📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tam Hạ Nam Đường (Mộng Bình Sơn Dịch) 🔒

60 trả lời, 7.004 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-01 05:19:40bevanng>

Hồi Thứ Ba Mươi

Nhường ngôi vua cho em Thái Tổ nghe lời me,
Nối nghiệp trị đời, Thái Tôn vâng lệnh anh .


Không bao lâu, Đỗ Thái hậu phát bệnh các thái y điều trị không lành và từ trần trong trạng thái an vui.
Từ ấy về sau, Tống Thái Tổ hưởng phước thái bình, không lo việc chinh chiến, vì ỷ có Triệu Khuông Nghĩa kế vị sẽ lo chinh phục các nơi hiểm trở .
Vì rảnh rang, Tống Thái Tổ quên lời dặn của Huỳnh Thạch Công, đêm ngày vui chơi với cung nga mỹ nữ, nên sức khỏe yếu dần, việc triều chính phó mặc cho thừa tướng, còn Tống Thái Tổ vui chơi tửu sắc không ngớt.
Ngày kia, Tống Thái Tổ thấy trong mình nóng như lửa đốt, biết chắc bị bệnh nên đòi thái y đến coi mạch.
Thái y coi mạch rồi tâu:
- Mạch bệ hạ đi phù sát, e mắc phải độc chứng.
Miêu quân sư vào thăm viếng và can:
- Bệ hạ mê tửu sắc quá nên phát nóng, rất khó trị! Nếu bệ hạ muốn mau lành thì phải bỏ tửu sắc.
Tống Thái Tổ khen phải, nhưng không sao bỏ được tật cũ. Vì vậy bệnh càng ngày càng nặng thêm.
Đến khỉ Tống Thái Tổ quá yếu, biết không thể sống được nữa liền triệu Tân Vương đến nói:
- Nay bệnh trẫm càng ngày càng trầm trọng, chắc là trẫm không còn ở đời được. Nay trẫm nhường ngôi cho ngự đệ trị vì phải ráng sức lo cho an nhà lợi nước.
Tân Vương khóc và than:
- Bệ hạ hãy an lòng dưỡng bệnh chẳng nên lo nhiều việc mà lao tâm. Còn việc nối ngôi đã có Đức Chiêu, tôi hết lòng phò chúa, lẽ nào làm em dám bỏ lễ, anh có con mà lại cướp quyền, e thiên hạ chê cười.
Tống Thái Tổ phán:
- Đức Chiêu mới mười một tuổi, kế vị sao xong? Vả lại Thái Hậu khi trước đó có truyền chỉ ngày sau phải nhường ngôi cho em, nên trẫm nghe lời mẹ. Em hãy vâng chỉ trẫm mà nối ngôi lo trị nước an dân. Thứ nhất, phải lo đánh Hà Đông kẻo sau này Bắc Hớn tranh hùng. Thứ nhì, cha con Dương Nghiệp ở San Hậu trí dũng song toàn, em phải lập dinh mà rước cho đặng cha con họ Dương về nhờ cậy tài năng. Thứ ba, khi trẫm đến Nam Đường có gặp Trương Tề Hiền  là một văn tài ẩn đặt, người ấy đáng phong làm Thừa tướng mà trẫm chưa rước về là có ý để dành cho em. Vậy em phải sai sứ đem trọng lễ mà rước Trương Tề Hiền về thì rất có lợi ích cho quốc gia. Thứ tư, tại núi Thái Hằng có một người võ nghệ cao cường tên là Hô Giêng Tán em dùng người ấy làm đại tướng, thì văn võ đủ người. Em nhớ bốn việc này mà làm y như vậy, thì tuy nhắm mắt cũng an lòng.
Triệu Khuông Nghĩa lạy tạ ơn.
Khi ấy có Tống Hoàng Hậu và Thái Tử Dục Chiêu có mặt ở đó, Tống Hoàng Hậu tâu:
- Nay bệ hạ truyền ngôi cho Nhị vương thúc, thì mẹ con tôi biết có an thân chăng?
Tống Thái Tổ phán:
- Nay ngự đệ lên ngôi cũng chẳng khác chi Trẫm, ấy là cốt nhục đồng hưởng vinh hoa phú quí, lo gì không được an thân.
Phán rồi liền gọi con lại.
Đức Chiêu qui lạy khóc ròng, khóc cho cha gần miền, chứ không phải khóc mất ngôi thiên tử, bởi Đức Chiêu là người có đức hạnh, nên sau gọi là Bát vương.
Đêm ấy Tống Thái Tổ nằm mê rồi băng hà.
Hoàng hậu, Thái tử, các ngự đệ và bá quan khóc vang lên rồi cứ theo lễ mai táng.
Triệu Khuông Nghĩa lên ngôi, cải niên hiệu là Tống Thái Tông các quan văn võ đều được thăng ba cấp, rồi bang chiếu cất phủ Vô Nịnh sai Phùng Mậu đem lễ vật qua Nam Đường rước Trương Tề Hiền về ở, lại sai Cao Quân Bội đem chiếu rước cả nhà Dương Nghiệp về kinh.
Tống Thái tông lại sai sứ đi tìm Hô Giêng Tán nơi núi Thái Hằng, truyền Cao Hoài Đức tập binh tướng đặng sửa sang đi đánh Lưu Quân tại Hà Đông.
Khi dẹp Hà Đông xong sẽ phạt U Châu là Bắc Phiên Tiêu Hậu.
Lời Bàn
Không tham lam quyền lợi thì không sợ tác hại về sau.
Tống Thái Tổ nghe lời mẹ, truyền ngôi lại cho em là Triệu Khuông Nghĩa, đó là nhượng quyền lợi lại cho kẻ xứng đáng, không vì con mình giữ lấy tham vọng.
Khi đã không có tham vọng thì hành động rất chính đáng, đã hành động chính đáng thì không sợ ai thù ghét mình. Hoàng Hậu và Thái Tử lo cho số phận mình, thì đó chỉ là đề phòng kẻ không có lòng nhân nghĩa. Sở dĩ nhà Tống thâu phục được thiên hạ chính là do xử sự về tình người, đã lấy tình người tiêu biểu cho sự cao cả trong lẽ sống, làm cho thiên thần và dân chúng mến phục, nước non được an bình thạnh trị và thu thập được nhân tâm.
Đây la một tấm gương sáng cho các bậc vua chúa, vì triều thần có kẻ nịnh người trung, không phải ai cũng sáng suốt. Kẻ nịnh thì kiếm lời bợ đỡ nói cho vừa lòng, bất kể phải trái, kẻ trung thì can gián những điều trái làm phật ý vua, nếu nhà vua ham hưởng thụ bản thân thì không thể nào sáng suốt phân biệt được nhân nghĩa trong lẽ sống .


0
Hồi Thứ Ba Mươi Mốt

Bắc Hớn Vương đuổi trung nghĩa,
Hô Diên Táng giết đứa gian manh.


Bấy giờ vua Bắc Hớn là Lưu Quân nghe tướng nước Tống dẹp yên các trấn rồi, bèn hội quần thần mà thương nghị:
- Vả Tiên Quân của ta là cùng vua Thế Tôn nhà Hậu Châu với Tống Thái Tổ đều có đại chí trong thiên hạ, nay cõi bờ đã thuộc về nước Tống rồi, lẽ đâu ta chiếm cứ một chỗ này mà thôi sao?
Quan Gián Nghị là Hô Diễn Đình quì tâu:
- Tôi nghe nói vua Tống là chúa thông minh, lại mạnh mẽ, các nước đều qui hàng, chúa công có một góc đất mà binh tướng chẳng bao nhiêu, chống cự với nước Tống sao nổi? Chi bằng đầu phục để khỏi dấy binh can cự lập nghiệp.
Lưu Quân nghe tâu còn đang do dư, thì có quân Khu mật phó sử là Âu Dương Phương quì tâu:
- Hô Diên Đình âm mưu với Tống, nên khiến chúa công như vậy. Vả đất Hà Đông địa thế hiểm trở, các vị đế vương trước cũng nhờ địa thế mà dựng nên cơ nghiệp. Nay nếu không tranh chấp thi bờ cõi ai nấy giữ, lẽ nào lại chịu đầu hàng kẻ khác? Xin chúa công chiếu theo luật nước mà chém Hô diên Đình đi, để răn chúng. Nếu nước Tống có đem binh đến tôi xin ra sức cự địch cho.
Lưu Quân nghe theo dạy đem Diên Đình ra chém.
Quốc cựu là triệu Toại tâu:
- Mấy lời của Diên Đình tâu đó là lời trung, chẳng phải âm mưu với Tống, nếu chúa công nghe lời đem chém thì Tống trào sẽ đem binh đến đánh nước ta. Nếu chúa công không muốn dùng Diên Đình nữa thì cắt chức mà đuổi về dân gia, như vậy phải trọn nghĩa vua tôi.
Lưu Quân nghe lời tâu, bèn khiến lột chức Hô Diễn Đình đuổi ra khỏi trào.
Diễn Đình tạ ơn lui ra, nội ngày ấy đem vợ con về Phong Châu. Âu Dương Phương chưa bằng lòng còn muốn lập mưu mà giết Diên Đình, bèn đòi bộ hạ mình là Trương Thanh, và Lý Đắc bảo:
 - Hai ngươi hãy đem ít trăm quân lén theo Hô Diên Đình thừa dịp mà giết nó, sau này ta sẽ trọng thưởng.
Hai tên ấy lãnh mạng dẫn vài trăm quân theo sau.
Bấy giờ Hô Diễn Đình đi cùng gia quyến đến trạm Thạch Sơn thì trời đã gần tối bèn vào đó tạm nghỉ.
Đêm ấy hai vợ chồng buồn rầu, mới dạy quân đem rượu ra uống cho giải khuây. Qua canh hai, nghe ngoài quán có tiếng la om sòm và lửa cháy tưng bừng.
Có ngư vào báo:
- Có ăn cướp đến!
Diễn Đình đang say vội hối gia quyến chạy cho mau để lánh nạn, nhưng chưa kịp ra đã bị Trương Thanh và Lý Đắc xốc vào bắt cả gia quyến mà giết hại, lại lấy sạch của cải mà đi. Lúc ấy vợ Hô Diên Đình là Lưu thị bồng một đứa con nít chạy vào một nhà xí nên trốn khỏi. Đến lúc canh tư, Lưu thị mới tỉnh hồn than:
 - Dè đầu bọn ta bị ăn cướp sát nhân như vậy, làm cho mẹ con không có nơi nương tựa.
Than rồi khóc lớn. Xảy nghe sau lưng có tiếngngườỉ hỏi:
- Người đàn bà kia, có việc gì đến chỗ này than khóc như vậy.
Lưu thị nghe hỏi quay đầu lại thì thấy đó là người lạ mặt.
Người ấy hỏi tiếp:
- Nàng là ai mà đến đây chỉ có một mình?
Lưu thị nói:
- Tôi là người ở xứ này, vợ của quan Gián Nghị Hô Diên Đình mới đây cách chức đuổi về xứ sở, đi đến nơi đây rủi bị ăn cướp giết hết, may còn một mình tôi và đứa bé này trốn khỏi mà thôi. Nay tôi không biết dựa vào đâu để sống đỡ.
Người ấy nghe nói cũng than dài:
- Ta đây cũng ở Hà Đông làm chức Lương Viên tên là Ngô Trang, bọn giết chồng nàng khi nãy là gia tướng của Âu Dương Phương tên là Trương Thanh và Lý Đắc. Nàng phải bồng con mà trốn đi chỗ khác nếu ở đây ắt không toàn mạng.
Nói rồi bỏ đi ra. Lưu thị đang lúc sợ sệt, lại nghe ngoài quán có tiếng la ó um nữa. Té ra là lũ lâu la khác tràn vào bắt Lưu Thị đem nộp cho chủ trại mình là Mã Trung.
Mã Trung thấy nàng liền hỏi:
- Nàng ở đâu? Bồng con tới đây có việc gì?
Lưu thị thuật lại hết các việc. Mã Trung nói:
- Có người báo rằng: Trong quán này có một vị quan lớn bị ăn cướp, nên ta muốn đến mà khiến chúng nó phải chia cho ta, nay lại gặp việc khốn của nàng như vầy, thôi nàng hãy chịu theo ta về nhà nương náu mà nuôi con, đặng ngày sau có báo cừu cho chồng nàng như vậy ước đặng chăng?
Lưu thị nói:
- Tôi bị oan lớn này, còn là thân, tôi xin vâng lời đại vương dạy .
Mã Trung dẫn Lưu Thị về nhà thì trời đã gần tối, mới kêu gia quyến, mà bảo dọn dẹp chỗ cho mẹ con Lưu thị ở, rồi Mã Trung trở ra sơn trại.
Lưu thị ở an rồi, bèn mướn người lén tới quán kiếm thây chồng mình mà chôn, xong xuôi trở về chăm chỉ nuôi con, chờ ngày báo oán.
 Lưu Thị ở đó bảy năm thì con đã lớn, Mã Trung đặt tên là Phước Lang. Mã Trung lại đem đến thầy mà cho học. Phước Lang tập việc binh pháp, đến khi mười lăm tuổi thì bắn hay và võ nghệ cũng giỏi, thường hay cầm cây hồn thiết thương, không ai cự lại, Mã Trung thấy vậy mừng thầm, bèn đặt tên lại là Mã Táng.
Ngày kia Mã Táng đi với Mã Trung dạo chơi ngoài đường, thấy một tốp đang khiêng một tấm bia lớn có đề sáu chữ. "Thượng Thụ Quốc Âu Dương Phương", Mã Trung ấy thấy tấm bia ấy thì có sắc giận.
Mã Táng hỏi:
- Cớ gì cha thấy tấm bia đá đó mà nổi giận như vậy?
Mã Trung nói:
- Vì thấy bia để tên của Âu Dương Phương thì cha nhớ lại cách đây mười lăm năm nay tên ấy giết Hô Diên Đình và cả gia quyến người, chớ chi cha biết đặng con cái của Hô Diên Đình còn sót lại ở đâu thì cha sẽ bảo hộ đặng mà trả thù cho người.
Mã Táng nghe nói, cũng đem lòng giận và nói:
- Nếu tôi là con của Hô Diên Đình thì tôi nguyện hết sức mà trả thù ấy.
Mã Trung nói:
- Ý cha tưởng mẹ rõ biết việc ấy lắm, ngươi hãy về mà hỏi lại.
Khi Mã Táng về tới nhà mới than hỏi mẹ có tích làm sao mà Âu Dương Phương giết Hô Diên Đình và gia quyến của người.
Lưu Thị nghe con hỏi đến sự tích ấy, bèn khóc òa mà thuật lại hết các việc đầu đuôi rồi nói:
- Con thiệt là con của Hô Diên Đình, còn cha con bây giờ đây là kế phụ.
Mã Táng nghe rồi liền té xuống bất tỉnh nhân sự, Mã Trung hay đặng chạy đến mà cứu tỉnh.
Mã Táng khóc rằng:
- Nay con nguyện đi trả thù ấy cho đặng.
Mã Trung nói:
- Vả Âu Dương Phương ở Hà Đông làm quan lớn, quyền thế to có quân sĩ cũng đông, phải chờ dịp làm mới đặng. Vậy từ nay kêu ta bằng chú mà thôi, và cứ theo họ gốc của người kêu là Hô Diên Táng.
Táng lạy thưa và nói:
- Nếu chú có mưu kế chi báo thù đặng thì xin giúp tôi với, ơn ấy dầu sống thác ngàn năm cũng ghi vào lòng.
Mã Trung đương lúc tìm mưu kia kế nọ, xảy có người vào báo nói:
- Có Kiến Trung tới thăm.
Mã Trung lật đật ra rước vào, bèn khiến Diên Táng ra mắt.
Kiến Trung hỏi:
- Cháu trai này là ai vậy?
Mã Trung nói:
- Con nuôi của ta, tên là Hô Diên Táng đó.
Nói rồi bèn hỏi Kiến trung tới thăm hay có việc chi?
Kiến Trung nói:
-- Tôi mới đoạt của bọn cường nhân đặng một con ngựa tốt lắm, tên là Ô long mã, tôi muốn đem tới Hà Đông mà bán cho Âu Thừa tưởng, nhân dịp đi ngang qua đây ghé thăm anh.
Mã Trung nói:
- Nếu em có ngựa tốt, xin nhường lại cho cháu, vì nó đương cần kiếm một con như vậy.
Kiến Trung nghe nói liền chịu cho. Mã Trung lòng mừng, bèn hối trong nhà dọn tiệc mà đãi Kiến Trung. Đang khi ăn uổng, Mã Trung bèn thuật hết các việc của Hô Diên Đình cho Kiến Trung nghe.
Kiến Trung nghe nói rất giận và nói:
- Anh chớ, tôi có một kế giết Âu Dương Phương đặng!
 Mã trưng hỏi:
Em có kế xin cho  anh biết.
Kiến Trung kêu Diên Táng lại gần mà dặn: Nay ngươi muốn quyết ý trả thù cho cha ngươi, vậy ngươi hãy đem con ngựa này dâng cho âu Thừa Tưởng mà làm lễ ra mắt. Hễ va đặng con ngựa này chắc sao cũng hỏi người muốn làm quan hay không, thì ngươi đừng vội đi, cứ xin ở hầu hạ mà thôi, như vậy chắc va mừng mà cho ngươi vào ở trong nhà thì ngươi hãy thừa cơ mà giết va.
Táng cúi lạy lãnh kế.
Khi tiệc xong rồi, Kiến Trung từ giã mà về sơn trại, còn Hô Diên sáng qua ngày sau từ giã cha mẹ, rồi lên ngựa đi.
Nói về Hô Diễn Táng đi tới Hà Đông hỏi thăm dinh của Âu Dương Phương mà đến, kẻ giữ cửa vào thưa rằng:
- Kẻ tiểu nhân có một con ngựa tốt lắm, đến dâng cho Thừa tướng làm lễ ra mắt.
Dương Phương nói:
- Ngươi quê quán xứ nào, tên họ chi?
Vô Diễn Táng thưa:
 - Tôi họ Mã tên Táng ở Phong Châu:
Phương hỏi:
- Con ngựa của ngươi giá đáng bao nhiêu?
 Táng thưa:
- Nó thật vô giá!
Dương Phương nghe vậy mới nghĩ thầm:
- Thằng này chắc muốn việc chi đây chớ chẳng không?
 Liền kêu vào nhà để dò hỏi, thì Diên Táng nói không tham tiền, chẳng muốn quan chức, chỉ xin hầu hạ Thừa tướng, để sống cho thỏa ý mà thôi.
Dương Phương thấy Diên Táng diện mạo khôi ngô, ra dáng con nhà, lại xin ở làm tôi tớ, liền chấp nhận làm gia tướng.
Một đêm kia, nhằm tiết trung thu, Dương Phương cùng phu nhân dọn tiệc ở vườn hoa để thưởng nguyệt.
Khi Âu Dương Phương uống rượu đã say. Diên Táng nghĩ thầm:
- Lúc này còn chưa ra tay thì biết chừng nào mới xong được.
Diễn Táng nghĩ vậy liền rút dao ra, xảy thấy ở ngoài có người xách lồng đèn bước vào mời du Dương Phương đi ngủ. Diên Táng lật đật cất con dao than thầm:
- Thằng này chưa tới số! Vậy phải chờ dịp khác sẽ ra tay.
Bấy giờ Triệu Toại sợ để Âu Dương Phương làm thừa tưởng lâu ngày thì sanh rối rắm trong nước, bèn vào chầu tâu với Lưu Quân:
- Âu Dương Phương có tội giết kẻ tướng sĩ, âm mưu hại người trung lương, nếu chúa công không trừ khử, tôi e trong nước sẽ loạn lạc.
Lưu Quân nghe tâu liền hội quần thần, và giao cho Đinh Quới tra xét mọi việc, rồi giáng cấp Âu Dương Phương xuống là Đoàn huyện xứ. Âu Dương Phương mắc cỡ nên dâng biểu từ chức mà về quê quán.
Lưu Quân nhậm lời, truyền cấp xe cộ chở gia tài Âu Dương Phương về Hồn Châu.
Khi về tới nhà bà con quyến thuộc đến thăm viếng chật trong ngoài.
Bấy giờ vào tháng chín, nhân ngày sanh của Âu Dương Phương, gia đình dọn tiệc đãi bà con, Tối đến vợ chồng Âu Dương  Phương vui say cho đến gần canh hai. Diên Táng ở ngoài hiên một mình, than thầm:
- Bấy lâu nay ta muốn trả phụ thù mà chưa được, hay trời không chịu giúp mình chăng.
Nói rồi lau nước mắt, trở vào phòng ngủ, trong giấc mộng thấy ngoài cửa có một số người mình máu tươi, chạy đến trước cửa kêu lớn:
 - Cha mẹ ngươi bị Âu Dương Phương sát hại, mà nay ngươi chưa báo thù còn đợi chừng nào?
Diễn Táng nghe nói giật mình thức dậy, lại nghe có tiếng quân kêu:
- Bớ Mã Táng! Tướng công cho đòi ngươi, phải đến mau.
Diên Táng lật đật cấp theo một cây đao, chạy vào phòng, thì Âu Dương Phương nói:
- Ta bữa nay uống rượu đã say rồi, vậy ngươi hãy hết lòng canh giữ cho ta ngủ.
Diễn Táng nghĩ:
 - Thằng này tới số rồi, ta phải ra tay mới được.
Lúc ấy đã gần canh tư, Diễn Táng nhìn thấy mọi người đều ngủ hết bèn rút dao trở vào phòng, chụp đầu Âu Dương Phương hỏi lớn:
- Ngươi có biết ta là con của Hô Diên Đình hay không?
Âu Dương Phương nghe nói thất kinh, năn nỉ:
- Xin tha cho ta thì nhà cửa, châu báu, tài sản này ta sẽ cho ngươi hết.
Diễn Táng không nghe, rút dao đâm vào bụng Âu Dương Phương rồi bỏ chạy. Gia quyến Âu Dương Phương đang xôn xao, Diên Táng chạy ra nhà trước thấy một bà già quì gối xin tha mạng.
Diễn Táng nói:
- Bà không can chi. Hãy vào nhà lấy tiền bạc và châu báu với tôi.
Bà già theo Diên Táng vào dọn một xe tiền bạc và châu báu rồi chở đi, còn Hô Diễn Táng lấy máu của Âu Dương Phương đề bốn câu thơ trước cửa,rồi lên ngựa đi thẳng về nhà thưa với mẹ:
- Nay con đã giết được Âu Dương Phương, lại được vàng bạc châu báu đem về đây nữa.
Lưu Thị nghe nói rất hài lòng.
Qua ngày sau, Diên Táng đến thăm Mã Trung.
Mã Trung hỏi:
- Ngươi đã trả được phụ thù chưa?
Diên Táng nói:
- Nhờ uy đức của chú nên cháu đã giết được Âu Dương Phương rồi, lại đề bốn câu thơ trước cửa để làm dấu tích.
Mã Trung thất kinh nói:
- Nếu Hớn vương biết được, thì bọn ta ắt bị tru di. Vậy ngươi hãy mau mau sửa soạn trốn qua núi Hạ Lan, ở cùng hai chú ngươi là kiến Trung và Kiến Lượng mà ty nạn.
Hô Diên Táng vâng lời từ giã ra đi.
Lời Bàn
 Tham vọng con người là nguồn gốc của lòng ganh tỵ. Đã ganh tỵ thì không còn biết trọng nhân tính.
Những kẻ ganh tị lợi dụng sơ hở của kẻ khác để củng cố địa bị của mình. Hành động của kẻ ganh tỵ bao giờ cũng muốn hại người khác, chính vì vậy mà sanh ra mọi oán thù trong cuộc sống.
Lưu Quân một lãnh chúa nghe lời kẻ ganh tỵ,  đuổi người trung nghĩa, không hiểu được lòng của kẻ can gián mình, thì đó là một vị vua không sáng suốt.
Phụ thù là một trách nhiệm đối với con cái. Làm con không thể sống chung những kẻ giết cha mình thì đó cũng là lẽ thưởng tình đốt với những người con có hiếu. Những đứa con có hiếu không thể dung tha kẻ đã làm hại cha mẹ mình, dù phải hy sinh tất cả cuộc đời, Diên Táng giết Âu Dương Phương, tuy là tàn ác nhưng đứng về đạo hiếu lại rất thỏa đáng.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Hai

Diên Táng chiêm bao học thần võ.
Kiến Trung ra sức cứu ân nhân.


Hô Diên Táng từ giã ra đi, trong lúc mùa đông lạnh lẽo cây cối xác xơ. Đi gần một tháng mới đến cụm núi rậm rạp, chim chóc tung bay nên nghĩ thầm:
- Trong núi này chắc có bọn cường khấu trú ẩn.
Vừa nghĩ như vậy thì sau núi có ba tiếng pháo nổ vang, bọn lâu la ào tới đón đường bảo nạp tiền mãi lộ.
Diên Táng nói:
- Đường thiên hạ đi, sao chúng bay lại đòi tiền? Hãy đánh với ta một trận, nếu thắng thì ta nạp tiền, còn thua thì ta giết hết.
Lâu la nổi giặn xốc tới bị Diên Táng giết rất nhiều. Có người chạy lên núi báo với chủ trại là Kiến Trung.
Kiến Trung nghe báo lật đật lên ngựa xuống núi, nhìn thấy biết là Hô Diên táng, liền kêu lớn:
- Cháu ơn Thôi đừng đánh nữa.
Diên Táng thấy Kiến Trung, lật đật xuống ngựa quì lạy.
Kiến Trung dắt Diên Táng về trại, hỏi:
- Ngươi đến đây có việc chi?
Diên Táng thuật lại việc báo cừu cho Kiến Trung nghe, rồi nói:
- Chú tôi dạy đến đây ở với chú mà tị nạn. Lúc nãy cháu lỡ giết mấy tên lâu la, xin chú tha tội cho cháu.
 Kiến Trung nói:
- Ấy là cháu giết lầm, chú không trách đâu.
Bèn dạy bọn lâu la dọn tiệc đãi Diên Táng.
Trong lúc ăn uống, Kiến Trung nói với Diên Táng:
- Bọn ta mà tụ nơi đây là có ý đợi thời để lập công danh nay cháu mới đến thì lãnh chức chủ trại thứ ba.
Diên Táng nghe nói mừng rỡ, thưa:
 - Mấy quận Hà Đông ở gần đây lương tiền nhiều lắm, xin chú cho cháu lãnh ba ngàn lâu la đến quận Phong Châu cướp lương tiền về tích trữ.
Kiến Trung nói:
- Người trấn thủ Phong Châu là Trương Công Cẩn, võ nghệ cao cường, chú e cháu đến đó chỉ mang họa.
HÔ Diễn Táng nói:
- Nếu cháu bất lực để chúng giết một tên lâu la thì xin thường mạng.
Kiến Trung thấy Diên Táng nói hết lời liền phát cho ba ngàn lâu la. Diên Táng kẻo quân ra đi, dựng một cây cờ lớn, đề mấy chữ “Hà Đông Thiết Xỉ" rồi kẻo đến Phong Châu vây hãm.
Quân vào báo với Trương Công Cẩn.
Trương Công Cẩn nghĩ thầm:
- Nghe người ta đồn đại ở núi Hạ Lang có tên cường khấu là Hô Diên Táng, nay nó lại kéo quân đến đây thật là hung bạo.
Nghĩ rồi liền sai một trăm quân cung tên phục sẵn trên cửa thành rồi bổn thân đem năm trăm quân ra giáp chiến.
Diên Táng giục ngựa đến nói lớn:
- Ngươi phải nạp cho ta ba ngàn lạng vàng, nếu không ta phá tan thành trí, không còn một vật chi.
Công Cẩn nổi giận mắng :
- Ngươi là bọn cường đạo ta chưa rảnh đem quân đến diệt trừ. Hãy kéo binh về đợi ta đến trị tội, nếu còn hung hăng ta băm thây ra muôn mảnh đó.
Diên Táng xông tới đánh. Hai bên giáp chiến độ ba mươi hiệp chưa phân thắng bại. Công cẩn giả thua trá bại vào thành.
Diễn Táng đuổi theo bị phục quân bắn, Diên Táng thất kinh chạy dài. Công Cẩn không rượt theo, thâu binh về ải.
Hô Diên Táng bị thua không dám trở về trại, cho ngựa theo đường núi mà trốn. Lúc ấy đã vào canh một, lũ lâu la ở trại Thái Hành Sơn bắt trói đem về nạp cho chủ trại là Mã Khôn:
Mã Khôn hỏi Diễn Táng:
- Ngươi là ai?
Diên Táng nói:
- Tôi là con của Tướng quốc Hô Diên Đình, nhân đi lạc đường bị bộ hạ của Đại vương bắt được, xin Đại vương dung tha.
Mã Khôn nổi giận mắng:
- Ta nghe nói ngươi mới vây thành phong Châu bị thất trận chạy lại đến đây, sao dám dối trá như vậy?
Nói rồi truyền lâu la bỏ Diên Táng vào tù xa đặng giải về Phong Châu mà lãnh thưởng. .
Trong lúc giải Diên Táng đi đường, bọn lâu la bàn với nhau:
- Vã chủ trại mình thù khích với chủ trại thứ tám, nếu cứ ngang nhiên mà đi e gặp lâu la trại ấy nó cướp mất Diên Táng thì ắt mang khốn. Chi bằng ghé nơi mé rừng mà nghỉ, rạng ngày sẽ đi cho thong thả.
Bỗng có lâu la thám thính bắt gặp, hỏi:
Người trong tù xa ấy là ai?
Lâu la nói:
- Đó là Hô Diên Táng.
Bấy giờ trong đám lâu la có một tên cường đạo là Lý Kiến Trung, lúc trước đi chơi ở Biện Lương bị phạm luật nên bị xử tù sau đó vượt ngục trốn về, nhập vào đám lâu la.
Lý Kiến Trung biết được Hô Diên Táng bị giải về Phong Châu liền nghĩ thầm:
- Lúc mình ở trong ngục, có nghe thiên hạ đồn Hô Diên Táng là một dũng sĩ, sao nay lại bị bắt. Thôi để mình cứu nó ra.
 Nghĩ rồi liền xách dao đến bên tù xa, nói:
- Hãy thả diên Táng ra.
Lâu la thấy vậy thất kinh bỏ chạy. Kiến Trung phá tù xa thả Diên Táng ra.
Diên Táng hỏi :
- Ai cứu tôi, ơn ấy rất trọng.
 Lý Kiến Trung nói:
 - Ta là Lý Kiến Trung, chủ trại đây.
Nói rồi hai người thuật lại sự tình. Lý Kiên Trung dắt Diên Táng về yết kiến đại chủ. Chủ trại là Liễu Hùng Ngọc mừng rỡ tiếp đón.
Liễu Hùng Ngọc hỏi:
- Ngươi đi với anh là ai vậy?
Kiến Trung nói:
- Con của tướng quốc, tên là Hô Diên Táng đó.
 Liễu Hùng Ngọc nói:
- Tôi nghe tiếng đã lâu, nay lại gặp mặt, rất thay mắn.
Liền hối lâu la dọn tiệc ăn mừng.
Trong lúc ăn uống có quân vào báo:
- La Thanh đem sáu trăm lâu la đến, bảo phải nạp tiền đất.
Diên Táng thấy vậy liền nói với Kiến Trung:
- Xin cho tôi đem lâu la bắt sống La Thanh
Lý Kiến Trung nói:
- Ta biết hiền đệ có sức bắt nó.
Liền cho hai ngàn lâu la theo Diên Táng xuống múi.
La Thanh nói:  
- Ta đến đây mục đích bảo Liễu Hùng Ngọc nạp tiền đất nửa năm.
Diên Táng nổi giận nói:
- Ở đây đâu phải đất của ngươi, phải trở về mau, nếu không ta giết chết.
La Thanh nói:
- Ngươi là đứa thất phu, sao can thiệp vào việc này.
Nói rồi giục ngựa tới đánh với Diên Táng. Đánh được năm hiệp, bị Diên Táng bắt sống đem nạp cho Lý Kiến Trung.
Lý Kiến Trung bảo:
- Hãy trói treo nó lên cây trụ rồi sau sẽ giết.
Bấy giờ lâu la chạy qua Thái Hành Sơn thuật lại cho cha con Mã Khôn biết việc La Thanh đã bị Hô Diên Táng bắt giết.
Mã Khôn nghe nói kinh hãi, liền khiến con lớn là Mã Huê đem năm trăm lâu la đến bắt Diên Táng.
Diên Táng nói với Lý Kiến Trung:
- Bọn Mã Khôn bắt tôi, xin để mai tôi sẽ lập kế bắt nó cho đã giận.
Đêm ấy Hô Diên Táng chiêm bao thấy một đốm sáng bay vào sân trướng, vía của Diên Táng chạy theo sau, lần lần đến một chỗ xinh tốt. Diên Táng bước vào gặp một người ra rước và nói:
- Chủ tôi chờ tướng quân đã lâu lắm.
Diên Táng hỏi:
- Chủ ngươi là ai?
Người ấy đáp:
- Hãy vào rồi sẽ biết.
Nói rồi Diên Táng vào trong. Diên Táng thấy có một viên đại tướng nhìn thấy liền nói:
- Ngươi hãy ra nơi giáo trường cho ta dạy bảo.
Nói rồi liền khiến tả hữu đem ngựa và binh khí cho Diên táng, bảo Diên Táng trồ hết tài năng luyện võ.
Diên Táng nghĩ thầm:
- Có lẽ nào người này lại gạt ta đến đây để dạy võ nghệ.
Một lúc sau, Diên Táng giật mình thức dậy mới biết chiêm bao đem câu chuyện thuật lại cho Lý Kiến Trung.
 Lý Kiên Trung nói:
- Ấy là hiền đệ có phần linh hiển, nên thần giúp sức đó.
Hai người đang nói chuyện có lâu la vào báo:
- Mã Trung đem quân khiêu chiến.
Hô Diên Táng liền lên ngựa dẫn lâu la xuống giáp chiến.
Mã Huệ giục ngựa tới mắng lớn:
- Ngươi mau thả La Thanh ra, nếu không ta phân thây muôn mảnh.
Diên Táng nói:
- Ta sẽ cho ngươi chết cùng La Thanh một chỗ cho vui.
Hai người vừa đánh nhau được vài hiệp, Diên Táng đã bắt sống Mã Huệ đem về nạp cho Lý Kiến Trung. Lâu la của Mã Huệ chạy về báo với Mã Khôn:
Tiểu tướng đã bị Hô Diên Táng bắt sống rồi.
Mã Khôn thất kinh nói:
- Hô tặc! Quả thật anh hùng.
Nói rồi liền sai con thứ là Mã Vinh ra trận. Mã Vinh đánh được vài hiệp bị Diên Táng đánh hộc máu chạy tuốt về báo với cha.
Hô Diên Táng tài năng xuất chúng, con đánh không lại, bị một roi hộc máu.
Mã Khôn nghe nói thất kinh, than:
- Nếu ta trừ Diên Táng không được, ắt sanh họa lớn.
Con gái Mã Khôn là Kim Đầu thấy cha kinh sợ bước ra hỏi:
- Vì sao mà cha buồn bã như vậy? .
Mã Khôn nói:
- Nay hai anh của ngươi đánh không lại Hô Diên Táng, đứa thì bị bắt sống, đứa bị đánh hộc máu, nên cha lo lắng.
Mã Kim Đẩu nổi giận nói:
- Xin cha cho con ra bắt sống Diên Táng, báo cừu cho anh con.
Mã Khôn nói:
- Hai anh của con võ nghệ cao cường mà còn thua, huống chi con là gái mà đánh sao lại?
Mã Kim Đẩu nói :
- Để con dụng kỵ binh mai phục thì bắt nó như chơi.
Mã Khôn nghe con nói liền phát một ngàn lâu la, sai Mã Kim Đẩu đi đánh.
Hô Diên Táng nghe nói có binh khiêu chiến liền lên ngựa ra trận đánh với Kim Đẩu hơn ba mươi hiệp. Kim Đẩu giả thua, quầy ngựa chạy, dụ Diên Táng đuổi theo đến chỗ phục binh. chẳng ngờ Diên Táng biết được âm mưu quày ngựa trở lại, rồi hai bên ai về trại nấy.
Kim Đẩu về thưa với cha:
- Hô Diên Táng đáng bậc anh hùng, thông hiểu binh pháp, nên con đánh không lại.
Mã Khôn nghe nói lại càng buồn bã hơn. Xảy có quân vào báo:
- Có một đạo binh đang kéo tới, không rõ là binh nào.
Mã khôn bèn sai người đi dọ thám, mới biết là binh của Mã trung. Mã Khôn mừng rỡ vội ra rước vợ chồng Mã Trung vào rồi hỏi?
- Vợ chồng em đến đây chơi hay có chuyện chi?
Mã Trung đáp:
- Vì nhớ anh nên vợ chồng em đến thăm.
Mã Khôn liền hối lâu la dọn tiệc thết đãi. Đang ăn uống Mã Trung thấy Mã Khôn nét mặt lo âu, liền hỏi:
- Anh có việc cái mà lo buồn như vậy?
 Mã Khôn thở ra, nói:
- Vì con lớn của ta là Mã Huê bị Hô Diên Táng bắt sống, chẳng biết hung dữ thế nào?
 Mã Trung nói :
- Thôi để tôi ra sức cứu cho chắc không hề chi đâu.
Mã Khôn nói:
- Em đừngcoithường nó mà thất bại.
 Mã Trung nói:
- Em sẽ làm cho người ấy kính phục
Ăn uống xong, hai vợ chồng Mã Trung từ tạ Mã Khôn, đem lâu la qua đánh Diên Táng.
Lời Bàn
Mọi sinh vật đều đi tìm môi trường thích nghi của nó để sống. Xã hội loài người khi đã không thích hợp với cuộc sống chung thì sanh ra trạng thái tan rã.
Xã hội nào cũng phải đáp ứng sinh hoạt của con người. Thời phong kiến, cộng đồng xã hội là phải trung quân, ái quốc, con người cần một đấng minh quân để trị vì thiên hạ. Bởi vậy khi nào thiếu một minh quân là khi ấy xã hội ly loạn.
Đã ly loạn thì không tránh khỏi sanh ra thảo khấu. Thảo khấu là trạng thái chia rẽ một cộng đồng xã hội, con người sống không cùng chung một lý tưởng, họ phải tự tách rời ra để thực hiện ý muốn của mình trong lẽ sống. Bởi vậy chốn rừng núi vẫn thấy có đạo nghĩa làm người, vẫn thấy có tình đất nước dân tộc, chỉ khác có điều là họ không phục tùng chế độ cai trị đương thời mà thôi.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Ba

Mã thị đấu tài nơi Trấn Thượng
Diên Táng hàm oan tại Biện Lương.

 
Lúc vợ chồng Mã Trung đem binh qua trại Tân Kiến thì thấy Hô Diên Táng xông ra mắng :
- Ta chưa giết hết chúng bay nên cứ đến chọc giận ta hoài.
 Lưu Thị nghe nói lướt tới nhìn thấy la lớn:
 - Phước Lang không nên vô lễ như vậy.
 Hô Diên Táng nghe biết tiếng mẹ mình, liền ném thương xuống đất, quỳ gối bên đường mà chịu tội.
Lưu Thị nói:
- Con hãy mau mau đứng dậy mà ra mắt chú con.
Diên Táng đứng dậy bước đến chào Mã Trung.
Mã Trung hỏi:
- Sao ngươi không ở với chú ngươi là Kiến Trung, Kiến Lượng, lại đến đây mà gây chiến với bọn mã Khôn.
Diên Táng thuật lại mọi việc. Mã Trung nói:
 - Mã Khôn cùng ta kết nghĩa anh em nay ngươi không biết mà lầm. Thôi, ngươi phải chịu tội cùng bác ngươi.
 Diên Táng thưa :
- Con của bác một người bị tôi bắt, một người bị tôi đánh trọng thương, bác có oán hận tôi chăng?
Mã Trung nói:
- Bề nào cũng có ta đây, không sao mà sợ.
Diên Táng liền theo Mã Trung đến Thái Hành Sơn ra mắt mã Khôn và xin lỗi:
- Cháu không biết nhơn huynh nên lầm, xin nhơn huynh thứ tội .
Mã Khôn ngạc nhiên nói:
- Nguyên nhân tại sao mà cháu hành động như vậy?
Mã Trung thuật lại đầu đuôi chuyện của Duyên Táng cho Mã Khôn nghe. Mã Khôn than:
- Không dè tướng quốc còn di lưu ân oán như vậy.
Sau khi bày tỏ tâm sự, Mã Khôn hối quân dọn tiệc thết đãi.
Qua hôm sau, Mã Khôn nói với Mã Trung:
- Ta có một chuyện muốn nói cùng hiền đệ .
Mã Trung hỏi:
- Có việc gì xin hiền huynh cứ nói.
Mã Khôn nói:
 - Ta có một gái tên là Mã Thị tự Kim Đẩu, diện mạo tuy xấu mà võ nghệ cao cường, ta muốn gả cho Hô Diên Táng để kết tóc trăm năm chẳng biết có nên chăng?
Mã Trung đứng đậy nói:
- Nếu hiền huynh có lòng đoái tưởng đến cháu thì thật là đội ơn.
Mã Khôn mừng, liền sai ngươi tỏ chuyện ấy cho Mã Thị hay, Mã Thị cười nói:
- Cha mẹ định đâu thì tôi hay đó, song không biết Hô Diên Táng võ nghệ thế nào vì ngày trước giáp trận thì chưa biết ai thắng bại, xin cho tôi tỉ thí cùng Hô Diên Táng, nếu thắng được tôi thì tôi mới đành kết duyên.
 Người ấy liền trở ra nói với Mã Khôn như vậy. Mã Khôn nhìn Mã Trung nói:
 - Phải ? Con ta võ nghệ tinh thông, lâu nay chưa gặp tay đối thủ, nay muốn thử sức Hô Diên Táng thì cũng chẳng hại gì.
Vợ chồng Mã Trung ra đến giáo trường xem Diên Táng đấu võ với Kim Đẩu. Hai người đấu nhau hơn hai mươi hiệp chưa định hơn thua Kim Đẩu nghĩ thầm:
- Đấu về thương kiếm thì mình không lại đối phương thôi thì đấu nhau bằng cung tên.
Nghĩ như vậy Kim Đẩu giục ngựa chạy vòng theo giáo trường, Diên Táng hiểu ý rượt theo Kim Đẩu lắp ba mũi tên bắn Diên Táng một lần. Diên Táng bắt đặng hết, rồi cười lớn nói:
- Nàng tưởng ta vụng về lắm sao.
Kim Đẩu quay ngựa bắn Diên Táng một mũi, trúng nơi chóp mão, cả giáo trường đều vỗ tay khen. Mã Trung bước ra nói:
- Hai người đừng đấu nữa, giỏi dở mọi người đã biết rồi.
Tiếp đó, ai nấy kẻo nhau về trại .
Mã Khôn gọi con nói:
- Hô Diên Táng tài năng có xứng với con không?
Kim Đẩu nhìn xuống đất làm thinh Mã Khôn biết ý truyền tả hữu bày lễ giao bôi gả Kim Đẩu cho Diên Táng.
 Sáng hôm sau Hô Diên Táng vào thưa với Mã Khôn:
- Tôi xin về Tân Kiến trại để xin Lý Kiến Trung thả anh tôi ra.
Mã Khôn nhận lời, liền đưa tiễn Diên Táng lên đường.
Diên Táng về trại thuật lại hết các chuyện bên Thái Hành Sơn cho Lý kiến Trung và Liễu Hùng Ngọc nghe. Mã Huê rất mừng mời Lý Kiến Trung và đồng bọn qua chơi Thái Hành Sơn.
Lý Kiến Trung nói:
- Tướng quân về trước, chúng tôi sẽ đến sau.
Mã Huê liền từ giã ra về. Lý Kiến Trung nói:
- Xưa kia chúng ta là thù địch, nay là thân quyến, tình cảm sẽ được giao lưu .
Bỗng thấy Hàng Diên Thọ kéo lâu la tới, biết là binh U Châu. Mã Khôn giục ngựa tới khiêm nhượng hỏi:
- Tướng quân đến đây có việc chi?
Hàng Diên Thọ nói:
- Nay U Châu Gia Lục Hoàng đã từ trần, quần thần lập Tiêu Thái hậu lên ngôi, ban chỉ cho ta qua đây mời tướng quân về giúp nước.
Mã Khôn nghe có chỉ triệu, liền dọn tiệc đãi đằng. Trong lúc ăn uống, Mã Khôn nói với Hô Diên Táng:
- Ta vốn là tướng của Đại Liêu. vì gặp hôn quân nên từ chức qua đây lánh nạn, nay đã mười lăm năm, Tiêu Thái hậu lên nối trị, còn tưởng đến ta mà đòi về. Vậy ta phải tuân chỉ hồi trào cùng anh con là Mã Huê và Mã Vinh. Còn vợ chồng con thì ở lại đây mà trấn thủ chỗ này, ngày sau có cờ ta đến thì phải vâng theo.
Hô Diên Táng và Kim Đẩu đều vâng lời.
Tiệc xong, cha con Mã Khôn sắp đặt các việc trong trại giao cho vợ chồng Diên Táng, rồi từ giã theo sứ về U Châu.
***
Bấy giờ triều Tống, sau khi Triệu Quang Nghĩa lên ngôi, xưng hiệu là Thái Tôn Hoàng đế, ngày ngày chăm lo việc nước, lại sai sứ đi rước Hô Diên Táng tại núi Thái Hành Sơn về thăng chức, và dụ cha con Dương Nghiệp về đầu.
Cao Quỳnh lảnh mạng ra đi đến Thái Hành Sơn được Diên Táng và Lý Kiến Trung tiếp rước rất tử tế. Cao Quỳnh đọc chiếu xong Lý Kiến Trung nói với Vương sứ:
- Xin để một mình Hô Diên Táng về trào, còn tôi xin ở lại đây mà giữ Thái Hành Sơn, về chỗ này gần Hà Đông lắm, nếu bỏ trống để kẻ địch chiếm thì rất uổng, ngày nào chúa thượng cử binh đánh Hà Đông thì tôi đem binh hộ giá.
Cao Quỳnh nhận lời.
Ngày hôm sau vợ chồng Hô Diên Táng từ giã Lý Kiến Trung đem hai ngàn binh sứ về trào yết kiến Tống Thái Tôn.
Tống Thái Tôn khen thầm:
- Hô Diên Táng diện mạo khôi ngô, đúng là một trang võ tướng.
 Cao Quỳnh tâu với vua Thái Tôn.
- Hô Diên Táng mới về trào, xin bệ hạ truyền cất dinh cho tướng ấy ở, để tỏ lòng chuộng nghĩa.
Tống Thái Tôn liền hỏi quần thần:
- Vậy ngoài thành có chỗ nào tốt lập dinh cho Hô Diên Táng ở chăng?
Phan Nhơn Mỹ tâu:
- Tôi có hỏi rồi, bên phía cửa Đông môn có một cái dinh Hoàng phủ, chỗ ấy cho Diên Táng ở thì phải lắm.
Thái Tôn liền hạ chỉ cho Diên Táng ra nơi dinh ấy.
 Hô Diên Táng lãnh mạng đem gia quyến đi cùng binh mã đến đó mà ở, đến nơi thì thấy một cái nhà dơ dáy, gần sập, ngoài sân cỏ mọc gần tới cửa. Diên Táng thấy vậy thì buồn, vợ là Mã Thị khuyên và nói:
- Xin phu quân hãy an lòng, vì ở đỡ mà thôi, chờ chừng nào chúa thượng cử binh đi đánh Hà Đông thì ta có ở đây đâu mà lo!
Diên Táng nghe lời, khiến quân dọn quét sạch sẽ yên ổn rồi cứ mỗi ngày chuyên tập việc binh mã.
Nói về Phan Nhơn Mỹ thấy Diên Táng thì sanh lòng ganh ghét, vì có tích Diên Táng giết con mình là Phan Chiêu Lượng khi ở Thái Hành Sơn. Ngày kia Nhơn Mĩ lén sai người đến dòm hành việc cử chỉ của Diên Táng, người ấy về thuật lại rằng:
- Hô Diên Táng từ về ở đó tới nay, coi ý chẳng cần chi việc nhà cửa hư rách, cứ thường ngày đến giáo trường tập luyện binh mã hoài.
Nhơn Mĩ nghĩ thầm:
- Coi thế Hô Diên Táng nghiêm chỉnh lắm, ngày sau ắt đặng quyền cao lộc cả chớ chẳng không !
Nghĩ như vậy, liền cho đòi người tâm phúc là Lưu Nhâm đến thương nghị mưu kế đuổi Diên Táng đi cho rảnh.
Lưu Nhâm nói:
- Diên Táng mới nhập trào thì chưa có phẩm chi lớn, chừng ba ngày nữa Diên Táng cũng đến mà ra mắt tướng công chớ chẳng không. Chờ khi Diên Táng đến thì kiếm thế làm nhục Diên Táng thì tự ý phải trốn đi chớ cần gì lo kế mà đuổi cho nhọc !
Nhơn Mĩ nghe theo, liền sai quân sắm đồ khảo để dành đó cho sẵn mà đánh Diên Táng.
Quả thiệt, ngày thứ tư có Diện Táng đến ra mắt Nhơn Mĩ. Mới bước tới thềm, Diên Táng liền cúi lạy mà nói:
- Tôi đặng vào chốn này thì tôi chí nguyện tận tâm báo quốc mà đền ơn tri ngộ cho Tiên đế, là nhờ ơn của tướng công.
Phan Nhơn Mà làm thinh một lát, rồi nói:
- Ngươi có hiểu luật lệ của Tiên đế chăng? .
 Diên Táng trả lời:
- Tôi mới đến nên chưa rõ luật pháp thế nào?
Nhơn Mĩ nói:
- Luật của Tiên đế trừng trị như vầy: Hễ cường nhơn nào ở núi mới xuống thà hàng phục triều đình, thì phải xử một trăm trượng mới đặng làm quan nay ngươi trúng luật đó rồi!
 Diên Táng nghe nói sửng sót, tháo mồ hôi dầm mình mà không dám nói chi hết. Nhơn Mĩ liền sai kẻ tả hữu cứ phép mà thi hành. Quân kéo Diên Táng ra trước thềm đánh một trăm trượng lở đít, máu chảy dầm dề, dậy đi không nổi ai nấy cũng thương. Nhơn Mĩ lại sai quân đuổi Diên Táng đi. Diên Táng về tới cửa, vợ là Mã Thị thấy bộ đi hình như có thương tlch chi, mới chạy ra hỏi Diên Táng thuật công cuộc mình bị xử trượng, Mã Thị nói:
- Thiệt như Tiên đế có để luật ấy lại thì phải cam tâm mà chịu.
Nói rồi Mã Thị lật đật đi hâm rượu đem ra rót mời chồng uống và khuyên giải xin hãy nhẫn nhục.
Hô Diên Táng rầu không nói chi hết, phần đói bụng lại thèm rượu mới uống chén rượu vào cổ thì la lên một tiếng té xỉu và bất tỉnh. Mã Thị thấy vậy thất kinh, lật đật chạy lại đỡ, thấy Diên Táng không cựa quậy chi hết, bèn khóc kể lể xảy thấy một tên quân già chạy lại nói:
- Xin phu nhân chớ khóc, tôi có phương cứu tỉnh cho.
Ma Thị nói:
- Như vậy thì ơn của ngươi sánh bằng tái tạo chớ chẳng vừa.
Tên quân già tiền móc lưng lấy nột hoàn thuốc hoà mà đổ cho Diên Táng rồi nói:
- Bệnh này là tại bị đánh bằng trượng có tẩm thuốc, cho nên thấm vào thịt, hể uống rượu vô thì khắc, nên làm như vậy.
Giây phút Diên Táng tỉnh lại, cả nhà đều mừng. Diên Táng hỏi tên quân già ấy:
- Thuốc này ở đâu mà ngươi có hay như vậy?
Tên quân già nói:
- Vì khi trước tôi bị đánh bằng trượng có tẩm thuốc độc, cũng chết giấc như vậy may nhờ một ông đạo nhơn cứu, người lại truyền bài thuốc ấy cho tôi.
Diên Táng liền hối vợ lấy vàng bạc mà thưởng, thì tên quân già ấy từ chối, và nói:
- Tôi e tướng quân ở đây chắc không đặng toàn thân, phải kiếm lánh chỗ nào mới đặng, vì Phan Nhơn Mĩ cố oán tướng quân lắm, nên lập thế mà đánh như vậy, chớ không phải lễ luật gì của Tiên đế đâu.
Diên Táng nghe nói nổi giận và nói:
- Nếu trong nước có gian thần như vậy, thì bọn ta ắt lập công đanh không đặng rồi!
Nói rồi liền hối Mã Thị dọn đồ hành lý nội đêm ấy đem nhau về núi Thái Hành Sơn.
Khi cả bọn về tới, Lý Kiến Trung chạy ra mừng và hỏi:
- Vì cớ làm sao mà trở về?
Diên Táng thuật các việc tranh bị xử trượng cho Lý Kiến Trung rõ.
Kiến Trung nghe nổi giận và nói:
- Chúng ta hãy chờ ngày nào thánh giá cử binh tái phạt Hà Đông, đi ngang qua đây, chúng ta ra sức đón bắt cho đặng Phan Nhơn Mĩ mà ăn gan nó mới đã giận.
Nói vừa dứt lời, lâu la vào báo rằng có một đao binh đang kéo tới.
Lý Kiến Trung lật đật lên ngựa ra xem, thì thấy Kiến Trung và Kiến Lượng vừa đến. Kiến Trung thấy Diên Táng thì hỏi:
- Nghe cháu đặng chỉ triệu về trào rồi, sao nay còn ở đây?
Lý Kiến Trung vội vã trả lời:
- Việc ấy nói sao xiết! Em tôi từ vưng chỉ theo sứ mạng nhập trào thì toan bề tận trung mà báo quốc, không ngờ bị gian thần là Phan Nhơn Mĩ thiết độc kế mà mong hại, cho nên ở không  đặng phải trở về.
Kiến Trung nghe nổi giận liền nói:
- Hiền đệ có đặng bao nhiêu binh mã? .
 Lý Kiến Trung nói:
- Ước đặng tám ngàn.
Kiến Trung nói:
- Thôi em hãy cho ta mượn binh ấy đặng đi cùng Hô Diên Táng thẳng đến vây Hoài Châu mà ép tướng thành ấy phải dưng biểu về trào, đặng minh sự oan ấy cho cháu ta .
Lý Kiến Trung mừng, liền điểm hai ngàn người ngựa giao cho Kiến Trung và Hô Diên Táng, thẳng tới vây Hoài Châu.
Lời Bàn
Pháp luật là khuôn khổ để bảo vệ cộng đồng, chủ trương của một chế độ, nhưng khi cộng đồng không còn thấy giá trị của chế độ nữa thì pháp luật sẽ bị đổ vỡ.
Tình trạng loạn lạc sau chiến tranh, đã làm cho cuộc sống xã hội mất công bằng, rạn nứt. Các tướng lãnh trong triều đình phải ly tán, bỏ ra ngoài rừng núi, để mưu đồ sự nghiệp của mình, ấy là luật pháp triều đình không còn thích nghi trong cuộc sống đương thời. Đó có thể gọi là loạn lạc. Nhưng loạn lạc ở đây không bằng pháp thuật và tài năng, mà bằng ý thức con người không thỏa mãn một chính sách cai trị, hay một sự đối xử không hoàn toàn trong lẽ sống con người.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Bốn

Nhơn Mĩ Phụng chỉ triệu Diên Táng
Hoài An giả dạng rượt Bác Vương.


Chúa tướng thành ấy là Trương Đình Thần hay đặng rất kinh, bèn ra xem thì thấy Kiến Trung và Hô Diên Táng có vẻ oai phong lắm. Đình Thần hỏi:
- Vì cớ nào bọn ngươi đem binh đến mà vây thành ta thình lình như vậy?
Kiến Trung nói:
- Bọn ta chẳng vây thành mà cướp phá chi, song muốn rửa điều hổ thẹn cho cháu ta mà thôi.
Trương Đình Thần nghe nói không biết sự hổ thẹn gì, liền hỏi lại:
- Việc chi thì ngươi hãy nói cho ta biết.
Kiến Trung nói:
- Ngày trước Hô Diên Táng ở Thái Hành Sơn vâng chỉ triệu về trào bị gian thần là Phan Nhơn Mỹ giả lịnh của Tiên đế mà đánh một trăm trượng, lại toan mưa kế mà hại nữa. May Diên Táng trốn đặng mà về, triều đình không rõ mà gia tội bôn đào, nếu vậy tức lắm nên xin tướng quân dâng biểu về trào, tâu việc ấy cho chúa thượng rõ, đặng giết tôi gian ấy, thì bọn tôi cũng nguyện trung mà báo quốc.
Trương Đình Thần nói:
- Thôi ngươi hãy rút binh, kẻo kinh động bá tánh, để cho ta thảo biểu sai người về triều minh oan việc ấy cho.
Kiến Trung và Hô Diên Táng nghe lời, lui binh xa thành hai mươi dặm, chờ tin của triều đình.
Trương Đình Thần vào dinh thảo biểu rồi sai người lập tức về trào dâng cho Thái Tôn.
Thái Tôn xem rồi nổi giận nói:
- Phan Nhơn Mỹ sao đặng phép tự chuyên mà đuổi kẻ trung lương như vậy?
Liền hạ chỉ sai Hữu khu mật sứ là Dương Quang Mỹ tra xét cho minh. Quang Mỹ lãnh chỉ về dinh, sai người mời Phan Nhơn Mĩ đến hỏi:
- Chúa thượng muốn tra việc ông đuổi Hô Diên Táng, ông có hay chăng ?
Nhơn Mỹ trả lời:
- Việc ấy thiệt tôi có làm song xin ngài đoái tưởng.
Dương Quang Mỹ nói:
- Mạng vua khiến như vậy, tôi sao dám tuân vị? Thôi, ông hãy vào chầu cùng tôi mà tâu cho chúa thượng rõ, thì tôi sẽ có thế mà cứu ông.
Nhơn Mỹ liền tạ ơn rồi theo quang Mỹ vào chầu.
Thái Tôn hỏi Quang Mỹ:
- Khanh tra xét việc Phan Nhơn Mỹ quả có như vậy chăng?
Quang Mỹ nói:
Tôi tra xét việc ấy, thì phần Nhơn Mỹ không có lỗi chi cho lắm Nay Nhơn Mỹ cũng biết lỗi mình, nên theo tôi vào chầu bệ hạ mà chịu tội xin bệ hạ rộng lượng dung cho.
Thái Tôn nghe tâu rồi cho đòi Phan Nhơn Mỹ vào trước điện mà trách:
- Hô Diên Táng là người Tiên đế mến lắm, trẫm vâng lời di mạng mà triệu vào trào, ngươi có phép nào đánh đuổi người ấy đi?
Phan Nhơn Mỹ tâu:
- Từ khi Hô Diên Táng nhập trào, thì tôi coi Diên Táng không có ý đẹp muốn trở về núi mà thôi, chớ chẳng phải tôi dám làm nhục và đuổi, xin bệ hạ cho tôi vâng chỉ ra Thái Hành Sơn triệu Hô Diên Táng về đối chứng cùng tôi. Như thiệt vậy, tôi xin dâng đầu.
Thái Tôn ngẫm nghĩ chưa phán điều chi, kế Bác Vương tâu:
- Xin bệ hạ nhận lời Dương Quang Mỹ mà sai Phan Nhơn Mĩ tái triệu Hô Diên Táng, như Diên Táng sẵn lòng vâng chỉ nhập trào thì tội ấy xin tha cho.
Thái Tôn nhận lời, liền dạy thảo chiếu cho Phan Nhơn Mỹ ra Thái Hành Sơn.
Phan Nhơn Mỹ lãnh mạng tới sơn trại, sai quân vào báo cùng Hô Diên Táng, Diên Táng nghe thì hăm rằng:
- Đã bị nó một chút nữa thì vong mạng, nay nó đã đến đây, để ta giết nó cho rảnh!
Lý Kiến Trung nói:
- Vả bọn mình muốn lập công với triều đình, đừng kể lể việc nhỏ mà thất việc to, chi bằng em vâng lệnh triều đình cho khỏi tội bôn đào.
Diên Táng nghe lời, hẹn đi cùng Lý Kiến Trung, ra tiếp rước Phan Nhơn Mỹ vào trại, lập bàn hương án, mà đọc lời chiếu.
Khi lãnh chiếu mạng rồi, Lý Kiến Trung và Hô Diên Táng thỉnh Phan Nhơn Mỹ vào giữa quần quân và nói:
- Thượng quan có công lao khổ đem chiếu mạng đến đây mà anh em chúng tôi tiếp đón thất lễ, xin thứ tội.
Phan Nhơn Mỹ thấy Hô Diên Táng có vẻ thẹn thùng, nhưng cũng phải gượng cười, nói:
- Tôi lỡ xúc phạm tướng quân, nay có chiếu mạng đến triệu, vậy xin tướng quân theo tôi về triều kẻo Hoàng thượng trông đợi.
Hô Diên Táng và Lý Kiến Trung hối quân dọn tiệc đãi Phan Nhơn Mỹ rồi mời ở lại một đêm.
Hôm sau, Phan Nhơn Mỹ hối thúc Hô Diên Táng lên đường.
Kiến Trung nói với Hô Diên Táng:
Tuy vậy, Nhơn Mỹ đã biết lỗi, hiền đệ phải an tâm mà vâng chỉ trước là ngay vua, sau là làm cho nguôi ngoai cừu hận.
Hô Diên Táng nghe lời, cùng đi với Mã Kim Đẩu đem bộ binh về trào cùng với Phan Nhơn Mỹ.
Nhân dịp ấy, Thái Tôn nói với Hô Diên Táng:
- Ngày trước trẫm thấy khanh mới về, chưa có công lao chi với triều đình nên trẫm để khanh ở nơi hoàng phủ mà đợi ngày nào trẫm cử binh tái phạt Hà Đông thì trọng dụng, chứ chẳng phải ý trẫm muốn sơ dụng tương quân đâu.
Diên Táng tạ ơn lui ra .
Thái Tôn cho triệu Bác Vương mà thương nghị rằng:
- Diên Táng mới về, trẫm chưa biết tài năng thế nào, nay muốn Diên Táng thí võ mà xem, ý khanh tưởng có đặng chăng?
 Bác Vương tâu:
- Bệ hạ muốn như vậy cũng chẳng khó gì. Ngày mai truyền các tướng tựu đến giáo trường mở cuộc thi đấu thì thấy rõ.
Hôm sau, các tướng tuân lệnh tề tựu đủ mặt. Cuộc thi tài rất sôi nổi, nhưng không ai thắng nổi Hô Diên Táng cả.
Vua Thái Tôn rất đẹp lòng, nói:
- Tiên đế di chúc không lầm, nay trẫm mới biết tài Hô Diên Táng, đáng phong chức tướng quân lắm.
Nói rồi liền thưởng cho Diên Táng một trăm lượng vàng, một con ngựa hay, lại cho ở nơi Thiên Quốc Tự.
Hô Diên Táng tạ ơn lui ra, còn các quan ai về dinh nấy.
Lúc ấy nhằm ngày mùng một tháng hai, ngày tế các Tiên vương, vua Thái Tôn truyền các quan tề tựu đến nhà Thái Miếu để dự lễ.
Các quan tuân lệnh dọn dẹp đường sá sạch sẽ để cho vua ngự. Hô Diên Táng không hay, vì hôm ấy không đi chầu.
Phan Nhơn Mỹ thấy Hô Diên Táng không tuân lệnh liền cho quân đòi tới quở trách:
- Việc chúa thượng truyền như vậy, sao tướng quân dám vi lệnh.
Nói rồi hẹn khiến quân dẫn Hô Diên Táng ra pháp trường mà chém, may gặp Bác vương đi ngang qua trông thấy kêu quân hỏi:
- Hôm nay là ngày Hoàng Thượng tế Thái Miếu, sao lại giết người?
Quân sĩ thưa:
- Vì Hô Diên Táng cãi phép triều đình nên quan Chiêu Thảo Sứ dạy đem chém.
Bác vương nghe nói thất kinh, hét lên:
- Ấy là lỗi nhỏ, tại sao lại giết tôi lương đống?
Bèn khiến quân mở trối cho Hô Diên Táng, rồi dắt về dinh hỏi rõ sự tình.
Diên Táng vừa khóc vừa nói:
- Vì tôi mới đến, chưa hiểu việc triều đình, nên bị tội như vậy. May gặp Bác vương, nếu không tôi đã chết rồi.
Bác vương nổi giận nói:
- Lỗi thì nhỏ mà Phan Nhơn Mỹ làm ra tội lớn, không chừng muốn hãm hại trung thần đó.
Hôm sau, Bác vương vào chầu tâu lại tự sự cho Thái Tôn hay.
Vua Thái Tôn nói:
- Việc ấy trẫm không hay, thôi để trẫm hạ chiếu tha tội cho Hô Diên Táng .
Nói rồi hạ chiếu giao cho Bác vương để làm chấp chiếu.
Lời Bàn
Kẻ mưu chiếm thế lực bao giờ cũng có lòng ganh ghét.
Phan Nhơn Mỹ cùng Hô Diên Táng là tôi một triều đình, lẽ ra phải bảo vệ lẫn nhau để làm trụ cột phò vua giúp nước. Thế mà Phan Nhơn Mỹ chỉ vì lòng ganh ghét những kẻ có tài sợ kẻ ấy chiếm quyền lợi của mình.
 Từ xưa đến nay, trong triều đình phong kiến đã xảy ra không biết bao nhiêu tấm gương thù oán lẫn nhau, làm cho triều đình suy yếu, nước mất nhà tan. Kẻ yêu nước thương dân, bao giờ cũng lấy quyền lợi của đất nước làm trọng, còn quyền lợi của bản thân mình phải xây dựng trên công đức của mình, chớ không phải xây dựng trong lòng ganh tỵ mưu hại kẻ này, mưu giết kẻ khác.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Lăm

Diên Táng xuất trận cầm Triệu Toại
Lưu Quân thương nghị giữ Hà Đông


Bác vương lãnh chiếu về dinh, nói với Hô Diên Táng rằng:
- Nay ta tâu cùng chúa thượng xin ban cho tướng quân một chiếu chỉ tha tội cho tướng quân. Vậy từ nay về sau cứ phép mà làm không hề chi nữa.
Hô Diên Táng tạ ơn, lui về Thiên Quốc Tự, thì không thấy vợ đâu cả nên lấy làm lạ hỏi quân sĩ mới biết là Mã kiên Đầu khi nghe mình bị dẫn ra pháp trường, sợ tội trốn về Thái Hành Sơn rồi
Hô Diên Táng buồn bã than thở một hồi rồi nằm yên ở đó.
Bấy giờ Lưu Quân ở Hà Đông nghe Tống Thái Tôn đã triệu Hô Diên Táng phong làm tướng, bèn hội quần thần thương nghị:
- Lúc Tống Thái Tổ còn trị vì đã có chinh chiến cùng ta nhưng bị bất lợi, phải rút quân về. Nay Thái Tôn lên nối ngôi, chắc thế nào cũng đem binh chinh phạt chớ chẳng không?
 Đinh Quới tâu:
- Từ lúc Dương lịch công chịu giảng hòa mà về Sơn Hậu cho đến nay thì binh ta luyện tập rất tinh nhuệ bệ hạ còn lo chi nữa? Vả trước kia bởi ta thờ ơ không đề phòng nên mới chịu thua. Vậy nay chúa công phải thủ thế, dầu binh Tống có kéo đến cũng chẳng sợ chi.
Lưu Quân khen phải, liền hạ lệnh cho các quan ải phải chỉnh tề binh mã, binh tướng luyện tập cho nhuần.
Tin ấy đồn đến Biện Kinh, vua Thái Tôn hội quần thần thương nghị việc đem quân chinh phạt Hà Đông.
Dương Quang Mỹ tâu:
- Hà Đông thế lực mạnh lắm, tôi e đánh gấp bây giờ chưa được. Xin bệ hạ chờ lúc nào chúng nó chểnh mảng thì ta sẽ đem quân sang đánh.
Vua Thái Tôn chưa quyết thì có Tào Bân quì tâu:
- Binh tướng của ta đang mạnh mẽ, nay đến Hà Đông chẳng khác bẻ một cành khô, còn sợ chi nữa.
Vua Thái Tôn y tấu, liền phong Phan Nhơn Mỹ làm Bắc lộ đồ, Cao Hoài Đức làm tiên phong, Bác vương làm giám quân, Hô Diên Táng làm phó tiên phong, lãnh một muôn binh đi đánh Hà Đông .
Vua Thái Tôn truyền chỉ ngự giá thân chinh, Phan Nhơn Mỹ lãnh mạng, hợp các tướng nơi giáo trường mà phân binh, nhưng còn giận Hô Diên Táng, nên sai Diên Táng kéo binh đi trước toàn là những người già yếu, đi không muốn nổi.
Cao Hoài Đức thấy vậy than rằng:
- Tướng tiên phong chẳng phải là việc chơi, nay ngài giao cho Hồ diên Táng quân số bạc nhược như vậy, nếu có hư việc triều đình, chẳng biết ngài đổ tội cho ai?
Phan Nhơn Mỹ làm thinh một lúc rồi mới nói:
- Quân lính có kẻ mạnh người yếu, nếu chỉ lãnh những kẻ mạnh mẽ, còn những người già yếu kia thì giao cho ai?
Cao Hoài Đức nói:
- Những binh sĩ già yếu chỉ nên để lại làm công việc ở hậu phương, còn bắt chúng nó ra giao tranh thật là chuyện bất lợi.
Phan Nhơn Mỹ cực chẳng đã phải lựa một số binh sĩ tráng kiện trao cho Hô Diên Táng.
Hôm sau, Phan Nhơn Mỹ ra lệnh xuất binh, vua Thái Tôn bèn giao việc triều chính cho Thái tử là Triệu Phổ ở nhà chăm sóc rồi sai Quách Tấn đi trấn nơi Thái Nguyên ngăn chặn binh Liêu. Dặn bảo xong,vua Thái Tôn hạ chiếu thẳng đến Hà Đông.
Ngày kia, binh đến Hoài Châu, có quân vào báo:
- Có một đạo binh kéo ra cản đường.
Hô Diên Táng liền lên ngựa xông tới trước, thấy đó là Lý Kiến Trung, Lý Kiến Lượng, Liễu Hùng Ngọc, Mã Kim Đẩu giục ngựa thẳng tới.
Hô Diên Táng hỏi Lý Kiến Trung:
- Sao đại ca không để ai ở lại mà giữ sơn trại?
Lý Kiến Trung nói:
- Vì Kim Đẩu về nói lại em bị phạm tội, và bị xử tử nơi pháp trường rồi, nên nay ta nghe binh trào đi đến Hà Đông, quyết đón bắt cho được người nào hãm hại hiền đệ, để giết mà báo thù.
Hô Diên Táng cảm ơn, rồi thuật lại mọi việc cho mọi người nghe. Kế có Cao Hoài Đức tới biết là bọn anh em của Hô Diên Táng, nên nói:
- Sao tướng không tâu cùng chúa thượng, cho mấy người này nhập bọn cùng đi đánh Hà Đông để lập công với triều tình.
Lý Kiến Trung nói:
- Nếu được như vậy thì anh em tôi rất thỏa chỉ, nguyện sống thác mà đền ơn nước.
Cao Hoài Đức liền trở lại Hậu quân, tâu với vua Thái Tôn, cho họ sát nhập vào quân triều đình, cùng đi đánh Hà Đông.
Vua Thái Tôn mừng rỡ phong cho bọn Lý Kiến Trung tám người làm Đoàn Luyện sứ, cùng đi chinh phạt.
Hôm sau, binh Tống đi qua tới Thiên Tỉnh Quan thì hạ trại. Chúa tướng ải Thiên Tỉnh là Triệu Toại, sức mạnh muôn người, nghe binh Tống đến liền sai phó tướng là Vương Văn ra đối địch.
Vương Văn nói:
- Binh Tống thế mạnh lắm, tôi e không lại, xin tướng quân thủ thành rồi sai người về Tấn Dương mà viện binh họa may mới thắng nổi.
Triệu Toại nói:
- Binh tống đi đường xa đến đây, ta nên thừa cơ đánh một trận trong lúc chúng còn mỏi mệt chớ cần gì phải viện.
Nói rồi Triệu Toại truyền mở cửa ải, dẫn ba nghìn quân ra giáp chiến.
Tướng tiên phong nước Tống là Hô Diên Táng ra ngựa xông tới hỏi:
- Bắc tướng sao không đầu phục cho rồi để nhọc sức ta chém giết.
Triệu Toại nói:
- Các ngươi ỷ mạnh, xâm phạm lãnh thổ ta. Nếu không lui binh ta sẽ giết hết.
Hô Diên Táng nổi giận giáp chiến hơn ba mươi hiệp chưa định hơn thua, thì Triệu Toại giả thua quay ngựa váo thành chẳng ngờ Cao Hoài Đức kịp đuổi đến bắt sống Triệu Toại trên lưng ngựa. Binh Tống kéo thẳng vào lấy Thiên Tỉnh quan, giao nạp Triệu Toại cho vua Thái Tôn.
Vua Thái Tôn ra lệnh chém Triệu toại bêu đầu làm lệnh.
Hôm sau, binh Tống kéo tới đánh Thạch Châu tướng giữ ải này là Viễn Hy Liệt nghe binh Tống đến bèn thương nghị với phó tướng là Ngô Xương:
- Tống tướng nhiều kẻ anh hùng, nếu mình đem binh đánh thì không lại, chi bằng truyền quân giữ thành, đợi binh Tống mệt mỏi sẽ kéo ra đánh một trận, ắt toàn thắng.
Ngô Xương nói:
- Thành mình chắc, binh mình đông, lẽ nào cứ đóng cửa mà ngủ. Để tôi đem binh giao chiến với chúng nó một trận, nếu có thua sẽ vào thành cố thủ cũng chưa muộn.
Viên Hy Liệt nghe nói liền cho Ngô Xương dẫn ba ngàn quân ra đánh.
Ngô Xương giục ngựa tới trước trận, nói lớn:
- Hớn vương đã giữ một cõi mà cai tri thiên hạ còn muốn đến chiếm đoạt các vùng khác, thật quá tham lam.
 Diên Táng nói:
- Chúa ta đã dẹp xong các nước rồi, còn Hà Đông chẳng sớm thì muộn cũng bình định xong. Bọn các ngươi bây giờ chẳng khác nào cá lội trong chảo, chết giờ nào không biết. Thôi, hãy đầu hàng cho sớm.
Ngô Xương nổi giận giục ngựa tới đánh. Hai bên giao đấu chưa đầy vài hiệp, binh Tống đã ào đến. Ngô Xương biết sức cự không lại, cũng không dám vào thành, bèn giục ngựa chạy thẳng qua Phần Dương mà trốn. Chẳng ngờ vừa chạy được một lúc thì bị một cái đầm lớn ngăn chặn không vượt qua được. Hô Diên Táng rượt theo bắt được, khiến quân trói lại dẫn về nạp cho vua Thái Tôn.
Vua Thái Tôn truyền đem chém, rồi truyền lệnh ba quân công phá Thạch Châu .
Bấy giờ tướng Hy Liệt nghe quân vào báo:
- Tướng Tống đã đến vây ải, Ngô Xương đã bị bắt rồi.
Hy Liệt kinh hãi, vợ là Trương thị bước ra nói:
- Phu quân hãy an tâm? Tôi có kế hoạch đuổi giặc, không hề chi mà sợ .
Hy Liệt nói:
- Giặc đang vây thành, tình thế gấpnhư lửa cháy, phu nhơn có kế gì đối phó được .
Trương thị nói:
- Hôm nay phu quân đem binh ra đánh Tống, rồi trá bại mà chạy vào rừng là nơi tôi phục binh. Nếu binh Tống rượt theo thì binh phục của tôi sẽ vây bắt.
Hy Liệt khen hay, bèn truyền lệnh cho quân sĩ rạng ngày xuất trận.
Quả nhiên, theo kế hoạch của Trương thị, Hô Diên Táng thất thế phải chạy dài binh Tống chết vô số. Còn hai vợ chồng Hy Liệt trọn thắng, hiệp binh cùng nhau kéo về thành.
 Hô Diên Táng về dinh tức tối nói với Mã Kim Đẩu:
- Ta không phải ngu dốt mà mắc kế như vậy. Chỉ vì khinh địch nên mới thất trận. Phu nhân có kế chi trả thù chăng?
Mã Kim Đẩu nói:
- Chẳng có gì mà phu quân phải lo sợ, vợ Hy Liệt biết dùng kế còn tôi đây lại không biết tính mưu sao? Để tôi lấy Thạch Châu cho phu quân xem.
 Hô Diên Táng hỏi:
- Phu nhân tính mưu kế gì vậy?
Mã Kim Đẩu nói:
- Phu quân hãy truyền cho các doanh trại đóng lại một chỗ, dẹp hết đồ binh khí, rồi truyền tin rằng phu quân bị thương nặng không ra trận được nữa. Như vậy quân giặc sẽ tự hào, không chuẩn bị, phu quân đem binh phục ở núi phía đông, bất ngờ hãm thành, đánh riết vào Thạch Châu. Như vậy lấy thành như trở bàn tay.
Hô Diên Táng nghe lời vợ, truyền lệnh cho các dinh trại làm theo kế ấy.
Mấy ngày sau, bên Thạch Châu có quan thám thính về báo với Hy Liệt:
- Bên dinh Tống thì binh sĩ tàn tệ, còn Hô Diên Táng thì bị thương, không dám ra trận nữa.
Hy Liệt nghe tin bàn với Trương thị đem quân ra đánh.
Trương thị nói:
- Ngày trước Hô Diên Táng bị một thương gần chết, nên binh Tống khiếp sợ. Nếu mình thừa cơ lúc này đem quân đánh một trận nữa thì binh Tống tan tành.
Viên Hy Liệt nghe lời, kẻo quân thẳng qua dinh Tống mà đánh. Binh Tống giả bộ bỏ chạy, không dè Cao Hoài Đức phục binh kéo vào hãm thành.
Hy Liệt vội đem binh về cứu ải, bị Hô Diên Táng đuổi theo đâm một đao nhào xuống ngựa chết tươi. Còn Trương thị vừa đem binh trở lại cửa đông bị Kim Đẩu đón lại giao tranh. Trương thị không xong chạy trở về ải của cha mình là Phong Châu để lánh nạn.
Cao Hoài Đức hiệp binh cùng vợ chồng Hô Diên Táng, vào chiếm Thạch Châu. Vua Thái Tôn mừng rỡ truyền lệnh xa giá vào Thạch Châu chiêu an bá tánh.
Lời Bàn
Muốn cho thiên hạ thái bình phải nắm được thiên hạ, để xây dựng một cuộc sống bền vững, ấm no.
Vua tôi nước Tống đang hồi hưng thịnh đánh Đông dẹp Bắc, mở rộng bờ cõi lẽ ra phải chấm dứt việc chiến chinh để cho thiên hạ khỏi chết chóc về việc đao binh. Nhưng theo quan niệm của người xưa, muốn bình ổn được thiên hạ, không phải chỉ củng cố quyền lực nơi triều đình, mà phải tóm thâu giang san về một mối, để ứng dụng kế sách cai trị của mình, làm cho an dân. Vì vậy nước Tống vẫn phải chinh phạt những nơi chưa đầu phục mình. Đó không phải là tham vọng riêng tư mà muốn giúp dân có được một xã hội tốt đẹp, văn minh.
Cái quan trọng là sau khi tóm thâu được thiên hạ, triều đình có làm cho thiên hạ được an vui trong cuộc sống ấy không. Những triều đại, lúc được thiên hạ thì hay nghĩ đến quyền lợi riêng tư của mình, thì đó không phải là minh chúa.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Sáu

Kiến Trung lập kế lấy quan ải,
Liêu chúa đem binh cứu Tấn Dương


Vua Thái Tôn vào Thạch Châu chiêu an bá lánh, truyền lệnh cho chư tướng đem binh đánh Tiếp Thiên Quan.
Phan Nhơn Mỹ, Cao Hoài Đức và Hô Diên Táng lãnh mạng kéo binh tới trước ải khiêu chiến.
Tướng giữ Tiếp Thiên Quan là Lục Lượng Phương, liền bàn với phó tướng là Vương Văn:
- Nay binh Tống đã kẻo đến trước ải, túc hạ có kế gì ngăn chống chăng?
Vương Văn vốn là tướng thất trận ở Thiên Tỉnh Quan, nên buồn bã nói:
- Xin tướng quân chớ gấp lo việc cự chiến. Binh Tống thế mạnh, còn binh ta thế yếu phải giữ thành cho bền vững, chờ cho binh Tống hết lương thảo sẽ kéo binh ra ứng chiến.
Lục Lượng Phương nghe lời, liền bế cửa ải không xuất quân.
Hô Diên Táng khiêu chiến mấy ngày vẫn không thấy trong ải có động tịnh gì hết nên nổi giận truyền quân công phá. Quân trên thành bắn tên và lăn gỗ đá xuống làm cho binh Tống bị chết rất nhiều.
Hô Diên Tang nghĩ thầm:
- Lục Lượng Phương đã đề phòng trước, cố thủ như vậy khó mà hãm thành được.
Lý Kiến Trung nói:
 - Địa thế ải này rất khó đánh, nếu muốn lấy gấp cũng không được. Thôi bọn ta nên lui binh về trại để tính kế thì hay hơn.
Cách vài hôm sau, Hô Diên Táng sai người đi thám thính, rồi về báo:
- Ải ấy quân binh giữ gìn mỗi ngày một chắc chắn hơn trước.
Hô Diên Táng nghe nói buồn bã, bỗng có một người vào báo:
- Ngoài trại có một ông già muốn vào ra mắt.
 Hô Diên Táng liền hối quân mời vào. Ông già ấy bước tới thưa:
- Tôi nghe tướng quân đánh Tiếp Thiên Quan không nổi, nên đến dâng kế cho tướng quân.
Hô Diên Táng nói:
- Nếu được như vậy ta sẽ tâu với Thiên tử ban thưởng cho ông.
Ông già nói:
- Ải này địa thế hiểm trở lắm, bốn phía đều có núi cao, nên mới gọi là Tiếp Thiên. Còn tướng trấn ải là Lục Lượng Phương, hữu dõng vô mưa, song phó tướng là Vương Văn là một người đa mưu túc trí. Tướng quân lại chẳng biết đàng sau ải ấy có một ải nữa tên là Tam Trấn Quan. Ải ấy có một con đường tuy hẹp, mà thông qua Hà Đông được. Vậy tướng quân hãy sai người qua đó nói với tướng giữ ải ấy là Lý Thái Công, mượn đường đặng đem binh qua Hà Đông. Nếu đi khỏi chỗ đó thì chẳng còn ai ngăn trở nữa.
Hô Diên Táng nghe nói mừng rỡ:
- Nếu vậy trời khiến ông giúp ta đó .
Ông già muốn từ giã ra đi. Hô Diên Táng giữ lại, chờ việc thành công tâu với vua phân thưởng. Ông già nói:
- Tôi không trông chuyện ấy !
Nói rồi liền bước ra khỏi cửa, bỗng trời nổi lên một cơn gió, ông già ấy biến mất. Hô Diên Táng thấy chuyện lạ như vậy liền cúi lạy tạ ơn.
Ngày sau, Diên Táng sai Liễu Hùng Ngọc đem năm ngàn quân theo đường hẹp vòng qua chân núi, rồi tìm đến Hùng Ngọc vào nói tự sự, xin Lý Thái Công cho mượn đường.
Lý Thái Công nói:
- Ngươi phải biết, ải Tiếp Thiên là chỗ yết hầu của Hà Đông. Nếu cho chúa ngươi mượn đường ấy đem binh qua lấy Hà Đông thì chẳng khác nào ta cắt thịt mà cho ngươi. Thôi, ta tha cho ngươi phải mau trở về nói với Tống tướng có giỏi thì đem binh đánh với ta.
Lý Thái Công có hai người con trai, con lớn là Lý Tín, con thứ là Lý Kiệt, đều võ nghệ cao cường, thấy Lý Thái Công nói lẩm bẩm thì thất kinh lui ra trại, thuật rõ mọi việc cho Liễu Hùng Ngọc nghe.
Liễu Hùng Ngọc nổi giận kẻo binh đến trước ải khiêu chiến.
Lý Thái Công liền khiến con lớn mình là Lý Tín đem binh ra đánh. Hai tướng đánh nhau chưa được hai hiệp thì Liễu Hùng Ngọc bị Lý Tín đâm một thương nhào xuống ngựa. Lý Tín giết binh Tống một hồi rồi trở về ải.
Hô Diên Táng nghe tin, sợ hãi nói:
- Việc tính không xong lại bị mất mất tướng, nếu quân giặc áp tới vây hai đầu, thì ta cự sao nổi.
Lý Kiến Trung nói:
- Nếu vậy thì phải thừa lúc này đem binh đánh lấy cho được Tam Trấn Quan thì mới bảo vệ được.
Hô Diên Táng nghe lời sai Cao Hoài Đức đi cùng Lý Kiến Trung đến đánh Tam Trấn Quan.
Lý Thái Công nghe quân báo, biết Tống tướng muốn đại chiến cùng mình, liền sai người đến Tiếp Thiên Quan tin cho Lục Lượng Phương đem binh cứu ứng.
Lục Lượng Phương bàn với Vương Văn:
- Binh Tống bị ta ngăn chặn, lén ra sau ải mà đánh, nếu cha con Lý Thái Công mà cự không nổi, để Tống lấy Tam Trấn Quan rồi thì bọn ta không còn giữ ải nổi. Vậy túc hạ phải đem quân ra tiếp ứng.
 Vương Văn vâng lời kẻo hai ngàn quân ra đi.
 Lý Thái Công được tin Vương Văn kéo binh tới, liền ra đón tiếp.
Vương Văn nói:
- Tướng công chớ lo, để tôi hiệp sức với lệnh lang mà phá Tống.
Hôm sau, trời vừa rạng đông, Lý Tín cùng Vương Văn khai cửa ải đem binh ra giáp chiến, Hô Diên Táng giục ngựa ra trận chỉ Vương Văn nói:
- Ngày trước ngươi bại trận khỏi chết là may, bây giờ còn muốn đến nạp mình sao ?
 Vương Văn nói :
 - Lúc ấy ta thua ngươi là vì Triệu Toại không nghe lời ta, nay ta quyết giết bọn ngươi, không để một miếng giáp cho nguyên.
Nói rồi xốc ngựa ra đánh.
Đánh đặng hai hiệp, Vương Văn giả thua quay ngựa mà chạy. Diên Táng biết Vương Văn là người giỏi tính muốn bất sống về mà trọng dụng, liền giục ngựa rượt theo. Bỗng nghe phía trước núi nổ lên một tiếng pháo. Hô Diên Táng ngước mặt xem thì thấy Lý Tín kéo binh tới bọc ngả hậu mình, bèn tới đánh nhằm con ngựa của Vương Văn quị, Vương Văn thất thế, bị bộ hạ của Diên Táng ào tới bắt sống, Hô Diên Táng liền quay ngựa lại đánh cùng Lý Tín, Lý Tín thấy Vương Văn bị bắt, thì không dám đánh, bèn thối binh chạy về ải. Diên Táng không theo, thâu binh trở về trại, quân sĩ dẫn Vương Văn đến nạp, Diên Táng vừa thấy, lật đật chạy ra mở trói, dắt mời ngồi, thết đãi trà nước rồi bèn xin lỗi và nói:
- Khi nãy nơi trận, tôi lỡ mà làm xúc phạm túc hạ, xỉn túc hạ miễn chấp.
Vương Văn trả lời:
- Tôi đây bất tài nên bị tướng quân bắt đặng, tha chết cũng nhờ ơn, lẽ đâu dám chịu hậu đãi như vậy?
Diên Táng nói:
- Tôi cũng người quê quán Hà Đông, bị chuyện ức nên phải về đầu Tống, dầu sống thác cũng giữ dạ trung thần, còn nghĩ người đởm lược mưu trí như túc hạ, mà phò tá người không xứng đáng như vậy, thì tôi lấy làm tiếc lắm, ví chẳng khác chi ngọc vùi tro bụi. Thôi, xin túc hạ bằng lòng phò Tống chúa mà lập công đặng để danh thơm tiếng tốt nơi đời sau cho con cháu hưởng nhờ, như vậy chẳng phải là đẹp sao?
Vương Văn nghe Diên Táng nói, lòng muốn xiêu, bèn trả lời:
- Lời tục có nói: Chim khôn lựa nhánh mà đỗ, tôi hiền lựa chúa mà thờ. Nay cơ hội này tôi cũng chẳng nói chi đặng nữa. Thôi nguyện cùng tướng quân đồng phò Tống chúa cho an thân?
Từ đó, Hô Diên Táng đãi Vương Văn cách trọng hậu, lại tâu cho Thái Tôn phong thưởng rồi bèn thưởng nghị cùng Vương Văn lo mưu kế đánh cho đặng hai ải Tiếp Thiên và Tam Trấn.
Vương Văn nói:
- Việc ấy phải tùy cơ ửng biến mới đặng. Vả nay cha con Lý Thái Công thấy tôi bị bắt rồi dẫu có chết cũng không đám đánh cùng tướng quân nữa. Tướng quân phải y kế như vầy... như vầy…
Hô Diên Táng cả mừng, bèn khiến Lý Kiến Trung đi phục binh, còn mình đem binh tới Tiếp Thiên Quan mà công phá. Quân báo cùng Lục Lượng Phương. Lục Lượng Phương biết Tống tướng đánh không nổi Tam Trấn Quan, nên trở lại đánh mình, bèn truyền cho quân sĩ cứ việc bế cửa mà cố thủ. Hô Diên Táng làm bộ thúc binh, công phá ải ấy cho đến tối.
Lúc gần canh hai, Hô Diên Táng giả chước khiến binh của mình nổi đèn đuốc leo bờ ải mà đánh, thì binh của Lục Lượng Phương trên bờ ải cứ làm như cũ, lăn cây và đá xuống. Binh của Hô Diên Táng thấy vậy thì dang ra hết. Bỗng thấy bên phía Đông Bắc có một đạo binh kéo riết vào, Hô Diên Táng biết là binh của Vương Văn đến làm kế cùng mình, liền giục ngựa ra giả đánh hỗn chiến cùng Vương Văn. Đánh đặng vài hiệp. Hô Diên Táng giả thua, quay ngựa mà chạy. Vương Văn giả rượt theo một đổi, rồi trở vào cửa ải mà kêu lớn rằng:
- Binh Tống bị tôi phá trận đã thua chạy rồi ! Vậy phải mở cửa ra mà tiếp cùng tôi.
Quân giữ ải nghe thì biết tiếng của Vương văn là phó tướng của mình, liền vào báo với Lục Lượng Phương.
Lục Lượng Phương tưởng Vương Văn đi tiếp cứa ải Tam Trấn trở về bèn hối quân khai cửa ải.
Té ra bị Hô Diên Táng núp bóng Vương Văn, xốc ngựa tới giao chiến .
Lục Lượng Phương biết mình mắc kế, nhưng trở vào không kịp, lại thấy Lý Kiến Trung phục binh ngoài xa, kéo quân vào tiếp ứng.
Lục Lượng Phương đành phải đánh với hai tướng, nhưng biết sức mình cự không nổi, liền giục ngựa bỏ chạy, bị Hô Diên Táng rượt theo đâm một thương nhào xuống ngựa. Còn Lý Kiến Trung kéo quân vào ải dựng cờ chiêu an. Binh Bắc Hớn đầu hàng hết.
Lúc trời vừa sáng, Tống tướng nhóm nhau mừng công, Hô Diên Táng nói với Vương Văn:
- Lấy được ải này nhờ có mưu hay của túc hạ.
Vương Văn nói:
- Việc tôi làm cũng chẳng có công chi lắm!
Hô Diên Táng liền sai người báo cho vua Thái Tôn hay, rước xa giá vào thành rồi chiêu an bá tánh
Lúc này bên ải Tam Trấn hay tin binh Tống đã lấy Tiếp Thiên Quan rồi, nên Lý Thái Công kinh hãi, bèn hối hai con bỏ ải cùng nhau kéo quân chạy về Hà Đông.
Tưởng giữ ải Phong Châu là Trương Công Cẩn, nghe binh Tống đã chiếm ải Tiếp Thiên thì sợ hãi. Phó tướng là Lưu Bính đến thương nghị:
- Binh tướng Tống đã đông, lại giỏi, đến như Tiếp Thiên Quan là chỗ hiểm trở mà còn lấy được thay, huống chi Phong Châu thành đã thấp, đất lại bằng, làm thế nào mà cự nổi. Thôi, xin tướng quân nghĩ việc đầu hàng, cho sinh tinh khỏi đồ thán.
Trương Công Cẩn nói:
- Lâu nay chúng mình thọ ơn Hán trào nay lúc nguy biến không ra công báo bổ, để đi đầu hàng cũng ngặt.
Trong lúc còn đương dụ dự thì Lưu Bính lại thúc giục, Công Cẩn nói:
- Thôi, tướng quân hàng biểu qua dinh Tống mà nộp.
Lưu Bính vâng lệnh, đến ra mắt Hô Diên Táng thuật lại mọi chuyện.
Hô Diên Táng liền báo cho vua Thái Tôn biết.
Hôm sau, Hô Diên Táng vâng chiếu hộ giá đến phong Châu.
Trương Công Cẩn liền mở cửa ải nghênh tiếp. Vua vào ải chiêu an bá tánh, rồi hạ chiếu cho các tướng đem binh đánh thắng tới Hà Đông.
Lưu Quân được tin sợ hãi, nhóm họp quần thần thương nghị.
Đinh Quới tâu:
- Binh Tống đi đường xa, chắc là lương thảo gần hết xin chúa công sai sứ qua Đại Liêu cầu Tiêu Thái hậu sai tướng binh đem triệt đường để Tống hết lương rồi sẽ đánh.
Lưu Quân y lời, sai sứ qua Đại Liêu viện binh.
Sứ thần vừa qua Đại Liêu thì Tiêu Thái hậu hay tin, đón vào thương nghị.
Tiêu Thiên Hữu tâu rằng:
- Hà Đông với nước ta cũng như răng với môi, xin bệ hạ phát binh giúp Lưu Quân, chớ nên chậm trễ.
Tiêu Thải hậu nhận lời, liền khiến đại tướng Gia Luật Sa đem hai ngàn binh đi cứu Hà Đông. Gia Luật Sa lãnh mạng, kéo quân đến núi Bạch Mã, hạ trại nghỉ ngơi.
Quân thám thính về Phong Châu báo tin ấy, vua Thái Tôn nổi giận nói:
- Lưu Quân nghịch mạng ta đem binh vấn tội chớ can gì đến Đại Liêu, mà nước ấy khởi binh trợ nghịch như vậy?
Liền khiến Cao Hoàn Đức và Hô Diên Táng đem binh đánh Bắc Phiên, rồi sau sẽ đánh Hà Đông.
Cao Hoài Đức lãnh mạng kéo quân ra đi.
Quách Tấn nói:
- Việc chấn chỉnh, phải đánh gấp, không để cho địch đủ ngày giờ sắp xếp việc binh cơ. Nay binh Liêu đóng tại núi Bạch Mã cách trở một con khe Hoành Sơn nên độ binh rất khó. Để tôi đem binh qua khe ấy mà đánh trước, rồi các vị thủng thỉnh theo sau mà tiếp ứng .
Cao Hoài Đức khen phải, liền phát binh cho Quách Tấn đi trước.
Gia Luật Sa hay đặng tin, thương nghị với Địch Liệt rằng:
- Ta cùng tướng quân phải đem binh nơi khe Hoành Sơn đón trước, chớ cho tướng Tống qua khe.
Địch Liệt nói:
- Cứ để cho binh Tống qua khe nửa chừng rồi mình phục binh mà đánh thì chúng nó sẽ bị tiêu diệt.
Nói rồi hẹn kéo binh để đến khe Hoàng Sơn đón quân Tống.
Lời bàn.
Ai cũng muốn vì hơn kẻ khác, nên gây thù oán với kẻ giúp đỡ kẻ thù của mình.
Vua Thái Tôn đang chinh phục Lưu Quân, thế mà binh Liêu xuất quân trợ lực cho Lưu Quân thì giận dữ truyền bỏ Lưu Quân đi đánh quân Liêu .
Nếu đặt vấn đề quyền lợi lên trên đạo nghĩa thì vua Thái Tôn cho đó không là lẽ phải nhưng nếu luận về sự tương trợ lẫn nhau thì nước Liêu đến ứng cứu cho Lưu Quân là lẽ phải.
Thói đời ít ai nghĩ đến lẽ phải, chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của mình mà thôi.
Xã hội loài người vì nặng ý thức riêng tư mà làm cho tình nghĩa con người bị tổn thương.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Bảy

Lưu Quân sai sứ mời Dương Nghiệp,
Quách Tấn đại chiến Gia Luật Sa


Bấy giờ Gia Luật Sa bàn với Địch Liệt đem quân đến khe Hoành Sơn đón đánh quân Tống.
Địch Liệt không nghe lời lại kéo binh vượt qua khỏi khe mà giao chiến. Gia Luật Sa thấy Địch Liệt không hợp ý kiến mình thì để cho Địch Liệt kéo binh đi, rồi cũng theo mà ứng chiến.
 Đạo binh của Địch Liệt vừa tới khe, mới mức độ qua phân nửa thì thấy binh Quách Tấn đã gần tới. Địch Liệt biết mình làm không đúng cách, nên truyền ngưng binh giữa vời, lập thế ngưng chiến.
 Quách Tấn vung thương xốc ngựa tới nói:
- Nước Liêu là một mũi giặc, chờ ta đến nơi mà đánh, nay lại đến đây chịu chết gấp rút như vậy sao?
Địch Liệt mắng:
- Chúa ngươi rất tham lam, đã làm vua cõi trung Quốc, mà chưa biết đủ, còn đem quân xâm chiếm khắp nơi, không cho thiên hạ ở yên. Nay ta đem binh giết bọn ngươi mà cứu đất Hà Đông.
Quách Tấn nổi giận giục ngựa tới đánh. Kế đó Hô Diên Táng cũng tiếp ứng trợ chiến với Quách Tấn.
Gia Luật Sa thấy Địch Liệt đã mệt, bèn đem quân đến cứu.
Địch Liệt biết sức mình không còn cự lại liền rút quân chạy bị Quách Tấn đuổi theo, chém một gươm rơi đầu xuống khe. Gia Luật Sa nhờ con ngựa chạy nhanh bỏ chạy vào đường núi nhưng chưa được bao xa bị Hoài Đức chặn lại, may đâu có một tướng kéo quân tới giải cứu cho Gia Luật Sa.
Tướng cứu Gia Luật Sa tên là Gia Luật Tà Chẩn, có ý định giúp Hà Đông đánh Tống.
Gia Luật Sa nói:
- May nhờ có tướng quân, nếu không tôi đã bị Tống tướng bắt rồi?
Gia Luật Tà Chẩn nói:
- Ấy cũng nhờ Thái hậu độ trước nên khiến tôi đến mà tiếp đó.
Chuyện vãn cùng nhau rồi, cả hai đồng tình lui về Đại Liêu.
Còn Cao Hoài Đức và các tướng trở về trại, vào tâu cùng Thái Tôn rằng:
- Bọntôi đã dẹp đặng binh Liêu rồi lại giết một đại tướng nữa.
Thái Tôn nghe tâu liền mừng, hạ chiếu ban khen, rồi khiến đem quân tới đánh thẳng Hà Đông.
Lưu quân nghe binh Liêu bị thua rút về bổn quốc rồi, thì ngày đêm kinh sợ, liền hội quần thần thương nghị. Hữu thừa. tướng là Quách Hữu Nghi tâu rằng:
- Binh Tống thế mạnh lắm, tôi e đánh không lại, xin chúa công dâng biểu mà đầu Tống cho xong, trước nữa là vững an xã tắc sau nửa sanh tinh khỏi việc đồ thán.
Lưu Quân nghe tâu như vậy, còn dụ dự chưa định lẽ nào liền có Tống Trai Khưu tâu rằng:
- Đất Hà Đông chẳng phải là hết người, chiến sĩ có hơn mười muôn, thành trì cũng chắc, nếu chúa công khiến tướng ra đánh một trận thì thắng bại cũng chưa biết đặng, lẽ đâu nhẹ mình mà quật hạ người ta sao? Vậy xin chúa công để tôi tiến cử một người đánh Tống phải thua cho chúa công coi.
 Lưu Quân hỏi:
- Khanh muốn cử ai thì nói cho trẫm biết.
Tống Trai Khâu tâu:
- Người ấy vốn thuở trước ở U Châu, tên là Mã Phong, lúc Huỳnh Sào làm loạn, Mã Phong rất nổi danh vì nhờ một cây thương tên là Di Quảng không ai đánh lại, sau đó ẩn vào núi Trung Sơn, nay tuy đã già mà sức còn mạnh lắm. Xin tướng quân sai sứ triệu người ấy về dùng.
 Lưu Quân nhận lời liền sai Từ Trọng Tấn lãnh chiếu ra đi.
Từ Trọng Tấn đến núi Trung Sơn, thấy một cái am, trong am thấy một người cao lớn, mặt đen tóc bạc đang ngồi xem sách.
Từ Trọng Tấn bước tới thưa:
- Xin tiên sinh cho biết chỗ này có phải là am của Mã tướng quân không?
Người nhìn lên rồi đứng dậy hỏi:
- Quí khách từ đâu đến mà biết Mã tướng quân?.
 Trọng Tấn thưa:
- Tôi là người nướcBắc Hớn, vâng lệnh chúa sai đến đây thỉnh Mã tướng quân xuống giúp triều đình .
Người ấy nói:
- Bần đạo đây thật là Mã Phong, song việc đánh lui binh Tống chắc là bần đạo không giúp được .
Trọng Tấn nói:
- Hiện nay binh Tống đang đáng gấp lắm, cả triều thần không ai địch nổi.
Mã Phong hỏi:
- Vậy nước Tống cử binh đánh Hà Đông sai ai làm chánh tướng, người ấy mưu lược ra sao?
Trọng Tấn thưa:
- Tống tướng có nhiều người, song có một tướng tên là Hô Diên Táng, tài cao, mưu lớn, cả trào Bắc Hớn không ai cự nổi, nên vua khiến tôi đến đây mà triệu ngài. Xin ngài hãy vì dân Bắc Hớn mà xuống núi.
Mã Phong nói:
- Bần đạo tuổi đã gần chín mươi, còn sức đâu mà cầm thương lên ngựa. Vậy xin ngài về tâu với vua sai sứ đến Sơn Hậu triệu Dương Nghiệp mà dùng, đừng trễ nải hư việc lớn.
Tư Trọng Tấn nghe Mã Phong nói như vậy bèn từ giã ra về thuật lại lời nói của Mã Phong cho Lưu Quân nghe.
Đinh Quới tâu:
- Việc binh rất gấp xin chúa công hạ chiếu sai sứ đi triệu Dương Nghiệp về cứu nạn mới xong.
Lưu Quân nói:
- Dương Nghiệp trước đây ở Thạch Châu đã lập huyết thề giảng hòa với Tống, nay trẫm e không chịu giúp trẫm.
Đinh Quới tâu:
- Dương Nghiệp là người rất trọng nghĩa, đâu có lẽ phụ lòng chúa công.
Lưu Quân nghe theo, liền viết chiếu sai xứ đến San Hậu.
Dương Nghiệp tiếp chiếu, nghĩ thầm:
- Nay nước Tống có lòng chiếm đoạt Hớn đô, nếu không cứu giúp, e mang tiếng bất nghĩa.
Nghĩ rồi, Dương Nghiệp phú thác việc chánh trị cõi Sơn Hậu cho Vương Quới, rồi cùng bảy người con đem ba muôn binh đến cứu Hà Đông.
Phan Nhơn Mỹ nghe tin ấy sợ hãi hội chư tướng bàn mưu đánh cùng Dương Nghiệp. Cao Hoài Đức nói:
- Dương Nghiệp là anh hùng nổi tiếng, nay đem binh cứu Hà Đông vì quân ca khó tiến nổi.
Hô Diên Táng nói:
- Tôi cũng thường nghe Dương Nghiệp là tướng vô địch trong thiên hạ, song tôi chưa gặp lần nào. Để tôi đem binh đánh thử một trận xem sao?
Phan Nhơn Mỹ liền sai Hô Diên Táng lãnh năm ngàn binh xuất trận.
Lúc này Dương Nghiệp kẻo quân đóng trại tại Ngọa Long Ba, bỗng nghe có quân báo:
- Binh Tống hạ trại cách đây chừng mười dặm.
Dương Nghiệp nghe báo cười nói:
- Tống tướng dụng binh sơ lược lắm, nếu đóng trại ở nơi đó thì sao cũng phải thua ta, chớ chẳng không!
Nói rồi, bèn hỏi trong chư tướng:
- Ai muốn xuất trận đánh trước?
Người con thứ năm tên là Dương Diên Đức ra thưa rằng:
- Con xin lãnh binh đi đánh trước.
 Lịnh công nhận lời, liền phát cho Diên Đức năm ngàn binh.
Dương Diên Đức đem binh ra trận nói lớn:
- Tống tướng hãy lui binh về tâu cùng chúa ngươi phải chừa đất Hà Đông, nếu cưỡng lý thì ta giết không để một tên quân.
Hồ Diên Táng nổi giận mắng:
- Ngươi đừng khua môi uốn lưỡi ăn nói quen mắng kẻ bất tài, chớ nay ngươi gặp ta ắt không khỏi chết.
 Nói rồi vung thương xốc ngựa ra đánh.
 Hai tướng hơn mười hiệp, chưa định hơn thua, mà hai con ngựa đánh rồi dùng dằng bước không tới. Dương Diên Đức nói:
- Ngựa của hai ta coi đã hết cẳng rồi, thôi để mai đánh nữa.
Hô Diên Táng gật đầu, rồi hai bên thâu quân về trại.
Dương Diên Đức về tới trại, ra mặt cha và thưa rằng:
- Nay con ra giáp chiến cùng tướng Tống hơn bốn mươi hiệp, vì ngựa mệt, hai bên phải thâu quân, nên chưa biết ai thắng bại.
Dương Nghiệp nói:
- Ta nghe Tống tướng có Hô Diên Táng võ nghệ cao cường, nếu phải ngừơi ấy ra trận bữa nay, thì mai ta sẽ đích thân ra đánh cùng Diên Táng.
Nói rồi khiến đem binh tới gần dinh Tống cách vài dặm mà hạ trại.
Nói về người con thứ bảy của Dương Nghiệp là Dương Thất Lang tánh nóng, muốn lập đầu công, nên lén đem ba ngàn binh tới cướp trại của Tống. Đêm ấy, lúc Tống tướng là Phan Nhơn Mỹ, Quách Tấn và Cao Hoài Đức đang nhóm nhau mà luận việc binh pháp, thình lình có một luồng quái phong thổi vụt qua tắt đèn, Phan Nhơn Mỹ sẵn dịp bàn rằng:
- Điềm này làm cho tôi nghe đêm nay chắc là Dương gia đem binh đến cướp trại ta chớ chẳng không, vậy chứ tướng hãy truyền cho các dinh trại, đừng cho xao động và đem quân cung nỏ phục nơi phía hậu cho sẵn để đặng mà dự phòng.
Bọn Cao Hoài Đức vâng lời, mỗi người đều giữ bổn phận mình, Dương Thất Lang kéo binh gần tới thì liệu quyết bên trại Tống chắc không có dự phòng chi hết, bèn giục binh riết vào vừa tới xảy nghe tiếng nổ một tiếng pháo, binh Tống ó lên mà bắn, tên bay ra tợ như mưa bấc. Binh của Dương Thất Lang tấn thối lưỡng nan, bị chết vô số. Thất Lang biết mình lầm kế rồi, liền quay ngựa chạy trở về, bị Cao Hoài Đức và Quách Tấn đón đánh một trận và rượt hơn năm dặm mới trở lại, Thất Lang chạy về tới trại điểm binh lại thì chết hết phân nửa.
Ngày hôm sau, Dương Nghiệp thới hay sự tình như thế, bèn nổi giận cho đòi Thất Lang quở:
- Ngươi không tuân theo lệnh ta làm cho binh mã chết như vậy thì tội của người đáng xử cách nào?
Bèn khiến quân đem chém Thái Iang mà thị chúng.
Bộ tướng là Trương Văn Tấn nghe sự hung như vậy, chạy đến khiến quân giam Thất Lang lại đó, rồi vào khuyên giải cùng Dương lịnh công rằng:
- Dương Thất Lang tuy phạm tội, song chí muốn vì nước mà ra công, rủi lầm kẻ địch nhơn nên thất trận. Xin tướng công nghĩ tình phụ tử mà dung thứ cho Thất Lang.
Dương Nghiệp nói:
- Ta cũng biết tình cha con là chí thân, song phép luật chẳng riêng đặng, phải chém nó mà răn người khác.
Các chư tướng đều hội nhau mà xin, Dương Nghiệp thấy vậy, bèn tha chém, sai quân đem đánh bốn mươi trượng, ai thấy cũng kinh hãi. Đánh rồi, Thất Lang tạ tội mà lui về trại mình.
Dương Nghiệp liền bảo chư tướng:
- Binh ta mới đến, phải nghỉ ít ngày mà sắp đặt quân sĩ cho tề chỉnh, rồi sẽ đánh Tống.
Chư tướng vâng lời, ai nấy đều về trại, cứ việc bổn phận mà làm.
Nói về Tống tướng Phan Nhơn Mỹ nghe binh cha con Dương Nghiệp đến gần, thì truyền cho chư tướng tập luyện cho binh mã trong mười ngày sẽ xuất trận, lại cho người đến thám binh tình của Dương Nghiệp.
Người sai về nói:
- Binh của Dương Gia đóng tại trại coi có thế hùng mạnh lắm chắc là muốn đại chiến cùng ta.
Phan Nhơn Mỹ Liền hội chư tướng phân binh như sau:
- Phan Nhơn Mỹ là chủ tướng, đi trung phong, Cao Hoài Đức, Hô Diên Táng đi tả hữu, Quách Tấn đi hậu tập đề phòng cứu ứng.
Phân công xong, ai nấy đều lãnh lịnh về dinh.
Hôm sau, trời vừa rạng sáng, ba hồi trống lệnh vừa dứt, Phan Nhơn Mỹ xuất quân, mình mặc bạch bào, đầu đội kim khôi, binh sĩ đông đủ, giục ngựa ra trận, hỏi:
- Hà Đông là nước nghịch của Tống triều, nên chúa ta đem binh vấn tội. Còn các ngươi có can chi mà ứng chiến giúp kẻ địch.
Dương Nghiệp nói:
- Chúa ngươi làm vua Trung Quốc, năm trước đã cùng ta cầu hòa, nay lại còn giục binh đến xâm phạm. Vả lại Đông Hà là nước láng giềng với ta, đãi ta rất hậu, nên ta phải đem binh cứu viện. Các ngươi phải lui binh cho mau, nếu không ăn năn không kịp.
Nhơn Mỹ nổi giận, quay lại hỏi chư tướng:
- Ai dám ra bắt thằng thất phu ấy?
Nói vừa dứt lời, Hô Diên Táng đã giục ngựa múa thương đâm Dương Nghiệp. Con của Dương Nghiệp là Dương Diên Chiêu xông ra cản lại, đánh hơn bảy mươi hiệp chưa phân thắng bại, bỗng nghe có tiếng chiêng thâu quân, cả hai bên đều lùi về.
Lời bàn
Lòng tham vọng bao giờ cũng bị sức cản lại, vì nó xâm phạm đến quyền lợi kẻ khác.
Vua Thái Tôn đi lính dẹp các nơi để thu quyền lợi cho nước Tống hành động ấy có liên quan đến chủ quyền các dân tộc khác. Sức phản ứng ấy là sức tự vệ của dân chúng các nước. Sức tự vệ là lực lượng chính nghĩa, tuy yếu đuối song nó mang tính chất tự tồn.
Không một sinh vật nào không tự vệ, bảo tồn nguồn sống của mình, Dương Nghiệp giúp một nước liên bang cũng là vì quyền lợi bảo tồn dân tộc mình. Với nhiệt tình ấy đã un đúc cho chí khí và hành động của Dương Nghiệp chói sáng trong lịch sử thời bấy giờ. Dù thất bại, danh của một dân tộc biết tự vệ để tự tồn bao giờ cũng sáng rực.


0
Hồi Thứ Ba Mươi Chín

Giấc mộng Tống Đế đoạt Thái Nguyên,
Ước mơ Thái Tôn lấy Liêu quốc,


Ngưu Tư Tấn và Hô Diên Táng trở về phục chỉ .
Cha con Dương Nghiệp đã vâng mạng, chỉ một vài ngày sau sẽ đến chầu bệ hạ.
Vua Thái Tôn mừng rỡ, vội vã khiến Bát Vương chuẩn bị nghênh tiếp, Bát Vương tuân lệnh, sắp đặt đâu đó xong xuôi, tạm nghỉ nơi quá n dịch để chờ tin cha con Dương Nghiệp kéo đến.
Khi đạo binh Dương Nghiệp dẫn đến thì đã thấy binh tướng Tống đón chào, Dương Nghiệp liền xuống ngựa, Bát Vương làm lễ. Hai bên nhạc thiều nổi lên, Hô Diên Táng đến nói với Dương Nghiệp:
- Người vừa đến chào tướng công là Bát Vương, cháu ruột của Hoàng đế.
Dương Nghiệp nghe nói thất kinh, đến trước bái phục, Bát Vương đỡ Dương Nghiệp dậy rồi dẫn vào dinh ăn uống đãi đằng, sau đó mới ra mắt Thái Tôn.
Vua Thái Tôn mời ngồi và nói:
- Bấy lâu nay trẫm ao ước gặp mặt khanh ngày nay khanh về với năm, thật là đại phước.
Thái Tôn liền phong cho Dương Nghiệp. làm chức Đoàn Luyện Sứ và hứa:
- Chừng nào dẹp giặc xong ban sư trở về, trẫm sẽ gia phong quan tước.
Dương Nghiệp lạy tạ ơn, dẫn gia quyến vào thành an nghỉ.
Vua Thái Tôn hạ lệnh cho chư tướng công phá Hà Đông.
Lúc này bên Hớn trào,. Lưu Quân đã biết được Dương Nghiệp đã về đầu đại Tống thì lo sợ bỏ ăn bỏ ngủ, liền ra lệnh cho Đinh Quới tăng cường gìn giữ các cửa thành cho nghiêm ngặt.
Ít ngày sau, Tống tướng là Phan Nhơn Mỹ khiến thủ hạ kéo binh ra khiêu chiến, nhưng bọn Đinh Quới thủ thành không ra đánh.
Binh Tống uy thế mỗi ngày mỗi lớn, triều thần bàn với nhau sai sứ qua Đại Liêu cầu cứu.
Lưu Quân nhận lời, liền sai một võ tướng tức tốc lên đường.
Vua Thái Tôn thấy các tướng phá thành không được, để lâu ngày e có quân cứa viện, bèn sai Cao Hoài Đức, Hô Diên Táng đốc quân phá thành. Mặt khác, vua Thái Tôn viết biểu dụ Lưu Quân ra hàng .
Sứ thần vâng lệnh đem biểu đến nơi, nhưng tướng Hớn không cho vào.
Vua Thái Tôn lo lắng, thao thức không ngủ. Đến canh khuya bỗng nằm mộng thấy quân vào báo rằng:
- Có phu nhân tới.
Trong vía Thái Tôn thấy ba bốn mươi người khiêng một cái kiệu, trong kiệu có một người đàn bà bước ra, cầm một tờ giấy đưa cho Thái Tôn xem.
Vía Thái Tôn hỏi:
- Ngươi là ai? Đến đây có việc chi?
Người đàn bà ấy đáp:
- Thiếp là Tiểu Khánh ở tại Hà Đông đến xin dâng kế vua Thái Tôn đưa tờ giấy ra xem, thấy có đề tám chữ: Nhâm quí chi binh, Khả phá Thái Nguyên.
Vua Thái Tôn xem xong thì người đàn bà đã biến mất, Vua giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao thì trời cũng đã gần sáng, bèn đòi Bát Vương và Dương Quang Mỹ đến bàn việc chiêm bao.
Dương Quang Mỹ tâu:
- Chữ nhâm quí thuộc về hướng Bắc, Có lẽ thần thánh mách bảo cho bệ hạ khiến kéo binh qua hướng Bắc ắt thành công.
Vua Thái Tôn khen bảo, truyền quân nhằm phía Bắc môn đánh vào.
Lúc ấy Hớn chúa cũng lo lắng nên ngủ không yên, chiêm bao thấy nước lụt tràn vào thành, lại thấy có một con rồng theo phía Bắc môn lội vào. Hớn chúa thức dậy, liền gọi bá quan lại bàn tính .
Vua Hớn chưa kịp kể lại giấc mộng, thì đã có tin báo:
- Quốc cựa đã mở cửa Bắc môn, quân Tống đang tràn vào thành.
Hớn chúa thất kinh dẫn các quan đi lánh mặt, Bỗng có Dương Quang Mỹ bước vào và nói:
- Vua Tống là người nhơn đức dầu chiếm thành cũng không làm hại ai mà sợ.
Hớn chúa nghe lời ấy liền khiến Lý Hoán đem ấn tín và hành biểu dâng cho vua Thái Tôn.
Vua Thái Tôn rất đẹp lòng, mời Hớn chúa ngồi và nói:
- Ta chẳng trách phạt khanh đâu, xin cứ an lòng đừng lo lắng.
Hớn chúa lạy tạ ơn và thỉnh vua đến phủ Thái Nguyên an nghỉ, Vua Thái Tôn nhận lời cùng các quan ra đi, thấy hai bên đường dân chúng đặt bàn hương án chúc mừng, Hớn chúa cùng các quan triều kiến.
Vua Thái Tôn phong Lưu Quân làm chức Kiến hiệu thái sư trấn giữ lại Hà Đông, Lưu Quân lãnh mạng tạ ơn.
Đất Thái Nguyên lúc này mới yên ổn, dân chúng an cư lạc nghiệp.
Bình Định Thái Nguyên xong. Phan Nhơn Mỹ tâu với vua:
- Đất Hà Đông gần với Khiết Dông, nay sẵn dịp, tiện đường lấy uy thế mà tấn binh gia phạt Liêu Đông, ấy là chuyện ngàn năm.
Dương Quang Mỹ lại tâu:
- Hà Đông mới định, quân sỹ còn mỏi mệt, xin bệ hạ ban sư để cho binh tướng nghỉ ngơi.
Các quan kẻ nói này người nói khác, làm cho Tống Thái Tôn không quyết định.
Bát Vương tâu:
- Ngày nay tấn binh nữa thì bất tiện, nên hồi loan thưởng phạt công lao cho tướng sĩ, để đẹp lòng người. Xin bệ hạ y theo lời Quang Mỹ là thượng sách.
Vua Thái Tôn nghe nhắc đến việc phong thưởng cho các quan, thì biết Bát Vương có ý nhớ lại chuyện cũ, cách mười năm về trước, nên làm lơ không nghe lời Bát Vương tấu, và nói:
- Đợi chừng nào khanh có giang sơn thì chừng ấy sẽ tấn binh hay sao?
Bát Vương thấy vua nghi ngờ thì thất kinh không dám nói nữa.
Vua Thái Tôn nghe theo lời Phan Nhơn Mỹ, kiểm điểm lương thảo kẻo binh qua chinh phạt Liêu Đông.
Lúc này đại binh của Tống đã đến Diệt châu hạ trại, Phan Nhơn Mỹ hạ chiến thư đưa vào thành nước Liêu xin định kỳ giáp chiến.
Quan Thái sử nước Đông Liêu và Liêu Võ khi nghe có binh đại Tống kéo đến bèn hội chư tướng thương nghị.
Quách Hưng nói:
- Ông có kế nào hay xin cho tôi biết.
Lưu Võ nói:
- Theo ý tôi thì nước Tống rất mãnh liệt, vừa rồi chiếm đất Thái Nguyên, chúng ta khó giữ được Đông Liêu, Chi bằng khiến người đến nước Tống thăm dò tình hình, rồi tính việc dâng thành, cho khỏi muôn dân đồ thán.
Quách Hưng nói:
- Kế ấy rất hay ? Vậy để tôi đi thám thính.
Nói rồi, Quách Hưng lui ra tìm cách qua dinh Tống.
Khi đến nơi, Quách Hưng xin vào ra mắt chúa soái, thấy Cao Hoài Đức rất nghiêm trang, Quách Hưng quì gối thưa:
- Chúa tướng tôi nghe binh trào kéo đến, nên sai tôi qua đây tỏ ý dâng thành qui thuận, để muôn dân tránh nạn binh đao.
Cao Hoài Đức nghe nói cả mừng, dẫn Quách. Hưng đến yết kiến Phan Nhơn Mỹ.
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Nếu thật lòng quy thuận, thì ngày mai mở hết cửa thành nghênh tiếp thánh giá các ngươi sẽ được tước lộc như cũ.
Quách Hưng vâng lệnh tạ từ lui ra, về thành cùng các tướng sĩ ra khỏi ngọ môn nghênh tiếp vua Tống.
Khi vua Thái Tôn vào thành thì khiến quân tra xét lương thảo và phong thưởng Lưu Võ cùng các tướng sĩ giữ y chức cũ.
 Hôm sau vua truyền xuất binh nhắm Trạc Châu tấn phát.
Tướng coi giữ thành Trạc Châu tên là Lưu Hậu Đức, khi nghe tin vua Thái Tôn chiếm được thành Diệt Châu rồi thì thương nghị với các tướng.
Bấy giờ có quan Bộ thi là Thiểm Dương Khuê bước ra thưa:
- Vua Tống là người nhơn đức, oai thế rất mạnh, chúng chỉ là một mảnh đất bằng đầu ngón tay mà làm sao giữ được, chi bằng đầu hàng để tùng phục thì hơn.
Lưu Hậu Đức khen phải, liền khiến quân mở cửa thành, kẻo binh ra đầu phục.
Nhơn Mỹ thấy vậy liền hộ giá đưa vua Thái Tôn vào thành kiểm điểm binh lương, Ai nấy đều vui vẻ .
Lời Bàn
Con đường xây dựng sự nghiệp, không tránh khỏi những quyền lợi riêng tư, nếu kẻ cầm đầu không  sáng suốt thì khó thành công.
Vua Thái Tôn nước Tống đi chinh phục các nơi, trên đường chiến đấu không phải không xảy ra những trạng trái tư thù tư oán, tham vọng cá nhân, nhưng vua Thái Tôn nước Tống đã sáng suốt lấy lòng nhân lấy sự công bình mà đối xử với những kẻ nhỏ nhoi tham vọng. Chính vì sự sáng suốt ấy vì vua Tống dễ dàng chinh phục được thiên hạ, giữ vững tình đoàn kết nội bộ, phát huy khả năng lãnh đạo của mình.
Ấy là trách nhiệm một vì vua trong một nước, còn trong cuộc sống xã hội loài người, những kẽ cầm đầu một cơ quan một tổ chức, nếu không sáng suốt thì bộ hạ của mình cũng vì ganh tỵ, tham lam, tìm cách phá hoại lẫn nhau mất tình đoàn kết, làm cho người lãnh đạo phải thất bại.
Đây là tấm gương cho kẻ đang nắm trong tay quyền thế mà không biết sáng suốt.


0
Hồi Thứ Bốn Mươi Mốt

Hớn Quỳnh dùng trí gạt tướng Phiên,
Dương Nghiệp ra công đánh Liêu tướng


Bấy giờ Hàng Khuông tự kéo gần tới thành, quân thám thính vào báo:
- Nơi phía cửa Tây thành đều mở hết, còn quân sĩ vắng tanh.
Khuông Tự liền kéo đến, thấy trên cửa thành có một tướng là Lưu Hồng Võ đứng ra nói:
- Xin nguyên soái chớ khá khinh dễ mà dẫn binh vào thành, tôi chắc trong ấy có phục binh.
Khuông Tự khen phải, vừa muốn rút binh, đã nghe có một tiếng pháo nổ vang quân Tống bốn phía ùn ùn kéo tới, Hàng Khuông Tự thất kinh bỏ chạy, Ly Hớn Quỳnh giục ngựa cản lại, hai bên đánh nhau không mấy hiệp, Hồng Võ sa cơ bị Hớn Quỳnh đâm chết.
Tống binh thừa thế đánh binh Liêu, làm cho binh Liêu cả loạn, lớp bị giết, lớp bị thương. Gia Luật Sa ráng sức xông vào giữa trận, cứu Hàng Khuông Tự đem về dinh. Lúc này binh Tống đã kéo đến vây phủ, Gia Luật Sa thấy bình Tống quá mạnh liều chết phá trùng vây dẫn Khuông Tự chạy tuốt về Diệt Châu. Còn Lý Hớn Quỳnh đánh với Gia Luật Hưu Ca mấy chục hiệp mới chịu lui binh. Ba tướng Tống lúc này kéo binh vào thành.
Bấy giờ tiêu Hậu hỏi Gia Luật Hưu Ca:
- Tại sao lại để đến nỗi lầm mưu quân giặc như vậy?
Gia luật Hưu Ca kể hết sự tình, Tiêu Hậu nổi giận ra lệnh cho Khuông Tự phải chết.
Võ sĩ dẫn Khuông Tự đến pháp trường, thì Gia Luật Sa quì tâu:
- Xin bệ hạ niệm tình Tiên Đế mà tha cho Khuông Tự một phen.
Tiêu Hậu cũng vị tình, tha tội chém, nhưng lột hết chức quan đuổi về dân. Kế đó Tiêu Hậu lại phong cho Gia Luật Hưu Ca làm nguyên soái, Gia Luật Tả Chuẩn làm Giám quân, thống lãnh mười muôn binh đem qua phạt Tống.
 Các tướng vâng lệnh kéo binh đi. Chẳng bao lâu đã tới Tống Thành.
Tướng Tống hay tin liền nhóm các tướng bàn bạc.
Lưu Đình Hàng nói :
- Nay binh Liêu kẻo tới nữa, chắc là quyết hệt. Vậy phen này đừng có ra binh, cứ đóng cửa thủ thành, rồi sai người về Trường An báo tin .
Đình Hàng nói xong liền viết sớ sai sứ đem về Đại Thành, và dặn các tướng giữ thành nghiêm ngặt.
Vua Thái Tông nhận được tờ sớ của Đình Hàng, liền nói:
- U Châu là nơi hiểm trở, nay binh Liêu kéo đến đó nếu để mất thành thì yếu thế. Vậy bây giờ ai dám vì ta đem binh chống đỡ?
Dương Quang Mỹ tâu:
- Cha con Dương Nghiệp bấy lâu muốn lập công đền nợ nước, nay sẵn dịp này xin bệ hạ sai họ đi là xong.
Thái Tôn nhận lời, liền phong cho Dương Nghiệp làm U Châu binh mã sứ và lãnh năm muôn binh đi giải cứu.
Dương Nghiệp lãnh mạng lui ra, dặn con lớn là Dương Diên Bình coi sóc việc binh, còn Diên Đức, Diên Chiêu theo mình đến U Châu giải cứu.
Khi binh tới Xích Cang thì hạ trại. Quân thám thính hay tin về báo với Lưu Đình Hàng hay. Lưu Đình Hàng mừng rỡ, vội vã sửa soạn đem quân tiếp ứng. "
Còn Dương Nghiệp lúc này an định hạ trại xong cho con đi xem xét chốn Bình Nguyên thôn dã để bố liệt trận đồ, bỗng thấy một đạo binh gươm giáo sáng ngời, Dương Nghiệp lật đật ra xem, thấy viên tướng mặt đen tai lớn, hình thù rất kỳ quái liền xốc ngựa tới hỏi:
- Tướng kia , họ tên là chi?
Vừa hỏi xong xem lại là Lưu Hắc Đạt.
Dương Diên Đức giục ngựa xông tới đánh, nhưng được vài hiệp, Diên Đức đã thua chạy dài, còn Hắc Đạt giục ngựa đuổi theo. Diên Đức quay lại chém Hắc Đạt một búa đứt làm hai khúc.
Dương Nghiệp thấy con mình đắc thắng liền hối quân sĩ áp vào hỗn chiến.
Lưu Đình Hàng ở trên thành xem thấy, liền dẫn binh ra hiệp với binh Dương Nghiệp giết binh Phiên thây nằm chật đất máu chảy đầy đường.
Gia Luật Tà Chuẩn thấy binh mình đại bại thì bỏ trại lên ngựa chạy tuốt về Ngõa Kiều Quan.
Đình Hàng và Dương Nghiệp kéo binh theo đoạt lương thảo và khí giới rất nhiều, rồi đóng quân tại phía Nam thành.
Các tướng nói:
- Nay binh Liêu về chiếm cứ tại Ngõa Kiều Quan, ta thừa dịp đuổi theo đánh một trận ắt toàn thắng.
Lưu Đình Hàng nói:
- Gia Luật Hưu Ca là người có trí dũng, nay lánh mặt không ra, e có mưu chi đây, xin nguyên soái lui binh về thành mà nghỉ rồi sẽ tấn binh cũng chẳng muộn.
Dương Nghiệp nói:
 Chúng nó bại tẩu, còn đủ ngày giờ đâu mà sắp đặt mưu kế, các tướng chớ lo, cứ việc tấn công ắt thủ thắng.
Các tướng vâng lệnh kéo binh đến Ngoa Kiều Quan nơi phía Đông Nam sông Hắc Thủy.
Lúc này Gia Luật Hưu Ca nghe binh Tống kẻo đến, nên cùng Gia Luật Tà Chuẩn bàn rằng:
- Cha con Dương Nghiệp thật là đấng nhân tài nay kéo binh đến đây vây Ngõa Kiều Quan nữa, vậy thì ta nên thủ thành, chớ khi dễ giao công, đợi chừng nào nó hết lương thực ta sẽ kéo quân ra đánh một trận rửa hờn.
Tà Chuẩn nghe theo, liền truyền lệnh chư tướng đóng các cửa ải và canh gác nghiêm ngặt.
Binh Tống kéo đến vây phủ bốn phía, đánh phá ngày đêm nhưng không thắng nổi. Qua mười ngày, Dương Nghiệp tỏ vẻ lo lắng, liền lên ngựa dẫn vài mươi tên quân đi vòng ngoài xa xem địa thế.
Khi đi đến một gò cao, Dương Nghiệp biết chắc nơi đó là chỗ lương thực của Lưu Bang, nên trở về đòi Lưu Đình Hàng đến bảo:
- Nay Liêu binh cố thủ thành trì, là ý chờ cho ta hết lương, đặng dụng kế tập công, nay sẵn dịp có gió bấc làm cho khí trời lạnh lẽo, quân Phiên biếng nhác tuần phong, ta dùng kế hỏa công đánh một trận ắt trọn thắng.
Lưu Đình Hàng nói:
- Lời của Dương nguyên soái rất có lý, song nếu như Gia Luật Hưu ca biết được kế ấy, đề phòng thì nguyên soái tính thế nào?
Dương Nghiệp nói:
- Ngài chớ lo xa. Nếu chúng đề phòng thì ta sẽ tương kế tựa kế .
Dương Nghiệp nói rồi khiến quân đi tìm một người già cả ở trong làng gần đó để hỏi thăm công việc. Chẳng bao lâu quân sĩ dẫn về một ông già trông rất sốt sắng.
Dương Nghiệp hỏi ông già:
- Chẳng hay phía tả Ngõa Kiều Quan này có con đường nhỏ nào đi được không?
Ông già nói:
- Đường đó hẹp lắm, chỉ để cho tiều phu đi đốn củi mà thôi.
Còn phía trong binh Liêu đã bít lại rồi, không có ngả nào thông thương được.
Dương Nghiệp nghe ông già nối mấy lời liền khiến quân đem rượu thịt cho ông già ấy ăn uống rồi đưa trở về.
Nội ngày hôm ấy Dương Nghiệp sai Diên Đức dẫn hai trăm quân giả làm tiều phu đi đốn củi, giấu vũ khí trong người đem theo đồ dẫn hỏa, thực hiện kế hỏa công.
Diên Đức vâng lệnh lãnh quân ra đi.
Dương Nghiệp lại sai Diên Chiêu, dẫn quân đến mé sông Hắc Thủy đốn cây thả xuống sông giả làm cầu độ binh qua, lập kế tiếp ứng. Mặt khác, sai Lưu Đình Hàng và Ngạn Tấn đem binh núp gần mé sông Hắc Thủy chờ cho quân giặc mắc kế kéo đến thì hai đầu đánh ép lại.
Mọi người đều vâng lệnh ra đi.
Còn Dương Nghiệp đích thân đến chỗ gò cao coi chừng quân giặc.
Lúc này Gia Luật Tà Chuẩn thấy binh Tống không làm gì nổi thì cứ lo ăn uống vui chơi. Bỗng có quân thám thính vào báo:
- Binh Tống muốn kéo qua sông Hắc Thủy, đặng đến Yên Thành .
Tà Chuẩn nghe báo cười lớn nói:
- Bấy lâu ai cũng đồn rằng Dương Nghiệp dụng binh như thần nay rõ ra không bằng một tên bộ hạ của ta.
Tà Chuẩn nói rồi liền bảo Gia Luật Cao:
- Ngươi mau dẫn một ngàn quân chặn binh Tống tại bờ sông Hắc Thủy, chờ binh Tống độ qua gần nửa thì xua binh ra giết.
Gia Luật Cao vâng lệnh kéo binh đi. Tà Chuẩn lại khiến Gia Luật Sa và Hàng Xiêm lãnh một muôn binh đi đến vây binh Tống.
Hai tướng vâng lệnh ra đi.
Tà Chuẩn sai khiến xong, đi với Gia Luật Hưu Ca chuẩn bị tiếp ứng.
Bấy giờ trời vừa chạng vạng, Dương Nghiệp, Diên Chiêu giả bộ đốn cây thả bè xuống sông, Gia Luật Cao núp ở trên xem thấy đùa binh xuống đánh nhau, binh Tống giả đò kinh sợ hối lui lên bờ. Binh Liêu rượt đuổi theo binh Tống. Diên Chiêu vừa đánh vừa chạy dụ binh Liêu đến chỗ phục binh.
Bỗng nghe một tiếng pháo lớn, tên bắn ra như mưa. Gia Luật Sa và Hàng Xiêm kéo binh ra vừa đến trại Tống đã nghe quân ó vang trời thì biết là trúng kế, liền dẫn binh đi tiếp cứu.
Trong rừng, Diên Đức nghe tiếng pháo liền khiển quân châm ngòi hỏa, cháy rực trời, quân giữ kho lương đều bỏ chạy Diên Đức thừa thế đến đốt cháy hết kho lương rồi dẫn binh qua sông đánh giết quân Liêu vô số.
Bấy giờ, Gia Luật Cao thấy phía trại lương có lửa, nên lùi lại bị Lưu Đình Hàng phục binh trên mé sông Hắc Thủy đón đánh dữ dội.
Còn Gia Luật Sa vừa đem binh tới bị Diên Chiêu và Lưu Đình Hàng đánh úp, quân sĩ nước Liêu bỏ gươm chạy trốn tơi bời.
Tướng Tống chận giết, thây nằm chật đất.
Diên Đức thừa thế đánh bọc hậu phía sau thành, Gia Luật Hưu Ca thất kinh phò Tà Chuẩn lén mở cửa thành phía Bắc mà chạy. Chẳng ngờ vừa ra khỏi cửa gặp Ngạn Tấn phục binh, quân sĩ điếng hồn không biết đường nào mà trốn. Cũng may nhờ có Gia Luật Hưu Ca tả đột hữu xung, phò vẹn toàn ra khỏi trận. Còn lúc này, Dương Nghiệp kéo binh vào thành trọn vẹn.
Trời vừa sáng, thấy trong thành đã dựng cờ đại Tống, tướng sĩ kêu nhau vào ra mắt.
Dương Nghiệp nói:
- Nay ta thừa cơ tiến binh thì lấy Yên Thành không khó.
Lưu Đình Hàng cản lại, nói:
- Binh ta đã mệt mỏi lắm, và lương thảo cũng gần hết rồi, không nên khinh địch vào sâu trong đất giặc.
Dương Nghiệp nghe nói lương thảo gần hết nên đồn binh tại Ngõa Kiều Quan cho bênh sĩ nghỉ ngơi.
Lời Bàn
Trong lúc khổ cực ai cũng tiếc công lao mình, tránh né nhiệm vụ, còn đến lúc ban thưởng thì lại tranh nhau hưởng thụ.
Cha con Dương Nghiệp có công lớn được triều đình trọng thưởng, làm cho các quan đại thần xầm xì, ganh tỵ, cha con Dương Nghiệp phải từ chức lánh thân.
Ấy vậy trong cuộc sống con người, nhiều kẻ ganh tỵ về quyền lợi hơn là đem thân thân xây dựng sự nghiệp để rồi hưởng thụ.
Kẻ có lòng ganh tỵ bao giờ cũng là kẻ bất tài mà muốn thụ hưởng cao sang. Những bậc anh hùng hào kiệt thường đem thân mình giúp đời trả lại công lao ấy, bởi lẽ họ không tham hưởng thụ, họ khinh thường danh lợi mà chỉ trọng đạo nghĩa làm người.

0
Hồi Thứ Bốn Mươi Ba

Tào Bân dẫn binh lấn đất Liêu
Hưu Ca bày trận vây tướng Tống.


 Lúc này Gia Luật Hưa Ca thấy đại binh của Tống đã kéo về nước thì thường ngày tập luyện quân nhân, đặng trả hờn mối đại bại.
Hôm sau, Hưu Ca cho người qua Trung Nguyên dọ thám, về báo rằng:
- Chúa tôi vua Tống đang yến ẩm chơi bời chớ không lo việc binh tình gì hết.
Hưa Ca hay tin, lật đật về tâu với Tiêu Hậu:
- Ngu hạ tội cãi muôn thác, vì đem binh ra thất đã mấy lần, nay nhân dịp bên Trung Nguyên không phòng bị, chúa tôi đang vui háo hức lúc thanh nhàn, nên sẵn cơ hội này Bệ hạ phát thêm binh cho tôi đi một phen nữa, tôi nguyện ra hết sức bình sánh kẻo rốc binh đến kinh thành, thâu đồ thế đặng trả hờn ngày trước.
Tiêu Hậu nghe tâu lắc đầu nói:
- Tướng quân cả năm nay đem binh đều bất lợi, và lúc này Tống binh cũng mạnh mẽ bội phần, ta e có khi tướng quân chẳng đặng sự mà xảy đến.
Tiêu Hậu vừa phán, Gia Luật Sa quì xuống tâu nữa:
- Cơ hội tốt như lúc này ít có, và tháng ngày thấm thoát như thoi đưa xin bệ hạ nhân lúc Tống trào không phòng bị, dùng một cữ mà khá lấy đại công.
Tiêu Hậu thấy các quan đều muốn thì nghe theo, liền xuống chỉ cho Gia Luật Hưu Ca làm giám quân, Gia Luật Sa làm tiên phong và võ tướng từ nhị phẩm sắp xuống, đều theo dưới cờ mà nghe điều khiển.
Hưu Ca được lệnh cả mừng, trong ngày ấy từ tạ Tiêu Hậu, rồi kéo mười vạn binh ra khỏi thành, nhắm. ranh đất Trung Nguyên dẫn binh bắt đầu từ Sóc Vân mấy châu đó đánh tới.
Thám mã của Tống trào hay đặng việc đó, bay ngựa về Trường An báo tin ấy. Thái Tôn nghe báo nổi giận nói rằng:
- Đồ vô loại, khi không dám sanh sự, đem binh rối loạn biên thùy.
Liền quyết định ra lệnh thân chinh.
Tống Ký tâu:
- Nước Liêu dầu muốn xâm phạm biên cương thì cũng có tướng ngăn cản, lẽ nào Bệ hạ nhọc lòng, dấn thân vào chốn binh lửa.
Vua Thái Tôn thấy quần thần can gián, nên còn lưỡng lự.
Tề Hiền bước ra giới thiệu Tào Bân làm U Châu quảng thủ thủy thống lãnh mười muôn binh nhắm nước Đại Liêu đánh tới.
Tào bân vâng chỉ, sắp đặt đâu đó xong xuôỉ phát pháo kéo quân đi ra khỏi biên thùy hạ trại.
Lúc này Phan Nhơn Mỹ và Cao Hoài Đức đi ngã Hoàng Châu, còn Tào Bân và Hô Diên Táng đi ngã Tân Thành, hai bên đánh úp lại.
Lúc ấy là tiết xuân khí trời ấm áp, cây cỏ xanh tươi, quân sĩ Tào Bân vừa kéo tới Tân Thành thì tướng giữ ải Tân Thành là Hạ Tư hay tin bèn dẫn binh đối địch.
Tào Bân thấy tướng nước Liêu liền giục ngựa hét:
- Liêu tướng, sao chưa chịu xếp giáp đầu hàng, còn đợi ta nhọc sức hay sao?
Hạ Tư nổi giận nói:
- Ngươi tài cán gì mà dám đến đây xâm chiếm biên cương?  Ta sẽ cho ngươi biết tài cao thấp.
Tào Bân quay lại hỏi các tướng:
- Trong chư tướng có ai dám ra bắt thằng giặc Liêu đó không?
Hô Diên Táng lướt tới nói:
- Để tôi bắt nó cho.
Nói rồi xốc tới chém Hạ Tư. Hai bên đánh nhau kịch liệt hơn mấy chục hiệp; Hạ Tư đuối sức quay ngựa chạy dài. Diên Táng đuổi theo đâm chết Hạ Tư, rồi đốc quân vào lấy ải.
Quân nước Liêu vỡ loạn, kéo nhau chạy khỏi Tân Thành.
Qua ngày sau, Hô Diên Táng tấn binh đến Phi Hồ Lãnh, tướng giữ ải này hay tin, hội chư tướng bàn luận:
- Tống binh rất mạnh chỉ một trận đã chiếm Tân Thành, chúng ta biết làm thế nào mà chống cự. Chi bằng mở cửa ải, kéo cờ hàng cho khỏi bị khổ sở sinh linh.
Tướng Đại Bàng Đước, và Chiêu An Sử đồng nói:
- Nếu tướng quân làm như vậy thì tướng Tống khi dễ chúng ta thà liều chết hơn là mang nhục.
Hai tướng nói rồi về dinh sắp đặt, kéo binh ra thành lập thế trận. Binh Tống kéo đến, thì hai tướng Liêu đã giục ngựa ra cản lại hét lớn:
- Vua nước Tống quá tham lam, dám dẫn binh xâm chiếm bờ cõi nước ngoài. Chúng ta quyết không tha.
Hô Diên Táng chẳng nói lời nào, giục ngựa đánh cùng tướng Liêu.
Đại Bàng Đước đánh hơn năm chục hiệp, Diên Táng giả thua, lui binh vào giữa trận, Đại Bàng Đước không ngờ, giục ngựa đuổi theo, bị Hô Diên Táng dùng thế bắt sống trên lưng ngựa. Binh Liêu trông thấy thất kinh, bỏ gươm giáo đầu hàng.
Tào Bân đem Đại Bàng Đước bêu đầu. Trong Thành, chúa soái là Lữ Hành Đức liền mở cửa ải đầu hàng.
Tào Bân kéo binh qua khỏi Phi Hổ Lãnh, đến vây ải Linh Kỳ.
Tướng giữ ải này tên là Hồ Đạt, hay tin trước cho nên phòng bị sẵn sàng. Lúc binh Tống đến nơi, Hồ Đạt kéo binh ra chân đánh.
Hô Diên Táng cũng đốc binh giao chiến, tiếng chiêng trống dậy trời, bụi bay rợp đất.
Hai tướng đánh nhau hơn một trăm hiệp, mà chưa thấy hơn thua.
Hô Diên Táng nghĩ thầm:
- Tên tướng Liêu này thật cũng đại tài, nếu ta không dùng mưu kế thì khó thắng nổi.
Nghĩ rồi, liền quay ngựa chạy vòng xung quanh trận. Hồ Đạt cứ rượt theo, Diên Táng dùng roi kim tiên quất Hồ Đạt té xuống ngựa chết tốt.
Tào Bân trông thấy mừng rỡ, xua binh tới chém giết quân Liêu, thây nằm chật đất, rồi dẫn quân vào thành tra xét lương thảo và hạ lệnh an dân.
Tào Bân kêu Hô Diên Táng đến khen:
- Đã mấy trận rồi, tướng quân đều thâu thành đoạt ai dễ như trở bàn tay, tài ấy ta không bì kịp.
Hô Diên Táng thưa:
- Ấy là nhờ có nguyên soái tính hay, chớ tiểu tướng này có công cán bao nhiêu mà dám sánh!
Tào Bân nghe Hô Diên Táng khiêm nhường mấy điều, rất phục và khen thầm:
- Chí độ như vậy mới cao.
Tào Bân liền tả biểu sai người về cho vua Thái Tôn thấu rõ tin lành.
Chẳng bao lâu Thái Tôn tiếp đặng tin ấy, mở ra xem thấy thất kinh và nói:
- Vì cớ nào tấn binh mau dường ấy? Mới có mấy ngày mà thắng đặng ba bốn thành vậy, mới là tay hảo hớn đó!
Vua Thái Tôn khen rồi, liền tả chiếu, dạy sứ ra khiến Tào Bân đóng binh tại Linh Kỳ an nghỉ, và chừng nào cho đạo binh Phan Nhơn Mỹ đi đến nơi sẽ hiệp nhau tấn bộ nữa.
Tào Bân đặng chỉ ấy còn đương nghị, thoạt nghe có quân vào báo:
- Đạo quân của Phan Nhơn Mỹ đã đi đến!
Tào Bân nghe báo cả mừng, cho tướng sĩ ra mời vào nghị luận.
Phan Nhơn Mỹ đến nơi, vào ra mắt Tào Bân kể chuyện lấy đặng Hoàn, Sóc mấy châu, lại thâu phục đặng mãnh tướng như Triệu Ngạn Chương và Triệu Hy Viên cùng mười mấy tay hổ tướng nữa.
 Tào Bân khen một hồi rồi nói:
- Mới đây tôi tiếp đặng tin của Thánh Hoàng dặn bảo rằng: tôi phải đợi đạo binh Chiêu thảo đến đây rồi sẽ tấn nữa. Vậy thì hôm nay chúng ta nghỉ một bữa, rạng ngày kẻo binh qua Trác Châu khiêu chiến.
Nhơn Mỹ vâng lời, đóng binh an nghỉ.
Qua ngày sau, các tướng kéo rốc đại binh ra khỏi Linh Kỳ, nhắm Trác Châu thẳng tới.
Lúc này Gia Luật Hưu Ca đồn binh tại Vân Châu, có thám mã về nói:
- Đạo binh Tống nhắm đường qua Trác Châu, trong một vài ngày nữa sẽ tới.
Hưu Ca nghe báo thất kinh, lật đật lệnh dẫn hết đại binh mình đến phía Nam thành Trác Châu cách xa chục dặm hạ trại.
Ba quân vâng lệnh, nội ngày ấy kéo đi, chẳng bao lâu đến chốn. Khi đó Hưu Ca đòi Gia Luật Sa đến trại trung nói:
- Tống binh hôm nay đã sâu vào nơi huyệt địa rồi, thế đó cũng đã mỏi mệt, nên nhân sẵn cơ hội này dẫn một đạo binh vào thành trì thủ và kiên bế cho nghiêm, đợi Tống tướng bớt oai yếu thế rồi, chừng ấy sẽ dồn binh ra đánh tróc.
Gia Luật Sa vâng mạng kẻo binh đi .
Hưu Ca liền kêu Huê Thắng dạy rằng:
- Ngươi mau dẫn một muôn binh mạnh, lén đi bọc ngõ tiểu lộ qua ải Linh Kỳ, và kiếm nơi mà phục binh, đặng đón đoạt đường lương hướng của Tống, như vậy mới bớt oai thế giặc đặng.
Huê Thắng vâng mạng, lập tức dẫn binh đi.
Hưu Ca lại khiến bổn bộ binh mình canh giữ dinh trại cho chắc chắn, ban ngày thì dẫn nhau ra trước tập luyện cho tinh nhuệ oai phong, và muốn khoe mình cho Tống binh khiếp sợ. Còn ban đêm, cứ việc dẫn tốp thì năm trăm, tốp thì ba trăm quân mạng, đến tại dinh Tống cướp phá cầm chừng làm cho yếu oai Tống tướng.
Hưu Ca phòng bị sẵn sàng còn chiến tướng cứ chiếu theo mà làm.
Lúc này Tào Bân hết sức tức giận, ra đốc lực các tướng mình áp vào dưới thành đặng địch chiến. Liêu binh cứ việc ở trong thành làm thinh là kiên bế giữ gìn nghiêm nhặt, cùng lăn cây đá xuống thường thường chẳng dứt.
Tống binh lúc này không làm gì nổi, và xem thấy sự tinh nhuệ của Liêu binh có oai thế, thì chẳng dám khinh mà áp tới.
Bên Tống túng quá, thét phải đóng binh lại hơn mười ngày mà ngó vây. Lúc này trong quân lương thảo không đủ dùng. Tào Bân đã quýnh tới không hiểu tại sao mà bặt đường lương như vậy?
Trong lúc Tào Bân đang ló lắng, bỗng có một thám mã bay ngựa về báo:
Đã mấy ngày rày đường lương thảo đều bị Liêu tặc chúng nó đón đoạt thâu, nên tôi phải mau về báo tin cho chúa soái!
Lời bàn
Nếu ở phương diện quốc gia, người ta lấy uy quyền khống chế thiên hạ, thì ở phương diện cá nhân người ta lấy uy danh cá nhân phô trương uy tín của mình.
 Nước Tống sau khi củng cố thế lực trong nước, lại đem binh chinh phục Liêu bang, với mục đích là bắt các liên bang tùng phục mình, bắt các nước tùng phục không phải về quyền lợi mà chỉ vì danh vị.
Bản chất háo danh là ý thức khoe khoang của con người, nhưng nếu khoe khoang một cách lố bịch thì làm trò cười cho thiên hạ, lời tục có nói: "Hữu xạ tự nhiên hương, hà tất đương phong lập” . Hễ có mùi thơm thì tự nhiên tỏa khắp nơi, can gì phải nhờ đến làn gió thổi.


0
Hồi Thứ Bốn Mươi Bốn

Sa cơ Cao Hoài Đức từ trần
Tiến cử Dương Diên Bình hộ giá


Tào Bân hay tin thám mã về báo quân Liêu đã đoạt hết lương thảo thì thất kinh, mồ hôi toát ra như tắm. Liền nói với Phan Nhơn Mỹ:
- Tướng giặc mấy ngày nay đón đường cướp lương thảo, nay trong quân không còn bao nhiêu lương thực, vậy phải mau mau lui binh về Hùng Châu đồn trú đỡ, kẻo quân giặc biết được tình trạng này, đem binh đến bọc hậu thì binh ta khó bề chống nổi. Phan Nhơn Mỹ khen phải, liền thôi thúc ba quân rút binh về Hùng Châu.
Cuộc rút quân vô sự nên Tào Bân mới an tâm, viết sớ sai sứ về triều vận lương.
Vua Thái Tôn tiếp được tin, nổi giận nói:
- Quân ta đang tấn công ào ạt như vậy, sao lại lùi về Hùng Châu mà đợi lương, thật là làm nhẹ oai tướng nước Tống.
Nói rồi hẹn thảo chiếu, ra lệnh cho Tào Bân:
- Không nên thối binh nữa. Phải sắp xếp kế hoạch tấn binh qua Bạch Câu mà bình định Phiên quốc.
Tào Bân tiếp được chiếu vua, liền hội chư tướng nói:
- Lệnh vua đã truyền như vậy, bọn ta phải liệu thế nào?
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Thế giặc còn đang thạnh lắm, còn đường sá thì chúng ta không thuộc, rủi gặp sự bất trắc thì liệu làm sao? Chi bằng ở lại Hùng Châu thêm một ít ngày rồi sẽ tính.
Cao Hoài Đức nói:
- Chiếu vua như vậy mà cứ đóng binh thì sao yên, chi bằng thuận theo lời chúa tấn công cho khỏi bị ngờ vực.
Tào Bạn lúc này cũng bối rối, nên nhất định thâu lương thảo chở theo, Tống binh tới Các Châu một lần nữa.
Gia Luật Ca hay tin ấy, liền viết thơ sai quân đem vào thành nói cho Gia Luật Sa biết:
- Nên thừa lúc sơ hở cùng tướng Tống, hôm nay xuất đại binh ra, chắc binh Tống rối loạn, phải rút binh. Làm như vậy ắt trọn thắng.
Gia Luật Sa y lời, sắp đặt đội ngũ đâu đó tề chỉnh, đợi binh Tống đến quyết chiến.
Còn Gia Luật Hưu Ca sai Gia Luật Nạp dẫn một đạo binh đến Sào Lâm mai phục.
Sắp đặt xong, Hưu ca, và Hề Để kéo binh thẳng đến Kỳ Câu Quan khiêu chiến.
Hôm ấy, binh Tống đã đi một ngày đêm, ngựa không nước uống, người đã mỏi mệt, thấy giặc oai nghi thì trong lòng rung động. Cao Hoài Đức thấy lòng quân không định, vội ra ngựa đi trước Liêu quân, cố làm cho quân nước Liêu mất khí thế.
Gia Luật Hề Để nổi giận xốc ngựa tới đánh với Cao Hoài Đức dụ Cao Hoài Đức vào trận. Lúc ấy Gia Luật Hưu Ca làm ra vẻ yếu thế dụ tướng Tống vào đến quân khẩu, thì Gia Luật Nạp phục binh nổi dậy chọn đường vây binh Tống vào giữa.
Còn Gia Luật Sa được tin xua binh trong thành ra một lượt áp đến bắn tên ào ào, tiếng quân la ó vang trời dậy đất.
Tào Bân thấy binh sĩ rối loạn, liền quay ngựa chạy dài, nhưng chạy chưa được bao xa thì con ngựa quỵ xuống.
Tao Bân đang lúng túng thì có Hô Diên Táng phi ngựa đến nói:
- Chủ tướng theo tôi mà thoát thân.
Nói xong, Hô Diên Táng liền bảo hộ Tào Bân ra khỏi trùng vây.
Lúc này Phan Nhơn Mỹ đầu cổ tơi bời, mình mẩy không còn manh giáp, bỗng thấy Hô Diên Táng vừa cứu Tào Bân ra khỏi trùng vây, cũng muốn theo Hô Diên Táng thoát ra, nhưng binh Liêu vào đến, không còn lối thoát.
Cao Hoài Đức lúc ấy cũng bị vây nơi giữa trận, chống cự với Gia Luật Nạp hơn mấy chục hiệp, thì bị Gia Luật Sa dẫn quân ào tới giết Cao Hoài Lương tại trận.
Cao Hoài Đức hay tin lật đật đem binh tới giải cứu cho em mình, nhưng thân thể đã bị mấy mũi tên, máu nhuộm ướt giáp.
Đã vậy quân Liêu càng lúc càng đông, Hoài Đức ráng hết sức bình sanh cũng không thoát ra khỏi được.
Cao Hoài Đức bèn rút gươm tự vẫn vì bị nhục nhã, hư danh của một tướng Tống Quốc.
Cao Hoài Đức tử trận, có quân báo cho Tào Bân hay. Tào Bân lật đật ra lệnh lui quân, chạy qua mé sông, theo đường tắt ở chân núi trở về Tân Thành kiểm điểm lại thấy quân sĩ hao quá nửa, vội viết sớ sai người về triều báo lại cho vua Thái Tôn hay.
Vua Thái Tôn được tin thì toát mồ hôi, than:
- Ấy cũng vì ta nóng lòng một chút mà làm hại binh tướng mấy chục muôn.
Bá Quan thấy vậy khuyên giải. Vua Thái Tôn liền hạ chiếu đòi Tào Bân về, và giao cho phó tướng là Mê Tín ở lại cầm binh coi giữ Tân Thành.
Tào Bân được lệnh dẫn hết tướng sĩ về triều phục tội.
Vua Thái Tôn thấy vậy an ủi:
- Bởi vì trẫm không rõ địa thế, nên đốc thúc tiến binh, không phải tội các khanh đâu.
Tào Bân thấy vua tha tội, liền lạy tạ lui ra. Kế đó vua Thái Tôn giáng chỉ sai Hô Diên Táng dẫn một đạo quân ra coi làm hai cái đồn nơi Định Châu và Trùng Tấn, rồi đồn binh trấn thủ, không cho quân nước Liêu xâm lấn.
Bấy giờ Tào Bân trở về dinh buồn bực nghĩ thầm:
- Ta có trách nhiệm điều binh khiển tướng, lại để cho sinh linh chết đến mấy mươi muôn, thật không còn đáng mặt làm người.
Nghĩ như vậy, Tào bân vội viết sớ xin từ chức.
 Vua Thái Tôn cực chẳng đã cũng phải nhận lời, sai người trấn nhận tại Phòng Châu để an dưỡng.
Lúc này vua Thái Tôn mới nhớ đến công lao Cao Hoài Đức, nên đòi hai người con là Cao Lân và Cao Phụng đến phong làm chức Đoàn luyện sứ Đại châu.
Bấy giờ Gia Luật Hưu Ca, khi được trọn thẳng về thành, liền viết biểu về kinh, xin với Tiêu Thái Hậu, cử đại binh thừa cơ diệt Tống.
Tiêu Hậu lật đật sai người trở lại Trác Châu ngăn lại, nói:
- Binh ta mới thắng trận, người mỏi ngựa mệt, chỉ nên dưỡng sức mà giữ nguyên ải.
Gia Luật Hưu Ca tuân lệnh, đóng binh tại Trác Châu, không hành động gì nữa.
Vua Thái Tôn hay tin nước Liêu đang dưỡng binh nên cũng bớt lo. Nhưng có Bát Vương tâu:
- Binh Liêu lúc này rất mạnh, xin Bệ hạ truyền các tướng lập thêm đồn ải biên giới, để đề phòng chúng nó xâm lấn.
Vua Thái Tôn khen phải, hạ lệnh cho các đồn trấn ở biên cương lúc nào cũng phải đề phòng cẩn thận.
Một hôm vua Thái Tôn nhớ đến lời di chúc của Tiên đế, bèn hỏi quần thần:
- Anh trẫm ngày trước có lời dặn: phải làm sao thu được Ngũ Đài Sơn, vì đây là vùng đất quan trọng.
Quần thần nghe vua nói liền tâu:
- Tuy Tiên đế có lời dặn xong vừa rồi nước ta với nước Liêu đã đánh nhau hơn trăm trận, hao binh tổn tướng rất nhiều nếu bây giờ Bệ hạ cử binh đi nữa, thì rất bất tiện. Vả lại, Ngũ Đài Sơn là biên giới của nước Liêu, có Gia Luật Hưu Ca trấn giữ nếu Bệ hạ đến đó, chúng đem binh vây phủ, thì chúng ta biết tình thế nào mà thoát được.
Vua Thái Tôn nghe tâu, chưa biết tính sao thì Phan Nhơn Mỹ xin có ý kiến:
- Tôi xin tiến cử một người theo bảo hộ Bệ hạ đến Ngũ Đài Sơn thì chắc không có việc gì đáng lo.
Vua Thái Tôn hỏi:
- Khanh định tiến cử ai?
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Người này là con lớn của Dương Nghiệp, tên là Dương Diên Bình, văn võ toàn tài, lược thao đầy đủ, xin dùng người ấy hộ giá thì mọi việc khỏi lo.
Vua Thái Tôn mừng rỡ phong cho Diên Bình làm hộ giá Đại Tướng Quân, truyền chỉ theo hộ tống.
Hôm sau, Diên Bình được lệnh dẫn hai muôn binh ra khỏi thành, hộ giá vua Thái Tôn nhắm Ngũ Đài Sơn tấn phát.
Lời Bàn
Lòng tham con người không bao giờ đủ, nếu không biết tự mình hạn chế cái đủ trong lẽ sống.
Vua Tống Thái Tôn đi chinh phục khắp nơi để thị uy trong thiên hạ, nước nào không tùng phục thì oán cừu.
Như vậy, là một kẻ vừa háo danh vừa tham quyền, làm khổ cho binh tướng. Trong lúc đánh với nước Liêu vừa bại trận thế mà chỉ buồn rầu trong chốc lát rồi lại muốn đoạt Ngũ Đài Sơn là một vùng đất biên giới của nước Liêu.
Tham vọng con người đặt trên xương máu của kẻ khác để hưởng thụ, thì thật là việc làm thiếu nhân đạo.
Người đời phải biết đến cái đủ, là cái so với kẻ khác mình không thua kém. Còn cứ nghĩ về quyền lực của mình thì chẳng bao giờ đủ.

0
Hồi Thứ Bốn Mươi Lăm

Thái Tôn ra viếng Ngũ Đài Sơn.
Diên Bình liều thác U Châu Địa.

Vua Thái Tôn rời Biện Kinh, đi chẳng bao lâu đã đến Ngũ Đài Sơn vào một ngôi chùa, kêu Quan Hữu Tư đem lễ vật bày trước bàn phật niệm hương giải nguyện.
Công việc vừa xong, vua Thái Tôn đích thân giộng chuông đánh trống, đốt nhang quì khấn vái:
- Nay tôi đến đây là vì lời dặn của Tiên Đế ngày trước, xin cầu đức phật ban ơn cho hưởng phước Thái Bình, muôn dân lạc nghiệp.
Vua Thái Tôn khấn vái xong, đến nghỉ tại cung Huê Nguyên. Có các quan hầu hạ.
Vua Thái Tôn nói:
- Trẫm bấy lâu mắc lo việc triều chính, nay sẵn dịp này muốn đi ngoạn cảnh rồi sẽ về triều cũng chẳng muộn.
Các quan nghe vua phán như vậy không ai dám ngăn cản.
Hôm sau, Vua Thái Tôn đi dạo chơi, đến một đỉnh núi rất xinh đẹp nối liền U Châu, hỏi ra mới biết đây là hòn Kỳ Lân chung quanh bao bọc nhiều núi nhỏ, hình tượng sắc sảo như tranh vẽ. Vua Thái Tôn rất ngợi khen, dẫn các quan lần lượt đi xem bốn phía.
Thoạt nhiên, đến một khoảng trống, vua Thái Tôn xem thấy có một hòn núi nhỏ, chính giữa lại có thành trì, phong cảnh rất xinh đẹp, liền hỏi các quan:
- Đây là đâu mà phong cảnh tốt tươi như vậy?
Phan Nhơn Mỹ tâu:
- Đó là U Châu thành, xưa nay đóng đô tại đó.
Vua Thái Tôn rất vui vẻ, nói với các quan:
- Ý trẫm muốn cùng các quan đến đó du ngoạn, cũng để biết cảnh đẹp của nước ngoài.
Bát Vương nghe vua phán thất kinh, bước ra tâu:
- U Châu là thủ đô của Tiêu Hậu, mà Bệ hạ muốn tới đó thì chẳng khác nào chim bay vào lưới rập. Xin Bệ hạ mau dời gót trở về, để tránh điều lo lắng.
Vua Thái Tôn nói:
- Ngày trước vua Đường Thái Tôn cũng đi bình định Liêu Đông, thường hay ra chiến trận, còn ta đây thiên binh vận mã, lo gì Tiêu Hậu, thôi các khanh sắp sửa theo trẫm đến đó mà du ngoạn.
Bát Vương thấy lệnh vua đã quyết, nên không dám cản ngăn, đồng dẫn nhau trở lại chùa.
Sáng hôm sau, xa giá rời khỏi Ngũ Đài Sơn đi về phía U Châu nhưng vừa tới phần Dương Địa bỗng thấy binh mã kéo đến rần rần giây phút đã có quân trở về báo:
- Có binh Phiên cản đường.
Vua Thái Tôn hỏi:
- Ai dám cản đường trẫm vậy?
Hỏi vừa dứt tiếng thì có quan bảo giá Dương Diên Bình giục ngựa vung thương phóng tới trước, gặp đại tướng của nước Liêu đông, tay cầm đại đao, cỡi ngựa xích thố tên là Gia Luật Kỳ.
Tướng ấy hét to:
- Tống tướng ! Mau trở về thì ta dung thứ, bằng đến đây xâm phạm cõi bờ thì chết uổng mạng.
Dương Diên Bình vung thương, lướt ngựa tới đánh.
Gia Luật Kỳ đánh được vài mươi hiệp bị Dương Diên Bình đâm một thương, liền quất ngựa chạy về.
Diên Bình cũng trở lại báo cho vua Thái Tôn biết.
Gia Luật Kỳ bị thua, chạy về tâu với Tiêu Thái hậu rõ sự tình.
Tiêu Thái Hậu nổi giận hỏi quần thần:
- Các khanh có biết tại sao quân Tống đến đó làm chi.
Già Luật Kỳ tâu:
- Cách mấy bữa trước, tôi có nghe quân báo rằng vua Tống tới Ngũ Đài Sơn vào chùa cầu nguyện, nhân tiện dường đến đây du ngoạn, chớ không có việc chi lạ.
Tiêu Hậu nghe nói mới hết sợ, liền phán các quan hỏi:
- Lúc trước có người xin ra binh phạt Tống, nay sẵn cơ hội này sao không ai dám xuất trình?
Tiêu Hậu vừa dứt tiếng, có Thiên Khánh Vương và Gia Luật Thượng đồng quì tâu:
- Hai tôi xin ra trận bắt Tống chúa đem về nạp cho Bệ hạ.
Tiêu Hậu y lời, nói:
- Hai khanh đi ta e bất tiện, vậy phải lựa một tướng nữa theo giúp mới được.
Lúc đó có Mã Yên là Hàng Diên Thọ ra xin Tiêu Hậu cấp quân trợ chiến.
Ba tướng sắp đặt đâu đó xoạc xuôi, dẫn binh ra vây thành Phần Dương, dinh trại đóng liền như bao lưới, binh khí sáng ngời chẳng khác một trời sao.
Tống Thái Tôn hay tin ấy tiền sai Dương Diên Bình đem quân đối địch.
Dương Diên Bình tâu:
- Binh Liêu rất mạnh mẽ, lại chuẩn bị trước lập bày trận thế, nếu ra đánh bây giờ không thể thắng được, xin Bệ hạ chậm vài ngày, để tìm cách giải phá trùng vây.
Qua ngày sau, Gia Luật thượng đốc sức binh Liêu kéo đem đánh phá binh Tống, làm cho binh Tống kinh hãi. Vua thái Tôn đứng ngồi không yên, dẫn các quan lên địch lầu xem thế trận.
Thái Tôn thấy binh Liêu vây phủ bốn phía dài hơn mấy dặm, thất kinh hỏi các tướng:
- Binh Liêu vây phủ như vậy, ta làm thế nào thoát thân cho đặng?
Phan Nhơn Mỹ tâu:
- Xin Bệ hạ chớ lo, tôi có một kế hoạch giải vây không khó, gần đây có Dương Nghiệp đồn binh tại Đại Châu, cách đây không xa lắm, nếu lựa một người cho giỏi, thoát ra hỏi trùng vây. đến cầu Dương Nghiệp cứu giá, ắt Dương Nghiệp giải cứu không khó.
Vua Thái tôn khen phải, liền hỏi các tướng:
- Có ai dám qua Đại Châu cầu cứu chăng?
Dương Diên Bình bước ra tâu:
- Ngu thần xin liều mình đền ơn Bệ hạ.
Vua Thái Tôn liền giao tờ cứu chỉ cho Diên Bình, rồi khiến mở cửa phía Đông thành, cho Dương Bình thoát ra cần cứu.
 Khi Dương Diên Bình vừa ra khỏi điếu kiều thì gặp tướng Liêu là Lưu Quân Bật cản lại. Diên Bình ráng sức đánh nhau một trận giết được Quân Bật, làm cho quân Liêu tan rã, rồi thừa thế thoát thân.
Suốt đêm hôm ấy, Diên Bình đến Đại Châu, ra mắt thân phụ thưa rằng:
- Có chiếu của Bệ hạ sai con về đây xin phụ thân cử đại binh đến Phần Dương giải vây cho thánh giá .
Dương Nghiệp đắc ý. Hai cha con hiệp lực dẫn binh ra đi.
Chẳng bao lâu, binh của Dương Nghiệp đã kẻo đến nơi. Quân thám thính chạy về báo cho Thiên Khánh Vương hay.
Khánh Vương hội chư tướng nói:
- Nay cha con Dương Nghiệp đem binh đến cứu giá, thế nào chúng ta cũng phải liều sống thác một trận, trước hết, ta phải giả thua làm cho cha con nó tự đắc, để cho chúng nó nhập thành rồi sau sẽ vây lại nữa, thì mới trừ được chúng.
Chư tướng khen phải, hạ lệnh truyền binh mã lui ra hai chục dặm.
Binh Tống thám thính về báo cho Dương Nghiệp hay, Dương Nghiệp nghĩ thầm:
- Binh Liêu chưa đánh mà lui, chắc là có mưu kế chi đây.
Ta cứ kéo binh vào thành rồi sẽ liệu cách.
Nghĩ như vậy, Dương Nghiệp truyền lệnh vào thành triều kiến.
Vua Thái Tôn nói:
- Nếu không có khanh đến cứu viện thì làm sao quân giặc lui được. Uy danh của khanh đã làm cho quân giặc khiếp vía.
Dương Nghiệp nói:
- Người Phiên tánh tình khó lường, xin Bệ hạ sửa soạn xa giá trở về cung, không nấn ná ở đây nữa.
Vua Thái Tôn nói :
- Ngày mai trẫm sẽ thượng lộ! :
Vua Thái Tôn vừa nói dứt lời, bỗng có quân. vào báo:
- Binh Liêu lại kẻo đến đây vây như cũ.
Thái Tôn nghe báo thất kinh, nói với Dương Nghiệp:
Lời khanh nói thật rất đúng. Bây giờ phải làm thế nào để lui được quân Liêu.
Dương Nghiệp tâu:
- Xin Bệ hạ lui vào trướng nghỉ an, để cha con tôi tính kế.
Dương Nghiệp nói rồi từ tạ lui ra, cùng các con lên dịch lầu xem thấy binh Liêu bốn phía đông nghịt, gươm đao lởm chỏm.
Dương Nghiệp lắc đầu, than:
- Tuy trận này không khó phá, nhưng vì mắc bảo hộ thánh hoàng và văn võ, biết làm sao cho tròn vẹn?
Dương Diên Bình thưa:
- Nếu phụ thân đã hết kế thì các con biết liệu làm sao?
Dương Nghiệp nói:
- Kế sách tuy có, nhưng phải có người tận trung.
Dương Nghiệp Bình thưa:
- Xưa nay phụ thân đã dạy lấy cái chết mà đền ơn nước.
Nay chúa thượng gặp nguy biến, thì thần tử đâu dám tiếc thân.
Dương Nghiệp nói:
- Nếu con chịu làm theo kế cha dạy thì bảo hộ thánh chúa mới được. Vậy để cha vào tâu với chúa thượng rồi con lãnh chỉ mà thi hành.
Kế đó, cha con kẻo nhau xuống dịch lầu, vào thẳng ngự điện tâu với vua Thái Tôn:
- Quân địch vây rất đông, nếu muốn phá giặc thì phải dùng kế Kỹ Tín cứu Hán Cao Tổ ngày trước. Bây giờ chẳng phải dùng kế trá hàng cho Phiên tướng ở Tây Môn rồi các quan bảo hộ thánh hoàng ra cửa Đông môn thì mới tiện.
Thái Tôn nói:
- Kế ấy rất hay ! Nhưng có ai chịu làm Kỹ Tín không?
 Dương Nghiệp tâu:
- Xin Bệ hạ chớ lo việc ấy, con lớn tôi là Diên Bình chịu ãnh mạng đi làm việc đó. Bây giờ xin Bệ hạ làm hàng biểu, khiến người trao cho tướng Liêu, rồi sẽ theo kế ấy mà làm thì vô sự.
Vua Thái Tôn buồn bã nói:
- Trẫm nghĩ cha con khanh từ trước đến nay chưa được trọng đãi mà nay khanh lại lấy thân đem ra bảo vệ trẫm thì thật là ơn đức không lấy gì đền.
Diên Bình thấy vua lưỡng lự, liền tâu:
- Ngu thần tuy bất tài, nhưng nguyện thi hành kế ấy, xin Bệ hạ sắp đặt mà dời chân cho kịp kẻo trễ nải mang khốn. Còn việc làm của cha con hạ thần thì chỉ là đạo thần tử đâu dám tiếc thân.
Dương Diên Bình vừa nói dứt lời, thì đã có quân vào báo:
- Binh Liêu đã phá được ngoài thành, làm sập một tấm vách, chúng nó đang thả bè kéo quân vào công phá nữa.
Diên Bình lật đật tâu:
- Xin thánh thượng mau cởi ngự bào giao lại cho tôi, đặng tôi cùng mấy anh em là Diên Chiêu, Diên Tự bào giá Bệ hạ ra cửa phía Đông lánh nạn. Còn ngu thần với bốn đứa em khác là Diên Định, Diên Huy, Diên Lăng và Diên Đức ở lại đây, rồi đồng ra cửa phía Tây làm theo kế. Nếu lúc này mà thánh thượng không quyết thì chẳng khỏi bị chết trong thành này.
Vua Thái Tôn thấy cha con họ Dương hết lòng đền nợ nước thì không nỡ, bất đắc dĩ phải cởi ngự bào trao cho Diên Bình.
Dương Diên Bình tìm một người miệng lưỡi, đem hàng biểu đến dinh phiên.
Tướng Liêu là Thiên Khánh Vương nhận được hàng biểu liền nói với các tướng:
- Nay vua Thái Tôn dâng hàng biểu là đã bị chúng ta vây khốn, không còn cách nào thoát ra.
Hàng Diên Thọ nói:
- Tống chúa này bị vây nên tính việc hàng. Vậy ta cũng nên rộng lòng tha cho về, đừng sát hại chi cho gây của oán về sau.
Ngày hôm sau, cửa thành phía Tây thấy binh Tống treo cờ hàng. Tướng Phiên thấy vậy không công thành nữa, chỉ đợi vua Tống đến giao hòa. Chẳng ngờ lúc ấy vua Thái Tôn cùng văn võ kẻo nhau ra cửa Đông đi mất hết.
Còn Dương Diên Bình lúc đó ngoài nơi cửa Tây cắm cờ quỳnh kỳ, ngồi trên kiệu trước sau phủ kín, lần lần đi đến.
Thiên Khánh Vương ngỡ thiệt, dẫn các tướng ra đón tiếp:
- Nếu phải Tống chúa tình nguyện ra đầu hàng, thì xuống long xa cho chúng ta xem mặt.
Diên Bình nghe nói liền khiến tả hữu vén mành lên, khi trông thấy tướng Liêu là Thiên Khánh Vương ngồi trên lưng ngựa,
Diên Bình nổi giận hét lớn:
- Nếu không giết đặng thằng này, làm sao rửa nhục.
Diên Bình nói rồi kẻo cung nhắm mắt nhen Khánh Vương bắn ra một mũi Khánh Vương nhào xuống ngựa chết tết.
 Dương Diên Bình xuống xe nói lớn :
Ta là con lớn của Dương Nghiệp, tên là Diên Bình đây, có tướng nào dám cùng ta đối địch.
Hàng Diên Thọ nổi giận truyền quân vây bốn phía rồi giục ngựa tới đâm Diên Bình một thương, té nhào xuống xe. Diên Định xem thấy em mình bị thương, lật đật đến cứu thì có Gia Luật Kỳ lướt ngựa tới. Hai tướng đánh nhau mười hiệp. Binh Liêu kéo tới vây phủ trùng trùng nên Diên Định bị tướng Liêu giết chết.
Còn Diên Huy thấy hai anh mình tử trận, ráng sức xông phá trùng vây, trên đường thoát thân, chẳng ngờ bị quân Liêu dùng móc ném tới kẻo nhào xuống ngựa, bị tướng Phiên giết chết.
Dương diên Lãng lúc ấy chỉ còn một mình một ngựa, tả xung hữu đột đánh với tướng Liêu hơn mấy chục hồi, sau bị Hàng Diên Thọ và Luật Kỳ áp tới bắt sống đem về dinh.
Lời Bàn
Lời nói của kẻ quyền thế, nếu không suy xét chính  đáng thì rất tai hại cho kẻ thuộc hạ.
Vua Thái Tôn vì lòng tự ái, ngồi tại triều, không hiểu gì thế trận ngoài biên ải, chỉ nói một câu mà làm cho binh tướng nước Tống phải chết hơn phân nửa trước trận với quân Liêu. Ấy vậy kẻ có quyền có chức khi nói ra một lời phải suy xét lợi hại, không để về cái quyền của mình làm cho thuộc hạ phải bị nguy khốn.
Đến lúc đi du ngoạn, cũng chỉ vì thú riêng của mình mà làm cho binh tướng phải bị nguy khốn để bảo vệ thân danh mình. Một chiến du ngoạn chỉ để vui chơi mà làm khốn khổ hàng muôn người, thì thật là điều đáng chê trách. Một minh quân không thể không hiểu rõ điều đó. Đây cũng là một tấm gương cho những ai có quyền có thế, chỉ biết mình mà không nghĩ đến cái khổ của người khác.


0
Hồi Thứ Bốn Mươi Sáu

Tống Thái Tôn giận đánh Bắc Phiên
Dương Diên Nghiệp cố phò nghiệp Tống.

 
Dương Diên Đức lúc này một mình thoát khỏi vòng vây, nhưng bị Liêu binh rượt theo. Trong cơn bối rối, Diên Đức nhớ lại lúc ở Ngũ Đài Sơn thiền sư Trí Thông có cho một cái hộp và dặn rằng:
- Lúc nào ra trận mà gặp nguy biến thì mới mở hộp ra xem.
Diên Đức nghĩ rồi liền mở hộp ra, thấy bên trong có một cái dao nhỏ. Diên Đức hiểu ý nghĩ thầm:
- Như vậy là thầy mình bảo mình phải cạo đầu xuất gia.
Lập tức, Diên Đức cởi chiến bào, vắt trên lưng ngựa, rồi dùng dao cạo đầu, bỏ chạy vào Ngũ Đài Sơn mai danh ẩn tích.
Lúc ấy binh Liêu đánh đến tối mới biết vua Tống đã trốn ra cửa phía Đông chạy mất. Bọn Hàng Diên Thọ hối hận thì đã rồi, liền thâu quân trở về tâu với Tiêu Thái hậu.
Tiêu Thái Hậu cả mừng nói:
- Hôm nay dụng binh mà thắng đặng bọn Dương gia, ắt là người Tống đều táng đởm. Vậy thôi để nghỉ binh an dưỡng sức một đôi hồi, rồi sau sẽ gia phạt nữa cũng chẳng muộn.
Tiêu Hậu nói rồi liền đòi dẫn tướng Tống là Dương Diên Lãng vào hỏi:
- Ngươi ở Tống trào lãnh chức gì bên đó?
Diên Lãng nói lớn tiếng rằng:
- Ta hôm nay đã lâm vào tay giặc, có bắt được ta thì giết đi chớ có nói nhiều lời.
Tiêu Hậu nói:
- Ta giết ngươi lúc nào không được, cần gì ngươi phải thách đố như vậy.
Tiêu Hậu nói rồi liền hạ lệnh cho võ sĩ dẫn ra ngoài hạ sát.
Diên Lãng nói:
- Kẻ đại trượng phu không ai sợ chết.
Nói rồi hẹn ngửa cổ chịu chém. Tiêu Thái Hậu thấy Diên Lãng trẻ tuổi mà đầy khí phách, đem lòng thương tiếc bèn kêu võ sĩ dừng đao, rồi nói với Tiêu Thiên Tả:
- Tên Tống tướng này thật là hào kiệt, ta muốn tha tội và gả công chúa Quỳnh Nga đặng nó ở đây giúp nước.
Tiêu Thiên Tả tâu:
- Bệ hạ tính như vậy thật là người có phúc đức, ai chẳng mang ơn.
Tiêu Hậu giao việc đó cho Thiên Tả đi dụ Diên Lãng coi thế nào.
Thiên Tả vâng mạng nói với Diên Lăng:
Diên Lăng nghĩ thầm:
- Nếu mình chẳng chịu mà lại liểu chết, thì lợi ích gì. Chi bằng thuận cùng ở lại đây đặng dòm hành động tịnh, mà lo mưu báo cừu mới là đã chí.
Diên Lãng nghĩ rồi, bèn nói:
- Nay nương nương đã có lòng khoan hồng đại đức mà tha tội cho tôi, ấy là ơn tái sanh sánh tày non biển, còn chuyện phối ngẫu, việc ấy tôi đâu dám chịu. Xin đại nhân niệm tình tâu giùm việc ấy lại chớ việc ấy tôi chẳng dám vâng .
Tiêu Thiên Tả nói:
- Chúa thượng tưởng tình đó là anh hùng hào kiệt, nên như tính đến việc này, thôi đừng có chối từ mà uổng cơ hội.
Thiên Tả nói rồi hẹn nắm tay Diên Lãng dẫn vào đền tâu các việc. Tiêu Hậu cả đẹp, liền phán:
- Vậy chớ ngươi tên họ chi. Nói cho quả nhân rõ với.
Diên Lãng khi đó nghĩ biết dòng Dương gia rất tối kỵ với Bắc Phiên, nên ngụ ý tâu:
- Tôi họ Mộc, tên là Diệt, chức là Đại trong Đoàn Luyện Sứ.
Tiêu Hậu nghe rất vui mừng, bèn dạy chọn ngày lành đặng sửa soạn y quan cho Mộc Diệt thành thân phối hiệp.
Khi vua Thái Tôn về đến kinh thành, bá quan văn võ triều hạ, vua Thái Tôn đòi Dương Nghiệp lên đền an ủi:
- Trẫm mà khỏi nạn khốn này là nhờ sức của cha con khanh. Như vậy mà chẳng nghe tin tức của Diên Bình hôm nay ra sao?
Dương Nghiệp tâu:
- Con tôi lánh nó rất cang cường, tôi chắc nó ra đến đó không thể nào mà sống đặng.
Dương Nghiệp tâu vừa dứt, kế có quân về báo rằng:
- Diên Bình ra đến trại Phiên, bắn thác hết một chúa soái của Đông Liêu, rồi đó tàn quân đều bị chết sạch.
Vua Thái Tôn nghe báo rơi lệ mà than:
- Ấy là lỗi nơi ta, cho nên lương tướng sa vào nơi tử địa.
 Dương Nghiệp liền can gián:
- Tôi luôn có một điều thề nguyện: Lấy sự thác mà trả ơn cho thánh Hoàng, nay mấy đứa con tôi đều tử nơi chiến trường binh cách như vậy là phận sự của chúng nó phải làm, xin bệ hạ chớ có thương tiếc mà hao tổn tinh thần.
Thái Tôn giây lâu sầu thảm mới nguôi, rồi lại vỗ về an ủi Dương Nghiệp.
Sáng hôm sau, Vừa Thái Tôn hội các quan đại thần đến đặng nghị luận trả ơn cho các cha con họ Dương:
Phan Nhơn Mỹ tâu:
- Như công lao của Dương gia ngày nay dường ấy, xin bệ hạ nên phong soái thần, đặng hiển vang tài năng đó mới đáng. Và biên thùy lúc này đang ly loạn, xin sai người ra coi trấn thủ nơi ấy mới an.
Vua Thái Tôn nhận lời các quan bảo tấu, liền phong cho Dương Nghiệp làm chức Hùng Châu phòng ngự sử. Dương Nghiệp lãnh sắc từ tạ lui ra. Vua Thái Tôn đưa ra khỏi đền và dặn với Dương Nghiệp:
- Khanh đi xa trẫm, trẫm rất buồn. Nhưng việc ấy là phận sự của khanh, xin đi vì trẫm mà phòng bị việc ngoài biên cho cẩn thận, chừng nào có chiếu trẫm ra triệu sẽ về.
Dương Nghiệp vâng mạng, cúi đầu từ tạ trở về vô nịnh phủ dặn dò hai người con gái là Bát Nương và Cửu Muội, bảo hãy cố gắng lòng phục thị mẫu từ.
Dương Nghiệp dặn bảo trước sau sắp đặt rồi cùng với mấy người con trai dẫn binh ra trại Hùng Châu thủ trấn.
Gia Luật Hưu Ca khi nghe tin có binh Dương Nghiệp kẻo ra trấn giữ tại Phần Dương, bèn viết sớ khiến người về tâu với Tiêu Thái Hậu, xin nhân lúc này tấn binh tới lấy Trung Nguyên.
Tiêu Hậu tiếp đặng tin ấy bèn hội quần thần đến nghị việc tấn binh. Khi đó có Hữu thừa tướng là Tiêu Thái Lại tâu:
- Tôi tuy bất tài, xin nguyện đem binh đi đánh một chuyến.
Tiêu Thái Hậu nhận lời và dặn:
- Nếu khanh chịu lãnh phận sự này mà kẻo binh phạt Tống thì trước phải đòi ba tỉnh sau đây: Kiến Minh Trị, Ẩm Mã Tỉnh và Trung Nguyên Tuần. Nếu Tống chịu giao ba tỉnh ấy cho ta đồn binh, thì tạm lui nhơn mã mình lại, bằng có cưỡng cầu, chừng đó sẽ tấn binh tới đánh. Như vậy ra đánh chớ chẳng phải là vô cớ.
Thái Lại vâng mạng từ giã, trong ngày ấy cùng đại tướng Gia Luật Tà Chuẩn và Hàng Diên Thọ kéo năm muôn hùng binh đi ngã Qua Châu thẳng tới.
Binh Liêu kéo đến Hồ Yên Nguyên hạ trại. Quân giữ ải địa đầu hay tin ấy liền phóng ngựa về tâu với vua Thái Tôn.
Vua Thái Tôn nổi giận nói:
- Đồ quân mọi rợ, dám lớn gan xâm phạm bờ cõi Đại Tống.
Phen này trẫm phải thân chinh đặng rửa hờn ngày nọ.
Khấu Chuẩn nghe vua nói liền can:
- Bệ hạ chớ nên xông pha vào chốn đao binh, chỉ cần sai tướng đem quân ngăn chặn cũng đủ.
Vua Thái Tôn hỏi:
- Có ai dám vì trẫm mà trừ bọn man di chăng? .
Khấu Chuẩn tâu:
- Xin bệ hạ khiến Thái Sư Phan Nhơn Mỹ đi thì xong, vì người ấy rất thạo công việc ở biên ải.
Thái Tôn nhận lời hạ chỉ cho Phan Nhơn Mỹ làm Chiêu thảo  sứ ra ngăn đón binh Liêu.
Phan Nhơn Mỹ cực chẳng đã tuân lệnh lãnh chỉ trở về dinh, lòng buồn chẳng nói. Con là Phan Chương xem thấy hỏi:
- Hôm nay phụ thân đi chầu về sao có vẻ không vui?
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Hôm nay chúa thượng sai ta đi dẹp loạn biên đình mà không có người tiền đạo lãnh chức tiên phong, cho nên cha còn đang lo tìm người tiến cử.
Phân Chương thưa:
- Cha con Dương Nghiệp ở Hùng Châu, không lãnh trọng trách chi, xin cha dùng cha con người ấy ắt sẽ được việc.
Phan Nhơn Mỹ nghe con nói hợp lý, liền vào triều tâu xin vua triệu thỉnh cha con Dương Nghiệp ra giúp sức.
Vua Thái Tôn y tấu, liền sai sứ qua Hùng Châu thỉnh cha con Dương Nghiệp.
Dương Nghiệp tiếp được chỉ, kẻo binh về triều bái. Vua Thái Tôn liền phong cho Dương Nghiệp làm chức Đô Thống Tiên Phương.
Dương Nghiệp tạ ơn, trở về phủ thấy Dương Lệnh bà và Sài Thái Quận đang ngồi nói chuyện. Dương lệnh bà thấy chồng con về rất mừng hỏi:
- Lão tướng quân nhận việc chi mà về trễ vậy?
Dương Nghiệp nói:
- Nay có Bắc Phiên dấy binh xâm lấn, nên chúa thượng cho sứ thần ra triệu ta về làm tiên phong đi dẹp giặc.
Dương Lệnh bà nói:
- Vậy ai làm chủ soái?
Dương Nghiệp nói:
- Phan Nhơn Mỹ làm chúa soái
Dương Lệnh bà không vui, nói:
- Người ấy lúc trước bị ông nhục mạ, nên âm mưu hãm hại ông mãi, nhờ có chúa thượng anh minh nên không làm gì ông đặng. Nay bốn đứa con lớn của ông đều tử trận, bây giờ còn có ba cha con, mà hiệu lệnh đều ở trong tay nó hết, e ông khó mà gìn giữ.
Dương Nghiệp nghe vợ nói có lý, nên đáp:
- Lão cũng biết việc ấy, nhưng mệnh vua làm sao từ chối.
Sài Thái quân nghe nói nổi giận thưa:
- Vậy để thiếp làm sớ, ngày mai vào triều bảo tấu, xin một đại thần theo bảo hộ lệnh công, thì Phan Nhơn Mỹ không dám âm mưu gì hết.
Dương Nghiệp nghe nói rất đẹp lòng, bày tiệc ăn uống.
Hôm sau, Dương Lệnh bà và Sài Thái quận vào triều tỏ ý với vua Thái Tôn:
- Tiện thiếp vừa nghe bệ hạ sai tướng đi đánh Bắc Phiên, mà nguyên soái Phan Nhơn Mỹ cùng Dương Tiên Phong không thuận tùng, e xảy ra sự việc không hay, xin bệ hạ thương cha con Dương lệnh công mà tính toan lại .
Vua Thái Tôn ngẫm nghĩ, rồi nói:
- Việc này nếu sai người khác thì không được, giặc Phiên rất kiêng nể uy danh của Dương lệnh công, vậy nay Thái quận có chước gì hay mà bày tỏ chăng?
Sài Thái quận tâu:
- Nếu bệ hạ đã quyết định vậy thì lựa một quan đại thần theo ở trung quân để bảo hộ cho lệnh công, mới không bị hãm hại.
Vua Thái Tôn khen phải hạ chiếu sai Hô Diên Táng làm chức bảo quân, theo Dương Nghiệp đi đánh Bắc Phiên.
Dương Nghiệp hay tin rất vui mừng, bèn giã từ trở về phủ, chuẩn bị quân sĩ trở lại Hùng Châu hiệp với binh triều mà đánh giặc.
Lời Bàn.
Lấy tư thù cá nhân mà xen vào việc lớn của đất nước thì tai hại không ít.
Phan Nhơn Mỹ có hiềm khích với Dương Nghiệp, nay Dương Nghiệp về giúp Tống thì là tôi một triều, thế mà Phan Nhơn Mỹ lấy hiềm khích cá nhân, không coi việc nước là trọng, đó là điều tai hại.
Kẻ lấy tư thù cá nhân, xen vào việc nước thì không phải là kẻ yêu nước.
Điều sáng suốt là vua Thái Tôn đã cảm nhận điều đó để cứu vãn tình thế, nên việc chinh phục Bắc Phiên mới thành công.
Đời nay, cũng nhiều kẻ vì quyền lợi riêng tư, vì thù oán cá nhân mà không xem trọng việc lớn của quốc gia, làm cho quốc gia suy yếu, chỉ vì không xem trọng dân tộc đất nước.

 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Bảy

Hô Diên Táng đánh phá binh Liêu,
Dương lệnh công được bia tự sát.


Lúc này Phan Nhơn Mỹ kéo binh ra khỏi kinh thành, đi được mấy ngày đã đến ải Huỳnh Long hạ trại, phân binh đóng ở các hiểm địa, để cho Hô Diên Táng trấn tại Đông Bích, còn mình thì đồn trú phía Tây.
Công việc hoàn thành, Nhơn Mỹ hội các tướng là: Lưu Quân Kỳ, Hạ Quốc Cựu, Trần Chiêu Khánh và Mễ Liên Giáo đến nghị luận.
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Ta căm hờn bọn cha con Dương Nghiệp bấy lâu mà trả thù chưa được, nay may có cơ hội này ta tính lúc ra binh tìm cách sát hại chúng nó. Nhưng có Hô Diên Táng làm chức Bảo Quân thiệt khó bề tính kế.
Mễ Liên Giáo thưa:
- Tiểu tướng có một kế, trước phải trừ Hô Diên Táng, sau mới sát hại bọn Dương Nghiệp được.
Phan Nhơn Mỹ nghe nói rất vừa lòng, liền hỏi Mễ Liên Giáo:
- Tướng quân có kế gì hay, xin nói ra cho anh em bàn luận.
Mã Liên Giáo thưa:
Nay nhân lúc binh ta mới đến, thế nào tướng Phiên cũng dẫn binh ra áp chiến. Mà lúc này Dương Nghiệp chưa có mặt nơi đây tướng quân dùng kế ấy mà giao việc binh cho Hô Diên Táng.
Ngày nay Hô Diên Táng cũng đã già yếu rồi, làm sao mà cự lại Phiên tướng. Ta cứ án binh không cứu ứng, thì Hô Diên Táng phải chết về tay tướng Phiên.
Phan Nhơn Mỹ y kế, dọn tiệc ăn uống vui chơi.
Hôm sau, quả có binh Phiên kẻo tới. Quân thám mã chạy về báo, Phan Nhơn Mỹ liền nói với Hô Diên Táng:
- Nay Phiên binh đến đánh ta, mà binh mã Dương Tiên Phuông chưa đến, vậy tướng quân cớ gì trừ được binh Liêu?
Diên Táng nói:
- Trong binh pháp có nói: hễ giặc đến thì tướng ngăn, nước tràn thì lấy đất đắp. Nay chúng ta đã vâng mệnh bệ hạ đi chinh phạt, phải tận trung báo quốc, đánh cùng Phiên bang một trận, cho chúng nó khiếp uy.
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Vậy là tướng quân ra trận trước, để tôi kẻo binh theo cứu ứng.
Hô Diên Táng không ngờ kế của Phan Nhơn Mỹ, nên lập tức đứng dậy ra khỏi dinh, dẫn binh ra trận.
Vừa đến nơi gặp tướng Phiên là Tiêu Thái Lại, cỡi ngựa cản đường. Hô Diên Táng nạt lớn:
- Đồ rợ Phiên! Mau kẻo binh trở về, đừng quen thói hống hách mà bỏ mạng.
Tiêu Thái Lại nói:
- Ngươi chớ múa miệng! Không lo thân già lại còn giám ra đây so tài với ta sao?
Thái Lại nói xong, vung đao chém tới. Hai đàng đánh với nhau hơn tám mươi hiệp vẫn không phân thắng bại.
Hô Diên Táng muốn lập đại công nên ráng sức đánh vùi làm cho tướng Phiên thua chạy. Hô Diên Táng đuổi theo đến chỗ phục binh thì bị quân Phiên áp tới phủ vây Hô Diên Táng vào giữa.
Hô Diên Táng lúc này lúng túng nên không đủ sức cho kháng cự, chỉ còn cách đánh cầm chừng chờ đợi binh sau tiếp ứng.
Bỗng nghe trong rừng thình tinh phát ra ba tiếng pháo, thấy một tướng Liêu cầm đầu kẻo ra hơn mấy ngàn binh nữa. Hô Diên Táng thất kinh, đánh giải vây mà chạy nhưng đánh hơn mấy chục hiệp vẫn không thoát ra được.
Trong lúc nguy cấp, Diên Táng nóng lòng đợi quân tiếp ứng, bỗng xa xa có một đạo binh ở phía Đông đang kéo tới tiếng quân reo inh ỏi. Đó là đạo quân của Dương Nghiệp.
 Lúc Dương Nghiệp xem thấy binh Phiên đang vây khốn, liền giục ngựa tới kêu lớn:
- Tướng Liêu chớ chạy có binh Dương Nghiệp đến đây.
Tên tướng Liêu này là bộ hạ của Thái Lại tên là Hạ Văn Long, thấy Dương Nghiệp xông ngựa tới thì vội vàng ra cản đầu binh đánh với Dương Nghiệp bị Dương Nghiệp chém một đao đứt làm hai khúc.
Ba cha con Dương Nghiệp giục ngựa xông vào trùng vây đánh phá tan hoang, cứu Diên Táng đem trở về dinh.
Hô Diên Táng về đến dinh nói với Dương Nghiệp:
- Nếu tôi không nhờ tướng quân đến cứu thì mất mạng rồi.
Dương Nghiệp nói:
- Vì tôi đến chậm nên, lão tướng nhọc nhằn, xin Tổng quản niệm tình mà miễn tội.
Hô Diên Táng bảo Dương Nghiệp đồn binh tại dinh mình, để hôm sau báo tin cho Phan Nhơn Mỹ.
Phan Nhơn Mỹ nghe tin ấy hối hận vô cùng, đòi Lưu Quân Kỳ đến bàn cbuyện.
Lưu Quân Kỳ nói:
- Dương Nghiệp lãnh chức tiên phong, mà chần chờ đến trễ xin quân sư lấy theo phép nước, bắt tội mà hạ sát để trừ một hận trước kia.
Hai người đang chuyện trò thì Dương Nghiệp vào ra mắt Phan Nhơn mỹ.
Phan Nhơn Mỹ hét:
- Quân cơ là việc trọng, sao ngươi dám trễ nải như vậy?
Dương Nghiệp đáp:
- Tôi vâng lệnh thánh thượng trở về Hùng Châu kéo binh đến hợp với binh triều, nên đến không sớm được.
Phan Nhơn Mỹ nghe Dương Nghiệp nói cứng thì nổi giận:
- Ngươi chớ cậy vua mà cãi lời ta, tội ấy ta không dung.
Nói rồi, liền truyền Tả Hữu bắt trói Dương Nghiệp đem chém.
Tả Hữu vâng lệnh áp tới bắt trói. Dương Nghiệp nạt lớn:
- Ta không phải là người sợ chết, mà chết như vậy e khi việc lớn không thành.
Dương Nghiệp nói vừa dứt tiếng, thì có Hô Diên Táng cỡi ngựa đến hét lớn, hỏi Nhơn Mỹ:
- Ngươi lãnh chức Chiêu Thảo làm chi mà ta ra giao phong ngươi lại ngồi không, chẳng chịu đem quân ra tiếp ứng. Nếu chẳng có Dương tướng quân thì mạng ta còn gì. Nay ngươi còn dám chuyên quyền đòi chém Dương tướng quân. Ngươi có thấy cây kim giảng của ta không? Nếu ngươi không nghe lời, thì cây kim giảng này sẽ không tha mạng ngươi.
Phan Nhơn Mỹ lòng như lửa đốt, ngồi làm thinh không dám chống trả .
Hô Diên Táng nói rồi dẫn Dương Nghiệp trở về dinh.
Phan Nhơn Mỹ xấu hổ với tướng sĩ của mình, trọn ngày không nói một tiếng.
Mễ Liên Giáo khuyên:
- Thái sư chớ có lo sầu, tiểu tướng có một kế nữa, có thể trừ khử Hô Diên Táng và Dương Nghiệp.
Phan Nhơn Mỹ lúc này đã bí kế, nên nghe Mễ Liên Giáo nói, liền hỏi:
- Ông có kế chi hay nói cho ta nghe thử .
Mễ Liên Giáo thưa:
- Trong quân đang thiếu lương thực, xin thái sư sai Hô Diên Táng trở về vận lương. Nếu nó đi khỏi nơi đây rồi mình kiếm chuyện để bắt tội bọn Dương Nghiệp thì còn ai mà che chở nữa.
Phan Nhơn Mỹ khen hay nên sai Hô Diên Táng trở về vận lương.
Diên Táng đang ngồi lo buồn thì Dương Nghiệp bước vào hỏi:
- Chẳng có việc chi mà Tổng Quản buồn lo như vậy?
Hô Diên Táng đem chuyện Nhơn Mỹ khiến mình đi vận lương nói lại với Dương Nghiệp. Dương Nghiệp không ngờ âm mưu của Nhơn Mỹ, nên nói:
- Lương thảo là việc quan trọng, nếu lão tướng không đi thì làm sao được.
Hô Diên Táng nói:
Không phải ta trốn tránh việc ấy, song lo vì Nhơn Mỹ là đứa lòng lang dạ thú, ý muốn hãm hại tướng quân. Nếu ta ra đi thì lấy ai bảo trợ tướng quân được.
Dương nghiệp nói:
- Đội ơn lão tướng có lòng lo lắng như vậy, nhưng lão tướng có đi cũng chẳng sao, bởi vì tôi xem thế giặc cũng đã yếu rồi, ắt không dám ra quân nữa. Dù sao Nhơn Mỹ có tính cách nào hại tôi cũng không làm được.
Hô Diên Táng cực chẳng đã phải ra đi, nên dặn Dương Nghiệp việc đi vận lương không chừng không đổi, nên không chắc ngày nào trở về. Vậy tướng quân hãy lưu trú trong dinh này mà đợi tôi về sẽ tính việc xuất quân.
Dương Nghiệp vâng lời. Diên Táng từ giã dẫn năm ngàn binh trỡ về Trường An vận lương.
Bấy giờ Phan Nhơn Mỹ hay tin Hô Diên Táng đã trở lại Biện Kinh thì rất mừng liền hợp các tướng lo việc xuất binh.
Mễ Liên Giáo bước ra thưa:
- Xin quân sư hạ chiến thơ sai người đến dinh Phiên mà định kỳ giao chiến.
Nhơn Mỹ nhận lời, hạ chiến thơ sai người đem sang dinh Tiêu Thái Lại.
Tiêu Thái Lại nhóm họp các tường, nói:
- Nếu Nhơn Mỹ ra quân chẳng có gì lo, chỉ sợ bọn Dương Nghiệp là tay hào kiệt, chúng ta khó chống lại.
Các tướng nói:
- Cách đây chừng một dặm có chỗ kêu là Trần Gia Cốc Khẩu, địa thế rất hiểm trở, nếu sai một người đến đó phục binh, rồi dụ địch đến đó mà đánh thì chắc trọn thắng.
Gia Luật Tà Chuẩn nghe nói vừa dứt, liền xin ra ứng chiến.
Thái Lại rất mừng, liền phát binh cho Tà Chuẩn đến Trần Gia Cốc Khẩu mai phục.
Ngày hôm sau Thất Lại theo kế đến dinh Tống khiêu chiến.
Phan Nhơn Mỹ bèn đòi Lưu Quân Kỳ đến hỏi:
- Vậy ngày mai ngươi định sai ai đem quân đi trước?
Quân Kỳ thưa:
- Việc ấy phải sai Dương tiên phương, còn ngài giả đò dẫn binh theo sau tiếp ứng.
Nhơn Mỹ nghe theo liền cho đòi Dương Nghiệp đến nói:
- Binh Liêu ngày mai đến khiêu chiến, tướng quân phải dẫn quân ra đánh một trận để không làm mất uy phong của chúa thượng.
Dương Nghiệp đáp:
- Ngày mai Hô Tổng quản vận lương chưa về, còn thế lực của quân giặc mạnh lắm, phải cho quân thám thính dò xét địch tình thì mới mong thắng được
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Giặc đã đến khiêu chiến, ngươi còn đợi ai? Nếu ngươi không chịu ra đánh thì ta sẽ làm sớ tâu với triều đình là ngươi muốn trở lòng làm phản.
Dương Nghiệp biết mình không có quyền gì, nên đành chịu nhục nói:
- Đạo hành quân phải có kế sách, nếu không cẩn thận e rằng quân Phiên phục binh nơi Trần Gia Cốc Khẩu thì ta rất khó mà đánh cho lại, vì nơi đó núi non rất hiểm trở. Vậy xin Chiêu Thảo dẫn một đạo binh đến đó trước mà ngăn ngừa, đặng cho tôi thủ thắng mới được.
Nhơn Mỹ nói:
- Vậy thì ngươi ra trận đi, ta sẽ sai người đến đó tiếp ứng.
Dương Nghiệp vâng lời, lui ra về dinh thu xếp binh mã, kế đó có Hạ Hoài Phổ vào thưa với Phan Nhơn Mỹ:
- Nếu Dương tiên phương đã chịu ra trận thì ngài cũng nên đem quân đến Trần Gia Cốc Khẩu mà ngăn ngừa, mới đề phòng bất trắc.
Nhơn Mỹ nói:
- Ta muốn hại nó đã lâu, song chưa có cơ hội. Nay có dịp này thì rất tốt, lại còn phải đem quân tiếp ứng làm chi.
Hoài Phổ nói:
- Như ngài muốn trả thù riêng thì thiếu gì cơ hội. Nếu để thua trận thì hư việc lớn.
Nhơn Mỹ nghe nói trái ý, bỏ vào trong nghỉ ngơi.
Hoài Phổ than:
- Đồ thất phu, muốn làm hư việc nước, ta nỡ nào ngồi ngó mà chẳng cứu người.
Nói rồi bỏ ra ngoài, đến ra mắt Dương Nghiệp nói:
- Ông ra binh lần này tôi e bất lợi, bởi vì thằng thất phu kia nó muốn hại ông, xin ông phải cẩn thận cho lắm.
Dương Nghiệp nói:
- Cám ơn ông có lòng trung nghĩa, nhưng bổn phận tôi phải chịu chứ biết làm sao. Tôi chẳng kể thân tôi vì thời thế bất lợi, nên khiến chuyện không hay, vậy phải ôm lòng mà chịu.
Hoài Phổ nói:
- Ông đã một lòng tự quyết, vậy tôi xin cùng đi với ông, may ra giúp được một đôi lời cho phỉ nguyện.
Dương Nghiệp nói :
- Nếu vậy thì rất may. Tôi cùng ông phân ra làm tả chi, hữu dựt, may ra thắng được kẻ địch.
Hôm sau ba cha con Dương Nghiệp và Hoài Phổ kéo binh ra, thấy binh Liêu kéo đến chật đường, tiếng chiêng ầm ĩ.
Gia Luật Hề Để giục ngựa tới trước trận, lớn tiếng nói:
- Tống tướng mau xuống ngựa quy hàng, bằng nghịch mạng đừng có oán trách.
Dương Nghiệp không nói, cứ việc giục ngựa tới đánh. Hề Để giao tranh mấy hiệp rồi giả thua bỏ chạy, Dương Nghiệp đuổi theo. Dương Diên Chiêu và Hoài Phổ hối thúc tướng sĩ đuổi theo tướng phiên, làm cho quân Phiên cả loạn.
Dương Nghiệp rượt theo một lúc nghĩ thầm:
- Chốn này là đất bằng, không có gì đáng sợ, chẳng lẽ chúng nó phục binh nơi đây hay sao?
Dương Nghiệp nghĩ như vậy, giục ngựa đuổi đến Trần Gia Cốc Khẩu.
Thái Lại ở trên cao trông thấy liền cho nổ ba tiếng pháo.
Gia Luật Tà Chuẩn truyền phục binh nổi dậy bao vây Dương Nghiệp, rồi dùng tên bắn xuống như mưa. Quân Tống bị chết không biết bao nhiêu mà kể.
Lúc này Dương Diên Chiêu, Dương Diên Tự, hai anh em thấy đạo binh của cha mình đã bị vây ở Cốc Khẩu, bèn liều mạng xông phá trùng vây nhưng không phá nổi.
Lúc ấy Hề Để giục ngựa qua Đông Bích, chẳng ngờ gặp Hoài Phổ đang phá trận. Hề Để xốc ngựa tới chém Hoài Phổ té nhào, hai anh em Diên Chiêu, Diên Tự lúc này cũng bị vây giữa trận, không biết làm sao cứu ứng.
Diên Chiêu nói với Diên Tự:
- Em mau tìm đường trở lại thưa với Phan Nhơn Mỹ đem thêm binh mà giải vây, còn để ta ở đây tìm đường vào Cốc Khẩu bảo hộ thân phụ.
Diên Chiêu nói rồi đánh phá vòng vây, đặng đưa Diên Tự ra, còn hình thì lên chỗ cao nhắm chừng nơi Cốc Khẩu, chỗ binh Tống bị vây mà tới.
Bấy giờ Dương Nghiệp ở trong vòng vây đánh ra, gặp Diên Chiêu kêu lớn:
- Binh Phiên đông lắm, con phải tìm đường thoát thân, kẻo bị chúng bắt.
Diên Chiêu vừa khóc vừa nói:
- Con xông pha vào đây giải cứu cho thân phụ, xin thân phụ theo con mà ra.
Tiếp đó, đạo binh của Tiêu Thái Lại từ trong núi kéo ra vây cha con Dương Nghiệp một chặng nữa làm hai cha con bị chia cắt.
Diên Chiêu quay ngựa đánh trở lại một lần nữa, thì bộ hạ đều bị quân Phiên giết hết.
Lúc này Dương Nghiệp đánh đã đuối sức, khôi giáp rách tơi bời, liền lách ngựa lên chỗ cao xem bốn phía thấy toàn là binh giặc, thì than dài:
- Lòng ta muốn lập công, vun đắp cho nước nhà, không ngờ lại bị lầm tay quân độc.
Dương Nghiệp nói rồi đưa mắt nhìn bốn phía, có ý tìm kiếm con mình, nhưng nhìn mãi không thấy, xung quanh tướng sĩ chỉ còn độ một trăm người.
Dương Nghiệp nói:
- Các ngươi mỗi đứa đều có cha mẹ vợ con mà chịu bỏ thân nơi đây thì thật là đáng tiếc, vậy các ngươi nay đổi dạng lên núi trốn đi, đặng về báo cho vua hay tự sự.
Quân sĩ đều khóc mà thưa:
- Nay đại gia vì nước mà chịu chết ở đây, chúng tôi đâu nỡ sống làm gì.
Dương Nghiệp thở dài, nói với quân sĩ:
- Ta không thể cứu các ngươi được, chỗ này là nơi ta hết lòng với chúa thượng.
Nói rồi Dương Nghiệp đập đầu vào bia đá tự vận.
Bấy giờ Dương Diên Tự khi chạy về đến Qua Châu vào ra mắt Phan Nhơn Mỹ vừa khóc vừa nói:
- Cha tôi bị Phiên binh vây khốn tại Cốc Khẩu xin ngài cho binh đến cứu, nếu không ắt chẳng khỏi chết.
Nhơn Mỹ nói:
- Cha con ngươi thuở nay xưng là vô địch, tại sao bây giờ mới ra quân lại trở về xin cầu cứu? Thôi ngươi hãy đến nói với cha ngươi là binh mã ta chỉ còn đủ giữ dinh, không có dư để sai đi cứu viện.
Dương Diên Tự nghe nói cả giận, hét lớn:
- Nay cha con ta đã ra sức giúp nước, ngươi nỡ nào đối xử ác tâm như vậy.
Nhơn Mỹ nổi giận sai tả hữu đuổi Dương Diên Tự ra khỏi dinh. Dương Diên Tự mắng:
- Ta không ngờ ngươi là đứa thất phu. Nếu ta còn sống trên đời thì không nguyện cùng ngươi đội trời chung.
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Thằng con nít sao dám cả gan mắng ta? Việc cừu hận ta không thèm nói tới, còn quyền sát phạt là ở tay ta, sao ngươi dám lớn gan như vậy?
Lời bàn.
Trách nhiệm của kẻ cầm quyền là phải rèn luyện thân mình, biết trọng đạo đức thì mới thu phục được thiên hạ.
Tống Thái Tôn là anh quân, thế mà dùng Phan Nhơn Mỹ một kẻ có quyền thế, nhưng thiếu đạo đức chỉ biết thù hận, mà không kể đến đạo nghĩa. Dương Nghiệp dù bị ác trong vòng oan nghiệt, nhưng có kẻ thương tâm, vì tình người mà giúp đỡ, vì nghĩa khí mà giúp nhau như Hô Diên Táng, Hoài Phổ chẳng hạn.
Như vậy có kẻ lương tri bao giờ cũng đồng cảm với người có thiện ý. Trong xã hội, không phải ai cũng độc ác, trong những kẻ ác độc có những kẻ từ tâm.
Điều đáng nói là muốn cầm quyền trong một tổ chức, bất kỳ là tổ chức nào, người cầm quyền phải là kẻ biết rèn luyện bản thân. tôn thờ đạo nghĩa làm người. Được như vậy thì mới thu phục được thiên hạ. Không ai thương kẻ độc ác. Không ai ghét kẻ có lòng nhân.

0
Hồi Thứ Bốn Mươi Chín

Dương Diên Chiêu đến kinh nạp văn trạng,
Vương Khâm định bày kế hại Bát Vương.


Khi Diên Chiêu đánh xong ba hồi trống kêu oan, được ngự lâm quân dẫn vào nội điện. Quan Đề hình gạn hỏi, rồi đem văn trạng đến nạp cho vua Thái Tôn.
Vua Thái Tôn xem văn trạng thấy lời văn rất thấm thiết.
Tiếp đó lại có văn biểu của Phan Nhơn Mỹ kiện cha con Dương Nghiệp, vì tham công nên mới thua binh tổn tướng.
Vua Thái Tôn xem xong nghĩ thầm:
- Một đàng thì minh oan có người hãm hại, một đàng lại đổ tội cho kẻ thừa hành, không rõ phải trái thế nào.
Lúc đó có ngự sử là Huỳnh Ngọc bước ra tâu:
- Việc biên thùy quyền phép nơi tay soái thần, kẻ không tuân lệnh thì phải trừng trị, sao còn làm văn trạng đổ tội cho kẻ khác?
Lúc ấy Bát Vương biết Huỳnh Ngọc là anh vợ của Nhơn Mỹ muốn bênh vực buộc tội Diên Chiêu, nên đứng ra tâu:
- Cha con Dương Nghiệp là người hữu công của triều đình, vì đối xử bất công nên bị chết oan. Xin Bệ hạ tra xét rõ ràng, xuống chỉ cách chức Nhơn Mỹ, giao cho viện tư pháp tra hỏi rõ ràng, rồi sẽ định đoạt.
Thái Tôn y theo lời Bát Vương tâu, truyền chỉ giao việc đó cho Triệu Đảnh tra xét.
Triệu Đảnh đòi Phan Nhơn Mỹ và Diên Chiêu đến lấy lời khai.
Gia đình Phan Nhơn Mỹ lại đem vàng bạc, lễ vật đến lo lót với Triệu Đảnh nên Triệu Đảnh có ý bênh vực Phan Nhơn Mỹ.
Bát Vương thấy vậy, sai người thân tín đi dò hỏi rồi bắt người đem lễ vật dẫn về cung hỏi rõ tự sự, rồi tâu với vua Thái Tôn mọi việc. Vua Thái Tôn thất kinh nói:
- Nếu không nhờ có khanh lo lắng thì việc này trẫm bị lầm rồi. Bây giờ khanh liệu định nên xử tội Triệu Đánh như thế nào?
Bát Vương tuy lánh nóng nảy, lòng không ác ý nên tâu với vua:
- Triệu Đảnh ăn hối lộ, giúp lũ gian thần, xin Bệ hạ cách chức cho về làm dân.
Thái Tôn liền hạ chiếu đuổi Triệu Đảnh về làm Hương lý.
Bấy giờ Thái Tôn giáng chỉ giao việc Nhơn Mỹ cho Lý Tế tra xét.
Lý Tế truyền dẫn bọn bộ hạ của Nhơn Mỹ là Lưu Vân Kỳ, Mễ Liên Giáo tới trước đường tra vấn.
Lúc này bọn bộ hạ của Nhơn Mỹ không thể giấu được phải khai sự thật. Lý Tế cung chiêu xong dâng lên cho vua Thái Tôn xem, và giam tất cả phạm nhân vào ngục đợi lệnh vua thẩm xét.
Vua Thái Tôn khi thấy sự việc rõ ràng liền hỏi Phan Nhơn Mỹ:
- Trẫm bấy lâu tưởng ngươi là công thần của tiên đế, vận trung giúp nước, không ngờ ngày nay ngươi lộng hành phạm tội như vậy thì làm sao mà điều khiển các tướng.
Vua Thái Tôn nói xong, liền hỏi Bát Vương:
- Vậy ý định của khanh nên xừ tội như thế nào?
Bát Vương tâu:
Tội Nhơn Mỹ ngày nay đã tra hỏi minh bạch rồi, những người ấy là tôi của Tiên Đế, thì nên cách chức đuổi về làng. Còn bọn thuộc hạ phải gánh mỗi bữa năm chục roi, không cho trỡ về thành nữa.
Vua Thái Tôn y lời luận án Bát Vương, xuống chiếu giao cho Lý Tế thi hành.
Lý Tế vâng lệnh làm y như lời vua phán.
Nhơn Mỹ bị bãi chức về làm thứ dân, trong lòng oán hận và cũng muốn tìm cách hại Bát Vương, nhưng chưa có dịp.
Bấy giờ vua Thái Tôn lên ngôi đã lâu, mà chưa phong ngôi thái tử cho các con.
Thất Vương lúc này thấy công chuyện còn đang lộn xộn nên không để ý.
Một hôm Vương Khâm nói với Thất Vương:
- Chúa thượng không chọn thái tử, ắt sau này đem thiên hạ giao cho Bát Vương, nếu điện hạ không tính trước thì sau ăn năn không kịp.
Thất Vương nghe nói liền hỏi:
- Việc đó ngươi tính thế nào?
Vương Khâm thưa :
- Nếu bây giờ Bệ hạ tính cho được việc thì phải lo mưu sát hại Bát Vương mới cầm phần chắc .
Thất Vương nghe nói ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Bát Vương là người được phụ thân vương thương mến nhất, lẽ nào lại tìm kế hãm hại cho được?
Vương Khâm thưa:
- Tôi có một kế rất hay, chẳng biết điện hạ có vừa lòng chăng?
Vương Khâm nói nhỏ:
- Bây giờ điện hạ rước một người thợ bạc cho khéo, vào trong cung, bảo nó làm một cái bầu rượu đựng cho được hai thứ khác nhau. Một bên là đựng rượu độc, một bên là đựng rượu thường. Nhân lúc mùa xuân, điện hạ dọn tiệc phía sau vườn rồi mời Bát Vương đến uống rượu thưởng hoa.
Thất Vương nghe nói liền khiến quân ra phía tây thành lựa một người thợ bạc khéo léo vào cung.
Chẳng bao lâu, quân sĩ rước được một người thợ rất khéo dẫn vào. Thất Vương khiến làm một bầu oan ương bằng vàng phân biệt hai ngăn để đựng hai thứ rượu. Vương Khâm trông thấy rất vui, nói:
- Bây giờ phải giết tên thợ này trước, sau này mới khỏi lậu tiếng.
Thất Vương y lời khiến hữu tả bắt tên thợ bạc trói lại ném xuống sông.
Việc xong xuôi, Vương Khâm thưa với Thất Vương:
- Bây giờ xin điện hạ viết sớ sai quân đem đến dinh Bát Vương mời ngày mai đến dự tiệc.
Bát Vương xem thơ, không từ chối, hứa đúng giờ sẽ đến.
Sắp đặt xong, sáng hôm sau Bát Vương đi xe đến. Thất Vương ra chào đón rồi rước vào vườn hoa mở tiệc thết đãi.
Bát Vương nói:
- Tôi vị tình Thất Vương là anh em nên phải đến, thật tình hôm nay tôi không ăn uống gì được, vì trong mình có bệnh, tạng phủ không yên.
Thất Vương nói:
- Sao anh nói vậy? Chẳng uống được nhiều thì được vài chén cho vui, để thỏa tình huynh đệ.
Thất Vương liền hối quân rót rượu, rượu độc thì dâng cho Bát Vương, rượu thường thì dâng cho Thất Vương.
Bát Vương cảm thấy nghi ngại nên từ chối không uống, bỗng có trận cuồng phong thổi đến, làm cho bình chén đổ sạch trơn, ruồi rượu độc xông lên nồng nặc. Khi gió lặng không còn thấy Bát Vương đâu cả.
Vương Khâm thấy vậy hoảng sợ, nên thưa với Thất Vương:
- Xin điện hạ chớ lo buồn, việc này tôi tin chắc Bát Vương không ngờ đâu.
Lời Bàn
Bản chất con người tạo nên giá trị con người trong cuộc sống. Mỗi người đều hành động theo bản chất của mình.
Phan Nhơn Mỹ lập mưu bắt Dương Diên Tự trói vào cột để bắn cho chết, thế mà quân sĩ không bắn trúng kẻ bị trói tay. Việc này tác giả muốn nói, khí phách của Dương Diên Tự đã làm cho quân sĩ nhìn thấy Dương Diên Tự thì tay run, không bắn trúng được. Đến khi Dương Diên Tự bảo nhắm mắt lại thì bắn mới trúng. Ấy vậy, khí phách của Dương Diên Tự đã làm cho quân sĩ sợ hãi, nên phải nhắm mắt không nhìn thấy, mới không sợ hãi mà bắn trúng.
Vương Khâm là một gián điệp của nước Phiên, trà trộn vào triều đình nước Tống để phá phách. Thế mà Thất Vương lại dùng Vương Khâm để lập mưu giết anh mình, chỉ vì ham danh vị. Những kẻ gián điệp muốn thành công bao giờ cũng lợi dụng lòng ham muốn của kẻ địch, để điều khiển kẻ địch tự hại lấy mình.
Đáng trách cho Thất Vương không kể tình cốt nhục, chỉ vì tham vọng bản thân, nghe lời Vương Khâm mà mưu giết Bát Vương. Mọi hành động xuất phát từ bản chất con người, thật đáng khinh.
Người thời nay cũng không thiếu những kẻ vì tham vọng mà nghe lời kẻ địch, hãm hại kẻ trung nghĩa vì dân tộc, vì đất nước.


0
Hồi Thứ Bốn Mươi Tám

Đến châu dinh Diên Tự bị tên,
Qua Nguyên Cốc, Ngũ Lang gặp cứu.

Bấy giờ Diên Tự nghe Nhơn Mỹ nói chừng nào lại càng mắng nhiếc chừng ấy. Nhơn Mỹ tức giận bèn hạ lệnh cho quân sĩ bắt Dương Diên Tự trói vào gốc cây mà bắn.
Quân sĩ vâng mạng áp lại hơn mấy trăm người mới trói được Diên Tự vào gốc cây, rồi lấy cung tên mà bắn, nhưng chẳng có mũi tên nào trúng vào người Diên Tự hết.
Quân sĩ lấy làm lạ vào báo cho Nhơn Mỹ hay.
Nhân Mỹ thất kinh nói:
- Việc quái lạ ! Tại sao mà bắn không trúng nó?
Nhơn Mỹ nói rồi cùng các tướng ra xem.
Khi ấy Diên Tự nghĩ thầm:
 Dù thế nào cũng chẳng khỏi chúng nó giết. Vậy thôi để mắng chúng nó cho hả giận rồi chỉ cho nó bắn một mũi đặng chết cho mát thân.
Nghĩ rồi Dương Diên Tự nói:
- Thằng loạn thần kia! Ngươi gian ác như vậy khiến cho hư hết việc nước. Còn ta là đấng đại trượng phu, nào có biết sợ chết là gì, nhưng ta còn lo một nỗi, không biết cha anh ta còn mất lẽ nào, còn như ngươi là một loại tiểu nhân, có sống cũng chẳng làm gì ích lợi.
Nhơn Mỹ nghe mắng càng tức tối ,hối quân sĩ buông tên bắn mãi.
Bấy giờ Diên Tự kêu Nhơn Mỹ nói :
- Thằng thất phu kia, ngươi muốn bắn ta cho chết thì đừng có xua quân bắn nhiều vô ích. Hãy bịt hai con mắt lại thì mới bắn trúng ta.
Nhơn Mỹ nghe nói lấy làm lạ liền bảo quân sĩ bịt mắt và buông tên. Quả thực, chỉ cần một mũi tên Diên Tự đã hồn về chín suối.
Phan Nhơn Mỹ liền khiến quân đem thây Diên Tự bỏ xuống sông Huỳnh Hà cho cá nuốt.
Bỗng có quân về báo:
- Binh Liêu vây cốc khẩu đã lấy được thủ cấp của Dương Nghiệp rồi, bây giờ đang kéo quân đến đây công phá.
Nhơn Mỹ nghe tin thất kinh, nói:
- Binh Liêu lúc này mạnh lắm, nếu nó kẻo tới đây chắc chẳng còn ai đánh nổi. Vậy ta phải mau lui binh trước, kẻo mang hại.
Nhơn Mỹ nói xong liền ra lệnh nhổ trại rút lui, bọn Lưu Quân Kỳ hay việc ấy thất kinh, kéo nhau chạy về Biện Kinh.
Binh Liêu khi kéo đến trại, thấy trại không người thì biết rằng bên Tống đã không còn tướng ra đối địch, liền dồn quân đóng ở Huy Châu, sai người về báo tin cho Tiêu Thái Hậu rõ.
Bấy giờ, bộ hạ Dương Diên Chiêu là Trần Lâm và Sài Cảm, khi bị giặc vây ở Cốc Khẩu thoát thân chạy trốn trong rừng, đến lúc tan giặc mới dám lần mò ra. Vừa tới suối Huỳnh Hà thì thấy trên dòng nước trôi xuống một tử thi. Hai người nhìn thấy khóc lóc:
- Đây là thây của tiểu chủ, không biết vì sao mà bị bắn đến chết như vậy?
Hai ngươi lội xuống vớt lên, còn đang than thở, thì bỗng thấy xa xa có một người cỡi ngựa chạy đến, hỏi:
- Hai người làm gì đó?
Trần Lâm nhìn thấy đó là Dương Lục Lang, liền nói:
- Hai chúng tôi bị giặc đuổi phải ẩn tích nơi đây, nay ráng đi tìm tiểu chủ, bắt gặp thây của tiểu chủ bị bắn chết trôi trên dòng suối, không rõ nguyên nhân.
Dương Luật Sứ nghe rõ trên xuống ngựa, than:
- Cha con tôi hết lòng vì nước, sao lại sai khiến số phận đến thế này?
Trần Lâm và Sài Cảm đem thây Thất Lang mai táng.
Trần Lâm hỏi Dương Lục Sứ:
- Bây giờ quan chủ định đi ngả nào, để hai tôi theo với.
Dương Lục Sứ tức là Dương Chiêu nói:
- Thôi hai người kiếm chỗ mà ẩn thân, để ta đi do tin tức thân phụ ta hiện nay như thế nào. Ta sẽ về Trường An để tâu rõ sự việc.
Trần Lâm và Sài Cảm nghe nói liền lo việc tống táng cho Thất Lang, còn Dương Diên Chiêu một mình lên ngựa đến nơi Cốc Khẩu theo dõi tình hình.
Lúc Dương Diên Chiêu đi được nửa đường thì gặp hai người tiều phu, liền hỏi thăm tình hình ở Cốc Khẩu.
Hai người tiều phu kể lại sự tình, Diên Chiêu liền giục ngựa đến Cốc Khẩu, thấy xác của quân sĩ tử trận còn nằm la hệt, Diên Chiêu lại thấy dưới bia của Lý Lăng có xác một đại tướng lưng còn thắt đai vàng.
Diên Chiêu biết là thây của cha mình, khóc lớn:
- Trời sao không thương người trung liệt, khiến gặp phải cảnh chết thảm thương như vậy.
Diên Chiêu than khóc một hồi ôm thây cha đem mai táng, công việc vừa xong thấy có một người cỡi ngựa đến, Diên Chiêu xem rõ thì đó là Diên Đức, anh ruột của mình.
Hai anh em ôm nhau than thở rồi trở về Ngũ Đài Sơn, vào chùa ăn uống.
Diên Chiêu hỏi anh:
- Từ ngày đại ca ở U Châu thất lạc, tại sao anh vào được chùa này mà tu trì. "
Diên Đức nói :
- Lúc đó ta cũng bị tướng Liêu vây khốn, phải cạo đầu giả thầy tu vào chùa trốn tránh.
Diên Chiêu nghe kể chuyện rất buồn lòng.
Sau đó, Diên Chiêu kể lại cho Diên Đức nghe chuyện thân phụ mình bị Phan Nhơn Mỹ âm mưu hại mạng. Diên Đức nổi giận nói:
- Phụ cừu không lẽ không lo, anh nguyền chẳng sớm thì muộn sẽ báo cừu cho thân phụ. :
Diên Chiêu nói:
- Quyết trở về kinh tâu với thánh thượng minh oan cho phụ thân.
Hai anh em trò chuyện đến khuya mới đi nghỉ.
Hôm sau, Diên Chiêu từ tạ Diên Đức, rồi xuống núi nhắm đường cũ trở về Trường An lo việc báo cừu.
Lúc này, triều đình mới hay việc Dương Nghiệp bại binh, và tự vận. Vua Thái Tôn nói với triều thần:
- Cha con Dương Nghiệp là người trung, nay bị chết một cách mờ ám, trẫm không yên lòng.
Bát Vương thấy vua nhớ đến cha con Dương Nghiệp, nên tâu:
- Mới đây Hô Diên Táng về kinh vận lương thảo, có ghé cho tôi hay: Chủ soái đã cố tình hại Dương Nghiệp để rửa hận. Xin bệ hạ phải tra xét việc này, thì mới làm yên tâm các tôi thần.
Thái Tôn nghe lời, hạ chỉ cho các đại thần tra xét việc ấy.
Phan Nhơn Mỹ hay tin đứng ngồi không yên, vội trở về dinh cùng các gia tướng bàn kế.
Lưu Quân Kỳ hỏi Phan Nhơn Mỹ:
- Tôi nghe có người nói Dương Lục Sứ còn sống, và đang về triều đình tâu với vua xin minh oan cho Dương Nghiệp việc này nếu Hô Diên Táng chịu ra làm chứng thì gia đình ta, không khỏi bị tru lục, chi bằng sai người đón Huỳnh Hà giết Diên Chiêu cho khỏi sanh hậu họa.
Nhơn Mỹ khen phải, liền sai người tâm phúc ra đón Diên Chiêu tại Huỳnh Hà.
 Còn Dương Diên Chiêu lúc này đã rời khỏi Ngũ Đài Sơn, đi đến một chỗ sơn lâm vắng vẻ, bỗng gặp lại hai nha tướng của mình ngày trước là Trần Lâm và Sài Cảm. Ba thầy trò mừng rỡ dắt nhau lên trại, bày tiệc vui vầy. Dương Diên Chiêu kể lại chuyện Phan Nhơn Mỹ lúc trước cố tình không phát binh, mới khiến cho cha anh bị chết như vậy. Hai tướng nghe nói hết sức căm hờn Nhơn Mỹ, nói:
- Việc như vậy, quan chủ tính thế nào để báo oán?
Diên Chiêu nói:
Ta định nghỉ lại đây một đêm, ngày mai sẽ đến Tràng An xin vua minh oan cho thân phụ.
Diên Chiêu vừa nói dứt thì có một tên lâu la đến nói:
Cách đây vài hôm, tôi có đến bến đò Huỳnh Hà, nghe một việc xin nói lại cho đại nhân rõ. Nếu đại nhân có qua nơi đó thì phải cẩn thận cho lắm.
Diên Chiêu hỏi:
- Ngươi nghe việc coi hãy nói cho ta biết?
Tên lâu la thưa :
- Có một bọn quân trào độ hai ba mươi người đến tại Huỳnh Hà đón đại nhân, quyết giết trừ hậu họa. Tôi có hỏi rõ việc này do phân Nhơn Mỹ chủ trương.
Diên Chiêu nghe rõ đầu đuôi liền bàn luận với Trần Lâm, một mặt phải giết sạch bọn tay sai, một mặt phải tìm đường tắt về Tràng An cho tiện.
Trần Lâm nói:
- Xin quan chủ chớ nóng, việc đó cần phải nhẫn nhục. Nơi đây có một tiểu lộ, có thể đi tránh lối đó mà về Biện Kinh, vậy quan chủ phải lo đi cho sớm kẻo trễ.
Rạng ngày thầy trò từ biệt, Diên Chiêu lên ngựa đi về ngả Hùng Châu.
Lúc này Tiêu Thái Hậu tiếp được biểu chương của Tiêu Thái Lai xin đánh thẳng tới Trung Nguyên. Tiêu Hậu còn đang bàn tính thì có một viên quan tâu:
- Có xuất thêm binh cũng vô dụng.
 Tiêu Hậu xem lại thì người đó là Vương Khâm. Tiêu Hậu hỏi:
- Tại sao khanh có ý như vậy?
Vương Khâm nói:
- Đất Trung Nguyên lắm anh tài, làm sao đánh cho lại mà xin thêm quân? Theo tôi, chỉ cần có một kế thời gian độ nửa năm thì có thể định Trung Nguyên.
Tiêu Hậu nghe nói liền hỏi: :
- Khanh có kế chi hay thì nói cho trẫm biết.
Vương Khâm tâu:
- Nay tôi giả làm người nước Nam, trà trộn trong triều đình nhà Tống, dò xét mọi việc lợi hại báo tin về cho Bệ hạ biết. Lúc nào thời cơ đến thì ra tay, như thế Giang Sơn nhà Tống có gì không thuộc về tay Bệ hạ.
Tiêu Hậu nghe nói rất đắc ý liền phê chiếu cho Vương Khâm đi. Hôm sau, Tiêu Hậu thấy Vương Khâm đổi khác, giống như người Tống thì mừng rỡ vô cùng.
Lúc này Dường Diên Chiêu cũng đã đi gần đến Hùng Châu, trời đang nóng nực nên vào quán trọ nghỉ. Một lúc sau lại thấy có một người đi tới, tướng mạo ra vẻ thư sinh, nên Diên Chiêu thân mật hỏi:
 Chẳng hay tiên sinh từ đâu đến?
 Người ấy đập:
- Tôi là Vương Khâm, quê ở Sóc Châu, từ nhỏ lo học hành tính vào Trung Nguyên tìm lập thân danh. Không ngờ đến đây lại gặp các hạ, xin cho tôi biết danh tánh.
Diên Chiêu bèn tỏ tâm sự của mình, rồi thuật chuyện oan ức cho Vương Khâm nghe.
Vương Khâm nói:
- Người trung nghĩa như vậy lại bị kẻ tiểu nhân hãm hại, tại sao không đến trước mặt chúa thượng kêu oan.
Diên Chiêu nói:
- Tôi cũng muốn tố cáo tội ác, nên lo việc làm,cáo trạng.
Vương Khâm nói:
- Vậy tôi nguyện ra sức giúp túc hạ một văn trạng, để cho triều đình tra xét.
Diên Chiêu nói:
- Nếu tiên sinh sẵn lòng giúp đỡ, tôi cảm ơn vô cùng.
Vương Khâm liền cầm bút hỏi Diên Chiêu hết nội tình, rồi thảo văn trạng.
Diên Chiêu khen:
- Văn bút như vậy thật ít ai bì kịp, lần này chắc tôi được minh oan. Vậy tiên sinh hãy đi cùng tôi đến Biện Kinh một lần cho biết .
Vương Khâm cả mừng, theo Diên Chiêu về kinh.
Lúc này có người báo tin cho Phan Nhơn Mỹ biết. Nhơn Mỹ thất kinh, nhóm hợp các bộ tướng nghĩ kế.
Quân Kỳ nói:
- Vậy xin đại vương làm một biểu chương, tâu trước với thánh thượng rằng: Cha con Dương Nghiệp ỷ tài, nên bị thất cơ, sợ tội mà tự sát.
Chẳng ngờ ngày ấy Dương Diên Chiêu cũng đã về tới Biện Kinh và gặp Thất Vương tỏ mọi sự tình, rồi đưa văn trạng cho Thất Vương xem.
Thất Vương hỏi:
- Văn trạng này ai giúp cho người mà rõ ràng như vậy?
Diên Chiêu thuật lại sự việc Vương Khâm cho Thất Vương nghe .
Thất Vương nói:
- Ta muốn dùng một người có tài năng như vậy, nếu người ấy muốn cầu thân thì ta sẽ thâu dụng.
Diên Chiêu bèn chỉ chỗ ở của Vương Khâm cho Thất Vương nghe.
Thất Vương nói:
- Việc minh oan cho ngươi là việc rất lớn lao, vậy ngươi mang đến cửa khuyết đánh trống kêu oan, cho chúa thượng và các quan phân xử.
Diên Chiêu nghe theo lời, vội vã đến cửa khuyết đánh trống.
Người giữ cửa dẫn Diên Chiêu và Vương Khâm vào nội cung.
Lời Bàn.
Kẻ làm dữ lúc nào trong lòng nơm nớp lo sợ, nên trong lòng không bao giờ thơ thới.
Phan Nhơn Mỹ là một kẻ âm mưu, hành động gian ác, khi hại được người, nhưng trong lòng luôn luôn sợ hãi, vì lẽ làm ác phải gặp điều dữ. Tình trạng đó làm cho kẻ ác tâm trong lòng không bao giờ thanh thản, vì sợ kẻ khác báo thù.
Trong lẽ sống của con người, muốn được ung dung tự tại thì mình phải rèn luyện lấy mình, tránh gây thù hận, để khỏi bị kẻ khác thù hận mình. Cái gì có vay cũng có trả, đó là luật thiên nhiên.


0
Hồi Thứ Năm Mươi Hai

Tiều phu dụng kế bắt Mạnh Lương
Lục Lang một mình thâu Tiêu Táng


Khi Lục Lang thả Mạnh Lương đi rồi, Nhạc Thắng nói:
- Mạnh Lượng là đứa kỳ khôi, nay bắt được nó sao thượng quan lại thả nó đi. Nay nó trở về thế nào cũng đến đánh nữa, vậy thượng quan phải dùng kế bắt nó .
Lục Lang nói:
- Mạnh Lương tuy có dõng lực, nhưng ít mưu. Cách đây chừng năm dặm, đá dựng chập chùng, không có đường đi, ngươi hãy dẫn binh ra đó mai phục, chờ ta dụ nó đến thì chận lại mà đánh ta sẽ có kế.
Nhạc Thắng vâng lệnh dẫn quân đi.
Lục Lang chọn năm tên quân mạnh mẽ bảo giả là tiều phu, đứng nơi góc núi, hễ thấy Mạnh Lương chạy đến hỏi thăm đường, thì phải làm y theo kế.
Quân sĩ vâng lệnh ra đi.
Lục Lang sắp đặt xong thì nghe quân báo Mạnh Lương đã dẫn quân đến trước trại khiêu chiến.
Lục Lang liền lên ngựa, dẫn quân ra khỏi trại kêu Mạnh Lương nói lớn:
- Hôm nay ngươi có đánh thì phải cẩn thận, nếu để ta bắt một lần nữa thì ta không tha.
Mạnh Lương nói :
- Hôm nay ta đến đây là quyết báo cừu bữa trước.
Mạnh Lương vừa nói dứt lời, liền vung búa giục ngựa xông tới chém Lục Lang. Lục Lang cũng vung thương rước đánh. Đánh được vài chục hiệp, Lục Lang bèn quay ngựa nhắm đường núi chạy. Mạnh Lương giận nói:
- Còn dám dùng tên mà bắn ta nữa chăng?
Rồi giục ngựa đuổi theo. Lục Lang vừa đỡ vừa chạy, dụ Mạnh Lương lên tới dốc núi, lại làm bộ sợ hãi loay hoay rớt mão xuống đất rồi trèo lên núi mà chạy. Mạnh Lương tánh nóng như lửa, cũng xuống ngựa vung búa rượt theo, vừa qua khỏi góc núi thì chẳng thấy Lục Lang đâu.
Mạnh Lương thất kinh nói:
- Ta lại trúng kế nữa rồi!
Mạnh Lương vừa muốn quay lại, bỗng nghe phía sau còi trống vang dậy. Binh phục của Nhạc Thắng ó dậy, vây chặt ở góc núi, Mạnh Lương thấy có binh phục liền bỏ chạy trở qua núi Tây Nhân, lẫn theo đường chẹt mà đi. Bỗng thấy trên núi có bốn năm ông tiều phu, Mạnh Lương bèn kêu hỏi:
- Trên ấy có đường chỗ đi đâu chăng?
- Trên đỉnh này có một cái đường nhỏ, đi ra Hồ Lâm giản đặng.
Mạnh Lương nói:
- Bọn ngươi mà cứu đặng thì ta sẽ đem châu báu mà đền ơn ấy.
Mấy tiều phu nói:
- Tôi vẫn muốn cứu lắm, song e tướng quân không chịu.
Mạnh Lương nói:
- Miễn là cho thoát khỏi thì thôi, có sao mà không chịu?
Ông tiều phu liền thòng dây xuống mà nói:
- Tướng quân hãy lấy mối dây này buộc ngang lưng, rồi bọn tôi ráng sức kéo lên, thì tướng quân mới thoát nạn.
Mạnh Lương lúc ấy bèn nghĩ rằng:
- Việc gấp như vầy ta phải tùng quyền mà nghe theo cũng chẳng hề chi.
Nghĩ rồi liền với lấy mối dây, buộc chặt vào lưng.
Ở trên, mấy ông tiều phu hiệp lực kéo lên, kéo đến nửa chừng rồi treo tòn ten để đó. Mạnh Lương bèn kêu lớn mà hỏi:
- Sao các ngươi không kéo tuốt lên, lại để tòn ten nửa chừng làm chi vậy?
Mấy người tiều phu nói:
- Tướng quân hãy đợi một chút, để tôi kêu người ta tựu lại cho đông rồi sẽ kéo lên.
Mạnh Lương nghe nói nửa nghi nửa sợ trong giây phút Lục Lang và Nhạc Thắng đều đến, đứng trên đỉnh núi kêu Mạnh Lương mà nói:
- Phen này ta bắt ngươi tại trên trời, ngươi đã phục ta chưa.
Mạnh Lương đáp:
- Ngươi dùng kế quỉ mà bắt ta, chớ chẳng phải là ta thua ngươi nếu muốn giết thì giết chớ ta chẳng phục đâu. Mấy người dụng kế như vậy cũng chưa giỏi, duy có đánh nhau một trận, như ngươi có giỏi mà bắt đặng ta tại chiến trường, thì ta mới phục và qui hàng.
Lục Lang nói:
- Thôi để ta tha ngươi một phen nữa, rồi ta sẽ xuống đất mà bắt ngươi, ngươi chớ còn ăn năn chi.
Nói rồi liền khiến quân nới dây xuống mà thả Mạnh Lương đi rồi dắt Nhạc Thắng về trại thương nghị rằng:
- Mạnh Lương bị ta bắt luôn hai phen, nay nó chẳng dám đánh ban ngày nữa, ắt chờ đêm tăm tối, dẫn binh đến lén cướp trại mà thôi. Vậy phen này bắt đặng nó rồi, coi nó còn nói chi.
Nhạc Thắng thưa:
- Thượng quan mưu hay chước lạ , ít ai bì kịp, song tôi e Mạnh Lương chẳng dám đến nữa.
Lục Lang nói:
- Ta liệu chắc đêm nay, sao Mạnh Lương cũng đến.
Nói rồi liền khiến quân sĩ đào hầm nơi trước cửa trướng, sâu năm sáu thước, trên lót ván mỏng rồi trải chiếu cho khuất miệng hầm, lại khiến quân sĩ mai phục hai bên xa xa, để chừng tám chín người núp nơi trước trướng, chờ Mạnh Lương trúng kế sẽ ra mà bắt. Quân sĩ vâng lệnh y thứ mà làm, đâu đó đều dự bị sẵn sàng.
Đêm ấy, Lục Lang ngồi nơi trướng một mình chong đèn mà xem sách, gần hết canh hai, quả có Mạnh Lương dẫn binh la hét đi đến Giải San trại, cho người đi thám về báo rằng:
- Trong trại tướng sĩ không phòng bị, đều ngủ hết rồi.
Mạnh Lương đặng tin ấy cả mừng mà nói rằng:
- Phen này chắc báo đặng cừu ?
Nói rồi hẹn giục ngựa đến gần bên trại để binh ở ngoài, một mình xông thẳng vào trướng, thấy Lục Lang dựa ghế mà nằm, hai bên chẳng có ai hết. Mạnh Lương vung búa nhảy tới hét lớn:
- Lục Lang chớ chạy!
Nói chưa dứt lời, người và ngựa đều sụp tuốt xuống hầm.
Mấy tên quân mạnh xông ra thòng câu móc kép lên trói lại, còn hai ngàn binh của Mạnh Lương, cũng thẩy đều bị binh phục chặn bắt chẳng sót một người.
Lục Lang bèn nói với Mạnh Lương:
- Ta liệu việc kiến thức của ngươi chẳng qua đặng cơ mưu của ta. Thôi để ta tha ngươi về mà chiêu tập binh mã rồi sẽ đến mà đánh nữa.
Liền khiến quân mở trói mà thả Mạnh Lương.
Mạnh Lương than rằng:
- Tôi tuy là trộm cướp. Song cũng biết lễ nghĩa ít nhiều, bởi lánh dữ chưa trừ, nên quên phứt điều liêm sỉ, tướng quân thiệt là thần nhân, tôi lẽ nào chẳng phục? Nay tôi tình nguyện hết lòng mà phụng sự thượng quan, chớ chẳng còn trông chi khác nữa.
Lục Lang cả mừng bèn nói:
- Nếu ngươi khùng lòng qui thuận ta, thì ngày sau ắt cũng đặng hưởng danh ư hậu thế.
Qua bữa sau, Mạnh Lương bèn bẩm với Lục Lang xin trở về động, đặng chiêu tập bọn Lưu Siêu, Trương Cái, Quản Bá, Quang Huân, Vương Kỳ, Kỳ Trân, Kỳ Khiêm, Trần Hùng, Tạ Dõng, Mạnh Đắc, Lâm Thiết Thường, Tống Thiết Bỗng, Diều Thiết Kỳ, Đồng Thiết Cố, Lang Thiên và Lang Vạn, hết thảy là mười sáu viên đầu mục. Lục Lang nhận lời.
Chẳng bao lâu, Mạnh Lương dẫn bọn ấy đến vào khấu Lục Lang. Lục Lang bèn truyền lệnh dọn yến khao thưởng bá quan.
 Lúc đang ăn uống, Mạnh Lương bèn nói:
- Cách đây chừng sáu mươi dặm có một hòn núi là Ba Tiêu sơn địa thế nguy hiểm, trong ấy có một đám cường nhân, tụ nhau cướp giật đất nhà cửa, phá xóm phá làng, quan cũng không làm chi đặng, người đầu đảng là người ở Nha Châu Tam Nguyên huyện, họ Tiêu tên Táng, hay ăn thịt người, mặt như đất đỏ, mắt to đồng linh, cả người gân cổ có vồng, thịt đùn có khúc, hay dùng cây thiết phi chùy, sức mạnh đánh muôn người. Nếu đặng người ấy đầu thì lại càng hơn bọn tôi nữa.
Lục Lang nghe nói càng hớn hở đứng dậy nói:
- Vậy thì để ta đến đó dụ Tiêu Táng về làm tướng.
Mạnh Lương thưa:
- Người ấy tánh khí dọc ngang, thượng quan chớ nên khinh mà đi một mình, phải dẫn binh theo mới đặng.
Lục Lang nói:
- Ta lấy sự thiền tín mà đãi người, lựa phải đem binh theo làm chi cho rộn ?
Đêm ấy ăn uống rồi thì đã canh ba, bèn phân nhau đi nghỉ.
Hôm sau, Lục Lang khiến bọn Nhạc Thắng và Mạnh Lương thủ trại rồi dẫn vài chục quân kỳ tuốt lên Ba Tiêu sơn. Vừa đến chân núi, thấy có một người đang ngồi tại đó, hình dung cổ quái, ăn mặc giống dạng tiều phu. Lục Lang bèn hỏi:
- Chỗ này có phải là núi Ba Tiêu chăng?
Người ấy đứng dậy đáp:
- Phải! Còn người là người chi, một người một ngựa đến đây có việc gì?
Lục Lang nói:
- Tôi họ Dương tên Diên Chiêu, con thứ sáu của Dương Nghiệp, mới lãnh chức Tuần Kiểm Giải San trại, nay nghe chỗ này có một người tên là Tiêu Táng, động lực vô song, nên đến mà dụ về làm tướng .
Người ấy nói:
- Tiêu Táng có quen với tôi, như ông muốn tìm thì hãy theo tôi, tôi sẽ chỉ cho.
Diên Chiêu rất mừng, liền theo người ấy mà lên núi.
Đi dọc đường, Diên Chiêu thấy hai bên đá dựng chập chồng, cỏ cây rậm rạp. Gần tới động, người ấy bèn nói rằng:
- Ông hãy đứng đây mà đợi, để tôi vào thông báo trước đã rồi sẽ vô sau.
Diên Chiêu tưởng thiệt, bèn đứng lại đó. Người ấy vào động, trong giây phút có hơn mấy trăm lâu la chạy ra bắt Diên Chiêu trói lại dẫn vào. Diên Chiêu đến nơi, thấy có một người ngồi trên, xem kỹ là người dắt mình khi nãy.
Người ấy cười và nói:
- Ta là Tiêu Táng đây? Ta chưa có quen biết chi với ngươi sao ngươi lại đến đây mà nạp mạng?
Diên Chiêu thần sắc chẳng đổi, nói lớn:
- Đại trượng phu coi chết như không, ngươi muốn làm chi thì làm đi .
Tiêu Táng nói:
- Ta ăn gan những người hảo hớn chẳng biết bao nhiêu, chớ phải có một mình ngươi mà thôi đâu.
Tiêu Táng nói rồi liền khiến kẻ thủ hạ treo Diên Chiêu lên.
Lâu la vâng lệnh vừa muốn vung dao mổ ruột, bỗng thấy trên đầu Diên Chiêu có một đạo hắc khí bốc lên, có con bạch hổ chạy ra, bào hao nhảy nhót. Tiêu Táng thất kinh nói:
- Nếu vậy, người này quả là thần tướng?
Liền hối quân thủ hạ nới dây, rồi bổn thân bước tới mở trói cho Diên Chiêu, lại cúi đầu vừa lạy vừa nói:
- Tôi chẳng biết người hiền, nay tình nguyện qui hàng, xin thượng quan thứ tội.
Diên Chiêu nói:
- Như người khứng đầu ta thì đặng làm quan chức, chẳng hay hơn là ăn cướp hay sao?
Tiêu Táng cả mừng, liền khiến thủ hạ tựu đến lạy ra mắt, rồi truyền dọn tiệc thết đãi.
Đang ăn uống, bỗng nghe dưới núi la hét rền trời, trống chiêng dậy đất. Diên Chiêu bước ra xem thì là Mạnh Lương và Nhạc Thắng. Hai người ấy thấy Diên Chiêu liền xuống ngựa nói:
 - Hai anh em tôi nghe kẻ tùng nhân về báo rằng: Thượng quan đã bị ăn cướp bắt rồi, nên phải dẫn binh đến đây cứu viện.
Diên Chiêu bèn thuật hết đầu đuôi các việc lại, rồi dắt hai người vào động. Ra mắt xong, Tiêu Táng bèn mời hai người ngồi tiệc ăn uống chuyện trò đến canh khuya.
Qua bữa sau, Tiêu Táng bèn đốt sạch dinh trại, rồi dẫn hết lâu la về Giải San.
Lúc ấy Dương Diên Chiêu đã thâu đặng ba viên đại tướng, liền sai người về thông báo với triều đình, đặng cầu phong quan chức cho an lòng tướng sĩ. Chơn Tôn tiền triệu quần thần đến thương nghị. Khấu Chuẩn bèn tâu:
- Diên Chiêu đã thâu phục đặng quần khấu, vậy thì Bệ hạ phải y theo lời xin mà phong thưởng.
Chơn Tôn nhận lời, liền sai sứ đệ sắc chỉ ra Giải San, phong cho Dương Diên Chiêu là Nhị Châu Đô chỉ huy chánh sứ, còn Nhạc Thắng, Mạnh Lương, Tiêu Táng và một bọn phó tướng mười tám người đều phong làm Chỉ huy phó sứ, ai nấy đều tạ ơn.
Từ ấy tướng mạnh, binh ròng, oai phong lừng lẫy, trước cửa ải Diên Chiêu dựng cờ hiệu Dương gia, Bắc Phiên tướng sĩ đều nể phục, chẳng còn dám lăm le chi nữa.
Nhằm lúc tiết lạnh, là Trung Thu tháng tám, Diên Chiêu bèn truyền dọn tiệc mà thưởng trăng, thầy tớ vầy đoàn, ăn uống chuyện trò rất vui vẻ. Lúc đang ăn uống, Diên Chiêu bèn nói với các chư tướng:
- Cha con ta tám người, đầu Tống từ đầu về sau, mới gây ra sanh cừu hận với Bắc Phiên, cha ta là Dương Nghiệp, nhân đánh một trận tại Qua Châu, bị táng thân nơi hổ Nguyên Cốc, lúc ấy ta chôn đỡ nơi dưới Lý Lăng bi, ta thường muốn sai người qua đem hài cốt về đặng chôn theo tổ mộ, cho trọn đạo làm con, ngặt vì không có người tâm phúc đi thế cho ta, nên lòng ta hằng ngày băn khoăn, chẳng biết ngày nào cho toại chí bình sanh đặng.
Nhạc Thắng nói:
- Thượng quan thiện ý, thiệt là đại hiếu chi tình, ngặt vì binh Phiên nó ngăn đón, đường sá thì khó đi, vậy thì phải chậm lại vài năm sẽ tấn phương kế.
 Dương Diên Chiêu buồn bã, không biết nói sao.
Mạnh Lương về phòng nghĩ thầm:
- Ta mang ơn thượng quan ba phen không giết, hôm nay người lại muốn tìm kẻ tâm phúc để lấy hài cốt. Vậy ta thừa dịp này lén đến Hồ Nguyên Cốc lấy hài cốt đem về để đền ơn thượng quan chút đỉnh.
Mạnh Lương nghĩ rồi, sắp sẵn hành lý, lén ra khỏi trại.
Hôm sau, quân sĩ chẳng thấy Mạnh Lương đâu, vội vã báo cho Dương Diên Chiêu biết.
Dương Diên Chiêu nói:
- Đêm hôm qua Mạnh Lương còn ăn tiệc với ta, có lý nào lại trốn đi.
Bọn Nhạc Thắng nói:
- Mạnh Lương là tên ăn cướp, chắc nó trốn đi xứ khác làm ăm, nên chẳng dám cho thượng quan hay.
Dương Diên Chiêu nói:
- Mạnh Lương lánh tuy lỗ mãng, song tình nghĩa rất sâu đậm. Ta nghĩ chắc không phải trốn đâu.
Các tướng hồ nghi, Dương Diên Chiêu vẫn không buồn chuyện Mạnh Lương bỏ trốn.
Lời bàn.
Nhận xét một nhân tài không phải nhìn vào hành động nhất thời, mà phải nhìn vào sự nghiệp của họ .
Mạnh Lương và Tiêu Táng là hai tên cướp. Tuy nhiên, hành động cướp giật chỉ là việc làm nhất thời, còn chí khí anh hùng là phải xét về thành tích, và lương tâm.
Người xưa, nhiều bậc anh hùng lúc chưa gặp thời thì đi lên núi đốn củi, xuống sông chèo đò, nhưng tư cách anh hùng của họ vẫn không biến đổi. Dương Diên Chiêu thu nạp Mạnh Lương và Tiêu Táng là thu nạp chí khí của một kẻ anh hùng, không phải thu nhận kẻ cướp.
Chính vì vậy mà Mạnh Lương ra khỏi trại không báo cho biết, Dương Diên Chiêu vẫn không nghi ngờ là Mạnh Lương bỏ trốn. Đầu óc của kẻ có tâm trí bao giờ cũng thông cảm với những kẻ có tâm hồn nghĩa nặng tình sâu.
0
Hồi Thứ Năm Mươi Ba

Mạnh Lương dụng trí trộm ngựa bay,
Nhạc Thắng đua tài đánh Tiêu Hậu.


Bấy giờ Mạnh Lương ra khỏi trại, giả làm tiều phu, đi thẳng Hồ Nguyên Cốc, tìm hài cốt của Dương Nghiệp mà không được. Bỗng gặp một tên quân Phiên già đi ngang qua đó, Mạnh Lương đón lại hỏi:
- Hài cốt Dương Nghiệp trước chôn ở đây sao nay lại tìm không thấy?
Tên quân Phiên già đáp:
- Cách đây mấy tháng, Tiêu Hậu đã sai người đào lên đem về chôn ở Hồng Dương Động rồi.
Mạnh Lương nghe nói nghĩ thầm:
- Ta đến đây chỉ có việc ấy, nếu về không thì rất uổng công, chi bằng thẳng đến U Châu mà tìm cách khác.
Nghĩ rồi thay đổi y phục, giả dạng một tên quân Phiên thẳng qua U Châu.
Đến nơi gặp một ông chài đang xách một giỏ cá đi tới. Mạnh Lương hỏi:
- Ngươi đi đâu vậy?
Ông chài đáp:
- Ngày mai là ngày chúc thọ của Tiêu Hậu, theo lệ phải đem cá tươi chúc mừng.
Mạnh Lương nghĩ thầm:
- Như vậy thì ta theo lão chài này vào thành xem sao.
Nghĩ rồi bèn nói với lão chài:
- Tôi cũng muốn vào thành, vậy chúng ta cùng nhau đi cho có bạn.
Lão chài đi trước, Mạnh Lương nối gót theo sau. Đi được một lúc đến chỗ vắng vẻ, Mạnh Lương rút dao chém lão chài chết tốt rồi lột hết y phục mặc vào, y tấm nha bài cầm nơi tay, đeo giỏ cá vào lưng.
Quân giữ thành thấy Mạnh Lương thì đón lại. Mạnh Lương xưng mình là người đến dâng cá để chúc thọ nhà vua, nên quân giữ cửa thả cho đi. Lúc ấy Tiêu Hậu ngự ra triều, văn võ bá quan chầu đủ mặt. Có quan Huỳnh Môn vào tâu:
- Nay có ông chài ở sông Huỳnh Hà đến dâng cá tươi mừng thọ.
Tiêu Hậu truyền chỉ cho vào.
Mạnh Lương bước vào, Tiêu Hậu hỏi:
- Có phải là người dâng cá năm ngoái không?
Mạnh Lương tâu:
- Đúng là hạ thần, nhưng năm nay cá không lớn bằng năm ngoái, nhưng rất thơm ngon, xin Bệ hạ dùng thử rồi sẽ biết.
Tiêu Hậu truyền các quan thu lễ vật rồi dọn tiệc thết đãi quần thần. Lúc ấy có quan vào báo:
- Bên nước Tây Lương có đem một con ngựa tốt tên Túc Sương dâng cho nước Tống, khi đi ngang qua U Châu bị tướng Liêu bắt được, nên đem về nạp cho Bệ hạ.
Tiêu Hậu nghe báo truyền dắt ngựa vào, quả nhiên thấy đó là một con tuấn mã lông màu xanh, cặp mắt long lanh, bốn chân cao hơn sáu thước, Tiêu Hậu khen:
- Ngựa này rất quí.
Bèn truyền lệnh cho quan Hữu Tư nuôi dưỡng tử tế.
Quan Hữu Tư vâng lệnh dắt ngựa về nhất trong chuồng phía sau dinh.
Mạnh Lương nghe được việc ấy, liền lén đến xem rồi nghĩ thầm:
- Ta phải lấy hài cốt trước, rồi dùng kế bắt con ngựa này làm chân trở về thì tiện lắm.
Nghĩ rồi, liền đi thẳng đến Hồng Dương động, nơi có chỗ đất bằng, thấy có một gò cao, có tấm biển đề chữ: Dương Nghiệp chi mộ. Mạnh Lương chờ trời tối lén đào lấy hài cốt chạy về chỗ trú ngụ giấu một nơi, rồi lén đem thuốc độc đến bên chuồng ngựa ném vào máng cỏ, làm cho con ngựa bị chất độc không ăn được.
Quan Hữu Tư thấy vậy vào báo với Tiêu Hậu, Tiêu Hậu nói:
- Con ngựa đó là con ngựa quí, nếu không ăn thì chắc có bệnh. Vậy phải tìm thầy thuốc chữa trị.
Nói rồi, hạ chỉ treo bảng chọn thầy thuốc ngựa.
Mạnh Lương hay tin vội ra giật bảng, nói với quân sĩ:
- Ta là thầy thuốc chữa bệnh ngựa.
Quân sĩ dẫn Mạnh Lương vào cung. Tiêu Hậu nói:
- Nếu ngươi chữa cho ngựa lành bệnh thì ta phong chức cho ngươi.
Mạnh Lương vâng chỉ lui ra, đến chuồng ngựa đem thuốc giải độc, làm cho con ngựa trở lại ăn cỏ như thường.
Quan Hữu Tư mừng rỡ vào triều tâu với Tiêu Thái Hậu.
Tiêu Thái Hậu nói với Mạnh Lương:
- Con ngựa ấy đã mạnh, ấy cũng nhờ công của khanh, nay tại Yên Châu có khuyết một viên Tổng quản, vậy trẫm phong cho khanh chức ấy mà đến nơi trấn nhậm.
Mạnh Lương tạ ơn lui ra nghĩ thầm:
- Ta muốn bắt con ngựa, đâu phải ham chức Tổng quản.
Nghĩ rồi liền vào tâu với Tiêu Thái Hậu:
- Mang ơn Bệ hạ phong quan chức, song con ngựa ấy mới mạnh còn phải tiếp tục chăm sóc, xin cho tôi lãnh về Yên Châu mà chăm sóc nó ít hôm, thì con ngựa đó mới an toàn.
Tiêu Hậu nói:
- Lời khanh tâu rất phải.
Liền giao con ngựa cho Mạnh Lương đem về Yên Châu nuôi dưỡng.
Mạnh Lương lui ra lén về nhà trọ đem hài cốt cột vào lưng, rồi thoát lên yên rời khỏi U Châu chạy miết về Giải sơn trại.
Quân sĩ trông thấy, biết là Mạnh Lương bèn chạy vào báo cho Dương Chiêu hay.
Dương Diên Chiêu sai Nhạc Thắng và Tiêu Táng ra đón tiếp.
Mạnh Lương vào đến nơi thì kêu lớn nói:
- Thượng quan! Mạnh Lương đã trở về đây.
Dương Diên Chiêu thấy Mạnh Lương trở về mừng rỡ hỏi:
- Có Việc Chi mà mừng vui như vậy?
Mạnh Lương thuật hết đầu đuôi công chuyện, và nói:
- Nay tôi đã đem được hài cốt của Lệnh công về đây, bây giờ phải tìm nơi an táng, còn con ngựa này là ngựa quí, phải đem về dâng cho chúa thượng mà lập công.
Diên Chiêu liền đem con ngựa Túc Sương về triều hiến nạp.
Vua Chân Tôn xem thấy con ngựa rất mừng, nói với quần thần:
- Diên Chiêu mới trấn thủ Tam Quan mà đã thâu đặng ba viên tướng giỏi, lại đoạt được ngựa quí đem dâng cho ta thì công ấy chẳng nhỏ .
Bát Vương tâu:
- Dương Diên Chiêu hết lòng trung vì nước, Bệ hạ mà trọng thưởng là đúng lắm.
Vua Chơn Tôn liền sai sứ đem thịt rượu đến thưởng cho Dương Diên Chiêu và các tướng.
Bỗng có quan cận thần bước ra tâu:
- Nay có binh Phiên đánh phá Đàng Châu, xin Bệ hạ liệu định.
Vua Chơn Tôn liền hỏi quần thần:
- Nay Phiên binh xâm phạm bờ cõi, nên sai ai đi đánh dẹp.
Bát Vương tâu:
- Đàng Châu với Tam Quân gần gũi nhau, xin Bệ hạ giáng chỉ sai Dương Diên Chiêu đi đánh dẹp thì rất tiện.
Vua Chơn Tôn nhận lời, liền hạ chỉ sai Dương Diên Chiêu đem quân bình Phiên.
Vương sứ lãnh chỉ đem đến Giải Sơn trại, Dương Diên Chiêu vâng chỉ, nhóm các tướng mà thương nghị:
- Nay binh Phiên phá rối Đàng Châu, triều đình sai bọn ta đánh dẹp, vậy các ngươi phải ra sức lập công.
Mạnh Lương nói:
- Bắc Phiên dấy loạn, ấy cũng tại tôi chọc nó, vậy thì cho tôi dẫn binh ra trước mà ngăn chống.
Dương Diên Chiêu nói:
- Tiêu Thiên hữu là danh tướng của Bắc Phiên, ngươi dẫn binh đi trước, ta sẽ xuất binh tiếp ứng.
Mạnh Lương hớn hở ra đi. Dương Diên Chiêu lại kêu Nhạc Thắng bảo:
- Ngươi hãy dẫn binh mã ra đóng nơi phía tả, chờ ta đến thì hai bên giáp chiến phủ vây quân địch
Nhạc Thắng vâng lệnh dẫn quân đi, còn Dương Diên Chiêu dẫn hai ngàn quân theo sau cứu ứng.
Quân Phiên hay được chạy về phi báo.
Tiêu Thiên hữu nói với Gia Luật Đệ:
- Thái Hậu hạ chỉ sai ta dẫn quân trị thằng ăn trộm ngựa là Mạnh Lương, nay nó lại đến đây đánh với ta, như vậy phải làm sao bắt nó, để đòi con ngựa lại đem về dâng chúa thượng.
Gia Luật Đệ nói:
- Nguyên soái chớ lo, thằng ăn trộm ngựa đó mà tài cán gì, chỉ cần một trận đánh ắt thành công.
Khi Tiêu Thiên Hữu dẫn binh ra thì Mạnh Lương đã phất cờ gióng trống, vung búa lướt tới, hét lớn:
- Phiên tặc! Hãy trở về cho mau kẻo mất mạng.
Tiêu Thiên Hữu nổi giận mắng:
- Thằng ăn trộm ngựa còn dám ra đây múa mỏ sao?
Hai bên đánh nhau hơn mười hiệp, chưa rõ hơn thua, Gia Luật Đệ xông vào trợ chiến. Bỗng nghe phía sau núi có tiếng quân la hét, rồi Nhạc Thắng xông tới chận Gia Luật Đệ lại. Bốn tướng cùng hỗn chiến một lúc. Nhạc Thắng thấy quân mình bị yếu thế, chẳng dám đánh nữa, bèn hiệp binh với Mạnh Lương kéo chạy về ải.
Tiêu Thiên Hữu biết phía trước có phục binh, liền thâu quân trở lại.
Mạnh Lương về trại ra mắt Dương Diên Chiêu và thuật lại thế trận.
Còn Tiêu Thiên Hữu cũng thâu binh về bàn luận với các tướng:
- Mạnh Lương và Nhạc Thắng là hai dũng tướng, nếu cứ đấu chiến mãi cũng chẳng ích gì. Cách đây chừng ba mươi dặm có một chỗ là Song Long Cốc, chỗ ấy rất hiểm trở, có một con đường nhỏ thông qua Nhạn Lãnh Sơn, phía ấy thuộc về đất U Châu, nếu có một người dẫn binh mai phục trước, rồi dụ giặc vào đó mà vây, thì chúng nó phải chết đói.
Gia Luật Đệ lãnh kế kéo quân đi.
Tiêu Thiên Hữu lại sai Quỳnh Oai Hiểu dẫn một ngàn quân ra nơi Nhạn Lãnh Sơn chờ quân giặc đến thì xông ra chận đường.
Huỳnh Oai Hiển lãnh kế ra đi.
Lời bàn.
Kẻ tâm phúc không phải là kẻ vì quyền lợi, mà vì lương tri.
Trong xã hội, nhiều người kết thân với nhau, tôn thờ kẻ khác thường hay nghĩ đến quyền lợi và danh vọng.
Những người vì quyền lợi và danh vọng thì hay dua nịnh, dùng lời nói ấy cho tình cảm, mà hành động thì ngược lại.

Kẻ có kiến thức, khi chọn một người tâm phúc phải xét về ẩn tình hơn là quyền lợi, thì mới khỏi lầm lẫn.
Mạnh Lương là tên trộm ngựa, thế mà quyền lợi không ham, được Dương Diên Chiêu kết thân thì chịu khổ cực đi lấy hài cốt của cha Dương Diên Chiêu đem về để đền đáp tình sâu nghĩa trọng, dù phải cực khổ đến đâu cũng cố gắng.
Cho nên, lòng người khi thân nhau, tình thương xuất phát từ đạo nghĩa, chứ không phải bằng quyền lợi vật chất, kẻ trọng lễ vật chất hơn tình nghĩa thì không thể nào giữ trọn được lòng trung hậu.


0
Hồi Thứ Năm Mươi Bốn

Mạnh Lương cầu cứu nơi Ngũ Đài Sơn
Diên Đức xem sao ở Tam Quan trại.

Bấy giờ Tiêu Thiên Hữu phân binh vừa xong, kế nghe báo có quân Tống đến khiêu chiến.
Tiêu Thiên Hữu liền mang giáp lên ngựa dẫn quân ra. Nhạc Thắng múa dao nói:
- Phiên tướng, hãy mau lui về giữ niềm hòa khí nếu không hối hận không kịp đó.
Tiêu Thiên Hữu nghe nói nổi giận vung dao tới chém Nhạc Thắng. Hai bên đánh nhau chưa đầy mấy hiệp, Mạnh Lương và Tiêu Táng dẫn quân xông ra, chặn đánh quân Phiên rất gấp.
Tiêu Thiên Hữu đánh không lại liền giục ngựa bỏ chạy. Diên Chiêu ở một bên bèn xông ra đuổi theo, Tiêu Thiên Hữu liền dụ vào cốc khẩu.
Dương Diên Chiêu thấy núi non trùng điệp bèn dừng ngựa nói:
- Chư tướng chớ theo, e có phục binh.
Mạnh Lương nói:
- Chỗ này tôi thuộc hết, phía trước đây là cùng đường, duy có một ngả tắt thông qua Nhạn Lãnh Sơn, ta nên thừa lúc này theo bắt chúng nó, sao lại không dám tấn binh.
Dương Diên Chiêu nghe nói, liền đốc thúc ba quân đuổi theo chẳng thấy binh mã quân Phiên, nên thất kinh nói:
- Binh giặc ắt có kế chi, nếu ta không lui binh chắc phải mang khốn.
Nói vừa dứt, bỗng nghe tiếng trống vang dội, phục binh nổi dậy vây chặt binh Tống.
Mạnh Lương và Nhạc Thắng ráng sức đánh vùi. Trên núi tên bay xuống như mưa, binh Tống bị thương vô số.
Dương Diên Chiêu và chư tướng bị vây không thể thoát ra được.
Tiêu Táng nói: :
- Để tôi dẫn binh xông ra Cốc Khẩu mà cứu thượng quan.
Dương Diên Chiêu hỏi:
- Binh Phiên đông lắm, phá sao cho nổi, chi bằng nán đợi vài ngày, rồi thừa cơ đánh phá .
Nhạc Thắng nói:
- Trong trại chưa hay ta bị khốn, nên chưa có binh cứu. Nếu không phá được vòng vây, chẳng lẽ ngồi đói sao, chi bằng nghe theo lời Tiêu Táng, phá vòng vây thoát ra.
 Dương Diên Chiêu nói:
- Binh cứu thì có sẵn ngặt vì không ai đem tin đến Ngũ Đài Sơn chỉ cách đây chừng mấy dặm. Nếu báo tin cho Dương Ngũ Lang hay thì trong ngoài hiệp công mới phá vòng vây được.
Mạnh Lương nói:
- Vậy thì thượng quan và chư tướng chịu khó bảo vệ trận chiến, để tôi giả dạng binh Phiên lén ra khỏi núi chạy đến Ngũ Đài Sơn cầu cứu.
Dương Diên Chiêu nói:
- Ngươi phải bí mật đến cầu Ngũ Lang rồi trở lại cho mau.
Mạnh Lương vâng lệnh, cởi hết khôi giáp ra giả dạng binh Phiên thừa lúc canh khuya trà trộn trong quân, bỗng một tên binh Phiên đi tuần, Mạnh Lương chém một đao rơi đầu rồi lấy lệnh tiễn và qưần áo. mặc vào thoát ra ngoài nhắm Ngũ Đài Sơn đi riết.
Chỉ một ngày đã đến nơi, thấy một tên tiểu đồng ngoài cửa, Mạnh Lương nói:
- Chẳng hay có thầy ở nhà chăng?
Tiểu đồng nói :
- Ông ở đâu đến vậy?
Mạnh Lương nói:
- Tôi là người của Dương Diên Chiêu sai đến, muốn ra mắt thầy có việc gấp.
Tiểu đồng nghe nói là người của họ Dương, liền dẫn Mạnh Lương thẳng vào phương trượng.
Ngũ Lang đón tiếp, và hỏi:
- Ngươi đến chùa ta có việc chi?
Mạnh Lương nói:
- Tôi là Mạnh Lương theo Dương Lục sứ trấn thủ ở Tam Quan, giặc Bắc Phiên xâm phạm bờ cõi, thượng quan tôi đánh với nó chẳng ngờ trúng kế bị vây tại Song Long Cốc. Nay không có binh cứu, nên sai tôi về đây cầu sư phụ ra sức giúp đỡ.
Ngũ Lang nói:
- Ta là người đã xuất gia đầu Phật, sao còn ra trận sát hại sinh tinh. Vả lại việc võ nghệ ta đã phế hết, dẫu có đi cũng chẳng ích gì. Ngươi hãy về Biện Kinh mà cầu cứu.
Mạnh Lương nói:
- Từ đây về kinh đường sá xa xôi, vậy xin sư phụ hãy nghĩ tình anh em mà giải cứu, ấy cũng là việc nhân đức, hợp với cửa Phật.
Ngũ Lang nghĩ rồi nói:
- Đi thì cũng dễ, ngặt vì con chiến mã của ta đã chết rồi nay không có ngựa hay thì làm sao ra trận
Mạnh Lương nói:
- Nếu sư phụ chịu đi thì tôi trở về lại bắt ngựa đem đến đây.
Ngũ Lang nói:
- Ngựa cho vừa ý ta thì hiếm lắm. Hiện nay có con Thiên lý mã và con Vạn lý vân của Bát vương. Hai con đó mà được một thì mới xong việc.
Mạnh Lương nói:
- Vậy thì tôi phải tuốt về Biện Kinh hỏi Bát vương mà mượn lấy một con.
Ngũ Lang nói:
- Nếu được một trong hai con ngựa ấy thì lo chi không phá đặng binh Phiên.
Mạnh Lương liền từ giã Ngũ Lang, suốt đêm thẳng về Biện Kinh, vào phủ Bát Vương ra mắt và nói chuyện mượn ngựa.
Bát Vương nói:
- Vật chi thì ta cho mượn, còn hai con ngựa ấy ta sẽ không thể trao cho ai. Chớ nói nhiều lời vô ích.
Mạnh Lương buồn bã lui ra, đến phủ Vô Ninh ra mắt Dương Lệnh bà thuật chuyện Dương Diên Chiêu bị vây khốn.
Dương Lệnh bà buồn bã nói:
- Chồng ta chết rồi, trong mấy người con chỉ có một mình Lục Lang noi theo chí cha mà thôi, nay lại bị quân Phiên vây khốn, nếu có bề nào thì ta biết nương tựa vào ai.
Cửu Muội nghe nói bước ra thưa:
- Mẹ chớ lo buồn, nếu Lục ca con mắc nạn thì con sẽ đi với Mạnh Lương ra đó ứng cứu .
Dương Lệnh bà nói:
- Chỗ tình anh em, con đi cũng phải, nhưng cẩn thận cho lắm mới được .
Cửu muội vâng lời theo Mạnh Lương ra đi.
Mạnh Lương nói:
- Tiểu thơ đi trước ra khỏi thành chừng ba mươi dặm thì ở đó đợi tôi, để tôi đêm nay lén vào phủ Bát Vương bắt trộm con ngựa rồi sẽ theo sau.
 Cửu Muội y lời một mình ra đi, còn Mạnh Lương trở lại lén ra sau vườn hoa của Bát Vương ẩn núp ở đó, chờ cho đến tối thì nổi lửa đốt cháy thư lầu. Quân sĩ hơ hải chạy vào báo. Bát Vương thất kinh liền khiến người đến chữa. Mạnh Lương thừa dịp lộn xộn tuốt vào chuồng ngựa, bắt con Thiên lý mã lẻn ra ngõ sau thoát lên ngựa chạy mất.
Lúc Bát Vương nghe báo tức giận, nói:
- Nếu vậy thì do Mạnh lương bày kế đốt nhà để bắt trộm ngựa.
Nói rồi liền hối quân thắng con Vạn Lý Vân dắt ra. Bát Vương thót lên yên hăm hở đuổi theo.
Lúc này Mạnh Lương cỡi con Thiên lý mã chạy ra khỏi Biện Kinh thì rất mừng, không ngờ con ngựa của Bát Vương chạy theo sau nhanh như gió. Lại nghe Bát Vương la mắng:
- Loài nghịch tặc hãy trả con ngựa lại cho ta thì ta dung tha tánh mạng.
Mạnh Lương sợ hãi nghĩ thầm:
- Ông này đi theo sau mà làm sao mau lẹ như vậy?
Nghĩ rồi liền sanh ra một kế, xô con ngựa Thiên Lý mã xuống vũng lầy, rồi núp ở bên rừng xem chừng.
Bát Vương đuổi đến nơi thấy con ngựa mình đang sa chân dưới hầm thì cười lớn nói:
- Thằng khốn đó bị ta rượt không biết làm sao túng thế nên xô con ngựa ta xuống bùn. Thôi, để ta sai quân sĩ dắt lên.
Nói xong, Bát Vương liền xuống ngựa đến gần xem con ngựa dưới bùn, chẳng ngờ Mạnh Lương núp gần đó, thừa dịp thót lên con Vạn Lý Vân, rồi nói lớn:
- Xin Bát Đại Vương chớ gấp, tôi muốn ngựa này đi dẹp quân Phiên, lúc yên giặc tôi sẽ đem về trả lại.
Nói rồi Mạnh Lương lên ngựa chạy mù.
Bát Vương tức giận, nhưng không biết làm sao. Có tên quân quì thưa:
- Xin điện hạ chớ lo, để cứu Dương Diên Chiêu xong thì thế nào Mạnh Lương cũng đem về trả.
Bát Vương cực chẳng đã phải dẫn con Thiên lý mã trở về Biện Kinh.
Lúc này trời đã rạng sáng, Mạnh Lương gặp Cửu Muội bèn kể lại chuyện ăn trộm ngựa cho Cửu Muội nghe.
Cửu Muội nói:
- Đã bắt được ngựa rồi thì tướng quan mau đem qua Ngũ Đài sơn cho anh tôi, còn tôi đi trước ra Tam Quan mà đợi.
Mạnh Lương vâng lời, liền cưởi ngựa thẳng đến Ngũ Đài Sơn ra mắt Ngũ Lang, thuật lại chuyện bắt ngựa và nói có Cửu Muội cùng đi cứu viện.
Ngũ Lang khen:
- Ta thấy ngươi hết lòng vì chủ, nên ta cũng ráng mà đi.
Nói rồi năm sáu trăm người kéo cờ hiệu Dương gia rời Ngũ Đài Sơn nhắm Tam Quan kéo tới.
Ra đến nơi, anh em gặp nhau tâm sự. Cửu Muội nói:
- Lục ca bị khốn đã lâu, vậy đêm nay phải phá vây mà cứu.
Ngũ Lang nói:
- Binh Phiên vây đông lắm, phải cho người đi thám thính để biết tình hình rồi sẽ nghĩ kế.
Lúc này Tiêu Thiên Hữu được tin, nói với các tướng:
 - Nay có Ngũ Lang dẫn binh tới cứu, người này vũ dõng không ai bì kịp. Ta có một kế làm cho binh cứu phải lui, quân Tống sẽ chết nơi Cốc Khẩu.
Gia Luật Đệ nói:
- Nguyên soái có kế chi hay, xin cho chúng tôi biết.
Tiêu Thiên Hữu nói:
- Nay ta mới bắt được một tên quân Tống, diện mạo giống Lục Lang, vậy phải giết tên quân lấy đầu bêu lên ngọn cờ, và nói dối ràng đêm qua ta đã bắt đặng Lục Lang và lấy đầu răn chúng. Nếu binh Tống hay được tin ấy lập tức phải lui.
Gia Luật Đệ khen:
- Kế ấy rất hay.
Nói rồi Tiêu Thiên Hữu làm y theo dự tính.
Quân thám thính về báo, Ngũ Lang thất kinh nói:
- Em ta đã bị khốn, Phiên binh lại tàn nhẫn giết chết vậy thì còn tiếp cứu làm chi.
Nói rồi sai Cửu Muội ra trận để do thám. Cửu Muội dẫn binh đi đến nơi quả thấy thủ cấp của anh mình thì vội vã lui binh.
Tiêu Thiên Hữu thấy mưu kế mình đã lừa được binh Tống thì mừng rỡ, còn Cửu Muội vừa lui binh, vừa than khóc:
- Ta sẽ trả thù cho được mới nghe.
Nói rồi liền vào trại báo tin cho Ngũ Lang hay. Ngũ Lang than:
- Ta có ý đến cứu em ta, không ngờ em ta bị giết, nhà họ Dương ta rất bất hạnh.
Mạnh Lương không tin, nói:
- Việc này đáng nghi ngờ, lúc tôi về Song Long Cốc thì bộ hạ của thượng quân tôi binh mã còn nhiều, nếu mà bị giết, thì lẽ nào không sót một người về đây báo tin hay sao?
Ngũ Lang cũng nửa tin nửa ngờ thì đêm ấy trăng trong gió mát, Ngũ Lang bèn mặc áo ra ngoài xem sao, thấy tướng binh của Lục Lang vẫn còn tỏ rạng, nên nghĩ thầm:
- Em ta chắc còn sống, không hề chi.
 Sáng hôm sau, Ngũ Lang kêu Cửu Muội nói:
- Đêm hôm ta xem tinh tướng thấy sao bổn mạng của Lục Lang vẫn còn sáng chói, nay phải cho một người đi thông tin vào Cốc Khẩu mới được.
Mạnh Lương nói:
- Để tôi vào đó xem sao?
Ngũ Lang nói:
- Nếu được thì tốt lắm.
Mạnh Lương liền từ tạ ra đi. Cửu Muội nói:
- Để em đi theo mà dò thử.
Ngũ Lang nói:
- Em có đi thì phải cẩn thận, chớ cho quân giặc biết được.
Cửu Muội thưa:
- Em sẽ có cách.
Nói rồi từ tạ Ngũ Lang giả dạng đi săn đến Thiên Mã Sơn.
Nơi đây đường sá chật hẹp, cây cối rậm rạp, vừa vào đến khu rừng bỗng thấy quân Phiên đi đến vô số. Cửu Muội vòng ra phía sau mà chạy, thấy gần đó có một cái am, liền chạy thẳng vào trong.
Am chủ trông thấy hỏi:
- Ngươi là ai? Đến đây có việc gì.
Cửu Muội nói:
- Tôi là con gái họ Dương, vì anh tôi là Dương Lục Lang bị binh Phiên vây khốn, nên tôi đi dò tin tức, rủi lộn đường bị binh Phiên theo đuổi nên tôi phải vào đây lánh mặt.
Am chủ nói:
- Đây là bờ cõi của Bắc Phiên, sao ngươi dám đi một mình?
Hãy mau mau lấy áo tràng mặc vào, ta sẽ có cách che giấu.
Cửu Muội vừa mặc áo xong, binh Phiên đã ào tới vây bắt.
Am chủ nói:
- Thầy trò ta là người tu hành, can chi các ngươi đến bắt.
Binh Phiên nói:
- Đã tu hành sao lại có sắm cung tên.
Am chủ nói:
- Các ngươi chưa biết, ta ở núi này có thú dữ rất nhiều, nó đã hại nhiều mạng người, nên học trò của ta mới đi bắn về, nên có cung tên ấy, có chi làm lạ?
Binh Phiên nói:
- Nếu ngươi biết bắn thì ắt cũng có sức mạnh hơn người.
Nhưng đánh thắng bọn ta thì ta tha, bằng không thì ta sẽ bắt đem về nạp cho chúa tướng.
Am chủ nói :
- Sao bọn ngươi lại nói lạ vậy?
Phiên binh nói:
- Vì bên Tống có tên Mạnh Lương lén qua ăn trộm ngựa Túc Sương, nên lúc này các sứ đều tuần tra nghiêm ngặt. Bọn ta thấy tên học trò của ngươi đây nghi chắc là quân thám thính, nên muốn thử xem.
Cửu Muội liền bước ra nói:
- Xin thầy cho tôi tỉ thí với chúng nó.
 Nói rồi bước ra sân đánh bọn binh Phiên chạy toán loạn.
Am chủ nói :
- Vậy thì tiểu thơ ở nán lại đây ít ngày, tôi sẽ cho người hỏi thăm tin tức lệnh huynh cũng chẳng muộn gì.
Cửu Muội vâng lời, bèn ở lại nơi am chờ tin tức.
Lời Bàn.
Trí dũng là phương tiện để tự vệ nhưng nếu không sử dụng hợp lý thì không có tác dụng.
Cửu Muội đi trốn quân giặc, ghé vào chùa để ẩn thân, người chủ am thương tình che chở, cho khoác áo cà sa biến làm ni cô để che mắt quân thù, đó là phần mưu trí. Nhưng đến lúc quân địch khiêu khích để tìm sự thật, thách Cửu Muội ra đấu chiến thì Cửu Muội không thể kiên nhẫn được, lại dùng cái dũng của mình để đánh đuổi kẻ địch. Đó là cái dũng thắng trí, làm cho mưu kế bị bại lộ.
Tuy trí và dũng là hai phương tiện để bảo vệ thân mình, đáng lẽ Cửu Muội phải giả vờ ni cô, không biết võ nghệ, thì sẽ qua mặt được quân Phiên, đằng này Cửu Muội lại dùng võ để đánh đuổi bọn chúng, thì hành động ấy đã làm bại tung tích của mình.
Trí và dũng mà không dùng đúng lúc, hợp với hoàn cảnh thì chắc chắn phải nhận lấy sự thất bại.


0
Hồi Thứ Năm Mươi Lăm

Cửu Muội lậu mưu bị bắt,
Ngũ Lang cả phá dinh Phiên.


Lúc ấy quân Phiên chạy về U Châu ra mắt quan Thừa tướng là Trương Hoa, mà bẩm rằng:
- Tại núi Thiên Mã, có một người tráng sĩ, tu hành nhưng võ nghệ siêu quần, đánh chúng tôi chạy tán loạn.
Trương Hoa nghe nói nghĩ thầm:
- Nếu có người như vậy thì phải sai quân đòi về đây để sử dụng.
Nói rồi lập tức sai một viên quan lãnh mệnh đến am Trang, ra mắt am chủ mà nói rõ việc ấy.
Am chủ gọi Con Muội đến nói:
- Nay U Châu có thừa tướng sai người đến rước ngươi, ngươi có đi chăng?
Cửu Muội nói :
- Người ta đã mời lẽ nào lại từ chối.
Am chủ sửng sốt liền kêu Cửu Muội ra phía sau, nói nhỏ:
- Tiểu thơ là đàn bà con gái, nếu nó biết được thì tánh mạng chẳng còn, tại sao tiểu thơ lại chịu đi?
Cửu Muội nói:
- Tôi mang ơn am chủ hậu đãi, thì đủ thấy lòng tốt của am chủ rồi. Vả lại tôi đến đó sẽ lập mưu cứu anh tôi, đó cũng là cơ hội tốt.
Am chủ nói:
- Tuy vậy tiểu thơ phải cẩn thận, vì đem thân nạp vào miệng cọp, không phải dễ.
Cửu Muội liền từ biệt am chủ, theo quân Phiên về U Châu, vào ra mắt Thừa tướng.
Trương Hoa nói:
- Tráng sĩ là người ở xứ nào, tên họ là chi, hãy nói cho ta biết đặng ta thu dụng.
 Cửu Muội đáp:
- Tôi quê quán ở Thái Nguyên, họ Hồ tên Nguyên, lúc nhỏ có học tập võ nghệ, đã đi thi mấy khoa mà không đậu nên bỏ vào núi tu hành, nay mang ơn ngài chiếu cố đến, nên tôi phải đến hầu.
Trương Hoa thấy Cửu Muội ăn nói thanh nhã, tướng mạo khác thường, bèn khiến quân dọn dẹp một chỗ tịnh phòng để Hồ Nguyên an nghỉ.
Khi Hồ Nguyên từ tạ về phòng, thì Trương Hoa vào hậu đường nói với phu nhân muốn gả Nguyệt Anh tiểu thơ cho Hồ Nguyên. Phu nhân cũng đẹp ý.
Hôm sau, Trương Hoa cho người nói với Hồ Nguyên biết.
Hồ Nguyên nói:
- Ấy là việc tốt tôi mang ơn Thừa tướng rất hậu tình, nhưng lúc này binh Tống còn xâm lăng, ý tôi muốn ra sức đánh dẹp để lập công, rồi sẽ tính.
Phiên quan làm việc ấy nói lại với Trương Hoa. Trương Hoa khen phải, và nói:
- Vậy thì để ta xem võ nghệ hắn thế nào rồi sẽ liệu.
Nói rồi vào triều tâu với Tiêu Hậu:
- Tôi mới chiêu mộ được một tráng sĩ, đáng mặt anh hùng, lại muốn lập công để đền ơn, xin Bệ hạ gia phong quan chức để sai người ấy đi phá Tống.
Tiêu Hậu nhận lợi, phong cho Hồ Nguyên là U Châu Đoàn luyện sứ, dẫn năm ngàn quân giúp nguyên soái Tiêu Thiên Hữu.
Hồ Nguyên tạ ơn, dẫn binh thẳng đến Đàn Châu, hiệp với binh Tiêu Thiên Hữu đóng tại Tây dinh.
Vừa lúc ấy có binh Ngũ Lang đến khiêu chiến. Hồ Nguyên hẹn mang giáp lên ngựa, xông ra trước trận kêu lớn:
- Tống tướng hãy lui binh cho mau, kẻo ta chém đầu
Ngũ Lang nhìn thấy biết Cửu Muội thì nghĩ thầm:
- Em ta sao lại giả trai đem quân đến đánh với ta.
Cửu Muội mỉm cười, ra ám hiệu:
- Ngũ ca nên giả thua bỏ chạy, em sẽ có kế hay.
Ngũ Lang biết ý, liền xốc ngựa tới đánh vài hiệp rồi giả thua bỏ chạy, Cửu Muội đuổi theo vài dặm, rồi thâu binh trở lại.
Quân thám mã về báo với Tiêu Thiên Hữu:
- Người tướng mới thu dụng đã đánh thắng binh tống một trận.
Tiêu Thiên Hữu cả mừng, bèn thỉnh Cửu Muội vào lập kế phá Tống. Chẳng ngờ Cửu Muội là con gái, nên tiếng nói mỗi lúc một trong trẻo, làm cho Tiêu Thiên Hữu nghi ngờ, nghĩ thầm:
- Người này diện mạo giống Lục Lang, chúng ta phải coi chừng cho lắm.
Nói rồi sai quân bắt trói Cửu Muội, nói:
- Người là tướng của họ Dương ở bên Tống, dám đến đây mà gạt ta sao.
Dứt lời, liền sai quân bỏ vào tù xa, giải về U Châu cho Tiêu Hậu xét xử.
Tiêu Hậu khiến giam Cửu Muội vào ngục.
Tin này truyền đến Tam Quan, Dương Ngũ Lang biết em mình mắc nạn, liền bàn với các tướng:
- Nay Cửu Muội bị giam vào trong ngục hình, ta phải lo cứu em ta trước mới được .
Trần Lâm nói:
- Tướng quân có kế chi hay không?
Ngũ Lang nói:
- U Châu phía hữu gần đất Tây Phiên, ta giả binh mã của Tây Phiên qua giúp Tiêu Hậu, rồi lợi dụng tình thế mà cứu em ta.
Trần Lâm nói:
- Kế ấy rất hay vậy tướng quân đi trước, còn tôi sẽ đem binh ứng.
Ngũ Lang liền sắp đặt chỉnh tề, kéo cờ Tây Phiên thẳng tới U Châu, sai người báo với Tiêu Hậu hay.
Tiêu Hậu khiến triều thần ra rước vào.
Dương Ngũ Lang vào đến nơi ra mắt. Tiêu Hậu nói:
- Tướng quân đường sá xa xôi, đến đây giúp ta rất là ơn đức.
Ngũ Lang nói:
- Nước Tây Phiên thấy Bệ hạ đánh với Tống chưa rõ hơn thua, nên sai tôi đến đây phá Tống cho rồi.
Tiêu Hậu bèn truyền dọn tiệc thết đãi rất trọng hậu. Ăn uống xong, Ngũ Lang tâu:
- Việc binh rất gấp, ngày mai tôi phải ra quân.
Tiêu Hậu nói:
- Ở nơi xa đến, binh mã còn mệt mỏi, vậy phải nghỉ ngơi vài hôm, rồi sẽ ra trận.
Ngũ Lang vâng lời đóng quân ở phía Nam, rồi nhóm chư tướng truyền lệnh:
- Ta phải thừa lúc binh Phiên không đề phòng, đêm nay đánh rốc vào hoàng thành, thì việc lớn ắt xong.
Chư tướng vâng lệnh, sẵn sàng chờ đến ban đêm sẽ hành sự.
Lúc này Cửu Muội bị giam trong ngục, may nhờ có Ngục quan là Chương Nô biết người tốt, nên hậu đãi lắm. Đã nhiều lần muốn thả nhưng chưa có dịp.
Hôm ấy Cửu Muội nói với Chương Nô:
- Tôi mang ơn ông rất hậu, nếu có dịp ông hãy theo tôi về Tống để được báo đền.
Chương Nô nói:
- Tôi có ý ấy đã lâu, ngặt không có người dìu dắt, nếu tướng quân muốn đem tôi đi, thì đêm nay vượt ngục ra khỏi chốn này.
Trời vừa chạng vạng, bỗng nghe tiếng quân la ó, Dương Ngũ Lang dẫn bảy trăm quân đánh rốc vào hoàng thành. Quan cận thần vào báo:
- Quân Tây Phiên làm phản.
Tiêu Hậu thất kinh liền truyền lệnh phong bố nội thành.
Dương Ngũ Lang xông thẳng vào ngục, vừa gặp Cửu Muội và Chương Nô đang đánh ra, quân Phiên hoảng chạy chẳng dám cản đường.
Ngũ Lang và Cửu Muội đánh phá U Châu một hồi, rồi nổi lửa đốt cửa thành phía Nam kéo binh đánh rốc qua Đàn Châu.
Tiêu Thiên Hữu không biết do đâu mà binh biến, còn Gia Luật Đệ vừa giục ngựa đuổi theo thì gặp Ngũ Lang, hai bên giao chiến chưa được vài hiệp thì bị Ngũ Lang cho một búa bể óc. Trần Lâm và Sài Cảm dẫn binh đến nhưng chẳng dám chống cự, bèn bỏ binh mà chạy.
Dương Ngũ Lang nghĩ thầm:
- Thầy ta có nói Thiên tướng là Tiêu Thiên Hữu nửa mình đồng xương sắt, nếu muốn chém nó phải dùng búa Dáng Lâm, vậy ta thử xem?
Nghĩ rồi, xông vào nội thành gặp Tiêu Thiên Hữu phóng ngựa chạy ra, Ngũ Lang kêu lớn:
- Tiêu Thiên Hữu, ngươi đã đến số rồi.
Nói rồi niệm chú Dáng Lâm chém Tiêu Thiên Hữu một búa mình sa xuống ngựa .
Bấy giờ trời vừa rạng sáng, Ngũ Lang dẫn binh đánh phá dinh Phiên, thẳng vào Song Long Cốc. Mạnh Lương lúc ấy dẫn binh đánh nhồi ra gặp tướng Phiên là Huỳnh Oai Hiền, Mạnh Lương chém một búa té nhào.
Dương Diên Chiêu bấy giờ cũng thừa thế xông ra, hiệp binh với Dương Ngũ Lang đánh giết binh Phiên thây nằm chật đất, phá tan trùng vây rồi thu quân về trại.
Sáng hôm sau, chư tướng vào ra mắt Dương Diên Chiêu.
Dương Diên Chiêu nói:
- Nếu không nhờ Ngũ Ca ta ra sức cứu viện, thì ta đã khốn đốn rồi.
Dương Ngũ Lang kể lại chuyện Cửu Muội bị quân Phiên bắt cầm ngục, nếu chẳng gặp cơ hội này thì tánh mạng nó cũng không còn.
Cửu Muội nói:
- Em nhờ có ngục quan Chương Nô cứu giúp, nếu không thì đã bị binh Phiên sát hại rồi. Ơn ấy khó mà trả được.
Dương Ngũ Lang nói:
- Trong chốn thâm sơn U Cốc mà cũng có người tốt như vậy thật đáng kính.
Nói rồi, lấy bạc vàng gấm vóc tạ ơn Chương Nô.
Ngũ Lang nói với Cửu Muội:
- Hiền muội hãy trở về phụng dưỡng mẫu thân, anh cũng sẽ dẫn chúng tướng về Ngũ Đài sơn, còn Lục Đệ thì phải ở lại đây gìn giữ Tam Quan, để nối chí cha ngày trước.
Sau đó anh em từ giã mỗi người đi làm một trách nhiệm.
Dương Diên Chiêu về trại, sai người đem con Vạn Lý Vân về Biện Kinh trả lại cho Bát Vương.
Bát Vương được ngựa mừng rỡ nói:
- Lúc trước ta không cho mượn ngựa, chỉ vì muốn thử tài Mạnh Lương để thôi. Nay đã đem ngựa trả lại thì Mạnh Lương và Dương Diên Chiêu quả là người trọng nghĩa.
Nói rồi tâu vua truyền chỉ cho Dương Diên Chiêu trấn thủ Tam Quan, chiêu mộ anh hùng, phòng ngày sau đem binh phạt Bắc.
Vua Chơn Tôn nói:
- Dương Lục sứ vừa lập công lớn, nên trọng thưởng thế nào?
Bát Vương nói:
- Nên lấy lễ mà đãi cho trọng hậu để họ Dương hết lòng giúp nước.
Vua Chơn Tôn y lời sai người đem gấm vóc lụa là và vàng bạc đến nơi trọng thưởng.
Lúc ấy Vương Xu trở về mật phủ, nghĩ thầm:
- Nếu họ Dương mà anh hùng như vậy thì làm sao ta địch nổi?
Nghĩ rồi liền thỉnh Tạ Kim Ngô đến nói:
- Ta có việc cơ mật, muốn cùng ngươi bàn tính một việc.
Tạ Kim Ngô hỏi:
- Chẳng hay đại nhân có việc chi quan trọng chăng?
Vương Khâm nói:
- Ta lâu nay nhờ ơn thánh thượng trọng dụng, song Bát Vương có ý bất bình. Hôm trước nhân có việc ta đi qua Vô Nịnh phủ quên xuống ngựa, bị họ Dương làm nhục một phen, nên vào tâu với chúa thượng, bị Bát Vương đả kích. Nay ta nghĩ lại muốn từ quan thì mới tránh khỏi sự phiền não như vậy.
Tạ Kim Ngô nói:
- Đại quan sao lại quá nhẫn nhịn như vậy. Trong lúc có mấy vị đại thần nay đã tiêu tan gần hết rồi, duy còn có mấy người của chúng ta mà thôi. Các Điện hạ quyền thế tuy cao mà không có thủ hạ. Còn cha con họ Dương đã thành quỉ không đầu. Lúc Tiên đế còn sống vì tưởng cái ơn nên lập Thiên Ba lầu là Vô Nịnh phủ, để dụ dỗ bọn chúng. Nay Chúa thượng không còn nghĩ đến chuyện đó nữa. Vậy để tôi đi qua đó một phen, nếu chúng nó quen thói khinh người thì tôi sai bộ hạ phá hết hai phủ ấy xem chúng nó làm chi cho biết.
Vương Khâm thấy Tạ Kim Ngô trúng kế mình, liền nói khích:
- Tạ Phó Sứ chớ nên nóng nảy, nếu phá Thiên Ba lầu thì không dễ với Dương Lệnh bà, còn nếu phá Vô Nịnh phủ thì bọn ta không thể yên tâm mà bị nhục nhã.
Nói rồi mời Kim Ngô ở lại uống rượu, chuyện trò đến tối mới cho từ giã ra về.
Lời Bàn
Trí và tín là hai điều cơ bản để xây dựng danh giá con người. Thiếu một điều thì làm người không thể trọn vẹn.
Dương Diên Chiêu và Mạnh Lương là hai kẻ biết vận dụng trí và tín.
Trong lúc tình hình nguy hiểm, cần một con ngựa hay, để phá giặc Phiên, Mạnh Lương đã dùng hết mưu trí của mình đã bắt được con Vạn Lý Vân của Bát Vương. Đó là trí.
Lúc dẹp xong giặc Phiên, Dương Diên Chiêu sai người trả ngựa lại cho Bát Vương, thì đó là giữ điều tín nghĩa.
Trong cuộc sống con người, nếu chỉ dùng trí mà mưu đoạt lợi với kẻ khác, không có tín nghĩa, thì người đó trở thành kẻ gian manh, xảo trá.
Còn nếu chỉ dùng tín nghĩa, không đủ mưu trí để ứng biến tùng quyền, cứu nguy cho hoàn cảnh, thì kẻ đó là bất lực không đủ khả năng mưu đồ việc lớn.
Bởi vậy, làm người phải có trí và tín. Trí để mưu đồ thành công việc lớn, tín để giữ cách đạo nghĩa làm người.
 Hai điều đó có trong một đức tánh con người, thì người đó là anh hùng, là kẻ siêu nhân.


0
Hồi Thứ Năm Mươi Bảy

Tống Chơn Tôn qua Ngụy Châu dạo cảnh
Vương Tòan tiếp vây Đồng Đài giao tranh

 
Tin tức Dương Diên Chiêu bị giết đồn đến Giải Sơn trại, bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương kêu khóc om sòm.
Mạnh Lương nói với chư tướng:
- Nay thượng quan đã bị chết oan, bọn ta đây cũng chẳng làm gì, chi bằng phân nhau đi các nơi làm ăn thì hơn.
Nhạc Thắng nói:
- Lời tướng quân rất phải.
Bèn khiến Lưu Siêu, Trương Cái xuống dưới núi, lập một cái miếu thờ Dương Diên Chiêu, và lập hai cái cốt tượng hình Dương Diên Chiêu và Tiêu Táng mà thờ, còn bọn Nhạc Thắng và Mạnh Lương thì về lại Thái Hành Sơn làm tướng cướp mà nuôi nhau.
Bấy giờ Tiêu Táng bị đày ở Đăng Châu nghe Dương Diên Chiêu bị giết thì cũng vượt ngục mà trốn đi.
Bấy giờ Vương Khâm thấy Dương Diên Chiêu đã chết liền viết thơ sai người tâm phúc đem qua Bắc Phiên nói rõ cho Tiêu Hậu biết.
Tiêu Hậu xem xong mừng rỡ, nói với Tiêu Thiên Tử:
- Nay Vương Khâm gởi thơ về nói rõ ràng tình hình nước Tống đang nguy khốn như vậy. Chúng ta nên khởi binh đánh một trận xem sao.
Sư Cải tâu:
- Họ Dương tuy mất, song nước Tống binh tướng còn nhiều nếu ta dẫn binh chinh phạt e chưa chắc thắng. Vậy phải lập kế gạt Tống chúa ra khỏi triều đình, rồi vây bắt.
Tiêu Hậu hỏi:
- Khanh có kế gì gạt Tống chúa hãy nói cho ta nghe thử?
Sư Cải tâu:
- Nay Ngụy phủ là Lăng tẩm của Tấn Đế, lâu ngày bỏ hoang. Nay khiến người trồng thêm hoa thơm cỏ lạ rồi đồn đại trời xuống điềm lành, mưa rượu ngọt, cây hóa huỳnh tương, bày điều quái lạ như vậy. Lại khiến một người đem tin cho Vương Khâm hay, bảo Vương Khâm xúi vua Tống ra đó mà xem, rồi ta kéo binh vây bắt. Nước Tống mất vua thì còn gì mà giữ được giang sơn.
Tiêu Hậu theo kế liền viết thơ sai người đến Biện Kinh tin cho Vương Khâm hay trước, rồi chọn người đến Ngụy phủ sửa sang lăng tẩm, đào lập vườn. Một mặt sai Tiêu Thiên Tả dẫn binh mã đến đó phục sẵn.
Chưa đầy một tháng, tin tức đồn đến Biện Kinh.
Vua Chơn Tôn hỏi quần thần:
- Nay Ngụy phủ có điềm lạ như vậy, các khanh xét thấy thế nào?
Vương Khâm bước tâu :
- Nay Ngụy phủ có điềm lạ như vậy, ắt lòng trời muốn cho nước Tống giàu mạnh, Bắc Phiên chẳng dám lăm le bờ cõi nữa.
Vua Chơn Tôn mừng rỡ, nói:
- Đất Ngụy gần cõi Phiên mà lúc này là lúc chiến tranh, nếu trẫm ngự giá ra đó ai dám đi theo để bảo giá?
Vương Khâm tâu:
- Bệ hạ nên khiến phò mã Khấu Thừa gìn giữ kinh thành rồi ra đi ắt vô sự.
Bát Vương thấy can không được, buồn bực lui ra.
Vua Chơn Tôn liền hạ chỉ sai Hô Diên Táng làm bảo giá.
Đại tướng quân, Quang Châu Tiết, Vương Toàn Tiết, Trịnh Châu Tiết đều theo hộ giá.
Bọn Hô Diên Táng vâng mạng sắm sửa sẵn sàng, cách vài hôm sau rời Biện Kinh, có Bát Vương và văn võ bá quan theo hầu.
Đi được mấy ngày đã đến Ngụy Châu, vào lúc tiết trời nắng ráo, xe giá vào ngự phủ đồn trú.
Vua Chơn Tôn bèn dắt quần thần đi xem phong cảnh, quả nhiên thấy cây lá tốt tươi, nước xanh leo lẻo, vua bèn khiến múc nước ao lên nếm, thì quả có bay mùi rượu, quân sĩ bẻ lá cây mà ngửi thì chẳng có chi lạ.
Bát Vương tâu:
- Bệ hạ vì điềm lành mà muốn đến đây xem, nay thấy chẳng có gì đáng lưu ý, vậy xin Bệ hạ sớm trở về cung, kẻo lầm kế giặc.
Vua Chơn Tôn nghe nói, cũng nghi ngờ, bèn hạ chỉ di giá trở về. Chẳng ngờ quân Bắc Phiên thám thính, thấy chúa tôi nhà Tống đã vào Ngụy phủ, nên báo cho Tiêu Thiên Tả và Thổ Kim Tú dẫn mười muôn binh mã, vây chặt bốn phía.
Vua Chơn Tôn cả kinh, nói:
- Trẫm chẳng nghe lời các khanh can gián, hôm nay bị vây biết làm sao thoát khỏi.
Bát Vương nói:
- Binh Phiên đã lập kế đưa chúng ta vào lưới, Bệ hạ phải truyền cho các tướng giữ bốn cửa phủ cho nghiêm ngặt, rồi sai người về Biện kinh cầu cứu.
Vua Chơn Tôn liền khiến Hô Diên Táng cho quân giữ các cửa, trong lúc binh Phiên đông như kiến cỏ, ai nấy đều khiếp sợ.
Tướng Phiên là Thổ kim Tú, giục ngựa xông ra nói lớn:
- Vua tôi nước Tống các ngươi đã trúng kế sa vào lưới rập sao không chịu đầu hàng cho khỏi chết?
Hô Diên Táng nổi giận xông ngựa ra đánh với Kim Tú một hồi. Hô Diên Táng đuối sức quay ngựa bỏ chạy bị quân Phiên dùng cung tên bắn như mưa, trúng vào con ngựa Hô Diên Táng, làm cho Hô Diên Táng té nhào xuống đất bị quân Phiên áp đến bắt sống.
Vua Chơn Tôn hay tin thất kinh. Bát Vương tâu:
- Việc đã gấp xin Bệ hạ sai người đến các trấn gần đây cầu viện binh cứu.
Vua Chơn Tôn y lời, sai người ra đi.
Bấy giờ quân Phiên bắt được Hô Diên Táng, bèn bỏ vào xa giải về U Châu nạp cho Tiêu Hậu.
Thấy vua Chơn Tôn buồn bã, Bát Vương tâu:
- Triều đình tin tức không thông, còn ở đây chẳng ai dám ra đánh, nay phải tìm cho được họ Dương thì mới phá nổi quân Phiên.
 Chơn Tôn nói :
- Họ Dương biết đâu mà tìm bây giờ?
Bát Vương tâu:
- Xin Bệ hạ viết một bức thơ, sai người đi tìm khắp thiên hạ may ra gặp được.
Vua Chơn Tôn làm thinh, vào trong trướng nghĩ thầm:
- Lời tâu của Bát Vương thật đáng nghi lắm, tại sao đã giết Dương Diên Chiêu, chặt đầu đem về, lại còn bảo là đi tìm trong thiên hạ?
Nghĩ rồi, liền đòi quân Thị Thần vào hỏi:
- Các khanh nghe lời tâu của Bát Vương có gì nghi ngờ chăng?
Quan Thị Thần tâu:
- Có khi Bát Vương biết đặng tin tức của Dương Diên Chiêu nên mới tâu như vậy. Xin Bệ hạ hãy phát thơ sai người ra Nhữ Châu mà hỏi, thì sẽ biết rõ.
Vua Chơn Tôn nghe lời, viết thơ và hỏi các tướng:
- Có ai dám vì trẫm mà thoát vây đến Nhữ Châu chăng?
Vương Toàn Tiết bước ra xin đi. Vua Chơn Tôn sai Lý Ninh yểm trợ ra khỏi thành.
Vương Toàn Tiết may mắn thoát ra được liền nhắm Nhữ Châu đi tới.
Lời Bàn
Trong lúc hoạn nạn mới thấy được quyền uy không phải là lẽ sống.
Vua Chơn Tôn trong lúc không gặp hoạn nạn, nghe lời bọn ninh thần, giết hại các tôi trung, dùng quyền uy để trấn áp mọi người, rồi đến lúc hoạn nạn lại cầu cứu các trung thần để bảo vệ mình. Như vậy kẻ thiếu sáng suốt chỉ thấy quyền uy trong lúc thái bình mà không thấy nguy hiểm trong lúc hoạn nạn.
Người có bản lĩnh, có tinh thần sáng suốt, không cậy vào quyền uy trong lúc thái bình, mà nghĩ đến việc nguy hiểm trong lúc hoạn nạn.
Từ xưa đến nay, những kẻ cầm quyền, nắm quyền lực trong tay, ít ai biết lo xa, lúc thái bình nghĩ đến lúc nguy khốn, chỉ nhìn vào sự việc trước mắt, đến lúc tình thế diễn biến, không còn quyền nữa thì mới ăn năn hối hận.
Tội nghiệp cho những kẻ trung quân ái quốc như họ Dương, suốt đời chịu nhẫn nhục để đuổi theo một ước vọng vì nước vì dân, nên dù khổ cực đến đâu cũng không xa rời mục đích của mình.


 
0
Hồi Thứ Năm Mươi Tám

Bát Vương lãnh sứ cứu Dương Diên Chiêu,
Mạnh Lương tình cờ theo Tiêu Táng.


Vương Toàn Tiết ra khỏi vòng vây, suốt đêm chạy đến Nhữ Châu ra mắt quan Thái thú, nói:
- Chúa thượng bị vây khốn tại Ngụy Phủ, không ai dám ra đánh quân Phiên, nay có chiếu sai tôi đến đây, tìm Dương Diên chiêu trở về cứu giá. Xin quan Thái thú tìm giùm cho được.
Quan Thái thú là Trương Tế nói:
 - Dương Diên Chiêu phạm tội, đã bị chặt đầu đem nạp về triều nay còn khiến tôi đi tìm sao được. Xin tướng quân hãy về tâu lại.
Vương Toàn Tiết than:
- Nếu không tìm được thì chúa thượng không thoát khỏi nạn này.
Trương Tế nói:
- Thật là trái lễ! Lúc bình thường triều đình sai đi chặt đầu người nọ, chém đầu người kia, dù đó là kẽ trung thần, rồi đến lúc tai nạn lại bảo đi tìm người đã chết.
Vương Toàn Tiết nghe nói không biết làm sao, phải trở về Dương phủ, ra mắt Dương Lệnh bà để bày tỏ việc ấy.
Dương Lệnh bà nổi giận mắng:
- Cái đầu con ta đã chôn lâu rồi, các ngươi hãy đào lên mà tìm nó.
Vương Toàn Tiết buồn bực phải trở ra Ngụy Châu tâu lại với vua Chơn Tôn .
Vua Chơn Tôn nghe tâu, thở dài than:
- Nước Tống là một nước uy hùng, gặp cơn hoạn nạn chẳng ai dám ra cứu viện.
Quần thần tâu:
- Nay chúa thượng đã mắc vào vòng vây của địch, dẫu có Tử Nha sống lại, cũng không tìm ra kế.
Vua Chơn Tôn bỏ ăn bỏ ngủ. Bát Vương thấy vậy tâu:
- Việc đã quá gấp, tôi phải đích thân về Dương phủ mà hỏi thăm tin tức của Dương Diên Chiêu, nếu không được thì tôi phải đích thân đi khắp nơi để tìm cho được. Vậy Bệ hạ sai chư tướng giữ thành cho nghiêm ngặt.
Vua Chơn Tôn nói:
- Như khanh có đi thì phải cẩn thận.
Bát Vương lãnh mệnh, sai Vương Toàn Tiết và Lý Minh bảo hộ ra khỏi vòng vây đi thẳng tới Dương phủ, ra mắt Dương Lệnh bà, nói:
- Nay chúa thượng đang lúc lâm nguy, xin thỉnh Dương Diên Chiêu ra đây cho tôi thương nghị.
Dương Lệnh bà nói:
- Nay Bát Vương đến đây, tôi không còn giấu giếm nữa.
Nói rồi sai người xuống một cái hầm kêu Dương Diên Chiêu lên.
Dương Diên Chiêu vào ra mắt Bát Vương và nói:
- Nếu ngày trước không nhờ điện hạ lập kế giải cứu thì nay Dương Diên Chiêu này đâu còn sống mà tìm. Tôi mang ơn điện hạ không biết lấy chi báo đáp.
 Bát Vương nói:
- Nay chúa thượng bị vây nơi Ngụy phủ, nên phải tìm đến tướng quân để cầu cứu.
Dương Diên Chiêu nói:
- Muốn phá vòng vây quân Phiên phải có quân sĩ. Tôi nghe nói Tam Quân bây giờ binh tướng đều tan rã, vậy để tôi đến đó chiêu mộ binh tướng rồi mới hành động được.
Bát Vương nói:
 - Nếu vậy chẳng nên chậm trễ. Ta sẽ về triều viết thơ tin cho các trấn thu thập binh mã sẵn sàng, rồi hiệp với các tướng quân kéo đến giải vây một lượt.
Dương Diên Chiêu vâng mạng, vào bái biệt Dương Lệnh bà, thẳng đến Tam Quan trại, trở qua Đăng Châu tìm Tiêu Táng hỏi thăm tin tức.
Khi vừa đến Cẩm Giang, Dương Diên Chiêu thấy tốp thầy chùa vừa đi vừa cằn nhằn, Dương Diên Chiêu hỏi:
- Các ngươi đi đâu mà coi bộ bất bình như vậy?
Mấy vị thầy chùa nói:
- Nơi đây có một thằng điên bắt thầy chùa chúng tôi đêm ngày đến tụng kinh chẳng ai dám nghịch mạng.
Dương Diên Chiêu nghĩ thầm:
- Đây chắc là Tiêu Táng chẳng sai, liền hỏi:
- Người ấy bây giờ ở đâu?
 Thầy chùa nói:
- Ở phía Tây thành Đăng Châu, nơi một cái miếu mới vừa lập lên đó.
Dương Diên Chiêu nói:
- Vậy thì ta đi với các ngươi.
Mấy ông thầy chùa dắt Dương Diên Chiêu đến nơi, thấy Tiêu Táng đang nằm trên bàn thần ngủ ngáy pho pho.
Dương Diên Chiêu bước lại gần, đập mạnh vào lưng Tiêu Táng.
Tiêu Táng giật mình thức giấc, trợn mắt hét:
- Đứa nào dám cả gan đến phá giấc ngủ của ta vậy?
 Dương Diên Chiêu nạt:
- Tiêu Táng chớ vô lễ ? Hãy nhìn ta xem ai.
Tiêu Táng thấy Dương Diên Chiêu vội nhảy xuống ôm chầm lấy, hỏi:
- Quan chủ! Ngươi là người hay ma quỉ, đã bị chặt đầu sao còn hiện hình nhát ta?
Dương Diên Chiêu cười nói:
- Đang giữa ban ngày mà ma quỉ đâu dám đến. Thôi, hãy theo ta ra ngoài ta kể chuyện cho mà nghe.
Mấy ông thầy chùa trông thấy rồi bụm miệng cười dắt nhau đi mất.
Lục sứ dẫn Tiêu Táng ra khỏi miếu, thuật lại mọi việc cho Tiêu Táng nghe. Tiêu Táng mừng rỡ nói:
- Tôi tưởng thượng quan đã bị triều đình chặt đầu nên lập miếu mà thờ, không dè sự việc như vậy.
Dương Diên Chiêu nói:
- Nay việc binh rất gấp, hai ta phải ra Tam Quan cho sớm, chiêu tập binh sĩ giải vây cho chúa thượng.
Hai người vừa đi vừa nói chuyện thì đã đến bến đò Dương Gia, bỗng thấy một lũ côn đồ chạy tới.
Tiêu Táng nói:
- Để tôi giết hết lũ này trừ mối họa cho địa phương.
Dương Diên Chiêu nói:
- Không nên? Chúng ta đang cần chiêu binh dụ lính, phải thu bọn chúng để dùng vào việc binh.
Người cầm đầu bọn lâu la này là Dương Thái Bảo, cùng họ với Dương Diên Chiêu, nên khi biết Dương Diên Chiêu thì quì gối phục tùng, mời Dương Diên Chiêu và Tiêu Táng về mở tiệc đãi đằng.
Lúc ấy nhằm tiết tháng tư, trời đang nóng nực, hai người đi trót nửa ngày, ngưng ngồi dưới gốc cây mà nghỉ mát. Tiêu Táng thưa:
- Thượng quan hãy ngồi đây để tôi đi trên quán rượu giải khát.
Nói rồi ra đi, bỗng thấy một đám người khiêng rượu thịt đi ngang qua đó. Tiêu Táng hỏi:
- Các ngươi gánh rượu thịt đi đâu vậy?
Bọn người ấy nói:
- Phía trước có cái miếu Dương Diên Chiêu, oai linh hiển hách, trong làng chúng tôi thường đến khấn vái, nên nay đem lễ vật đến cúng tế.
Tiêu Táng cười lớn:
- Té ra ngươi đem rượu thịt đến tế Dương Diên Chiêu, vậy thì hãy theo ta đến gốc cây kia mà tế.
Tiêu Táng dẫn bọn người gánh rượu thịt đến nơi, rồi cười nói với Dương Diên Chiêu:
- Người gánh rượu thịt đến tế thượng quan đây.
Dân làng thấy việc lạ, cúi đầu lạy và thưa:
- Bọn tôi ngỡ quan đã chết nên lập miếu mà thờ. Chẳng ngờ quan còn sống, vậy chúng tôi dâng vật cho thỏa lòng thành kính.
Tiêu Táng và Dương Diên Chiêu ăn uống xong thì đến Tam Quan ải.
Nhạc Thắng và Mạnh Lương lúc này đang chiếm cứ Thái Hành Sơn, nghe tin vội ra đón tiếp.
Dương Diên Chiêu nói:
- Các ngươi phải sửa soạn binh mã sẵn sàng để theo ta đi về giải vây cho chúa thượng. Nay ta còn phải đi các nơi khác.
Nói rồi Dương Diên Chiêu và Tiêu Táng dắt nhau ra đi.
Đi được nửa ngày, mặt trời đã chen núi, Dương Diên Chiêu bảo Tiêu Táng:
- Chỗ này là rừng núi, không có quán trọ, hãy nên kiếm nhà mà nghỉ đỡ.
Tiêu Táng lãnh mạng đi một lúc, chẳng thấy nhà cửa ai hết, bỗng thấy nơi gốc núi, có một ngôi nhà có một ông viên ngoại đang chong đèn ngồi một mình .
Tiêu Táng bước vào hỏi:
- Tôi là người khách buôn, lỡ đường trời tối, xin ông cho tá túc một đêm.
Ông lão đáp:
- Ở đây khó khăn lắm, xin quý khách tìm nơi khác.
Tiêu Táng nói:
- Trời đã khuya, xin ông làm ơn cho chúng tôi tạm một đêm.
Ông lão hỏi:
- Có cùng đi với ai nữa không?
Tiêu Táng nói:
- Chỉ có một người nữa mà thôi.
Ông lão nói:
- Nếu chỉ có hai người thì chẳng hề chi. Vậy xin mời vào phòng nghỉ tạm.
Tiêu Táng bèn trở ra kêu Diên Chiêu vào ra mắt. Ông lão thấy Dương Diên Chiêu tướng mạo khác thường, liền hỏi:
- Ông ở đâu mà đến đây?
Dương Diên Chiêu đáp:
- Tôi là người ở Biện Kinh, muốn đến Thái Hành Sơn có việc.
Ông già nghe nói nhăn mặt nói:
- Tôi nghe tới Thái Hành Sơn mà thêm sầu não.
Dương Diên Chiêu hỏi:
- Có việc chi xin cho tôi biết.
Ông già nói:
- Tôi ở đây xưa nay chỉ có việc ưa danh chuyện nghĩa, cả xóm này đều là họ Trần, vừa rồi có một vị thảo khấu trên Thái Hành Sơn tên là Nhạc Thắng, một người nữa tên là Mạnh Lương, đem bộ hạ cướp phá xóm làng nhiễu hại lương dân. Tôi đã nửa đời người, chỉ sanh được có một chút gái, bị Mạnh Lương xem thấy ép tôi phải gả con. Đêm nay Mạnh Lương đến làm rể, cực chẳng đã tôi phải vâng lời, nhưng đau đớn biết chừng nào.
Dương Diên Chiêu cười nói:
- Ông chớ lo, Mạnh Lương là bạn cũ của tôi, để tôi cảm nó cho.
Ông già nói:
- Nếu con tôi mà khỏi nhục thì ơn ông rất lớn.
Tiêu Táng nói:
- Nếu Mạnh Lương muốn làm rể ông, thì tôi xin tình nguyện làm con gái ông để đón chàng rể quí.
Nói rồi mượn quần áo con gái mặc vào, rồi ra ngồi giữa bàn đón rể.
Chẳng bao lâu, bên ngoài dẫn bọn tùy tùng đến vừa bước vào nhà đã thấy Tiêu Táng mặc đồ con gái bước ra thưa:
- Thiếp nghe tin trễ nên vội ra đón tiếp Mạnh Phu Quân xin tha tội.
 Mạnh Lương trông thấy Tiêu Táng thì sửng sốt.
 Kế đó Dương Diên Chiêu bước ra thì Tiêu Táng đã chạy đến ôm chặt Mạnh Lương vào lòng, lôi vào phòng trong, rồi nói với Dương Diên Chiêu:
- Để tôi dẫn nó động phòng hoa chúc.
Mạnh Lương trông thấy Dương Diên Chiêu, liền xô Tiêu Táng ra, quỳ lạy Dương Diên Chiêu, nói:
- Thượng quan đến đây lúc nào, xin ngài tha tội.
Dương Diên Chiêu nói:
- Hãy mau trở về trại để cùng ta thương nghị.
Lời Bàn
Lời xưa nói: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo " (lành dữ cuối cùng đều có trả)
Từ xưa đến nay, triều đình là chỗ cai trị dân, lúc nào cũng có kẻ nịnh, người trung.
Kẻ nịnh chỉ thành công nhất thời, còn trung tuy gian nan cực khổ, nhưng cuối cùng vẫn được đền đáp công lao.
Sở dĩ có nịnh trung là do tham vọng hưởng thụ, mà kẻ tham vọng hưởng thụ thì không thể trường tồn, chỉ có đạo nghĩa làm người mới vĩnh cửu mà thôi.
Truyện Tàu lưu lại những tấm gương sáng cho những ai có trách nhiệm trị nước an dân, nhìn lại gương xưa mà học tập tránh những điều gian tà, chạy theo dục vọng cá nhân, làm trái đạo nghĩa làm người.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-20 00:22:32Ct.Ly>
Hồi Thứ Năm Mươi Chín(Hồi Kết)

Hô Diên Táng gặp nạn được cứu,
Dương Diên Chiêu đánh phá Phiên dinh.


Bấy giờ Dương diên Chiêu bảo Mạnh Lương trở về trại, góp nhóm quân sĩ để kéo đến giải vây.
Còn viên ngoại họ Trần ra nhà sau bảo con gái. đến ra mắt Dương Diên Chiêu tạ ơn
Tiêu Táng cởi áo trả lại cho nàng dâu, và thấy nàng ấy tướng mạo đoan trang, hình dung yểu điệu, sắc đẹp phi thường, liền cười nói:
- Thật rủi cho Mạnh huynh quá? Nếu thầy trò tôi tới chậm một chút thì Mạnh huynh đã hưởng được phước rồi.
Mạnh Lương mắc cỡ nạt lớn:
- Thằng quỉ! Mày dám đùa cợt với ta như vậy sao?
Nàng Bá Hoa là con gái của viên ngoại, lạy tạ ơn xong, trở vào phòng, còn Trần viên ngoại làm tiệc đãi mọi người ăn uống rất vui vẻ.
Hôm sau, mọi người đều lên đường thẳng đến Thái Hành Sơn.
Nhạc Thắng hay tin liền dẫn binh kỵ ra nghênh tiếp.
Trà nước xong, Nhạc Thắng thưa:
- Bọn tôi nghe thượng quan mắc tội, nên phân nhau trở về nơi cũ làm ăn, nay đã được gặp nhau, thật là may mắn.
Dương Diên Chiêu nói:
- Nay chúa thượng bị vây ở Ngụy Châu, chúng ta phải kiểm điểm binh mã đi cứu giá.
Nhạc Thắng nói:
- Triều đình dùng lũ nịnh thần, mưu hãm hại chúng ta, nay may trời đất phù hộ, chúng ta còn sống và được gặp nhau vậy thì cứ ở lại đây làm ăn theo nghề cũ chẳng vui hơn sao, lại xen vào việc triều đình chi cho mệt.
Dương Diên Chiêu nói:
- Biết vậy, nhưng nếu chúng ta ở đây chiếm cứ một phương, mang danh ăn cướp, để tiếng nhơ muôn đời, thì lại tốt gì?
Nhạc Thắng ngẫm nghĩ rồi không nói nữa.
Hôm sau, ai nấy đều thu xếp binh mã, cùng nhau ra đi.
Chẳng mấy bữa, Sài Cảm, Trần Lâm cũng dẫn binh đến.
Những thủ hạ như: Nhạc Thắng, Mạnh Lương, Tiêu Táng, Trần Lâm, Sài Cảm, Lưu Siêu, Trương Cái. đều là những viên dũng tướng, còn binh ròng cộng lại hơn tám muôn.
Dương Diên Chiêu nói:
- Như vậy là đủ phá giặc rồi.
Liền sai người về Biện Kinh báo cho Bát Vương hay, hẹn ngày tấn binh.
Khi kéo đến Đăng Châu, thì Bát Vương cũng dẫn bốn muôn binh tới đó, xem thấy Dương Diên Chiêu hùng mạnh thì rất vui mừng.
Dương Diên Chiêu nói với Bát Vương:
- Chuyến này không những cứu giá mà còn bình định U Châu cho xong.
Bát Vương khen phải, dồn binh nghỉ lại một đêm.
Hôm sau, Dương Diên Chiêu nghe Nhạc Thắng đến, nói:
- Chúa thượng bị vây đã lâu, ngươi làm tiên phong, để đánh một trận cho Phiên binh vỡ mật.
Nhạc Thắng lãnh mạng dẫn binh đi.
Dương Diên Chiêu lại kêu Mạnh Lương và Tiêu Táng nói:
Hai người phải dẫn các bộ tướng quân làm hai đạo đánh vào trung quân. Còn ta sẽ dẫn đạo binh tiếp cứu.
Dương Diên Chiêu phân binh xong cùng Bát Vương kéo binh ra.
Lúc này Nhạc Thắng dẫn binh đi trước, thấy xa xa cát bụi bay mù trời, Nhạc Thắng liền vung đao lướt tới thấy một tướng Phiên đang giải một tù xa đi rất nhanh.
Nhạc Thắng xem lại thì người trong tù xa là Hô Diên Táng, liền vội vã đánh đuổi quân Phiên, rồi mở tù xa thả Hô Diên Táng ra.
Hô Diên Táng mừng rỡ vội đến ra mắt Bát Vương và Dương Diên Chiêu tạ ơn.
Dương Diên Chiêu mừng rỡ rồi cùng nhau lo việc tấn binh.
Bấy giờ tướng Phiên là Lưu Hà chạy về báo với Tiêu Thiên Tả:
- Nay binh Tống đến cứu đã đoạt mất Hô Diên Táng rồi.
Tiêu Thiên Tả thất kinh, liền sai quân thám thính, người ấy trở về báo:
- Đây là binh của Dương Diên Chiêu, quân tướng rất đông hùng mạnh vô cùng.
Tiêu Thiên Tả truyền lệnh cho các dinh chuẩn bị nghinh địch.
Vừa ra lệnh xong, thì đã thấy binh Nhạc Thắng rần rần kéo tới Binh Phiên là Gia Luật Khánh kéo ra chống cự.
Hai bên đánh nhau vài chục hiệp thì có Mạnh Lương và Tiêu Táng áp tới phá vòng vây.
Tướng Phiên là Ma Lý Lạc Hổ cũng dẫn binh ra trợ chiến, vừa gặp Mạnh Lương, Trần Lâm và Sài Cảm cũng dẫn binh hai phía đánh ép lại.
Hai bên đấu chiến, chiêng trống vang trời.
Tiêu Táng nổi giận xông vào chém tướng Phiên là Lưu Hà đầu rơi xuống ngựa.
Thế trận binh Phiên nao núng. Nhạc Thắng xua quân tới chém Ma Lý Lạc Hổ, còn Mạnh Lương thừa thế xô quân đánh riết vào Đông Môn.
Trong thành trông thấy binh Phiên bên ngoài rối loạn tiền sai Vương Toàn Tiết và Lý Minh dẫn quân ra tiếp ứng, giết binh Phiên thây nằm chật đất. Thổ Kim Tú và Tiêu Thiên Tả thâu góp tàn quân chạy về U Châu.
Lúc này Bát Vương vào thành, ra mắt vua Chơn Tôn tâu:
- Nhờ phước lớn của bệ hạ, nên tôi mới tìm được Dương Diên Chiêu đem binh đến cứu giá, giải vây được thế trận.
Vua Chơn Tôn nói:
- Trẫm thoát khỏi tai nạn này cũng nhờ công danh của khanh đó.
Bèn khiến triệu Dương Diên Chiêu đến.
Dương Diên Chiêu vào quì ra mắt. Vua Chơn Tôn nói:
Trước kia khanh có tội, nay có công cứu giá rất lớn, trẫm quyết chẳng phụ tình.
Dương Diên Chiêu tâu:
- Gặp cơ hội này, nay xa giá bệ hạ còn đây, tôi xin dẫn hết bổn bộ, kéo qua U Châu đoạt hết đất đai của Tiêu Hậu, dâng cho bệ hạ.
Vua Chơn Tôn nói:
- Lời khanh luận rất hay ngặt vì xa giá đã lâu, phải về trào nghỉ ngơi
Dương Diên Chiêu lui ra, khiến Đại Châu Tiết, Dương Quang Mỹ ở lại trấn thủ Ngụy Châu, còn bao nhiêu kéo về Biện Kinh.
Khi đến nơi, vua lâm trào, bá quan chầu đủ mặt, riêng Bát Vương và Dương Diên Chiêu được vua Chơn Tôn vỗ về rất hậu.
Vua Chơn Tôn nói với Dương Diên Chiêu:
- Tam Quan là đất rất quan trọng, cửa ngõ của nước Tống, vậy khanh hết lòng trấn giữ nơi đó, làm cho dân bắc Phiên không dám dòm ngó nước Tống, ấy là hàng rào của xã tắc.
Dương Diên Chiêu tâu:
- Tôi cũng muốn hết lòng vì nước, chỉ sợ bệ hạ nghe lời dèm pha của nịnh thần, làm cho các bậc trung nghĩa nản chí mà thôi.
Vua Chơn Tôn liền phong cho Dương Diên Chiêu làm quan Tiết Độ sứ, trấn Tam Quan ải.
Tiếp đó, truyền dọn yến tiệc đãi đằng, ai nấy ăn uống vui chơi.
Hôm sau, Dương Diên Chiêu trở về VÔ Nịnh phủ, từ biệt Dương Lệnh bà mà đi trấn nhậm.
Dương lệnh bà quyến luyến không nở rời con, nhưng lệnh vua không thể trái lời.
Chẳng mấy ngày, Dương Diên Chiêu đã đến Tam Quan ải, truyền các tướng xây dinh lập trại, rồi cùng bọn Nhạc Thắng, Tiêu Táng, Mạnh Lương đồng ở đó trấn ải.
Từ ấy, đất Tam Quan hưng vượng, muôn dân lạc nghiệp, binh tướng bắc Phiên không dám dám ngó nữa.


Hết

Đã mang vào thư viện
Thành thật cảm ơn bevang nhiều nhé

Thân ái

0
Hồi Thứ Hai Mươi Ba

Dư Hồng bị gạt vong thân.
Dư Triệu rước yêu báo oán.


Lưu Kim Đính thâu binh vào thành, các tướng lấy làm lạ hỏi:
- Dư Hồng không dám đánh nên lui binh, sao chẳng đuổi theo mà bắt nó?
Lưu Kim Đính nói:
- Dư Hồng có phép biến hóa vô cùng, làm sao bắt được nó? Chi bằng lập kế gạt nó, ngày mai bắt cũng chẳng muộn.
Các tướng không hiểu Lưu Kim Đính sẽ lập kế cách nào, nhưng không dám tìm hiểu.
Tối hôm đó, Lưu Kim Đính vẽ một lá bùa giao cho tỳ nữ Xuân Đào cất giữ, đợi bắt được Dư Hồng sẽ giắt lên đầu nó, để nó không biến hóa được. Lại làm phép cho Xuân Đào hóa hình Xích Mi lão tổ. Còn Hạ Liên, Thu Cúc, Đông Mai thì hóa làm ba tiên đồng và dặn phải làm y kế thì bắt Dư Hồng mới được.
Hôm sau, Xích Mi giả lãnh dây khốn tiên đi với ba tiên đồng giả đến ải Thanh Lưu. Xích Mi giả đứng ngoài cửa ải, còn ba tiên đồng giả thì tới trước kêu lớn:
- Đệ tử của Xích Mi lão tổ xin vào đàm đạo với Dư Hồng.
Quân vào báo lại, Dư Hồng truyền mở cửa mời vào. Tiên đồng giả nói:
- Hôm trước Huỳnh Thạch Công, Trần Đoàn lão tổ, Lê Sơn Thánh mẫu đồng đến động thầy mà trách rằng: Dư Hồng khi trước mới xuống núi còn giữ lời thầy, bắt mười ba tướng Tống chẳng hề làm hại. Sau lại ngả mặt mà sát sánh hại mạng rất nhiều, ấy là làm nhục cho thầy đó. Bởi vậy thầy sai chúng tôi vào trước kêu sư huynh ra trình diện bây giờ, vì có thầy ở ngoài cửa ải mà đợi.
Dư Hồng nghĩ thầm:
- Hèn chi hôm qua Kim Đính nói chẳng sai. Nếu ta không ra mắt chào thầy thì tội kia gia bội, thà ra đó mà kêu nài một đôi tiếng, tình thầy trò không lẽ chẳng dung. Nếu cãi lẫy tại đây thì hổ thẹn cùng quân sĩ. Nghĩ rồi riu ríu theo tiên đồng đi ra. Xích Mi lão tổ giả thấy mặt Dư Hồng thì làm bộ giận vả quở vang. Dư Hồng sợ quá nên cúi mặt xuống đánh chữ làm thinh.
Giây lâu Dư Hồng chậm rãi thưa nhỏ:
- Đệ tử vâng lệnh thầy sai nên cùng chẳng đã phải xuống đây, chẳng phải lòng tôi tham muốn công danh phú quí. Xin thầy từ bi xét lại nếu đệ tử tham mê trần tục, thì còn tu luyện làm chi?
Nói rồi cúi đầu chịu lỗi.  
Xích Mi giả quở rằng:
Ta sai ngươi xuống vây Tống mà thôi, chớ cấm việc sát sánh tửu nhục. Nay ngươi bỏ phép tu hành, ăn thịt uống rượu, sát nhơn hại mạng rất nhiều, chẳng vâng lời ta dặn, làm cho phạm tội ngũ nghịch, ta không lẽ vị tình dung ngươi cho đặng?
Dư Hồng thưa :
- Bạch qua sư phụ, đệ tử cũng vâng lời thầy, nên bắt mười ba tướng mà không giết. Chẳng ngờ sau có Lưu Kim Đính, Trịnh ấn và phùng Mậu, đồng trợ Tống đánh Đường, đệ tử cự không lại bị chúng nó phá báu pháp của thầy cho nên phải trổ tài với chúng nó. Vua Nam Đường rất trách tôi sao không giết mười ba tướng để làm chi, dương hổ di họa mà nay sanh sự rất nhiều, bởi cớ ấy nên tôi phạm tội sát sanh, xin thầy xét lại. Còn việc tửu nhục là tại vua Nam Đường ép nhiều lần, tôi không lẽ từ chối trong lòng nóng nảy trông thành công đặng về núi mà tu. Song bởi bị mất bửu phép nên khó nổi tới lui.
Xích Mi giả quở rằng:
- Nếu ngươi cự không lại chúng nó, thì về thưa lại cho ta hay sao lại có ý sát sanh cho mất hết bửu bối? Ấy là người chẳng nhìn ta là thầy nữa, thì lẽ nào ta nhìn ngươi là đệ tử!
Nói rồi liền sai tiên đồng:
- Ba ngươi lấy dây khốn tiên mà trói Dư Hồng lại.
Ba tiên đồng giả vâng lời, Dư Hồng sợ thầy nên không dám cứ cứ năn nỉ rằng:
- Đệ tử mới phạm tội một phen, xin thầy thương nghĩa sư sanh, rộng mở lưới thang làm phước.
Xích Mi giả thấy Dư Hồng trúng kế mừng thầm trong lòng, ngoài tuy làm mặt giận mà trong lòng hớn hở biết bao, lấy lá phù của Lê Sơn Thánh Mẫu đem giắt trên đầu Dư Hồng vì sợ nó xuất hồn biến mất. Lá bùa ấy là kiểu của Lê Sơn Thánh Mẫu dạy, nên Lưu Kim Đính y phép họa theo, đã trao Xuân Đào khi ban đêm và dặn các việc.
Dư Hồng năn nỉ hết sức mà thầy chẳng trả lời, lại đem phù giắt trên đầu mình không biết cớ chi đó, nếu không trốn trước ắt là họa đến khó toan. Dư Hồng hèn niệm chú độn thổ, chẳng ngờ độn không được, mới biết bùa ấy là bùa ếm mình.
Còn Xích Mi giả sợ trì hoãn thì binh tướng Đường ra tiếp Dư Hồng, nên truyền lệnh dẫn đi lập tức. Ba tiên đồng giả biết ý, dắt Dư Hồng thẳng về thành Huy Châu. Dư Hồng vừa đi vừa nghĩ:
- Dầu mình mắc tội thì thầy bắt về núi mà gia hình? Lẽ nào đem qua dinh Tống? Hay là lão già này dâng mình cho Tống Thái Tổ mà tấn ích chăng?
Càng nghi càng tức mình, không biến hóa đặng. Dư Hồng nổi giận, hét lớn:
- Đệ tử dầu phạm tội nặng thì thầy bắt về động lóc thịt cũng ưng, lẽ nào thầy dẫn qua nạp cho kẽ cừu nhân, dường ấy tôi chết sao cho nhắm mắt? Thiệt thầy không biết xét, công tôi làm đệ tử hơn nửa đời, ví chẳng khác Trương Lương dưng dép. Nay thầy hẹp lượng không dung thì thôi, sao lại nạp học trò cho Tống gia hình mà không sợ mất thể diện?
Dư Hồng giận hỏi mãi mà Xích Mi cứ làm thinh đi hoài.
Dư Hồng thấy vậy nghĩ:
- Vả chăng thầy mình lượng rộng như biển lại bấy lâu yêu thương mình, nay vì cớ nào mà thay lòng đổi dạ như vậy? Không lẽ thấy mình sợ Tống chắc là tấn ích mà thôi. Ta dầu thác cũng báo oán việc này cho đặng? .
Khi về thành, Xích Mi giả hiện ra Xuân Đào, ba tiên đồng hiện nguyên hình thế nữ.
Khi ấy Dư Hồng xem thấy mới hay mình trúng kế. Ăn năn thì sự đã rồi, bèn nổi giận hét lớn:
- Lũ bây thật lớn mật, dám giả mạo thầy ta nếu thầy ta hay cớ sự chúng bay gạt mà giết ta, thì chúa tôi bây không còn một mạng, chẳng những loài dâm tỷ mà thôi!
Lưu Kiến Đính thấy bốn con tỳ nữ đem nạp Dư Hồng thì nghĩ:
- Nếu giết Dư Hồng chọc thầy nó xuống đây thì khó chịu.
Bằng tha nó một phen nữa, lại sợ gì? Bởi khi trước Phùng Mậu bắt nó, có tha một lần, mới sanh sự rãi độc chết hai tướng, nhiều người trách và oán Phùng Mậu thả Dư Hồng. Đến nay Thiên tử đã có chỉ cấm nghiêm, nếu bắt đặng thì gia hình lập tức. Chi bằng tuân chỉ giết nó mà trừ họa nhãn tiền. Sau Xích Mi lão tổ xuống đây, thì lấy lời phải quấy mà cãi lẽ cũng đặng. Vì khi trước có thấy mặt ngài một lần, thiệt lão tổ là người nhân đức nên dễ nói.
Nghĩ rồi, Kim Đính dẫn Dư Hồng vào nộp. Tống Thái Tổ nghĩ:
- Lý Cảnh cậy có Dư Hồng phép nhiệm, nên không chịu hàng đầu. Nay mà giết Dư Hồng, chẳng khác nào chặt tay Lý Cảnh.
Nghĩ rồi lại phán:
- Dư Hồng đã đáng tội chết mười phần, vì khi trước trẫm tha về, mà không khuyên Lý Cảnh qui thuận, lại không chịu về non tiên tu luyện, lại còn ra trận hành hung, nay giết là đáng tội!
Thái Tổ truyền tả đao dẫn Dư Hồng ra ngoài mà xử trảm lập tức.
Giây phút, tả đao vào tâu:
- Chúng tôi chém Dư Hồng đổ lửa sáng nhòa, mẻ gươm mà mình không đứt. Thay tay mười mấy người cũng vậy.
Tống Thái Tổ lấy làm lạ, kinh hãi phán:  
 - Như vậy biết làm sao mà trừ nó?
Cao Hoài Đức và các tướng bị bắt khi trước đồng tâu:
- Nếu trừ không đặng Dư Hồng thì e họa chưa dứt. Vì hồi mới dẫn nó vào, nó chẳng bái quì, lại thêm buông lời vô lễ. Nếu thả nó ra một lần nữa, chắc là nó báo oán chẳng không!
Lưu Kim Đính thấy vua và cha chồng với các tướng muốn giết Dư Hồng, vì cố oán va khi trước, nên không dám nghịch ý, phải tâu thiệt rằng:
 - Dư Hồng luyện phép cổ đã thành gang, nên xương thịt cứng hơn sắt. Để tôi dùng gươm phép mà chém mới đặng.
Lưu Kim Đính lấy phép ra niệm chú, rồi giở hồ lô hào quang bay lên sáng rực, một lưỡi kẻo hiện ra, bay liệng trên không, mà bên dưới Dư Hồng đã rụng đầu, máu tuôn lai láng.
 Thương hại cho Dư Hồng là con hồng nhạn, tu luyện mấy trăm năm, sau nhờ Xích Mi lão tổ truyền đạo, chẳng bao lâu cũng thành tiên, bởi cãi lại thầy, sát sanh lại hại mạng nên phép trời báo ứng.
Còn Dư Triệu thấy tiên đồng nói có thầy xuống bắt Dư Hồng thì sợ mắc tội nên trốn trong ải, không dám ló ra. Nay nghe Dư Hồng bị bắt, đem ra pháp trường xử trảm, thì động lòng thương bạn, lấy cỏ ẩn thân bỏ vào túi, rồi đến nơi ôm thân Dư Hồng khóc kể:
- Đạo huynh ơi! Uổng công tu luyện trăm năm, tình anh em biết làm sao mà cứu được.
Dư Triệu càng kể càng đau lòng, chẳng ngờ bị máu Dư Hồng thấm dính vào người, nên cỏ ẩn thân không còn hiệu nghiệm, phải lộ rõ hình dạng.
Sỡ dĩ Dư Triệu không biến hóa được là vì bị nhiễm uế khí.
Tống Thái Tổ thấy Dư Triệu thì nổi giận mắng:
- Hai ngươi xúi Lý Cảnh nghịch với Tống triều, nên binh tướng hai nước hao tổn không biết bao nhiêu. Đáng lẽ thấy Dư Hồng chết thì ngươi lo lánh mặt, tại sao còn dám đến khóc than.
Dư Triệu sợ Tống Thái Tổ giết mình, nên kiếm lời nịnh giặc:
- Ta khen cho chúa tôi nhà Đường chi còn lại ải Thanh Lưu mà đám chống cự với nước Tống. Ta thấy Dư Hồng bị giết, nên động lòng than khóc ngoài đồng, chớ có tội gì mà muốn giết ta nữa? Ta e lúc thầy ta hay được, xuống núi trả thù, thì các ngươi chẳng đặng toàn thân.
Lưu Kim Đính nghe nói nghĩ thầm:
- Xích Mi lão tổ là bậc đại tiên, mình đã giả Xích Mi lão tổ gạt Dư Hồng, thật là tội vô lễ. Nếu nay giết Dư Triệu nữa, chắc Xích Mi lão tổ không dung.
Nghĩ rồi Lưu Kim Đính tâu với vua:
- Dư Triệu tuy giúp Dư Hồng, nhưng vị tình Xích Mi lão tổ mà tha chết cho nó, khuyên nó về núi tu hành, nếu trợ Đường đánh Tống, sau này bắt được không dung tha.
Tống Thái rổ nghe nói, liền y tấu, hèn mở trói tha Dư Triệu về Dư Triệu được tha ra, hèn trốn mất.
Tống Thái Tổ nổi giận truyền quân đuổi theo bắt lại, nhưng Dư Triệu đã đi xa.
Dư Triệu trở về tắm rửa, thay đổi y phục, rồi nghĩ đến Dư Hồng không lẽ bỏ qua về núi, nhưng sức một mình không làm gì được.
Nghĩ vậy Dư Triệu sầu thảm, thao thức suốt đêm.
Đêm ấy vào đầu canh năm, bỗng Dư Triệu nghĩ ra một kế, tính qua phía Bắc rước năm vị yêu tiên về giúp sức với mình thì báo cừu cho Dư Hồng mới được.
Lúc này ở phía Bắc núi Thanh Phong có năm vị yêu tiên.
Thứ nhất là Bạch Hạc, xưng hiệu Tử Hà Tiên, thứ nhì là Thanh Ngưu Tiên xưng hiệu Bất Dạt Tiên, thứ ba là Huyền Hồ (chồn đen) xưng hiệu Huệ Tiên, thứ tư là Huỳnh Điệp (bướm vàng) xưng hiệu là Trưởng Hoa Tiên, thứ năm là Tinh Tinh (khỉ đột) xưng hiệu là Linh Tiên. Năm vị yêu tiên này cũng là loài cầm thú thành hình, như Dư Hồng, Dư Triệu.
Còn Thanh Phong động vốn là của Huệ Tiên, bởi vợ nó là Hồ Ly, mắc đi xuống Kim Lăng giả hình trà trộn với trai phàm, đặng bổ cho xung sức. Bởi cớ ấy nên Huệ Tiên ở trong động một mình với Tử Hà Tiên, Bất Dạt Tiên, Trưởng Hoa Tiên và Linh Tiên, đồng tới động ở chung với nhau cho vui.
Khi Dư Triệu đến động Thanh Phong, thì Hà Tử Tiên ra nghênh tiếp, năm vị yêu tiên đồng chào hỏi.
Tử Hà Tiên nói:
- Tôi nghe anh giúp Nam Đường mà không mấy thành công, ý tôi muốn xuống giúp sức, ngặt bốn anh em kia không bằng lòng gánh vác chuyện thiên hạ. Hôm nay anh đến đây có việc gì?
Dư Triệu nói:
- Lưu Kim Đính là gái thần nông, Phùng Mậu tuy lùn nhưng tài trí rất nhiều, chúng nó đã giết Dư Hồng nên tôi đến đây cầu mấy anh em giúp sức tôi báo cừu.
Năm vị yêu tiên thấy Dư Triệu cầu khẩn, ai cũng quyết ý xuống giúp nhà Đường.
Dư Triệu nói:
- Như anh em có lòng giúp tôi báo cừu cho Dư Hồng thì phải đi cho kịp, kẻo trễ quân Tống thừa thắng phá thành, thì không tiện đối phó .
Năm vị yêu tiên xưa nay tu luyện phép làu thông mà chưa có dịp thử tài, nay cũng muốn ra oai giúp Đường đánh Tống để lấy tiếng.
Tức thì năm vị yêu tiên thu góp bửu bối đi theo Dư Triệu.
Vua Nam Đường đang ngồi đợi quốc sư, xảy thấy Dư Triệu bước vào tâu:
- Tôi đã viện đặng năm vị tiên ông đến giúp, xin bệ hạ sai các quan ra thành nghênh tiếp.
Vua Nam Đường hèn sai mở cửa thành. Giây phút thấy một vị tiên ông vào trước, trán gồ, trên mặt có lông dài, cặp mắt tròn vo, mỏ nhọn, mặc đồ trắng xưng là Tử Hà Tiên.
Người kế đó, mặt nhỏ râu hai hàng, con mắt lòi, mặc áo rộn rực xưng là Trưởng Hoa Tiên.
Người thứ ba, mặc áo đỏ, bộ tướng hung hăng, hai tay rất dài, hai chân cao lêu nghêu, mình đầu lông lá xưng là tinh Tiên.
Người thứ tư mập ú, đầu lớn mặt dài, trên đầu có ngạnh, tiếng nói rổn rảng như chuông ngân. Tuy tướng mạo mạnh mẽ, mà cử chỉ lại chậm lụt, xưng là Bất Dạt Tiên.
Còn người thứ năm, đẹp trai cặp mắt xanh lẽo, nhìn ngó dáo dác, liếng nói ngọt ngào, có vẻ lanh lợi, xưng hiệu là Huệ Tiên.
Năm vị yêu tiên bước vào đồng bái vua Nam Đường.
Vua Nam Đường truyền dọn tiệc thết đãi, rồi phán:
- Trẫm nhờ có Dư quốc sư tiến cử nên mới đặng biết năm vị tiên ông, lòng rất ái mộ, nhờ có năm vị đến giúp, cứu nạn cho nước Nam Đường.
Năm vị tiên đồng nói:
- Chúng tôi đã vị tình Dư sư huynh mới đến đây, quyết ra sức phò Đường phá Tống.
Yến tiệc xong, Dư Triệu tâu với vua Nam Đường lập đàn tôn Tử Hà Tiên làm nguyên soái. Vua Đường y lời lập đàn bái tướng.
Tử Hà Tiên cầm gươm và ấn soái ngồi giữa, rút lệnh tiễn sai Lâm Văn Báo ra khỏi ải Thanh Lưu năm chục dặm, lập một cái đài cao ba mươi thước, xung quanh rộng một trăm chín mươi bộ. Hai bên đài đào hai cái hầm sâu mười tám thước, công việc không được chậm trễ.
Tiếp đó lại rút một cây lệnh tiễn nữa giao cho Tần Phụng, truyền bắt hai mươi người đàn bà chửa và hai chục thằng câm đem về tại đài để có việc cần dùng.
Hai người vâng lệnh ai lo phần nấy.
Đến khi hai tướng trở về bẩm lại các việc đã xong thì Tử Hà Tiên dẫn bốn anh em Dư Triệu lên đài, xem xét một lúc, rồi truyền dẫn hai mươi người đàn bà chửa và hai chục thằng câm đến. Dư Triệu bảo tả đao mổ bụng, song không cho phạm lấy ngũ tạng.
 Hai mươi người đàn bà chửa nghe nói khóc rống lên:
- Chúng tôi có tội chi mà phả i chết thảm thiết như vậy?
  Tử Hà Tiên nói:
- Ta cậy thân thể các ngươi để lập trận mà đánh giặc Tống, lúc thành công sẽ tâu với vua làm siêu độ cho các người khỏi sa vào địa ngục.
Các người đàn bà chửa nổi giận mắng:
- Xưa nay tướng giỏi cầm binh không bao giờ giết người lập trận, nay yêu đạo bày việc dị đoan mà hại dân, sao gọi là đại tướng. các người đàn bà chửa mắng nhiếc nhiều điều thậm tệ, còn thấy thằng câm không nói ra tiếng, cũng trợn mắt múa tay, ý nói yêu đạo bất nhân, nguyền rủa bất nghĩa.
Sáu yêu đạo nổi giận nạt lớn:
- Nếu không làm phép mà trừ giặc Tống, ải Thanh Lưu bị phá thì binh tướng đều bị chết hết, chẳng những bốn mươi đứa bay chịu chết mà thôi.
Nói rồi truyền tả đao trói bốn mươi người ấy lại.
Lời Bàn
Người chân chính và kẻ tà đạo khác nhau ở hành động. Căn cứ vào hành động để xét phẩm chất con người.
Lời xưa nói: Lòng lang dạ thú là để chỉ cho những kẻ có tâm địa tàn ác. Con người khác với nhau là ở chỗ nhân tính và ác tính. Dư Hồng, Dư Triệu là loài cầm thú thành người do công tu luyện, cho nên dù đã thành người, tính tình vẫn gần với loài cầm thú. Khi thất trận lại đi cầu viện những loại cầm thú khác. Như vậy làm sao thành công được.
Đã là cầm thú thì dẫu tài phép đến đâu, hành động vẫn dã man, việc bắt đàn bà chửa mổ ruột, giết hại người dân để lập trận đồ thì chính là hành động dã man, xa rời nhân tính. Ở đây, tác giả muốn cho chúng ta thấy lương tâm giữa con người và cầm thú rất khác biệt. Sự chia cách ác tâm và thiện tâm là phẩm chất của kẻ lương thiện và dã man.

0
Hồi Thứ Ba Mươi Tám
 
Bác vương dâng kế ly gián,
Quang Mỹ dụ tướng Dương Nghiệp


Vua Thái Tôn lúc ấy thâu quân về dinh, tính không ra kế nên buồn bã không vui :
Bát Vương trông thấy, liền hỏi:
- Hôm nay bệ hạ buồn, có phải tìm không ra kế gì đối phó với cha con Dương Nghiệp chăng?
Thái Tôn nói:
- Tại sao khanh hiểu ý trẫm? Vậy khanh có kế chi trừ được Dương Nghiệp chăng?
Bát Vương tâu:
- Tôi có nghĩ một kế ly gián, xin bệ hạ sai một người thạo về ăn nói, đến Hà Đông làm kế ấy, thì ắt cha con Dương Nghiệp qui hàng.
Vua Thái Tôn mừng rỡ nói:
- Kế ấy rất hay, ngặt không có người xứng đáng để sai khiến.
Bát Vương tâu:
- Việc này xin bệ hạ sai Dương Quang Mỹ đi thì ắt thành công.
Dương Quang Mỹ nghe nói bước ra tâu:
- Ngu hạ tuy bất tài, xin lãnh việc này để giúp nước.
Vua Thái Tôn mừng rỡ, cấp vàng bạc, gấm vóc rất nhiều.
Dương Quang Mỹ tạ từ vua trở về dinh, trong đêm ấy dẫn một ít tên quân qua Hà Đông thi kế.
Đi chưa đầy nửa đêm, đã đến dinh Triệu Toại. Quang Mỹ vào gõ cửa, đem tiền lo lót cho quân canh, và nói:
- Ta là anh em bạn thiết của Triệu tướng công, lâu ngày không thấy mặt nhau, hôm nay rảnh việc đến thăm xin cho vào ra mắt.
Quân canh thấy có tiền liền mở cửa cho Quang Mỹ vào, lại cho thêm vàng bạc cho bọn quân giữ cửa để được vào trong, nói chuyện với Triệu Toại.
Triệu Toại là viên quan thân thích của Lưu Quân, nói việc gì Lưu Quân cũng nghe mà tánh lại tham lam, thấy tả hửu dâng lễ vật rất nhiều, nên cho đòi Quang Mỹ vào hỏi:
- Ông là quan đại thần ở bên Thiên triều, vì cớ nào đêm hôm lại đến đây xin nói cho tôi biết? .
 Dương Quang Mỹ nói :
- Tôi cũng vì việc nước nên đến đây ra mắt đại nhơn, sau có việc muốn bàn riêng. Bởi chúa tôi biết đại nhơn là người thân của Lưu Quân, muốn việc gì Lưu Quân cũng nghe, nên đến cậy đại nhơn giúp cho một việc.
Triệu Toại là kẻ tham lam, thấy tiền bạc thì sáng mắt lên, nên Quang Mỹ không ngần ngạỉ nói với Triệu Toại:
- Trung Nguyên với Hà Đông không có thù địch binh Tống đi chinh phục cất là lấy oai để cảm hóa cha con Dương Nghiệp, khiến cho hai nước giao hòa. Nay tôi qua đây cầu đại nhơn tâu với Lưu chúa đừng dùng cha con bọn Dương Nghiệp, thì chúng tôi nguyện rút quân về U Châu đợi hai nước giao hòa. Chừng ấy ắt đại nhơn sẽ được nhiều danh vọng.
Triệu Toại nghe nó xiêu lòng, có ý chê cha con Dương Nghiệp:
- Vậy xin ông hãy yên tâm để tôi lập kế trừ cha con Dương nghiệp cho.
Triệu Toại liền dạy quân bày tiệc rượu, ăn uống xong tiển Quang Mỹ trở về.
Sau đó Triệu Toại đem lễ vật của nước Tống, tìm cách phao tin Dương Nghiệp cố ý chiếm Hà Đông chia hai thiên hạ với Tống.
Mấy hôm sau, tiếng đồn vang dội, Triệu Toại lại khiến người tâm phúc lén qua dinh Tống hứa hẹn sẽ làm xong lời hứa.
Vua Thái Tôn nghe tin ấy mừng rỡ hỏi Quang Mỹ:
- Việc như vậy rất đáng tin.
Quang Mỹ tâu:
- Triệu Toại là đứa tiểu nhơn, tham lam tiền bạc, lại hay ganh tỵ, thấy cha con Dương nghiệp thành công thì trong lòng bực tức. Xin bệ hạ chờ Triệu Toại làm xong việc, trừ được cha con Dương Nghiệp thì đất Sơn Hậu phải về tay chúa thượng.
Ngày kia, Dương Nghiệp lại nghe đồn là cha con mình muốn thâu đoạt đất Sơn Hậu dâng cho Tống đế, nên nổi giận nửa đêm vào tâu với Lưu Quân việc đồn đại ấy.
 Lưu chúa nghe Triệu Toại nói thì thất kinh hỏi:
- Bây giờ chúng ta có mưu kế gì mà bắt cha con Dương Nghiệp.
Triệu Toại tâu :
- Nếu bệ hạ đã quyết thì chẳng khó gì. Ngày mai bệ hạ ra chiếu đòi Dương Nghiệp về hỏi sơ qua vài tiếng rồi ra lệnh cho các tướng bắt trói thì Dương Nghiệp chạy đâu cho thoát.
Lưu Quân phải khen. Sáng hôm sau, sai sứ đến đòi Dương Nghiệp hồi trào nghị việc. Dương Nghiệp không ngờ vào triều bái mạng. Lưu Quân rút kiếm ném xuống thềm ra lệnh cho phục binh áp tới bắt trói Dương Nghiệp.
Dương Nghiệp không biết cớ gì, lớn tiếng nói:
- Tôi có tội gì mà bệ hạ làm như vậy?
Lưu Quân nói:
- Ngươi thiệt là đứa phản tặc, ta chưa bạc đãi ngươi mà ngươi mang lòng mãi quốc? Như vậy ngươi còn gọi là không tội ư?
Nói rồi truyền võ sĩ dẫn Dương Nghiệp ra chém.
 Lúc ấy Tống Trai Khấu hay tin lật đật chạy tới cản lại, tâu với vua rằng:
- Cha con Dương Nghiệp thật có lòng trung với nước, xin bệ hạ chớ nghe lời kẻ nịnh mà hư việc lớn.
Lưu Quân nói:
- Dương Nghiệp có ý phản ta, việc ấy tiếng đồn khắp nơi, nếu không trừ trước thì mang đại họa.
Đinh Tới lúc ấy cũng quì tâu:
 - Hôm nay binh Tống còn đương giao tranh, bệ hạ giết trung thần thật là điều không nên. Xin bệ truyền cho Dương Nghiệp đánh lui binh Tống để thử lòng trung.
Lưu Quân nhận lời tha chết cho Dương Nghiệp, và dạy phải gánh lui binh Tống mới mong thoát tội.
Dương Nghiệp trở về dinh, kêu các con đến nói:
- Công việc hôm nay, ta chắc là nước Tống đã làm kế phản gián, khiến Hớn chúa nghi cha con mình, vậy phải tính kế chi để trừ kế phản gián.
Con Dương Nghiệp là Dương Diên Đức thưa:
- Phụ thân chớ lo chi cho hao tổn, Hớn chúa đã mờ ám, lại nghe lời nịnh thần, cha con ta ở đây làm chi cho xấu hổ, hãy kéo nhau về U Châu, chờ binh Tống lấy hết Hà Đông, để xem Hớn chúa hối hận.
Dương Nghiệp nói :
- Lòng ta hết ngay vì nước, bây giờ không lẽ trở về, vậy ngày mai các con cứ đem binh ra khiêu chiến, rồi sau sẽ tính.
Hôm sau, anh em Dương Diên Đức đem binh khiêu chiến, bên dinh Tống vẫn làm ngơ, nên túng thế phải dẫn binh về.
Vua Thái Tôn hay việc Dương Nghiệp bị mắc kế, liền đòi các đại thần, đến bàn luận.
Dương Quang Mỹ tâu:
- Nay Dương Nghiệp đã căm hờn Hớn chúa, ta phải nhân lúc này qua thỉnh cầu, thì xong việc .
Vua Thái Tôn nói:
- Ta cũng tính như vậy, nhưng nghĩ chưa ra kế.
Quang Mỹ tâu:
- Tôi tính trong nửa tháng nữa thì đất Hà Đông phải bó tay, còn cha con Dương Nghiệp cũng về đầu bệ hạ.
Vua Thái Tôn nói:
- Việc này trẫm giao cho khanh lo liệu .
Quang Mỹ vâng mạng lui ra về dinh sắp sửa đến cầu Dương Nghiệp:
Dương Nghiệp hay tin tướng Tống đến nghĩ thầm:
- Năm trước cũng tên này đến cầu hòa, ta rộng lòng hậu đãi cho về nên Hớn chúa nghi kỵ ta, bây giờ nó còn muốn tới đây gây chuyện nữa. Vậy ta phục binh trước, chờ nó vào mà hạ sát.
Quang Mỹ theo quân vào đến chánh dinh là lễ bái kiến, thấy Dương Nghiệp ngồi giữa, bảy người con đứng hầu hai bên. Dương Nghiệp hỏi Quang Mỹ:
- Người đến đây có việc chi?
Quang Mỹ đáp:
- Tôi vâng lệnh vua Tống đến đây cầu tướng quân.
Dương Nghiệp nghe nói hét lớn:
- Ngươi bảo ta đầu hàng Tống là có ý chi?
Dương Quang Mỹ nói:
-Tôi thường nghe: chim khôn lựa cành mà đỗ, tôi hiền tìm chúa sáng mà thờ. Tướng công hết lòng giúp Lưu Quân để giữ đất Hà Đông mà Lưu Quân không thấy lòng trung nghĩa của tướng công. Còn như Tống chúa, đức rải bốn phương, ai nấy đều phục tùng, xin tướng công nghĩ lại mà về nơi có ánh sáng.
Dương Nghiệp nói:
- Nay ta niệm tình tha thứ cho ngươi về, vậy ngươi phải sai một tướng nào đó có đủ tài lực đem binh ra chiến đấu với ta.
Quang Mỹ từ giã lui về, làm bộ bỏ rơi cuộn giấy, có vẽ bản đồ hứa rằng nếu Dương Nghiệp về đầu Tống, vua Tống sẽ cất dinh đón rước.
Cha con Dương Nghiệp bàn luận cùng nhau, rồi đêm ấy kéo quân đi hết .
Quân Tống hay tin, chạy về báo với vua Thái Tôn:
- Cha con Dương Nghiệp đã lui binh hết rồi.
Vua Thái Tôn hỏi:
- Làm thế nào để dụ được cha con Dương Nghiệp bây giờ?
Quang Mỹ tâu:
- Nay nhân dịp Dương gia lui binh lén trốn, thì ắt có lòng phản rồi, bây giờ Lưu Quân đương kết binh với Đại Liêu đem ra Ứng Châu thảo tội cha con hắn. Nếu lời diêu ngôn như vậy thấu đến tai người, chỉ không khỏi lo sợ! Chừng ấy bệ hạ sai người ra nói chuyện một ít hồi, thì làm sao phe đó cũng về đầu bệ hạ.
Thái Tôn nhận lời, bèn truyền lệnh ra hết trung quân, giả như người thương khách đi nói khắp mọi nơi trong xứ Sơn Hậu.
Trong một ngày tiếng diêu ngôn đến tai Dương Nghiệp, binh tình đều thất kinh, còn Dương Nghiệp buồn rầu ngồi đứng không yên chỗ. Lúc ấy Lữ thị phu nhân là vợ Dương Nghiệp thấy chồng buồn bực thì hỏi rằng:
- Chẳng hay lang quân đem binh đi cứu viện mấy bữa nay, nhân sao tôi thấy có sắc lo rầu dữ tợn vậy.
Dương Nghiệp bèn đem chuyện Lưu chúa làm như vậy... đọc lại thột hồi và than thở.
Lữ phu nhân hỏi:
- Vậy cho lang quân có kêu các conthương nghị việc ấy chăng?
Dương Nghiệp nói:
- Có mấy đứa đều khuyên ta đi đầu Tống, mà ta ngại chúng nó ăn chưa no, lo chưa tới, nên ta không nghe.
Phu nhơn nói:
- Nếu Đại triều hậu đãi ta, cũng là chước hay, sao ông không nghe chúng nó ?
 Dương Nghiệp nói:
- Chẳng biết ai có hậu đãi hay không, mà nay mang chữ bất trung với Hớn chúa nữa, chừng ấy mới khó bề lui tới.
Dương Nghiệp nói rồi bỏ đi vào thơ phòng nghị luận. Khi đó Ngũ Lang là Diên Đức bước vào hỏi mẹ rằng:
- Chẳng biết phụ thân nãy giờ nói việc chi với mẹ?
Lữ thị thuật các lời của chồng nói lại cho con nghe. Diên Đức thưa công việc bên trào Tống hậu đãi cho mẹ nghe và giở các bản đồ Vô nịnh phủ của vua Tống cất sẵn dành để cho cha con về ở. Khi ấy hai người em gái của Diên Đức là Bát Nương và Cửu Muội chạy lại xem, thấy các việc như vậy, thì ngày đêm khuyên bảo mẹ nói với cha, làm sao cũng về đầu Tống mà thôi.
Hôm sau, Dương Nghiệp vào ăn uống với Lữ thị phu nhơn.
Lữ thị hỏi chồng rằng:
- Thiếp có nghe trung quân chúng nó rộn rực, đều lo sợ việc Đại triều đến phạt. Vậy lang quân liệu thế nào chớ thiếp hàng ngày lo lắng? Nếu đó chẳng dung tình, tính bề gấp, thì bọn ta khó tới mà cũng khó lui. Thiếp cũng nghĩ hết, bóng quang âm như tên thoát, ngày tháng tợ thoi đưa mà công danh của lang quân lập chưa rồi, thật đáng buồn đáng tiếc! Bây giờ theo ý ngu của thiếp tưởng cùng lời nghị của trẻ hãy thuận tình xin đó bỏ dứt Hà Đông, về thuận với Đại triều, đặng trước là rõ cái chí bình sanh, sau nữa khắc tên vào kim thạch, chớ để chìm nổi theo bọn di địch đây hoài, cả đời cũng mang tiếng như đứa thất phu kia vậy!
Dương Nghiệp nghe lời của vợ nói, thì thư thuận trong lòng liền đáp:
- Lời của phu nhơn luận rất nhằm lý, vậy để mai ta cùng các tướng thương nghị lại coi thế nào đã.
Dương Nghiệp nói rồi bỏ vào thư phòng thổn thức cả đêm, chờ cho sáng đến ra lệnh nhóm các tướng đàm luận về việc đầu hàng Tống Quốc. Lúc ấy Vương Quới ra thưa rằng:
- Đại nhân tính như vậy cũng xong, song trước phải coi trọng tư thế mình, sau người mới kính chuộng. Vậy bây giờ đại nhân viết một cái hàng biểu, sai người qua trước nói chuyện với Tống quân hay, đợi người sai đại thần cùng sắc mạng qua đây rước, rồi sẽ về đầu cũng chẳng muộn.
Dương Nghiệp rất mừng mà nói rằng:
- Lời em luận đó rất hay, vậy ta tả một tờ mây sai người qua đó trước.
Dương Nghiệp nói rồi hẹn viết biểu sai bộ tướng là Trương Văn Tiền qua Tống dinh dâng biểu.
Chẳng bao lâu vua Thái Tôn thâu đặng biểu liền nhóm văn võ hỏi:
- Hôm nay Dương Nghiệp khiến người dâng biểu xin thuận về bây giờ biết chi cho vừa lòng?
Bát Vương tâu:
- Nếu vương gia chịu về đầu phục, xin bệ hạ chớ lấy sự thường mà đãi, phải lựa văn võ hai người cho thuận hậu, cùng đem sắc chỉ triệu, và phải lấy lời thuận lẽ êm mà nói chuyện, thì Dương Nghiệp ắt vui lòng theo về không nghi ngại.
Vua Thái Tôn khen phải, liền hỏi:
- Trong văn võ có ai chịu đi việc này đặng? .
Dương Quang Mỹ bước ra bảo tấu:
- Văn thì có Ngưu Tư Tấn, lời ăn nói thông minh và bặt thiệp; còn võ tướng có Hô Diên Táng, anh hùng mà có khí độ, hai người ấy đi chắc đặng vẹn toàn.
Vua Thái Tôn nhậm lời tấu, liền giáng chỉ sai hai người đem lễ vật và sắc chỉ đến Ứng Châu mà rước Dương Nghiệp, Hai người vâng mạng, lãnh chỉ đi đến ra mắt Dương Nghiệp và đọc chiếu.
Dương Nghiệp nghe xong, liền bái tạ, rồi thỉnh Ngưu Tư Tấn, Hô Diên Táng vào phòng khách đàm luận .
Ngưu Tư Tấn nói:
- Chúa thượng tôi đã hết lòng thỉnh cầu, nên mới sai bọn tôi đến rước, xin quý vị chớ nghi ngại nữa .
Dương Nghiệp nói:
- Từ thủa tôi ẩn cư đến nay, trên hết lòng ngay với tướng chúa, dưới cũng không lập được công lao, thật rất xấu hổ với Tống Quốc lắm.
Hô Diên Táng nói:
- Lưu chúa đã dùng gian nịnh bày kế hại tướng công, ngày nay ngài tính quy thuận đại triều, ấy là trời khiến cho ngài lưu danh hậu thế, đâu phải việc tình cờ.
Dương Nghiệp thấy hai tướng ăn nói lễ phép, lòng rất kính phục liền dọn yến thết đãi. Trong lúc chuyện vãn hai bên rất tâm đắc.
Tiệc xong, hai người từ tạ lui ra quán dịch, còn Dương Nghiệp vào trong nói chuyện lại cho Lữ phu nhân hay.
Lữ phu nhân nói:
- Việc ấy đã đúng lẽ phải rồi, ông mau sửa sang mà đi cho kíp, Dương Nghiệp lúc này rất vui vẻ, hối thúc các con sửa soạn binh mã, chở hết tài sản đem theo về Tống.
Công việc đâu đó xong xuôi, hẹn với hai tướng Tống ngày lên đường.
Lời bàn
Kế Sách gián điệp chỉ thành công khi mà nội hộ đối phương có mâu thuẫn cùng nhau.
Dương Nghiệp là một tướng tài đem quân giúp Hớn chúa làm cho nước Tống không thể chinh phục thiên hạ, phải dùng kế gián điệp để chia rẽ tình cảm nội bộ.
 Đây là một kế sách trong tam thập lục kế của người thời xưa, sở dĩ đối phương mạnh là do tình đoàn kết nội bộ, tình thương của tất cả mọi người cùng chung một hướng. Kẻ làm gián điệp là kẻ đi tìm những mâu thuẫn với nội bộ để khai thác, làm cho nội bộ nghi ngờ nhau, Khi nội bộ đã nghi ngờ nhau, thì không còn tình đoàn kết, mà đã mất tình đoàn kết thì tất nhiên phải yếu kém, xưa nói: Đoàn kết là sức mạnh của một gia đình, của một dân tộc.

 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi

Cao Hoài Đức vâng chỉ đánh U Châu
Tống Thái Tôn ban sư về Kim điện


Bấy giờ tiếng đồn khắp U Châu thành, Quan quân hay tin vào cấp báo cho Tiêu Thái Hậu rõ.
Tiêu Thái Hậu nghe báo thất kinh, vội nhóm quần thần để bàn luận, Thừa tướng Tiêu Thiên Hữu nói:
- Xin chúa công chớ lo, Tôi xin tiến cử hai người đem binh đánh Tống thì dễ như chẻ tre.
Tiêu Hậu nghe nói liền hỏi:
- Chẳng hay khanh định tiến cử ai vậy?
Tiêu Thiên Hữu tâu:
- Nhị Đại tướng là Gia Luật Hề Để và Gia Luật Hữu Ca là hai người trí dũng song toàn, nếu giao cho việc binh ắt là nên việc.
Tiêu Hậu nhận lời liền hạ chỉ phong cho Gia Luật Hữu Ca làm Giám binh, Gia Luật Hề Để và Gia Luật Sa làm Chánh phó tiên phong, phát năm ngàn binh ra cự địch.
Ba tướng tuân lệnh dẫn binh ra khỏi Nam Thành hạ trại.
Quân thám mã chạy về báo cho Phan Nhơn Mỹ hay, Phan Nhơn Mỹ vội bàn với các tướng kế xuất quân, Hô Diên Táng thưa :
- Tiểu tử xin đi trước, thăm dò thế giặc xem sao, rồi sẽ tính.
Nhơn Mỹ nhận lời, phát cho Diên Táng một muôn binh để ra thăm dò thế địch.
 Còn Cao Hoài Đức lúc này cũng xin đi theo trợ chiến, Phan Nhơn Mỹ cũng phát một muôn binh kéo đi.
Hôm sau, hai người cùng hợp lực kéo binh ra trận.
Phía bên kia, tướng Liêu là Gia Luật Hề Để cùng dàn quân ứng chiến, Hô Diên Táng xốc ngựa tới đánh nhau với Gia luật Hề Để, Hai bên đánh với nhau hơn hai mươi hiệp chẳng thấy hơn thua, Gia Luật Sa giục ngựa xông vào trợ chiến, Cao Hoài Đức xông vào giúp, Bốn tướng đồng sức đánh nhau hơn nửa ngày liền tự ý lui binh, hẹn ngày mai tái đấu:
Cao Hoài Đức và Hô Diên Táng về dinh ra mắt Nhơn Mỹ nói:
- Hai tướng nước Liêu thật là hào kiệt, cũng đồng tác với tôi nên không thủ thắng nổi .
Nhơn Mỹ nói:
- Ta có nghe uy danh của họ Gia Luật, nếu có ra trận nữa thì hai người phải cẩn thận .
Phan Nhơn Mỹ nói xong đi thẳng vào tình tâu với vua Thái Tôn về tình hình khó khăn nơi chiến trận.
Vua Thái Tôn nói:
- Vậy thì để trẫm thân chinh cho binh tướng thêm tinh thần mà giao tranh.
 Bát Vương nghe nói liền can:
- Xin bệ hạ phải lấy thân làm trọng, Việc chiến đấu đã có tướng sĩ lo liệu lựa phải phiền bệ hạ thân chinh sao?
Vua Thái Tôn không nghe, hôm sau dậy sớm nai nịt chỉnh tề ra lệnh cho các tướng xuất quân. Bên kia Gia Luật Hề Để cùng nhóm họp các tướng bàn mưu. Xảy có quân vào báo:
- Binh Tống hôm nay kéo đến quyết chiến, xin Nguyên Soái lo liệu.
Gia Luật Hưu Ca nghe báo liền viết một phong thư sai quân cấp tốc đem đến Yên địa khiến Gia Luật Hạc Cổ dẫn một đạo binh đi ngả hậu, đánh bọc sau binh Tống. Lại sai luôn Gia Luật Sa dẫn tướng đến Cao Lương Hà bố trí thành trận thế, rồi trở về hiệp chiến.
Các tướng vâng lệnh sắp đặt đâu đó xong xuôi.
Bỗng có quân vào báo:
- Binh Tống đã kéo tới rồi, lại thỉnh Nguyên Soái ra trận.
Tướng sĩ nước Liêu nghe báo trong lòng nhốn nháo, Hô Diên Táng liền vung đao ra trận, bên kia Gia Luật Sa cũng vung búa cản lại, Hai bên đánh đến bốn năm chục hiệp vẫn chưa thắng bại nhau, bụi bay ngất trời, trống chiêng reo dậy đất.
Bỗng nghe một tiếng pháo nổ vang, binh Tống thình lình cả loạn. Xem lại là đạo quân Liêu không biết từ hướng nào đến, áp lại đánh dồn, làm cho binh Tống bất ngờ rối loạn.
Gia Luật Hưu Ca thấy binh Tống rối loạn, liền dẫn một đạo quân bao vây, Vua Thái Tôn xem thấy cả kinh bèn kêu Phan Nhơn Mỹ đem quân hộ giá.
Phan Nhơn Mỹ tuân lệnh mở vòng vây, gặp Gia Luật Hưu Ca lướt tới đâm một thương, té nhào xuống ngựa, May nhờ có Quách Thắng giục ngựa đến cứa mới khỏi chết.
Lúc này binh Tống vỡ loạn, chư tướng mắc đấu nhau, còn quân sĩ thì chém giết nhau, tiếng kêu la vang dội.
Trong lúc hỗn loạn ấy Thái Tôn kiếm đường thoát thân, vừa ra khỏi trận, rủi bị một tướng của Gia Luật Hưu Ca là Ngột Hoàng Nô và Nguyên Lý Hề rượt theo rất gấp. May có Dương Nghiệp ở thành Nam đến cứu, Con của Dương Nghiệp là Diên Chiêu gặp vua Thái Tôn liền cản quân Phiên, nạt lớn:
- Phiên cẩu! Sao dám cả gan rượt chúa của ta như vậy?
Diên Chiêu nói rồi vào đánh với hai tướng, đâm trúng Ngũ Hoàng Nộ nhào xuống ngựa, gặp Vua Thái Tôn đang run rẩy núp bên gò mối, Diên Chiêu xuống ngựa ra mắt, và nói:
- Chẳng hay ngựa của bệ hạ đâu, và kẻ hộ giá sao không có mặt.
Vua Thái Tôn run rẩy nói:
- Con ngựa của ta bị tên chết rồi, còn bộ tướng thì tản mát.
Diên Chiêu nói rồi liền hối vua lên ngựa còn mình đánh bộ đi theo hộ giá .
 Vua Thái Tôp nói:
- Tướng quân hãy ngồi trên ngựa mà chiến đấu, để ta núp theo sau cũng được.
Diên Chiêu tâu:
- Xin bệ hạ hãy lên ngựa mà đi cho mau, kẻo tướng Phiên theo kịp. Bệ hạ hãy bảo trọng mình vàng, còn thân tôi rủi có bề nào cũng không sao.
Vua Thái Tôn còn do dự, bỗng có Dương Thất Lang bay ngựa tới nói:
- Binh Tống ta đang đại bại, hãy phò chúa thượng thoát trùng vây khỏi tai nạn.
Diên Chiêu thấy em tới thì rất mừng, nói:
- Ngươi mau xuống ngựa, nhường cho bệ hạ, đặng ta hộ giá cho khỏi nơi khốn đốn.
Dương Thất Lang liền xuống ngựa, đỡ vua Thái Tôn lên yên, vừa đi được một đoạn đường, xảy gặp Nguyên Lý Hề kéo binh chặn lại, Diên Chiêu đánh với Lý Hề không đến hai hiệp, đâm Lý Hề nhào xuống ngựa.
 Lúc này quân Phiên biết vua Thái Tôn được anh em Diên Chiêu hộ giá nên cố gắng đuổi theo, nhưng anh em Diên Chiêu ngăn cản không cho đuổi tới .
Thời may, lúc này Dương Nghiệp, Cao Hoài Đức và Hô Diên Táng đã kịp xông tới đánh đuổi quân Phiên, gặp anh em Diên Chiêu, liên hợp lực cứu vua Thái Tôn đem về Dinh Châu.
Vua Thái Tôn nói:
- Hôm nay mới thấy Dương Diên Chiêu thật là hào kiệt.
Lúc này Phan Nhơn Mỹ được còn sống, núp vào một nơi, chừng thấy tan trận liền ra lệnh thâu quân. Tính lại mất hết tám chín muôn và hao hụt khí giới không biết bao nhiêu mà kể.
Vua Thái Tôn về đến Định Châu nghĩ lại giật mình, đã thất trận lại hao binh, thiếu chút nữa mất mạng nên vội đòi cha con Dương Nghiệp vào trọng thưởng.
Dương Nghiệp lạy tạ ơn, kế đó văn võ bá quan vào ra mắt.
Bát Vương tâu:
- Nay binh mã tốn hao quá sức, lương thảo chỉ đủ dùng trong một tháng mà thôi. Vậy xin bệ hạ giáng chỉ thâu binh hồi trào cho sớm.
Vua Thái Tôn nhận lời, khiến bọn Nhơn Mỹ đi tiền đạo, Dương Nghiệp đi trung quân còn bao nhiêu văn võ theo sau hộ giá.
Bá quan vâng lệnh sắp đặt xong xuôi, ngày hôm sau kéo binh nhắm Biện Kinh tấn phát .
Đạo binh của thái Tôn đi dọc đường vô sự. Khi về đến Biện Kinh bá quan nhập thành, rồi bày tiệc ăn uống.
Vua Thái Tôn nói:
- Nay trẫm căm hờn đất U Châu, không biết ngày nào mới rửa hận. Các khanh ai có kế gì hãy bày cho Trẫm để trừ khử nghịch tặc.
Quan tư đồ là Triệu Phổ quì tâu:
- Điều ấy chẳng khó gì, xin bệ hạ chậm chậm để dưởng sức rồi sẽ chinh phạt.
Vua Thái Tôn y lời khiến quân dọn tiệc nơi giáo trường để khao thưởng tướng sĩ đi chinh phạt Thái Nguyên về.
 Trong lúc ăn uống, vua Thái Tôn gọi Dương Nghiệp đến phong làm Đại châu thứ sử, lãnh chức Nguyên nhung còn thấy người con riêng một phủ ở tại mé sông Kim Thủy.
Lúc ấy có nhiều người ganh ghét, nhóm nhau xầm xì việc khen thưởng bất công, Dương Nghiệp hay việc ấy bèn làm biểu xin từ chức cả con cái mình.
Bấy giờ nước Liêu, từ khi Gia Luật Hưu Ca thắng trận lui binh về, lấy làm đắc ý được Tiêu Thái Hậu trọng thưởng.
Gia Luật Hưu Ca tâu:
- Nay thừa dịp nước Tống bại bỉnh tướng sĩ kinh tâm khiếp vía ta nên khởi binh qua đó đánh một trận nữa để rửa hờn lúc chúng nó qua vây phá U Châu.
Tiêu Hậu nói:
- Tướng quân luận rất phải, song lúc này e chưa tiện.
Yên Vương và Hàng Khuông Tự tâu:
- Xin bệ hạ chớ nghi ngờ, hai tôi nguyện đồng cử binh với Gia Luật tướng quân đi phạt Tống cho.
Tiêu Hậu nghe nói mừng rỡ, phân cho Hàng Khuông Tự lãnh chức giám quân, Gia Luật Hưu Ca là ứng cứu ứng. Gia Luật Sa làm Tiên phong, lãnh mười vạn binh đi đánh Tống.
Ba tướng lạy tạ lui ra, sắp xếp đội ngũ chỉnh tề, ngày hôm sau nhắm Tống bang tấn phát.
Chẳng bao lâu đã đến tại thành ở phía Tây Bắc, cách năm chục dặm hạ trại.
Quân tuần trông thấy về báo với chủ tướng là Lưu Đình Hàng.
Lưu Đình Hàng nhóm các tướng bàn định.
Thôi Ngạn Tấn và Lý Hớn Quỳnh đồng ý nói:
- Nay nước Liêu thấy chúa thượng mình mới bại binh trở về, nên đắc ý kéo binh qua đây, chúng ta phải làm cách nào cho chúng nó sợ.
Ngạn Tấn nói:
- Nếu bây giờ đem binh ra đối địch thì chưa chắc đã thắng, chi bằng làm kế không thành dụ chúng nó vào trong, chỉ tốn một tiếng pháo là nên công lớn.
Đình Hàng nói:
- Kế đó rất hay !. Song ta e chúng nó không chịu vào thành thì liệu làm sao?
Hớn Quỳnh nói:
- Nếu còn nghi ngại điều ấy thì ta gởi hàng biểu dâng thành, dụ cho chúng nó vào.
Lưu Đình Hàng khen phải liền khiến một tên quân đem lễ vật và hàng thư đến dinh Phiên hiến nạp .
Gia Luật Hưu Ca nói:
- Việc đầu hàng ấy không phải thiệt tình, có lẽ nào binh Tống đương thanh thế mà chịu hàng như vậy, chắc là chúng nó dùng quỉ kế dụ chúng ta vào thành đó.
Khuông Tự nói:
- Sao tướng quân hay nghi kỵ, chúng nó đem lễ vật đến đây để cầu xin còn gì nghi ngờ nữa.
Gia Luật Hưu Ca nhắm can không được nên bỏ ra về, còn Khuông Tự nhất định ngày mai kéo quân nhập thành.
Các tướng Tống được tin mừng rỡ, khiến Thôi Ngạn Tấn dẫn binh đi mai phục phía Đông, chờ cho binh Phiên vào thành thì phía sau đánh tới, còn Lý Hớn Quỳnh đem quân mai phục phía Tây, hễ nghe tiếng pháo lệnh thì ập vào. Hai tướng tuân lệnh dẫn thột đạo binh đi mai phục.
 Điều khiển xong Lưu Đình Hàng bổn thân dẫn một đạo binh ra cửa phía Nam, và dặn quân sĩ khi binh Phiên kéo đến thì mở cửa cho chúng vào.
Lời Bàn
Không nếm mùi khổ cực thì không hiểu được công lao của kẻ khác.
Vua Tống Thái Tôn đem quân bình định thiên hạ, bị vây ở U Châu, suýt mất mạng, sau nguy hiểm ấy, Tống Thái Tôn mới truyền kéo binh về nước không dám lặn lội nơi chiến trường nữa.
Rõ ràng, Tống Thái Tôn vừa nếm mùi cay đắng ở chiến trường mới thấy được cái khổ của những kẻ ở chiến trận.
Tham vọng con người chỉ tồn tại khi bản thân mình được thụ hưởng, mà không bị cực khổ. Là một vị vua đi chinh phục thiên hạ, biết bao nhiêu người, vì công lao khổ nhọc. Nếu ai cũng tránh khổ nhọc về phần mình, thế tham vọng con người sẽ không còn nữa.


0
Hồi Thứ Bốn Mươi Hai

Đãi tướng sĩ, Triệu Phổ từ quan,
Trường xạ tiễn, Mỹ Bân được thưởng.


Bấy giờ Gia Luật Tà Chuẩn về an dưỡng nơi Kế Châu, nghĩ càng giận Dương Nghiệp, nên nhóm chúng tướng muốn kéo binh trở lại quyết tử chiến một lần nữa.
 Gia Luật Hưu Ca nói:
 - Xưa nay xuất trận thắng bại là lẽ thường nguyên soái chẳng nên hổ thẹn làm chi. Bây giờ ta nên dâng sớ về kinh và xin binh đến giúp, như vậy mới mong phá được binh Tống.
Tà Chuẩn nghe lời, viết tờ sớ sai quân về đại thành tâu tự sự. Thái Hậu xem xong hỏi sứ giả:
- Vậy chớ Tống tướng đó tên chi? Mà dụng binh hay như vậy?
Sứ giả thưa:
- Tống tướng là người Hà Đông, ở Sơn Hậu Thành tên là Dương Nghiệp.
Tiêu Hậu nói:
- Ta vẫn nghe tên ấy đã lâu thiên hạ gọi là Dương vô địch. Nếu người này cầm binh cho Tống Đế, thì binh ta khó thắng.
Tiêu Hậu nói xong sai Gia Luật Hề Để đem theo mười muôn binh cứu ứng với Gia Luật Tà Chuẩn.
Dương Nghiệp hay tin liền hỏi chư tướng:
- Nay tướng Liêu là Gia Luật Hề Đễ đem binh cứu ứng, mà mình thì lương thảo đã gần hết, biết làm sao mà chống đỡ. Theo ý ta hôm nay sai một người về Biện kinh, tâu việc Liêu binh cho Thánh Hoàng rõ, và vận lương cho đủ, mới dám cùng nó giao tranh.
Lưu Đình Hàng nói:
- Nguyên soái tính rất hay, vậy xỉn cho người đi gấp mới đặng
Dương Nghiệp liền sai Thái Nhạc về triều trình tấu.
Thái Nhạc vâng lời ra đi không bao lâu đã về đến kinh thành, yết kiến vua Thái Tôn tâu rõ tự sự .
Thái Tôn nghe nói muốn thân chinh, nhưng các quan hết lời can gián.
Quan đại thần Triệu Phổ bước ra tâu:
- Xin bệ hạ giáng chỉ đòi Dương Nghiệp về, và sai người đến trấn thủ các ải địa đầu, thì nước Liêu chúng nó không làm khó dễ chúng ta.
Vua Thái Tôn nhận lời, liền sai người ra đòi Dương Nghiệp.
Bấy giờ Dương Nghiệp được chiếu triệu về kinh nên hội chư tướng nói:
- Nay có lệnh triều đình dạy ta ban sư, vậy các ngươi mau sắp đặt phòng ngừa binh Liêu theo quấy rối.
Diên Đức nghe nói liền thưa:
- Nay tướng Liêu đã khiếp vía kinh hồn, mà chẳng thừa  dịp này đánh vào U Châu, lại triệu tướng hồi trào thật quá uổng.
Dương Nghiệp nói:
- Ta cũng có ý như vậy, song lệnh vua đã ban ra, không thể làm trái.
Dương Nghiệp nói xong lựa người ở lại giữ Ngõa Kiều Quan, còn bao nhiêu binh mã thì kêu về Trường An phục chỉ.
Người sau có làm bài thơ hối tiếc như sau:
Công đã gần nên, chiếu triệu hồi,
Tiếc thay cơ hội uổng công tôi.
Dương gia thật đáng lòng trung nghĩa.
Muôn thuở người nghe tức giận đời .

Cha con Dương Nghiệp về đến kinh, vua Thái Tôn liền hối quân dọn ăn mừng, đãi đằng như tướng đi chinh Liêu về.
Hôm sau, Triệu Phổ vào chầu, dâng sớ xin từ chức thừa tướng.
Vua Thái Tôn nghe nói ngơ ngẩn, lấy làm lạ hỏi:
- Ta với khanh từ thuở nhỏ đã tri ngộ với nhau nhờ khanh. giúp đỡ việc trị nước, nay khanh từ chức là ý gì?
Triệu Phổ tâu:
- Không có việc gì hết. Tôi thấy nhân. lúc thái bình mà xin từ chức để về an dưỡng, xin Bệ hạ xét lại.
Thái Tôn thấy Triệu Phổ muốn về an nghỉ, nên nhận lời.
Triệu Phổ bái tạ lui về dinh.
Hôm sau bá quan vào chầu, vua Thái Tôn tỏ ý thương tiếc Triệu Phổ có công với triều đình. Tống Ký thấy vậy liền tâu:
- Ơn đức của Bệ hạ không ai không cảm mến. Nhưng Triệu Phổ cũng đã già nua, trở về dưỡng lão cũng là chuyện bình thường.
Năm ấy, triều Tống cải niên hiệu là U Hy. Năm đầu, vua Thái Tôn nhớ đến ông Trần Đoàn liền cho sứ lên núi Hoa Sơn mời xuống yến ẩm.
Trần Đoàn được tin vua triệu, liền xuống núi vào ra mắt Thái Tôn.
Vua Thái Tôn rất hậu đãi, mở tiệc linh đình, cùng Trần Đoàn ăn uống.
Bấy giờ nhân dịp trong ngoài yên lặng, đâu đó bình an, vua Thái Tôn hạ chỉ cho dân chúng ở kinh đô, mọi nhà đến bày một cuộc vui ba bữa, đèn đuốc rực trời. Vua Thái Tôn ngự giá đi xem, hết cuộc vui này đến cuộc vui nọ rất nên hoan hỉ.
Sau đó, vua Thái Tôn về triều ra lệnh đòi các tướng và quan cận thần đến xem hoa uống rượu, vui chơi cả ngày.
Vua Thái Tôn nói:
- Lúc này khí xuân đang ấm thiên hạ thái bình, cỏ cây tươi tốt các khanh làm thi phú, góp vui cho trẫm.
Sau đó mỗi người làm một bài thơ, vua Thái Tôn xem bài nào cũng khen hay và nói:
- Nay nước nhà lạc nghiệp an dân, nhưng nếu bỏ việc võ nghệ sau này khó xây dựng lại. Nay trẫm đòi hết các võ thần và chư tướng đến võ trường cỡi ngựa bắn tên, cùng nhau tỉ thí cho trẫm xem.
Tống Ký tâu:
- Nếu Bệ hạ có lòng lo lắng điều ấy thiết là phước cho nước Tống đó.
Vua Thái Tôn liền khiến làm một trường xạ tiễn gần nơi vườn hoa rồi ra lệnh cho các tướng mang cung cưỡi ngựa đến hầu lệnh.
Vua thái Tôn phán:
- Nếu ai vào trường, bắn trúng hồng tâm thì trẫm thưởng ngựa hay áo tốt, còn bắn không trúng thì thôi trẫm không trách phạt.
Lệnh vừa ban ra bỗng có một thiếu niên tên Vương Đình Mỹ xông ra cỡi ngựa giương cung nhắm hồng tâm bắn ra một mũi tức thì trống đổ chuông rung, các quan đều vỗ tay khen ngợi. Đình Mỹ rất vui mừng quầy ngựa đến trước ngự tiền chờ lệnh.
Vua Thái Tôn khen:
- Ngày nay cháu được như vậy mới đáng con nhà Vương tướng.
 Thái Tôn nói xong liền thưởng một cái hồng bào và một con bạch mã. Đình Mỹ lạy tạ ơn lui ra đứng một bên.
Bỗng có một tướng xông ngựa ra, giương cung nhắm hồng tâm bắn trúng một mũi nữa. Ai nấy đều ngợi khen, xem ra là đại tướng Tào Ban.
Tào Ban liền xuống ngựa đến trước ngự tiền lãnh thưởng.
Vua Thái Tôn cũng khen, và ban cho áo và ngựa.
Hôm ấy, vua tôi ăn uống cả ngày. Khi ấy Tần vương đi ngang qua ngõ Sở Vương là Nguyên Tá.
Nguyên Tá là con !ớn của vua Thái Tôn, hồi thuở nhỏ Tần Vương rất thông minh và tướng mạo giống như vua chẳng khác, nên Thái Tôn yêu mến lắm. Rủi một ngày kia mang bệnh, lúc này mới hết, nên vua không cho đi tỉ thí.
Khi Tần Vương về ngang đó, biết được việc tỉ thí vừa rồi, lẩm bẩm nói:
Người khác đều đến dự hội yến, lãnh thưởng, còn ta không đặng dự tiệc, mà không ai hỏi han đến.
Tần Vương nói rồi đi đập phá khắp nơi, và sai quan hầu lấy rượu uống, rồi nửa đêm một mình lén đi chất lửa đốt cung thất.
Dân trong thành xem thấy khói lửa bay lên ngùn ngụt đều thất kinh, còn quân sĩ chạy tới cứu chữa cũng chẳng tắt. Vua Thái Tôn gạn hỏi duyên cớ mới biết rõ là Tần Vương làm như vậy bèn hạ chỉ truất phế Nguyên Tá ra làm dân và cho ở quận Châu an tại.
Lệnh vua đã ban, Nguyên Tá lấy làm hổ thẹn, ăn năn thì việc đã rồi.
Lời Bàn
Trong vui chơi, bao giờ cũng có cái buồn, nếu cuộc vui không đem lại nguồn vui chung.
Vua Thái Tôn chinh phục các nơi, đem lại thái bình thạnh trị, thiên hạ vui, thì nguồn vui ấy là mối vui chung của mọi người. Nhưng ở đời, nguồn vui nào cũng phát xuất những cái buồn không lường trước được. Kẻ đã vui còn muốn được vui nhiều hơn, để chiếm nguồn vui của thiên hạ, bởi vì nguồn vui là một phương tiện để hưởng thụ, mà trong hưởng thụ ai cũng muốn tranh đoạt cho mình. Đến nỗi anh em trong nhà khi vui cũng cảm thấy lẽ bất công trong niềm yêu thương ruột thịt.
Tâm trạng con người là thế, tâm trạng nảy sinh nhiều biến cố để dẫn đến sự buồn bực đến với niềm vui.


0
Hồi Thứ Năm Mươi

Trung thần nước Tống treo ấn từ quan,
Tiêu Hậu nước Phiên mưu đoạt Trung Nguyên.

 Bấy giờ vua Thái Tôn lâm bệnh nặng, nên triệu Khấu Chuẩn và Bát Vương vào trối rằng:
- Tiên Đế đem thiên hạ mà giao cho trẫm chưởng lý, nay đã được hai mươi năm, trẫm định nhường ngôi lại cho Bát Vương, để khỏi trái lệnh của Hoàng Thái Hậu.
Bát Vương nghe nói tâu:
-  Nay Hoàng Tử của Bệ hạ đã khôn lớn, và lòng người cũng phục, xin Bệ hạ hãy nhường ngôi lại cho Thất Vương thì phải hơn.
Vua Thái Tôn ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi Khấu Chuẩn:
- Khanh xem thử ngôi báu của trẫm đáng giao lại cho ai?
Khấu Chuẩn tâu:
- Bệ hạ vì thiên hạ mà chọn chúa thì chẳng nên tính với đàn bà trong cung, và cũng chẳng nên bàn với cận thần. Chỉ có Bệ hạ suy xét trông cậy vào ai thì trao cho kẻ đó mà thôi.
Vua Thái Tôn nói:
- Nay Bát Vương không chịu làm vua, thì trẫm phải lập Nguyên Khản lên ngôi báu mà giữ xã tắc .
Khấu Chuẩn tâu:
- Không ai biết con mình bằng cha. Bệ hạ đã thấy được người đáng kế vị, xin lập thừa kế cho xong . vua Thái Tôn nói với Bát Vương:
- Bệnh trẫm nay đã gần ngày, khanh hãy ráng mà giúp cho em của khanh. Tiên đế cũng thường nói đời nào cũng có tôi nịnh làm loạn việc nước. Nay trẫm cho khanh lệnh miễn tử, nếu gặp gian thần thì được quyền trị tội, còn như con Dương Nghiệp là Dương Chiêu, người ấy nên trọng dụng chớ bạc đãi.
Bát Vương tuân chỉ.
Vua Thái Tôn băng hà. Quần thần lập Nguyên Khản lên tức vị, lấy hiệu là Chơn Tôn Hoàng Đế, tôn mẹ là Lý thị làm Hoàng Thái Hậu, phò linh cữu vua Thái Tôn mai táng nơi Yên Lăng.
Vua Chơn Tôn lên ngôi phong cho Vương Khâm là Su mật sứ, phong cho Bát Vương làm Thiên ý Vương, còn bao nhiêu văn võ đều được thăng chức.
Lúc ấy Tống Kỳ bước ra tâu:
- Tôi mang ơn Tiên Đế, nay đã cao tuổi, nếu còn ở lại cũng vô ích cho triều đình, xin Bệ hạ cho tôi về quê dưỡng lão.
Vua Chơn Tôn nói:
- Trẫm mới lên ngôi, nhờ các khanh phò tá, sao lại bỏ trẫm ra đi sớm vậy?
Tống Kỳ tâu:
- Nay trong trào không thiếu người tài, tôi già yếu đâu còn đủ sức lo việc lớn.
Vua Chơn Tôn thấy Tống Kỳ đã quyết ý nên phải nhận lời.
Tông Kỳ lạy tạ ơn vua rồi trở về điền lý.
Mấy ngày hôm sau Lữ Môn Chánh và Trường Tề Hiền cũng đều dâng biểu từ quan. Từ đó việc triều chính đều giao cho một tay Vương Khâm bảo quản.
Ngày kia, Bát Vương vừa ở trong trào đi ra, bỗng có một người đón trước xe dâng cáo trạng kêu oan.
Bát Vương hỏi:
- Ngươi là ai, có việc gì mà kêu oan?
Người ấy khóc và thưa:
- Tôi là con thợ bạc ngày trước Tân chúa nghe lời Vương Khâm đòi cha tôi vào cung, bảo làm một cái bầu rượu hai ngăn, để lập mưu hại điện hạ. Khi làm xong, Vương Khâm sợ lậu chuyện nên giết cha tôi cho kín miệng. Bởi vậy, oan ức không biết đâu mà tố cáo, nên tôi phải lạy cầu điện hạ mà minh oan.
Bát Vương nổi giận nói:
- Hèn chi trong lúc đãi tiệc thấy rượu ấy, ta đã nghi rồi, lại có Vương Khâm đứng một bên tiệc mà điều độ việc ấy, thiệt là không dè nó bày mưu độc thế ấy ?
Bát Vương nói rồi khiến tả hửu tiếp lấy tờ cáo trạng, lại lấy ra mười lạng vàng ròng mà cho người con tên thợ bạc, rồi quay ngựa xe giá trở về triều, vừa gặp Vương Khâm đang ở nơi điện nghị việc với vua, Bát Vương liền bước tới tâu:
Tôi ra tới Ngọ môn gặp một ngừơi dâng tờ văn trạng mà cáo Vương Khâm. vì sự mưu hại cha nó tên thợ bạc họ Hồ. Tôi thấy việc oan khuất như vậy nên phải trở vào mà tâu cho Bệ hạ rõ.
Chơn Tôn nghe cả kinh, hỏi:
- Vương Xu mật thường ở bên trẫm, có đâu lại sanh ra việc ấy? Vương huynh chớ có nghe chi lời đứa gian.
Bát Vương cười nói:
- Cũng vì tôi mà ra việc mưu hại tên thợ bạc ấy, tôi đã lấy lòng trung mà đãi Bệ hạ sao Bệ hạ lại nghi ngờ và nghe lời sàm nịnh làm chi, mà muốn giết anh em xương thịt của mình?
Nếu như Thái Tổ Hoàng Đế mà chẳng linh thì xã tắc còn gì? Sao Bệ hạ chẳng nghĩ? Phải chi tôi có ý muốn làm vua thì có đâu ngày nay Bệ hạ đặng lên ngôi báu.
Khi ấy Vương Khâm bước ra tâu: ấy là Bát vương ỷ thế mà muốn hại tôi nên mới kiếm chuyện như vậy mà thôi, chớ lý đâu mưu giết người lúc nọ sao chẳng cáo, để cho Bệ hạ đã lên ngôi cả rồi, mới đến Ngọ môn mà báng Thiên tử như vậy sao?
Bát Vương nổi giận rút cây kim giản ra nhắm ngay mặt
Vương Khâm mà đánh, Vương Khâm tránh chẳng kịp, trúng nhằm sống mũi huyết lưu mãn địa, liền đứng dậy bụm mặt mà chạy dài. Bát Vương liền rượt theo. Chơn Tôn vội vã bước xuống kim giai cản Bát Vương lại và khuyên:
- Muôn việc cũng xin vì tình trẫm mà tha hắn một phen.
Bát Vương liền đứng lại chỉ Vương Khâm mắng:
- Đồ súc sanh! Nếu ngươi còn như vậy, ắt ta giết ngươi. Nay ta dung cho ngươi khỏi chết là may cho ngươi đó.
Nói rồi giận dỗi quay quả lui về, Vương Khâm bèn quì trước mặt vua mà thỉnh tội.
Chơn Tôn nói:
- Bát Vương là tôi yêu của Tiên Đế, trẫm còn phải nhường huống chi là ngươi, tự hậu như có việc chi phải tránh đi cho khỏi
Vương Khâm cúi đầu lui ra, và lầm hầm oán hận Bát Vương, muốn lo kế mà trả thù, bèn viết một bức thơ sai người tâm phúc suốt đêm qua U Châu ra mắt Tiêu Hậu mà tâu rằng:
- Nay Tống Quốc Thái Tôn đã an giá, tân quân mới tức vị, trong trào không có tướng giỏi, nếu thừa dịp này phát binh qua đánh, Trung Nguyên ắt về tay Bệ hạ.
Tiêu Hậu đặng tin ấy bèn thương nghị với quần thần.
Tiêu Thiên Hữu bước ra tâu:
- Gia Luật Hưu Ca đồn binh tại Vân Châu, đã nhiều phen xin cử binh phạt Tống, song chưa có dịp, nay Trong Quốc mới gặp việc tang, vậy thì phải thừa lúc không dự bị mà dấy binh thì ắt thành công lớn.
Tiêu Thiên Hữu nói chưa dứt lời thì có Quyện liêm tướng quân là Thổ Kim Tú bước ra tâu:
- Tống chúa khéo dùng người lắm, những tướng trấn thủ biên đình đều rất hùng hổ, lời Vương Khâm nói đó chưa đủ chi làm tin, nếu mà cử binh thì chưa biết hơn thua. Tôi có một kế chẳng hao binh động chúng nó mà làm cho Tống Quốc phải nạp hết chín châu đất Sơn hậu về cho Bệ hạ.
Tiêu Hậu nghe tấu liền hỏi:
- Khanh có kế chi mà hay như vậy?
Kim Tú nói:
- Bệ hạ phải viết một bức thư sai người đem qua Tống Quốc, còn tôi với Ma Lý Chiêu Kiết và Ma Lý Khánh Kiết dẫn năm ngàn binh kỵ đến vây Hà Đông mà thi bắn để dò xét tình hình bên Tống. Nếu gặp thời cơ, thu đoạt giang sơn nhà Tống không khó.
Tiêu Hậu nghe theo, liền viết một bức thơ sai sứ đem qua Tống Quốc.
Vua Chơn Tôn xem thơ, liền hỏi quần thần có ai biết ý định của Thiên chúa như thế nào chăng?
Khấu Chuẩn tâu:
- Cứ theo lời thơ thì chúa nước Liêu có vẻ kiêu ngạo. Nay trong nước ta nhân tài đầy đủ, há sợ nước Liêu sao?
Bát Vương tâu:
- Xin để cho tôi qua Vô Nịnh Phủ mà dò hỏi xem tình thế ra sao?
Vua Chơn Tôn :
- Ấy là việc quan trọng, khanh đi hết lòng dò xét mới được.
Bát Vương vâng lệnh đến ra mắt Dương Lệnh bà và hỏi thăm tin tức Dương phò mã.
Dương Lệnh bà nói:
- Lục Lang từ ngày phạm tội bị đày ra Trình Châu đến nay không thấy trở về, nay điện hạ đến đây, mụ không biết gì cả.
Bát Vương nói:
Tân quân tức vị đã hạ chiếu tha cho Lục Lang rồi, lẽ phải về triều mà cứu giá, tại sao phải ẩn mặt như vậy?
Thái Quân nghe nói thưa:
- Xin điện hạ hoãn lại vài ngày, đặng tôi sai người đi Trịnh Châu thăm dò thử.
Bát Vương từ biệt ra về, tâu với vua Chơn Tôn:
- Quận Mã nay không biết ở đâu, gia đình không rõ tin tức.
Vua Chơn Tôn đang rất lo lắng, bỗng có tin:
- Binh Liêu tràn qua Trấn Dương, cướp phá rất hung hăng, xin Bệ hạ sai người đi đánh dẹp.
Vua Chơn Tôn hỏi:
- Có ai dám lãnh binh dẹp loạn chăng? " .
 Khấu Chuẩn tâu:
- Nay có Giáo Liên Sứ là Giả Năng, văn võ toàn tài, đáng trách nhiệm ấy.
Vua Chơn Tôn liền hạ chỉ sai Giả Năng dẫn binh một muôn, hiệp với Khấu Chuẩn và Tấn Dương mà ngăn giặc.
 Giả Năng và Khấu Chuẩn dẫn binh nhắm Hà Đông kéo tới. Bấy giờ, Dương lệnh bà nghe tin, trên bàn với Lục Lang:
- Giả Năng không phải tay đối thủ với Liêu tướng, nay tân quân mới lên ngôi, con hãy ra giúp người.
 Lục Lang nói:
- Lời mẫu thân đã dạy, con xin hết sức giữ tròn trách nhiệm.
Lục Lang vừa dứt thì Bát Nương và Cửu Muội bước ra thưa:
- Hai em xin đi theo cùng giúp sức đại ca.
Lục Lang nói:
- Hai em là đàn bà con gái đi sao tiện?
Bát Nương thưa:
- Chị em tôi sẽ giả dạng đàn ông thì ai biết được.
Lục Lang tức cười, nhưng chiều ý hai em, từ biệt Dương lệnh, rồi ba anh em nhắm Tấn Dương thẳng tới.
Bấy giờ tướng Liêu là Thổ Kim Tú, đã bố trí doanh trại tại đất Hà Đông, ngày thường cướp phá lê dân cùng binh sĩ vui chơi ăn uống, bỗng nghe có quân Tống kéo đến, liền thương nghị với bọn Ma Lý Chiêu Kiết:
- Nay binh Tống không có cha con họ Dương thì không còn ai tài giỏi. Nếu chúng nó ra đây chúng ta quyết đánh cho một trận để tiêu tan uy thế.
Chiêu Kiết nói:
- Nước Tống hiện nội tình rắc rối, các trung thần nghĩa sĩ bỏ chức về quê, thì làm gì có đủ sức mạnh.
Hôm sau, Kim Tú tìm nơi đất rộng dựng một cây cờ Đại Liêu cao chót vót, để khiêu khích binh Tống.
Tướng Liêu là Thổ Kim Tú, Ma Lý Chiêu Kiết và Ma Lý Khánh Kiết đều cưỡi ngựa đứng trước trận, còn binh Tống thì Khấu Chuẩn, Giả Năng cũng lướt ngựa tới giáp chiến.
Khấu Chuẩn nói:
- Nước Liêu của ngươi cũng là một tiểu quốc, nay Tống trào vua mới lên ngôi, các ngươi dám đem binh xâm phạm bờ cõi giết hại dân ta, còn dám khiêu khích dựng cờ đại Liêu, nhục mạ binh tướng của ta sao.
Thổ Kim Tú nói:
- Tân chúa các ngươi mới lên ngôi mà quần thần bỏ ấn về quê, như vậy thì còn giá trị gì mà gọi là đại quốc.
Khấu Chuẩn nói:
- Các ngươi là nước nhỏ, lợi dụng thời gian Tống chúa mới lên ngôi, mà phá phách như vậy, thật đáng tội.
Thổ Kim Tú nói:
- Các ngươi có giỏi thì đấu chiến với ta, không hơi đâu mà cãi lẽ.
Vừa dứt lời, đã thấy Ma Lý Chiêu Kiết vỗ ngựa xông ra giáp chiến .
Lời Bàn
Giá trị con người không phải ở chức quyền, mà do tình cảm và đạo nghĩa làm người.
Con của người thợ bạc là dân thường trong xã hội, thế mà khi có bị chết oan, vì lòng hiếu thảo, tình máu mủ đệ đơn đến triều đình kêu oan. Hành động ấy rõ ràng là do đạo làm người. Kẻ biết phụng sự đạo làm người thì dù là một dân giã, cũng được mọi người kính trọng và thương xót.
Còn như Thất Vương, con một vị vua lại lập kế giết anh mình để đoạt ngôi vị thì nhân tính thật không bằng một người con của kẻ dân giã. Giá trị làm người không phải ở chức vị, quyền thế, mà ở tấm lòng. Đừng bảo kẻ dân giã giá trị không bằng kẻ quyền quí giàu sang.
Đánh giá ngột con người phải nhìn vào nhân tính. Đây là một tấm gương cho kẻ nhìn đời chỉ thấy quyền quí cao sang mà tôn trọng. Phải biết giá trị con người là ở đạo nghĩa.

0
Hồi Thứ Năm Mươi Mốt

Giả Giáo Luyện sa trưng bỏ mạng,
Dương Lục Lang lãnh trấn Tam Quan.


Hai bên giáp chiến, chuông trống khua vang. Chiêu Kiết với Giả Năng đánh nhau hơn mấy hiệp chưa phân thắng bại. Chiêu Kiết thương pháp rất tinh phục nhưng giả cách sợ hãi, giả thua dụ địch chạy vào giữa trận. Giả Năng đuổi theo thì bị Chiêu Kiết quay ngựa lại đâm một thương làm cho Giả Năng té nhào xuống ngựa. Binh Phiên áp lại vây phủ binh Tống, làm cho binh Tống rối loạn.
Giữa lúc đó, bỗng thấy một viên nữ tướng xông ra đánh Chiêu Kiết. Đánh được mấy hiệp, nữ tướng chém dây xích thằng trói Chiêu Kiết lại, binh Tống bắt dẫn đem về giao cho Khấu Chuẩn.
Khấu Chuẩn hỏi:
- Nữ tướng vừa thắng trận là ai vậy?
Nữ tướng đáp:
- Tôi là con gái của Dương Nghiệp, thường gọi là Bát Nương.
 Khấu Chuẩn khen:
- Thật đúng là con nhà tướng.
Liền khiến quân ghi vào sổ công lao, rồi dọn tiệc ăn mừng.
Bấy giờ tướng Phiên là Thổ Kim Tú thấy Chiêu Khiết bị bắt, thì giận lắm, vừa muốn ra binh, bỗng có Ma Lý Khánh Kiết bước tới nói:
- Cái thù giết anh lẽ nào tôi chẳng trả?
 Nói rồi vung dao ra trận. Bên Tống, Triệu Ngạn cũng xông ra ứng chiến. Hai tướng đánh nhau được vài hiệp, Triệu Ngạn đuối sức quay ngựa bỏ chạy. Khánh Kiết rượt theo, xảy có một viên nữ tướng múa đao đón lại, chém Khánh Kiết rơi đầu.
Nữ tướng này là Cửu Muội, con gái của Dương Nghiệp.
Khấu Chuẩn nói:
- Nhà họ Dương chỉ còn mấy người sót lại mà tài năng làm cho quân địch khiếp vía.
Lúc này tại dinh Phiên, Thổ Kim Tú nổi giận giục ngựa xông ra hét to:
- Có ai dám ra đây thi bắn với ta chăng?
Thổ Kim Tú là một tướng có tài thiện xạ, từ trước tới nay không ai địch nổi. Bấy giờ tướng Tống là Dương Văn Hổ xông ra nói:
- Có ta thi bắn với ngươi.
 Thổ Kim Tú liền trương cung lắp tên, cho ngựa chạy vòng một hồi, rồi bắn luôn ba mũi, trúng đích cả ba. Quân sĩ vỗ tay khen ầm lên. Dương Văn Hổ nổi giận cũng cho ngựa chạy vòng một lúc rồi trương cung bắn ra ba mũi tên, nhưng chỉ trúng đích một mũi mà thôi.
Thổ Kim Tú nói:
- Như vậy thì ngươi thua ta hai mũi, phải đem tướng vừa bị bắt trả lại cho ta.
Dương Văn Hổ nói:
- Nghề bắn thì ta thua ngươi, còn nghề võ ngươi dám đấu với ta chăng?
Kiến Tú nổi giận mắng:
- Để ta giết ngươi trả thù cho Khánh Kiết. Nói rồi vung đao đâm tới. Hai bên đánh nhau được vài hiệp,  Văn Hổ bị thương bên tay trái, quay ngựa bỏ chạy. Thổ Kim Trí đuổi theo tiền bị Dương Lục Lang xông ra chận lại.
Kiến Tú nói :
- Tướng Tống hãy khoan đấu võ đã. Hãy thi bắn với ta trước.
Lục Dương Lạc cười lớn:
- Nghề bắn của ngươi giỏi đến bực nào mà dám khoe khoang như vậy?
Nồi rồi liền khiến quân đem cung tên ra, ngồi trên ngựa bắn luôn ba mũi tên đều trúng vào đích rồi quay lại nói với Kim Tú:
- Người khỏi cần phải bắn, hãy trương thử cây cung của ta đây xem có đủ sức hay công?
Quân sĩ khiêng cây cung đem trao cho Kim Tú.
Kim Tú trợn mắt, ráng sức kéo cây cung, tồi thất kinh nói:
- Cung cứng như thế này kéo sao cho nổi.
Lúc này binh Phiên thất kinh vừa muốn kéo nhau bỏ chạy thì Khấu Chuẩn đã bước ra giữa trận nói:
- Ta trả lại những tướng ta đã bắt cho các ngươi. Các ngươi hãy về nói với Tiêu Hậu chớ nên xâm phạm bờ cõi sát hại sinh anh nữa. Nếu không tuân lời thì bọn ta sẽ không dung thứ.
Nói rồi truyền quân mở trói Chiêu Kiết thả về.
Thổ Kim Tú hổ thẹn, dẫn quân trở về Đại Liêu, không dám quấy rối nữa.
Ngày hôm ấy Khấu Chuẩn hạ lệnh thâu binh về Biện Kinh vào ra mắt vua Chơn Tôn và tâu:
- Tôi dẫn binh ra trận nhờ có mấy anh em họ Dương mới thắng được binh Phiên, Bệ hạ thật có phước lớn.
Vua Chơn Tôn liền triệu Dương Quận Mã đến trước điện, phán:
- Cha con khanh thật là tôi trung của nước Tống, Tiên Đế cũng thường hay khen ngợi.
Dương Quận Mã cúi đầu tạ ơn. Vua Chơn Tôn hỏi Khấu Chuẩn:
- Nay nên phong chức gì cho Quận Mã?
Khấu Chuẩn tâu:
- Đất Cao Châu còn thiếu Kiết Đại Sứ, xin Bệ hạ phân chức ấy.
Vua Chơn Tôn nói :
- Lúc Tiên Đế còn sống vẫn thường nói đến công nghiệp cha con khanh. Nay đã đánh lui binh Phiên, lẽ nào không trọng thưởng.
Quận Mã tâu:
- Nếu Bệ hạ muốn phong chức, tôi xin lãnh làm tuần Kiểm tại Giải Sơn mà thôi.
Vua Chơn Tôn nói:
- Chức Tiết đại sứ là cao sang, sao khanh lại muốn lãnh chức Tuần Kiểm là một chức nhỏ mọn như vậy?
Dương Quận Mã tâu:
- Tôi nghe xứ ấy có mấy viên tướng giỏi, muốn đến đó chiêu dụ họ. Vả lại, Giải Sơn là chỗ xung yếu của Tam Quan, gần bờ cõi U Châu, nên tôi muốn trấn thủ ở đó để giữ bình an cho dân chúng.
Vua Chơn Tôn nghe nói, khen:
- Khanh thật là kẻ tôi thần trung nghĩa.
Dương Quận Mã tạ ơn lui ra.
Hôm sau Dương Quận Mã ra Giải Sơn trấn thủ đem theo Nhạc thắng là người văn võ toàn tài, muốn lập công danh.
Dương Quận Mã nói:
- Nếu ngươi muốn lập công thì hãy đi với ta ra Giải Sơn trại mà trấn thủ, sẽ có dịp xuất thân.
Nhạc Thắng nói:
- Tiểu tướng xin tình nguyện theo làm bộ hạ tướng quân.
Dương Lực Lang thâu được Nhạc Thắng, liền từ giã Dương Lệnh bà và Thái Quận mà đi.
Dương Lệnh bà hỏi:
- Trước kia cha con làm Đại Châu thứ sử, nay con lại làm Giải sơn Tuần Kiểm, họ chẳng nhục với tiền nhân sao?
Lục Lang thưa :
- Chẳng phải con không muốn làm quan lớn, nhưng lúc triều đình có nhiều việc mờ ám, con phải lựa chỗ an thân.
Dương Lệnh bà liền truyền bày tiệc rượu tống hành vào tiết xuân, khí trời ấm áp, cây cỏ xanh tươi, Dương Lục Lang đi được mấy ngày đã đến Giải Sơn, quan quân đều ra nghênh tiếp.
 Dương Lục Lang nói:
- Nay triều đình thấy binh Liêu, hay xâm lấn bờ cõi, nên sai ta ra đây trấn thủ chỗ yết hầu, gần bờ cõi U Châu để cho biên thùy khỏi nạn binh đao.
Chư tướng nghe nói đều cảm tạ.
Hôm sau, Nhạc Thắng đi dạo trong vùng, thấy trước mặt một tòa núi cao sừng sững, đá dựng chập chùng, liền hỏi người dân trong xứ:
- Hòn núi trước mặt là núi gì mà hiểm trở như vậy?
Người dân đáp:
- Xin tướng quân đừng hỏi chỗ đó. Nơi đó có nhiều điều rất bí ẩn.
Nhạc Thắng nói:
- Chắc có nhiều thú dữ lắm sao?
Người dân nói:
- Xa xa phía trước có một cái suối là Hồ Lâm, có một cái động Khả Lạc, có một người Chủ trại là Mạnh Lương ở xứ Đặng Châu, hay dùng một cây búa lớn, tụ tập hơn mấy trăm người, phá xóm phá làng, lại hay bắt đàn bà con gái, nên chẳng ai dám đi qua núi ấy.
Nhạc Thắng nghe nói trên trở về ra mắt Dương Lục Lang thuật lại mọi việc.
Lục Lang nói:
- Ta vẫn nghe xứ này có một người tên là Mạnh Lương, có tài đặc biệt, nếu được người ấy về giúp thì rất tốt.
Nhạc Thắng nói:
- Vậy thì xin để tôi đi một mình đến đó thăm dò, rồi sẽ liệu kế.
Lục Lang y lời, liền cho Nhạc Thắng đi đến động Khả Lạc.
Lúc này Mạnh Lương đang đi dạo Sơn Thủy, chỉ còn những tên bộ hạ là Lưu Siêu, Trương Cái ở giữ động. Khi Nhạc Thắng đến nơi liền hét lên một tiếng, làm cho Lưu Siêu và Trương Cái thất kinh, ngỡ là quan quân kéo đến, liền dẫn lâu ta ra đánh. Nhưng Nhạc Thắng lại quay ngựa chạy về. Khi Mạnh Lương trở về động được bọn thủ hạ báo lại, liền hỏi:
- Ai dám đến đây mà giỡn cợt như vậy?
 Bọn thủ hạ đáp:
- Có một thằng tướng nhỏ đơn thân độc mã xông vào, hét nên một tiếng rồi chạy mất.
Mạnh Lương suy nghĩ mãi vẫn không tìm được nguyên nhân.
Còn Nhạc Thắng về trại ra mắt Lục Lang kể lại mọi chuyện.
Lục Lang nói:
- Hễ Mạnh Lương hay được việc này, chắc là nó kẻo lâu la đến. Bọn ngươi phải đề phòng.
Chẳng bao lâu, quân vào báo:
- Có Mạnh Lương đang ở ngoài trại khiêu chiến.
Lục Lang và Nhạc Thắng liền dẫn quân xông ra, thấy Mạnh Lương mày rô mắt lớn, tướng mạo hùng tráng liền nói:
- Ta xem ngươi tướng mạo đường đường, chẳng phải là một tên cướp núi, sao không theo chúng ta mà trấn thủ biên thùy, lập công với triều đình, lại làm nghề ăn cướp.
Mạnh Lương nói:
- Ta nghe cha con ngươi bỏ Hà Đông, về đầu nước Tống, nay đều là quỉ không đầu, mà ngươi không thấy thù oán. Còn ta chiếm cứ nơi đây có can chi đến ngươi mà đến đây phá phách? Nếu ngươi theo ta về làm tướng cướp, thì cuộc đời vui vẻ hơn nhiều.
Lục Lang nổi giận nói :
- Quân thất phu! Dám khi dễ ta như vậy.
Nói rồi vung dao xốc tới đánh Mạnh Lương. Hai bên đánh nhau hơn bốn mươi hiệp chẳng phân thắng bại. Nhạc Thắng xông ra trợ lực Lục Lang bèn trương cung bắn con ngựa Mạnh Lương một mũi làm cho Mạnh Lương té nhào xuống. Quân sĩ xông ra bắt trói Mạnh Lương đem về trại.
Lục Lang hỏi:
- Ngươi đã bị ta bắt rồi, có chịu hàng phục không?
Mạnh Lương nói :
- Ngươi bắn lén ngựa ta, chớ có tài giỏi gì mà bảo ta hàng phục.
Lục Lang nói:
- Nếu ngươi không phục thì ta thả ngươi ra có phục không?
Mạnh Lương nói:
- Nếu ngươi thả ta về thì phải chỉnh đốn quân sĩ, để cùng ta đấu chiến, chừng nào rõ được hơn thua thì ta mới phục.
Lục Lang nói:
- Ta tha ngươi rất dễ, dẫu ngươi có cánh bay lên trời ta cũng bắt được.
Nói rồi liền khiến quân mở trói, đuổi Mạnh Lương về Động.
Lời Bàn
Tài năng trí tuệ là yếu tố thu phục nhân tâm. Trong đó phải xây dựng đạo nghĩa làm người.
Trong đời, ai cũng quí trọng tài năng và trí tuệ, vì tài năng và trí tuệ là nguồn vốn để chiến thắng đối phương. Nhưng nếu đem tài năng và trí tuệ để hãm hại và chém giết mọi người, không xây dựng trên đạo nghĩa thì chỉ làm cho đối phương căm hờn và oán giận, không làm cho đối phương kính phục.
Dương Lục Lang, một kẻ tài trí, đã thu phục nhân tài bằng đạo nghĩa làm người. Trước một Mạnh Lương, kẻ cướp có biệt tài vẫn thu phục bằng đạo nghĩa. Đạo nghĩa phải đặt trên tài năng, mưu trí phải ứng dụng đúng người đúng lúc.
Dù xã hội nào, kẻ có lương tâm cũng làm cho mọi người kính phục. Lục Lang thả Mạnh Lương về, tức là muốn giữ Mạnh Lương lại. Mà muốn giữ một kẻ phục tùng mình, trước tiên phải làm cho họ thấy đạo nghĩa của mình.
Bởi vậy, có những việc buông ra mà không mất, có những việc giữ lại không còn, ấy là do bản lãnh của con người.


0