấc. Bộ phận quan trọng nhất là phần mềm (software), là nội dung và hệ điều hành của máy tính chứ không phải là phần cứng.

Tương tự, trong xã hội, phần mềm chính là hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế, các nguyên tắc và quy định cũng như các phong tục tập quán, nền văn hóa. Những phần mềm của xã hội, tuy không hữu hình, không chạm tay vào được, nhưng thực chất lại điều khiển và ràng buộc ứng xử của con người trong xã hội.

Tủ sách của tôi, SOS2, bao gồm những cuốn sách viết về “phần mềm” trong xã hội, với nhiều nội dung về kinh tế, chính trị, xã hội… Đơn giản, tôi chỉ là người góp sức để các tác giả nổi tiếng thế giới đến với độc giả Việt Nam.

Khi “chạm” vào kho tàng tri thức mênh mông của nhân loại ấy, ông tìm thấy gì qua những trang viết mà những bộ óc lớn như George Soros gửi gắm? Phải chăng là sự thôi thúc phải học nhiều hơn nữa?

Đúng vậy. Làm bất cứ việc gì tôi cũng muốn làm một cách cẩn thận. Làm đến nơi đến chốn. Nghĩa là phải học. Tôi không hiểu biết gì về ngân hàng khi tham gia thành lập VP Bank ư? Vậy thì tôi phải đọc không biết bao nhiêu sách và tài liệu về ngân hàng. Ngoài lĩnh vực này, còn rất nhiều vấn đề liên quan đến kinh tế, chính sách của nhà nước, thuế, lạm phát… Tôi cũng phải học tất tật những vấn đề đó. Cách học tốt nhất là đọc sách. Đọc càng nhiều càng tốt.

Tôi đọc nhiều lắm nhưng trong số những tác phẩm đó, tôi lựa chọn ra những cuốn nào tâm đắc nhất thì tôi đào sâu hơn nữa bằng cách dịch ra tiếng Việt, trước hết cho bản thân tôi là chính, để phục vụ việc học. Sau đó, tôi thấy những cuốn sách đó có thể có ích cho người khác thì tôi tìm cách xuất bản để giới thiệu rộng rãi cho bạn đọc. Tôi muốn chia sẻ với bạn đọc.

Có ý kiến cho rằng, sự phát triển kinh tế ở nước ta trong những năm gần đây tiến lên rất nhanh nhưng ngược lại, văn hóa và đời sống tinh thần của một bộ phận dân cư, nhất là trong giới trẻ, lại bị tụt hậu khá xa. Ông nghĩ gì về nhận định trên?

Tôi không nghĩ thế. Theo tôi, lớp trẻ bây giờ rất thông minh và hiểu biết rất rộng. Chúng ta hãy lạc quan về thế hệ này, mặc dù, thang giá trị của các bạn trẻ bây giờ có thể khác ngày xưa. Chỉ có điều, xã hội phải định hướng tốt cho thế hệ trẻ, hướng các em đến những việc làm có ích và khuyến khích các em học hành tốt.

Vậy ông có đồng ý rằng các tổ chức đoàn thể, hội thanh niên chưa làm tròn nhiệm vụ của mình trong việc tạo ra những không gian vui chơi lành mạnh và bổ ích cho học sinh, sinh viên?

Tôi cho rằng, chừng nào các tổ chức đoàn thể vẫn chưa được trao nhiều quyền trong hoạt động, chưa được tự chủ hành động theo đúng chức năng và vai trò của mình trong khuôn khổ quy định của pháp luật thì chừng ấy không thể giúp ích gì nhiều cho giới trẻ. Suy rộng ra, các tổ chức này phải có tiếng nói lớn hơn trong xã hội, không chỉ trong việc giáo dục thanh niên, mà còn trong nhiều nhiệm vụ khác.

Yếu tố căn bản hình thành nên xã hội dân sự chính là sự tự nguyện. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là chúng ta phải nhanh chóng đề ra cơ chế chính sách hợp lý nhằm khuyến khích các tổ chức thực hiện tốt hơn và nhiều hơn vai trò, vị trí của họ.

Theo ông, vai trò của xã hội dân sự ở nước ta hiện nay như thế nào?

Các tổ chức của xã hội dân sự ngày càng có vai trò mạnh hơn trong đời sống, đặc biệt là với sự bùng nổ của Internet, chúng sẽ khác xa mấy năm trước đây. Điều quan trọng mang tính cấp bách là Nhà nước phải xây dựng luật về hội để quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của các hội, hiệp hội. Làm được điều này, các hội và hiệp hội chắc chắn sẽ phát huy sức mạnh và gánh vác nhiều việc thuộc về xã hội dân sự mà hiện nay nhà nước đang phải làm.

Giờ chúng ta hãy nói một chút về Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhưng dưới góc độ một nhà báo. Những trang viết dám nói thẳng, nói thật, đôi khi đụng chạm đến nhiều chủ đề khá gai góc có phải là tiếng nói gan ruột của một kẻ sĩ Bắc Hà?

Tôi không dám nhận mình là một kẻ sĩ. Tôi chỉ nhìn những vấn đề bức xúc trong cuộc sống và tìm cách gợi mở qua những bài báo và thử đưa ra cách giải quyết. Ý kiến mà tôi đưa ra chưa chắc đã đúng nhưng ít nhất để khơi gợi trong người đọc một cách suy nghĩ khác. Mục đích của tôi chỉ đơn giản là chia sẻ suy nghĩ, khuyến khích sự trao đổi, tranh luận để ngõ hầu góp được điều gì đó cho đất nước. Tôi không có mục tiêu cao siêu gì qua những bài viết đó.

Ông có thường xuyên nhận được phản hồi và những lời khen chê từ bạn đọc về các bài viết của mình không?

Tôi nhận được khá nhiều ý kiến từ bạn đọc, cả những người không quen biết. Cũng có những ý kiến tán thành và phản đối. Tôi cũng email trao đổi với họ.

Tham gia viết bài với tư cách là một chuyên gia, chắc hẳn ông có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhà báo. Ông nghĩ gì về vai trò của nhà báo trong xã hội Việt Nam ngày nay?

Nhà báo có vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển của một đất nước. Báo chí Việt Nam ngày càng chuyên nghiệp hơn. Các nhà báo, nhất là nhà báo trẻ, cũng rất sắc sảo và năng động.

Lời khuyên của ông cho các nhà báo trẻ là gì?

Một số nhà báo trẻ, tiếc thay, vẫn bộc lộ lỗ hổng về kiến thức. Điều này rõ ràng hạn chế rất nhiều công việc làm báo của họ. Tuy nhiên, nếu họ chịu khó học hỏi từ đồng nghiệp, những người đi trước và đọc nhiều hơn nữa thì lỗ hổng này sẽ được lấp đầy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, với Internet, nhà báo đã được trang bị một công cụ tìm kiếm thông tin vô cùng hữu hiệu. Nếu biết cách khai thác, nhà báo có thể tìm được rất nhiều thông tin hữu ích.

Không ít người cho rằng Internet, bên cạnh tác dụng tích cực của nó, cũng góp phần làm cho văn hóa đọc không được chú ý như trước đây nữa. Nhưng thật ra văn hóa đọc không thể chết đi, bằng chứng là rất nhiều sách, trong đó có sách dịch của ông, vẫn được tái bản đều đặn và được đón nhận nhiệt tình tại các hiệu sách.

Anh nói đúng. Dù sao, Internet cũng chỉ là một phương tiện, còn văn hóa đọc vẫn có vai trò rất quan trọng với con người. Nó không thể mất đi được.

Như vậy, muốn văn hóa đọc, kể cả báo và sách có chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc, bản thân người viết cũng phải lao động nhiều hơn và lao động một cách nghiêm túc để tạo ra những tác phẩm thực sự hấp dẫn?

Đúng vậy. Bạn đọc sẽ không quay lưng lại với báo chí và sách nếu người viết tạo ra những món ăn tinh thần thực sự có chất lượng.

Vậy ông đọc như thế nào?

Có đến 80% thời gian trong ngày tôi dành để đọc. Đọc quan trọng lắm, vì khi đọc ta phải lắng lại để nghiền ngẫm, suy nghĩ.

Theo ông, mỗi người nên nhìn nhận sự thất bại như thế nào?

Phải coi đó là chuyện bình thường và nhanh chóng quên đi.

Xin cảm ơn ông![/align]

Thành Trung
 
(Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế: “Tôi chỉ là người bạn đồng hành của doanh nhân”[/align]26/12/2007[/align] [/align]





Bà Phạm Chi Lan -Phó Viện trưởng IDSBa mươi bảy năm gắn bó với ngành thương mại, rồi làm Phó chủ tịch VCCI, ba năm ở trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, đã nghỉ hưu nhưng bà Phạm Chi Lan vẫn miệt mài lao động, đọc sách, tham gia các dự án nghiên cứu để góp sức cho đất nước, cho doanh nhân.
 

Người phụ nữ mảnh mai ngoài lục tuần vẫn duy trì đều đặn lịch làm việc từ 8-10 giờ mỗi ngày, các hội thảo kinh tế, thương mại lớn luôn thấy bà xuất hiện với tư cách một chuyên gia kinh tế nhiều kinh nghiệm. Bà cũng là người bạn đồng hành sát cánh với giới doanh nhân, sẵn sàng tư vấn, chia sẻ với họ những lời khuyên, kinh nghiệm.

Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với bà Phạm Chi Lan diễn ra trong một buổi chiều muộn tại căn nhà riêng của bà, sau khi bà vừa trở về từ một cuộc họp. Giữa không gian thoáng đãng dịu mát màu xanh của thiên nhiên, bà đã mở lòng mình, thật giản dị và gần gũi…

* Một ngày làm việc dài như thế mà thật ngạc nhiên là bà chẳng có vẻ mệt mỏi gì. Đã hơn 60 tuổi, bí quyết nào giúp bà giữ được sự bền bỉ, dẻo dai?

- Tôi không có bí quyết nào, chỉ đơn giản là làm việc với lòng say mê, và tôi cũng quen với cường độ làm việc cao từ hồi còn công tác ở VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam). Về hưu, mình có thể chủ động hơn để sắp xếp thời gian, dành cho gia đình, công việc, rồi chuyện bếp núc. Làm việc đều đặn, tổ chức công việc một cách khoa học là cách giữ sức khỏe tốt.

* Say mê công việc, hết lòng vì sự phát triển của doanh nhân Việt Nam, bà là người có nhiều điều kiện tiếp xúc, trò chuyện và hiểu rõ họ, trong mắt bà, bức tranh về giới doanh nhân được phác họa như thế nào? Họ đã được xã hội nhìn nhận đúng hay chưa?

- Tôi nghĩ có lẽ một trong những thành tựu lớn chúng ta đạt được trong những năm gần đây qua công cuộc đổi mới, cải cách kinh tế là hình thành nên một đội ngũ doanh nhân mới. Trên thực tế, khi nói tới những thành tựu của Việt Nam, chúng ta hay đề cập đến lĩnh vực kinh tế nhưng tôi cho rằng quan trọng nhất là yếu tố con người.

Chính đội ngũ doanh nhân mới này, tuy chưa được đề cập đến nhiều, vai trò của họ chưa được đánh giá đúng mức, xã hội cũng chưa tôn vinh họ đúng mức và cả Nhà nước có lẽ cũng chưa nhìn nhận đúng mức vai trò của họ, nhưng đóng góp thực tế của tầng lớp này là hết sức to lớn. Đây chính là lực lượng quan trọng để Việt Nam có thể đi tiếp trong thời gian tới.

Nếu như trong những năm vừa qua, trong quá trình phát triển, Nhà nước vẫn có vai trò rất lớn vì đó là người tạo ra khuôn khổ cho sự cải cách và phát triển của Việt Nam và trong thời gian tới, nhà nước vẫn là người “cầm cương” sự phát triển chung của nền kinh tế, thì bên cạnh đó, đặc biệt, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp sẽ có vai trò quan trọng hàng đầu để đưa đất nước tiến lên.

Một điều đáng mừng là mặc dù trải qua rất nhiều gian truân, chìm nổi, khó khăn bộn bề nhưng tầng lớp này đã phát triển lớn mạnh và thực sự vững vàng.

* Hoạt động của Chính phủ có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Một Chính phủ thực sự cho nền kinh tế thị trường, trước hết phải biết lắng nghe và thấu hiểu những nhu cầu, nguyện vọng và khó khăn của giới doanh nhân, từ đó ban hành các chính sách phù hợp, đảm bảo quyền lợi, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho họ. Ở góc độ này, bà đánh giá * Chính phủ đã hoàn thành nhiệm vụ của mình chưa?

- Tôi nghĩ rằng, bản thân Chính phủ đã có những nỗ lực rất lớn, đặc biệt chúng ta có những người đứng đầu Chính phủ hiểu về tầm quan trọng của tầng lớp doanh nhân, từ thời các nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải. Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải trong 10 năm trên cương vị của ông đã nói rằng hai tầng lớp ông luôn coi trọng hàng đầu là nông dân và doanh nhân. Với quan điểm như vậy, ông đã có những chính sách tạo điều kiện cho việc kinh doanh của các doanh nhân.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng rất hiểu vị trí của giới doanh nhân và ông đã có những cố gắng rất lớn để cải thiện môi trường kinh doanh.

Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực của Chính phủ, mặc dù phải ghi nhận là rất đáng kể để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nước nhà, nhưng chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Nhìn vào môi trường kinh doanh hiện nay, bên cạnh những thành tích trong việc cải thiện thì vẫn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi Chính phủ phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Đi các nước xung quanh, phải nói thật là tôi rất thèm môi trường kinh doanh của họ. Nếu nước ta xây dựng được môi trường kinh doanh như ở Thái Lan, Malaysia thì chắc chắn tầng lớp doanh nhân Việt Nam còn làm được hơn rất nhiều so với doanh nhân các nước bạn.

* Tuy đã có một số chuyển biến, nhưng phải thừa nhận rằng môi trường kinh doanh ở nước ta chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, vấn nạn giấy phép con…

- Khi niềm tin vào tầng lớp doanh nhân chưa nhiều thì chúng ta vẫn còn rất nhiều công cụ của Nhà nước để hạn chế, kiểm soát thị trường và giấy phép con là một trong những điển hình. Đây là công cụ gây ra nhiều khó khăn, phức tạp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp, đối với Nhà nước đó cũng là công cụ ít hiệu quả nhất vì nó làm méo mó, tăng thêm gánh nặng cho nền hành chính.

Nó cũng tạo ra quyền lực rất lớn cho công chức làm ở những cấp thấp mà quản lý những công việc cụ thể nhưng lại không giúp cho những người quản lý ở tầm vĩ mô được bao nhiêu.

Nếu nói về cấp cao hơn, bản thân Chính phủ cũng không thể dựa vào hệ thống giấy phép con đó để quản lý thị trường, quản lý xã hội. Trong khi những người quản lý ở cấp thấp trong bộ máy chính quyền lại không thật hiểu việc, không có kỹ năng cao và gây khó khăn cho sự phát triển của thị trường.

* Vậy, chính quyền với tư cách là cơ quan quản lý cao nhất, phải làm gì để khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp làm giàu cho bản thân họ và đất nước?

- Ở nhiều nước, công thức PPP (public private partnership), tức là mô hình cộng tác giữa chính quyền và khu vực tư nhân, rất phổ biến. Đấy chính là cách xử lý các mối quan hệ. Chính quyền có vai trò hết sức to lớn trong việc quản lý vĩ mô, không ai thay thế được chính quyền. Hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không hề làm cho vai trò của chính quyền giảm đi, thậm chí còn làm cho vai trò này tăng lên trong việc kiểm soát vĩ mô và cầm cương để nền kinh tế có thể phát triển tốt.

Đồng thời, chính quyền cũng phải nhận thức được rằng tự mình không thể làm hết mọi việc cho nên phải có sự phân quyền, giao bớt việc cho khu vực tư nhân làm, đặc biệt là trong việc kinh doanh, hay cung cấp những dịch vụ cụ thể ra xã hội. Chính vì vậy, trong quan hệ này, cách tốt nhất để chính quyền làm việc được và đảm đương nhiệm vụ của mình là cộng tác tốt với xã hội.

Trong lĩnh vực kinh doanh thì hợp tác với tầng lớp doanh nhân, doanh nghiệp để thường xuyên tham vấn ý kiến của họ, lắng nghe họ và cùng bàn bạc để đưa ra cách giải quyết vấn đề. Làm được điều này, chính quyền sẽ hoạt động tốt, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ và giữ được vai trò của mình, mặt khác cũng phát huy được nguồn lực của giới doanh nhân trong xã hội.

Khi Chính phủ thực sự tham vấn, thực sự lắng nghe thì các doanh nhân, doanh nghiệp bao giờ cũng sẵn sàng chia sẻ lại và cung cấp cho Nhà nước những thông tin, ý kiến, phản hồi và gợi ý cho Nhà nước cách tốt nhất để có thể làm cho thị trường và nền kinh tế phát triển, mang lại lợi ích chung cho đất nước.

* Chính phủ đã thực sự lắng nghe, tham vấn ý kiến của những người làm kinh doanh chưa, thưa bà? Từ những ý kiến đó, Chính phủ đã cụ thể hóa thành hành động để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp chưa?

- Nếu tính theo tiêu chí những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc hay hỏi ý kiến doanh nghiệp để góp ý kiến vào quá trình xây dựng một số luật pháp, chính sách của chúng ta thì đã hơn 10 năm nay chúng ta đã phát triển cơ chế PPP. Người đầu tiên có sáng kiến tiến hành cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng và các doanh nhân và sau đó trở thành cuộc gặp thường niên chính là nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải.

Khi ông bắt đầu lên cầm quyền năm 1997, một trong những việc làm đầu tiên của ông với tư cách người đứng đầu Chính phủ là tổ chức cuộc gặp gỡ với giới doanh nghiệp. Từ cuộc gặp của Thủ tướng với doanh nghiệp thì các bộ, ngành, địa phương cũng theo cách đó để tổ chức những cuộc đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp.

Từ năm 2000 đến nay, sau khi Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống năm 1999, nguyên Thủ tướng đã chỉ đạo các cơ quan Nhà nước phải tham vấn ý kiến của doanh nghiệp trước khi đưa ra các đề xuất về những văn bản pháp quy quan trọng và các cơ quan cũng đã tiến hành theo hướng đó. Nghĩa là chúng ta đã có hệ thống tham vấn tương đối rộng rãi.

Nhưng vấn đề chính là như thế này. Trong khi tham vấn doanh nghiệp, có những nơi, cơ quan Nhà nước có thái độ rất nghiêm túc, thực sự cầu thị lắng nghe và tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp, nhưng có không ít cơ quan vẫn tham vấn theo kiểu hình thức, làm lấy lệ để được tiếng là đã làm nhưng thực tế họ không thực sự lắng nghe và tôn trọng ý kiến doanh nghiệp. Do đó, kết quả của những cuộc tham vấn đó bị hạn chế đáng kể. Hệ quả là sự cộng tác giữa cơ quan Nhà nước và khu vực tư nhân vẫn chưa tốt như chúng ta mong muốn.

Minh chứng cho thực trạng này là gặp gỡ giữa Thủ tướng và doanh nghiệp đã diễn ra được 10 năm nay rồi nhưng vẫn có một số vấn đề chưa được giải quyết triệt để, thấu đáo. Ví dụ, những thủ tục trong lĩnh vực thuế, hải quan… vẫn tồn tại, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp nói họ cảm thấy hệ thống hành chính còn phức tạp, cồng kềnh và khó khăn hơn chứ không phải đơn giản đi. Cơ chế một cửa nhưng nhiều khóa, một dấu thì doanh nghiệp phải chờ đợi rất lâu để xin dấu…

Không thể tính số lượng các cuộc gặp giữa Thủ tướng và doanh nghiệp mà phải lấy hành động cụ thể của cơ quan Nhà nước làm thước đo cho sự lắng nghe, tham vấn của họ.

* Tại các nước phát triển trên thế giới, khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế. Bà nhận xét gì về vai trò của khu vực này ở nước ta hiện nay?

- Khu vực kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng hàng đầu đối với nền kinh tế Việt Nam và không ai có thể phủ nhận được. Trong việc tạo ra công ăn việc làm, khu vực kinh tế tư nhân có đóng góp lớn nhất cho đất nước. Chúng ta thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 1999, từ năm 2000 đến nay, hơn 90% việc làm mới đã được tạo ra trong khu vực kinh tế năng động này.

Khu vực tư nhân bao gồm cả những doanh nghiệp mới được hình thành tương đối dễ dàng, thuận tiện do kết quả của Luật Doanh nghiệp, lẫn những doanh nghiệp đã thành lập trước đó nhưng bây giờ họ mới có điều kiện mở mang thêm những ngành nghề mới cho lao động đến từ nhiều địa phương trên cả nước.

Đây chính là thành quả to lớn của Luật Doanh nghiệp và cũng là sự đóng góp lớn lao của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta. Nếu xét trên những tiêu chí khác, ví dụ, đóng góp vào GDP, tỷ lệ đầu tư trong nước, các ngành công nghiệp, xuất khẩu… thì tỷ trọng kinh tế tư nhân của Việt Nam chưa bằng được các khu vực khác, như doanh nghiệp Nhà nước hay so với khu vực kinh tế tư nhân ở các nước khu vực.

Điều này thực ra rất dễ hiểu vì hạn chế rất cơ bản của kinh tế tư nhân trong việc đóng góp cho nền kinh tế chính là khả năng tiếp cận các nguồn lực của họ còn bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố. Việt Nam có rất nhiều thứ vẫn thuộc về sở hữu Nhà nước, mà Nhà nước lại phân bổ nhiều hơn cho các doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng, như đất đai chẳng hạn.

* Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu, trong khi nước ta đã gia nhập WTO và sự cạnh tranh chắc chắn sẽ ngày càng quyết liệt hơn. Bà nghĩ sao về điều này?

- Việt Nam phải tiến hành mở cửa dần thị trường theo những cam kết khi vào WTO. Rõ ràng, việc mở cửa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh nhiều hơn. Nhưng hãy nhìn sự việc này ở khía cạnh tích cực chứ không nên lo lắng quá. Bản thân cạnh tranh cũng tạo ra động lực để doanh nghiệp Việt Nam, cả khu vực tư nhân lẫn Nhà nước, phát triển mạnh mẽ hơn. Môi trường kinh doanh, vì thế, sẽ được cải thiện, tạo một sân chơi bình đẳng dựa trên các luật lệ để tất cả các thành phần kinh tế cùng phát triển. Doanh nghiệp nào mạnh sẽ chiến thắng và ngược lại. Cạnh tranh sẽ buộc tất cả các loại hình doanh nghiệp phải đổi mới, phải vượt lên chính mình. Không có cách nào khác. Không có sự bảo hộ hay ưu đãi nào có thể giúp được doanh nghiệp.

* Bà luôn theo sát giới doanh nhân trong suốt sự nghiệp của mình và có nhiều lời khuyên quý báu dành cho họ. Bà kỳ vọng gì vào doanh nhân Việt Nam? Ước mơ lớn nhất của bà?

- Ước mơ lớn nhất của tôi là chúng ta sớm hoàn thiện thể chế thị trường, có được một môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh và mang tính chất mở để cho mọi doanh nhân và mọi người dân đều có quyền kinh doanh bình đẳng, góp phần tạo nên một đội ngũ doanh nhân mạnh về chất lượng và đông đảo về số lượng. Xã hội nào càng có đội ngũ doanh nhân đông đảo, mạnh mẽ bao nhiêu thì xã hội đó càng phát triển bấy nhiêu.

Nhìn vào giới doanh nhân hiện nay, tôi thực sự rất kỳ vọng vào tương lai đất nước. Họ trẻ trung, tài giỏi, dám nghĩ dám làm, năng động, dù phải đối mặt với nhiều thách thức song họ đang đứng trước những cơ hội to lớn chưa từng thấy. Tôi có niềm tin vô cùng to lớn vào đội ngũ doanh nhân nước ta, vì nhìn vào tất cả những khó khăn mà họ đã vượt qua, có thể tin chắc rằng họ sẽ làm tốt hơn nhiều lần hiện nay nếu chúng ta tạo ra một môi trường tốt hơn cho họ.

* Nếu có một doanh nhân tìm đến xin lời khuyên của bà, bà sẽ khuyên họ điều gì?

- Tôi sẽ khuyên họ hai điều. Thứ nhất, phải biết liên kết chặt chẽ vì chỉ có liên kết và hợp tác mới có thể thành công được. Thứ hai, phải biết sáng tạo, nghĩ ra những sáng kiến mới, làm những điều chưa ai làm, khai phá những thị trường mới chưa có người mở. Chọn cho mình một con đường và dũng cảm theo đến cùng bất chấp mọi khó khăn. Đấy chính là một phẩm chất ở doanh nhân hiện đại.

* Nhiều người nói rằng, tiếng nói của bà có ảnh hưởng rất lớn đến giới doanh nhân…

- Thực tâm tôi tin rằng tôi cũng chỉ là một hạt cát nhỏ bé, một người bạn đồng hành lâu nay vẫn đi cùng với họ thôi. Điều hạnh phúc nhất là tôi cảm nhận được mình được họ tin, quý và sẵn sàng chia sẻ. Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng cảm thấy mình sẽ phải làm nhiều việc hơn cho họ và những đóng góp của mình vẫn còn nhỏ bé lắm vì còn biết bao người khác đóng góp nhiều hơn tôi. Tôi không nghĩ rằng mình làm được điều gì to tát cả. Cái vui nhất là tôi coi đó là sự nghiệp suốt đời mình và có lẽ tôi là một trong số ít người theo đuổi đến cùng mục đích của mình.

* Làm việc với nhiều chuyên gia kinh tế giỏi của nước ngoài cũng tạo cho bà nguồn động lực to lớn để làm việc?

- Quả thực, có cơ hội tiếp xúc, làm việc với người nước ngoài, tôi càng thấy mình phải nỗ lực hơn để có thể đóng góp nhiều hơn cho quê hương. Đất nước ta còn nghèo quá, ra bên ngoài, sự khác biệt càng rõ hơn. Tôi làm việc cũng vì động lực này.

* Ngoài công việc xem ra cũng rất nặng nề, bà nghỉ ngơi ra sao?

- Tất nhiên, tôi không chỉ biết có công việc (cười), mà vẫn là một người yêu thích nội trợ. Tôi sắp xếp công việc để dành thời gian chơi với ba đứa cháu nội, rồi đọc sách, đi xem triển lãm tranh, nghe nhạc. Buổi sáng tôi đưa cháu đi học. Thỉnh thoảng đi du lịch.

* Xin cảm ơn và chúc bà sức khỏe![/align]

Thành Trung
(Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)
 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Ra mắt viện nghiên cứu chính sách tư đầu tiên[/align]26/12/2007[/align] [/align]





"Thực hiện các nghiên cứu và tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn về chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân... là một trong những mục tiêu của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS", TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng cho biết.

"Mở cửa" cho các nghiên cứu về chính sách, chiến lược


* Theo một nghiên cứu mới đây về hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, thì ở Việt Nam hiện nay có gần 2.000 các hội, tổ chức, viện... Thành lập mới một Viện Nghiên cứu tư nhân trong bối cảnh rất nhiều viện nghiên cứu chiến lược đã ra đời, vậy điểm khác biệt của Viện IDS là gì, thưa ông?

IDS là một viện nghiên cứu mở theo nghiều nghĩa. Về mặt tổ chức, Hội đồng Viện sẽ là một hội đồng mở, mời các nhà khoa học, doanh nhân, chính khách tham gia tùy vào thời điểm thích hợp.

"Mở" thứ hai là Viện sẽ mời các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia dưới hình thức thường xuyên hay cộng tác viên.

Viện sẽ chủ yếu hoạt động qua môi trường mạng. Các nhà nghiên cứu cùng làm việc với nhau trong một đề tài dù họ ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, New York, London, Paris hay Tokyo.

Các seminar định kỳ của chúng tôi cũng mở cho tất cả những ai quan tâm. Ngoài các seminar định kỳ, Viện IDS sẽ tổ chức các seminar bất thường khác.

* Phát biểu trong một Hội thảo, có chuyên gia kinh tế đã cho rằng các kết quả nghiên cứu của nhiều Viện, nhiều tổ chức lâu nay vẫn bị "đắp chiếu", không có tác động nhiều đến việc hoạch định đường lối, chính sách. IDS dự định đột phá điều này thế nào?

- Chúng tôi mong muốn sẽ là một viện nghiên cứu chính sách. Nói cách khác, những nghiên cứu của Viện là những nghiên cứu độc lập, nhằm đưa ra những khuôn khổ lý luận dựa trên nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và khu vực.

Chúng tôi sẽ dùng những khuôn khổ đó để phân tích các chính sách hiện hành trên tinh thần phê phán và xây dựng, qua đó kiến nghị các lựa chọn cải thiện chính sách. Và những kết quả đó sẽ được công bố chứ không để “đắp chiếu”.

* Ông kỳ vọng những cơ quan hoạch định chính sách sẽ lắng nghe bao nhiêu phần trăm các cảnh báo mà chuyên gia của Viện đưa ra?

- Đào xới vấn đề lên, khuấy động được thành một phong trào, để tất cả những người dân, trí thức, đặc biệt các trí thức trẻ có thể hiểu được, có thể tham gia là một việc rất quan trọng.

Nếu những người có trách nhiệm hoạch định chính sách lắng nghe và dùng hay tham khảo những kết quả thì rất tốt, còn nếu không, chúng tôi cũng không vì thế mà buồn. Chúng tôi mong tham gia phản biện, cảnh báo. Chúng tôi không đặt mục tiêu họ nghe mình bao nhiêu.

* Hiện ở Việt Nam vẫn đang thiếu những tổ chức cung cấp các dịch vụ tư vấn về các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội, thậm chí các cá nhân là chính khách, doanh nhân. Viện nghiên cứu phát triển có dự tính "tiếp thị" các dịch vụ của mình để tạo nguồn thu hay không?

- Cung cấp dịch vụ cũng là một lĩnh vực mà chúng tôi đã đăng ký trong danh mục hoạt động. Khách hàng của Viện có thể là các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, các tổ chức xã hội và kinh tế, các tổ chức quốc tế.

Viện phải tự tạo nguồn thu cho mình và để mở rộng hoạt động, có tích lũy để phát triển, hoạt động như một doanh nghiệp phi vụ lợi. Nếu có lợi nhuận thì lợi nhuận đó là của Viện, để phát triển Viện, không chia cho bất kỳ ai.

* Ông đánh giá như thế nào về khả năng "cạnh tranh" với các viện nghiên cứu chính thống, có bộ chủ quản và được rót kinh phí để hoạt động?

- Có cạnh tranh là tốt. Chúng tôi mong muốn cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm của mình. Nhưng chúng tôi sẽ không “xin” đề tài để có kinh phí hoạt động. Bên cạnh việc cạnh tranh lành mạnh chúng tôi cũng muốn hợp tác chặt chẽ với họ, vì họ có nguồn lực, kể cả nhân lực, phong phú hơn nhiều.

Nông nghiệp, nông thôn sẽ là trọng tâm của năm 2008

* Những vấn đề phát triển nào sẽ được IDS ưu tiên trong năm 2008 sắp tới?

- Trong sáu tháng tới, chúng tôi cũng sẽ đi vào một số vấn đề trọng tâm: giáo dục đào tạo, y tế, hai hệ thống cốt tử của xã hội. Ngoài ra là hệ thống an sinh xã hội, lương bổng, trợ cấp thất nghiệp. Hoặc, chất lượng tăng trưởng kinh tế, tư duy nhiệm kỳ, tư duy cuối năm.

Cụ thể, Hội đồng Viện đã xác định 3 đề tài nghiên cứu cho đến hết tháng 6/2008, đó là: Cải cách giáo dục và y tế nhìn từ khía cạnh kinh tế học nhằm xác định những khuôn khổ cho thảo luận cải cách giáo dục và y tế. Kinh nghiệm quốc tế và khu vực, tình hình nước ta, những khuyến khích, các chính sách hay cải thiện chính sách có thể lựa chọn.

Thứ hai, một số vấn đề về nông thôn và nông dân. Trước mắt nghiên cứu vấn đề di cư từ nông thôn vào thành thị - nông dân ly hương, các vấn đề đô thị hóa khác có liên quan; các hình mẫu đã biết của quá trình di cư trên thế giới trong 200 năm qua, tình hình ở Việt Nam và các nước lân cận, những hệ lụy đô thị hóa hay đô thị hóa nông thôn, các hệ lụy xã hội, kinh tế nông thôn, v.v...

Thứ ba, về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Một số vấn đề đặt ra, như những tàn dư của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung: tăng trưởng nóng vội, hội chứng cuối năm, cuối kỳ, cuối nhiệm kỳ, thành tích số lượng. Những vấn đề chất lượng tăng trưởng và những kiến nghị chính sách hay cải thiện chính sách.

Đây là những đề tài lớn cần đến những nghiên cứu dài hạn. Sáu tháng chỉ là mốc thời gian ban đầu. Chúng tôi mong nhận được sự tham gia, hợp tác, cộng tác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài.

* Ông vừa nói các hoạt động của Viện sẽ nhằm mục tiêu trang bị nền tảng kiến thức cơ bản cho nhiều giới, vậy có thể tiếp cận các kết quả nghiên cứu của Viện thông qua các "kênh" nào?

- Trang web của Viện đang được xây dựng và IDS sẽ đưa kết quả nghiên cứu của mình lên đó. Chúng tôi cũng sẽ kết hợp với các nhà xuất bản, các tạp chí để phổ biến những kiến thức, hoặc qua các seminar và hội thảo khoa học.

* Vậy còn hoạt động hợp tác quốc tế đầu tiên của Viện?

- Viện IDS đã có một buổi làm việc thú vị với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kenedy School of Government, Đại học Harvard Hoa Kỳ.

Ngày 7/12 tuần trước, Viện đã tổ chức buổi seminar định kỳ đầu tiên của mình về “cải cách giáo dục nhìn từ khía cạnh kinh tế học”. Seminar đã thảo luận rất sôi nổi với những ý kiến đóng góp quý báu của các ông Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, GS Hoàng Tụy, GS. Phạm Duy Hiển, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà giáo Phạm Toàn (nhà văn Châu Diên - PV)... và sự tham gia của khá nhiều bạn trẻ. Chúng tôi cùng Nhà xuất bản Tri Thức tổ chức các seminar định kỳ vào 14h thứ sáu tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng tại 53 Nguyễn Du (Hà Nội) và hoan nghênh tất cả những người quan tâm đến dự.

Chúng tôi cũng tham gia và có báo cáo tại Hội thảo “Đổi mới tài chính dịch vụ bệnh viện” do Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế tổ chức tại Hà Nội ngày 11/12/2007.

* Trong thành phần của Hội đồng Viện hiện chủ yếu là các chuyên gia lớn tuổi. Vậy ông có dự định thu hút những người trẻ hơn?

- Chúng tôi rất muốn thu hút những tinh hoa của giới trẻ, cả trong và ngoài nước. Và tôi biết rằng họ cũng rất quan tâm đến các vấn đề về chính sách, chiến lược phát triển đất nước.

Xin cảm ơn ông.[/align]

Lê Nhung
(Theo VietnamNet)
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
GS Hoàng Tụy: Một nhà toán học và giáo dục lớn của Việt Nam[/align]28/12/2007[/align] [/align]





GS. Hoàng Tuỵ -Thành viên IDSNgày 7-12-2007 kỷ niệm đúng 80 năm tuổi của GS Hoàng Tụy. Ông là hậu duệ của cụ Hoàng Diệu bất khuất. Sinh nhật thượng thọ của ông là một sự kiện đáng ghi nhớ cho giới toán học VN, những người có lòng yêu khoa học, chân lý và quan tâm đến những vấn đề giáo dục sôi bỏng của đất nước, tuy rằng chắc ông không muốn nghĩ như thế.

Ông vốn là con người khiêm tốn giản dị, không muốn được người khác ca ngợi. Ca ngợi bây giờ đây đã bị lạm phát nghiêm trọng, nên ông lại càng không muốn thấy cái gì dính dáng đến ca ngợi. Dẫu biết ông sẽ không chấp nhận, nhưng đây là dịp không thể không nói về ông, và quả thật, cũng không thể nói về ông với trái tim “hâm hẩm”, với “liều lượng cân đo” trong “khuôn phép” của “lệ thường” hiện nay. Bởi vì cuộc đời của ông, trên con đường chinh phục những mục tiêu cao quí, của khoa học và của con người, đã “vượt qua lẽ thường” mà tôi sợ những sự cân đo lệ thường hay vì quan ngại sẽ không diễn tả được.

GS Hoàng Tụy là người đã dám chấp nhận và chịu đựng bao thử thách, bên ngoài cũng như bên trong, với một nghị lực tôi cho là phi thường, để đi đến những khám phá toán học có ý nghĩa, đóng góp đáng kể vào nền toán học thế giới. Ông đã sống với niềm đam mê toán học, với triết lý nhẫn nhục chịu đựng của phương Đông, và với khí tiết của Hoàng Diệu trong tính cách.

Những thử thách ghê gớm của chiến tranh và của những nghịch cảnh do cơ chế đẻ ra chỉ làm hình thành rõ nét thêm nhân cách và con người ông: “Những điều trải qua (trong những năm chiến tranh) đóng vai trò chính yếu trong việc hình thành nhân cách tôi và chúng trở thành một phần của tôi”.

Có lẽ nhận xét sau đây của Sven Erlander, chủ tịch Đại học Linkoping, Thụy Điển, nơi ông đã hợp tác nhiều năm liền, lột tả được phần nào tính cách của ông: “Tôi cho rằng Hoàng Tụy là một người hiền, với một quá khứ và kinh nghiệm sống khác thường. Dường như không có một khó khăn hay thách đố nào - trong toán học, giáo dục, quản lý hay nói chung trong cuộc sống - mà ông không biến nó thành một nỗ lực để thành công”. Chúng ta cũng nhớ đến câu nói bất hủ của Einstein, mà tôi xin phép vay mượn ở đây: Sự lớn lao trong khoa học chủ yếu là một vấn đề tính cách. Chẳng phải ở GS Hoàng Tụy chúng ta lại gặp một mẫu người có tính cách mạnh mẽ trong khoa học đó hay sao?

Có thể ví những bước đi của ông là “ngàn dặm”. Từ Liên khu 5 ra Việt Bắc cả ngàn cây số, một cuộc chinh phục bằng đôi chân đất đầy nguy hiểm. Từ Hà Nội sang Matxcơva, nửa vòng Trái đất một mình đến thế giới xa lạ, một cuộc chinh phục bằng cái đầu. Trái tim nóng bỏng toán học biến thành đám lửa - lửa của óc khám phá, của đam mê. Rồi lửa từ luận án tiến sĩ đã nung nấu dần dần để biến thành “tia chớp” toàn cầu, vượt lên cơn bão của luồng gió độc đang phủ xuống mình.

Thời gian đó cũng chính là lúc ông và một số nhà khoa học khác có lẽ đau khổ nhất. “Ai biết đâu rằng chính thời gian ấy (bị bom đạn và sơ tán của những năm 1960), ban ngày chúng tôi lên lớp, chạy máy bay, ban đêm chong đèn viết kiểm điểm: nào là trù dập công nông, nào là chuyên môn thuần túy, nào là nghiên cứu khoa học lý thuyết suông, nào là thiên tài chủ nghĩa... không có cái mũ to nào mà không bị chụp lên đầu”... “Và cũng chính là thời gian mà vượt lên mọi gian khổ chồng chất tôi đã nảy ra ý tưởng tối ưu toàn cục sau này trở thành hướng chủ đạo sự nghiệp khoa học 42 năm qua của tôi”.

Không chướng ngại, khó khăn nào có thể lay chuyển ý chí khoa học hay thay đổi tính cách, bản sắc của ông. Niềm tin luôn luôn ở phía trước trong thế giới toán học mà ông hằng hướng tới. Không ý muốn hạ thấp tinh thần khoa học nào thỏa hiệp được với ông. Ông trung thành với tình yêu chân lý, mà nếu không có nó không thể có khám phá khoa học mà chính ông là nhân chứng của sự trải nghiệm.

Ông đã được biết đến như một trong những con người VN của thế giới toán học và trở thành tấm gương, điểm sáng để nhiều người VN phấn đấu.

GS Hoàng Tụy là người đã thoát khỏi thế giới cũ kỹ để đi đến khám phá những cái mới. Ông khe khắt với cả chính mình, như khoa học khe khắt với những ai muốn khám phá nó. Ai không tự khe khắt, không thể bước qua cổng “đền thờ khoa học” được. Một nền khoa học quốc gia không tự khắt khe với mình, không thể có sáng tạo được; và không có cái mới, không thể vực dậy thế giới tinh thần và văn hóa của đất nước đang trì trệ, dân tộc sẽ không thể vươn lên và trưởng thành, không đóng góp được gì quan trọng vào kho tàng văn hóa nhân loại, và không khẳng định được mình.

Mặc dù tuổi cao nhưng GS Hoàng Tụy vẫn tiếp tục sáng tạo, không bao giờ muốn ngồi trên nhành nguyệt quế của vinh quang để rồi rơi vào hố sâu của tụt hậu. Khoa học không bao giờ có biên giới. Cái hôm nay là biên giới, ngày mai sẽ trở thành tâm điểm của sự phát triển. Khoa học đã thấm sâu vào nếp tư duy ông. Chỉ những người như thế mới xứng đáng được gọi là nhà khoa học, như Einstein nói. Sự đam mê khoa học cháy bỏng của tuổi trẻ sau 60 năm vẫn còn ngùn ngụt. Chỉ với niềm đam mê mãnh liệt như thế mới có được khám phá lớn. Khi một con người đã nếm trải được vị ngọt thánh thiện của chân lý khoa học thì không bao giờ họ rời xa nó nữa. Họ vẫn thắp đuốc trí tuệ để tiếp tục đi tìm cái mới, bao lâu họ còn hơi thở. Đáng ngưỡng mộ những con người ấy. Đáng học hỏi những con người ấy. Và đáng tôn vinh những con người ấy.

GS Hoàng Tụy đã thuộc về cộng đồng khoa học thế giới, những ý tưởng của ông đã trở thành tài sản tinh thần chung, nhưng trên quê hương mình ông lại là người canh cánh lo âu cho vận mệnh giáo dục và khoa học nước nhà. Hai mươi năm ông đã cất cao tiếng nói. Hai mươi năm tranh đấu cho một nền giáo dục lành mạnh và phát triển. Hai mươi năm muốn đem lại giá trị, tiêu chuẩn, đạo đức và nhân phẩm cho nền giáo dục VN.

Chúng ta chỉ có thể tiến lên với thế giới bằng khoa học, bằng những con người khoa học thật sự, như GS Hoàng Tụy, chứ không bằng những cái hư danh. Chúng ta phải chấp nhận luật chơi và thước đo lường khe khắt của thế giới như trong kinh tế khi vào WTO để tự gạn lọc mà vươn lên. Chúng ta phải là dân tộc yêu khoa học, “yêu chân lý hơn yêu hệ thống, sẵn sàng chấp nhận đặt lại vấn đề chính bản thân, phải luôn luôn hỏi, bắt đầu lại mới; hỏi phải là sự đam mê, chứ không phải câu trả lời làm yên tâm và ngay cả khi được thử thách” (1). Chúng ta không được sợ hãi cạnh tranh và chỉ “bảo vệ tài sản riêng hiện có” mà phải “đi tìm cộng đồng thành tâm của những tài sản chung của tinh thần (của những người khám phá), bởi cái gì mà một người khám phá thì sẽ được khám phá cho tất cả mọi người” (2).

Khoa học là phổ quát, không có tiêu chuẩn cục bộ, xóm làng. Ông không muốn một nền giáo dục chỉ có thương mại, hư danh mà không có lòng mến yêu đi tìm chân lý, không muốn một nền giáo dục chỉ có Xanthippe mà vắng bóng Socrate (3). “Mà không lo lắng sao được: trong một thế giới toàn cầu hóa, cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết, nước nào cũng xem giáo dục là vũ khí chiến đấu chính. Có chăng chỉ chúng ta còn mơ hồ về sức mạnh của vũ khí này, mặc dù hiến pháp đã ghi rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu”.

Với GS Hoàng Tụy và thế hệ những nhà khoa học tâm huyết đầu tiên của VN, chúng ta cảm nhận được buổi bình minh huy hoàng của một thời kỳ phát triển rực rỡ của toán học, khoa học đang tới trên đất nước: “Trước kia, ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, khoa học cơ bản vẫn phát triển, vì hồi ấy chúng ta biết nhìn xa trông rộng, tin tưởng ở chiến thắng và lo nghĩ đến tương lai con cháu sau khi nước nhà độc lập, thống nhất”.

Nhưng rồi: “Còn bây giờ, đối với nhiều người, mối quan tâm dường như đã chuyển hướng” và “Trong vài chục năm gần đây, có thể nói trên mặt trận toán học chúng ta lùi dần và rời bỏ một số vị trí quan trọng, nhường chỗ cho Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc. Các nhà toán học giỏi có tâm huyết đã kêu cứu liên tục nhiều năm nhưng vô vọng”…“Trong khi ở các cơ quan nghiên cứu và đại học của một số nước trong khu vực, cái không khí tuổi trẻ hăm hở, sung sức, hăng hái và đầy tham vọng chiếm ưu thế thì ở VN, nhìn vào các cơ quan khoa học của ta chỉ thấy một màu những mái đầu bạc hay lốm đốm bạc, cùng một số người tuy chưa già dặn gì trong khoa học mà tuổi đời đã không còn trẻ”.

Bầu trời khoa học VN còn thưa quá những vì sao. Cho nên càng quí trọng hơn những vì sao xuất hiện sớm chiếu sáng như gọi đàn. Như GS Hoàng Tụy.

Ngày ngày GS Hoàng Tụy vẫn cặm cụi viết lách, nghiên cứu, đi dự hội nghị quốc tế, và để tâm trí viết những bài phản biện giáo dục trong sự trăn trở, bao lâu nền giáo dục đất nước còn đầy những bất cập và tiêu cực. Ông thấy vui trong vòng tay bạn bè khoa học thế giới chúc thọ và cảm ơn ông (4).

Đã gần 60 năm dạy học - dạy toán bắt đầu từ lúc 19 tuổi, nổi tiếng là giáo viên trung học giỏi trong vùng tự do những năm kháng chiến, đào tạo được nhiều nhà toán học trẻ cho đất nước, truyền được cảm hứng toán học cho thế hệ sau, đặt được nền tảng toán học cho VN, được chính phủ cách mạng cử làm trưởng ban cải cách hệ thống các trường trung học từ lúc 28 tuổi, đồng thành lập viện toán học, đồng sáng lập tạp chí toán học, được mời đi thỉnh giảng 70 lần ở các đại học hàng đầu thế giới, báo cáo tại 40 hội nghị quốc tế, đỡ đầu nhiều nghiên cứu sinh và luận án viên tiến sĩ từ nhiều quốc gia trên thế giới, được tôn vinh là người khai sinh ra một ngành toán học mới, được khen thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, được đại học nước ngoài phong danh hiệu tiến sĩ danh dự cao quí...

Vậy mà chưa bao giờ ông được gọi là nhà giáo nhân dân trên quê hương mình cả. Chẳng phải là nghịch lý hay sao? Nhưng ông chẳng màng việc đó. Chẳng phải người thầy giỏi trước tiên phải là người nghiên cứu giỏi hay sao? Chẳng phải thầy phải là người “đã lao động đến biên giới của tri thức nhân loại, và phải khai phá được những vùng đất mới cho mình” sao? Một người thầy “chỉ biết dạy lại những niềm tin lạ thì chỉ thỏa mãn được những học trò chỉ muốn lấy uy quyền làm nguồn tri thức cho họ, nhưng không thỏa mãn được những học trò đòi sự biện minh niềm tin của họ cho đến cơ sở cuối cùng” như nhà khoa học lớn H.Helmholtz nói, và cũng không thể nào dẫn dắt sinh viên vào con đường khám phá cái mới được.

Chúng ta, những người hướng đến những tình cảm đẹp, đến chân lý, đến một nền giáo dục và khoa học lành mạnh, tiên tiến của nước nhà, những ngày này hãy kính cẩn nghĩ đến một người thầy toán học, đầu bạc trắng nhưng mắt vẫn còn trong, trí vẫn còn sáng, trái tim vẫn còn nặng lòng với đất nước, hạnh phúc trong khoa học tuy không thiếu nhưng vẫn lo âu canh cánh cho quê hương. Đó là GS Hoàng Tụy. Chúng ta biết ơn và hãy cùng nhau chúc thọ giáo sư và phu nhân, cô Ngọc Anh, người bạn đời đã cùng lặn lội và chia sẻ với ông suốt cuộc hành trình gian khổ, làm tổ ấm để giáo sư trụ vào trước những lúc sóng gió bão táp ngoài đời. Chúc giáo sư và phu nhân sức khỏe, sống lâu và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp khoa học và giáo dục nước nhà. Những cái thăng trầm dưới đất chỉ làm giáo sư cao cả thêm mà thôi.




(1, 2) Những trích dẫn lấy từ bài giảng nhậm chức năm 1789 tại Đại học Jena của Friedrich Schiller, đại thi hào Đức thế kỷ 18.

(3) Xanthippe là vợ của Socrate. Bà chỉ muốn “thương mại hóa” những gì Socrate muốn giảng dạy miễn phí cho dân chúng về chân lý và cách đi tìm chân lý.

(4) Ngày 17-12-2007 sẽ có cuộc hội thảo ở Viện quốc gia về khoa học ứng dụng Rouen, Pháp, để mừng thọ ông.


Nguyễn Xuân Xanh
(Theo Báo Tuổi trẻ)
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-10 18:08:36Như Ý P>
 VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS

Ngày 27-9-2007 một nhóm các nhà nghiên cứu độc lập tổ chức họp và quyết định thành lập một tổ chức gọi là Viện Nghiên cứu Phát triển IDS. Hồ sơ được đăng ký tại Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ngày 18-10-2007 Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ cho Viện IDS.

Viện được thành lập với sứ mệnh: nghiên cứu, tư vấn các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế và xã hội; đưa ra các giải pháp, những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức (doanh nghiệp, các tổ chức nhà nước và các tổ chức khác).

Các lĩnh vực hoạt động của Viện IDS gồm:

- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển.

- Dịch vụ: tư vấn về các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế-xã hội; cung cấp thông tin; tham gia đào tạo; liên kết xuất bản; tổ chức hội thảo khoa học; các dịch vụ khác liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu trên.

Đây là một Viện nghiên cứu mở theo nghiều nghĩa.

Về mặt tổ chức, Hội đồng Viện (hiện tại gồm 9 người: Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Chi Lan, Phan Huy Lê, Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương, Hoàng Tụy), cơ quan quyết định cao nhất của Viện là một hội đồng mở theo nghĩa: Hội đồng sẽ mời các nhà khoa học, các doanh nhân, các chính khách tham gia vào những thời điểm thích hợp. Hội đồng Viện cử ông Nguyễn Quang A làm Viện trưởng và bà Phạm Chi Lan làm phó Viện trưởng.




Viện cũng mở theo nghĩa nó mời các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia dưới hình thức thường xuyên hay cộng tác viên.

Môi trường hoạt động của Viện mở theo nghĩa: nó chủ yếu hoạt động trên mạng, các nhà nghiên cứu có thể cùng làm việc với nhau trong một đề tài dù họ ở Hà Nội, Hồ Chí Minh, New York, London, Paris hay Tokyo.

Nó cũng mở theo nghĩa, ngoài hoạt động trên mạng, các seminar định kỳ là mở cho tất cả những ai quan tâm.

Ngoài các seminar định kỳ Viện IDS có thể tổ chức các seminar bất thường hay các hội thảo về các đề tài nghiên cứu của mình hay những đề tài khác.

IDS mong muốn đưa kết quả nghiên cứu của mình trên trang web của Viện qua các ấn phẩm (dưới dạng sách khi liên kết với các nhà xuất bản; các số tạp chí chuyên đề hay các bài báo khi liên kết với các tạp chí; các bài bình luận trên các nhật báo; v.v.), qua các seminar và hội thảo khoa học.




Viện IDS mong muốn là một viện nghiên cứu chính sách. Nói cách khác, những nghiên cứu của Viện là những nghiên cứu độc lập, nhằm đưa ra những khung khổ lý luận dựa trên nghiên cứu lý thuyết, khinh nghiệm quốc tế và khu vực, dùng những khung khổ đó để phân tích các chính sách hiện hành trên tinh thần phê phán và xây dựng, qua đó kiến nghị các lựa chọn (cải thiện) chính sách.

Khách hàng của Viện có thể là: các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, các tổ chức xã hội và kinh tế, các tổ chức quốc tế. Viện phải tự tạo nguồn thu cho mình và để mở rộng hoạt động, tức là cố gắng để thu lớn hơn chi và có tích lũy để phát triển, nó phải hoạt động như một doanh nghiệp phi vụ lợi. Phi vụ lợi có nghĩa là, nếu có lợi nhuận thì lợi nhuận đó là của Viện, để phát triển Viện, không chia cho bất kỳ ai. Theo nghĩa đó, Viện IDS là một viện nghiên cứu tư nhân của toàn xã hội, không có ông chủ cá nhân nào cả.

Hội đồng Viện đã xác định 3 đề tài nghiên cứu cho đến hết tháng 6-2008, đó là:

- Cải cách giáo dục và y tế nhìn từ khía cạnh kinh tế học (chủ trì đề tài Nguyễn Quang A, tham gia Gs. Hoàng Tụy, Pgs. Ts. Chu Hảo, Ts. Lê Đăng Doanh, Gs. Tương Lai, bà Phạm Chi Lan và các nhà nghiên cứu và cộng tác viên khác) nhằm xác định những khung khổ cho thảo luận cải cách giáo dục và y tế. Kinh nghiệm quốc tế và khu vực, tình hình nước ta, những khuyến khích, các chính sách hay cải thiện chính sách có thể lựa chọn.

- Một số vấn đề về nông thôn và nông dân (Gs. Tương Lai chủ trì, tham gia Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh và các nhà nghiên cứu và cộng tác viên khác). Trước mắt nghiên cứu vấn đề di cư từ nông thôn vào thành thị - nông dân ly hương- và các vấn đề đô thị hóa liên quan; các hình mẫu đã biết của quá trình di cư trên thế giới trong 200 năm qua, tình hình ở Việt Nam và các nước lân cận, những hệ lụy đô thị hóa hay đô thị hóa nông thôn, các hệ lụy xã hội, kinh tế nông thôn, v.v.




- Chất lượng tăng trưởng kinh tế (Ông Trần Đức Nguyên chủ trì, tham gia bà Phạm Chi Lan, ông Lê đăng Doanh, ông Trần Việt Phương và các nhà nghiên cứu và cộng tác viên khác). Những tàn dư của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung: tăng trưởng nóng vội, hội chứng cuối năm, cuối kỳ, cuối nhiệm kỳ, thành tích số lượng. Những vấn đề chất lượng tăng trưởng và những kiến nghị chính sách hay cải thiện chính sách.

Đây là những đề tài lớn cần đến những nghiên cứu dài hạn, 6 tháng chỉ là mốc thời gian ban đầu, và mong được sự tham gia, hợp tác, cộng tác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, của các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài.

Vài hoạt động từ đầu đến 4-1-2008 của Viện:

Ngay sau khi có tư cách pháp nhân Viện đã có một buổi làm việc rất thú vị với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kenedy School of Government, Đại học Harvard Hoa Kỳ.

Thứ sáu, 7-12-2007, Viện đã tổ chức buổi seminar định kỳ đầu tiên của mình (được IDS và Nhà Xuất bản Tri Thức tổ chức định kỳ vào 14h chiều thứ sáu tuần đầu và tuần thứ ba hàng tháng tại 53 Nguyễn Du Hà Nội) về “cải cách giáo dục nhìn từ khía cạnh kinh tế học”. Seminar đã thảo luận rất sôi nổi với những ý kiến đóng góp quý báu của cử tọa.

Ngày 11-12-2007 Viện IDS đã tham gia và có báo cáo tại Hội thảo “Cải cách hoạt động bệnh viện –Hospital Operational Reform”, sau đó có làm việc với Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu.

Ngày 12-12-2007 IDS đã có buổi làm việc với Gs. Dusan Keber, Ljubljana University, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Slovenia và đại diện Đại sứ quán Australia về cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Ngày 14-12-2007 IDS thuyết trình về vài vấn đề cải cách giáo dục tại Viện Chiến lược giáo dục.

Ngày 18-12-2007 IDS đã tham gia hội thảo về Nông thôn và Nông Nghiệp do Báo “Nông thôn ngày nay và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” tổ chức.

Ngày 21-12-2007 Seminar thứ 2 của IDS với nội dung “Chất lượng tăng trưởng kinh tế”, đã nhận được nhiều ý kiến góp ý rất bổ ích.

Ngày 4-1-2008 semminar thứ 3 của IDS về “Một số vấn đề về Nông Thôn, Nông Dân và Nông nghiệp” do Gs. Tương Lai trình bày. Các ý kiến góp ý hết sức sôi nổi.



http://www.vnids.com/index.php
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-10 18:17:13Như Ý P>
Toạ đàm ngày 07-12-2007: Cải cách giáo dục (và y tế) những khía cạnh kinh tế học.


[/align]30/12/2007


[/align] 


[/align]Cuộc toạ đàm diễn ra vào lúc 14h tại hội trường tầng 3 - Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Nội dung chủ yếu xoay quanh vấn đề: Cải cách giáo dục (và y tế) những khía cạnh kinh tế học.
Người trình bày tham luận TSKH Nguyễn Quang A. Sau đây là nội dung trình bày: Cải cách giáo dục
Cải cách giáo dục là một vấn đề trọng đại vì nó ảnh hưởng đến nhiều chục triệu người, nó ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của đất nước. Chính vì vậy thảo luận về cải cách giáo dục là rất quan trọng, không thể được tiến hành một cách vội vã. Nó luôn là vấn đề nóng hổi. Chỉ qua tranh luận, trao đổi mới có thể hiểu, mới có thể tìm ra các giải pháp phù hợp (không có giải pháp tối ưu, tốt nhất) để từng bước một cải thiện hệ thống giáo dục. Thảo luận về cải cách giáo dục đã diễn ra khá sôi nổi và hầu như rất khó đi đến sự đồng thuận, trừ sự đồng thuận rất cao rằng hệ thống giáo dục kém thì người dân mãi còn nghèo và đất nước không thể phát triển được, rằng nền giáo dục của chúng ta mắc nhiều chứng bệnh. Đừng coi thường sự đồng thuận cao “sơ đẳng” này. Thấu hiểu tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, biết các chứng bệnh hiện tại (càng biết kĩ càng tốt) là đã đi được nửa quãng đường rồi.

Về nửa kia thì sao? Vấn đề còn đang tranh cãi là các liệu pháp chữa trị ra sao? Hệ thống giáo dục nên được cải cách theo hướng nào? Vai trò của nhà nước, của xã hội dân sự và của khu vực tư nhân nên như thế nào? Nên tiến hành giải quyết các vấn đề nhức nhối ra sao? Thứ tự ưu tiên của các vấn đề cần giải quyết là gì và những kế hoạch chi tiết. Có nhiều đề xuất. Có những đề xuất khá toàn diện của các nhà giáo, học giả nổi tiếng trong và ngoài nước. Có những đề xuất của các nhà giáo, nhà khoa học đầy tâm huyết và trách nhiệm, song cũng có những đề nghị của các cá nhân có phần thiên vị. Như thế là bình thường. Thảo luận sôi nổi về chúng là việc nên tiếp tục làm. Bộ giáo dục đào tạo, nhất là từ khi có Bộ trưởng mới, hình như cũng bắt đầu lắng nghe và tiếp thu một số điểm phù hợp của các đề xuất và kinh nghiệm nước ngoài (như hứa tăng lương, chống tiêu cực trong học và thi, tăng tự chủ của các đại học, v.v.). Đó là tín hiệu đáng mừng. Qua tranh luận, thảo luận trên tinh thần khoa học và xây dựng chắc có thể tìm ra những giải pháp cải thiện tình hình.

Dựa vào những nghiên cứu mới đây về cải cách khu vực y tế và phúc lợi của Kornai János, vào những phân tích định lượng về thể chế giáo dục và sự cộng tác công-tư của nhiều học giả thí dụ như của Luger Woesmann, tổng quan này muốn giới thiệu những khung khổ (các nguyên tắc cơ bản, các thể chế, sự hợp tác công tư trong cấp tài chính cho giáo dục và cung ứng dịch vụ giáo dục). Vấn đề “có thị trường giáo dục đào tạo hay không” đã được bàn cãi khá lâu ở Việt Nam. Nay hầu như ai cũng thống nhất là có thị trường giáo dục, là cơ chế thị trường có vai trò trong giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, chúng ta hay nhảy từ thái cực này sang thái cực khác. Từ chỗ không muốn nghe về cơ chế thị trường trong giáo dục, không chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục, nay có vẻ có nguy cơ quá thiên về nó. Tuyên bố của một số nhà lãnh đạo về cổ phần hóa một vài đại học nhà nước hay việc chạy đua lập trường đại học tư có thể là những biểu hiện như vậy. Cơ chế thị trường có vai trò (chính xác hơn là sự cạnh tranh có vai trò quan trọng) trong giáo dục, song thị trường giáo dục (cũng như y tế) có nhiều khuyết tật nên cần có sự can thiệp của nhà nước và thị trường tự do không thể điều phối khu vực này một cách hữu hiệu. Cần có sự cộng tác công-tư hiệu quả. Đầu tiên có lẽ cần làm rõ một vài thuật ngữ. Trong khu vực phúc lợi cần phân biệt vài khái niệm: nhà cung cấp (dịch vụ) là các tổ chức (nhà nước hay tư nhân) cung ứng các dịch vụ đó (như bệnh viện, phòng khám, trường học); người cấp tài chính là người hay tổ chức chi trả tiền cho nhà cung cấp (ngân sách nhà nước, hãng bảo hiểm, người sử dụng); người sử dụng là người trực tiếp tiêu thụ dịch vụ (bệnh nhân, học sinh), họ có thể chi trả một phần, nhưng trong giáo dục họ thường không phải là người cấp tài chính (mà là bố mẹ họ hay ngân sách nhà nước); sự cộng tác công-tư được hiểu là sự cộng tác của các nhà cung cấp nhà nước và nhà cung cấp tư nhân (bên cung) cũng như sự chia sẻ gánh nặng tài chính giữa nhà nước và tư nhân (bên cấp tài chính).

I. Những nguyên lí chung của cải cách giáo dục (cải cách phúc lợi)

Khi nghiên cứu về cải cách khu vực y tế ở Đông Âu, Kornai đã kiến nghị 9 nguyên lí chung cho cải cách khu vực phúc lợi (y tế, giáo dục, hưu bổng, chăm sóc trẻ em và người già, trợ giúp những người cơ nhỡ). Những nguyên lí đó (bạn đọc có thể tìm hiểu kĩ hơn trong J. Kornai, K. Eggleston “Chăm sóc sức khỏe cộng đồng”, NXD Văn hóa Thông tin, 2002) là:

1. Nguyên lí chủ quyền cá nhân: Cải cách phải tăng cường phạm vi quyết định của cá nhân và thu hẹp quyền hạn quyết định của nhà nước trong lĩnh vực các dịch vụ phúc lợi. Nguyên lí này đề cao vai trò của quyết định cá nhân và đòi hỏi cá nhân phải có trách nhiệm với riêng mình, phải từ bỏ thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào nhà nước. Nó không yêu cầu xóa bỏ quyền hạn của nhà nước, mà chỉ là thu hẹp quyền hạn tràn lan của nhà nước. Thay cho nhà nước gia trưởng cố buộc người ta hạnh phúc, đôi khi bằng bạo lực, phải để cho người dân tự đạt lấy hạnh phúc.

2. Nguyên lí đoàn kết: Hãy giúp đỡ những người bị đau khổ, gặp hoạn nạn, ở trong tình trạng bất lợi. Theo nguyên lí này, những người gặp hoạn nạn, ở trong tình trạng bất lợi, khó khăn phải được giúp đỡ. Sự trợ giúp không thể chỉ phó mặc cho lòng từ thiện cá nhân, nó đòi hỏi nhà nước có những cưỡng chế bằng luật (bảo hiểm y tế cơ bản, bảo hiểm xã hội bắt buộc, đóng thuế để đảm bảo giáo dục cưỡng chế miễn phí, v.v.) để đảm bảo sự giúp đỡ này đối với những người không có khả năng tự lo cho mình. Nguyên lí này không có nghĩa là nhà nước phải lo cho tất cả mọi người (nếu có khả năng thì càng tốt nhưng không bắt buộc) về các dịch vụ cơ bản này.

Hai nguyên lí trên là các nguyên lí đạo đức cơ bản, năm nguyên lí tiếp liên quan đến tính đáng mong mỏi của các định chế và cơ chế điều phối.

3. Nguyên lí cạnh tranh: Đừng có độc quyền của sở hữu nhà nước và kiểm soát nhà nước. Hãy để cạnh tranh hoạt động giữa các hình thức sở hữu và các cơ chế điều phối. Từ nguyên lí 1 có thể suy ra nguyên lí 3. Cần có cạnh tranh để cá nhân có quyền lựa chọn (giữa các nhà cung cấp dịch vụ thuộc các thành phần khác nhau, giữa bệnh viện công và bệnh viện tư, giữa trường công và trường tư). Cạnh tranh cũng thúc đẩy hiệu quả (nguyên lí 4). Nguyên lí này muốn mở đường cho khu vực tư nhân tham gia vào khu vực phúc lợi (mở bệnh viện tư, trường tư, nhà dưỡng lão tư, v.v.). Các tổ chức này có thể hoạt động vì lợi nhuận hay phi vụ lợi hay trên cơ sở từ thiện hoàn toàn, chúng cạnh tranh với các tổ chức thuộc sở hữu nhà nước (nguyên lí này không bàn đến tỉ lệ công/tư nhưng muốn cho cạnh tranh có hiệu quả thì tỉ lệ của các tổ chức tư phải vượt quá một ngưỡng nào đấy).

Nguyên lí này mở ra khả năng để người dân có thể dựa vào “nhiều trụ cột” trong khu vực phúc lợi.

4. Nguyên lí khuyến khích hiệu quả: Hãy hình thành những hình thức sở hữu và điều chỉnh mà chúng thúc đẩy, khuyến khích tính hiệu quả. Nguyên lí này áp dụng cả ở bên cầu (ở bên những người sử dụng dịch vụ: phụ huynh học sinh, bệnh nhân) lẫn ở bên cung (các trường, các bệnh viện) cũng như ở bên cung cấp tài chính (nhà nước, hãng bảo hiểm, bệnh nhân, phụ huynh). Lưu ý rằng người sử dụng có thể không phải là người cấp tài chính (chi trả) cho nhà cung cấp dịch vụ (thí dụ trường được nhà nước cấp kinh phí, người học không phải đóng hay chỉ đóng một phần học phí, tỉ lệ học phí là bao nhiêu để khuyến khích hiệu quả?). Cạnh tranh cũng khuyến khích hiệu quả nhưng sự cộng tác công tư (về chi phí, về cung ứng dịch vụ) cũng có thể làm tăng hiệu quả. Các nguyên lí cạnh tranh và hiệu quả tăng cường lẫn nhau.

5. Nguyên lí về vai trò mới của nhà nước: Chức năng chính của Nhà nước trong khu vực phúc lợi hãy là: thiết lập khung khổ pháp luật, giám sát các định chế phi nhà nước (và nhà nước); đóng vai trò “nhà bảo hiểm” và người trợ giúp cuối cùng. Nhà nước đảm bảo rằng mọi công dân nhận được sự giáo dục và chăm sóc y tế cơ bản. Tất cả hoạt động trong khu vực phúc lợi (y tế, giáo dục, v.v) phải được tiến hành theo các quy tắc chơi do nhà nước đặt ra, dưới sự giám sát của Nhà nước và xã hội dân sự.

6. Nguyên lí về tính minh bạch: Hãy để quan hệ giữa cung ứng dịch vụ phúc lợi của Nhà nước và gánh nặng thuế tương ứng được rõ ràng và minh bạch với công dân. Thảo luận, tranh luận công khai với đầy đủ thông tin phải đi trước các quyết định về các biện pháp thực tiễn của cải cách. Các chính khách phải nói thật rõ ràng chính sách phúc lợi nào họ muốn thực hiện, và để thực hiện nó họ lấy từ nguồn tài chính nào. Có chính sách rõ ràng buộc các nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức cung cấp tài chính phải có trách nhiệm giải trình với những người liên quan một cách minh bạch. Công dân không nhìn thấy, không hiểu, không ý thức rõ về gánh nặng tài chính của các dịch vụ phúc lợi là gánh nặng của chính họ (từ tiền thuế của họ hay từ tiền vay mà con cháu họ phải trả). Vì cuối cùng gánh nặng tài chính, dẫu thông qua ngân sách nhà nước hay do họ tự trả, vẫn là của chính họ, cho nên việc thảo luận, tính minh bạch là đòi hỏi là cần thiết. Trong các nước xã hội chủ nghĩa vấn đề này là rất trầm trọng, công dân đã quen với cách tuyên truyền “nhà nước lo cho dân từ cái kim sợi chỉ, từ miếng cơm manh áo, từ lúc lọt lòng cho đến nơi mai táng”, phải để họ “cai” thói quen này. Qua 20 năm đổi mới vấn đề này đã không còn gay gắt như trước đối với thế hệ trẻ chiếm trên nửa số dân nước ta, nhưng ở những người lớn tuổi hơn (và họ thường nắm quyền hành) thì tàn dư của nếp suy nghĩ ấy vẫn còn. Chỉ có làm rõ quan hệ này thì mới thực sự là “vì dân, do dân”. Mọi sự lấp liếm, che dấu thông tin về lĩnh vực này đều phải lên án, phải chấm dứt. Làm cho dân hiểu hơn thì dân sẽ dễ dàng ủng hộ cải cách, tham gia tích cực vào quá trình cải cách. Đối với các nhà cung cấp tư nhân (và nhà nước) phải buộc họ có trách nhiệm giải trình, cung cấp thông tin cho những người liên quan (nhà nước, học sinh, phụ huynh v.v.) về hoạt động của họ về thành tích của họ, về chi tiêu của họ v.v. để cho người dân có thể thực hiện nguyên lí tự chủ của mình, để cho cạnh tranh được lành mạnh.

7. Nguyên lí cần thời gian: Phải có thời gian để cho các định chế mới của khu vực phúc lợi tiến hóa và để cho công dân thích nghi. Phải cần có thời gian để thử nghiệm, để cho các tổ chức mới hình thành, để cho người dân thích nghi. Tốc độ cải cách không phải là tiêu chuẩn hàng đầu. Không thể nóng vội, hấp tấp.

Hai nguyên lý cuối cùng liên quan đến những tỷ lệ đáng mong mỏi.

8. Nguyên lí tăng trưởng hài hòa: Hãy có những tỷ lệ hài hòa giữa các nguồn lực dùng cho các khoản đầu tư phục vụ trực tiếp cho tăng trưởng nhanh và các khoản chi cho hoạt động và phát triển của khu vực phúc lợi. Công cụ hữu hiệu nhất để giải quyết những khó khăn về phúc lợi là tăng trưởng kinh tế bền vững. Tỉ lệ giữa các khoản chi đầu tư cho tăng trưởng kinh tế và các khoản chi cho phúc lợi phải cân đối, tăng trưởng càng nhanh và bền vững thì chúng ta càng có nhiều nguồn lực cho phúc lợi (có thể coi như khoản đầu tư dài hạn để tạo vốn con người và vốn xã hội, sử dụng vốn vay khôn khéo cho lĩnh vực giáo dục và y tế có thể là một biện pháp tốt nhưng không thể đẩy gáng nặng trả nợ cho các thế hệ sau.)

9. Nguyên lý tài trợ có thể duy trì được: Ngân sách Nhà nước phải có năng lực tài trợ liên tục việc thực hiện những nghĩa vụ cam kết của Nhà nước. Đây là một đòi hỏi nghe có vẻ rất hiển nhiên, thế mà việc vi phạm nguyên tắc này rất thường xuyên xảy ra. Nhà nước phải thận trọng với những cam kết phúc lợi của mình, những cam kết quá đáng được luật hóa sẽ có thể không bao giờ thực hiện được do nó có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách không sao chịu đựng nổi. Trong các cuộc tranh luận phải làm thật rõ vấn đề này cho tất cả các bên liên quan, cho những người ủng hộ “nhà nước phúc lợi” mà không thèm để ý đến khía cạnh tài chính, cũng như cho những người có nói về vấn đề phúc lợi nhưng lại chỉ quan tâm đến vấn đề “tài chính” thuần túy.

Đấy là 9 nguyên lý tạo một khung khổ, một chương trình nghị sự giúp cho việc thảo luận các vấn đề cải cách phúc lợi (giáo dục) một cách logic và hiệu quả.

II. Những bài học quốc tế về cải cách giáo dục

Phần này, dựa chủ yếu vào Cẩm nang Cộng tác Công Tư trong Giáo dục của Ngân hàng Thế giới, các báo cáo của CESifo DICE Report 4/2004 và những nghiên cứu của Ludger Wöβmann (Woessmann) và các cộng sự [Public-Private Partnerships and Schooling Outcomes across Countries, CESifo. Working paper No. 1662, 2/2006 và G. Schuetz, H. W. Ursprung, L. Ed Woessmann Education Policy and Equality of Opportunity, CESifo. Working paper No. 1518, 8-2005], sẽ giới thiệu những kết quả mới nhất về hệ thống giáo dục của các nước thuộc tổ chức công nghiệp phát triển, theo tinh thần của khung khổ thảo luận của 9 nguyên tắc trên. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn, mang tính định lượng có thể rất bổ ích cho những thảo luận cải cách giáo dục của chúng ta.

1. Tính bình đẳng cơ hội và tính hiệu quả trong giáo dụcLiên quan đến tính bình đẳng về cơ hội, nghiên cứu của G. Schuetz, H. W. Ursprung và Woessmann [2005] cho chúng ta kết quả lý thú. Họ đã phát triển một chỉ số gọi là “chỉ số bất bình đẳng về cơ hội giáo dục” và khảo sát chỉ số đó trong 54 nước. Kết luận quan trọng là: chỉ số bất bình đẳng tăng với việc cấp tài chính tư và i&gt;giảm (sự bình đẳng tăng) với việc vận hành tư (nói cách khác tính bình đẳng cũng tốt với sự cộng tác công tư theo hướng nhà nước cấp tài chính, tư nhân vận hành). Vế thứ hai của kết quả rất đáng chú ý, nó góp phần làm lung lay sự ngộ nhận rằng trường công mang lại sự bình đẳng hơn. Ngoài ra việc giáo dục sớm trước khi đi học và giáo dục toàn diện (ít phân ban, hay phân ban muộn) cũng làm tăng tính bình đẳng, và chỉ số này không phụ thuộc mấy vào các đặc điểm đặc thù khác của từng nước như chi phí giáo dục, thu nhập quốc dân trên đầu người, độ dài của ngày học, độ tuổi chính thức bắt đầu đi học.
Nói đến tính hiệu quả là nói về sự sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư cho giáo dục. Những nghiên cứu lý thuyết (Cuhan và các cộng sự, NBER Working Paper 11331, 2005) và thực tiễn mới nhất cho thấy suất sinh lợi rất cao cho giáo dục ở giai đoạn sớm và giảm dần theo các giai đoạn sau như hình vẽ dưới đây:




Những kết quả lý thuyết và thực tiễn đều khẳng định: có sự bổ sung mạnh giữa tính hiệu quả và tính bình đẳng cơ hội trong các chính sách giáo dục tác động đến các giai đoạn sớm của giáo dục (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, phổ thông cơ sở), muộn hơn (cao đẳng đại học trở đi) dường như có sự đánh đổi giữa tính hiệu quả và tính bình đẳng. Như thế đưa ra các chính sách tăng cường tính hiệu quả và bình đẳng càng sớm càng tốt. Nếu để muộn đến tuổi lớn hơn vào thời lì cao đẳng đại học mới đưa ra các chính sách hướng tới sự bình đẳng thì các chính sách ấy ít có hiệu lực và đôi khi lại hóa ra cả không hiệu quả lẫn bất bình đẳng. Thay đổi các thể chế, chính sách là một biện pháp có thể tăng hiệu quả, sự công bằng và thành tính giáo dục rất lớn.

2. Các thể chế và thành tích giáo dục.

Những nghiên cứu mới đây tập trung vào ba nhóm thể chế có khả năng tạo ra những khuyến khích thúc đẩy thành tích: sự lựa chọn, trách nhiệm giải trình và những khuyến khích giáo viên.
Quyền được lựa chọn trường của phụ huynh học sinh, phù hợp với nguyên lí 1 nêu trên, và sự cạnh tranh giữa các trường được tự chủ (nguyên lý 3) tạo ra những khuyến khích để các trường cải thiện thành tích. Những nghiên cứu so sánh thực tiễn của các học giả nêu trong DICE Report 4/2004 gợi ý rằng sự lựa chọn, sự cạnh tranh, sự tự chủ của các trường quả thực có thể là các thể chế thúc đẩy tăng thành tích và hiệu quả giáo dục.
Sự kiểm tra và trách nhiệm giải trình về thành tích của học sinh (nguyên lí 6) là cách khác để tạo ra những khuyến khích thúc đẩy thành tích giáo dục, đặc biệt là trách nhiệm cung cấp thông tin cho phụ huynh, học sinh và những người sử dụng lao động tiềm năng. Chế độ sát hạch ra trường bên ngoài (chung của quốc gia) là một công cụ giải trình tốt để cải thiện thành tích giáo dục. Các tiêu chuẩn cho điểm đúng đắn cũng có ảnh hưởng tốt đến thành tích học tập.
Những khuyến khích đối với giáo viên dựa vào thành tích của học sinh cũng làm tăng thành tích giáo dục. Lương giáo viên là một công cụ chính sách rất cơ bản. Quy mô giáo dục trước nhà trường (nhà trẻ, mẫu giáo) có ảnh hưởng lớn đến thành tích giáo dục.

3. Công-tư hợp doanh trong giáo dục

Người Việt Nam nghe đến công-tư hợp doanh có thể gợi lại những lo ngại đáng kể. Tuy vậy ở đây nó được hiểu với nghĩa hoàn toàn khác, theo đúng nghĩa tích cực của từ. Công-tư hợp doanh (PPP: Public-Private Partnership) trong giáo dục là một đề tài được tranh cãi rất nhiều. Về khung khổ có thể tham khảo Cẩm nang PPP của Ngân hàng Thế giới (http://www.ifc.org/ifcext/edinvest.nsf/Content/PublỉcPivatePartnerships).
Theo định nghĩa của OECD trường công “là trường được quản lý trực tiếp hay gián tiếp bởi nhà chức trách giáo dục, cơ quan chính phủ, hay hội đồng được chính phủ bổ nhiệm”, ngược lại trường tư “là trường được quản lý trực tiếp hay gián tiếp bởi một tổ chức phi chính phủ; thí dụ nhà thờ, nghiệp đoàn, doanh nghiệp, các tổ chức tư nhân khác”. Lưu ý rằng định nghĩa này không đề cập gì đến ai sở hữu trường mà chỉ xem xét ai quản lý, vận hành trường, tức là chỉ liên quan đến các nhà cung cấp (bên cung). Trường tư hiểu theo nghĩa rộng như vậy có thể là các trường tư thục hoạt động vì lợi nhuận, các trường tư (thí dụ của các tổ chức phi chính phủ, tôn giáo, cộng đồng) hoạt động phi vụ lợi, đến các trường thuộc sở hữu nhà nước cho các tổ chức tư thuê để vận hành. Lưu ý là đại bộ phận các trường tư là các trường phi vụ lợi. Những khía cạnh quan trọng của công-tư hợp doanh, hay sự cộng tác công tư, là sự tham gia của các trường tư như thế nào, nên chiếm tỉ lệ bao nhiêu ở các cấp giáo dục khác nhau, phân bố công-tư trong cung cấp dịch vụ có những tác động gì, và có thể điều chỉnh bằng các công cụ chính sách nào, làm sao để đạt lợi ích xã hội lớn hơn, v.v.
Về phía cấp tài chính, khu vực tư nhân cũng có thể tham gia thông qua cấp học bổng, cấp voucher cho học sinh, cung cấp hạ tầng cơ sở hay chương trình đào tạo. Người sử dụng (thực sự là cha mẹ họ) đóng học phí là tham gia vào đồng-chi trả (tương tự như bệnh nhân phải trả một phần chi phí khám chữa bệnh trong y tế).

a) Thành tích

Xét cả hai khía cạnh vận hành và cấp tài chính, có thể định vị mỗi nước trên một hình vuông xác định bởi tỷ lệ tham gia vận hành và tỷ lệ cấp tài chính của nhà nước (tỷ lệ này thấp có nghĩa là sự tham gia của khu vực tư nhân cao: 1- tỷ lệ công). Đối với các nước thuộc tổ chức công nghiệp phát triển (OECD) Woessmann [2006] cho bức tranh sau:

Link:
http://i257.photobucket.com/albums/hh230/kimngan123_2008/CCGD02.jpg

Hình 1: Phần cấp tài chính công trung bình (trục tung) và phần tham gia vận hành của nhà nước (trục hoành) của mỗi nước tương ứng (Phần tư nhân = 1 – phần nhà nước).

Tên viết tắt của các nước như sau: AUT: Áo, BEL: Bỉ, BRA: Brazil, CZE: Thụy Sỹ, CHE: Cộng hòa Czech, DEU: Đức, DNK: Đan Mạch, ESP: Tây Ban Nha, FIN: Phần Lan, FRA: Pháp, GBR: Vương quốc Anh, GRC: Hy Lạp, HUN: Hungary, IRL: Ireland, ISL: Iceland, ITA: Italy, JPN: Nhật Bản, KOR: Hàn Quốc, LUX: Luxembourg, LVA: Latvia, MEX: Mexico, NLD: Hà Lan, NOR: Na Uy, NZL: New Zealand, POL: Ba Lan, PRT: Bồ Đào Nha, RUS: Nga, SWE: Thụy Điển, USA: Hoa Kỳ. Nguồn: Woessmann [2006] dựa vào cơ sở dữ liệu PISA.
Vị trí của Việt Nam (xem III): ở tọa độ public operation 0,976 và public funding 0,6



Có thể thấy gì qua hình trên? Thứ nhất, nhà nước là người cấp tài chính lớn nhất trong tuyệt đại trường hợp (trừ Mexico 37% và Hàn Quốc 51%), trung bình là 86,9%. Nhà nước cũng là người vận hành lớn nhất (trung bình 83%). Tuy nhiên có sự khác biệt khá lớn giữa các nước. Dựa vào cơ sở dữ liệu PISA (Programme for International Student Assesment) về đánh giá thành tích (đọc [của 130.242 học sinh], toán học [72.493 học sinh] và khoa học [72.388 học sinh]) Woessmann đã nghiên cứu những thành tích đó theo tỷ lệ cấp tài chính của nhà nước và theo tỷ lệ vận hành giáo dục của nhà nước và thu được những kết quả hết sức đáng chú ý. Bạn đọc quan tâm hơn có thể tham khảo khung khổ PISA tại www.pisa.oecd.org và Woessmann [2006]. Tóm tắt các kết quả như sau:

Hệ thống cộng tác công-tư kết hợp sự vận hành tư nhân với cấp tài chính công hoạt động tốt nhất (theo kết quả đọc, toán, khoa học) trong tất cả những khả năng kết hợp vận hành-cấp tài chính khả dĩ, và được minh họa bằng hình sau:



Hình 2: Thành tích về toán của học sinh 15 tuổi (tương đối so với nhóm có thành tích kém nhất, được coi là đạt 0 điểm), trục x: public operation (nhà nước vận hành); trục y: public funding (nhà nước cấp tài chính); trục z: điểm thành tích; low = thấp; high = cao. Các nhóm theo phân loại như ở Hình 1.

Thành tích về đọc và khoa học cũng có dạng tương tự (thay cho các điểm 74,6 và 36,7 về toán là: 41,3 và 3,5 cho đọc; 34,4 và 24,2 cho khoa học). Nói cách khác kết quả của Woessmann cho thấy hiệu lực của cộng tác công-tư trong cung cấp kĩ năng nhận thức cho học sinh: nhà nước vận hành có tác động tiêu cực đến thành tích, trong khi nhà nước cấp tài chính có ảnh hưởng tích cực đến thành tích (tuy nhiên nghiên cứu này không đề cập đến tính hiệu quả (kinh tế), tính bình đẳng và các kĩ năng phi-nhận thức như thái độ và những niềm tin của học sinh).


b) Tính bình đẳng về cơ hội giáo dục và tính hiệu quả

Như đã trình bày ở phần trên, tính bình đẳng và hiệu quả bổ sung cho nhau chứ không đối chọi nhau ở giai đoạn sớm, nên trong các giai đoạn này (nhà trẻ, mẫu giáo, giáo dục phổ thông) các chính sách thúc đẩy hiệu quả, thúc đẩy thành tích cũng thúc đẩy tính công bằng về cơ hội (như các trường tư cung cấp dịch vụ, nhà nước cung cấp tài chính).
Tuy nhiên ở các giai đoạn sau (cao đẳng, đại học, và sau đó) có sự đánh đổi giữa tính hiệu quả và tính bình đẳng, nên các chính sách khuyến khích cũng khác đi. Sự cộng tác công tư ở các giai đoạn này cũng có phần khác đi. Tỷ lệ tư nhân tham gia vào cấp tài chính tăng lên, và tính hiệu quả và thành tích giáo dục bậc cao do các trường tư cung cấp cũng cao hơn và dường như có mối liên hệ khá chặt với phần cấp tài chính tư nhân như bảng sau cho thấy.

CESifo DICE Report 4/2004

Những kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống giáo dục bậc cao “hoàn toàn miễn” phí là hệ thống rất không công bằng bởi vì (thông qua thuế) tầng lớp người nghèo lại đi bao cấp tài chính cho việc học tập đại học của những người giàu. Như thế việc thu học phí, theo tỷ lệ thu nhập gia đình, sẽ cải thiện tình hình bình đẳng và thúc đẩy tính hiệu quả.
Các đại học Mỹ thu những khoản học phí đáng kể và những nghiên cứu ở đây cho thấy vấn đề tham gia học ở bậc cao đẳng đại học không bị cản trở chính bởi khó khăn tài chính (do gia đình không có đủ khả năng tài chính) mà chủ yếu là do thiếu đầu tư vào giáo dục giai đoạn sớm nhất. Nếu điều này đúng ở Mỹ, nơi các trường thu học phí khá cao, thì lại càng phải đúng hơn ở những nơi thu ít học phí hơn. Như thế càng thấy việc nhà nước có chính sách giáo dục tốt ở bậc mầm non đến phổ thông (nhà nước cấp tài chính, các trường tư và trường công cạnh tranh nhau cung cấp dịch vụ giáo dục, v.v. như nêu ở trên) là quan trọng đến thế nào. Tại bậc cao đẳng đại học, tín dụng sinh viên là một giải pháp công bằng, vì những người hưởng lợi cuối cùng là những người phải chi trả. Khoản vay này sẽ giúp các sinh viên mà gia đình bị khó khăn tài chính có khả năng đóng học phí, và sinh viên phải hoàn trả khoản vay chỉ khi sinh viên đã ra khỏi trường và có thu nhập vượt quá một ngưỡng nào đó. Hợp đồng tín dụng phải được thiết lập sao cho nếu người vay học xong và có thu nhập cao hơn ngưỡng thì nhất thiết phải trả, ngay cả khi di cư ra nước ngoài. Như thế những người đi học, nhưng không hoàn thành chương trình, hay bị loại hay thu nhập sau đó ở dưới ngưỡng thì không phải trả khoản vay ấy mà nhà nước gánh chịu. Nếu nhà nước có chính sách tín dụng sinh viên tốt, hay bảo lãnh cho sinh viên vay để đi học, thì đó là một công cụ chính sách vừa hiệu quả vừa đảm bảo bình đẳng.
Không có mấy số liệu kinh nghiệm về tính hiệu quả và tính bình đẳng trong giáo dục dạy nghề và huấn luyện. Những nghiên cứu so sánh cho thấy suất sinh lời thấp và sự lỗi thời tăng lên do sự thay đổi nhanh của công nghệ. Tỉ lệ cao những người thất nghiệp trong số những người lớn tuổi đã qua các trường dạy nghề có thể là một chỉ báo như vậy. Đào tạo nghề có đặc điểm là vai trò của các doanh nghiệp khá lớn và việc huấn luyện, đào tạo trong công việc của các doanh nghiệp được đánh giá cao hơn.

III. Tình hình Việt Nam

Lưu ý rằng những xu hướng, các kết quả nêu ở các phần trên là kết quả quốc tế. Nên cẩn trọng khi đánh giá chúng. Có những xu hướng chung chắc chắn cũng đúng với Việt Nam. Tuy nhiên do thiếu số liệu nên một số kết luận chưa chắc đã phù hợp với Việt Nam. Rất tiếc chúng tôi không có số liệu chi tiết để có thể định vị và so sánh tình hình giáo dục của ta. Rất mong các chuyên gia về lĩnh vực này và các cơ quan có thẩm quyền (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Tổng cục thống kê) có những nghiên cứu và công bố số liệu có thể so sánh được. Theo đánh giá của ông Vũ Quang Việt chuyên gia thống kê cấp cao của Liên Hiệp quốc trong bài “Chi tiêu cho giáo dục: Những con số "giật mình"!” trên Vietnamnet thì tổng chi cho giáo dục của Việt Nam như sau.

Tỉ lệ cấp tài chính của ngân sách nhà nước và của khu vực tư, theo ông Việt, như sau.





 
 


Tỷ lệ trường công trên tổng số trường năm học 2005-2006 là 97,58%. Tuy chúng ta không tham gia vào chương trình PISA, song nếu với tỷ lệ cấp tài chính công cho giáo dục là 0,6 và tỷ lệ trường công là trên 97% , thì có thể định vị Việt Nam trên hình 1 tại tọa độ (0,976 – 0,6) tức là ở bên phải góc dưới. Theo những kết luận quốc tế kể trên, thì đó là góc tồi tệ nhất, kém hiệu quả nhất, thành tích kém nhất và suy ra cũng không đảm bảo tính bình đẳng về cơ hội nhất (xem hình 2 và phân tích ở đó). Không rõ những kết quả trên có thể áp dụng được vào hệ thống giáo dục Việt Nam hay không. Phải chăng những phân tích như vậy cũng góp phần lý giải thêm cho những yếu kém hiện tại của hệ thống giáo dục Việt Nam? Và phải chăng nó cũng giúp chúng ta hình dung về các biện pháp chính sách khả dĩ để cải cách hệ thống giáo dục của nước nhà?
Phải có những nghiên cứu thấu đáo hơn, với những chứng cứ bằng số liệu có tính thuyết phục hơn, chỉ có thế mới có thể tìm ra những chính sách và bước đi phù hợp để cải cách hệ thống giáo dục (phổ thông, đại học) của Việt Nam một cách có cơ sở. Ngược lại thì nhiều chính sách được kiến nghị chỉ mang tính hô hào chung chung khó có thể dùng làm luận cứ cho những kiến nghị chính sách cụ thể phù hợp với tình hình và phù hợp với từng thời kỳ.

Nếu những bài học quốc tế có thể áp dụng được vào Việt Nam (tôi tin là có thể), thì khung khổ thảo luận nêu trên (9 nguyên lý của Kornai) và những bài học rút ra từ các công trình lý thuyết và số liệu thực tiễn của thế giới có thể cho chúng ta những gợi ý hết sức bổ ích để cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam góp phần quan trọng vào sự nghiệp chấn hưng đất nước.

(Theo Văn phòng IDS)
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Toạ đàm ngày 21-12-2007: [/align]Chất lượng tăng trưởng kinh tế[/align]30/12/2007[/align] [/align]Toạ đàm sẽ diễn ra vào lúc 14h tại hội trường tầng 3 - Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Nhóm nghiên cứu gồm có: Trần Đức Nguyên - Trần Việt Phương - Lê Đăng Doanh - Phạm Chi Lan và một số cộng tác viên.

Bà Phạm Chi Lan sẽ trình bày đề dự thảo đề cương của nhóm về đề tài " Chất lượng tăng trưởng kinh tế ". Sau đây là nội dung đề cương:
Đặt vấn đề

- Đại Hội VIII (6-1996) nhận định:”Chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn còn lớn”. Nhận định này được lặp lại trong Đại hội IX (4-2001), Đại hội X (4-2006) cũng như trong tất cả các báo cáo hàng năm của Chính phủ trình Quốc hội, tuy cách diễn đạt có khác nhau đôi chút. Mới đây nhất, báo cáo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại kỳ họp Quốc hội tháng 10-2007 khi nói về những yếu kém của nền kinh tế, vẫn nêu điểm đầu tiên là: ”Năng suất và chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế còn thấp”. Như vậy, hơn 10 năm nay, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều nhìn nhận chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp là khâu yếu kém cơ bản của nền kinh tế và đều coi việc khắc phục tình trạng đó là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Song cho đến nay, tình hình hầu như chưa có chuyển biến gì.

- VN gia nhập WTO đưa nền kinh tế nhập cuộc đua tranh ngày càng gay gắt, làm bộc lộ rõ thêm chỗ yếu cơ bản về chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, sức cạnh tranh kém.

Trong khi đó, sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp hầu như chỉ chú ý tới tốc độ tăng trưởng GDP. Vì vậy, vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế không thể chỉ đề cập như lâu nay mà phải đánh giá kỹ, phân tích sâu các nhân tố tác động để đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình, góp phần đổi mới công tác quản lý của Nhà nước về kinh tế, định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp và chuẩn bị cho Chiến lược phát triển thời kỳ mới.

I- Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta

1- Thế nào là chất lượng tăng trưởng kinh tế

- Trước hết, đánh giá tăng trưởng kinh tế như thế nào? Theo định nghĩa và cách đánh giá phổ biến trên thế giới, tăng trưởng kinh tế là “sự gia tăng trong từng thời kỳ giá trị thực của sản xuất hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế, thường được biểu thị bằng Tổng sản phẩm quốc gia-GNP”

Lâu nay ta chỉ chú ý tới GDP, chưa quan tâm tới GNP (khác GDP ở mức chênh lệch giữa thu nhập của nước ngoài trên đất nước ta với thu nhập của người Việt Nam ở nước ngoài đưa về nước). Mặt khác, cả GDP và GNP đều chứa đựng cả những thứ không tạo ra giá trị mới, thậm chí còn gây tổn thất lớn cho nền kinh tế; những thứ này đang chiếm một tỷ lệ không nhỏ ở nước ta.

GDP tính chung cho cả nước với GDP cộng của 64 tỉnh chênh lệch nhau khá xa . Khi lãnh đạo cấp cao đi các tỉnh, đều dựa vào con số GDP do tỉnh cung cấp để “đánh giá cao thành tích phấn đấu của tỉnh”.

Đó là mấy vấn đề cần được các chuyên gia kinh tế và thống kê phân tích và có cách xử lý để cho việc sử dụng GDP, GNP phản ảnh đúng thực tế tăng trưởng kinh tế của nước ta và làm cơ sở để tính đúng các chỉ tiêu về chất lượng tăng trưởng kinh tế.

- Chất lượng tăng trưởng kinh tế, theo quan điểm phát triển bền vững, phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ, cải thiện môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (tiêu chí của LHQ); VN còn thêm các yếu tố : phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ (nghị quyết Đại hội X).

Quan điểm phát triển bền vững gồm nhiều yếu tố như trên càng phù hợp với thực tế VN khi nền kinh tế liên tục tăng trưởng khá cao, đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu phấn đấu trong kế hoạch hàng năm, nhưng chất lượng cuộc sống giảm sút trên nhiều mặt, khiến lòng dân không yên: giá leo thang; ngập lụt liên miên ở nhiều vùng, kể cả thành phố; môi trường và nguồn nước bị ô nhiễm nặng; vệ sinh thực phẩm không an toàn; dịch bệnh liên tiếp cả với người và gia súc, gia cầm; đi học, khám chữa bệnh tăng chi phí nhưng chất lượng thấp; tắc nghẽn và tai nạn giao thông; tệ nạn xã hội và tội phạm; đời sống của công nhân, đặc biệt là công nhân từ nơi khác đến làm ở khu công nghiệp, của nông dân nhiều vùng còn rất khó khăn và bấp bênh; văn hoá và tinh thần cũng có nhiều mặt xuống cấp, một số quyền tự do còn bị hạn chế; những bức bối của dân về tình trạng tham nhũng, sách nhiễu của người có chức có quyền, dẫn tới khiếu kiện đông người kéo dài vv…Không thể say sưa với những thành tựu và tiến bộ đã đạt được trong tiến trình đổi mới mà xem nhẹ thực trạng kém chất lượng, thiếu bền vững trong sự phát triển đất nước.

Mặt khác sự cảnh báo của các tổ chức khoa học quốc tế về động thái tăng nhiệt độ trên trái đất, làm biến đổi khí hậu, đảo lộn hải lưu và không lưu, dâng mực nước ở các vùng giáp biển, trong đó Việt Nam là nước chịu tác động và thiệt hại nhiều nhất, càng đòi hỏi phải có chiến lược theo quan điểm phát triển bền vững để tránh nguy cơ có thể xẩy ra không xa.

Viện nghiên cứu phát triển IDS thấy cần nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh tế theo quan điểm phát triển bền vững nêu trên. Song do điều kiện thu thập số liệu cần có thời gian nên trong bước khởi đầu, đề tài này chưa đề cập đầy đủ các mặt mà chỉ xem xét chất lượng tăng trưởng kinh tế về các yếu tố nội tại, thể hiện trên mấy mặt : (i) năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh; (ii) biến đổi cơ cấu kinh tế; (iii) thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân (iv) ổn định kinh tế vĩ mô. Sau đề tài này, sẽ nghiên cứu tiếp các mặt khác để đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển bền vững.

Đề tài này chủ yếu nghiên cứu chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế như một tổng thể; chất lượng tăng trưởng ở các cấp độ thấp hơn được đề cập như các yếu tố đóng góp vào chất lượng tăng trưởng chung của nền kinh tế.

2- Đánh giá chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta:

Theo nội dung đã xác định ở trên, có thể dùng các chỉ tiêu chủ yếu dưới đây để đánh giá động thái về chất lượng tăng trưởng kinh tế trong một số năm (chủ yếu là từ 2000 tới nay), và so sánh với một số nước, trước hết là các nước trong khu vực:

- Tỷ trọng đóng góp của ba nhân tố vốn, sức lao động và năng suất tổng hợp (TFP) vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, qua đó, đánh giá vai trò của các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng và theo chiều sâu.

- Hiệu quả đầu tư qua hệ số ICOR.

- Năng suất lao động xã hội.

- Tỷ lệ chi phí vật chất, tỷ lệ giá trị tăng thêm và tỷ lệ lợi nhuận trong tổng giá trị sản xuất. Có thể bổ sung một số chỉ tiêu cụ thể như tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các thành phần kinh tế, suất tiêu hao năng lượng và riêng điện cho một đơn vị tăng trưởng, suất đầu tư cho một đơn vị công suất, như một kW điện, một km đường …

- Đánh giá thực trạng kết cấu hạ tầng, mức đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài.

- Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu xuất khẩu, nhập khẩu, cơ cấu phản ảnh trình độ công nghệ như tỷ lệ đổi mới thiết bị, công nghệ, tỷ lệ các ngành sản xuất và dịch vụ công nghệ cao; tỷ lệ sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế, sản phẩm tinh chế, sản phẩm gia công trong hàng hoá xuất khẩu, mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu…Về cơ cấu lao động, phân tích sự chuyển dịch theo ngành, theo vùng (thành thị, nông thôn), theo trình độ đào tạo; xác định số lao động không có và thiếu việc làm, sự thiếu hụt nhân lực có tay nghề, có trình độ công nghệ cao và có năng lực quản lý.

- Thu nhập của dân cư, khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp ở thành thị và nông thôn; đánh giá kết quả thực chất xoá đói giảm nghèo.

- Phân tích các yếu tố về kinh tế vĩ mô bảo đảm cho sự tăng trưởng bền vững như thể chế kinh tế và quy hoạch phát triển; năng lực kiểm soát và ổn định giá, tỷ giá và tài chính-tiền tệ (chú ý thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản), cân bằng thanh toán quốc tế, cân bằng ngân sách, bảo đảm an toàn lương thực, an toàn năng lượng …

- Thu thập các tài liệu của các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng Việt Nam về năng lực cạnh tranh, về môi trường đầu tư kinh doanh, về công nghệ thông tin, về ô nhiễm môi trường sinh thái, về mức độ tham nhũng và về một số chỉ tiêu cụ thể, như chi phí vận chuyển, giá nhà đất vv…

Phần đánh giá này có thể dựa nhiều vào các chỉ tiêu định lượng, song cũng không loại trừ những nhận xét định tính; chẳng hạn, nếu không thể tính được trong tốc độ tăng GDP có bao nhiêu là phần “vô tích sự”, thì cũng phải nêu một số dẫn chứng để tránh xu hướng “sùng bái” GDP. (Phụ lục của đề cương này có nêu một số bảng thống kê về mấy chỉ tiêu đầu, thu thập từ các chuyên gia thống kê. Sẽ mời chuyên gia thống kê cộng tác nghiên cứu, giúp thu thập, tính toán và chỉnh lý các chỉ tiêu sau khi thống nhất với nhau về phương pháp).

Tuy còn một số hạn chế về điều kiện thu thập số liệu song có thể tập hợp tương đối đủ các cứ liệu để nêu được bức tranh toàn cảnh về chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm được cải thiện và đang thua kém các nước trong khu vực.

II- Vì sao chậm cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế ?

Không nêu các ưu điểm cho “cân đối” mà đi thẳng vào các thiếu sót, yếu kém để thấy rõ nguyên nhân.

1- Về phía Nhà nước, trước hết là trong giới lãnh đạo, đang tồn tại khuynh hướng chỉ chăm chăm vào tốc độ tăng trưởng, dựa chủ yếu vào các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng, nhất là vốn đầu tư, coi nhẹ chất lượng tăng trưởng. Trong các chỉ tiêu phấn đấu của kế hoạch 5 năm cũng như 23 chỉ tiêu của kế hoạch 2008 đều không có chỉ tiêu nào về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Đấy là chưa nói đến xu hướng chạy theo thành tích ảo về tốc độ tăng GDP, về tỷ lệ giảm đói nghèo…, đặc biệt là ở cấp lãnh đạo địa phương.

Do chưa coi trọng chất lượng tăng trưởng nên thiếu giải pháp và chính sách hữu hiệu ở tầm vĩ mô để phát huy các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu:

- Thể chế kinh tế thị trường chưa được xây dựng đồng bộ, nhất quán và thiếu minh bạch, bộ máy thực thi vừa kém năng lực vừa thiếu trong sạch; chưa tạo được môi trường cạnh tranh thật sự bình đẳng, lành mạnh. Thiếu tầm nhìn và có nhiều sai hỏng trong công tác quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch đô thị. Chiến lược và kế hoạch chưa nhằm trúng những vấn đề cần giải quyết trong giai đoạn phát triển mới, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn. Sự phân bổ các nguồn lực của đất nước (con người, trí tuệ, tài nguyên, đất đai, vốn tài chính từ trong và ngoài nước…) quá tập trung vào quyền lực nhà nước, chưa coi trọng phát huy vai trò của thị trường nên nặng tính chủ quan, duy ý chí, thiên vị dẫn tới lãng phí, kém hiệu quả.

- Đầu tư kém hiệu quả; đặc biệt là đầu tư công từ chủ trương đầu tư đến thực hiện có nhiều sai sót, gây tổn thất lớn; việc xây dựng kết cấu hạ tầng trì trệ, kéo dài đang cản trở đầu tư, kinh doanh trong xã hội. Thu hút FDI chú trọng về vốn, về thị trường, nhẹ về khai thác khả năng tiếp thu công nghệ mới (kể cả công nghệ quản lý), khả năng phát triển các ngành phụ trợ, khả năng cải thiện vị trí trong chuỗi cung ứng hàng hoá và dịch vụ toàn cầu.

- Quản lý giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ có nhiều sai sót; nhiều đợt cải cách rất tốn kém nhưng không thành công. Phát triển nguồn nhân lực không hợp lý về cơ cấu, bất cập về chất lượng. Chưa thật sự thu hút và sử dụng được nhân tài. Giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ thiếu gắn kết với nhau và với sản xuất kinh doanh nên hạn chế tác dụng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

- Chưa có chiến lược và giải pháp sử dụng sức lao động đang còn dư thừa; (sự đóng góp của yếu tố sức lao động vào GDP ở nước ta thấp hơn nhiều so với một số nước Đông Nam Á khác); xuất khẩu lao động chỉ là biện pháp trước mắt nhưng lại có phần được chú trọng hơn phát triển ngành, nghề ở nông thôn, giải quyết việc làm và ổn định đời sống cho nông dân ly hương, tạo việc làm cho thanh niên mới ra trường.

- Chưa bảo đảm vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô, nổi lên là: lạm phát và nhập siêu tăng nhanh; nợ nước ngoài sắp đến thời hạn trả với khối lượng lớn; hệ thống tài chính-tiền tệ chậm đổi mới, ngân hàng thương mại nhà nước có tỷ lệ nợ xấu cao; thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản nóng lạnh bất thường; thâm hụt ngân sách ở mức cao qua nhiều năm.

2- Về phần doanh nghiệp, còn nhiều hạn chế trong việc nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh.

- Doanh nghiệp nhà nước nhìn chung kém hiệu quả; cải cách DNNN tiến hành chậm, cả về sắp xếp lại, chuyển đổi sở hữu, đổi mới công nghệ và đổi mới quản trị doanh nghiêp cũng như về cơ chế quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Các công ty lớn của Nhà nước dựa vào sự ưu đãi và bảo hộ kéo dài của Nhà nước, vào vị thế chi phối thị trường, vào sự yếu kém của hệ thống quản lý và giám sát của Nhà nước; ít chú trọng nâng cao trình độ công nghệ và quản lý để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả đầu tư kinh doanh. Đặc biệt gần đây, các tập đoàn kinh tế được hình thành và mở rộng quyền kinh doanh đã tập trung nhiều vào bất động sản và chứng khoán , lập ngân hàng thương mại riêng để dễ thao túng hơn là phát triển những lĩnh vực then chốt được Nhà nước giao phó.

- Doanh nghiệp khu vực tư nhân liên tục có tốc độ tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh tế khác; một số doanh nghiệp mở rộng nhanh quy mô, xây dựng được thương hiệu, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, nhưng phần lớn còn lại thuộc loại nhỏ và vừa, công nghệ lạc hậu, vừa thiếu các nguồn lực cần thiết, vừa phải hoạt động trong môi trường kinh doanh còn nhiều trở ngại và bất bình đẳng, nên khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu bị hạn chế.

- Doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư chưa thật sự gắn kết với kinh tế trong nước thành một cơ cấu có hiệu quả, nhất là trong việc phát triển công nghiệp, dịch vụ phụ trợ, chuyển giao công nghệ mới. Không ít doanh nghiệp đầu tư vào VN để dịch chuyển công nghệ cũ, gây ô nhiễm (như đóng và sửa chữa tầu biển), để sử dụng nhân công rẻ (như dệt may, da giày), hoặc dựa vào chính sách bảo hộ của Nhà nước để thu lãi cao (như lắp ráp ô-tô, xe máy).

- Các hội và hiệp hội doanh nghiệp nhìn chung chưa làm tốt chức năng hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, chưa thật sự là cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với Nhà nước trong việc xây dựng và thực thi chính sách.

Nhìn vào trách nhiệm đối với tình trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế chuyển biến rất chậm qua nhiều năm, có thể thấy phần nặng hơn thuộc về Nhà nước; trong những mặt yếu kém của doanh nghiệp, cũng có phần do thể chế, chính sách của Nhà nước.

III- Giải pháp khắc phục

1- Trước hết, về tư duy kinh tế, cần làm rõ mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giữa các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu. Ở nước ta, cả hai mặt đều còn tiềm năng cần phát huy. Song chỉ chú trọng các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng thì chẳng những không nâng cao được chất lượng tăng trưởng mà còn hạn chế cả tốc độ. Khi vốn đầu tư đã đạt tỷ lệ 41-42% GDP như hiện nay , phải nâng cao được hiệu quả đầu tư, tạo nhiều việc làm với năng suất lao động cao hơn thì mới đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng. Theo tinh thần đó, phải bổ sung và coi trọng chỉ tiêu về chất lượng tăng trưởng kinh tế trong các chỉ tiêu phấn đấu về phát triển kinh tế-xã hội trước mắt và lâu dài, như chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư, về năng suất lao động và chỉ tiêu phản ảnh chất lượng tăng trưởng qua sự biến đổi cơ cấu kinh tế. Bảo đảm độ tin cậy trong việc tính tốc độ tăng trưởng GDP, GNP; chấn chỉnh việc tính GDP của các tỉnh, thành phố, khắc phục xu hướng chạy theo tốc độ với thành tích ảo.

Đồng thời, cần đổi mới mạnh hơn nữa nhận thức về vai trò và sự phân công giữa Nhà nước và thị trường trong các lĩnh vực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội; trên cơ sở đó, tiếp tục đổi mới thể chế quản lý kinh tế theo hướng giảm mạnh sự ôm đồm quá mức của Nhà nước và DNNN, tăng mạnh vai trò của khu vực dân doanh trong mọi lĩnh vực đầu tư kinh doanh, kể cả xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ giáo dục, y tế…

2- Những khiếm khuyết trong công tác quản lý nhà nước và những chỗ yếu trong hoạt động của doanh nghiêp nêu ở phần trên được đánh giá và phân tích một cách cặn kẽ sẽ chỉ ra những vấn đề phải giải quyết, những việc phải làm để tạo được chuyển biến thật sự về chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Trên cơ sở đó, đề tài này sẽ đề xuất những giải pháp lớn, hy vọng đóng góp vào việc xây dựng chiến lược phát triển thời kỳ mới và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo môi trường và động lực phát triển kinh tế theo chiều sâu và qua đó đẩy nhanh tốc dộ tăng trưởng kinh tế vững chắc hơn.

3- Đi đôi với những giải pháp về kinh tế-xã hội sẽ nghiên cứu đề xuất, có một vấn đề mang ý nghĩa then chốt là phát huy sức mạnh của dân cả về vật chất, trí tuệ và tinh thần nhằm bù đắp sự bất cập và khắc phục sự yếu kém của bộ máy nhà nước trong việc hoạch định và thực thi thể chế, chính sách nói chung và thể chế, chính sách kinh tế nói riêng. Có thể coi đây là “giải pháp của các giải pháp”.

Điều kiện tiên quyết để thực hiện giải pháp then chốt này là: đi đôi với việc thực hiện tốt hơn điều 57 của Hiến pháp hiện hành “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, cần phải thực sự đưa vào cuộc sống điều 69 của Hiến pháp “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Thực hiện điều này không dễ, nên cần chọn mấy vấn đề cần và có thể làm trước mắt:

Một là, khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền của dân được thông tin, trong đó phải sửa pháp lệnh về “giữ bí mật quốc gia” cho phù hợp tình hình mới, quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc công bố thông tin và đáp ứng đòi hỏi cung cấp thông tin của dân và báo chí (không thể tuỳ tiện thoái thác bằng nhiều lý do như hiện nay). Cần có quy chế cụ thể thu thập ý kiến của dân, đặc biệt là các doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp, các luật gia về những chỗ bất hợp lý, không nhất quán, thiếu đồng bộ, sơ hở trong các văn bản pháp quy hiện hành, kể cả những quy định về thủ tục hành chính đang cản trở sản xuất kinh doanh. Những quy định mới về thể chế, chính sách, các chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển mà Nhà nước hoạch định, kể cả các dự án đầu tư lớn, đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học, thấu đáo về các điều kiện trong nước và bối cảnh quốc tế; đồng thời cần có phản biện xã hội của các tổ chức độc lập để dự báo, đánh giá một cách khách quan tác động kinh tế, xã hội của các chủ trương đó.

Hai là, cụ thể hoá quyền lập hội của dân theo điều 69 của Hiến pháp. Hội có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, phát huy trí tuệ của dân và doanh nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh, đồng thời góp phần cùng bộ máy nhà nước nâng cao chất lượng xây dựng và hiệu lực thực thi thể chế, chính sách. Nếu còn có vướng mắc chưa thể ban hành Luật thì cũng phải có văn bản tạo khung pháp lý cho sự thành lập và hoạt động của các hội thật sự của dân, thúc đẩy sự hình thành xã hội dân sự.

Ba là, bảo đảm thực hiện quyền “dân kiện quan”. Tình hình dân khiếu kiện đông người, vượt cấp, dai dẳng như vừa qua đòi hỏi phải đổi mới căn bản cơ chế giải quyết những khúc mắc của dân đối với quyết định của cơ quan hành chính. Toà án hành chính hiện nay vừa bị hạn chế về quyền thụ lý và xét xử, vừa yếu về tổ chức, cán bộ, bị lệ thuộc vào cấp uỷ và cơ quan hành chính nên hầu như mất tác dụng. Cuộc sống đòi hỏi phải có chỗ cho dân kiện quan và được xét xử công minh thì mới khắc phục được tình trạng khiếu kiện đông người gây thành điểm nóng đồng thời góp phần loại trừ những khuyết tật, hư hỏng trong bộ máy nhà nước.

Ba điều này tạo đà đẩy mạnh thực hiện dân chủ một cách toàn diện là động lực quan trọng nhất để phát triển bền vững.
(Theo Văn phòng IDS)
 
http://www.vnids.com/modules.php?name=News&file=article&sid=7
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Tọa đàm ngày 04-01-2008:[/align]Vài vấn đề nông dân và nông thôn nhìn từ khía cạnh xã hội học[/align]30/12/2007[/align] [/align]Thời gian: từ 14h ngày 04-01-2008 tại hội trường tầng 3 - Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Gs. Tương Lai dự kiến sẽ đọc tham luận với chủ đề: NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN, MẤY VẤN ĐỀ BỨC XÚC CẦN NGHIÊN CƯU NHẰM ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI. Sau đây là bản đề cương trình bày đã được gửi tới văn phòng.
 
a. Đặt vấn đề.

Trong phạm vi thời gian quy định cuối tháng 3.2008 phải có sản phẩm bước đầu về chủ đề “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân”, tôi chỉ có thể đệ trình một bản phát biểu ý kiến về vấn đề nông thôn và nông dân từ hướng tiếp cận xã hội học.

Vấn đề nông nghiệp chỉ là cái nền kinh tế để từ đó, trình bày những vấn đề xã hội nông thôn, trong đó trọng tâm là vấn đề nông dân, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển kinh tế trong tiến trình công nghịệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tế Việt Nam, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc nhất của nhân dân sau khi đã trải qua nửa thế kỷ chiến tranh mà nông dân là người phải gánh cái gánh nặng nhất của chiến tranh.

Thật ra thì hiện nay, thế giới người ta có cái nhìn về nông thôn khác. Nông thôn không chỉ là là nông nghiệp và nông dân. Cư dân nông thôn không thuần túy là nông dân làm nông nghiệp. Nông thôn đang phải đảm đương những nhiệm vụ mà đô thị và công nghiệp không gánh nổi, trong đó môi trường là một ví dụ nổi bật, cực lớn. Ở Việt Nam ta, hơn 3 ngàn làng nghề là một thực thể rất đáng nghiên cứu. Nhưng do yêu cầu trước mắt, tôi tự hạn chế lại ở những vấn đề tôi nhận thức là cấp bách nhất, lại là vấn đề mà tôi có khả năng suy nghĩ và trình bày.

Chưa đủ điều kiện triển khai một khảo sát xã hội học nông thôn có đối chiếu với đời sống đô thị, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, nơi người nông dân vừa từ bỏ đồng ruộng đến bán sức lao động ở đây nên phải đành bằng lòng với những hiểu biết thu lượm được những khảo sát xã hội học ở một số địa bàn nông thôn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, đặc biệt là ở Thái Bình mà mười năm qua, hàng năm tôi đều có về để cập nhật lại tình hình, những khảo sát tại Quảng Nam –Đà Nẵng, những khảo sát tại đồng bằng Sông Cửu Long trước đây, cố gắng “hâm nóng lại” bằng vài chuyến đi ngắn để hiểu được những thay đổi cũng như những tồn đọng, trì trệ nhằm rà soát lại những nhận định trước đây, mặt khác sẽ dựa vào sự hỗ trợ của một số chuyên gia cung cấp những dữ kiện mới nhất làm điểm tựa để suy nghĩ và đưa ra nhận xét.

b. Nội dung của bài viết dự kiến sẽ gồm những vấn đề sau:

1. Vấn đề nông thôn và nông dân từng được đặt ra trên thế giới trong hai thập kỷ gần đây như thế nào. Từ những vấn đề thành công và thất bại của các lý thuyết đã được vận dụng trên nhiều quốc gia, đặc biệt là ở một số nước châu Á, trong đó chú ý đến Trung Quốc và Thái Lan sát cạnh ta, đối chiếu với thực trạng nông thôn và nông dân trong quá trình đổi mới sản xuất nông nghiệp ở nước ta để đưa ra những nhận định khái quát. Cố gắng nêu những thành tựu đã đạt được trong hai thập kỷ qua về nông nghiệp, nông thôn và đời sống nông dân, những thành tựu của Đổi Mới.

2. Từ sự kiện Thái Bình mười năm trước đây, năm 1997 đến những cuộc khiếu kiện đông người triền miên chưa lúc nào dứt trong suốt 10 năm qua ở nhiều tỉnh trên cả nước, cần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật về cuộc sống của người nông dân và diện mạo nông thôn từ sau Đổi Mới:

2.1 Nông thôn và nông dân được thụ hưởng quá ít những thành quả của Đổi Mới, trong khi chính họ là người khởi động sự nghiệp Đổi Mới.

Đô thị và công nghiệp, cụ thể là khoa học và dịch vụ đã làm gì cho nông thôn, nông dân, đã đem lại cho nông dân được cái gì, bao nhiêu và đã lấy đi của nông dân cái gì, bao nhiêu? Phải chăng là mang lại quá ít mà lấy đi lại quá nhiều. Cánh kéo giữa giá hàng công nghiệp và giá nông sản ngày càng kéo doãng ra ghê gớm, đem lại sự bất công, thua thiệt cho nông dân. Trong khi đó, các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, an sinh xã hội đối với nông thôn và nông dân kém tuyệt đối so với đô thị. Công ăn việc làm của cư dân nông thôn, trình độ và kỹ năng sản xuất nông nghiệp trong điều kiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp chưa có sự quan tâm đúng mức.

2.2 Môi trường và cảnh quan nông thôn bị tác động xấu của công nghiệp hóa và đô thị hóa và là hệ lụy của công tác quy hoạch nông thôn quá kém, hoặc có thể nói không có quy hoạch cho xây dựng và phát triên nông thôn, để mặc cho nông dân tự phát trong cuộc mưu sinh. Có người cho rằng, môi trường nông thôn chịu đựng sự xuống cấp còn hơn đô thị, do phải làm “bãi rác” cho đô thị, và hệ lụy của chất thải công nghiệp, làm cho nhiều dòng sông đã đổi màu, tắc nghẽn, hôi thối, cảnh quan của làng quê bị tàn phá nghiêm trọng.

2.3 Môi trường xã hội, vần đề dân chủ đang là một bừc xúc trong cư dân nông thôn. Việc đổi mới hệ thống chính trị từng được đưa ra đã có kết quả đến đâu, những gì? Cuộc “vận động xây dựng dân chủ cơ sở” thu được kết quả như thế nào? Thực trạng “bè cánh”, “tộc họ” với “Chi bộ họ ta”… “chính quyền họ ta” …và tệ “cường hào mới” ở nông thôn đang diễn biến ra sao?

Có 2 vấn đề bức xúc cần đi sâu:

* Nạn mất đất nông nghiệp, nhiều nơi là sự cướp đất trắng trợn dưới danh nghĩa những dự án quy hoạch nông thôn mới, những dự án đền bù, giải tỏa đất nông nghiệp chuyển sang mục đích khác gây bức xúc trong tâm trạng xã hội nông thôn.

* Cái hầu bao lép kẹp của gia đình nông dân phải móc ra đóng quá nhiều phí và lệ phí do sự áp đặt tùy tiện của địa phương “một hạt thóc phải gánh trên 40 loại phí”!

2.4 Trình độ chung về văn hóa và giáo dục của nhiều tầng lớp cư dân được nâng lên một bước do phổ cập tiểu học và số học sinh phổ thông trung học tăng lên, số vào Đại học cũng có tiến bộ chút đỉnh, nhưng nhìn chung, đời sống tinh thần, chất lượng sinh hoạt văn hóa ở nông thôn quá nghèo nàn. Chiếc màn hình Tivi vừa có tác dụng giải trí và phổ biến thông tin, kiến thức nhưng cũng vừa gây độc hại không kém qua những tiết mục quảng cáo giật gân khuyến khích sự hám lợi và thích tiền, và sự thiếu chọn lọc trong những pha kích động đối với thị hiếu và trình độ thưởng thức của thanh thiếu niên nông thôn. Thiếu hẳn những sân chơi lành mạnh, trong lúc sự du nhập những cặn bã của văn minh đô thị lại đang tàn phá những giá trị văn hóa làng. Thanh niên nông thôn đang nhận được những món ăn tinh thần do “chủ nghĩa xã hội” đem lại những gì đây? Triển vọng của họ là thế nào, họ có quyền hy vọng gì, đòi hòi gì và trách cứ gì, trách cứ ai?

2.5 Những giá trị văn hóa dân tộc vốn được nuôi dưỡng và vun đắp từ nền văn hóa làng, những giá trị đó hiện còn giữ được những gì, những gì đã phôi pha, suy thoái, những gì đã mất hẳn. Cảm nhận thì đã khá rõ, song chưa thể đưa ra kết luận và dự liệu những giải pháp nếu chưa có một khảo sát nghiêm túc và theo đúng phương pháp. Việc này, cho đến nay, chưa hề được tiến hành, hoặc có thì vẫn lỗ mỗ, chắp vá vụn vặt và tùy tiện. Trong bài viết lần này chỉ có thể đưa ra những cảnh báo để thôi thúc một nghiên cứu quy mô quốc gia, có thể không do IDS làm, vì sợ không đủ khả năng, song phải gióng lên tiếng chuông thúc giục.

2.6 Làm sao nhìn cho ra, trong những khiếu kiện kéo dài của bà con nông dân ta hiện nay, là những chỉ báo tích cực của sức sống xã hội, là sự biểu hiện tiềm tàng truyền thống quật khởi của nông dân Việt Nam bao đời, cho dù trước mắt là những nỗi lo của nhà chức trách về kỷ cương trật tự xã hội. Nhưng thử hỏi, đổi lại những khiếu kiệnsự vâng chịu một bề thì lấy đâu ra tính năng động xã hộilực tác động đến bộ máy quyền lực đang bị tha hóa? Có nhìn thấy cái đó mới có giải pháp đúng và tích cực.

3. Sơ bộ nêu lên nhận xét về phương thức tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời gian qua đã có tác động như thế nào đến bộ mặt nông thôn và đời sống vật chất, đời sống tinh thần và thân phận người nông dân.

3.1 Phải chăng một giải pháp cho Việt Nam về công nghiệp hóa và hiện đại hóa chưa phải là một giải pháp Việt Nam, mà vẫn là sự sao chép, chắp vá những công thức chung của nhiều nước trên thế giới để vận dụng có tính áp đặt cho một nước nông nghiệp trồng lúa nước, có một bề dày văn hóa và bản lĩnh quật cường vừa trải qua nửa thế kỷ chiến tranh với những di chấn nặng nề.

3.2 Phải chăng nông dân đang chịu thân phận là người lát đường cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa? Trong thực tế của đời sống nông thôn và nền nông nghiệp lạc hậu hiện nay, nếu chỉ độc lực nông dân thì không sao có thể biến đổi nền kinh tế nông nghiệp và cuộc sống nông thôn, nhưng sự chi viện của công nghiệp và đô thị cho nông thôn, nông nghiệp, nông dân còn quá ít, đặc biệt là sự hỗ trợ của khoa học và công nghệ thì còn quá yếu. Ở đây là đừơng lối, quan điểm , là tầm nhìn hay là vấn đề gì khác?

3.3 Có cách nào để nông thôn Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung tránh được giai đoạn “tích lũy sơ khai” với nền kinh tế thị trường hoang dã trong quá trình công nghiệp hóa, “cừu ăn thịt người” của thời kỳ tích lũy tư bản thế kỷ XVI. Đây là do đường lối chính sách hay là vì một quy luật tất yếu không thể nào tránh? Đã đến lúc phải phân tích cặn kẽ chuyện này để đưa ra những phê phán quyết liệt nhằm dẫn đến những quyết sách mạnh dạn và sáng tạo. Để làm được điều này, phải có những khảo sát tiếp theo, song trước mắt, có thể gợi lên những suy ngẫm.
 
(Theo Văn phòng IDS)
 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0