<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-09 08:49:39Natalie>
Tìm hiểu về Địa Lý Phong Thuỷ
Võ Thành Nhẫn

Địa Lý Phong Thuỷ là gì?
Địa Lý Phong Thuỷ là một trong những bộ môn khoa học của Văn Minh học đông phương, là khoa phối hợp của Âm Dương Ngũ Hành với sự quan sát cách thế của các Mạch đất, đồi núi, cùng cách lưu thông của sông ngòi suối lạch để tìm nơi có chứa tụ khí Mạch của đất dùng làm nơi đất kết để xây nhà ở hoặc mồ mả.
…
Người Trung Hoa cho rằng sự thành công hay thất bại của con người không hoàn toàn do tài năng và sức lực của mình mà phần lớn là do ảnh hưởng của CHÍ, một loài sinh khí thiên nhiên của Trời và Đất đã tạo sinh ra mọi vật trong vũ trụ. Qua nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong đời sống, con người đã nhận thức được rằng, khung cảnh chung quanh từ một cái đồi, một toà nhà, một cao ốc cho đến một con đường, một con sông, con suối, chắc chắn là phải có một sự liên hệ vô hình nào đó giữa con người và ngoại cảnh thiên nhiên. Khi thiên nhiên thay đổi cảnh vật, thì sự thay đổi hay ảnh hưởng đến đời sống con người. Con người hình như đang chịu một số phận cùng với đất đai và ngoại cảnh thiên nhiên. Khi đất đai và cảnh vật kết tụ được nhiều sinh khí tốt, thì con người cũng có một đời sống thoải mái và mọi việc làm ăn đều phát đạt vươn lên.
Đây chính là thời điểm mà con người và thiên nhiên tạo được sự hoà hợp.
Chương I: Lai lịch và sự phát triển của khoa Địa Lý Phong Thuỷ
Theo Gíao sư Needham (1) thì khoa Địa Lý Phong Thuỷ bắt đầu được biết đến dưới đời nhà Hán (200 năm trước Tây Lịch) và cho đến thế kỷ thứ nhất (sau Tây Lịch) có một số cổ thư xác nhận khoa này có liên quan mật thiết đến công cuộc cải tạo thuỷ lợi của triều đình. Mãi đến dưới thời Tam-Quốc (220-265 sau Tây Lịch) thì khoa này thật sự được hoàn chỉnh và có phương pháp kỹ thuật rõ ràng.
Khoa Địa Lý Phong Thuỷ đặt trọng tâm vào sự khảo cứu đất đai, tìm cho được Long Mạch (nguồn CHÍ của vũ trụ) và huyệt kết là nơi hội tụ các loại sinh khí tối hảo của thiên nhiên và vũ trụ. Để đạt được mục đích này, khoa Địa Lý Phong Thuỷ, một mặt chú trọng đến các hình thể của đồi núi, sông ngòi, mặt khác thì dựa vào những Nguyên tắc về Thiên vận, Lý số, Kinh Dịch phối hợp với thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Đạo Gíao. Do sự khác biệt này mà khoa Địa Lý Phong Thuỷ được chia ra hai trường phái:
- Một trường phái được gọi là Phong Thuỷ Thiên Văn (Cosmology FengShui) đặt trọng tâm vào Lý số, Thiên văn và Kinh Dịch. Theo ông Needham thì phái này do ông Wang Chi sáng lập vào thế kỷ thứ XI và được gọi danh là Trường phái Fukien vì lúc bấy giờ ông Wang Chin hành nghề tại Fukien.
- Một trường phái được gọi là Phong Thuỷ Hình Thể (Form Fengshui) đặt trọng tâm vào hình thể các đồi núi, sông ngòi và ngoại cảnh thiên nhiên, được sáng lập bởi ông Yang Yun Sung vào thế kỷ thứ IX. Ông Yang Yun Sung trước đây là một quan lại triều đình và là tác giả của hai cuốn sách về Phong Thuỷ rất có giá trị. Đó là cuốn “Sự di động của Long khí” (Manual of the moving dragons) và cuốn “Phương pháp tìm Long Mạch qua 12 giai đoạn” (Method of the twelve staves).
- Lịch sử đời Tiền Hán (History of the former Han Dynasty).
- Vàng son khoa Địa Lý (Golden Box of Geomancy).
- Chọn đất cho dinh thự và nhà cửa (Terrestrial conformations for Palaces and houses) do Kuan Lo viết vào thế kỷ thứ 3 (209-256).
- Chôn cất cổ điển (The burial classic) do Kuop’o viết vào thế kỷ thứ IV.
- Cung điện Hoàng Đế (The yellow Emperor’s dwellings manual) do Wang Wei viết vào thế kỷ thứ V.
Ngày nay sự phân biệt hai trường phái nói trên hầu như không còn nữa vì từ cuối thế kỷ thứ XIX về sau, các thầy Địa Lý đều áp dụng cả hai phương pháp Hình thể và Thiên văn phối hợp.
Các Hoàng Đế Trung Quốc trước đây, khi quyết định thành lập một Thủ Đô hay Thị Trấn hoặc trước khi giao chiến với một nước nào, đều phải tham khảo ý kiến của Pháp Quan về Phong Thuỷ của Triều Đình. Có người cho rằng Tưởng Giới Thạch (Chiang-Kai-Shek) sở dĩ được lên ngôi Hoàng Đế chính là nhờ mả mồ Tổ Tiên của ông được chôn nơi có Phong Thuỷ tốt, nhưng sau đó bị mất ngôi chỉ vì mả này đã bị du kích cộng sản đào phá làm đứt long mạch. Khi ông chạy sang Đài Loan, Tổng Thống Phủ của ông tại Formose cũng được xây cất đúng theo phép Phong Thuỷ cổ truyền.
Từ năm 1949, tại Trung Quốc, khoa Phong Thuỷ mặc dù đã bị nhà cầm quyền cộng sản cấm áp dụng nhưng vẫn còn tồn tại ở các vùng thôn quê của nhiều địa phương trong nước. Riêng tại Hồng-Kông thì khoa Địa Lý Phong Thuỷ rất thịnh hành không những chỉ đối với các người dân bản xứ mà cả đói với các người ngoại quốc có cơ sở làm ăn tại Hồng-Kông. Gíam đốc của ngân hàng Hồng-Kông Thương Hội đã có xác nhận với báo chí như sau: “Néu thân chủ của chúng tôi tin tưởng thì tại sao chúng tôi không tin?.” Phòng Thương Mại Hoa Kỳ (American Chamber of Commerce), Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông tại Hồng Kông và ngay cả ngân hàng Thương mại Anh quốc đều có nhờ đến Phong Thuỷ mới đạt được sự phát triển trên thương trường. Kiến trúc sư Ignatius Law xác nhận rằng chính quyền bảo hộ Hồng Kông mỗi khi cần thay đổi hay tân trang một khu phố đều có tham khảo ý kiến của các nhân viên Phong Thủy. Chính ông Maynard Parker, phụ tá giám đốc tờ Newsweek tại Hồng Kông xác nhận rằng mặc dù ông không biết gì về Phong Thuỷ nhưng khi ông được sự khuyến cáo của một chuyên viên Phong Thuỷ cho rằng toà soạn mà ông đã thuê không có Phong Thuỷ tốt, nên ông không dám ngủ lại ở toà soạn và ông phải thuê một nơi khác để cư ngụ. Cái chết đột ngột của tài tử Lý Tiếu Long cũng có liên quan đến Phong Thuỷ. Một tờ báo tại Hồng Kông đã đặt câu hỏi: “Phải chăng vì Phong Thuỷ xấu mà Lý Tiểu Long (Bruce Lee) phải chết? ” Nhà ở của Bruce Lee trước đây tại thành phố Kowloon đã được một thầy Phong Thuỷ khuyến cáo là nơi không có sinh khí. Bruce Lee đã có mời một thầy Phong Thuỷ nổi tiếng nhờ sửa sai lại Phong Thuỷ. Ông này cho đặt một kiếng soi cảnh tượng nhà của Bruce Lee nhưng sau đó một cuồng phong làm cho cái kiếng này bị bể. Chỉ một thời gian ngắn sau đó thì Bruce Lee bị chết một cách bất ngờ và cho đến nay vẫn chưa ai biết được cái chết kỳ lạ này của Bruce Lee.
Ngày nay khoa Địa Lý Phong Thuỷ cũng đang bành trường đến Hoa Kỳ. Nhà in nổi tiếng Graphic Artist Milton Glaser tại Hoa Kỳ đã bị cướp phá đến sáu lần trong một thời gian ngắn. Ông chủ tiệm nhà in này liền chụp hình cách bày trí bên trong và bên ngoài của tiệm của ông và gửi qua Hồng Kông nhờ một chuyên viên Phong Thuỷ giúp đỡ. Sau khi nghiên cứu chuyên viên Phong Thuỷ đề nghị ông treo một cái đồng hồ tròn, bên ngoài viền màu đỏ, mặt quay ra hướng cửa cái. Từ đó tiệm của ông không có một tên cướp nào lai vãng.
Tại Washington D.C, một nhà hàng lớn tên là The House of Hunan đã bị đổi chủ đến hai lần vì làm ăn bị thất bại. Từ năm 1980, người chủ mới là ông Johny Khan cho sửa sang lại theo đúng với sự khuyến cáo của một thầy Phong Thuỷ. Sau sáu tháng hoạt động, ông Johnny Khan cho biết ngày nào cũng có trên 20 người khách đứng đợi bàn tróng và con số doanh thu vượt ngoài sự mong ước của ông.
Riêng tại Việt Nam, khoa Địa Lý Phong Thuỷ đã có từ lâu, nhưng không được quảng bá sâu rộng trong dân chúng. Phần lớn các thầy Phong Thuỷ Việt Nam bảo thủ và cho rằng Địa Lý Phong Thuỷ là một khoa huyền bí, chỉ truyền dạy cho những người có duyên phận. Một khác khoa Địa Lý Phong Thuỷ, phần lớn chỉ nhằm mục đích tìm điểm kết cho mồ mả để chôn người chết hầu sau này con cháu của họ được đỗ đạt và thong dong trong quan trường. Chính vì vậy mà ông bà chúng ta thường nói rằng “Sống về mồ, về mả, chớ không ai sống về cả bát cơm”.
Sự ích lợi của Long Mạch, nguồn sinh khí CHÍ của vũ trụ được ông cha chúng ta xác nhận qua nhiều huyền thoại vàng son được truyền khẩu trong dân gian hoặc viết trên sách vở, để chứng minh sự quan trọng và ảnh hưởng to lớn của khoa Địa Lý Phong Thuỷ đối với con người Việt Nam.
Chương II: Nguyên lý căn bản của khoa Địa Lý Phong Thuỷ
Mục tiêu của khoa địa lý phong thuỷ là tìm đất đai, khu vực nào có sự hội tụ của CHÍ, nguồn sinh lý tối hảo của thiên nhiên và vũ trụ. Muốn tìm được nguồn CHÍ này, khoa địa lý phong thuỷ phải đựa vào một số nguyên lý căn bản của Kinh Dịch, Đạo Gíao, thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nguồn CHÍ.
Về Kinh Dịch
Kinh Dịch là một bộ sách căn bản chứa tất cả nguyên lý sinh thành của vũ trụ và con người. Theo khoa triết này thì vũ trụ và mỗi tạo vật trên đời đều bắt nguồn từ một Thiên Thiên Khí gọi là Thái Cực, một thứ linh can bất diệt vô cùng huyền diệu. Thái Cực là đạo cực trung, là khí thuần hoá chưa bị phân đôi. Nói cáh khác đó là bầu điện khí chưa phân âm diển và dương diển. Gọi là âm điển hay dương điển thật sự không phải là hai vật khác nhau, mà chỉ là một chất điện nhưng mức độ khác nhau hoá ra có hai lượng điển khác nhau (la différence de potentiel produit le courant). Hai luồng điện này vì khác tính nên thu hút lẫn nhau giống như trong hiện tượng từ tính, cực âm và cực dương của nam châm hút nhau gây ra sự va chạm và phát sinh ra ánh sáng. Tất cả những cuộc biến hoá nhỏ lớn gì ở trên đời đều bắt nguồn từ hai lý Âm Dương này mà ra. Có cả Âm lẫn Dương mới có biến hoá. Nếu chỉ có một Âm hay một Dương thì Âm này hay Dương này sẽ bị tiêu diệt. Bởi vậy không bao giờ có trạng thái cô Âm hoặc cô Dương vì Kinh Dịch cho rằng vật bất khả chung tồn.
Vì vậy cái khí của Thái Cực còn được gọi là nguyên khí (souffle orginal) trong đó tiềm ẩn hai lý Âm Dương.
Hai lực khí Âm Dương này ở với nhau sinh ra bốn lực khí gọi là Tứ Tượng gồm có:
Thái âm
Thiếu âm
Thái dương
Thiếu dương
Rồi Tứ Tượng sinh ra Bái quái gồm có Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tôn, Khảm, Càn, Không. Để biểu hiện cho những lực khí này, người ta dùng một gạch liền (_)để biểu thể khí dương và một gạch đứt (--)để biểu thể khí âm.
Bát quái gồm có:
Kiền: biểu tượng cho Trời.
Đoài: biểu tượng cho Ao, Hồ.
Chấn: biểu tượng cho sấm sét.
Ly: biểu tượng cho Hoả.
Tốn: biểu tượng cho Gío.
Khảm: biểu tượng cho Nước.
Càn: biểu tượng cho Núi.
Khôn: biểu tượng cho Đất.

Ngoài việc Biểu tượng các hình thể thiên nhiên như Trời, Đất, Ao, Hồ, Sấm Sét như đã nêu trên, Bát quái còn biểu hiện cho những ý nghĩa khác như Cha, Mẹ, Vợ, Chồng, Con cái, tám phương, bốn hướng trong Không gian và Thời gian, cùng những bộ phận trong cơ thể con người, và những gia đoạn chuyển biến của tạo vật.
Khoa địa lý phong thuỷ đã áp dụng những nguyên lý căn bản và hình tượng naà của Kinh Dịch trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là Bát Qúai Đồ được dùng nhiều nhất trong việc định hướng nhà cửa và tìm huyệt kế.
Sau đây là một thí dụ về Bái Qúai Đồ được áp dụng trong phong thủy.

Về đạo giáo
Đạo Gíao đưa ra một triết lý dựa vào thiên nhiên, cho rằng con người có một sự liên hệ mật thiết với vũ trụ, và ví con người như một giọt nước trong biển cả của vũ trụ cho nên con người bị lệ thuộc và sự lên xuống của thuỷ triều vũ trụ. Căn bản triết lý của Đạo giáo là chữ Đạo. Đạo là một danh từ được dùng để chỉ cái lẽ tuyệt đối, cái bản thể của Trái đất. Đạo theo Lão Tử là một nguyên lý quân bình, cho nên không cái gì Thái quá hay Bất cập.
Trong Đạo Đức Kinh có câu:
Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.
Nhất đây là chỉ về cái Thể của đạo, Nhị là chỉ về hai lý Âm Dương, tức là hai nguyên lý mâu thuẫn, dạng có trong mọi vật, nhưng sự xung đột của hai nguyên lý này có một cái gì nắm đàu mối và làm cho nó dung hoà nhau: đó là cái Dụng của Đạo. Đến được cái số ba đó là vạn vật thành hình. Vì vậy theo Đạo Gíao, Đạo chính là sợi dây nối liền con người với vũ trụ và thiên nhiên theo một nhịp để điều hoà và cân bằng. Đạo của Trời đất, sự thành tựu của vạn vật đều phải có hoà hợp rồi sau mới thành thông.
Khoa địa lý phong thuỷ cũng lấy nguồn gốc từ ý niệm thiên nhiên này của Đạo Gíao. Cho nên một trong những Nguyên tắcn căn bản của địa lý phong thuỷ là sát gần với thiên nhiên và tạo mọi điều kiện để đạt được sự dunghoà và điều hợp giữa con người với thiên nhiên trong vũ trụ.
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành
Âm, Dương là hai khí lực của Trời và Đất. Tuy là đối nhau nhưng lại bổ túc cho nhau. Âm Dương vận hành sinh ra mọi vật. Cho nên mọi vật trong vũ trụ đều có hàm chứa Âm và Dương. Âm và Dương gặp nhau trong sự hoà lực. Vai trò của Dương là sinh bất tận còn vai trò của âm là làm cho sự vật hiện ra rõ ràng.
Tuy vậy, không có Dương thì hình cũng không thể hiện, mà không có Âm thì khí cũng không thể biến mà sinh ra được. Hai bên phải nương tựa vào nhau.
Vạn vật phụ Âm nhi bảo Dương. Vạn vật, vạn sự đều cõng âm bồng dương, nghĩa là bề trái là Âm, bề mặt là Dương, bề lưng là Dương, bề bụng là Âm, bên ngoài là vật chất (Âm), bên trong là tinh thần (Dương). Âm dễ thấy hơn vì Âm chỉ về hình tượng, thể chất, còn Dương thuộc về vo ohình, chỉ có thể cảm được mà không nhìn thấy được. Dương là khí thanh thuộc về Trời còn Âm là khí trược thuộc về đất. Dương nhẹ, Âm nặng. Dương nhẹ thì lên cao, Âm nặng nên xuống thấp. Nhưng sự gì vật gì cũng bắt đầu từ dưới lên trên. Dương sáng, Âm tối. Đứng trên bình diện siêu hình thì sáng tối là một, nhưng dứng trên bình diện thường lý thì sáng sở dĩ có là nhờ có tối nổi lên, cho nên có thể nói rằng Âm là căn bản của Dương. Không có Âm, Dương khí không bao giờ trụ được. Âm Dương là cặp lưỡng nhất nghĩa là không có cái nào sinh cái nào, cái nào có trước cái nào có sau, mà cả hai đồng sinh, nhưng về công dụng thì Dương xướng Âm hoạ. Trong các cuộc biến hoá bất cứ là hiện tượng nào cũng đều do Dương điều khiển và Âm thuận tùng. Dương đi đến đâu thì Âm theo đến đó, cũng giống như trong y học Khí dẫn Huyết, Huyết theo Khí để luân lưu trong cơ thể.
Yếu tố quan trọng nhất của nguyên lý này là sự cân bằng và điều hoà của Âm Dương và Ngũ Hành. Y học đông phương cũng lấy nguyên tắc này làm căn bản. phần trong cơ thể là Âm, phần ngoài cơ thể là Dương. Khi cơ thể bị suy yếu là do sự mất cân bằng của khí lực. Ta hãy lấy một thí dụ cụ thể như sau: Khi bao tử bị đau (âm) ta muốn nôn mửa nên miệng của ta phải há ra (dương) và khi ói mửa xong ta thấy khoẻ lại (vì có sự thăng bằng âm và dương). Khi tâm của ta bị xúc động mạnh (âm) thì ta khóc, nước mắt chảy ra (dương) ta cảm thấy dễ chịu hơn.
Khoa địa lý Phong Thuỷ cũng dựa vào nguyên lý Cân bằng Âm Dương này để xây dựng thành những kỹ thuật tìm lấy khí cho huyệt kết và định hướng thích hợp cho cuộc sống của con người. Một điểm kết tốt (nhà ở hay tiệm buôn) cần phải hội đủ yếu tố Âm Dương Cân Bằng, Ngũ Hành Sinh Vượng thì mới giữ được khí tốt, đem lại may mắn và thịnh vượng cho người cư ngụ.
Tìm nguồn CHÍ (Long Mạch)
CHÍ là yếu tố quan trọng của khoa địa lý phong thuỷ. CHÍ là một loại sinh khí tối cần thiết cho sự tồn tại của mọi tạo vật trong vũ trụ. Khoa địa lý phong thuỷ phân loại CHÍ làm 3 loại:
- Một loại lưu thông ngầm dưới đất làm động lực cho mọi nguồn nước di động;
- Một loại bay trên không gian để tạo nên hình thể các đồi núi và sông ngòi.
- Một loại đi vào cơ thể con người để nuôi dưỡng thể xác và tâm hồn của chúng ta.
Không có CHÍ mọi tạo vật kể cả con người sẽ mất đi sự sống. Theo Kinh Dịch, CHÍ chính là loại khí Lưỡng Nhất, gồm hai lý Âm, Dương do Thái Cực sinh ra. Tuy hai lực chí khác nhau nhưng không đối chọi nhau mà bổ túc cho nhau để sinh sinh hoá hoá ra mọi tạo vật và nuôi dưỡng muôn loài trong vũ trụ. CHÍ còn được gọi là Long Mạch vì người Trung Hoa cho núi là Long và CHÍ đã tạo ra hình thể của núi, cho nên danh từ tìm Long Mạch chẳng qua là tìm hướng di chuyển của CHÍ.
Gíao sư Lin Yun (3) giải thích như sau: CHÍ quây quần trong trái đất luôn luôn biến đổi. Lúc thì bay trên mặt đất, lúc thì đi sâu vào lòng đất, khi thì bay cao trên các ngọn núi, lúc thì xuống các thung lũng…. Nơi nào không có CHÍ đi qua thì nơi đó thế đất bằng phẳng và cằn cỗi, thiếu hẳn sự sống. Cho nên khu vực tốt nhất là khu vực nào có CHÍ đi qua, vì có CHÍ thì núi sông mới thành hình, nước trong, khí tốt, cây cảnh và hoa màu mới tốt tươi.
Cụ Tả Ao (4) còn mô tả chi tiết của CHÍ như sau:
Mạch có Mạch âm Mạch dương
Mạch nhược Mạch cương, Mạch tử Mạch sinh
Sơn cước Mạch đi rành rành
Bình dương Mạch lẫn nhân tình khôn thông
Có Mạch qua ao qua sông
Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non…
Trong cơ thể con người, CHÍ là một loại sinh khí tối hảo để nuôi dưỡng thể xác và tinh thần chúng ta. Trong cơ thể của chúng ta, CHÍ phải được lưu thồng điều hoà và mạch lạc. Nếu nó bị tắt nghẽn ở một nơi nào đó, thì bộ phận nơi đó bị tổn thương. Có CHÍ lưu thông đến chân, ta mới đi được, CHÍ đến tay ta mới viết được, CHÍ đến miệng ta mới nói được.
Khoa địa lý phong thuỷ không những chỉ áp dụng ý niệm căn bản này trong kỹ thuật tìm Long Mạch mà còn áp dụng nó trong lĩnh vực luyện CHÍ để giúp con người tự bảo vệ sức khoẻ, tăng tuổi thọ và trị bệnh (như khoa trị bệnh bằng nhân điện tại Hoa Kỳ HIGH TOUCH HEALING NETWORK).
Chương III: Nguyên tắc kỹ thuật của khoa địa lý phong thuỷ
Để tìm hướng đi của CHÍ và nơi hội tụ của nó, khoa địa lý phong thuỷ có đề ra một số kỹ thuật căn bản dựa vào những nguyên lý của Đạo học, Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ Hành.
Nguyên tắc hoà hợp và cân bằng
Nguyên tắc này bắt nguồn từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Những cảnh vật tại điểm kết phải hợp đủ điều kiện thằng bằng và hoà hợp về hình thể, kích thước và vóc dáng. Thí dụ: tại điểm kết để chôn được, các núi tượng trưng cho Thanh Long, Bạch Hổ, phải có sự tương hợp đúng cách như Thanh Long phải là núi lớn hơn Bạch Hổ và cả hai đều phải ôm choàng vào nhau để tạo sự hoà hợp. Chúng ta đã biết mọi ngoại cảnh đều có những hình thể được xếp loại theo Âm Dương Ngũ Hành và sự cân bằng của những yếu tố này là một điều thiết yếu cho một điểm kết. Nếu thiếu sự thăng bằng này, Phong Thuỷ sẽ gây tác hại và cần phải sửa sai chế hoá để đem lại sự thăng bằng và hoà hợp giữa hai lực âm dương. Sau đây là một ví dụ điển hình đã áp dụng nguyên tắc này.
Tại thị xã Andong (Đại Hàn) có một cái núi có hình thể giống như bộ sinh dục của một phụ nữ, được gọi danh là núi Vagina. Phụ nữ trong làng này bị dân ở các làng kế cạnh chỉ trích, chê bài là có tính tà dâm. Khi ông Maeng Sasong được bổ nhiệm làm Thị trường (dưới triều đại Choson), với kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng về Phong Thủy, ông liền cho xây một hình tượng có hình dáng giống như bộ phận sinh dục nam giới ngay trước núi Vagina nói trên. Qủa nhiên tính tà dâm của phụ nữ trong làng đã không còn nữa nhờ sự chế hoá này của ông.
Nguyên tắc cân đối
Nguyên tắc này được áp dụng nhiều trong khoa phong thủy. Sự cân đối về phía trước, phía sau, bên phải, bên trái của một điểm kết là một điều quan trọng cần phải lưu ý. Một điểm kết mà phía sau có núi chánh nhỏ hơn núi ở phía trước, hay núi tượng trưng cho Thanh Long nhỏ hơn núi tượng trưng cho Bạch Hổ đều là những chỉ dẫn dấu về phong thuỷ tại điểm kết. Một căn nhà mà phần trước lớn hơn phần sau hay ngược lại, sự mang lại nhiều bất lợi cho người cư ngụ.
Nguyên tắc biểu tượng và ngôn ngữ
Đây là một nguyên tắc xuất phát từ nguyên lý của Đạo Gíao và Kinh Dịch. Đạo Gíao cho rằng mỗi tạo vật và vũ trụ có cùng một cơ cấu sinh tồn vì cùng do một nguồn CHÍ tạo thành. Con người cũng là một tạo vật, cùng hấp thụ nguồn CHÍ này, cho nên giữa con người và các tạo vật trong vũ trụ có sự liên đới hỗ tương mật thiết. Một khác Kinh Dịch cho rằng Thiên ý không thể truyền cảm trực tiếp cho con người mà phải qua những hình tượng. Vì vậy một trái núi được biểu tượng là con rồng; một con sông có thể là con rồng nước hoặc một con rắn độc; một gờ giốc cao thẳng đứng được ví như một cái móng cọp, một hòn đá lớn có hình dáng như một cái ly được biểu tượng cho một nữ y tá hoặc một bà nội trợ. Phái phong thuỷ hình thể cho rằng thiên nhiên là một cánh đồng đầy những biểu tượng, một sở thú lớn với nhiều loại vật, và động vật khác nhau. Vì vậy khi luận đoán phong thuỷ, cần phải có óc tưởng tượng để xem những hình tượng nói lên cái gì ? Một dòng sông có thể là một con rồng nước đem phúc lợi cho người cư ngụ trong vùng, nhưng nó cũng có thể là một con rắn độc thường xuyên đe doạ mạng sống của dân cư. Biết được hình tượng và hiểu rõ được ngôn ngữ của ngoại cảnh, người xem phong thuỷ sẽ tuỳ trường hợp mà chế hoá cái xấu hoặc khai dùng nó thành một lợi ích đối với con người.
Gíao sư Lin Yun đã áp dụng kỹ thuật này cho một nhà hàng lớn ở Hồng Kông. Trong một khu đất có hình bầu dục, lại có đến hai nhà hàng lớn được phân ranh bởi một hàng cây chạy dọc trên thuở đất bầu dục nói trên. (xem hình dưới đây).

Chủ của nhà hàng A vì muốn cạnh tranh với nhà hàng B nên mời ông Lin Yun đến giúp về phong thuỷ. Sau khi quan sát khu vực và hình thể khu này, ông Lin Yun để nghệ cắm hai cọc sơn màu xanh khoảng hai thước và trên đầu mỗi cọc gắn hai con vịt tàu. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, nhà hàng A làm ăn rất phát đạt, khách đến ăn phải xếp hàng chờ đợi trong khi nhà hàng B chỉ có lưa thưa vài thực khách. Ông chủ nhà hàng B biết rõ nhà hàng A đã nhờ phong thuỷ mà phát đạt nên cũng bắt chước nhà hàng A cắm hai cọc ở đầu ngõ giống y như của nhà hàng A.
Nhưng vì muốn phát đạt hơn nhà A, ông cho sơn hai cọc này màu đỏ là màu tượng trưng cho tiền tài theo tín ngưỡng của đa số người Trung Hoa ở Hồng Kông. Nhưng lạ thay, từ ngày nhà B cho sửa lại phong thuỷ như trên, thì thương vụ ngày càng xuống dốc và sắp đi đến vỡ nợ. Chủ nhà hàng B liền mời ông Lin Yun đến xem lại phong thuỷ. Ông Lin Yun thoáng nhìn qua hai cây cọc sơn màu đỏ, liền nói ngay với chủ nhà hàng B rằng: ông đã bị luộc chín rồi ! Ông Lin Yun giải thích rằng thế đất mà nhà hàng của ông toạ lạc có hình dáng giống như một con tôm mà ông lại sơn hai cái càng của nó màu đỏ, tức là tôm đã bị luộc chín rồi.
Nguyên tắc nhân cách hoá tạo vật
Nhân cách hoá ở đây là đồng hoá cá tính, bản năng của tạo vật với con người và động vật trong vũ trụ. Núi là biểu tượng của con Rồng, mà Rồng là biểu hiện của nhà Vua, nên mang một ý nghĩa cao quý ban phúc cho thiên hạ. Một đồi cao có hình dáng như một mẫu tự được đồng hoá như con người có văn hay chữ tốt, biểu hiện cho sự thành công vì học vấn. Cái dốc thẳng đứng ở trên đảo Lantao gần Hồng Kông có hình thể giống như một người đàn ông loã thể được đồng hoá với một con người có cá tính khích động sinh lý, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến giới phụ nữ trong làng.
Nguyên tắc nhân cách hoá này còn nới rộng đến loài động vật như sau:
Vào thế kỷ thứ XIX, tại một khu vực thuộc tỉnh Kwang Tung ở Trung Quốc, đã nhiều năm liên tiếp, năm nào cũng bị mất mùa. Các nông dân trong làng phải nhờ đến thầy địa lý để chữa trị phong thuỷ trong vùng. Sau khi quan sát, thầy địa lý cho biết sở dĩ bị mất mùa vì ở phía Tây có một cái núi có hình dáng giống một con chuột to lớn. Chuột là một động vật lấy lúa gạo làm thực phẩm chính nên mùa màng bị thất thoát là đương nhiên. Ông đề nghị lập một bầy chuột thật lớn trước cái núi này. Qủa nhiên từ đó về sau các nông dân được trúng mùa liên tiếp và nạn mất mùa hầu như không còn nữa.
Nguyên tắc phát huy và phục hồi phong thuỷ
Nơi có phong thuỷ tốt không hẳn là nơi có nguồn CHÍ hội tụ cố định. Chúng ta đã biết một sự mất thăng bằng về Âm Dương Ngũ Hành tại khu vực sẽ làm cho Long Mạch bị đứt và nguồn CHÍ bị phân tán. Con người do nhu cầu giao thông hay phát triển thành phố, có thể mở thêm đường xá băng ngang các đồi núi hoặc phá rừng, lấp sông để lập thêm thành thị. Chính những công trình phát triển này làm cho Long Mạch tại khu vực bị đứt và nguồn CHÍ bị phân tán gây tác hại cho dân cư trong khu vực.
Nguyên tắc này đã được người Nhật áp dụng trước đây khi xâm chiếm lãnh thổ nước Đại Hàn như sau:
Sau khi đã xâm chiếm được vùng biên giới nước Đại Hàn, quân đội của Tướng Nhật Hideyoshi đã tạm thời đóng quân tại núi Sonsan. Một sĩ quan ngành phong thuỷ của Nhật đã phát hiện đudược dãy núi “The Mountain Ridge of Sonsan” có một phong thuỷ rất tốt sau này sự tạo nên nhiều tướng lĩnh tài ba lỗi lạc cho nước Đại Hàn. Sau khi được phúc trình, tướng Hideyoshi liền cho binh sĩ đốt cháy một khu trọng yếu ở phía sau dãy núi đồng thời chôn những thỏi sắt dài băng ngang núi để cắt đứt Long Mạch của CHÍ. Qủa nhiên, một thời gian dài sau đó không có một anh tài nào của Đại Hàn được xuất đầu lộ diện và Nhật Bản hiển nhiên đã đồng hoá luôn của dân tộc Đại Hàn.
Mặt khác, khi phong thuỷ của một khu vực bị phá, bằng sự điều chỉnh và sửa lại các khuyết điểm, phong thuỷ vẫn có thể phục hồi như cũ. Câu chuyện về mộ của gia đình ông Yi tại làng Kosong ở Đại Hàn là một thí dụ cụ thể về nguyên tắc này.
Một tổ tiên của gia đình Yi được chôn cất tại một nơi có phong thuỷ rất tốt, có hình thể giống như một con bò đang nằm vui vẻ hưởng thú an nhàn. Liên tiếp sáu đời con cháu đều làm quan to trong triều đình. Chính vì con cháu ai cũng đều là quan cận thần của triều đình nên mỗi lần về thăm mộ Tổ Tiên dân chúng trong làng đều bị trưng dụng làm việc nặng nhọc nên than phiền đến tai một thầy phong thuỷ nổi tiếng trong vùng. Ông thầy phong thuỷ này đề nghị với dân làng là đập phá hòn đá to ở phía trước mộ vì hòn đá này là thực phẩm để nuôi dưỡng con bò đang nằm kia. Qủa nhiên sau khi phá vỡ hòn đá nói trên, giòng họ nhà họ Yi lần hồi bị thất sủng của triều đình và từ đó về sau không có người nào trong họ Yi được làm quan cả. Gia đình họ Yi bắt đầu nghi ngờ mộ của Tổ Tiên có thể bị phá đứt Long Mạch và nhừo thầy phong thuỷ cho sửa sang lại mộ. Sau khi quan sát, thầy phong thuỷ chỉ đề nghị một phương pháp đơn giản, đó là cho gắn lại các hòn đá đã bị phá vỡ trở lại hình thù cũ. Chỉ một thời gian sau, con cháu nhà họYi được phục hồi lại chức vị và cơ nghiệp lại phát đạt như xưa.
Nguyên tắc tương quan túc trợ
Tương quan túc trợ là bổ sung cho nhau để đạt được thành một ý nghĩa, một câu chuyện, một lý lẽ. Địa lý phong thuỷ là một khoa sát gần với thiên nhiên. Những hình tượng của thiên nhiên bao giờ cũng thiếu sót và phản ý, cho nên thầy phong thuỷ phải có óc sáng tạo, phải có sáng kiến dồi dào để bổ sung thích hợp ý nghĩa của một hình tượng. Các thí dụ sau đây sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa của nguyên tắc này.
Câu chuyện về cái chợ Chongchon
Mộ của tướng Song Siyol được chôn cất đúng phép phong thuỷ tại một khu vực của huyệt kết của một nhà tướng quân sĩ. Nhưng tiếc thay, khu vực này ở quá xa thành phố nên không có quân. Tướng mà không cso quân thì chẳng khác gì một ông Tướng bù nhìn, mất hẳn uy quyền của một vị Tướng Lãnh. Do đó con cháu không được hưởng lợi ích của cái mộ này. Gia đình họ Song mời một thầy phong thuỷ đến giám định mộ và sau khi đã quan sát kỹ khu vực này, ông đề nghị lập một cái chợ ngay trước khu vực của mộ. Qủa nhiên sau khi lập xong cái chợ nói trên, người bán, kẻ mua tấp nập, tạo thành những binh sĩ cho vị tướng nằm ở mộ, nên về sau con cháu nhà họ Song ai nấy đều phát võ và có người lên đến chức tướng soái.
Câu chuyện về núi Phượng Hoàng ở thành phố Sonsan
Tại thị xã Sonsan ở Đại Hàn, núi Pibong vì những cảnh bao phủ lấy khu vực của văn phòng thành phố Sonsan, có hình dáng giống như một con chim Phượng Hoàng đang bay. Nhờ phong thuỷ tốt của núi này mà dân cư trong vùng làm ăn ngày càng phát đạt. Dân làng sợ rằng một ngày nào đó Phượng Hoàng này sẽ bay đi nơi khác nên nhờ ở một thầy phong thuỷ tìm cách giữ lại. Sau khi quan sát kỹ khu vực, thầy phong thuỷ đề nghị với dan làng là làm thêm năm cái núi nhỏ cạnh bên núi Phượng Hoàng để tượng trưng cho năm quả trứng do Phượng Hoàng sinh ra. Nhờ có năm quả trứng nhân tạo này mà Phượng Hoàng phải ở lại để bảo vệ trứng.
Câu chuyện đào giếng
Tại vùng Pyongyang (Đại Hàn) dân cư đều sống xa sông rạch nên dân trong làng, cứ mỗi nhóm 10 gia đình hùn tiền để đào một giếng nước. Nhưng mỗi lần đào giếng đều có xảy ra hoả hoạn trong khu vực. Ông chủ làng phải nhờ đến một thầy phong thuỷ để duyệt xét địa lý cho khu vực. Sau khi quan sát kỹ khu vực, thầy địa lý cho biết khu đất của làng Pyongyang có hình thể của một chiếc thuyền đang lướt trên sông. Nếu đào giếng, tức là vô tình đã khoét một lỗ hổng vào thuyền sẽ bị chím và tài sản sẽ bị tiêu huỷ. Do đó ông đề nghị dân làng nên lấy nước sông thay vì đào giếng. Từ đó về sau không có một cuộc hoả hoạn nào xảy ra trong vùng.
Chương IV. Giới hạn của khoa học địa lý phong thuỷ
Khoa địa lý phong thuỷ đã được biết đến từ dưới đời nhà Hán (200 năm trước Tây Lịch) và cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại. Hầu hết nhân dân Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hán tộc như Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn, Singapore,.. đều biết đến hiệu quả linh diệu của khoa này. Đặt mồ mả đúng phép phong thuỷ, con cháu có thể trở thành Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, hay cắt đứt Long Mạch của một ngôi mộ tốt có thể làm sụp đổ ngai vàng của một Hoàng đế.
Người giàu có bỗng nhiên trở thành bần đinh chỉ vì đào thêm một cái giếng để lấy nước. Kẻ nghèo khó bỗng trở thành một nhà triệu phú nhờ tìm được nơi đất kết có nhiều tú khí hội tụ, thì dù gia thể trước kia có hèn kém cũng có thể trở nên trâm anh phế phiệt, con cháu gần xa đều được hưởng. Đất phát văn thì làm quan văn, đất phát vỡ thì hiển đạt về võ nghiệp, đất phát phú thì được giàu có đời đời…
Khoa địa lý phong thuỷ đã có nhiều thành quả như vậy, cho nên có một số người cho rằng địa lý phong thuỷ là một khoa vạn năng có thể hoán cải cả số mệnh con người. Thật ra con người cũng chỉ là một tạo vật, và điểm đứng của con người cũng lệ thuộc và hai trục: trục đứng (tung độ = Thiên Mệnh) và trục ngang (hoành độ = Vận thời). Lệ thuộc vào trục đứng, con người phải chịu ảnh hưởng của thiên nhiên, đất đai khí hậu chung quanh (mà khoa địa lý phong thuỷ đóng vai trò là chủ yếu). Cho nên nói đến Vận Mệnh, người ta thường liên tưởng đến số trời. Thật ra Vận và Mệnh tuy thường được đi đôi với nhau nhưng có phần khác biệt. Mệnh là tính cách của con người; Vận là sự tao ngộ giữa người với hoàn cảnh. Tính cách thì được định trước (Thiên Mệnh) còn tao ngộ (tức là Vận thời) thì tuỳ thời tuỳ thế mà biến. Như Thiên Mệnh đã quy định cuộc đời anh A phải qua một con sông, thì chắc chắn anh A không thoát được (vì Thiên Mệnh đã định trước), nhưng nếu đương sự gặp được tao ngộ tốt như thuyền, bè hay phao nổi thì đương sự sẽ không chết chìm và quần áo cũng không bị ướt.
Như vậy, khoa địa lý phong thuỷ chỉ chi phối được con người bằng trục ngang, tức là sự liên hệ giữa con người với ngoại cảnh giúp cho con người tạo được sự tao ngộ thuận lợi trong cuộc sống.

Với sự phân tích như trên chúng ta thấy rằng địa lý phong thủy không phải là một khoa vạn năng có thể cải lại số mệnh con người. Tuy nhiên, theo mệnh lý học thì số mệnh chỉ chi phối những gì liên quan đến đại sự mà thôi. Không thể nói: từ miếng ăn miếng uống đều do thiên định (nhất ẩm nhất trác giai do tiền định).
Mặc dù, con người chịu ảnh hưởng của Trục đứng (Thiên Mệnh), và khi nói về Thiên Mệnh thì con người khó có khả năng biết được cơ Trời, nhưng con người vẫn còn có Trục ngang (phong thủy) để cải thiện giữ lại được sự thăng bằng cho cuộc sống. Cho nên từ quan hệ cha mẹ, vợ con, bè bạn cho đến sống lâu, chết yểu, sự nghiệp thành bại, gặp họa phúc không phải chỉ được định hoạt hoàn toàn bởi Thiên Mệnh (Trục đứng), mà vẫn còn có Trục ngang để cho con người ta góp phần cải thiện cho cuộc sống của mình. Số nghèo thật đấy, nhưng nếu chăm chỉ siêng năng, thì vẫn có thể tránh được cảnh nghèo đói khổ cực.
Võ Thành Nhẫn
Needham, Joseph – Science and a Civilisation in China, University Press, Cambridge, Vol II, 1954.Stephen D. R. Feuchtwang – An Anthropological Analysis of Chinese geomacy – Collection Connaissance de I’Asie, Vol I, 1ère édition 1974 Vithagna (Vientiane Laos)Lin Yun – Chuyên viên phong thủy nổi tiếng tại Hồng Kông. Ông là sáng lập viên khoa phong thủy, Tibetan Tantric Black Hat Feng Shui bao gồm những nguyên tắc hỗn hợp của Kinh Dịch, Đạo Gíao và thuyết Âm Dương Ngũ Hành.Cao Trung – Địa Lý Tả Ao, Xuân Thu xuất bản, Houston, Texas, U.S.A
