📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

CHẾT - TRUNG ẤM THÂN - TÁI SINH

44 trả lời, 9.026 lượt xem — Trang 2 / 2
Trích đoạn: tueuyen

CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG
 

3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC

 
---
THẬP TÍN (PHẦN HAI)
 

6- Giới tâm là một vị Bồ-tát khi thọ giới luật thanh tịnh của Bồ-tát thì phải giữ gìn thân Miệng, và Ý cho được thanh tịnh, giữ gìn không cho vi phạm bất cứ những lỗi lầm nào. Bồ-tát nếu như có phạm lỗi thì phải sám hối để cho tội lỗi sớm được tiêu trừ.
7- Hồi hướng tâm là phương pháp tu tập các thiện căn. Hồi hướng tâm nghĩa là Bồ-tát chỉ đem tậm nguyện hướng về nơi quả Bồ Đề làm cứu cánh mà không nguyện hướng về nơi các cõi trong Tam Giới và chỉ đem tâm nguyện hướng về sự bố thí để cứu khổ cho tất cả chúng sanh làm hạnh vị tha mà không mong cầu lợi ích cho mình. Hơn nữa Bồ-tát còn quyết chí đem tâm nguyện hướng về nơi cõi chân thật làm mục đích mà không đắm trước nơi danh tướng giả tạo trong thế gian.
8- Hộ pháp tâm là đề phòng và bảo hộ bản tâm của mình mà không cho nó phát khởi phiền não. Bồ-tát muốn bảo hộ bản Tâm của mình thì phải tu tập Mặc Hộ (giữ gìn sự tĩnh lặng), phải tu tập Niệm Hộ (giữ gìn chánh niệm), phải tu tập Trí Hộ, (bảo hộ Trí Tuệ), phải tu tập Tức Tâm Hộ (giữ gìn tâm niệm đã dứt các phiền não) và cũng phải giữ gìn năm pháp Hộ Hành khác. Năm pháp Hộ Hành khác cũng gọi là năm Chủng Hạnh. Năm Chủng Hạnh là: Thọ Trì, Đọc, Tụng, Giải Thuyết (Giải thích và thuyết pháp Kinh Luận) và Thơ Tả (Viết sách). Năm thứ này cũng phải giữ gìn thường xuyên.
9- Xả tâm là Bồ-tát phải xả bỏ tâm niệm yêu tiếc sanh mạng và tài sản của mình. Bồ-tát nếu như đã được tài sản và thân mạng thì có thể xả bỏ một khi cần đến mà không có khởi tâm luyến tiếc hoặc hối tiếc.
10- Nguyện tâm là Bồ-tát phải đem tâm phát nguyện luôn luôn tu tập các pháp môn thanh tịnh của chư Phật đã dạy sớm được chứng đắc. Đồng thời Bồ-tát phải có bổn phận khiến cho các pháp môn của chư Phật càng thêm được sáng tỏ và càng thêm được phổ biến khắp mọi từng lớp chúng sanh.

___
 
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0



CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC


---

Thập trụ (phần một)

Thập trụ vị hay Thập Địa Trụ, Thập pháp trụ, Thập giải là một trong 50 ngôi vị hành trì. Thập Trụ Vị là chỉ từ ngôi vị thứ 11 cho đến ngôi vị thứ 20. Sau khi trang bị xong chất liệu Thập Tín Vị để tu tập. Hành Giả bắt đầu khởi điểm Thập Trụ Vị để tiến hành. Thập Trụ Vị gồm có:

1- Sơ phát tâm cũng gọi là Phát Ý Trụ. Sơ Phát Tâm Trụ nghĩa là an trụ vào nơi Sơ Phát Tâm làm căn bản tu tập, tức là y cứ vào khởi điểm của sự Phát tâm để tu tập. Phát Ý Trụ nghĩa là an trụ vào chỗ phát khởi Tâm Ý làm mục đích. Để an trụ căn bản vào nơi Sơ phát tâm, Bồ Tát trước hết phải tiến tu các phần Thiện căn và đồng thời sử dụng các phương tiện chân thật để phát khởi Tâm niệm của Thập Trụ. Kế đến, Bồ Tát đem Tín Tâm đó phụng sự Tam bảo, thường căn cứ vào 84,000 Bát-nhã-ba-la-mật-đa để tu tập tất cả hạnh lành của tất cả Pháp Môn. Ngoài ra, Bồ Tát còn phải thường xuyên phát khởi Tín Tâm để không tạo nên những Tà Kiến, không phạm bởi những Thập Ác (1), Ngũ nghịch, Bát đảo và không cho sanh vào nơi tai nạn. Hơn nữa Bồ Tát thường nên nghiên cứu Phật Pháp để được học rộng biết nhiều và cũng thường nên cần cầu nhiều phương tiện hành trang để sớm được vào cõi Không, để được an trụ vào nơi tánh Không. Đồng thời Bồ Tát còn sử dụng Tâm Trí của lý Không đã đạt được đó ra công tu tập Pháp Môn của Cổ Phật và khiến cho tất cả công đức đều được phát sanh từ nơi Tâm Trí nói trên. Đây là công hạnh của Sơ Phát Tâm Trụ.

2- Trì địa tru cũng gọi là Trị Địa Trụ. Trị Địa Trụ nghĩa là an trụ vào nơi sự sửa trị, còn Trì Địa Trụ nghĩa là an trụ vào nơi sự hành trì. Để an trụ vào nơi Trì Địa, Bồ Tát nương theo cái Tâm Không đã đạt được để thanh tịnh 84,000 Pháp Môn. Tâm Thanh Tịnh sáng suốt đó cũng giống như Ngọc lưu ly hiện ra vàng rồng. Do bởi Diệu Tâm phát khởi, Bồ Tát mới tiêu trừ được những tội lỗi nghiệp chướng nên gọi là Trì Địa Trụ.

3-Tu hành trụ: cũng gọi là Ứng Hành Trụ. Tu Hành Trụ nghĩa là an trụ vào nơi sự hành trì tu tập. Ứng Hành Trụ nghĩa là an trụ vào nơi sự du hành để khất thực (Ứng cúng). Bồ Tát đã đầy đủ Trí Tuệ thông minh sáng suốt của Sơ Pháp Tâm Trụ và Trì Địa Trụ thì có thể du hành khắp mười phương không bị chướng ngại. Đây là chỉ cho sự thành quả tu tập của Tu Hành Trụ.

4- Sanh quí trụ là Bồ Tát nhờ Diệu hạnh của Tu Hành Trụ ở trước nên kết hợp được Diệu Lý nơi chốn U Minh (Thế Giới Nội Tâm), tức là Bồ Tát sẽ thực thụ sanh vào nơi Diệu Lý đó và sẽ được làm Pháp Vương Tử con của nhà Phật. Diệu Hạnh đối với tánh Phật thì không khác nhau và sẽ thọ nhận một phần khí chất của tánh Phật để làm trợ duyên cho sự sanh khởi. Trường hợp này cũng giống như Thân Trung Ấm của một chúng sanh tự cầu nơi cha mẹ và sẽ nhập vào hạt giống của đức Như Lai để làm nhân duyên cho sự chuyển sang kiếp sau được sanh trong nhà Như Lai. Nguyên do nơi cõi U Minh (Thế Giới Nội Tâm), Diệu hạnh của Bồ Tát đã có đức tin vững chắc thì nhất định sẽ được dung thông và cũng sẽ được hội nhập để kết thành nhân duyên cho kiếp sau. Đây là ý nghĩa của Sanh Quí Trụ.

5- Phương tiện cụ túc trụ cũng gọi là Trụ Thành Trụ. Phương Tiện Cụ Túc Trụ nghĩa là an trụ vào các phương tiện đầy đủ, tức là Bồ Tát đã trang bị đầy đủ các phương tiện. Tu Thành Trụ nghĩa là an trụ vào sự kết quả của hạnh tu tập. Bồ Tát đã trang bị đầy đủ các phương tiện tu tập, nghĩa là Bồ Tát đã tu tập đầy đủ vô lượng thiện căn và sử dụng các Thiện Căn đó để làm lợi ích cho mình cũng như lợi ích cho mọi người. Nhờ tu tập vô lượng Thiện Căn, Bồ Tát đạt đến kết quả là thành tựu được Thân Tướng của mình trở nên tròn đầy tốt đẹp và dung mạo của mình lộ nét đoan trang thanh thoát. Đây là chỉ sự thành quả của Phương Tiện Cụ Túc Trụ.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0


CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC


---

Thập trụ (phần hai)


6- Chánh tâm trụ cũng gọi là Hành Đăng Trụ. Chánh Tâm Trụ nghĩa là an trụ vào Tâm Chân Chánh. Hằng Đăng Trụ nghĩa là an trụ vào sự đi lên. Bồ Tát an trụ vào Chánh Tâm tức là đã thành tựu được Bát Nhã thứ sáu. Bát Nhã thứ sáu là chỉ cho Trí Tuệ Diệu Quan Sát. Sau khi thành tựu được Bát Nhã thứ sáu, Bồ Tát không những chỉ được kết quả là tướng mạo của mình trở nên tốt đẹp tròn đầy trong sáng và còn kết quả hơn nữa là Bản Tâm của Bồ Tát cùng với Phật Tâm đều giống nhau như một. Đây là chỉ cho sự thành quả của Chánh Tâm Trụ.

7- Bất thối trụ cũng gọi là Bất Thối Chuyển Trụ. Bất Thối Trụ hay Bất Thối Chuyển Trụ đều nghĩa là an trụ vào ngôi vị này thì tâm không còn bị thối chuyển nữa. Bồ Tát an trụ vào ngôi vị Bất Thối tức là đã thể nhập được nơi cứu cánh của Không Giới Vô Sanh. Cứu Cánh của Không Giới Vô Sanh nghĩa là thế giới Không Tướng của Chân Như và thế giới đó rốt ráo không còn dấu vết của sinh tử lưu chuyển nữa. Ở đây Tâm của Bồ Tát thì luôn luôn thực hiện Hạnh nguyện Vô Tướng của Tánh Không Chân Như. Lúc đó Thân và Tâm của Bồ Tát liền hòa hợp lại nhau làm thành một thể. Thân Tâm hòa hợp này mỗi ngày mỗi tăng trưởng thêm lớn. Đây là chỉ cho sự thành quả của Bất Thối Trụ.

8- Đồng chơn trụ là non trẻ và trong sạch. Đồng Chơn Trụ nghĩa là an trụ vào thời kỳ thanh tịnh trong trắng. Bồ Tát khi an trụ vào Đồng Chơn tức là lúc đó Thân Tâm hòa hợp của Bồ Tát tự nhiên phát khởi một cách tinh tiến và thuần chánh. Thân Tâm hòa hợp của Bồ Tát phát khởi trước sau đều chuyên nhất và phát khởi không có chút điên đảo mê tưởng. Cho đến Bồ Tát cũng không có dấy niệm tà ma ngoại đạo để phá hoại hạt giống Bồ Đề. Nhờ đấy, cùng một lúc, mười Thân Tướng linh ứng của Phật (5) liền hiện bày đầy đủ trọn vẹn. Đây là chỉ cho sự thành quả của Đồng Chơn Trụ.

9- Pháp vương tử trụ: cũng gọi là Liễu Sanh Trụ. Pháp Vương Tử nghĩa là con của Phật. Liễu Sanh Trụ nghĩa là an trụ vào sự chấm dứt lẽ sống chết. Kể từ Sơ Phát Tâm Trụ cho đến Sanh Quí Trụ thứ tư, bốn Trụ nói trên đều được gọi là Bồ Tát mới vào Bào Thai của bậc Thánh, còn từ Phương Tiện Cụ Túc Trụ thứ năm cho đến Đồng Chơn Trụ thứ tám, bốn Trụ kế tiếp đều được gọi là giai đoạn nuôi dưỡng Thánh Thai để sớm được mau lớn. Riêng Pháp Vương Tử Trụ thứ chín là mới chỉ cho Thánh Thai đó đã đầy đủ hình tướng và có thể sanh ra để thành con của Phật, nên gọi là Pháp Vương Tử. Thí dụ này không ngoài mục đích là trình bày Trí Tuệ của Bồ Tát đã được phát sanh từ nơi giáo pháp cao quí của Phật. Nhờ Trí Tuệ đó, Bồ Tát mới đủ khả năng kế thừa Pháp Bảo và đồng thời phát huy ngôi vị của Phật càng thêm rộng lớn. Đây là ý nghĩa của Pháp Vương Tử Trụ.

1- Quán đảnh trụ: cũng gọi là Bổ xứ Trụ. Quán Đảnh Trụ nghĩa là Bồ Tát đã là con của Phật thì nhất định phải có trách nhiệm thi hành các Phật sự. Do đó đức Phật mới dùng nước Trí Tuệ rưới lên đỉnh đầu của Bồ Tát để thọ ký, nên gọi là Quán Đảnh. Thí dụ như, con của vua Sát Đế Lợi thọ nhận quyền uy nơi vua cha bằng cách chịu sự rưới nước phép lên đỉnh đầu của vua cha ban cho. Một vị Bồ Tát khi đạt đến Quán Đảnh Trụ thì đầy đủ ba Biệt Tướng:

a/- Độ chúng sanh: nghĩa là Bồ Tát đó đã đủ khả năng thi hành và có thể thành tựu được mười Chủng Trí (4) để hóa độ chúng sanh.

b/- ĐẠT ĐƯỢC CẢNH GIỚI MẦU NHIỆM: nghĩa là Bồ Tát đó đối với tất cả chúng sanh cũng như đối với Pháp Vương Tử Trụ thứ chín đều có thể trắc nghiệm đo lường được những cảnh giới của họ.

c/- HỌC RỘNG MƯỜI CHỦNG TRÍ: nghĩa là Bồ Tát đó nhất định phải thấu hiểu tường tận và rành mạch tất cả pháp.
Một vị Bồ Tát hoàn thành được ba Biệt Tướng nói trên tức là đã an trụ vào Quán Đảnh của Thập Trụ Bồ Tát.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0

CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC


---


Thập hạnh vị hay thập tâm hạnh là mười phương pháp tu hành về công hạnh lợi tha của Bồ-tát, một trong 50 ngôi vị tu tập của Bồ-tát. Thập hạnh vị là chỉ từ ngôi vị thứ 21 cho đến ngôi vị thứ 30. Thập hạnh vị gồm có:
  1. Hoan hỷ hạnh là Bồ-tát với hạnh nguyện hoan hỷ dùng vô lượng diệu đức của như lai (của Phật) để tùy thuận hóa độ cho chúng sanh trong mười phương cõi.
  2. Nhiêu ích hạnh Bồ-tát dùng mọi phương tiện khéo léo để làm lợi ích cho chúng sanh và khiến cho chúng sanh không bị mặc cảm trong sự thọ nhận lợi ích.
  3. Vô sân hận hạnh là một vị Bồ-tát luôn luôn phải thể hiện hạnh nhẫn nhục với mọi cộng việc, tức là Bồ-tát không bao giờ có thái độ giận tức trước bất cứ việc trái nghịch nào, cho đến cũng không bao giờ có ý hại mình và hại người. Một vị Bồ-tát thật hành hạnh không sân hận là phải nhún nhường cung kính mọi người và phải nhẫn nại mỗi khi đối diện trước oán cừu thù nghịch.
  4. Vô tận hạnh hay Vô khuất nạo hạnh (công hạnh không hèn yếu chùn bước). Vô tận hạnh nghĩa là Bồ-tát phát tâm đại tinh tấn, nguyện độ tất cả chúng sanh không cùng tận. Trên con đường độ sanh, Bồ-tát tỏ ra siêng năng không chút giãi đãi, không chút yếu hèn và chùn bước trước mọi sự khó khăn đưa đến. Bồ-tát thật hành hạnh độ tha cho đến khi nào chúng sanh đều chứng quả niết bàn mới mãn nguyện.
  5. Ly si loạn hạnh (lìa mê loạn tâm)là Bồ-tát thường an trụ nơi chánh niệm để cho tâm không bị tán loạn. Bồ-tát đối với tất cả pháp môn đều thông minh sáng suốt.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
 
CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC
 
---
 
6- Thiện hiện hạnh (khéo thật hành công hạnh hiện tại) là Bồ-tát đã thanh tịnh được ba nghiệp cho nên biết rõ tận gốc rễ của các pháp hữu vi cùng các pháp vô vi, vì thế Bồ-tát không bị ràng buộc cũng như không chấp trước một pháp nào cả. Mặc dù tự tại đối với mọi pháp, Bồ-tát vẫn không bỏ công hạnh giáo hóa chúng sanh của mình.
 
7- Vô trước hạnhlà hạnh không nhiễm trước. Bồ-tát thật hành hạnh không nhiễm trước là thường trải qua các cõi Phật (trần sát Phật) để cúng dường và cầu pháp. Tâm thành cúng dường và cầu pháp của Bồ-tát không có chút nhàm chán. Mặc dù bận tâm trong công việc cúng dường và cầu pháp nơi các cõi Phật, Bồ-tát vẫn thường dùng trí tuệ tịch diệt để quán chiếu và nhận chân các pháp. Nhờ đó đối với các pháp môn, Bồ-tát vẫn không bao giờ khởi tâm nhiễm trước.
 
8- Tôn trọng hạnh là Bồ-tát đều tôn trọng các pháp thuộc thiện căn phước đức cũng như các pháp thuộc trí tuệ giác ngộ. Theo như Bồ-tát, cả hai loại pháp môn nói trên đều có thể thành tựu được vô lượng công đức an lạc và giải thoát. Cho nên, Bồ-tát cần phải tiến tu gồm cả hai lợi hạnh là: hạnh tư lợi và hạnh lợi tha.
 
9- Thiện pháp hạnh là Bồ-tát cần phải thành tựu cho được tất cả thiện pháp độ tha của bốn pháp môn vô ngại đà la ni để bảo hộ chánh pháp và khiến cho giống Phật không bị diệt mầm.
 
10-Chân thật hạnh là sự thành tựu đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế nghĩa là pháp môn có danh nghĩa chân thật thứ nhất. Đệ nhất nghĩa đế như là lời nói có thể thật hành và điều thật hành có thể diễn đạt, cũng như lời nói và hành động đều dung hợp với nhau, cho đến sắc và tâm đều hòa thuận tương đắc lẫn nhau. Đó là ý nghĩa của đệ nhất nghĩa đế.
 
Bồ-tát tu thập hạnh có bốn mục đích: a. Nhàm chán các pháp hữu vi.
b. Mong viên thành quả bồ đề và hy vọng tròn đầy công đức Phật hạnh.
c. Ước mơ cứu độ chúng sanh trong đời hiện tại và đời vị lại.
d. Nguyện cầu thật tế là chứng ngộ được pháp nhứt như chân thật của Phật.
Vì bốn lý do nêu trên, Bồ-tát mới phát tâm tu tập các hạnh. Sự quan hệ như thế nào giữa Bồ-tát và thứ bậc của thập hạnh?
Theo kinh luận, thập hạnh là một trong tam hiền, là tánh chủng tánh trong sáu chủng tánh (6) cũng gọi là tư lương vị trong năm ngôi vị của Bồ-tát.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC
---
Thập hồi hướng vị là một trong 50 ngôi vị tu tập của Bồ Tát, từ ngôi vị thứ 31 đến ngôi vị thứ 40. Bồ-tát phát khởi tâm thập hồi hướng với chủ ý là dùng tâm đại bi để cứu hộ tất cả chúng sanh. Thập hồi hướng vị gồm có:
  1. Cứu hộ nhứt thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng là hướng về sự xa lìa danh tướng chúng sanh để cứu hộ tất cả chúng sanh. Ý câu này nói Bồ-tát cứu hộ chúng sanh trong hành động vô tướng (trong hành động không phân biệt chấp trước). Bồ-tát ở ngôi vị này là áp dụng phương châm lục độ ba la mật và tứ nhiếp pháp để cứu hộ tất cả chúng sanh. Bồ-tát thật hành hạnh nguyện cứu hộ chúng sanh trong tinh thần bình đẳng đối với những kẻ thù oán cũng như đối với những người thân thương.
  2. Bất hoại hồi hướng là hướng về sự không hư hoại. Bồ-tát ở ngôi vị này là không làm mất tín tâm đối với tam bảo. Bồ-tát hướng về thiện căn nơi đức tin tam bảo để giáo hóa và khiến cho chúng sanh được nhiều thiện lợi.
  3. Đẳng nhứt thiết Phật hồi hướng là hướng về những công tác mà chư Phật trong ba đời đã làm. Bồ-tát ở ngôi vị này là theo gương hành động của chư Phật trong ba đời bằng cách không nhiễm trước sinh tử và không rời bồ đề một bước để tu tập.
  4. Chí nhứt thiết xứ hồi hướng là hướng về khắp tất cả chỗ. Bồ-tát ở ngôi vị này là đem bao nhiêu thiện căn đã tu tập được hướng về khắp tất cả tam bảo và đến tất cả chúng sanh để cúng dường những lợi ích.
  5. Vô tận công đức tạng hồi hướng là hướng về kho tàng công đức không cùng tận. Bồ-tát ở ngôi vị này là hướng về tất cả thiện căn không cùng tận đã tu tập được tùy hỷ đem ra phụng sự Phật pháp.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0



CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC
---

Thập hồi hướng


6- Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng là hướng về thiện căn để tùy thuận một cách bình đẳng. Bồ-tát ở ngôi vị này là vì chư Phật trong mười phương nên hướng về những thiện căn đã tu tập được để bảo vệ chúng sanh một cách bình đẳng và khiến cho tất cả chúng sanh thành tựu kiên cố những thiện căn nói trên.

7- Tuỳ thuận đẳng quán nhứt thiết chúng sanh hồi hướng là tuỳ thuận hết thảy thiện căn đã tu tập được để hướng về quán chiếu tất cả chúng sanh. Bồ-tát ở ngôi vị này là làm tăng trưởng hết thảy thiện căn để hướng về làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

8- Như tướng hồi hướng là hướng về nơi tướng chân như. Bồ-tát ở ngôi vị này là đem những thiện căn đã tu tập được hướng về hòa hợp với tướng chân như Phật tánh.

9- Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng là hướng về sự giải thoát không bị trói buộc và không chấp trước. Bồ-tát ở ngôi vị này là không còn bị trói buộc cũng như không còn chấp trước tất cả pháp. Do đó tâm của các vị đều được giải thoát hoàn toàn. Các vị Bồ-tát nói trên sở dĩ thành tựu những công hạnh vừa kể là nhờ hướng về các thiện pháp để thật hành hạnh nguyện phổ hiền, cho nên họ được đầy đủ tất cả hạt giống công đức.

10- Pháp giới vô lượng hồi hướng là hướng về vô lượng pháp giới. Bồ-tát ở ngôi vị này là đem tất cả thiện căn không cùng tận đã tu tập được hướng về nguyện cầu cho vô lượng thế giới sai biệt đều được hết thảy công đức.

Thập hồi hướng trên đây thuộc về giải hạnh trụ, một trong 13 trụ. Thập hồi hướng này chính là tư lương vị, một trong 5 ngôi vị, (Tư lương vị, Gia hạnh vị, Thông đạt vị, Tu tập vị và Cứu cánh vị). Thập hồi hướng này còn là thuộc về đạo chủng tánh, một trong 6 chủng tánh và cũng là một ngôi vị hiền thứ ba trong tam hiền ở trước

Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0


CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC
---

Thập địa (zh. 十地, sa. daśabhūmi) là mười quả vị tu chứng của các vị Bồ Tát. Có nhiều hệ thống khác nhau nhưng theo Bồ Tát địa (菩薩地, sa. bodhisattva-bhūmi) và Thập địa kinh (zh. 十地經, sa. daśabhūmika-sūtra) thì Thập địa gồm:

1- Hoan hỉ địa (zh. 歡喜地, sa. pramuditā-bhūmi): Đắc quả này Bồ Tát rất hoan hỉ trên đường Giác ngộ (sa. bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả các chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (sa. saṃsāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (sa. dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (sa. anātman) của tất cả các Pháp (sa. dharma).

2- Li cấu địa (zh. 離垢地, sa. vimalā bhūmi): Bồ Tát giữ Giới (sa. śīla) và thực hiện thiền định (sa. dhyāna, samādhi).

3- Phát quang địa (zh. 發光地, sa. prabhākārī bhūmi): Bồ Tát chứng được quy luật Vô thường (sa. anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (sa. kṣānti) khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sinh. Để đạt đến cấp này, Bồ Tát phải diệt trừ ba độc là tham, sân, si, thực hiện được bốn cấp định an chỉ (sa. dhyāna, Tứ thiền) của bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục thông (sa. abhijñā).

4- Diệm huệ địa (zh. 燄慧地, sa. arciṣmatī bhūmi): Bồ Tát đốt hết tất cả những quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ, Bát-nhã (sa. prajñā) và 37 Bồ-đề phần (sa. bodhipākṣika-dharma).

5- Cực nan thắng địa (zh. 極難勝地, sa. sudurjayā bhūmi): Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ diệu đế và Chân như, tiêu diệt nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi.
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC
---

6- Hiện tiền địa (zh. 現前地, sa. abhimukhī bhūmi): Bồ Tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lí Duyên khởi với mười hai nhân duyên và chuyển hoá trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức tính Không Trong xứ này, Bồ Tát đã đạt đến trí huệ Bồ-đề (sa. bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ (sa. pratiṣṭhita-nirvāṇa). Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Bồ Tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tử ràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ (sa. apratiṣṭhita-nirvāṇa).

7- Viễn hành địa (zh. 遠行地, sa. dūraṅgamā bhūmi): đạt tới cảnh giới này, Bồ Tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện (sa. upāya) để giáo hoá chúng sinh. Đây là giai đoạn mà Bồ Tát tuỳ ý xuất hiện trong một dạng bất kì.

8- Bất động địa (zh. 不動地, sa. acalā bhūmi): trong giai đoạn này, không còn bất kì cảnh ngộ gì làm Bồ Tát dao động. Công phu tu tập được thực hiện một cách vô ngại. Theo kinh Giải thâm mật thì những phiền não vi tế nhất cũng bị diệt trừ ở đây.

9- Thiện huệ địa (zh. 善慧地, sa. sādhumatī bhūmi): Trí huệ Bồ Tát viên mãn, đạt Thập lực (sa. daśabala), Lục thông (sa. ṣaḍabhijñā), Tứ vô sở uý, Bát giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp.

10- Pháp vân địa (zh. 法雲地, sa. dharmameghā bhūmi): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sa. sarvajñatā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Bồ Tát ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Đâu-suất. Phật quả của Bồ Tát đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (sa. maitreya), Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara) và Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī).
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN - PHẬT GIÁO BẮC TÔNG

Quả vị tột cùng là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC hay TOÀN GIÁC tức là một vị PHẬT, nhưng muốn đạt đến phải qua các tầng bậc sau đây:

1- Thập tín

THẬP TÍN

2- Tam Hiền

THẬP TRỤ
THẬP HẠNH
THẬP HÔI HƯỚNG


3- Thập Thánh

THẬP ĐỊA

4-Xuất Địa

ĐẲNG GIÁC
DIỆU GIÁC
TOÀN GIÁC


----------------

BA BẬC XUẤT ĐỊA

1- Đẳng Giác: Quả vị thứ 51 trong 52 quả vị mà Bồ Tát phải trải qua trên đường đi đến quả vị Phật—Đẳng Giác đi trước Diệu Giác hay Phật Quả Giác Ngộ.

2- Diệu Giác: Diệu giác trong Phật giáo Đại thừa gồm tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn (tự mình giác ngộ, giúp người giác ngộ, giác ngộ tròn đầy)—Đây là quả vị thứ 52, cũng là quả vị cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành Phật.

3- Toàn Giác (Samma Sambodhi) là đỉnh giác ngộ tối cao của bậc đã thành tựu mức độ trí tuệ tuyệt luân, vô lượng, từ bi, thông suốt mọi lẽ. Bậc đã chứng đắc Đạo Quả tối thượng siêu việt này gọi là Toàn Giác Phật hay Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc Chánh Biến Tri. Phạn ngữ "Samma Sambuddho" có nghĩa là người tự mình trở nên hoàn toàn giác ngộ. Tự lực cố gắng khai thông tuệ giác, không thầy chỉ dạy. Các Đấng Toàn Giác, sau khi chứng quả vô thượng bồ đề liền đem ra phổ cập trong quần sanh, tận tụy hướng dẫn chư Thiên và nhân loại đến nơi hoàn toàn trong sạch, giải thoát khỏi vòng quanh vô tận của định luật tử sanh, sanh tử. Không phải như chư Phật Độc Giác, trong một châu kỳ chỉ có một vị Phật Toàn Giác duy nhất ra đời, như đoá hoa duy nhất chỉ trổ sanh trên một loại cây hy hữu.

trích từ Phật Học Từ Điển của Thiện Phúc và Đức Phật và Phật Pháp của Đại trường lão Narada do Phạm Kim Khánh dịch
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
Toàn Giác thập hiệu & Toàn Giác thập lực


HỎI: Tôi đọc kinh biết Như Lai thập hiệu và Như Lai thập lực nhưng không hiểu rõ về ý nghĩa.

ĐÁP: Bạn Tâm Thủy và tinhbien… thân mến!




Như Lai thập hiệu là mười đức hiệu tôn quý của chư Phật. Bất cứ vị Phật nào ở trong quá khứ, hiện tại và vị lai, ở trong khắp thập phương thế giới đều có đầy đủ mười đức hiệu này. Đó là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật-Thế Tôn.



1. Như Lai (S.Tathàgata), bậc nương vào Chân như (Như) mà đến (Lai) và thành Chánh giác. Theo kinh Kim Cang, Như Lai có nghĩa là “Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”, không từ đâu đến và cũng chẳng về đâu, hàm ý từ bản thể Chân như (hiện ra) và có mặt cùng khắp mọi nơi. Khi nói về mình, Phật Thích Ca xưng là Như Lai.

2. Ứng Cúng (S.Arhat), bậc xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời và người. Ứng Cúng còn là một đức hiệu của các bậc thánh A-la-hán.

3. Chánh Biến Tri (S.Samyak-sambuddha), bậc có khả năng hiểu biết (Tri) đúng đắn (Chánh) và cùng khắp (Biến) tất cả các pháp.

4. Minh Hạnh Túc (S.Vidyà-carana-sampanna), bậc trí tuệ và phước đức vẹn toàn. Minh là trí tuệ (Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh). Hạnh là phước đức, tức các hạnh nghiệp đều toàn thiện, viên mãn. Túc nghĩa là đầy đủ, vẹn toàn.

5. Thiện Thệ (S.Sugata), bậc “khéo léo vượt qua mọi chướng ngại và ra đi một cách tốt đẹp”, nghĩa là sau khi chứng đạo dùng Nhất thiết trí hóa độ chúng sanh, thực hành Bát thánh đạo rồi an trú Niết-bàn.

6. Thế Gian Giải (S.Loka-vid), bậc thấu hiểu và rõ biết (Giải) tất cả từ quá khứ, hiện tại cho đến vị lai (Thế) ở trong mười phương thế giới (Gian).

7. Vô Thượng Sĩ (S.Anuttara), bậc tối tôn tối thượng, không ai có thể hơn được.

8. Điều Ngự Trượng Phu (S. Purusa-damya-sàrathi), bậc có khả năng dùng các phương tiện thiện xảo để điều phục, nhiếp hóa, dẫn dắt (Điều Ngự) người tu hành (Trượng Phu) khiến họ thành tựu giải thoát, chứng đắc Niết-bàn.

9. Thiên Nhơn Sư (S.Sàstà deva-manusyànàm), bậc thầy của trời và người.

10. Phật-Thế Tôn (S.Buddha-Bhagavat), bậc giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn và được thế gian đều tôn kính.

Mười đức hiệu này, trong các kinh luận cũng có trường hợp gộp chung Thế Gian Giải và Vô Thượng Sĩ thành một hiệu, hoặc gộp Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành một hiệu…

Như Lai thập lực (Dasa balàni) là mười trí lực hay thần lực của Như Lai, gồm:

1. Xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết một cách chắc thật đối với tất cả nhân duyên quả báo, nếu tạo nghiệp thiện thì nhất định được phước báo an vui và ngược lại.

2. Nghiệp dị thục trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết rõ nghiệp duyên, quả báo, sinh xứ trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai của tất cả chúng sanh.

3. Tịnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực: Trí tuệ của Như Lai thông suốt về các pháp tu thiền định, biết rõ và đúng như thật về thứ lớp, sâu cạn của thiền định, giải thoát.

4. Căn thượng hạ trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết đúng như thật về căn cơ cao thấp của chúng sanh.

5. Chủng chủng thắng giải trí lực: Trí tuệ của Như Lai thông suốt mọi kiến giải và biết rõ như thật về tất cả các dục lạc, thiện ác khác nhau của chúng sanh.

6. Chủng chủng giới trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết khắp và đúng như thật về hoàn cảnh thực tế khác nhau của chúng sanh ở thế gian.

7. Biến thú hạnh trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết đúng như thật về nơi đến của các hạnh hữu lậu là lục đạo và các hạnh vô lậu là Niết-bàn.

8. Túc trụ tùy niệm trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết đúng như thật về các túc mạng, một đời cho đến cả trăm ngàn đời, chết đây sanh kia, tên tuổi, đời sống và thọ mạng của chúng sanh.

9. Sinh tử trí lực: Trí tuệ của Như Lai biết đúng như thật về thời gian sanh tử, cõi thiện và cõi ác ở đời vị lai, cùng các nghiệp duyên thiện ác của chúng sanh.

10. Lậu tận trí lực: Trí tuệ của Như Lai đoạn tận hết thảy các tập khí, phiền não không còn sanh khởi, thành tựu giải thoát tốt hậu.

Bậc Như Lai do tu tập hạnh Bồ tát trong vô lượng kiếp nên khi thành Phật đầy đủ trí tuệ và phước đức như vậy.

http://www.giacngo.vn/tuvan/2010/01/05/7A5049/
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
Thập Bát Bất Cộng Pháp: Mười tám món công đức của Phật, chẳng chung cùng với hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác nên gọi là Bất Cộng—The eighteen distinctive characteristics or unique qualities of Buddhas, so called because they are not similar to those of Sravakas and Pratyeka-buddhas. There are two definitions:

(A) Tiểu Thừa Thập Bát Bất Cộng Pháp: Mười tám Bất Cộng Pháp của Tiểu Thừa—The eighteen characteristics defined by the Hinayana:

1) (10) Thập Lực: ten kinds of power.

2) (4) Tứ Vô Úy: Four Fearlessnesses.

3) (3) Ba Niệm Trụ: Three kinds of mindfulness.

4) (1) Phật Đại Bi: Đại bi của Phật—The Buddha’s great pity.

(B) Đại Thừa Thập Bát Bất Cộng: Mười tám điều không lỗi theo Đại Trí Độ Luận—The eighteen distinctive characteristics defined by the Mahayana or eighteen kinds of perfection, according to the Sastra on the Prajna-Paramita-Sutra:

1) Thân Vô Thất: Thân Không Lỗi—Perfection of body—Impacability of action.

2) Khẩu Vô Thất: Miệng Không Lỗi—Perfection of speech—Impacability of speech.

3) Niệm Vô Thất: Ý Không Lỗi—Perfection of memory—Impacability of mind.

4) Vô Dị Tưởng (đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng không có tư tưởng khác): Không có tư tưởng phân biệt—Impartiality or universality—Having no discriminatory thoughts.

5) Vô Bất Tri Dĩ Xả (xả bỏ mọi pháp không chấp trước): Chẳng phải không biết chuyện xả bỏ—Entire self-abnegation—Unfailing discernment and relinquishment.

6) Vô Bất Định Tâm: Không bao giờ có tâm tán loạn—Ever in samadhi or unfailing concentration.

7) Dục Vô Diệt: Ý muốn cứu độ chúng sanh không hề nhàm chán và không cùng tận—Never diminishing will to save—Endless volition, or desire of saving beings.

8) Tinh Tấn Vô Diệt: Tinh Tấn Không Suy Giảm—Endless zeal or vigor.

9) Niệm Vô Diệt: Niệm Không Giảm hay tỉnh thức không cùng tận—Endless thought or endless mindfulness.

10) Huệ Vô Diệt: Tuệ Không Giảm—Endless wisdom.

11) Giải Thoát Vô Diệt: Giải Thoát Không Giảm hay giải thoát không cùng tận—Endless salvation or liberation.

12) Giải Thoát Tri Kiến Vô Diệt: Giải Thoát Tri Kiến Không Giảm hay không cùng tận—Endless insight into salvation or endless liberated knowledge and vision.

13) Nhất Thiết Thân Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Thân Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Deeds are accordant with wisdom—All actions are in accordance with knowledge and wisdom.

14) Nhất Thiết Khẩu Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Khẩu Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—All speech is accordant with wisdom or knowledge and wisdom.

15) Nhất Thiết Ý Nghiệp Tùy Trí Huệ: Mọi Ý Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Mind is accordant with wisdom or all thoughts are in accordance with knowledge and wisdom.

16) Trí Huệ Tri Quá Khứ Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Quá Khứ Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the past or unobstructed insight into the past.

17) Trí Huệ Tri Vị Lai Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Vị Lai Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the future of unobstructed insight into the future.

18) Trí Huệ Tri Hiện Tại Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Hiện Tại Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the present or unobstructed insight into the present.

http://quangduc.com/tudien/tdphathoc/tdphthienphucVA-tha1.html
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
HOA TẠNG THẾ GIỚI
(Hán bộ từ quyển thứ tám đến hết quyển thứ mười)

(Hán bộ quyển 8)

Lúc đó Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng: “Chư Phật tử! Hoa tạng thế giới hải này, được nghiêm tịnh là do đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thuở xưa lúc tu hạnh Bồ tát trải qua thế giới hải vi trần số kiếp, trong mỗi kiếp gần gũi vi trần số Phật, nơi mỗi Phật tu tập vi trần số đại nguyện thanh tịnh.

Chư Phật tử! Hoa tạng thế giới trang nghiêm này, có Tu di sơn vi trần số phong luân nhiếp trì. Phong luân dưới chót tên bình đẳng trụ có thể nhiếp trì phong luân trên, trang nghiêm với vô số ngọn lửa báu sáng rực rỡ. Phong luân kế trên tên Xuất sanh chủng chủng bửu trang nghiêm có thể nhiếp trì từng trên tràng ma ni vương sáng rỡ.

Phong luân kế trên, tên bửu oai đức có thể nhiếp trì từng trên vô số bửu linh. Phong luân kế trên tên Bình đẳng diệm có thể nhiếp trì từng trên ma ni vương sáng như mặt trời. Phong luân kế trên tên Chủng chủng Phổ trang nghiêm có thể nhiếp trì từng trên vòng hoa sáng chói. Phong luân kế trên tên Phổ thanh tịnh có thể nhiếp trì từng trên tòa sư tử hoa báu chiếu sáng. Phong luân kế trên tên Thinh biến thập phương có thể nhiếp trì từng trên tràng vô số châu vương. Phong luân kế trên tên Nhứt thiết bửu quang minh có thể nhiếp trì từng trên cây báu vô số ma ni vương. Phong luân kế trên tên Tốc tật phổ trì có thể nhiếp trì từng trên mây Tu di tất cả hương ma ni. Phong luân kế trên tên Chủng chủng cung điện du hành có thể nhiếp trì từng trên mây hương đài tất cả bửu sắc. Chư Phật tử! Lần lượt đến Tu di sơn vi trần số phong luân, trên hết tên Thù thắng oai quang tạng có thể nhiếp trì biển hương thủy phổ quang ma ni trang nghiêm. Biển hương thủy này có liên hoa lớn tên Chủng chủng quang minh nhụy hương tràng. Hoa tạng thế giới hải trụ trong tràng đó, bốn phương bằng thẳng thanh tịnh kiên cố, kim cang luân sơn bao giáp vòng, những cây, đất, biển đều có khu vực sai khác.
'
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0

Lúc đó Phổ-Hiền Bồ-Tát muốn tuyên lại nghĩa này thừa oai-thần của Phật quan-sát mười-phương rồi nói kệ rằng :

Thế-Tôn thuở xưa nơi các cõi
Chỗ chư Phật ngự tu tịnh nghiệp
Nên được các thứ bửu quang-minh
Hoa-tạng trang-nghiêm thế-giới-hải.
Từ-bi rộng lớn khắp tất cả
Xả thân vô-lượng số vi-trần
Do xưa nhiều kiếp sức tu hành
Nay thế-giới này không cấu nhiễm.
Phóng đại quang-minh trụ không-gian
Phong-luân nhiếp-trì không dao động
Phật-tạng ma-ni khắp nghiêm sức
Nguyện lực Như-Lai khiến thanh-tịnh.
Khắp rải hoa ma-ni diệu tạng
Do đại nguyện-lực trụ không gian
Các thứ biển kiên cố trang-nghiêm
Mây sáng bủa giăng khắp mười phương.
Trong xuân ma-ni chúng Bồ-Tát
Khắp đến mười phương sáng rực rỡ
Lửa sáng thành vòng hoa đẹp tốt
Pháp-giới châu-lưu khắp tất cả.
Trong tất cả báu phóng quang-minh
Quang-minh đó chiếu khắp chúng-sanh
Cõi nước mười phương đều chiếu đến
Khiến chúng khỏi khổ đến bồ-đề.
Trong báu, Phật số đồng chúng-sanh
Từ chân lông Phật hiện hóa-thân
Phạm-Vương Ðế-Thích chuyển-luân-vương
Tất cả chúng-sanh và chư Phật.
Hóa hiện quang-minh khắp pháp-giới
Quang-minh diễn nói tên chư Phật
Các thứ phương-tiện hiện điều-phục
Ứng khắp lòng chúng không bỏ sót.
Những vi-trần trong hoa-tạng-giới
Trong mỗi mỗi trần thấy pháp-giới
Bửu-quang hiện Phật như mây nhóm
Chư Phật như vậy ngự tự-tại.
Nguyện-lực quảng-đại khắp pháp-giới
Trong tất cả kiếp-độ chúng-sanh
Hạnh-nguyện Phổ-Hiền trí đều thành
Tất cả trang-nghiêm do đây có.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Hoa Tạng Thế giới thứ năm
http://quangduc.com/kinhdien/212hoanghiem05.html
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
Lúc đó Phổ-Hiền Bồ-Tát lại bảo đại-chúng rằng : ''Chư Phật-tử ! Hoa-Tạng trang-nghiêm thế-giới-hải này, đại luân-vi-sơn ở trên liên-hoa-nhựt-châu-vương, chiên-đàn ma-ni làm thân, oai-đức bửu-vương làm chót, diệu hương ma-ni làm luân, diệm tạng kim cang hiệp thành, tất cả hương thủy chảy trong đó, rừng bằng châu báu, hoa tốt đua nở, cỏ thơm trải đất, minh-châu xen trang-nghiêm, khắp nơi đầy những hoa thơm, châu ma-ni làm lưới giăng trùm, có thế-giới-hải vi-trần số sự trang-nghiêm tốt-đẹp như vậy.

Lúc đó Phổ-Hiền Bồ-Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai-lực của Phật, quan-sát mười-phương rồi nói kệ rằng :

Thế-giới đại-hải vô-lượng biên
Bửu-luân thanh-tịnh nhiều màu sắc
Những sự trang-nghiêm đều đẹp lạ
Ðây do thần-lực của Như-Lai.
Ma-ni bửu-luân diệu-hương-luân
Nhẫn đến chơn-châu như đèn sáng
Các thứ diệu-bửu dùng trang-nghiêm
Thanh-tịnh bửu-luân chỗ an-trụ.
Ma-ni kiên-cố dùng làm tạng
Diêm-phù-đàn-kim dùng trang-sức
Phóng quang phát sáng khắp mười phương
Trong ngoài chói suốt đều thanh-tịnh.
Kim-cang ma-ni họp lại thành
Lại rưới ma-ni các diệu-bửu
Bửu đó đẹp lạ đều khác nhau
Phóng quang thanh-tịnh khắp tráng lệ.
Hương thủy chảy xen vô-lượng sắc
Rưới những bửu-hoa và chiên-đàn
Hoa-sen đua nở khắp mọi nơi
Cỏ thơm trải đất hương ngào ngạt.
Vô-lượng cây báu khắp trang-nghiêm
Hoa-nở nhị đơm mầu sáng rỡ
Y-phục xinh đẹp ở trong đó
Mây sáng bốn phương thường viên mãn.
Vô-lượng vô-biên đại Bồ-Tát
Cầm lọng thắp hương đầy pháp-giới
Ðều phát tất cả diệu thinh-âm
Chuyển chánh pháp-luân của chư Phật.
Những cây ma-ni bằng chất báu
Mỗi chất báu đều phóng quang-minh
Tỳ-Lô-Gía-Na thanh-tịnh thân
Hiện vào trong đó đều khiến thấy.
Trong những trang-nghiêm hiện thân Phật
Sắc tướng vô-biên vô-lượng số
Qua đến mười phương khắp mọi nơi
Hóa độ chúng-sanh cũng vô-lượng.
Tất cả trang-nghiêm vang tiếng diệu
Diễn nói bổn nguyện của Như-Lai
Sát-hải thanh-tịnh khắp mười phương
Thần-lực của Phật khiến đầy khắp.

Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»