<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-18 02:22:45lyenson>
Thuốc phiện
Long Nguyễn (Meta4954)

Phi Yến Thu Lâm.
Đồng chí Tùng dắt chiếc xe cúp vào nhà. Chẳng bấm chuông hay gõ cửa mà cũng không điện thoại báo trước gì cả. Chiếc xe cúp không cúp bình thiếc tí nào, ngoài vệt bánh xe ướt nước mưa trên đường lộ, hằn 1 đường trên nền gạch hoa sạch bóng, chiếc xe là 1 biểu hiệu hiện đại của Việt Nam thời mở cửa mả. Phải gọi là mở cửa mả. Dân ta có tục bốc mộ người chết sau 1 thời gian chôn cất gọi là mở cửa mả. Thân nhân người chết mướn các "chuyên gia " bốc mộ đào xới, thu nhặt xương cốt, chùi rửa sạch sẽ mang đi chôn chỗ khác hoặc đốt thành tro bỏ vào hũ cho tiện việc thờ cúng. Việt nam ta sau 20 năm vùi lấp dưới 3 tấc bùn lầy Các Mác cũng được bốc lên, rửa ráy cho sạch sẽ, gọi là đổi mới hay còn gọi là mở cửa mả, như thể trình làng trình chạ là chúng ông vẫn chửa chết . Chửa chết nhưng tử khí vẫn nặc nồng .
Một anh chàng dong dỏng mặc bộ đồ ngủ bước ra . Theo như đồng chí Tùng nói trước thì anh chủ nhà tên Thiện, 52 tuổi, bộ đội phục viên. Chắc cũng chiến công gì dữ lắm mới được nhà nước chia cho căn nhà cướp được của nhân dân gọi là chiến lợi phẩm. Tuy thế nhác trông thấy chúng tôi, đồng chí Thiện nở 1 nụ cười quen thuộc. Nụ cười này quen lắm, Meta vẫn thường thấy trên sân khấu cải lương ở những vai nịnh thần gian xảo. Giời cũng oái oăm. Mồm thằng gian nào cũng nhiều lông. Cứ nhìn bác Hồ chúng ta có thể suy ra. Ngày xưa lúc nặn ra con người từ đất sét, Thượng Đế cũng hóm lắm. Chỗ nào có lỗ ngài "thiết kế" ít lông cho dễ nom. Nhìn lại con người của mình xem, cái gì gọi là lỗ như lỗ mũi, lỗ mồm, ngay cả lỗ ... đít cũng có 1 tí gọi là ... lấy thảo . Duy cái đầu không lỗ mà lại nhiều lông nhất là bởi từ đấy, con người tiết ra những điều khoảnh ác nhất, dơ dáy nhất. Đồng chí Thiện xun xoe, cái lưng khom hẳn xuống như hình chữ C :
- Chẳng mấy khi đồng chí đến chơi. Kính mời 2 đồng chí ngồi nghỉ tí đã .
Ngày xưa Tùng là thuộc cấp của đồng chí Thiện cơ đấy. Hàng ngày phải trông nom việc chích thuốc bổ cho đồng chí thủ trưởng. Chả là vì Tùng có khiếu chích. Các anh chỉ huy nâng đỡ, gởi đi học ở đâu chả biết. Mãi đến khi mò về đơn vị thì được gọi là bác sĩ. Kể cũng quái . Nhoáy qua nhoáy lại chưa được 9 tháng 10 ngày, chẳng biết học thế chó nào mà lại có bằng bác sĩ, chuyên chích thuốc bổ cho các anh lớn. Thói đời cứ phục viên là chẳng còn ti toe được nữa. Cái thằng xưa vẫn hầu hạ mình, bây giờ mình lại đâm kính nể nó mới quái. Tùng đỡ lời :
- Cậu này là Việt kiều, tên Mê Ta mới về thăm quê hương. Chẳng đồng chí đồng rận gì đâu. Hôm nay bọn tớ đến đây là để thăm hỏi đồng chí ấy mà. Lâu quá chả gặp .
Thăm hỏi là gì thì đồng chí Thiện biết rồi. Cũng may là "hàng" vẫn còn khối. Dạo này, bọn biên phòng làm ăn chắc khá lắm vì hàng tràn lan mọi nơi, không phải chạy đôn chạy đáo như trước.
Cửa nẻo xong xuôi, đồng chí Thiện bắt đầu bày biện. Trước tiên là bộ đồ trà với cái phích nước có in mấy chữ Tầu nhằng nhịt. Chắc sản xuất bên Tầu. Sau đó là 1 cái hộp gỗ sơn đen có vẽ cảnh đại khái Xuân Hạ Thu Đông chi đó. Lại 1 hàng chữ Tầu nữa, sơn bằng nhũ bên dưới bức tranh 4 mùa. Đồng chí Thiện xoa tay :
- Mời 2 đồng chí xơi kẹo uống trà cái đã.
Đồng chí việt kiều mở nắp hộp, tò mò :
- Mấy chữ gì thế hả anh ?
- Thu yến phi lâm. Chữ Trung Quốc đấy .
Nhạn lạc rừng thu. Hay đáo để. Chỉ 1 điều toàn bức tranh chẳng có con nhạn nào, dù là nhạn đẹt.
- Có con nhạn nào trong hình đâu? Meta thắc mắc .
- Cái này chắc đồng chí việt kiều chả biết đâu. Hồi nhà em chưa bỏ em, Phi Yến Thu Lâm là tiếng lóng bọn nghiện chúng em gọi cho vợ con khỏi biết ấy mà.
Vừa rót trà, đồng chí Tùng thong thả :
- Phi yến thu lâm nghĩa là thuốc phiện thú lắm. Đọc nhanh thì nó là thế. "Rùng" miếng kẹo nhá.
Đồng chí Thiện hí hoáy đốt cái đèn dầu lạc. Một cái dọc tẩu không biết làm bằng gì, đánh vẹc ni bóng láng, nằm sẵn trên bàn từ lúc nào. Vẫn chăm chú bày những chai những lọ bé bằng hạt mít, Thiện nói :
- Ngày xưa các cụ là phải nằm mới hút cơ đấy. Nằm riết cụp cả tai, vai cũng rụt lại nên người ta gọi là dân làng bẹp. Bẹp là bẹp tai đấy .
Dễ thường hơn 20 năm chưa về Việt Nam, Meta thầm ước ao có ngày tận hưởng những thứ nước người không có. Tiếng là đế quốc Mỹ sa đọa, trụy lạc. Gái tơ mơn mởn đầy đường thế mà cái "khoản" đó kiếm không ra. Lớ ngớ có ngày cảnh sát còng tay như chơi. Hôm qua Meta đã đi bia ôm rồi, thịt chó rồi, chỉ còn khoản "phê" thì hôm nay mới được thử. Trong đời cũng nên mếm qua 1 lần cho biết. Cái vụ hít thứ bột trắng thì Meta không ham vì từ lâu, cái dọc tẩu và văn chương cổ truyền Việt Nam đã có ít nhiều gắn bó. Hút mới thú. Phi yến thu lâm .
Cám ơn đồng chí Hồ vĩ đại. Đồng chí Thiện xứng đáng là thanh niên tiên tiến đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Trên đầu cái tăm bằng sắt có ghim 1 cục sái đen thui. Đồng chí chấm vào cái lọ bé tí trong đó có chứa 1 chất nước sánh đặc. Vừa hơ lên ngọn đèn. Đèn dầu lạc không có khói. Vừa hơ vừa xoay cho cục thuốc khỏi nhiểu vì nóng. Lại chấm vào thuốc nữa. Được 1 lúc áng chừng đẫm thuốc, đồng chí nhét vào lỗ dọc tẩu. Rút cái tăm ra là cả 1 nghệ thuật. Phải vừa rút vừa xoay sao cho khi rút ra, cục thuốc có 1 cái lỗ ở giữa. Lỗ phải thông hút mới được. Đồng chí Tùng chẳng đợi mời, đưa tay đón dọc tẩu , chu mồm hút. Hai bên má đồng chí lõm vào, vai so lên, mắt lim dim nhỏ bằng sợi chỉ. Lâu lắm. Khiếp lâu như thợ lặn nín hơi. Chẳng thấy khói đâu cả. Đồng chí tợp hết chén trà đang bốc khói mà trong lúc đang hút, đồng chí Thiện rót sẵn. Dân trong nghề hiểu ý nhau hết. Mãi đến khi cái hột trái cấm ở cần cổ yên ắng không còn nhúc nhích nữa, mới thấy đồng chí Tùng ngửa mặt như người chảy máu cam, thả 1 làn khói mỏng lên trần nhà.
Biết Meta chưa thử bao giờ. Đồng chí Thiện chỉ dẫn :
- Để lên lửa là hút liền kẻo nó chảy ra là nghẹt đấy.
Sau 2 lần đưa lên chưa kịp hút thì lỗ bị bít, cuối cùng Meta cũng hút được. Lấy hơi từ lúc chưa đưa dọc tẩu lên ngọn đèn, hút trước rồi mới kê vào lửa. Làm như thế không nghẹt nhưng lại mau hết hơi, chẳng mấy khói. Chẳng sao. Thèm nhạt gì thứ này. Đã bảo hút cho biết thế thôi. Cũng bắt chước "dô" 1 chén trà nóng bỏng, cắn 1 miếng kẹo lạc. Chẳng ngon mà cũng chẳng phê tí nào cả. Có điều khói có mùi thơm.
Ra về, ngồi trên xe cúp mà cứ tưởng đang bay. Các cụ nói đi mây về gió là thế. Tốn có 15 đô. Giá không phải đút cho công an khu vực thì còn rẻ nữa. Thời buổi mở cửa mả, cả 1 nước làm cái gì cũng ra tiền. Xin ngả mũ khâm phục con cháu bác và đảng.
ooOoo
CANH TÁC VÀ CHẾ BiẾN NHA PHiẾN Ở ĐÔNG NAM Á.
Đồng chí Tùng dắt chiếc xe cúp vào nhà. Chẳng bấm chuông hay gõ cửa mà cũng không điện thoại báo trước gì cả. Chiếc xe cúp không cúp bình thiếc tí nào, ngoài vệt bánh xe ướt nước mưa trên đường lộ, hằn 1 đường trên nền gạch hoa sạch bóng, chiếc xe là 1 biểu hiệu hiện đại của Việt Nam thời mở cửa mả. Phải gọi là mở cửa mả. Dân ta có tục bốc mộ người chết sau 1 thời gian chôn cất gọi là mở cửa mả. Thân nhân người chết mướn các "chuyên gia " bốc mộ đào xới, thu nhặt xương cốt, chùi rửa sạch sẽ mang đi chôn chỗ khác hoặc đốt thành tro bỏ vào hũ cho tiện việc thờ cúng. Việt nam ta sau 20 năm vùi lấp dưới 3 tấc bùn lầy Các Mác cũng được bốc lên, rửa ráy cho sạch sẽ, gọi là đổi mới hay còn gọi là mở cửa mả, như thể trình làng trình chạ là chúng ông vẫn chửa chết . Chửa chết nhưng tử khí vẫn nặc nồng .
Một anh chàng dong dỏng mặc bộ đồ ngủ bước ra . Theo như đồng chí Tùng nói trước thì anh chủ nhà tên Thiện, 52 tuổi, bộ đội phục viên. Chắc cũng chiến công gì dữ lắm mới được nhà nước chia cho căn nhà cướp được của nhân dân gọi là chiến lợi phẩm. Tuy thế nhác trông thấy chúng tôi, đồng chí Thiện nở 1 nụ cười quen thuộc. Nụ cười này quen lắm, Meta vẫn thường thấy trên sân khấu cải lương ở những vai nịnh thần gian xảo. Giời cũng oái oăm. Mồm thằng gian nào cũng nhiều lông. Cứ nhìn bác Hồ chúng ta có thể suy ra. Ngày xưa lúc nặn ra con người từ đất sét, Thượng Đế cũng hóm lắm. Chỗ nào có lỗ ngài "thiết kế" ít lông cho dễ nom. Nhìn lại con người của mình xem, cái gì gọi là lỗ như lỗ mũi, lỗ mồm, ngay cả lỗ ... đít cũng có 1 tí gọi là ... lấy thảo . Duy cái đầu không lỗ mà lại nhiều lông nhất là bởi từ đấy, con người tiết ra những điều khoảnh ác nhất, dơ dáy nhất. Đồng chí Thiện xun xoe, cái lưng khom hẳn xuống như hình chữ C :
- Chẳng mấy khi đồng chí đến chơi. Kính mời 2 đồng chí ngồi nghỉ tí đã .
Ngày xưa Tùng là thuộc cấp của đồng chí Thiện cơ đấy. Hàng ngày phải trông nom việc chích thuốc bổ cho đồng chí thủ trưởng. Chả là vì Tùng có khiếu chích. Các anh chỉ huy nâng đỡ, gởi đi học ở đâu chả biết. Mãi đến khi mò về đơn vị thì được gọi là bác sĩ. Kể cũng quái . Nhoáy qua nhoáy lại chưa được 9 tháng 10 ngày, chẳng biết học thế chó nào mà lại có bằng bác sĩ, chuyên chích thuốc bổ cho các anh lớn. Thói đời cứ phục viên là chẳng còn ti toe được nữa. Cái thằng xưa vẫn hầu hạ mình, bây giờ mình lại đâm kính nể nó mới quái. Tùng đỡ lời :
- Cậu này là Việt kiều, tên Mê Ta mới về thăm quê hương. Chẳng đồng chí đồng rận gì đâu. Hôm nay bọn tớ đến đây là để thăm hỏi đồng chí ấy mà. Lâu quá chả gặp .
Thăm hỏi là gì thì đồng chí Thiện biết rồi. Cũng may là "hàng" vẫn còn khối. Dạo này, bọn biên phòng làm ăn chắc khá lắm vì hàng tràn lan mọi nơi, không phải chạy đôn chạy đáo như trước.
Cửa nẻo xong xuôi, đồng chí Thiện bắt đầu bày biện. Trước tiên là bộ đồ trà với cái phích nước có in mấy chữ Tầu nhằng nhịt. Chắc sản xuất bên Tầu. Sau đó là 1 cái hộp gỗ sơn đen có vẽ cảnh đại khái Xuân Hạ Thu Đông chi đó. Lại 1 hàng chữ Tầu nữa, sơn bằng nhũ bên dưới bức tranh 4 mùa. Đồng chí Thiện xoa tay :
- Mời 2 đồng chí xơi kẹo uống trà cái đã.
Đồng chí việt kiều mở nắp hộp, tò mò :
- Mấy chữ gì thế hả anh ?
- Thu yến phi lâm. Chữ Trung Quốc đấy .
Nhạn lạc rừng thu. Hay đáo để. Chỉ 1 điều toàn bức tranh chẳng có con nhạn nào, dù là nhạn đẹt.
- Có con nhạn nào trong hình đâu? Meta thắc mắc .
- Cái này chắc đồng chí việt kiều chả biết đâu. Hồi nhà em chưa bỏ em, Phi Yến Thu Lâm là tiếng lóng bọn nghiện chúng em gọi cho vợ con khỏi biết ấy mà.
Vừa rót trà, đồng chí Tùng thong thả :
- Phi yến thu lâm nghĩa là thuốc phiện thú lắm. Đọc nhanh thì nó là thế. "Rùng" miếng kẹo nhá.
Đồng chí Thiện hí hoáy đốt cái đèn dầu lạc. Một cái dọc tẩu không biết làm bằng gì, đánh vẹc ni bóng láng, nằm sẵn trên bàn từ lúc nào. Vẫn chăm chú bày những chai những lọ bé bằng hạt mít, Thiện nói :
- Ngày xưa các cụ là phải nằm mới hút cơ đấy. Nằm riết cụp cả tai, vai cũng rụt lại nên người ta gọi là dân làng bẹp. Bẹp là bẹp tai đấy .
Dễ thường hơn 20 năm chưa về Việt Nam, Meta thầm ước ao có ngày tận hưởng những thứ nước người không có. Tiếng là đế quốc Mỹ sa đọa, trụy lạc. Gái tơ mơn mởn đầy đường thế mà cái "khoản" đó kiếm không ra. Lớ ngớ có ngày cảnh sát còng tay như chơi. Hôm qua Meta đã đi bia ôm rồi, thịt chó rồi, chỉ còn khoản "phê" thì hôm nay mới được thử. Trong đời cũng nên mếm qua 1 lần cho biết. Cái vụ hít thứ bột trắng thì Meta không ham vì từ lâu, cái dọc tẩu và văn chương cổ truyền Việt Nam đã có ít nhiều gắn bó. Hút mới thú. Phi yến thu lâm .
Cám ơn đồng chí Hồ vĩ đại. Đồng chí Thiện xứng đáng là thanh niên tiên tiến đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Trên đầu cái tăm bằng sắt có ghim 1 cục sái đen thui. Đồng chí chấm vào cái lọ bé tí trong đó có chứa 1 chất nước sánh đặc. Vừa hơ lên ngọn đèn. Đèn dầu lạc không có khói. Vừa hơ vừa xoay cho cục thuốc khỏi nhiểu vì nóng. Lại chấm vào thuốc nữa. Được 1 lúc áng chừng đẫm thuốc, đồng chí nhét vào lỗ dọc tẩu. Rút cái tăm ra là cả 1 nghệ thuật. Phải vừa rút vừa xoay sao cho khi rút ra, cục thuốc có 1 cái lỗ ở giữa. Lỗ phải thông hút mới được. Đồng chí Tùng chẳng đợi mời, đưa tay đón dọc tẩu , chu mồm hút. Hai bên má đồng chí lõm vào, vai so lên, mắt lim dim nhỏ bằng sợi chỉ. Lâu lắm. Khiếp lâu như thợ lặn nín hơi. Chẳng thấy khói đâu cả. Đồng chí tợp hết chén trà đang bốc khói mà trong lúc đang hút, đồng chí Thiện rót sẵn. Dân trong nghề hiểu ý nhau hết. Mãi đến khi cái hột trái cấm ở cần cổ yên ắng không còn nhúc nhích nữa, mới thấy đồng chí Tùng ngửa mặt như người chảy máu cam, thả 1 làn khói mỏng lên trần nhà.
Biết Meta chưa thử bao giờ. Đồng chí Thiện chỉ dẫn :
- Để lên lửa là hút liền kẻo nó chảy ra là nghẹt đấy.
Sau 2 lần đưa lên chưa kịp hút thì lỗ bị bít, cuối cùng Meta cũng hút được. Lấy hơi từ lúc chưa đưa dọc tẩu lên ngọn đèn, hút trước rồi mới kê vào lửa. Làm như thế không nghẹt nhưng lại mau hết hơi, chẳng mấy khói. Chẳng sao. Thèm nhạt gì thứ này. Đã bảo hút cho biết thế thôi. Cũng bắt chước "dô" 1 chén trà nóng bỏng, cắn 1 miếng kẹo lạc. Chẳng ngon mà cũng chẳng phê tí nào cả. Có điều khói có mùi thơm.
Ra về, ngồi trên xe cúp mà cứ tưởng đang bay. Các cụ nói đi mây về gió là thế. Tốn có 15 đô. Giá không phải đút cho công an khu vực thì còn rẻ nữa. Thời buổi mở cửa mả, cả 1 nước làm cái gì cũng ra tiền. Xin ngả mũ khâm phục con cháu bác và đảng.
ooOoo
CANH TÁC VÀ CHẾ BiẾN NHA PHiẾN Ở ĐÔNG NAM Á.

Nguồn gốc và lịch sử nha phiến.
Nha phiến là nhựa rút ra từ cây anh túc , tên khoa học là Papaver Somniferum . Chỉ một ít cây thuộc loại Papaver có thể cho nhựa thuốc phiện . Qua nhiều thế kỷ canh tác và gây giống , 1 giống loại đặc biệt phát triển thành loại mang tên Somniferum . Chủng loại Papaver tên Hy Lạp có nghĩa là Poppy, 1 loại cây độc nhánh, chịu ánh mặt trời và chứa hạt ở bầu hoa . Ở giữa đài hoa có 1 “củ” tròn, gọi là bầu hoa . Somniferum tiếng Latin có nghĩa “gây buồn ngủ” .
Hiệu ứng tâm lý của nha phiến đã được biết từ thời Sumerian (4000 năm trước Công nguyên) . Người Sumer gọi cây anh túc là hul (khóai lạc) và gil (cây) . Ở Âu Châu người ta cũng đã biết ít nhất là 4000 năm trước . Đừng lẫn lộn câu 4000 năm trước với 4000 trước Công nguyên . 4000 năm trước Công nguyên là 4000 năm cộng với 2003 năm sau Công Nguyên thành 6003 năm . 4000 năm chỉ là 2000 năm trước Công Nguyên thôi . Ở Thuỵ Sĩ, người ta tìm thấy hóa thạch của cây anh túc trong những vùng ao hồ thời kỳ tân thạch khí . Thuốc phiện cũng được người Ai Cập và Hy Lạp thượng cổ thông dụng. Tác phẩm The Lliad và The odyssey của Homer, kể lại cuộc phiêu lưu của Lliad ở Hy Lạp cũng nói đến thuốc phiện . Hyppocrates (460-357), sư tổ Y, Dược khoa cũng đề nghị Uô’ng thuốc phiện trộn với hột cây tầm ma ( 1 loại cây có lông gây ngứa) .
Cây anh túc du nhập vào nước Tàu vào khoảng thế kỷ thư’ 7 sau Công Nguyên, đầu nhà Đường, cuối nhà Tuỳ . (Nhằm thời Hậu Lý nước ta) do bọn thương nhân Ả Rập mang vào với danh nghĩa dược phẩm. Trong văn chương Tàu, vị Danh y Hoa Đà thời Tam Quốc (220-264 sau Công nguyên) cũng dùng nha phiến và cây Cannabis Indica (cây cần sa Ấn Độ) cho bịnh nhân uống trước khi giải phẫu .
Thời kỳ nha phiến phổ biến nhất ở Tàu, theo vài nhà sử học là sự du nhập thuốc lá bởi người Hoà Lan từ Java vào thế kỷ 17 . Người Tàu tẩm thuốc lá với nhựa thuốc phiện để hút . Càng ngày, số người nghiện càng lan tràn cả người hút thuốc lá tẩm đến người hút thuốc phiện nguyên chất .
Năm 1803, vị Bác học người Đức tên F. W. Serturner, đã tách rời chất kiềm (alkaloid) chính trong thuốc phiện mà ông ta đặt tên là Morphium, tên 1 vị Thần Hy Lạp, Morpheus, thần của giấc mộng . Sau đó người ta cô đọng các chất kiềm khác như Codein năm 1832, Papaverine năm 1848. Đến năm 1850, nha phiến dưới dạng chất kiềm, chất cô đọng, đã trở nên thông dụng ở Âu Châu .
Ở Mỹ, sự trị liệu bằng thuốc phiện vào thế kỷ 19 như chất giảm đau cho những thương binh trong cuộc nội chiến gây ra hội chứng “bịnh chiến sĩ” . No’ sinh nghiện . Vấn đề này khiến nhu cầu tìm ra 1 loại dược phẩm chống đau và không sinh nghiện trở nên bức thiết . Năm 1870, các nhà hóa học bắt đầu nghiên cứu trong nỗ lực đó. Công ty dược phẩm Bayer là tập đoàn đầu tiên tung ra thị trường 1 loại thuốc giảm đau không sinh nghiện với tên là Heroin . Sản phẩm này được chế biến bằng cách dùng Acetyl để tinh lọc Morphine . Meta sẽ mô tả tỉ mỉ tiến trình acetylation đó sau . Hehehe sau đó người ta thấy heroin sinh nghiện còn hơn morphine nữa . Mặc dù heroin được dùng ở Anh cho những bịnh nhân nan y, giá trị dược liệu của nó gây ra nhiều tranh cãi sôi nổi .
Cây Anh Túc
Nha phiến là nhựa rút ra từ cây anh túc , tên khoa học là Papaver Somniferum . Chỉ một ít cây thuộc loại Papaver có thể cho nhựa thuốc phiện . Qua nhiều thế kỷ canh tác và gây giống , 1 giống loại đặc biệt phát triển thành loại mang tên Somniferum . Chủng loại Papaver tên Hy Lạp có nghĩa là Poppy, 1 loại cây độc nhánh, chịu ánh mặt trời và chứa hạt ở bầu hoa . Ở giữa đài hoa có 1 “củ” tròn, gọi là bầu hoa . Somniferum tiếng Latin có nghĩa “gây buồn ngủ” .
Hiệu ứng tâm lý của nha phiến đã được biết từ thời Sumerian (4000 năm trước Công nguyên) . Người Sumer gọi cây anh túc là hul (khóai lạc) và gil (cây) . Ở Âu Châu người ta cũng đã biết ít nhất là 4000 năm trước . Đừng lẫn lộn câu 4000 năm trước với 4000 trước Công nguyên . 4000 năm trước Công nguyên là 4000 năm cộng với 2003 năm sau Công Nguyên thành 6003 năm . 4000 năm chỉ là 2000 năm trước Công Nguyên thôi . Ở Thuỵ Sĩ, người ta tìm thấy hóa thạch của cây anh túc trong những vùng ao hồ thời kỳ tân thạch khí . Thuốc phiện cũng được người Ai Cập và Hy Lạp thượng cổ thông dụng. Tác phẩm The Lliad và The odyssey của Homer, kể lại cuộc phiêu lưu của Lliad ở Hy Lạp cũng nói đến thuốc phiện . Hyppocrates (460-357), sư tổ Y, Dược khoa cũng đề nghị Uô’ng thuốc phiện trộn với hột cây tầm ma ( 1 loại cây có lông gây ngứa) .
Cây anh túc du nhập vào nước Tàu vào khoảng thế kỷ thư’ 7 sau Công Nguyên, đầu nhà Đường, cuối nhà Tuỳ . (Nhằm thời Hậu Lý nước ta) do bọn thương nhân Ả Rập mang vào với danh nghĩa dược phẩm. Trong văn chương Tàu, vị Danh y Hoa Đà thời Tam Quốc (220-264 sau Công nguyên) cũng dùng nha phiến và cây Cannabis Indica (cây cần sa Ấn Độ) cho bịnh nhân uống trước khi giải phẫu .
Thời kỳ nha phiến phổ biến nhất ở Tàu, theo vài nhà sử học là sự du nhập thuốc lá bởi người Hoà Lan từ Java vào thế kỷ 17 . Người Tàu tẩm thuốc lá với nhựa thuốc phiện để hút . Càng ngày, số người nghiện càng lan tràn cả người hút thuốc lá tẩm đến người hút thuốc phiện nguyên chất .
Năm 1803, vị Bác học người Đức tên F. W. Serturner, đã tách rời chất kiềm (alkaloid) chính trong thuốc phiện mà ông ta đặt tên là Morphium, tên 1 vị Thần Hy Lạp, Morpheus, thần của giấc mộng . Sau đó người ta cô đọng các chất kiềm khác như Codein năm 1832, Papaverine năm 1848. Đến năm 1850, nha phiến dưới dạng chất kiềm, chất cô đọng, đã trở nên thông dụng ở Âu Châu .
Ở Mỹ, sự trị liệu bằng thuốc phiện vào thế kỷ 19 như chất giảm đau cho những thương binh trong cuộc nội chiến gây ra hội chứng “bịnh chiến sĩ” . No’ sinh nghiện . Vấn đề này khiến nhu cầu tìm ra 1 loại dược phẩm chống đau và không sinh nghiện trở nên bức thiết . Năm 1870, các nhà hóa học bắt đầu nghiên cứu trong nỗ lực đó. Công ty dược phẩm Bayer là tập đoàn đầu tiên tung ra thị trường 1 loại thuốc giảm đau không sinh nghiện với tên là Heroin . Sản phẩm này được chế biến bằng cách dùng Acetyl để tinh lọc Morphine . Meta sẽ mô tả tỉ mỉ tiến trình acetylation đó sau . Hehehe sau đó người ta thấy heroin sinh nghiện còn hơn morphine nữa . Mặc dù heroin được dùng ở Anh cho những bịnh nhân nan y, giá trị dược liệu của nó gây ra nhiều tranh cãi sôi nổi .
Cây Anh Túc

Cây Anh Túc, Papaver Somniferum là cây ngắn hạn, nó trưởng thành 1 lần rồi tàn trong năm, không mọc chồi để sinh trưởng trở lại trong năm tới. Hạt giống phải được gieo trồng mỗi năm . Từ hột giống, nó trưởng thành, đơm hoa, kết trái chỉ 1 lần . Toàn chu kỳ sinh trưởng của hầu hết loại Papaver khoảng chừng 120 ngày . Hột giống nó nẩy mầm mau chóng trong khí hậu và đất màu ẩm ướt . Không đến 6 tuần, cây non trồi khỏi mặt đất, mọc 4 lá và nhìn giống cây cải bắp non . Lá có cạnh hình răng cưa, màu xanh xám , giống như phủ 1 lớp phấn xanh đậm .
Trong vòng 2 tháng, cây cao từ 1 đến 2 feet (3 tấc đến .5 mét), với độc nhất 1 thân chính, dài và nhẵn . Phần trên thân không có lá được gọi là cuống hoa (peduncle, xin xem hình). Có thể có 1 hay 2 cuống nhỏ hơn gọi là cuống phụ (tillers), mọc đâm ra từ thân chính . Giống trồng ở Đông Nam Á thường có nhiều hơn 1 cuống phụ . Cuống hoa chính của 1 cây trưởng thành đầy đủ cao từ 2 đến 5 feet . Lá hình soan có răng cưa dài từ 4 đến 15 inches . Người ta dùng lá làm thực phẩm cho trâu bò . Nó không có giá trị thương mại .
Khi cây mọc cao hết cỡ, ở cuống chính và cuống phụ nẩy 1 nụ hoa . Trong lúc nụ phát triển, phần cuống hoa mọc dài ra và tạo thành hình móc câu làm cho nụ chĩa ngược xuống đất . Khi nở hoa, cuống thẳng ra đón ánh mặt trời . Một hay 2 ngày sau khi cuống hoa uốn thẳng, 2 phần ngoài cùng của nụ gọi là đài hoa rơi rụng, cho phép cánh hoa mở rộng . Thoạt tiên, cánh hoa có vẻ dập và nhăn nhưng mau chóng căng ra, nhẵn ra trong nắng . Hoa Anh Túc có 4 cánh . Cánh có thể đơn hay kép và có thể trắng, hồng, tím đỏ, đỏ sẫm hay lốm đốm nhiều màu .
Hoa Anh Túc thường nở hoa sau 90 ngày và tàn héo khoảng 2 đến 3 tuần . Cánh hoa rụng đi để lộ 1 chỗ phình ra ở cuống, tiếp tục phát triển . Đây là cái trái chứa hạt giống, hình soan bằng cỡ trái trứng gà . Loại hình cầu hơi dẹt thường thấy ở Đông Nam Á .
Chỉ ở cái "trái" này mới có nhựa thuốc phiện . Vỏ trái bao bọc 1 bức tường che chở nhuỵ hoa . Nhuỵ hoa có 3 lớp : Lớp ngoài, giữa và trong . Nhựa thuốc phiện lấy ở vỏ nhuỵ từ lớp giữa qua 1 hệ thống mạch nhỏ trong trái . Những tế bào ở lớp giữa nhuỵ hoa tiết ra hơn 95/100 nhựa cây khi cạo và thu hoạch .
Nông gia thu hoạch nhựa từ mỗi trái khi nó còn ở trên cuống bằng cách rạch 1 đường dọc theo trái với loại dao tự chế mang hình dạng đặc biệt. Sau khi thu hoạch xong, trái được để khô trên cây. Lúc này, trái nào to nhất, cho nhiều nhựa nhất được cắt ra để dành làm giống cho mùa sau. Một cách lấy giống khác nữa là chọn cây nào khoẻ mạnh, không lấy nhựa và để khô. Ngoài ra, hột anh túc có thể ép thành dầu nấu ăn, bảo đảm không "phê". Dầu này còn được dùng chế tạo sơn và nước hoa. Dầu anh túc màu vàng rơm, không mùi và có vị trái hạnh (Almond).
Khu vực trồng anh túc.
Trong vòng 2 tháng, cây cao từ 1 đến 2 feet (3 tấc đến .5 mét), với độc nhất 1 thân chính, dài và nhẵn . Phần trên thân không có lá được gọi là cuống hoa (peduncle, xin xem hình). Có thể có 1 hay 2 cuống nhỏ hơn gọi là cuống phụ (tillers), mọc đâm ra từ thân chính . Giống trồng ở Đông Nam Á thường có nhiều hơn 1 cuống phụ . Cuống hoa chính của 1 cây trưởng thành đầy đủ cao từ 2 đến 5 feet . Lá hình soan có răng cưa dài từ 4 đến 15 inches . Người ta dùng lá làm thực phẩm cho trâu bò . Nó không có giá trị thương mại .
Khi cây mọc cao hết cỡ, ở cuống chính và cuống phụ nẩy 1 nụ hoa . Trong lúc nụ phát triển, phần cuống hoa mọc dài ra và tạo thành hình móc câu làm cho nụ chĩa ngược xuống đất . Khi nở hoa, cuống thẳng ra đón ánh mặt trời . Một hay 2 ngày sau khi cuống hoa uốn thẳng, 2 phần ngoài cùng của nụ gọi là đài hoa rơi rụng, cho phép cánh hoa mở rộng . Thoạt tiên, cánh hoa có vẻ dập và nhăn nhưng mau chóng căng ra, nhẵn ra trong nắng . Hoa Anh Túc có 4 cánh . Cánh có thể đơn hay kép và có thể trắng, hồng, tím đỏ, đỏ sẫm hay lốm đốm nhiều màu .
Hoa Anh Túc thường nở hoa sau 90 ngày và tàn héo khoảng 2 đến 3 tuần . Cánh hoa rụng đi để lộ 1 chỗ phình ra ở cuống, tiếp tục phát triển . Đây là cái trái chứa hạt giống, hình soan bằng cỡ trái trứng gà . Loại hình cầu hơi dẹt thường thấy ở Đông Nam Á .
Chỉ ở cái "trái" này mới có nhựa thuốc phiện . Vỏ trái bao bọc 1 bức tường che chở nhuỵ hoa . Nhuỵ hoa có 3 lớp : Lớp ngoài, giữa và trong . Nhựa thuốc phiện lấy ở vỏ nhuỵ từ lớp giữa qua 1 hệ thống mạch nhỏ trong trái . Những tế bào ở lớp giữa nhuỵ hoa tiết ra hơn 95/100 nhựa cây khi cạo và thu hoạch .
Nông gia thu hoạch nhựa từ mỗi trái khi nó còn ở trên cuống bằng cách rạch 1 đường dọc theo trái với loại dao tự chế mang hình dạng đặc biệt. Sau khi thu hoạch xong, trái được để khô trên cây. Lúc này, trái nào to nhất, cho nhiều nhựa nhất được cắt ra để dành làm giống cho mùa sau. Một cách lấy giống khác nữa là chọn cây nào khoẻ mạnh, không lấy nhựa và để khô. Ngoài ra, hột anh túc có thể ép thành dầu nấu ăn, bảo đảm không "phê". Dầu này còn được dùng chế tạo sơn và nước hoa. Dầu anh túc màu vàng rơm, không mùi và có vị trái hạnh (Almond).
Khu vực trồng anh túc.

Nhìn bản đồ khu vực trồng anh túc không giống hình tam giác chút nào phải không các bạn ? Thế mà người ta gọi là tam giác vàng đấy . Cây anh túc thích hợp nơi khí hậu ấm áp, ít ẩm ướt và không đòi hỏi nhiều nước tưới. Cây anh túc có thể trồng trên đất sét, đất cát và hỗn hợp cát với đất sét . Nhưng tốt nhất là nơi có đất màu trộn lẫn đất sét . Loại đất này đủ xốp cho rễ phát triển và giữ nước lâu hơn loại đất pha cát .
Quá nhiều nước hay quá khô cằn ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây làm giảm sản lượng nhựa thu hoạch . Cây anh túc còn có thể chết ủng nếu mưa nhiều quá trên vùng đất sét không thấm nước. Thiếu nắng sinh ít nhựa và nhựa mất phẩm chất. Phẩm chất đây là độ say của thuốc phiện .
Nguồn sản xuất hợp pháp trên thế giới là những nông trại do chính phủ kiểm soát dùng vào kỹ nghệ dược phẩm ở Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Tasmania (Úc). Nguồn trồng trọt bất hợp pháp ở Tây Nam Á như A Phú Hãn, Pakistan và Iran . Đông Nam Á thì ở vùng cao nguyên các quốc gia như Diến Điện, Lào, Việt Nam và Thái Lan . Đặc biệt ở Đông Nam Á, chỉ có các sắc dân thiểu số miền thượng du canh tác. Các sắc dân chính không khai thác loại nông sản này . Xin đừng lên án Meta nói xấu Việt Nam . Nhắc lại 1 lần nữa, người Việt Nam không trồng thuốc phiện mà chỉ vài bộ tộc miền núi thôi . Vùng canh tác anh túc ở Đông nam Á được thế giới biết đến với tên gọi Tam Giác Vàng . Ngoài ra trên quy mô nhỏ hơn, chúng cũng được canh tác ở Colombia, Mễ và Li Băng . Ở Mỹ, 1 thời được trồng như 1 loại cây kiểng . Nhưng đến năm 1942, 1 đạo luật gọi là Opium Poppy Control Act tuyên bố cây này bất hợp pháp toàn cõi nước Mỹ .
Vùng cao nguyên của lục địa Đông Nam Á ở cao độ 800 mét trên mặt biển hay cao hơn là những nơi chính canh tác anh túc . Nói đại khái, ngành trồng trọt này không đòi hỏi thuốc trừ côn trùng, phân bón hay hệ thống dẫn nước tốn kém. Tất cả anh túc quy tụ trong hai tỉnh Wa và Kokang ở Diến Điện . Thứ đến là Lào trong vùng Đông Nam Á nói riêng . Trên thế giới lào đứng hàng thứ ba sau Diến điện và A Phú Hãn . Tại Lào, anh túc được khai khẩn và canh tác ở hai tỉnh Hoa Phan và Xiêng Khoảng . Bắc Lào gồm 6 tỉnh Bô Keo, Luang Nậm Thà, Luang Prabang, Oudomxai, Phong Sa Li và Xai na Bu Li . Vùng bắc Thái Lan thì ở các tỉnh Chiêng Mai, Chiêng Rai, Mã Hồng Sơn, Nan và Tắc . Ở Việt Nam ta thì ở tỉnh Nghệ An thuộc miền trung, Lai Châu miền bắc là những nơi canh tác chính của những sắc dân miền núi . Ở Tàu, khu vực núi non tỉnh Vân Nam giáp giới tỉnh Kokang, Diến Điện thuộc sắc dân Shan canh tác .
Một gia đình tiêu biểu vùng thượng du Đông Nam Á gồm từ 5 đến 10 người . Sở dĩ họ đông vì họ có nhiều vợ . Họ đủ nhân lực để canh tác 1 công (acre) đất mỗi năm . Đất tốt có thể canh tác lâu đến 10 năm không cần phân bón trước khi họ tìm 1 vùng đất khác, phát rừng làm rẫy. Đất rừng không phải mua .
Phát rừng làm rẫy.
Quá nhiều nước hay quá khô cằn ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây làm giảm sản lượng nhựa thu hoạch . Cây anh túc còn có thể chết ủng nếu mưa nhiều quá trên vùng đất sét không thấm nước. Thiếu nắng sinh ít nhựa và nhựa mất phẩm chất. Phẩm chất đây là độ say của thuốc phiện .
Nguồn sản xuất hợp pháp trên thế giới là những nông trại do chính phủ kiểm soát dùng vào kỹ nghệ dược phẩm ở Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Tasmania (Úc). Nguồn trồng trọt bất hợp pháp ở Tây Nam Á như A Phú Hãn, Pakistan và Iran . Đông Nam Á thì ở vùng cao nguyên các quốc gia như Diến Điện, Lào, Việt Nam và Thái Lan . Đặc biệt ở Đông Nam Á, chỉ có các sắc dân thiểu số miền thượng du canh tác. Các sắc dân chính không khai thác loại nông sản này . Xin đừng lên án Meta nói xấu Việt Nam . Nhắc lại 1 lần nữa, người Việt Nam không trồng thuốc phiện mà chỉ vài bộ tộc miền núi thôi . Vùng canh tác anh túc ở Đông nam Á được thế giới biết đến với tên gọi Tam Giác Vàng . Ngoài ra trên quy mô nhỏ hơn, chúng cũng được canh tác ở Colombia, Mễ và Li Băng . Ở Mỹ, 1 thời được trồng như 1 loại cây kiểng . Nhưng đến năm 1942, 1 đạo luật gọi là Opium Poppy Control Act tuyên bố cây này bất hợp pháp toàn cõi nước Mỹ .
Vùng cao nguyên của lục địa Đông Nam Á ở cao độ 800 mét trên mặt biển hay cao hơn là những nơi chính canh tác anh túc . Nói đại khái, ngành trồng trọt này không đòi hỏi thuốc trừ côn trùng, phân bón hay hệ thống dẫn nước tốn kém. Tất cả anh túc quy tụ trong hai tỉnh Wa và Kokang ở Diến Điện . Thứ đến là Lào trong vùng Đông Nam Á nói riêng . Trên thế giới lào đứng hàng thứ ba sau Diến điện và A Phú Hãn . Tại Lào, anh túc được khai khẩn và canh tác ở hai tỉnh Hoa Phan và Xiêng Khoảng . Bắc Lào gồm 6 tỉnh Bô Keo, Luang Nậm Thà, Luang Prabang, Oudomxai, Phong Sa Li và Xai na Bu Li . Vùng bắc Thái Lan thì ở các tỉnh Chiêng Mai, Chiêng Rai, Mã Hồng Sơn, Nan và Tắc . Ở Việt Nam ta thì ở tỉnh Nghệ An thuộc miền trung, Lai Châu miền bắc là những nơi canh tác chính của những sắc dân miền núi . Ở Tàu, khu vực núi non tỉnh Vân Nam giáp giới tỉnh Kokang, Diến Điện thuộc sắc dân Shan canh tác .
Một gia đình tiêu biểu vùng thượng du Đông Nam Á gồm từ 5 đến 10 người . Sở dĩ họ đông vì họ có nhiều vợ . Họ đủ nhân lực để canh tác 1 công (acre) đất mỗi năm . Đất tốt có thể canh tác lâu đến 10 năm không cần phân bón trước khi họ tìm 1 vùng đất khác, phát rừng làm rẫy. Đất rừng không phải mua .
Phát rừng làm rẫy.

Coi hình trên so sánh sân football với một mẫu, một sào của Lào.

Vùng đất được chọn làm rẫy phải là đất pha đất sét, màu mỡ, quang đãng để nhận đủ ánh nắng và độ chua cần thiết của đất . Những người già cả nhiều kinh nghiệm vùng thượng du được mời đi xem đất trước khi phát hoang làm rẫy . Mọi thửa đất nằm trên triền dốc những sườn núi ở độ cao 1000 mét hay hơn . Độ dốc từ 20 đến 40 độ được coi như tốt nhất để thoát nước khi mưa lũ .
Đất hoang được đốn hay cắt chất đống trên rẫy vào tháng ba, cuối mùa khô . Được vài ngày khi cây cỏ đã khô, cả thửa đất được đốt cháy lấy tro làm phân thiên nhiên . Ta không lạ gì cách phát hoang làm rẫy kiểu này của đồng bào Thượng Việt Nam vùng miền trung nước Việt .
Phương pháp khai khẩn và canh tác.
Đất hoang được đốn hay cắt chất đống trên rẫy vào tháng ba, cuối mùa khô . Được vài ngày khi cây cỏ đã khô, cả thửa đất được đốt cháy lấy tro làm phân thiên nhiên . Ta không lạ gì cách phát hoang làm rẫy kiểu này của đồng bào Thượng Việt Nam vùng miền trung nước Việt .
Phương pháp khai khẩn và canh tác.

Cuối mùa mưa khoảng tháng 8 hay tháng 9 nông dân miền núi Đông Nam Á bắt đầu sửa soạn trồng cây anh túc . Lúc này tro than từ cuộc đốt rẫy hồi tháng 4 đã thấm vào đất, cung cấp nhiều chất potash và nhiều chất mầu khác . Sau cơn mưa đất trở nên mềm, người ta bắt đầu cuốc để lật đất, băm nhỏ những tảng đất lớn . Vừa cuốc vừa nhặt cỏ và sỏi đá vứt qua 1 bên .
Theo cổ truyền, người ta không dùng phân hoá học vì khó mua nhưng sau này họ dùng mỗi khi có cơ hội đổi chác với bọn buôn thuốc phiện miền thành thị . Phân gà, phân người hay phân dơi cung được thêm vào đất trước khi trồng trọt . Mùa trồng cây phải được hoàn tất vào cuối tháng 10 .
Giống như ta làm lúa, hạt giống anh túc được vãi đều trên thửa đất đã dọn kỹ hay có thể chọc lỗ và bỏ hạt xuống . Một kí lô hạt được dùng cho gieo trồng 1 công (acre) đất. Khoảng 3 kí lô hạt dùng cho 1 mẫu (hectare = 2.46 acres) . Hạt có thể màu trắng, vàng, nâu, xám hay đen . Màu hạt không liên hệ đến màu hoa . Hạt đen có thể nở hoa trắng ...
Rau cỏ gia dụng như cải, đậu, bí, bầu ... nói chung các thứ thu hoạch ngắn hạn được trồng xen vào làm thực phẩm hàng ngày , không phải để bán như thuốc phiện. Người ta cũng trồng bắp xen vào lấy thực phẩm nuôi gia súc và triệt cỏ dại . Sau khi thu hoạch bắp khoảng tháng 8, đất được xới nhưng thân bắp vẫn còn chừa lại để che chở cho cây anh túc non trong những cơn mưa lũ .
Cây non mọc những lá giống như cây cải non. Sau 1 tháng, cây cao khoảng 1 foot thì người ta bắt đầu nhổ bỏ những cây yếu hoặc nhổ bỏ bớt những nơi nhiều cây do gieo vãi không đều. Kháng cách tốt nhất là khoảng 20 đến 40 centimét 1 gốc hay 8 đến 12 gốc 1 mét vuông. Trồng dầy hơn giảm sức tăng trưởng của cây.
Trong 2 tháng đầu, cây non có thể bị hư hại hay còi cọc vì thiên nhiên như thiếu nắng, mưa nhiều, sâu bọ, giun, mưa đá, băng giá sớm mai hay thú rừng dầy xéo . . Từ tháng thứ 3 trở đi, cây đủ mạnh, việc chăm sóc đỡ hơn. Giữa 3 hay 4 tháng sau khi trồng, tức là khoảng tháng Giêng, cây anh túc nở hoa . Lúc này nó cao khoảng từ 3 đến 5 feet . hầu hết cây trồng ở Đông Nam Á có từ 3 đến 5 hoa .
Một thửa đất trồng anh túc tiêu biểu có khoảng 250,000 cây mỗi mẫu (hecta . 1 hecta = 2.46 acres) . Vì mỗi cây có vài hoa cho nên 250,000 cây có khoảng 300,000 đến 500,000 bầu trái . Vì lệ thuộc vào thời tiết như mưa, nắng nên mỗi vụ mùa đều khác nhau . Gia đình người trồng trọt dựng lều ăn ở tại rẫy khoảng 2 tuần để lấy nhựa .
Thu hoạch nhựa cây.



Rạch trái lấy nhựa bắt đầu khoảng 2 tuần sau khi cánh hoa rụng . Nhà trồng trọt có thể xem xét trái và núm trái (crown) trước khi rạch lấy nhựa . Màu xanh xám của trái đổi sang màu xanh xẫm và sưng phồng lên khi trái đã chín tới. Một dấu hiệu khác cho biết trái đã chín để lấy nhựa là phần núm duỗi thẳng ra hay vểnh ngược lên . Trái không chín đồng loạt . Mỗi trái được rạch lấy nhựa từ 2 đến 4 lần .
Một bộ từ 3 đến 4 lưỡi dao được buộc lại với cán bằng gỗ dùng để rạch dọc theo trái . Nếu đường rạch quá sâu, nhựa sẽ chảy vào trong thay vì chảy ra . Nếu đường rạch quá cạn, nhựa sẽ làm nghẹt vết cắt và ngưng chảy . Vết cắt phải sâu cỡ 1 milimét là vừa đủ . Việc lấy mủ thường bắt đầu vào buổi chiều để nhựa có thể rỉ ra suốt đêm . Gặp không khí nhựa xẫm lại và đặc lại trong khí mát ban đêm . Sáng sớm hôm sau, nhựa dẻo, dính và trái được cạo ra với 1 dụng cụ có lưỡi cong uốn theo hình dạng trái có bề rộng khoảng 3 inches . Vì sau khi cạo nhựa, trái vẫn tiếp tục rỉ cho đến vài ngày nên người ta thường bắt đầu từ cuối rẫy, lùi dần ra ngoài để tránh chạm vào nhựa ướt . Nhựa qua đêm kẹo lại, không còn ướt nữa . Những sáng sau họ còn lấy nhựa và rạch những trái mới vừa chín . Làm như vậy cho đến khi nhựa không còn chảy nữa. Mỗi trái cho trung bình 80 miligram (gần 1 lạng) nhựa . Nhựa khô rồi cân được từ 8 đến 20 kí lô mỗi mẫu (hecta) . Trong lúc lấy mủ, người ta buộc mảnh vải màu để đánh dấu những trái to, nhiều mủ để lấy hạt giống . Mỗi công đắtacre) có khoảng 20 kí lô hạt nhưng chỉ 1 ít trong số đó được để dành làm giống .
Nhựa ướt chứa khoảng 60/100 nước cần được phơi vài ngày . Nhựa tốt có màu nâu (thay vì đen là nhựa xấu) và dẻo dính. Nước 15/100 hay ít hơn được coi là đã khô. Bọn con buôn chỉ cần nhìn là biết nhựa có lẫn đất cát, vỏ cây hay những dơ bẩn khác .
Một bánh thuốc phiện ở Lào, Thái Lan nặng chừng 1.6 kí lô gọi là 1 choi . Diến Điện gọi là 1 viss , gói trong lá chuối và được cất nơi khô ráo chờ bán . Theo tài liệu của Thái Lan, 1 con nghiện "phê" 1.6 kí lô thuốc phiện 1 năm . Một gia đình trồng cây anh túc thu hoạch từ 2 đến 5 choi hay viss (3 đến 9 kí lô) mỗi công đất . Dù vậy, thu hoạch có thể hơn, kém vì những yếu tố khác như thời tiết hay đất xấu tốt Nếu phơi kỹ, thuốc phiện có thể để lâu vô thời hạn. Thực ra càng khô thuốc phiện có nhẹ đi nhưng giá trị càng cao . Để càng lâu, phẩm chất càng tăng.
Lọc nhựa thuốc phiện.
Một bộ từ 3 đến 4 lưỡi dao được buộc lại với cán bằng gỗ dùng để rạch dọc theo trái . Nếu đường rạch quá sâu, nhựa sẽ chảy vào trong thay vì chảy ra . Nếu đường rạch quá cạn, nhựa sẽ làm nghẹt vết cắt và ngưng chảy . Vết cắt phải sâu cỡ 1 milimét là vừa đủ . Việc lấy mủ thường bắt đầu vào buổi chiều để nhựa có thể rỉ ra suốt đêm . Gặp không khí nhựa xẫm lại và đặc lại trong khí mát ban đêm . Sáng sớm hôm sau, nhựa dẻo, dính và trái được cạo ra với 1 dụng cụ có lưỡi cong uốn theo hình dạng trái có bề rộng khoảng 3 inches . Vì sau khi cạo nhựa, trái vẫn tiếp tục rỉ cho đến vài ngày nên người ta thường bắt đầu từ cuối rẫy, lùi dần ra ngoài để tránh chạm vào nhựa ướt . Nhựa qua đêm kẹo lại, không còn ướt nữa . Những sáng sau họ còn lấy nhựa và rạch những trái mới vừa chín . Làm như vậy cho đến khi nhựa không còn chảy nữa. Mỗi trái cho trung bình 80 miligram (gần 1 lạng) nhựa . Nhựa khô rồi cân được từ 8 đến 20 kí lô mỗi mẫu (hecta) . Trong lúc lấy mủ, người ta buộc mảnh vải màu để đánh dấu những trái to, nhiều mủ để lấy hạt giống . Mỗi công đắtacre) có khoảng 20 kí lô hạt nhưng chỉ 1 ít trong số đó được để dành làm giống .
Nhựa ướt chứa khoảng 60/100 nước cần được phơi vài ngày . Nhựa tốt có màu nâu (thay vì đen là nhựa xấu) và dẻo dính. Nước 15/100 hay ít hơn được coi là đã khô. Bọn con buôn chỉ cần nhìn là biết nhựa có lẫn đất cát, vỏ cây hay những dơ bẩn khác .
Một bánh thuốc phiện ở Lào, Thái Lan nặng chừng 1.6 kí lô gọi là 1 choi . Diến Điện gọi là 1 viss , gói trong lá chuối và được cất nơi khô ráo chờ bán . Theo tài liệu của Thái Lan, 1 con nghiện "phê" 1.6 kí lô thuốc phiện 1 năm . Một gia đình trồng cây anh túc thu hoạch từ 2 đến 5 choi hay viss (3 đến 9 kí lô) mỗi công đất . Dù vậy, thu hoạch có thể hơn, kém vì những yếu tố khác như thời tiết hay đất xấu tốt Nếu phơi kỹ, thuốc phiện có thể để lâu vô thời hạn. Thực ra càng khô thuốc phiện có nhẹ đi nhưng giá trị càng cao . Để càng lâu, phẩm chất càng tăng.
Lọc nhựa thuốc phiện.

Trước khi bán, nhựa phải được nấu để loại trừ bụi bậm hay cặn bã . Nhựa được bỏ vào nồi lớn, quậy với nước sôi cho tan ra, sau đó lọc bằng vải thưa để loại bụi và những vật dơ bẩn khác . . Nước đã lọc được nấu lại 1 lần nữa với lửa riu riu cho đến khi kẹo lại . sau cùng lại được phơi nắng cho khô . Lúc này, nhựa thuốc phiện đã sẵn sàng để hút . Tiến trình lọc hao khoảng 20/100 sức nặng ban đầu. Người Hmong chỉ lọc để bán . Nếu để hút, họ khỏi lọc .
Nếu thuốc phiện được bán cho các nơi bào chế dược phẩm thì không cần lọc . Nơi đây họ dùng thùng phi nấu nước, lọc lại trước khi bước qua tiến trình bào chế morphine .
Cô đặc thành morphine.
Thuốc phiện chưa lọc hay đã lọc chứa đựng hơn 35 chất kiềm (alkaloids) khác nhau, gồm morphine, codeine, và thebaine . Tại Đông Nam Á, morphine chiếm 10/100 tổng sức nặng nhựa thuốc phiện . Muốn tinh lọc heroin, phải tinh lọc thành morphine trước đã . Việc tinh lọc morphine là 1 tiến trình đơn giản, chỉ cần vài hoá chất và nước là đủ . Vì morphine chỉ chiếm 10/100 trọng lượng nhựa thuốc phiện nên việc chế biến thành morphine rất tiện cho việc mua bán lén lút .
Đầu tiên, người ta hoà tan nhựa vào nước sôi, thêm vôi để lắng đọng những thứ không phải chất kiemằlkaloids) rồi đổ dung dịch này sang thùng khác , chừa lại chất cặn bã lắng đọng . Ammonium chloride được thêm vào để "kết tủa" morphine từ dung dịch này . Ammonium chloride được bán hợp pháp ngoài thị trường . Vài thùng phi, vải lọc là mọi thứ cần thiết.
Hmong và nha phiến.
Người Hmong sống ở Mỹ ngày nay đến từ Lào, 1 quốc gia không có biển ở vùng Đông Nam Á . Tổ tiên họ ở miền tây nam nước Tàu, các tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Tứ Xuyên, và Hồ Nam .Qua nhiều ngàn năm dưới sự thống trị của nhà Hán, triều đình Trung Quốc thường quên lãng dân tộc Hmong ( họ gọi là sắc tộc Mèo), một khi họ làm tròn nghĩa vụ triều cống. Tuy nhiên đến thời nhà Thanh (1644 - 1911), theo đuổi 1 chính sách khác . Quân đội và quan lại mãn Thanh áp bức người Hmong cho tới khi họ nổi loạn . Vào đầu thế kỷ 19, 1 phần bị chính quyền hà hiếp, 1 phần vì áp lực dân số, 1 số người Hmong thiên nam vào khu vực Đông Nam Á, nơi họ định cư trên vùng núi non chớn chở miền bắc Diến Điện, Thái Lan, Lào và Việt Nam .
Vẫn còn nhiều người Hmong ở lại Trung Quốc . Tính đến năm 2000, có khoảng 2.8 đến 5 triệu người tuỳ theo tính người Hmong thuần tuý hay gộp chung mọi chi tộc cùng nguồn gốc với họ . ngày nay có khoảng 100 ngàn người Hmong sinh sống tại Mỹ vì những liên lệ với Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng Sản vùng Đông Nam Á mà Việt Nam ta đóng vai trò chính trong cuộc tranh chấp ấy .
Nước Lào rộng khoảng 91 ngàn dặm vuông, tiếp giáp với 5 nước lân cận . Tây giáp Thái lan, tây bắc giáp Diến Điện, bắc giáp Trung Quốc, nam giáp Cambodia và đông giáp Việt Nam . Phương tiện giao thông chính là dòng dông Mekong, phát xuất từ miền nam Trung quốc, chảy dọc theo suốt chiều dài nước Lào và Thái và cũng là biên giới thiên nhiên giữa 2 nước này . Từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, 3 vương quốc một thời cường thịnh ở Lào, Luang Prabang phương bắc, Vientaine ở giữa và Champassak ở phía nam . Thêm vào đó còn 1 lãnh địa Xiêng Khoảng ở đông bắc nước Lào bây giờ . Hai đồng bằng lớn cao khoảng 3000 bộ trên mặt nước biển là Cánh Đồng Chum ở Xiêng Khoảng và cao nguyên Bô Lô Ven ở "cán chảo" phía nam . Nam Cánh Đồng Chum là rặng núi Phou Bia cao hơn 10 ngàn bộ . Xiêng Khoảng và rặng núi Phou Bia đóng 1 phần quan trọng trong lịch sử Lào và đặc biệt sắc dân Hmong .
Sở dĩ các sắc dân miền núi canh tác thứ này vì những lợi điểm sau :
- Mặc dầu đây là công việc tỉ mỉ nhưng trong gia đình Hmong, mọi người đều không phải trả lương và luôn dư thừa nhân lực trong việc này . ngoài lúc phát hoang khai khẩn, mọi công việc khác như lấy nhựa, làm cỏ, chăm sóc ... đều thích hợp ngay cả đàn bà và con nít .
- Những vụ mùa khác chỉ để làm lương thực nhưng thuốc phiện là nguồn lợi kiếm ra tiền mặt . Nó có thể sinh lợi ngay trong vòng vài tháng trồng trọt .
- Thời vụ của nó không trùng hợp với những vụ mùa khác như bắp, lúa, rau cỏ ... nên tạo việc làm quanh năm .
- Cây anh túc không thu hút chất màu trong đầt nhiều. Một thửa đất có thể canh tác 10 năm không cần phân bón .
- Nó có thể để được lâu mà không mất phẩm chất. Trái lại, càng để lâu, bán càng có giá.
- dễ chuyển vận trong rừng núi vì nhỏ gọn, nhẹ và quý hiếm .
- Cuối cùng là cung không bao giờ đáp ứng cầu. Bán rất chạy.
Dù thuốc phiện hợp pháp đối với người Hmong trong tỉnh Xiêng Khoảng, hầu hết thuốc phiện tiêu dùng ở Đông Dương nhập cảng từ Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ . Bằng cách dành độc quyền chế biến, thực dân Pháp và bọn con buôn chính là những kẻ thủ lợi vì sự chênh lệch giá cả giữa nhựa thuốc phiện trước và sau khi chế biến. Đừng lầm tưởng Hmong có lợi nhiều trong việc sản xuất thuốc phiện . Thực ra, vì thuốc phiện người Hmong thiệt thòi nhiều nhất. Họ bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh cho những thế lực khác. Họ đói khát, chết chóc và có nguy cơ diệt chủng vì tham vọng các đế quốc . Không chỉ bọn thực dân Pháp, đế quốc Nhật, Trung Hoa Dân Quốc (Quốc Dân Đảng), CIA, Việt Cộng, Nga ... lợi dụng xương máu họ và thủ lợi trong những công việc buôn bán thuốc phiện . Theo lời nhà nhân chủng học David Feigold, khi còn là 1 viên chức làm việc cho Việt Minh, đã cùng với Việt Minh mua vải, muối và những nhu yếu phẩm khác trao đổi với người Hmong mang về Việt Nam bán cho bọn con buôn Trung Hoa . Với nguồn lợi đó , Việt Minh mua vũ khí của Sô Viết hay Trung Cộng lúc chưa được bọn Cộng Sản quốc tế dốc toàn lực ủng hộ . Cũng giống như vậy, Pathet Lào, tổ chức Lào Cộng kiểm soát phần đất đông bắc Xiêng Khoảng cũng buôn bán nha phiến để nuôi sống phong trào giải phóng của họ. Thương thay cho Hmong, kẻ thực sự sản xuất nha phiến, luôn nghèo đói và bị súng đạn của mọi thế lực tàn sát. Họ là con tốt trong bàn cờ mậu dịch phi pháp và quyền lực chính trị quốc tế.

Tam Giác Vàng và Khun Sa

Tam Giác Vàng.
Thói đời miếng ngon lắm kẻ tranh dành. Mỹ, Pháp, Nga, Việt Nam, Trung Cộng lừa miếng tranh ăn . Không ai ra mặt ăn thua đủ với ai . Việc gì cũng đẩy bọn Hmong lãnh đạn .
Thế chiến thứ 2 chấm dứt . Một nhân vật cũng muốn nhảy vào vùng Tam Giác Vàng kiếm chác giữa chốn quần hùng . Nhật buông khí giới đầu hàng . Tưởng Giới Thạch ngoài việc gởi đệ bát lộ quân vào Việt Nam, ông ta còn phái sư đoàn 93 bộ binh vào Miến Điện và Lào với sứ mạng giải giới quân đội Thiên Hoàng theo lịnh đồng minh . Thực ra, 1 lịnh ngầm là kiểm soát việc mua bán nha phiến . Các vị chỉ huy sư đoàn này càng ngày càng giàu có nhờ những công việc làm ăn với người Shan vùng bắc Miến Điện . Khi chính phủ Miến Điện mời họ về nước, sư đoàn Quốc Dân Đảng này từ chối . Năm 1950 Miến Điện trục xuất họ bằng những cuộc oanh tạc . Lúc này Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đã bị đẩy ra đảo Đài Loan . Năm 1962, bọn dư đảng Quốc Dân bám trụ ở bắc Thái và Lào . Từ đó, danh tiếng Khun Sa và Tam Giác Vàng vang dội khắp thế giới suốt 40 năm cho đến nay .
Khun Sa hay Chang Chi Fu hay Sao Mong Khawn là 1 lãnh chúa vùng Tam Giác Vàng, là người Tàu lai Shan . Thoạt đầu Khun Sa chỉ là 1 sĩ quan thường trong quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch . Sau khi bị Mao Trạch Đông đánh bại, họ Tưởng chạy ra Đài Loan và sư đoàn 93 trốn ở Miến Điện không dám về nước . Bọn dư đảng Quốc Dân này vẫn duy trì những hoạt động quân sự chống Trung Cộng bằng hoa lợi thu hoạch từ nha phiến dưới sự che chở của CIA. Dĩ nhiên CIA không cần tiền thuốc phiện, chỉ cần người chịu đổ máu ra trong công việc ngăn chặn làn sóng đỏ . Giữa thuốc phiện đen và Cộng Sản đỏ, người ta vẫn chọn đen, vì nó ít tác hại hơn. Khun Sa ly khai Quốc Dân Đảng đầu thập niên 60 sau khi quản lý việc mua bán và tinh lọc nha phiến ở bắc Thái .
Năm 1966 chính quyền Miến Điện phong Khun Sa làm tướng lãnh lực lượng dân quân chống đảng Cộng Sản Miến Điện . Nhờ chỗ dựa từ chính phủ Miến Điện, Khun Sa xây dựng 1 quân đội gồm toàn người Shan cho riêng mình . Khun Sa chống Miến Cộng, bọn dư đảng họ Tưởng và chống cả chính phủ Miến Điện nữa .
Khi Quốc Dân Đảng ngăn chận những con đường ở bắc Thái và Lào, Khun Sa phát động 1 cuộc chiến tranh nha phiến năm 1967 và chọc thủng tuyến ngăn chặn của nhóm Quốc Dân Đảng . Tuy nhiên, Quốc Dân Đảng truy nã Khun Sa từ Thái qua Lào. Nhờ thế chính phủ Diến bắt được Khun Sa và chính phủ Lào tịch thu thuốc phiện làm chiến lợi phẩm . Năm 1973, Khun Sa thoát khỏi nhà giam Diến Điện bằng kế hoạch rất tỉ mỉ . Viên phó tướng của Khun Sa lập mưu bắt cóc 2 bác sĩ người Nga đòi chính phủ Diến Điện thả Khun Sa . Được phóng thích, Khun Sa lại vào rừng chỉ huy lực lượng quân đội thống nhất Shan . Cùng lúc đó Miến Điện đã phá vỡ được tổ chức Quốc Dân Đảng ra khỏi công việc thuốc phiện . Khun Sa 1 mình 1 chợ , không địch thủ ở vùng Tam Giác Vàng. Bản doanh đặt tại Bản Hin Taek thuộc tỉnh Chiêng Rai, bắc Thái . Cùng lúc đó Việt Cộng đã thôn tính miền nam Việt Nam và CIA, Hmong cũng bỏ cuộc nhường cho Pathet Lào chiếm chính quyền (1975). Như thế thì Khun Sa mặc tình làm ăn không ai ngăn trở. Lúc này chính quyền Thái là lực lượng chính chống ma tuý do Mỹ phát động và tài trợ .
Khi nào chính quyền Thái nhận được số tiền lớn từ cơ quan Drug Enforcement Agency của Mỹ, quân đội Thái mở cuộc hành quân càn quét từ Tak đến Chiêng Rai và Mã Hồng Sơn, đốt phá các cánh đồng trồng cây thuốc phiện nhưng ít khi bắt được người nào. Năm 1985, 1 ngân sách gồm 800000 US đô la, phá huỷ 40 cây số vuông hay 25000 rai (1 rai = 1600 mét vuông) ở Chiêng Mai, Chiêng Rai, Mã Hồng Sơn, Tak và Nan . Những người Shan, kẻ ít hưởng lợi nhất, đưa mắt ngó nguồn lợi duy nhất của mình bị phá huỷ ngổn ngang trên mặt đất . Kẻ hưởng lợi nhiều nhất, là bọn con buôn, bọn tướng lãnh chẳng hề hấn gì .
Chính phủ cộng hoà dân chủ nhân dân Lào lợi dụng những cuộc hành quân của Thái, khuyến khích tăng gia sản xuất nha phiến trong lãnh thổ Lào. Nếu Miến Điện và Thái quyết tâm bài trừ nha phiến bằng tài trợ Mỹ thì Lào Cộng là nước chiếm lĩnh thị trường của 2 nước ấy. Vì trên nguyên tắc, Mỹ chưa muốn hợp tác với bất cứ nước Cộng Sản nào trong các chương trình như thế .
Năm 1995 Khun Sa đã 61 tuổi. Quân đội của ông gồm 15 ngàn người vẫn làm ăn ở Ho Mong, Miến Điện. 30 năm qua ông ta vẫn yên ổn thu hoạch lợi tức từ nha phiến dùng những thủ đoạn như hối lộ các viên chức chính quyền, Thái và Miến Điện, lúc theo bên nọ chống bên kia và ngược lại để giữ yên địa vị. Tháng 6 năm 1995, vài ngàn lính Shan bỏ ngũ, lên án ông ưu đãi người Tàu và bạc đãi họ. Những kẻ đào ngũ này thực ra là bọn nằm vùng của cái gọi là Uỷ Ban khôi phục trật tự và Pháp Luật (The State Law and Order Restoration Council, tức nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện). Đây là chiến lược quen thuộc của Miến dùng chia rẽ các tổ chức phiến loạn người thiểu số khác. Tháng 11 năm 1995, Khun Sa tuyên bố về hưu và định cư ở Thái Lan. Khi nhà cầm quyền Thái công bố sẽ bắt và giải giao cho Mỹ nếu ông đặt chân lên đất Thái thì Khun Sa, không còn cách chọn lựa nào khác là điều đình với Rangoon, Miến Điện . Hiển nhiên, Khun Sa luôn tồn tại nhờ vào sự mâu thuẫn quyền lợi giữa 2 nước. Khi Khun Sa gặp khó khăn bên Thái, Miến Điện độc quyền thị trường. Khi Khun Sa gặp khó khăn bên Miến Điện, Thái Lan cũng độc quyền khai thác nguồn lợi thuốc phiện. Luôn luôn Khun Sa tồn tại cho 1 trong hai bên hưởng lợi . Ông tuyên bố giải nghệ và chuyển sang hoạt động tranh đấu cho 1 quốc gia Shan độc lập.
Năm 1999, giới quân sự Miến lại thấy ông trở lại việc khai thác nha phiến. Lúc này con trai ông, Charm Herng đã nắm quyền chỉ huy quân đội Mong Tai ở đông bắc Diến Điện. Charm Herng, 30 tuổi, 1 sinh viên tốt nghiệp Mỹ, qua lại giữa Ho Mong, bộ tư lịnh cũ của Khun Sa, cách biên giới Thái 20 cây số và Ta Chi Lek 1 thị trấn phía đông Diến Điện . Khun Sa năm 1995 đầu hàng và sinh sống ở Rangoon dưới sự bảo vệ của quân đội Diến Điện, phủ nhận nguồn tin là ông ta quay trở lại kinh doanh nha phiến. Cùng lúc đó, 1 tổ chức người Shan khác gọi là Quân Đội Quốc Gia Wa Thống Nhất ( the United Wa State Army) chiếm lĩnh địa bàn kinh doanh của ông. Nhưng bây giờ nhà chức trách Thái nói tàn dư của Khun sa hoạt động trở lại càng ngày càng mạnh dưới sự điều động của Charm Herng, con trai ông. Cơ quan Chấp Pháp Ma Tuý Mỹ ( US Drug Enforcement Agency) ước lượng Miến Điện sản xuất 2500 đến 2800 tấn nha phiến trong năm 1999 . Năm 1998 chỉ có 1700 tấn. Riêng ma tuý dưới dạng thuốc viên gọi là Yah Bah (amphetamines) vẫn 300 triệu viên hàng năm, từ nhóm của UWSA (Quân Đội Quốc Gia Wa Thống Nhất) và nhóm của MTA (Mong Tai Army của Khun Sa)cộng lại. Con đường thông thương heroin biến đổi từ Tàu, Việt nam, Cambodia, Thái và Miến tuỳ theo tình thế không lúc nào ngưng hoạt động. Chỉ có 1 nỗ lực đa quốc gia, không tham nhũng, hối lộ, phối hợp đồng bộ mới có thể diệt trừ được . Nhưng tiếc thay việc che chở, chứa chấp và ngay cả bảo vệ bọn ma tuý để độc chiếm thị trường luôn làm 1 trong những quốc gia kể trên ngấm ngầm thực hiện như vẫn hằng xảy ra trong quá khứ khiến việc bài trừ ma tuý vẫn luôn mang lại thất bại .
KẾT LUẬN :
Định luật kinh tế là thế .Khi nhu cầu tồn tại, ắt có cung cấp . Một điều mỉa mai, chính những người thực sự canh tác cây thuốc phiện, nghèo vẫn hoàn nghèo . Hàng năm cơ quan chấp pháp bài trừ ma túy Mỹ (US DEA) bỏ ra khoản ngân sách khổng lồ vỗ béo các chính quyền Miến Điện và Thái . Đúng ra Mỹ cũng cần Lào Cộng, Việt Cộng và Tàu Cộng hợp tác nhưng có lẽ vì những ác cảm cố hữu với những quốc gia Cộng Sản nên mọi nỗ lực của Mỹ vẫn có khuynh hướng đơn điệu . Bọn thu mua, chế biến, các thế lực võ trang, chẳng bao giờ hề hấn . Chúng chỉ ngưng 1 thời gian, hoặc di chuyển qua biên giới là mọi sự êm xuôi . Không hề có sự đồng loạt tiểu trừ ma túy qui mô .
Hãy đặt chúng ta trong tình cảnh người dân miền núi . Khi quân đội Thái mở cuộc hành quân đốt phá ruộng rẫy, chẳng ông tướng nào đói, chẳng tổ chức buôn lậu nào nghèo mà chỉ những người dân thấp cổ bé miệng này chịu khổ . Họ làm cái gì trên núi để sống ? Dĩ nhiên khi quân đội Thái kéo đi, họ lại tiếp tục trồng trọt . Bằng không thì đói . Cho dù có trồng trọt, họ cũng chỉ đủ ăn . Không người Shan hay Hmong nào giàu cả . Trái lại, họ đầu quân để bảo vệ nương rẫy nhưng thực ra bị lợi dụng để bảo vệ cho các lãnh chúa thuốc phiện . Thái, Miến, Việt Nam, CIA giết hại họ và ngay cả những phe nhóm trong bọn họ giết nhau, để làm giàu cho bọn con buôn quốc tế .
Lấy nồi cơm của họ , xin các ông bà DEA ban chọ họ cái gì đút vô miệng . Trích ra 1 ít tiền nuôi chính quyền Thái, Miến dành cho 1 chương trình quy mô phát triển nông nghiệp miền núi . Mang điện nước, cơ giới đến tận mọi bản làng, để họ thấy được rằng với văn minh hiện đại, không cần trồng những thứ ấy mà vẫn no ấm . Nhà nhà sung túc, nơi nơi an ninh, ai muốn đi lính cho Khun Sa ? Tất cả những ngân khoản ấy chắc chỉ bằng 1 phần nhỏ DEA chi tiêu hàng năm cho bọn chính quyền vùng Tam Giác Vàng . Bây giờ Meta xin đặt câu hỏi :
DEA muốn tiêu diệt người thiểu số hay muốn được tiếng nhân đạo ? Tiêu diệt người thiểu số thì ma túy còn . Nâng cao mức dân sinh người miền núi thì vừa thu phục lòng người mà hiểm họa ma túy sẽ mất . Nếu người Mỹ không thương họ thì hãy thương lấy chính mình . Ma túy đang ung hoại xã hội nước Mỹ đấy.
HẾT.