📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

NGUYỄN HÃNG-TÁC PHẨM 🔒

47 trả lời, 5.367 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-03 03:37:52langdong08>
                                    TRUYỆN XUNG THIÊN VƯONG
 
Theo Cổ Pháp ký ,thần là vị thần thổ địa chùa Kiến Sở. Xưa ,thôn Phù Đổng dựng đền thần thổ địa ở đó .Sau ,các vị sư dựng chuà ở phía tây bắc của đền.
Năm tháng qua đi ,chỗ ấy trở thành một vùng thờ Phật ,rồi dùng đền làm nơi tụng kinh Phật. Nhưng người trong hương vẫn lấy làm đèn thờ thần,tứ thời cúng tế. Khi thiền sư Đa Bảo trùng tu chùa Phật ,sư trụ trì tiếp nối ,thấy thần hưởng huyết thực cho là không được chay tịnh ,định rời đền đi chỗ khác. Bỗng thấy ở cây đa có đề bài thơ như sau :
Phật pháp năng dung bác,
Thính ngô trú tịnh viên.
Nhược phi kỳ chủng giả ,
Nhiệm tử biệt phân thiên.
Dịch:
 Phật pháp bao dung rộng ,
Để ta ở đất chùa.
Nếu không cùng nòi giống ,
Mặc ngài tách rời xa.
Đa Bảo thấy thế sợ hãi không dám nói đén dời chùa đi nữa. Vài hôm sau lại thấy 8  câu kệ như sau :
Phật pháp từ bi đại ,
Vạn thần giai biến hóa ,
Ngô tử năng trì chính
TRi thần sư pháp giới ,
Uy linh phú đại thiên.
Tam giới cộng hồi tuyền.
Tà ma thục cảm tiên.
Vạn kiếp bảo Kỳ Viên.
Dịch :
Phép Phật từ bi lớn ,
Vạn thần đều biến hóa ,
Các người biết giữ chính ,
Thần sư có pháp giới ,
Uy linh trùm đại thiên .
Ba giới chung tuần hoàn.
Tà ma nào dám tranh.
Muôn kiếp giữ Kỳ Viên.
Đa Bảo thấy thế ,liền dựng đàn thụ Ngũ giới cho thần ,rồi dùng trai giới tế thần.
Xưa ,khi Lý Thái Tổ chưa lên ngôi ,rất thân với Đa Bảo ,thường cùng Đa Bảo đi chơi, Đến khi đã lên ngôi ,Bỗng nhớ lại chuyện du chơi ngày  trước ,từng về thăm lại chùa ,nghiêm giọng nói với thần : Phật tử đã biết thoát tục ,còn thần có biết chúc mừng Thiên tử không?"
Bỗng trên cây đa có 4 câu kệ như sau :
Đế đức càn khôn đại ,
U âm mông huệ trạch ,
Uy linh chấn bát diên
ưu ốc bái xung thiên.
Dịch :
Đức vua trùm trời đất ,
Cõi âm hưởng ân huệ ,
Uy linh dội 8 phương
ưu ái phong Xung Thiên .
Vua rất kinh ngạc ,ban tên hiệu cho thần là "Xung Thiên thần vương ",Rồi sai dựng tượng thần. Đến khi quan theo hầu nhập thân ,bày hương án cho Sa môn Cù Vân ,lại thấy 4 câu thơ như sau :
Nhất bát công đức thủy ,
Tuy duyên hóa thế gian ,
Chói lọi sáng lớp lớp ,
Bóng lặn , nhật lên non.
Đa Bảo dâng thơ cho vua. Vua không hiểu ý bài thơ. Sau này ,nhà Lý truyền được 8 (bát) vị thì mất ngôi.Huệ Tông là con thứ 8(bát),húy là Sảm.
Chữ "Sảm" có chữ "Nhật" trên chữ "Sơn"(non) nghiệm với câu "Nhật lên non".
Thần hiển ứng như vậy đó. Đến nay hương hỏa vẫn còn.
0
                                     
0
                                   TRUYỆN THẦN THỔ ĐỊA ĐẰNG CHÂU
 
Theo Sử ký của Đỗ Thiện ,thần vốn là thần thổ địa ĐẰng Châu. Xưa ,vào thời Lê Ngọa Triều ,Công Uẩn nắm giữ vệ binh ,được phong thực ấp ở đất  Đằng.Một hôm ,ông đi chu du tới đây ,bỗng mưa to ,gió lớn nổi lên.liền quay lại hỏi mọi người :"Bờ sông là đền thờ thần nào,có linh nghiệm không?" Người trong thôn trả lời :"Đây là đền cổ thờ thổ thần ".Công Uẩn nghiêm giọng nói :"Nếu đẩy lui được trận gió mưa này ,làm cho bên kia sông tạnh nắng thì mới là linh nghiệm".Một lát ,một nửa sông thì tạnh ,một nửa sông thì mưa.
Có người làm thơ ca ngợi như sau :
Đẹp thay Lý công uy vọng
Thổ thần tinh sảng hiển anh linh
Khiến cho mưa bão không xâm phạm
Một bên trút nước một bên quang.
Công Uẩn nghe nói thế tự nghĩ  mình có uy đức ,đến khi mưu việc lớn ,tới đền cầu khẩn.Đêm nằm mơ thấy thần nhân đến bảo :"Muốn thắng được thắng ,muốn thành được thành.Các nơi đều thuần phục.Thiên hạ được thái bình.Ba năm dân lạc nghiệp ,chủ miếu cũng an ninh". Có người nói với ông :"Đó là điềm lành".
Đến khi Công Uẩn được thiên hạ ,bèn nâng đất Đằng Châu lên thành phủ Thái Bình,phong thổ thần Đằng châu  là "Khai phong Đại vương"  Đến thời Trần Trùng Quang ,phong thêm các mỹ tự:"Khai thiên Trấn quốc ".Đền thờ trong đê ,mỗi khi nước lũ tràn về ,nước sông dâng cao ,người trong thôn thường  thấy ngựa xe ,võng lọng ,lính hầu tuần hành như những người hộ đê. Vì thế ,đê tuy thấp nhưng không xảy ra tai họa. Mãi sau này ,,sông lở gần tới đền ,đến năm Bính Tuất ,niên hiệu Thống Nguyên triều ta ,thì dời đèn lên đê.Nền đã xây ,,rương cột đã dựng ,một đêm ,quan lại và bọn thợ ngủ trên đe ,thấy có người thấy có người tới , mượn cuốc ,xẻng. Lát sau ,chỗ đền thấy mơ hồ thấy  tiếng động ,như đoàn người xếp hàng. Đến sáng đã thấy đền chuyển rời về bên trái đê ba thước. Mọi người đều rất kinh ngạc.Thần linh ứng như vậy đấy. Tri phủ Hoàng Nam Kim có thơ rằng :
Phân thổ châu khư phi hách hách
Khai thiên huyền diệu ngưỡng nguy nguy.
Từ thành dục thức chân linh khí,
Đản khán thần công diệu chuyển đi.
Dịch:
Chia đất bãi hoang thần hiển hách ,
Khai thiên huyền diệu muốn nguy nga ,
Xây xong muốn biết dấu thiên thực,
Xem đó công thần khó chuyển rời.
 
0
                                      TRUYỆN THẦN BẠCH HẠC
 
Theo Giao Châu ký của Triẻụ Công ,thần là vị thổ thần Bạch Hạc ,gọi là Thổ Lệnh. Năm Vĩnh Hưng đời Đường ,Lý Thường Ming là Đô hộ Giao Châu ,thấy dải sông núi nơi đây uy nghi lẫm liệt ,liền cho dựng quán Đại thanh ở đất Bạch Hạc ,dựng ba tượng pháp để thờ. Lại mở riêng một khám ,định khắc chạm tượng thần đặt vào , nhưng chưa biết thần nào linh ứng, bèn thắp hương khấn rằng :"CÁc vị thần ở đây ,nếu hiển linh ,xin mau hiện hình để khắc tượng." Đêm ấy ,Thường Minh mơ thấy hai người dáng vẻ tuấn nhã ,mỗi người đều mang theo quân lính ,khí giới ,gọi nhau đến trước màn trướng. Thường Minh hỏi :"Các ông tên họ là gì ,ai đến trước?" Một người đáp :"Một người là Thổ lệnh ,một người là Thạch Khanh ".Thường Minh muốn hai người thi tài nghệ ,ai thắng sẽ đứng trước. Thạch Khanh nhảy tót sang bờ sông bên kia ,đã thấy Thổ Lệnh ở bên đó rồi. Thạch Khanh lại nhảy sang bờ bên này ,lại thấy Thổ lệnh ở bờ bên này rồi. Thường Minh tỉnh dậy ,liền cho đúc tượng Thổ Lệnh để thờ. Pho tượng thâm nghiêm đáng sợ,người trong Châu kính cẩn thờ làm phúc thần ba sông. Đến thời Trần ,học sĩ Nguyễn Cố và họa sĩ Vương Thành Vụ theo vua đi dẹp giặc lúc khải hoàn đến bái yết thần ,có đề thơ như sau :
Qui long phù ấn quải yêu gian
Công nghiệp hy cầu phó diệu quan
Tiện chất thư sinh vô sở vọng
Chỉ lai từ hạ ,khất bình an.
Dịch:
Qui long bùa ấn dắt bên lưng ,
Công nghiệp trông vào ở tướng quan ,
Chất hèn kẻ sĩ không hy vọng ,
Chỉ tới đền ngài khấn bình an.
Thần được mọi người kính trọng như vậy đó.
0
                                 TRUYỆN THẦN HẬU THỔ
 
Theo Báo Cực truyện ,xưa ,Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm thành trở về đến cửa biển bỗng gặp mưa to ,gió lớn,sóng trào cuồn cuộn , Thuyền không qua được ,phải đậu ở bờ sông.
 Đêm ấy ,vua mơ thấy một người con gái mặc xiêm áo trắng ,trang phục thanh đạm xinh đẹp,bước lên thuyền ngự tâu :" Thiếp là tinh của đất đai nước Nam ,được thác vào khúc gỗ đã lâu rồi. Nay ,gặp vua đi đánh giặc ,xin theo quân vua để lập chiến công ".Nói xong thì đi mất. Vua tỉnh giấc ,nói với tả hữu và các bô lão . Có nhà sư tên là Huệ Sinh nói :" Vị thần này thác vào khúc gỗ thì có thể tìm được ".Thế là vua sai các quân đi tìm ,tình cờ trên đỉnh núi ,phát hiện khúc gỗ đầu tựa hình người ,như đã gặp trong mộng.Vua sai đặt lên đầu thuyền ,thắp hương làm lế. Trong giây lát ,sóng im ,gió lặng ,thuyền không bị sóng đánh nữa. Quân lính có tinh thần hăng hái. Khoảng mười ngày thì tới đất Chiêm , vua tung quân đánh mạnh ,cả phá quân Chiêm.
Vua đem quân khải hoàn ,đến chỗ cũ ,cho dựng đền ,phong thần làm "Thần Hậu Thổ".
Lát sau sóng gió lại cuồn cuộn như xưa. Huệ Sinh tâu :" Đó là thần không muốn ở mãi nơi bờ cát hẻo lánh ,nếu nhân tiện đưa thần về ,thì nhất định sẽ êm đẹp".Vua nghe lới ,sóng lại lặng im.
Về tới kinh sư ,vua sai dựng đền ở hướng Yên Lãng để thờ thần. Đến đời Trần Anh Tông ,vua sai dựng đàn cầu đảo ở dưới đền. Vua nằm mơ thấy một người con gái tới tâu :"Thần Câu Mang đền này có thể làm mưa làm gió ".Vua tỉnh dậy ,sai quan đến tế ở đền. Bỗng ,trời đổ mưa như trút .Vua thấy vậy ,sắc phong thần là "Hậu Thổ Phu nhân" ;thần nhiều phen hiển ứng. Sau ,được phong là "Ứng Thiên hóa dục Hậu Thổ phu nhân".
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-05 11:08:35langdong08>
                                   TRUYỆN ĐẠO HẠNH, MINH KHÔNG
 
     Chùa Thiên Phúc núi Phật Tích thời nhà Lý có nhà sư họ Từ, tên Lộ, Tự Đạo Hạnh. Xưa, cha của Lộ là Vinh, làm quan cho nhà Lý, làm tăng quan Đô Sát, thường sang chơi bên hương Yên Lãng, lấy người con gái họ Tăng, nên làm nhà ở đó. Lộ do bà họ Tăng sinh ra, hồi nhỏ theo thói du hiệp, khảng khái có chí lớn, từng làm bạn với nhà Nho Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa, con hát Phan Ất. Đêm siêng năng đọc sách, ngày thì đá cầu, thổi sáo. Người cha thường trách mắng ông lười nhác. Đêm nọ, người cha nhòm qua khe cửa thấy ánh đèn tàn lụi, sách vở chồng chất. Lộ tựa án mà ngủ, tay vẫn không rời quyển sách; từ đó mới không lo nữa.
   Sau Lộ thi đỗ khoa Bạch Liên (thời Lý Trần có phép thi tăng lục, tức là khoa thi này). Ít lâu sau, cha Lộ có hiềm khích với Diên Thành hầu Tạ Đại Điên bị Đại Điên dùng ta thuật giết hại, vứt xác xuống sông Tô Lịch, xác trôi đến nhà Đại Điên ở cầu Yên Quyết, bỗng dưng đứng dậy, chỉ tay vào nhà, suốt ngày không đi. Người trong nhà sợ hãi, đi báo Đại Điên. Đại Điên tức quát lớn: "Hận không qua được một đêm". Dứt lời thì xác trôi đi.
   Lộ muốn báo thù cho cha, nhưng không nghĩ được kế gì. Một hôm, Đại Điên ra ngoài chơi. Lộ định đón đường đánh. Bỗng nghe trên không có tiếng nói: "Đừng! Đừng!". Lộ sợ, vất gậy mà đi. Lộ định sang nước Ấn Độ tìm phép linh dị để chống lại Đại Điên nhưng giữa đường gặp nhiều gian nguy, hiểm trở nên quay về. Ông đến núi Phật Tích, thành lập Bạch Liên xã để chịu ngũ giới, hàng ngày tụng kinh Di Đà tới mười vạn lần.
   Một hôm, có một người hình dáng kỳ vĩ, tới trước mặt Lộ, nói: " Ta là Trấn Thiên vương, cảm động vì ông tụng kinh công đức, nên đến báo đáp". Lộ biết đạo pháp đã viên mãn, thù cha có thể báo, liền đến cầu Yên Quyết ném gậy trúc xuống dòng sông chảy xiết. Chiếc gậy ngược dòng tới cầu Tây Dương. Lộ vui mừng nói: "Pháp thuật của ta đã hơn Đại Điên rồi!" Thế rồi dùng phép tàng hình, đến thẳng chỗ Đại Điên quát lớn: "Ngươi không nhớ chuyện cũ hay sao?" Đại Điên ngẩng nhìn không trung chẳng thấy gì. Lộ nhân vậy dùng gậy đánh. Đại Điên ốm chết. Từ đó, thù không đợi trời chung đã trả, oán hận được giải trừ, Lộ liền vào rừng sâu tìm chân ấn. Nghe tin Kiều Trí Huyền nổi danh ở Đạo Bình Hóa, Lộ tới nơi bái yết, hỏi về chân tâm, đọc câu kệ rằng:
                                Cửu hỗn phàm trần vị thức kim
                                Bất tri hà xứ thị chân tâm
                                Nguyệt thừa chỉ giáo khai phương tiện
                                Nghĩ hướng Bồ đề doạn khổ tầm.
                        Dịch:
                                Lẫn chốn phàm trần chưa biết vàng,
                                Chẳng biết chỗ nào là chân tâm.
                                Xin ngài chỉ giáo, mở phương tiện,
                                Dứt khổ Bồ đề định hướng tìm.
                        Huyền đáp:
                                Bí quyết chân truyền trị vạn kim
                                Cá trung mãn lộ thị thiền tâm
                                Hà sa cảnh thị Bồ đề đạo
                                Nghĩ hướng Bồ đề mãn vạn tầm.
                         Dịch:
                                Chân truyền bí quyết đáng ngàn vàng
                                Đầu sương trong ấy chính Thiền tâm
                                Hà sa thế giới, Bồ đề đó
                                Muốn tới Bồ đề: Đủ vạn tầm.
     Lộ mơ hồ không hiểu, liền bỏ đi. Lại gặp Pháp Phạm ở hội Sùng Vân. Lộ hỏi: "Thế nào là chân tâm?" Phạm nói: "Khó gì, cái gì chẳng phải là chân tâm". Lộ bừng tỉnh hiểu ra. Lại hỏi: "Thế nào là bảo nhiệm?" Phạm nói: "Đói ăn, khát uống; ngày đi, đêm nghỉ". Lộ từ biệt trở về. Từ đó, y bát tiếp truyền, đi trên đầu gậy, dùng vòi phun nước thành sông, vẫy đuôi hươu để bẻ cành, rồi có chí hướng lướt thuyền từ trên biển trong, thắp đuốc lớn mà trên đường tối. Có chú tiểu hỏi Lộ: "Đứng, đi ,ngồi, nằm, thế nào là tâm Phật?" Lộ đọc bài kệ:
                                 Tác hữu như hà hữu
                                 Hữu không như thủy nguyệt,
                                 Vi không, nhất thiết không.
                                 Vật trước khả không không.
                          Dịch:
                                 Nói có ấy là có,
                                 Có không như trăng nước,
                                 Nói không thảy đều không
                                 Đừng tỏ ấy không không.
     Bấy giờ, vua Lý Nhân Tông không có con trai nối dõi, vào tháng 2 năm Đại Khánh, có người Thanh Hoa dâng biểu nói: "Ngoài bãi cát ven sông có đứa trẻ linh dị ba tuổi, tự xưng là Giác Hoàng, biết tất cả những gì bệ hạ muốn". Vua sai trung sứ đi xem, quả đúng như lời người đó nói, liền rước về Kinh sư, cho ở chùa Báo Thiên. Và định lập làm Thái tử. Các quan khẩn thiết can gián. Họ nói "Nếu có đúng là linh dị xin hãy thác sinh trong cung thì sau mới được". Vua nghe theo, cho tổ chức hội lớn, tiến hành phép thác thai. Lộ nghe tin nói: " Đây hẳn là mưu kế của Đại Điên!" Rồi, bảo chị giả thành người xem hội, nhưng bí mật mang theo bùa ấn, tràng hạt, giấu trên mái nhà. Ba hôm sau, Giác Hoàng bị bênh, nói với người xung quanh: "Khắp thế giới đề chăng lưới sắt, dẫu muốn thác sinh cũng không cách nào làm được". Nói xong thì mất. Đó chính là kế của Đại Điên. Vua ngờ Lộ làm phép hóa giải, sai người lục tìm, quả nhiên tìm thấy kết ấn và tràng hạt ở dưới lầu Viên Khánh, có tên của Lộ. Vua cả giận, triệu tập các quan xét tội của Lộ.
     Khi ấy, Sùng Hiền Hầu trên đường tới Kinh sư, qua núi Phật Tích. Lộ chắn đường nài kêu: "Xin rủ lòng thương cứu cho bần tăng một lần, sau này thác thai báo đáp". Hầu gật đầu. Khi tới Kinh xét xử, mọi người đều nói "Vì bệ hạ không có con nối, nên nó mới thác sinh. Thế mà Lộ lại phù phép hóa giải cũng làm gì được? nay lại như thế thì biết pháp thuật của Lộ đã vượt xa Giác Hoàng. Ngu thần bèn cho rằng ,nếu trị tội Lộ ,chẳng bằng cho nó thác sinh ". Vua cho là phải ,liền lẻn đến nhà Hầu ,vào chỗ phu nhân tắm. Phu nhân nổi giận nói với Hầu :"Trước khi sinh nở phải đến báo trước ". Khi đầy tháng chuyển thai , Hầu sai người báo cho Lộ ,Lộ liền tắm rửa ,thay quần áo ,nói với đồ đệ rằng :"Ta túc duyên chưa hết ,vẫn phải ra ra làm Thiên tử.Nếu thấy thân ta bị tổn hại ,thì ta sẽ chìm xuống biển sâu ,không còn sinh diệt nữa ". Đồ đệ nghe vậy ,khóc lóc rất đau xót .Lộ đọc bài kệ rằng :
Thu lai bất báo nhạn tiên tri
Kham tiếu nhân gian lao tự bi.
Vị nhữ môn sinh truyền trước luận ,
Cổ sư hỷ độ tác kim sư.
Dịch :
Thu về chẳng báo nhạn tiên tri ,
Cười chốn nhân gian tự sầu bi
Vì các môn sinh truyền lập luận
Thầy xưa mấy độ hóa thầy nay.
Nói xong ung dung mà hóa. Phu nhân liền sinh con ,đặt tên là Dương Hoán. Lên ba tuổi ,vua Nhân Tông đem nuôi ở trong cung ,lập làm Thái Tử. Nhân Tông băng ,Dương Hoán lên làm vua ,đó là vua Thần Tông ,là thác sinh của Lộ.
Xưa ,người Đại Hoàng ,phủ Trường An ,họ Nguyễn ,tên là Chí Thành ,tên tự Minh Không ,thuở nhỏ đam mê kinh điển Phật giáo ,thờ Từ Lộ làm Thầy đã hai mươi năm . Lộ khen ông có chí ,đem tâm ấn truyền cho. Khi Lộ nhập tịch ,nói với Chí Thành :"Xưa ,đức Thế Tôn của ta đạo quả viên thành ,vẫn có việc khóa vàng báo đáp. Huống chi đạo pháp nông cạn ,làm sao tránh khỏi. Ta vốn có duyên với người ,khi ấy hãy nhớ cứu giải cho ta ".Đến khi Lộ đã hóa ,Minh Không lại trở về quê cũ ,ở chùa Quốc Thanh ,thảnh thơi theo ý ,không cần ai biết tới.
Bỗng nhiên vua Thần Tông mắc bệnh ,tâm thần phiền loạn ,gầm gào như hổ ,tiếng kêu rất sợ. Rất nhiều thầy thuộc theo lệnh tới chữa bệnh cho vua nhưng không một ai biết ra tay chữa chạy như thế nào. Bấy giờ ,tình cờ ngoài đường có bài đồng dao rằng :"Muốn chữa bệnh Thiên Tử ,phải tìm Nguyễn Minh Không ".
Triều đình sai người đi tìm được Minh Không ở chùa Quốc Thanh.Minh không xuống thuyền ,định cho lính chèo đò ăn ,liền dem nồi cơm nhỏ ra và nói :"Bần tăng ít cơm e không đủ cho các người ".Nhưng cả bọn ăn no vẫn không hết cơm. Minh Không lại nói :"Các người tạm nghỉ một lát ,chờ nước triều lên rồi sẽ đi".Mọi người nghe theo. Khi khởi hành ,chỉ trong chốc lát thuyền đã tới kinh rồi. Ai nấy đều rất đỗi kinh ngạc  triều đình sai sứ giả đưa Minh Không vào yết kiến vua ,Minh Không cầm cây đinh lớn dài 5-6 tấc đống vào cột điện ,nghiêm giọng nói :"Ai nhổ được chiếc đinh này ,mới chữa được bệnh cho hoàng thượng ". Cứ thế ,nhắc lại ba lần ,không ai dám lên tiếng . Thế là ông dùng tay trái nhổ đinh ra trước con mắt kinh ngạc của nhiều người. Khi yết vua ,ông nghiêm giọng nói :"Đại trượng phu làm vị Thiên Tử cao quí ,có cả bốn biển giàu sang mà phát chứng điên loạn thế này ư?" Vua giật mìỉn run sợ. Minh Không dùng chảo lớn đun nước sôi sùng sục ,dùng tay quấy mấy bận ,rồi múc tắm khắp người cho vua ,ít lâu sau thì vua khỏi bệnh. Vua bèn phong Minh Không làm Sa  môn Quốc sư để khen thưởng ông. Đến năm Thái Bình thứ 2 thì ông nhập diệt ,thọ 76 tuổi.
 
Chú thích :
(1)Nguyễn Chí Thanh nhận làm em Lộ ,sau ra am quán Quốc Thanh ,rồi lại trở về Gia Viễn ,Ninh Bình.
(2) Nguyễn Chí Thanh sinh năm 1085 ,mất năm 1161.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 16:32:43langdong08>
                              TRUYỆN KHỔNG LỘ GIÁC HẢI
 
Năm Gia Khánh ,triều Lý ,có nhà sư họ Dương ,tên chữ là Khổng Lộ ,người Thanh Hải ,nhiều đời làm nghề đánh cá. Khổng Lộ bỏ nghề xuất gia theo Phật.Người đồng hương là Giác Hải làm bạn với ông, đi chơi chùa Hà Trạch(1) rồi ở lại đó.
Hai người mặc áo đỏ ,đi guốc gỗ ,quên mọi việc ngoài thân ,theo các sư sớm khuya là bối ,cầu kinh ,chuyên tâm thần định ,tâm thần thanh thản ,nhận được chân ấn đại giám. Khi thì làm vũ khách (2) ,lúc thì làm mao tiên (3),mong được lên cõi Phật. Rồi hai ông lại làm chùa nơi huyện mình ,thành một ổ mây trắng diệu kỳ để trụ trì ở đó.
Bấy giờ, có một thị giả tên là Bạch Vân nói :"Từ khi tôi tới đây ,chưa được chỉ cho tâm yếu" ,rồi kính trình một bài kệ như sau :
Đoàn luyện tâm thần thủy đắc thanh
Sâm sâm trực cán dối thiên đình
Hữu nhân lai vấn "không không pháp".
Thân tọa bình biên :ảnh tập hình.
Dịch :
Rèn luyện tâm thần mới được thanh.
Vút cao chọc thẳng tới thiên đình
Có người tới hỏi về Phật pháp ,
Thân ở bên rèm ,bóng lẫn hình.
Như vậy là có nghĩa gì?
Khổng Lộ cảnh tỉnh cho thị giả, nói :"Người từ núi tới ,ta sẽ tiếp người ,Người từ biển tới ,ta sẽ nhận người,ở đâu mà chẳng cùng tam yếu với người ".Rồi hà hà cười lớn. Ngày mồng 5 tháng 3 năm Quí Hợi ,niên hiệu Đại Khánh thứ 10 (4) ngài thuận tịch (5) Đồ đệ thu xà lỵ ,chôn ở cổng chùa.
Trước kia Giác Hải thích câu cá ,thường trôi nổi chốn giang hồ. Đến năm 25 tuổi ,mới bỏ cần câu theo về cửa Phật , tu ở chùa Hà Trạch ,cùng nối việc dầu đèn với Khổng Lộ, sau là người nối Phật pháp của Khổng Lộ. Sau ngài lại trở về chùa Diên Phúc ,tiêu dao tự vui ,không cầu cạnh người khác.Những gì trong chùa có ,ngài tùy thời sử dụng ,làm công cụ tu hành. Bấy giờ lý Nhân Tông cùng Thông Huyền vào núi Liên cốt ,ngồi trên tảng đá lạnh. Bỗng có một đôi Thạch sùng nhìn nhau kêu ,tiếng kêu rất đáng ghét.Vua sai Huyền bắt quyết ,Huyền khấn thầm ,một con rơi xuống ,vua cười bảo Giác Hải :"Để một con cho ông ".Giác Hải chăm chú nhìn ,một lát ,con còn lại cũng rơi xuống. Vua lấy làm lạ ,làm thơ ca ngợi như sau :
Giác Hải tâm như hải
Thông huyền đạo diệc huyền ,
Thần thông năng biến hóa ,
Nhất Phật nhất thần tiên.
Dịch :
Giác Hải lòng như biển ,
Thông huyền đạo rất huyền.
Thần thông lại biến hóa ,
Một Phật ,một thần tiên.
Từ đó ,nổi danh thiên hạ ,các nhà sư đều hâm mộ ngài. Đến triều Thần Tông , vua nhiều lần cho mời ,nhưng ông không tới. Có người hỏi :"Phật với chúng sinh ,ai là chủ ,ai là khách?" Ngài bèn đề một bài kệ như sau :
Nhất giác nhữ đầu bạc ,
Báo nhĩ giả tác hại ,
Nhược vấn Phật cảnh giới
Long môn phùng điểm đầu.
Dịch :
Vua biết anh đầu bạc ,
Người báo anh gây hại ,
Nếu hỏi cảnh giới Phật ,
long môn trán chấm trắng.
Khi lâm chung ,ngài để  lại bài kệ cho đồ đệ sau :

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì ,
Hoa điệp tu canh thị ứng kỳ
Hoa điệp giai lai tri hữu liếp
Mạc tương hoa điệp hướng tâm trì (6)
Dịch :
Xuân sang hoa bướm biết xem thời
Hoa bướm thay nhau để ứng kỳ
Hoa bướm đều về là có kiếp
Chớ đem hoa bướm giữ trong tim.
Đêm ấy có ngôi sao rơi xuống phìa đông nhà Đại Bảo.
Đến sáng ,ngài ngồi ngay ngắn nhập tịch ,đến nay người ta vẫn còn nghe danh ngài.

(1) Thuộc huyên Hiệp Hòa ,Bắc Giang
(2) Vũ khác :đạo sĩ
(3) Niên hiệu Đại Khánh thứ 10 là năm 1323,năm quí hợi.
(5) Thuận tịch là chết.
(6) Đây là bài thất ngôn tuyệt cú theo lối "song điệp"(có hai chữ lập lại là hoa điệp)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-07 14:51:28langdong08>
                                         TRUYỆN MAN NƯƠNG

Xưa ,vào thời Sĩ Nhiếp ở phía nam thành Luy Lâu có ngôi chùa tên là Phúc Nghiêm. Chùa có một vị sư tên là Già Đồ Lê từ phương Tây tới trụ trì ,biết làm phép độc cước ,dân chúng rất kinh sợ ,đua nhau vào cửa tuệ rất đông ,trong số đó có Man Nương. Hàng ngày vào hai buổi sớm ,tối nàng vào chùa lo việc bếp núc. Một hôm ,sư giảng kinh đến nửa đêm mới xong ,mọi người ai nấy đều về nhà mình ,chỉ sư là trở vệ phương trượng. Bấy giờ ,man nương đang ngủ say ,quên hết mọi chuyện. Nhà sư gõ cửa ,gọi mãi vẫn không dậy,bèn bước qua người nàng. Man Nương cảm thấy tim mình lay động, rồi có thai. Mấy tháng sau thì nét mặt lộ vẻ hổ thẹn ,như không có nơi dung thứ ,nhà sư cũng cảm thấy nhục vì chuyện đó. hai người liền bỏ chùa ,mỗi người đi một nơi.
Man nương đến chỗ ngã ba sông đầu nguồn ,thấy bên trong có ngôi chùa ,liền xin ở lại đó ,đầy tháng sinh được đứa con gái ,lại trở về tìm nhà sư để trả con. Nhà sư tới chỗ cây đa ngã ba đường ,đem con gửi vào trong cây và nói :"Gửi phật tử cho người ,người hãy che giấu giùm".Cây liền mở lòng ra ,sư đặt đứa  trẻ vào, cây lại khép liền như cũ. Man Nương từ biệt ra đi. Gặp nhà sư ở chùa khác ,sư cho một chiếc gậy ,dặn rằng :"Tặng nàng chiếc gậy này ,đem về ,năm nào hạn hán dựng chiếc gậy này lên thì nhất định sẽ có nước, có thể cứu được nạn khô hạn ".
Man Nương lại trở về chùa Phúc Nghiêm ,mỗi khi gặp hạn lại cắm chiếc gậy ấy xuống đất để làm phép bố thí. Đến khi Man Nương hơn 80 tuổi ,gặp tháng thu ,nước sông lên cao ,cây đa bị lở chảy theo dòng đến bên bến trước cổng  chùa ,luẩn quẩn không trôi đi nữa. Người ta tranh nhau tới cưa chặt,nhưng dao búa gãy hết. Mọi người chung sức kéo cây lên bờ ,mà cây vẫn bất động. lúc ấy ,Man Nương xuống bến ,dùng tay kéo cây ,cây chuyển động theo. Mọi người kinh ngạc ,bảo Man nương kéo hẳn cây lên bờ ,cưa làm bốn đoạn để làm tượng phật. Chỉ có đoạn gốc ,chỗ giấu đứa trẻ thì đã hóa thành đá cứng, liền ném xuống sông thì bỗng thấy ánh sáng tỏa ra như cầu vồng ,giây lát sau ,khối đá mới chìm. Người ném khối đá ấy lập tức ngã lăn ra ,lại thuê người đánh cá lặn xuống vực lấy lên đem về ,rồi cho đẽo gỗ làm tượng Phật ,dùng vàng để trang sức. Nhà sư Đỗ Lê tới ,đặt tên cho tượng là Pháp Vân ,Pháp Vũ ,Pháp Lôi ,Pháp Điện ,bốn phương cầu mưa đều rất linh nghiệm ,lại gọi Man Nương là Phật Mẫu. Ngày mồng 8 tháng tư sau đó ,Man Nương mất ,chôn ở cạnh chùa. Người ta lấy ngày này làm ngày sinh của  Phật. Vào ngày ấy ,con trai ,con gái kéo nhau tới chùa trở thành ngày hội lớn. Năm nào cũng tổ chức các trò chơi đùa ,nhảy múa ,ca hát nhộn nhịp vui vẻ,trở thành lễ hội dân gian. Nhân đó ,gọi là hội tắm Phật ,đến nay vẫn còn.
    
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-11 03:06:14langdong08>
                                                 TRUYỆN HÀ Ô LÔI
 
Vào năm Thiệu Hưng ,thời Trần ,có một người họ Đặng ,tên là Sĩ Doanh ,ở hương Ma La. Vợ là người họ Vũ ,có nhan sắc. khi ấy ,Sĩ Doanh vâng mệnh ,đi sứ phương Bắc ,trong hương có vị thần tên là Ma La ,thừa dịp Sĩ Doanh không có nhà ,liền hóa thành người chồng hình dáng ,nói năng rất giống Sĩ Doanh,nửa đêm đội mưa gió tới. Vũ thị lấy làm lạ hỏi :"Chàng đã vâng mệnh đi sứ ,sao lại quay về?" Thần đáp :" Hoàng Thượng đã sai sứ khác đi ,gọi tôi về để hầu cận người. Tôi phải luôn chơi cờ với vua ,không được ra khỏi cửa. Nhưng vì tình nghĩa vợ chồng ,trở về cùng nàng chút niềm ân ái. Ngày mai lại vào chầu ,không dám ở lại lâu ,gà gáy thì đi ".
vũ thị cảm thấy rất đáng ngờ ,có điều không giải nổi. Từ đó ,tối đến ,sớm đi ,tình yêu gắn bó ngày càng sâu sắc. Khi Sĩ Doanh trở về thì nàng đã mang thai được đầy tháng rồi. sĩ Doanh  tâu chuyện đó lên ,Vũ thị phải vào ngục. Đêm ấy ,vua mơ thấy một trưởng lão đến trước bệ rồng tâu rằng :" Tôi là thần Ma La ,lấy vợ đã có thai ,bị Sĩ Doanh tranh đoạt ".
Vua tỉnh dậy ,hôm sau sai ngục quan đưa Vũ thị tới ,xử rằng :" Người vợ trả cho Sĩ doanh ,đứa con trả cho Ma la". Được mấy hôm ,Vũ thị sinh ra một cái bọc đen nhẻm ,bọc nở ra một đứa con trai ,da đen như mực ,nhân thế gọi là Ô Lôi. Vì thần không có họ nên lấy chữ "Hà" làm họ.
Ô Lôi tuy đen ,nhưng da dẻ mỡ màng , đến năm 15 tuổi ,vua gọi vào hầu ,rất được tin yêu.
Một hôm ,Ô Lôi cảm thấy tinh thần sảng khoái ,tuy không biết chữ ,song mẫn cảm hơn người ,tư chương ngâm vịnh ,ngón nào cũng tinh xảo. Mỗi khi ngâm nga bên cầu ,trong quán ,dật hứng dạt dào ,đi rồi nhưng dư âm vẫn văng vẳng không dứt ,ai cũng thích nghe ,nhất là đàn bà con gái càng mê mẩn. Vua có lần đã hỏi :" Ô Lôi nếu phạm tội gian dâm thì bắt bồi thường một trăm quan".
Bấy giờ ,có bà quí nhân quận chúa tôn thất Kim Bồng ,người rất xinh đẹp ,nhan sắc khuynh thành ,nụ cười của bà làm mê hoặc Vương Thành, làm ngả nghiêng Hạ Thái. Năm 23 tuổi góa chồng .Vua muốn cầu hôn mà không được ,mong nhớ khôn nguôi ,liền bảo Ô Lôi :" Ngươi có kế gì đoạt được nàng không?" Ô Lôi đáp :" Thần xin một năm làm kỳ hạn ,nếu không thấy thần tới thì là mưu không thành ,thần đã chết ". Nói đoạn rồi từ biệt ra đi. Ô Lôi cởi bỏ áo quần ,trát bùn lên người ,phơi nắng ,dầm mưa ,trở nên xấu xí. Ô Lôi mặc quần vải rách ,làm mục đồng ,nô lệ đến thẳng nhà quận chúa ,hối lộ cho đứa canh cổng để vào vườn cắt cỏ. Bấy giờ ,đang mùa lê sai hoa ,Ô Lôi cắt hết cho vào sọt gánh đi. Bọn hầu báo cho quận chúa. Quận chúa sai trói lại để hỏi. Ô Lôi nói :" Tôi là người lưu lạc ,không chốn nương thân ,thường làm con hát đi gánh thuê. Hôm qua ,thấy quan coi ngựa ở ngoài cổng thành Nam ,cho tôi 5 tiền ,bảo tôi cắt cỏ cho ngựa ăn ,tôi mừng rỡ đi cắt ,ngỡ là cỏ tốt ,không biết là lê. Nay không có gì để đền ,xin bắt tôi làm nô ,may ra thoát tội ".Quận chúa vẫn cho là không đúng ,bắt trói ở ngoài cửa hơn một tháng. Có một nô tì thấy hắn đói khát ,cho ăn uống. Ô Lôi rất xúc động ,trước mỗi buổi sớm ,ngâm nga ca hát để đáp lại tình cảm của  nàng.Người nghe ai cũng chăm chú ,quên cả xấu xí mà xúc động vì tiếng hát của hắn.
Một hôm ,quận chúa ngồi buồn một mình ,xung quanh không có một bóng người ,bền nổi trận lôi đình ,gọi bọn nô tì tới quở mắng vì tội không chịu hầu hạ ,định dùng tới roi vọt.Bọn nô tì đều khấu đầu tạ tội và thưa :"Chúng tôi không dám bê trễ công việc ,chỉ mải nghe tên nô hát nên nỗi này ,xin cứ đánh mắng ".Quận chúa bỏ qua không bắt tội nữa. Sau ,quận chúa có lần cùng gia nô ngồi sân hóng gió ,ngắm cảnh. Bỗng nghe có tiếng hát ngâm của Ô Lôi phảng phất như giai điệu nhạc trời ,không giọng hát nào trên thế gian sánh nổi. Quận chúa cảm thấy tinh thần thay đổi ,lòng phấp phỏng không yên ,bèn cho gọi Ô Lôi vào hầu,cho ở cạnh ,trở thành đứa hầu thân cận.Quận chúa thường sai Ô Lôi ngâm vịnh để giải nỗi niềm u uất của mình. Ô Lôi càng cố gắng ,ngoan ngoãn hầu hạ quận chúa ,rất chu đáo ,từ nét mặt tới cử chỉ ,không rời xa quận chúa một bước,luôn đón ý quận chúa cốt sao được bà để ý.Có bài ca trào lộng như sau :
Phong hà táp táp tự thổ nang
Xuất u cốc hề ,tiệm phi dương
Hướng lai Lãng Uyển lộng thiều quang
Y thùy mạn tự lập phiên hàng
Nhập Bắc song hề xưng Hy Hoàng ,
Lai Dương Đài hề ngu Tương Vương.
Tống nhân liễu hạ hề nghênh khách hải đường.
Giải cơ uẩn hề ta thử đ
di nương.
Dịch :
Gió sao phần phật ,tự khe hang ,
Ra khỏi động sâu bay bốn phương
Bay sang Lãng Uyển dỡn thiều quang
là ai tự dưng cờ từng hàng?
Vào cửa Bắc chừ xứng Hy Hoàng.
Tới Đài Dương chừ vui Tương Vương.
Đưa người dưới liễu chừ ,đón khác bên hải đường.
Lại ngâm bài thơ giỡn trăng như sau :
Đô thị âm tinh tự ngọc bàn,
Tiến cừ vi vật tối linh đoan.
Đông tây túc bạc vô thường xứ ,
Một kiến doanh hư bất nhất ban
Đô hướng bạch câu quang tá khích ,
Tất dung tố nữ gián cao quan.
Trường tồn bất lão đồng thiên địa ,
Cảm động thời thời bất tạm nhàn.
Dịch :
Tinh âm hết thấy ,như mâm ngọc ,
Phục nàng là vật rất linh thiêng
Đông tây ngơi nghỉ không cố định ,
Thấy rõ đầy vơi chẳng một phường.
Đều mượn bóng câu nhờ khe cửa
Phải cho tố nữ vượt cao quan.
Không già còn mãi cùng trời đất ,
Cảm động luôn luôn chẳng được nhàn.
Tiếng hát trầm bổng ,điệu ngâm du dương ,khiến nhạn ngẩn ngơ bay ,cá bơi hờ hững. Quận chúa rất xúc động ,trong lòng u uất ,vài tháng sau càng thêm phiền muộn. Bọn nô tì vất vả theo hầu thuốc thang ,ban đêm đều ngủ say.Quận chúa gọi không ai tỉnh dậy.Chỉ có Ô Lôi nghe gọi là dậy. Quận chúa biết bệnh đã gấp ,không ngăn được tình cảm ,liền nói nhỏ với Ô Lôi :"Tiếng hát của người làm tinh thần ta ủy mị ,làm ta mệt mỏi nhớ mong nên mới đến nỗi này. Vả lại ,xem những việc đã qua ,khi người vừa cất tiếng hát ở trong sân ,thì gió thu hiu hắt thổi tới ,mây trắng nhởn nhơ bay về ,cảnh vật còn như thế ,huống chi là con người? Nay ta ngỏ lòng thành với người . Ta không để ý tới địa vị cao thấp. Nếu người biết chung lòng cầm sắt ,cùng giải đồng tâm ,thì hẳn không phải phiền thầy thuốc ra tay mà bệnh ta sẽ tự khỏi ". Ô Lôi nói :" Tôi thân chiếc hèn mọn ,một bóng cô đơn ,không có tài ứng xử cương nhu ,không có chí xét cơ tiến thoái ,để đến nỗi phải xông vào trong vườn ,gây ra tai ách ,may mà được tha tội ,cho làm nô lệ ,được tin yêu cho làm chân tay tâm phúc ,nên Ô Lôi được sống nhờ dưới bóng chở che ,không phải lo xoay xở trong cảnh cùng quẫn nữa ,thực là may mắn cho ba kiếp của tôi ! Còn như việc ca hát ,chưa được hợp với tình người ,chỉ làm vui mắt người xem ,làm lạ tai thính giả ,không được như Lý Nhương biết cảm động lòng người ,chẳng dám sánh Quí Niên khéo so tài nghệ. Đâu có hơn người mà dám nói là cậy sở trường của mình. Chẳng ngờ bề trên lắng nghe kẻ dưới ,để đến thế này ,bảo tôi mau lo việc cầu hôn ,vui vẻ suốt đời ,đó là niềm vinh hạnh không ngờ vậy.Nhưng nghĩ tôi không phải là con nhà giàu sang ,chỉ có chiếc thân nghèo hèn . Muốn khôi ngô thiên tư kỳ vĩ ,lại chỉ có đầu chuột ,mắt nai mà sánh đôi thì e không thỏa đáng. Xin cho tôi được từ chối ".
Quận chúa nói :" Ôi ,người lầm rồi !việc động phòng hoa trúc chỉ cốt điều chủ yếu. Kẻ khéo dùng người ,thì lấy sở trường ,bỏ sở đoản. Vả lại ,xem việc đã xảy ra ,xét về tiết hạnh thì Hồ Dương nối lại duyên mới ,xét về giàu sang thì Tiên Dung lấy con trai của người câu cá. Nếu đáng chê cười ,thì các bậc tiền bối có dư chuyện rồi. Huống chi nhân tình chỉ yêu thanh sắc mà thôi. Đem thanh tuyệt thế so với sắc tuyệt thế thì có gì là không được? Sao lại nhiều lời thế?Nếu ngươi quá cố chấp ,ngang nghạnh không nghe ,chậm mấy tháng nữa thì bệnh ta không thể làm gì được nữa ".
Ô Lôi nói :" Vâng ,vâng ,quả như lời dạy !Thực đúng là vững vàng không lay chuyển ,dám đâu không nghe lời !"
Thế là chúa khỏi bệnh.Từ đó về sau ,say sưa kết chặt tâm thần ,mê mẩn tấm thân tài sắc ,biết có Ô Lôi mà không biết có nô tì ,định chia ruộng đất cho Ô Lôi làm nhà cửa vườn tược. Ô Lôi nói :" Tôi vốn không có gia sản ,nay gặp nàng là phúc của tiên trời. Tôi không muốn đất đai nhà cửa ,chỉ mong được đội thử cái mũ đính ngọc Kim Lăng của nàng ,thì dẫu chết cũng có thể nhắm mắt được rồi ".
Quận chúa chả tiếc thứ gì ,đem chia cho Ô Lôi.Ô Lôi được mũ ,bí mật đi gắp vua. Vua cả mừng ,lập tức cho vời quận chúa ,sai Ô Lôi đội mũ đứng hầu ở bên.
Vua hỏi quận chúa :" Có biết Ô Lôi không?" Quận chúa rất hổ thẹn.Từ đó,Ô Lôi vang danh thiên hạ ;con gái nhà Vương hầu làm thơ châm biếm như sau :
Kỷ niệm sương tuyết độc miên cô.
Nhất tiết vô khuy thủ tiết phù .
Tự thị đàn khuynh văn xướng hậu
Sô phu dĩ nhận tác nan phu.
 
mấy năm sương tuyết phủ đơn côi
Trinh tiết bảo toàn ,chẳng để vơi
Từ buổi nghiêng đàn nghe tiếng hát
Chồng hờ đã nhận hẳn chồng tôi.
 
Hiển động nhân hề vưu vật vi ,
Vật tùy nhân động hữu thùy tri
Khán lại thanh sắc vô ưu liệt,
Sắc vị thanh di ,thanh sắc di.
 
Lay động con người vưu vật kia
Vật theo người động có ai hay.
Xem ra thanh sắc không ưu liệt
Sắc vị thanh dời ,thanh sắc dời .
 
Nhan sắc khuynh thành tập điệp phong ,
Đoạn huyền bất khả cánh trùng giao.
Vị hà đồ thủ quân vương kế ,
Quản giáo nô lai giải phát phong.
 
Nhan sắc khuynh thành tụ bướm ong
Đứt  dây chẳng thể gắn cho xong  ,
Cớ sao dùng kế quân vương đó
Hãy bảo nô ra cởi tóc bồng.
Nhưng tiếng hát của Ô Lôi rất được người đời chú ý ,dãu tránh cũng không được. Ô Lôi thường tư thông với con gái Vương Hầu ,nhưng không ai dám giết nó. Một hôm ,Ô Lôi thông dâm với em gái Uy Minh Vương ,bị người nhà bắt được mà chưa dám giết. Minh vương vào triều tâu rằng :" Ô Lôi đang đêm lẻn vào nhà thần ,trắng đen khó phân biệt ,thần lỡ giết nó rồi ,biết làm sao bây giờ?" Vua nói :" Lỡ giết rồi thì không xét ".Vương trở về ,đặt Ô Lôi lên cối đá ,giết chết.Khi sắp chết ,Ô Lôi có bài thơ quốc ngữ như sau :
Hễ hỏi lam kiều sắc dễ ghen.
Một ngày ân ái tả muôn ngàn
Tri âm chốn khác dầu than hỏi ,
Rằng sắc theo nòi Nam nhạc tiên.
Lại nói ,trước đây ,Lã Động Tân nói với Ô Lôi :" Thanh sắc của người ,được mất  ngang nhau".
Đến đây ,lời nói ấy đã linh nghiệm.Sau khi Ô Lôi chết ,thanh âm nhập vào chày đá. Đời sau nghe tiếng chày đá vẫn có cảm xúc.
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-11 06:33:59langdong08>
                            TRUYỆN THẦN CHÂU.
 
Vào thời tiền Ngô ,có người họ Đặng ,tên Quyết ,ở hương kiều Cao ,Hồng châu ,kết bạn với người trong hương là Nguyễn Thiện Xạ. Cả hai đều làm nghề đánh cá. Một hôm ,họ ra biển ,tình cờ trông thấy một vật ,hình dạng như khúc gỗ ,dài độ ba tấc ,màu sắc như trứng chim theo thủy triều dạt tới. Họ nhặt lấy đem về.Đến khi nghe trong khúc gỗ có tiếng nói như hai người đang trò chuyện với nhau ,thì họ hoảng sợ ,lại vứt xuống dòng sông rồi rời thuyền đến bãi khác để nghỉ.
Sau ,hai người mơ thấy có người đến nói :'tôi là con gái của Mỹ Long do Long phi của Đông Hải vương sinh ra. Trước kia ,Mỹ Lương giao hoan với Long Phỉ rồi sinh ra tôi ,lại sợ Đông Hải Vương biết ,cho nên gửi cho các ông trông giữ ,chớ để vật khác chạm phải. Sau này ta trưởng thành nhất địng sẽ ban phước cho, đừng có lo gì khác ". Sau khi tỉnh dậy ,hai người kể lại cho nhau nghe ,rồi quay lại nhìn bờ sông thì thấy vật ấy đã ở trên thuyền. Hai người cảm thấy rất linh dị ,liền trở về nhà . Đến hương Bố Bái ,thì vật ấy bỗng nhảy lên núi. Hai người cho là vật ấy hẳn có ý muốn ở lại ,liền xem khắp xung quanh ,được chỗ cát địa ,cho dựng đền đẽo khúc gỗ làm tượng để thờ thần. Thần rất linh ứng.
Sau Đinh Tiên Hoàng cho người lặn xuống biển tìm châu báu ,đi khắp các cửa biển không được hạt nào. Chỉ có con cháu của Đặng Quyết và Nguyễn Thiện Xạ là tìm được rất nhiều. CÁc quan hỏi nguyên do ,họ trả lời là do cầu xin thần. Các quan về tâu vua ,Vua sai sửa lễ tế thần. Do vậy tìm được rất nhiều hạt châu. Vua lại ban chiếu phong thần là Thần Châu Long Vương" ,vì thần vốn là con của Mỹ Long. Nhưng thần cũng bị tà nhân mê hoặc ,có khi làm hại đến người lương thiện ,đó không phải là đức của thần.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-11 14:55:24langdong08>
                                          TRUYỆN CÁ MA Ở BIỂN ĐÔNG.
 
Thời thượng cổ ,ở phía đông biển lớn có con rắn ma ,dài tới 5-6 chục trượng ,có nhiều chân như chân rết. Khi đi thì mưa gió nổi lên ,lại biết giấu mình để quan sát ,gặp con vật nào thì đớp lấy nuốt chửng ,có người hốt hoảng ẩn không dám ra.
Sau nó chết ,biến thành cá ,sống ở hải đảo. Năm tháng lâu dài ,chúng sinh đẻ rất đông ,biết được tiếng người ,biến hóa thành người ,thích ăn thịt người. Những ai qua lại biển Đông ,đi qua hang cá ,thường bị cá xô đạp làm thuyền lật đắm ,rốt cuộc thành mồi cho cá. Có khi chúng buôn bán với người ,rồi dụ rỗ người vào hang ,bát và ăn thịt. Hễ có thuyền đánh cá tới đó ,cẩn trọng giữ thuyền ,thì chúng xô sóng uy hiếp ,hơi trái ý thì chúng trút giận lên các loài thủy tộc hoặc bị chúng làm hại. Vì vậy ,người ta dồn sức mở con đường khác mà đi ,tránh xa khu vực tanh hôi này. Nhưng vách núi cheo leo ,nhiều hang động ,rừng rậm um tùm kết ổ trùng ,búa rìu không tới ,thực khó ra tay.Chỉ biết khảng khái bi ca ,đứng quanh mà nhìn. Khí ai oán ngút trời ,lời oán hận đầy nội. Có người hỏi trời xanh mà than rằng :
"Than ôi ,là linh trưởng của muôn loài ,mà bị loài có vẩy giết hại. Sóng dào của lầu bóng không thông ,cuồng phong của mắt bão vô định.Lại thêm cáo cầy xạ ảnh ,rồng nhả rãi li. Răng giải lớn dẫn đuôi ngạc dài ,dẫu muốn đào non ,lở bến ,có thể lại qua. Nhưng đá cứng , gỗ bền ,không cách nào thay đổi. Huống chi ,nhân sinh ức vạn . Bổn nghiệp đều siêng ,một việc bỏ không thì nhân tình khó đủ. Hôm nay như vậy ,hẳn là trời giáng họa dân chúng một phương. Sao trầm trọng đến như vậy?"
Than thở rồi trở về. Đêm ấy ,nghe trong núi mơ hồ như có tiếng mõ lòng người huyễn hoặc hồ nghi ,không hiểu là chuyện gì. Có người ngầm tới chỗ bình phong bí mật nhòm vào xem ,thấy nhiều người rất lạ ,có người quạt gió cá chép để xẻ ,có người cầm gươm cầu vòng để đẵn gỗ ,lại có người cưỡi rồng đỏ từ phương nam tới, có người cưỡi long câu từ phương bắc tới ,đều ra oai côn kình hăng hái chẳng ví như dập tổ kiến kia. Chốc lát đã sắp thành một lối đi lớn. Bỗng nghe thấy trong núi có tiếng gà gáy ,thế là mội người đều tản đi cả. Sáng hôm sau tới nhìn thì lối đi mới làm được nửa chừng đã bỏ. Mọi người đều thở than tiếc rẻ mãi không thôi. Mới biết đàn gà thương chúng sinh mà làm ,nhưng lũ cá ma bất mãn hóa làm gà gáy  để lừa chúng ,đến nay vẫn gọi là "Hang Tiên".
Từ đó về sau ,lũ cá đắc ý bầy ra đủ mưu mô khẩu Phật ,tâm xà ,đi khắp núi cao ,biển rộng ,dụ rỗ dân ngu ,gây tai họa ngày càng nặng nề. Dân Man không chịu nổi ,kéo nhau đi gọi Long Quân :"Bố chủ ở đâu ,sao nỡ để cá ma làm hại dân chúng tôi?" Long Quân bỗng nhiên xuất hiện ,mọi người tranh kể lại nỗi khổ cho người nghe. Thế là Long Quấn sai Dương Hầu (tên vị thần  sông )nghiêm lệnh dẹp sóng ,rồi giả làm thuyền buôn khoan thai từ dòng đầu nguồn đi xuống. Cá nghe tiếng ,vội kéo tới ,đội lốt hình cũ dời hang nửa dặm để chờ. Long Quân cầm một người nhử cá ,cá há miệng toan đớp. Long Quân liền ném viên sắt nung đỏ vào miệng cá. Cá bị bỏng ,vô cùng phẫn nộ ,vọt lên ,lao xuống ,thuyền mấy lần suýt bị lật. Long Quân rút thanh kiếm Đằng không chém đứt đuôi cá ,vứt dưới chân núi ,nên gọi là núi Bạch Long Vĩ.Cá quá đau đớn lao xuống đáy hang. Long Quân liền  cho đổ vôi bột xuống ,cá bị sức nóng và vôi nồng tấn công ,chết gần hết. Chỉ có con đầu sỏ lao ra bỏ chạy ,lại bị đuổi chém. Nó lao vào núi ,hóa thành con chó trốn chạy ,bị đuổi theo giết chết nên gọi là núi Đầu Chó ;còn thân trôi vào mạn chài nên gọi là Mạn Cẩu ,vì tục gọi chó là cẩu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-12 11:36:35langdong08>
                                      TRUYỆN CÁO TRẮNG CHÍN ĐUÔI
 
Thời thượng cổ ,thành Thăng long còn là một vùng nhà quê,có ngọn núi nhỏphía đông men theo sông Lô ,gối đầu lên sông tô Lịch ,nam bắc xóm làng đều liền nhau. trên núi có một hang nhỏ ,,vừa sâu vừa tối thăm thẳm.Cáo trắng chín đuôi ở trong hang đẻ được chín con. Đó là tinh cáo ngàn tuổi ,hay làm yêu ma ,biến hóa khôn lường ,nhiều lần gây hại cho dân lành. Có khi hóa thành người ,mặc áo da dê trắng ,gặp khách tìm xuân thì dỡn dụ về ,giấu ở trong hang.
Có khi mặc áo lông hạc trắng theo man Bạc y ca hát rồi dụ họ về. tiếng nói của nó cứ liên tục líu lo không dứt ,sắc mặt nó khó coi như con rùa thò ra khỏi mai. khi thì ngâm bài ca thượng Sơn như sau:
Núi mịt mù ,rừng lớp lớp
lận đận cùng nhau có yên đâu?
Voi có ngà chừ, khó sống lâu
Chim có cánh chừ,dễ chết sầu
Đạo sĩ dê chừ ,hổ cứng đầu.
bị cung tên ,từng thét gào.
lung tung bất định giữa hang sâu.
Ai hay biết ta áo trắng đây?
Khi thì ca bài ca giỡn trăng như sau :
Từ theo Dương cốc đến kim khu
Rực rỡ dư quang tiếc bóng câu
Nghê thương điệu múa Tố Nga qua.
Xin hỏi dương đài có như chưa.
Ai bảo Hằng Nga chẳng lấy chồng?
Đỗ quyên sao lại mãi kêu hô?
Ai bảo Hằng Nga tít tắp xa
Mới được trở về vị đại Nho.
Nhạc trong ư?
Nhạc đục ư?
Tự tình tự liệu chớ nằm trơ.
Điệu hát ,giọng ngâm của nó du dương như nhành liễu rủ khiến lòng người say mê ,phiêu diêu trên dòng sông yêu ,đắm chìm dưới đáy bể dục.
Khi ấy ,Hùng Vương sớm đã biết chuyện đó ,sai Hùng tướng đem quân đi tiễu trừ thì nó biến hóa đủ muôn nghìn cách ,lưới chăng ,tên bắn đều không được ,cả nước không ai trị được nó.Vương cho họp các quan bàn kế sách.Lạc Hầu nói :" Nó là yêu thú mà định dùng sức người ,chế ngự thì khác gì chjo rắn chạy ra biển ,thả muỗi về rừng ,làm sao thắng được? Chi bằng tâu với Long Quân để Ngài trổ oai linh diệt trừ nó,nhất định sẽ có hiệu quả nhanh chóng ".
Vương cho là phải ,thế là cho soạn biểt văn ,cho văn nhân dâng lên Long Quân. Lời bài biểu văn như sau :
Cúi nghĩ : Quả trứng chia lưỡng nghi ,loài vật từ đây đông đúc.Chân ngao định ra cực ,Nam Bắc đều có biên cương.Vua biết làm thiện chính trăm điều ,chẳng chi bằng lo cho dân canh cánh. Thần thiết nghĩ : nước Việt ta buổi đầu dựng nước ,thế hệ sinh ra tự huy hoàng &gt; Kính nghĩ :Buổi đầu Thánh tổ tiếp bướpc tới đất Kinh, sáng tạo cơ đồ lớn và cai trị đất nước.
Sau khi Hoàng Khảo kế thừa cơ nghiệp ,nắm đại tượng để giữ quyền. Đến khi thần lên nối ngôi ,bờ cõi thì giữ vững bờ cõi của tổ tông ,nhân dân thì bỏa vệ nhân dân của tổ tông ,trong ngoài yên lặng.
Thế mà nay loài cáo yêu nghiệt ,càn rỡ gây yêu khí. Hô gió ,gọi mưa ,giở trò gian để lừa gạt kẻ yếu. Kên rừng xuống biển ,mượn oai hùm mà mê hoặc chúng sinh. Tính hoang dâm vô độ chẳng chừa ,thói tham lam thú vật càng quá. Tha cho thì cùng yêu ma tác quái ,theo lối gà xưa. Đánh nó thì ẩn tíc dấu hình ,trổ mưu con gái.Săn bắt thì sức người không nổi ;diệt trừ phải dựa vào uy trời. Xin soi xét cho cho tấm lòng kiến cỏ ,rủ lòng cho phép. Sai tướng nanh vuốt ,tỏ rõ anh uy.Đem đại quân giáp trụ ,với khí thế căng buồm lướt sóng ,diệt hết vết tích núi xanh , quét sạch hang ổ yêu nghiệt ,làm yên lòng muôn dân ,vững vàng như xưa. Thế nước tăng thêm bền vững ,thiên hạ hưởng phúc thái bình. Thực đội ơn Thánh ,ơn Trời khôn xiết.Kính cẩn dâng biểu tâu trình ".
Long Quân nhận biểu ,đọc xong quát lớn :
"Nó chỉ như loài lừa ,giống chuột có mưu kế gì mà dám giở trò yêu thuật ,lòng lang dạ sói gây loạn hại dân như thế? Làm sao có thể ngồi nhìn không cứu?"
Rồi nổi gió ,dâng nước ,xô sóng ,đánh phá hang núi thành một đầm nước lớn ,giết cả cáo lớn ,cáo con ,cáo chết nổi xác lên mặt đầm ,nên gọi là đầm xác cáo ,tức Hồ Tây ngày nay. Hồ này vừa sâu ,vừa rộng ,chu vi đến hơn một dặm. Hùng Vương cho dựng đền ,quán ở đó để trấn yểm ,tức chùa Thiên Viên và chùa Quán La. Phía tây hồ ,dân quê cư trú ,đến nay vẫn gọi là Làng Hồ. Cái hang vẫn còn đó ,nay gọi là Hang Cáo (1)
 
(1) :Sách của Vũ Quỳnh chép là Làng Cáo ,xưa thuộc tổng Cổ Nhuế (bây giờ là phường Xuân đỉnh ,quận Từ Liêm ,Hà Nội ).Hang cáo vốn là Lỗ Khước thôn ,nay đã thành Hồ Tây.

0
                                TRUYỆN QUỈ XƯƠNG CUỒNG
 
Thời thượng cổ ,đất Phong Châu có một cây cổ thụ lớn gọi là cây Chiên đàn (gỗ nó thơm) cao hơn ngàn trượng ,cành lá um tùm phủ quanh đến mấy chục dặm ,có một đôi hạc trắng (bạch hạc) sống ở trên cây ,nên người ta gọi đất ấy là "đất  Bạch hạc ". Cái cây ấy lâu năm khô chết ,hóa thành yêu quỉ ,dũng mãnh đầy uy lực ,hay làm hại dân lành. Kinh Dương vương dùng thần thuật thắng nó ,yêu khí mới bớt  ,nhưng vẫn xuất hiện ở đây đó, rất khó lường trứơc. Dân quanh vùng kinh sợ ,gọi nó là quỉ điên (Xương Cuồng Quỉ),dựng đền thờ nó. Cứ vào dịp tất niên ,phải dùng người sống để tế nó ,thì dân mới được yên.
phía tây nam nước ta ,giáp nước di hầu ,Hùng Vương sai man nước Bà Sa (nay là đất Diễn Châu ) giao thiệp với nước ấy ,bí mật cướp lấy con cái nước họ đem về nộp để cúng cho quỉ điên; năm nào cũng phải thế ,không ai làm gì được. Đến Tần Thủy Hoàng ,dùng Nhâm Ngao làm Long Biên lệnh :Ngao không tế bằng người sống ,liền lâm bạo bệnh mà chết. Từ đó ,người ta càng khiếp sợ. Đến thời vua Đinh Tiên Hoàng ,có người nước Tống tên là Văn Du say mê kinh Phật  không để tâm tới sản nghiệp ,thường chu du khắp nơi ,thông hiểu tiếng nói của các Di. khi sang nước ta ,ông đã ngoại 80 tuổi ,Tiên Hoàng nghe tin ông có thuật lạ ,liền dùng lễ thầy trò tiếp đãi ,muốn ông trừ quỉ điên. Ông nói:'Đúng là khó dùng pháp lực để chế ngự nó. tôi không giỏi dùng mưu ,khó bề thắng được nó. Xin dùng thuật để lừa nó ".
Thuật 'kỵ"(cưỡi), có "can' (sào), có "điếu" (câu) ,có 'hiểm" thường tổ chức vào dịp cuối năm để dâng hiến cho các thần ,cũng có thể dùng để lừa quỉ điên.
Kỵ ,là cưỡi ngựa phi chạy ,lựa mình nhặt lấy vật rơi ở dưới đất.
Can ,là nằm ngửa dùng chân nâng cây gậy để người khác quất đầu gậy mà không đổ.
Điếu ,là làm cầu phi vân ,cao 12 thước ,bện đay làm chão ,dài 26 thước ,buộc hai đầu chôn dưới đất ,mắc lên cây ,đi lại chạy nhảy ,treo mình cúi ngửa ,(trên dây) mà không rơi xuống.
hiểm ,là vỗ tay nhảy nhót ,hoan hô gào thét, lăn đi lật lại ,tiến lui lên xuống.
Những trò này thường có chiêng trống ,huyên náo hỗn loạn ,có ngâm vịnh ,nhảy múa để góp vui . Trong nước bày cuộc vui náo nhiệt thờ phụng ,quỉ điên vui vẻ hưởng lễ ,không để ý đến các việc khác.Văn Du lừa lúc nó không đề phòng ,đọc câu quyết thần bí ,rồi vung kiếm giết nó. Bộ hạ của nó chạy tan tác cả.Từ đó ,yêu khí hết ,dân chúng yên ổn làm ăn.
0
                                        TRUYỆN DẠ XOA VƯƠNG
 
Thời thượng cổ ,biên giới nứơc ta có nước Sa Nghiêm ,vương nứơc ấy là Dạ xoa ,lại có tên là Trường Ô Vương. Phía bắc nước ấy giáp nước Hồ Tôn Tinh.
thái tử nước Hồ Tôn Tinh tên là Trưng tư ,có người vợ đẹp ,tên là Bạch Tịnh nương. Nàng khéo biết trang điểm ,lại có nhan sắc ,nên hoa nhìn phải thẹn , bướm lượn theo người , thực là xinh đẹp đáng yêu.
Dạ Xoa vương nghe tin ,muốn cướp nàng làm vợ ,liền bí mật đem quân đánh lén nước Hồ Tôn Tinh ,cướp Bạch Tịnh nương đem về. Trưng Tư cả giận , liền đem quân nước Di hầu rời núi lấp biển cho thành cả đất bằng ,rồi dùng quân đánh phá nước Sa Nghiêm ,giết Dạ Xoa vương và đem Bạch Tịnh nương về nước.
Hồ Tôn Tinh là tinh khỉ vượn (di hầu), vương nứơc ấy là Thập Xa Sinh ,nay là nước chiêm Thành.
..............
Theo GS.TSKH phan Đăng nhật ,sách Lĩnh nam chích quái là tác phẩm ghi chép sử thi cổ nhất ở Việt nam ,trong đó có truyện Dạ Thoa Vương (bản do GS. Đinh Gia Khánh chủ biên Nxb"Văn học'in lần thứ 2 ,Hà nội 1990) Truyện Dạ Thoa Vương ( Nguyễn Hãng chép là Dạ Xoa Vương) chính là sự tóm tắt hết sức sơ lược sử thi Ấn Độ Raymayana vốn dài 10500 khổ thơ ,viết trên lá cọ ,in thành sách dày 6000 trang. Dạ Thoa Vương là vua quỉ ,người Ấn Độ gọi là Dạ Xoa.
 
 
                                     HẾT QUYỂN I
                                     **********
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-15 07:35:55langdong08>
                       NGUYỄN HÃNG -MỘT CAO SĨ
                        
                              MỘT DANH NHÂN VĂN HỌC
                                              ******
                              Đặng Hữu Phát ( 1920-2000)
 
Tôi ,từ trên dưới 10 tuổi cho đến bây giờ từng nghe các bậc cha anh kể nhiều về Nguyễn Hãng ,"Người sĩ thanh cao" ,quê làng dòng ,xã Xuân Lũng như lê Quí Đôn đã viết trong Kiến văn tiểu lục. với lòng tự hào về quê hương được đánh giá là nơi văn hiến đất trung du ,cùng với niềm say mê văn học và sự kính trọng một tác giả quê nhà , tôi đã nhiều lần tìm hiểu cuộc đời ông qua con cháu họ Nguyễn Mả Nội hay còn gọi là họ quan Dật Sĩ. Tôi tự thấy có nhiệm vụ phải khảo luận về ông để giúp cho việc tìm hiểu về một danh nhân văn học của quê nhà được tương đối chính xác và thống nhất ; mà chắc rằng vị trí của ông sẽ được khẳng định mãi mãi trong văn học.
NGUỒN GỐC GIA ĐÌNH :
Theo ông Nguyễn Văn hạnh ,bạn học của tôi từ thuở lớp Dự bị (lớp hai) thời Pháp thuộc ,là cháu thế hệ thứ 18 của Nguyễn Hãng thì Ông không phải là gốc hoặc nhiều đời ở làng Dòng. Gia đình Cụ thân sinh ra Nguyễn Hãng từ dưới xuôi lên...Cũng không được truyền là từ tỉnh ,huyện nào. Chỉ biết là vợ chồng con cái bồng bế nhau lên đến đầu làng Xuân lũng rồi trú ngụ ở đó.
Có hai khả năng về vị trí xã hội của gia đình. Thứ nhất :Đó là một thầy đồ hay chữ ,qua nhiều lần long đong về khoa cử đến khi đã luống tuổi ,việc lều chõng đã  mất hết hy vọng. Mở trường dưới xuôi thì mật ít ruồi nhiều ,nên phải đưa vợ con lên ngược tìm chỗ tư lương dễ dàng hơn,từ đó xây dựng tương lai. Hai là: Sau vụ án Lệ Chi viên ,gương Nguyễn Trãi còn sờ sờ ra đó ,là gia đình công thần ,tất nhiên là có liên hệ ,nếu không cao chạy xa bay ,họa chu di ấp xuống thì nòi giống cũng không còn. Cả hai khả năng ấy đều chứng tỏ rằng gia đình Nguyễn Hãng không phải loại gia đình đi tha phương cầu thực đơn thuần.
Có lẽ ,trên đường hành hương đến Xuân Lũng ,nhận thấy phong cảnh ,đất lành ,hỏi thăm lại biết là nơi văn hiến ,có tiếng vùng đất Tổ nên đã dừng chân. Nhưng không may chưa được bao lâu ,ông chồng lại mất . Mẹ góa con côi không nơi nương tựa ,phải mở ngôi hàng bán nước ở ven đê đầu làng sinh sống.
Thuở ấy ,đê tả ngạn sông Thao chắc ít người qua lại ,vì không phải là quan lộ ,cho nên cuộc sống của hai mẹ con chẳng nhẹ nhõm gì. Bình thường ra thì Nguyễn Hãng ,người con duy nhất ấy dễ trở thành đứa trẻ chăn trâu ,cắt cỏ cho nhà giàu ,hoặc ít nhất cũng phải đâm mặt vào rừng sâu hái củi ra bán chợ Dòng kiếm sống.Thế mà bà mẹ lại chọn con đường cho con đi học chứ không sa vào miếng cơm manh áo bình thường ! Với việc làm ấy ,đủ thấy bà mẹ là con nhà dòng dõi.
Không hiểu vì lý do gì tên hai Cụ thân sinh ra Nguyễn Hãng cũng không được truyền lại? Đến nay ,mộ ông Cụ vẫn còn ở xứ đồng Thần ,sau đình làng Sơn Tường hạ ,xã Xuân Huy. Ngày giỗ Cụ là ngày 14 tháng giêng âm lịch.
LẬP THÂN :
Thực ra ,con đường phấn đấu của Nguyễn Hãng không hề thuận buồm xuôi gió. Chưa nói đến ý thức và nhận thức ,ngay con đường đi lại hàng ngày ,nếu không có chí lập thân kiên cường thì cũng không dễ gì vượt qua được.
Vùng ấy có câu :"Nhất Dặm Pheo nhì Queo Dòng ". Đó là hai con đường gian khổ có tiếng. Dăm Pheo ở trên thị xã Phú Thọ ,còn Queo Dòng là quãng đường đê mà cậu bé Nguyễn Hãng phải đi hàng ngày đến trường học. Độ dài quãng ấy chỉ hơn một cây số ,mùa hạ thì nắng rát vì bờ đê không có cây to bóng mát,mùa đông thì gió lạnh hun hút từ những cánh đồng bát ngát -đồng Chiền ,đồng Đen của làng Dòng và đồng Sỏi của làng Thạch Sơn thổi tới. Lại cộng thêm gần cây số đường cái Mả Giai thường xuyên lầy lội nối từ đê vào trường xóm Hống. Nhà lại không đủ ăn ,đủ mặc. Tuy thế ,hoàn cảnh mới cũng cũng có những nguồn động viên mới tạo nên những ấn tượng tốt ngày càng sâu mạnh trong tâm hồn Nguyễn Hãng.
Trước hết là về vị trí xã hội của trường xóm Hống ,ngôi trường vừa mở với tư cách là trường qui mô đầu tiên của làng Dòng. Trong khoa thi năm Kỷ Sửu (1469) ,niên hiệu Quang Thuận ,đời Lê Thánh Tông , con trai thầy đã chiếm bảng vàng tiến sĩ và trở thành Tả thị lang bộ Lại -quan nghè Nguyễn Doãn Cung.
Thứ hai ,cùng khoa thi với Nguyễn Hãng có một bạn đồng môn,con tiến sĩ Nguyễn Doãn Cung ,tuy kém mấy tuổi ,nhưng về học lực ngang thưng ,trên đường theo đòi sách đèn có thêm bạn cùng nhau kinh sử. Với trí thông minh quán thế , Nguyễn Hãng đã lọt vào mắt xanh của gia đình thầy và chẳng bao lâu trở thành con dể quan Tả Lại.
Khoa thi Hương năm Bính tí ,niên hiệu Hồng Thuận ,đời Lê Tương Dực (1516) ,
cả anh dể lẫn em vợ đều trúng cử. Có hai điểm khác :Cuốn Hợp tuyển văn thơ Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XVII viết là "Hương cống ";mà Kiến văn tiểu lục lại viết là "Hương tiến". Trong khi các sách sử học và cuốn Niên biểu Việt Nam ,năm cuối cùng của đời Lê Tương Dực (1516) mà Hợp tuyển thơ văn...lại viết là 1515 (khác 1 năm).
HÀNH ĐẠO :
Việc học hành ,con đường lập thân thế là thêm một bước rực rỡ.  Nhưng chính những kiến thức mà ông thu nhận được đã nâng cao nhận thức của ông ,đồng thời lại làm ông thêm thêm hiểu cuộc đời và chế độ một cách sâu sắc;từ đó mà có những suy nghĩ độc lập cách đi vào  cuộc sống. ơn đức mấy triều vua từ khi ông ra đời ,đến nay có gì phải trả? Tương lai rồi sẽ ra sao và triển vọng như thế nào? Với cách nhìn sâu sắc ,trước khi vào thi ,trong những ngày ở Thăng Long ,qua các sĩ tử đồng khoa ,qua nhân dân, hẳn ông đã nhận thức được thực trạng của tình hình hơn là khi ở quê hương Xuân Lũng ,một địa danh cách Kinh thành những mấy ngày đường cuốc bộ!
Uy Mục ,rồi Tương Dực đều là những triều vua thối nát. Nhân dân khốn cùng ,không ngớt oán thán. Trầm trọng hơn nữa ,đó là âm mưu thoán đoạt vương quyền của Mạc Đăng Dung. Ông càng không thể quên những khổ đau mà gia đình ông đã phải nếm trải. Trước tình thế ấy ,ông buộc phải có thái độ ứng xử thật đúng với con người và cuộc đời ông. Với nhận thức tư tưởng và đạo lý ông học được thì vương triều chính thống vẫn là Lê ,do đó ,tốt và đúng hơn cả là...chờ. Với một kẻ sĩ hết lòng vì nước thời phong kiến ,vương triều chính thống với tổ quốc là một khái niệm đồng nhất -thì dù phải hy sinh tới tính mạng cũng không từ. Một là ,khi có vua mới khả thủ thì ra phù giúp. Hai là ,khi triều chính khác lên thì tùy tình hình mà xuất hay xử. Còn trước mặt là từ chối khéo léo : không vào Quốc tử Giám ! Sự kiện diễn ra như vậy ,chứ không phải như Kiến văn tiểu lục chép: "Có người khuyên ra làm quan ,Nguyễn Hãng chỉ cười mà không đáp lại".
NẠI HIÊN :
Như vậy là sau khi đỗ "Hương Tiến" ,Nguyễn Hãng đẫ trở về quê hương.Kiến văn tiểu lục chép :Sau vì nhà Mạc cướp ngôi vua nên không đi thi nữa" là không chính xác.Vì Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527 ,còn ông thì đõ Hương tiến năm 1516 ,tức là 11 năm trước.
Lần này ,Nguyễn Hãng về Xuân Lũng ,khác với cha mẹ là lên Xuân Lũng. Ông trở về gia đình riêng lúc này đã dọn vào ở xóm Chùa với học vị cử nhân. Bà vợ ông ,con quan Tả Lại chắc cũng được hưởng lộc "Võng anh đi trước võng nàng". Thật bõ cái công nuôi chồng sớm khuya đèn sách.
Quê hương ông ,làng Xuân lũng ,một làng trung du tươi đẹp ,mỗi xóm là một giang sơn riêng của dòng họ. Có núi ,tuy không cao nhưng mỗi sáng lên đỉnh núi nhìn về phía đông ,từ chân núi Tổ Hùng Vương ,mặt trời dần dần nhô lên ,tỏa sáng như nhắc nhở mọi người là mình có vinh dự được ở ngay nơi phát tích của giống nòi Hồng Lạc. Sau lưng là sông Thao lượn lờ uốn khúc ,ôm lấy mấy xóm chân đê gợi nhớ quán nước ở Queo Dòng...Nhưng Nguyễn Hãng về quê hương không phải để ở ẩn,để hưởng an nhàn ngắm sông ,nhìn núi trong lúc nước nhà đang nghiêng ngửa. Ông đã "Dựng một cái hiên nhỏ ở phía đông nhà ,đặt tên là Nại Hiên " (Lê Quí Đôn) . Nại Hiên không phải là một chái nhà hóng mát mà là ngôi trường dạy học. Đúng như các Cụ nhà Nho xưa ,nếu không "Tiến vi sư" thì "Đạt vi sư". Phía đông nhà là gia cư ông Nhạc ,trường xóm Hống ngày nào. Có lẽ cuộc đời ở Nại Hiên cũng ấm cúng. Sống với người vợ hiền thục ,sau ít năm ,ông đã có bốn người con trai,sau này thành bốn chi của dòng họ mà ông là Tổ.
Nguyễn Hãng "sinh bất phùng thời" ,cho nên ,tuy là người có tài năng ,phẩm hạnh mà lúc nào cũng lao đao ,lận đận. Việc ông trở về ở Nại Hiên là do nhãn quan sâu sắc về cuộc đời của ông. Nhưng ở quê hương Xuân Lũng xưa nay ,nhất là lớp người cao tuổi ,vẫn lý giải là do ông hiểu rất sâu về khoa "Thái ất thần kinh". Khoảng những năm 1524,1525 ,việc ông kéo dài sự chờ đợi có những dấu hiệu bất ổn. Tuy Mạc Đăng Dung chưa cướp ngôi nhưng triều chính còn gọi là Lê chỉ là hình thức. Ý đồ không vào Quốc Tử Giám dù đưới hình thức nào cũng khó lòng che giấu. Nếu không cao chạy xa bay thì tai họa ập đến sẽ vô cùng tàn khốc. Trong khi đó ,uy danh của anh em Vũ văn uyên ,Vũ Văn Mật phất cờ phù Lê ,diệt Mạc đã lan rộng cả một vùng Tây Bắc. Tin rằng với Nguyễn Hãng ,đó không phải là bóng dáng một cuộc đời no ấm,nhàn hạ mà là hình ảnh lý tưởng của một căn cứ vững vàng cho việc tôn phù  ,và ông đã cất bước lên đường.
Cho đến nay ,ở Xuân Lũng vẫn còn lưu truyền câu chuyện ông lên Đại Đồng. Cụ Nguyễn Văn Hào ,năm nay đã gần 90 tuổi ,vẫn thường kể với lớp trẻ :" Quan Dật sĩ người bấm số Thái ất biết nhà Mạc sắp cướp ngôi ,liền chạy lên Đại Đồng. Đến cửa Hùng Quan ,bây giờ là ngã tư sông Chảy ,nơi huyện Đoan Hùng giáp với Tuyên Quang. Bờ sông bến này cũng như mọi bờ sông khác ,nơi gần bến có ngôi hang nước của một cụ bà ; ông vào nghỉ chân ,chờ đò sang sông. Chọt bấm số Thái ất ,biết có quân Mạc đuổi theo ,ông liền nói với cụ bà cho ẩn núp. Lều nhỏ ,thấy phìa trong nhà có một cỗ hậu sự ,ông vội xin cụ bà bát nước và nén nhang ,đốt lên và thư phù vào bát nước ,rồi xin cụ bà mở nắp quan tài cho ông nằm vào trong ,nhờ cụ bà đậy nắp lại và để bát nước gác nhang lên trên. Sau đó không lâu ,quân Mạc đã rượt tới quán hàng. Chúng hỏi cụ bà thì bị từ chối. Quân Mạc lại bấm số Thái ất ,đoán rằng đối tượng cần truy tìm đã vượt sông rồi -bát nước được thư phù có giá trị như một dòng sông .Chúng đành trở về tay không.khi được báo tin là đã thật an toàn ,cụ bà mới mở nắp quan tài cho ông...
Con đường Nguyễn Hãng lên Đại Đồng gần 5 thế kỷ trước chắc là vô cùng gian khổ.
TỊCH CƯ NINH THỂ :
Với Nguyễn Hãng ,động cơ chủ yếu là sức mạnh của của ngọn cờ phù Lê,diệt Mạc mà chắc rằng trong ông ,hình ảnh tập đoàn phất cờ và châu Thu Vật ,nơi được mênh danh là "Thủ đô Tây Bắc" thật đầy sức hấp dẫn. Nhưng sau khi mừng kết quả bài phú hay ,anh em Vũ Văn Uyên ,Vũ Văn Mật đối với ông chỉ "Tiếp đãi vào bậc văn nhân" mà không biết trong bụng Nguyễn Hãng có uẩn xúc".
Như vậy ,có phải việc trả 2000 lạng bạc cho một bài văn hay ,đã là sòng phẳng chăng? hay là còn phải qua thử thách rồi mới đánh giá lại và tôn phong cũng chưa muộn? Thức lâu mới biết đêm dài ,và ông đã hiểu rõ ngọn nguồn :Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật chẳng qua là giả danh phò Lê để chống triều đình , chứ thực ra ,họ chỉ là lũ hoạt đầu ,ai mạnh chúng theo ,kể cả theo giặc Minh ,cốt đạt cái mộng "Anh húng cát cứ nhất phương".Sức hút của chính nghĩa ,của lực lượng phất cờ ,từng là điểm sáng trong tâm hồn ông ,đáng tiếc là những nét ấy
cứ mờ dần rồi tan vỡ trong vô vọng . Với tập thể võ biền đó ,ông không thể bán mình được ! Trở về quê hương ư? Cái án với họ Mạc lại càng thêm nặng.Tìm vào Thanh Hóa đường thiên sơn vạn thủy ,nếu cứ mạo hiểm thì tính mạng khó toàn. Vậy thì cùng đường tuẫn tiết ư? Vết cũ đường đời ông lại hằn lên rõ rệt. Chờ thời...Ong tìm đến một miền thôn tịch xa hẳn đường xe dấu ngựa cách Phố Cát ,Đại Đồng hàng mấy ngày đường. Đó là rừng quạch.Vào đó ,ông lại mở lớp truyền bá đạo thánh hiền và hẳn là có lập gia đình. Khi nhà Lê trung hưng trở lại nắm quyền ,đất nước tạm yên ,con cháu ông ở Xuân Lũng đã lên Đại Đồng tìm vết tích của ông. Người ta dẫn đến một miếu thờ có câu đối :
Vạn cổ Đại Đồng cao sĩ truyện
Thiên thu Xuân Lũng cố gia phong.
Có lẽ đó là câu đối ông tự làm để ghi dấu vết thực của mình. Cụ Đầu xứ Nguyễn Thế Thanh ,người dòng họ bên vợ ông ,đã giải thích : Ông tự ví mình với Nghiêm Tử Lăng một Cao sĩ thời Hán ,bạn học thời nhỏ của Hán Quang Vũ. Khi Quang Vũ lên ngôi ,ông bỏ di ẩn ,thương cày ở núi Phú Xuân và câu cá ở bến sông chân núi. Nhuyễn Hãng tự nhận là Cao sĩ và vẫn nhớ Xuân Lũng cố hương. Con cháu ông đã đưa di hài ông về quê hương và để ông an nghỉ đời đời bên cạnh người em vợ ông ở xóm Lũng Bô.
VĂN NGHIỆP :
Nguyễn Hãng không phải là một nhà văn lớn ,nói hình tượng ,không phải là một cây đại thụ. Số lượng tác phẩm của ông không nhiều. Trước hết là "Nhân tập Chích quái  của Vũ Quỳnh soạn riêng ba cuốn Thiên nam vân lục". Trong khi đó ,phần nói về tản văn chữ Hán ,cuốn Hợp thuyển văn thơ..trang 26 viết :"Nguyễn Hãng sưu tập truyện dân gian và viết lại thành sách Thiên Nam vân lục". Vậy thì bộ Thiên nam vân lục do Nguyễn Hãng sưu tập truyện dân gian hay soạn theo Chích quái  Của Vũ Quỳnh? Bộ sách viết theo thể biên soạn hay có chủ ý sáng tác như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ?Hai câu hở đó cũng là hai chuyên đề phong phú ,cần có sự nghiên cứu để giải đáp.
Thứ hai là thể phú. Theo Hợp tuyển thơ văn...thì có một bài đầu đề là Tam ngung động phú. hiện bài này cũng chỉ biết trên văn bản nên không hiều được giá trị của tác phẩm. nhưng có thể nhận xét rằng bài đó không phải làm ở quê hương Xuân Lũng. Căn cứ vào chữ "Động" tên bài thì xung quanh vùng núi Tổ chỉ thấy toàn là đồi núi đất ,thấp., không hề có hang động  Còn động là là nơi cư trú của người Dao (xưa gọi là "Động Mán"). Từ rất xưa ,Xuân Lũng gọi là "Sách" ,mà không gọi là "Động" bao giờ.Khả năng ông làm bài đó ở Đại Đồng thì đúng hơn.
Như vậy ,toàn bộ văn nghiệp của Nguyễn Hãng lưu truyền từ lâu nay vẫn chỉ là hai bài phú là "Đại Đồng phong cảnh" và "Tịch cư ninh thể". Ta thường nói : Văn là người . Tôi hiểu chữ nghĩa ,trước nhất biểu hiện đầy đủ ,rõ ràng tâm hồn và con người tác giả. Đó là cách nhìn cuộc đời theo nhãn quan của người cầm bút. Nhận thức như thế thì thấy trong hai bài phú ,mặc dầu ở trong một tình thế Coi như bế tắc hoàn toàn ,nhưng dưới ngòi bút của ông phong cảnh đất nước được vẽ lên thật là vô cùng đẹp đẽ.Đây không phải là ca ngợi một cách hình thức phù phiếm hay giao đãi nhất thời mà mà đó là cách nhìn của ông về giang sơn Tổ quốc. Đây càng không phải là phong cách khoa trương của thể phú ,mà chữ nghĩa là tâm hồn ông ,là con người ông. Với ông ,đát nước bao giờ và ở đâu cũng tươi đẹp ,vì thế mà ông muốn góp phần tô điểm chứ không phải là vào luồn ra cúi để mua lấy chữ Công hầu. Cái vòng luẩn quẩn chính là ở chỗ đó. Tổ quốc thì thấy yêu ,thấy mến ,muốn đem hết lòng phục vụ. Song người đại diện thì không xứng đáng để phụng thờ ,hai nữa để hy sinh.
Là một trí thức ,Nguyễn Hãng lên Đại Đồng là để lùi mà tiến ,tức là góp phần vào công cuộc phục hồi chính thống. Với tinh thần ấy ,Ông mong mình sẽ là một thành viên tích cực.Và ông ca ngợi như tinh thần vốn có về nơi dựng cờ cả về phong cảnh và hoàn cảnh, chứng tỏ niềm lạc quan của ông về tương lại. Nhưng vì sao đoạn cuối lại phóng bút lên như thế?Phải chăng là xu nịnh? Lần qua sách vở ,dân gian ,huyết thống...Hệ thống lại ,tuy chỉ là mấy nét đơn sơ cũng đã thấy rõ về con người Nguyễn Hãng  mà không cần đặtchẳng qua cũng chỉ là tinh thần xã giao sơ kiến thường tình. Và ,sau khi thấy rõ bản chất của kẻ hào mục thô lỗ ,ông đã hành động nhất quán khi đàng hoàng " Từ tạ ra về".
Lần này ,ông tìm chốn "Tịch cư" cho "Ninh thể". Cái nhìn của ông ở đây vẫn là cái nhìn tầm cỡ, bao quát của một hành nhân trên đường đời nhìn nơi tạm dừng chân ,chứ không phải của một kẻ tha hương lữ thứ hay của một khách anh hùng cùng đường ,tuyệt lộ tìm chốn mai danh ,ẩn tích. Với ông ,không phải đó là một bản nhỏ ,xóm vắng ,mà đó là một miền ,một bộ phận của giang sơn mà ông yêu mến, nhắc một lần chưa thỏa ,ông còn nhắc lại như mmột điệp khúc cua rmột bản tình ca :"Yêu thay miền thôn tịch  ! yêu thay miền thôn tích !".Miền tuyền thạch ấy có ngàn mai ,rừng trúc ,có suối chảy ,thông reo bên hàng cổ thụ lồng những tán dù mà chung quanh dải kỳ phong bao làm thành quách.Rõ ràng đó là hình ảnh một giang sơn riêng biệt cộng với những đường nét tô điểm trong toàn thể bài về những gì do bàn tay ông tự tạo và cách bố trí cuộc sống của ông hàng ngày ;cùng đời sống tinh thần phong phú ,ta thấy toát lên một bản lĩnh khác thường. Ông là một nhà Hán học ,,nhưng từ thuở hàn vi sống ở quê hương làng xóm với nhan dân ,cho nên tuy sáng tác thể phú ,thể biền văn chính thống ,mà ngôn ngữ của ông lại gần ngôn ngữ dân gian ,ts nhiều pha màu sắc hài hước ,châm biếm.
Cả hai bài phú của ông cộng lại có 155 câu dài ngắn khác nhau ,nhưng lại có rất ít điển tích ,chữ nghĩa khó hiểu dù là mượn của Trung Quốc. Cuốn Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập 3 ,tr. 407 viết :"Thơ văn ông thể hiện lòng yêu mến thiên nhiên  ,ca tụng phong cảnh đất nước...Về mặt nghệ thuật ,so với nhiều nhà văn đương thời ,ông vượt họ. Ngôn ngữ ông dùng giản dị ,trong sáng ,giàu hình tượng ".Cũng sách trên ,trang trên viết tiếp :"ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm ,trong vắn học chữ nôm có Nguyễn Hãng và Hoàng Sĩ Khải ".
Vậy ,nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm là một cây đại thụ của văn học thế kỷ XVI , thì Nguyễn Hãng cũng xứng đáng là một khóm phong lan quí tô điểm cho văn học thời đó và sẽ sống mãi với văn học Việt Nam.

Tháng 7/1992
Đ.H.P

********
*Đặng Hữu Phát ,người xã Xuân Lũng ,nguyên chuyên viên cao cấp bộ Văn hóa Thông tin.Trước khi nghỉ hưu ,là Giám đốc Nhà hát múa rối TW. Tác phẩm chính :"Hai con đường" truyện vừa ,chưa in ,1941. "Trả thù thầy" ,Nxb "Văn Hồng" ,Hà nội ,1945. "Lưu Bình Dương Lễ " ,"phương hoa" ,truyện nôm khuyết danh ,khảo cứu Nxb"Phổ thông" ,1958,1959. Hai vở kịch rối cạn do nhà hát múa rố TW dựng : "Hãy làm người" 1977 và "Thánh Gióng" 1978. "Bài ca về nguồn" (thơ dài ) ,Nxb VHTT,Hà nội 1995..
*Hoàng Sĩ Khải ,người làng Lại Xá huyện Lương Tài ,nay là huyên Gia lương ,tỉnh Bắc Ninh.Tiến sĩ khoa Giáp Dần (1544) ,niên hiệu Quang Hòa 4,đời Mạc Hiển Tông ,tức Mạc Phúc Hải. Có đi sứ nhà Minh. Sau ,làm đến Hộ bộ Thượng thư kiêm Quốc tử giám tế tửu ,tước Vĩnh Kiều hầu. Tác phẩm (còn lại)  :"Tứ thời khúc vịnh " ca tụng vua Lê chúa Trịnh.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-18 05:09:58langdong08>
                           NẠI HIÊN CƯ SĨ NHƯ TÔI BIẾT
 
                            GS.  Nguyễn  Ngọc  Lanh.

Đó là cái tên tôn kính mà ông ngoại tôi gọi Nguyễn Hãng trong dịp ông mang giấy bút tới nhà thờ họ Nguyễn Mả Nội ở xóm Chùa  để chép hai bài phú nôm truyền từ đời Lê trung hưng của Nại Hiên tiên sinh. Ông ngoại tôi chỉ cho tôi ba chữ "Dật Sĩ  Từ "bằng chữ Hán chân phương ghi trên cổng từ đường. Tôi chỉ nhận ra chữ Sĩ ,vì khi đó ,tôi đã biết chơi bài tam cúc .Tôi hiểu "Dật sĩ" là cụm từ tôn vinh kẻ sĩ sống đời ẩn dật, thanh cao ,không chịu hợp tác với chính quyền thiếu quang minh,chính đại,  mà trong trường hợp này là nhà Mạc. Còn 'Nại Hiên" là tên hiệu do ông đặt cũng như "Cư sĩ" do ông tự nhận ,ngầm ý rằng ông chỉ an phận "Cư" (ở nhà) mà không thèm ra thi thố với đời.
Cách gợi ý tinh tế của ông ngoại khiến sự tò mò của một đứa trẻ chín tuổi như tôi cứ tăng dần lên ,từ đó mà thêm kính trọng và khâm phục nhân cách của một nhân vật đặc biệt của chính làng mình.
Ông ngoại tôi là Bùi NguyêN Phổ, người làng Phương Đề (làng Đáy) ,huyện Trực Ninh ,tỉnh Nam Định ,đã theo đòi Hán học 15 năm ; đến năm 1918,khi chữ Hán bị thất thế ,ông chuyển qua học Quốc ngữ hai năm ,sau đó lên Cao Bằng bảo học. năm 1931,ông được Nha học chính Bắc kỳ điều về làng Dòng ,tức Xuân lũng xã ,thuộc Xuân Lũng  tổng ,Lâm thao huyện ,phú thọ tỉnh ,thế chỗ tổng sư Đặng Văn Hợp đã bị bắt vì tội là Đảng trưởng chi bộ VNQDĐ Xuân Lũng. lúc này ,chương trình dạy là quốc ngữ kèm chữ Pháp. Ông được mời tạm cư ở nhà Chánh tổng Vũ  Hữu Hòa. Đó là một ngôi nhà ,mới dựng sau khi "Làng giặc" Xuân Lũng bị giặc pháp ném bom trả đũa vì có nhiều người tham gia khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Cha tôi ông Nguyễn Văn Lợi đang học thầy hợp ,nay chuyển sang lớp thầy Phổ. Và ông trở thành con rể của thầy Phổ chính là từ mối quan hệ này.
Những gì ông ngoại tôi truyền lại cho tôi từ thuở  "ấu học "thì cả đời tôi chẳng thể nào quên ! Nguyễn Hãng và Nguyễn Bỉnh Khiêm là những người cùng thời ,nhưng họ lại trái nhau về quan điểm với vương triều Mạc. Trên văn đàn trung đại ,họ được xếp cạnh nhau vì những cống hiến về bút lực. Còn nhớ ,khi mới bước chân vào giảng đường đại học ,khoảng năm 1957, nghe tin buồn có một di tích  văn hóa vật thể bị hủy hoại ,trong đó có từ đường họ tôi ,(họ Tam Sơn) ,linh tính tôi đã hối thúc tôi hỏi :" thế cái bảng son chữ vàng vua ban ghi hai bài phú bằng kim nhũ ở đền thờ Quan Dật sĩ  còn không?" Khi nghe trả lời "mất rồi" ,bất giác tôi nhớ ngay tới câu chuyện về con quỉ tóc đỏ ( Xích Quỉ Mao) chuyên thổi gió độc vào lòng người ,biến thiện thành ác !
Chính cha tôi đã dày công dạy tôi cái cách người xưa đã sáng tạo ra chữ Nôm từ chữ Hán. Hóa ra ,học chữ Nôm còn khó hơn học chữ Hán ! Mặc dù cả hai thứ chữ "vuông hòm" này tôi đều mù ,nhưng cứ được nghe giảng là tôi thuộc và nhập tâm rất dai. Vì vậy mà tôi càng yêu phú Nôm của Nguyễn Hãng.
Còn người đã dạy tôi phân biệt chỗ khác nhau giữa thơ và phú chính là thầy Nguyễn Văn Tiến ,lúc ấy ,tôi là học trò trường tiểu học Pháp Việt Xuân Lũng.Khi thầy cao hứng đọc :"Văn chương phú lục chẳng hay / Trở về làng cũ học cày cho xong / Sớm ngày vác cuốc ra đồng /Hết nước ta lại gầu sòng tát lên"...(1)
Thì cả lớp lại đồng thanh:"Thưa thầy thơ ạ" ! Riêng tôi ,tôi lại muốn thầy giảng cho chữ "Phú". Thầy chỉ nói đại ý ,nhưng tôi lĩnh hội được ngay : Phú vừa là thơ ,vừa là văn xuôi ,lại là câu đối ! Đó là vốn kiến thức sơ đẳng dẫn tôi đi tiếp chặng đường tìm đến với phú. Thầy Tiến còn dặn :" Về nhà ,nhờ Bố con giảng thêm. Chả là thầy Tiến và cha tôi là bạn cùng làng ,cả hai cùng làm nghề "Gõ đầu trẻ" và vẫn thường xuyên viết thơ phú tặng nhau.
Cho đến giờ tôi vẫn không quên cái giây phút cả lớp cứ ngớ ra khi nghe thầy Tiến đọc một đoạn khá trúc trắc trong bài phú "Đại Đồng phong cảnh" mà thầy tâm đắc nhất,đó cũng là đoạn mà ông ngoại tôi vẫn từng ngâm ngợi bên chén chè Dòng nóng hổi. Tôi đã bị hút vào tâm trạng của tác giả và mơ màng nghĩ tới những địa danh mãi tận xứ Tuyên xa xôi được nhắc đến trong bài phú ấy.
Cũng vì tò mò chót hỏi thân phụ về thể phú nên tôi đã bị "nếm mướp đắng" khi người bắt tôi tập phân tích về ý và cấu trúc một đoạn trong bài phú "Đại Đồng phong cảnh". Tôi cũng đã có ít nhiều chữ nghĩa trong đầu nên có phần tự tin hơn ,vội viết nghiêng hoặc gạch dưới tất cả các chữ có vần mà lẽ ra là phải đọc tưng nhóm hai câu ,miễn sao vần bật lên,thuận tai người nghe ,lại dễ nhớ.
Đặc khí thiêng liêng ;
Nhiều nơi thanh lạ.
Non Xuân Sơn: cao thấp triều tây ;
Sông Lôi Thủy : quanh co nhiễu tả.
Ngàn tây chìa cánh phượng ,dựng thuở hư không ;
Thành nước uốn hình rồng ,dài cùng dãy đá.
Đùn đùn non yên ngựa ,mấy trượng khỏe thế kim thang ;
Cuồn cuộn thác Con Voi ,chín khúc bền hình quan tỏa...
Rồi ,mỗi nhóm hai câu , cha tôi bắt tìm xem từ trong mỗi câu trên đã "đối chọi" với từ ở câu dưới ra sao? Tôi bèn đặt mỗi chữ trong câu vào một ô vuông ,theo hàng dọc để so sánh. Chẳng hạn :Đùn đùn/Cuồn cuộn ; Yên ngựa /Con Voi ;trượng /khúc ;khỏe/ bền....
Tôi đã không phụ lòng thân phụ mình khi gắng gỏi đọc diễn cảm đoạn phú trên.

N.N.L.

******
(1) Có ý kiến cho rằng :Nguyễn Hãng đã gửi gắm tâm trạng thời cuộc của mình trong bốn câu :
Ai lên phố Cát Đại Đồng
hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái năm xưa
Năm nay chồng váng nên chưa có chồng.
Cô Tú ,ám chỉ Vũ Văn Mật (!) "Có chồng" ở đây có thể hiểu là đã thật lòng với nhà Lê chăng?
-Nguyễn Văn Lợi ,sinh năm 1911 ,nguyên giáo viên bậc tiểu học ở Phù Ninh .Con gái Cụ Đào Nguyên Phổ được nhắc đến ở đây là bà Bùi Thị Hường (1913-2000)
-Nguyễn Văn Tiến (1911-1981) nguyên hiệu trưởng trường Tiểu học Xuân lũng kiêm chủ tịch UBND xã Xuân Lũng năm đầu cách mạng tháng 8.
-Nguyễn Ngọc Lanh ,GS. Nhà giáo ưu tú ,sinh năm 1935 tại Phú Lộc ,huyện Phù Ninh ,tác giả nhiều công trình khoa học về nghành y.Giải nhất cuộc thi viết "kỷ niệm về người Thầy ".Tác giả viết về thầy Nguyễn Văn Tiến ,báo "Khuyến học " tổ chức năm 1999.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-27 04:18:30langdong08>
                                                   LỜI BẠT
 
Thấm thoắt đã gần năm thế kỷ trôi qua ,kể từ ngày gia đình cụ Nguyễn Hãng dời miền xuôi lên làng Dòng ,xã xuân Lũng sinh cơ lập nghiệp ,nói "lên" bởi Xuân lũng khi ấy còn là "miền biên viễn " xa xôi, cách trở rừng già ,đồi núi ,có tiếng hổ gầm ,tiếng con trăn mắt võng quần quã bên cạnh bếp lửa phập phù của những cư dân chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người. Không ai nghĩ rằng chỉ vài mươi năm sau ,chính mảnh đất từng là cái nôi sinh thành những nhà khoa bảng nổi tiến như Bùi Ứng Đẩu ,nguyễn Doãn Cung cùng hàng trăm Giám sinh ,sinh đồ...Đã lại xuất hiện một nhà văn họ nguyễn -Nguyễn Hãng ,tác giả hai bài phú Nôm :Tịch cư ninh thể ; Đại Đồng phong cảnh và ba tập cổ tích văn học :Thiên nam vân lục liệt truyện (tân biên) bằng  Hán văn .
Việc Nguyễn Hãng trở thành con rể quan Tả Lại tiến sĩ Nguyễn Doãn Cung ,là anh rể bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc ,là em rể Giám sinh Nguyễn Thừa Khôi ,Nguyễn Thừa Bật chính là nhân tố tích cực thúc đẩy ông tiến thân trên con đường khoa cử và sáng tác văn học .Thực tế là ông đã đậu khoa thi hương năm Bính Tý 1516 ,đúng lúc nhà Lê suy thoái ,lại thêm loại Trần Cao ,bọn quyền thần Trịnh-Nguyễn mâu thuẫn chống phá lẫn nhau . Người đọc mọi thời vẫn nghe vọng lên từ phía sau những trang viết thấm nặng ưu tư và có cả nược mắt của ông là nỗi niềm khắc khoải của người cầm bút trước những biến đổi động trời : vương triều Lê mà ông tôn thờ đã bị mạc Đăng Dung tiếm ngôi ! cú xốc quá sức về tinh thần này càng củng cố thêm về quan niệm trung quân ,ái quốc trong con người nhà Nho tiết tháo Nguyễn Hãng . Chẳng phải ngẫu nhiên câu đối "Ngụy thiện Quản Ninh tiên độ hải
Hán hưng nghiêm Tử độc hoàn sơn"
đặt tại " DẬT SĨ TỪ" đã sánh phẩm chất của ông ngang với Quản Ninh ,Nghiêm Tử -những ẩn sĩ phương bắc thời xa lắm (1) !thiết nghĩ ,bài học cuối đời của vị Dật sĩ long đong này  xét ở góc độ nào đó vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với ngày nay .
năm trăm năm , kể cũng là thời gian quá dài so với một đời người .Biết bao đổi thay ,thăng trầm đã nếm trải  ! chao ơi ! mùa xuân ,những mùa xuân vĩnh hằng vẫn đến reo vui trên cánh đồng Mả Nội ngoài xa kia ...Dường như những giọt nước mắt mặn mòi của người xưa đã hóa muôn vàn cánh hoa chúc phúc trên mỗi buớc chân bâng khuâng của con cháu đang ngày một giàu đẹp hơn lên ,nhà cửa đã khang trang và gương mặt mỗi người cũng sáng láng hơn lên thì phải !
Ngôi mộ Cụ Nguyễn Hãng đặt ở rừng sở , xóm Lũng Bô đã được xây lại năm 1988 trên một khuôn viên 30m2.Linh thiêng khôn kiệm lời. DẬT SĨ TỪ cũng đã được tái dựng năm 1993 (bị hư hỏng từ năm 1962). Trang nghiêm nhất mực.Nhiều câu chuyện về Nại Hiên Tiên sinh vẫn còn được lưu truyền đó đây ở Đại Đồng ( nay thuộc huyện Yên Bình ,tỉnh Yên Bái), ở "Cố gia phong" Xuân Lũng ,chủ yếu xoay quanh đạo lý "Lánh đục về trong" của một nhà Nho chính trực. Mới hay ,cụ Tổ họ Nguyễn Mả Nội đã rất có lý khi chọn mảnh đất làng Dòng vừa" lắm ổi" vừa nhiều chữ này làm nơi tụ cư lâu dài cho con cháu.Tính đến nay ,hậu duệ của cụ ở Xuân Lũng đã bước sang đời thứ 22và đây cũng là nơi có đông con cháu trong họ sinh sôi lập nghiệp nhất.  Và chắc chắn cũng đã từ lâu rồi ,họ Nguyễn Mả Nội đã được đánh giá là một trong bốn họ lớn với vị trí trong làng ( họ Trặng ,họ Kiêng ,họ Dích ,và Mả Nội ); là bốn họ lớn giữ vai trò chủ yếu trong việc xây dựng Đình Cả của làng. Mặc dù theo điều tra đân số năm 1998 ,họ này mới chỉ có 152 hộ với 679 nhân khẩu (số liệu điều tra dân số nguyên ở Xuân Lũng cũ-còn con cháu lập nghiệp nơi khác chưa tính) ! như vậy khái niệm "lớn" ở đây cần được nhìn nhận bằng thực chất ,bằng sự trưởng thành về nhiều mặt của cả dòng họ.  Con số 76 người tham gia vào các lực lượng vũ trang qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp ,chống Mỹ và các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới ,trong đó có 10 người con ưu tú đẫ vính viễn nằm lại trên khắp các chiến trường ; 10 người là thương binh , 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng (Mẹ Nguyễn Thị Điền ,Nguyễn Thị Lựu -cả hai Mẹ đều có hai con hy sinh) đã nói thay mọi lời bình luận. Bên cạnh đó ,không thể không nhắc đến những thành tựu về đường học vấn. Đã đành ,bằng cấp không phải là tất cả ,nhưng con số 12 tấm bằng Cao đẳng ,81 băng cử nhân ,2 bằng Thaci sĩ ,4 học vị Tiến sĩ ...Và còn hàng trăm các văn bằng trung học ,phổ thông...(Tính đến năm 2006); mà con cháu trong họ đã khổ công "dùi mài kinh sử" suôt mấy chục năm dưới chế độ mới !
Thời gian đã chứng giám tình cảm ,tâm huyết của hậu thế. Rõ ràng ,cụm từ "Cao sĩ lèo tèo" mà nhà Bác học Lê Quí Đôn đã sử dụng khi xếp Nguyễn Hãng đồng vị thế với Vũ Mộng Nguyên, Lý Tử Tấn...có ý nghĩa như một sự vinh danh nay không còn khớp với thực tế nữa ! Con cháu đời nối đời đã có ý thức báo đáp Tổ tông bằng những việc làm cụ thể mang đầy tính nhân văn.
Cuốn sách đặc biệt này thay nén tâm nhang thơm thảo của con cháu gần xa thành kính dâng lên anh linh Tiên Tổ.

                                                             Thay mặt dòng họ chắp bút
                                                                  NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

*****************
(1) Ghi theo trí nhớ của Cụ Nguyễn Thành,nhà Nho ,người ở xóm Chùa.
-Thời Hán Linh Đế có ba học trò là :Hoa Hâm ,Quản Ninh và Bỉnh Nguyến sống gắn bó với nhau đến nỗi người đời đã ví họ như một con rồng mà Hoa Hâm là đầu ,,Quản Ninh là thân và Bỉnh Nguyên là đuôi. Một hôm ,Quản Ninh và Hoa Hâm đang ngồi học trên một chiếc chiếu thì có ngựa xe của một vị đại quan đi qua. Vì mải đọc ,Quản Ninh không để  ý ,nhưng Hoa Hâm thì ngồi đứng không yên ,gấp sách chạy đi xem,ra chiều ngưỡng mộ kẻ giàu sang phú quí. Thấy vậy ,Quản Ninh bèn cắt chiếc chiếu ra làm đôi ,chia cho Hoa Hâm một nửa và nói :"Từ giờ ,ta không là bạn của nhau nữa !". Điển cổ Trung Hoa mới có câu :"Quản Ninh cát tịch".
-Nghiêm Tử ,tức Nghiêm Quang thời Đông Hán ,chơi thân với Quang Vũ. Khi Quang Vũ lên ngôi ,(Hán Quang Vũ) thì Nghiêm Quang đổi tên là Nghiêm Vũ (vì kỵ húy) ,không ra làm quan ,về ở ẩn ở núi Phú Xuân ,cày ruộng ,câu cá cho đến cuối đời.
-Lý Tử Tấn ,người xã  Triều Lật ,nay là xã Tân Minh ,huyện Thường Tín ,tỉnh Hà Tây ,đệ nhị giáp khoa thi Thái học sinh năm Canh Thìn ,niên hiệuThánh Nguyên I(1400),đời Hồ Quí Ly. Tác giả Chuyết Am thi tập ,bị thất lạc. Chỉ còn 93 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.
-Vũ Mộng Nguyên ,người xã Viên Khê ,nay là thôn Vĩnh Khê ,xã Đông Anh ,huyện Đông Sơn ,tỉnh Thanh Hóa. Đệ nhị giáp (năm 21 tuổi) ,đời Hồ Quí Ly.Tác giả 36 bài thơ chữ Hán còn lại ,được in trong Toàn lục thi tập.
 
                                    HẾT
 
Người giới thiệu xin có đôi lời : cuốn sách "NGUYỄN HÃNG-TÁC PHẨM  tới đây là hết phần chữ việt ,sách còn phần cuối nguyên văn chữ Hán hiện chưa có máy quét để post lên cho bạn đọc tham khảo -khi có điều kiện chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp.
-Chúng tôi rất tha thiết mong bạn đọc gần xa ,ai có những tư liệu gì về Nguyễn Hãng, những tiểu phẩm nào  của Nguyễn Hãng ,xin vui lòng cung cấp cho chúng tôi để chúng tôi bổ xung ,xin trân trọng cảm ơn.
-Trong bài khảo luận của ông Đặng hữu Phát có nói đến việc Nguyễn Hãng khi lên đại đồng ,sau khi rời khỏi Vũ Văn Mật  ,Vũ Văn Uyên ,không về quê nữa mà lánh đi ở ẩn  tại Tuyên Quang và có lấy vợ. Nơi có Am nhỏ thờ Ông ,dấu tích của Nguyễn Hãng  thuộc huyện Yên Bình (Tuyên Quang).Nơi đó nằm dưới lòng hồ Thác Bà từ khi xây dựng thủy điện Thác Bà. Nếu như đúng vậy thì hậu duệ của Nguyễn Hãng đã phải rời đi định cư ở nơi khác. Vậy nếu có thì những ai là hậu duệ ,khi đọc cuốn sách này xin liên hệ với chúng tôi.
Mọi liên hệ, xin vui lòng liên hệ qua hộp thư điện tử : [email=h_toanthang@yahoo.com.vn]h_toanthang@yahoo.com.vn[/email]
 
-Bài khảo luận của ông Đặng Hữu Phát ,trong sách có tóm tắt ,chúng tôi sẽ giới thiệu nguyên văn sau.
Chân thành cảm ơn !
Ngày 27/10/2008
 
langdong08   
0
Đã mang vào thư viện

Cảm ơn langdong08 đã góp sức cho thư viện

Thân ái




0
«« « 1 2 » »»