Khi nghe người khác khen bạn hay, bạn giỏi, tâm bạn khởi vui mừng hớn hở? Và khi nghe những lời tán thán khen ngợi đó, bạn có bao giờ lắng tịnh tâm tư quán sát lời khen đó là chân thật hay chỉ là lời khen trang sức? Hoặc nếu nghe người khác phê bình chê bai, huỷ báng bạn, bạn khởi tâm tức giận, buồn phiền? Hay vẫn tâm bình khí hoà định tĩnh quán xét lời chê bai đó là hợp lý cảnh tỉnh bạn, hoạc giả nó chỉ là lời thị phi!
Nghe người khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản ứng nhạy bén, nhanh chóng ; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.
Có người cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ . Do vậy, công việc làm rất khó đạt được kết qủa hoàn mỹ.
Đức Phật trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc:” Trong sinh hoạt thường nhật, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận dụng ”VĂN- TƯ- TU” mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN TƯ TU mới có thể đạt được mục tiêu chính xác, an toàn. Bởi vì, Văn là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ. Tư là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. Tu là từ chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo nghiệm, quán sát mà thành tựu trí tuệ.
Các nhà nho học thường nói:”Học mà không tư duy là học vẹt. Chỉ tư duy mà không thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ rơi vào tà nguỵ vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan trọng của tam huệ VĂN-TƯ-TU.
Văn là lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết chuyển hướng cách nghe?
Bậc bồ tát tu 25 pháp viên thông ; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng . Những chuyện của qúa khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được thông qua nghe người khác nói kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.
Thật ra, nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe” chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay, nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ)rồi!
Điều mà gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy, thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt, sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có nhiều phước báo đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.
Trên thế gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu. Và biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hoá lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta thường hằng biết huân tập tư duy, phản tỉnh, quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng cuả các pháp thì sự tư duy đó rất tự nhiên tăng trưởng nên trí tuệ.
”Tu sở thành huệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp cuả Đức Phật chỉ dạy, hoặc hành trì những điều đãhọc hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh nhân, thầy tổ v.v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân- khẩu- ý mình từ những điểm hư xấu , bất thiện, bi quan bế tắc trở thành trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu, chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu…Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần phải vá lại mới có thể mặc được. Phòng xá hư hoại cần phải tu sửa lại mới có thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có lỗ khuyết hỏng hư hại đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục tiêu.
Đường dài vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích? Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì lo sì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có qủa chứng. Đó là thành quảdiệu dụng cuả “Tu sở thành huệ”.
Từ cái diệu dụng thật tiễn của “VĂN-TƯ-TU” đối với cuộc sống con người, Phật giáo khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì “VĂN-TƯ-TU”, bởi vì có “VĂN-TƯ-TU mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh chánh quả.
* Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.
Chọn nhũng bông hoa và những nụ cười *
Cái dụ về cuộc đời^
人生之喻
Mỗi người chúng ta từ khi cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi già lão,từ giã cuộc đời trở về với cát bụi. Đó là quá trình cuộc sống của một đời người.
Cuộc đời là gì nhỉ?
Có rất nhiều ví dụ để thuyết minh về cuộc đời. Dưới đây là một sốví du thuyết chứng:
1. Cuộc đời như một vũ đài.
Trên vũ đài đó có muôn hình muôn dạng sắc thái tuồng vai: hề, trung hiếu, yêu ma, thiện ác …đầy đủ các loại nhân vật hiệp lực diễn trọn hoạt cảnh vui buồn, hợp tan của cuộc sống đời người. Nhưng một khi sân khấu đã hạ màn kết thúc thì tất cả đều trở về với huyễn không.
2. Cuộc đời như một quán trọ.
Chúng ta tạm mượn cõi đời để trọ tấm thân qua vài mươi tuế nguyệt; đến khi phải rời khỏi quán trọ, thì tất cả mọi sở hưũ đều phải trả về cho quán trọ, cho đến một vật cũng không phải là của riêng mình.
3. Cuộc đời như huyễn mộng.
Mộng,có mộng tốt đẹp, có mộng xấu ác. Trong mộng thấy mình chu du liệt quốc; bay núi lượn biển,…;nhưng khi tỉnh giấc, thì ôi thôi, tất cả đó chỉ là mộng mị ảo huyễn.
4. Cuộc đời như tấm bèo trôi.
Tấm bèo phiêu bạt trên nước, trầm, tụ tán nổi không một điểm cố định chắc chắn. Cuộc đời nhân thế nào có khác chi những tấm bèo trôi kia; chúng ta không thể tự mình khống chế cuộc thế vô thường.
Các loại hình dụ tượng trưng trên là dụ cho cuộc sống vô thường. Ngoài ra còn có các loại hình dụ khác mà con người từ cổ chí kim thường lấy làm dụ như, đời người như hạt lộ châu sương mai nắng sớm; cuộc đời như làn điện chớp, cuộc đời như vật đổi sao dời, cuộc đời như đóa hoa tươi sớm nở tối tàn… Tất cả những ảnh dụ kia là thuyết minh cho thực chất cuộc đời nhân thế là huyễn hóa, là hư không, là vô thường. Những ảnh dụ trên nghe ra thì dường như cuộc sống nhân thế này là vô nghĩa, là bi quan; nhưng sự thật thì không hẳn như vậy. Cuộc sống nhân thế vô thường kia vẫn có những ảnh dụ tích cực đáng qúy như :
1. Cuộc đời như ánh thái dương, sớm mọc phương đông, tối tàn phương tây. Aùnh thái dương một khi xuất hiện, dương rộng vòng hào quang sưởi ấm nhân thế; rồi khi hoàng hôn buông màn, thái dương lòng tràn đầy niềm lưu luyến, từ từ lặn tắt; nhưng ánh thái dương lặn tắt đi không có nghĩa là mất hết niềm tin yêu hy vọng, bởi vì sáng sớm ngày mai, ánh thái dương sẽ lại từ phương đông trỗi dậy chiếu sáng khắp đại địa, đem nắng ấm tiếp tục sưởi ấm thế gian.
2. Cuộc đời như bãi chiến trừơng.
Trên bãi chiến trường có thắng, có bại. Thất bại cố nhiên khiến cho người ủ ê, buồn tủi, nhưng khi lâm thời có niềm hy vọng chiến thắng xuất hiện, thì cuộc sống lý tưởng hạnh phúc của con người liền lập tức trở thành hiện thực.
3. Cuộc đời như lòng bể đại dương.
Biển cả bao la sóng vỗ rì rào, bao dung vạn hữu. Trên biển cả, ngày đêm thuyền bè qua lại không lưu dấu vết, chim cá bơi lặn không lưu tiếng. Biển cả đem lại cho con người cuộc sống phương tiện với tấm lòng bao dung, nhiệt tình hậu đãi. Cũng vậy đời người chúng ta là biển cả bao la, có thể nhậm vận cuộc sống thanh nhàn tự tại tùy duyên với vòng tay tràn đầy yêu thương, có đủ nghị lực và trí tuệ năng biến phương tiện quyền xảo.
4. Cuộc đời như dòng nước chảy.
Dòng nước trong mát lăn tăn dạt dào chảy xuyên núi vượt đồi, đem lại cho nhân thế cuộc sống tươi nhuận. Dòng thác ào ạt đổ, không những vì nhân gian vẽ ra bức tranh hùng tráng lưu danh muôn thủa. Màcòn vì cuộc sống lợi ích thế nhân phụng hiến nguồn nhiệt lượng tiềm năng vốn có của mình
Lại nữa, ảnh dụ của cuộc đời trên mặt tích cực hướng thượng còn có: Cuộc đời như bầu trời trong sáng, như bức tranh họa sơn thủy, như bản thơ ca, như câu đối chữ, như ngọn núi thái, như dòng sông lam. Tất cả nhũng ảnh dụ trên đều là những thiên văn chương giải thích rõ ý nghĩa cuộc đời.
Thật ra, cuộc đời giống như một chiếc bàn cờ. Cuộc sống của đời người, chúng ta có thể không hạ cờ, nhưng không thể kông đi theo vị trí và chức năng của bàn cờ. Khi con cờ chạy lạc vị trí thì cả ván cờ tất bị rơi vào thất thế, thua bại. Khi con cờ chạy đúng phương hướng thì lộ trình sẽ thuận lợi, dẫn đến thắng lợi vẻ vang. Đời người chúng ta muốn thiết lập cuộc sống thắng lợi tốt đẹp như con cờ đại tướng kia, tất đòi hỏi phải có lý tưởng cao, có tầm mắt nhìn xa thấy rộng, tâm ý rộng lượng, bước chân vững chắc, không riêng tư, không tự ngã. Có được khí lực và nhiệt huyết như vậy mới có thể nhìn thấy được vị trí nhu nhuyến kỳ tuyệt của toàn bàn cờ, và mới có được năng lực vô úy, vô ngại đi suốt trọn ván cờ nhân thế.
Nghe người khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản ứng nhạy bén, nhanh chóng ; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.
Có người cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ . Do vậy, công việc làm rất khó đạt được kết qủa hoàn mỹ.
Đức Phật trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc:” Trong sinh hoạt thường nhật, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận dụng ”VĂN- TƯ- TU” mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN TƯ TU mới có thể đạt được mục tiêu chính xác, an toàn. Bởi vì, Văn là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ. Tư là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. Tu là từ chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo nghiệm, quán sát mà thành tựu trí tuệ.
Các nhà nho học thường nói:”Học mà không tư duy là học vẹt. Chỉ tư duy mà không thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ rơi vào tà nguỵ vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan trọng của tam huệ VĂN-TƯ-TU.
Văn là lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết chuyển hướng cách nghe?
Bậc bồ tát tu 25 pháp viên thông ; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng . Những chuyện của qúa khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được thông qua nghe người khác nói kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.
Thật ra, nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe” chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay, nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ)rồi!
Điều mà gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy, thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt, sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có nhiều phước báo đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.
Trên thế gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu. Và biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hoá lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta thường hằng biết huân tập tư duy, phản tỉnh, quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng cuả các pháp thì sự tư duy đó rất tự nhiên tăng trưởng nên trí tuệ.
”Tu sở thành huệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp cuả Đức Phật chỉ dạy, hoặc hành trì những điều đãhọc hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh nhân, thầy tổ v.v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân- khẩu- ý mình từ những điểm hư xấu , bất thiện, bi quan bế tắc trở thành trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu, chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu…Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần phải vá lại mới có thể mặc được. Phòng xá hư hoại cần phải tu sửa lại mới có thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có lỗ khuyết hỏng hư hại đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục tiêu.
Đường dài vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích? Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì lo sì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có qủa chứng. Đó là thành quảdiệu dụng cuả “Tu sở thành huệ”.
Từ cái diệu dụng thật tiễn của “VĂN-TƯ-TU” đối với cuộc sống con người, Phật giáo khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì “VĂN-TƯ-TU”, bởi vì có “VĂN-TƯ-TU mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh chánh quả.
* Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.
Chọn nhũng bông hoa và những nụ cười *
Cái dụ về cuộc đời^
人生之喻
Mỗi người chúng ta từ khi cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi già lão,từ giã cuộc đời trở về với cát bụi. Đó là quá trình cuộc sống của một đời người.
Cuộc đời là gì nhỉ?
Có rất nhiều ví dụ để thuyết minh về cuộc đời. Dưới đây là một sốví du thuyết chứng:
1. Cuộc đời như một vũ đài.
Trên vũ đài đó có muôn hình muôn dạng sắc thái tuồng vai: hề, trung hiếu, yêu ma, thiện ác …đầy đủ các loại nhân vật hiệp lực diễn trọn hoạt cảnh vui buồn, hợp tan của cuộc sống đời người. Nhưng một khi sân khấu đã hạ màn kết thúc thì tất cả đều trở về với huyễn không.
2. Cuộc đời như một quán trọ.
Chúng ta tạm mượn cõi đời để trọ tấm thân qua vài mươi tuế nguyệt; đến khi phải rời khỏi quán trọ, thì tất cả mọi sở hưũ đều phải trả về cho quán trọ, cho đến một vật cũng không phải là của riêng mình.
3. Cuộc đời như huyễn mộng.
Mộng,có mộng tốt đẹp, có mộng xấu ác. Trong mộng thấy mình chu du liệt quốc; bay núi lượn biển,…;nhưng khi tỉnh giấc, thì ôi thôi, tất cả đó chỉ là mộng mị ảo huyễn.
4. Cuộc đời như tấm bèo trôi.
Tấm bèo phiêu bạt trên nước, trầm, tụ tán nổi không một điểm cố định chắc chắn. Cuộc đời nhân thế nào có khác chi những tấm bèo trôi kia; chúng ta không thể tự mình khống chế cuộc thế vô thường.
Các loại hình dụ tượng trưng trên là dụ cho cuộc sống vô thường. Ngoài ra còn có các loại hình dụ khác mà con người từ cổ chí kim thường lấy làm dụ như, đời người như hạt lộ châu sương mai nắng sớm; cuộc đời như làn điện chớp, cuộc đời như vật đổi sao dời, cuộc đời như đóa hoa tươi sớm nở tối tàn… Tất cả những ảnh dụ kia là thuyết minh cho thực chất cuộc đời nhân thế là huyễn hóa, là hư không, là vô thường. Những ảnh dụ trên nghe ra thì dường như cuộc sống nhân thế này là vô nghĩa, là bi quan; nhưng sự thật thì không hẳn như vậy. Cuộc sống nhân thế vô thường kia vẫn có những ảnh dụ tích cực đáng qúy như :
1. Cuộc đời như ánh thái dương, sớm mọc phương đông, tối tàn phương tây. Aùnh thái dương một khi xuất hiện, dương rộng vòng hào quang sưởi ấm nhân thế; rồi khi hoàng hôn buông màn, thái dương lòng tràn đầy niềm lưu luyến, từ từ lặn tắt; nhưng ánh thái dương lặn tắt đi không có nghĩa là mất hết niềm tin yêu hy vọng, bởi vì sáng sớm ngày mai, ánh thái dương sẽ lại từ phương đông trỗi dậy chiếu sáng khắp đại địa, đem nắng ấm tiếp tục sưởi ấm thế gian.
2. Cuộc đời như bãi chiến trừơng.
Trên bãi chiến trường có thắng, có bại. Thất bại cố nhiên khiến cho người ủ ê, buồn tủi, nhưng khi lâm thời có niềm hy vọng chiến thắng xuất hiện, thì cuộc sống lý tưởng hạnh phúc của con người liền lập tức trở thành hiện thực.
3. Cuộc đời như lòng bể đại dương.
Biển cả bao la sóng vỗ rì rào, bao dung vạn hữu. Trên biển cả, ngày đêm thuyền bè qua lại không lưu dấu vết, chim cá bơi lặn không lưu tiếng. Biển cả đem lại cho con người cuộc sống phương tiện với tấm lòng bao dung, nhiệt tình hậu đãi. Cũng vậy đời người chúng ta là biển cả bao la, có thể nhậm vận cuộc sống thanh nhàn tự tại tùy duyên với vòng tay tràn đầy yêu thương, có đủ nghị lực và trí tuệ năng biến phương tiện quyền xảo.
4. Cuộc đời như dòng nước chảy.
Dòng nước trong mát lăn tăn dạt dào chảy xuyên núi vượt đồi, đem lại cho nhân thế cuộc sống tươi nhuận. Dòng thác ào ạt đổ, không những vì nhân gian vẽ ra bức tranh hùng tráng lưu danh muôn thủa. Màcòn vì cuộc sống lợi ích thế nhân phụng hiến nguồn nhiệt lượng tiềm năng vốn có của mình
Lại nữa, ảnh dụ của cuộc đời trên mặt tích cực hướng thượng còn có: Cuộc đời như bầu trời trong sáng, như bức tranh họa sơn thủy, như bản thơ ca, như câu đối chữ, như ngọn núi thái, như dòng sông lam. Tất cả nhũng ảnh dụ trên đều là những thiên văn chương giải thích rõ ý nghĩa cuộc đời.
Thật ra, cuộc đời giống như một chiếc bàn cờ. Cuộc sống của đời người, chúng ta có thể không hạ cờ, nhưng không thể kông đi theo vị trí và chức năng của bàn cờ. Khi con cờ chạy lạc vị trí thì cả ván cờ tất bị rơi vào thất thế, thua bại. Khi con cờ chạy đúng phương hướng thì lộ trình sẽ thuận lợi, dẫn đến thắng lợi vẻ vang. Đời người chúng ta muốn thiết lập cuộc sống thắng lợi tốt đẹp như con cờ đại tướng kia, tất đòi hỏi phải có lý tưởng cao, có tầm mắt nhìn xa thấy rộng, tâm ý rộng lượng, bước chân vững chắc, không riêng tư, không tự ngã. Có được khí lực và nhiệt huyết như vậy mới có thể nhìn thấy được vị trí nhu nhuyến kỳ tuyệt của toàn bàn cờ, và mới có được năng lực vô úy, vô ngại đi suốt trọn ván cờ nhân thế.
Không tranh
Không tham
Không mong cầu
Không ích kỷ
Không tự lợi
Không nói dối
Không tham
Không mong cầu
Không ích kỷ
Không tự lợi
Không nói dối