📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tiểu thuyết của Thiên Sơn

0 trả lời, 320 lượt xem — Trang 1 / 1
 
 
Bật rễ
                                        THIÊN SƠN
                  

 
                                                                       


1
Trời đen ngòm. Gió lạnh rít từng cơn. Gió cuốn vào muôn vật, làm lay động cây cối, giật rung cánh cửa các căn phòng. Bỗng một giọng eo éo rền rĩ kéo dài. Âm thanh ấy như hữu hình kéo một vệt dài trong đêm tối, trườn vào tai, xuyên thấu ý nghĩ của mọi người.
" Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống cắn chuột trong bồ
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu
Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm"
Lúc đầu tiếng hát kỳ dị ấy vang lên gần khu nghĩa địa phường K, sau di chuyển dần vào làng, len qua các ngõ ngách, lặng tắt rồi lại trồi lên… Tiếng hát như có hình thù khắc chạm vào đêm tối. Tiếng hát lượn lờ trong không gian, trườn qua một vùng hoang lạnh giá đen ngòm, lẩn quất đâu đó…
Trong căn nhà ngói thấp tè chìm khuất vào đêm, ánh đèn nê ông sáng trắng. Trên chiếc bàn gỗ mà vết mọt ăn làm cho lỗ chỗ, gồ ghề Nam đang trầm tư, mê mải bên trang giấy.
- Thằng Nghoẹo đã về rồi...
Như một thói quen, anh buông bút, hé cánh cửa bước ra khoảng sân hẹp, nhìn lên vòm trời mênh mông. Anh đứng lặng như một thân cây trong gió lạnh, suy nghĩ về những kiếp người bất hạnh vừa được tái hiện trên trang sách. Từ câu nói, điệu cười, dáng đi của nhân vật sống dậy trong tâm tưởng anh. Như thể họ đang tồn tại, đang hiện hữu bằng xương, bằng thịt ở đâu đó xung quanh. Như thể họ là người anh đã gặp và thân quen từ kiếp trước.
Lát sau, anh bước vào nhà, tiến đến chiếc giường kê trong góc vạch chiếc màn thưa bùng nhùng và gọi:
- An ơi An, dậy... Nghe tớ đọc một chương vừa mới viết đây này!
An mở mắt hỏi:
- Viết thế nào?
Nam kéo An:
- Thì cậu dậy nhanh lên.
- Mấy giờ rồi?
- Khuya lắm... Thằng Nghoẹo đi cánh nghĩa địa về, qua đây rồi.
- Thế à?
An vùng dậy. Đã tỉnh hẳn. Cả hai cùng nhấm nháp chén trà nóng, Nam bắt đầu đọc.
 Câu chuyện về những người phụ nữ tại một miền núi xa xôi, heo hút ở thập niên bốn mươi của thế kỷ trước. Họ là những người bị bệnh hủi. Ngày ngày họ sống trong đau đớn. Những ngón tay, ngón chân lở lói, ứa máu và rụng dần. Để tránh lây nhiễm sang người khác, người ta bèn chôn sống những người bị bệnh trên núi, hoặc nhốt họ lại ở một nơi, rắc vôi bột xung quanh và rào lấp đường về. Họ kêu trời... Họ cầu cứu... Nhưng cả trời, cả người không ai giúp họ. Thế là họ đành ôm nhau mà khóc cho đến khi cạn nước mắt, cạn sức lực và họ chết. Những tiếng gọi: “Con ơi!” xé ruột của người mẹ sắp chết, những tiếng “Mẹ ơi!” của trẻ thơ bị tước bỏ quyền sống...
Nam đang đọc say sưa, bỗng từ sau mớ tóc lòa xòa nhú ra một giọt máu, rồi máu đỏ tươi tạo thành đường kẻ xuống tận lông mày, kéo một vệt dài qua má, xuống cằm, nhỏ vào trang giấy Nam đang đọc. Gương mặt Nam nom như vừa bị một vết chém. Từng con chữ bỗng như giao động, run rẩy, nhấp nhánh ánh đỏ.
- Nam, cậu bị chảy máu kìa! - An thốt lên.
Nam ngưng bặt, tựa như phải một lúc sau anh mới nhậ ra đó là máu của mình, chứ không phải máu của những nhân vật trong cái truyện đầy sắc màu bi thương ấy.  Rồi anh nói với An:
- Cái U lại bị vỡ! Nó lại gây sự với mình rồi, sao nó không để mình làm xong việc này... Có những lúc mình cần dấn lên, làm một cái gì đó thì nó lại cản trở- Nam bỗng rùng mình khi vừa nói hết câu. Một cơn nhức buốt ập đến như có mũi dao nhọn xoáy trong óc làm anh choáng váng.
An ân cần:
- Phải băng lại đã Nam ạ!
An lục trong ngăn bàn rồi mang lại một ít bông. Anh lau sạch vết máu và băng lại vết thương trên đầu Nam. Xong xuôi, đợi một chút cho điềm tĩnh trở lại, Nam nhìn An:
- Mình đọc tiếp nhé?!
Biết tính Nam nhiều lúc không kìm nén nổi lòng hứng khởi, An gật đầu.
Anh biết, niềm vui lớn nhất của người viết là được chia sẻ, đồng cảm. Nam  vẫn đọc tiếp câu chuyện mình vừa sáng tác. Câu chuyện ấy càng về sau lại càng có phần huyền ảo. Những con người bi thảm ấy không tan biến vào hư vô mà sau khi bị đọa đày ở cõi nhân gian cho đến chết, linh hồn của họ vẫn còn vất vưởng trên những cánh rừng, những hang núi hay dưới gốc những cây đại thụ... Những linh hồn ấy đêm đêm lại cất giọng gọi nhau. Những tiếng gọi của hồn ma não nùng, làm băng giá cả một vùng không gian hoang vắng...
Một vết máu lại đột ngột kéo dài từ trán xuống cằm Nam. Vệt máu đỏ tương phản với làn da Nam không biết tự bao giờ đã trở nên xanh rớt. An thương bạn vô cùng... Trông Nam gầy hốc hác, xương gò má nhô cao.
- Phải nghỉ thôi Nam ạ, cậu bị căng thẳng quá rồi.
Nam vừa lau lau vệt máu vừa đứng lên:
 - Nhưng bây giờ ngủ thì khó lắm. Các ý nghĩ dường như cứ sôi lên.
-  Thì đành vậy, cậu không giữ sức, nhỡ ốm nặng thì khổ.
Hai người tắt đèn đi nằm. Gió lạnh vẫn rít từng cơn dài. Bóng tối như có một con quái vật khuấy động.
Có tiếng gà vỗ cánh gáy te te.
 
2
Theo địa chỉ Ngọc giới thiệu, An tìm đến một căn nhà ba tầng xây theo kiểu lai căng kiến trúc cổ Châu Âu, mái ngói màu tím than, có chóp nhọn khuất trong ngõ vắng. Mấy giây sau khi ấn chuông, một gương mặt đàn bà béo húp, da hơi dày ngó ra.
- Xin hỏi, gia đình ta cần thầy giáo luyện khối C cho con phải không ạ?
- Phải! - Bà nhìn An dò xét, mãi mới cất lời.
Cửa mở, nhưng liền đó, bà ta nghếch cái mặt lên, lại giọng có phần hợm hĩnh:
- Mấy ông sinh viên chưa lo học đã lo đi dạy, nói thật, tôi ngại lắm.
An ngồi lặng. Người đàn bà ngắm An như một bức tượng, sau một suy tính, lại sang sảng:
-  Cởu cho tôI biết, tiền thù lao bao nhiêu một buổi?
An vẫn điềm tĩnh
- Dạ, việc đó tùy vào học trò ạ...
Gương mặt hách dịch của bà nở ra, thoáng chút vui vẻ. Nhưng hình như bà ta nghi ngờ:
-Thì cậu cứ nói thẳng ra đi!
Rồi với vẻ từng trải, có thể đọc thấu gan ruột của người đối diện, bà ta tiếp tục:
- Cậu cần tiền mới đi làm phải không?
Người đàn bà vẻ đắc ý, thầm nghĩ vừa vạch trần “mặt thật” của một cậu trẻ ranh ra vẻ cao đạo. Cũng lúc ấy An nói:
- Vâng! Nhưng tôi không coi việc kiếm tiền là tất cả ý nghĩa của việc dạy học. Nếu cô không có thiện chí thì tốt nhất ta nên dừng ở đây. - An đứng dậy toan bước ra khỏi nhà.
- Tôi xin phép.
Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn bà lại cười... Giọng nhạt thếch:
- Thế thì dạy mà làm gì?
An không trả lời. Bà gượng gạo:
- Cậu tự ái hả? Tôi nói đùa thôi, chứ ông trí thức trẻ cao đạo quá nhỉ!
Vẫn với giọng có vẻ cợt nhả, khó hiểu. An đành ngồi xuống ghế, im lặng. Bà ta rót nước mời An.
- Cậu Ngọc cũng đã nói cho tôi biết qua về cậu.
- Thì ra, cô đã biết tôi sẽ đến?
- Biết chứ!
Rồi bà cao giọng gọi :
- Hồng ơi, ra đây, có việc của con này.
Đang lau dọn trong bếp, Hồng bước ra phòng khách, mặt hơi cúi xuống:
- Mẹ gọi con ạ?
- Con ngồi xuống đây.
Người mẹ kế chỉ tay xuống chiếc ghế bên cạnh. Bấy giờ Hồng mới thấy trước mặt mình là một người con trai trẻ tuổi có phong thái điềm tĩnh, mái tóc dày đen, rẽ ngôi, vầng trán rộng, đeo kính cận.
- Đây là thầy giáo dạy bồi dưỡng văn cho con.
Người đàn bà ngừng lại, nhìn An
- Cậu tên gì ấy nhỉ?
- An.
- Bây giờ, con cùng thầy về nhà để biết địa điểm lớp học nhé.
Hồng sửa soạn vài phút rồi im lặng đạp xe bên An. Hai người qua những dãy phố nghèo đầy bụi, không khí sực mùi hôi hám. Cuối cùng họ dừng  lại trước một căn nhà ngói cũ kỹ, rêu bám xanh các chân tường vàng úa. Mái ngói đã ngả sang màu đen. Khoảng sân hẹp rụng đầy hoa bưởi.
Cửa mở. Một người nằm trên giường hất chăn, ngồi dậy, đôi mắt thâm quầng mệt mỏi, làn da xanh xao. An giới thiệu Nam bạn anh với Hồng. Cô ngồi xuống chiếc ghế vuông cũ kỹ. An mời Hồng uống chén nước lọc trong khi Nam vội vã gấp chăn, xếp gọn gàng, tham gia vào câu chuyện. Cả ba người hòa đồng vui vẻ.
Vài phút sau, An bắt đầu nói qua về phương pháp học và lịch học.
Nhưng giọng An đứt quãng. Từ căn nhà lớn kế bên, một mụ già to béo, vẻ lỗ mãng hung dữ bước vội sang nhà An. Một giọng nói oang oang rất chướng tai cất lên từ ngoài sân:
- Anh An, anh Nam, tiền nhà tháng này đã chậm một tuần rồi đấy.
Nam giọng ôn tồn:
- Nhà cháu đang có khách... Chuyện này cháu thưa lại với bác sau...
- Tôi nói cho mà biết, đừng có viện cớ...
Hồng đỏ cả mặt. An vẫn điềm tĩnh đến bên mụ già lễ phép:
- Cháu có năm mươi ngàn đồng xin gửi bác hôm nay. Số còn lại, xin khất bác. Dạo này chúng cháu hơi túng.
Trước khi chộp lấy những tờ giấy bạc từ tay An xoè ra mụ đã rướn cong môi:
- Khối người hỏi thuê giá hai trăm rưỡi, nhưng tôi vẫn để cho các cậu ở hai trăm, thế là quá tốt rồi. Nếu cứ lằng nhằng mãi thế này thì không được với tôi đâu.
An và Nam không nói gì. Mụ đứng ngẩn người ra một lúc, và như nhớ ra điều gì, mụ nhìn lên bóng điện treo lủng lẳng:
- Người gì mà lãng phí, điện thắp suốt đêm.
Mụ ngoáy mông đi ra, vẫn giọng đay nghiến:
- Đọc cho lắm vào, phải lo cái mà đổ vào mồm đi chứ! Đời gì mà lắm đứa ngu thế không biết…
 
*
*          *
Mọi người còn đang ngơ ngác trước vẻ tàn ác và thô bỉ của mụ chủ nhà  thì lại có ba người đàn bà khác bước vào. Bà Thuận, người già nhất khoảng gần bảy mươi tuổi, hai người kia xấp xỉ sáu mươi, gương mặt lộ vẻ tức giận, bức bối.  Bà Thuận hỏi:
- Cậu An có nhà không?
Nam và Hồng vừa ngạc nhiên vừa nghĩ: " Hôm nay lạ thật, lại có chuyện gì nữa đây".
An niềm nở
- Mời các cụ vào!
- Xin lỗi, chúng tôi không biết cậu đang có khách.- Bà Thuận nói-  Lát nữa cậu rỗi, nhờ cậu làm ơn viết cho cái đơn kiện...
- Về việc gì đấy ạ?
- Chuyện ni sư ở chùa Hạ… Ghê gớm quá cậu ơi. Bà ta dám đưa đàn ông vào chùa hành lạc, lại còn ăn cả thịt chó. Sư với chả sãi...- mặt bà Thuận đỏ lên.
-  Nhưng các cụ có chứng cớ không?
- Có chứ! Cả đời chúng tôi có bao giờ nói sai cho ai… Dân xung quanh chùa nhiều lần thấy đàn ông đêm hôm khuya khoắt vào chùa. Chú tiểu có lần nói với tôi... Chú ấy bảo, bà sư này hay đánh đập chú và làm nhiều điều bậy bạ nhưng do sư cụ bao che mà không ai dám động đến.
- Nhưng đây là chuyện hệ trọng, phải xem xét cho thật kỹ càng kẻo oan cho người ta.
- Cậu nói vậy là phải. Chúng tôi sẽ thu thập thêm chứng cứ. Nếu đúng thì bà ta sẽ không được yên ổn đâu. Tôi cũng lấy làm lạ, không tu được thì cứ sống như người bình thường ấy, sao lại chui vào giới tu hành mà làm bậy nhỉ?
Giọng bà Thuận đầy bực tức.
*
*       *
 
Hồng xin phép về nhà khi các bà cụ vừa đi ra.
 An và Nam tiễn Hồng ra ngõ. Một toán trẻ con đã tụ tập ở đó và reo lên gọi nhau:
- Chúng mày ơi, đến giờ chú An ra kể chuyện rồi. Hôm nay chú lại kể chuyện “Ác quỷ Đề la cô la” nhé.
Một đứa đứng bên cạnh, vẻ hào hứng ngây thơ:
- Hôm nay ác quỷ sẽ chết chú nhỉ?
- Chưa chết... làm sao mà nó chết nhanh thế được.
- Thế nhỡ nó không chết thì sao?
Mấy đứa trẻ cãi nhau. An cười với chúng.
- Nào, đừng cãi nhau, lát nữa chú kể sẽ biết bạn nào nói đúng.
Hồng nhìn An:
- Anh yêu bọn trẻ như vậy sao?
- Đó là những người bạn nhỏ tuổi của anh.
Cô lên xe đạp đi nhưng thỉnh thoảng vẫn ngoái lại. Phía sau, An vẫn còn đứng đưa bàn tay vẫy vẫy.
Bỗng dưng, một cái gì như nỗi lưu luyến, man mác, một cái gì ấm áp và êm dịu dâng lên trong lòng Hồng. Chưa bao giờ trong mười tám năm tuổi trẻ của mình, Hồng bắt gặp cảm giác lạ lùng ấy từ một người con trai. Sức hút từ một tâm hồn rộng mở, đức tính khiêm nhường, nhẫn nhịn, sự nhân hậu, vẻ hòa đồng bỗng làm cho hình ảnh An trở nên lung linh trong tâm tưởng cô.
Khi Hồng đi khuất, An nhìn thấy một đứa trẻ đứng khép nép bên vệ đường, không giám nhập vào bọn trẻ. Có vài đứa còn ném vào nó những viên sỏi nhỏ:
- Con hủi…
Đứa khác nói:
- Mẹ tao bảo, chơi với nó là bị lây bệnh đấy…
Mặt đứa bé gầy gò, xanh lét, đôi mắt tròn đen đọng bên trong những giọt nước trong vắt…
An vẫy đứa bé lại gần. Anh vuốt nhẹ lên mớ tóc rối bời quăn queo của nó:
- Minh, cháu ngối đây, chú kể chuyện cùng nghe với các bạn nhé.
 Đứa bé lấy tay gạt nước mắt, ngồi sát lại bên An. Lũ trẻ nhìn bé Minh lấm lét.
-         Các cháu lại đây nào, chú sẽ kể chuyện cho nghe.
Mấy đứa trẻ nhìn nhau, rồi lại nhìn An và từng đứa một lần lượt quây quần bên An.
An bắt đầu kể chuyện ác quỷ Đề-la-cô-la. Câu chuyện càng lúc càng ly kỳ, lắt léo, càng hấp dẫn, khiến lũ trẻ vừa kinh ngạc vừa thích thú, có lúc hoảng sợ…
Khi câu chuyện kết thúc, An dắt Minh đi dọc con đường nhỏ. Đứa bé lẫm chẫm bước theo anh và hỏi những câu ngây thơ.
- Chú An ơi, sao các bạn lại gọi cháu là con hủi? Sao các bạn lại không chơi với cháu?
Các bạn đối xử với cháu như thế là không đúng. Cháu đừng có buồn. Chú sẽ nói với các bạn ấy…
- Sao chú khuyên các bạn ấy chơi với cháu mà mẹ các bạn ấy lại cấm nhỉ?
An lảng sang chuyện khác.
- Con chuồn chuồn kìa… Chú sẽ bắt cho cháu nhé.
Minh mừng quýnh.
 
3
Ba ngày hết tiền và gạo, An và Nam chỉ sống bằng mấy gói mì ăn liền. Những cơn đói triền miên, lúc đầu nó tạo một cảm giác cào cấu trong dạ dày. Dần dần lại tạo thành một cảm giác lâng lâng như trong một môi trường không trọng lượng. An thấy mình yếu đi, dễ bị choáng và ngã. 
Nam nhìn anh:
- Mình thấy mình sắp chết hay sao ấy - anh cố tạo nét mặt vui vẻ, giọng nửa đùa nửa thật - năm 1945 chắc cũng thế này...
An bảo Nam:
- À, hay mình mang cái xe đạp ra tiệm cầm đồ.
Nam gật đầu. An bước liêu xiêu, dắt chiếc xe đạp cà tàng ra khỏi nhà. Tay chủ hiệu cầm đồ béo núc sau khi liếc đôi mắt híp bé tí tẹo nhìn món hàng, giọng vô cảm:
- Xe vứt đi, đáng gì mà cầm.
An nhỏ nhẹ:
- Bọn em thiếu một chút tiền, mấy bữa nữa lại có. Anh cầm giúp …
- Cầm thì được bao nhiêu? – gã lên giọng rồi lấy mũi giày đá nhẹ vào khung.
- Mọt hết rồi….
Lặng một lát suy nghĩ gã nói tiếp giọng dễ nghe hơn:
- Thôi cũng được, cậu đã nói vậy, cầm sáu mươi ngàn. hai tuần sau không quay lại, tớ sẽ hóa giá đấy.
An nhận tiền, bước vội ra khỏi tiệm cầm đồ. Anh buồn. Xã hội đang hình thành biết bao hình thức bóc lột, cưỡng bức con người, mà những kẻ nghèo khó, như những viên bi bất đắc dĩ phải lăn vào những cái khe được thiết kế sẵn.
An dừng lại ở một góc phố hẹp. Đó là chỗ dồn tụ của một nhóm người lam lũ từ các vùng nông thôn đến Hà Nội làm thuê. Kẻ đứng, người ngồi, quần áo nhăn heo rách rưới. Những con mắt thao láo, những bộ mặt dơ xương. Họ đang mong ngóng, chờ đợi một công việc... Bất cứ việc gì họ cũng làm, miễn là có tiền để sống. để nuôi gia đình. những ý nghĩ như những lưỡi kim sắc nhọn đâm nhói trong tâm trí An: " Mình có hơn gì họ đâu. Dù được học hành, nhưng bây giờ, mình vẫn tay trắng". Xã hội đang tạo ra những đường dây... Lần theo dây mà lên, mà đạp xuống đầu kẻ khác. 
Giữa đám đông có một gương mặt hốc hác, xanh xao, rơm rớm nước mắt. Mấy người xung quanh xúm lại hỏi:
- Sao vậy mày?
- Sao?
- Sao?
Đủ tiếng nói ở các vùng đất khác nhau vang lên.
- Nó đi đời rồi... Khổ thân nó...
Người ấy nói giữa những hơi thở đứt quãng.
- Thằng Cường hói, nó là bạn tao...
- Nhưng mà vì sao?
- Sao?
- ???
- Tưởng là đi làm ăn nuôi vợ nuôi con, không ngờ, lại vì cái xứ này mà chết... Chết nhục nhã nữa chứ... Chết mà bị vợ con xỉ nhổ nữa chứ... Nó về quê, mọi người xì xào, xa lánh... Nó khóc. Nó cùng cực nên đã cắn lưỡi mà chết...
- Sao lại đến nỗi như vậy?
- Thì các cậu không biết à,  nó vẫn cậy khỏe... nó làm việc như trâu, nhưng xa vợ mãi thì không chịu được... nó chui rúc với mấy con gái điếm... thế là nhiễm bệnh, toi đời...
Câu chuyện ngưng bặt khi có mấy chiếc xe máy dừng lại bên đám đông. Người ta chen lấn nhau, cố nhoi ra phía trước. Mấy gương mặt rắn rỏi của những người thuê việc ngồi trên xe máy phát ra những câu hỏi:
- Cọ nhà vệ sinh không?
Giọng nói khác:
- Khuân vác đồ đạc nặng, làm được chứ?...
- Tôi cần bảo vệ...
Một người thiếu phụ tầm tuổi bốn mươi, gương mặt hơi vuông, gò má cao, tóc quăn, da trắng, dáng người đậm bó chặt trong bộ đồ đen, cổ đeo dây chuyền vàng, thơm nức một loại nước hoa đắt tiền phanh chiếc xe máy Dream, nhìn  An  nói bằng giọng nhỏ nhẹ:
- Cậu về giúp tôi lắp cái ăng ten vô tuyến.
Có mấy người xô lại, nhìn An vẻ ác cảm vì vừa cướp mất của họ một cơ hội.
An cùng người thiếu phụ về nhà. Dọc đường, thiếu phụ hỏi:
- Cậu là sinh viên hả.
- Em vừa tốt nghiệp, chưa đi làm.
- Thế đã có người yêu chưa?
- Dạ chưa.
Ánh mắt thiếu phụ sáng lên.
- Quên mất, chị chưa biết tên của cậu.
- Em là An. Còn tên chị?
- Tên chị là Hệ.
Hai người dừng lại trước căn nhà bốn tầng trong một ngõ vắng trầm mặc. Thiếu phụ mở hai tầng cửa sắt đưa An vào một phòng, trong đó có kê một bộ bàn ghế salon, nhiều bức tranh hoa. Hệ bật nhạc. Một bản nhạc không lời êm ái khỏa ra không gian. Rồi chị pha trà, bê ra một đĩa bánh bích quy.
- Cậu uống nước và ăn bánh đi đã.
- Dạ vâng.
An ăn ngon lành. Đối với anh, chưa bao giờ món bánh bích quy lại ngon đến thế. Khi cho vào miệng, đủ các vị ngọt, thơm, béo ngậy thi nhau ngấm vào vị giác. Và khi nuốt, một cái gì mềm mại trườn xuống dạ dày xóa dần cảm giác trống hoác, xót rát như một vết thương, ngay lập tức, một nguồn sức lực sinh ra, tạo nên một cảm giác khoan khoái.
Từ nãy Hệ ngồi nhìn An. Gương mặt chị ta trầm lặng như đang suy tính một điều gì. Bây giờ chị ta cất tiếng:
- Cậu cứ tự nhiên nhé. Hôm nay nếu cậu có thời gian, chị mời cậu ở lại ăn cơm với chị cho vui.
- Cảm ơn chị, em phải về... mà chị ơi lắp ăng ten chỗ nào hả chị? - An hỏi. Rút cục thì An không hiểu tại sao mình lại ngồi đây. Thiếu phụ không trả lời vào câu hỏi của An:
- Đợi chị nhé.
Hệ vào vào phòng riêng. Lát sau, vẫn giọng nhỏ nhẹ có phần hổn hển, chị gọi:
- Cậu ơi... cậu vào đây...
An rón rén như một chú mèo lạ tiến gần đến căn phòng. Tiếng thiếu phụ vẫn nhỏ nhẹ, hối thúc:
- Chị muốn nhờ... cậu...
Trong làn ánh sáng vàng nhạt lờ mờ, vẫn người thiếu phụ lúc nãy nhưng chỉ còn vài mụn vải vướng víu một cách hững hờ trước ngực và trên đùi. An khựng  lại, nhưng thiếu phụ đã tiến đến gần, mùi da thịt nồng nàn tỏa ra.
- Cậu... tôi biết cậu... Chắc có khó khăn gì đặc biệt lắm mới phải...
Giọng Hệ như tắc lại giữa hơi thở nồng nàn:
- Cậu cần bao nhiêu tiền cũng được...
Chị dang cánh tay tròn lẳn toan quàng qua cổ An, nhưng anh né người tránh sang bên, rồi quay người, toan bước ra. Nhưng cửa đã khóa. Thiếu phụ như một hòn than khổng lồ ép tấm thân bỏng rát của bà vào sau lưng An. Anh cảm nhận rõ sự cuồng điên, run rẩy của thân xác người đàn bà.
- Chị mở cửa ra... An dùng tay đập mạnh vào cánh cửa.
- Cậu... cậu ơi…
Người đàn bà vẫn sán vào, mái tóc rối bù, mặt đỏ bừng và ánh mắt đã trở nên đờ đẫn. An kéo chị trở lại phòng riêng, khép cửa lại.
- Chị mặc lại quần áo đi.
An trở lại bàn trà. Một nỗi sợ hãi hoang sơ bùng dậy trong lòng anh.
Lát sau thiếu phụ trở ra phòng khách trong bộ cánh đoan trang, Hệ cố thoát khỏi vẻ ngượng ngùng, rót thêm nước mời An:
- Xin cậu thứ lỗi...
Giọng người đàn bà nghẹn đi vì xúc động. Một nỗi tủi hờn không thể kìm nén được khiến giọng Hệ trở nên méo mó:
- Tôi cô độc, tôi khổ quá... cậu ạ… Căn nhà rộng thế này, tiền bạc không thiếu, nhưng lòng tôi luôn đau đớn. Ở đây tĩnh lặng quá. Không một âm thanh nào của cuộc sống có thể lọt vào được. Tôi thấy mình như bị chôn sống trong một nấm mộ.
Trong phút chốc, thiếu phụ càng trở nên tội nghiệp. Nước mắt sắp ứa ra hai má. Tóc xòa xuống che khuyết một phần khuôn mặt.
An chủ động khơi tiếp câu chuyện:
- Chị ở đây có một mình thôi sao?
-  Một mình thôi... thì tôi có còn ai nữa đâu!...
- Chị có xây dựng gia đình không?
- Trước đây thì có! Nhưng đã chia tay rồi...
- Chị có con không?
- Không!
Hệ nén tiếng khóc nhưng nó vẫn vỡ òa. Chị gục mặt vào thành ghế, cả cơ thể rung lên theo tiếng nấc.
- Chị vẫn còn trẻ, vẫn còn có thể tạo lập một tổ ấm.
Giọng Hệ bị ngắt quãng bởi tiếng khóc:
- Không! Không! Tôi không tin, tôi không thể tin được điều ấy nữa.... Chuyện của tôi đau đớn lắm cậu ơi!
Chị cố lấy lại bình tĩnh:
- Tôi cần một người chia sẻ cậu ạ. Nếu không phiền cậu, tôi sẽ kể.
- Chị kể đi, em đang nghe đây.
Nhấp một ngụm nước, Hệ bắt đầu câu chuyện:
- Mãi năm hai mươi chín tuổi chị mới lấy chồng. Anh ấy là công nhân xuất khẩu lao động ở Đức về. Đường tình duyên của tôi hồi trẻ đầy long đong. Nhiều bạn trai đến với tôi nhưng có một chuyện kỳ lạ luôn lặp lại như bị ma ám. Khi tôi không đồng ý thì họ theo đuổi. Còn hễ tôi có ý định gắn bó lâu dài thì họ bỗng viện cớ rồi biến mất. Tôi đã đau khổ và mất hết niềm tin vào cánh đàn ông. Mãi khi gặp được một người sẵn lòng cưới thì tôi bằng lòng cho qua chuyện chứ không còn tha thiết mặn mà gì.
Hệ lại nấc lên quằn quại, cau chuyện đứt quãng mất một lúc.
- Anh ấy từ nước ngoài về chân ướt chân ráo, thấy cuộc sống bấp bênh cô độc nên cũng chỉ có ý định lấy vợ giải sầu. Tôi không thể nào biết được điều sâu kín đó... Mình là phụ nữ Việt Nam, đã lấy chồng thì coi như kiếp này đã thuộc về người ta rồi. Còn người ta... Người ta thì coi chuyện vợ chồng như một hợp đồng. Thích thì ở, không thích thì chia tay - Người đàn bà nghẹn lại- Ngày qua ngày, lúc có chuyện bất đồng, cứ mở miệng ra là anh ta nói: “Bên Đức người ta coi chuyện ly hôn rất đơn giản... Cần quan niệm lại cho đúng. Sống cả đời mà không thoải mái với nhau mệt lắm.” Những quan niệm khác nhau ấy làm cho chúng tôi càng lúc càng xa cách nhau hơn. Đến lúc cuộc sống chỉ còn lạnh giá. Cứ trông thấy nhau là khó chịu... Một ngày anh ấy nói anh ấy muốn trở lại nước Đức. Chị đành để cho anh ấy đi.
Hệ dần dần lấy lại được vẻ bình thường. Nhưng trong thẳm sâu đáy mắt như vẫn còn phủ một đám mây u ám.
- Anh ấy ra đi, chị biết sẽ không có ngày về. Dù cuộc sống bên nhau nặng nề nhưng sự xa cách lại làm chị hụt hẫng, khô héo như cây bị bứng lên khỏi mặt đất. Dù vậy, điều diễn ra sau đó còn khủng khiếp hơn nhiều. Anh ấy không viết cho chị một dòng thư, không để lại địa chỉ. Cứ  y như anh ấy đã biến mất khỏi thế gian này. Suốt bảy năm... bảy năm chị sống trong cô lạnh. Hàng ngày chị lao vào kinh doanh bất động sản và dần dần trở nên giàu có. Cứ nghĩ, khi có tiền thì sẽ có tất cả. Nhưng thế giới của những người lắm tiền là một thế giới cũng đầy băng giá. Bọn đàn ông giàu có thì dùng tiền mua những cô gái mười tám đôi mươi. Họ ăn chơi vô độ, suốt ngày điên cuồng trong khoái lạc. Còn những người phụ nữ đã có tuổi như chị thì khô héo trong cô độc. Chị cũng cố gắng giữ cho mình được trong sạch. Chị đã mong muốn chồng chị trở về. Nhưng, năm ngoái, chị bỗng nhận được một bức thư chỉ có vài dòng khô khốc của anh ấy báo tin rằng anh ấy bị nhiễm HIV, không về nước nữa... Chị thấy lòng mình như bị phủ một lớp mây mù. Sự thất vọng trùm lên cuộc đời như không có lối thoát. Rồi từ đó, chị để mình trôi nổi vô định như con thuyền không người lái... Như một thứ bệnh nghiện... Những khao khát bản năng xô đẩy, ám ảnh và dần dần sai khiến... Như cậu biết đấy... Cuộc đời chị coi như đã bỏ đi rồi... Trời ôi!...
Người đàn bà bật khóc nức lên. Những thớ thịt co giật như bị một cơn động kinh.
4
An về quê. Khác với xưa, cây cối um tùm nối tiếp nhau phủ mát con đường làng, giờ thì những hàng dừa, những khóm tre, những hàng dương và cả cây gạo to nhất làng còn sót lại từ vài trăm năm trước cũng bị chặt trụi. Con đường bê tông phơi trần ra xù xì, xám xịt và khô khốc. Hai bên đường, những ngôi nhà mái bằng đủ loại từ một đến ba tầng, vuông thành sắc cạnh với những sắc màu lòe loẹt xanh, đỏ, tím, vàng.
Rẽ vào một ngõ nhỏ thân thuộc, căn nhà của bố mẹ An tường xanh rêu, thềm và sân loang lổ vết lở, vết toác từng mảng. Cánh cửa khép hờ, anh bước vào nhà. Lạ sao, căn nhà của bố mẹ anh, căn nhà đã sinh ra anh, từ đây anh sống suốt cả thời bé thơ và thời niên thiếu với bao nhiêu kỷ niệm, vậy mà bây giờ, chỉ một thời gian ngắn xa nhà, bỗng anh cứ có cảm giác buồn lạnh.
- Mẹ ơi!
An gọi. Không có ai đáp lại. Anh dạo khắp các phòng trong nhà. Mọi thứ vẫn bình thường, hầu như không có gì thay đổi. Anh ra vườn. Vườn rau vẫn xanh tốt. An quay trở vào nhà thì cũng là lúc mẹ anh về. Mẹ anh mừng rỡ, từ sau đôi mắt nhăn nheo hai giọt nước trong veo nóng bỏng ứa ra.
- Con về lâu chưa?
- Dạ, con mới về. Bố mẹ đi đâu vậy?
- Anh Bắc ốm. Bố phải xuống trạm xá cùng với chị Lân chăm sóc anh. Mẹ thì phải đi vay một ít tiền để lo chuyện thuốc thang.
An thấy trời đất tối sầm lại. Một cái gì như nỗi tủi cực dâng lên trong tim anh. Không phải bây giờ cảm giác đó mới xâm lấn, từ lâu lắm rồi... Từ khi anh vào đại học, phần thì tiền học phí, phần thì tiền thuê nhà, phần thì tiền ăn tiêu, các khoản tiền ấy gộp lại, mỗi tháng gia đình phải chi cho anh có khi lên đến cả gần triệu đồng, bằng tiền dành dụm của bố mẹ anh trong một năm. Thế mà đã năm năm như thế trôi qua... Toàn bộ khoản tiền tiết kiệm suốt đời dành dụm được của bố mẹ anh cũng không đủ để anh học xong chương trình đại học. Mảnh vườn rộng chừng hơn sào đất từ đời ông nội để lại cũng phải bán đi hơn một nửa để gửi cho anh. Mảnh đất ấy, nghe nói ông nội tích cóp gần cả đời mới mua được. Trong cải cách ruộng đất có người muốn tịch thu, ông phải van xin khổ cực lắm mới giữ được. Vậy mà bây giờ anh ra trường, cầm được cái bằng trong tay, khó khăn lại càng ngặt nghèo.
- Anh Bắc ốm thế nào hở mẹ?
- Đêm hôm qua, anh bị đau vết thương nên đi dạo ngoài đường cho khuây, không ngờ thằng Truật nhà ông Vượng say rượu ngật ngưỡng đi xe máy đâm vào. Anh Bắc ngã, đầu đập xuống nền bê tông, máu ra nhiều, ngất đi.
- Sao không đưa anh đi viện?
Mẹ anh không trả lời. An chợt hiểu điều khó nói của mẹ. An tự trả lời: “Tiền đâu mà đi viện”. Cứ đặt chân vào bệnh viện là phải chấp nhận tốn kém. Tiền khám, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng bác sỹ. Bảo hiểm y tế thì có cũng như không. Cứ chìa cái thẻ ra là nhất định bị nhân viên y tế lạnh nhạt, đợi mãi rồi chỉ được khám qua loa. Bệnh lại vẫn hoàn bệnh. Anh em, bà con trong họ, trong làng phần lớn là nghèo túng, không đủ cơm ăn, lấy đâu ra để giúp...”
Mẹ nói:
- Con nghỉ đi một lúc rồi mẹ con ta đi thăm anh Bắc.
Anh Bắc là anh rể của An. Anh lấy chị gái An đã mười hai năm mà vẫn chưa có con. Hồi còn đóng quân ở Campuchia anh bị thương, cụt một chân. Hai năm trước anh lại bị thêm chứng đau đầu, mất ngủ, uống thuốc gì cũng không được và dần dần, có thói quen lúc nào đau quá anh lại chống nạng đi lang thang ngoài đường... Chị Lân nghèo vì tất cả tiền nong dành dụm được đều lo vào việc thuốc thang cho anh. Từ lâu lắm rồi, bao giờ chị Lân cũng chỉ mặc một chiếc áo sơ mi cũ, tóc kẹp gọn ra sau, khi đi ngoài đường chân chị bước vội vàng, mặt cúi gằm. Chị hay tủi thân, xa cách với bạn bè cùng trang lứa và mọi người trong họ. Chị bảo: “Mình đến nhỡ họ tưởng mình nhờ vả thì không hay”. Không bao giờ chị ngửa tay xin ai một đồng. Hết cấy lại làm cỏ ngoài đồng, có lúc nào rỗi chị nuôi thêm con lợn, con gà hoặc làm mấy chuyến hàng xáo, tăng được đồng nào thu nhập cho gia đình hay đồng ấy. Chỉ có bố mẹ An giúp đỡ là chị nhận, ngoài ra chị kiên quyết tự lo liệu lấy cuộc sống của mình. Không ngờ lần này anh Bắc lại gặp hạn lớn đến vậy...
“Nếu nhỡ anh bị nặng buộc phải đi viện thì biết tính làm sao?”. Câu hỏi ấy cứ ám ảnh An suốt trên đường từ nhà lên trạm xá. Mẹ An dẫn anh vào căn phòng nhỏ. Trong phòng kê bốn chiếc giường đơn nhưng chỉ có anh Bắc, đầu băng kín hai lớp vải trắng như đang chịu tang, nằm bất động trên giường và chị Lân lặng lẽ khóc một mình. Mẹ An hỏi:
- Bố đi đâu rồi con?
- Bố đi mua thuốc mẹ ạ! Cậu An, cậu mới về à?
- Vâng! Em mới về chị ạ. Anh bị nặng lắm không chị?
- Anh ngã,đầu đập xuống đường...
Anh Bắc thiếp đi được một lúc, nghe tiếng nói chuyện thì mở mắt.
 - Cậu về được lâu không?
- Em về một hôm thôi. Mai em đi.
- Công việc của cậu đến đâu rồi?
- Em đang chuẩn bị thi vào một vài cơ quan nên cũng bận, vả lại, em cũng kiếm việc để làm thêm...
Giọng anh Bắc mỏi mệt:
- Cố mà trụ lại thành phố cậu ạ. Nông dân như các anh đây khổ quá, không nói thì cậu cũng biết, suốt đời chân lấm, tay bùn thức khuya dậy sớm, vậy mà không có đủ cơm ăn, ốm đau không có tiền thuốc thang...
Bố An quay trở về trạm xá với một túi thuốc tây.
- Con mới về đấy à? Công việc ngoài ấy đã ổn chưa?
- Dạ, cũng bước đầu ổn định rồi bố ạ.
An nở một nụ cười động viên bố và mọi người nhưng trong lòng anh tê lạnh. Bố An đưa túi thuốc cho chị Lân. Chị Lân gọi bố ra một góc hỏi nhỏ:
- Hết bao nhiêu tiền hả bố?
- Tất cả một trăm năm mươi ngàn.
- Bố còn nợ người ta bao nhiêu?
- Sáu mươi ngàn...
Ông quay lại nói với An và mẹ:
- Bà về nấu cơm cho con nó ăn.
Rồi ông nói với chị Lân:
- Để bố trực ở đây, con về lo cơm chiều đi.
Lúc sau mọi người đã về đến nhà. Mẹ An bảo:
- Trên ấy mà khó khăn quá, con về xin việc ở huyện cũng được. Con học giỏi, về quê sẽ xin được việc đấy, mà lại gần nhà, sáng đi tối về bố mẹ còn được nhờ cái hơi, cái tiếng.
An không biết nói gì với mẹ. Bao giờ mẹ cũng lo cho An. Còn anh thì từ lâu đã nguyện sẽ kiên quyết phải trụ lại ở Hà Nội. Ở đó, anh có thêm điều kiện để học tập nâng cao kiến thức, mở rộng quan hệ và sẽ theo đuổi ước mơ của mình… Ước mơ ấy… ước mơ cháy bỏng của anh từ hồi còn học cấp hai và nó luôn khắc khoải trong anh mười mấy năm trời.
- Con ở trên ấy, dễ có điều kiện phát triển lên hơn mẹ ạ. Cả nước người ta còn đang đổ về cơ mà! Mẹ cứ yên tâm.
Buổi chiều và tối hôm ấy mẹ nói chuyện vui vẻ. Nào là chuyện vườn rau tốt thế mà giá bán quá rẻ, không được bao nhiêu. Nào là chuyện chị Lân nuôi được mấy lứa lợn, dành dụm được ba trăm ngàn đang vui mừng muốn mua tặng bố mẹ mỗi người một bộ quần áo thì anh Bắc ốm, tiêu đến nay hết sạch... mẹ đang kể chuyện say sưa bỗng dừng lại:
- Quê ta dạo này có nhiều chuyện không hay.
An nhìn mẹ:
- Có chuyện gì hở mẹ?
- Có cả bọn nghiện. Trẻ con, thanh niên bây giờ dễ hư hỏng lắm. Hôm trước công an bắt mấy đứa đưa đi trại rồi. Thằng Nguyện, Thằng Bao ở xóm dưới. Cả làng thì rộ lên chuyện đánh số đề. Nhà Cao Voi chết hết rồi con ạ...
- Sao, sao thế hở mẹ?
- Thằng Cao Voi đánh số đề bị thua, điên lên, giật lựu đạn chết cả nhà. Chuyện mới mấy tuần chứ có lâu la gì đâu. Hôm ấy nửa dêm mẹ nghe thấy một tiếng nổ. Mẹ chạy ra ngõ nhìn lên xóm trên. Mọi người cùng chạy ra đường, cùng hỏi han nhau có chuyện gì... Hóa ra là nổ ở nhà Cao Voi. Hôm sau công an về rất đông,. Hai vợ chồng với ba đứa con... khiếp... Năm cái quan tài nối nhau đưa đi trong một đám tang lớn.
 
*
*       *
 
 Nửa đêm hôm ấy An thức giấc. Vầng trăng khuyết nhô lên ở góc trời đông. Anh bước ra vườn, hít hơi thở thật sâu, mùi hương hoa đồng nội thơm vào tận phổi. Ánh sáng trắng đổ xuống không gian, những giọt sương khuya lóng lánh và tiếng chim non chiêm chiếp, tiếng côn trùng rả rích. Gương mặt làng xóm hiền hòa, thân thuộc bỗng tụ về trong mắt anh. Tự nhiên An thấy lòng da diết. Anh nghĩ về những điều còn mất của quê hương. An ngỡ ngàng, không hiểu cuộc sống còn đổi thay đến bao nhiêu nữa... Những kỷ niệm một thời sống dậy trong tâm thưởng anh, như lên tiếng gọi thiết tha đưa anh về thời thơ ấu... Từ buổi đầu chập chững, bước chân anh đã in hằn lên những lối mòn quê, đáy mắt anh đã khắc ghi từng cảnh sắc xóm làng, những dáng hình thân thuộc…
Sáng hôm sau An trở lại Hà Nội. Bước lên xe ô tô, An chọn một góc cuối xe không có người. Xe chạy được một lúc thì chủ xe đến hỏi tiền.
An đưa cặp mắt ái ngại nhìn anh ta rồi nói:
- Em có việc phải lên Hà Nội ngay- Anh thông cảm, em không còn tiền, chỉ có cái áo khoác này thay tiền xe, xin anh nhận cho.
 Anh đưa chiếc áo gói sẵn trong túi ni lông cho chủ xe. Đôi mắt người chủ xe toát lên một tia kinh ngạc. Trời đang lạnh, An đang mặc áo sơ mi mà dám đưa cả một chiếc áo khoác gói trong ni lông trả thay tiền xe… Mà tiền xe cùng lắm cũng chỉ bằng một phần giá trị chiếc áo mà thôi. Người chủ xe phán đoán một lúc, anh ta bỗng nghĩ: “Hay nó là thằng ăn cắp?”. “Không! Trông gương mặt thông minh lại đeo kính trắng thế kia...”. Nhưng mà cũng không thể lường được, khối kẻ trông cái vẻ bề ngoài tốt đẹp thế mà lòng dạ chẳng ra cái quái gì... “Không! Nhưng cậu này trông thật thà và có vẻ gì tội tội... Chắc cậu ta lỡ đường, lỡ xá gì chăng?”.
Người chủ xe ân cần hỏi An:
- Nhà cậu ở đâu?
- Nhà em ở làng Cồn Ngự.
- Cậu là sinh viên à?
- Vâng! Em vừa ra trường.
- Cậu mặc cái áo này vào xem nào - người chủ xe trao lại áo khoác cho An.
An lấy chiếc áo ra khỏi túi ni lông, thong thả mặc vào. Người chủ xe ngắm nghía.
- Cậu không phải trả tiền xe, coi như là tớ giúp cậu vậy - người chủ xe nói, giọng nhỏ nhẹ. -Nói thực, trước đây mình cũng là sinh viên... nên thông cảm được với cậu. Ngày ấy, được vào đại học là mơ ước lớn nhất của mình. Nhưng khi mình mới học được năm thứ hai trường Bách Khoa thì bố mình mất, mẹ mình đau yếu thường xuyên, không có tiền ăn, tiền học phí nên mình đành nghỉ học. Rồi lấy vợ...
Phút chốc, người chủ xe đã trở nên gần gũi. Sau lời bộc bạch, anh thở dài buông một câu lạnh giá:
- Cái nghèo đã giết mất của mình một ước mơ...
An xúc động. Thì ra, con người trước mặt anh cũng đã từng gặp những cảnh ngộ đau lòng. Anh ta hơn An chừng dăm tuổi, vậy mà gương mặt đã phảng phất những nếp hằn cực nhọc, lo toan.
- Sinh viên bây giờ khổ quá! - Người chủ xe lại than. - Mình là con nhà nghèo nên mình hiểu anh em nông thôn lên thành phố cuộc sống ra sao. Mình thì đã không vượt lên được hoàn cảnh...
An nhìn anh vẻ đồng cảm:
- Nhưng bây giờ, cuộc sống của anh cũng đã ổn định hơn?
- Cũng tàm tạm. Bây giờ đã có được một chút vốn. Mình lại muốn đi học nhưng lại vướng bận gia đình, vợ con...
An cảm ơn người chủ xe, bước xuống khi chiếc xe đã vào bến. Anh về đến nơi trọ lúc giữa trưa.
Nam đang ngồi trầm tư bên trang giấy, buông bút đứng dậy.

5
Hồng bỏ số tiền dành dụm được vào phong bì. Một trăm hai mươi nghìn đồng. Cô đã nhịn quà sáng định dành mua sách vở, nhưng rồi lại quyết định sẽ gửi nó cho An. Hồng biết, An và Nam đang gặp nhiều khó khăn. Mấy hôm gần đây cô thấy An gầy đi, da xanh và đôi mắt thâm quầng. Cô hỏi có chuyện gì xảy ra thì anh chỉ lắc đầu. Dù vậy, trong bài giảng của mình, anh vẫn luôn cố gắng giải thích cho Hồng cảm nhận được cái linh hồn sâu thẳm, những ý tưởng độc đáo và giá trị nhân văn của tác phẩm. Anh biết đặt tác phẩm vào việc thức tỉnh sự nhận thức cũng như tình cảm nhân ái của con người. Anh nói về phẩm giá, nhân quyền, về sự giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những giáo điều hạn hẹp và cũ kỹ...
Dường như lúc nào gặp anh Hồng cũng thấy anh đang tư duy về những điều đẹp đẽ.Thực là hiếm có một người như thế. Vậy mà... vậy mà anh lại chưa tìm được việc làm dù anh đã tốt nghiệp đại học, ra trường ngót một năm, và anh lại phải sống quá vất vả, nghèo khó.
Hồng đạp xe đến nhà anh. Cửa khóa. Một mảnh giấy dán trên cánh cửa: “Chiều nghỉ học. Anh Nam bị ốm, hiện ở viện K”. Cô sửng sốt. Hồng quyết định đạp xe đến bệnh viện. Trong phòng hậu phẫu, Nam nằm im trên giường đệm ga trắng, mắt nhắm nghiền, phần đầu rịt băng kín mít lấp hết cả tóc. Hồng tiến đến bên An khi anh đang ngồi cạnh chỗ Nam nằm:
- Anh!
An ngước nhìn lên, mừng rỡ:
- Em Hồng!
- Anh Nam bị ốm thế nào hả anh? Có nặng lắm không?
- Ổn rồi em ạ. Chiếc u trên đầu anh ấy, cứ lúc nào suy nghĩ căng thẳng quá lại sưng lên, vỡ ra gây đau đớn. Chuyện này xảy ra mấy lần rồi, cũng thành quen.
- Em sợ lắm! Các anh có vẻ coi thường sức khoẻ quá!
Giọng An trầm trầm:
- Thời gian qua anh ấy dành nhiều tâm huyết để viết. Công việc nặng nhọc, ăn uống kham khổ, thất thường nên thỉnh thoảng lại ốm...
Nam nghe tiếng thầm thì bên cạnh nên mở mắt. Anh khẽ nở một nụ cười mỏi mệt, một nụ cười dường như phải dùng ý chí mới tạo được ra, nhưng sao nó cứ phảng phất một chút duyên thầm và quan trọng hơn, nó cho người ta thấy sức sống của một tâm hồn tươi tắn, coi thường những thách thức ở cõi đời.
- Anh đã đỡ nhiều chưa? - Hồng hỏi Nam.
- Có lẽ vài hôm nữa anh lại ngồi viết được thôi... Em đến lâu chưa?
- Em mới đến. Anh phải giữ sức khỏe đấy.
- Em đừng lo cho anh quá...
Y tá yêu cầu người thăm bệnh nhân lui ra ngoài. Hồng và An đứng ngoài khoảng sân hẹp phía trước. Những bóng người tàn tạ, xiêu vẹo vì lo lắng cho người thân cũng tụ lại thành từng đám nhỏ câm lặng chờ đợi xung quanh.
- Trông mọi người tội nghiệp quá! – Hồng nói với An.
- Thời bây giờ sao lắm bệnh tình quái ác.
Hai người còn tâm sự thêm một lúc nữa. Những câu chuyện học hành, thi cử trở đi trở lại với họ. Lúc sau, Hồng nhét chiếc phong bì đựng số tiền cô đã chuẩn bị sẵn vào tay An:
- Anh cầm lấy, để còn thuốc thang cho anh Nam, em xin phép nhé!
An xúc động. Dù quen nhau chưa lâu, nhưng Hồng đã thấu suốt hoàn cảnh của anh rất nhanh. Có thêm khoản tiền này sẽ đỡ cơ cực một phần.
- Cảm ơn em! Em... Thế thì anh đành mượn của em vậy.
Hồng nhoẻn cười:
- Ngày mai em sẽ trở lại với các anh.
An ái ngại:
- Hồng ơi... Việc học của em có thể phải nghỉ thêm vài hôm nữa. Anh rất tiếc... Nhưng...
- Không sao đâu anh, em sẽ tự học, sẽ viết bài tập làm văn, khi rỗi anh xem và sửa cho em, thế là được rồi.
6
Đó là ngày cuối cùng Hồng được nhìn thấy mẹ.
Hôm sau thì mẹ Hồng chết. Cái ngày đặc biệt ấy đánh dấu một bước ngoặt của đời cô. Từ đó về sau, Hồng mới hiểu thế nào là đau thương, mất mát. Tâm hồn thanh khiết, non tơ của Hồng cho đến ngày hôm ấy lần đầu tiên bị cào xước. Không hiểu sao, kỷ niệm đau xót lại dội về, bất chấp thời gian đã cố tình bôi xóa.
 Hôm ấy bố Hồng nói với cô:
- Ta đi thôi con...
Mẹ Hồng nước mắt đầm đìa, chặn ngang ở cửa:
- Anh hiểu nhầm em rồi...
Hồng hết nhìn mẹ, lại nhìn bố:
- Đi chơi hả bố? Đi vườn bách thảo như mọi lần bố nhé, bố phải bắt cho con một em chim chích cơ.
Bố Hồng không nói thêm lời nào, vẫn kéo mạnh Hồng về phía trước. Mẹ Hồng giằng lại:
- Con! Mẹ yêu con... Con ở đây với mẹ, con đừng đi...
Bố Hồng quát:
- Buông ra! Loại như cô, nuôi để làm hỏng đời nó à.
Mẹ Hồng nghẹn lại:
- Nếu anh vẫn kiên quyết ra đi, em chỉ xin được ôm con một lần cuối.
Mẹ bế bổng rồi hôn tới tấp lên má, lên trán Hồng. Mẹ áp gương mặt đầm nước mắt vào mặt Hồng.
- Mẹ sinh ra con máu đỏ ruột mềm. Không được ở bên con để dạy con nên người, mẹ chỉ mong con sống ở đời phải biết thương người, phải biết làm điều tốt cho người...
Đấy là lời căn dặn tự cõi lòng của người mẹ đau khổ, là chân lý của trái tim... Nhưng bà nói chưa hết câu, Hồng đã bị bàn tay cứng như thép của bố lôi đi. Suốt trên đường Hồng tức tưởi khóc.
- Con không muốn đi. Mẹ muốn con ở nhà. Bố ơi, mẹ ốm hay sao ấy...
Hồng quay nhìn lại con đường gẫy khúc phía sau cho đến khi căn nhà tập thể khuất hẳn mới thôi.
Hai bố con vào ở trọ trong một căn nhà nhỏ có một chiếc cửa sổ nhìn ra khu vườn tĩnh mịch với những hàng cây xanh mượt. Căn nhà mái ngói phủ dây leo, vườn cau và vườn hoa... Khung cảnh ấy có một cái gì đẹp đẽ và u buồn. Hồng mải mê nhìn những đôi bướm trắng cùng nhau bay lượn trên những cánh hoa vàng, những con ong hút nhụy và tiếng chim lảnh lót một góc vườn. Hầu như chưa bao giờ Hồng được chứng kiến một phong cảnh thiên nhiên như thế. Nó có một cái gì man mác và huyền ảo. Một cái gì như chỉ có trong những giấc mơ... Nhưng bố Hồng thì không còn tâm trí nào để chú ý đến điều đó. Ông bảo Hồng hãy ngoan ngoãn, đừng làm gì trái lời ông dặn. Rồi ông bắt đầu dọn dẹp nhà cửa. Cho đến gần tối, ông nấu cơm cho hai bố con cùng ăn. Bố Hồng trầm lặng, ít nói và mệt mỏi. Gương mặt ông thẫn thờ.
Khi đêm xuống, như thường lệ, Hồng lên giường sớm. Lần này Hồng không tài nào ngủ được. Lòng cô như có lửa đốt. Nó nóng bỏng, cồn cào, run rẩy... rồi lại chuyển sang một tâm trạng khác, nó tê giá, buốt nhói... Một cảm giác Hồng chưa từng gặp phải bao giờ. Hồng bỗng thấy nhớ mẹ. Nỗi nhớ mênh mông giăng ra như một vực thẳm...
Bố Hồng ngồi trầm tư nhìn xa hút vào bóng tối sau khung cửa. Ông đang nghĩ ngợi. Dáng ông bỗng chốc như còm lại. Đôi bờ vai rung rung. Lúc sau, ông bước ra dạo xung quanh căn nhà. Nhưng Hồng đã thét lên hoảng loạn gọi ông trở vào. Ông vội vàng dùng ống tay áo gạt ngang qua mặt. Ông cúi xuống bên Hồng, im lặng, đưa bàn tay vỗ về nhè nhẹ lên vai con. Hồng nhìn vào mắt bố. Đôi mắt bỗng trở nên ngầu đỏ và rưng rưng dòng lệ. Hồng không nói gì với bố. Bố im lặng thêm một chút, lấy lại bình tĩnh, ông hỏi Hồng:
- Con mệt à?
- Không! Con sợ. Con nhớ mẹ... con muốn về với mẹ. Bao giờ bố đưa con về hở bố?
- Nín đi con. Bố sẽ ôm con. Hãy yên tâm mà ngủ. Bố sẽ thức canh cho con ngủ.
Hồng lại thốt lên sợ hãi và nghẹn ngào:
- Đưa con về với mẹ đi bố! Căn nhà này có ma. Con sợ lắm bố ạ!
 - Nín đi con. Bố đang ở bên con đây, đừng sợ!
- Không! Con muốn về với mẹ cơ. Bố ơi! Lúc nãy con vừa nhìn thấy mẹ đến chỗ này... Mẹ đứng ở đầu giường, mẹ mặc bộ đồ trắng mới tinh, mẹ nhìn con, mẹ khóc...
Bố Hồng ôm chặt lấy con. Con mơ đấy à?
- Không, con chỉ nằm nhắm mắt và con thấy mẹ đến. Mẹ khác hẳn mọi ngày. Mẹ buồn nhưng không bế con…
 Suốt đêm, Hồng chập chờn lúc thức, lúc ngủ. Trong lúc ngủ thỉnh thoảng Hồng lại giật mình, ú ớ gọi mẹ. Cô mơ thấy một biển lửa mênh mông đang vây lấy mẹ mình... Mẹ cô chết rục trong ngọn lửa hung bạo. Cả thân hình biến thành một hòn than đỏ rực từ từ bay lên cao, nhập vào bầu trời như một chấm sao.
Sáng hôm sau khi vừa mở mắt, Hồng đã nói:
- Bố ơi, bố đưa con về với mẹ.
Suốt một đêm qua, ông đã suy nghĩ nhiều. Ông nhìn Hồng bằng đôi mắt bàng hoàng thương cảm. Hầu như chưa bao giờ ông hiểu thấu nỗi đau thương của cõi lòng con trẻ, và thấu hiểu một cách sâu sắc về tình mẫu tử như lúc ấy. Ông biết, tình cảm tự nhiên và trong sáng của Hồng, tâm lý bình thường của một đứa trẻ trong Hồng sẽ bị tan biến, trí não non tơ ấy sẽ bị tổn thương nếu Hồng không được trở về với mẹ, sống yên ổn trong cuộc sống gia đình. Và ông thấy, mình sẽ tội lỗi biết bao, vị kỷ biết bao nếu không quay trở về. Phải quay trở về, phải bỏ qua hết những đố kỵ, buồn phiền, những đòi hỏi hà khắc của lòng mình, xây dựng lại một gia đình yên ấm... Tất cả hãy vì Hồng, vì tình yêu của Hồng với mẹ nó và ông sẽ vẫn có thể có lại hạnh phúc tiếp nối  những tháng ngày đầy kỷ niệm dịu êm của một thời quá khứ...
Không lưỡng lự nữa, ông bế Hồng bên hông đi thất thểu ra đường lớn, gọi một chiếc xích lô trở về nhà. Ông bảo với Hồng:
- Bố sẽ đưa con về với mẹ.
Điều mà ông không thể hiểu là tại sao lúc ấy Hồng không tỏ ra vui sướng thực thụ như mỗi lần được bố chiều theo ý của mình. Đôi mắt rưng rưng của Hồng nhìn bố bằng thái độ dò hỏi kỳ lạ.
- Bố ơi, nhanh lên bố...
Khi chiếc xe xích lô dừng hẳn lại trước dãy nhà tập thể thân thuộc, Hồng tuột vội xuống đất, không cần dép, cứ thế cô băng qua khoảng sân, lao lên cầu thang và gõ cửa một căn phòng tầng ba. Đó là phòng ở của gia đình từ khi mẹ Hồng bắt đầu mang thai cô, nơi lưu giữ tất cả kỷ niệm ấu thơ của Hồng...
-Mẹ, mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi!...
Hồng gọi rát cả họng. Cô đập rung cả cánh cửa gỗ bạc màu. Nhưng đáp lại cô chỉ có sự im lặng, trống không. Bố Hồng lên sau con gái. Ông gõ cửa một lúc lâu, căn phòng vẫn không một tiếng động đáp lại. Ông đưa mắt dán vào cánh cửa. Rõ ràng là cửa khóa trong. Rõ ràng là vợ ông có nhà...
Đành phải phá tung cánh cửa. Ông cùng Hồng vội bước vào nhà. Trước mắt hai cha con ông, mẹ Hồng nằm lật nghiêng trên giường, đầu hơi nhỏm lên, đôi mắt he hé mở ra và từ kẽ miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra kéo xuống thành giường, đọng lại thành vũng dưới nền nhà.
Bố Hồng choáng váng như bị nện một đòn chí mạng. Ông phục xuống đỡ lấy vợ. Ông đặt mẹ Hồng nằm ngay ngắn trên giường. Bàn tay run run của ông vuốt lên mắt bà. Ông bế Hồng sát lại nhìn mẹ một lần cuối cùng rồi kéo tấm chăn trùm kín đầu vợ.
- Bố con ta đã chậm mất rồi...
 Hồng lại òa khóc.
Còn ông thì nghẹn lại, đắng ngắt trong miệng. Đến lúc này ông mới chợt hiểu nỗi đau vô hạn đã trùm lên cuộc đời mình. Một nỗi ân hận, xót xa, một sự khắc khoải vò xé, một sự tự vấn, tự xỉ vả cuộn lên trong ông. Nó phân tách, bung phá con người ông thành những mảnh vụn... Cuối cùng thì chỉ có mặc cảm tội lỗi, sự sám hối gióng lên làm ông còng mình khọm xuống.
Trên bàn, một lọ hoa hồng nhung vẫn nở. Làn hương như khía vào đáy lòng ông.
(Còn nữa)
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0