Trích đoạn: Nguyệt Hạ
Trăng Cuối Thu
Vành vạnh trăng tròn buổi cuối thu
Đêm thăm thẳm chẳng chút mây mù
Cô Hằng vằng vặc treo lơ lửng
Chú cuội đong đua nghịch gió ru
Thu muộn trăng vàng hồn vọng tưởng
Đông về buốt giá kiếp phù du
Tha hương phiêu lãng đời lang bạt
Nhớ nước mơ màng mộng lãng du
Nguyệt Hạ
(TD - Cuối thu 2011)
Đến Thu
Ve vắng phượng tàn biết đến thu
Lá bay vàng vọt giữa sương mù
Cây cành im lặng phơi thân ngủ
Ong bướm lờn vờn kiếm mộng ru
Nhớ bạn mây trời trôi ủ rủ
Mủi lòng dáng hạ khuất âm u
Thơ gieo ảo thực bao lời đủ
Để giữa đêm dài đắm mộng du?
Thanh Huy
Vàng thu
Sắc trời bàng bạc của ngày thu
Bổng thấy cô đon chốn bụi mù
Nhớ bạn quê nhà cơn khói tỏa
Thương mình đất khách mảnh tình ru
Còn đâu buổi hẹn đồi cô quạnh
Đã hết câu thề suối tịch u
Cuộc sống phong trần làm lá úa
Theo làn gió cuốn mộng phiêu du
Vancali 12.1.12
MỘNG PHIÊU DU
Tròn trăng tháng tám nhuộm sương thu
Phơn phớt heo may cuốn bụi mù
Cung Quảng lửng lơ chàng Cuội ngóng
Lưng trời ngơ ngẩn sáo diều ru
Chùn chân xuôi ngược đời cô lữ
Mỏi gối sông hồ bước lãng du
Năm tháng trôi nhanh lòng hối tiếc
Một đời chưa trọn kiếp phù du.
Lá chờ rơi 03/12/2012
Kiếp Lãng Du
Một đời chưa trọn kiếp phù du
Nặng gánh phong ba mãi lãng du
Xa xứ lòng mơ ngày tái ngộ
Tha phương hồn ước tiếng diều ru
Thương cha đất khách bao lầm lẫn
Nhớ mẹ quê nhà lắm bụi mù
Trong cõi trần ai nhiều tạm bợ
Một mình thơ thẩn với sương thu
Nguyệt Hạ
(TD - 03-12-2012)
Cháu xin cám ơn Bác Lá, NH cám ơn anh Thanh Huy và Vancali về những bài thơ hoạ thật hay.
Xin chúc sức khoẻ và nhiều thi hứng.
Kính,
NH
_____________
Trang ĐL
Bài của bạn có 2 chữ “du” khiến nhiều bạn hiểu lầm là điệp tự nên tránh đi khi họa, nên xin mạn phép giải thích theo sự hiểu biết của tôi như sau :
chữ “du” trong lãng du hay viễn du có nghĩa du là “đi”
còn “phù du” thì đó là tên của một con vật có đời sống rất ngắn ngủi
Viết với chữ hán nôm thì chắc là viết khác nhau chỉ đọc giống nhau, tức thuộc loại “đồng âm dị tự”.
Còn với chữ quốc ngữ thì 2 chữ đó viết giống nhau và đọc cũng giống nhau. Nhưng về "nghĩa" thì khác nhau như nói trên nên đó không phải là điệp tự và hoàn toàn được phép dùng chung trong một bài thơ.
Tuy nhiên các bạn thơ thận trọng sợ bị coi đó là điệp tự nên thường tránh dùng chung.
Với chữ “trường” thì còn lắm nghĩa hơn nữa : 1/ trường là ruột (đoạn trường), 2/ trường là trường học, 3/ trường là dài (tình trường, dặm trường, đêm trường)
Như trên, vì viết giống nhau, đọc cũng giống nhau, nên các thi sĩ không dùng chung 3 chữ nầy trong một bài thơ. Vì ngại người không rành sẽ chê là thơ bị điệp tự. điệp vận.
cũng thế, chữ “thanh” có 3 nghĩa :
thanh chỉ một loại vât dụng nhỏ (thanh gươm)
thanh là âm thanh (thanh bằng, thanh trắc)
thanh là trong không đục (gió mát trăng thanh)
thơ Đường có 1 bài dùng chung 2 chữ “thanh” như sau :
DẠ BIỆT VI TƯ SĨ
Cao quán trương đăng tửu phục
thanh
Dạ chung tàn nguyệt nhạn quy
thanh
Chỉ ngôn đề điểu kham cầu lữ
Vô ná xuân phong dục tống hành
Hoàng hà khúc lý sa vi ngạn
Bạch mã tần biên liễu hướng thành
Mạc oán tha phương tạm ly biệt
Tri quân đáo xứ tẫn phùng nghinh.
Cao Thích
bản dịch :
ĐÊM TỪ BIỆT QUAN TƯ SĨ HỌ VI
Cao quán giăng đèn bày tiệc rượu
Trăng khuya chuông vọng nhạn về mau
Tiếng chim đêm gọi như tìm bạn
Ngọn gió xuân vờn để tiễn nhau
Lấn cát Hoàng Hà dòng uốn khúc
Hướng thành Bạch mã liễu tươi màu
Chớ buồn đất khách cùng chia biệt
Anh đến nơi đâu chẳng đón chào !
Đinh Vũ Ngọc
góp vui đôi dòng ai tin trật rán chịu.
Lá chờ rơi 05/12/2012
[/color]