Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Nhân bản vô tính

1 trả lời, 3.043 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhân bản vô tính - Góc độ khoa học (Phần 1)
Saturday, June 28, 2008
 

Thảo Trang tổng hợp

Phần 1: Hiện trạng phương pháp nhân bản vô tính

Chúng ta sắp kỷ niệm 12 năm ngày các khoa học gia thuộc Viện Roslin, Scotland thông báo thành công trong việc cho sinh sản vô tính cừu Dolly.
Cừu Dolly đã đi vào lịch sử y học với tư cách là động vật có vú đầu tiên trên thế giới ra đời bằng từ công nghệ sinh sản vô tính.
Tiếp theo cừu Dolly, các khoa học gia tiếp tục nhân bản thành công nhiều loài động vật khác, như bò, dê, heo, ngựa, hươu, la, chuột, mèo, chó, và cả những loài động vật hiếm và đang bị đe dọa tuyệt chủng, như bò hoang Java, mèo hoang Châu Phi...
Trong hơn một thập niên của công nghệ nhân bản vô tính, dưới góc độ khoa học thì triển vọng của công nghệ này là gì? Có giúp ích gì cho khoa học nhân loại không? Chúng ta cùng tìm hiểu.

Phương pháp nhân bản dẫn tới sự ra đời của Dolly

Phương pháp nhân bản dẫn tới sự ra đời của Dolly cho tới nay vẫn không thay đổi: Nguyên tắc cơ bản là dùng một trứng, lấy đi nhân mang thông tin di truyền của nó, và thay vào đó bằng nhân của một tế bào thường. Sau đó trứng mới này được kích thích để tạo ra phôi bào mới, rồi đưa vào trong tử cung làm vật nuôi.
Về lý thuyết với công nghệ này chúng ta có thể nhân bản hay “copy” chính xác lại một con người hay động vật nào đó không qua sinh sản thông thường là có sự kết hợp giữa cá thể đực và cái.

Nhiều trở ngại xảy ra chưa giải quyết được

Mặc dù nhiều nỗ lực đang được tập trung vào lĩnh vực nhân bản động vật, nhưng các nhà khoa học vẫn quan tâm đến vấn đề sinh sản vô tính ở con người. Có nhiều nhóm chuyên gia trên khắp thế giới đã cố gắng tạo ra những dòng tế bào mầm từ phôi người vô tính nhưng chưa có ai thành công cả.
Theo ý kiến của các khoa học gia Anh Quốc Loraine Young và Ian Wilmut thuộc Viện Nghiên Cứu Roslin ở Edimbourg: “Cho đến nay, kết luận về sinh sản vô tính chỉ có thể tóm gọn trong hai từ: dị dạng và chết non!” Dị dạng thường gặp nhất là hiện tượng không bình thường trong hoạt động của tim, phổi và những vấn đề bệnh trong hệ thống miễn dịch.
Theo sự giải thích của Young và Wilmut, trước hết, đó là sự thoái hóa các gene di truyền, biểu hiện qua việc con vật mới sinh tăng trọng quá nhanh. Nguyên nhân chính có thể là do thiếu những điều chỉnh hoạt động của các gene ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, hậu quả của việc sai sót trong tiến trình chuyển không nguyên vẹn các DNA. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn không giải thích được vì sao việc nhân bản vô tính kết quả không mong muốn.
Tỷ lệ thất bại của giai đoạn trứng cao, và trong số những phôi thành công thì có rất nhiều bị lỗi, như trường hợp của Dolly đã bị chết sớm. Phần lớn động vật nhân bản vô tính đều chết, thường là ngay trong giai đoạn phôi. Nhiều con ra đời với các dị dạng không bình thường. Những con may mắn được sinh ra thì sự sống sau đó cũng rất khó khăn.
Vậy những thử nghiệm nhân bản người đầu tiên sẽ có kết quả như thế nào? Theo AP, khoa học gia sinh học Rudolf Jaenisch, Viện Công Nghệ Massachusetts, đã thông báo về những khó khăn của công nghệ này là:
a. Tỷ lệ trẻ sinh ra còn sống rất thấp trong nhưng lần nhân bản đầu tiên.
b. Người mẹ thay thế có thể bị sẩy thai, hoặc đẻ khó vì bào thai và rau lớn một cách bất thường (ở động vật nhân bản, một số con lúc ra đời to gấp đôi bình thường).
c. Nhiều trẻ chết trong vài ngày hoặc vài tuần sau khi sinh do mắc các bệnh về tim, phổi, gan, thận...
d. Nhìn bề ngoài, có 1-2 trẻ em hoàn toàn bình thường, nhưng có những vấn đề không thể biết trước, thí dụ: Trạng thái thần kinh trẻ có bình thường không? Quá trình nhân đôi của tế bào có bình thường không? Liệu trẻ có bị sớm tử vong do khiếm khuyết của hệ thống miễn dịch, và các bệnh như ung thư hay lão hóa có xảy ra không?
Ông Jaenisch khẳng định: “Tất cả những chuyện đó hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng cái chết không đáng sợ. Nguy hại hơn cả là nhân bản vô tính cho ra những con người vẫn sống và sống bằng đời sống thực vật”.

Sinh sản hữu tính làm tăng tính biến đổi di truyền

Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản mà trong đó có sự tham gia của hai loại giới tính là đực và cái. Sản phẩm tham gia của hai loại giới tính này là các giao tử (giao tử đực là tinh trùng, giao tử cái là trứng đã chín và rụng). Mỗi giao tử mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội. Trong thụ tinh, sự kết hợp giữa chúng tạo ra hợp tử mang bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội. Hợp tử sẽ phát triển thành cơ thể mới. Trong tiến trình sinh sản tự nhiên, sự phát triển của một con người bắt đầu bằng chỉ một tế bào. Khi một tinh trùng thụ tinh với một trứng và tạo ra một tế bào đơn, và tế bào đơn này có tiềm năng phân chia để hình thành nên một cơ thể sống hoàn chỉnh.
Sinh sản hữu tính làm tăng tính biến đổi di truyền của thế hệ con do sự tái tổ hợp các gene và các nhiễm sắc thể. Thế hệ con thường mang những tính trạng tốt nhất của cha và mẹ, có sức sống cao hơn, khả năng thích nghi với điều kiện bất lợi của môi trường tốt hơn cha mẹ. Sinh sản hữu tính làm cho quá trình tiến hóa xảy ra nhanh hơn và hiệu quả hơn sinh sản vô tính.

Sinh sản vô tính ít phổ biến ở động vật

Là hình thức sinh đẻ không có sự kết hợp giữa giới tính nam và nữ. Ðây là phương thức tạo ra một sinh vật mới bằng cách sao y nguyên tín hiệu di truyền từ một sinh vật cha hoặc mẹ. Nhiều người còn gọi sinh sản vô tính là sinh sản nhân bản. Sinh sản vô tính tự nhiên phổ biến ở vi sinh vật và thực vật. Sinh sản vô tính là hiện tượng từ một cá thể duy nhất cho ra thế hệ con giống hệt mẹ về mặt di truyền.

Cách tạo cá thể sinh sản vô tính ở người và động vật

Các bước phương pháp tạo sinh vô tính cũng giống như tiến trình sinh sản tự nhiên, nhưng không cần đến tinh trùng, Xem sơ đồ:
1. Lấy một trứng trong noãn sào của một cá thể giống cái, rút bỏ nhân (nguyên liệu mang thông tin di truyền).
2. Lấy nhân (nguyên liệu di truyền) từ một tế bào của một cá thể khác hay của chính cá thể giống cái cho trứng, đưa nhân này vào cái trứng đã bỏ nhân ở phần 1.
3. Dùng điện năng hoặc hóa chất kích thích vào trứng để trứng bắt đầu hoạt động, chúng ta sẽ có một phôi.
4. Phôi sẽ đưa vào một môi trường sinh học đặc biệt (chẳng hạn như cấy vào tử cung của cá thể giống cái) sao cho nó phát triển thành các tế bào mầm hay thành một thai hoàn chỉnh.
Khi hình thành phôi, có hai loại tế bào đó là tế bào sinh dưỡng và tế bào mầm, tế bào sinh dưỡng có nhiệm vụ nuôi dưỡng và nhóm tế bào mầm có khả năng biệt hóa cao để tạo ra mọi tế bào trong các bộ phận của cơ thể như xương, tim, gan, hồng cầu... Ðến đây chúng ta nhận thấy nhân bản có 2 khả năng, khả năng tạo ra một cơ thể mới giống mọi thông tin di truyền của cơ thể nhân bản và khả năng tạo ra khối tế bào mầm dùng để chữa bệnh hay là phương pháp trị liệu bằng tạo sinh vô tính. Ðây là một phương pháp mà các giai đoạn đầu cũng giống như phương pháp nhân bản vô tính nhưng tế bào mầm được tách ra từ một phôi, khi biệt hóa sẽ tạo ra những mô hay một cơ phận để ghép vào một bệnh nhân, chứ không để hình thành một bào thai hay một con người.

Ứng dụng trong tương lai đối với ngành y tế

Vậy nếu việc nhân bản phức tạp, tốn kém và đầy rủi ro như vậy, tại sao người ta phải bận tâm? Lý do hấp dẫn là để phục vụ y học. Thành công trong việc tạo ra cừu Dolly đã cung cấp động lực cho các nhà khoa học đẩy mạnh các nghiên cứu về tề bào mầm với mục đích tối hậu là cải thiện sức khỏe con người.
Tế bào mầm chứa trong phần trung tâm của phôi là là loại tế bào có khả năng biệt hóa thành bất kỳ tế bào nào cần thiết cho các bộ phận của cơ thể, như xương, máu, não.
Theo các chuyên gia, tế bào mầm có thể được sử dụng trong điều trị các bệnh như tiểu đường, đột quị, mù lòa... nhiều loại bệnh nguy hại cho con người hiện nay.

Sinh sản vô tính sẽ giúp cho công nghiệp chăn nuôi được không?

Người ta hy vọng, công nghệ nhân bản động vật sẽ giúp các nhà chăn nuôi và nông dân sản xuất ra những gia súc đáp ứng nhiều mong muốn trên thị trường.
Ông Jim Greenwood, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Tổ Chức Công Nghiệp Công Nghệ Sinh Học (BIO), cho biết về ứng dụng của công nghệ sinh sản vô tính, ông nói: “Hiện nay chúng tôi đang sử dụng công nghệ này nhằm sản xuất thực phẩm và an toàn thực phẩm tại các nước đang phát triển, sức khỏe của gia súc và an toàn của nguồn cung cấp thực phẩm. Sinh sản vô tính cũng sẽ giúp chống nguy cơ tuyệt chủng của một số loài động vật hoang dã, như gấu trúc khổng lồ”.
Kỳ tới: Phần 2 Nhân bản vô tính và Nhân bản trị liệu
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=80744&z=15
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Nhân bản vô tính - Góc độ khoa học (Phần 2)
Saturday, July 05, 2008
 
Thảo Trang tổng hợp
 


 
Chú thích hình: Tế bào mầm là những tế bào có chức năng quyết định trong tiến trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật, đặc tính có thể biệt hóa thành bất cứ loại tế bào chuyên hóa nào của cơ thể ví dụ tế bào tim, tế bào gan, tế bào thần kinh... đây là khả năng được y học quân tâm với mục đích kéo loài người ra khỏi những bệnh tật hiểm nghèo. Nghiên cứu tế bào mầm có khả năng tái sinh lại những mô, vùng cơ quan bị hư hại hoặc chết, như những vùng mô tế bào ung thư. Trong tương lai, các “ngân hàng cơ phận” của con người như các mô thần kinh, mô gan, tim... sẽ được tạo ra trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Hình tiến trình dung hợp để tạo phôi vô tính. (Hình: Toshifumi Kitamura/Getty Images)


Trong nhân bản vô tính như đã giới thiệu ở phần I, khi phôi bào đã hình thành, có hai khả năng phát triển nếu như phôi đó hoạt động, khả năng thứ nhất phôi có thể nuôi cấy trên một cơ thể mẹ nào đó để trở thành cá thể hoàn chỉnh còn gọi là nhân bản tạo sinh hay cloning sinh sản hoặc nhân bản phôi, khả năng khác là dùng phôi bào này nuôi cấy trong phòng thí nghiệm (invitro) để nghiên cứu chức năng hoạt động của nhóm tế bào gốc (stem cell) cũng hay gọi là tế bào mầm với mục đích nghiên cứu để tìm cách chữa trị những bệnh hiểm nghèo như ung thư, Alzheimer , tiểu đường... hay cũng gọi là cloning trị liệu hoặc nhân bản trị liệu hay nhân bản phôi người nhằm nghiên cứu tế bào gốc. Chúng ta cùng xem những kết quả và nhận định khoa học của hai khả năng trên.


Nhân bản người và quan niệm của Hoa Kỳ và các quốc gia

Hiện nay, trên thế giới có hai khynh hướng quan niệm về nhân bản vô tính. Nhiều quốc gia kêu gọi cấm mọi hình thức nhân bản người, trong đó có cả nhân bản phôi người phục vụ mục đích nghiên cứu y học, các quốc gia khác lại đồng ý hỗ trợ sinh sản vô tính để trị bệnh và nghiêm cấm sinh sản vô tính để tạo ra con người.
Liên Hiệp Quốc chưa có bất kỳ hành động nào ủng hộ nhân bản vô tính ở người.
Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ đối với nghiên cứu tế bào gốc và Quốc Hội Mỹ đã bác bỏ yêu cầu của Tổng Thống Bush thông qua luật hà khắc cấm nhân bản liệu pháp. Tuy nhiên, ông Bush đã hạn chế sử dụng tiền trợ cấp của liên bang cho hoạt động nghiên cứu tế bào gốc, chỉ cho phép tài trợ cho việc nghiên cứu tế bào gốc phôi thai tồn tại từ Tháng Tám 2001.

Nhân bản người cho tới nay là không thể hơn thế nữa...

Ðiều khiến dư luận quan tâm đó là việc nếu người ta có thể cho sinh sản vô tính một động vật như cừu Dolly thì liệu, có thể tạo ra con người từ sinh sản vô tính không?
Nhiều nhà khảo cứu khác đều có kết luận là một động vật được tạo ra như vậy đều có nhiều vấn đề sức khỏe như dị dạng, mập phì, u bướu, bệnh tim mạch trầm trọng, bệnh xương khớp cũng như nhiều khuyết tật nguy hiểm. Các bệnh này đều là do sự biến đổi của gen trong khi chuyển nhân. Một khám phá mới về sinh học tế bào của động vật linh trưởng (loài động vật gần con người) cho thấy giới khoa học không thể nhân bản khỉ và người bằng những kỹ thuật hiện nay.
Không giống như các loài động vật có vú khác đã được nhân bản thành công, trứng của khỉ rhesus bị tước mất một bộ protein quan trọng trong quá trình nhân bản. Ðiều tương tự dường như cũng đúng với tế bào của người.
Sự mất mát này gây rối loạn di truyền ở phôi thai nhân bản của khỉ và các nhiễm sắc thể phân phối gần như là ngẫu nhiên. Kết quả là phôi thai trông rất khỏe mạnh ở giai đoạn đầu song hoàn toàn không có khả năng phát triển thêm nữa.
Nhóm nghiên cứu của Gerald Schatten thuộc Ðại Học Pittsburgh, Pennsylvania, muốn nhân bản khỉ để nghiên cứu các căn bệnh ở người. Mặc dù đã tạo ra những phôi thai khỉ trông rất hoàn hảo bằng kỹ thuật nhân bản cừu Dolly, song không một phôi nào có khả năng phát triển hơn nữa. Các phôi khỉ rhesus cho thấy rối loạn nhiễm sắc thể như nhau. Tế bào của một số phôi chứa gấp đôi số nhiễm sắc thể bình thường, số khác có sự kết hợp kỳ lạ và một số không có nhiễm sắc thể. Ngoài ra, công trình nghiên cứu chưa được công bố của nhóm Schatten và các nhà khoa học khác cho thấy hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với tế bào người. Khả năng nhân bản ở người vẫn còn xa vời.

... Cũng không dễ dàng mất đi vai trò của người cha

Cho dù nhân bản vô tính (không có mặt của tinh trùng) thành công hay sự ra đời của chuột không cha. Nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy vai trò của đàn ông trong chuyện sinh sản thực chất là không thể mất đi được. Về mặt sinh học, những thứ mà nam giới truyền cho con không chỉ là DNA (những đặc điểm di truyền của người cha truyền cho con).
Nghiên cứu ở Ðại Học Wayne, Michigan còn cho biết thêm đây là lần đầu tiên khoa học biết được rằng, ngoài việc giúp trứng thụ tinh, tinh trùng còn mang đến bộ nhiễm sắc thể của nam giới và các ARN - những phân tử nắm giữ chìa khóa cho sự phát triển của phôi, Tiến Sĩ Stephen Krawetz và cộng sự vừa phát hiện ra 6 loại ARN trong tinh trùng và trứng đã thụ tinh. Các ARN này xuất hiện khi tinh trùng thâm nhập vào trứng. Những trứng chưa thụ tinh không thấy có các phân tử ARN này. Các ARN của người cha đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong giai đoạn đầu phát triển của phôi thai. Chúng hoạt động giống như một công tắc cho tiến trình phát triển chính xác ngay từ dạng phôi thai.
Trong nhân bản vô tính, trứng phát triển mà không có sự thụ tinh của tinh trùng, do vậy tỷ lệ thành công là vô cùng thấp, và cơ thể phát triển bất bình thường. Phát hiện trên cho thấy nguyên nhân có thể do sự thiếu vắng các ARN của cha.

Có thực phẩm vô tính không?

Nhân bản vô tính động vật còn là một công cụ nghiên cứu hiệu quả, bởi vì nó tạo ra những động vật với phẩm chất tốt, rất cần thiết để tạo ra nguồn giống vật nuôi khỏe mạnh trong nông nghiệp.
Báo cáo của cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm của Hoa Kỳ (FDA) cho biết thịt và sữa có xuất xứ từ những động vật vô tính không gây nguy hiểm cho việc tiêu thụ của con người, các sản phẩm có xuất xứ từ động vật vô tính cũng an toàn như các loại thực phẩm vẫn được con người tiêu thụ hiện nay. Tuy nhiên, theo báo cáo của FDA cho biết vẫn chưa đủ dữ kiện để kết luận rằng thịt và sữa của động vật vô tính thực sự an toàn tuyệt đối khi tiêu thụ.
Hiện hai công ty thực hiện sinh sản động vật vô tính là Viagen và Trans Ova Genetics đã sản xuất khoảng 570 động vật vô tính.
Trong báo cáo của Cơ Quan An Toàn Thực Phẩm Châu Âu - European Food Safety Autority - (EFSA) 2008 cho rằng giữa thực phẩm vô tính và thực phẩm chế biến từ những động vật chăn nuôi là không khác biệt.
Trong khi đó, chúng ta vẫn đang sử dụng nguồn thực phẩm vô tính hằng ngày từ bắp và đậu nành biến đổi di truyền với hàm lượng dinh dưỡng vượt trội. Giống bắp kháng bệnh và đậu nành không bị hại bởi côn trùng đang cho sản lượng cao hơn các loại giống truyền thống và do đó cũng mang lại thu nhập nhiều hơn cho nông dân, thậm chí còn có những lợi ích tiềm tàng về sức khỏe... Và, thực phẩm từ động vật vô tính cũng được sử dụng trong tương lai.

Nhân bản trị liệu và những gian nan trong nghiên cứu tế bào mầm

Thành công trong việc tạo ra cừu Dolly đã tạo ra tiềm năng cho các nhà khoa học, đẩy mạnh các nghiên cứu về tề bào mầm, với mục đích cao nhất là giúp ích cho sức khỏe nhân loại.
Tế bào mầm là tế bào trung tâm của một hợp tử phát triển từ trứng của người mẹ và tinh trùng của người cha, tế bào này mang đủ thông tin di truyền của cả cha và mẹ, tế bào mầm cũng được gọi là tế bào gốc. Ðây là những cụm tế bào quyết định sự phát triển của phôi và hình thành các tế bào chức năng trong phôi thai.
Trong điều kiện môi trường đặc biệt có định hướng và điều khiển cụm tế bào mầm có thể phân chia và hình thành nhiều loại mô mới, lành bệnh để phục hồi chức năng cho các cơ quan, bộ phận cơ thể bị bệnh hoặc suy yếu: như tim phổi, tế bào thần kinh não tủy tới xương, thịt, da, mắt, máu, cơ quan sinh dục...
Ðược chứa trong phần trung tâm của phôi, tế bào mầm là loại tế bào có khả năng chuyển hóa thành bất kỳ tế bào nào cần thiết cho các bộ phận của cơ thể, kể cả xương, máu, não...
Khi một bệnh nhân bị bệnh nan y thí dụ ung thư gan hay bệnh Alzheimer chẳng hạn, tế bào mầm của có thể tạo ra các tế bào gan và thần kinh mới lành mạnh có chức năng hoạt động tốt để giúp thay thế những tế bào bị bệnh, cứu con người khỏi bệnh tật.
Hiện nay, các nhà y học đang khai thác khả năng của tế bào mầm để tìm ra những liệu pháp y khoa hiệu quả nhất. Theo các chuyên gia, tế bào mầm có thể được sử dụng ngay trong điều trị các bệnh như tiểu đường, đột quị, mù lòa...
Các nghiên cứu ở Anh Quốc còn tin rằng, thành công trong việc tạo ra tế bào thần kinh sẽ giúp phát triển những phương pháp điều trị mới liên quan đến các bệnh về thần kinh như Parkinson và Alzheimer.
Hiên nay, các chuyên gia khoa hoc cho biết họ đang gặp nhiều khó khăn không chỉ về mặt kỹ thuật mà cả về phương diện đạo đức trong việc khai thác nguyên liệu và ứng dụng tế bào mầm.

Những khám phá mới sẽ được dư luận ủng hộ

Các nhà khoa học đã tạo ra được một dạng tế bào gốc của người bằng cách kích thích trứng chưa thụ tinh, tức là tạo ra tế bào gốc từ trứng chưa thụ tinh, thay vì từ phôi. Thành tựu này mở ra triển vọng mới trong việc sản xuất các mô để cấy ghép an toàn cho phụ nữ. Nhưng những nghiên cứu không dừng lại ở đó, điều gây chú ý hơn cả là: Công ty PPL Therapeutics (Mỹ), công ty đã nhân bản cừu Dolly, cho biết họ đã thành công trong việc thay đổi một tế bào da của một con bò thành một tế bào cơ tim. Nghiên cứu này mở ra triển vọng to lớn trong việc tạo ra các mô thay thế dùng trong cấy ghép mà không cần sử dụng đến các tế bào gốc phôi. Cần phải thấy rằng trước kia, muốn có các mô mới để cấy ghép, các nhà khoa học phải dùng đến những tế bào gốc phôi người. Chúng là loại tế bào có thể phân hóa và phát triển thành tất cả các dạng mô khác nhau xây dựng nên cơ thể.
Các khoa học gia Hoa Kỳ và Nhật Bản đã khám phá ra kỹ thuật mới có thể biến tế bào da thành tế bào gốc đã công bố trong tạp chí nổi tiếng Cell (2007). Hai nhóm nghiên cứu gia đã miêu tả sự thành công, đó chính là họ có thể biến tế bào da người thành tế bào gốc mà không cần sử dụng đến hoặc hủy đi phôi người.
Áp dụng kỹ thuật của nghiên cứu mới này, các nhà khoa học có thể sử dụng tế bào gốc của người lớn để phát triển thành các mô thần kinh, cơ tim hay thậm chí các tế bào não, phục vụ cho việc cấy ghép mà không phụ thuộc vào tế bào gốc phôi người.
Với khám phá hiện đại này, các khoa học gia có thể loại trừ vấn nạn về luân lý, vì không cần sử dụng phôi người hoặc tạo nên các phôi ấy bằng phương pháp nhân bản vô tính, qua kỹ thuật chuyển nhân như kỹ thuật tạo ra cừu Dolly. Phụ nữ không cần phải hiến trứng cho việc nhân bản, và các thí nghiệm vẫn có thể tạo nên tế bào gốc, có thông tin di truyền đúng với người chủ. Các tế bào gốc này thay thế các mô cho các bệnh nhân sẽ không bị rào cản của hệ thống miễn dịch.
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=81052&z=15
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0