Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Trả lời cho VX

4 trả lời, 5.554 lượt xem — Trang 1 / 1
Chào bạn VX,

NH thấy bài nầy ở vietlex nên khiêng về đây.

Mong rằng bài viết nầy sẽ phần nào trả lời cho thắc mắc của VX.

Chúc vui. [:)]




*************************


CHỮ VIẾT


Âm vị là kí hiệu âm thanh nhỏ nhất trong ngôn ngữ mà tai ta có thể nghe được. Kí hiệu âm thanh đó cần phải ghi thành kí hiệu vật chất để mắt ta có thể nhìn thấy được, do vậy mà có chữ viết, có hệ thống văn tự của một ngôn ngữ. Trong các ngôn ngữ, mỗi âm vị đều được ghi lại bằng một con chữ (chữ cái), nhưng con chữ và âm vị là không giống nhau. Chẳng hạn âm vị /b/ trong tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp được thể hiện về mặt âm thanh tương đối giống nhau, nhưng lại khác nhau về mặt chữ viết. Trong tiếng Việt, âm vị /u/ đứng cuối âm tiết khi được ghi bằng chữ "o" (đào hào), khi được khi bằng chữ "u" (rau câu). Để hạn chế những bất cập của chữ viết trong việc nghiên cứu cũng như học tập các ngôn ngữ khác nhau, người ta đã đề ra hệ thống kí hiệu phiên âm quốc tế. Hệ thống này đã được Hội ngữ âm học quốc tế công nhận năm 1888.

Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, mỗi một tiếng hay một âm tiết, một hình vị được ghi thành một chữ rời, ranh giới để nhận diện các chữ là khoảng trống (space) giữa các tiếng (âm tiết, hình vị).
Chú ý phân biệt chữ, với cách hiểu là tập hợp chữ viết của một âm tiết (hay một tiếng) như vừa nói ở trên, ví dụ: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", với chữ được hiểu là đơn vị kí hiệu trong một hệ thống chữ (con chữ, chữ cái), ví dụ chữ "a, b, c..." và chữ được hiểu là hệ thống kí hiệu bằng đường nét được đặt ra để ghi lại tiếng nói của con người, ví dụ: chữ quốc ngữ, chữ Nôm, chữ A-rập, chữ Hán, chữ Latinh.

Tiếng Việt có 41 âm vị: 23 âm vị phụ âm và 16 âm vị nguyên âm, 2 âm vị bán nguyên âm. Để ghi lại 41 âm vị này, tiếng Việt dùng 29 chữ cái (con chữ) sau (xếp theo trật tự abc..):
a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y

Ngoài ra, tiếng Việt du nhập thêm 4 chữ cái f, j, w, z để viết các từ ngữ mượn của tiếng nước ngoài bằng phiên âm, và đặc biệt là để viết các thuật ngữ khoa học. Ví dụ: Flôbe (Flaubert), flo-rua (fluorur), juđô (judo), xe jip (jeep), jun (joule), watt, wolfram, Môza (Moza), zero, Zn, v.v.


CHÍNH TẢ

1. Chính tả là cách viết chữ được coi là chuẩn, nó có tính chất bắt buộc đối với toàn thể cộng đồng ngôn ngữ. Sự thống nhất chính tả biểu hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ. Chuẩn chính tả, cũng như mọi chuẩn ngôn ngữ khác, không phải là cái gì nhất thành, bất biến. Có những chuẩn cũ đã trở thành lỗi thời, nhường chỗ cho những chuẩn mới ra đời hoặc thay thế nếu nó đáp ứng nhu cầu của đời sống, phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ và được xã hội chấp nhận. Chính tả tiếng Việt cũng không nằm ngoài cái quy luật đó.

2. Do phát âm của tiếng Việt không thống nhất trong cả nước, phát âm của các miền, các địa phương có những mâu thuẫn khác nhau với chính tả, tạo ra những vấn đề chính tả khác nhau Như vấn đề hỏi/ngã đối với miền Nam và phần lớn miền Trung, vấn đề ch-/tr-, s-/x- đối với miền Bắc, v.v. Ngoài ra còn có những trường hợp cần chú ý như:
- ăm - âm, ăp - âp, ay - ây được phân biệt trong mọi phương ngữ, nhưng ở phương ngữ miền Bắc, chỉ riêng với một số từ lại không có sự phân biệt. Ví dụ: con tằm phát âm là con tầm; cặp sách phát âm là cập sách; dạy học phát âm là dậy học, v.v.

- Có khi cùng một từ (hình vị), lại có hai hay ba biến thể ngữ âm và biến thể chính tả tương ứng khác nhau ở các phương ngữ. Ví dụ bệnh tật và bịnh tật; thưa gửi và thưa gởi; lời lẽ và nhời nhẽ, v.v.
Nhìn chung, chính tả của tiếng Việt tập trung trong các trường hợp sau đây:


- Âm tiết có phụ âm đầu

(hoặc bán nguyên âm đầu):

ch-/tr- d-/gi- d-/gi-/r- d-/gi-/v-l-/n- s-/x- hw-/ngw-/qu-(kw-)/w-
[w viết bán nguyên âm "u" trong oa (wa), oă (wă), oe (we), (q)ua (wa), (q)uă (wă), uâ (wâ), (q)ue (we), uê (wê), uơ (wơ), uy (wi) ở những âm tiết như: hoa, ngoặc, loe, qua, quăn, uất, quen, huê, huơ, nguy...]

- Âm tiết có nguyên âm chính

(kết thúc bằng phụ âm hoặc bán phụ âm):

e-/ê- trong: em/êm ep/êp
i-/iê- trong: im/iêm ip/iêp iu/iêu
i-/ư- trong: iu/ưu
o-/oo- trong: on/oong ot/ooc
o-/ô-/ơ- trong: om/ôm/ơm op/ôp/ơp
u-/uô- trong: ui/ưôi un/uôn ut/uôt
ư-/ươ- trong: ưi/ươi ưu/ươu

Âm tiết có phụ âm cuối:

-c/-t -n/-ng

- Âm tiết có các khuôn vần:

ai/ay ao/au ên/ênh êch/êt
ich/it in/inh oi/oai

- Âm tiết có thanh điệu:

hỏi/ngã ngã/nặng

- Âm tiết có phụ âm đầu:

d-/nh- gi-/tr- l-/nh-

- Âm tiết kết thúc bằng:

-ăm/-âm -ăp/-âp -au/-âu -ay/-ây -i/-y (sau k-, h-, l-, m-, qu-, t-)

Để nắm vững chính tả tiếng Việt, không cần thiết phải nhớ hết chính tả của mỗi từ ngữ, chỉ cần nắm vững chính tả của một số lượng âm tiết cụ thể, khác nhau đối với từng phương ngữ. Vấn đề này luôn được phản ánh đầy đủ, cụ thể trong các cuốn từ điển chính tả tiếng Việt.








Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng Việt

Vũ Xuân Lương


Tiếng Việt được thể hiện qua hai dạng chữ viết, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Các vấn đề nghiên cứu để biểu diễn chữ Nôm trong công nghệ thông tin mới được nghiên cứu và gần đây đã thu được những thành công bước đầu. Mối quan tâm chính của giới công nghệ thông tin trong những năm qua là tập trung nghiên cứu chữ quốc ngữ để biểu diễn bên trong máy tính. Kết quả của quá trình nghiên cứu là đã công bố được một bảng mã tiêu chuẩn cho tiếng Việt, viết tắt là TCVN-5712 (1993). Cùng với bảng mã TCVN-5712 là sự ra đời của bộ font chữ ABC, được quy định là tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế mà bảng mã TCVN-5712 không được sự ủng hộ của giới làm phần mềm, và kết quả là trên lãnh thổ Việt Nam cũng như ở nước ngoài đã sản sinh ra rất nhiều bộ mã cho chữ Việt, dẫn đến một tình trạng hỗn độn chữ Việt trên thị trường công nghệ thông tin. Việc ra đời của nhiều phần mềm gõ chữ Việt có tích hợp nhiều cách bỏ dấu khác nhau cũng góp phần tạo nên sự hỗn độn đó. Hậu quả là gây trở ngại không nhỏ cho việc lưu trữ, xử lí cũng như trao đổi ngữ liệu trên máy tính cá nhân, trên mạng máy tính, trên Internet, v.v.

Để tránh sự lệ thuộc vào những thói quen mang tính chất cá nhân, thiết nghĩ việc xác định vị trí đặt dấu thanh cho chữ Việt cũng cần được chuẩn hoá, làm cơ sở cho những người thiết kế các phần mềm gõ chữ Việt.


Định nghĩa.

1. Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu, và tách rời với âm tiết khác bằng một khoảng trống (space). Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một "chữ". Vd: “hoa hồng bạch” gồm 3 chữ hoặc 3 âm tiết.

2. Con chữ nguyên âm là những con chữ thường dùng để viết các nguyên âm
a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.

Chú ý: Trong tiếng Việt, các con chữ O và U được dùng không chỉ để viết các nguyên âm o và u, mà còn để viết một bán nguyên âm (hay bán phụ âm) w (đọc là uờ). Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm đệm trong các trường hợp như toán, toàn, xoan, tuần, tuấn, quẩn... thì gọi là bán nguyên âm. Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như đào hào, báo cáo, táo, đau, rau câu... thì gọi là bán phụ âm. Với con chữ I, cũng tương tự, nó vừa dùng để viết nguyên âm i (im ỉm, in ít...), vừa dùng để viết bán phụ âm i đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như: tai tái, cày cấy, táy máy... (xem thêm Bảng nguyên âm). Chúng tôi gộp chung tất cả vào nhóm con chữ nguyên âm.

3. Con chữ phụ âm là những con chữ chỉ dùng để viết các phụ âm:

b, c, d, đ, (f), g, h, (j), k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, (w), x, (z).

4. Tổ hợp con chữ phụ âm là những tổ hợp hai hoặc ba con chữ phụ âm, dùng để viết một phụ âm:

ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, gi, qu.

Chú ý: Trường hợp gi và qu thì u và i không dùng để viết một nguyên âm nào cả, cũng gọi là những tổ hợp con chữ phụ âm.



Quy tắc

Quy tắc 1. Với những âm tiết chỉ có một con chữ nguyên âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm đó. Vd:

á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt...
(trường hợp gi và qu xem định nghĩa 4)

Quy tắc 2. Với những âm tiết, mà trong âm tiết đó chỉ cần có một con chữ nguyên âm mang dấu phụ (Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư) và không kể kết thúc bằng con chữ gì, thì dấu thanh bao giờ cũng đặt ở con chữ đó (riêng ƯƠ, dấu đặt ở Ơ).

ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừchiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường, ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...

Quy tắc 3. Với những âm tiết có hai con chữ nguyên âm và kết thúc bằng một con chữ phụ âm hoặc tổ hợp con chữ phụ âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót. Vd: choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...

Quy tắc 4. Với những âm tiết kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót.
Vd: hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...

Quy tắc 5. Với những âm tiết kết thúc bằng hai hay ba con chữ nguyên âm khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm áp chót.
Vd: bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo, quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...

Chú ý

Có một vấn đề được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây, đó là vị trí dấu thanh trong các văn bản, sách báo tiếng Việt thường không xử lí thống nhất với nhau, gây không ít khó khăn cho việc trao đổi cũng như học tập tiếng Việt. Trước nay người ta chỉ quan tâm đến việc đặt dấu thanh vào đâu trong âm tiết cốt để tạo nên "một cái nhìn" cân đối cho chữ viết. Nhưng ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của tin học, máy tính ngày càng thâm nhập rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì yêu cầu thống nhất trong lưu trữ, xử lí cũng như trao đổi ngữ liệu là quan trọng hơn nhiều so với việc xem chữ viết bỏ dấu có cân đối hay không. Cần khẳng định lại mấy điểm sau đây:

1. Chuẩn về vị trí dấu thanh trong âm tiết tiếng Việt đã được xác định từ lâu trong phần lớn trường hợp, về cơ bản tuân theo 5 quy tắc nêu trên. Cho đến nay, chỉ tồn tại sự không nhất trí với các tổ hợp oa, oe, ua, ue, uy. Chẳng hạn viết HỌA, HÒE, HỦY, QỦA, QỦE, QÚY, hay HOẠ, HOÈ, HUỶ, QUẢ, QUẺ, QUÝ?

2. Trong tiếng Việt, các con chữ O và U được dùng không phải chỉ để viết các nguyên âm o và u, mà còn để viết một bán nguyên âm (còn gọi là bán phụ âm) w trong một số trường hợp nhất định như: oa (wa), oe (we), uy (wi), qua (kwa), que (kwe), quy (kwi) (c, q, k phiên âm quốc tế đều là /k/), v.v... Có nghĩa là âm w trong các tổ hợp nói trên thật ra không thuộc thành phần nguyên âm của âm tiết, nguyên âm ở đây là a, e, i (viết bằng Y).

3. Theo quy tắc 1, dấu thanh đánh trên con chữ viết nguyên âm; vậy viết HOẠ, HOÈ, HUỶ, QUẢ, QUẺ, QUÝ là hợp quy tắc (giống như viết HẠ, HÈ, KỸ, CẢ, KẺ), nên coi đó là chuẩn, thống nhất với các trường hợp tương tự khác như NGOAN NGOÃN, KHOÁNG ĐẠT, NGÚNG NGUẨY... (không ai viết NGOAN NGÕAN, KHÓANG ĐẠT, NGÚNG NGỦÂY...). Việc bỏ dấu thanh trên O và U trong những tổ hợp này là kết quả của một sự nhầm lẫn, cho rằng O và U ở đây viết các nguyên âm o và u.

4. Các trường hợp trên đây khác các trường hợp ia, ua, ưa, là những nguyên âm đôi. Đối với nguyên âm đôi, thì dấu thanh đánh trên con chữ đầu của tổ hợp, tức là đánh trên I (IA), U (UA), Ư (ƯA). So sánh CỦA và QUẢ, THỦA và THOẢ. Trong giạ (giạ lúa), nguyên âm là a, nên đánh dấu nặng dưới A: GI + Ạ; khác với trong gịa (giặt gịa), có nguyên âm đôi ia (I ở đây vừa tổ hợp với G viết phụ âm gi, vừa tổ hợp với A viết nguyên âm đôi ia), nên đánh dấu nặng dưới I: GI + ỊA (đúng ra là có hai chữ I, nhưng đã lược bỏ bớt một thành GỊA).

Cũng nên lưu ý là tương ứng với các nguyên âm đôi ia, ua, ưa, có các nguyên âm đôi iê-, uô-, ươ- (luôn luôn có phụ âm hoặc bán nguyên âm cuối), dấu thanh lại đánh trên con chữ thứ hai của tổ hợp IÊ, UÔ, ƯƠ (quy tắc 2). Cho nên những âm tiết như HUỆ, THUỞ, từ lâu viết nhất trí với dấu thanh trên Ê, Ơ, không ai đánh dấu thanh trên U và viết HỤÊ, THỦƠ.

5. Đồng thời với việc chuẩn hoá dấu thanh, cũng cần chuẩn hoá và thống nhất chính tả trong các trường hợp sau đây:

a) Nhất loạt viết khuôn vần /-i/ bằng I (trừ tên riêng) trong các âm tiết H-, K-, L-, M-, T- (nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI, giống như viết BI, CHI, DI, v.v.; không nên viết HY, KY, LY, MY, TY, cũng như không ai viết BI thành BY, CHI thành CHY, v.v.);

b) Nhất loạt viết khuôn vần /-ui/ (u ngắn) bằng UY (nhất loạt viết QUY, giống như viết HUY, NGUY, TUY, v.v.; không nên viết QUI, cũng như không ai viết NGUY thành NGUI, HUY thành HUI, v.v.).

c) Khi “I” đứng một mình làm thành một từ (hoặc một âm tiết), thì: nếu là từ Hán-Việt, nên viết “Y”, chắng hạn viết Y KHOA, Ỷ THẾ, Ý KIẾN, ..., không viết I KHOA... Í KIẾN...; nếu là từ thuần Việt, nên viết “I”, chẳng hạn viết Ỉ EO, Í ỚI..., không viêt Ỷ EO, Ý ỚI....

6. Nếu căn cứ vào lí do thẩm mĩ để cho rằng bỏ dấu theo kiểu HÒA, QỦA... là đúng vì nó cân đối, thì trong các trường hợp sau tại sao không bỏ dấu lại cho nó cân đối. Ví dụ:



THUỞ
(thuở ấu thơ)

THỦƠ
(thủơ ấu thơ)

NGOÃN
(ngoan ngoãn)

NGÕAN
(ngoan ngõan)

NGOẠN
(ngoạn mục)

NGỌAN
(ngọan mục)

HUYỀN
(huyền diệu)

HUỲÊN
(huỳên diệu)

v.v.


Nguồn Vietlex
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Xin chào VX,
HBNX cũng không khá nhưng biết đâu hai đứa dốt bọn mình cộng lại, lại trở nên khá thì sao ?
Những phần khác thì bài dẫn của NHDT giải thích rất rõ ràng. Chỉ riêng có câu hỏi của bạn :

Xin hỏi các bạn giữa âm thanh mỗi miền và chữ viết có điểm nào giống nhau và điểm nào khác nhau?

Có lẽ VX ý muốn nói âm thanh mỗi miền tức là giọng (cách phát âm : prononciation) như giọng Bắc, giọng Nam v.v…

Ở đây, HBNX có một ý kiến nhỏ như sau :
Cách phát âm của cả 2 miền đôi khi khác hẳn với chữ viết : Viết một đằng , nói một nẻo. - Giọng Bắc có ưu điểm là nhẹ nhàng, nhả chữ với những thanh bằng, trắc chính xác nên có ưu điểm thể hiện các ca khúc. Cũng vì vậy nên ca sĩ dù là người Nam, người Trung cũng đều thành đạt qua ca khúc bằng tiếng Bắc « chuẩn ».
Cũng do tiếng Bắc « nhẹ » cho nên trong câu thơ :
Rượu nồng, chưa nhấp đã say ,
Viết là vậy nhưng khi ngâm thì lại là :
Diệu nồng, chưa nhấp đã say…

- Giọng Nam trầm, ấm , rất chính xác trong các vần S-X, R-G-D…nhưng khi gặp vần V như đi vô (trong chữ viết) thì lại chuyển thành đi giô v.v…Ngoài ra, đôi khi bị lầm lẫn giữa dấu NGÃ và dấu HỎI…

Thân ái.
..."Vua không lấy Trạng, vua thề thế,
Con bướm Vàng Tuyền đậu Thám hoa..."
NGUYỄN BÍNH
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-12 11:16:07vienxu>
Cám ơn NHDT nhiều lắm nghe[:)]
Mời ly nước uống cho đở mệt nè[sm=z_pepsi.gif][sm=z_pepsi.gif][sm=z_pepsi.gif]
Tội nghiệp phải tay xách nách mang rinh tài liệu về cho VX [sm=flower.gif][sm=flower.gif][sm=flower.gif][sm=heart.gif]
Thương Sis lém nghe nhưng hổng lẽ Mi Mi seo kỳ lém hi...hi...hi...




[sm=----.gif] bạn HBNX cho chút ý kiến nhe[:)][:)][:)]

Nhưng mà theo VX có đọc hổng biết có lầm hông thì thi sĩ Nguyễn Bính viết chữ Trời=giời đó nghe
Chúc bạn HBNX vui
Ta yêu hạt bụi vướng hài
Ta yêu từng sợi tóc mai phủ chiều
Ta yêu sóng mắt mỹ miều
Vì em giọt nắng cũng nhiều vấn vương...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-12 21:53:19NuHiepDeThuong>
Chào VX,

Không có chi đâu. VX đừng khách sạn nha... í quên, khách sáo nha. [:D]

NH có đọc qua vài tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh. HBC được mệnh danh là nhà văn lão thành của miền đồng bằng Nam Bộ. Vì vậy, các tác phẩm của ông rặc ròi tiếng địa phương, thổ ngữ của những vùng nông thôn... Có thể những từ trong tác phẩm không đúng tiêu chuẩn tiếng Việt được đề ra... Tuy vậy, cái hay của các tác phẩm HBC là nhờ vào những từ ngữ thường được dùng trong vùng ruộng lúa. Và chính nhờ vào những từ thô thiển, lạ tai, mộc mạc nhưng đầy tình nghĩa.... mà tác phẩm của HBC được nhiều người biết đến hơn, nhất là giới bình dân. Bà dì của NH thích truyện của HBC lắm đó. [:D]

Mời VX xem thêm bài nầy cho thắc mắc về dấu hỏi ngã.

Dấu hỏi ngã trong văn chương VN.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0