📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

HỒNG VŨ CẤM THƯ

13 trả lời, 1.610 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 05:45:04CTT>
HỒNG VŨ CẤM THƯ
 

Dạy về thuật Phong thủy có phụ họa đồ

Lập minh để truyền thụ cho học trò gồm có bốn mục:
  1. Truyền thụ luận 
  2. Định minh thệ
  3. Nghi thức lập minh
  4. Tựa truyền phái

Truyền phái tiết lậu thiên cơ
Kiền là tượng trưng chức ngự sử
Cấn là tượng trưng chức trạng nguyên
Khôn là tượng trưng chức tể tướng
Tốn là tượng trưng chức an phủ
Thân là tượng trưng chức thái thú
Hợi là tượng trưng chức quan huyện
Dần là tượng trưng người thứ dân
Tỵ là tượng trưng chức vị tướng quân
Nói về thế bút sơn có năm thế:
1. Thế phát khôi giáp
2. Thế phát văn chương
3. Thế phát thư sinh
4. Thế phát áp mục
5. Thế phát thái họa (hội họa)
Truyền phái tiết lậu cơ trời
Ông Dương Quân Tùng tên chữ là Trường Mậu, tên hiệu là Cứu Bần, ông Tăng Văn Địch tên hiệu là Chân Tiên Nhân: khi Tăng Công còn nhỏ, có biệt danh là Liên Vũ, tu ở núi Kim Tinh dồn hết tinh hoa phát huy huyền bí tiết lậu cơ trời tức là bộ Địa lý (thuật Phong thủy) chính tông này, do ông Dương Quân Tùng phát minh truyền đến ông Tăng Văn Địch tên hiệu là Liêu Vũ. Chính những người theo học phải hiểu thế đất thế nào? Phải biết nhận ra những hình thế miệng truyền mắt thấy, thế kia thế khác v.v… nên có câu rằng:

Phần phiên âm
Lương điển cánh tác tử tôn lụy,
Châu ngọc chung vi thể tử tai,
Nhất quyển kinh truyền hiền tiếu giả,
Thủ chi bất kiệt dụng vô nhai

Giải nghĩa
Ruộng nương chỉ để con mang lụy
Châu ngọc hay gì vợ mắc tai
Một quyển kinh này khôn giữ được
Lấy dùng không hết cứ còn hoài.

Lại có câu Kinh rằng:

Phần phiên âm
Cộng âm cộng hưởng cộng lai long,
Bách tính cư chi tổng nhất đồng
Tiền diện nhất ban thị tham lang,
Nhất gia phú quý nhất gia cùng

Giải nghĩa
Cũng âm cũng hưởng cũng rồng chầu
Trăm họ cùng nhau ở đã lâu
Trước mắt tham lang ngay ở đó
Người giàu kẻ khó bởi vì đâu?

 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 06:00:01CTT>
KINH HỒNG VŨ CẤM THƯ
Môn Địa lý (thuật Phong thủy) mới chép
 
Vậy sách địa lý là sách học để xem đất lành dữ tốt xấu. Cho nên người quân tử xem đất để cầu yên thân, đâu phải để cầu vinh thân vậy. Ví bằng nay không có sách, không học hỏi thì biết đâu là đất lành dữ, cốt phải xem rộng biết nhiều, mới mong thấu triệt được. Bảy mươi hai nhà học thức nghiên cứu phép tắc họa đồ, việc nào chỗ nào đã để bụng và để mắt, đều chép thành một tập gom lại thành bộ Hồng Vũ Cấm Thư này, để cho ai nấy xem mà hiểu biết. Hồi ấy đương khi Hồng Vũ yến ẩm, các vương tước ở trong bảo điện nghe tiếng người Châu Bắc Đôi là ông Lý Bá Tuyền tinh thông Địa lý, vua mới vời vào bệ kiến, vua dụ rằng: “Ta nghe người rất giỏi về môn Địa lý, vậy nên hết sức giúp cho nhà ta, chớ vì điều lợi nào mà đổi lòng”. Bấy giờ ông Lý Bá Tuyền lạy tạ mà thưa rằng: “Thần là một người quê mùa ở đất Bắc Đôi, trước theo học ở Kinh Giang, một hôm vào chùa Hoa Kinh ở trên núi Đôi Châu thấy có một quyển sách đề là: Địa Lý Diệu Ngữ Thần Kinh, thưa chính đó là do ý trời xui khiến để giúp nhà vua”. Rồi một ngày kia vua khiến biên chép những thế đất nào là đệ nhất, ngõ hầu giúp nhà vua biết được đến chỗ tinh vi huyền diệu. Khi Bá Tuyền được ở bên nhà vua biên tập thành một quyển sách bút ký bao la, mấy ngày viếtxong dâng lên vua ngự lãm. Vua lấy làm vừa ý lắm, mới đề mục rằng: Một thiên đại lục. Liền phong cho Lý Bá Tuyền là Tĩnh An tiên sinh, cho cả mũ áo chức ngự sử.
Thời bấy giờ là niên hiệu Hồng Vũ, năm Canh Tý, tháng Thân, giờ Thìn, đức quỹ đồng mà chứa ở trong cung Ngọc Hoa vậy.
 
Luận về Ngũ hành tương ngộ
Năm hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.
Thần đọc sách địa lý đã nhiều, nhưng chỉ thấy bàn về chỗ thuộc ngũ hành, chứ chưa ai biết ngũ hành cùng gặp. Xin đem định lý trước sau để cùng bàn luận, vì phép hay càng nên hiểu biết.
Nước gặp nước thì nam nữ tính dâm
Phương Bắc mà có nước thấm nhập thì trai gái hẳn là có tính dâm
Lửa gặp lửa thì lắm điều kiện tụng
Phương Nam có hỏa hình. Phương Kim lại gặp Kim là vượng, của cải tất nhiều tự nhiên tới.
Phương Tây có Kim hình.
Phương Mộc lại có Mộc tinh tương sinh tất nhiên trai gái giàu sang.
Phương Đông có Mộc tinh càng tươi tốt vậy.
Đất lại có đất ở trên, thì con trai mù lòa, con gái sầu não.
Đất ở trung ương là minh đường. Mộc hình gãy (núi ở phía đông đứt gãy) tất nhiên tổ không có chim nghĩa là không có tử tức.
Đất thấp: (tức là thổ sơn đê hãm) không dựng nên việc cửa nhà.
Gió buồm nổi lên là khách giang hồ nghĩa là núi bên ta bên hữu ở đằng trước có mấy miếng đá nổi lên như cánh buồm. Đằng văn vũ hậu chết phương xa.
Nghĩa là đàng sau có nước, đàng trước như mây cuốn chỉ ham đi ra ngoài. Bạch hổ có nước ngấm vai thì con gái tất nhiên tham tà hiếu sắc.
Bạch hổ nước ngấm vào huyền vũ, vào vai thanh long.
Thanh long vai có nước chảy đi con trai phải chết dữ.
Vai thanh long có nước chảy về huyền vũ, hay có đường đi ngược về huyền vũ.
Thanh long nối đuôi là con út phải tai nạn giết chóc.
Đuôi thanh long nổi ngọn, con út tất phải khốn khổ vì việc quan.
Trên vai bạch hổ như bay cao là con gái tính dâm.
Trên vai bạch hổ có nước chảy là tính hay đi.
Nước chảy quanh núi thủy sơn là có mệnh sứ thần.
Nước đứng lặng chung quanh núi bản sơn thì tất nhiên có chức mệnh sứ thần.
Bút thần, sông tới hẳn là sinh con quý tử.
Núi bút thần bên vai tả có sông lớn vòng vào, hẳn sinh con trạng nguyên.
Gió thổi nước tan con bỏ cha.
Gió thổi nước chảy đi, con gái chẳng theo cha tùy trên dưới mà phân biệt.
Hoa mai xuân muộn dẫu được một thời phú quý.
Hoa mai ấy là bên tả có một ngọn núi trọn, chu tước lại có một ngọn là phú quý thời.
Nước chảy hình nhọn gái giết chồng.
Bạch hổ có nước chảy, lại như hình nhọn là gái giết chồng rồi ở góa.
Cung không có lá liễu thì tất nhiên con cháu không đông đúc cửa nhà.
Núi bản sơn lại có một ngón núi không cao hay có cao mà không có dáng bao bọc tất nhiên là ít con cháu vậy.
Hình thế nếu chẳng được nghiêm chỉnh ấy là dấu hèn.
Là ý nói huyền vũ không được tôn nghiêm thì phát sinh nghèo hèn.
Cửa đóng không mở con trai con gái ngu muội là ý nói minh đường không khai thông vậy.
Hình dáng gặp nhiều cái xấu hẳn là suy vi.
Là ý nói núi bản sơn có nhiều hình dáng xấu tất nhiên là hỏng.
Hình như vách lở, không con nghèo là chết non là nói long hổ  đều không, có nước xa không có núi mọc người ấy chết non và côi cút.
Ba dấu lành, sáu dấu xấu, xấu tốt phải cần ở con mắt của người ta.
Nghìn biến vạn hóa nhưng dầu có biến hóa cũng là ở tâm thân tinh tường của con người.
Rất cần phải xét ở chỗ mạnh chỗ yếu.
Cái khí thế mạnh yếu là cốt tìm ở chỗ  đột khởi lên hoặc ở chỗ hình núi hình nước uốn vòng về bởi chỗ tinh thần tụ hội.
Núi bản sơn mà xấu con trai nghèo khổ.
Là ý nói núi huyền vũ mà thô sơ xấu xí quá con trai chỉ có ba.
Nhiều nước chảy xói, con gái biệt ly là ý nói bạch hổ có lỗ nước chảy xói một bên hẳn là biệt ly. Thế trước, trước tới, đứng hướng trước.
Núi dương bắn thẳng nhiều người nghèo khổ.
Thanh long bắn thẳng con trai có ba.
Thế ngầm chảy dài định rằng con gái bị hình
Bạch hổ chạy dài đi thẳng là con gái vì chồng mà bị hình phạt vậy.
Thế như ba quân ra trận là tất sinh tướng mạnh.
Hai trò ôm vai tất sinh ra hủ nho.
Muôn trùng ngọn núi mọc thì lấy thế quang nhuận xa xa.
Nước chảy quanh hai đầu nên tìm sắc ngọc lắng trong
Trước đón nước bể nên cầu xuân sắc như gương.
Là ý nói rằng trước minh đường bên trong có bể nước mọc ngọn núi tròn như gương thì tất nhiên phát sinh trạng nguyên hoàng hậu.
Đàng sau như mây cuốn mùa thu có sương.
Là ý nói rằng đàng sau núi có mây như sương xuống cỏ cây tươi tốt nhà hẳn thịnh.
Bên thanh long có ngọn núi như bút xinh như măng ngọc xinh tươi là phát trạng nguyên.
Thiên ngoại có văn tinh đẹp tựa đan trì đối chiếu.
Thiên ngoại: tức là chu tước đó có mọc ngọn núi như sao cao lên là điểm phát nho học vậy.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 06:22:28CTT>
Phép Diệu Ngũ Thần Kinh
Mây đùn sấm dậy núi chầu
Hiển vinh tiên tổ con giàu cháu sang
 
Là ý nói huyền vũ có núi tròn như mây ùn lên. Minh đường cũng tròn trĩnh như quả trống là phát con giàu cháu sang hiển vinh tiên tổ.
Nước chảy vòng về ngọn núi mọc cao là cha làm quan sinh con tuấn tú.
Là ý nói thanh long có nước chảy vòng bao bọc, ngoài lại có núi cao tròn như ngọn bút nhọn, ắt là sinh con tuấn kiệt vậy.
Giăng treo trên núi, con trai lấy được vợ hiền.
Là ý nói bạch hổ bên vai có ngọn núi tròn theo nước mà hiện ra sáng sủa trong sạch ấy là người con trai lấy được vợ hiền vậy.
Che ao núi thẳng từng hàng
Cô nương gặp được anh chàng rể sang
Nghĩa là ùn ùn núi mọc cao thẳng che ngoài ao bạch hổ nhà có con gái được chàng rể quý.
Nước lặng chảy thêm theo, cha với con trai chẳng làm quan khanh thì quan phó.
Thanh long ngoài có sông dài nước trong lại có núi tròn nhọn như cán bút, lại có sông nhỏ ôm theo bên trong, con trai hẳn phát đạt giàu sang phú quý.
Bể nam mà có ngọc châu
Con gái chẳng giàu thì cũng vẻ vang
Là ý nói chu tước có ao hồ vòng ôm lại có núi nhỏ ngọn tròn đứng trong bể thì là con gái vẻ vang phú quý.
Bắc lâu vách trống không đâu,
Ông thọ trăm tuổi, nhà hầu ít khi
Là ý nói chu tước có sông dài bao bọc làm  ăn thì hẳn phát sinh giàu sang. Nhưng huyền vũ không cao dày mà thấp yếu hẳn là không có người thọ sống lâu trăm tuổi được.
Nối liền trâm ngọc trùng trùng,
Sinh con tuấn tú nối dòng trượng phu
Là ý nói thanh long có núi tròn tranh vanh tươi tốt, trùng trùng điệp điệp, lại có sông dài nước chảy bao bọc vòng về hẳn là sinh con tuấn tú thông minh.
Thiên các (Đằng trước mộ) tên gọi là Chu Tước, mà có sông dài vòng đấy lấy làm án thì trong nhà thường sinh con phú quý vinh hoa.
Huyền Vũ (đằng sau mộ) tên gọi là Bích Đài xúm xít xum vầy, cao dày hồn hậu, là đất phát làm quan lộc hưởng lâu dài truyền gia mãi mãi.
Bên tay phải gọi là Bạch Hổ, mà có đình chùa miếu mạo thần Phật hoặc là ngõ đi vườn tược bức vào, hoặc là lỗ sâu ủng tắc ấy là người chồng hẳn chết trước vậy.
Bạch lâm thấy ở phương Nam thì quý (Bạch lâm ấy là gió thổi vậy, như gió thổi vào bản cung hoặc thổi vào đầu não huyệt mà núi thấp không được núi nào cao ở đàng sau chứa lại, thì ít lâu con cũng chết vậy.
Về phương Sửu mà có đường đứt hay có hồ sâu hoặc là ao chuôm thì việc nuôi trâu bò tất không thành công vậy.
Phương Tý, đường thấp mà nông, người giúp việc gia nô không tốt.
Là ý nói: Tý phương là cung nô bộc, nhược bằng gió thổi nước tan thì người ở(gia nô hẳn chết. )
Cấn phương: Âm thần – Bức vách ngặt quá ở đàng trước thì là sinh chứng đau mắt, sưng mắt vậy.
Dương đới thô mà gấp: con trai bị gãy chân.
Là ý nói bên tả có núi to mà xấu, cấp bách bức quá thì con trai bị khổ gãy chân.
Nước trong sạch lại có núi vuông, thì phát sinh ra người tính tình cương trực.
Nước chảy yếu nhưng có núi tròn tròn, phát sinh ra người mềm mại, mà hiền hậu giỏi giang.
Là ý nói sau núi có nước lại có ngọn núi tròn phát sinh ra người tính tình mềm mại mà hiền lành.
Thái Bạch (đàng trước mộ) có nước chảy lại trước mặt thì gọi là Trạc y (giặt áo đằng trước) thì người con trai bụng sẽ phát phì.
Dực tinh thấy ở giữa trời, thì người con trai đầu hẳn tròn.
Dục tinh nghĩa là đàng trước có núi hình tròn hoặc ở bản cung có núi tròn trặn đẹp như sao thì người con trai đầu tròn mà xinh tươi.
 Trước minh đường có ao hồ là kiểu đất đón được người rể quý.
Vách  không nhà trống than phiền hiếm con.
Sân thềm khóc cô mụ.
Núi non táp nháp, âm không cầu dương không ứng, công việc dở dang không thành, nước nông than côi cút. Thanh long bốn mùa không có nước, mặc dù tuy có  nước trời mưa, thì trước được danh lợi phú quý hiển đạt, nhưng hiềm vì vợ chết sớm.
Tổng vịnh bốn câu văn vần:
 Minh đường trước án quy mô,
 Gặp chàng rể quý cơ đồ vẻ vang
  Thái không lốc ngốc thở than,
 Âm dương không ứng nát tan chẳng thành.
Nước theo chảy về hướng bắc, con gái lấy chồng xa là ý nói Bạch Hổ nước chảy đi không trở lại, thì con gái hẳn lấy chồng xa.
Núi chạy thẳng phương nam, con trai lìa cố quốc.
Là ý nói Bạch hổ núi chạy thẳng đi không quay lại, thì con trai tất lìa tổ quốc.
Huyệt sâu tuyết giá tự tử chết oan.
Dẫn chứng: 
Mộ tổ ông Khuất Nguyên vi huyền vũ có lỗ sâu nên ông bị chết uổng.
Mũi nhọn dài (kim tinh) vòng cung nhọn phá hẳn là bị chết vì khí giới.
Đàng trước có hình như cây gỗ đổ bị gãy thì con gái bị bệnh đọa thai.
Trực hỏa sau minh con trai mắc tai họa.
Là ý nói đàng sau mình trong có dáng như ôm lấy mình ngoài, lại có như tên nhọn bắn vào mình, thì là con trai mắc tai họa.
 

Nhời Diệu Quyết Khánh An
Áo hoàng bào giá yêu sau,
Cháu con vinh hiển dài lâu sang giàu
Nhời chú giải rằng: Hai vai đều có ngọn núi tròn, ngoài có núi tròn nữa, hình như chiếc áo hoàng bào, con cháu tất nhiên vinh hiển.
Trên vai thanh long và bạch hổ, có núi hình như cái ấn, con cháu sang trọng mà hiền tài.
Thái bạch (kim tinh) có núi hình tròn đối chiếu, làm chính án, con cháu tất đỗ trạng nguyên.

Giải nghĩa văn vần:
Hổ long có ấn trên vai,
Cháu con phú quý hiền tài vinh hoa,
Thái bạch trước án đối xa
Cháu con thi đỗ hẳn là trạng nguyên
Bốn bên bốn thú ưu tiên
Cháu con phát đạt thần tiên trên đời
Tam thai ngọc ấn châu rơi
Cháu con phú quý đời đời vẻ vang.
Nhời chú giải rằng:
Huyền Vũ, Chu Tước, Thanh Long, Bạch Hổ bốn cái đó gọi là tứ thú vậy, mà đều chầu vào mộ thì con cháu hẳn là phú quý.
Tam thai ấy là ý nói đàng trước có ba núi tròn trong lại có núi ấn vuông đẹp như hạt ngọc thì con cháu sang trọng được gần vua chúa luôn luôn.
Thanh long núi mọc trùng trùng, con cháu sang trọng mà thông đạt nhiều.
Là ý nói long ngoại, long nội bao bọc trùng trùng thì trước có con hiền, sau lại có cháu hiền sang trọng và thông minh hiển đạt.
Tổng vịnh văn vần:
Thanh long núi mọc trùng trùng
Cháu con sang trọng mà thông đạt nhiều.
Bạch hổ hàng lẻ tẻ, sanh ra con cái ngu si là ý nói bạch hổ trong ngoài không tiếp ứng (thân lìa tức là không có khí) con gái bị ngu si.
Bạch hổ nước chảy không chầu vào minh đường (gọi là bạch ngạch thủy vô qui) thì trong nhà của cải hao tổn.
Đàng trước không có án hay thấp yếu quá thì trong nhà ít người đỗ đạt cũng như thiếu người học thức.
Là ý nói đàng trước không có cái gì làm án, hay có mà thấp yếu quá thì không có người đỗ đạt.
Hai khách thấy như đứng chầu trước cửa là kiểu đất thăng quan tiến chức được mọi người tôn trọng.
Là ý nói trước minh đường có ngọn núi tròn nhọn hình như người đứng chực hai bên là con cháu tất thăng quan tiến chức phú quý vẻ vang được mọi người tôn trọng.
Hình như con ngựa chạy  lại phương nào là con trai  ấy  được giàu sang vinh hiển.
Hình như con kỳ lân đứng vào chỗ nào thì con trai ấy đỗ cao.
Long vị ôm mình vào chỗ nào là con trai ấy thi đỗ.
Bạch hổ trên vai có núi như ngôi sao sinh con tú nữ  được thiên tử rước vào rong cung.
Là trúc rơi sau nhà, con cháu chết non và cùng khổ.
Nghĩa là nói Huyền vũ có đường như chữ đinh, con cháu chết non khốn cùng, còn hay bị mất trộm cắp hay là chó cắn trộm vậy.
Cành thông nằm ngang ngoài đường xá, con cháu đói khát và chết non.
Là ý nói đàng trước có dáng ngã ba thì con chau đói khát và chết non vậy.
Thanh long, Bạch hổ đều giữ chắc chắn, trong lại có nước lắng trong, thì con cháu tất nhiên thông minh.
Bạch hổ có nốt nhọn như kim tinh bắn vào, hẳn là bị giặc cướp trộm cắp.
Bạch hổ bị bức tối không quang đãng được thì con gái chết ở làng khác, là ý nói ằng bạch hổ bị vườn ao đường ngõ xóm làng bức bách, thì người con gái chết ở làng khác.
Thanh long nước phản ra không bao bọc vào nhà, trong nhà ấy tất nhiên không có của cải gì.
Là ý nói rằng thanh long nước đã không bao bọc vòng về, mà lại chảy phản ra, thì nhà ấy tất nhiên bán hết ruộng vườn trong nhà không còn của cải gì.
Thanh long sáng sủa nhuần nhã mà dài, con cháu đẹp đẽ mà có vẻ văn chương.
Huyền vũ thanh tú mà hồn hậu thì con cháu sống lâu, làm ăn thịnh vượng

Thêm câu vần để dễ nhớ:
Cao dày Huyền vũ vững vàng
Vẻ vang con cháu giàu sang thọ tràng

 
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
Thần Kinh Dị Pháp Phú
 
     Núi sông non nước thiên nhiên, long mạch lưu hành muôn hình trên mặt  đất  thực bởi thợ trời khéo xếp dành cho người có phúc, bày ngay trước mắt người ta nhưng có biết nhận ra mới thấy. Đấy như thần kinh dị pháp cao kỳ, cũng bởi các bậc cao nhân thấu hiểu huyền vi xưa nay trải đã bao rồi mà cái điều thông dụng chẳng khá đổi thay được vậy.
    Người phương bắc đất cao nên lấy huyền vũ làm núi bản sơn, Huyền vũ cao hậu thì tất quan cao chức cả, người phương nam thì xem lại hơi khác là lấy minh đường làm gốc. Minh đường có nước, làm quan chức trọng quyền cao.
Núi: Trông nên ngay thẳng chính bình hoặc là vuông, cho nên nói rằng không nên hướng vạy trông xiên.
Điểm huyệt chớ nên lệch lạc
Kinh có câu rằng:
  Hình chính mà huyệt lại thiên
  Con cháu khó tuyền yên việc làm ăn.
Trước minh đường có núi vuông như ấn ngọc làm quan đến chức thượng thư.
Cá vàng trên nước, làm quan võ đến chức tướng quân.
Mạch đến chỗ chỉ, nên xét xem khí tụ ở đâu
Là ý nói mạch  đi  đến chỗ  đứng, nên xét xem khí thế thế nào? Có  được nhật nguyệt tinh thần sương móc mưa sa lắm gội thì tất nhiên cây cỏ tốt tươi, ấy bảo rằng: là gió chẳng thổi được vậy.
Hình thế hoàn toàn, nên chi mới chứa được gió lại ở trong
 Trong thẳng mà ngoại lại câu,
  Ấy là đất quý thật mầu nhiệm thay,
  Trong câu ngoài thẳng cũng rầy
  Là hình thô bỉ khó bày cho nên.
Núi như yên ngựa nên được ngựa: là ý nói ngoài thanh long trong minh đường có núi hình giống loài ngựa thì ngoại lại cầu như hình ngựa.
Thế như tình hình sao lại cầu được như sao. Minh đường đàng trước có hồ ao, ngọc tinh chiếu sáng bóng, trong có núi nhỏ như sao.
Bạch hổ núi nhọn chân, gọi là cát hình hổ chết.
Là ý nói đã nhọn chân lại có lỗ sâu hoặc có ngõ hay ao hồ có nước chảy đứt, tất nhiên không có rễ quý.
Thanh long không có cá định là trạng thái đồi long.
Là ý nói không có cá tức là hanh long minh không chắc chắn vòng ôm, nhược bằng có vòng ôm thì con cũng làm nên được vậy.
Minh đường phải nên kiêng rằng mùa đông không có nước.
Là ý nói trước minh đường chẳng nên không có nước bao giờ mặc dù mùa đông cũng thế.
Nếu không có nước ấy là tiền phú hậu bần.
Chính minh đường nên phòng gió bấc thổi.
Là ý nói bản sơn phải đủ sức bao bọc chẳng nên để cho gió bấc lọt vào.
Huyền vũ đất thấp tất nhiên không thọ khảo.
Núi đằng sau có nước ngấm vào thì tiếc rằng có bà góa.
Huyền vũ có nước thấm vào không chảy đi được hẳn là có người góa bụa.
Bạch hổ liền lại hai lần: gọi là vợ chồng hai hổ, trong ngoài chẳng liên tiếp vậy.
Thanh long: thượng long, hạ long, cùng đứt, thời là anh em chẳng có hòa thuận vậy.
Nước phương nam ly cung, chẳng chầu vào nhà, thất bại hoặc có ngã ba sông ở ly phương, sông lớn qua sông con.
Phương Tốn có ngọn núi cao là quỷ lại ma
Cái phép phân kim: Phương Tốn (Tỵ) nổi cao, người con trai mạnh chẳng giữ chắc.
Dương ngắn âm dài biết rằng nhà không quý tử.
Dương dài âm ngắn nên phòng ra đời có nước có nhà.
 
Giải nghĩa văn vần
 Tự thần đóng ở phương đông
 Trai không có vợ trông mong nổi gì
 Thần tiên ở bên tây thì,
 Gái không chồng lấy cũng vì đấy chăng
 Biết rằng muôn nước triều dâng,
 Hẳn là gặp gỡ trăm phần mừng vui
 Bao nhiêu thế núi châu hồi
 Phát nên quan cả tài bồi non sông
 
Bài phú rất hay dùng
Đành rằng bao nhiêu cốt yểu huyền vi
 
Nhưng biết tìm được lẽ của nó mà suy rộng cho ra là cũng thấy, ấy những bậc ấy chỉ là những bậc chân nhân xa xét rộng tìm phát minh ra những chỗ thói đời ròm nom nông cạn mà chưa khám phá  được chi. Kìa như nghìn ngọn thanh long khởi mạch mà vua Cao Tổ nhà Hán khởi nghiệp được hơn bốn trăm năm.
Bạch thổ có liền muôn phái mà ông Lý Uyên xây dựng cơ đồ nhà Đường có ba trăm năm.
Muôn hình vạn trạng theo người biết,
 Trăm núi nghìn sông đãi kẻ hay
 Thanh long đới thủy gần non
 Con trai phú quý sinh giàu vẻ vang,
 Nước theo Bạch hổ vòng ngang,
 Con gái vinh hiển lại càng giàu sang
 Trọn nguồn cảnh đẹp thật là quý
 Nước ấp sông ôm cũng rất vinh
Thế đây kiểu dài, nếu càng được dài thì càng quý.
Hình câu  đối mà tròn, nếu  được rất là tròn thì  được rất là hay. Hình như cái măng tươi mùa xuân, thì nên xem thế chân (căn bản).
Hình thế như rồng mây thì nên xem đàng đầu đẹp hay xấu.
Rồng cuốn mây bay thì nên để ý xem chỗ nó quay đầu về.
Quỷ sơn mà đối với thần sơn ấy là đất phát có quý nhân ra đời.
Là ý nói rằng huyền vũ cao, dày là núi quỷ sơn, vậy nếu được vai ngoài thanh
long có ngọn núi nhọn tròn như cái măng tươi hoặc là như cái bút nhọn ấy là đất phác có bậc kẻ sĩ thần đồng ra đời vậy.
Nếu Bạch hổ bắn vào thanh long thì con trai chết non
Thanh long bắn vào bạch hổ thì con gái bị thương.
  Thanh long bạch hổ hoàn toàn
  Con trai con gái vẻ vang sang giàu.
 Học đường thêm văn thủy, định rằng cái thẻ tuấn xinh.
Nghĩa là thanh long có nước chảy qua phương Tỵ gọi là học đường thủy.
Ví bằng minh đường được rộng rãi có nước thì gọi là văn học thủy.
  Thanh long bạch hổ vòng vào,
  Nên xem béo tốt tay nào cũng tươi
 Hổ đầu có ngấn xinh tươi
  Hãy xem có núi mọc nơi thêm vào
Long hổ mà có miều thần phật tự, tất nhiên nội sát tai ương.
Thế như ngọn nhọn, hẳn bị tai vạ ở ngoài.
Là ý nói thanh long bạch hổ có núi nhọn tất nhiên bị tai vạ ở ngoài.
Bên thanh long có nước ra vào thì con trai hoán thiếp đổi thê.
Ngoài thanh long thì nên có núi nước bao bọc minh đường nếu bị nước ra vào bất thường, thì là cách hoán thiếp đổi thê vậy.
Bạch hổ có tên nhọn bắn thẳng vào là gái giết chồng giết con.
Huyền vũ có núi như chữ phẩm nhất định rằng quan cao thọ khảo danh tiếng vẻ vang.
Minh đường có ba ngọn nước chảy đổ vào là nhà có học thức, phúc đức truyền gia vậy.
Chính án có ngọn núi như mây thì đời ấy qua đời khác tất nhiên hiển vinh phú quý.
Là ý nói đàng trước có núi tròn làm chính án đó vậy.
Nước chảy hình như cầu vồng, bao bọc quanh thanh long thì  đời  ấy qua  đời khác phú quý vẻ vang.
 Thanh long đầm phá vỡ bờ
 Con trai bị chết bất ngờ gớm ghê
 Hổ sâu bạch hổ tràn trề
 Bị thương con gái hại về thất gia
  Ngã ba nam ứng hỏa tà,
Nhưng lại được nước chắc là không sao
 Giao kim đôi nước chầu vào
 Dẫu rằng không núi tí nào cũng hay.
Nghĩa là ý nói ngã ba phương nam hẳn bị hỏa  ứng tất nhiên nhà bị khô ráo nhưng nếu đã được có nước thì không sợ gì tai vạ cả.
Đôi nước đây là ý nói long hổ thủy vậy nếu không có núi bao bọc, thì dẫu có phát phú quý một thời rồi cũng chóng hết vậy.
 Minh đường rộng rãi quy mô,
 Tất nhiên giàu có muôn kho bạc tiền.
 Hổ long ra mà đâm xiên
 Chắc là nghèo khó liên miên một đời
 Hổ long dài chắc cả hai
 Sống như Bành Tổ ai ai chả mừng
 Long thô hổ lãm lừng khừng,
 Nhan Hồi mạnh yểu chết chừng trẻ trung
  Đường dài thần miếu ở chung
 Hoài âm chết nhục đường cùng mới đau.
 Mộc tinh án ngắn ngang đầu,
 Kình Bố nuốt hận chịu rầu trướng trung.
Bên Thanh long mà có giếng nước sâu thì người con trai tài cao tót vậy.
Bạch Hổ mà có nước thấm vào đầu thì người con gái có tính dâm đãng.
 
Phần phiên âm
  Đương tri phú quý bất hư, Tín vi tại thị,
 Khả kiến thọ yểu hữu mệnh, khởi hữu tha tai.
 
Giải nghĩa
 Giàu sang có đất phải không,
 Cho người có phúc và công đức nhiều
 Thọ khang chết yểu bao nhiêu
 Mạnh trời đã định có điều nào sai
Núi chủ tròn dày là đất phát. Phú quý chủ nhân ông.
Huyền vũ có núi tròn dày, đấy là phát phú quý. Cho nên nói rằng: “Được đất tốt, thời giàu có, vì huyền vũ thuộc bắc phương địa vị vậy.
Trước án mà được thanh nhã quang minh, là đất phát vinh hoa phú quý.
Nghĩa là ý nói: Đàng trước mà được quang đãng thanh nhã, sáng sủa, là chủ phát phú quý. Cho nên nói rằng đắc hồ thiên tắc quí, nghĩa là được hưởng khí trời thời sang, vì rằng chu tước thuộc nam phương địa vị vậy.
Thiên trụ vững vàng cao dày lại đeo hai ấn là phát thọ được bảy tám mươi tuổi.
Bắc khuyết núi tròn lại lìa khỏi hai bên thanh long bạch hổ thì khó mà sống qua được đến tuổi ba mươi.
  Ao nghiên núi bút đàng hoàng
  Phát sinh văn sĩ mở đàng vinh quang.
 Gươm hẻo cờ trống nghênh ngang,
 Trời sinh quan võ vẻ vang giống nòi
Hình chính mà huyệt thiên thì con cháu chẳng được vẹn tuyền. Hình thiên mà huyệt chính thì con cháu hiển vinh thịnh vượng.
 
Luận về mạch
Kìa như khí mạch tốt xấu phải đem hết tinh thần nhãn lực xét xem mạch lạc thế nào. Mạch có khi ẩn khi hiện, có khi chìm vào trong, khi nổi ra ngoài. Những mạch hiển hiện rõ rệt thì người ta dễ thấy. Những mạch nào ẩn tàng ở trong thì người ta khó biết được. Mạch có khi chứa trong hồ, có khi ngay ở chỗ khoáng đãng, hoặc ở trong đá, hoặc ở đáy nước.
 Mạch trong đáy nước khó thay,
 Người không thần nhãn sao hay được mà
 Mạch đi trong đá sâu xa
 Không phải bậc trí dễ mà biết ru?
 
Luận về núi
  Nào là núi tốt bởi chi
 Xanh tươi mạch lạc người thì biết xem
Kìa khi người ta xem núi, nên nhận xem khí thế thanh nhã sáng sủa đoan trang, không nên thô nỗi, cũng không nên quá cương mà cũng không nên quá nhu. Khí thế rõ ràng triều củng chầu về, chứ không nên  ở chỗ tối tăm loạn tạp. Đại  để bàn về những điều thiết yếu cần nhất ở chỗ tinh thần. Phàm nhà ở vai bên tả có nước chảy, thì gọi là sinh khí. Bên hữu có đường dài thì gọi là tiến khí, đàng trước có ao đầm thì gọi là tụ khí. Đàng sau có gò đống thì gọi là khảo sơn (núi nương tựa). Nghĩa là cái núi cái gò đống gì hình như là có chỗ nương tựa làm thế vững chắc được thì rất tốt rất quý vậy.
Bên đông có nước chảy vòng bên ngoài là tốt, mà có đường đi lớn là xấu, phía bên bắc có đường đi lớn là xấu. Nhưng phía bên nam có đại lộ thì phát đạt vinh hoa phú quý.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 06:47:32CTT>
Bàn về Thanh Long và Bạch Hổ
     Khi người ta  để ý xét xem, tất nhiên phải xem thanh long và bạch hổ trước. Thanh long và Bạch hổ của hai bên. Bên hữu thuộc âm, bên tả thuộc dương. Âm nên béo tròn mà không quá ngắn, Dương nên vòng lại mà cũng không nên quá dài.
Cung nam thấy dậy chỗ nào là người con trai ấy phát quý.
    Thứ vị người con gái chỗ nào đáng kêu ca thì người con gái ấy bị hại. Đấy như thế đất phương nào thế nào rất tốt. Núi thanh nhã mà lại được nước bao quanh thì dương sinh xán lạn. 
    Thế núi Huyền vũ cao chót vót, hai bên thanh long bạch hổ phân khoảng bao bọc ôm chắc chầu vào phần mộ.
Lưỡng hổ đới hồng phát thành tiết phụ trùng long núi bút xa xa tức là phát hiền nhân ứng hiện.
Minh đường nước chảy rốc đi thì con trai không có vợ.
Huyền vũ hố sâu thăm thẳm thì con gái không chồng.
Khí thế liên tu không phân biệt ra  được thế nào? Nhưng thấy hình như nước chảy đến chỗ trũng ấy là biết rằng có huyệt vậy.
Bạch hổ nước ngấm dầm sanh ra vợ dâm dục.
Thanh long nước chảy quay  đi nhưng vô tình  ấy là  đất phát sinh ra người du đãng.
Sơn khê to lớn, chỗ cùng phát sinh ra người nam không chức vụ. Bên bắc có đường thẳng thì con gái không lấy chồng.
Chẳng cứ gì việc cốt yếu nào là đã có trật tự nhất định chỉ thiết tha rằng nên tìm những cái gì được rõ ràng thích đáng.
Hình trong dẫu yếu mà ngoài mạnh, cầu vồng vòng lại càng dài càng hay, được hết cả núi sông chầu về vòng về bao bọc lấy thì tất nhiên con trai được vua yêu dấu gần kề.
Phần phiên âm
Thượng long đoan thi:
 Thượng long chi ngoại hữu sơn cường
 Trưởng tử đa nam tự cát xương,
 Nhược kiến đại giang hồi thả bão
 Tất nhiên tử tức cận quân vương
Giải nghĩa văn vần
 Hình trong dẫu yếu ngoài cường,
 Cầu vồng vòng lấy thế thường càng hay
Núi sông chầu cả vui thay,
 Tất nhiên giai được vua hay gần kề
 
Giải nghĩa
Thượng long đoán thơ rằng:
 Thượng long ngoài thấy có non tròn,
 Trưởng tử giàu sang lại lắm con
 Bằng thấy sông to quanh bọc lại,
 Tất nhiên con cháu giúp vua luôn.
 
Phần phiên âm
Trung long đoán thì:
 Trung long chi ngoại hữu sơn thanh,
 Trung tử chi nam tất quí vinh  
 Nhược hữu đại giang hoàn thả bão,
 Tất nhiên tử tức tọa triều đình
Giải nghĩa
Trung long thơ đoán rằng:
Trung long sát cạnh có non xanh
 Con giữa sinh con tất hiển vinh
 Nếu có sông to vòng bọc lại,
 Tất nhiên con cháu ở triều đình
Phần phiên âm
Hạ long đoán thơ rằng:
 Hạ long chi ngoại hữu sơn kiều,
 Quý tử sinh nam lập tại triều,
 Nhược kiến ngoại sơn hoàn cố tổ,
 Tất nhiên tôn tử đoạt cao tiêu.
Giải nghĩa
Hạ long đoán thơ rằng:
 Hạ long ngoài lại có sơn kiều
Con út sinh con đứng ở triều
Núi ngoài ngoài lại quay chầu tổ.
Con cháu khôi khoa chiếm bảng nhiều
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 07:00:43CTT>
VĂN CHƯƠNG ĐỊA LÝ LUẬN
    Địa lý cũng giống như văn chương, chỉ muốn cầu lấy mỹ lệ chứ chẳng muốn thô lỗ xấu xí làm gì. Nếu được chỗ ấm áp nhuần nhã có sông núi vòng về bao bọc lấy, thì phát sinh tất nhiên hiền sĩ nho phong.
   Được thế hợp bên thanh long vững vàng thì người con trai tất nhiên lấy được người vợ hiền chính đáng.
   Bạch hổ có ao hồ vòng lấy ấn là đất phát con gái lấy được chồng hiền. Trên thu về dưới hợp lại là con trai có trưởng thành.
   Bên trong có khe nước chảy đi, không trở lại là đất không có tử tức. Đàng sau khuyết hãm trông không thế là không chính ngôi, tất nhiên con trai góa bụa.
Phần phiên âm
Văn chương địa luận:
 Trùng sơn trùng thủy lưỡng tranh quang,
 Hồ hải tuyền hoàn chính diện đang,
 Nhược kiến tiêm sơn lai tác án,
 Tất nhiên tôn tử thụ phong vương.
GIẢI NGHĨA
 Trùng sơn trùng thủy khéo là may,
 Hồ hải vòng về giữa mặt đây?
 Núi nhọn mọc xinh trình án đó,
 Cháu con hưởng thụ đức vua thay
Phần phiên âm
Minh đường thi
 Minh đường quảng khoát thế hùng lượng,
 Long hổ tương giao tại diện đương,
 Nhược kiến sơn tiền hình tự bảng,
 Danh cao cập đệ cận quân vương
 
Giải nghĩa
Minh đường có thơ rằng:
 Minh đường chính tẩm rộng khang trang,
 Long hổ giao nhau đối vững vàng
 Bảng sơn đàn trước non là án,
  Đỗ đạt vua yêu tiếng vẻ vang
 
Luận về núi án
Cổ nhân có nói rằng:
 
Phần phiên âm
Luận án sơn
 Cổ nhân vân viễn tắc sinh nhân kiệt,
 Cận tắc sinh sát nhân,
  Cao nhi viễn tử tôn nhân kiệt,
 Cận nhi bức tử tôn bại tuyệt,
Giải nghĩa
  Án xa thì sinh nhân tài
 Án gần sát hại người hoài khổ thay
  Cao mà xa cũng còn may
 Gần mà bức bách thì hay khốn cùng.
Đất nơi bình dương mà có chỗ nước giao hội nghìn dặm thì đất ấy tất sinh ra bậc thánh hiền.
Ví bằng được chỗ chân chính mạch uyển chuyển sâu bề đất phát sinh ra người phú quý.
 
Luận về thủy khẩu
Thủy khẩu được cẩn mật thì tốt. Ôi người ta sinh ra cũng bởi nước mà sát hại người ta cũng bởi nước. Thấy nước chảy  đi như chữ huyền chữ  ất, lặng sâu mà không nông cạn, ấy là nước sinh người.
Thấy nước úng tắc hay chạy thẳng chảy tuốt hay câu lưu tù hãm, ấy là nước sát hại người ta vậy.
Luận về đất có thần Phật
Kìa như đất có thần từ phật tự, nhưng ở về phía tây nam thì tốt, đông bắc thì xấu, đàng tây có nước chảy phá thì con gái dâm tà. Phía tây nam có làng xóm hoặc có thần miếu là đất có quan tước. Nhược bằng phía bắc đằng sau thấp xuống, thì chỉ được một thời rồi cũng sa sút. Cái đất nghèo nàn hèn hạ thì thế đất ấy.
Thế đất như tên bắn loạn xạ, người ta sinh ra tính lỗ mãng.
Như có nước phạm vào phương Càn, Khảm, Cấn là đất tuyệt tự phạm vào thần phương cũng tuyệt tự.
Phạm vào phật phương thì sinh ra bệnh tật.
Phàm bên tả có núi mọc như lâu  đài, bên hữu có núi mọc như chuông trống.
Đàng trước có núi mọc là lầu rồng. Đàng sau có núi mọc là bảo điện. Đàng sau thanh long ở bên tả là Thiên Ất. Ở bên hữu là Thái ất. Hình như chầu chực cân đối bên tả bên hữu là phụ bật.
Bên tả là văn quan, bên hữu là quan võ.
 
Luận về chữ Đức
Kìa như người ta thường nói tiên tích đức nhi hậu tầm long, thì việc tu nhân tích đức thật là việc gốc để thu đất vậy. Đã gọi là tích đức thì không phải một ngày hai ngày mà đã làm nên được. Cho nên nói phải cần trước nhất, nếu chỉ biết đi tìm đất mà không biết tích đức tu thân, thời trời cũng che mất tinh thần con mắt của ta đi, làm tối tăm lòng ta, thì chẳng bao giờ tìm được đất phúc đức, còn hòng gì được hưởng bổng lộc ơn trạch bình yên của thần linh, phúc khánh của con cháu. Thế cho nên người quân tử một khi để ý việc sau này tất nhiên phải lấy việc tu thân tích đức làm gốc. Rồi mới đi tìm đất tốt cho mình chắc sẽ gặp ngay trời đất an bài, thần minh giúp đỡ, như thế chẳng những phần hồn yên lành sảng khoái, mà con cháu đời ấy qua đời khác vinh hiển giàu sang phúc lộc lâu dài vậy.

Luận về huyệt
Âm dương bí yếu mụ diêu nói rằng:
Đại phàm khi người ta muốn xem huyệt lớn, trước hãy nhận lấy núi làm chủ, sau tự thấy núi nào là khách. Hai núi cần phải tương đối viên mãn, trung chính đều đặn.
Núi bên tay tả, nước bên tay hữu thời là thuận khí hóa của trời đất.
Núi bên hữu, nước bên tả: thời là nghịch trời đất.
Tả thanh long không có bạch hổ thì lấy huyệt bên hữu, hữu bạch hổ không có thanh long, thì lấy huyệt bên tả. Thanh long mạch mà theo hổ, bạch hổ mạch mà theo thanh long ấy là nhân thượng vậy.
Phủ việt ấy là bên thanh long.
Kim mâu ấy là bên bạch hổ.
Hơi núi vẫn phải triều củng vòng vào nhau, trông nhau. Nhưng nếu thanh long bức gần quá thì con trai thứ phải chết, Bạch hổ bức gần quá thì người con gái thứ bị chết.
 
Ba mươi sáu phép huyền cơ dạy chọn huyệt
Trước hết hãy xem chỗ nước chảy lại gọi là thiên môn thủy.
Xem chỗ nước chảy đi gọi là địa bộ.
Bất kiêng là núi chạy thẳng, nước chảy thẳng, song song hình như hai cái đuổi nhau. Đó gọi là chỗ âm dương cô quả vậy.
Chia tay ít ấy thì là quỷ long, chia tay nhiều ấy thì là kiếp long lùi lũi lầm lì lìa tan ấy thì gọi là du long dung đổ, lở rách ấy là bênh long, giải tán không nương tựa vào đâu được ấy là tử long.
Cô đơn một mình ấy là tuyệt long.
Như then cửa trời, như trục xe của đất ấy gọi là nhũ long. Cá đi đến rùa rắn ấy là cát long.
Sơ long thì phát chóng, trung long thì phát chậm, tận long thì phát cũng chóng
 
Luận chia 24 hướng làm 3 huyệt...
Ba huyệt ấy là thiên địa nhân vậy. Canh là thiên huyệt, Bính là địa huyệt.
Nhâm là nhân huyệt.
Càn, Khôn, Cấn, Tốn, Tý, Ngọ, Mão, Dậu đó là tám hướng thiên huyệt. Khi táng thì nên để cao.
Giáp, Bính, Canh, Nhâm, Ất, Tân, Đinh, Quý đó là tám hướng địa huyệt. Khi táng thì nên để thấp.
Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đó là tám hướng nhân huyệt. Khi táng thì không nên cao quá, mà cũng không nên thấp quá.
Âm dương trái ngôi là dữ, thuận theo trời đất ấy là lành.
Trái trời đất ấy là dữ,
Thiên huyệt ở trong lòng người ta.
Địa huyệt ở âm nang người ta
Nhân huyệt ở rốn người ta
Thiên khiếu ở giữa, địa khiếu ở bên hữu
Nhân khiếu ở bên tả,
Người nam táng ở thiên huyệt,
Người nữ táng ở địa huyệt.
Thật là một quy mô nhất định không thể thay đổi được.
Hình chính huyệt chính con cháu tất thịnh.
Hình chính huyệt lệch, con cháu không toàn.
Thế lớn hình lớn, phú quý vinh hoa
Thế nhỏ hình nhỏ, sinh người nghèo khó.
Thế nhỏ hình lớn con cháu không còn.
Thế ngắn thì chẳng vinh hoa
Hình ngắn là người chết non
Lại có câu rằng:
Huyền vũ cúi đầu duyên thay
Án chi đàng trước múa may chầu vào.
Thanh long uyển chuyển thanh tao
Bạch hổ đứng doãng vòng bao minh đường
Ấy là hình thể đại cương,
Nếu không như thế tất thương tiếc hoài
Sáu năm dương:
Những năm Dần, Ngọ, Tuất thuộc hỏa sát ở nam. Những năm Thân, Tý, Thìn thuộc thủy sát ở bắc.
Sáu năm âm:
Những năm Hợi, Mão, Mùi thuộc mộc sát tại đông. Những năm Tỵ, Dậu, Sửu thuộc kim sát tại đây.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 20:20:45CTT>
Bài phú nói chung về khoa địa lý
 
Phần phiên âm
Địa lý phú:
Phù pháp viết:
Xuyên ngư ngọa mã, đặc bạng địa trục chi phương (thư hùng địa trục, tại Dậu Mão chi phương dã).
Đột giả quật, tu triệt quật giả đột, mạc khứ đảo trượng, (Dương công) vô sai ư trượng pháp.
Giao cầm tu hợp cát cầm, thiên thương cốc tướng triều phần phú kham  địch quốc.
Phượng hoàng kỳ lân nhập huyệt quý bất khả ngôn,
Mạch tòng giả thảo mộc mậu phồn, khí toàn giả uyên nguyên hoàn tụ.
Tử tôn hiển đạt, tuy do huyệt chi sinh thành
Môn hộ suy vi, đặc úy nhập phong chỉ xuy khởi

Giải nghĩa
Kìa phép xưa địa lý nói rằng:
Cá xâu từng hàng
Ngựa về nằm nghỉ,
Địa trục tìm phương,
Mão Dậu phân kim hướng chỉ,
Nhớ đến câu: Thư hùng địa lý,
Đột quật chi ly,
Phải nhận ra,
Chợt khác là mồ
Chỗ đặc biệt mới là nơi tụ khí
Còn phải hay rành khoa Đảo trượng.
Chớ có sai trượng pháp mà nguy
Giao cầm phải được cát cầm,
Cốc trưởng giàu sang nghĩ sao phải nghĩ.
Kỳ lân nhập huyệt là hay
Ấp ủ phượng hoàng càng quý
Mạch lành cây cỏ tốt tươi
Sông bọc núi chần tinh túy ở nơi thủy chi.
Cháu con phát đạt vẻ vang
Tổ mộ núi sông tuyệt mỹ
Cửa nhà sa sát suy vi
Gió thổi lọt vào mới bị.
Vì rằng gió ấy là nộ khí của trời đất. Đất đi hình khác thế núi có bao tàng thì long mạch mới bao tàng. Hình núi tản mát rời rạc thời long mạch cũng tản mác.
Gió thổi
Thiên môn khuyết hãm gió vào
Ly hương đã vậy của đào bán trơn
Thiên môn ấy là phương Càn vậy. Nếu phương Càn bị khuyết hãm để gió thổi vào được thì nhà ấy tất bán hết gia tài sản nghiệp rồi bỏ làng đi xa.
Địa hộ thưa không gió thổi vào thì bị điên cuồng và bị ngã cây. Là ý nói địa hộ tức là phương tốn vậy. Nhược bằng phương tốn thưa không, gió thổi vào được, thì người ra điên cuồng và bị ngã cây.
Nhân môn gió thổi vào thì người  đẻ rơi. Nhẫn môn  ấy là phương khôn vậy. Nhược bằng phương khôn bị gió thổi vào thì người ta sẽ bị đẻ rơi. Quỷ môn gió thổi vào thì người chết làm ra bệnh ôn dịch.
Quỷ môn ấy là phương Cấn vậy. Nếu phương Cấn bị gió thổi vào thì người chết rồi lại làm ra ôn dịch.
Truyền tống gió thổi lại, người con trai hồn bướm bay cao. Truyền tống  ấy là
phương thân vậy. Nếu phương thân để gió thổi vào được thành ra như thế.
Công tào gió thổi vào thì người con gái bị hổ lang làm khốn.
Công tào ấy là phương Dần vậy. Nhược bằng phương Dần bị gió thổi vào thời ra như thế vậy. Phương Tỵ gió thổi lại, thì bị rắn làm hại. Phương Hợi gió thổi vào thì cỡi cá kình mà đi.
Nhâm phương bị gió thổi vào thì người bị trầm hà mà chết.
Bính phương bị gió thổi vào thì người bị đau mắt.
Giáp phương bị gió thổi vào thì chết đường.
Canh phương bị gió thổi vào thì bị chứng trĩ mà chết.
Khảm phương bị gió thổi vào thì trầm hà, viễn phối
Ly phương bị gió thổi vào thì nhà nóng hại tằm.
Chấn phương bị gió thổi vào thì của cải hòm dương rỗng tuếch.
Đoài phương bị gió thổi vào thì sớm hôm không thăm viếng thờ phụng bên ngoại.
Đinh phương bị gió thổi vào thì lở lang khổ sở.
Quý phương bị gió thổi vào thì bị thuốc độc.
Tân phương bị gió thổi vào thì bị bệnh lưỡi
Ất phương bị gió thổi vào thì con gái dâm dục.
Mùi phương bị gió thổi vào thì bị ho hắng
Sửu phương bị gió thổi vào thì bị chết trận.
Thìn phương bị gió thổi vào thì bị hại lục súc.
Tuất phương bị gió thổi vào thị bị thuốc độc giết người.
Núi mà khuyết hãm gió vào,
Thổi qua là hại xiết bao dữ lành
Đường đi xa lộ bộ hành,
Rõ ràng lợi hại đành dành phải kiêng
Vậy nên theo dõi thiên nhiên
Mỗi con đường vượng là tiên trên đờ
Chớ nên lạc lõng theo chơi,
Vào nơi suy tuyệt chết thời hết ra
Đường thời có chính có tà
Hình có lành dữ biết mà chọn nên.
Những cửa vượng là:
1. Trường sinh
2. Đế vượng
3. Dưỡng
4. Mộ
Những đường suy là:
Mộc dục, quan đới, lâm quan, suy, bệnh, tử
Tuyệt, thai
Mộc tinh thì hình thẳng
Kim tinh thì hình uốn cong lên,
Hổ tinh thì hình nằm ngang
Thủy tinh thì hình uyển chuyển, chất chứa.
Bên tả có đường cần nên uốn vòng vào gọi là thế vẫy cờ, chấn phương ấy vậy.
Bên hữu có đường cần nên vòng lại, gọi là cờ bay là canh phương ấy vậy.
Bên tả là quan văn từ học.
Bên hữu là chức quan võ uy quyền.
Phần mộ bị đường góc hẹp (Càn, Khôn, Tốn, Cấn). Gọi là tứ duy thì người ta hay bị tật ác sang mụn nhọt lở lang.
Mồ mả hoặc là dương trạch bị đường đi có chữ thập sinh ra nhiều người nghèo khổ góa bụa.
Đường trước giao nhau gọi là giang thi.
Đàng sau dầu có nhiều đường giao nhau gọi là tự ải (tự thắt cổ chết).
Ví bằng đường đàng sau có nhiều đường giao nhau thì là tự ải vậy.
Tự nhiên thấy hình như kim treo là cách bỏ làng đi kết bạn xa.
Hình như cắm chữ đinh, ấy là bị sấm sét hoặc bị chết vì khí giới.
Đường tiếp đến thần tự hoa viên quản xá thì dễ tin.
Đường gặp chỗ giao bằng thì say đắm phong nguyệt.
Mộ để Cấn phương thì sớm đóng hương tồn.
Càn phương giao trên thì hay bị đè nén.
Tốn phương giao trên thì hay bị tranh tụng.
Mộc tinh đóng ở phương nam nhà bị thất hỏa.
Mộc tinh đóng ở phương bắc người bị rơi xuống sông
Mộc tinh lại gặp mộc ở phương đông thì người ra điên cuồng hoặc là bị ngã cây.
Mộc tinh mà ở kim phương,
Tai bay vạ gió thường thường xảy ra.
Như tơ dứt chẳng dứt ra,
Là dấu tự ải nghiệp nhà oan khiên.
Vô tình trái lại đảo điên.
Ly hương xuất xứ liên miên quê người
Xung phần đâu phải chuyện chơi
Thắng ngay tới mộ của thời mất trơn
Sông ở bên tả thì bên con trai mất trước. Sông ở bên hữu thì bên con gái mất trước, nam nữ hai cung phạm vào cung nào thì cung ấy bị hại.
Khảm, Cấn, Chấn là nam cung.
Ly, Khôn, Đoài là nữ cung
Dâu rể hai vị bị xung vị nào thì vị ấy bị mất (Thìn Tuất là hai vị dâu rể).
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-21 20:36:37CTT>
Huyệt pháp luận
Huyệt có những thể nào? Nước chảy đổ vào là hơn hết, gió vào không ra được  thứ nhì
 Ngự bình nước cuốn chầu là,
 Cháu con tướng tá vào ra triều đình
Hình như chuông vàng sinh  ở chùa  đàng tây là phát tướng võ, quản  đốc ba quân.
Hình như chõ úp chứa ở đàng đông, nhà giàu đại phú, ruộng muông nghìn mẫu.
Núi nga mi hiện ở kim khanh, con trai con gái duyên hài gặp chủ.
Liên châu tròn như quả trứng ở gần thủy khẩu, anh em thi đỗ đồng khoa? Lâu đài cổ vũ xum vầy la liệt như thành biểu hoa giữ cửa trấn thủ ở gần thủy khẩu.
Trông giống gươm bày, huy vũ can thành, phần nhiều sản xuất tướng tài.
Cờ mở bút chong, quan văn quan vũ sinh ra tuấn kiệt.
Núi nga mi hiện ra phương Tốn, con gái được làm cung phi.
Hình giống như tờ cáo trục, hay thấy hình như hoa nở thì con trai lấy được nàng ông chúa.
Thấy hình như văn bút ở liền với tờ cáo trục, thì đi thi một lần là đỗ.
Thấy hình như bày mũ dựa ở ngự bình là đất phát đông cung thị giảng nên tìm cho được ba phương đất lành.
Ba phương đất lành ấy là: Ất, Bính, Đinh thế vậy thôi. Còn thiên phương tức là hương Cấn vậy. Cốc tướng tức là mùi phương thế vậy.
 
Phép kén chọn huyệt
Nếu nhãn lực mơ hồ thì khó phân biệt ra được hình dung cho nên phải nhận ra rằng:
Âm lại thì dương chịu nhận lấy
Dương lại thì âm chịu nhận lấy (chứa đựng)
(Trên to dưới nhỏ gọi là dương lại
Trên nhỏ dưới to gọi là âm đại)
Hình như nhũ  đột  ấy gọi là âm, hình như kiềm oa  ấy gọi là dương. Hình vẹo (hình đất chéo lệch) lại đó thì chính phải thiện. Hình chính lại đó thì tà phải chịu.
 Nhận được càng rõ càng hay,
 Xem ngay cốt yếu khéo hay tinh tường
Như bổ quả dưa, như cắt ngó sen, vợ con hai đoạn.
Như cỡi rồng bay, như bắn tên lửa, tai hại hai phương. 
Xem long mạch cần nhất phải nhận dấu vết, nơi nào chứa những dấu vết nào.
Biến dịch không bao giờ nhất định: người xem đó phải khéo mắt khôn ngoan.
Tìm tòi đâu đã chắc mười phần hình dung mạch đã hình dung ở bụng.
Cục đường xem xét phải sao nên, khi vào núi cốt phải tìm nơi thủy khẩu.
Đăng cục cần xét đám đinh đường.
Huyệt thuộc âm khai khẩu tất vuông, dương khai khẩu tất nhiên tròn trặn.
Cờ hồng thấy lớn: Bính Đinh hai phương, núi hình như chữ bát: Người người như giữ thẻ hương, hay thế câu vào như gìn giữ cả đôi bên: đời đời áo tía.
 
 
Địa trục thiên khai
Thiên Ất: Tân phương gọi là Thiên Ất, Tốn phương gọi là Thái Ất.
Ấn đông phương tốn phương, phương bính thì tất nhiên sản xuất được bậc công khanh tướng văn hay tướng võ.
Ấn đóng ở phương Càn, phương Dần thì tất nhiên sinh ra sư nam tăng già mộ đạo.
Thiên trụ tức là Bính Cấn phương vậy.
Núi tổ cao dày cho nên ông Bành Tổ đã thọ được tâm trăm năm.
Quan thượng thư Binh bộ nhà đại Minh, Hoàng phúc soạn.
Họ Trần còn để bản thảo do ông Hoàng Phúc soạn.
Những bậc danh nhân như ông Trần Quốc Việt soạn.
 
So sánh thủy pháp
Nguyên Thìn thủy (Càn thủy) nên hợp lòng đi thẳng.
Nước phá thiên tâm:
Thiên tâm tức là giữa minh đường vậy
Kim nga nước chảy thẳng dài.
Ruộng vườn bán hết ai hoài đấy chi.
Nước chảy xuyên hai bên vai là nước kim nga thủy khẩu vậy.
Bốn nước triều về lại đó,
Bốn nước ấy là Càn Khôn Cấn Tốn những phương ấy vậy.
Nước chảy văn khúc
Văn khúc ấy là Dậu phương vậy
Nước chảy phá thái âm,
Thái âm tức là Mão phương vậy.
Nước Quyển liêm (guộn rèm)
Quyển liêm ấy là Dậu phương, Chu tước vậy.
Đàng trước đường, liễu tường hoa nó bao dung (chịu đựng).
Nếu được nước từ cát phương nó chảy vào thì tốt lành theo đó sinh ra vậy. Nếu nước từ hung phươn mà chảy lại thì bao nhiêu điều tay bay vạ gió nó cũng cùng theo đến.
Tâm can được thả nước tốt thì đời đời thôi quan.
Bát quái nước chảy đi luôn thì người nào cũng đoản mạnh.
Nước chảy truyền tống khi sống thời phải lìa nhà xa cách mà khi chết thì thành ra lại chết đường.
Truyền tống ấy là thân phương, ví bằng nước chảy vậy
Nước chảy phá như Phục thì thì của cải rất là hao hụt.
Phục thì ấy là Dần phương ví bằng có nước chảy phá vậy. Nước phá tiểu mộ: thì con trai con gái đều đoản mạnh.
(Tiểu mộ ấy là Thìn phương) ví bằng có nước chảy phá vây.
Nước chảy cốc tường: thì kho lẫm bịch thóc hư không. Cốc tường ấy là Thủy tinh Tý hại mùi như chữ nổi. Ví bằng nước chảy vậy.
Bạch hổ có nước chảy ra vào thì con gái có thói dâm đãng. Ví bằng bạch hổ có như thế vậy.
Thanh long có nước chảy xiên vẹo  đi, chảy quanh quất lại thì làm quan thoái chức, ví bằng Thanh long nước chảy như thế thì như thế vậy.
Thiên thương, địa kiếp: nước chảy thì sinh bệnh ngứa lở, hay là tật sứt môi.
Thiên thương ấy là Cấn phương mà địa kiếp ấy là Mùi phương vậy.
Thiên trụ, đông tào nước chảy phá ấy thì thương nam hại nữ.
Thiên trụ ấy là Cấn phương vậy, huyền vũ vậy.
Công tào ấy là dần phương vậy, chu tước vậy.
Nước chảy phá quan vượng thì không có chức vị quan.
Quan vượng ấy là giáp phương huyền vũ vậy. Quan vượng nước phá thì không có quan chức vì giáp phương thế vậy.
Nước chảy phá quan đới thời ít nhân đinh.
Quan đới ấy là mão phương chu tước vậy. Thủy phá đại mộ thì con gái trong phòng giữ một mình.
Đại mộ ấy là Thìn phương vậy. Nước chảy câu trận thì con cháu chết đường.
Câu trận  ấy là Tốn phương vậy. Nước chảy phá thiên kiếp thì mềm yếu yên sống.
Thiên kiếp ấy là Ngọ phương ấy vậy. Nước chảy hình kiếp thì tội đến ngay.
Ví bằng nước phá hình kiếp thời thế vậy. Hình kiếp ấy là phương Đinh Mùi vậy
Nước chảy mọ6c dục ra đi thì sinh ra thói lười biếng, không chịu thi thố việc chi cả.
Ví bằng nước chảy đi thì như thế vì tốn ly phương ấy vậy tam kiếp nước chảy lại  thì trốn tránh thành thói quen.
Ví bằng nước chảy lại, tam kiếp ấy là Ngọ Đinh Mùi phương ấy vậy.
Đây là mới cử kỳ đại khái cốt phải nên nhận cho rành rẽ đến tinh vi.
 Nước cần xem chảy phương nào,
  Núi xem long mạch biết bao công trình
Địa lý thông huyền phú
 Ngự bình khuất khúc lại chầu
Cháu con khanh tướng dài lâu vững vàng
 Càn Khôn cấn tấn hiên ngang
Vinh hoa phát phúc rõ ràng nước sinh
 
Kén chọn về nước
Cát thần, cát tướng, chẳng gì hơn là chẳng khiến phá phạm vào phương ngung.
Cát thần tức là Càn Khôn Cấn Tốn vậy.
Cát tường tức là Giáp, Canh, Bính, Nhâm, Ất, Tân, Đinh, Quý, Ất vậy.
Hung thủy hung tinh thì chớ cho vào đăng đường nhuệ mộ cục.
Hung thủy tức là tà thủy, chàng thủy, quyển liêm thủy, trực thủy, hoàng tuyền thủy, hình lục thủy ấy vậy.
Hung tinh tức là lộc tồn, liêm trinh, phá quân, văn khúc, là những tinh ấy vậy.
Kinh rằng:   Thiên lý lai long
 Huyệt kết nhất tịch
Kinh rằng: Long mạch dặm nghìn
 Chung quy huyệt kết chỉ tìm chiếu con.
Mười can có âm dương. Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là dương. Ất Đinh Tỵ Tân Quý là âm.
Mười hai chỉ có âm dương:
Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương.
Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm.
Bát quái có âm dương:
Càn, Khảm, Cấn, Chấn là dương.
Tốn, Ly, Khôn, Đoài là âm.
Hai mươi bốn hướng, âm dương đều có một nửa.
 
Càn, Giáp, Khôn, Ất, Ly, Nhâm, Dần, Tuất, Khảm, Quý, Thân, Thìn, mười hai vị là dương long: Cấn, Bính, Tân, Tốn, Đoài, Đinh, Tỵ, Sửu, Chấn, Canh, Hợi, Mùi là
mười hai vị là âm long.
Dương lại thì âm chịu 
Âm lại thì dương chịu.
Dương long thì âm hướng
Âm long thì dương hướng
Huyệt dương thì âm chầu,
Huyệt âm thì dương chầu.
Long mạch   Long huyệt    Long hướng
Hai mươi bốn long mạch lành dữ đoán rằng:
Thượng tầng là cát long, hạ tầng là hung long:
Thượng tầng cát long là:
Nhâm long Chính khí là Bính Tý
Nhâm long có ba hướng là: Ngọ: Khôn Ất. Nên ngồi Tý phương hướng về Ngọ: ngồi tân hướng về Ất, ngồi Cấn hướng về Khôn.
Nhâm là dương long.
Quý long chính khí Đinh Sửu. Quý long có hai hướng là Ngọ và Khôn. Nên ngồi phương Tý hướng Ngọ, ngồi phương Cấn hướng Khôn. Quý là dương long.
Cấn long chính khí Mậu Dần.
Cấn long có tám hướng: Bính, Đinh, Canh, Thân, Tỵ, Mùi, Tốn, Đoài nên ngồi phương Nhâm hướng về phương Bính, ngồi phương Quý hương về phương Đinh, ngồi phương Giáp hướng về phương Canh, ngồi phương Ất hướng về phương Tân, ngồi phương Hợi hướng về phương Tỵ, ngồi phương Sửu hướng về phương Mùi, ngồi phương Kiến hướng về phương Tốn, ngồi phương Mão hướng về phương Dậu.
Cấn là âm long.
Mão long chính khí Quý Mão.
Mão long có bốn hướng, Canh Tân Đinh Hợi nên ngồi phương Giáp hướng về phương Canh, ngồi phương Ất hướng phương Tân, ngồi phương Quý hướng phương
Đinh, ngồi phương Tỵ hướng phương Hợi, Mão là âm long.
Tốn long chính khí Tân Tỵ, Tốn long có ba hướng: Tân, Hợi, Cấn. Nên ngồi phương Ất hướng phương Tân, ngồi phương Tỵ hướng phương Hợi, ngồi phương
Khôn hướng phương Cấn, Tốn là âm long.
Bính long Chính khí Nhâm Ngọ, Bính Long có bốn hướng là Hợi, Canh, Tân,
Cấn nên ngồi phương Tỵ hướng Hợi, ngồi phương Giáp hướng Canh, ngồi phương Ất hướng Tân, ngồi phương Khôn hướng Cấn, Bính là âm long.
Đinh Long Chính khí Quý Mùi,  đinh long có hai hướng Cấn, Hợi nên ngồi phương Khôn hướng Cấn, ngồi phương Tỵ hướng Hợi, Đinh là âm long.
Canh Long chính khí Ất Dậu, Canh Long có hai hướng là Mão và Cấn nên ngồi phương Dậu hướng Mão, ngồi phương khôn hướng Cấn, Canh là âm long.
Dậu long Chính khí  Ất Dậu, Dậu long có ba hướng Cấn, Tốn, Tỵ, nên ngồi phương khôn hướng cấn, ngồi phương kiền hướng tốn, ngồi phương hợi hướng tỵ. Dậu là âm long.
Tân long Chính khí Bính Tuất. Tân long có ba hướng Tốn, Mão, Cấn nên ngồi phương kiền hướng tốn, ngồi phương Dậu hướng mão, ngồi phương khôn hướng cấn. Tân là âm long. 
Hợi long Chính khí tân hợi. Hợi long có ba hướng bính tốn  đinh. Nên ngồi phương nhâm hướng binh, ngồi phương kiền hướng Tốn, ngồi phương quý hướng đinh. Hợi là âm long.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
Hạ tầng hung long
 
Tý long Chính khí Canh Tý, Tý long có một hướng là hướng Khôn. Nên ngồi phương Cấn hướng khôn Tý là dương long.
Sửu long Chính khí Tân Sửu, Sửu Long có một hướng bính. Nên ngồi phương nhâm hướng Bính. Sửu là âm long.
Dần long Chính khí Nhâm Dần. Dần long có hai hướng khôn và thân. Nên ngồi phương Cấn hướng khôn, ngồi phương Dần hướng Thân. Dần là dương long.
Giáp long Chính khí Tỵ Mão. Giáp long có hai hướng Càn và Khôn. Nên ngồi phương tốn hướng càn, ngồi phương cấn hướng khôn. Giáp là dương long.
Ất long Chính khí Canh Thìn. Ất long có một hướng là hướng khôn. Nên ngồi phương Cấn hướng về Khôn. Ất là dương long.
Thìn long Chính khí Giáp Thìn. Thìn long có hai hướng kiền và khôn. Nên ngồi phương tốn hướng kiền, ngồi phương cấn hướng khôn. Thìn là dương long.
Tỵ long Chính khí Ất Tỵ. Tỵ long có một hướng là hợi. Nên ngồi phương Tỵ hướng Hợi. Tỵ là âm long.
Ngọ long Chính khí Bính Ngọ. Ngọ long có hai hướng là Quý Nhâm. Nên ngồi phương Đinh hướng quý, ngồi phương bính hướng nhâm. Ngọ là dương long.
Mùi long Chính khí Đinh mùi. Mùi long có một hướng là cấn. Nên ngồi phương khôn hướng cấn. Mùi là âm long.
Khôn long. Chính khí Giáp Thân. Khôn long có một hướng là Quý. Nên ngồi phương Đinh hướng Quý. Khôn là dương long.
Thân long Chính khí Mậu Thân. Thân long có hai hướng là Quý Giáp. Nên ngồi phương Đinh hướng Quý, ngồi phương Canh hướng Giáp. Thân là dương long.
Tuất long Chính khí Canh Tuất. Tuất long có một hướng là Ất. Nên ngồi phương Tân hướng Ất. Tuất là dương long.
Kiền long Chính khí Đinh Hợi. Kiền long có một hướng là Ất nên ngồi phương Tân hướng Ất Kiền là dương long.
Xem nước lại phương nào sinh vượng.
Bát đất đi khỏi chỗ hưu tù.
Phải là được phép đó ru?
Mới thành kết quả mới thu công trình.
So sánh để lập huyệt ở chỗ bình dương.
Đại phàm chọn đất ở chỗ bình dương, thì nên lấy nước tốt làm chủ, lấy phương hướng làm tôn vậy. Vậy nên xem được nước phải như thế nào.
Nước thu về ở phương trường sinh đế vượng, bát đất đi khỏi nơi hưu tù nước đọng, ấy là người đã hiểu được phép vậy. Ví bằng được phương hướng trường sinh đế vượng thì sinh con rất thông minh tuấn tú. Nếu như đế vượng đi mà tràng sinh nghinh tiếp đến thì phú quý nó hẹn đến ngay. Như đế vuợng đi mà phá trường sinh, thì dẫu có con mà cũng chả làm ra gì.
Trường sinh lại mà phá đế vượng thì dẫu có giàu sang rồi cũng chẳng ra làm sao, chỉ luống công vậy thôi. Ví như gặp minh đường phương hướng cực chẳng hợp với thủy khẩu cho lắm nhưng cũng có thể tòng quyền mà lập hướng chứ không nên coi nhẹ mà vội bỏ đi vậy chăng.
So sánh thế nào là giả, kén chọn hình cục ấy thời là giả.
So sánh thế nào là chân, kén chọn trường sinh đế vượng ấy là chân.
So sánh thế nào là âm?
- Nổi cao lên ấy thời là âm.
So sánh thế nào là dương?
- Bằng mà thấp ấy là dương.
Trường sinh phương lại được nước tốt tức là lập được sinh hướng là tốt. Đế
vượng phương mà được nước tốt tức là đã lập được vượng hướng là tốt.
Mộ phương mà được nước tốt tức là đã lập được mộ hướng là tốt.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-24 07:12:43CTT>
Ngũ hành phương cục
 
Thử xem bản sơn chỗ vị trí thuộc ngũ hành nào,
Mộc tinh trường sinh ở Hợi,
Hỏa tinh trường sinh ở Dần,
Kim tinh trường sinh ở Tỵ,
Thủy và thổ tinh trường sinh ở Thân
Các vị đều phải chiếu theo địa vị của nó khởi tự đâu, rồi đuổi theo trường sinh
mà xem sao quan diệu để mà xem phương vị.
So sánh hai sao quan diệu để mà xem phương vị sinh tử.
Trường sinh cung xuất hiện là đỗ khôi giáp.
Quan diệu chủ ra đại quan về. Nửa năm tất nhiên đã phát.
Mộc dục cung xuất hiện thời bổng lộc hậu, quan diệu cung sao xuất hiện thì phát đại quan.
Quan đới cung xuất hiện thì phát tài hoa.
Quan diệu sao chiếu chủ sang mà thanh chính.
Lâm quan cung xuất hiện thì có tài chính sự.
Quan diệu sao xuất hiện thì làm quan bị chín lần đổi.
Đế vượng cung xuất hiện thì là người thống đạt
Quan diệu sao chiếu thì làm quan chín lần đổi.
Ai cung xuất hiện thì là lưu liên đình trệ
Quan diệu sao chiếu chủ lâm quan không lộc.
Bệnh cung xuất hiện là bị chinh chiến.
Quan diệu sao chiếu thì chủ lâm quan làm ác ngược.
Tử cung xuất hiện thì là người không khí độ.
Quan diệu sao chiếu thì lâm quan không cất nhắc thì không có giấy tờ.
Mộ cung xuất hiện là bổng lộc coi kho.
Quan diệu chiếu là chủ làm quan tích bảo.
Tuyệt cung xuất hiện thì bị hao hụt của cải.
Quan diệu chiếu thì là làm quan chết đường.
Thai cung xuất hiện thì người ta hình dung đẹp đẽ.
Quan diệu sao chiếu thì chủ lâm quan thanh tú.
Dưỡng cung xuất hiện là người nhân từ.
Quan diệu sao chiếu thì làm quan hàm dưỡng khéo.
Long mạch bằng ở hướng nước mà so sánh.
Ông Dương quân Tùng làm cái thuật cứu bần cũng tùy theo tất cả trên phương hướng mà lên lên xuống xuống, đổi thay thay đổi luân chuyển tuần hoàn. Vì rằng long huyệt vốn không phải là lành dữ, mà chỉ dạy lấy hướng nước là lành dữ vậy. Cho nên long mạch dẫu chẳng được đẹp tốt hoàn toàn cho lắm mà thủy thần nếu được trường sinh đế vượng chi khí thì cũng có thể phát phúc đinh tài lưỡng vượng vậy.
Trường sinh đế vượng nước đó cần phải đến, tử tuyệt nước đó cần phải đi. Nước lại nước đi quan hệ ở long huyệt lành hay dữ vậy. Một việc tối ư khẩn thiết không gì bằng cái nước trường sinh đế vượng phương mà nó tan rã. Thời long huyệt dẫu có thật cũng chẳng hay sinh tài phát phúc gì được, vậy mà lại còn tai bay vạ gió đến ngay. Đấy khá thấy bởi nước mà long huyệt thành ra dữ vậy. Mà nước nó lành dữ lại tại phương hướng. Cho nên ông Dương Quân Tùng nói rằng tìm long mạch mà điểm huyệt tất nhiên phải lấy nước làm chủ, lấy hướng làm tôn trọng vậy như gặp phương trường sinh đế vượng, sa thủy hay lấy hướng thu về cục nội làm gốc ở huyệt quan lộc.
Thời phát phú quý phát phúc không còn ngờ vậy. Ngày xưa có người lập hướng nhỡ một khi nhầm lẫn, lại đem đế vượng phương sa thủy bát sang cái ngôi tử tuyệt thời bản huyệt quan lộc, hóa ra làm quỉ sát hại người tốn của. Đấy cái lý đương nhiên thật là việc đáng tiếc vậy.
Giả như khôn thân hành long, dần mão là ngôi bệnh, tử Tỵ Ngọ là tuyệt hai địa vị vậy. Mà Dần Mão Tý Ngọ có núi cao nước cả ví bằng lộc tốn tỵ canh ba hướng, mà họa đến ngay. Như Bính Ngọ hướng thời cái núi Dần Mão làm hỏa tinh của tràng sinh mà cái nước của Tỵ Ngọ làm cái nước lâm quan đế vượng há chẳng làm phúc ru? Cho nên kén chọn hình thục ấy là giả
Kén chọn đế vượng ấy mới là thật. Vậy cho nên những chỗ hay, còn phải ở người khéo biến báo hoạt bát vậy.
Tam hợp ngũ hành kén chọn long mạch, đại phàm xem long mạch phải biết từ núi tổ nó phát ra đi thế nào. Xuất thân chuyển qua quan ải núi non rộng hẹp nương tựa đổi thay mà lại, nhưng cần phải đến chỗ nào đặc biệt nhất làm cốt, thảng hoặc như có chân long thay đổi vắn mà sau rốt lại dài tất nên bỏ chỗ nguy mà nhận lấy chỗ chân nương tựa vào nước mà lập hướng như long nhập thủ mùi phương nước chảy thì lập Giáp Mão hướng vượng Đinh Mùi mộ hướng. Cho nên cần phải so sánh tam hợp. Bốn cục cũng đều như thế vậy
Tam hợp là: Thân, Tý, Thìn
Bốn cục là: Thân Tý Thìn là thủy cục.
Tỵ, Dậu, Sửu là kim cục
Hợi Mão Mùi là mộc cục
Dần Ngọ Tuất là hỏa cục.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
So sánh để lập huyệt nơi bình dương phép động tĩnh
 
Đại phàm khi lập huyệt, cần nhất phải xem đất hay ruộng chỗ nào là chỗ động
thì mới là chân thực xác đáng.
Thế nào là động?
Nơi cao nơi thấp của đất ruộng là động.

Động nghĩa là hoặc lồi hoặc lõm, chỗ khác thường đi thời là long mạch hay ở những chổ ấy vòng quanh xúm xít hay ở những chỗ đứng mạch lại. Thế cho nên chỗ hơi cao một chút là động, hơi thấp một chút là tĩnh. Cho nên nói rằng: cao hơn một tấc là núi, thấy đi một tấc là nước vậy
Nước vốn động nhưng cầu được chỗ tĩnh mới tốt.

Đất vốn tĩnh nhưng cầu được chỗ động mới hay.
Tính tình nước động chảy đi
Ý thiêng tụ hội tĩnh thì mới hay

Đất thường bình tĩnh xưa nay,
Mạch động đặc biệt khác ngay mới là...
Người xưa có nói rằng:
Huyệt không động tĩnh, phúc ấm không hay kém thịnh, đất không cao thấp, mỏi mắt nhọc lòng uổng công phí sức, người ý tứ phải như thế đấy.
 
Luận về Minh đường cao thấp
 

Phàm khi định huyệt, huyệt cần nên xem những chỗ nào âm dương biến hóa, như được những phương đế vượng thì nhân định thịnh nhiều. Cao một tấc là núi thuộc âm, thấp một tấc bằng phẳng, ruộng thuộc dương. Cũng có khi vì ruộng thấp mà phải bồi đắp thêm đất để mà táng ấy cũng thành thuộc âm. Nhược bằng ấy nước thủy triều lên xuống cũng tức là thuộc dương.
Chỗ âm dương cùng giao cảm với nhau tức là vượng tướng, phàm làm huyệt, trong minh đường nếu có ruộng thấp quá thì nên làm khí quản (ống hơi).
Kinh nói rằng:
Minh đường như lòng bàn tay
Nhà giàu đấu đựng vàng đầy của dư.
Nhưng ở ngoài minh đường cũng cần nên phải để cho cao.
Lại có câu kinh rằng:
Minh đường cao lại ưa cao,
Phúc cho con cháu biết bao sang giàu
Minh đường thấp quá hoặc sâu,
Nghèo nàn con cháu buồn rầu xác xơ
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
Luận về sự tranh đấu tịnh âm tịnh dương
 

Đại phàm lập huyệt, chỉ nên xem nước nỏ chảy đi chảy lại thế nào, không những
là kén chọn âm dương long mạch, điều ấy thì người ta ai cũng phải biết rồi. Như các sách Trác ngọc phủ biên ra trước kia có nói âm long dương hướng, dương long kỳ âm hướng là những lời nói như thế, người sau chẳng biết duyên cớ gì đâu lại cho là
chính tông, thật là hại cho người ta quá tệ, chẳng biết rằng ông Lưu Thanh Điền có nói dương long dương hướng nước chảy cũng dương ấy là lời nói rất hoang đường. Âm long âm hướng nước chảy cũng âm. Người giết người câu lệ là thường, vì rằng âm long âm hướng, dương long dương hướng nó phối hợp với nhau vốn cũng đã nhiều mà âm long dương hướng, dương long âm hướng nó phối hợp với nhau lại cũng chẳng phải là ít vậy. Chỉ duy có người sáng suốt mới nhận định ra ngay nước chảy đứng chầu là bí quyết. Được như thế, thì không đi đến đâu mà chẳng đích đáng vậy.
Hai bên cũng rất cần phóng khoáng
Kinh có nói rằng:
Chốn bình dương hình thế không cùng, núi thì giữ gió, nước nguyên do phát tự ở đâu lại phải phân biệt nước chảy đi chảy lại làm sao kiêng gió kiêng nước cũng thật là chân tuyệt diệu. Nhưng gió thổi thủy kiếp thì sống lâu giàu bền, con cháu nối dõi lâu dài mà minh đường thế đất trùng điệp sóng dồn lại thì càng tốt.
 
Phép so sánh long mạch
 

Kìa như kim mộc thủy hỏa thổ ấy là thiên tinh đấy vậy.
Tròn hay là uyển chuyển, thẳng hay là nhọn vuông ấy là hình thế của đất vậy. Thiên tinh địa hình: Trên dưới cùng nương tựa nhau, mà mỗi cái vẫn có nguyên nhân, duyên theo chỗ đó mà phát sinh ra cho nên mới nói rằng: Hình tức là tinh vậy.
Hiện thiên kim Trương thiên thủy
Sung thiên mộc Diệm thiên hỏa
Chướng thiên thổ
Đây là năm sao chính ở trên trời vậy. Chủ phát đại phú đại quý.
 

Phép kén chọn huyệt
 

Tham lang tinh thuộc mộc tức là sao tử khí tinh, tức là sao sinh khí.
Cự môn tinh thuộc thổ, tức là sao thiên tài, tức là sao thiên y.
Lộc tồn tinh thuộc thổ, tức là sao cô diệu, tức là sao lộc cung.
Sao văn khúc thuộc thủy tức là sao trảo đãng, lại tức là sao lục sát.
Sao liêm tinh thuộc hỏa tức là sao táo hỏa.
Sao vũ khúc thuộc kim tức là sao duyên niên vậy.
Sao phá quân thuộc kim, tức là sao thiên cương, lại là tuyệt mệnh
Thái dương thuộc kim tinh
Thái âm thuộc kim tinh.
Sao tả phụ thuộc kim
Sao hữu bật thuộc kim.
Sao tử khí thuộc mộc, tức là sao tham lang.
Sao thiên tài thuộc thổ, tức là sao cự môn.
Sao cô diệu thuộc thổ, tức là sao lộc tồn.
Sao trảo đãng thuộc thủy tức là sao văn khúc
Sao hỏa táo thuộc hỏa, tức là sao liêm trinh.
Sao duyên niên thuộc kim, tức là sao vũ khúc.
Sao thiên cương thuộc kim, tức là sao phá quân.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
Luận về các sao xuất huyệt
 

Sao Tham Lang xuất huyệt, thì hiển đạt văn chương, thiếu niên cập đệ: Người ta tranh nhau để cho được xem mặt quan tân lang, vì tại phương Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cung là được đất, năm sáu người con chủ ứng ở phương Chấn là con trai trưởng vậy.
Sao Cự Môn xuất hiện thì doanh nghiệp mở mang ngày thêm thịnh vượng, người ta chăm đọc thi thư nên tính tình độ lượng khoan hồng. Bởi tại Khôn, Cấn,

Đoài, Kiều, Cung là được đất bốn con thủ ứng phương Khảm là người con trai giữa vậy.
Sao Vũ Khúc xuất huyệt, thì vượng người vượng của, mũ xanh áo tía đàng hoàng đoan trang theo hút lại. Bởi tại Kiền, Khôn, Cấn, Đoài, Cung là được đất tam tự chủ ứng phương Cấn là người con trai Út vậy.
Sao Tả Phụ xuất huyệt, đất phát võ quan soái phủ được người ta tôn sùng lại thêm mạnh mẽ làm quan tới chức tam công.
Sao Thái Dương xuất huyệt, thì con cháu rất tốt, giàu sang của cải đề đa, tức là bạch ốc xuất công khanh thế vậy.
Sao Thái Âm xuất huyệt, thời con gái thành cung nga, con trai mở kho lẫm, bên là đỗ đại khoa.
Sao Thủy tinh tức là trương thiện xuất huyệt, thì con cháu đông đúc, nhiều người chăm đọc sách, đỗ đạt rất nhiều, giàu có, điền viên thiên mạch.
Sao Mộc Tinh tức là xung thiên xuất huyệt văn chương hiển đạt giàu sang đẹp đẽ người nhiều ruộng lắm đất hay.
Sao Thiên Tài xuất huyệt thì con cháu nối tiếp nhau thi đỗ, đôi con đôi vợ của cải giàu sang phát đạt.
 
Kén chọn long mạch
 

Từ đây trở xuống là thu góp các nhà so sánh về long mạch tốt xấu.
Quý long ba hướng lành mạnh.
Gọi là Cấn, Tốn, Đoài là ba phương tốt vậy.
Xuất ở hải vũ kinh.
Năm phương tiện long xấu, bảo rằng Càn, Khảm, Ly, Chấn là năm thứ hung long vậy. Xuất ở hải vũ kinh.
Bốn khu vực của ngôi sao quý long:
Bảo rằng là Hợi Cấn Binh Đoài là bốn khu vực của ngôi sao. Xuất ở thanh nang kinh.
Hải lão tiện long.
Bảo rằng là Kiền Khôn là hải lão tiện long.
Xuất ở ngọc xích kinh.
Lục tú quý long bảo rằng Hợi là đệ nhất, Cấn Tốn Đoài Binh Đinh Tân là lục tú quý long vậy. Xuất ở thôi quan thiên.
Tứ khố tiện long bảo rằng là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tứ khố tiện long vậy.
Xuất ở ngọc xích kinh.
Bất tường long nói rằng là Dần Thân Ất Khôn là bất tường long vậy.
Bát cá tinh xuất ở la kinh vậy.
Trong kinh có thơ nói rằng:
Tốn Đoài Cấn Binh với Tân Đinh,
Kỷ, Hợi bao gồm lại bát tinh.
Núi nước được chiều ai phúc đức
Cành vàng lá ngọc giúp vua mình.
So sánh về thủy luận
Từ đây trở xuống là gom góp các nhà nói về dị đồng của nước.
Đây là mười hai phương âm thủy có:
Hợi Mão Mùi Kỷ Dậu Sửu Cấn Bính Tân Tốn Đinh Canh ấy là âm thủy vậy nên chầu về long âm.
Đây là 12 dương thủy có:
Thân Tý Thìn Dần Ngọ Tuất Càn Giáp Khôn Nhâm Quý Ất là dương thủy vậy nên chầu về dương long.
Đại thần thủy có:
Nói rằng là Càn Khôn Cấn Tốn ấy vậy.
 

Trung thần thủy có:
Nói rằng là Giáp Canh Bính Đinh ấy vậy.
Tiển thần thủy có:
Nói rằng là Ất Tân Đinh Quý ấy vậy.
Tiến thần thủy có. Nói rằng là sinh vào khắc ra ấy vậy.
Thoái thần có. Nói rằng là thủy sinh ra khắc vào ấy vậy.
Âm thôi thủy có. Bảo rằng là Cấn Chấn Tốn Đoài ấy vậy.
Dương thôi thủy ấy có. Bảo rằng là Bính Đinh Canh Tân ấy vậy.
Tứ khổ thủy ấy có. Bảo rằng là Thìn Tuất Sửu Mùi ấy vậy, nên xúc tích chẳng nên chảy.
Lúc thần thủy ấy có bảo rằng là thanh long bạch hổ chu tước huyền vũ, câu trận, đằng xà là sáu thần thủy ấy vậy.
Trích theo tràng sinh khởi:
Lục kiến thủy ấy có nói rằng Hợi là thiên kiến, Cấn là địa kiến, Đinh là nhân kiến, Mão là tài kiến, Tốn là lộc kiến, Bính là mã kiến, là sáu kiến ấy vậy.
Tam cát thủy ấy có nói rằng là Cấn là tam lang, thủy tinh chủ quan lộc.
Tốn là cự môn. Thủy tinh chủ tài bạch.
Đoài là vũ khúc. Thủy tinh chủ nhân tài ấy vậy.
Xá văn thủy ấy có nói rằng là Tốn Bính Đinh là văn thủy ấy vậy.
Trường thọ thủy ấy có nói rằng là Cấn Bính Đinh Đoài là tràng thọ thủy ấy vậy.
Ngũ cát thủy ấy có bảo rằng là Mão Tốn Bính Tân Đinh là năm cát thủy ấy vậy.
Bảo thương thủy ấy có nói rằng là Mão Thủy ấy vậy. Văn bút thủy ấy có bảo rằng là Tốn Thủy ấy vậy.
Kim đường thủy ấy có bảo rằng là kính thủy ấy vậy.
Ngọc môn thủy ấy có bảo rằng là đinh thủy ấy vậy. Học đường thủy ấy có bảo rằng là tân thủy ấy vậy.
Lục tú thủy ấy có nói rằng là Cấn Tốn Đoài Binh Đinh Tân là lục tú thủy ấy vậy.
Kim giai thủy ấy có nói rằng là Canh Dậu Tân là Kim giai thủy ấy vậy.
Ngự nhai thủy ấy có nói rằng là Kiền Khôn Tốn Cấn là ngư nhai thủy ấy vậy.
Đào hoa thủy ấy có nói rằng là Tý Ngọ Mão Dậu là đào hoa thủy ấy vậy.
Sát kiếp thủy ấy có nói rằng là Dần Thân Tỵ Hợi là kiếp thủy sát ấy vậy.
Hoàng tuyền thủy ấy có nói rằng là Canh Đinh hướng, thì khôn thủy là hoàng tuyền.
Ất Bính hướng, thì Tốn thủy là hoàng tuyền.
Tân Nhâm hướng, thì Càn Thủy là hoàng tuyền.
Quý Giáp hướng, thì cấn thủy là hoàng tuyền.
Đinh Canh Ngọ Mùi Thân năm hướng.
Ất Bính Mão Thìn Tỵ năm hướng.
Tân Nhâm Dậu Tuất Hợi năm hướng.
Quý Giáp Tý Sửu Dần năm hướng.
Khôn hướng, thì Canh Đinh thủy là hoàng tuyền.
Tốn hướng, thì Ất bính thủy là hoàng tuyền.
Càn hướng, thì Tân Nhâm thủy là hoàng tuyền.
Cấn hướng, thì Quý giáp thủy là hoàng tuyền.
Bát diệu thủy ấy có:
Kiền long kiêng ngọ thủy, khảm long kiêng Thìn thủy.
Cấn long kiêng Dần Thủy, Chấn long kiêng thân thủy.
Tốn long kiêng Dậu Thủy, ly long kiêng hợi Thủy.
Khôn long kiêng Mão thủy, Đoài long kiêng Tỵ thủy.
Quy nguyên thủy ấy có nói rằng là thai tuyệt là hai vị vậy.
Thủy của tôn miếu Pháp hồng Nhân lại nói rằng:
Nước đi khuất khúc có tình,
Tinh thần chưa hợp nhưng hình tốt thay
Ông Dương Quân Tùng nói rằng:
Cứu bần nước đến chữ huyền
Hỏi chi cung cách tần phiền phi công
Ông Khắc Yêm lại nói rằng:
Dữ lành nước hỏi thành nao?
Ly phương phúc trạch dồi dào cháu con.
Đây là nói phương hướng tốt, còn như hình thế xung đột, bắn nhắm, bay lạc, xiên vẹo, dùi thủng, trái ngược, nghiêng ngửa, thì dẫu có ở được ngôi lành rồi sau cũng suy sút.
Xuất gia dị đồng thủy.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
Phép kén chọn nước tốt.
 

Kìa như nước ấy phát nguồn bao công linh động long được nó mới hay, huyệt  hay được nó mới đến. Chính mạch nước chảy vào khuất khúc, thì gọi tên là cửu khúc thủy, cũng có tên là ngự nhai thủy, hoặc từng tầng từng cấp chầu vào, thì gọi tên là chiều hoài thủy, cũng có tên là thương bản thủy, đều là những thứ nước chóng phát giàu sang hiển đạt.
Xuất ở thủy luận.

 
Triều thủy
Nguyên nhân bốc nói rằng nước cửu khúc chầu vào minh đường thì đương triều làm tới tể tướng. Xuất ở thủy luận.
Vậy có lời quyết rằng:
Nước bể từng lớp chầu vào,
Uy quyền chức trọng quan cao đương thời.
Cho nên có lời bói rằng:
Nước về rúc rích có tình,
Không hợp lệ cũng tốt lành hẳn hoi.
Xuất ở thủy luận
Ông Dương Quân Tùng nói rằng: Nước có chảy đi như vô tinh thời dẫu có hợp quái lệ, ta thấy cũng chỉ lấy làm khinh vi nó xấu. Nước chảy bao bọc có tinh, thì dẫu chẳng hợp quái lệ ta thấy cũng cho nó là tốt.
Xuất ở thủy luận.
 
Minh đường

Ông Cố Ai nói rằng: "Đàng trước huyệt nên có chỗ đất bằng phẳng, thì mới được chân khí kết tụ vậy.
Xuất ở thủy luận
Ông Cố Dương nói rằng:
Kết là cốt ở minh đường
Nước giao khí tụ huyệt thường kết tinh
Xuất ở thủy luận.
Ông Cố Dương lại nói rằng:
Minh đường như lòng bàn tay,
Giàu có của cải chứa đầy vựa kho
Ông Cố Dương lại nói rằng:
Minh đường rộng rãi phẳng phiu
Giàu sang đệ nhất muốn lưu luyến hoài.
Ông Tạ nói rằng:
Minh đường bằng phẳng hồ gương
Giàu sang lừng lẫy bốn phương kinh thành.
Ông Mông nói rằng:
Núi quanh nước bọc nhà khoan
Giàu sang vàng bạc muôn ngàn của dư
Ông Cố Phạm nói rằng: Huyệt ở trên núi, minh đường lấy rộng rãi làm chính pháp, bình dương lại cần chỗ đường rộng mà thu hẹp lại. Núi cao ví bằng hẹp, bình dương ví bằng rộng, ấy là tinh thần đất bắc vậy.
Xuất ở thủy luận.
Cho nên người xưa có câu rằng: Hai nước giáp nhau ra chẳng nên ở giữa, trung tâm nước chảy đi mười phần xấu cả mười. Lại nói rằng: Hai nước hợp nhau chảy ra như đổ trước mặt là dấu trốn tránh đào vong chết tuyệt nhiều nghèo hèn.
Xuất ở thủy luận
Cho nên người xưa có nói rằng:
Trở lại mình xem nước chảy về,
Liên miên phát phúc nọ khen chê
Lại nói rằng:
Chưa xem được nước, núi xem chi.
Cốt yếu cần xem hướng nước đi
Có nước không non còn phát đạt
Có non không nước chẳng ra gì.
Ông Cố Lưu nói rằng: Những kẻ nghèo hèn cô độc đói rét là bởi tại vì thoái thần.
Những người giàu sang anh hùng hiển đạt, là chỉ bởi tại vì tiến thần.
Thuận dòng nước chảy xiết đi, thì gọi là thoái thần. Nước chảy ngược lên ứ lại dâng lên trên thì gọi là tiến thần.
Xuất ở phong thủy luận.
 
Bàn luận về thủy khẩu

Minh đường chỗ nước nó chảy ra thì gọi là thủy khẩu, thanh long hay bạch hổ đàng trước huyệt hai tay giao khớp với nhau, giữa có nước chảy. Đó là đệ nhất trùng khẩu. Gần án có sinh ngành thừa được thanh long bạch hổ châu ngành giao khớp vào đó. Ấy là đệ nhị trùng thủy khẩu.
Núi vòng chầu quanh củng cố sau án để hộ trì giao thác hai núi giao khớp. Đó là
đệ tam trùng thủy khẩu.
Cho nên có câu ca rằng:
Không khai thủy khẩu phi công
Khí không chung đúc tất không phát nào
Tam gia ngũ hộ xôn xao
Cũng thành cơ cực biết bao khốn cùng.
Ông Cố Lưu nói rằng:
Cửa then chẳng thấy khóa nhiều
Một đời phong vận chuyển vèo ra hung.
Xuất ở thủy luận
Thảng hoặc gặp địa thế đãng dịch chạy thẳng tuốt đi, thì quyết nhiên đất không có kho xúc tích tụ hội. Cho nên người ta sinh ra nghèo nàn.
Ông Cố Tạ nói rằng: Cốt yếu phải nhận biết những chổ đại địa phát phú quý thì nước chảy như người chức nữ đưa thoi đi đi lại lại cuồn cuộn dệt vải.
Xuất ở thủy luận.
 
[font="times new roman"]Luận về hãn môn

Đại thủy khẩu mà được hai ngọn núi đứng hai bên nơm nớp mọc ngay nơi thiên biểu thì gọi là giữ cửa cho nhà vua. Hai ngọn sách đôi đối chiếu trong mây thì gọi là hoa biểu hãn môn. Hoặc là có núi tam thai, tam tinh, như chữ phẩm, phẩm vị nước tới, nước theo hai sao ở trong ra làm thành hàng thành dòng. Một sao tả hữu hai bên đó gọi là tam diệu hãn môn ấy vậy.
Xuất ở thủy luận
Ông Cố Tạ nói rằng: Đế tòa, hoa biểu hãn môn, thì nhất định sản xuất ra bậc vương hầu công khanh tể tướng.
Xuất ở thủy luận.
Ông Dương Quân Tùng nói rằng:
Cửa then khóa khóa nghìn trùng
Công hầu danh tướng anh hùng ở đây
Xuất ở thủy luận.
[/font]
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0