Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Kể Chuyện Các Vua Nguyễn

79 trả lời, 18.271 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-08 03:15:24ct.ly>
TÀi BÔNG LƠN CỦA MỘT KÉP HÁT

Sau khi bị mất 6 tỉnh ở Nam Kỳ, vua Tự Đức rất buồn phiền, suốt ngày trầm tư, không cười, ít nói. Để vua giải khuây, triều thần đề nghị cho đội tuống Thanh Bình vào trình diễn để vua xem. Bà Từ Dũ Hoàng Thái Hậu lại hứa ban thưởng cho ai đem lại nụ cười cho vua. Đội Vung - Đội trưởng đội tuồng Thanh Bình- xin đảm nhiệm việc ấy.
Khi đội Vung ra sân khấu thì vua Tự Đức đang hút thuốc lá. Đội Vung đang sắm vai vua, thấy vậy chạy lại gần Tự Đức nói:
- Cho tớ hút một hơi.
Vua Tự Đức đang buồn phiền thấy vậy cũng phải phì cười nói " mi táo gan hè " và tha cho cái lỗi phạm thượng ấy.
Đội Vung, sau buổi biểu diễn ấy, được lãnh thưởng của Hoàng Thái Hậu.

------------------------------

CÁP TÔ VĂN NGỒI TÙ

Đội Vung là kép giỏi của đoàn tuồng Thanh Bình, có tội phải vào tù, vì bị phát giác nằm trên máng xối của điện Thái Hoà để nghe bàn quốc sự, sau vụ Đoàn Trưng đột nhập Kinh Thành, mưu việc đưa Đinh Đạo lên ngôi không thành.
Nhân một buổi diễn tuồng cho vua Tự Đức xem, vai Cáp. Tô Văn không ai thủ xuất sắc, đội trưởng đội tuồng bẩm lại với vua cho thay tuồng khác.
Tự Đức hỏi lại lý do, đội trưởng mới tâu lại là phi đội Vung, không ai thủ nỗi vai Cáp Tô Văn, một tướng dữ đời Đường , suýt giết được vua Đường nếu không có Tiết Nhơn Quý phò trợ.
Vua Tự Đức đang lúc muốn xem tuồng , liền phán cho người vào tù kêu đội Vung cho ra tù đóng Cáp Tô Văn.
Xong việc, Cáp Tô Văn vào ngồi tù lại.

---------------------------------------------------

TIÊU TÁN SÁNG TẠO ĂN GAN

Tại nhà hát Duyệt Thị Đường , kép đóng vai " Tiêu Tán ăn gan " thật xuất thần. Vả khuôn mặt , tay chân , điệu bộ rất hấp dẫn người xem. Vua Tự Đức cũng bị tài nghệ kép hát lôi cuốn, hứng chí bảo nhỏ với quan bộ Lại ngồi cạnh bên:
- Ghi mau cho Trẫm, tên này được phong hàm bát phẩm.
Nhưng Tiêu Tán đang lúc say sưa diễn, muốn " sáng tạo thêm chút ít ", do ăn gan đã hết, đến khúc ruột , gặp khúc ruột thúi , nên phun phì phì. Thấy vậy , Tự Đức nổi giận:
- Nó diễn trước mặt Trẫm mà dám phun thứ hôi thói ấy, mau xoá bát phẩm.

--------------------------------------------

VÌ SAO LẠI SỬA TUỒNG BÀN DÂN GIAN

Nhân ngày khánh tiết, bà Từ Dũ Cho vời đoàn Thanh Bình vào hát trước sân cung Thọ Ninh cho các bà Thái Hậu xem. Hôm ấy đoàn hát tuồng truyện , vở Đường Chinh Tây, lớp " Phàn Lê Huê tru huynh sát phụ ". Các diễn viên đóng rất đạt. Đặc biệt là Phàn Lê Huê do một kép già đào đóng tài tình vô cùng.
Xem xong , bà Từ Dũ có vẻ không vui. Bà liền bảo đội trưởng vào bảo:
- Người Tàu đặt truyện thật là nghịch lý nhẫn tâm. Đặt cho Phàn Lê Huê tài phép đến thế , có chuyện chi gấp rút mấy đi nữa thời với tài ấy tránh trút như chơi. Chớ chi phải đến nổi giết anh, giết cha chẳng còn tình nghĩa chi hết. Người Tàu khác, người mình khác, người đặt truyện đã đặt bậy cớ sao người soạn tuồng cũng soạn bậy luôn? Phải sửa lại đừng cho như vậy mới là hợp lý và thuận với người nước ta !
Đội trưởng đội Thanh Bình nhận tội và hứa sẽ sửa lại .
Vua Tự Đức nghe mẹ phê phán đội Thanh Bình, ông cũng cảm thấy có phần trách nhiệm. Sàu đó nhà vua cho thu tất cả các bản tuồng đang lưu hành trong dân gian đưa về Kinh nhuận sắc lại hết. Vở nào không đúng với đạo lý Việt Nam đều phải sửa. Từ đó mới có tuồng Kinh Bản và Phường Bản. Phường Bản là bản tuồng ở dân gian, Kinh bản là bản tuồng đã được sửa chữa lại tại Kinh Đô

( Theo Đại Nam Liệt truyện và Tử Dũ Hoàng Thái Hậu truyện )


----------------------------------
KHI VUA NỔI GIẬN

Vua Tự Đức thường được truyền tụng là điềm đạm, nhưng vẫn có lần ông này nổi nóng, mất bình tỉnh. Giai thoại kể lại như sau:
Để giải khuây trước cảnh đất nước bị Pháp xâm chiếm, ông thường ngự thuyền trên sông Hương bắn chim bằng súng. Mỗi lần nhà vua bắn được chim rơi xuống sông, quân lình chèo thuyền rồng lại để các cung nữ khều chim bằng những cây sào dài. Những lúc như vậy cần phải giữ thái độ nghiêm túc, vì đang ở trên thuyền rồng của vua. Không hiểu tại sao, một lần có cung nữ vừa khều chim, vừa buông tiếng cười cợt. Nhà vua tức giận, ra khoang thuyền, thấy cung nữ vẫn không dứt tiếng cười, sẵn súng cầm tay liền bắn tại chỗ.
Các cung nữ thấy vậy đều xanh mặt, chẳng dám hó hé một lời.
Nhà vua bắn xong mới tỏ vẻ hối hận. Có lẽ đó là lần đầu. Tự Đức đánh mất tính điềm tỉnh của mình

( Theo Phan Văn Dật )

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 16:16:14ct.ly>
NHÌN LẠI BẢN THÂN MÌNH

Vua Tự Đức không có con nên tự mình viết văn bia cho mình. Qua văn bia ở Khiêm Lăng
( Khiêm Cung Ký ) nhà vua muốn thố lộ tâm sự . Một ông vua ở trên ngai vàng khá lâu, trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thay đổi, cho nên " Không khỏi tiếng thị phỉ ; Đây là một phương cách nhìn lại bản thân và tự đánh giá những việc làm của vua Tự Đức trong thời gian trị vì.
. . .
... Tính ta lại ít nói, cho nên không phải bạn chí thân, dù là thân cận đại thần gặp nhau khi vào triều thì cũng ít khi bàn việc quan hay lên mặt như kẻ khác, do đó hầu như ta có ít người để giao thiệp nhưng ta vẫn cứ yên vui d sống trong lặng lẽ và vụng về ấy.
Khí huyết, ta vốn yếu đuối , thân thể thường gầy gò, trong lúc tuổi trẻ đang yên ổn này mà việc nối dõi còn khó có thể an ủi được lòng mong chờ của cha mẹ, thật quá hổ thẹn, nhưng đang buổi đầu ta chưa quan tâm lắm.
Gần đến tuổi trưởng thành, vào tháng sáu bỗng mắc bệnh đậu mùa rất nguy kịch, nhờ cha mẹ hết sức thuốc thang cầu đảo, tháng tám mới khỏi. ( 1)
( .......)
Còn như việc giặc cướp trong , ngoài có lúc làm mê loạn lòng người nhưng rồi cũng yên, ấy là nhờ vào sức mọi người chứ mình ta thì chẳng làm gì được.
Ôi! Dốt nát mà quen sống yên ổn, mông muội mà ở chốn nhà cao cửa rộng chẳng biết phòng bị, tôi tài tướng giỏi cũng đã tàn tạ hơn phân nữa, mấy ai có thể khôi phục lời di huấn về việc canh giữ biên cương của cha ta để giúp ta bước khỏi vòng tội lỗi? Trời cao lại trừng phạt nặng nề để răn dạy vua tôi ta. Người Âu Châu xa cách ngàn trùng dương vạn dặm, phong tục chẳng giống nhau, mà nước lại là nơi quen biết cũ, bỗng đưa quân lính thuyền bè đến, bỏ tình hoà hiếu mà tìm cách xâm lược bờ cõi, chúng cậy tàu bền, súng tốt giày xéo để hòng nuốt chửng đất Quảng Nam, phá phách đất Gia Định. Đất Bắc vốn ưa làm loạn nhân thể cũng nỗi lên. Hưởng thái bình đã lâu ngày, dân không biết chiến đấu, canh thành giữ chốt nào được mấy người?
Khiến đất nước đầy trộm cướp , trong gian ngoài giặc, chúng cấu kết với nhau ngày càng tràn lan, chúng đến đâu thì tàn hại như gió bão, thử hỏi biết cùng ai để bảo vệ bờ cõi của ta huống chi là việc bảo vệ dân ta? Bất đắc dĩ phải đánh qua loa cho xong chuyện nhưng dân thì ngày càng quấy nhiễu. Để thôi mệt nhọc, nhân giặc cầu hoà ta đành phải sai sứ cùng chúng bội ước, những nhà nho lão thành, những đại thần uy vọng đều lấy làm bùi ngùi và xin đi, rồi chẳng hiểu sao lại quá dễ dãi trong việc thương thuyết mà trở về. Các triều đã dày công khó nhọc mở mang đất đai tụ họp dân chúng, bỗng nhiên một sớm thấy giao cho địch, họ đã chọn lấy cái họa nhỏ nên đã dùng cái chết để khỏi nhục mạng vua, quả như thế chăng? Khiến ta cùng với một bề tôi thân cận chẳng làm sao hơn, chỉ còn biết nhìn nhau mà nuốt nước mắt, đành đắc tội với tông miếu và thiên hạ. Kẻ mất chẳng hoàn thành được ý chí và sự nghiệp, người còn thì đằng đẵng xót thương lo lắng không sao khuây được. Đó là cái dẫn đến chỗ thảm khốc . Nếu cho rằng đành bỏ cái đã mất để lo xoay xở cái nguy mới hiện ra, thật không làm như thế thì làm sao giữ được việc đã qua ? Than ôi, nếu bỏ là có công tất mất là có tội, nếu mất mà chưa cho là tội thì sao bỏ gọi là công? Hai điều ấy chắc có thể phân biệt được. Kẻ kia làm mất nay ta thu lại được nên gọi là công, huống hồ kẻ kia làm mất , ta lại hùa theo mà n bỏ luôn, ôi công sao? Sao có thể đo lường trái đến vậy mà cho là trí, dối trá như vậy mà cho là công? Những kẻ bàn luận riêng tư còn cho như thế, nên họ chối bỏ chẳng đoái hoài gì đến nước nhà, thế nên chẳng lạ gì họ ngày càng uể oải ,trốn tránh do đó chính sự ngày càng phiền phức, không biết lòng người có từng thổn thức đau đớn hay không? Nhưng không sáng suốt trong việc biết người ấy là tội của ta, hằng trăm việc không làm được đều là tội của ta cả, bắt đắc dĩ phải thuận theo quyền mà hành động, những mong được một phút nghĩ ngơi nhưng thiên hạ từ đó bắt đầu sinh ra lắm chuyện ...."

( Trích Khiêm Cung Ký - Phan Hứa Thụy dịch)

( 1 ) Vì mắc bệnh này mà vua Tự Đức không có con nối ngôi.


Lăng miếu vua Tự Đức
📎 tombeau Tu duc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-10 01:21:38ct.ly>
TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG( BỐN THÁNG BA VUA )
CHUYỆN VỀ DỤC ĐỨC, HIỆP HÒA , KIẾN THỨC


DỤC ĐỨC ( 1 ) DƯỚI MẮT TỰ ĐỨC

Vua Tự Đức không có con, nên lấy con của Thoại Thái Vương ( 2 ) là Ưng Chân, hai con của Kiên Thái Vương là Ưng Đường và Ưng Đáng làm con nuôi, dự phòng ngày sau có người kế vị.
Trong ba người con nuôi ấy, Tự Đức thương yêu Ưng Đăng hơn cả; nhưng vì việc thừa kế ngai vàng cần con trưởng nên buộc lòng nhà vua phải chọn Ưng Chân.
Di chiếu của vua Tự Đức có đoạn viết:
- " Nếu chẳng may trẫm từ trần đột ngột, tâm hồn mãi mãi khôn nguôi. " Khó tin được ở trời, số mệnh sớm vô thường", trong mọi chuyện không thể dự bị trước . Vì tiên liệu , Trẫm đã nuôi sẵn ba con. Ưng Chân lớn tuồi nhất , đã học hành từ lâu, từ lâu đã đến tuổi truởng thành; tuy nhiên mắt hơi có tật dù xưa nay vẫn dấu kín, sợ sau này không còn thấy sáng, tánh lại hiếu dâm và tâm tánh rất sấu, chắc không đương nổi việc lớn. Nhưng đất nước cần có vua lớn tuổi. Trong thời thế khó khăn này, không dùng Ưng Chân, thì dùng ai? Cho nênTrẫm chọn Thụy Quốc Công Ưng Chân nối nghiệp nối nghiệp dòng chính và nối ngôi vua. Ưng Chân, ngươi nên nghĩ sâu xa, hãy biết rằng sự nghiệp tiền nhân gây dựng và bảo tồn nghìn vạn khó khăn, nay nguơi nối theo không dễ. Ngươi không được câu thả chút nào để làm trọn nhiệm vụ, không phụ mệnh trời giao phỏ ( 1 ) .
Sự đánh giá của vua Tự Đức thật rất bất lợi cho Dục Đức sau này.

( Đào Duy Từ - Di Chiếu của Tự Đức ( Bản tiếng Pháp ) và Đại Nam thực lục )

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-11 04:45:30ct.ly>
SỰ PHẾ BỎ DỤC ĐỨC


Ngày 14 tháng 6 năm thứ ( 17 - 7 - 1883 ) , vua Tự Đức truyền đến các đại thần trong Viện Cơ Mật bản di chiếu chỉ định con nuôi lớn tuổi nhất là Thụy Quốc Công Ưng Chân nối ngôi, Trần Tiễn Thành là Phụ Chính Đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là đồng Phụ chính Đại thần . Trần Tiễn Thành dâng sớ xin vua bỏ bớt mất đoạn liên quan đến tính nết xầu của Dục Đức và việc Dục Đức " không đảm đương được việc lớn " , vì những ý kiến ấy chỉ làm tổn hại đến danh dự và uy tín của người phải nắm lấy vận mệnh của quốc gia vào thời kỳ vương triều gặp nhiều khó khăn .
Nhưng vua Tự Đức không đồng ý bỏ mấy câu ấy, mà theo nhà vua , nhầm mục đích " nhắc " người kế vị phải tự răn mình, tu tỉnh"
Vua Tư Đức băng hà vào ngày 16 tháng ấy. Hoàng Tử là Thụy Quốc Công vào vào điện Hoàng Phúc chịu tang. Nhưng ngày 18 , không có sự đồng ý của Trần Tiễn Thành , Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng lên Hoàng Thái Hậu tờ hạch tội người được kế vị theo di chiếu và xin cử người khác thay. Bản hạch tội kể ba tội lớn của Hoàng Tử là:
1- Muốn sửa di chiếu.
2- Có đại tang mà mặc quần áo màu
3- Hư hỏng , ăn chơi
Hoàng Thái Hậu Từ Dũ chấp thuận, truyền rằng:
- Tiên đế cũng biết các tật xấu của người mà mà Ngài chỉ định kế vị và hết sức lo lắng, song sở dỉ phải chọn Hoàng Tử vì tình hình thù trong giặc ngoài đe dọa, cần có vua đã trưởng thành để cầm quyền chính. Nhưng bởi ông Hoàng ấy không bỏ tính xấu nên cần được thay thế.
Trong buổi thiết triều, khi Nhguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trình bày cho Tôn thất và quan lại biết lý do phế Thụy Quốc Công; Trần Tiễn Thành định can thiệp , nhưng Thuyết giận dữ thét:
- Ông cũng có tội nặng, còn định nói gì?
Cả y triều đình cúi đầu khuất phục, chỉ trừ quan khoa đạo Phan Đình Phùng can rằng :
- Tự quân chưa có tội gì mà phế bỏ như thế, thì sao phải lẻ .
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truyền bắt ngay lập tức . Sau nhờ sự can thiệp của Nguyễn Trọng Hợp, làm cho Thuyết hiểu là một người dũng cảm đến thế sẽ có lúc giúp ích được việc lớn , vị Thủ lãnh tương lai của phong trào Cần Vương mới chỉ bị cách tuột hết chức tước và đuổi về quê.
Lăng Quốc Công Hồng Dật, em vua Tự Đức n được đưa lên ngôi.
Sau lễ tấn phong Lăng Quốc Công, lấy hiệu là Hiệp Hòa, Trần Tiễn Thành được thăng lên Thái Bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ; các quan Khoa Đạo Hoàng Côn và Đặng Trần Hanh dâng bản hạch tội ông d_ã cố ý bỏ qua mấy đoạn trong tờ di cchiếu mà ông được giao đọc ở nhà Hữu Vu.
Hiệp Hòa đưa sự việc ra đình nghị, Trần Tiễn Thành phải trả lời về lời buộc tội ấy và dâng tờ sớ như sau:
- Ngày 14 tháng truớc, tiên đế triệu chúng thần vào điện, thần Trần Tiễn Thành cùng chúng thần Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết, để trao cho chúng thần tờ di chiếu để trong hộp. Chúng thần sang phòng thái giám để kính đọc. Di chiếu có đoạn như sau:
- Tính hiếu dâm, ngoài ra tâm tính rất xấu, không đương nổi việc lớn "
Thần Nguyễn Văn Tường nói:
- Di chiếu là để lập người nối ngôi trời. Sợ đoạn này không hợp lắm, nên xin bỏ đi. Thần Tôn Thất Thuyết và tiện thần Trần Tiễn Thành cũng cùng một ý và chúng thần đã cũng dâng sớ tâu xin như thế. Nhưng tiên đế bác đi. Ngày 18, Thụy Quốc Công triệu chúng thần đến điện Quang Minh và bảo: - Nhà vua đứng đầu trăm họ cũng phải là người đứng đầu về đạo đức. Trong di chiếu của tiên đế, vì lo cho tương lai nên có lời răn bảo nghiêm khắc, chẳng hạn như đoạn nói về sự bê tha . Hoàng tử nói không dám trái ý tiên đế , nhưng bảo thêm: " Tuy nhiên, đúng vào lúc trong nước rối loạn, quan hệ ngoại giao thì căng thẳng, nếu tin đồn về di chiếu loan ra, chẳng những bọn gây rối lấy đó làm cớ, mà các lân bang cũng vì vậy mà coi khinh. Làm thế nào cứu gỡ tình hình này? " . Hoàng tử hỏi có thể bỏ đoạn ấy không, nhưng tự mình không dám . Chúng thần đáp là Hội đồng Phụ Chính đã xin bỏ đoạn ấy nhưng tiên đế không cho và nay thì không còn có thể thay đổi gì được nữa. Hoàng tử yêu cầu mọi người suy nghĩ thêm, sao cho khỏi tổn hại đến việc quốc gia.
Ngày 19 ( ngày tuyên đọc di chiếu) thần Nguyễn Văn Tường cáo bệnh xin nghỉ. Tiện thần nhiều lần xin cáo vì tuổi già. Thần Tôn Thất Thuyết cho rằng thần là bậc trưởng lão , không chịu vượt qua để đọc di chiếu . Thế là lễ tuyên chiếu đã sẵn sàng . Không thể từ nan , Thần phải đọc di chiếu . Song thần quá đỗi đau thương nên mắt mờ , tai điếc, tâm trí bất định do gần đây có bệnh . Thần cũng không nhớ rõ mình có sai sót gì không khi đọc. Nay quan Khoa Đạo hạch tội, thần xin chịu mọi hậu qua.
Sau đó, Trần Tiễn Thành bị giáng hai cấp. Ông bèn xin miễn việc quan, về quê tỉnh dưỡng.

( Theo Quốc Triều Chính Biên, và Đào Duy Anh: Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành )


--------------------------------------------------------------------------



NHỮNG NGÀY TÙ TỘI

Sau khi bị truất phế, Thụy Quốc Công bị giam ở Dục Đức đường , nhà học của Ưng Châu khi chưa làm vua . Tại đây, nhà vua ở trong một phòng kín mít vừa được cấp tốc xây lên.
Trong khi bị giam, hằng ngày Dục Đức chỉ được một phần cơm như phạm nhân thường mà người quen ăn ngon chẳng thể nào nuốt được . May nhờ có một người lính canh gác thương tình chủ cũ , hằng ngày đút vào cho một nắm cơm và một cái áo cũ thấm nước để vắt ra mà uống . Nhờ vậy Dục Đức sống cực khổ kéo dài gần được ba tháng ( 22 - 7 - 1883 đến 6 - 10 - 1883 ) Khi bị lộ chuyện, tên lính không tiếp tế cơm nước nữa. Dục Đức bị bỏ đói , chết khát trong ngục, sau cơn hấp hối cực kỳ đau đớn, thảm khốc.


-------------------------------------------------

NẤM MỒ KỲ LẠ

Sau khi chết vì tuyệt vọng và đói khát trong ngục, thi hài ông vua xấu số này được gói vào một chiếc chiếu giao cho hai tên lính và một quyền suất đội gánh đi . Đám tang lạnh lùng này định đưa về An Cựu để mai táng trong địa phận của chùa Tường Quang, nhưng mới đi được nửa đường thì chiếc quan tài bằng chiếu bị đứt dây, một người lính đã chạy vào chùa Tường Quang mời nhà sư trụ trì ra xử lý. Gặp lúc mưa gió, tối trời nên chẳng mấy ai nhiệt tình trong việc di chuyển thi hài nhà vua vào chùa.
Hơn nữa, ai cũng tin rằng, nhà vua đã tự chọn nơi ở vĩnh viễn của mình tại đó. Mảnh đất " thiên táng " ấy được chọn làm nơi mai táng thi hài một ông vua xấu số bậc nhất của triều Nguyễn.
Ba ngày sau , vợ con nhà vua mới được thông báo để làm lễ chịu tang . Tượng truyền rằng, về sau có một lão ăn mày kiệt sức, nằm chết còng queo trên nấm mồ của ông vua Dục Đức , dân địa phương bèn đem chôn ông ta ngay trên nấm mồ nhà vua mà không hay biết.
Sáu năm sau, do một hoàn cảnh bất ngờ, con trai của vua Dục Đức là Bửu Lân được lên làm vua. Sau khi tức vị, Bửu Lân đặt niên hiệu là Thành Thái và bắt đầu cho xây đắp lăng mộ của vua cha ngay tại nấm mồ " thiên táng " đó .
Nấm mồ có cả thi hài của ông vua xấu số và lão ăn mày tốt số.














Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-11 04:44:47ct.ly>


LỄ TẤN TÔN HIỆP HÒA ( 1)


Sau khi truá6t phế Dục Đức , Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đề ngjhị lên đức Từ Dũ Hoàng Thái Hậu đưa Lăng Quốc Công Hồng Dật - em ruột Tự Đức, con thứ 29 của Thiệu Trị - lên làm vua.
Được sự đồng ý của đức Từ Dũ, Tường và Thuyết cử một phái đoàn lên Kim Long rước Lăng Quốc Công vào Đại Nội để chuẩn bị làm lễ tấn tôn. Nhưng Lăng Quốc từ chối . Năn nỉ mãi chẳng được , cuối cùng phải dùng võ lực ép ông lên kiệu, rước vào Cấm Thành , hai hôm sau làm lễ tấn tôn tại điện Thái Hoà.
Tương truyền trong buổi lễ, khi các quan đương sắp hàng lạy, có một con chim đậu trên ngọn cây trước điện kêu tiếng lớn. Đến khi đọc di chiếu, lại có một đoàn dê đi qua cầu Kim Thủy. Người ta cho là điềm không tốt.
Quả nhiên, Hiệp Hòa chỉ làm vua được 4 tháng 10 ngày trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn.

( Theo Quốc triều chính biên )


-----------------------------------------------------------

CUỘC TRANH CHẤP GIỮA HAI THẾ LỰC

Hiệp hòa lên ngôi lúc 37 tuổi nên không cam tâm làm tên bù nhìn trong tay hai phụ chính Đại thần, chỉ chờ cơ hội thuận lợi là tìm cách thoát khỏi. Cơ hội ấy là ngày ký Hiệp Ước Harmand ( 25 - 8 - 18883 ) sau khi Pháp chiếm Thuận An. Hiệp Hòa thông đồng với hai người tin cậy của mình là Hồng Sâm, con trai Tuy Lý Vương và Hồng Phi con trai Tùng Thiện Vương . Nhà vua giao cho Tuy Lý Vương cầu viện nhà cầm quyền Pháp giúp đỡ.
Ngay từ tháng tám, Hiệp Hòa đã có ý định từng bước loại bỏ Tôn Thất Thuyết. Để dập tắt dư luận chống đối cho là mình chuyên quyền, Tôn Thất Thuyết vờ xin thôi nhiệm vụ ở Bộ Binh, vua nhân có lời xin ấy đã chuyển Thuyết sang bộ Lễ , rồi sang bộ Lại thay cho Nguyễn Trọng Hợp phái làm khâm sai ra Bắc Kỳ . Nhưng Tôn Thất Thuyết đâu cam chịu mất quyền lực có được cơ nắm quân đội. Ông không sang nhận nhiệm vụ mới ( ở Bộ Lại ) và trong thực tế vẫn tiếp tục điều hành bộ Binh. Chính từ lúc ấy Thuyết bắt đầu cảnh giác đề phòng nhà vua.
Mặt khác Hồng Sâm và Hồng Phi cậy vào sự ủng hộ của Hiệp Hòa, có lần công khai chỉ trích chính sách của hai vị Phụ Chính Tường Và Thuyết ngay giữa buổi thiết triều .
Khoảng 4 tháng sau khi lên ngôi, Hiệp Hòa nhận được một tờ mật sớ của Hồng Sâm và Hồng Phi xin giết hai quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Theo một số người đương thời, sau khi đọc tờ sớ , Hiệp Hòa châu phê: " Chuyển cho Trần Tiễn Thành " và sai thái giám Phạm Tác giao lại cho Hồng Phi. Nhưng viên thái giám nhầm lẫn trao cho thượng thư Phạm Như Xương. Phạm Như Xương vội chuyển ngay cho nhà vua văn thư không phải dành cho chính mình . Hiệp Hòa nổi giận phạt Phạm Tác 30 roi. Chính sự trừng phạt ấy dẫn Phạm Tác đến chỗ phản bội.
Theo nhân chứng khác , sau khi xem sớ và châu phê: " Chuyển cho Trần Tiễn Thành " , Hiệp Hòa giao cho thái giám Trần Đạt đích thân mang đến cho Trần Tiễn Thành. Theo thông lệ , tờ sớ đặt trong chiếc tráp có đóng ấn riêng. Trời chập choạng tối, viên thái giám đến cửa Nhật Tinh thì gặp Nguyễn Văn Tường đang vào cung. Thấy viên thái giám bối rối . Tường sinh nghi, bèn đoạt lấy chiếc tráp, mở ra lấy tờ sớ ghi bản án tử hình của ông ta. Nguyễn Văn tường đi thẳng đến bộ Binh, Tôn Thất Thuyết đang ở đó. Sau khi Thuyết biết rõ sự việc, ông đề nghị triệu tập ngay đình thần để xử tội trạng vua Hiệp Hòa , Trần Tiễn Thành , Hòng sâm, Hồng Phi mưu sát các viên Phụ Chính.
Lấy chữ ký các quan xong, Nguyễn Văn tường và Tôn Thất thuyết thân hành vào cung Diên Thọ để dâng lên Hoàng Thái hậu tờ sớ ấy, xin Hoàng Thái Hậu cho phế vua Hiệp Hòa, lập người khác, đó là Ưng Đăng, hoàng tử thứ ba của vua Tự Đức.

( Theo Phụ Chính đại thần Trần Tiễn Thành - Đào Duy Từ )


---------------------------------------------------------------------------


CÁI CHẾT BI THẢM

Sau khi phát giác được âm mưu của Hiệp Hòa với Hồng Sâm, Hồng Phi, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đồng tình thực hiện ngay dự án của mình. Ngay trong đêm 28 thánh 11 ( 29 tháng 10 Âm lịch ) sau khi các cửa Hoàng thành đóng kín ) vào canh hai ( 20 giờ ) , Tôn Thất Thuyết thu tất cả chìa khóa và biện minh việc ấy bằng cách báo cho vua biết là bên ngoài có những người bất mãn tụ tập. Mặt khác , Thuyết tụ tập đội cận vệ riêng của mình , do Hồng Chuyên cầm đầu ở một vị trí bên hữu ngạn sông Hương, đồng thời sai Ông Ích Khiêm và Trương Đăng đệ dẫn 50 người lình vào điện Càn Thành bắt buộc vua tự xử mình theo lệ " tam ban triều điển ", dành cho các đế vương, khanh tướng phạm tội tử hình.
Theo Đào Duy Anh, khi Hiệp Hòa biết cơ mưu bất thành, quanh mình chỉ thấy vài viên thái giám, không biết làm sao chống lại, bèn quyết định soạn sẵn tờ chiếu thoái vị , trong đó nhà vua yêu cầu được quay về tư dinh. Người ta mang kiệu đến đưa nhà vua cùng những người tùy tùng, theo lời họ nói là đi về dinh cũ của vua, nhưng trước đó , Ông Ích Khiêm và Trương Văn Để ( không phải Trương Văn Đệ - TTB ) đã được lệnh đón ở cửa Hiển Nhân để đưa kiệu về Dục Đức Đường , bấy giờ đã trở thành nhà Hộ Thành.
Ở đó , Ích Khiêm và Văn Để đưa cho Hiệp Hòa một thanh gươm, một dải lụa điều và một chén thuốc độc, yêu cầu vua chọn cái chết cho mình. Thấy vua do dự , Ông Ích Khiêm ép đổ thuốc độc vào miệng vua và bóp mũi để buộc vua phải nuốt. Thuốc công hiệu ngay và ông vua khốn khổ lăn lộn quằn quại . Đúng vào lúc đó , Đề Đốc Trần Xuân Soạn mang lệnh của Tôn Thất Thuyết bảo phải làm nhanh , người ta sợ người Pháp can thiệp để giải thoát vua, và Ông Ích Khiêm đã kết liễu mạng sống nạn nhân bằng ba thanh gỗ đập vào cổ họng, vào ngực và bụng. Cú đánh thứ nhất làm vỡ thanh quản và cú thứ ba làm lòi ruột ra

( Theo Phụ Chính Đại Thần Trần Tiễn Thành - Đào Duy Từ )



Đăng nhập để trả lời
0
KIẾN PHÚC ( 1 ) LÊN NGÔI TRONG NƯỚC MẮT

Kiến Phúc là hoàng tử thứ ba của vua Tự Đức, nguyên là con thứ ba của Kiên Thái Vương, phủ thiếp là bà BùiThi- Thanh, sanh năm Kỷ Tỵ ( 1869 ) . Năm thứ 23 tri::4Ầ10:: Tự Đức , tháng Giêng , Tự Đức truyền đem vào cung, nuôi làm Hoàng Thiếu Tử. Khi ấy nhà vua mới hai tuổi, bà Học phi Nguyễn Văn Thị phụng mạng nuôi nấng.
Sau khi hai quan Phụ Chính Đại Thần họp các quan văn, võ ở Tịch Điền để các quan cùng ký tên vào lá sớ truất phế Hiệp Hòa và đưa hoàng tử Ưng Đăng lên ngôi, bấy giờ đã sang canh tư ( 2 giờ sáng ) , mưa gió sụt sùi , quan Hậu quân Nguyễn Hanh được cử đi rước hoàng tử ở Khiêm Lăng, nơi hoàng tử được đưa về ở từ sau đám tang vua Tự Đức.
Đó là hoàng tử được vua Tự Đức yêu quý nhất, mới được 14 tuổi, có phẩm cách trang nghiêm, cao quý đáng ngạc nhiên ở một thiếu niên còn trẻ tuổi.
Khi biết có đoàn rước đến, hoàng tử trốn dưới gầm giường ; người ta lôi hoàng tử ra, đưa lên kiệu, mặc cho hoàng tử la hét, khóc lóc . Kiệu của hoàng tử được cáng đến Tịch Điền, vào nhà quan canh. Trời tờ mờ sáng, mưa gió vẫn sụt sùi không dứt
Khi hai vị Phú Chính cho hoàng tử biết sự tình, hoàng tử lấy lý do mình còn ít tuổi và thiếu kinh nghiệm để từ chối ngai vàng, nhưng bị mọi người xung quanh dụ dỗ và thúc ép, rốt cuộc phải nhận lời. Hai vị Phụ Chính báo cho các quan, trong đó có thêm các quan gặp phải phiên trực trong cung đêm đó.
Ngày 1- 12- 1883 Ưng Đăng lên ngôi với niên hiệu Kiến Phúc.
Từ đó , trong dân gian lưu truyền rộng rãi câu đối:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường
Nghĩa là:
Một sông hai nước lời khôn nói
Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành

( Kiến Phúc ( 1883 - 1884 )
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT CÂU NÓI ĐỔI MẠNG ĐẾ VƯƠNG

Khi chọn Ưng Đăng về làm con nuôi, vua Tự Đức đã giao việc nuôi nấng và dạy dỗ cho bà phi thứ ba là Học Phi. Cho nên khi trở thành vua Kiến Phúc thì thế lực của bà Học Phi lên ngay. Nguyễn Văn Tường thấy được điều ấy nên tìm hết cách để lấy cảm tình của bà Học Phi. Dịp may của Tường đã đến . Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa, bà Học Phi ngày nào cũng hầu cạnh đức vua còn bé bỏng, từ tờ mờ sáng đến nửa đêm. Quan Phụ chính Nguyễn Văn Tường tối tối thường đến chầu Hoàng Đế và Hoàng Mẫu. Kiến Phúc đã nhiều lần bắt gặp thái độ là lơi giữa Nguyễn Văn Tường với bà Học Phi nên rất tức bực.
Một đêm, Kiến Phúc giả vờ ngủ để theo dõi câu chuyện trao đổi giữa hai người. Đến một lúc chịu chẳng nổi . Kiến Phúc kêu lên :
- Lành bệnh rồi tau sẽ chặt đầu cả ba họ nhà mi "
Ngay tối đó, sau khi uống thuốc của bà Học Phi dâng lên, nhà vua qua đời. Cái chết của Kiến Thức tuy vẫn còn trong vòng bí mật, nhưng người đời nghi là Nguyện Văn Tường đã đánh tráo thuốc của Thái T Viện, sau khi nghe câu nói đầy phẫn nộ và nguy hiểm của nhà vua.
Về Thất thủ Kinh Đô cũng có đoạn miêu tả lại sự kiện dẫn đến cái chết của Kiến Phúc:

Ngài vừa mười bảy ( 1 ) tuổi trời
Tánh tình cương nghị dáng người mảnh mai
Đại thần Phụ Chính hai ngài
Riêng phần quan Quận kiêm vai Ngự Điều
Bất phân sớm tối mai chiều
Để khi cần cấp xét liều thuốc thang
Vào ra trong chốn điện vàng
Rất là tương đắc với nàng Học Phi
Một hôm trong chốn cung vi
Quan Quận ( 2 ) cùng với Học Phi chuyện tró
Trao lời lúc nhỏ lúc to
Không màng tai vách, không lo mạch rừng
Tưởng rằng, kín mít như bưng
Nào hay có kẻ ngó chừng một bên
Một hôm ngài Ngự quở lên
" Ai như thầy Quận ở bên kia phòng"
Quan Quận nghe quở chột lòng
Thế rồi tâm niệm bất trung âm thầm
Hằng ngày đã có tiềm tâm
Lòng người hiểm ác thầm trầm ai hay
Đức vua án giá ngày nay
Họ nghi quan Quận có rày liên quan
Người mà có dạ gian ngoan
Ngấm ngầm bán nước, ngấm ngầm hại dân
Tuồi tuy mười bảy thanh Xuân
Mà vua Kiến Phúc có phần anh minh

(1) Thật ra Kiến Phúc mới mười lăm tuổi
( 2 ) Quan Quận : chỉ Nguyễn Văn Tường
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 05:27:21ct.ly>
HÀM NGHI ( 1884 - 1885 )

HÀM NGHI NHỮNG NGÀY BÔN TẨU

Vua Kiến Phúc mất, đáng lý con thứ hai của vua Tự Đức là ông Chánh Mông lên nối ngôi, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không muốn lập , bèn chọn em ông Chánh Mông là Ưng Lịch lên làm vua, niên hiệu Hàm Nghi lúc đó mới mười ba tuổi
Lễ đăng quang của Hàm Nghi được tiến hành ngày 1 - 8 - 1884.
Làm vua chưa được 1 năm , Kinh Thành thất thủ vào đêm 4 -7 -1885 ( đêm 22, sang 23 Ất Dậu )
vua Hàm Nghi và Hoàng Thái Hậu được Tôn Thất Thuyết mời lên kiệu tẩu thoát.
Hàm Nghi mới 13 tuổi sửng sốt nói :
- Ta có đánh nhau với ai đâu mà phải chạy .
Tôn Thất Thuyết liền rút gươm ra khiến quân lính vực vua lên kiệu, qua cửa Hữu, ra khỏi phòng thành đi về phía Kim Long.
Đến Quảng Trị, đoàn đạo ngự chia làm hai, một đoàn theo đức Từ Dũ trở về Huế gồm có các hoàng thân và quan lại, hoặc già yếu, hoặc mất ý chí chiến đấu và phụ nữ không muốn đi lên Tân Sở . Một đoàn đi theo nhà vua lên Tân Sở gồm những quan văn, võ muốn giữ trọn chữ trung với nhà vua ; với nước và các phụ nữ muốn đi theo cha mẹ , chồng con.
Sáng sớm mồng 9 tháng 7, sau khi bái biệt Từ Dũ Thái hậu và hai bà Trang Ý, Học Phi , nhà vua lên đường ngay và chiều tối thì đến thành Tân Sở . Hàm Nghi cả gày đăm chiêu, buồn rầu vì nhớ Kinh Đô. Sau 3 ngày ở Tân Sở , nhà vua đòi TônThất Thuyết cho người đưa về Huế, nhưng Tôn Thất Thuyết tỏ ý chí quyết chiến với Pháp, nên hai ngày sau Thuyết đệ vua một tờ chiếu kể tội giặc Pháp và yêu cầu nhân dân nổ dậy chống Pháp. Hịch Cần Vương ra đời
Nhà vua đọc hai lần mới phê chuẩn , rồi nói thêm:
- Bây giờ Trẫm mới hiểu vì sao khanh không muốn Trẫm về Huế còn bị giặc Pháp chiếm đóng.
- Vậy nếu công cuộc kháng chiến đòi hỏi phải đi vào sống trong rừng sâu, Ngài có đi không? Tôn Thất Thuyết hỏi:
- Đi đâu cũng đi, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi cho giặc Pháp ra khỏi đất nước . Nhà vua nói với giọng trầm , chậm rãi nhưng cương quyết.
Thế là ngày hôm sau, Tôn Thất Thuyết phò vua rời Tân Sở, ngược Mai Lĩnh qua Lào, tiếp tục vượt đèo Qui Hợp, sang địa phận Hà Tỉnh để về Ấn Sơn là nơi mà Tôn Thất Thuyết dự định đặt đại bàn doanh của nhà vua.
Đoàn người trên 500 ra đi từ Hành Cung Quảng trị chỉ còn 200 người cả quan lẫn lính với một cái kiệu trong đó Hàm Nghi đang lên cơn sốt, 6 cái võng, 1 con ngựa, 3 con voi và 50 gánh hành lý
Suốt dọc con đường dài hiểm trở , gian lao, vị vua sơm nếm mùi gian khổ ấy vẫn giữ vững ý chí, trầm ngâm, suy ngẫm về cuộc chiến đấu sẽ vô cùng ác liệt sắp đến.



📎 di anh vua H Nghi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 16:29:42ct.ly>
CUỘC CHIẾN ĐẤU TRONG RỪNG

Sau khi ban Hịch Cần Vương, các nơi đều hưởng ứng . Riêng ở Hà Tỉnh Lê Ninh, và Ấm Võ đã lãnh đạo thân hào, nhân sĩ và nhân dân chiếm tỉnh thành, bắt Trịnh Văn Báu, giết Lê Đạt là những người chống lại phong trào Cần Vương.
Triều đình Huế cử Hoàng Kế Viêm ra Quảng Bình dụ vua Hàm Nghi và các quan cựu thần về . Trong tờ dụ Đồng Khánh ban cho Hoàng Kế Viêm đại lược nói rằng :
- Nếu vua Hàm Nghi thuận về thì thì sẽ phong cho làm Tổng Trấn ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tỉnh, lại cấp cho bổng lộc theo y tước vương. Các quan cựu thần như Trương Văn Ban, Nguyễn Trực, Lê Mô Khải, Phan Trọng Mưu , Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nha, Ngô Xuân Quỳnh..... ai về thú thì sẽ được phục nguyên chức , cho làm quan từ Quảng Trị trở vào. Còn các ông Trần Xuân Soạn, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng có chịu về thì sẽ tha những lỗi trước, và phong cho chức hàm khác.
Chẳng có quan nào chịu về đầu hàng cả. Hoàng Kế Viêm chải triệt về tháng 5 năm Đinh Hợi ( 18887 )
Bấy giờ quân của Đề Đốc là Lê Trực đóng ở mạn Thanh Thủy, thuộc huyện Tuyên Chánh; quân của Tôn Thất Đạm là quân của Tôn Thất Thuyết đóng ở ngàn Hà Tỉnh, về hạt Kỳ Anh và Cẩm Xuyên. Còn Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Phạm Tuân thì phò vua Hàm Nghi ở mạn huyện Tuyên Hóa.
Trong đoàn hộ giá vua Hàm Nghi còn có Trương Quang Ngọc , con một viên quan đã từng bị triều đình đày lên làng Vè, đem một đội quân Mường rất tinh nhuệ ra hàng, khi biết tin nhà vua đến Ấn Sơn.
Tôn Thất Thiệp giữ gìn nhà vua một cách nghiêm mật, thề sống chết không để cho quân Pháp bắt được . Bởi vậy hễ ai nói đến sự đầu hàng thì bắt chém ngay, cho nên bọn Trương Quang Ngọc tuy đã bị Pháp mua chuộc , nhưng chưa dám hạ thủ.
Ở mé ngoài thì các ông Lê Trực và Tôn Thất Đạm nay đánh chỗ này, mai phá chỗ kia, không sao bắt được. Đại úy Mouteaux đánh đuổi lâu ngày nhọc mệt, bèn xin về Pháp nghì.
Cuộc chiến đấu trong rừng của vua Hàm Nghi vẫn ntiếp tục cho đến tháng chín năm Mậu Tý ( 1888 )



📎 vua TT mac quoc phuc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 17:04:53ct.ly>
NHỮNG NGÀY KHÁNG CHIẾN CUỐI CÙNG

Từ tháng Giêng đến tháng chín năm Mậu Tý ( 1888) quan Pháp tuần tiễu vua Hàm Nghi , đuổi bắt ông Lê Trực và Tôn Thất Đạm nhưng không thành công . Chúng toan rút về . Bỗng có tên suất đội Nguyễn Đình Tình hầu cận vua Hàm Nghi , ra hàng ở đồn Đồng Cả, khai rỏ tình cảnh cùng chổ vua đóng. Bọn Pháp bèn sai tên Tình đem thư lên dụ tên Ngọc về. Được mấy hôm, cả hai tình nguyện xin đi bắt vua Hàm Nghi.
Mười giờ đêm ngày 26 tháng 9 năm 1888, Ngọc và Tình đem hơn 20 lính Mường vào vây lều tranh của vua Hàm Nghi trên bờ khe Tả Bảo. Nghe ngoài có tiếng động, quan Thống Chế Nguyễn Thúy và con trai ông 45 tuổi giữ chức Tham biện Nội Các, chạy ra bị tên Ngọc đâm chết ngay.
Tôn thất Thiệp, con út Tôn Thất Thuyết còn đang ngủ, hoảng hốt cầm gươm nhảy ra cũng bị một lính Mường phóng ngọn giáo vào ngực chết ngay
Biết mình bị phản, vua Hàm Nghi bước ra, cầm thanh gươm đưa cho Trương Quang Ngọc và bảo rằng:
- Mày giết tao đi còn hơn đưa tao về nộp cho Tây.
Vua vừa nói dứt lời thì một tên lính Mường lẻn ra sau lưng ôm quàng lấy rồi giật thanh gươm ra. Từ đó, nhà vua không nói năng gì nữa.
Sáng hôm sau, Ngọc cõng nhà vua ra đến bến Ngã hai, rồi đưa xuống bè, đi mất hai ngày mới đi đến đồn Thanh Lang, nộp cho viên đại úy coi đồn là Boulangier. Viên đại úy lập tức đưa nhà vua về đồn Thuận Bài ờ sông Gianh, gần chợ Đồn.
Khi nhà vua từ dưới thuyền bước lên, quân đội Pháp do một thiếu tá chỉ huy cử nhạc và bồng súng chào thì nhà vua kéo chăn che mặt lại. Đến khi viên thiếu tá Pháp đọc lời chúc từ thì vua nói :
- " Tôi không dám nhận lời chúc mừng của ông vì tôi chỉ là kẻ bề tôi của vua Hàm Nghi. Vua chúng tôi hiện ở trong rừng. Nếu tôi không bị ốm nặng thì tôi đã tẩu thoát được với nhà vua rồi " .
Từ đó nhà vua lại im lặng. Bọn Pháp lại hoang mang không biết là người trước mặt có thật là vua Hàm Nghi chăng? hay là tên Trương Quang Ngọc phỉnh lừa?
Được tin vua Hàm Nghi tới Thuận Bài, viên đô đốc đồn Thanh Thủy và các đề đốc đến bái yết, nhà vua giả vờ không biết những người ấy, không truyền bảo một lời nào, càng làm tăng thêm sự hoang mang cho bọn quan Pháp .
Giữa lúc ấy, có một cụ già chống gậy đến. Đó là Nguyễn Thuận, thầy dạy vua Hàm Nghi thuở thiếu thời . Vừa thấy thầy cũ, vua Hàm Nghi đột nhiên đỡ cụ và vái chào. Bọn Pháp lúc đó mới tin chắc đó là vua Hàm Nghi , người đã chịu bao gian truân, khổ ải trong rừng sâu nước độc, quyết chiến đấu đến cùng, giờ đã sa vào tay giặc. Lúc đó nhà vua mới 17 tuổi, đã kháng chiến được ba năm.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 05:30:59ct.ly>
TRÊN ĐƯỜNG LƯU ĐÀY

Từ Thuận Bái, quân Pháp đưa nhà vua về cửa Thuận An, khi bằng võng, khi bằng thuyền.
Tại Thuận An, khi Khâm sứ Rheinard và các cơ quan mật Đại thần đến chào , vua Hàm Nghi cáo ốm không ra tiếp. Sau vì nể, nhà vua phải tiếp Rheinard nhưng tỏ ra lạnh nhạt. Đến khi Rheinard cho biết Hoàng Thái hậu đang ốm và hỏi :
" Nếu nhà vua muốn thăm, tôi sẽ cho tàu về đón ra đây "
Nhà vua đáp:
- " Tôi thân đã tù , nước đã mất, còn dám nghĩ chi đến cha mẹ, anh chị em nữa ".
Nói rồi vua cáo ốm, lánh vào phòng riêng.
Từ Thuận An, nhà vua được đưa bằng tàu La Comet vào Sài Gòn, rồi đáp tàu Biên Hòa cập bến Alger ngày 13 / 01 / 1889 Alger là thủ đô nước Algeries , một thuộc địa Pháp nằm trên bờ nam Địa Trung Hải
Ở đây , hằng năm Nam Triều sẽ trợ cấp cho vua hai mươi lăm ngàn quan, và cứ ba năm thay một người phục vụ.



📎 vua ham nghi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 17:00:30ct.ly>
ÂM THẦM NHƯ CÁ CHÉP

( Lời tường thuật của cô Blanche, con viên đại tá tư lệnh Alger )

" Vào một buổi chiều, tàu Biên Hòa ( chở vua Hàm Nghi -TTB) cập bến, chờ làm thủ tục, tôi theo cha ra đón ông Hoàng nhỏ bé ấy. Không hiểu sao tôi cảm thấy một nổi buồn man mác động lòng trắc ẩn. Dưới bóng chiều chập chờn, con tàu nhả khói phì phì dường như muốn trút vơi nỗi nhọc nhằn trong cuộc hành trình. Một bóng đen nho nhỏ tựa vào lan can, đăm đăm nhìn ra phía chân trời. Người nghĩ gì? Điều chắc chắn là nổi căm hờn người Pháp chúng tôi đang hừng hực dâng lên như những lớp sóng vô tận đuổi nhau ra khơi chẳng hay có về đến Tổ Quốc thiêng liêng của Người không?
Nỗi bất bình chiếm lĩnh trí óc tôi. Lòng thương vô hạn con người nhỏ bé ấy sớm bị nanh vuốt cú diều cuỗm đi xa tổ ấm, xa bầu đàn, xa những người thân càng làm tôi băn khoăn, thao thức:
- " Ta phải sửa chữa lỗi lầm này! " . Cha tôi chế nhạo tôi đến phát khóc, nhưng cũng khen tôi có trái tim vàng.
Tôi yêu cầu cha tôi đề đạt với phủ Toàn Quyền cho tôi được trông nom, săn sóc Người và đã được chấp thuận. Tôi từ bỏ ý định tiếp tục khoa luật: quanh quẩn bên con chim nhỏ bé của tôi. Buồn thay ! Con chim ấy quên tiếng hót, âm thầm như cá chép ( muet come une carpe - ngạn ngữ Pháp ), không nói năng , đòi hỏi gì. Tình trạng ấy kéo dài mấy tháng , tôi xoay xở đủ cách cũng vô hiệu.
Một buổi nào đó, trăng luồn song cửa. Ôi! Trăng kia mơ màng, ảm đạm làm sao. Tôi ngồi trước dương cầm. Xin giới thiệu , tôi là một nhạc công tồi, nhưng lúc ấy tôi cảm thấy cây đàn run run lên, dìu dặt, ai oán. Nỗi buồn lướt trên phím như tiếng nức nở của con tim, khi vút lên căm hờn sôi sục. Tôi không nhớ đã chơi bản nhạc nào, điều đó không quan trọng. Đây là khúc nhạc lòng tôi, tấm lòng vị tha đầy nỗi bất bình và thương cảm.
Tiếng đàn dứt , tôi ngoảnh lại thấy Người đứng sau tôi, cặp mắt long lanh. Tôi hỏi:
- Hoàng tử có ưa không?
Người gật đầu.
- Có thích học đàn không ?
Người lại gật đầu. Tôi sung sướng , hôn người từ đó con cá chép của tôi mở miệng. Có lẽ đó là hạnh phúc lớn nhất của đời tôi...
Vì sao Người từ bỏ ngai vàng? Nếu Người y thuận theo trở lại ngôi báu thì người Pháp chúng tôi vui mừng biết chừng nào. Vì Người được toàn dân sùng bái, toàn thể sĩ phu tôn thờ. Tôi hiểu rằng lòng yêu Tổ Quốc , yêu quê hương , yêu gia đình, yêu đồng loại cao hơn chiếc ngai vàng nhỏ bé. Tôi yêu nước Pháp Tổ Quốc tôi, nên rất trọng những người yêu mến Tổ Quốc họ ".

( Theo Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi- Nguyễn Hải Âu).





(Đám cưới vua hàm Nghi ở Algérie năm 1904 )
📎 dam cuoi v..hàm nghi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 05:32:33ct.ly>
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

( ......... )
Người ta quen gọi cụ là ông Hoàng An Nam ( Le prince d' Annam ) . Cụ Hàm Nghi có hai gái, một trai. Cô chị Như Mân thạc sĩ canh nông, không lấy chồng để " trọn đời tưởng nhớ ba tôi " . Như Lý lấy một đại tá không quân dòng dõi Hoàng tộc Bỉ. Minh Đức là con út, đại tá chiến xa trong quân đội Pháp, khi cụ mất được gọi về. Còn hai chị ở Canne, lâu đài De Cosse, không sang chịu tang được vì Pháp đang bị Đức chiếm đóng.
Cụ tặng tôi một bức tranh thủy mạc mực Tàu có đề thơ và một thanh bảo kiếm.
Cụ quan tâm theo dõi tình hình đất nước, thường băn khoăn chưa tìm ra được kế sách giúp ích gì cho Tổ Quốc. Chưa bao giờ cụ nhắc lại quá khứ lịch sử mà chỉ hỏi tôi về đất nước, dân tình, về phong trào và triển vọng. Có lần cụ hỏi tôi về cụ Nguyễn Ái Quốc, nào tôi có biết được là bao! Cụ hỏi tôi về Bảo Đại. Tôi khá rõ Bảo Đại là tay thiện xa cưỡi ngựa, giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ và rát thạo khiêu vũ. Nghe tôi kể, cụ cười nhẹ:" Nó là con rối " . Đó là nụ cười hiếm hoi. Trong bốn năm tiếp xúc với cụ, có lẽ mới thấy cụ chỉ cười đôi ba lần, lại là cái cười châm biếm, mỉa mai ....
Cụ sống giản dị, quần áo đều tự may lấy theo kiểu cổ Việt Nam. Cụ để búi tóc củ hành cho tới khi mất. Suốt những năm tháng đó cụ quên mình trong điêu khắc, hội họa, âm nhạc. Nhiều lần triển lãm mỷ thuật họ mời cụ tham gia tác phẩm, cụ đều từ chối. Cụ soạn hoặc vẽ là để nung nấu tâm hồn u uất và thất vọng. Cụ chỉ đàn khi nào lâu đài mênh mông kia không một bóng người. Có lần tôi đến thăm thấy cụ đang say sưa đàn. Hình ảnh một cụ già rất Việt Nam thấp thoáng bên dương cầm bóng lộn khiến tôi liên tưởng đến ông nội tôi hay một cụ đồ nho khom lưng viết câu đối Tết. Tôi dốt âm nhạc, chỉ nghe thấy cây đàn khi nức nở thánh thót, khi bão bùng. Dứt tiếng đàn, cụ giang rộng hai tay đặt trên cây đàn đăm đăm suy nghĩ.
Tâm hồn cụ đang bay bổng theo tiếng đàn và đất nước quê hương chăng?
Cụ không có bạn, ít muốn tiếp xúc với ai. Một lần vợ chồng toàn quyền Catroux, lần khác tướng Givand Tổng thống lâm thời Pháp với De Gaulle, đến thăm, cụ đều thoái thác đi vắng, cho tôi thay mặt tiếp. Cụ nói :
- Họ đến với tôi vì tò mò.
Bà Foltz là người bạn duy nhất của cụ. Hình như số mệnh đã dă1t bà đến với cuộc đời ảm đạm của cụ Hàm Nghi; bà là niềm vui, là chút ánh sáng trong cuộc sống hằng ngày của cụ.
Bà Foltz kém cụ mười lăm tuổi, cháu ngoại dòng chính thống De Bourbon. Ông thân sinh ra bà là một nhân vật tăm tiếng ở Thụy Sĩ . Bà là một nhà văn. Người ta không hiểu được sức mạnh nào đã lôi cuốn bà ra khỏi chiếc lâu đài cổ kính, đồ sộ nhất Thụy Sĩ mà bà thừa kế, để sang Alger này, ngày hai buổi đến dùng trà và chăm sóc sức khỏe của cụ Hàm Nghi.
Tình yêu chăng? Tôi được bà thương yêu như con, cũng chưa bao giờ bà hé nửa lời tâm sự. Sự cách biệt về tuổi tác, nhất là lòng mến yêu của bà không cho phép tôi được nghỉ đến điều đó. Bà Foltz chỉ nói sơ qua là bà gặp cụ ở Londres và bà sang ở Alger.
Chớ đụng đến nước An Nam và người An Nam trước mặt bà ! Trong một buổi tiệc trà, mụ vợ toàn quyền Catroux muốn lấy lòng bà đã ca ngợi hết lời xứ An Nam văn minh :
- " Tôi kính cẩn nghiêng mình trước dân tộc An Nam " ( Je minchine devant la race Annamite ).
Tiệc tan, tôi nói với bà Flotz :
- Khi vợ chồng Catroux ở Đông Dương, chúng đã giết hại hàng ngàn người ".
Bà nổi giận ra lệnh ngay cho cô quản gia ( gouvernante ) Lola xóa tên mụ trong danh sách khác mời đến dự tiệc của gia đình.
Tôi không rõ được xu hướng chính trị của bà thế nào, có lẽ xu hướng duy nhất là tình người, là lòng nhân đạo, là lẽ phải ( bon sens). Bà phẫn nộ khi tôi kể lại tình cảnh sống dở , chết dở của người dân Đông Phương.Thực ra bà còn hiểu biết hơn tôi. Chính bà đã lục trong tủ sách của cụ Hàm Nghi đưa tôi cuốn Bản án thực dân Pháp ( Proces de la colonisation Française) của ông Nguyễn Ái Quốc và Đông Dương cấp cứu của bà Andrée Violla. Bà còn đưa một cuốn, không phải có phải Con Rồng Tre không, tôi đã bỏ qua không đọc, vì thấy một bản in litô nhòe nhoẹt, cho là chuyện tầm thường, chỉ nhớ mang máng ngoài bìa có một khóm tre có những chử to đậm nét như những lóng tre thôi. Nếu đúng là Con Rồng tre thì đáng tiếc vô cùng. Vào năm 1945 , bà đưa cho tôi một trang phụ lục báo đăng chi chít ảnh chụp cảnh chết đói của nước ta hồi đó. Bà hỏi tôi :
-" Anh muốn gì? Cần tiếp xúc với ai, khó khă, mấy tôi cũng làm hết mình, miển là có thể đem lại điều gì tốt lành cho đất nước anh".
( ..... )
Tôi nghĩ, chính cuộc đời sóng gió, lòng yêu nước và đức độ của cụ Hàm Nghi đã cảm hóa bà, bà đứng hẳn về phía Việt Nam, càng sâu đậm
( ......)
Cụ không còn nữa! Chỉ còn một nấm mộ hoang tận phía trời xa. Mỗi lần qua phố Hàm Nghi , tôi lại thầm ước vọng , nếu như nắm xương tàn của cụ được trở về với núi Ngự sông Hương , tưởng cũng xứng đáng và an ủi phần nào mảnh hương hồn của con người phí phách ấy

( Trích Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi - Nguyễn Hải Âu )



📎 ngoi mo vua ham nghi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 05:38:19ct.ly>
ĐỒNG KHÁNH ( 1885 - 1888)

SINH HỌAT CỦA ĐỒNG KHÁNH

Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn chống Pháp, triều đình Huế rối beng vì không có vua. Thống tướng De Coucey đày Nguyễm Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính ra đảo Haiti; sai ông De Champeaux lên Khiêm Lăng yết kiến đức Từ Dũ, xin lập ông Chánh Mông là Kiến Giang Quận Công lên làm vua.
Ngày mồng 6 tháng 8, ông Chánh Mông phải thân hành sang bên tòa Khâm Sứ làm lễ thụ phong, rồi làm lễ tấn tôn, đặt niên hiệu là Đồng Khánh.
Tương truyền khi còn là Hoàng Tử , muốn biết thời điểm nào lên ngôi và làm vua được bao lâu, hoàng tử đã khẩn cầu nữ thần Thiên Y Na ở điện Hòn Chén cho biết. Nữ thần đã đóan đúng ngày Hoàng Tử lên ngôi vua. Sau đó, Đồng Khánh đã xây cất lại ngôi đền này, đặt tên là Huệ Nam Điện.
Đồng Khánh là ông vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, tiếp xúc với nền văn minh Tây phương, mang huy chương Bắc Đẩu bội tinh, là người đầu tiên gửi mua hàng hóa của Pháp qua trung gian của một thương gia người Pháp ở Huế.
Ông cũng thích mua các đồ chơi do người Pháp chế tạo. Mội lần hàng về, Đồng Khánh ban một phần cho các hoàng thân, các đại thần, cung phi mỹ nữ cùng các thái giám hầu cận.
Trong sinh hoạt thường nhật, nhà vua hay chú ý đến ngoại diện, thường chăm sóc trang điểm. F . Baille kể lại trong bài " Les Annamite " như sau.
- " Hằng ngày một toán cung nữ được chọn trong tất cả đẳng cấp phục dịch Đức vua. Ba mươi người chia nhau canh gác hậu cung của Ngài, năm nàng luôn ở cạnh Ngài, luân phiên săn sóc, trang điểm cho Ngài. Các nàng thay quần áo cho Ngài, chải chuốt bộ móng tay cho dài hơn ngón tay, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa chung quanh đầu Ngài. Sau cùng, chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt quanh Ngài sao cho thật hoàn hảo; năm cung nữ này cũng kiêm lo hầu cơm nước Đức vua.
Thường nhật Ngài dùng ba lần: sáu giờ sáng, mười một giờ trưa và ba giờ chiều. Mội bữa ăn có 50 món khác nhau, do 50 đầu bếp nấu nướng cho hoàng cung. Một người lo nấu một món riêng của mình và khi chuông đổ thì trao cho đám thị vệ đưa qua đoàn thái giám. Các ông này chuyển đến năm cung nữ và chỉ có mấy nàng mới được hân hạnh quỳ gối hầu cơm Đức vua. Ngài nhấm nháp vài món ăn và uống một thứ rượu mạnh đặc biệt chế bằng hột sen và các loại cây có mùi thơm. Đức vua Đồng Khánh còn dùng rượu chát Bordeaux theo lời khuyên của các y sĩ để giúp cho tạng phủ hơi yếu.
Gạo đức vua dùng phải thật trắng và chọn lựa từng hạt, nấu trong nồi đất, mỗi lần nấu xong thì đập bỏ. Đũa vua dùng vót bằng tre vừa mới trổ đủ lá và thay đổ hằng ngày. Loại đủa ngà không tiện dụng vì hơi nặng với tay nhà vua. Số lượng gạo phải được xem kỷ và nấu thật đúng , không bao giờ nhiều hay ít hơn, nếu Đức vua không ăn như ngày thường, nếu ngày thấy không ngon miệng thì Ngài gọi các viên Ngự Y đến xem mạch bốc thuốc. Ngài bắt các y sĩ uống thuốc trước mặt Ngài ".



📎 vua dong khánh
Đăng nhập để trả lời
0
ĐỒNG KHÁNH XEM DIỄN TUỒNG

Cuộc vui trong Hoàng Cung thường là diễn tuồng ở Duyệt Thị Đường. Từ vua Tự Đức trở về trước, nhà vua chỉ xem diễn tuồng với các đại thần hoặc cung phi; đến khi vua Đồng Khánh lên ngôi , có thêm các quan Pháp, cũng được mời xem. Đây là quang cảnh một buổi diễn tuồng dưới triều Đồng Khánh do F. Baille kể lại:
- " Cuộc vui được chọn diễn trong diễn Hoàng Cung để hầu Đức Vua thường là hát bội . Người ta trang hoàng một gian phòng thật rộng hình vuông, ba phía bỏ trống giữa có nhiều bàn dài trải vải đỏ để tiếp khách; trên có trái cây và bánh gói giấy đủ màu, hình dáng kỳ lạ, ly tách để các thị vệ rót rượu bia, nước trà. Đức vua ngồi trên ngai b vàng riêng biệt đặt trên cái bục khá cao trước mặt có một cái bàn để tách và hộp đựng đường làm bằng ngọc thạch, một cái mâm nhỏ có vành cao tuyệt khéo đựng những món đồ dùng của Ngài mà đi đâu Ngài đem theo. Một túi vải nhỏ đựng đầy thuốc điếu dài và nhỏ, một đồng hồ báo thức bằng vàng, vài món nữ trang, dầu thơm, bình xịt dầu, một cái gương nhỏ...tất cả đồ lễ của một ông vua ở Á Đông mới quen với nền văn minh của chúng ta.
Bên mặt và bên trái của Ngài, ông Thống Sứ và Tướng chỉ huy quân đội ngồi trên ghế riêng rẽ. Phía sau có treo một bức sáo đan thưa, người đứng có thể nhìn qua kẽ hở. Chúng tôi nghe được cả tiếng nói thì thầm của mấy nàng cung nữ hầu vua ( ....)
Đức vua vừa ngự trên long ỷ thì dàn nhạc giáo đầu gồm lối hai mươi nhạc sĩ ngồi xổm đánh trống, gảy đàn, thổi kèn tạo thành một giai điệu triền miên và ỉnh tai. Trước mặt n họ có một cái trống lớn, đúng ra là một cái thùng to. Một vị quan lớn ngồi sau trống. Chúng tôi nhận thấylà nhạc phụ của Đức Vua , quan kinh lược ở Bắc kỳ. Mỗi khi nghệ sỹ khéo trình diễn, thì ông đánh hai hay ba tiếng trống, mỗi tiếng tiêu biểu một số tiền biếu tặng diễn viên.
Các đào kép trong vở tuồng ăn mặc chững chạc ra sân khấu lạy chào Đức vua, đoạn đưa ra nhiều mảnh vải thêu những chữ nho lớn tỏ lòng tôn kính và chúc Đức vua sống lâu. Một diễn viên khác lược thuật vỡ tuồng với giọng chát chúa, tiếp đến là bắt đầu xuất hát mà người ta không biết chắc chừng nào chấm dứt .... "
Vì thích xem hát bội, vua Đồng Khánh đặt tên cho những cung nữ của mình theo tên các nhân vật trong vở Vạn Bửu Trình Tường, như Đại Hoàng , Nhân Sâm, Cam Thảo..v..v..
Đây là vở ông đặc biệt yêu thích, các nhân vật lấy tên các vị thuốc mà đặt.

( Theo Les Annamites - F - Bailler và sử tích . Và nghệ thuật hát bộ - Đoàn Nồng )
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT CẢNH TIẾP ĐÓN PHÁI ĐÒAN PHÁP

Khác với các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cố tìm cách xa lánh người Pháp, vua Đồng Khánh lại cố thắt cặt tình thân hữu. Thỉnh thoảng ông mời các vị đại diện Pháp vào Đại Nội dự yến hay xem hát tuồng.
Một sự thay đổi về cung cách tiếp đón phái đoàn ngoại giao Pháp dưới triều Đồng Khánh là phái đoàn được đi cửa giữa Ngọ Môn, kể cả viên Khâm Sứ lẫn đoàn tùy tùng. Đây là một sự kiện chưa bao giờ có từ triều Tự Đức trở về trước. Các quan Pháp, dù lớn đến bực nào, hễ vào đại Nội, là phải đi cửa bên, vì chỉ có vua mới đi cửa giữa. Lúc phái đoàn ngoại quốc vào điện, vua vẫn chễm chệ ngồi trên ngai vàng, việc đón tiếp đã có hoàng thân, bá quan văn võ đảm trách. Qua triều Đồng Khánh, có sự thay đổi khác biệt. Lúc quan khách ngoại quốc đến cửa Ngọ Môn, các hoàng thân, các viên Đại thần mặc áo đại triều, mang hia, đội mũ đứng chực sẵn để tiếp đón. Các hoàng thân, các vị đại thần đều đứng trong điện Thái Hòa, còn bá quan theo phẩm trật nhỏ không được tham dự.
Từ cửa Ngọ Môn, phái đoàn tiếp tân đưa viên Khâm Sứ và đoàn tùy tùng vào trong điện. Vua Đồng Khánh ngồi trên ngai đặt tận trong cùng sau lưng có mấy thị vệ phe phẩy quạt hầu.
Ông bước xuống ngai, nói mấy câu hàn huyên và nghe mấy câu chúc từ của đại diện Pháp rồi trả lời lại, tiếng nói rất nhỏ ( vì theo đúng nghi thức tiếng nói của bậc Đế Vương bao giờ cũng nhỏ). Một viên quan ngự tiền dịch ra tiếng Pháp.
Vua Đồng Khánh mời quan khách qua điện Càn Thành để dùng trà. Nhà vua mặc áo hoàng bào thêu rồng chạy chỉ vàng đính châu ngọc. Chiếc áo khá nặng nên đi mỗi bước phải có thái giám chạy theo nâng vạt áo trước lên ( cũng nên biết thêm là những lúc đáp thăm tại tòa Khâm Sứ, trên hai bên vai áo vua còn cài thêm hai cái ngủ đúc thành hình con rồng bằng vàng đặc). Tiếp theo vua là quan Khâm Sứ, đoàn tùy tùng và quan lại. Sau đó là một ban nhạc, vừa đi vừa cử nhạc...

( Theo Bửu Kê )
Đăng nhập để trả lời
0
NHỮNG ĐIỀU HUYỀN BÍ ÁM ẢNH SUỐT CUỘC ĐỜI

Vị nữ thần đền Ngọc Trản đã tiên đoán đúng ngày Đồng Khánh lên ngôi, nên nhà vua rất lo sợ khi nghỉ đến lời của thần báo cho biết mình chỉ làm vua được 3 năm.
Hẳn nhà vua muốn kéo dài tuổi thọ, thay đổi cơ trời nên rất thích đọc các sách về Kinh Dịch, bói toán, tìm hiểu những điều huyền bí. Với một ông vua còn trai trẻ như vậy ( 22 tuổi) cũng là một điều hiếm!
Nhà vua thường lên đền Ngọc Trản ( điện Hòn Chén ) cầu bái, lại sắc cho bộ Lễ, mỗi năm hai kỳ ( mùa Xuân và mùa Thu) phải cử một vị quan đại diện triều đình đến nơi để dâng đồ lễ.
Những bức hoành, bức liễn, những bài thơ treo trong đền thờ, một phần lớn do Đồng Khánh sáng tác để ca tụng công đức Nữ Thần che chở cho ngai vàng và bảo vệ dân chúng; tên Huệ Nam Điện do ông đặt cũng phát sinh từ ý đồ ấy.
Tuy vua rất sợ ngày kết cục cuộc sống đời mình, nhưng rồi ngày ấy cũng vẫn đến. Nữ thần đã đoán đúng. Sau 3 năm trị vì, Đồng Khánh nhuốm bệnh nặng, không ăn được thứ gì cả. Thỉnh thoảng cơn sốt nổi lên, đầu nhà vua nhức như búa bổ. Quan Ngự Y người Việt không chữa được, kẻ bị quở trách, kẻ bị giam cầm. Vua nhờ bác sĩ Pháp. Ông Cotte được cử sang chữa trị, nhưng không được ở lại trong cung, chỉ dặn dò các viên thái giám cách pha chế thuốc rồi phải ra về. Sau nửa tháng nhuốm bệnh, ông qua đời vào lúc 8 giờ tối ngày 28 tháng Giêng năm 1889. Theo nhiều người thuật lại, nhà vua bị ám ảnh bởi cái chết của Phan Đình Bình, vị đại thần có ý tôn Bửu Lân lên sau khi Hàm Nghi rời bỏ ngai vàng, nên trong khi nhuốm bệnh, thường la hét vì ác mộng.
Đồng Khánh qua đời, để lại hơn 10 bà phi, nhưng chỉ có 6 hoàng tử và 3 công chúa, thọ 25 tuổi.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 05:41:49ct.ly>
THÀNH THÁI ( 1889 - 1907 )

THÀNH THÁI BẤT NGỜ ĐỰƠC LÊN NGÔI

Vua Đồng Khánh thăng hà vào lúc năm cùng tháng tận, làm triều đình hết sức bối rối. Việc lựa người nối ngôi cần phải nhanh chóng để Tân Xuân cho có Tân Quân.
Việc Hoàng Tử Bửu Lân được tôn lên ngôi do một nguyên cớ như sau:
Viện Cơ Mật không dám tự tiện lựa chọn Tân Quân nên mới cùng nhau sang Tòa Khâm Sứ để hỏi ý kiến. Các quan hỏi ông Khâm Sứ rằng:
-" Hiện nay vua Đồng Khánh đã thăng hà, theo ý của quý Khâm Sứ thì nên chọn ai lên kế vị? ".
Nhưng ông Diệp Văn Cương, nhân viên tỏa khâm, lại dịch rằng:
- " Nay vua Đồng Khánh đã thăng hà, Lưỡng Tôn Cung cùng Cơ Mật đều đồng lòng chọn hoàng tử Bửu Lân lên ngôi, không biết ý kiến quý Khâm Sứ thế nào?.
Nghe thế, ông Khâm Sứ đáp:
- " Nếu Lưỡng Tôn Cung và Cơ Mật đã đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân thế tôi cũng xin tán thành " .
Câu này ông Cương cũng dịch ra một cách khác:
- " Theo tôi, thì các quan Cơ Mật nên chọn hoàng tử Bửu Lân là hợp hơn ca.
Thế rồi các quan Viện Cơ mật vâng lời ra về, liền đi rước hoàng tử Bửu Lân ( tức vua Thành Thái sau này) .
Có sự sắp đặt trên do ông Diệp Văn Cương chồng là bà Công Nữ Thiện Niệm, con gái Thoại Thái Vương . Bà Thiện Niệm là cô ruột của vua Thành Thái.
Hoàng Tử Bửu Lân theo mẹ là bà Từ Minh Huệ Hoàng hậu Phan thị Điều về quê ngoại khi vua Dục Đức còn sinh thời. Đến năm Đống Khánh thứ 3 ( 1888) thì theo mẹ vào ở Thành Nội lo việc hương khói ở nhà thờ của vua Dục Đức.
Lúc triều thần về đến nhà để rước hoàng tử vào cung thì bà Từ Minh đi vắng. Hoàng tử tỏ vẽ lo sợ, hỏi :
- Các ông đến đây làm chi? Đến để bắt tôi mà trị tội à? Các ông muốn làm gì thì làm nhưng hãy đợi á ( mẹ) tôi về đã ".
Đến khi bà Từ Minh về, nghe các quan xin rước hoàng tử vào cung để tôn lên ngôi vua thì bà khóc, vì lo sợ cho tính mạng của hoàng tử khi ở ngôi vua. Thảm cảnh của chồng chết vì đói khát trong ngục, sau đó là hai vua Hiệp Hòa, Kiến Phúc, còn vua Hàm Nghi đang bị lưu đày, vẫn còn ám ảnh bà. Bà cố chối từ, nhưng các quan cam kết là không có việc gì đáng phải lo ngại, Lưỡng Tôn Cung. Cơ Mật Viện và ông Khâm Sứ đã đồng lòng chọn hoàng tử lên kế vị vua Đồng Khánh . Bà Từ Minh khi ấy mới yên lòng.
Thế là hoàng tử Bửu Lân được rước vào Đại Nội chuẩn bị làm lễ đăng quang.



📎 vau thanh thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 20:29:47ct.ly>
LỄ TẤN TÔN

Hoàng tử Bửu Lân tuy mới 10 tuổi, nhưng cao lớn, mạnh khỏe, nước da ngâm ngâm đen, mắt linh lợi thông minh, đã biết giữ ý tứ. Một ông thị vệ rót nước mời, hoàng tử chỉ nhìn mà không uống. Biết ý, vị quan này hớp trước một ngụm, khi đó hoàng tử mới chịu uống.
Ngày mồng một Tết ( 31 - 12 - 1889 ) . Triều đình làm lễ chính thức tôn hoàng tử Bửu Lân lên địa vị Tân Quân
Vua Thành Thái ngồi trên ngai, chung quanh có hoàng thân, văn võ đình thần đứng chầu. Lúc các viên chức Pháp đến, vua ra khỏi điện, bước xuống gần để nghênh tiếp.
Vua mặc áo xanh, bịt khăn, đóng. Khi các viên chức Pháp đến, vua mới từ ngai vàng bước xuống, ra khỏi điện nghênh tiếp, có viên thái giám v cầm quạt lông theo hầu. Dáng điệu nhà vua đã tỏ ra người lớn.
Mồng hai Tết mới chính thức làm lễ đăng quang.
Sau khi một viên quan xướng " trung nghiêm ngoại chỉnh" vua Thành Thái đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, mang đai ngọc, tay cầm trấn khuê ( 1 ) từ điện Cần Chánh bước lên kiệu, có quan quân theo hầu, ngự ra điện Thái hòa.
Mặc dù có một viên thái giám đi trước, hai tay nâng vạt áo lên, nhưng vì chiếc áo quá nặng, nhà vua bé nhỏ phải bước từng bước thật khó khăn.
Sau khi bắt tay viên Tổng Trú Sứ và những người tháp tùng, nhọc nhằn lắm vua mới leo lên được mấy tầng cấp để ngồi vào ngai vàng. Một viên quan xông trầm hương ngào ngạt. Bên ngoài 21 tiếng súng lệnh nổ vang, báo hiệu khởi sự lễ đăng quang.
Rheinard đọc chúc từ. Vua bước xuống ngai đứng nghe, đoạn đáp từ bằng chữ Hán viết vào thẻ ngà, giọng sang sảng giữa điện rồng.

( Miếng ngọc rồng bằng hai ngón tay, dài chừng hai tấc )

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 17:21:09ct.ly>
CÁC CUỘC VI HÀNH KỲ LẠ CỦA THÀNH THÁI

Vốn sẵn thông minh, từ nhỏ đã sống chan hòa với nhân dân lao động nên nhằ vua có ý thức dân chủ, muốn chia sẻ gian khổ với những lớp người cùng bần trong xã hội, muốn hiểu biết những tâm tư, tình cảm của họ, do vậy nhà vua thường vi hành, có khi lợa hóa trang đủ cách để được tự do đi lại.
Có lần vua Thành Thái đi bách bộ trên cầu Gia Hội, gặp một người vác mấy cây tre, lính vội chạy lên dẹp đường. Nhà vua bảo:
- Mình dân không phải là dân, vua không phải là vua, tại sao dẹp người ta làm chi? "
Vua Thành Thái thường đi bắn ở Cổ Bị cách Huế 30 cây số ), hay ghé chơi các làng dọc bờ sông Bồ. Vào làng vua thường cho trải chiếu ngồi giữa đất. Thế là dân làng vây quanh để xem mặt vua. Nhà vua hỏi dân muốn xem chi, dân chỉ nói muốn xem bắn, nhà vua bắn cho họ xem.
Lại có lúc nhà vua cải trang một người ăn mày và thực hành nghề nghiệp ấy. Ai cho gì, nhà vua cũng nhận. Chắc nhà vua muốn " thử chơi cho biết " để hiểu sâu sắc hơn nỗi đau trần thế!
Nhưng có lẽ cuộc vi hành thú vị nhất là nhà vua cải trang thành một thư sinh nho nhã lên Kim Long chơi. Sau khi thăm đủ nơi chốn trên vùng đất thanh lịch này, ông cùng với mấy người tùy tùng bước xuống bến Đò. Bỗng thấy cô lái đó xinh đẹp, nhà vua xuống gợi chuyện. Đò mới ra bến, nhă vua ỡm ờ hỏi cô gâi:
- " Này, có ưng làm vợ vua không? ".
Ngây thơ chẳng biết đó là vua cải trang, nàng nửa đùa nửa thật đánh bạo nói : " Ưng " .
Thế là nhà vua đứng dậy cầm tay nàng kéo ra mũi thuyền, bước nhanh ra sau đò cầm lái , giành lấy tay chèo từ tay người đẹp, đích thân chèo cho đò xuôi dòng Hương từ Kim Long đến bến Nghinh Lương trước Phu Vân Lâu. Đò cặp bến, nhà vua rước nàng " đưa em vào Nội ", thể theo lời nguyện ước của nàng.
Thật là một lối tuyển cung phi mới lạ! Chỉ có vua Thành Thái mới có sáng kiến ấy. Câu ca dao:
Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, Trẫm nhớ Trẫm liều Trẫm đi
hẳn xuất phát từ giai thọai này.



📎 vua TT lúc..len ngoi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 17:36:03ct.ly>
CÂU NÓI ĐÙA TAI HẠI

Trong Đại Nội, nhà vua thường xem tuồng ở Duyệt Thị Đường. Chính Thành Thái là một tay đánh trống tuồng giỏi và ưa diễn tuồng . Nhà vua đã từng đóng vai Thạch Giải Trại trong vở Xảo Tống.
Có lần nghe đồn có một tay đánh trống tuồng cừ khôi nhà vua triệu ngay vào cung, bảo
biểu diễn cho vua xem. sau khi nghe xong, vua ban thưởng ngay và thú nhận với đình thần là tài năng tên này hơn cả mình . Sau đó, nhà vua vỗ tvai người đánh trống nói đùa:
- Ta phục tài đánh trống của ngươi lắm, ta thường cho ba lạng bạc. Nhưng có một điều người cần sửa là trong khi đánh trống , nhà ngươi có tật lúc lắc cái đầu trông xấu lắm. sau thánh sáu, ngươi trở lại đây biểu diễn, nếu lúc đó cái đầu nhà ngươi vẫn còn lúc lắc, thì ta mượn nó đấy.
Kể từ đó, ngày nào tay trống ấy cũng luyện tập, nhưng tật lúc lắc đầu vẫn không bỏ được. Anh ta quá lo sợ nên nhuốm bệnh nặng rồi chết.
Nghe tin ấy, vua Thành Thái rất thương tiếc một tài năng nghệ thuật và hồi hận vì câu nói vô tình của mình. Nhà vua liền lệnh cho bộ Lễ ban phát cho gia đình người đánhtrống một số tiền bạc lớn để tống táng người chết và mưu sinh cho người thân còn
sống.
( Theo Hoàng Trọng Thược )

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 20:28:34ct.ly>
ĐÒAN NỮ BINH TRONG ĐI NỘI

Ngấm ngầm chống Pháp, vua Thành thái huấn luyện một đoàn lính nhưng toàn là nữ . Chẳng hiểu đoàn nữ binh này tài giỏi hơn nam binh ở điểm nào, nhưng có lẽ vua Thành Thái muốn che dấu việc huấn luyện quân ssự của mình nên mới có sáng kiến trên.
Nhà vua tự bỏ tiền ra để tuyển mộ nữ binh cho ăn mặc áo quần theo kiểu riêng, hằng ngày chăm lo luyện tập quân sự một cách bí mật.
Việc tuyển mộ cũng diễn ra một cách bí mật. Nhà vua cho lính cận vệ thân tín đến tiếp xúc với họ và gia đình. Nếu được chấp thuận, vua cho " dàn cảnh " bắt cóc, bằng cách hẹn ngày giờ và địa điểm gặp gở, rồi lính cận vệ, hoặc chính nhà vua đem xe song mã đến đón họ và đưa vào cung cấm. Một đội nữ binh gồm 50 người. Sau khi luyện tập quân sự đã thành thục, 50 nữ binhấy được giao trả về gia đình, đợi khi cần thì nhập ngũ chống Pháp, sau đó tuyển thêm 50 nữ binh mới.
Để bảo mật, các cô gái bị " bắt cóc" thường được đưa vào Tử Cấm Thành bằng cửa Hữu của Thành Nội, gần làng Kim Long, vì con đường chạy dọc theo bên ngoài Hoàng Thành dẫn đến cửa Hữu rất vắng vẻ vào ban đêm, hai bên đường lại không có nhà cửa của dân chúng. Cũng vì vậy mà các cô gái ở làng này được tuyển mộ ưu tiên nhiều n hơn cả.
Lý do thứ hai là các cô gái làng An Ninh ( giáp Kim Long ) được tuyển hầu hết là thợ dệt vải ( vải An Ninh rất nổi tiếng ) nên vua Thành thái cho tổ chức ở Đại Nội các chợ bán vải do các nữ binh ấy dệt trong Đại Nội. Như vậy một mặt dễ dàng lừa thực dân , mặt khác để cho nữ binh của vua có công việc mà trang trải chi phí
Nhưng việc làm của vua lâu ngày cũng bị mộ, do Thượng Thư bộ Lại Trương Như Cương cầm đầu Viện Cơ Mật theo dõi sát, mách lại với Khâm Sứ Pháp nhằm lật đổ vua Thành thái để đưa con rể mình là Bửu Đảo ( Khải Định sau này ) lên làm vua.



📎 Hình Thành Thái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 17:44:57ct.ly>
THÀNH THÁI VỚI VIÊN KHÂM SỨ

Ngày cái cầu Tràng tiền bắc qua sông Hương được khởi công lần thứ nhất thì viên Khâm Sứ, hôm bắt đầu đặt hòn đá móng cho công trình, đã nói với vua Thành Thái rằng;
- Khi nào cái cầu này gãy thì nhà nước Bảo Hộ sẽ trả lại nước An Nam cho bệ hạ.
Viên Khâm Sứ tưởng nói đùa chơi vậy thôi, nào ngờ năm Giáp Thìn ( 1904 ) một trận bão lớn đã xô ngã nhịp cầu đầu tiên đó xuống sông Hương. Thế là mấy hôm sau, khi gặp lại Khâm Sứ trong một buổi lễ, vua Thành thái hỏi ngay viên Khâm Sứ :
- Thế nào? Cái cầu gãy rồi đó?
Trước câu hỏi " móc họng " của nhà vua, Khâm Sứ Pháp chỉ còn xanh mắt lại, cười nghệt, đánh trống lãng nói sang chuyện khác.

( Theo hồi ký của Đặng Thai Mai )

📎 hinh vua l.. réunion
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-30 17:35:46ct.ly>
THÊM DẦU VÀO LỬA

Giữa lúc sự giao thiệp của vua Thành thái và viên Khâm Sứ Pháp Levéque càng ngày càng căng thẳng thì xảy ra một việc nhỏ nhưng đã gây xích mích trầm trọng giữa hai người chẳng khác nào lửa cháy lại đổ thêm dầu.
Nguyên một hôm, viên Khâm Sứ Levéque đang tản bộ dạo mát trên cầu Thành Thái ( Huế) thì xe song mã của vua chạy qua cầu. Không hiểu vô tình hay hữu ý, Levéque không cất mũ chào vua. Trên chiếc xe song mã, Uy Vệ Thừa kỵ là người đánh xe, thấy trái mắt, bèn đưa cao roi quần ngựa đánh " bép " một tiếng đến chát tai ngang qua đầu viên Khâm Sứ mà không trúng, khiến cho y tái cả mặtCó lẽ vì thế mà sau này, vị đại diện cao cấp Pháp quyết tâm tìm đủ mọi cách để b hạ bệ vua Thành Thái cho kỳ được
( theo Lê Thanh Cánh)



Vợ vua Thành Thái
📎 vo vua TT
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 21:44:37ct.ly>
BÀI THƠ CHÂU PHÊ


BẢN ÁN SÁT NHÂN

Cậu Hai Hót là một thanh niên đẹp trai, có tài tán tỉnh, nhiều bà đã dâng cả tình lẫn tiền. Có lần vua Thành Thái cho vời cậu vào Đại Nội thử tài, cậu đã thắng, nhà vua phải thưởng ba lạng bạc sau khi Hai Hót lừa được vua để vua cho hút một điếu thuốc trà.
Sau đó, cậu ta xuống chợ Bao Vinh " hót " được một chị lái đò khá xinh. Chị này mời Hai Hót xuống đò ăn uống và cho biết chòng chị đi vắng chiều tối mới về. Không ngờ anh chồng về nửa chiều, bắt gặp quả tang Hai Hót thông dâm với vợ mình. Sẵn cái cọc chèo trong tay, anh ta đánh cho Hai Hót một vố vào đầu chết tươi.
Huyện kết án anh lái đò 15 năm khổ sai. Án trình lên tỉnh Thừa Thiên giảm xuống 10 năm khổ sai, đưa lên bộ Hình lại giảm xuống 5 năm.
Sau khi xem hồ sơ, vua Thành Thái thấy anh lái đò đáng được tha. Nhà vua phê vào bản án 4 câu Kiều, chắp lại thành một lời phán quyết sâu sắc:
- Hại một người, cứu muôn người.
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Mệnh trời mà cũng quyền ta
Thấu tình đạt lý ta tha cho về




📎 cuu hoang ..lan cuoi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 21:59:46ct.ly>
NHỮNG VIỆc LÀM CỦA MỘt VUA " ĐIÊN

Quyền hành của vua Thành Thái ngày càng thu hẹp, nhà vua bị cô lập dần, nên u uất đến cao độ. Ông trút sự phẫn nộ của mình lên các công văn bằng những lời phê gay gắt, kể cả những giấy tờ trao đổi với tòa Khâm Sứ.
Đến năm 1906, Khâm Sứ Levécque vốn là một người nóng nảy, hách dịch, không những lấn át mà còn coi rẻ cả nhà vua. Sự xích mích giữa hai bên ngày càng nghiêm trọng.
Ngày 12 - 10 - 1906 , Levécque sắp đi Hà Nội, các Cơ Mật Đại Thần đề nghị vua Thành Thái qua thăm Khâm Sứ, nhưng nhà vua lấy cớ đau chân, nhất định không đi. Thế là Levécque liền cho phao tin Thành Thái mắc bệnh điên để làm mất uy tín nhà vua.
Khi đội nữ binh trong Đại Nội được thành lập, hành động ấy của nhà vua liền bị Levécque lợi dụng để làm cho Toàn Quyền và Bộ Thuộc địa tưởng nhà vua điên thật, sẽ dễ dàng đồng ý khi nào Khâm Sứ quyết định phế truất.
Ngày 12 - 7 - 1907, sau khi nhà vua không chịu phê chuẩn việc thăng bỏ một số quan lại đã được Khâm Sứ bàn và thỏa thuận với Hội Đồng Thượng Thư, Levécque tuyên bố:
- Nhà vua không thành thật cộng tác với Chính Phủ Bảo Hộ thì từ nay mọi việc Hội Đồng Thượng Thư cứ tùy nghi mà làm".
Rồi Levécque thông báo cho vua biết:
- Từ nay nhà vua không còn quyền hành gì nữa và không được ra khỏi nơi ở đã dành cho mình trong Đại Nội.
Đồng thời với việc truất phế và giam lỏng cua Thành Thái, một Hội Đồng Phụ Chính được thành lập do Trương Như Cương cầm đầu. Hội Đồng này cùng với tòa Khâm Sứ ra một bản thông cáo chung nhấn mạnh rằng;
- Vì Thành thái mắc bệnh điên nên hai Chính Phủ đã quyết định như vậy để bảo vệ lợi ích của quốc gia cũng như chính bản thân nhà vua.
Cuối cùng, một giải pháp được Pháp lẫn Hội Đồng Phụ Chính và cả vua Thành Thái đồng ý, là theo tập quán Việt Nam " Phụ truyền Tử Kê " ( cha truyền con nối ) Toàn quyền Đông Dươngf và Khâm Sứ Levécque phải chọn một người con trai của vua Thành Thái cho đăng quang.
Ngày 2 - 9 - 1907, các đại thần vào điện Càn Thành, dâng lên một tờ biểu có chữ ký của các đại thần, trừ Ngô Đình Khả. Kém theo tờ biểu là một dự thảo Chiếu Thoái vị. Nhà vua đọc bản dự thảo, nhếch mép cười, ghi hai chữ " phê chuẩn " rồi quay lưng đi vào.
Chín ngày sau, Pháp cho áp giải Thành Thái vào Séi Gòn rồi đưa ra quản thúc ở Cap Saint Jacque, cho đến năm 1919 thì bị đày ra đảo Réunion, đồng thời với vua Duy Tân.
Sau 31 năm bị đày, nhà vua " điên " này mới được phép về Tổ G Quốc, nhưng bắt buộc phải ở Sài Gòn. Đến tháng 3 - 1953 nhà vua mới được về Huế thăm lăng tẩm tổ tiên, rồi phải trở vào Sài Gòn. Ngày 24 - 3 - 1954 vua Thành Thái mất, con cháu mới được phép đưa thi hài về chôn ở Huế.



📎 cuu hoang ..lan cuoi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-11 19:42:34ct.ly>
DUY TÂN ( 1907 - 1916 )

Thông Minh Từ Thuở Nhỏ

Vua Thành Thái có nhiều con, trên ba chục Hoàng Tử lẫn Công Chúa. Người nào phạm lỗi, vua trị thẳng tay. Nhưng trong thời gian chưa bị đánh roi, mà người phạm lỗi làm cho vua cười là vua tha tội liền.
Đêm hôm đó , chùa Linh Mụ làm chay, vua và đình thần đến dự lễ, Hoàng Tử Vỉnh San lúc đó mới 7 tuổi ( vua Duy Tân sau này) được theo cha hầu điếu tráp. Trước đó cậu có phạm lỗi mà vua cha chưa kịp trị tội. Trong khi chờ buổi lễ cử hành, vua lấy thuốc cẩm lệ vấn kiểu sâu kèn ra hút, bảo Vỉnh San quẹt diêm. Cậu ta tâu không có diêm; mặc dầu trong tráp có sẵn diêm; rồi nhanh chóng chạy ù vào nhà bếp của chùa, vác một thanh củi to tướng đỏ hừng hực lấy ở bếp nấu bánh tét, lễ mễ đi thẳng trước mặt vua và đình thần nói lớn:
- Dạ, thưa lửa đây.
Trước cảnh tượng ấy, ai nấy đều cười xòa vui vẻ.
Thế là Vỉnh San khỏi bị đòn tội hôm trước.

( Theo Hoành Trọng Thược )



📎 hình duy tân
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-11 19:46:44ct.ly>
MỘT CUỘC TUYỂN CHỌN HÒANG ĐẾ KỲ LẠ

Sau khi bắt giam vua Thành Thái, viên Toàn Quyền Đông Dương, viên Khâm Sứ Levécque và một số viên chức Phz&p tháp tùng, rầm rộ kéo vào Đại Nội hợp với đông đủ các quan đại thần của Nam Triều, nhằm mục đích chọn một Hoàng Tử kế vị Thành Thái.
Pháp bắt buộc Nam Triều phải đem ra trình diện tất cả Hoàng Tử con của vị vua phế đế, để Pháp " chọn mặt gửi vàng " . Sau khi ăn mặc chỉnh tề, các Hoàng Tử được đưa ra trước " Hội Đồng Thuợng Đỉnh" . Nhưng khi kiểm điểm lại thì thiếu Hoàng tử Vỉnh San lên tám tuổi. Pháp thuộc phải tìm cho ra mới nghe. Thôi thì tất cả thị vệ và cung nữ đang phục dịch trong cung cấm được huy động đi tìm kiếm; một sự náo loạn xảy ra trong cung điện, tưởng chừng như có biến cố trọng đại gì.
Đợi đã lâu mà chưa thấy Nam triều đưa Hoàng tử Vỉnh san ra trình diện, viên Toàn Quyền Pháp tỏ vẻ giận dữ, toan đứng dậy bỏ ra về thì một thị vệ dẫn Hoàng Tử đến, mặt mũi lem luốc, áo quần dính đấy mạng nhện. Đình thần bèn giải thích cho viên Toàn Quyền hay rằng:
- Vì quá sợ bị chọn làm Hoàng Đế, Hoàng Tử đã trốn chui, trốn nhủi, nên mới ra nông nổi. Để trình diện kịp thời, Hoàng Tử không kịp đi tắm rửa và thay quần áo.
Mục đích của Pháp là đưa lên ngôi một ông vua đần độn, không có tinh thần chống Pháp, để sai khiến về sau này; càng nhỏ tuổi càng tốt , để dể bề uốn nắn. Cho nên khi viên Toàn Quyền thấy Hoàng Tử Vỉnh san đang còn nhỏ và quá nhát gan như đình thần đã cho biết, thì tỏ vẻ mãn nguyện lắm.
Thực ra, lý do Hoàng Tử vắng mặt lúc này không phải vì sợ, mà ham chui xuống các bộ rầm hạ trong cung điện để bắt dế.
Ít hôm sau đó, trong buổi lễ đăng quang, có mặt viên Toàn Quyền và đoàn tùy tùng hôm nọ, Hoàng Tử tỏ ta chững chạc như người lớn, đối đáp với vị Đại Diện Pháp rất lưu loát, tỏ ra thông minh lạ thường, đôi khi còn nói những câu trịch thượng và xóc óc, khiến cho viên Toàn Quyền Pháp chưng hửng. Nhưng việc đã trót lỡ mất rồi, dù có thay đổi cũng không được nữa.
Chín năm sau, hẵn viên Toàn Quyền này còn hối tiếc nhiều hơn nữa khi Hoàng Tử ấy, trên ngôi vị Hoàng Đế, đã cầm đầu một cuộc khởi nghĩa chống Pháp vào đêm 2, rạng ngày 3 tháng 5 năm 1916.

( Theo Hoàng Trọng Thược )


Di Ảnh vua Duy Tân 30 tuổi
📎 vua Duy tan 30 tuoi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-11 19:54:41ct.ly>
NHỮNG CÂU HỎI " XẤC XƯỢC "



Trong buổi lễ đăng quang, sau kho ở bên ngoài 21 tiếng súng lệnh nổ vang báo hiệu buổi lễ bắt đầu, viên Toàn quyền theo nghi lễ đọc chúc từ khai mạc. Vua Duy tân bước xuống ngai đứng nghe. Vua mặc bộ đồ đại triều nặng nề mà phải đứng nghe viên Toàn Quyền đọc chúc từ quá lâu nên rất khó chịu. Tuy nhiên, ngoài mặt vua vẫn giữ được vẻ bình thản và trang nghiêm. Đến khi viên Toàn Quyền dứt lời, vua Duy tân tiến tới bắt tay và hỏi gọn lỏn ( bằng tiếng Pháp)
- Ông đọc chúc từ lâu như vậy, ông có mệt không?
làm cho viên Toàn Quyền chưng hửng.
Trước đó, khi các viên chức cao cấp Pháp đến chào vua, mặc dầu vua biết rõ hai vị đại diện cao cấp nhất của chính quyền Bảo Hộ, nhưng vẫn giả vờ không biết, hỏi:
- " Trong các ông đây, ai là Toàn Quyền, ai là Khâm Sứ?
Các câu hỏi của vua Duy tân có vẻ ngây thơ, nhưng thật là mỉa mai và thâm thúu
( Theo lời kể của ông Tôn Thất Sa )


📎 hình duy tân
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-11 19:55:55ct.ly>
ÔNG VUA TINH NGHỊCH NHƯNG TẾ NHỊ

Năm 1911, ông Tôn Thất Sa được Khâm Sứ Trung Kỳ cử vào nặn tượng vua Duy tân theo mẫu sống để Pháp đem sang trưng bày tại cuộc đấu xảo Paris tổ chức vào năm sau. Trong khỏang hơn một tháng , ngày hai buổi, mỗi buổi một giờ, vua mặc đại triều ra ngồi trên ngai vàng đặt ở giữa điện Dưỡng Tâm để cho ông Sa nặn tượng .
Trong mấy buổi đầu, trước sự có mặt của phụ đạo Pháp Eberhardt, nhà vua giữ thái độ dè dặt, không hề nói với ông Sa một lời.
Về sau nhà vua lựa khi Eberhardt vắng mặt mới ngồi làm kiểu và lúc đó ông thân mật, ân cần hỏi thăm gia đình, cuộc sống của ngưiei nặn tượng. Vua cho phép ông Sa cởi áo ngoài để nặn tượng cho thoải mái, có khi còn sai người đem trà ra mời ông Sa dùng, xem như một người thân.
Thế nhưng khi mặt của pho tượng nặn gần xong thì lạ thay , mặt và mũi vẫn y nguyên, nhưng cái miệng thì vểu ra và nhe răng như mỉa mai, chế nhạo ai, làm ông Sa rất bàng hoàng , sửng sốt . Khi vua lại ra ngồi làm kiểu, ông lặng lẽ chữa lại những chỗ bị sửa, nhà vua cũng không nói gì. Qua hôm sau, việc " chơi khăm " hôm trước lại y hệt, làm cho ông Sa tức đến sôi gan và bí mật tìm ra thủ phạm cho bằng được.
Đến ngày thứ ba, khi về nhà ăn cơm trưa xong, ông Sa không ngủ trưa mà lén đi vào điện Dưỡng tâm. Tại đây, một cảnh tượng làm ông suýt té ngữa vì ngạc nhiên: chính vua Duy Tân, tay trái cầm một cái gương soi, tay phải măn mo nơi mặt pho tượng, miệng của vua vểu ra để lộ hai hàm răng! Thỉnh thoảng vua nhìn mặt mình trong gương rồi quay sang nhìn mặt pho tượng để nắn theo ý muốn của mình. Khi bị ông Sa " bắt quả tang ", vua cười nói:
- Ta muốn pho tượng của ta chế nhạo cả nước Pháp khi công trình ấy được đưa qua đấu xảo ở Paris.
- Tâu Hoàng Thượng, nhưng Hoàng Thượng có nghĩ rằng như vậy ông Khâm sứ có thể nghiêm trị tôi không?
- Té ta rứa a? Ta không nghĩ đến, thôi ta xin lỡi thầy.
Rồi nhà vua leo lên ngai ngồi để ông Sa sữa chữa lại cái miệng của pho tượng và tiến hành công việc của ông.
Về sau công trình hoàn thành tốt đẹp, ông Sa lại được vào Đại Nội để tiếp tục họa chân dung vua theo nhiều cách: sơn dầu, thủy mạc, bút chì ... Cứ mỗi lần họa xong một bức và tiếp tục qua bức khác, ông thấy một bàn tay nho nhỏ xinh xinh thọc vào túi áo bà ba của mình, nhưng ông không dám nhìn vào, tuy biết đó là bàn tay của nhà vua.
Đợi đến khi ra khỏi điện Dưỡng Tâm rồi, ông thò tay vào túi áo thì thấy đó là tờ giấy bạc. Thì ra nhà vua đã tế nhị và kín đáo trả tiền công cho ông. Chứ một bức họa cỡ lớn thì 50 đồng. Ông Sa rất lấy làm cảm động, một phần vì cử chỉ tế nhị của vua và phần khác, vào năm 19911, đó là những số tiền lớn gấp mấy lần số lương hàng tháng của ông lúc này ....
( ....)
Sau này, không được vào Đại Nội nữa do lệnh cấm của người Pháp, nhưng hình ảnh vị vua thiếu niên thông minh, tinh nghịch mà tế nhị đó vẫn làm cho ông Sa nhớ mãi và tiếc nuối.
( Theo Hoàng Trọng Thược )

Đăng nhập để trả lời
0