Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Người muôn năm cũ - Bão Vũ

1 trả lời, 1.255 lượt xem — Trang 1 / 1
Cám ơn nữ hiệp nha , coi rồi , thấy truyện này chưa có. Mà chắc cũng chưa có trên net , dạo nọ anh em vừa uống bia vừa type

Người muôn năm cũ
--------- Bão Vũ --------

"Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ... "
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)


Nga vừa trút bỏ quần áo vứt bừa lên ghế, vừa hỏi bà nội :

-Có ai hỏi con không, bà ?

-Có một cậu ; người trông đứng đắn lễ độ lắm .

-Bà thì chỉ để ý người đứng đắn với không đứng đắn . Thế hắn cao thấp, gầy béo, đẹp xấu ...thế nào ?

-Cái con này. Cứ nhìn con giai ở mã ngoài, rồi là khổ một đời đấy con ạ !

Nga lăn ra giường, trên mình độc một cái quần con, ôm lấy bà :

-Cháu mà vớ phải một tên đứng đắn nhưng lại kiết xác, thì mới khổ đời. Thế sao bà biết hắn đứng đắn ?

-Cậu ấy trông cao ráo. Đi xe máy ...

-À , được rồi. Con sẽ nạp vào bộ nhớ : Người đứng đắn là người cao ráo, đi xe máy - Nga cười khúc khích .

-Thế xe gì , wave hay spacy bà ?

-Con nỡm. Làm sao bà biết được xe gì. Bà đã nói xong đâu. Cậu ấy đi xe trong ngõ rất chậm, không bấm còi, lại không chiếu đèn chói mắt người ta như đám con nhà Soạn thịt chó trong kia. Cậu ấy hỏi bà nhẹ nhàng lắm. Bà cũng muốn có người nói chuyện, mới đưa chìa khóa bảo : "Cháu mở cửa hộ bà, vào đây chờ Nga" . Nhưng cậu ấy vẫn giữ ý, không vào. Nhà có mỗi bà lão lẩm cẩm ... Thế là người tốt chứ còn gì ?

-Trộm bây giờ siêu lắm bà ơi. -Nga vừa nói vừa ngáp - Hắn không dám vào vì thấy bà mời. Sợ "kẻ cắp gặp bà già". Biết đâu bà có Te - cun - đô lại cho hắn một cước thì toi. Lần sau, bà cứ ra vẻ không cho hắn vào là hắn tìm cách vào bằng được cho mà xem.

-Con ranh này. Cậu ta bảo là trước học cùng với mày. Tên là Hoàng.
-Á à! "Hoàng hấp". - Nga bật cười khanh khách - Người tình cũ. Xưa bà gọi là gì nhỉ ? À, nhân ngãi của con đấy bà ạ! Xe ấy là xe đi mượn. Hắn đang ở tận miền Trung.

-Ừ, nó nói là làm tàu thuỷ chở hàng từ miền Trung ra. Rẽ vào thăm bạn học cũ.

-"Cử động" quá. Tên Hoàng này trước đây sốt cao vì con đấy. Nhưng nhà thì ở tít khu "trỏng", lại chỉ độc một món tim trần nên hết khoá học, con đánh trượt. Tội gì phải chập với một tên chỉ biết yêu không thôi bà nhỉ ?

-Nói với năng. Ngày xưa con gái mà ăn nói thế thì chết đòn, con ạ. Phải thưa gửi, gọi dạ bảo vâng. Cấm có nói tục, nói lóng. Nhỡ miệng thì vả gẫy răng. Mà có dậy mà mặc quần áo vào ngay không. Cứ trùng trục như đô vật thế này, cảm lạnh thì sao ?

Nhưng Nga đã gáy gừ gừ như một con mèo con, không để ý đến bài giáo huấn của bà nội. Bà Ngân phải trở dậy lấy cái váy ngủ, rồi vần mình Nga lăn lóc một hồi mới mặc vào được cho nó. Bà mệt, vừa thở vừa mắng yêu : "Cha bố nó, nặng như cái cối đá lỗ. Ngày trước, bằng ngần này là đã con bồng con mang". Bà tắt đèn, nằm xuống, phe phẩy cái quạt giấy quạt cho cháu, dù cái quạt trần đang quay.

Đêm đã khuya, Bà Ngân chập chờn giấc ngủ của người già. Tiếng xe cộ ì ầm xa xa. Chợt Nga trở dậy, nhảy thịch xuống giường. Bà nhìn thấy trên nền sáng khuôn cửa sổ, thân hình dậy thì của Nga lồ lộ trong chiếc váy mỏng, ngửa cổ tu bình nước.

- Con gái con nứa mà uống nước như thế à !

- Bà tinh mắt nhỉ. - Nga trèo lên giường, ôm lấy bà nội, cù vào nách. Bà không cười mà chính nó lại khúc khích - Con đi lấy chồng, không còn ai để mắng mỏ, bà có buồn không ?

-Cha bố mày. Bà yêu thì bà mới mắng, cho nên người chứ!

-A, bà cũng yêu đấy nhé! - Ngụm nước lạnh làm Nga tỉnh ngủ - Thế ngày xưa, bà có yêu ông nội không ? Gọi là gì nhỉ. À, "phải lòng" ! Hôm nọ con thấy ảnh của ông ở cái thẻ gì ấy. Ông để đầu đinh. Trông mô-đen lắm.

-Hồi ấy ông đi làm ký lục lộ trên mạn ngược, bị ngã nước rụng hết tóc, rôi mọc lại ngứa quá, mới húi "cua".

-Thế nên bà mới phải lòng - Nga lại cười khúc khích. Nó thừa biết cái ông để đầu đinh ấy chỉ là ông nội của nó. Còn người mà bà nó đã "phải lòng" là kép chính của một gánh chèo lang thang. Ông ta con nhà giàu, có học, viết chữ nho đẹp có tiếng; lại có hoa tay, vẽ vời cắt giấy phết hồ chẳng thua thợ hoa man, làm được cả phông màn cho những cảnh diễn. Đã có lần bà hãnh diện nói về người ấy : "Bọn con trai chúng nó bây giờ học hành đến mấy, cũng chẳng bằng được người như ông ấy".

-Bà kể về ông ấy đi.

...Tan đêm chèo, người ấy để nguyên quần áo của chàng Ngưu Lang, tất tả đi vội đến chiếc cầu đá đứng đợi Ngân. Còn Ngân thì không sao thoát ra khỏi căn buồng có cánh cửa gỗ lin kiên cố bị người dì ghẻ khoá trái.

-Rồi làm sao mà bà thoát ra được ?

-Anh Ngọ là lực điền của nhà, cũng quen biết người ấy, đã trèo lên nóc nhà, dỡ mái, dòng dây thừng xuống, kéo bà lên. Trăng sáng vằng vặc soi rõ khuôn mặt anh ta buồn rười rượi. Này, hôm nay bà thấy cái cậu Hoàng ấy trông mặt cũng rầu rầu như thế. Người nào cũng vậy; Thời nào cũng vậy. Cư vướng vào dây tình là khổ. Thì ra anh Ngọ cũng phải lòng con gái nhà chủ.

-Ôi, các cụ cũng "tay ba tay tư, lằng nhằng dây điện" nhỉ ?

***

Ngọ nhón những cọng rạ lợp mái nhà vướng trên tóc Ngân. Cô để yên cho anh ta được làm chuyện đó như một sự thưởng công. Những ngón tay chẳng hề chạm vào tóc Ngân. Cô để yên cho anh ta được làm chuyện đó như một sự thưởng công. Những ngón tay chẳng hề chạm vào tóc Ngân, mà anh ta cũng chẳng thấy như đang được hưởng một sự hạnh phúc to lớn lắm. Ngân cảm thấy thế khi nhìn vào khuôn mặt chữ điền rạng rỡ ánh trăng.

- Cô chạy ngay ra cầu Đá đi. Mau lên, ...cậu ấy đứng đợi ở đấy lâu rồi. Cô đi may mắn nhá. Rồi nhắn tin về ... cho tôi mừng. - Ngọ vừa nói vừa nuốt nghẹn.

Ngân chạy tắt qua lối vườn Chùa. Khu vườn ngay giữa trưa cũng âm u lanh lẽo với tiếng cú rúc và tắc kè kêu ghê rợn. Mặc Bà chùa Thượng ngàn xống áo mớ ba mớ bảy vắt vẻo đưa võng trên cây, cười lanh lảnh trêu chọc; mặc ông Hoàng Mười cân đai bối tử trừng mắt đứng bên lăng Sư Tổ; mặc cái Gái chết oan ức, quần áo trắng loà xoà xoã tóc nỉ non khóc dưới cây quéo kia. Ngân chạy thục mạng, thoát khỏi khu vườn đầy những bóng ma. Rồi cô cắt ngang qua lối gò Trành là nơi chôn người chết. Ngân chạy như ma đuổi. Mà ma đuổi thật. Nghe rõ tiếng chân thình thịch phía sau. Ngân vấp vào một tấm bia, ngã như trời giáng. Không phải ma đuổi mà là Ngọ chạy hộ tống đằng sau. Anh nâng Ngân lên, lấy ống tay áo lau máu trên môi cô, nhặt cái tay nải quần áo, tư trang khoác lên vai Ngân :

-Còn một quãng đường nữa thôi. - Anh ta đứng trên gò nhìn theo Ngân.

Ngân đến nơi. Trên cầu vắng tanh. Một bóng người đang lúi húi đặt đăng đó dưới chân cầu. Ngân hỏi vọng xuống :

-Bác đánh đăng ơi ! Vừa rồi bác có thấy ai đứng trên cầu không ?

-Có. Đứng lâu lắm. Khăn áo phơ phất như người phường chèo. Nhưng đi rồi.

-Đi lâu chưa, bác ?

-Chừn giập bã trầu.

Chiếc cầu trơ trọi. Trụ cầu bằng đá đẽo. Mặt cầu lát đá phiến nhẵn bóng, mỗi phiến bằng nửa cái sập gụ. Ánh trăng khuya làm chiếc cầu sáng sủa mới mẻ như thể nó vừa hoá thành đá xong. Ngân đứng chết lặng trên cầu, nghe có tiếng còi tàu hoả xa lắc ở phía nhà ga, nơi những ngọn đèn mờ mờ sương đêm. Người ấy đã không thể đợi thêm được. Gánh chèo phải đi kịp chuyến tàu sớm, ngược lên Lạng Sơn, rồi đến hát ở những làng mạc dọc sông Thương. Bao nhiêu là đường đất; mịt mù bóng chim tăm cá.

-Bà cũng lãng mạn nhỉ ?

-Cha bố mày. Chỉ được cái hỗn. Bà là bạn mày đấy à ?

-I'm sorry !

-Cái gì ? Con ranh. Mày rủa bà à ?

-Đâu mà, ấy là con xin lỗi. Bà có biết không, tên Hoàng ấy cũng lãng mạn một cục. Hắn viết thư cho con, y như phim : -Nga ghé sát miệng vào tai bà thì thầm. Môi nó mềm ướt như môi đứa bé còn bú mẹ; hơi thở nóng hổi - " Tàu chạy giữa hai bờ con sông lạ. Nước sông đục ngầu, nhưng hoa cỏ trên bờ tươi xanh. Tôi ước được là thuyền trưởng, tôi sẽ cho tàu cập bờ, lên hái một bó hoa dại thật lớn gửi cho Nga. Vì, lúc đó tôi rất nhớ Nga. Nhớ lắm ! Nga ơi !". Con viết cho hắn rằng phải bỏ ngay cái kiểu ngồi trên nóc tàu gật gù lơ mơ, nhỡ lộn cổ xuống sông; lại làm con tốn oan nước mắt. Thế mà hắn viết lại rằng, nếu được con khóc thương thì hắn sẵn sàng nhảy xuống sông.

Nga lại ngủ được ngay, lại gừ gừ khe khẽ như con mèo con.

***

Ngân đọc đi đọc lại lá thư một người làng đi buôn trên mạn ngược về, chuyển cho cô. Thư của người ấy. Những chữ viết rất đẹp đều bằng mực tím. Cô đã thuộc cả những chữ cô không hiểu :

" Phủ Lạng Thương, Le 25 Novembre 1941
... Ngân ơi! Cái đêm hôm đó Ngân không đi cùng với tôi, thì tôi cũng không dám trách gì Ngân, mà chỉ hận trời xanh. Âu cũng là oan trái từ tiền kiếp nên đôi ta mới lỡ dở... Thôi thì đành đợi kiếp sau. Tôi cầu chúc cho Ngân gặp được người ý hợp tâm đầu, bách niên giai lão. Còn tôi thì trọn đời thương nhớ Ngân. Viết đến đây, lòng tôi đau như dao cắt; tôi nhớ Ngân lắm, Ngân ơi. Mà tôi biết, Ngân cũng chưa quên được tôi. Thật là :

Người đi Tam Đảo Ngũ Hồ
Người về khóc trúc thương ngô một mình
Non non nước nước tình tình
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ ..."(->Thơ Tú Xương)

Đầu năm sau, Ngân lấy chồng. Cái đám mà bố Ngân và dì ghẻ đã xếp đặt từ trước. Anh chàng này con nhà giầu ở Hải Phòng "làm bàn giấy", trông hiền như đất mà cục tính. Anh ta phong thanh biết chuyện ghen; có lần đánh Ngân toạc cả đầu. Nhưng Ngân vẫn không quên được người ấy; cả khi bố Nga ra đời. Sau này, bố Nga tính cũng cục cằn. Cũng ghen bóng, mà vợ thì lại là người nhan sắc, giao thiệp rộng. Bố Nga đánh vợ đến nỗi phải bỏ nhau khi Nga còn chưa biết đi. Nga được bà nội nuôi từ nhỏ, không nhớ nổi mặt mẹ.

Sáng hôm sau, chủ nhật, Nga ra đầu ngõ mua bát xôi ngô cho bà; rồi son phấn, phóng xe đi mất. Bố Nga ra hiệu sách. Bà Ngân ngồi lại một mình bên cửa sắt xếp. Bà sợ những lúc ngồi một mình, cũng sợ giấc ngủ chập chờn. Như những kẻ từng chọc trời khuấy nước đã hết thời; như những giai nhân, mỹ nữ về già; bà Ngân thường ngồi nhớ một thời xuân sắc bà từng có.

Hoàng lại đến, dụt dè lễ độ chào bà như tối hôm qua.

-Hoàng đấy à. Cháu vào đây nói chuyện, chờ Nga. Nó sắp về bây giờ.

Ban ngày, trông Hoàng cũng điển trai. Cũng dáng hào hoa lịch sự như người ấy ngày xưa; và hiền lành phúc hậu như anh Ngọ.

***

Ngay đêm hôm ấy Ngọ bị đánh què chân như quân trộm cướp, rồi bị đuổi. Lúc anh tập tễnh ôm bọc quần áo ra đi, Ngân vẫn bị nhốt tron buồng. Khi ra khỏi cổng anh còn cố nói to lên: "Tôi đi đây! Chẳng biết bao giờ mới được về lại đây nữa. Cô ở lại manh khoẻ may mắn nhé!". Tên đầy tớ nịnh chủ của nhà Ngân giộng cái đòn ống vào lưng anh thêm một lần nữa. Trong buồng Ngân nghe rất rõ. Cô khoc nức lên. Sau, nghe nói anh Ngọ phiêu bạt sang tận Nam Vang, rồi biệt tích.

- Cháu uống nước đi. Chè xanh đấy. Bà chỉ uống nước này thôi.

- Dạ. Cháu cũng thích nước chè xanh, nhưng it được uống. -Rõ là đứa lễ phép, thật thà, chứ không phải nói lấy lòng bà. Bà Ngân bắt đầu cuộc hỏi han về gia thế của Hoàng như Nga đã nói trước khi phóng xe đi."Tên Hoàng có đến nữa, bà cứ thẩm vấn hắn xong phần tiểu sử là con về". Hoàng chỉ còn mẹ và đứa em gái đang đi học. Trước, nhà cũng khá nhưng bố chết trong một chuyến đi biển; nên mẹ con lâm cảnh khổ. Chỉ hơn con Nga một tuổi mà đã là trụ cột gia đình. Bà nhìn Hoàng thương cảm :

-Cháu yêu thương Nga lắm phải không ?

Hoàng bị bất ngờ, lúng túng, im lặng.

-Đêm qua Nga đọc cho bà nghe thư cháu gửi cho nó.

-Chết thật, Nga lại đọc thư của cháu lên ? - Hoàng ngượng nghịu. -Trước kia Nga cũng yêu cháu, còn bây giờ thì cháu tự biết là không thể như thế được.

-Nó đã thuộc làu lá thư. Cháu thật lòng thế, con Nga không thể vô tình được.

Hai bà cháu nói chuyện đến gần trưa. Hoàng tần ngần đứng lên :

-Cháu xin phép bà... Chiều nay tàu chúng cháu về rồi. Bà ở lại mạnh khoẻ. Cháu ... nhờ bà chuyển hộ cho Nga cái hộp này. -Rồi thằng bé lủi thủi đi.

Chiều muộn, Nga về cùng với Hà, bạn gái thân của nó và một đứa con trai lạ mặt. Chúng chào hỏi bà chiếu lệ rồi ra phòng khách. Một lúc sau, Hà vào buồng, ghé tai bà thì thào: "Bà ơi! Hắn đấy".

-Hắn nào? - Bà hỏi và linh cảm rằng thằng bé Hoàng hiền lành kia sẽ khốn khổ.

-Nó không nói gì với bà? Người yêu nó đấy. Hơi lùn một tị, nhưng con ông gì to lắm. Ở tận Thủ đô mà về đây "chim" cháu gái bà đấy - Hà nhại giọng quê, cười hi hí.

Đến gần tối thằng bé kia mới ra về. Nó ghé vào cửa buồng chào bà. Trông cũng được nhưng đúng là lùn, có khi còn thấp hơn Nga một đốt ngón tay. Cũng đầu đinh.

Bà muốn vun vén cho Hoàng. Nhưng bà biết, tất cả do đứa cháu gái bướng bỉnh của bà quyết định. Nó không phải là bà ngày xưa. Bà Ngân thở dài đưa cho Nga cái hộp giấy đựng quà của Hoàng. Đó là những bông hoa bằng thuỷ tinh. Tàu của Hoàng định kỳ chở cát trắng từ miền trung ra đây cho nhà máy thuỷ tinh. Cậu ta nhờ người ở phòng thí nghiệm thuỷ tinh mỹ nghệ làm cho. Những bông hồng mỏng mảnh trong suốt phớt trắng ở diềm cánh tan lẫn trong không gian, như ảo ảnh.

-Đẹp, cứ như là nhìn kỹ cũng vỡ mất. - Hà bình phẩm.

-Mụ thích, ta cho. - Nga hỏi bạn. Nhưng Hà lắc đầu :

-Chả dại. Đứt tay như chơi.

Nga cẩu thả để những bông hoa lên nóc tủ, rồi mở hộp quà của thằng bé đầu đinh ra, kêu lên :

-A, sô cô la Pháp, loại có hạt hạnh nhân chiên ròn. Trên cả tuyệt vời !

Bà Ngân từ chối thanh kẹo lạ mắt màu nâu bóng Nga đưa cho, như giận dỗi:"Mùi nó gây gây hăng hắc thế nào ấy. Bà không ăn được !"

Hoàng vẫn gửi thư đều đặn. Nga vừa đọc cho bà nội nghe vừa bình phẩm giễu cợt. Nó bỏ ngoài tai những lời bà nói xa xôi về Hoàng kèm với những câu ví von, ca dao tục ngữ về tình với ngãi. Lúc có Hà, hai đứa đọc thư, thêm bớt câu chữ để cười.

-Mày ác như quỷ ấy. Sao không cắt đi, cứ làm tội hắn mãi? -Hà mắng Nga - Ngày xưa, lính đánh trận bị thương, đau quá, phải van xin người khác giết đi cho đỡ khổ.

-Đau còn hơn chết. Mà thương hắn bằng thừa. Mụ còn lạ gì dân thuỷ thủ. Bến nào chắng có đứa con gái chờ hắn, cứ để hắn đấy như món lương khô. Phòng cơ nhỡ.

Hoàng theo tàu luôn. Nga reo lên mỗi khi Hoàng đến :

-A, ông lại chở cát ra đấy à? Ông nói chuyện với cụ hộ, Nga đi đằng này một tẹo về ngay! Và Nga lại mất tăm cho đến khi Hoàng không thể ngồi thêm được nữa.

Dù sao cũng có điều tốt. Bà Ngân mong thằng bé như chờ đứa cháu yêu đi xa. Còn Hoàng cũng thấy lòng dịu lại khi nghe được những lời an ủi ân cần của bà. Hai bà cháu nói chuyện rất hợp nhau. Đến nỗi trong đầu Hoàng bóng dáng hiền từ của bà, còn gần gũi thân thiết hơn hình ảnh rực rỡ của Nga. Và mỗi khi rẽ vào cái ngõ quen thuộc, Hoàng không hiểu là mình háo hức vì sắp được gặp Nga hay lại gặp bà Ngân.

Có lần đến, thấy Nga đi lại đang bồn chồn bên cạnh bà đang nằm ốm liệt, Hoàng nói luôn :"Nga bận cứ đi, tôi trông bà cho" . Và Hoàng cặm cụi sắc thuốc cho bà.

Hoàng đem theo món bánh cáy, chè lam, kẹo vừng làm quà, mỗi khi đến. Những thứ quà quê chế biến theo lối ngày xưa ấy làm Nga buồn cười như nhìn thấy những sản phẩm thô thiển của thổ dân ở một xứ lạ nào; và nó chê bẩn không dám đụng đến. Còn bà Ngân thích thú đem mời người bạn thân:"tôi cho các bà nếm lại những thứ quý hoá ngày xưa. Thằng cháu tôi đem ở quê ra đấy !"

Cuối năm, thằng bé trên Hà Nội xin cưới Nga, vì nó sắp đi du học ở Mỹ mấy năm. Hai bố con Nga bàn bạc xong xuôi mới cho bà Ngân biết. Bà cuống lên, nghĩ đến Hoàng. Tội nghiệp thằng bé. Bà chẳng biết phải làm gì cả. Bà làm mặt giận Nga. Nhưng con bé không bận tâm coi đó là sự trái tính, là kiểu giận dỗi mát mẻ của người già.

Tuần sau là ngày cưới. Nga hớn hở, hát cười luôn miệng.

... Những ngày xưa ấy ... Cả làng ầm ĩ tiếng lợn kêu, chó sủa, trẻ con la hét, như đã đến Tết. Người ấy ở tít trên mạn đồng rừng heo hút. Ngân chôn chặt chuyện cũ như cất một đồ dùng trái mùa về nhà chồng. Khi lên chiếc xe hơi màu sữa, cô khóc như mưa. Nhưng không ai để ý chuyện con gái khóc khi đi lấy chồng.

***

-Thôi bà nín đi, đừng để con khóc theo, hỏng hết cả mặt bây giờ. - Nga cau có.

-Tao khóc kệ tao. Khổ thân nó đã bồ côi bồ cút. Lại gặp phải chuyện này nữa.

-Ơ bà buồn cười nhỉ. Con có làm gì hắn đâu? Tự hắn xin chết đấy chứ.

-Mụ có tắt đi không! -Hà mắng Nga, dỗ dành bà Ngân -Bà chấp con điên kia làm gì. Mà cái tên Hoàng ây ú ớ thế thì khổ là đáng đời. Thôi, bà nín đi để con tô môi cho bà. Hôm nay ăn hỏi, nhà trai có một bà béo ục ịch, già bằng mấy bà, thế mà làm mặt còn siêu hơn bọn con. Hôm nay bà cũng phải tô một tẹo cho bên đối tác kính nể chứ.

Bà lần từng bậc lên căn gác nhỏ. Bà không bật đèn, ngôi nhìn những khóm cây đen sẫm trong bóng tối ngoài ô cửa nhỏ và khóc. Thằng bé Hoàng bây giờ cũng như người ấy ngày xưa, đang ở tận bờ bến nào, không hề biết cái người mình yêu thương đã thuộc về kẻ khác rồi.

Đám rước dâu về Hà Nội đã đi xa. Bố Nga cùng bạn bè đang ăn uống ở khách sạn. Bộ dàn băng hình bọn trẻ bỏ đấy vẫn đang nhấp nháy hát.

-Bà ơi, ... Con đây! -Có tiếng gọi khẽ. Bà Ngân nhìn ra. Thằng bé đến.

Hoàng nhìn quanh và hỏi bà, giọng khô khan:

-Rước dâu rồi hả bà ?

-Có dễ được mươi, mười lăm phút rồi con ạ. Sao con biết? -Bà Ngân lúng túng như có lỗi -Bây giờ, xe phải đến cầu Lạc Long rồi.

Hoàng im lặng. Bà Ngân quay đi không nhìn vào mặt Hoàng. Bà sợ khuôn mặt như mất hồn của thằng bé sẽ làm bà khóc lên mất. Bó hoa trong tay Hoàng chúc xuống đất, trông cũng như héo rũ đi. Bà lại nhìn thấy trong khoảng không gian mờ mịt của kí ức, người ấy đứng trên cầu đá đợi bà, áo khăn phơ phất. Chiếc cầu đến giờ vẫn còn, như thể nó đã hoá đá vì đã cùng chờ đợi, và đẻ làm chứng tích.

-Bà đang xem băng ca nhạc đấy à? -Hoàng hỏi như để có chuyện.

-Không, bà có biết băng bó gì đâu. Chúng nó vừa trang điểm cho con Nga, vừa mở máy hát hổng với nhau. Lúc nhà giai đến, cứ bỏ đấy kéo đi. Bà cũng chẳng biết mở tắt thế nào. Cháu không muốn xem thì tắt đi.

Hoàng ngồi xuống nền nhà, tay vẫn cầm bó hoa như cầm cái chổi. Hoàng nhìn màn hình. Băng karaokê những bài hát hay nhất của nhóm "Boys". Bà Ngân nói với Hoàng những câu an ủi cũ kỹ mà bà cũng thấy là giống như những lời đãi bôi :" Thôi con ạ. Cũng là cái duyên cái số. Nguôi ngoai rồi thì ...con giai như con, lấy đâu chẳng được vợ. Con đi về, cứ đến đây. Coi bà như bà nội của con".

Hoàng cúi đầu giọng khàn đi :"Vâng ạ!". Bà Ngân tìm cách nói lảng sang chuyện khác :

-À cái bài hát này chúng nó mở máy hát theo suốt ngày không chán. Bà nghe quen cũng thấy vui tai. Nó nói cái gì thế hả con ?

-Vâng để con đọc cho bà nghe. -Hoàng dịch những chữ tiếng Anh trên màn hình :..."Em là một nghìn buổi bình minh tuyệt vời. Em là một nghìn buổi hoàng hôn tuyệt vời ... Bầy giờ tôi đi tìm em khắp phố. Công viên và bờ sông không có em ... Tôi đến nhà thờ, xin Chúa chỉ nơi em ... Thấy em lộng lẫy trong áo cưới ... Tôi đến chậm mười lăm phút ... Chỉ mười lăm phút thôi ! ... Mười lăm phút thôi !"

Hoàng nhắc mãi cái điệp khúc đó. Còn bà Ngân thì nước mắt giàn giụa. Bà đến cầu Đá chỉ chậm một khoảng thời gian chừng giập bã trầu. Người ấy đã bỏ đi mãi đến tận bây giờ.

***

Ông Phổ Độ, chủ hiệu thuốc Bắc đầu phố, là người quen của bà Ngân đưa mấy gói thuốc cho Hoàng, căn dặn :

-Cậu làm đúng như tôi viết đây. Phải cho bà uống nóng, thuốc mới kiến hiệu. Hết mấy thang này là đỡ đau lưng. Còn chứng phù bàn chân, để sau. - Ông nhìn bức thư pháp đồng lồng khung trên tường, hỏi - Nhà này mới mua được chữ ở đâu thế này ? Đẹp thật ! Người viết tài hoa khoáng đạt lắm. Cứ nhìn bộ "đao" là biết. Bao nhiêu tiền bức này đây bà ?

-Chữ ông đồ đền Mẫu viết cho không đấy, ông ạ. - Bà Ngân trả lời - Để từ năm kia. Tôi muốn treo, con Nga nhà này không nghe, cứ dán ảnh người râu ria, đánh đàn, đá bóng. Bây giờ nó đi lấy chồng, tôi bảo thằng cháu đây treo dịp tết này.

-Bức này lụa tốt, mực thơm mài bằng rượu. Nét chữ kiểu "hành xà" xoắn bện như thể thắt ruột vắt gan trút hồn lên ngọn bút mà viết. Thường thì là Tài, Lộc, Phúc, Thọ, Phú, Quý. Đây lại là lựu. Lựu có chữ Lưu là "Gìn giữ", là "Đọng lại". Ờ, nếu chỉ mưu cầu giầu sang phú quí, sống lâu, mà chẳng biết giữ gìn cái Nghĩa cái Nhân, cái Tình thì cũng chỉ là phù phiếm. Lưu ở chữ lưu luyến, lưu tình : chút tình còn lại: cũng ở chữ lưu bút:để lưu lại cho nhau ... còn bộ chấm thuỷ là hàm ý Lưu thuỷ hay Dư lệ. Hay lắm ! Tài hoa, nhưng gian truân một đời.

Bà Ngân cúi mặt, lén lau nước mắt. Ông lang Phổ Độ đeo mục kỉnh, nhìn hai cột chữ nhỏ đã thảo có in triện son trên phía trái bức thư pháp, ngâm nga :

"...Nhớ xưa luyến ái Hàn công tử ...
Xương trắng thành tro hận chửa tan..."

Ông chép miệng - Lý Thương Ẩn đời Đường đây Hằng Nga bay về trời, đã yên vị ở ngôi cao quý nơi tiên giới rồi, vậy mà lòng vẫn còn lưu luyến mối thâm tình cõi phàm trần với công tử họ Hàn. -Ông lang thở dài - Người như lão đồ đền Mẫu này, trong thiên hạ bây giờ chẳng còn nhiều. Mấy vị túc nho vùng này phục lão lắm. Lão chỉ xuất hiện có một bận vào năm kia. Từ năm ngoái, lão biệt dạng. Có người nói hình như lão bị phong hàn, mất ở Bắc Giang rồi. Sống lang bạt sông hồ, chết tha hương. Vậy là số "Lưu hà". Ờ, cũng lại có chữ Lưu!

Ông lang như nói một mình, gật gù đắc ý trước bà già lẩm cẩm và gã thanh niên lộc ngộc dáng thất phu. Hai người kia như những kẻ tàn tật khiếm khuyết trí thức; họ làm sao có được cái cao khoát trong tâm hồn khi thấu hiểu được sự thâm trầm của cử nghĩa, thi ca.

Đúng là người ấy rồi. Thì ra cái cảm giác vướng gợn không cắt nghĩa được trong lòng bà hôm xin chữ, là có duyên cớ. Năm kia, sáng mồng một Tết, hai bà cháu vào đền Mẫu xin quẻ thẻ rồi đi dạo. Bà Ngân thích cái không khí ở đền Mẫu này, đó là cái khí xuân thanh sạch nguyên sơ của một thời đã mất. Ngày xưa bà đã gặp người ấy trong một ngày hội Xuân tươi sáng như thế này, ở ngôi đền quê nhà, cũng có tên là đền Mẫu.

Con bé Nga cũng hớn hở vì cái không khí ấy. Ai cũng nhìn đứa cháu gái đẹp rực rỡ của bà. Con bé giống hệt bà nội ngày xưa. Bà đã tái sinh với hình hài của nó. Đến cái ông đồ râu trắng bạc như cước ngồi cạnh cổng đền cũng dùng chiếc bút lông trong tay, nhin con Nga đăm đắm, rồi lại nhìn bà. Chắc ông cũng nghĩ như mọi người :
Một cặp bà cháu đẹp như tranh vẽ Phật bà với nữ tiên đồng.

-Chào ông đồ. Xin thầy cho bà cháu tôi một chữ, treo năm mới lấy khước.

Nga ngồi thụp xuống bên cạnh ông đồ già, ngắm nghía cái nghiên mực bằng đá, thỏi mực lớn có hình rồng cuốn, hòn son, ông hút, những vuông lụa bạch, xấp giấy đỏ ...

-Bà với cháu muốn chữ gì nào ?- Ông đồ ân cần hỏi.

-Ông ơi ! Viết cho cháu chữ "Happy New Year".

-Không được hỗn !- Bà Ngân củng lên đầu đứa cháu lém lỉnh.

Gần hai năm theo học thầy đồ ngày xưa, giờ chẳng còn mấy chữ. Xin Tài, Lộc, thì đời cho là tham. Phúc, Tâm thì người ta bảo vì thiếu thứ đó, mới mua về. An là hèn nhát. Còn Thọ dành cho kẻ uý tử cầu sinh. Thôi thì tuỳ thầy. Bà nói thế, làm ông đò ngạc nhiên về sự thông thái của một bà già ở tuổi lẩm cẩm.

-Nghe bà suy luận thì rõ là người mẫn tuệ. Chỉ tiếc là ... - Ông nhìn con bé Nga lần nữa rồi lại nhìn bà, thở dài -Vậy là tôi vô phép viết đại một chữ mà không dám lấy tiền. - Ông trải vuông lụa bạch nõn có hồ xuống chiếu, quệt ngọn bút lông thật đậm mực rồi nhíu mày trầm ngâm một lúc. Mặt ông thoáng tái đi, căng thẳng. Đôi mắt đục buồn rầu sau cặp kính như hướng về cõi xa nào đó không rõ. Ông tìm chữ, nghĩ cách thể hiện, hay đang tâm niệm cho cơn hưng phấn thư pháp đến ? Không biết. Bất ngờ một giọt mực như giọt nước mắt lớn từ ngọn bút rỏ xuống vuông lụa bạch, cùng với tiếng "Ối" của Nga. Con bé nhìn thấy giọt mực đúng lúc sắp rớt xuống.

Nhưng chính giọt mực là một gợi ý bàn tay nhập thần hạ bút. Giọt mực tình cờ ấy đã không làm hỏng vuông lụa, mà lại đắc dụng. Hai giọt mưa hay lệ đang rơi, kế tiếp giọt đầu tiên đã xuống đất và bắn lên thành nét phẩy ngược. Để sửa giọt mực vô tình, ông đã thêm bộ "chấm thuỷ" vào chữ Lưu mà ông định viết.

Con người lang bạt ấy về đây, có phải vì mong được gặp bà lần cuối trước khi nhắm mắt xuôi tay ? Tiễn ông lang Phổ Độ về rồi, bà Ngân quay lại nói với Hoàng :

-Hoàng này. Năm nay bố Nga trực tết ở sở. Con Nga ra riêng mới về. Nhà vắng vẻ con còn chờ chữa tàu, thì về đây ăn Tết với bà cho vui. Chiều nay, hai bà cháu mình đi sắm Tết. Nhân tiện rẽ qua đền Mẫu.

Hoàng khẽ "vâng ạ !" trong đầu anh vẫn vang lên giai điệu bài "fifteen minutes" với giọng ca gào đau đớn của Bill Aston ở cuối băng hôm đám cưới : "tôi đến chậm mất rồi ...Chỉ mười lăm phút thôi ...Mười lăm phút thôi ..."

Bà Ngân ước có một phép màu để chiều nay lại được thấy người ấy đợi bà ở bên cổng đền Mẫu với cây bút lông trong bàn tay tài hoa. Và bà biết, dù có chết hồn đang phiêu dạt đâu đó nơi đầu ghềnh cuối bãi thì linh hồn của một người như thế ắt sẽ tìm về bên bà, để mãi mãi vấn vương, lưu luyến với cố nhân .

(Type trong : "Truyện ngắn hay 2000" - nxb Hội Nhà Văn )
Đăng nhập để trả lời
0
Mưa ấm tháng giêng

Nguyễn Quang Thiều

Với một khung cảnh nên thơ và những nhân vật giản dị, Mưa ấm tháng giêng như một câu chuyện cổ tích có thật giữa đời thường, viết về tình yêu, về vẻ đẹp của tâm hồn con người và những điều kỳ diệu của thiên nhiên.


Thường vào lúc những cơn mưa tháng giêng bay mờ trắng và ấm áp, thì bầy chim đi tránh rét từ mùa đông năm trước trở về. Cả bãi vải rộng và chạy dài gần một cây số dọc trên triền sông quê Ngần trở thành nơi nghỉ cánh của bầy chim. Không hiểu vì sao, bầy chim di cư lại chọn bãi vải ấy làm nơi nghỉ trước khi bay chặng cuối cùng về một vùng đất ngập nước cách làng Ngần khoảng 50 cây số. Chúng sống trên vùng đất ngập nước ấy từ mùa xuân cho đến đầu đông. Suốt thời gian ấy, chúng kiếm ăn và sinh nở. Bầy chim bay về những vùng ấm áp ở phương nam theo một đường khác. Khi trở về, chúng chọn một đường khác và nghỉ lại bãi vải vào giữa chiều. Người làng chạy ra mặt đê xem chim về. Bà nội Ngần kể: Ngày trước, có mùa chim về nhiều quá, bãi vải không đủ chỗ cho chúng, bầy chim phải đậu tràn vào những khu vườn trong làng, nghỉ lại đúng một đêm, và mờ sáng hôm sau lại ra đi. Cả làng như thức giấc bởi tiếng đập cánh ngờm ngợp của bầy chim. Chúng bay cắt qua làng và cất tiếng kêu trong như tiếng sáo trúc. Bà nội Ngần bảo, đó là lời cảm ơn của chim. Những buổi sáng như vậy, Ngần dậy sớm. Cô chạy ra sân, ra ngõ và đường làng để nhặt những chiếc lông chim rụng.


"Tại sao bầy chim chỉ ở lại bãi vải làng mình có một đêm hở bà?". Ngày còn bé, Ngần hỏi bà nội như thế. Và bà nội kể câu chuyện về bầy chim do cụ nội Ngần kể lại.


Từ thuở xa xưa, bầy chim di cư đã chọn đường bay trở về vùng đất bãi quê Ngần. Chúng chỉ bay qua chứ không nghỉ lại bãi vải. Nhưng một buổi chiều, người làng thấy bầy chim đỗ xuống bãi vải. Thấy lạ, cả làng đổ ra xem. Trên ngọn của một cây vải to nhất, cao nhất, bầy chim lượn thành hình tròn như một dải mây khổng lồ. Gió từ cánh của bầy chim rào rào vào những vòm lá vải. Chúng vừa bay vừa kêu thảm thiết. Trên tán lá dày nơi ngọn cây, một con chim lớn nằm xõa cánh. Đấy chính là con chim Chúa. Trong chặng bay cuối về vùng đất ngập nước, con chim Chúa đã hạ cánh xuống bãi vải. Nó biết nó không còn đập cánh được nữa. Và nó chọn bãi vải quê Ngần làm nơi yên nghỉ. Đàn chim bứt những chùm vải phủ kín lên con chim Chúa. Đêm ấy bầy chim ở lại bãi vải. Và sáng sớm hôm sau thì chúng ra đi.


Sau khi bầy chim ra đi, dân làng đổ ra bãi vải và mang xác con chim Chúa xuống. Con chim Chúa to hơn những con chim khác. Đặc biệt, nó có một đôi cựa như một đôi ngà voi nhỏ xíu và một chiếc lông đỏ trên đỉnh đầu. Dân làng chôn con chim dưới gốc cây to nhất, cao nhất ấy và hương khói như đối với một con người. Lạ thay, năm ấy làng được mùa vải chưa từng có. Hình như cái hoa nào cũng đậu quả, và vải quê Ngần là giống vải to và hơi chua, bỗng trở nên ngọt và thơm lạ thường. Cho đến bây giờ, ngoài giống vải thiều ra, không có loại vải nào ngọt như vải quê Ngần cả.


Và từ đó, làng Ngần đã chọn ngày 13 tháng giêng làm ngày hội làng, hội thi cây cảnh. Những cây chuối được uốn, tỉa thành hình con chim, có cái lông đỏ trên đỉnh đầu. Buổi sáng, người làng đổ ra mặt đê thắp hương và đợi chim về. Sáng sớm hôm sau, khi bầy chim ra đi, người làng ra bãi vải nhặt những chiếc lông chim rụng. Nếu ai nhặt được chiếc lông chim mầu đỏ thì sẽ gặp phước lành. Người già nhặt được thì sẽ không bệnh tật và sống đến trăm tuổi. Trẻ con nhặt được thì ngoan ngoãn, thông minh. Con trai nhặt được thì khỏe mạnh, tài trí, làm ăn phát đạt. Và con gái nhặt được thì mỗi ngày một đẹp, một thảo hiền và sẽ lấy được người mình mong ước. Nhưng mỗi lần chim về, trong hàng ngàn chiếc lông chim rụng, chỉ có mỗi chiếc mầu đỏ.


Sau khi nghe bà kể, năm nào cũng vậy, đêm trước ngày hội làng Ngần hầu như chẳng ngủ được vì thấp thỏm. Nhưng cho tới bây giờ, Ngần vẫn chưa nhìn thấy chiếc lông chim ấy. Bởi thế mà Ngần vẫn chỉ ru rú ở nhà với bà. Đám trai làng hầu như chẳng để ý đến cô. Nếu có, cũng chỉ là những câu đùa cho vui mà thôi. Ngay cả khi ở tuổi 17, Ngần vẫn như một cô gái lên mười.


Đã có thời gian dài, có lẽ cũng phải 15 năm, bầy chim không trở về bãi vải. Vào một đêm trong chiến tranh, đúng cái đêm mà bầy chim nghỉ lại bãi vải thì bị bom đánh. Hàng chục quả bom đã ném xuống bãi vải. Sáng sớm hôm sau, người làng chạy ra bãi vải. Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Bãi vải xơ xác, cây đổ ngổn ngang. Trên mặt đất, rụng kín hoa vải và la liệt xác chim. Người làng nhìn cây đổ, hoa rụng và chim chết mà nước mắt ròng ròng. Sau đêm ấy, bầy chim di cư không thấy bay về nữa.


Vào những ngày đầu tháng giêng, Ngần vẫn đôi lúc tha thẩn dọc bãi vải. Chính ở đó Ngần đã gặp Thư. Đó là một buổi chiều cách đây bốn năm. Họ làm quen nhau và Thư hỏi:


- Cô có biết bầy chim di cư không?


Ngần đã kể cho Thư nghe về bầy chim ấy, cả câu chuyện về con chim Chúa và chiếc lông chim mầu đỏ.


- Cô đã nhặt được chiếc lông chim ấy chưa?


Ngần buột miệng:


- Chưa. Năm nào em cũng tìm.


Nói xong, Ngần đỏ mặt và vội bỏ đi.


Hôm sau, một cán bộ xã đưa Thư đến nhà Ngần. Lúc đó cô mới biết Thư là một người nghiên cứu về những bầy chim di cư. Thư đến để được nghe bà nội Ngần kể về bầy chim.


- Tôi đang đi tìm bầy chim ấy - Thư nói.


- Bầy chim nào? - Ngần hỏi.


- Bầy chim trước kia đậu lại làng mình một đêm ấy.


- Chúng nó ở tận trên trời, làm sao anh tìm được?


- Tìm được chứ - Thư nói hồ hởi - Tôi đã tìm thấy chúng rồi.


- ở đâu hở anh? Chúng ở đâu?


- Chúng đã về bãi vải ven sông, nhưng không như ngày xưa, chỉ có vài chục con thôi.


Thư đưa Ngần ra bãi vải. Anh chỉ cho Ngần thấy một hai chiếc lông chim. Rồi cả làng xôn xao lên sau buổi Thư nói chuyện ở đình làng về bầy chim, rằng chỉ một vài năm nữa, bầy chim sẽ lại về. Những ngày sau đó, có những buổi Ngần và Thư lang thang dọc bãi vải cho đến tối. Thư nói với Ngần:


- Chúng sẽ trở về. Bầy chim biết rõ chúng phải bay theo nguồn gió nào và hạ cánh ở đâu.


Vào mùa xuân năm sau, Thư lại lỉnh kỉnh đồ đạc về làng Ngần từ mồng 5 tết. Suốt ngày Thư ở trên đê nhìn trời. Thi thoảng, anh qua sông và đạp xe vào sát chân núi Mối. Mỗi khi trở về, mặt Thư tím đi vì gió lạnh. Ngần thường đun một ấm nước nóng cho Thư rửa mặt.


- Anh có thấy chúng về không? Lần nào thấy Thư dắt xe đạp từ ngõ vào sân, Ngần cũng hỏi như thế.


- Chưa thấy gì - Thư đáp - Nhưng anh tin năm nay chúng sẽ về đông hơn...


Thư bỏ lửng câu nói và im lặng nhìn Ngần.


Một buổi tối, Thư ở lại nhà Ngần rất khuya. Hai người ngồi nói chuyện với nhau bên bếp lửa.


- Đúng là những con chim này có một chiếc lông đỏ phải không anh? - Ngần hỏi.


- Anh tin là có - Thư nói - Anh cũng muốn nhặt được chiếc lông chim mầu đỏ.


- Để làm gì?


- Để anh thực hiện được ước mơ của anh.


Câu ấy, Thư như nói bằng hơi thở. Và sau câu nói ấy, cả hai người im lặng cho đến lúc Thư đứng dậy. Khi hai người bước ra sân, Thư chợt kêu lên:


- Mưa ấm quá!


Hai người đứng ở sân và cùng ngửa mặt lên bầu trời tháng giêng tối thẫm. Mưa tháng giêng từ xa thẳm đang thì thầm phả vào mặt họ. Cả hai thấy ấm rực lên như đang ngồi bên bếp lửa.


- Mưa ấm quá! Thư nói như reo khẽ. Mưa ấm thế này là bầy chim sẽ về!


Nói xong, Thư nắm lấy bàn tay Ngần. Và họ nhận ra, hai bàn tay họ cũng đang ấm rực. Sau khoảnh khắc bàng hoàng qua đi, Ngần vội rút tay mình ra khỏi tay Thư.


- Anh về đi, khuya rồi! - Ngần nói vội vã.


- Ngần, Ngần! - Thư gọi thảng thốt.


Ngần bước lên hiên nhà. Cô đứng nép vào cột hiên. Chưa bao giờ cô lại thở như thế. Khi biết Thư đã đi xa, và khi hơi thở dần dần trở lại đều đều, Ngần đẩy cửa vào nhà. Cô bước lại bên giường bà nội và nói:


- Bà ơi, bà ngủ chưa? Cháu đốt cho bà chậu lửa nhé!


- Bố cô! Bà nội mắng yêu. Chờ được cô đốt lửa cho thì tôi đã chết cóng rồi!


Ngần cười khúc khích và chui vào màn. Cô ôm lấy bà nội.


- Bà ơi, mưa ấm lắm. Mưa ấm như thế bầy chim sẽ về!


- Ai bảo thế? - Bà nội hỏi.


- Anh Thư nói thế bà ạ!


- Thằng Thư à - Bà nội nói - Cháu à, bà bảo nhé, con gái mà da khô, tóc cứng và nóng như cháu thì đường tình duyên khổ lắm. Đứa nào nó yêu cháu thật thì nó phải là người đức độ lắm.


Đêm ấy, Ngần thao thức mãi không ngủ được. Tiếng Thư gọi Ngần lúc ở ngoài sân làm cho Ngần thấy chóng mặt. Chưa ai gọi Ngần với giọng như thế bao giờ.


Đúng chiều ngày 13 tháng giêng năm ấy. Ngần theo Thư ra đê. Mưa tháng giêng bay mờ cả triền sông. Vải đang trổ hoa. Họ đứng im lặng nhìn về phía trời xa. Bầy chim trở về thật, chừng vài chục con từ từ đậu xuống ngọn cây vải cao nhất. Thư nắm tay Ngần chạy xuống chân đê. Cả hai rón rén đến dưới gốc vải và nhìn lên. Bầy chim đậu sát bên nhau và khẽ kêu lên, tiếng trong như tiếng sáo trúc. Thư say sưa ngắm nhìn bầy chim cho đến khi trời đổ tối. Thư dắt tay Ngần đi lên mặt đê. Ngần để yên tay mình trong tay Thư. Lên đến mặt đê, Thư vừa thở vừa nói:


- Anh dự báo đúng. Bầy chim đã trở về rồi, Ngần ơi!


Nói xong, Thư ôm choàng lấy Ngần. Ngần gục đầu vào vai Thư. Cô thấy tim mình đập vang vang tận đỉnh đầu.


Sáng sớm hôm sau bầy chim rời bãi vải ra đi. Ngần lén ra bãi vải. Cô vừa hồi hộp vừa ngượng ngùng tìm dưới gốc cây vải xem có chiếc lông chim mầu đỏ không. Dù trong lòng cô nghĩ chiếc lông chim mầu đỏ có lẽ chỉ là chuyện cổ tích. Nhưng khi không tìm thấy chiếc lông chim ấy thì lòng Ngần dâng lên một nỗi lo âu mơ hồ. Và rồi, cô buồn hết cả tháng giêng.


Bầy chim ra đi được mấy ngày thì Thư cũng ra đi. Anh phải trở về vùng đất ngập nước, cùng các đồng nghiệp tiếp tục công việc của mình. Đêm ấy, trong bếp lửa nhà Ngần, nghe Thư thổ lộ tình yêu của anh, Ngần đã khóc. Lời tỏ tình mà Ngần đã chờ đợi bao năm tháng lại làm cho Ngần hoảng sợ và đau khổ. Nếu Ngần tin rằng mình xinh đẹp như các cô gái khác, cô đã chạy ùa đến đón nhận tình yêu của Thư.


- Làm sao em khóc? - Thư hỏi.


Ngần không thể nói cho Thư biết vì sao cô khóc. Cô ngước mắt nhìn Thư. Cô nhìn thấy đôi mắt Thư đang nhìn cô đắm đuối và ấm áp vô cùng. Lúc đó, Ngần muốn gào lên với Thư rằng: "Tại sao anh có thể nhìn gương mặt xấu xí của em đắm đuối như thế kia được". Nhưng Ngần không gào lên được. Cô chỉ biết khóc. Thư kéo đầu Ngần vùi vào ngực mình. Anh vuốt ve mái tóc Ngần. Lúc đó, Ngần cảm thấy mái tóc mình khô giòn và khét đắng. Đến khi Thư vuốt ve bàn tay Ngần thì Ngần vùng khỏi vòng tay Thư và nghẹn ngào:


- Tại sao em lại không nhặt được chiếc lông chim mầu đỏ?


Câu hỏi của Ngần vừa tủi thân, vừa oán hận. Thư nhìn Ngần và nhận ra tất cả. Anh thì thào:


- Em sẽ nhặt được, chắc chắn là nhặt được.


Nửa tháng sau ngày Thư đi. Ngần nhận được thư anh. Thư say sưa kể cho Ngần nghe về những bầy chim di cư trở về trong những ngày đầu xuân ấm áp. Ngần thấy hạnh phúc và nhớ Thư vô hạn. Đêm ấy, cô đọc thư của anh bao nhiêu lần cũng không thấy chán. Nhưng khi cô lấy chiếc gương ra soi thì cô lại gục đầu mệt mỏi. Cô luôn luôn cảm thấy da cô khô và sạm, tóc cô cứng và khét, mắt cô hơi xếch, đôi môi cô có những vệt rộp. Nhưng sao anh ấy lại yêu mình? - Cô thầm hỏi. Hay anh ấy chỉ yêu bầy chim thôi? Ngần nhận được thư của Thư, nhưng cô không viết lại cho anh.


Thư viết cho Ngần mỗi lúc một thưa và bặt hẳn. Lá thư nào, Thư cũng xin được cưới Ngần và mong câu trả lời của Ngần. Nhưng Ngần đã im lặng suốt cả một năm. Những lúc thấy Ngần thẫn thờ, bà nội lại bảo: "Bà biết cháu chờ nó. Nhưng cháu ơi, người ta khác mình lắm. Xem có đứa nào trong làng tốt bụng hỏi thì lấy. Tuổi cháu đứng rồi, đừng viển vông. Trong nhà, bà lo và thương nhất mày. Nếu xinh đẹp như người ta thì lại đi một nhẽ, đằng này... Thôi, ông trời cho thế nào thì được thế, cháu ạ".


Năm ấy, bầy chim di cư trở về đông lắm, có tới hàng trăm con. Cả làng xôn xao. Những người già trong làng họp lại để bàn về lễ đón chim năm sau. Sau khi bầy chim bay đi, chẳng có ai ra bãi vải tìm chiếc lông chim mầu đỏ, chỉ có Ngần. Nhưng Ngần không tìm được chiếc lông chim mong ước ấy. Và năm đó, thời gian đối với Ngần trôi đi quá chậm.


Nhưng rồi mùa xuân lại trở về, dù rằng năm nay mùa đông như về quá muộn. Nhưng mùa đông phải trả lại thời gian cho mùa xuân đúng quy luật của nó. Mới chỉ ngoài Tết mấy ngày mà mưa phùn đã ấm như hơi nước nóng. Cũng vào lúc đó, có một người tìm đến Ngần. Đó là một người đàn ông tóc đã điểm bạc. Ông là một nhà nghiên cứu chim di cư. Ông làm cùng viện với Thư:


- Cậu Thư đang lặn lội tận đồng bằng sông Cửu Long - Người đàn ông nói vậy. Sau đó ông không hề đả động gì đến Thư, mà chỉ chăm chú hỏi về bầy chim.


- Tôi đọc hồ sơ của cậu Thư về bãi đỗ chim làng cô và cả câu chuyện về chiếc lông chim mầu đỏ...


- Chuyện cổ tích ấy mà, bác quan tâm làm gì. - Ngân buồn bã nói.


- Tôi lại tin chuyện đó là thật.


- Thật, sao chẳng thấy chiếc lông chim mầu đỏ? - Ngần nói, giọng chợt xa xăm, - có người tìm cả đời chẳng thấy.


- Người nào có lòng tin thì sẽ gặp được điều mình mong muốn - Người đàn ông nói. Mỗi người phải tin vào một điều đấy. Trước hết phải tin vào chính mình.


Đêm ấy, Ngần lại mở thư của Thư ra đọc. Cô biết, cô vừa mong đợi những lá thư như thế, lại vừa nghi ngại những gì Thư viết cho cô.


Sau bao nhiêu năm, ngày 13 tháng giêng năm nay, làng Ngần lại tổ chức lễ đón bầy chim. Khoảng hai giờ chiều, người làng đã tụ tập kín mặt đê. Một chiếc bàn phủ gấm điều bày bánh trái, hoa quả và một chiếc lư đồng. Trầm được đốt lên tỏa thơm ngát, Ngần cũng có mặt trên đê. Nhưng cô chỉ đứng ở phía cuối đoàn người, khăn len che kín mặt. Với mặc cảm về sắc đẹp của mình, cô luôn luôn né tránh đám đông. Cô đứng đợi bầy chim trở về mà lòng buồn bã.


Khoảng ba giờ chiều thì bầy chim trở về. Chúng xuất hiện phía xa như một đám mây. Đám mây mỗi lúc một lớn. Và những người đứng trên mặt đê nghe thấy tiếng đập cánh của bầy chim như tiếng mưa rào đang đổ xuống. Và trong khoảng khắc, bầy chim có lẽ đến vài ba ngàn con ngờm ngợp đập cánh trên đầu họ. Tiếng kêu của bầy chim vang lên như tiếng sáo trúc rộn ràng. Bầy chim lượn một vòng quanh làng Ngần rồi từ từ đậu xuống bãi vải. Mọi người đứng trên mặt đê reo hò.


Ngần đứng lặng im, mắt không chớp nhìn bầy chim.


- Tôi đã nhìn thấy con chim Chúa.


Nghe tiếng người nói sau lưng. Ngần quay lại và nhận ra người đàn ông cùng viện với Thư.


- Bác nhìn thấy thật à? - Ngần hỏi. - Sao bác biết?


- Con chim bay ở giữa đàn. - Người đàn ông nhìn về phía bãi vải, nói. Nó có đôi cánh dài, rộng gấp đôi những con khác. Nó bay nhanh nhưng đập cánh rất ít. Chỉ có con chim Chúa mới có chiếc lông mầu đỏ.


Câu nói của người đàn ông bỗng làm cho Ngần dâng lên một cảm xúc lạ lùng. Cô mở chiếc khăn ra. Gió xuân ấm áp phả lên mặt cô. Và từ đó cho tới lúc đi ngủ, Ngần náo nức lạ thường. Ngày mai cô sẽ dậy thật sớm để đi tìm chiếc lông chim mầu đỏ.


Và Ngần đã khóc nấc lên trong buổi sớm mùa xuân. Khi bước ra sân, cô thấy những chiếc lông chim rụng ngay ở sân nhà cô. Sáng sớm hôm nay, bầy chim từ bãi vải đã bay cắt qua làng cô để trở về vùng đất ngập nước. Và giữa những chiếc lông chim mầu trắng là một chiếc lông chim mầu đỏ như lửa. Ngần nhặt chiếc lông chim lên. Cô để chiếc lông chim trong lòng bàn tay. Chiếc lông chim khe khẽ rung lên bởi hơi thở của Ngần. Cô vội mang chiếc lông chim mầu đỏ vào nhà, mở chiếc khăn tay và đặt chiếc lông chim lên đó ngắm nhìn, lòng ngập tràn hạnh phúc. Suốt ngày hôm đó, Ngần cười nói khác thường. Đến khuya, khi tin chắc mọi người đã ngủ say, Ngần rón rén trở dậy. Cô vặn to đèn, run rẩy lấy ra chiếc gương rồi lại ấp chiếc gương vào ngực, người run bắn. Cuối cùng cô đưa chiếc gương lên ngang mặt mãi lâu sau mới lấy hết can đảm và từ từ mở mắt ra. Cô nhìn vào gương. Và thật kỳ lạ, cô thấy mình không hề xấu xí như những ngày xưa, nước da không phải khô và sạm, mà rám nắng, khỏe mạnh, đôi môi không hề có vết rộp mà mọng ướt. Cô từ từ đưa tay lên mái tóc. Mái tóc cô dày và mềm mại.


Cô soi gương, rồi bỏ gương đi. Rồi cô lại soi, lại bỏ, mỗi lúc lòng tin về nhan sắc của mình càng mạnh mẽ.


Ngày hôm sau, cô đi chơi khắp làng. Bạn gái cô kéo cô lại và thì thầm: "Yêu rồi phải không?", "Yêu ai mà yêu", - cô cãi. Bạn gái cô nói: "Đừng có giấu tao, mày đẹp ra như thế này thì chỉ do hơi đàn ông chứ còn gì". Cô đỏ mặt sung sướng. Cô không muốn nói về chiếc lông chim mầu đỏ. Cô không tin chuyện thần tiên. Nhưng cô không lý giải được vì sao lại thế. Chỉ có điều không ai cho là cô xấu. Chỉ có cô nghĩ mình xấu xí và tự ti về nhan sắc của mình.


Điều ấy chỉ mình Thư biết. Và anh yêu cô lạ lùng. Anh phải kéo cô ra khỏi sự mặc cảm ghê gớm đó. Chỉ làm như thế, anh mới có được cô. Và anh đã bỏ mọi công sức lang thang đến nhiều vùng để tìm được một chiếc lông chim mầu đỏ. Anh đã nhờ một đồng nghiệp về làng Ngần trong mùa chim di cư trở về và bí mật thả chiếc lông chim mầu đỏ xuống trước cửa nhà cô.


Mấy ngay sau, người đàn ông cũng ra đi. Ngần viết lá thư đầu tiên cho Thư và nhờ người đàn ông ấy chuyển giúp. Lá thư chỉ vẻn vẹn mấy dòng: "Em yêu anh. Ngày nào em cũng mong anh trở về. Hãy về với em! Ngần".



Đăng nhập để trả lời
0