📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Nam Quốc sơn hà (từ hồi 31)

4 trả lời, 1.308 lượt xem — Trang 1 / 1
HỒI THỨ BA MƯƠI MỐT

Linh-Nhân hoàng thái hậu



Âu Huyền cầm ống tiêu để lên miệng thổi, âm thanh nghe rất quái dị. Khoảng một khắc sau (14 phút ngày nay), có ba con rắn từ từ bò đến. Một con sắc xanh óng ánh, bằng ngón chân cái. Một con mầu vàng, to bằng cổ tay. Một con lại đen thui. Ba con rắn đến trước mặt Âu Huyền thì cuộn tròn lại, rồi ngóc cổ lên, lắc lư cái đầu, há miệng, lưỡi thè ra theo điệu nhạc. Lát sau, lại thêm mấy con nữa. Trong khoảng hai khắc, có hàng trăm con rắn vào miếu.

Cách đây gần trăm năm, hai tên đầu trộm đuôi cướp tên Mã-Mặc, Lệ-Anh, bị võ-lâm, bị vua chúa Tây-vực truy lùng, chúng trốn vào rừng sống với thú vật, rồi nhân đó luyện được độc công, chế ra Chu-sa ngũ độc, cuối cùng lập thành Hồng-thiết giáo. Cho nên sau này, những đệ tử của Hồng-thiết giáo đều biết phương pháp bắt độc trùng, bắt rắn. Âu-Huyền là đệ tử của anh em Đông-Thiên, nên nàng rất thành thạo phương pháp thổi tiêu gọi rắn. Miếu thổ thần làng Siêu-loại nằm ngay trên khu đất hoang, cạnh cánh đồng lầy lội, vì vậy Âu Huyền chỉ cần hai khắc, mà đã chiêu dụ được hơn trăm con rắn đủ loại.

Thấy với hơn trăm con rắn cũng tạm đủ dùng rồi, Âu Huyền bắt hai con rắn nhỏ tung vào người Minh-Can. Hai con rắn cuốn tròn vào hai cổ tay ả. Nàng lại tung ba con rắn lớn lên. Hai con quấn quanh cổ chân ả, một con quấn quanh cổ. Minh-Can bở vía, ả thét lên:

– Con ma đầu kia, mi... mi định làm gì ta đây? Mi có biết rằng ta được Thái-hậu phong làm đội trưởng cung nga cung Ỷ-lan, tức là bề trên người, mà người lại vô phép với ta, thì người sẽ bị giết cả nhà không?

– Dĩ nhiên là ta biết. Nhưng mi có biết ta là ai không?

– ???

Âu Huyền kể sơ lý lịch cả bọn cho Minh-Can nghe. Minh-Can biết danh tự kỳ chủ tương đương với trưởng lão của Hồng-thiết giáo Đại-Việt, đó là những đại ma đầu, nói được là làm được. Ả bắt đầu cảm thấy lạnh xương sống, nhưng vẫn làm gan, không rên siết. Âu Huyền lại tiếp tục bắt rắn tung vào người ả. Lát sau người ả tua tủa đầy rắn. Ả sợ quá nhắm mắt lại. Âu Huyền cầm một con rắn khá lớn đưa đến trước mặt Minh-Can. Con rắn đợp một miếng vào má thị, lập tức máu chảy ròng ròng xuống mặt, xuống ngực ả. Ả kinh hãi quá thét lên:

– Ái! Tôi xin khuất phục.

Âu Huyền chỉ vào mặt ả:

– Ta cần biết một vài tin tức ở Thăng-long. Mi phải khai thực. Mi nên nhớ Thanh muội của ta cũng đang tra khảo tên Trịnh Ngọc. Lát nữa chúng ta sẽ so sánh hai bản khẩu cung. Nếu mỗi câu hai đứa khai không giống nhau, thì ta sẽ cho rắn đợp mi một miếng thịt. Nếu không giống nhau hai câu, ta sẽ không cho chúng đợp mi hai miếng mà cho chúng đợp tới mười miếng. Mi hiểu không?

– Xin kỳ chủ đừng... đừng làm thế. Tôi xin khai.

– Được, giấy bút đây, người khai đi.

« ... Sau hai lần họ Dương thất bại trong việc chuẩn bị cướp ngôi triều Lý. Dương Đạo-Gia tuy bị cách chức tể-tướng đuổi về điền dã, nhưng vẫn không bỏ mộng cướp ngôi vua. Ông cho người sang Tống xin quy phục Vương An-Thạch, để khi ông cướp được ngôi vua từ họ Lý; Thạch tâu xin vua Tống sai sứ sang phong cho làm vua Đại-Việt. An-Thạch hứa lơ mơ. Dương Đạo-Gia bàn với em là Dương hoàng hậu. Dương hậu nhận thấy rằng việc kết nạp các quan dễ bị lộ liễu, nguy hiểm. Bà đưa ra ỷ kiến rằng nhà vua tuổi đã cao, lại cần lao chính sự quá nhiều, thì cái ngày băng hà không xa. Chỉ cần khi nhà vua băng hà, Hoàng-hậu dàn cung nga, thái giám, thị vệ quanh nơi Hoàng-thượng, rồi truyền gọi các quan vào tuyên chỉ giả; cho hậu buông rèm thính chính. Ai phản đối, thì đem chém liền. Sau đó hậu khống chế tân quân, dùng tân quân sai khiến trăm quan. Chỉ cần trong vòng vài năm là có thể đưa hết người của mình nắm các chức vụ then chốt. Bấy giờ mới đi đến phế ấu quân, đưa Dương Đạo-Gia lênlàm vua.

Để thực hiện điều đó, hoàng hậu cần có cung nga, thị vệ, thái giám thân tín giỏi võ. Bà đi đêm với Hồng-thiết giáo Chiêm. Hậu được Lê Phúc-Huynh, Vũ Chương-Hào, Phan Vũ-Tỉnh, Thâm Phúc-Dũng, Nguyễn Nhược-Điểu âm thầm quy phục từ lâu, chứ không phảimình Đinh Hiền. Họ dùng độc chưởng kiềm chế từng thị vệ, cung nga, thái giám, huấn luyện võ thuật rồi kết nạp vào phe đảng của hậu. Để đề phòng khi có biến cố, bọn Hồng-thiết luôn duy trì một đại cao thủ ẩn ở trong hoàng thành.

Hiện dưới tay thái hậu có tới 72 cung nữ võ công rất cao, với ba trăm thị vệ, hai trăm thái giám.

Hồi tháng chạp năm trước, nhà vua lâm bệnh, sau khi tiên-nương Thiếu-Mai điều trị rồi, sang phủ Quốc-mẫu chơi. Hai vị đem số Tử-vi của nhà vua ra bàn, cả hai đều quyết rằng nhà vua sẽ băng hà vào đầu năm nay. Một cung nga đứng hầu nghe trộm được tin đó, báo với thái hậu. Thế là bà vội ra khỏi hoàng-thành hội với anh, với bọn Hồng-thiết giáo bàn kế hoạch. Kế hoạch bao gồm bốn giai đoạn:

– Một là phải làm sao đưa Ỷ-Lan, Thường-Kiệt, phò mã Hoàng Kiện rời xa Thăng-long. Bằng không khi nhà vua băng hà, Hoàng-hậu khó có thể dùng cung nga, thái giám, thị vệ trực thuộc chiếm quyền. Mà dù có chiếm được quyền chỉ cần một trong ba người này ra tay, thì sẽ bị dẹp tan ngay. Trước hết là Ỷ-Lan, vốn đã thay nhà vua nhiếp chính, nàng biết cách thức điều binh; thứ nhì là Thường-Kiệt lĩnh Phụ-quốc thái phó, lĩnh Đại-tư-mã; thứ ba là Hoàng Kiện lĩnh Phụ-quốc thái úy, Binh-bộ thượng thư. Ba người này đều có thể dùng mười hai hiệu Thiên-tử binh, binh các trấn kéo về đánh dẹp. Hoàng-hậu đưa ra việc lợi dụng sự ghen ghét quá đến thù hận của bà Thiết, của Minh-Can với Ỷ-Lan, xui bà viết thư cho Huy-Lực rằng ông Thiết bệnh sắp chết. Huy-Lực ắt phải về thăm nhà, dĩ nhiên khi qua Thăng-long Lực sẽ báo cho Ỷ-Lan. Ỷ-Lan là người con cực kỳ hiếu thảo, khi nghe tin cha bệnh nặng sẽ xin phép nhà vua về thăm nhà. Trường hợp này, cung nga, thái giám, thị-vệ trực thuộc Ỷ-Lan đương nhiên theo nàng rời Thăng-long. Một mặt khác, Hồng-thiết giáo gửi lệnh cho dư đảng ở ba châu Bố-chính, Ma-linh, Địa-lý nổi lên hô hào dân Chàm đánh đuổi bọn Việt. Nhà vua tất sai Lý Thường-Kiệt vào kinh lý. Lại thư nhờ Kinh-lược an-vũ sứ Quảng-Đông cho thao diễn thủy quân rầm rộ. Tin này đưa về, tất nhà vua sai phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên đi Đồn-sơn duyệt thủy quân phòng thủ. Khi Ỷ-Lan, Thường-Kiệt, Hoàng Kiện rời Thăng-Long rồi thì không còn ai có quyền điều động binh tướng nữa.

– Hai là lúc nhà vua hấp hối, ắt triệu chư đại thần, cùng Ỷ-Lan, thái tử lại dặn việc sau. Hoàng hậu cho lực lượng của mình bao vây kín Hoàng-thành, không cho ai vào. Khi nhà vua băng hà đương nhiên để di chiếu lại, hoàng hậu dấu di chiếu đi, bấy giờ mới cáo với đại thần. Đại thần đa số là giới Nho gia, ắt sẽ tôn Thượng-Dương hoàng hậu là đích mẫu thái tử nhiếp chính.

– Ba là, khi thái tử lên ngôi vua mới có bẩy tuổi, thái hậu nhiếp chính sẽ mặc sức vo tròn, bóp méo theo ý muốn; tha hồ cách chức, giết những ai chống bà. Dần dần bà đưa chân tay nắm hết chức vụ then chốt.

– Cuối cùng, thái-hậu họp quần thần xúi họ dâng biểu tôn Dương Đạo-Gia lên làm vua ».

Âu Huyền lấy lời khai của Minh-Can, rồi ra ngoài cùng Âu Thanh so sánh với bản cung khai của Trịnh Ngọc. Hai người rùng mình khi thấy cả hai bản cung khai không khác nhau làm bao. Nàng lấy ra hai viên thuốc khử độc nhét vào miệng hai đứa, thuận tay điểm huyệt Trịnh Ngọc, Minh-Can, rồi đem chúng trở về dinh Dương-quang, trình hai bản cung từ cho Ỷ-Lan.

Sau khi đọc xong hai bản cung từ, Ỷ-Lan kinh hoàng nghĩ thầm:

– Dương gia với Hồng-thiết giáo chuẩn bị như vậy mà sao Khu-mật viện lại không biết gì? Nếu biết, sao không tâu với nhà vua?

Nhưng phi chợt nhớ ra một chuyện: Nguyên vào thời vua Thái-tông, sau khi xẩy ra vụ án gian nhân đánh thuồc mê Lý Thường-Kiệt rồi tĩnh thân. Khai-Quốc vương muốn cho Khu-mật viện điều tra, nhưng nhà vua lại không muốn, lấy lý dù sao Khu-mật viện cũng do các đại thần phụ trách. Nếu để Khu-mật viện điều tra, không lẽ hoàng hậu, vương phi thân thể cao quý biết mấy, mà phải chịu chấp cung? Do thế nhà vua ban chỉ định rõ rằng Khu-mật viện có quyền trên khắp lãnh thổ, trừ trong nội cung. Chắc vì vậy mà cuộc chuẩn bị của Thượng-Dương thái hậu lâu ngày, lớn như thế mà cơ quan này không biết gì.

Âu Hoàng thấy Ỷ-Lan ngồi thừ người ra, nàng nói nhỏ:

– Theo ý thần, thì Thái-phi phải liên lạc với Quốc-mẫu, Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương, Đại tư mã Thường-Kiệt, Thái-úy Hoàng Kiện, vua bà Bắc-biên xem sao; lại sai người về mật kiến Hoàng-thượng... rồi hãy hành động.

Ỷ-Lan tỉnh ngộ, bà ngồi viết thư rồi nói với Thần-vũ ngũ Hùng:

– Nếu dùng biện pháp đem quân về Thăng-long thì quá dễ dàng. Nhưng tôi không muốn có cảnh chém giết lẫn nhau. Vậy phiền Nhân sư huynh đi Bắc-biên đem thư cho vua bà; Nghĩa sư huynh đem thư cho Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương; Lễ sư huynh mang thư cho đại tư mã Thường-Kiệt với công chúa Thiên-Ninh; Trí sư huynh mang thư cho phò mã Hoàng Kiện; Tín sư huynh mang thư cho Quốc-mẫu. Còn do thám Hoàng-thành xin nhờ Âu Hoàng sư tỷ.

Sáu người mang thư, lấy ngựa ra đi. Ngay chiều hôm ấy Hùng Tín trở về báo cho Ỷ-Lan biết: Quốc-mẫu cùng với Yên-vương phi Thiếu-Mai lên đường sang Xiêm từ trước tết Nguyên-đán vừa về. Quốc-mẫu tuyên chỉ rằng Thái-phi cứ bình tĩnh.

Tối hôm ấy, Hùng Trí trở về báo rằng Phò-mã Thái-úy Hoàng Kiện bị cách chức Thái-úy, Binh-bộ thượng thư; ông với công chúa Động-Thiên bị giam lỏng ở trong phủ tại bến Tiềm-long.

Hôm sau, Hùng Nhân trở về báo rằng: Vua bà Bắc-biên Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long về Thăng-long chịu tang vua Thánh-tông đến nay không có tin tức gì.

Ruột Ỷ-Lan nóng như nước sôi, ngồi đứng không yên.

Ba hôm sau, Hùng Nghĩa trở về cho biết, Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương được chỉ dụ của Hoàng-thượng rằng trong nước có đại tang, hai vương không được rời nơi trấn nhậm, vì sợ Chiêm thừa cơ đem quân quấy rồi.

Như vậy chỉ còn thiếu tin tức của Âu Hoàng.

Mãi bốn hôm sau, Ỷ-Lan đang chờ tin tức thêm, thì có tin báo công chúa Thiên-Ninh với Âu Hoàng xin cầu kiến. Phi vội đứng lên, ra ngoài đón. Công chúa trong y-phục đại-tang hành lễ với phi. Ỷ-Lan nóng ruột hỏi:

– Tình hình triều đình ra sao?

Thiên-Ninh dùng ngôn ngữ bình dân nói với Ỷ-Lan:

– Triều-đình, anh Thường-Kiệt sai cháu thỉnh cô về Thăng-long ngay, bằng không thì e loạn to.

– Cô không thể về trong lúc này, e Thượng-Dương thái hậu hại cô mất. Nhưng loạn do đâu mà ra? Thiên-Ninh thuật chi tiết cho cô nghe đã.

– Loạn do nội chiến.

Thiên-Ninh tâu: Sư huynh Thường-Kiệt với cháu được tin phụ hoàng băng hà, vội trở về Thăng-long. Khi nhập thành, đã thấy thị-vệ, cung-nga, thái-giám gươm đao sáng ngời canh phòng tất cả các cung, các điện. Thái-hậu tuyên triệu sư huynh Thường-Kiệt vào cung bàn việc, rồi không thấy người ra. Còn cháu vào cung vấn an mẫu thân cháu (Mai quý phi), thì người cho biết người cùng Trần giai-phi (thân mẫu công chúa Thiên-Thành); Lý tuyên-phi (thân mẫu công chúa Động-Thiên) đều được tôn làm Thái-phi. Cả ba phải chầu hầu sớm hôm dâng cơm trước tử-quan phụ hoàng.

– Còn Càn-Đức?

– Em Càn-Đức được di sang ở cùng cung với Thái-hậu. Bất cứ Thái-hậu đi đâu, làm gì, cũng có Càn-Đức bên cạnh. Ai tâu điều gì, Càn-Đức cũng lắc đầu chỉ vào Thái hậu. Còn bách quan, thì đám chân tay Dương gia bị đuổi về hồi trước, nay được phục hồi chức tước. Tể-tướng Dương Đạo-Gia được phong chức Thái-sư, tước tới Đại-vương, quyền nhiếp chính. Tóm lại, các quan đều ngơ ngơ ngác ngác không biết phải làm gì, vì có tâu gì, bàn gì cũng bị bác. Mọi quyền hành nằm trong tay Dương gia.

– Cô rất quan tâm tới Thiên-Thành với Động-Thiên. Hai người đó hiện ở đâu?

Âu Hoàng tâu:

– Cả hai bị Thái-hậu truyền giam trong ngục với chồng. Nhưng đêm qua, Quốc-mẫu trở về, người sai thị-vệ tới ngục giải thoát bốn vị. Tại đây xẩy ra cuộc long tranh hổ đấu khủng khiếp. Sau ba vị đại sư Phụ-Quốc, Bảo-Dân, Trung-Đạo, xuất hiện, mới đánh bật chúng ra được.

Ỷ-Lan kinh hãi:

– Dương hậu có những cao thủ nào mà ghê vậy?

– Tất cả ma đầu Hồng-thiết giáo Chiêm đều hiện diện đó là Lê Phúc-Huynh, Vũ Chương-Hào, Phan Vũ-Tỉnh, Thâm Phúc-Dũng, Nguyễn Nhược-Điểu, Nguyễn-thị Bằng. Bản lĩnh Côi-sơn tam anh tuy cao, nhưng bọn chúng đông quá; lại nữa chúng dùng thị-vệ bao vây, mà ba vị không nỡ giết thị-vệ. Giữa lúc đó tiên nương Thiếu-Mai với chư đệ tử của sư thúc Viên-Chiếu thình lình xuất hiện. Hai nhóm cao thủ Sài-sơn, Đông-a phá gông, cởi trói cứu hai phò mã, hai công chúa ra.

Thiên-Ninh tâu:

– Thiên-Thành, Cảnh-Long bỏ về Bắc-biên triệu tập các biên cương đại thần tường trình mọi biến cố; Động-Thiên, Hoàng Kiện thì đi Đồn-sơn, chuẩn bị thủy-quân. Bốn người định làm lớn chuyện. Còn các cao thủ Đông-a thì rút về trang ấp Quốc-phụ. Thái hậu truyền thị-vệ vây kín dinh Quốc-phụ. Các cao thủ Đông-a định xông ra giết chúng, nhưng Quốc-mẫu không cho, người tuyên chỉ chờ Thái-phi về giải quyết.

Ỷ-Lan kinh hãi than:

– Nếu hai người đó đem quân về Thăng-long, e có nội chiến, như vậy thì tinh lực quốc-gia suy kiệt mất? Nếu cô có về chưa chắc đã khiến hai người ấy rút quân.

Đến đó Phương-Quỳnh vào trình cho Ỷ-Lan một ống tre:

– Tâu thái-phi, có biểu của công chúa Kim-Thành tâu trình.

Ỷ-Lan mở thư ra, trong thư công chúa Kim-Thành tường trình tình hình lộng quyền của Dương Thái hậu nào ứcc chế giam lỏng Thái-ninh hoàng đế, nào đem những tội phạm thời tiên đế cho phục chức, nào vô cớ bắt giam công chúa Thiên-Thành, Động-Thiên với phò mã Thân Cảnh-Long, Hoàng Kiện, nào ngăn cản không cho Ỷ-Lan thần phi; công chúa Kim-Thành, Trường-Ninh, Ôn-Thuận, Côi-sơn, Vạn-hoa cùng các phò mã Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm, Thân Thiệu-Cực, Tôn Mạnh, Tôn Trọng về chịu tang. Công chúa xin thái-phi Ỷ-Lan đứng ra phất cờ, đem quân về Thăng-long cứu giá. Tất cả các phò mã, công chúa ở Bắc-biên đều dồn hết lực lượng tiến quân về Thăng-long.

Ỷ-Lan càng kinh hãi:

– Trước đây phụ-hoàng cháu thường nhắc đi, nhắc lại rằng: Làm vua Bắc-biên là vua bà Bình-Dương, nhưng ổn định lại là công chúa Kim-Thành, thực không sai. Nếu Kim-Thành kéo quân về, thì chỉ mình Quốc-mẫu là ngăn cản được mà thôi. Cô bất lực trước vụ này rồi. Nội chiến e khó tránh.

Thị-vệ lại dâng biểu của Hoàng-Nghi. Hoàng-Nghi tâu trình: Phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên đã trốn thoát, hai vị điều hạm đội Động-đình, Âu-Cơ, Thần-phù đang tiến về Thăng-long. Đám Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt, Lê Huy-Lực, Lê-Huy cũng hưởng ứng đem mười hai hiệu Thiên-tử binh, hiệu Trường-yên, hiệu Thiên-trường theo. Hiện binh mã đang vây Thăng-long, chờ chỉ dụ của Thái phi là đánh vào thành, giết hết bọn họ Dương.

Qua súc cảm lúc đầu, giờ đây trước nguy cơ của đất nước, tính cương cường của Ỷ-Lan trở lại. Phi nắm lấy tay Thiên-Ninh:

– Được, cô phải về. Ví dù Thượng-Dương có giết cô, cô cùng đành cam, miễn sao cho xã tắc yên, Hoàng-thượng vô sự là được rồi.

Phi truyền chỉ cho Thần-vũ thập anh:

– Các sư huynh, sư tỷ! Chúng ta lên đường.

Vì tình hình khẩn trương, Ỷ-Lan không trang phục theo Phi-tần nữa, mà nai nịt võ-phục, lưng đeo bảo kiếm, cỡi ngựa. Đoàn người ngựa rồm rộ lên đường. Tới bến đò Bắc-ngạn, đã thấy hạm đội Động-đình, Thần-phù dàn ra dọc sông. Trên chiến hạm, thủy-thủ gươm giáo sáng ngời. Phương-Quỳnh đốt chiếc pháo thăng thiên, rồi vận nội lực tung lên trời. Chiếc pháo nổ đánh đùng một cái, toả ra hình bông lan mầu trắng. Lập tức, một soái hạm từ từ cập bến. Viên thủy thủ đứng trên mũi thuyền hỏi:

– Là binh đội nào?

Phương-Quỳnh đáp:

– Đoàn thị-vệ hộ tống Hoàng-thái phi.

Công-chúa Động-Thiên, tang-phục trắng, lưng đeo bảo kiếm từ trong khoang-thuyền bước ra hỏi:

– Hoàng-thái phi đâu?

Ỷ-Lan lên tiếng:

– Cô đây! Có cả Thiên-Ninh nữa.

Thuyền cập bến, Động-Thiên lên bờ hành lễ với Ỷ-Lan, rồi tường trình:

– Cháu chờ cô về! Nếu như Dương gia đầu hàng thì thôi, bằng không thì cháu cho lệnh đánh thành.

– Công-chúa bình tĩnh lại, cô về đây để dàn xếp việc này. Phiền công chúa cho thủy quân chở đoàn thị-vệ, cung-nga, thái-giám qua sông dùm cô. Phò mã đâu?

– Phò-mã đi trên hạm đội Âu-Cơ, chưa tới.

Thuyền vừa sang sông, thì đã thấy Hoàng-Nghi với hai hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ, đoàn cung-thủ Long-biên dàn ra chào đón bên phải. Bên trái là hai hiệu Vũ-thắng, đội Giao-long binh với Trần Di, Phương-Lý. Phía sau là đội binh hổ, báo, voi. Khí thế cực kỳ uy nghiêm. Phi chưa kịp hỏi han, thì Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt cùng vợ; Lê Huy, Thúy-Phượng, Lê Huy-Lực... đã tụ tập lại chào đón phi.

Hoàng-Nghi tâu:

– Mười hai hiệu Thiên-tử binh, hợp với hiệu binh Thiên-trường, Trường-yên chia nhau đóng ở năm cửa thành rồi. Chỉ còn chờ chỉ dụ của Phi là hành sự.

Ỷ-Lan hài lòng:

– Các em bình tĩnh. Chị về đây để tránh đổ máu.

Đến đó có tin báo:

– Công-chúa Kim-Thành, thống lĩnh ngũ-long công chúa, ngũ vị phò-mã, cùng vua bà Bắc-biên Thiên-Thành, phò mã Thân Cảnh-Long đã đem đại quân về tới Bắc-ngạn. Phò-mã Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm dùng bản bộ quân mã tấn công đám thị-vệ vây phủ Quốc-phụ. Không đầy một khắc phủ Quốc-phụ được giải toả, đám thị-vệ đều đầu hàng. Hiện quân Bắc-biên đang chờ thủy-quân chở qua sông.

Ỷ-Lan tuyên chỉ:

– Phương-Quỳnh đi với Hoàng-Nghi đến Bắc-ngạn yết kiến công chúa Kim-Thành, xin án binh lại. Đặt tất cả lực lượng Bắc-biên cũng như thủy-quân, Thiên-tử binh, binh Thiên-trường, Trường-yên dưới quyền phò mã Thân Thiệu-Cực. Nhưng...nhưng ... nhất thiết chờ chị đàm phán với Dương gia đã.

Hoàng-Nghi cùng Phương-Quỳnh tuân chỉ đi liền. Thấy một thân binh nhỏ nhắn đeo kiếm theo sau, nàng hỏi Hoàng-Nghi:

– Có cần cho tên thân binh này theo không?

Hoàng-Nghi nói nhỏ:

– Y không phải là thân binh đâu. Nang-Trúc đấy.

Phương-Quỳnh nhìn lại, thì quả tên thân binh là Nang-Trúc thực. Nàng nói nhỏ:

– Nó thực trung thành, lại dễ thương; thân hình, chân tay của nó thon lại mềm mại, thực hiếm người con gái nào có, chỉ tiếc rằng cái mặt nó méo mà thôi. Đáng tiếc.

– Chính vì mặt nó xấu xí, anh mới để nó ở bên cạnh, mà hình bóng Chang-Lan không bị xóa nhòa.

Lời nói của Hoàng-Nghi làm Phương-Quỳnh cảm thấy đau nhói trong tim một cái. Nàng nghĩ thầm:

– Chang-Lan quả đã chiếm trọn tâm hồn chàng rồi.

Nang-Trúc cầm bút viết mấy chữ, rồi đưa cho Hoàng-Nghi. Hoàng-Nghi mỉm cười nói với Phương-Quỳnh:

– Nang-Trúc nói, Nang-Trúc muốn được theo em để được hầu hạ Thần-phi, em nghĩ sao?

– Thần-phi thường nhắc nhở đến Nang-Trúc luôn, và khen cô ấy là người trung thành hiếm có. Em sẽ tâu với Thần-phi việc này.

Công-chúa Thiên-Ninh bảo Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt:

– Các em cứ dàn quân ngoài thành. Chị với Thần-vũ thập anh hộ tống Hoàng-thái phi đủ rồi. Thái-phi với chị vào thành để giải quyết mọi chuyện. Nếu như trong vòng một ngày không thấy sứ giả ra báo tin, thì các em hãy đánh thành.

Đoàn người ngựa đến cửa Đại-hưng. Cổng thành đóng kín. Viên hiệu-úy giữ cổng đánh ba tiếng trống, lập tức một đoàn thị-vệ xuất hiện. Viên vũ-vệ hiệu úy hỏi:

– Là binh đội nào?

Công chúa Thiên-Ninh đáp:

– Công-chúa Thiên-Ninh hộ giá Hoàng-thái phi về triều. Người mau vào thông báo với Hoàng-thượng.

– Xin công chúa chờ một lát, vì ngoài thành có nhiều quân phản loạn, nên Dương thái sư ban lệnh đóng cửa, đề phòng có biến.

Nói rồi y xuống khỏi địch lâu. Lát sau người xuất hiện không phải là thái sư Dương Đạo-Gia mà là một tướng trẻ. Ỷ-Lan nhận ra y là cháu của Dương thái sư tên Dương Đức-Nhàn, mà phi đã gặp hôm y bang bạnh ở tửu lầu trong lúc phi cùng vua Thánh-tông ngao du Thăng-long. Y cung tay hành lễ:

– Khải công chúa điện-hạ, hiện có nhiều phản tặc đem quân về làm chuyện nghịch thiên, bạo địa, nên tiểu tướng không thể mở cổng thành đón Hoàng-thái phi. Thái sư có lệnh: Nếu như hoàng-thái phi với công chúa muốn nhập thành, thì thị-vệ, cung-nga, thái-giám phải để ở ngoài hết, chỉ được đem theo mười người hầu mà thôi.

Thiên-Ninh quát lớn:

– Ta vâng chỉ Hoàng thượng đi nghênh tiếp Thái-phi hồi triều. Người mau vào mời Hoàng-thượng với triều đình ra tiếp đại giá Thái phi.

Đức-Nhàn lắc đầu:

– Hoàng thượng cùng triều thần đang thiết triều không thể ra đón Hoàn– thái-phi. Mong công chúa đại xá cho.

Ỷ-Lan nói nhỏ với Thiên-Ninh:

– Công chúa! Dương Đạo-Gia, Lý Đạo-Thành hiện lĩnh nhiệm vụ phò tá Thiên-tử mà để khiếm khuyết lễ như thế này, sau đây ta dễ dàng kết tội chúng. Bách quan không ít thì nhiều đều căm hận họ Dương. Nay ta càng nhũn nhặn, họ càng trọng ta.

Thiên-Ninh gật đầu, rồi nói vọng lên:

– Được! Chúng ta thuận điều kiện của người.

Thiên-Ninh vẫy tay cho tùy tùng lui lại sau gần một dậm, rồi gọi bọn Thần-vũ thập anh lại dặn dò mấy câu. Bấy giờ Dương Đức-Nhàn mới sai mở cổng. Cổng mở, Phi với công chúa, Phương-Quỳnh, Thần-vũ thập anh vừa vào thành, thì lập tức cổng đóng lại. Một đoàn thị-vệ hơn năm mươi người dàn ra hai bên.

Biết rằng đây là bọn thị-vệ tuân chỉ Thượng-Dương thái hậu, giả đón mình, nhưng thực ra để bao vây uy hiếp. Nhưng phi coi như không có. Phi hỏi:

– Hoàng thượng đâu?

Đức-Nhàn tâu:

– Hoàng-thượng đang thiết triều ở điện Càn-nguyên.

– Đại-hành hoàng đế hiện quàn tại cung Long-an phải không? Ta đến đó.

Nói rồi phi cùng Thiên-Ninh hướng về cung Long-an. Bên ngoài cung giáp sĩ canh phòng đến ba vòng. Ỷ-Lan bước vào trong: Khói hương nghi ngút. Các quan, cung nga thái giám cùng rập đầu hành đại lễ.

Phi đưa mắt nhìn: Ngay phiá ngoài là một cái bàn rộng lớn, chính giữa bàn đặt chiếc ngai vàng. Trong ngai vàng để bài vị vua Thánh-tông. Trên bàn bầy la liệt lễ vật. Hai bên bàn là hai giá dựng mười tám thứ vũ khí, cùng nghi trượng như bảng « hồi tỵ », bảng « tĩnh túc » v.v. Cách xa bàn hơn trượng, một bên là đội nhã-nhạc trên hai trăm người; một bên là các cung nữ trong tang phục chầu hầu.

Phía sau bàn là một cái bục đá đen. Trên bục là chiếc quan tài lớn, sơn son, thiếp vàng để chính giữa cung. Hai bên, hai án thư nhỏ hơn, bầy lễ vật. Phi mở to mắt nhìn:

– Trong quan tài này, giờ đây người tình Dương Tông của mình đang yên nghỉ. Như vậy là xong!

Phi phủ phục xuống bật lên tiếng khóc, rồi hành lễ. Ba Thái-phi Trần, Lý, Mai đỡ phi dậy. Trần thái phi nắm lấy tay Ỷ-Lan nói nhỏ:

– Họ Dương ra dạ bất trung phản nghịch rồi. Họ sai sứ sang Tống cầu phong cho Dương thái sư lên ngôi vua. Dương hậu giam lỏng chúng ta ở đây để làm con tin, khống chế Thiên-Thành, Động-Thiên. Bây giờ Ỷ-Lan tính sao thì tính. Ta biết, ngày một, ngày hai khi có sắc phong của Tống rồi, họ Dương cũng tìm cách giết hết chị em chúng mình.

Đội trưởng cung nữ đeo kiếm đứng gần đó quát lớn:

– Thái-hậu ban chỉ rằng các phi chỉ lo việc thờ phụng tiên đế, mà không được bàn đến chính sự. Thái-phi đã biết chỉ đó, nay sao lại nói lời phản nghịch?

Ỷ-Lan đưa mắt nhìn ả cung nữ đó, bà nhận ra thị là con Hồng ở trấn Kinh-Bắc hồi trước, sau cải là Dương Hồng; cạnh Dương Hồng là ả Dương Thanh. Một lễ quan lên tiếng:

– Hồng phu nhân, dù Trần thái phi có bàn luận gì chăng nữa, phu nhân cũng không được nói lời vô lễ.

Thấp thoáng bóng hồng, Dương Thanh xẹt tới tát viên lễ quan hai cái « bốp, bốp » rồi túm cổ y ném ra sân:

– Mi cút khỏi đây ngay.

Các lễ quan khác đồng la ó phản đối. Lập tức đội cung nữ cùng rút kiếm ra dí vào cổ bắt ngậm miệng. Thiên-Ninh, Thần-vũ thập anh muốn can thiệp, nhưng chưa được lệnh của Ỷ-Lan, họ chỉ đứng nhìn.

Dương Hồng nói lớn:

– Đứa nào muốn phản đối thì cứ phản đối đi. Bản phu nhân tuân chỉ Thái-hậu đưa các người theo tiên đế ngay.

Ỷ-Lan đứng quay lưng vào đám cung nữ, nháy mắt ra hiệu cho các lễ quan:

– Ta biết các vị không bằng lòng. Nhưng trước anh-linh đại-hành hoàng đế, các vị hãy nghe ta, tuân chỉ của Thái-hậu.

Dương Hồng nói với Ỷ-Lan:

– Tuân chỉ Thái hậu, mời Hoàng-thái phi về cung Ỷ-Lan an dưỡng. Mỗi ngày Thái-phi chỉ có thể tới đây hai lần dâng cơm cúng tiên đế mà thôi.

Ỷ-Lan đưa mắt cho Thiên-Ninh, Thần-vũ thập-anh, rồi lạnh lùng hướng về điện Càn-Nguyên. Dương Đức-Nhàn chỉ huy đội thị vệ, cung nữ, theo sát phía sau. Y hỏi:

– Xin Hoàng-thái phi hồi cung Ỷ-lan cho. Thái-phi đi đâu đây?

– Ta đến điện Càn-nguyên gặp Hoàng-thượng.

Đức-Nhàn vẫy tay cho thị-vệ dàn ra ngăn phía trước Ỷ-Lan, rồi nói:

– Thái phi không thể tới điện Càn-nguyên được. Hoàng-thượng đang thiết triều.

Y chỉ Thần-vũ thập anh:

– Chỉ dụ của Thái hậu: Kể từ nay, chỉ có thị-vệ chung của Hoàng-thành, chế độ mỗi thị vệ có thị-vệ riêng chấm dứt. Xin Hoàng thái-phi cho các vị này rời khỏi đây ngay.

Thiên-Ninh quát lên:

– Luật về thị-vệ, cung-nga có từ đời đức Thái-tổ, Thái-tông bất di bất dịch, nay không thể một chốc, một lát mà thay đổi như vậy. Ta không tin Thái-hậu lại ban chỉ vô lý, chắc là mi bịa ra. Nếu Thái hậu ban chỉ, thì chỉ đâu? Ta muốn xem qua.

Đức-Nhàn vẫn cương quyết:

– Khải công-chúa chính tiểu nhân nhận chỉ dụ trực tiếp từ Thái-hậu. Cho nên...

Đến đó, tiếng trống thúc, tiếng quân reo rung động trời đất, át cả tiếng Đức-Nhàn. Một kị mã phi ngựa đến gọi Đức-Nhàn:

– Thái sư có lệnh: Quân phiến loạn từ Bắc-biên kéo về hợp với mười hai hiệu Thiên-tử binh định đánh thành, các người mau ra trấn cửa Đại-hưng. Đội cung nữ thì vẫn ở lại.

Dương Đức-Nhàn dẫn đội thị-vệ đi rồi. Ỷ-Lan dẫn Phương-Quỳnh, Nang-Trúc đi kiểm soát khắp cung một lượt. Mọi vật dụng còn nguyên, duy mấy chậu hoa thì bị khô héo vì không được tưới. Trong cung không còn một người nào nữa. Bà kinh hãi:

– Khi ta ra đi, có để lại năm cung nga cho Thúy-Hoàng để làm cỏ, lau chùi, mà nay sao không thấy họ đâu? Hay họ bị giết hết rồi?

Năm chị em Âu Hoàng khuân đồ dùng của Ỷ-Lan từ xe vào. Hùng-Nhân ra lệnh cho bốn sư đệ:

– Ta kiểm soát nóc cung. Nghĩa kiểm soát ngoài vườn. Lễ kiểm soát chuồng ngựa, rồi đem xe vào. Trí kiểm soát nhà bếp, kho thực phẩm. Tín kiểm soát giếng nước, bể đựng nước mưa.

Ỷ-Lan nghĩ thầm:

– Mười người này kinh lịch giang hồ nhiều, nên họ tinh tế, cẩn thận hơn ta.

Lát sau, năm người trở về. Hùng Nhân giải thích:

– Bởi Dương hậu được các ma đầu Hồng-thiết giáo trợ giúp, nên anh em thần phải kiểm soát xem họ có để lại cạm bẫy gì hại thái-phi không? Thái-phi yên tâm, không có gì nguy hiểm cả. Tuy nhiên trong cung không còn thực phẩm để dâng Thái-phi.

Thiên-Ninh đề nghị với Ỷ-Lan:

– Cô à! Ninh thấy cô mệt mỏi quá rồi. Cô nên đi nghỉ một chút. Ninh cùng Phương-Quỳnh về cung Thúy-hoa truyền cung nữ mang thực phẩm dâng cho cô, với Thần-vũ thập anh.

– Ừ! Ninh trở lại ngay nghe.

Thiên-Ninh, Phương-Quỳnh đi rồi, Ỷ-Lan đưa mắt quan sát Nang-Trúc một lượt rồi tuyên chỉ:

– Đây là cung Ỷ-Lan, không thể cho đàn ông lưu ngụ. Người hãy thay y phục ngay.

Nang-Trúc trở lại với y-phục cô gái quê: Quần lụa đen, áo cánh mầu tím hoa cà, cổ choàng chiếc khăn mầu xanh lá mạ. Phi liếc nhìn Nang-Trúc, nghĩ thầm:

– Con nhỏ người Chàm này sao lại có cái lưng tròn đẹp đến như vậy? Hai bàn tay nó vừa trắng, vừa thon như búp măng. Mái tóc đen, óng mượt xõa xuống ngang vai giống như một suối nước. Tiếc rằng mặt nó bị méo, lại câm nữa.

Chợt nghĩ ra một việc, phi chửi thầm:

– Mình đáng chết thực, thì ra con nhỏ này hóa trang gống như Nguyễn Bông đã làm. Nó dán một miếng da lên mặt, rồi đánh phấn hóa trang, nên nhìn thoáng qua tưởng mặt nó méo. Không biết nó làm gian tế cho ai? Ta phải lột mặt nạ nó mới được!

Nghĩ vậy phi vẫy tay gọi nó lại gần, rồi chỉ ghế cho nó ngồi:

– Người ngồi đó đi, rồi lột miếng da trên má ra, để ta thấy bộ mặt xinh đẹp của người ra sao một chút.

Nang-Trúc kinh hoàng, tung người chạy vào phía cửa hậu. Nhưng Ỷ-Lan còn nhanh hơn, phi vọt theo, điểm vào huyệt Đại-chùy của nó, lập tức nó ngã ngồi xuống đất.

Phi tiến tới lột miếng da trên má Nang-Trúc ra, rồi lấy khăn lau mặt ả, lập tức cái mặt méo, da dăn, hiện ra một khuôn mặt sắc nước hương trời. Phi kêu lên:

– Nang Chang-Lan. Thế này là thế nào?

Phi giải huyệt cho Chang-Lan, rồi hỏi:

– Tại sao em lại phải giả trang?

Chang-Lan quỳ mọp xuống ôm lấy chân Phi mà khóc nức nở, nói không lên lời.

Vừa lúc đó cung nga, thái giám của công chúa Thiên-Ninh mang đến ba mâm cỗ. Một mâm dâng cho Hoàng-thái-phi, hai mâm cho Thần-vũ thập anh.

Phi chỉ vào tẩm cung của mình:

– Em hãy ẩn thân vào trong, đừng cho ai thấy mặt.

Ỷ-Lan bảo Phương-Quỳnh:

– Em là vợ của Nghi đệ, thì là em dâu chị. Em ăn chung với chị.

Mười hai người trải gần một ngày mệt nhọc chưa ăn uống. Nay gặp cỗ ngon là ăn ngay. Ỷ-Lan ăn xong, thấy thân thể mệt mỏi, phi nói với Âu Hoàng:

– Sư huynh sư tỷ cứ ứng trực tại đây. Nội trong cung này, không ai có quyền gì đối với các vị, ngoài muội. Muội muốn nghỉ một chút.

Phương-Quỳnh ôm kiếm ngồi gác ở cửa phòng Ỷ-Lan.

Ỷ-Lan vào tẩm cung, thì không thấy Chang-Lan đâu nữa. Phi lên giường nằm. Một cảm giác cay đắng xâm nhập người phi, vì cũng giường này, chăn này, đệm này, phi đã cùng người tình Nhật-Tông trải qua biết bao kỷ niệm đẹp, biết bao hạnh phúc. Cũng trên giường này, hai người nằm bên nhau, bàn biết bao nhiêu điều phải làm để cho dân giầu nước mạnh. Bây giờ thì âm dương cách trở! Phi nằm đây, mà trong lòng ngổn ngang trăm mối: Sao giữ được đất nước khỏi bị Tống chiếm, sao cho dân giầu nước mạnh, sao cho sự nghiệp họ Lý được bền vững, sao cho khỏi nội chiến, sao bảo vệ được tính mệnh mình với các công-chúa phò mã.

Tự nhiên phi cảm thấy chân tay vô lực, mắt buồn ngủ dí lại, chỉ muốn nằm xuống ngủ một giấc. Chợt phi tỉnh ngộ: Cái mệt giống hệt hồi vinh quy cố lý bị mẹ với Minh-Can đánh thuốc mê. Phi vội vận Vô-ngã tướng thiền công giải độc. Không khó khăn, sau khi chân khí đi hết một vòng Tiểu-chu-thiên thì cái cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ biến mất. Phi tự hỏi: Không lẽ Thiên-Ninh đánh thuốc độc mình? Đã vậy mình phải giả mê man để xem sự thực ra sao? Phi giả nhắm mắt ngủ, lắng tai nghe.

Bỗng Hùng Tín kêu lên:

– Dường như chúng ta bị trúng độc thì phải. Sao chân tay đệ như mất hết lực thế này?

Vừa nói dứt, y ngã lăn xuống đất. Tiếp theo cả Thần-vũ thập anh đều ngã lộp bộp, kẻ nằm ngửa, người nằm nghiêng. Ả Dương Hồng từ vườn hoa xuất hiện. Ả reo lên:

– Thành công rồi!

Thị nói với Ỷ-Lan, Thần-vũ thập anh:

– Chắc Thái-phi với các vị ấm ức rằng tại sao thái-phi mưu trí tuyệt vời, Thập-anh giỏi về độc chất mà bị đánh thuốc độc phải không? Thưa đó là kế của Dương thái sư. Công chúa Thiên-Ninh làm cỗ dâng cho Thái-phi xong thì bị bắt trói. Giáo-chủ Lê Phúc-Huynh chỉ việc bỏ thuốc độc vào cỗ, các vị không nghi ngờ công chúa, thì tất cả các vị đều yên tâm ăn ngay... nay lăn đùng ra.

Trong Thần-vũ thập anh thì Hùng Nhân là người có công lực cao nhất. Tuy bị trúng độc ngã xuống, nhưng y còn cố vùng dậy phát một chưởng hướng vào Dương Hồng. Ả kinh hãi vung cả hai chưởng lên đỡ. Nhưng công lực của ả sao chống lại được với đệ nhất kỳ-chủ của Hồng-thiết giáo Chiêm? Bình một tiếng, người ả bay tung lại phía sau, tiếp theo mấy tiếng lắc cắc. Ả nằm bất động.

Sau khi phát chưởng, thuốc ngấm, Hùng Nhân cũng ngã lăn xuống đất. Âu Huyền hô hoán lên:

– Thái-phi cẩn thận! Anh em thần bị trúng độc vô dụng mất rồi.

Ỷ-Lan nhìn lại thì Phương-Quỳnh cũng bị tê liệt ngồi bất động ở trong căn phòng thay áo của phi. Phi vờ lên tiếng:

– Muội cũng bị trúng độc như các vị vậy.

Đám cung nga chạy lại đỡ Dương Hồng dậy, nhưng y thị đã hôn mê.

Ả Dương Thanh phất tay ra lệnh, đám cung nga thử lay động Thập-anh, khi thấy mười người bất động, chúng khiêng mười người bỏ lên cỗ xe song mã. Chúng lại khiêng Ỷ-Lan bỏ lên chiếc võng, rồi cáng đi. Trong lúc vội vàng, chúng quên mất Phương-Quỳnh, Nang-Trúc.

Ỷ-Lan giả giận quát lớn:

– Các người định làm gì đây?

Dương Thanh lễ phép:

– Xin Hoàng-thái-phi tha tội. Bọn thần tuân chỉ Thái-hậu mời Hoàng-thái-phi đến gặp người.

Ỷ-Lan nghĩ thầm:

– Ta cứ giả tê-liệt xem chúng làm gì ta.

Nằm trong võng, nhìn ra, Ỷ-Lan biết chúng khiêng nàng đến cung Thượng-Dương. Vừa tới nơi, thì Thượng-Dương thái hậu, thái-sư Dương Đao-Gia, Lê Phúc-Huynh cùng một số người xuất hiện. Đạo-Gia chỉ Thần-vũ thập anh:

– Trói tất cả bọn này lại.

Phúc-Huynh xua tay:

– Không cần. Thái-sư yên tâm, thuốc của tôi cực mạnh. Dù chúng có phép thánh cũng thì chân tay cũng bị tê liệt ít nhất hàng mấy ngày mới cử động được.

Đám thị-vệ khuân Thập-anh để ngồi dựa vào tường, rồi hai cung nữ bồng Ỷ-Lan để ngồi vào một chiếc ghế lớn.

Dương Đạo-Gia nói vọng ra ngoài:

– Đem tất cả vào đây.

Thị vệ giải vào một số người bị trói gồm Hoàng-thái phi họ Mai, công chúa Thiên-Ninh, Thái-phó Lý Thường-Kiệt, bà Thúy-Hoàng.

Thượng-Dương thái-hậu thấy Thường-Kiệt bị trói thì cau mày lại:

– Tại sao các người lại trói quan Đại-tư-mã thế kia?

Nói rồi bà rút kiếm đưa một chiêu định cắt dây trói cho Thường-Kiệt. Thâm Phúc-Dũng chĩa tay ra kẹp lấy sống kiếm của bà:

– Người này võ công cao thâm khôn lường, Thái-hậu không nên cởi trói cho y. Bọn anh em chúng tôi phải khó khăn lắm mới bắt được y. Bằng nay thả y ra thì khó mà kiềm chế nổi.

Dương Đạo-Gia cũng nói:

– Cục diện nguy lắm rồi. Thái-hậu phải gạt tình riêng sang một bên, bằng không chúng ta không có đất mà chôn xác đâu.

Thượng-Dương thái hậu nói với Thường-Kiệt bằng giọng nửa ai oán, nửa nỉ non:

– Thường-Kiệt đại ca! Đại ca có nhớ hồi chúng ta du ngoạn rừng núi Bắc-cương không? Đại ca có hứa rằng sau này dù muội muốn mặt trời mọc đằng Tây, đại ca cũng chiều theo muội phải không? Lời đại ca lúc nào cũng văng vẳng bên tai muội.

Thường-Kiệt vẫn lễ độ:

– Lời xưa thần hứa thế nào, thì cũng không thể so sánh bằng uy quyền của Thái-hậu hiện nay. Không biết Thái-hậu có chỉ dụ gì cho thần?

– Như đại ca biết, tiên-đế băng hà, chỉ dụ cho muội buông rèm thính chính, người lại tuyên chỉ ân-xá cho Dương gia cùng phục hồi chức tước để cùng với thái-sư Lý Đạo-Thành phò tá ấu quân. Thế sao đại ca lại chống lại di chiếu, định đem quân về triều làm loạn?

– Khi tiên-đế băng hà, không để di chiếu lại, chỉ dụ là kim khẩu, kim ngôn. Xưa nay khẩu thiệt vốn vô bằng. Đó là một điều đáng nghi ngờ. Ỷ-Lan thần phi là sinh mẫu của Hoàng-thượng, mà Thái hậu cũng không cho người báo tang ngay, lại còn sai cung nga, thái giám kiềm chế phi. Đó là hai điều nghi ngờ. Công chúa Thiên-Thành, Động-Thiên cùng nhị vị phò mã về chịu tang, thái-hậu truyền chỉ giam lại. Đó là ba điều nghi ngờ. Ngũ-long công chúa Kim-Thành, Trường-Ninh, Côi-Sơn, Ôn-Thuận, Vạn-Hoa, cùng ngũ vị phò mã không được báo tang. Đó là bốn điều nghi ngờ. Vì bốn điều nghi ngờ đó, cho nên khi được giải cứu; các công chúa, phò mã mới kéo quân về.

Thượng-Dương thái hậu tỏ ra ôn nhu với Thường-Kiệt:

– Đó là lỗi ở Tể-tướng Lý Đạo-Thành. Tiên đế băng hà, lòng ta đau như dao cắt, nên không chủ trương được. Đạo-Thành đã làm tất cả. Bởi vậy khi đại ca với Thiên-Ninh về, ta vội ban chỉ phong cho Ỷ-Lan làm Hoàng-thái phi, lại sai Thiên-Ninh đi đón về. Không ngờ... không ngờ Ỷ-Lan với Thiên-Ninh lại gọi chư quân về. Đại-ca là Đại-tư-mã, đại ca không cản trở thì chớ, đại ca còn hùa theo chúng. Cho nên Thái-sư phải cho đánh thuốc độc, rồi bắt giam đại ca, Ỷ-Lan, Thiên-Ninh lại.

– Vậy bây giờ Thái-hậu có chỉ dụ gì?

– Ỷ-Lan phạm tội khi quân. Y thị sai em là Lê Huy-Lực giám giả thư mẹ nói rằng cha đâu ốm, để tiên đế mềm lòng ban thưởng vàng bạc rồi cho về thăm nhà. Tội đó phải giáng làm cung nữ, đầy vào lãnh cung. Ở đây có mẹ của thị làm chứng.

Bà Thiết từ sau bước ra, chỉ tay vào mặt Ỷ-Lan:

– Con diều tha qụa mổ kia. Suốt bao nhiêu năm nay, mày làm khổ bố mẹ trăm triều, rồi bây giờ mày còn rủa bố mày đau yếu nữa để đến nỗi phạm tội với triều đình! Hử? Hử? Hử?

Bà qùy tâu với Thượng-Dương thái hậu:

– Nó đã như vậy, con xin Thái-hậu băm vằm nó ra từng mảnh, quẳng cho diều tha, cho chuột gặm, thì toàn tổng của con muôn vàn cảm tạ Thái-hậu.

Dương thái hậu vẫy tay cho bà Thiết im lặng, rồi nói với Ỷ-Lan:

– Bây giờ ta cũng vì hoàng nhi mà ân xá cho Thái-phi tội khi quân. Nhưng ta yêu cầu Thái-phi làm ba việc.

Ỷ-Lan nghe mẹ chửi bới mình, mà lòng ngao ngán, vì Phi biết rõ ràng rằng mưu này do Dương gia bầy ra, rồi xui bà viết thư, lừa cho phi xa Thăng-long. Thế mà bây giờ bà lại nói ngược. Phi hỏi lại Thượng-Dương thái hậu:

– Thái-hậu muốn ba điều gì?

– Một là Thái-phi với Thường-Kiệt phải ra lệnh cho quân các nơi đâu về đó. Hai là Thái-phi phải yên phận nghỉ ngơi trong cung, không được tham dự vào việc triều chính. Ba là không được dùng thị-vệ, cung nữ riêng nữa. Bằng không thì...

– Thì sao?

Ỷ-Lan hỏi rồi giảng giải: Việc đem quân về triều là do công chúa Kim-Thành chủ trương. Hồi tiên-đế còn tại thế, mà công chúa muốn làm gì thì làm. Huống hồ nay cục diện thế này, thần sao có thể cản được công chúa?

Dương Đạo-Gia chỉ tay vào Thường-Kiệt rồi nói với Ỷ-Lan:

– Các người tưởng đem quân các nơi về làm loạn dễ lắm sao ? Khi các người khởi sự, thì ta đã mật sai sứ sang Thiên-triều tâu với Hy-Ninh thiên-tử và tể-tướng Vương An-Thạch. Thiên-triều truyền xuất quân nghiêng nước theo ba ngả Vân-nam, Quảng-Đông, Quảng-Tây tiến đến Bắc-biên; lại truyền thủy quân Mân-triết đổ vào vùng Thiên-trường, Trường-yên. Các đạo quân phiến loạn tiến lên thì đánh không nổi Thăng-long, lùi lại thì căn bản hậu phương mất, không lương thảo. Trong khi đó cha mẹ, vợ con tướng sĩ bị kiềm chế. Như vậy chỉ một trận là tan.

Y nhìn Thường-Kiệt:

– Người không tin ư? Ta có chứng cớ.

Y hô lớn:

– Mời thiên-sứ xuất hiện.

Lập tức Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Lý Hiến từ trong bước ra. Triệu Tiết nói lớn:

– Thiên-triều thấy Nhật-tông chết, mà con lại còn nhỏ, không đủ trấn Nam phương, đến nỗi quân các nơi làm loạn. Vì vậy người đã ban chỉ phong cho Dương Đạo-Gia làm « Kiểm-hiệu thái phó, Đồng-bình chương sự, Nam-phương tiết độ-sứ, Giao-chỉ quận vương », truất Lý Càn-Đức xuống còn An-lạc hầu. Vậy, một là các người phải truyền cho quân các nơi đâu về đó, bằng không quân Thiên-triều sẽ tiến sang, thì toàn thể họ Lý sẽ bị tru diệt, đất nước này sẽ thành quận huyện của Trung-quốc.

Ỷ-Lan cười nhạt với Dương hậu:

– Tưởng Thái-hậu dùng phương thức gì lạ uy hiếp người, hóa ra dùng bọn Tống ư? Nếu vậy thì tất cả bọn này sẵn sàng chịu chết để làm sáng cái đạo trong tâm bấy lâu nay.

Thái-hậu nổi cáu:

– Con nhà quê kia, mi nói đạo gì? Đạo của tên thầy chùa ăn thịt chó ư?

Ỷ-Lan càng bướng:

– Thần gọi Thái-hậu bằng thái-hậu, mà Thái-hậu gọi thần là con nhà quê, thì rõ ràng Thái-hậu ngược ngạo trước đấy nhé! Như vậy Thái-hậu tự từ chối ngôi vị Thái-hậu của mình, thì đừng trách con bé nhà quê này. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

Phi cố kiềm chế, không cử động, để tỏ ra mình bị trúng độc. Mắt phượng quắc lên phi nói lớn:

– Ta, Ỷ-Lan mà có sợ con mụ Dương Hồng-Hạc thì không phải là người. Hừ, trước đây trên bến Bắc-ngạn mi đã tự sỉ Đại-Việt là man-di, cúi đầu tôn bọn Tống là Thiên-triều, hóa cho nên gây hấn với tiên-đế và Thường-Kiệt, thiên hạ đều biết. Nay mi định cùng họ Dương muốn dâng giang-sơn của vua Hùng, vua Trưng thì ta đâu có lạ. Mi giết ta đi, ta chờ đấy.

Bị Ỷ-Lan đàn hạch, Dương hậu giận quá, miệng lắp bắp nói không nên lời, chân tay run rẩy. Bà phóng đến tát một cái thực mạnh vào mặt Ỷ-Lan. Chỉ nghe đến vù một tiếng, người bà bị bay bổng lại phía sau, quằn quại một lúc mới ngồi dậy được.

Bà chỉ vào mặt Ỷ-Lan:

– Mi ỷ nội công cao hử?

Rồi nói với Triệu Tiết:

– Xin thiên sứ xử tử y thị ngay đi.

Triệu Tiết cầm kiếm dí vào cổ Ỷ-Lan:

– Mi có câm miệng lại không? Mi có biết giờ này quân Thiên-triều đã vượt biên rồi không?

Có tiếng người dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai Ỷ-Lan với Thường-Kiệt:

– Tên này nói láo đấy. Sứ giả Dương gia lên đường sang Tống cầu phong cho Dương Đạo-Gia làm vua Đại-Việt, vừa tới hồ Động-đình đã bị người của Kinh-Nam vương Trần Tự-Mai bắt. Bốn tên này do Vương An-Thạch phái sang ẩn thân giúp Dương gia. Hãy dùng chính nghĩa mắng cho chúng một trận.

Nhận ra tiếng của Quốc-mẫu Thanh-Mai. Ỷ-Lan mừng vô tả, phi nói với Triệu Tiết:

– Này Triệu tướng quân! Triệu tướng quân nhận lệnh từ Vương An-Thạch mật sang đây giúp Dương gia chiếm ngôi họ Lý, chứ không phải chỉ dụ của Hy-Ninh đế. Cái tội đó đáng tru di tam tộc. Dường như trước đây tướng quân bị U-bon vương bắt ở hồ Động-đình, định đem giết. Tướng quân van xin, thề độc không bao giờ bước cân đến Đại-Việt bằng không sẽ bị thiến, có đúng thế không?

Mặt Triệu Tiết tái như gà cắt tiết, y chưa kịp trả lời, thì Thường-Kiệt tiếp:

– Huống hồ tướng quân xúi bầy tôi cướp ngôi vua, thì tôi e Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa thượng sẽ giết toàn gia tướng quân đến con chó, con gà cũng không tha đâu!

Tể-tướng Lý Đạo-Thành cung tay nói với Ỷ-Lan:

– Thái-phi, bây giờ Dương gia với các tướng Tống, các cao thủ Chiêm đang uy hiếp thiên-tử cùng bách quan. Ném chuột sợ vỡ đồ. Nếu như quân của công chúa Kim-Thành đánh vào, ắt họ phải hại Thiên-tử, Thái-phi với bọn thần. Mong Thái-phi tìm lấy đường lối ôn hòa còn hơn là mất hết.

Ỷ-Lan nghĩ được một kế, bà bảo Dương Đạo-Gia:

– Trước hết người phải cho ta gặp Hoàng-thượng đã, rồi mới có thể nói chuyện ôn hòa được.

Thượng-Dương thái hậu cười nhạt:

– Điều này không khó.

Bà nói vọng ra:

– Đưa Càn-Đức vào đây.

Lát sau, Thái-Ninh đế (Càn-Đức) được một cung nữ dẫn vào với Minh-nhân vương (hoàng-tử Chí-Nhân). Vừa trông thấy Ỷ-Lan, hai anh em cùng chạy lại ôm chầm lấy mẹ. Nhưng Thượng-Dương thái hậu đã phất tay một cái, chưởng lực đẩy hai người lui lại:

– Đứng im. Mẫu thân hai người có tội. Ta chưa có chỉ dụ thì hai người không được lại gần.

Thái-Ninh đế tuy còn nhỏ tuổi, nhưng nhờ thái-phó dạy dỗ, nên đã tỏ ra chững chạc:

– Tâu mẫu-hậu, sinh mẫu thần nhi dù có tội gì chăng nữa, thì thần nhi là chúa tể thiên hạ vẫn có quyền thăm hỏi chứ? Sinh mẫu thần nếu có tội, thì có tội từ thời tiên-đế. Khi thần nhi lên ngôi, đã ban chỉ ân xá cho các tội phạm, thì sinh mẫu thần cũng được ân xá, và trở thành vô tội rồi.

Thượng-Dương thái hậu đưa mắt cho Dương Hoàng, Dương Bạch, Dương Huyền, Dương Thanh. Bốn cung nga này đồng rút kiếm dí vào cổ Ỷ-Lan, Thường-Kiệt, Minh-Nhân vương, công chúa Thiên-Ninh. Còn bà thì dí kiếm vào cổ Thái-Ninh đế:

– Bây giờ ta có chỉ dụ: Hoàng nhi, Thái-phi, Thường-Kiệt, Thiên-Ninh phải lên mặt thành ban chỉ cho quân các nơi đâu về đó. Ta hứa tha tội cho tất cả. Thái-phi vẫn là Hoàng-thái-phi, Thường-Kiệt vẫn là Đại-tư-mã. Còn Ninh nhi thì ta gả cho cháu ta là Dương Đức-Nhàn để kết thân. Bằng không thì ta ra lệnh giết hết, rồi mở cửa biên giới cho quân Thiên-triều sang. Bấy giờ ta e rằng họ Lý không còn sót một mạng, mà lăng tẩm cũng bị tàn phá.

Ỷ-Lan cương quyết nói với hai con:

– Các con sinh ra, làm vua, làm vương, lại được hưởng thụ khí phách anh hùng của anh linh tộc Việt. Hôm nay chính là ngày các con cùng mẹ nhất quyết tuẫn quốc. Sau khi họ Dương hại chúng ta, rước quân Tống vào thì anh hùng các nơi sẽ tru diệt chúng. Bấy giờ dù họ Lý làm vua hay họ nào làm vua cũng được, vì đất nước này vẫn còn là của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng.

Thượng-Dương thái hậu không ngờ khí phách Ỷ-Lan lại hùng tráng như vậy. Bà đưa mắt cho Dương Đạo-Gia.

Dương Đạo-Gia hỏi công chúa Thiên-Ninh:

– Công chúa nghĩ sao?

Công chúa Thiên-Ninh cười nhạt:

– Dương Đạo-Gia, họ Dương nhà ngươi hưởng hồng ân đã ba đời. Hai đời làm tể tướng, hai đời làm Thái-hậu. Thế mà nay tiên đế vừa nằm xuống, người đã phản ư? Người phản họ Lý nhà ta cũng được đi, sao người nhẫn tâm phản cả tổ-tiên, phản cả tộc Việt. Người cứ giết em ta đi, giết ta đi. Ta không sợ chết đâu.

Lê Phúc-Huynh cười nhạt:

– Được! Ta giết mẹ mi trước.

Y tiến lên vỗ vào vai Thái-Ninh đế, Minh-Nhân vương với Mai thái phi mỗi người một chưởng nhẹ nhàng. Lập tức ba người đau đớn hét lên, rồi ôm ngực nằm xuống đất đau đớn quằn quại. Trước hoàn cảnh đó Ỷ-Lan đau đớn như đứt ruột lại. Bà định xông ra cứu hai con, thì bỗng có tiếng lăng không truyền ngữ của sư Viên-Chiếu rót vào tai Ỷ-Lan, Thiên-Ninh, Thường-Kiệt:

– Chuẩn bị phản công!

Thình lình một vật gì to lớn từ ngoài bay vào rơi giữa cái án thư trước mặt Thượng-Dương thái hậu, êm nhẹ như đặt lên vậy. Khi bà nhìn lại, thì là cái đầu chó thui. Bất giác mọi người cùng bật lên tiếng kêu:

– Mộc-tồn hòa thượng.

Triệu Tiết quát lớn:

– Tên thày chùa ăn thịt chó! Triệu mỗ không sợ người đâu. Người có gan hãy xuất hiện cùng mỗ chiết vài ngàn chiêu.

Không có tiếng đáp lại. Trong khi đó có tiếng Quốc-mẫu Thanh-Mai dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai Ỷ-Lan, Thường-Kiệt, Thiên-Ninh:

– Ỷ-Lan ôm Càn-Đức, Thường-Kiệt ôm Chí-Nhân, Thiên-Ninh ôm Mai thái-phi vọt ra cửa.

Tiếng nói vừa dứt thì véo, véo hai tiếng. Hai viên sỏi trúng vào dây trói Thường-Kiệt, Thiên-Ninh. Ba người tung mình dậy. Ỷ-Lan phóng chưởng tấn công Thượng-Dương thái hậu, rồi ôm lấy Thái-Ninh đế. Thường-Kiệt phóng chưởng tấn công Lê Phúc-Huynh rồi ôm lấy Nhân-minh vương. Thiên-Ninh phóng chưởng tấn công Thâm Phúc-Dũng, rồi ôm lấy Mai thái phi. Cả ba đồng phóng ra khỏi điện. Bọn Vũ Phương-Hào, Phan Vũ-Tỉnh, Nguyễn Nhược-Điểu, Nguyễn-thị Bằng... kẻ thì phát chưởng, người thì dùng cầm long trảo, hổ trảo, ưng trảo chụp lại. Nhưng ba người đã ra tới sân. Cả bọn đuổi theo.

Vừa lúc đó, từ trên nóc nhà, năm người đáp xuống như năm con đại bàng, ngăn giữa đám Ỷ-Lan với bọn đuổi theo. Năm người cùng phát chưởng, hóa giải những chiêu số của bọn Lê Phúc-Huynh, rồi đứng im như pho tượng. Có người nhận diện được hai trong năm người ấy là hai nhà sư, bật kêu lên:

– Đại-từ liên hoa bồ tát, Mộc-tồn vọng thê bồ-tát.

Bọn Triệu Tiết nhận ra Côi-sơn tam anh:

– Bọn phản phúc Phụ-Quốc, Bảo-Dân, Trung-Đạo, các người vẫn chưa chết ư?

Thấy chỉ có năm người, trong khi bên mình tới mười người. Lê Phúc-Huynh cười nhạt:

– Người ta đồn Viên-Chiếu với Mộc-tồn là hai ác nhân võ công vô địch, ta tưởng tướng mạo phải kinh thế hãi tục, không ngờ cũng tầm thường thôi.

Mộc-tồn hòa thượng cười nhạt:

– Không những tướng mạo bần tăng bình-thường, mà còn xấu xí nữa. Hôm nay bần tăng xuất hiện ở đây, để tặng các vị một ít lễ vật.

Ông quát lớn:

– Xuất hiện đi thôi.

Mười người, năm nam, năm nữ cùng bốn nhà sư nữa từ phía trong điện xẹt mình vượt qua bọn Lê Phúc-Huynh, tung mình ra vườn. Đó là Thần-vũ thập anh với sư Viên-Căn, Viên-Mộc, Viên-Chi, Viên-Diệp. Dương thái hậu kinh hoàng, vì rõ ràng mười người bị trói, mà sao nay lại được tự do? Chợt bà hiểu: Trong khi Mộc-tồn, Viên-Chiếu phóng sỏi cứu bọn Ỷ-Lan, tất cả cao thủ của bà mải mê đuổi theo, thì bốn nhà sư kia đột nhập vào sau điện cắt dây trói cứu Thập-anh.

Thập anh chạy đến sau hòn giả sơn, mỗi người vác một cái túi lớn đến đặt trước mặt đám cao thủ của Dương thái hậu. Mộc-tồn hòa thượng bảo Hùng Tín:

– Đem quà ra tặng Dương thái-sư.

Hùng Tín mở túi vải đem ra một cái đầu lâu. Dương Đạo-Gia hét lên kinh hoàng, vì chính là đầu của mẹ mình. Hùng-Tín lại lấy ra cái bẩy cái đầu nữa, Đạo gia nhận ra đó là bẩy cái đầu của bẩy bà vợ. Tiếp theo Hùng Trí mở túi đem ra một số đầu lâu, đó là đầu của các con, con dâu, các cháu của Dương Đạo-Gia. Dương Đạo-Gia đưa mắt nhìn Dương thái-hậu. Cả hai người đều rét run.

Triệu Tiết cười nhạt:

– Tưởng Mộc-tồn anh hùng thế nào, hóa ra chỉ giỏi giết người không biết võ.

Trung-Đạo cười nhạt:

– Triệu tướng quân đừng vội. Người cũng có quà đấy.

Ông vẫy tay, Hùng Lễ lại đem ra cái túi với mười lăm cái đầu toàn là vợ con của Lê Phúc-Huynh. Hùng Nhân, Hùng Nghĩa đem mấy cái túi ra với mấy chục cái đầu của gia thuộc Thâm Phúc-Dũng, Nguyễn Nhược-Điểu, Nguyễn-thị Bằng, Vũ Chương-Hào, Phan Vũ-Tỉnh.

Bọn ma đầu Hồng-thiết-giáo hét lên kinh khủng định nhảy vào ăn tươi nuốt sống năm người. Phụ-Quốc vẫn bình tĩnh:

– Khoan! Khoan!

Ông vẫy tay, năm chị em họ Âu mang mười cái túi, mở nút đổ ra. Bọn Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Lý Hiến kinh hoàng, vì toàn là đầu của bố, mẹ, vợ, con cùng thân thuộc nhà mình. Bốn người kinh hoảng vô cùng, vì họ chỉ mới xuất hiện đây thôi, mà sao bọn Mộc-tồn hoà thượng đã biết, mà cho người vượt biên sang Quảng-Đông giết thân thuộc họ? Thoáng một cái họ hiểu ngay: Vụ này hẳn do Côi-sơn tam-anh.

Lê Phúc-Huynh hét lên:

– Chúng ta hãy xông vào giết hai tên hòa thượng thối tha kia với ba tên phản phúc trả thù cho người thân.

Nhưng đến đó, trống thúc vang trời, quân reo dậy đất lẫn với tiếng voi kêu, hổ gầm, báo rống. Đám thị-vệ, cung nữ của Thượng-Dương thái hậu đang rút chạy tán loạn.

Dương thái hậu hỏi:

– Cái gì vậy?

Chúng báo:

– Không biết bằng cách nào, đám đệ tử của trường Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản ẩn trong lớp áo thị-vệ làm phản, mở cổng thành cho quân Phong-châu, Thượng-oai, Lạng-châu tràn vào. Xin Thái-hậu định liệu.

Không hổ là đại ma đầu, Lê Phúc-Huynh dàn thị vệ, cung nữ ra phòng thủ quanh cung Thượng-Dương, rồi y vẫy tay cho các tướng Tống và bọn ma đầu lui vào trong. Y nói với thái-hậu:

– Dù gì bọn phản loạn cũng được cầm đầu bởi các công chúa, phò-mã. Xin đại giá thái hậu cứ đứng trấn ngay cửa cung, bọn chúng gan bằng trời cũng không dám tràn vào.

Lý Thường-Kiệt, cùng phò mã Hoàng Kiện, phò-mã Thân Thiệu-Cực, công chúa Kim-Thành... chỉ huy quân các trấn, các động, Thiên-tử binh nhanh chóng kiểm soát hết các cung điện trong thành. Chỉ trong hơn giờ bao nhiêu quan lại, phe đảng của Dương gia bị bắt sạch.

Quả như lời Lê Phúc-Huynh, đám binh sĩ tiến đến cung Thượng-Dương, thấy Thái-hậu đeo kiếm trấn ngay cửa cùng với thị-vệ, cung-nga; chúng ngừng lại bao vây xa xa, chờ lệnh.

Thường-Kiệt ra lệnh:

– Việc dẹp giặc đã xong. Xin các vị cho quân rút ra đóng ngoài thành. Hai đô-thống Phạm Dật, Đinh Hoàng-Nghi duy trì hai hiệu Ngự-long, Quảng-vũ bao vây cung Thượng-Dương, tuyệt đối không được tấn công vào trong cung. Còn lại chư tướng xin đến điện Càn-nguyên chầu Hoàng-thượng.

Thành Thăng-long đang ồn ào, phút chốc lại yên tĩnh. Các quan tề tựu tại điện Càn-nguyên. Ban nhạc tấu bản Nguyên-thọ, rồi Thái-Ninh hoàng đế ngự ra ngồi trên ngai vàng. Bên phải là Quốc-mẫu Thanh-Mai, Hoàng-thái-phi Ỷ-Lan; các công chúa Kim-Thành, Trường-Ninh, Ôn-thuận, Côi-sơn, Vạn-hoa, Thiên-Thành, Động-Thiên, Thiên-Ninh. Bên trái là Long-thành ẩn-sĩ, các phò mã Thân Thiệu-Cực, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm, Tôn Mạnh, Tôn Trọng, Thân Cảnh-Long, Hoàng Kiện. Các quan văn võ đứng làm hai hàng.

Thường-Kiệt là đại-tư-mã, nên ông đứng ra tâu:

– Tâu Quốc-mẫu, cuộc phản loạn của Dương gia, được Tống, Hồng-thiết giáo hỗ trợ... đã dẹp xong. Đúng theo chỉ dụ của Hoàng-thái phi, thì ngày mai các đạo quân mới khai chiến. Nhưng trong khi đám cung nga bắt Hoàng-thái-phi, Thần-vũ thập anh đi, chúng quên không bắt Phương-Quỳnh, với con tỳ nữ Nang-Trúc. Không biết bằng cách nào đó, Nang-Trúc không bị trúng độc, nó cứu tỉnh Phương-Quỳnh rồi cả hai trốn ra ngoài thành, yết kiến chư vị phò mã, công chúa; tấu trình tình hình phiến loạn cho các vị nghe. Vì vậy công chúa Kim-Thành quyết định cho đánh thành thực nhanh. Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản hợp với phò-mã Thân Thiệu-Cực, Hoàng Kiện, công chúa Kim-Thành, thiết kế sao cho ít đổ máu. Tôn ẩn sĩ mật ra hiệu cho đệ tử của người trà trộn trong đám thị-vệ bất thần mở cửa thành ra. Cho nên chư quân chia làm năm đạo tràn vào nhanh chóng, cứu giá kịp. Hiện bốn hiệu Ngự-long, Quảng-vũ, cùng đạo cung-thủ Long-biên, Giao-long, Hổ, Báo, Tượng, Sói, Hầu, Ưng đang vây kín bọn phản loạn trong cung Thượng-Dương.

Ông đưa mắt nhìn công-chúa Kim-Thành, rồi tâu tiếp:

– Hai đô-thống Phạm Dật, Đinh Hoàng-Nghi chỉ huy vây phủ cung Thượng-Dương vốn là đệ tử của Quốc-phụ, nhưng lại là em kết nghĩa của hoàng-thái phi. Mà giữa Thái-hậu với Thái-phi có chỗ tỵ hiềm. Thần lo rằng dù Dương thái hậu có làm gì chăng nữa, hai người ấy cũng không dám phản ứng. Ở đây chỉ Quốc-mẫu mới có dủ uy quyền với Thái-hậu, nhưng thân thể Quốc-mẫu không thể hạ cố trong việc giao chiến nhỏ bé này. Công chúa Kim-Thành có Thượng-phương bảo kiếm của đức Thái-tông, hy vọng Thái-hậu nể nang. Xin Quốc-mẫu cho công chúa tổng chỉ huy việc bao vây cung Thượng-Dương, vì thần sợ tướng Tống với ma đầu Hồng-thiết giáo được Thái-hậu che chở sẽ giải thoát cho Dương gia.

– Được!

Công-chúa Kim-Thành dạ một tiếng rồi rời khỏi điện.

Quốc-mẫu vẫy tay gọi Thường-Kiệt:

– Con hiện là Đại-tư-mã, con phải biết người một chút. Ta thấy trong quá khứ, Dương thái hậu có những điều tàn ác với con. Ác đến độ chưa một người đàn bà nào nỡ làm với tình quân, thế mà con không hề biết. Như vậy là bất minh. Còn như biết mà vẫn khư khư nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ, là bất mẫn. Bây giờ một lần nữa con không biết người.

– Xin Quốc-mẫu ban cho huấn dụ.

– Con cho đánh chiếm tất cả các cung, lý ra cung Thượng-Dương là nơi chứa chấp bọn cầm đầu phiến loạn, mà con chỉ cho bao vây là tại sao? Ta biết rồi! Con vì nhớ tình xưa nghĩa cũ hơn là nể cái danh Thái-hậu. Như vậy là để tình riêng lên quốc-sự.

Thường-Kiệt là sư điệt của Quốc-mẫu, lại là nghĩa tử của bà. Vì vậy, nghe Quốc-mẫu ban dụ, ông vội lột mũ ra quỳ gối rập đầu tạ tội.

Quốc-mẫu tiếp:

– Thôi tha cho! Tuy nhiên, nay thấy cái nguy cơ bọn phản loạn có thể thoát thân, con lại tâu xin cho công-chúa Kim-Thành tổng chỉ huy cuộc bao vây cung Thượng-Dương. Một lần nữa, con lại không biết xét người. Con phải nhớ rằng công chúa Kim-Thành, uyên thâm Nho-học, rất ghét kẻ bất trung, bất hiếu. Ngay khi vua Thánh-tông còn tại thế, mà công chúa còn định lấy đầu Dương Đạo-Gia trước sân rồng. Huống hồ nay tội Dương gia quá nặng. Ta sợ công chúa sẽ xua quân tràn ngập cung Thượng-Dương, tàn sát Dương gia mất.

Triều-đình nghe Khu-mật viện, các bộ binh, hình, tâu chi tiết về cuộc nổi loạn, cùng những thiệt hại về nhân mạng, về tài sản.

Cuộc tâu trình vừa dứt thì có tiếng voi rống, tiếng thú gầm, tiếng binh khí chạm nhau. Mọi người đều tỏ vẻ lo lắng. Phò-mã Thân Thiệu-Cực tâu:

– Dường như quân phiến loạn đánh ra, nên có cuộc giao tranh. Xin Quốc-mẫu định liệu.

– Chả phải giặc đánh ra đâu. Công-chúa Kim-Thành đánh vào đấy! Vậy Thường-Kiệt hãy tới cung Thượng-Dương để bảo toàn tính mệnh cho Dương thái hậu.

Thường-Kiệt tuân chỉ rời điện Càn-nguyên. Hơn khắc sau, tiếng trống, tiếng vũ khí chạm nhau dứt. Thường-Kiệt, Kim-Thành trở lại điện Càn-nguyên. Thường-Kiệt tâu:

– Dương gia xua võ sĩ, gia tướng, thị-vệ trong cung đánh ra. Công chúa Kim-Thành cho thú, cung thủ Long-biên, Tây-hồ với Thiên-tử binh đánh tràn vào cung Thượng-Dương. Sau khi chiếm cung, thì chỉ bắt được bẩy mươi sáu cung nữ thôi. Thái-sư Dương Đạo-Gia cùng gia thuộc trên ba trăm người, với hơn trăm thị-vệ chết hết. Còn ma đầu Hồng-thiết giáo với tướng Tống đã trốn mất. Dương thái-hậu thì vẫn được bảo vệ tại cung của người.

Triều đình đều biết rằng Thượng-Dương thái hậu phạm nhiều trọng tội. Trong đó chỉ cần hai tội mãi quốc, uy hiếp thiên-tử... cũng đủ tru di tam tộc. Nhưng Thường-Kiệt còn nhớ tình xưa, nghĩa cũ, nên không nỡ thẳng tay với bà.

Quốc-mẫu vỗ vai công-chúa Kim-Thành:

– Thường-Kiệt muốn tâu gì thì tâu, nhưng già này cũng biết rằng công chúa ra lệnh tấn công cung Thượng-Dương rồi đem toàn thể họ Dương, gia tướng, thị-vệ ra chặt đầu. Còn bọn Tống, Hồng-thiết giáo thì công chúa mở vòng vây cho chúng thoát thân. Có đúng không?

– Quả như Quốc-mẫu minh kiến.

Công chúa Kim-Thành tâu: Thần nghĩ, mình nên tha cho bọn Hồng-thiết, để chúng trở lại tranh dành ngôi vua với bọn Chiêm, hầu Nam phương được yên ổn. Còn bọn Tống, mình có bắt được, cũng chẳng thể giết chúng. Chi bằng tha cho chúng về, rồi Ưng-sơn sẽ treo án tử hình toàn gia chúng. Sau này bất cứ hành động nào, chúng cũng ớn Đại-Việt.

Quốc-mẫu đưa mắt nhìn Ỷ-Lan:

– Trước khi băng hà, Quốc-phụ có để lại một di chiếu trao cho già này, cùng Thái-phi và Đại-tư-mã, và dặn rằng: Sau này sẽ có biến cố lớn. Khi biến cố xẩy ra, thì cả ba cùng mở, để thi hành mật chỉ.

Triều thần cùng nhớ lại.

Quốc-mẫu trao ống bạc cho công chúa Thiên-Ninh:

– Con hãy tiếp hai ống của Hoàng-thái-phi, Đại-tư-mã rồi cùng mở ra xem.

Công chúa Thiên-Ninh tiếp ba ống bạc, rồi mượn thanh Thượng-phương bảo kiếm của công chúa Kim-Thành, vận sức tiện đôi ra. Bên trong có ba mảnh lụa hình dạng lệch lạc, viết đầy chữ. Nhưng đem ráp lại với nhau thì thành một một mảnh lớn. Triều đình cùng reo lên.

Quốc-mẫu ban chỉ:

– Con trao cho quan Văn-minh điện đại học sĩ Quách Sĩ-An đọc lên.

Quách Sĩ-An cầm mảnh lụa đọc:

« Quan thái-sư Dương Bình, Hoàng-Giang cư-sĩ và tiên-nương Thiếu-Mai là ba đại y-sư của Đại-Việt ta, đều mật tấu rằng sau này, khi Hoàng-thượng băng hà, thì sẽ băng hà bất thần. Như vậy e không có di chiếu dặn dò việc sau. Đã không có di chiếu ắt có biến. Đám nho thần nhất định tôn Dương hậu làm thái hậu, trao cho việc phù tá ấu quân. Biết rằng Dương hậu, họ Dương sẽ làm phản. Nên ta để lại mấy lời. Nhất thiết tân quân, Ỷ-Lan, Kiệt nhi, triều đình phải tuân theo.

Hoàng-hậu là mẫu nghi thiên hạ. Dù Thượng-Dương hoàng hậu có phạm tội gì, thì cũng không thể gia hình đích mẫu. Chỉ nên cô lập trong cung, phụng dưỡng đầy đủ lễ nghi, để nêu cao đạo hiếu.

Ỷ-Lan có hùng tài, lại quen việc triều chính, hãy dự mọi việc cạnh tân quân. Hoàng-thượng đã bàn với ta, để ta di chúc rằng khi hoàng-thượng băng hà, mà không có di chiếu nào khác, thì di chiếu này được coi như chính chức. Tân quân, triều-đình hãy tôn Ỷ-Lan làm Linh-Nhân hoàng thái hậu.

Đối với dư đảng họ Dương, thì xử theo tội, tùy nặng nhẹ, không cho hưởng Bát-nghị nữa.

Trước đây, Dương hậu có lỗi, đã đánh thuốc mê rồi tĩnh thân Kiệt nhi. Ta biết hết, nên giữ kín việc này, bắt Dương hậu chịu yên phận không được than thở vụ bị hoàng-thượng bỏ phế. Nhưng Kiệt nhi đã thề khi tìm ra thủ phạm sẽ giết ba họ để trả thù. Này Kiệt nhi, việc cũ đã mấy chục năm qua, nên quên đi là hơn.

Nghe đấy, nhớ đấy, làm theo ta ».

Đúng luật ra, thì Thái-Ninh hoàng đế phải ban chế tôn hoàng-thái-phi Ỷ-Lan làm Linh-Nhân hoàng thái hậu. Nhưng nay di chúc của Quốc-phụ viện ý của vua Thánh-tông, như vậy không cần chế nữa. Thái-Ninh hoàng đế cùng triều thần hướng Ỷ-Lan chúc mừng.

Còn Thường-Kiệt nghe di chiếu mà kinh hoàng. Suốt bao năm qua, ông không bao giờ nghi rằng người tình Dương Hồng-Hạc lại thiến mình, cho nên lúc nào ông cũng nghĩ tình xưa, mà bao che giúp đỡ cho bà với họ Dương. Mấy chục năm qua, hằng ngày, ông cùng thân hữu, đệ tử nghiến răng thề rằng nếu tìm ra hung thủ hại ông, thì phải giết ba họ nó cho hả giận. Bây giờ nảy ra hung thủ chính là người yêu của ông. Ông điếng người, nghiến răng, không nói ra lời.

Linh-Nhân hoàng-thái hậu hướng Quốc-mẫu Thanh-Mai:

– Tâu Quốc-mẫu, xin Quốc-mẫu ban chỉ về việc Dương gia.

Quốc-mẫu xua tay:

– Từ khi Quốc-phụ băng hà, mụ già này buông tay không lý gì đến chính sự, chỉ lo vân du trị bệnh cho dân. Vừa qua, Dương gia làm loạn, nên mụ già này phải can thiệp để cứu công-chúa Thiên-Thành, Động-Thiên với phò-mã Cảnh-Long, Hoàng Kiện. Về việc xử tội Dương gia để cho đình nghị thì hơn.

Linh-Nhân hoàng thái-hậu nói với Thường-Kiệt:

– Sư huynh! Dương gia phạm tội có chính phạm, tòng phạm, chứ không phải ai cũng mang trọng tội cả. Dương Đạo-Gia cùng gia tướng đã bị giết. Còn lại vợ-con, anh-em, gia thuốc có tới hàng vạn, tội trạng họ cho đến nay chưa rõ ngọn ngành, thì chưa thể kết tội. Tốt hơn hết, ta cứ coi như họ là nhân chứng để điều tra. Nghĩa là cho đến giờ phút này họ vẫn vô tội, ta chỉ nên giam lỏng họ trong phủ Dương thái-sư. Vậy sư huynh giao họ cho Hình-bộ xét xử.

Thường-Kiệt cung tay:

– Tuân chỉ thái-hậu.

– Trong cuộc binh biến vừa rồi, tất cả các quan văn võ có công chống giặc, sư huynh xét tâu thăng thưởng, để nêu cao gương trung nghĩa. Những người chẳng may bị giặc hại, phải phủ tuất cho cha mẹ, vợ con thực xứng đáng.

Đưa mắt nhìn Hoàng-Nghi, hậu nghĩ thầm:

– Cái gương Thiên-Cảm hoàng hậu được vua Thái-tông sủng ái, rồi đưa đến Dương gia lộng quyền bấy lâu thực là cái gương lớn cho hậu thế. Nay Nghi đệ là người trí lự vô cùng, nhưng Nghi đệ lại say mê Chang-Lan đến điên đảo thần hồn, ta không thể để Nghi đệ đắm chìm trong bể ái, đưa đến di hại cho Đại-Việt. Ta phải dấu Chang-Lan đi, đợi cho Nghi đệ cưới Phương-Quỳnh rồi mới cho gặp lại Chang-Lan, như vậy dù Chang-Lan cỏ làm gì hại cho đất nước, cũng không qua mắt được Phương-Quỳnh.

Nghĩ vậy, hậu hướng Hoàng-Nghi, tuyên chỉ:

– Này Nghi đệ, ta thấy con tỳ nữ Nang-Trúc của đệ thực là thông minh và trung thành. Vậy Nghi đệ cho thể giao cho ta được không? Có thể nói cuộc binh biến vừa rồi không đổ mấu là nhờ nó. Vậy ta phong nó làm trưởng toán cung cung nga cung Ỷ-Lan. Nghi đệ nghĩ sao?

– Xin tuân chỉ thái hậu.

Hậu nói với nhà vua:

– Đối với Thượng-Dương thái-hậu, hoàng-nhi vẫn phải tôn kính như xưa, hàng ngày phải thần-hôn định tỉnh cho đúng đạo hiếu.

Đô-thống Đinh Hoàng-Nghi quỳ bước ra sân rồng rập đầu tâu:

– Tâu thái-hậu, chữ hiếu là đạo lớn vô cùng. Nhưng khi Hoàng-thượng thần hôn định tỉnh, phải có cao thủ theo hộ giá, vì võ công Thái-hậu không thể coi thường được. Lại nữa trong cung của người lúc nào cũng tiềm ẩn những hành gia thuộc Hồng-thiết giáo.

– Được, Nghi đệ lo xa như vậy là phải. Hiện có Thần-vũ thập-anh là những đệ tử đắc ý của sư bá Mộc-tồn. Mười vị này nam thì khôi ngô, nữ thì sắc nước hương trời, mà đạo hạnh lại cao; vừa rồi mười vị đã lập công lớn trong vụ dẹp phản loạn. Ta tạm cử Hùng Nhân làm Tổng-lĩnh thị-vệ, kiêm Tổng-lĩnh ngự-lâm quân. Hùng Nghĩa làm phó. Hùng Lễ làm Tổng-lĩnh thị-vệ. Hùng Trí làm phó. Hùng-Tín làm Điện-tiền hiệu-úy. Còn Ngũ-Âu đều phong làm Lễ-nghi học-sĩ, đặt dưới quyễn lễ-nghi đại học sĩ Ngô Cẩm-Thi để dạy dỗ cung nga, thái giám. Như vậy, mỗi khi hoàng-nhi thần hôn định tỉnh, sẽ có một vị theo hộ giá.

Đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên tâu:

– Trong cuộc làm loạn vừa qua, đám cung nữ cung Thượng-Dương đã sát hại một số quan chức, thái-giám, cung nữ. Thần xin Thái-hậu trao những cung nữ đó cho Hình-bộ xét xử, để thỏa vong linh người quá cố.

Ỷ-Lan nghĩ thầm:

– Nếu trao cho Hình-bộ xét xử thì mẹ ta, em ta sẽ bị phanh thây. Vậy ta hãy tránh né việc này thì hơn.

Nghĩ vậy hậu tuyên chỉ:

– Đám cung nga, thái giám, thị-vệ, sở dĩ làm phản là do Dương gia chủ xướng. Họ chỉ biết tuân chỉ Dương thái hậu. Nay ta không xét tội Thái hậu, thì cũng không thể kết tội họ.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI HAI

Vãn tuế hồi hương



Niên hiệu Thái-Ninh thứ nhì (1073), mùa Xuân, tháng Giêng, vua bà Bắc-biên Thiên-Thành, phò mã Thân Cảnh-Long từ Lạng-châu về Thăng-long xin thiết Tinh-triều để tường trình về tình hình Tống.

Thái-sư Lý Đạo-Thành cho triệu tập thân-vương, đại-tư-mã, lục bộ thượng thư, quản Khu-mật viện, đô-đốc thủy-quân, tổng-trấn Thăng-long, tổng quản ngự-lâm quân, tổng-quản thị-vệ, các tướng chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh, đạo kị-binh Phù-đổng. Vì cuộc thiết triều có liên hệ tới tình hình an-ninh nên Long-thành ẩn-sĩ cùng phu nhân được mời tham dự.

Linh-Nhân hoàng thái-hậu, Thái-Ninh hoàng đế từ trong điện Càn-nguyên đi ra. Nhạc tấu bản Long-thọ. Nhạc dứt, thái-sư Lý Đạo-Thành cung tay:

– Tâu Thái-hậu, tâu Bệ-hạ. Vì bên Tống thay đổi rất nhiều, nhất là những thay đổi đó có liên quan đến Đại-Việt, nên thần cho thiết Tinh-triều để nghe vua bà Bắc-biên tâu trình tình hình an-ninh biên giới Tống-Việt.

Thái-Ninh đế tuy mới tám tuổi, nhưng đã quen với lễ nghi. Nhà vua tuyên chỉ:

– Xin Thái-sư an tọa.

Nhà vua dùng ngôn ngữ bình dân với vua bà Bắc-biên:

– Chị Thiên-Thành. Hồi Phụ-hoàng tại thế đã trao quyền trấn ngự biên cương cho chị. Bấy lâu nay biên cương vô sự. Nay hẳn có điều gì khẩn cấp lắm, mới khiến đại giá chị hồi triều.

Công-chúa Thiên-Thành tâu:

– Cách đây bốn năm, khi Đại-Việt chuẩn bị bình Chiêm, triều đình có ban chỉ dụ cho Bắc-biên phải làm ba điều. Một là hết sức hòa hoãn, nhường nhịn với Tống, để được yên mặt Bắc. Hai là lực lượng Bắc-biên phải ứng trực, phòng Tống thừa cơ đánh úp. Ba là gửi tế-tác theo dõi mọi hoạt động của Tống. Vì quốc kế bị gian tế báo cho Chiêm, nên mới có vụ quân Chiêm đóng đồn Tà-lầm chặn đường Trung-Thành vương. Cũng gian tế báo cho Tống, nên trong suốt thời gian ấy Tống hết sức lấn át ta ở biên cương.

Công chúa đem ra một cái giá treo tấm bản đồ Hoa-Nam lớn hơn cái chiếu, trên đó ghi chằng chịt những chỗ đóng quân, đường di chuyển quân, kho chứ lương thảo của Tống.

Linh-Nhân hoàng thái hậu ngắt lời công chúa:

– Để triều đình hiểu rõ mọi việc ở Bắc-cương. Xin Công-chúa tường trình tỷ mỉ những gì Tống đã làm ở Nam-thùy trong mấy năm qua.

– Vào thời Thuận-Thiên, giữa Khai-Quốc vương với Yên-vương; rồi Kinh-Nam vương với vua Nhân-tông kết nghĩa huynh đệ. Hai cuộc kết thân này đưa đến Tống rút hết binh sĩ ở Nam-thùy (1027). Ngược lại các nước Nam-thùy cũng rút quân khỏi biên giới Tống. Tống phong cho phò-mã Trần Tự-Mai tước Ngô-quốc quận vương, cùng công chúa Huệ-Nhu tổng trấn Nam thùy. Minh ước trải qua hai mươi sáu năm tốt đẹp. Dân chúng tộc Hoa, tộc Việt sống trong thanh bình, sung sướng chưa từng có. Sau Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu rời Nam-thùy Tống lên trấn phương Bắc, Yên-vương hoăng. Bọn hiếu-chiến trong triều xui vua Tống Nhân-tông chuẩn bị đánh Đại-Việt. Bọn biên thần Nam-thùy Tống nhân đó lấn chiếm mấy trang động của ta. Chúng lại gây ra vụ án giết cha con Nùng Tồn-Phúc, Nùng Trí-Thông để chia rẽ tộc Nùng với Đại-Việt. Trong triều chúng dùng Dương Đức-Thành làm gian tế. Trước tình trạng chẳng đặng thì đừng, Khai-Quốc vương cùng tám vùng tộc Việt giúp Nùng Trí-Cao chiếm Lưỡng-Quảng, lập ra nước Đại-Nam (1053).

Biết rằng ông em mới tám tuổi khó theo kịp những gì mình tâu, công chúa ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Sau khi Nùng Trí-Cao thất bại, Tống ra sức củng cố Nam thùy. Họ đem trọng binh xuống đóng ở biên giới Đại-Việt, Đại-lý, Lão-qua, Xiêm-la, cùng cử những văn thần, võ tướng lỗi lạc trấn nhậm. Trong đó có bọn Lý Sư-Trung, Tiêu Cố, Tiêu Chú. Bọn này nay lấn động này, mai đe dọa chiếm động khác. Đức Thánh-tông nổi giận, truyền quan Thái-bảo Lý Thường-Kiệt đem mười hiệu Thiên-tử binh lên cùng cô mẫu đánh tràn sang chiếm lại hết các động bị lấn vào niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ nhất (1059). Tưởng như vậy bọn quan Nam-thùy Tống ghê sợ, không ngờ chúng lại tiếp tục đánh chiếm ba động nữa. Cô mẫu (vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái) đem đại lực lượng đánh chiếm châu Tây-bình, giết Đô-giám tuần-kiểm Tống Sĩ-Nghiêu và các tướng Lý Đức-Dụng, Tả Minh, Hà Nhuận, Trần Bật, bắt sống Chỉ-huy-sứ Dương Lữ-Tài. Tống xin nghị hòa, cô mẫu đòi ba điều kiện mới chịu rút quân (Xem NQSH hồi 1-2-3).

Công chúa chỉ vào tấm bản đồ Hoa-Nam treo trên cái giá lớn:

– Từ đấy, biên giới Tống, Việt trải qua một thời gian mười năm yên ổn. Cho đến niên hiệu Thiên-huống Báu-tượng nguyên niên (1068), Vương An-Thạch dâng Tân-pháp, được Hy-Ninh đế trọng dụng, mà trở thành Tể-tướng. Dù bị chống đối bởi hậu cung, bởi ngoại-thích, bởi đồng liêu, nhưng sau ba năm, Tân-pháp đem lại cho dân Tống ấm no, quốc-sản, quốc-dụng dồi dào. Đến đây, Thạch muốn tuyệt nguồn chống đối. Mà muốn tuyệt nguồn chống đối, thì chỉ có cách gỡ được cái nhục cho triều Tống.

... Nguyên kể từ khi Tống triều lập lên đến giờ, tuy văn-học, tư-tưởng, nông-nghiệp thịnh; tuy có đôi chút chiến công thắng một số nước xung quanh. Nhưng phía Tây bị Tây-hạ, Thổ-phồn đem quân xâm lấn, làm nghiêng ngửa bao phen. Sau phải nhờ đến tài Phò-mã Trần Tự-Mai mới yên được. Phía Bắc bị Bắc-liêu đem quân chiếm mất một phần ba lãnh thổ; nhục nhã hơn nữa Liêu còn bắt tiến cống hàng năm một số vàng, lụa, lương thực rất lớn. Phía Nam bị vua Lê đánh tan đạo quân xâm lăng ở Chi-lăng, Bạch-đằng. Tiếp đến bị Đại-Việt giúp Nùng Trí-Cao, bị vua bà Bình-Dương vượt biên đánh lên. Vì ba cái nhục đó, mà võ-lâm diễu Tống triều bằng câu tục ngữ :

« Bắc vi tước, Tây vi lộc, Nam vi quy ».

Nghĩa là Bắc thì hèn như chim sẻ gặp đại bàng. Tây thì yếu như nai gặp cọp. Nam thì sợ quá như con rùa rút vào mai. Trong lịch sử, Trung-nguyên chưa bao giờ có một triều đại hèn như vậy.

Đến đây công chúa đưa mắt nhìn các thân-vương, đại-thần một lượt. Hy-Ninh đế vẫy tay ra hiệu cho cung nữ chầu hầu:

– Người mang chén sâm thang này dâng Công-chúa cho trẫm.

Vua bà Thiên-Thành cảm động về thịnh ý của ông em, tuy còn nhỏ tuổi, mà đã tỏ ra biết trọng công lao của biên thần.

– Đa tạ bệ hạ.

Công-chúa bưng bát sâm thang lên uống. Nhà vua nói với quần thần:

– Nếu trẫm là Hy-Ninh đế, khi lên ngôi, bằng mọi giá trẫm quyết gỡ cái nhục cho tổ tiên, cho đất nước. Chắc vì vậy, Hy-Ninh mới trọng dụng Vương An-Thạch, ra lệnh cách chức, đầy hết chư đại thần chống đối Tân-pháp.

Nghe nhà vua nói câu đó, triều-thần cùng giật mình nghĩ như nhau:

– Ông vua con này tiếp thụ cái tự hào về tộc Việt anh-hùng của Linh-Nhân hoàng thái hậu, lại thụ hưởng cái huy-hoàng đời vua Thái-tổ, Thái-tông, Thánh-tông... thì e trong tương lai nhất định người sẽ không lùi trước Tống, trước Chiêm; dù chỉ nửa bước.

Vua bà tiếp:

– Từ khi bản triều lập lên, Đại-Việt chưa từng bị nhục, mà bệ hạ còn nghĩ như vậy; huống hồ Hy-Ninh đã từng thấy ông, cha bị khinh khi, bị quốc dân đàm tiếu!

Nhà vua quay lại nói với công-chúa Thiên-Ninh bằng ngôn từ bình dân:

– Chị Thiên-Ninh ơi! Hôm trước chị có đọc cho em nghe bài thơ của Vương An-Thạch tả cái nhục bị Hạ, Liêu bắt tiến-cống. Em không chú ý nên chẳng thuộc. Vậy chị hãy đọc cho triều đình cùng nghe đi.

Trong ba bà chị Thiên-Thành, Động-Thiên, Thiên-Ninh, nhà vua sủng ái nhất Thiên-Ninh. Vì khi nhà vua sinh ra, thì hai bà chị Thiên-Thành, Động-Thiên đã hạ-giá (ghi chú: khi công-chúa lấy chồng thì gọi là hạ-giá. Hạ là xuống thấp. Giá là lấy chồng. Nghĩa là tự hạ thấp thân thế cao quý để kết hôn). Còn công chúa Thiên-Ninh thì vẫn ở trong cung. Công chúa luôn bế bồng, dạy dỗ nhà vua. Vì vậy thâm tình chị em không bờ bến.

Nghe nhà vua hỏi, công-chúa Thiên-Ninh đứng dậy:

– Tâu bệ hạ, bài thơ đó tên là Hà-Bắc dân , tả nỗi thống khổ của dân phía Bắc sông Hoàng-hà phải nộp thuế cho nhà vua để cống Liêu, Hạ. Nguyên văn bài thơ như sau:

Ghi chú,

Trung-quốc có hai con sông lớn. Một là Trường-giang, hai là Hoàng-hà. Hoàng-hà ở phía Bắc, Trường-giang ở phiá Nam. Trường-giang phân chia lãnh thổ cổ của tộc Hán và tộc Việt. Hán ở phía Bắc, Việt ở phía Nam. Ngày nay con sông này phân chia Trung-quốc làm hai, gọi là Giang-bắc, Giang-nam hay còn gọi là Hoa-bắc, Hoa-nam. Sông Hoàng-hà ở phía Bắc. Các tỉnh ở phía Bắc sông Hoàng-hà gọi là Hà-bắc, Nam thì gọi là Hà-nam. Thời Tống, vùng Hà-bắc bị Liêu chiếm.

Hà-bắc dân

Sinh cận nhị biên trường khổ tân,
Gia gia dưỡng tử học canh chức,
Thâu dữ quan gia sự di địch.
Kim niên đại hạn thiên lý xích,
Châu huyện nhưng thôi cấp hà dịch.
Lão tiểu tương y lai tự Nam,
Nam nhân phong niên tự vô thực.
Bi sầu thiên địa bạch nhật hôn,
Lộ bàng quá giả vô nhan sắc.
Nhữ sinh bất cập Trinh-quán trung,
Đẩu túc sổ tiền vô binh nhung.

Dịch:

Dân Hà-Bắc

Sống gần hai biên luôn đắng cay,
Nhà nhà nuôi con học dệt cày.
Để đóng cho quan thờ Di-địch.
Năm nay hạn đỏ ngàn dặm đồng,
Châu huyện còn dục đi phòng sông.
Già trẻ dìu nhau xuống Nam lánh,
Người Nam được mùa vẫn rỗng lòng.
Ngày tối, trời buồn, đất xót xa,
Bên đường nhợt nhạt mặt người qua.
Người sinh chẳng gặp thời Trinh-quán,
Thóc gạo rẻ mạt, không binh qua.

(Trần Trọng-San dịch, trong Thơ Tống, Bắc-Đẩu Canada xuất bản 1991).

Linh-Nhân hoàng-thái hậu lắc đầu:

– Cứ xét ý bài thơ này, thì đủ biết tại sao Hy-Ninh với Vương An-Thạch, chúa tôi hợp ý nhau.

– Thái-hậu minh kiến.

Công-chúa Thiên-Thành tiếp: Như trên thần đã tâu, chúa tôi Hy-Ninh muốn gỡ cái nhục hèn nhát thì chỉ có hai đường. Một là quay lên Bắc khai chiến với Liêu. Thắng Liêu rồi, thì phương Tây hai nước Hạ, Thổ phải cúi đầu. Phương Nam, tộc Việt cũng không dám chống. Hai là, chịu nhịn phương Bắc, hòa phương Nam, quay về Tây chiếm Hạ, Thổ; hoặc hòa phương Tây, hướng xuống Nam chiếm các nước tộc Việt. Sau khi hoặc thắng phương Tây, hoặc thắng phương Nam thành công; bấy giờ họ mới có tài nguyên, lương thực, quân số quay lên phương Bắc. Cho nên hơn tháng trước đây, Hy-Ninh họp các đại thần ở tòa Thượng-thư lệnh, Trung-thư lệnh, Khu-mật viện, các đại thần trấn Tây, Nam, Bắc để lấy quyết định. Tất cả chư tướng Tây, Nam, Bắc thùy đều muốn hòa phương Nam, phương Tây, quyết chiến ở phương Bắc. Trong khi các quan tại triều thì lại muốn nhịn phương Bắc, đánh Nam hoặc Tây trước. Hy-Ninh phân vân, hẹn bốn tháng nữa sẽ họp lại và ban chỉ dụ nên đánh phương nào trước.

Công-chúa ngừng lại một lát rồi tâu tiếp:

– Chính vì lẽ đó, thần xin thiết Tinh-triều để đưa ra kế sách ứng phó với tình hình.

Cả triều đình cùng bàn tán phân vân: Đại-Việt phải làm gì, để cho Tống quay lên Bắc, hay hướng về Tây, mà không chỉ xuống Nam!

Sau khi luận bàn, hơn nửa buổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu ban chỉ:

– Đại-Việt ta phải làm cho Tống quay lên Bắc là hơn. Khi Tống-Liêu đại chiến nghiêng ngửa, thì Đại-Việt, Tây-hạ đem quân vượt biên đánh sang. Trường hợp đó, Tống sẽ chia quân chống Tây-hạ, Đại-Việt, không thể thắng Liêu. Thế là bao nhiêu tội trạng thất bại của Hy-Ninh, phe thủ cựu trong triều Tống đổ lên đầu Vương An-Thạch. Bấy giờ dù muốn, dù không; Hy-Ninh đế phải cách chức Vương An-Thạch để yên lòng người. Thạch bị mất chức, thì Tân-pháp cũng tan theo. Tân-pháp tan, thì Tống lại trở về với chính sách thủ cựu, ca tụng Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, không gây chiến nữa.

Một đại thần mình hạc, xương mai, tóc bạc như cước, nhưng mặt đẹp vô cùng bước ra tâu:

– Thần Thái-tử thiếu-phó, lĩnh Hình-bộ tham tri, Khu-mật viện phó sứ, La-sơn hầu Trần Thanh-Hợp kính tâu: xét tình thế Tống, Liêu, Hạ hiện nay, ta nên áp dụng theo chuyện « Thầy kiện ăn hai mâm ».

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi sẽ công chúa Thiên-Ninh:

– Ninh ơi! Đại thần này xuất thân từ đâu vậy?

– Tâu, ông ấy nguyên gốc người La-sơn, đất Nghệ-tĩnh. Xuất thân là một văn gia. Khi ra Thăng-long học, kết hôn với người vợ làng Thanh-trì, là làng nổi tiếng về bánh cuốn. Hơn bốn mươi năm trước, ông cùng với Mai Cảo, Nguyễn Sĩ-Tính, Thanh Tâm-Toàn, Trần Lam-Lan, Mai Thượng-Tĩnh v.v. lập thành một văn-đoàn lấy tên là Minh-đạo, rất được dân chúng, nhân-sĩ quý mến. Mới đây, ông lại cùng mười một người nữa lập ra nhóm Thanh-luận.

– Giỏi đấy. Cô nhớ ra rồi. Hồi ở ngoài đời, ông ta làm gì?

– Ba mươi năm trước, ông ấy là một thầy kiện có tiếng nói năng hùng hồn. Năm trước đây, đức Thánh-tông nghe tiếng, mời ông ấy làm Hình-bộ thị lang, sau cuộc nổi loạn của Dương gia, vì có công được tân thăng lên làm Hình-bộ tham-tri.

Linh-Nhân nghe Thiên-Ninh tâu, hậu mừng lắm, hỏi:

– Trần tiên sinh, xin tiên sinh giảng cho triều đình biết chuyện « Thầy kiện ăn hai mâm » ra sao?

– Tâu thái-hậu, chuyện này như sau.

« Quách ông ở đầu sông Mã, đi chơi thuyền, bị trượt chân rơi xuống sông chết đuối. Có dân chài họ Lương ở cuối sông vớt được. Họ Quách xin chuộc xác cha, họ Lương đòi năm lượng vàng. Thấy giá quá đắt, họ Quách tìm thầy kiện thưa lên quan. Thầy kiện cười rằng : « Việc gì mà phải kiện, không lẽ nó đem xác chết về làm mắm à? Vài ngày sau ắt nó sẽ lạy mà xin trả ». Thấy họ Quách không xin chuộc xác cha, họ Lương tìm đến thầy kiện, nhờ thầy điều đình để cho đối phương chuộc xác chết dùm. Thầy kiện cười : « Việc gì mà cuống lên! Cứ đòi thực đắt, xác cha nó, không lẽ nó không chuộc? ». Họ Lương lại im lặng, không chịu trả xác Quách ông. Hai ngày sau họ Quách không thấy họ Lương trả xác cha, lại đến thầy kiện hỏi kế. Thầy kiện lại nói như trước... Và cứ thế, thầy ăn mỗi bên đến bốn lần tiền, rồi bấy giờ mới dàn hòa cho hai bên cùng thỏa thuận.

Triều đình nghe lão Trần kể chuyện, đều bật cười.

Tín-Nghĩa vương rời chỗ ngồi cung tay:

– Tâu thái-hậu, tâu bệ-hạ. Kế của Trần tiên sinh rất hay. Đại-Việt ta đóng vai thầy kiện, còn một bên là Liêu, Hạ, một bên là Tống đóng vai họ Quách, họ Lương.

Thái-sư Lý Đạo-Thành hỏi:

– Khải vương gia, từ xưa đến giờ giữa ta với Liêu, Hạ không có qua lại với nhau, nay thình lình ta gửi sứ tới, e họ nghi ngờ chăng?

– Thưa thái-sư. Chúng ta có Động-đình thất kiệt, vốn đã qua lại, rất thân với võ-lâm Tây-hạ. Tuyết-sơn thập anh là người phương Bắc, có rất nhiều đệ tử, bạn hữu trong triều Liêu. Vậy ta nên nhờ các vị này dùng tình bạn, thuyết cho Liêu, Hạ biết rằng: hiện nhờ Tân-pháp, mà Tống trở thành giầu mạnh, như hổ ngồi Trung-nguyên; con hổ dữ này đang rình lân bang; chờ dịp ăn thịt. Ta lại khích họ biết rằng, binh-pháp nói:

« Tiên phát chế nhân, hậu phát chế ư nhân ».

Nghĩa là : trong binh pháp, nếu mình ra tay trước thì mình kiềm chế được đối phương, còn mình ra tay sau thì mình bị đối phương kiềm chế. Bây giờ giữa lúc Tống chưa khởi sự, thì Tây-Hạ, Bắc-Liêu phải đánh Tống trước.

– Liêu, Hạ là những nước trọng Nho học. E rằng xui họ như vậy thì có lý đấy, nhưng các Nho thần sẽ đặt vấn đề rằng ra quân không chính nghĩa. Thần e khó mà thành công.

Nghe Lý Đạo-Thành nói, Tín-Nghĩa vương biết ông già này cũng là một thứ hủ Nho như bọn văn thần nhà Tống. Vương cười:

– Thái-sư nói: Muốn ra binh, thì phải kiếm cớ để có chính nghĩa. Đúng không? Cớ này đối với Liêu, Hạ cũng dễ thôi: Hai nước Liêu, Hạ nên sai sứ yêu sách đòi cắt thêm đất, nộp thêm vàng lụa thực nhiều. Dĩ nhiên Tống đang mạnh, Hy-Ninh, An-Thạch đang muốn gỡ cái nhục của ông cha, thì đời nào hai người này chịu?

Phò-mã Hoàng Kiện hỏi:

– Lỡ ra Hy-Ninh, An-Thạch chịu nhịn cái nhục nhường đất, chịu cống thêm vàng ngọc cho Liêu, Hạ, để rảnh tay đánh xuống Nam thì sao?

Tín-Nghĩa vương suy nghĩ một lúc, rồi tiếp:

– Thưa phò-mã, ta là thầy kiện ăn hai mâm mà. Xúi Hạ, Liêu ta mới ăn một mâm. Bây giờ ta lại xúi Tống không chịu nộp đất, nộp vàng, ngọc; để ta ăn mâm thứ nhì. Hiện ta có nhiều tế-tác bên tống. Ta lại có Côi-sơn tam-anh, từng làm đại thần Tống, quen biết hầu hết với nhân sĩ, võ lâm. Ta nhờ Tam-anh hối lộ cho bọn tham quan Tống, luận bàn nhất định không chịu yêu sách của Liêu, Hạ. Nhận tức là nhục thể diện Thiên triều... Như vậy là hai bên sẽ có chiến tranh. Khi hai bên có chiến tranh, thì sự việc sẽ diễn ra như Thái-hậu ban chỉ lúc nãy.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Kế của hoàng-thúc với Trần tiên sinh thực thần diệu. Đây là cuộc đấu trí, biện thuyết, chứ không thể dùng võ công. Trong ba đoàn đi, mỗi đoàn cần có người biện thuyết, mưu cơ. Vậy thì thế này: Tuyết-sơn thập anh tuy võ công cao cường thực, nhưng các vị ấy lại không nắm vững tình hình Việt, không giỏi biện thuyết. Trần tiên sinh nên đi cùng để làm quân sư cho họ. Côi-sơn tam anh, trí dũng tuyệt vời, kiến thức bao la thì không cần cố vấn. Còn Động-đình thất kiệt đã có Từ Bá-Tường từng là tiến-sĩ xuất thân, mưu trí tuyệt vời, thì không cần cố vấn.

Hậu tuyên chỉ cho thái-sư Lý Đạo-Thành:

– Thái-sư xuất công-khố; trao vàng, ngọc cho ba phái đoàn. Ta không nên tiếc của trong trường hợp này. Thà rằng ta mất của, mà tránh được chiến tranh, còn hơn sau này có chiến tranh. Khi có chiến tranh, thì không những của mất gấp bội, mà đất nước điêu linh, người chết như rạ.

Cuộc chuẩn bị cho ba đoàn mật sứ lên đường phải mất hai tuần mới xong. Khu-mật viện Bắc-biên, Khu-mật viện Đại-Việt thuyết trình cho các sứ giả biết rõ những chức quan trong ba triều đình Tống, Liêu, Hạ: Về xuất-thân, về tính-tình, về gia-cảnh rất chi tiết. Cả ba phái đoàn đều được cấp điệp là lái buôn tơ lụa. Mỗi phái đoàn còn đem theo một ưng binh với hai cặp Thần-ưng để thông tin. Cuối cùng Linh-Nhân hoàng thái hậu đãi tiệc ba phái đoàn tại điện Long-hoa. Trong tiệc, ngoài nhà vua ra, còn có Tín-Nghĩa vương tổng trấn Nam thùy, Trung-Thành vương quản Khu-mật viện, Đại-tư-mã Thường-Kiệt, Thái-úy phò-mã Hoàng Kiện, công-chúa Thiên-Ninh, Long-thành ẩn-sĩ Tôn-Đản và phu nhân, các đô-thống chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh.

Tiệc vừa tàn, Linh-Nhân hoàng thái hậu ghé miệng vào tai Thái-Ninh hoàng đế thì thầm nhỏ mấy câu. Hoàng-đế đứng dậy nói:

– Trẫm trẻ người non dạ, mà phải gánh vác trọng trách, lắm lúc nghĩ lại thấy kinh sợ. Nhưng dù sao cũng có các khanh phò tá. Mong rằng liệt tổ Đại-Việt phù hộ cho các khanh. Trẫm cũng...

Bỗng ầm một tiếng, cửa sổ phiá Nam bật tung ra, khiến gió lạnh lùa tới như cơn lốc, rồi một vật trắng bay vào trong sảnh đường. Vật đó rơi trước Trung-Thành vương và Đại-tư-mã Lý-thường-Kiệt. Hai người cùng phát một chưởng gạt vật đó. Nhưng cả hai đều gạt hụt, vì vật đó đổi chiều rồi rơi nhẹ nhàng trên bàn tiệc của Thái-sư Lý Đạo-Thành với quan Hình-bộ thượng thư Hoàng Khắc-Dụng. Mọi người nhìn lại, thì ra một cái túi vải lớn.

Quan Tổng-lĩnh, phó tổng-lĩnh thị-vệ Hùng Trí, Hùng Tín cùng tung mình ra cửa sổ quan sát, thì thấy ba thị vệ canh phòng phía Nam cung Long-hoa đứng như trời trồng. Rõ ràng họ bị điểm huyệt. Hùng Tín giải huyệt cho chúng, rồi hỏi:

– Cái gì vậy?

Một thị-vệ run run đáp:

– Tiểu nhân đang đứng, bỗng bị người ta vuốt vào cổ một cái rồi không cử động được. Nhưng tiểu hân cũng nhận ra đó là một nhà sư, mặt lạnh như người chết. Xin đại nhân thứ tội.

Hùng Trí, Hùng Tín vội trở vào sảnh đường, rồi mở cái túi ra. Bất giác mọi người đều bật lên tiếng ồ kinh ngạc. Nguyên trong cái chứa hai người bị trói tròn như khúc giò. Lối trói rất đặc biệt: Lưng hai người quay vào nhau. Tay phải, chân phải người nọ, buộc vào tay trái, chân trái người kia. Trong hai người, một người là Đô-thống Trần Thanh-Nhiên, một người là Phạm Anh, Kinh-lược An-vũ sứ Kinh-Bắc. Miệng mỗi người đều ngậm một cái đùi chó thui lóc hết thịt chỉ còn xương. Triều thần đều bật lên tiếng kêu:

– Mộc-tồn Vọng-thê hòa thượng.

Thần-vũ ngũ-hùng cùng đến trước nhà vua tạ tội vì đề phòng không cẩn mật, để Mộc-tồn hòa thượng hí-lộng quỷ thần. Linh-Nhân hoàng thái hậu bật cười:

– Ngũ vị sư-huynh an tâm. Mộc-tồn bồ-tát chẳng là tôn-sư của ngũ vị đấy ư? Ngài cũng là sư bá của cô-phụ này... Hừ! Khi ngài đã ra tay thì có trời mà đề phòng. Này ngũ vị sư huynh, tỷ như ngài công khai mang cái túi này vào đây, liệu ngũ-vị sư huynh có dám cản trở không? Ngay cô-phụ này tuy là thái-hậu, nhưng cũng chẳng cản nổi đấy.

Trung-Thành vương biết rằng: Phạm Anh là con rể của Dương Đạo-Gia. trong dịp binh biến vừa rồi, y không ra mặt tham dự, nên sau đó triều thần luận tội, y được tha. Bây giờ chắc y phạm tội gì nặng lắm, nên Mộc-Tồn hòa thượng mới ném vào đây. Vương nghĩ: Ta nhân dịp này, xin triều đình xử thực nhẹ y, để ngài giết quách y đi cho rồi.

Thấy Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đứng chầu hầu phía sau Linh-Nhân hoàng thái hậu, vương đưa mắt cho chúng:

– Các em đem hai người ra ngoài thẩm vấn, rồi vào tâu với hoàng-thượng.

Nhưng khi Phương-Quỳnh vừa lật Thanh-Nhiên lên, thì thấy trước ngực y có một cái ống tre khá lớn. Nàng mở ống ra, thì bên trong có đến hai ba cái trục giấy. Nàng khom mình trao cho Trung-Thành vương. Vương mở trục thứ nhất ra, đó là một bản văn kiềm ấn của Thượng-Dương hoàng-thái hậu. Nội dung bản văn, kể rất chi tiết kế hoạch đối phó với Tống, mà triều đình mới nghị hôm trước. Bản văn thứ nhì là một tờ cung khai của bà Minh-Giang, mẹ Linh-Nhân hoàng thái hậu. Bản thứ ba là tờ giấy từ Minh-Can của ông Lê Văn-Thiết. Ngoài ra còn mấy tờ giấy nữa, đa số là thư tín của Thượng-Dương thái hậu gửi cho Trần Thanh-Nhiên, và biểu của Nhiên tâu lên bà.

Nguyên trước đây, sau cuộc Nam chinh Trần Thanh-Nhiên bị cách chức đô-thống, đáng lẽ bị xử tử. Nhưng nhờ dịp ân-xá, nên cái chức đô-thống được phục hồi, y được đưa về Khu-mật viện phụ trách việc theo dõi những mầm mống phản loạn trong giới bút mặc văn-chương. Không hiểu y đã làm gì, để Mộc-Tồn hòa thượng bắt được, đem vào đây. Mọi người đều chú mục chờ Trung-Thành vương đọc những trục giấy. Mỗi nét mặt của vương, đều khiến họ thắc mắc, lo âu không ít. Khi thì vương chau mày, khi thì vương mở to mắt, khi thì vương lắc đầu. Đọc xong, vương bảo Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh:

– Các em trình lên Thái-hậu.

Phương-Quỳnh tiếp tập giấy cúi đầu trình lên thái-hậu. Hậu phán:

– Hai em đọc lên để triều đình cùng nghe.

Đại cương các bản cung từ có thể tóm lược như sau:

« ... Sau khi dẹp được cuộc phản loạn của họ Dương việc cướp ngôi vua, triều thần nghị: Dương Đạo-Gia phạm bẩy mươi hai tội, trong đó có sáu tội thuộc thập ác. Thượng-Dương thái hậu phạm năm tội trong thập ác và bốn mươi lăm tội khác. Quần thần lấy sự việc trong Bắc sử ra để làm căn cứ cho việc xử tội. Đầu tiên là vụ Lã hậu chuyên quyền, giết tôn thất, mưu cướp ngôi của triều Tây-Hán. Thứ đến vụ Vũ hậu chuyên quyền cướp ngôi nhà Đường. Bản án họ Dương được đưa ra là, tru di tam tộc. Như vậy Dương thái hậu cũng bị tử hình. Nhưng nhờ di chiếu của Quốc-phụ, nên Dương hậu thoát chết. Nhà vua ân giảm án cho Dương gia không bị tru di tam tộc, mà chỉ bị giết cả nhà. Mà cả nhà Dương Đạo-Gia đã bị Mộc-tồn hòa thượng giết chết một số, một số khác khi công-chúa Kim-Thành xua quân chiếm cung Thượng-Dương giết nữa. Chỉ có một người con duy nhất của Dương Đạo-Gia trốn sang Trung-nguyên thoát chết. Thành ra không có ai bị hành hình.

... Dương thái hậu cho rằng triều đình không dám động đến bà, bà quyết « trả thù » bằng đủ mọi cách để diệt triều Lý, nhất là giết Linh-Nhân hoàng-thái hậu. Hậu dùng thân mẫu của Linh-Nhân là Minh-Giang, em của Linh-Nhân là Minh-Can, nô bộc là mụ Sửu để liên lạc với một số quan lại bất mãn, để thu thập tin tức, rồi báo cho triều Tống biết. Trần Thanh-Nhiên là một trong bọn quan đó.

... Sau cuộc triều nghị mấy tuần trước bàn về quốc-kế đối phó với Tống, Liêu, Hạ thì thái-sư Lý Đạo-Thành đến cung Thượng-Dương tâu với Dương thái hậu. Dương thái hậu sai bà Minh-Giang với Minh-Can cùng mụ Sửu chuyển cho bọn dư đảng của trường Trung-nghĩa đem qua biên giới. Nhưng tất cả sự việc đó, đều bị Mộc-tồn hoà thượng biết được.

... Trong khi bà Thiết (Minh-Giang) với Minh-Can luận bàn với Dương hậu, vô tình họ để lộ ra một tin tầy trời về thời thơ ấu của Linh-Nhân hoàng thái hậu như sau: Hồi mới lớn, ông Lê Văn-Thiết được bố mẹ cưới cho một người vợ tên là Vũ-thị Tỉnh. Bà Tỉnh rất ôn nhu văn nhã, nhưng là người ở quê. Sau hơn hai năm bà không có con. Song thân ông hỏi một cô gái khác cho ông, cô này tên Minh-Giang. Minh-Giang vốn là gái kẻ chợ, rất khôn ngoan, nên được lòng cha mẹ chồng. Cả nhà hy vọng Minh-Giang sẽ sinh con trai cho có người nối dõi tông đường. Trớ trêu thay, khi cưới Minh-Giang được hơn ba tháng sau, bà Tỉnh mang thai. Minh-Giang kinh hoảng, cũng vội tuyên bố rằng mình mang thai. Giữa lúc đó song thân ông Thiết qua đời. Đến khi bà Tỉnh sắp đến ngày sinh; Minh-Giang đem tiền bạc đút lót với Trung-nghĩa đại tướng quân Trịnh Quang-Thạch, để xin tìm kế giúp đỡ. Thạch thiết kế: Y sẽ gọi ông Thiết tới dinh, sai ông lên Bắc-cương biếu quà cho Ngũ-long công chúa. Như vậy cuộc hành trình sẽ phải hơn tháng. Ở nhà bà Tỉnh sinh con rồi, y sẽ sai người bóp cổ bà cho chết, rồi đem chôn ở khu đồng hoang. Còn đứa con, thì trao cho Minh-Giang nuôi, dối rằng con đó do thị sinh ra. Đối với bà mụ đỡ đẻ, y đe dọa, mua chuộc. Y cho bà ít tiền, bắt bà phải khai rằng bà đỡ đẻ cho Minh-Giang, sinh ra đứa con. Cũng chính bà đỡ đẻ cho bà vợ cả của ông Thiết, bà này sinh ra đứa con hoang không giống ông một tý nào cả, vì vậy bà ta ôm con trốn đi mất.

... Kế ấy thi hành thực hoàn hảo. Khi ông Thiết trở về nghe chính Trịnh Quang-Thạch kể rằng vợ ông trốn đi, thì hỏi sao ông không tin? Đứa trẻ bất hạnh sinh ra đó là Minh-Đệ. Hóa cho nên suốt cuộc đời bà Minh-Giang thù ghét nàng tận xương. Sau khi Minh-Giang đẻ giả, hai năm sau bà đẻ thực, đứa con gái đầu lòng đó là Minh-Can.

... Khi biết được tin động trời này, Mộc-tồn hòa thượng sai đệ tử về làng Siêu-loại báo cho ông Thiết biết. Ông vội theo dấu chỉ dẫn ra chỗ đồng hoang chôn bà Vũ-thị Tỉnh đào lên, thì quả có bộ xương đàn bà. Nhờ quần áo mặc trên người chưa nát hết, ông nhận ra đó là hài cốt của bà vợ khốn nạn. Vụ án bí ẩn ba mươi năm qua, bây giờ mới ra ánh sáng. Ông Thiết dùng gỗ trầm, cải tảng thi hài cho người xấu số, làm chay giải oan, rồi xây mộ thực lớn ».

Tiếng Phương-Quỳnh trong, ngọt như cam thảo, nhưng mỗi giòng, mỗi đoạn nàng đọc, cùng khiến cho triều đình kinh hồn lạc phách. Nghe Phương-Quỳnh đọc hết bản cung từ do Mộc-tồn hoà thượng thẩm vấn Dương hậu, bà Minh-Giang, Minh-Can, mà chân tay Linh-Nhân hoàng thái-hậu phát run. Nghĩ đến mẹ mình chết oan uổng, ấm ức bao nhiêu năm qua; nghĩ đến Minh-Giang, Minh-Can tàn ác với mình rồi đi đến phản quốc; bất giác hậu nghiến răng kèn kẹt, nước mắt tràn ra trên hai gò má.

Trong ống tre, Mộc-tồn hoà thượng còn đính kèm một thư của ông Thiết viết cho hậu, kể hết sự tình dấu diếm bấy lâu nay. Ông khẩn khoản nhờ hậu tìm mọi cách xin triều đình ân xá cho bà Minh-Giang với Minh-Can.

Thái-Ninh hoàng đế thấy mẫu thân khóc, long tâm nhũn ra. Nhà vua hỏi quan Thái-phó Quách Sĩ-An (thầy đồ Thái):

– Thưa thầy, trong các đại thần hiện diện, thầy là người duy nhất biết rõ mẫu-hậu từ khi còn thơ ấu. Sự thể đã đến nỗi này, xin thầy dậy cho trẫm biết đạo lý hành xử.

Từ hồi nhà vua bốn tuổi, sau khi bàn luận với Ỷ-Lan thần phi, phụ hoàng Thánh-tông đã chọn hai đại thần Quách Sĩ-An, Lý Kế-Nguyên làm thầy dậy văn; và Côi-sơn tam-anh làm thầy dậy võ. Luật triều Lý định rằng: Khi một tân quân lên ngôi vua, thì thầy dậy văn đương nhiên được phong làm Thái-phó. Khi thiết triều Thái-phó được ngồi cạnh nhà vua. Khi tâu không phải xưng tên, chức tước.

Sau khi dẹp loạn Dương gia, dù đã có mẫu hậu thính chính, quyết định chính sách, nhưng hàng ngày hai đại thần Quách, Lý thay nhau dạy nhà vua học, cùng cố vấn giải quyết những vấn đề khó khăn. Hôm nay được nhà vua hỏi, Quách Sĩ-An tâu:

– Tâu bệ-hạ, trước đậy Dương gia làm loạn, tuy chủ mưu là Dương Đạo-Gia, nhưng thực sự việc phản dân, hại nứớc này do Thượng-Dương thái hậu chủ xướng, tội phải lăng trì. Nhưng tự cổ đến giờ, Đại-Việt ta chưa hề gia hình tới thái-hậu. Vậy thần kính xin bệ-hạ thân đem tất cả những bằng chứng này tới cung Thượng-Dương yết kiến thái-hậu, để người tự xử thì hay hơn. Còn tất cả tòng phạm, chính phạm, xin đem tận số xử lăng trì. Gia thuộc, nếu là nam, tuổi từ mười ba trở lên bắt xung quân trọn đời; nếu là nữ thì đem chia cho binh lính biên cương giải phiền trong lúc xa nhà.

Ngự-sử đại phu Hoàng Khắc-Dụng quay lại hỏi Thái-sư Lý Đạo-Thành:

– Thái-sư thờ đã bốn triều vua, công lao thực không nhỏ. Nhưng tôi lĩnh chức Ngự-sử, nên bắt buộc phải hỏi Thái-sư ít câu. Căn cứ vào đâu mà khi đức Thánh-tông băng hà, Thái-sư lại để Dương thái hậu thính chính?

Lý Đạo-Thành cau mặt, vì quan giai, Khắc-Dụng nhỏ hơn ông rất xa. Nhưng chợt ông nghĩ lại: Khắc-Dụng là Ngự-sử đại-phu, nên ông miễn cưỡng đáp hời hợt:

– Một là tôi căn cứ vào di chiếu của tiên-đế. Hai là tôi căn cứ vào đạo-lý. Trong lịch sử Hoa, Việt, khi vua băng hà, mà ấu quân kế vị, thì đích mẫu là hoàng-hậu đương nhiên buông rèm thính chính. Gần đây nhất, khi vua Chân-Tông bên Tống băng, thì Lưu thái hậu thính chính, vì bà là đích mẫu.

Khắc-Dụng hỏi gằn:

– Thái-sư là quan cao nhất triều, thay Thiên tử, thống bách quan, bình thứ chính. Đúng ra, khi Hoàng-thượng lên ngôi, sau khi tôn miếu hiệu tiên-đế, ban chế tôn Dương hậu làm Thượng-Dương thái hậu... thì phải tôn phong Thần-phi ngay mới phải. Thế tại sao mãi mấy ngày sau Thái-sư mới cho ban chế tôn người làm Hoàng-thái phi? Lại không sai sứ đi đón Thái-phi về chịu tang?

– Tôi... tôi bận quá nên sơ sót.

– Thái-sư trả lời không thành thực. Vì rõ ràng sau khi vua Thánh-tông băng, Dương hậu sai đóng tất cả cửa thành, cửa cung, rồi mới triệu đại thần vào đọc di chiếu. Di chiếu đó do chính Thái-sư đọc. Vậy di chiếu đó do ai soạn, do ai viết? Có được đức Thánh-tông kiềm thự không?

Mặt Lý Đạo-Thành tái xanh, ông trả lời ấp úng:

– Chiếu đó do tôi soạn rồi trình lên cho đức Thánh-tông. Nhưng ngài không ký ngay. Theo Dương thái hậu, thì ngài ký trước khi băng hà chỉ có một giờ. Thành ra lúc ngài ký chỉ có Dương thái hậu biết mà thôi.

Hoàng Khắc-Dụng đem cái hộp bằng vàng ra, rồi mở nắp trưng cho mọi người thấy:

– Đây! Chữ ký này không phải của đức Thánh-tông, mà do một người khác nhái theo, thành ra không giống. Thái-sư có thấy như vậy không?

– Hôm ấy nghe tiên-đế băng, lòng tôi đau như dao cắt, thành ra có chỗ sơ sót.

– Tôi không tin. Bất cứ ai cũng có thể sơ sót, nhưng đối với Thái-sư thì không thể. Một là Thái-sư chầu hầu bên ngài đến mấy chục năm liền; thì hẳn biết rõ bút tự, chữ ký của ngài. Hai là xưa nay Thái-sư vốn cẩn thận tỷ mỉ, nay di chiếu là điều cực kỳ quan trong thì không thể có việc sơ sót. Ba là, phàm khi đọc di chiếu, phải trưng ra cho tất cả các quan đều xem. Thế sao hôm ấy Thái-sư đọc xong là cất đi ngay. Tôi muốn Thái-sư nói thực đi, may ra Hoàng-thượng cứu mệnh cho Thái-sư với cả nhà. Bằng như thái-sư muốn che dấu, tôi e khi Mộc-tồn hòa thượng ra tay, thì vợ con, gia thuộc Thái-sư bị giết chết đã đành, mà đến con chó, con mèo cũng không sống sót đâu.

Lý Đạo-Thành oà lên khóc, ông hướng Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Thần quả có tội, xin Thái-hậu cho được chết toàn thây, còn vợ con, gia thuộc, mong Thái-hậu chu toàn cho.

– Cô phụ này tuy là Thái-hậu, nhưng chỉ là một sư điệt của Mộc-tồn hòa thượng thì làm sao mà cản được người? Không biết tiên-nương Bảo-Hòa, Thiếu-Mai ở đâu, phải thỉnh hai vị về mới cứu được Thái-sư và gia thuộc.

– Tâu Thái-hậu, thần có cách cứu Thái-sư.

Âu Hoàng tâu: Sư phụ thần cực kỳ yêu thương Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương với Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt. Vậy bây giờ chưa tìm được hai tiên-nương, thì chỉ cần mười bốn vị này cùng viết sớ xin cho Thái-sư được hưởng án treo. Mặt khác Hoàng-thượng ban chỉ phạt Thái-sư về tội bất cẩn. Như vậy thì sư phụ thần sẽ không thi hành án ngay. Trong thời gian đó, triều sai sứ đi thỉnh nhị vị tiên-nương.

Mười bốn người vội cùng nhau viết một tờ sớ, rồi cùng ký vào, dâng lên cho nhà vua xem. Công-chúa Thiên-Ninh dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai nhà vua. Nghe chị mở lời, lập tức nhà vua tuyên chỉ:

– Xét kỹ ra, Thái-sư niên kỷ đã cao, nên có chỗ lầm lẫn. Vậy giáng xuống làm Tả gián-nghị đại-phu, lĩnh chức tổng-trấn Nghệ-an. Hai châu Bố-chính, Ma-linh của Chiêm nhập vào Việt đã ba năm, mầm mống chống đối không còn, chẳng nên để trọng binh ở đó; cũng không cần đại tướng trấn ngự, mà cần quan văn phủ dụ, tổ chức cai trị. Vậy Trung-Thành vương trở về lĩnh Tổng-trấn Thăng-long, quản Khu-mật viện. Tín-Nghĩa vương Tổng lĩnh Thiên-tử binh. Thái-sư lĩnh thêm chức Phủ-viễn đại-thần, để tổ chức cai trị hai vùng Ma-linh, Bố-chính.

Triều thần kinh ngạc đến ngẩn người ra, rồi tự hỏi: Ông vua bẩy tuổi này sao mà sáng suốt vậy? Không lẽ Khai-Quốc vương nhập vào ngài?

Thấy Linh-Nhân hoàng thái hậu gật đầu tỏ ý tán thành chỉ dụ của Thái-Ninh đế. Quách Sĩ-An tiếp:

– Còn bà Minh-Giang với Minh-Can, ngoài tội phản dân, hại nước ra, lại can tội sát nhân. Đúng ra hai người này nằm trong Bát-nghị, nhưng cái tội phản quốc là một trong tội Thập-ác thì không thể được hưởng. Xin đem hai người này xử lăng trì để nêu chính pháp.

Nhà vua lắc đầu:

– Thầy luận thực sáng như trăng rằm. Nhưng thưa thầy, ngoại tổ của trẫm có viết thư xin mẫu hậu ân xá cho hai người đó, thì trẫm phải làm sao bây giờ?

– Tâu bệ-hạ.

Quan ngự sử đại phu Hoàng Khắc-Dụng cung tay: Làng có lệ, nước có luật. Huống hồ bộ Hình-thư đã được soạn vào thời đức Thái-tổ, được đức Thái-tông tu bổ, đặt trên căn bản nhân-trị của Nho-gia, từ bi hỉ xả của Phật-gia. Hai can phạm Minh-Giang, Minh-Can là hai con mãng xà hung ác đến tận cùng, triều đình đã ân xá mấy phen, mà chúng còn tái phạm, như vậy tỏ ra chúng không coi phép nước ra gì cả. Xin bệ-hạ cứ chiếu luật xử, không thể khoan hồng.

Triều đình cùng luận bàn, nhưng không giải quyết được. Giữa lúc đó, một viên quan Khu-mật viện vào trình tấu chương khẩn của phủ thừa Thăng-long.

Thái-phó Quách Sĩ-An đọc qua, rồi tâu:

– Quan phủ-thừa Thăng-long thượng biểu tâu về một sự quái lạ xẩy ra ở ngoại thành. Từ hai ngày hôm nay, chỗ tượng bà Banh có ba người đàn bà mắt bị mù, miệng bị câm, cụt hai bàn tay, hai tai với mũi bị xẻo, lê lết ăn xin. Thế nhưng không biết lý lịch ra sao.

Rồi ông trình tờ biểu lên cho nhà vua. Thái-Ninh đế hỏi triều thần:

– Bà Banh là ai? Tại sao lại có tượng?

Triều đình đều ngơ ngác lắc đầu. Duy Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt đều nhìn nhau cười mà không phải cười, trong khi nét mặt trông rầt kỳ khôi. Trung-Thành vương hỏi:

– Các đô-thống chắc biết rõ chuyện bà Banh, vậy hãy tâu lên hoàng-thượng.

Đô-thống Phạm Dật cung tay:

– Tâu bệ-hạ, Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt trước đây từng đi ăn xin lê lết khắp Thăng-long, nên đã nghe biết chuyện bà Banh. Nhưng không dám tâu, sợ phạm tội bất kính.

Linh-Nhân hoàng thái hậu chỉ Lý Đoan:

– Lý đô-thống, hãy tâu chuyện bà Banh lên hoàng-thượng, dù chuyện đó thô tục đến đâu chăng nữa.

Lý Đoan bước ra:

– Tâu bệ-hạ, vào thời Thuận-Thiên, ở làng Yến-vĩ sương-sen có một mụ họ Đặng tên Anh, sau lấy chồng là y-sư Trần Tấn-Khang nên đương thời người ta thường gọi mụ là Anh-Trần. Mụ đi theo Hồng-thiết giáo, mở hội Vu-sơn, trai gái giao hoan tập thể cực kỳ đồi phong bại tục. Mụ hủ hóa với cả con rể, với cả chó, đười ươi. Mụ thu nhận nhiều đệ tử, trong đó có tên Nguyễn Quý-Toàn, Đặng Đức-Cần. Tên Cần này mắt cá chuối, đầu như đầu bò liếm, nên còn gọi là Cần mắt cá quả. Sau tên Cần bị đại hiệp Thông-Mai giết cả nhà. Còn tên Toàn, thì tuy ngu đần, dốt nát, nhưng có bà vợ xinh đẹp, buôn bán giỏi giang tên Phượng-Anh. Thế nhưng y lại bỏ vợ theo mụ điếm già Anh-Trần, tôn mụ làm sư mẫu. Đại hiệp Thông-Mai bắt y chui đầu qua háng bà vợ mười vạn lần, mỗi ngày phải uống ba bát nước tiểu, ăn một bát phẩn, bắt quỳ gối ở đầu làng, ai đi qua cũng phải nhổ nước miếng vào mặt. Sau trận đánh Yến-vĩ sương sen, tiên-nương Bảo-Hòa truyền đem mụ Anh-Trần với tên Quý-Toàn ra tùng xẻo. Đại-hiệp Thông-Mai sai người tạc tượng con mụ Anh-Tần theo tư thế trần truồng, dạng hai chân ra, đầu nghẹo sang một bên, hai tay banh « cái nớ », cổ đeo ngọc. Dưới chân tượng để một cái chầy đá. Từ đấy ai đi qua cũng cầm chầy thọi vào « cái nớ », rồi nhổ nước bọt vào mặt pho tượng. Lâu ngày dân chúng không nhớ cái tên Đặng Anh-Trần, mới nhân tượng « banh » mà gọi là bà Banh.

Ghi chú,

Chuyện dâm đãng cùng cực của mụ Đặng Anh-Trần, xin xem Anh-hùng Tiêu-sơn, Thuận-thiên di sử, Anh-hùng Bắc-cương và Anh-linh thần võ tộc Việt của Yên-tử cư-sĩ. Pho tượng này vào thời Lê vẫn còn. Bằng cớ là Nguyễn Quỳnh tức trạng Quỳnh (sinh ngày 1 tháng 10 niên hiệu Vĩnh-trị thứ nhì, DL 26-10-1677) mất ngày 26 tháng Giêng năm Mậu-Thìn, niên hiệu Cảnh-hưng thứ 9 (26-2-1748), ông thấy dân chúng tin dị đoan, thường cúng vái bà Banh. Trạng ngứa mắt, có đề một bài thơ lên tượng; tượng toát mồ hôi ra, rồi từ đấy hết thiêng. Bài thơ như sau:

Khéo đứng ru mà đứng mãi đây,
Khen ai đẽo đá tạc nên mày?
Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt,
Dưới chân đứng chéo một đôi giầy.
Cởi váy, phất cờ trêu ghẹo tiểu,
Để đồ bốc gạo thử thanh thầy.
Có ngứa gần đây nhiều gốc dứa,
Phô phang chi ở đám quân này?
Khéo đứng, nói lái đi thành đứng đéo.
Đẽo đá, nói lái đi thành đã đéo.
Đếm đeo, nói lái đi thành đéo đêm.
Đứng chéo, nói lái đi thành đéo đứng.

Trung-Thành vương bảo Đinh Hoàng-Nghi:

– Sư đệ với Phương-Quỳnh ra quan sát sự thể rồi vào đây tâu lại.

Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đi một lát rồi trở lại tâu:

– Tâu, ba người đàn bà đó, trên cổ đều có đeo cái xương đầu lâu chó.

Mọi người đều bật lên tiếng kêu:

– Mộc-tồn vọng thê hoà thượng!

Phương-Quỳnh tiếp:

– Cả ba đã bị Mộc-tồn đại sư dùng thuốc trấn vào kinh mạch khiến cho mắt mù, lưỡi cứng như cá khô, nói không được. Ngài lại cắt cụt hai bàn tay của họ, khiến khi ăn họ phải xốc như chó, như lợn.

Huynh trưởng Thần-vũ thập anh là Hùng Nhân tâu:

– Thỉnh Thái-hậu với hoàng-thượng minh kiến, xưa nay sư phụ của hạ thần đã trừng phạt tội nhân nào, thì những kẻ đó không bao giờ bị xử oan ức cả. Chắc ba người này phạm trọng tội ghê lắm, mà triều đình và các quan ân xá, nên người mới ra tay.

Dù sao cũng còn tính trẻ con, nhà vua hỏi:

– Đinh đô-thống có tìm ra lý lịch ba người đàn bà đó không?

– Tâu bệ-hạ, hạ thần biết rất kỹ về ba người này. Họ không phải ai đâu xa lạ, một người là bà Minh-Giang dì ghẻ của thái-hậu, một người là ả Minh-Can em thái-hậu, một người là mụ Sửu người ở cũ nhà thái-hậu. Chính phủ-thừa Thăng-long biết rằng ba người này bị Mộc-tồn hòa thượng trừng phạt, nên không ai dám di chuyển họ đi.

Thế là triều đình bỏ qua vụ xử hay không xử Minh-Giang, Minh-Can. Linh-Nhân hoàng thái hậu ban chỉ:

– Bây giờ phiền sư huynh Đại-tư-mã Thường-Kiệt với Thần-vũ thập anh hộ giá Hoàng-thượng sang cung Thượng-Dương, trao tất cả hồ sơ nội vụ, để Thượng-Dương thái hậu tự xử.

Bỗng Hoàng-môn quan vào tâu:

– Tâu bệ-hạ có một người đàn ông, một người đàn bà cỡi ngựa, với mươi tùy tùng xin vào yết kiến bệ-hạ.

Nhà vua hỏi:

– Họ có xưng tên không?

– Tâu, họ trao cho thần hai thanh kiếm, rồi nói rằng : « Chủ hai thanh kiếm xin cầu kiến » .

– Đem kiếm vào đây.

Hoàng-môn quan dâng hai thanh kiếm, vỏ dát ngọc sáng ngời. Lý Thường-Kiệt tiếp kiếm rút ra khỏi vỏ, bất giác mặt ông trở thành nghiêm trọng, trong lòng hân hoan không bút nào tả siết, rồi nói bằng giọng cực kỳ kính trọng:

– Tâu bệ-hạ, họ chính... chính là Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu.

Nhắc để độc giả nhớ: Kinh-Nam vương Trần Tự-Mai và công chúa Huệ-Nhu được võ lâm Hoa-Kiệt gọi là Ưng-sơn song hiệp. Suốt bốn mươi năm qua, hai vị khi thì trấn thủ biên giới Hoa-Việt, khi thì đánh Tây-Hạ, khi thì đánh Liêu; vương là người dùng binh giỏi nhất Hoa-Việt, võ công cao siêu không biết đâu mà lường. Hai vị lại có tai mắt đệ tử khắp nơi, chuyên xử tử bọn quan lại nhũng lạm, bọn gian thần tặc tử, bọn chủ trương chia rẽ tình Hoa-Việt. Vì vậy ngay vua Tống như Nhân-Tông, vua Việt như Thái-tông, Thánh-tông... mỗi khi nghe đến tên vương cũng cảm thấy lạnh gáy. Vương hiện được phong Thái-sư thượng-phụ, Kinh-Nam vương, cao hơn tước Giao-chỉ quận vương của Thái-Ninh đế nhiều. Vì vậy, nghe Thường-Kiệt tâu, Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Tất cả chúng ta phải ra nghênh đón vương.

Tới cửa Đại-hưng, Linh-Nhân hoàng thái hậu hô:

– Cô phụ Lê-thị Yến-Loan, vương nhi Càn-Đức cùng bách quan tham kiến đại vương và công chúa điện hạ. Bọn thần không biết đại vương với điện hạ giá lâm để đón, mong đại đức ân xá.

Kinh-Nam vương đáp lễ, rồi cười:

– Dù tôi có làm quan lớn đến đâu, thì cũng chỉ là một con dân Đại-Việt. Tôi về thăm quê với tư cách là người Việt, chứ không phải ông vua. Không dám nhọc ngọc thể Thái-hậu với Hoàng-thượng nghênh đón.

Thoáng trông thấy Tôn-Đản, vương tung mình nhảy đến bên ông, rồi cả hai ôm lấy nhau, nước mắt cùng dàn dụa. Tôn Đản nói trong nước mắt:

– Chú Sáu, anh nhớ chú qua. Chúng ta xa nhau, thoáng một cái mà đã bốn mươi bốn năm.

– Em cũng nhớ anh Năm muốn mờ con mắt.

Thấy Côi-sơn tam anh, vương chạy lại cung tay:

– Tiểu đệ xin tham kiến đại, nhị, tam sư huynh.

Giữa lúc mọi người đang chào mừng Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu, chưa ai kịp hỏi tại sao đường xa diệu vợi, quân vụ khẩn cấp mà hai vị lại trở về Đại-Việt như thế này... thì thấy khói bốc lên mờ mịt ở trong Hoàng-thành. Một thị-vệ phi ngựa ra tâu với nhà vua:

– Tâu bệ-hạ, cung Thượng-Dương bỗng bốc cháy bốn bề một lúc. Không biết ai tẩm dầu, để lưu huỳnh khắp cung, nên lửa vừa bốc lên là cháy lớn. Hiện thị-vệ đang chữa cháy, nhưng e không kịp.

Tuy cung Thượng-Dương cháy, nhưng mọi người vẫn không chú ý, mà cùng nhau tiếp đãi Kinh-Nam vương. Tới điện Càn-nguyên, Linh-Nhân hoàng thái hậu có ý để vương ngồi cao hơn Thái-Ninh đế, công chúa Huệ-Nhu ngồi trên bà. Nhưng vương tự kéo ghế mình ngang với nhà vua; công chúa kéo ghế ngang với thái-hậu. Thường-Kiệt nguyên là con của Ngô An-Ngữ, sư huynh của vương, trước đây vương thương yêu ông cùng cực, vì vậy ông đứng ra giới thiệu từng quan chức hiện diện với vương.

Vương đưa mắt nhìn Trung-Thành vương Hoằng-Chân, Tín-Nghĩa vương Chiêu-Văn, rồi vẫy tay gọi hai vị lại gần. Vương nắm tay hai cháu:

– Cậu thực có lỗi với mẹ cháu. Ai đời, hai cháu sinh lúc nào cậu không hay, lớn lúc nào cậu không biết. Nay hai cháu đã thành đại thần, cậu mới thấy mặt. Trận đánh Chiêm vừa rồi, hai cháu thực xứng đáng là cháu của cậu.

Công-chúa Huệ-Nhu vẫy gọi vương phi Trinh-Dung, Ngọc-Nam lại bên cạnh rồi nắm lấy cổ tay. Lập tức hai vương phi cảm thấy cổ tay mình như bị ngoặm một miếng. Phản ứng tự nhiên, hai người vận công chống trả, nhưng cũng đau thấu tâm can. Công chúa buông tay hai người ra rồi gật đầu:

– Đẹp thực! Nội công cao thực. Gớm, học trò công chúa Cẩm-Thi với Long-thành ẩn sĩ có khác.

Ngô Cẩm-Thi cười vui vẻ:

– Nào, bà mợ trắc nghiệm võ công cháu dâu rồi, có gì cho cháu không nào?

– Có chứ!

Công-chúa Huệ-Nhu móc trong cái túi đeo bên mình ra hai con phụng bằng vàng, trên dát kim cương sáng lóng lánh. Bà cài vào mái tóc hai vương phi:

– Gọi là chút quà diện kiến, mợ cho hai cháu dâu.

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương cùng hai vương phi tạ ơn, rồi chắp tay đứng hầu sau Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu.

Kinh-Nam vương gọi Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt lại gần. Mười hai người từng là đại tướng xông pha trận mạc, đối diện với cái chết thường trực; thế mà đứng trước vương, cả mười hai người đều không dám nhìn thẳng vào mặt.

Vương hỏi:

– Mười hai cháu đếu là đệ tử của Khai-Quốc vương, thế thì cũng là cháu gọi ta bằng cậu. Các cháu thử nhìn thẳng vào mặt ta xem nào!

Cả mười hai người đều nhìn thẳng vào mặt vương. Bất giác họ cùng ngẩn người ra. Vì cứ nghe danh vương, họ những tưởng tướng mạo vương dữ dằn, oai nghiêm ghê lắm. Không ngờ, trước mặt họ, họ chỉ thấy một nam tử ôn nhu, gương mặt hòa nhã, nói năng ôn tồn.

Vương chỉ Phạm Dật:

– Các cháu nghĩ gì về cậu?

– Thưa cậu, cháu thấy cậu mợ ôn nhu, dịu dàng hơn cả cậu mợ Năm (Tôn Đản), ngang với vua bà Bình-Dương phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn công chúa Nong-Nụt. Thế mà...

Vương cười:

– Nếu cứ nghe người ta đồn đại, thì các cháu tưởng đầu cậu có sừng, miệng cậu có nanh hẳn?

Công-chúa Thiên-Ninh bật cười:

– Dạ, hơn thế nữa!

Cả mười hai tướng trẻ đều gật đầu, hưởng ứng lời Thiên-Ninh. Công chúa Huệ-Nhu nắm tay công chúa Thiên-Ninh kéo lại bên cạnh, bà vòng tay ôm lấy ngang lưng nàng, rồi cười:

– Từ xưa đến giờ, ta với vương tuy mang tên Ưng-sơn song hiệp thực; nhưng những vụ án lớn, đều không do chúng ta xử, mà những người khác « bắt nạt » chúng ta, mạo danh chúnng ta mà xử. Cứ mỗi khi gặp kẻ có tội, họ xử bừa, rồi đổ lên đầu chúng ta.

Nghe công-chúa kể « bị người ta bắt nạt » bất giác mọi người đều bật cười. Công-chúa Thiên-Ninh lắc đầu:

– Cháu tưởng trên đời này đến Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La lão tử thấy vương gia với điện hạ cũng phải run rẩy, thì hỏi rằng ai mà dám bắt nạt Ưng-sơn song hiệp?

Vương chỉ vào Tôn Đản, Cẩm-Thi:

– Thì ông bà này chứ ai? Lại còn bà La-sát Thanh-Mai, bà Chằng-lửa Bảo-Hòa, bà Chằng-tinh Thiếu-Mai nữa.

Công-chúa Huệ-Nhu chỉ vào Côi-sơn tam anh:

– Ba ông kẹ này còn khiếp đảm hơn ai hết. Những vụ án kinh hồn táng đởm trên đất Tống là do ba ông xử cả. Còn những vụ án ở trên đất Việt là do Quốc-mẫu Thanh-Mai, ông bà Long-thành ẩn sĩ xử. Trong Thuận-Thiên thập hùng thì duy bà Bình-Dương là không xử ai. Còn bất cứ ông nào, bà nào cũng có thể xưng là Ưng-sơn song hiệp, mà chúng ta đành chịu thua, có dám nói gì đâu?

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:

– Khải đại vương, thế vụ án Trịnh Quang-Thạch do ai xử? Vụ này có tác dụng làm bọn gian thần tặc tử sợ hãi đến không biết chúng là ai nữa!

Công-chúa Huệ-Nhu cười rất tươi:

– Thái-hậu thử đoán xem là ai?

– Cháu thực không đoán ra.

– Thái-hậu không đoán ra là phải. Người xử vụ ấy là Yên-vương vương phi tức tiên-nương Thiếu-Mai.

Tất cả mọi người đều bậy lên tiếng ồ :

Nhà vua hỏi:

– Khải đại-vương, cháu sinh sau, đẻ muộn, từ hồi có trí nhớ đã nghe danh Mộc-tồn vọng thê bồ-tát. Mỗi hành xử của ngài đều khiến bọn đầu trộm đuôi cướp, bọn sâu dân mọt nước kinh tâm động phách. Vậy ngài là ai?

– Tôi thực không giám nói. Tôi chỉ xin hé lộ để bệ-hạ biết, hoà thượng là người đã dành cả cuộc đời để bảo vệ tộc Việt. Vợ chồng chúng tôi thấy người, là bỏ trốn biệt.

Thấy đến Ưng-sơn song hiệp mà còn kinh sợ Mộc-tồn hòa thượng, thì mọi người đều nghĩ thầm rằng, có thể ông là Hồng-Sơn đại phu, Thiên-trường ngũ kiệt. Nhưng không ai đoán ra được cả.

Đến đó quan tổng-lĩnh thị-vệ Hùng Lễ vào tâu:

– Tâu bệ-hạ, cung Thượng-Dương bị người ta tẩm dầu, đặt lưu huỳnh khắp nơi, điểm huyệt Thượng-Dương thái hậu với bẩy mươi sáu cung nữ rồi châm lửa đốt, nên đội cứu hỏa tuy có ra tay, mà không cứu được một người nào. Thần xin chịu tội với bệ-hạ.

Kinh-Nam vương xua tay:

– Sư điệt! Người không có lỗi gì cả. Vụ này chính chúng ta ra tay. Cái con mụ Dương Hồng-Hạc này thực là một con ác quỷ. Chỉ nguyên tội đánh thuốc mê tĩnh thân Thường-Kiệt cũng đủ xử lăng trì rồi. Thị lại dấu Đinh Hiền xưng là Nguyễn Bông trong cung để hành lạc làm ô uế hậu cung. Thị còn trốn ra ngoài họp với Tống mưu cướp ngôi vua nữa. Khi việc phát giác, vua Thánh-tông ân xá cho thị. Tưởng như vậy thị đã hối hận, không ngờ thị âm thầm báo mọi kế hoạch bình Chiêm cho bọn Hồng-thiết giáo. Vì vậy mới có việc Chiêm biết hết kế hoạch của ta. Cuối cùng, thị chuẩn bị kế hoạch cướp ngôi vua khi đức Thánh-tông băng hà, suýt nữa gây ra cuộc tương tàn đổ máu. Nhờ di chiếu của Quốc-phụ, thị được ân xá, nhưng thị vẫn cứ tìm cách hại dân, phản quốc, thị thông báo mọi quốc kế cho Tống. Giả như Mộc-Tồn hòa thượng không khám phá ra, thì quốc kế về Liêu, Hạ đã bị Tống qhá rồi khống? Ba phái đoàn của ta khó bảo toàn tính mệnh.

Công chúa Huệ-Nhu tiếp lời Kinh-Nam vương:

– Biết bao nhiêu kế sách của chúng ta với Đại-Việt mưu cầu cho Hoa-Việt sống thanh bình từ triều vua Nhân-Tông đến giờ, đều bị con quỷ cái báo cho Tống biết hết. Nay vì muốn hạ chúng ta, Hy-Ninh đế mới trao những mật tấu của Hồng-Hạc cho tên Vương An-Thạch. Thạch đem những thứ đó đưa ra triều nghị, kết tội ta cùng vương thông đồng với ngoại quốc. Việc này đưa tới vương với ta không thể cầm đại quân nữa. Chúng ta nghĩ: Việc làm của chúng ta quang minh lỗi lạc, khi thác không phải hổ thẹn với liệt tổ Trung-nguyên, Đại-Việt là được rồi. Cho nên chúng ta cáo quan mà về đây. Thị thực là con rắn độc nằm trong hoàng-cung. Chúng ta cũng biết triều đình Đại-Việt không thể giết thị, nên chúng ta phải ra tay.

Kinh-Nam vương nói với Thái-Ninh đế:

– Chúng tôi xử tử Dương Hồng-Hạc với bẩy mươi sáu cung nữ xuất thân từ Hồng-thiết giáo, rồi đốt cung Thượng-Dương. Nếu như bệ-hạ với triều đình bắt lỗi, thì chúng tôi xin chịu.

Từ khi có trí khôn, nhà vua được chị là công chúa Thiên-Ninh thuật cho không biết bao nhiêu huyền thoại về Ưng-sơn song hiệp, Mộc-tồn vọng thê hòa thượng. Trong tâm tưởng, nhà vua kính trọng ba người này như thần như thánh. Nay nghe vương tự nhận lỗi, nhà vua xua tay:

– Đại vương vì Đại-Việt mà trừ gian, khiến toàn tộc Việt đều thâm cảm, có đâu cháu dám bắt lỗi.

Ghi chú,

Các bộ sử Việt như ĐVSKTT, Việt-sử lược, An-nam chí lược, cho đến Tống-sử đều chép mơ hồ về sự kiện này như sau:

« Quý-Sửu, Thái-Ninh năm thứ nhì (1073), bên Tống là niên hiệu Hy-Ninh thứ sáu. Giam Hoàng thái hậu họ Dương, tôn Hoàng thái-phi làm Linh-Nhân hoàng thái hậu. Linh-Nhân có tính hay ghen, cho mình là mẹ mà không được dự chính sự, mới dụ với nhà vua rằng : "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu ?". Vua bèn sai giam Dương thái hậu và 76 cung nữ vào cung Thượng-Dương, rồi bức phải chết theo lăng Thánh-tông ».

Ngô Sĩ-Liên phê bình:

Nhân-tông là người hiếu. Linh-Nhân là người sùng đạo Phật, sao lại đến nỗi giết đích Thái-hậu, hãm hại người vô-tội, tàn nhẫn đến như thế ư? Vì ghen là thường tình của đàn bà, huống chi là mẹ đẻ mà không được dự chính sự? Linh-Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải dụ với vua. Bấy giờ vua còn trẻ thơ, chỉ biết chiều lòng mẹ là thích, mà không biết là lỗi to. Thái-sư Lý– Đạo-Thành phải ra trấn bên ngoài, biết đâu chẳng vì can gián việc ấy ?

Sự kiện này hết sức phi lý. Vì bấy giờ, nhà vua mới bẩy tuổi, làm sao có đủ uy tín, khả năng lật đổ một Thái-hậu đang cầm quyền, với một Thái-sư kinh nghiệm, cao niên như Lý Đạo-Thành ? Cho nên khi viết những giòng này, tôi bỏ không theo sử Việt, Tống-sử; mà theo gia-phả của giòng họ Lý tại Bắc-Hàn chép về Linh-Nhân hoàng thái hậu. Còn việc Thượng-Dương thái hậu bị đốt chết với bẩy mươi sáu cung nữ, tôi theo bộ QTNC, TTCTGCK cũng như mộ chí, văn bia các công thần Tống được chép thành sách mang tên TTCTBK. Trong ba tài liệu trên đều chép rằng Tống sai người sang hứa phong cho Dương Đạo-Gia làm Giao-chỉ quận vương. Vậy hãy tổ chức binh biến cướp ngôi họ Lý. Nếu tổ chức binh biến thất bại, quân Tống sẽ vượt biên sang giúp. Dương gia tin thực. Nhưng khi sự thất bại, thì quân Tống không qua như lời hứa. Tống làm việc này chỉ với mục đích làm cho Giao-chỉ có nội chiến.

Về việc Dương thái hậu cùng bẩy mươi sáu cung nữ bị giết, uyên nguyên ra sao, chỉ độc giả Nam-quốc sơn-hà mới biết sự thực mà thôi.

Chợt Kinh-Nam vương liếc nhìn cung nữ đứng hầu sau lưng Linh-Nhân hoàng thái hậu rồi cau mày lại nhìn công chúa Huệ-Nhu như hỏi ý kiến. Công chúa cũng đưa mắt nhìn cung nữ ấy tồi lại lắc đầu. Vương trầm tư một lúc, rồi nói với ba đoàn mật sứ sang Tống, Liêu, Hạ:

– Thôi! Các vị cứ yêm tâm lên đường. Trong bóng tối, người của ta sẽ theo dõi, giúp đỡ các vị. Chuyến đi của các vị không giúp Đại-Việt, cũng chẳng giúp Tống, Liêu, Hạ, mà vì thiên hạ làm mất đi cái mầm binh lửa khiến người chết, nhà tan mà thôi.

Vương nói với Động-đình thất kiệt, Tuyết-sơn thập anh:

– Các vị tuy sinh làm con dân Tống, nhưng tổ tiên gốc ở vùng Kinh-hồ, tức xưa kia là người Việt. Cô gia tước phong Kinh-Nam vương, cai trị vùng này mười năm qua, nên hiểu rất rõ các vị. Các vị là những đại hiệp, học võ với nguyện vọng hành hiệp cứu nguy phò khốn. Thế mà các vị bị tên cẩu Nho Vương An-Thạch trong triều Hy-Ninh coi như bọn đầu trộm đuôi cướp, rồi đẩy các vị vào chỗ chết. Rất may, khi các vị bị cùng đường, Đại-Việt không những không thù oán các vị, mà còn đãi các vị vào bậc quốc sĩ. Nay các vị được trao trọng trách thiêng liêng, là làm tắt ngọn lửa chiến tranh giữa bốn nước, đó là dịp các vị được tỏ rõ chân bản lĩnh vì đời, cho đời. Thôi chúc các vị lên đường may mắn.

Vương đưa mắt nhìn Hoàng-Nghi, nhìn cung nữ đứng sau thái-hậu:

– Hồi bình Chiêm, bọn Long-biên ngũ-hùng các người với bốn cô vợ, do không tinh tế, để đến nỗi gây ra mối hận tình thiên thu, đầy oan khuất cho Nang-Chang-Lan. Vì ân hận, người xin với Linh-Nhân hoàng thái hậu để tìm nàng trong ba năm. Sau ba năm nếu không thấy tin tức Chang-Lan người mới cưới Phương-Quỳnh, có đúng thế không?

– Thưa cậu vâng.

– Tại sao năm ngoái người lại cưới Phương-Quỳnh? Người là con nhà danh gia, học thức uyên bác, mà sao lại thất hứa như thế? Ta phải đánh cho người què chân mới được.

Nghe vương kết tội, Hoàng-Nghi cảm thấy lạnh gáy. Linh-Nhân hoàng thái hậu đỡ lời cho Hoàng-Nghi:

– Khải đại-vương, việc Nghi đệ cưới vợ là do cháu thôi thúc. Nguyên năm trước, cháu thấy Nghi đệ tuổi đã lớn, Phương-Quỳnh cũng vậy; mà cái thời hạn Nghi đệ đi tìm Chang-Lan cũng đã quá ba năm, nên cháu khải với Quốc-mẫu, với sư-huynh Thường-Kiệt, rồi cho làm lễ thành hôn.

– Việc đó tôi biết. Nhưng tôi hỏi tội Hoàng-Nghi, vì y thất hứa. Rõ ràng sau khi biết Nang-Chang-Lan oan, y vào Chiêm tìm nó, và đã gặp lại nó sau ba tháng. Từ đấy y với Chang-Lan như bóng với hình. Cho đến ngày y cưới Phương-Quỳnh, Chang-Lan đâu có xa nó?

Lời kết tội của vương gây ra một súc cảm lớn cho toàn thế triều đình Đại-Việt. Vì ai cũng tưởng Hoàng-Nghi chung tình, tìm Chang-Lan trong ba năm mà không thấy, rồi mới cưới Phương-Quỳnh. Không ngờ bây giờ nảy ra vụ Hoàng-Nghi đã tìm thấy Chang-Lan từ lâu.

Hoàng-Nghi mở miệng định biện luận, thì công chúa Huệ-Nhu vẫy tay, ngụ ý không cho nói:

– Ta cho cháu suy nghĩ một khắc rồi hãy trả lời.

Sau một khắc, công-chúa hỏi:

– Cháu nghĩ ra chưa?

– Thưa mợ cháu không nghĩ ra.

Chợt Phương-Quùnh bật lên tiếng kêu:

– À, phải rồi! Phải rồi. Anh đã thấy Chang-Lan, nhưng anh không nhận ra nàng!

– ???

– Chang-Lan đã giả làm con nữ tỳ Nang-Trúc, sống bên anh hơn ba năm mà anh không biết. Cho đến lúc Dương gia nổi loạn, nàng mới được thái hậu đem vào cung, rồi khi anh cưới em nàng mới bỏ đi.

Tất cả mọi người đều kinh hãi Ưng-sơn song hiệp. Một sự việc với uẩn khúc như vậy, mà hai vị đều biết rất chi tiết, thế thì hỏi rằng bọn bất trung, bất hiếu làm sao qua mắt song hiệp? Bất giác mọi người đều lạnh gáy. Vương tuyên án:

– Ta gia hạn cho cháu trong ba năm phải tìm cho ra Chang-Lan, bằng không ta chặt chân. Nhớ đấy!


Cổng ngoài một trong những đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu.
Đền này tại xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội. (Hình chụp tháng 8-2001).


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI BA

Hùng-khí lưu thiên cổ



Tháng 6, ngày mười bẩy, niên hiệu Thái-Ninh thứ tư đời vua Lý Nhân-tông của Đại-Việt (Ất-Mão, 1075) bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ tám đời vua Thần-tông nhà Tống.

Trên bến Tiềm-long bên bờ sông Hồng, hoa phượng nở đỏ rực bầu trời. Giòng sông nước đục ngầu chảy siết về hạ lưu, trên mặt nước lềnh bềnh những khúc củi mục nhấp nhô xuôi giòng. Buổi sáng Thăng-long về mùa hè, bầu trời xanh ngắt, không gợn chút mây tơ. Tiếng ve rên rỉ những bản nhạc u sầu dài liên miên bất tuyệt. Mặt trời đã lên cao, vượt khỏi những lũy tre già. Một chiến hạm lớn thuộc hạm đội Động-đình đậu tại đó từ bao giờ. Chiến thuyền có hai cái cầu gỗ bắc từ cửa đến bờ. Mỗi cửa đều có hai thủy binh đứng gác.

Hai chiếc xe song mã bịt kín từ cửa Đại-hưng tiến về phía bến Tiềm-long. Bất cứ ai liếc qua cũng biết đây là hai chiếc xe rất lớn, thuộc loại chở lương thực. Mấy viên thủy thủ có nhiệm vụ tưới hoa trong vườn cảnh bến Tiềm-long ngơ ngác nhìn chiếc xe, rồi nói với nhau:

– Kìa xe chở lương thực xuống chiến thuyền kìa. Chắc chiến thuyền này lại sắp ra khơi hẳn!

Hai chiếc xe tới đầu cầu chiến thuyền thì dừng lại. Cửa xe mở ra, lập tức có rất nhiều người từ trong tung mình ra, rồi vượt cầu vào trong chiến thuyền. Hết hai xe này, lại có hai chiếc khác. Cứ như vậy, khi trời gần trưa thì đã có tới mười chiếc xe đến rồi ra đi.

Bây giờ thuyền mới rút cầu, nhổ neo, xuôi giòng.

Trong khoang lớn nhất của thuyền, đèn nến sáng trưng. Hơn trăm người ngồi im lặng, chia thành bốn hàng hình chữ U. Những người đó, kể từ cao xuống thấp có Linh-Nhân hoàng thái hậu, Thái-Ninh đế, Đại-tư mã Lý Thường-Kiệt, Thái-úy Hoàng Kiện, Đại-đô-đốc Lý Kế-Nguyên, quản Khu-mật viện kiêm tổng-trấn Thăng-long Trung-Thành vương, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh Tín-Nghĩa vương.... thấp nhất là mười hai Đô-thống chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh.

Lễ tất.

Linh-Nhân hoàng thái hậu mở đầu:

– Tình hình biên cương cực kỳ khẩn trương. Tống đang chuyển đại binh từ Tây-thùy, Bắc-thùy về Nam-thùy đánh ta, cho nên cô-phụ phải tổ chức buổi hội mật này để đối phó. Hơn lúc nào hết, lúc này là lúc ta phải bỏ hết tỵ hiềm mới mong tồn tại. Chính vì vậy, Hoàng-thượng ban chỉ ân xá cho Thái-sư Lý Đạo-Thành, phục hồi chức tước để người có thể tham dự vào công việc hộ quốc. Nào mời Thái-sư ra.

Thái-sư Lý Đạo-Thành từ trong bước ra chắp tay vái Linh-Nhân hoàng thái hậu với Thái-Ninh đế, sồi ngồi vào ghế.

Thái-hậu tiếp:

– Trong buổi triều hội này, lễ nghi được giản tiện hết sức. Các vó đại thần khi tâu trình không cần xưng tên, cứ ngồi nguyên tại vị không phải quỳ gối hành lễ.

Thái-hậu hướng mắt vào Trung-Thành vương:

– Hoàng-thúc! Hoàng-thúc chưởng quản Khu-mật viện, xin hoàng-thúc cho biết tình hình chuyển quân bên Tống đã.

Nguyên tuổi của Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương tương đương với tuổi của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Hậu lấy nghĩa: vua Thánh-tông là con nuôi của Khai-Quốc vương, thì hai vương là chú của Thái-Ninh hoàng đế, nên bà gọi hai vương bằng hoàng-thúc, và ban chỉ cho hai vương vào triều được đeo kiếm, khi tâu không phải xưng tên.

Trung-Thành vương tâu:

– Tống đã chuẩn bị để tiến đánh Đại-Việt suốt mấy năm qua. Gần đây, họ chuyển một số quân rất lớn từ vùng Trường-sa, Kinh-châu về Quảng-đông, Quảng-tây. Trong khi đó, các biên thần Nam-phương ra sức tuyển mộ tân binh, tổ chức thổ binh thành bảo-giáp. Dọc bờ biển họ đóng chiến thuyền, thao diễn thủy quân. Mấy chục năm qua các châu Nam-thùy Tống phải thu góp lương thảo, vàng bạc chuyển lện cho mặt trận Tây, Bắc. Nhưng năm năm gần đây, họ được chỉ dụ không những giữ lương tiền lại, mà còn nhận được lương tiền của vùng Kinh-hồ. Thần thấy rõ ràng họ đang chuẩn bị đánh Đại-Việt.

Đại-tư mã Lý Thường-Kiệt hỏi:

– Xin vương gia cho biết tổ chức lực-lượng Tống tại Nam thùy ra sao?

Trung-Thành vương đem cuốn trực lớn, trên vẽ bản đồ Hoa-nam treo trước cử tọa, rồi trình bầy:

– Phiá Bắc Trường-giang là Kinh-châu. Trước kia Tống có hai mươi vạn quân. Sau khi Địch Thanh đem xuống đánh nhau với quân tám vùng tộc Việt trong cuộc khởi binh của Nùng Trí-Cao, các đạo quân này bị diệt. Địch Thanh bị công-chúa Bảo-Hòa đánh bại, y tổ chức lại các đạo quân này, rồi đem thêm quân ở Tây-thùy về đánh Nùng Trí-Cao. Thành công rồi, y lại mang các đạo quân ấy trở về chỗ cũ. Tại phía Nam sông Trường-giang, hiện có quân của Đàm-châu, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây. Nhưng quân ở Đàm, Quý không nhiều, vả khi hữu sự họ cũng không thể điều đi nơi khác, vì phải phòng Đại-lý.

Nhà vua đưa mắt nhìn Côi-sơn tam anh:

– Tam vị sư phụ! Bây giờ trẫm mới hiểu tại sao U-bon vương Lê Văn cứ luôn thao luyện quân sĩ ở Bắc-thái. Thì ra người « hù » Tống hẳn?

Trung-Thành vương cúi đầu:

– Đúng như bệ-hạ phán! Rút lại chỉ có quân lưỡng Quảng là đáng để cho ta phải quan tâm. Trước kia lưỡng Quảng chưa có quân triều. Gần đây họ điều tám đạo rất thiện chiến ở vùng Tây-biên. Mỗi đạo một vạn người. Trong năm đạo đó, một đạo đóng ở Quảng-châu, hai đạo đóng ở Ung-châu, một đạo đóng ở Liêm-châu, một đạo đóng ở Khâm-châu, ba đạo đóng ở Quế-châu. Kị binh trước kia không có, nay họ điều về hai đạo, đó là đạo Thiểm-tây và đạo Ký-bắc. Đạo Thiểm-tây chia ra, một lữ (ghi chú: 3 nghìn) đóng ở Liêm-châu, một lữ đóng ở Khâm-châu, một lữ đóng ở Ung-châu. Đạo Ký-bắc đóng ở Quế-châu. Thủy quân có một hạm đội đóng ở Quảng-châu. Quân của lưỡng Quảng thì có đạo đệ nhất chia ra nửa đóng ở Hoành-sơn, nửa đóng ở Thái-bình. Đạo đệ nhị một nửa đóng ở Vĩnh-bình, một nửa đóng ở Tây-bình. Đạo đệ tam một nửa đóng ở Lộc-châu, một nửa đóng ở Cổ-vạn. Ngoài ra còn quân bảo-giáp, quân khê-động nhiều ít khác nhau.

Thấy chư tướng chưa hơi có vẻ ngơ ngác, vương trình bầy rất khoan thai:

– Tóm lại, tại Quảng-Tây lộ có tám vạn bộ, hai vạn kị, chia ra như sau: Đồn trú giữ thủ phủ Ung-châu có hai vạn quân triều, một vạn kị binh. Đồn trú tại Quế-châu có ba vạn bộ, một vạn kị. Các ải thống thuộc Ung-châu, còn có ba đạo quân Quảng, chia ra đóng ở Hoành-sơn, Thái-bình, Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu, Cổ-vạn. Tổng cộng chín vạn người. Còn quân bảo-giáp của khê-động thì nhiều ít thất thường, khi khởi sự các động chủ trấn thủ của ta sẽ trình sau.

Vương chỉ vào vùng Quảng-đông lộ:

– Tại đây có ba vạn quân triều, một vạn thủy binh, một vạn kị, chia ra như sau: Quảng-châu hai vạn bộ, một vạn thủy binh, ba nghìn kị; tại Liêm-châu, có một vạn bộ , ba nghìn kị binh. Tại Khâm-châu có một vạn quân triều, ba nghìn. Tổng cộng thủy bộ sáu vạn. Còn quân bảo-giáp, khê-động rất ít.

Vương kết luận:

– Như vậy tổng quân Tống ở lưỡng Quảng có mười sáu vạn, không kể quân bảo-giáp, khê động. Trong tương lai, khi đánh ta, họ sẽ đem hai mươi đạo quân triều thiện chiến, với năm đạo kị binh từ biên giới Tây-hạ về. Hai hạm đội từ Mân-Triết xuống. Ngay từ bây giờ ta phải chuẩn bị đối đầu với năm mươi vạn quân bộ thủy bộ, với khoảng mười vạn quân bảo-giáp, khê động và năm mươi vạn dân phu. Tổng cộng một trăm vạn người ngựa.

Ghi chú,

Thời Tống giờ chưa phân chia ra Quảng-đông, Quảng-tây như bây giờ, mà gọi chung là Quảng-nam lộ, mà thủ phủ là Quế-châu. Đôi khi chia ra Quảng-đông Nam-lộ và Quảng-Tây Nam lộ. Về quân số của Tống, tôi theo QTNC và TTCTGCK, TTCTBK, chứ không theo TS, VSL, ĐVSKTT, TTTTGTB.

Nghe vương tâu trình, người người nhìn nhau tỏ vẻ lo lắng.

Đại-tư mã Thường-Kiệt đứng dậy nói lớn:

– Binh-pháp nói : « Quân quý hồ tinh, bất quý hồ đa » nghĩa là quân quý ở chỗ tinh-luyện, chứ không quý ở đông. Các vị hãy nhớ thời vua Lê, Đại-Việt chỉ có mười vạn, mà thắng ba mươi vạn quân Tống ở Chi-lăng, Bạch-đằng. Hồi tiên-nương Bảo-Hòa, Đại-Việt chỉ có mười lăm vạn, mà thắng năm mươi vạn quân Tống. Mới đây, vua bà Bình-Dương chỉ có năm vạn binh mà thắng mười vạn quân của bọn Lý Sư-Trung, Tiêu Cố, Tiêu Chú.

Ông chỉ vào Tây-hồ thất kiệt, Long-biên ngũ hùng:

– Từ bẩy năm nay, Thiên-tử binh được trao cho các Đô-thống này, hầu như đã thay đổi hoàn toàn. Bây giờ tôi để cho Đô-thống Phạm Dật, phu nhân Lê Kim-Loan trình bầy về phương cách huấn luyện binh để các vị thấy tại sao người Tống nghe đến Thiên-tử binh đều tỏ vẻ kinh sợ.

Phạm Dật đứng lên cung tay:

– Quân mạnh hay không là do uy, lực, thế, trang. Uy tức kỷ luật phải nghiêm. Kỷ luật nghiêm thì khi lệnh ban ra người người đều răm rắp thi hành, lúc đối diện với giặc khi tiến, lúc lùi, nhất nhất vạn người như một. Vì vậy mỗi đội quân, khi đối diện với địch thì phía sau đều có ba võ sĩ đao phủ; một lệnh tiến ban ra, mà binh nào chần chờ, lui lại, hay quay đầu lại thì chém tại chỗ. Cho nên chúng tôi tự hào là Thiên-tử binh chỉ biết chết, chứ không biết lùi. Thứ hai là lực. Lực là sức manh, cho nên tất cả tướng sĩ, mỗi ngày đều phải luyện tập bốn giờ (8 giờ ngày nay),chia ra: Một giờ luyện tập võ nghệ, một giờ bắn cung, một giờ xung phong hãm trận, một giờ học tập binh pháp. Vì vậy, một Thiên-tử binh, sau một năm tại ngũ, về võ nghệ đã có thể tay không đánh thắng bốn năm người, hoặc khi đối địch với kẻ dùng cùng một thứ vũ khí, có thể thắng ba đến mười người. Hóa cho nên sau bẩy năm, những Thiên-tử binh của ta đã có trình độ võ công như một võ sĩ. Về hành binh, thì cứ một ngày tập trận giả đánh trong đồng cỏ, một ngày tập đánh trong rừng, một ngày tập đánh ở đồng lầy, một ngày tập công thành.

Các quan cùng gật đầu tỏ ý tin tưởng.

– Thứ ba là thế. Thế tức là sự phối hợp giữa các đội quân bộ, như khi nào thì dùng Thần-nỏ, khi nào thì dùng Thạch-xa, khi nào thì phóng lao, khi nào thì bắn tên, khi nào thì xung sát chém giết. Lại huấn luyện khối hợp giữa bộ binh, kị binh, thủy binh, Thần-nỏ, Thạch-xa, thú binh. Tỷ như hiệu Ngự-long đối trận với một đạo kị binh Tống, tôi chỉ việc ra lệnh cho lữ nào đánh mặt phải, lữ nào đánh mặt trái, lữ nào đánh trực diện, lữ nào trừ bị. Các lữ trưởng thấy binh địch còn ở xa, thì ra lệnh cho Thạch-xa bắn ngay vào hàng đầu của địch. Khi địch lại gần, thì cho Thần-nỏ bắn. Khi hai bên giáp nhau rồi, thì đội đao thủ xung lên chém chân ngựa, đội cung thủ thì bắn kị mã.

Phạm Dật ngừng lại, đưa mắt cho Lê Kim-Loan. Kim-Loan biết ý chồng, nàng trình bầy:

– Thứ tư là trang. Như các vị thấy, Thiên-tử binh được trang bị giầy bằng vải thực dai, thực dầy, đế bằng da, để khi dẵm phải đá, phải sỏi thì không đau. Ngực, lưng được che bởi miếng hộ tâm kính bằng thép, đầu đội chiếc mũ bằng thép mỏng. Về vũ khí, thì mỗi Thiên-tử binh đều được phát cho hai thứ; một là vũ khí chính như đao, giáo; hai là vũ khí phụ như cung tên, mũi lao, dao ngắn.

Vũ Quang chỉ vào Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương:

– Từ sau cuộc bình Chiêm trở về, Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương nghiệm thấy rằng trong cuộc Nam chinh, những trận thắng dễ dàng là nhờ chư tướng kết thân với nhau, một lần suýt thất bại vì tên Trần Thanh-Nhiên ghen tỵ với Long-biên ngũ hùng. Cho nên nhị vương đã ban lệnh đi các trấn, các hạm đội, bắt bược một tháng, chư tướng từ cấp lữ phải hội họp ba ngày với nhau để có dịp học tập binh pháp, ăn ở cùng nhau, vui đùa có nhau, thắt thêm tình bạn.

Hoàng-Nghi tiếp lời Vũ Quang:

– Trung-Thành vương đã nghiên cứu phương thức huấn luyện binh lính của Tống, rồi soạn một tập binh pháp mới để phá binh pháp Tống. Nếu nay mai khi giao chiến với Tống, chỉ thoáng thấy đội hình của họ, là chúng tôi đã biết họ định làm gì, ta muốn phá họ thì phải làm gì.

Thường-Kiệt vào công chúa Thiên-Ninh:

– Thêm vào đó, Bà-chúa-kho cho tổ chức nhiều ao nuôi cá, nhiều cánh đồng nuôi gà vịt, nhiều nhà nuôi lợn, có lương thực cho binh tướng ăn thêm trong những ngày luyện tập để lấy sức. Cho nên binh tướng đều vui lòng vì được hậu đãi. Hiện lương bổng của quân ta cao gấp ba quân Chiêm, gấp đôi quân Tống, lại được đối đãi như chân tay, nên giữ binh với tướng có mối thâm tình như cha con, anh em.

Thái-úy Hoàng Kiện hỏi Trung-Thành vương:

– Theo ước tính của vương gia, thì bao giờ họ đánh mình?

– Trong năm tới.

Trung-Thành vương khẳng định: Ba sứ đoàn mật của ta cử sang Tống, Liêu, Hạ thành công mỹ-mãn. Nhưng dù Hạ, Liêu đòi điều kiện gì Hy-Ninh đế với Vương An-Thạch cũng chịu. Tống mới cắt dâng cho Liêu 700 dặm ở vùng Liêu-đông, dù phe thân mình ra sức công kích. Nguyên trong triều Tống, phe chủ đánh Bắc hòa Nam đa số là các tướng do Kinh-Nam vương đào tạo. Nhưng mấy năm trước, Kinh-Nam vương, công chúa Huệ-Nhu không đồng chính kiến với Hy-Ninh đế và Vương An-Thạch, hai vị cáo quan về triều, rồi ngao du sơn thủy. Vì vậy phe chủ đánh Nam phương mạnh lên.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Trước khi nghị sự, xin vua bà Bắc-biên lược tấu về tất cả chính sách Nam-thùy của Tống từ thời vua thái-tổ là Triệu Khuông-Duẫn đến giờ.

Công chúa Thiên-Thành đứng dậy ra tâu:

– Chính sách của Tống đối với Đại-Việt ta từ trước đến nay không bao giờ nhất định. Nó thay đổi tùy vào sức mạnh của ta, và tùy vào triều đình của Tống. Triều đình mà thần muốn tâu ở đây bao gồm nhà vua và các quan. Tuy vậy chính sách của họ có thể chia làm bốn. Một là ước thúc, hai là hoà hoãn, ba là co rút, bốn là hung hăng.

Công-chúa ngừng lại, đưa mắt quan sát triều đình một lượt rồi tiếp:

– Thời kỳ ước thúc là thời kỳ vua Tống Thái-tông, Chân-tông. Sau khi bị bại ở Chi-lăng vào thời Lê bên Đại-Việt, Tống còn bị Liêu đánh phải bỏ Thái-nguyên, U-tô. Vì phải lo đối phó với Liêu, vua Thái-tông, vua Chân-Tông ước thúc bọn đại thần Nam thùy phải mềm mỏng, tránh gây chiến với các nước phương Nam, để dồn nỗ lực đánh với Liêu. Thời vua Chân-tông họ bị Liêu chiếm mất mấy châu phía Bắc, còn bắt triều cống mỗi năm mấy vạn lạng vàng, hàng triệu hộc lúa, cực kỳ nhục nhã. Lúc vua Chân-tông băng hà, Lưu thái hậu nhiếp chính. Bà cùng Tể-tướng Lã Di-Giản, Tào Lợi-Dụng chủ trương nhún mình với phương Bắc, để đánh phương Nam. Sau khi đánh được các nước phương Nam, Tống sẽ có thêm lương thảo, nhân lực. Bấy giờ họ mới quay lên Bắc đối phó với Liêu. Biết được chủ trương này, Khai-Quốc vương đem một sứ đoàn sang Tống, giúp Yên-vương Triệu Nguyên-Nghiễm lật Lưu thái hậu, cùng phe chủ chiến trong triều. Vương kết thân với Yên-vương. Rồi thiếu hiệp Trần Tự-Mai kết thân với vua Nhân-Tông, thành phò mã Tống, được phong làm Ngô-quốc quận vương. Vua Nhân-Tông quyết định giữ yên mặt Nam, quay lên Bắc đối phó với Liêu. Ngô-quốc quận vương Trần Tự-Mai với công-chúa Huệ-Nhu được trao nhiệm vụ tổng trấn Nam thùy. Nhờ uy của hai vị mà trong hơn hai chục năm Tống-Việt vô sự (1027-1046) (Xin xem Anh-linh thần võ tộc Việt, cùng tác giả do Xuân-thu Hoa-kỳ xuất bản).

Công-chúa đem ra một cái trục lớn treo lên. Trên trục vẽ bản đồ Trung-quốc và Tây-hạ, rồi tiếp:

– Trong thời gian hai mươi năm ấy, Tây-hạ được cai trị bởi một vị vua trẻ, có hùng tâm, đại lược. Chỉ sau mười năm, Hạ trở thành một nước binh hùng, tướng mạnh. Hạ-vương không chịu thần phục Tống, mang quân chiếm một vùng đất lớn. Tống sai bọn Địch Thanh, Tôn Tiết, Trương Ngọc đem quân chống cự, nhưng bị bại liên tiếp. Vua Nhân-tông triệu Ngô-quốc quận vương về kinh cải phong là Tần-vương, chuyển lên Tây-thùy đánh nhau với Hạ. Thế là vấn đề ước-thúc Nam-biên mất người chủ trương. Bọn biên thần Nam phương như Dư Tĩnh, Tiêu Chú hăm he muốn gây chiến. Chúng luyện binh sĩ, đồn chứa lương thảo, ép các trang động Bắc-biên, xui Chiêm đánh phía sau ta. Đứng trước tình trạng đó, Khai-Quốc vương quyết định ra tay trước. Một mặt người ra quân thình lình đánh Chiêm. Sau khi bình Chiêm, người huy động quân tám vùng tộc Việt đánh chiếm Lưỡng-quảng, thiết lập nước Đại-Nam, trao cho Nùng Trí-Cao làm vua. Không may cho ta, Nùng Trí-Cao lên làm vua rồi, ông ỷ nước mình lớn, không thần phục Đại-Việt, muốn lấn áp Đại-lý. Gặp lúc Khai-Quốcvương vân du Chân-lạp, Tống dồn hết quân Tây-thùy, Bắc-thùy trao cho Địch Thanh đánh Nùng Trí-Cao. Trí-Cao không được Đại-Việt, Đại-lý chi viện, nên Đại-Nam bị Tống chiếm mất. Từ đấy Tống bỏ chính sách ước thúc ở Nam-thùy; đổi sang chính sách hoà-hoãn. (xin đọc Anh-linh thần-võ tộc Việt của Yên-tử cư-sĩ do Xuân-thu Hoa-kỳ xuất bản).

... Hòa hoãn có nghĩa là không đem quân xâm lấn, nhưng cái gương Nùng Trí-Cao, khiến Tống đem trọng binh xuống Nan-thùy, mộ thêm quân, huấn luyện thổ-binh, lập nhiều đồn, tích trữ lương thảo. Sau mấy năm, binh lực Tống ở Nam-thùy trở thành hùng mạnh. Bọn biên-thần được mật chỉ của vua Nhân-Tông, chiêu mộ, đe dọa, ép các trang-động Bắc-biên. Thấy rằng nếu cứ để Tống áp dụng chính sách tằm ăn dâu mãi, thì Bắc-biên sẽ không còn khê động nào nữa. Đức Thánh-tông hội với cô-mẫu (công-chúa Bình-Dương), rồi đem quân vượt biên đánh chiếm lại hết các trang động đã mất. Tống mang quân phản công, bị thua, đành xin hoà, cách chức hết bọn biên thần Nam-thùy như Lý Sư-Trung, Tiêu Cố, Tiêu Chú, Dư Tĩnh. (Xem hồi 1-2-3 NQSH).

... Sau thời gian này, vua Nhân-Tông băng, Anh-Tông lên kế vị. Vì hồi còn là Thái-tử, Anh-Tông chủ đánh Nam-thùy; ông sang Đại-Việt nghiên cứu, bị võ-lâm triều đình Đại-Việt làm cho kinh hồn táng đởm. Nên khi lên ngôi vua, ông áp dụng chính sách co rút. Nghĩa là binh lực Nam-thùy vẫn giữ nguyên, nhưng tuyệt đối không lấn các nước lân bang (1064-1067).

... Nhưng vua Anh-Tông trị vì không được lâu dài. Sau khi người băng hà, Thái-tử lên nối ngôi hiệu là Hy-Ninh. Thời gian làm thái-tử Hy-Ninh từng nghe ông cha, thái-phó nói nhiều về cái nhục phương Bắc, Tây, Nam, nên ông nảy ra hùng tâm muốn thoát ra khỏi tình trạng đó. Ông dùng Vương An-Thạch, áp dụng Tân-pháp. Sau sáu năm, dân trở thành giầu, binh lực hùng mạnh, quốc sản dồi dào. Nên ba năm trước, Hy-Ninh với An-Thạch muốn dụng binh rửa nhục. Ông hội các đại thần nghị kế, nên đánh Liêu trước hay đánh Đại-Việt trước. Các văn quan muốn đánh Đại-Việt trước. Đại-Việt bại, thì Chiêm, Chân, Lào phải đầu hàng. Bấy giờ chỉ ngọn cờ về Tây là chiếm được Đại-lý, Xiêm. Còn các võ tướng thì lại chủ trương đánh Liêu trước, chiếm lại phần đất đã mất, rửa nhục bị tiến cống. Sau khi Liêu bại, thì các nước phương Nam không cần đánh cũng phải quy phục.

... Khi được tin này, ta cử ba sứ đoàn mật sang Tống, Liêu, Hạ. Cả ba sứ đoàn đều thành công. Nhưng từ khi Kinh-Nam vương cáo lão về ngao du sơn thủy, thì phe chủ đánh Nam phương thắng thế, Tống triều thay đổi chính sách như Trung-Thành vương tâu. Từ chính sách co rút, họ đổi sang chính sách hung hăng, khiêu khích. (1067-1075)

Linh-Nhân hoàng thái-hậu đứng dậy hướng Côi-sơn tam anh:

– Tam vị sư bá. Xin các sư bá cho biết chi tiết về cuộc tranh luận của các đại thần Tống về việc đánh Nam hay đánh Bắc. Có như vậy ta mới có thể quyết định được đường lối.

Trần Trung-Đạo đứng lên trình bầy:

– Tâu thái-hậu, tâu hoàng-thượng, thần xin bắt đầu khi Vương An-Thạch lên chấp chính. Từ tiền cổ đến thời vua Thái-tông nhà Tống, những tể-thần phần đông là võ-quan có huân công, rồi lên làm tể-tướng, hoặc cũng có thể là thái-giám, là văn quan. Kể từ thời vua Chân-tông đến giờ (997-1075) hầu hết những người nắm chức tả bộc-xạ, hữu bộc-xạ (Tả tể-tướng hữu tể-tướng) hay tham-tri chính-sự (phó tể-tướng) đều là những văn-gia, thi-sĩ, tư-tưởng gia nức tiếng thiên-hạ, có nhiều tác phẩm danh tiếng. Dĩ nhiên họ đều là nho-gia. Mà khi là nho gia, thì thủ cựu. Việc cai trị dân luôn luôn phải theo Tam-hoàng, Ngũ-đế. Mỗi luật lệ đều phải phỏng theo Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Mỗi chế, chiếu, biểu đều phải dẫn Tứ-thư, Ngũ-kinh. Trong khi ta, Liêu, Hạ lại vượt qua những điều hủ lậu, miễn sao làm cho dân hạnh phúc là được rồi. Việc cải cách của Vương An-Thạch, bình tâm mà bàn, quả là thực tế. Nội dung cải cách đó đối với ta thì thua xa, trong khi đối với các nho thần Tống thì quá táo bạo. Ngay những năm đầu cải cách, hầu hết các tể thần đều chống đối. Hy-Ninh đế thẳng tay cách chức những tể-thần đó, đổi ra các châu. Đó là điểm vừa yếu, vừa dại.

Đô-thống Vũ Quang hỏi:

– Thưa sư-bá (ghi chú: Long-biên ngũ hùng là đệ tử của Khai-Quốc vương và vương phi Thanh-Mai. Mà vương phi Thanh-Mai là sư muội của Trung-Đạo, nên ông gọi Trung-Đạo là sư bá), xin sư bá giải rõ đôi chút, rằng tại sao Hy-Ninh đưa các tể thần ra các châu là điều vừa yếu, vừa dại?

– Giản-dị thôi. Như trên đã tâu, các tể thần đều là văn gia, tư tưởng gia có những danh tác, rất được quần chúng hâm mộ. Nay cách chức họ, thì dân chúng bất phục, đó có phải là điều làm suy yếu lòng tin của dân chúng về Tân-pháp không? Khi đưa họ ra các châu làm quan, họ gần dân chúng hơn, gần sĩ dân hơn, họ có dịp nói với mọi người rằng họ có lý. Họ đem những cái dở, cái bất lợi của Tân-pháp phơi ra với quần chúng. Đó có phải là điều dại không?

Ông tiếp:

– Nay sau chín năm áp dụng Tân-pháp, thành công nhiều về quốc-sản, về binh-bị, nhưng thất bại về nhân tâm. Ngày 13 tháng 7 niên hiệu Thần-vũ thứ nhì (Tống Hy-Ninh thứ nhì, Canh-Tuất 1070),An-Thạch tâu với nhà vua rằng: « Trước đây triều đình chỉ chú trọng vào mộ-binh (binh triều), thành ra binh không nhiều lại rất tốn kém, mà khi hữu sự phải điều động. Ta phải bắt chước Giao-chỉ huấn luyện dân binh, gọi là bảo-giáp (tức Đại-Việt là hoàng-nam). Khi có biến, bảo-giáp tự chống cự cầm chân giặc, rồi ta cứu viện bằng chính binh sau ». Vua thuận. Thế là Tống cử Tô Giàm, một biên thần có công chống Nùng Trí-Cao về coi Ung-châu, lo việc luyện dân binh, lập thêm một đạo binh (ghi chú: đạo của Tống khoảng 10 nghìn người, tương đương với ngày nay là một sư đoàn).Cuối năm này, viên chuyển vận sứ Quảng-Tây là Đỗ Kỷ sưu tầm đầy đủ về tình hình nước ta: dân số, tổ chức quân đội, địa thế. Bấy giờ ta mới thắng Chiêm, thanh thế lừng lẫy nên Tống chưa dám đánh. Nhà vua chuyển những chi tiết đó cho Khu-mật viện làm tài liệu. (TB, Hy-Ninh 3, 11– Canh-Tuất 1070).

Công-chúa Thiên-Ninh góp ý:

– Như vậy ta cũng biết rõ tâm-tư Hy-Ninh và Vương An-Thạch: Họ gờm ta. Khi họ đã gờm, thì lúc đánh ta họ phải dùng hết lực.

Trung-Đạo tiếp:

– Điện hạ luận đúng. Tháng giêng niên hiệu Thần-vũ thứ ba (Tống Hy-Ninh thứ tư, Tân-Hợi 1071), Hy-Ninh phục chức cho Tiêu Chú. Nguyên niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ nhì đời vua Thánh-tông (Tống Gia-Hựu thứ năm đời vua Nhân-Tông, Canh-Tý 1060), Tiêu Chú tuân mật chỉ của nhà vua lấn chiếm các trang, động của Đại-Việt, bị vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái mang quân đánh tràn qua. Quân Tống đại bại xin hòa. Vua bà đòi cách chức hết bọn biên thần. Vua Nhân-tông phải giả cách chức bọn biên thần Nam-phương, rồi phong cho chức tước lớn hơn, đổi đi những vùng béo bở hơn. Tháng giêng niên hiệu Thần-vũ thứ ba (Tống Hy-Ninh thứ tư, Tân-Hợi 1072), để chuẩn bị đánh Đại-Việt, Hy-Ninh vội triệu Tiêu Chú về hỏi ý kiến. Tiêu Chú tâu « Trước đây tôi đã ở Ung-châu lâu, tôi biết rằng Giao-chỉ có thể lấy được ». Hy-Ninh cử Chú coi Quế-châu, kiêm luôn Kinh-lược an-phủ-sứ Quảng-Tây. Chú trở về đất cũ, với thái độ hung hăng. Y cho người liên lạc với các chúa khê động Bắc-biên xưa, thanh thế Tống trở thành mạnh. Mỗi hoạt động của ta, Tống đều biết hết. Tháng 11, tin đó về triều, đức Thánh-tông sai động trưởng Quảng-nguyên là Lưu Kỷ đem quân chiếm lại châu Quy-hóa là châu Nùng Tông-Đán theo Tống, nộp cho Tống. Tiêu Chú xin chỉ dụ của triều đình bắt buộc các tri-châu khi thấy có giặc qua địa hạt mình, thì phải đem quân tiếp cứu các khê động. Ai không tuân thì giết. Nhưng vua Tống lại ban chỉ : « Khi báo có giặc, chưa biết thực hư, nhiều ít mà bắt đem quân chống thì sao thắng được, mà đòi trị tội? ». Vì vậy Chú ở hai năm, mà chẳng làm nên cơm cháo gì.(TS 334).

Nhà vua cười:

– Giá như bấy giờ Hy-Ninh thuận cho Chú dùng nghiêm luật, thì chắc y đã tiến quân vào Đại-Việt giữa lúc Dương hậu làm binh biến rồi.

Mọi người đều kinh ngạc về nhận xét của ông vua con.

– Tháng hai niên hiệu Thái-Ninh thứ nhì (Tống Hy-Ninh thứ sáu, Quý-Sửu, 1073), nhà vua triệu Tiêu Chú về bàn sách lược đánh Đại-Việt. Chú tâu rằng sau cuộc binh biến của Dương hậu, tổ chức cai trị của ta vững, binh lực hùng hậu, khó có thể đánh. Hy-Ninh, An-Thạch không vui lòng, cất chức y, cử Thẩm Khởi thay thế. Thẩm Khởi đang lĩnh chức Hình-bộ lang-trung, chân tay của Vương An-Thạch. Thẩm tâu: « Giao-chỉ là đồ hèn hạ, đánh là thắng ». Thẩm Khởi coi Quế-châu, lĩnh Kinh-lược an-phủ-sứ Quảng-Tây, kiêm luôn chức chuyển-vận sứ (coi về lương thảo), tức là toàn quyền về hành-chính, quân-sự vào tháng hai. Khởi nhận mật chỉ rằng : « Phải chuẩn bị binh, lương sẵn sàng để đánh Giao-chỉ. Cần nhất làm cho khéo, cho kín, bằng không Giao-chỉ biết trước, đề phòng thì hỏng việc ». Thẩm Khởi cậy được tín nhiệm nên vừa tới Quảng-Tây, ra mặt khiêu khích ta. Lập tức y tổ chức đường vận chuyển lương thảo, huấn luyện binh sĩ, đặt thêm doanh trại ở châu Dung, Nghi, rồi đem quân đánh Vương-khẩu của ta để dò dẫm vào tháng ba. Không ngờ Khởi ra binh bất thần, với ba vạn quân triều, mà đánh một đồn ba trăm quân khê động của ta lại không thắng, binh sĩ chết hơn vạn. (TB, Hy-Ninh 6, Quý-Sửu 1073).

Tín-Nghĩa vương hỏi công chúa Thiên-Thành:

– Vua bà! Làm thế nào mà ba trăm quân của vua Bà lại chống nổi ba vạn quân Tống?

– Khải hoàng-thúc, không có gì lạ. Nhất cử nhất động của Khởi, Bắc-biên biết hết. Cho nên trên bầu trời các đồn biên phòng lúc nào cũng có chim ưng tuần tiễu. Do đó khi quân Khởi bắt đầu chuyển động, đồn Vương-khẩu đã biết mà đề phòng. Tướng Tống kéo quân tới, thấy đồn binh ta phòng vệ nghiêm mật, y xua quân tấn công ào ạt. Quân trong đồn dùng tên liên châu bắn ra. Binh Tống chết hàng hàng lớp lớp, họ đành rút ra để nhặt xác chết. Giữa lúc đó, ta cho đội voi, hổ từ trong rừng đánh tập hậu. Binh Tống bỏ chạy tán loạn. Ta dùng thú binh đuổi theo tới biên giới rồi mới rút về.

Công chúa đưa mắt cho Trung-Đạo:

– Xin sư bá tiếp tục.

– Binh tướng chết nhiều, mà Thẩm Khởi bắt phu đắp đồn lũy ở châu Dung, Nghi. Dân chúng tức giận nổi loạn, chém giết quan lại. Tháng tư (vẫn 1073) Khởi dấy động binh năm mươi mốt động thuộc Ung-châu để kết thành quân bảo-giáp. Hy-Ninh cực hoan hỉ, cấp thêm lương tiền. Y lại sai tướng vào các khê-động kiểm điểm dân đinh dạy trận đồ, kết thành bảo-ngũ. Về mặt biển, y bắt hết tráng đinh của những thương thuyền luyện tập luyện. Vì sợ tế tác ta biết, y cấm các thuyền buôn không được sang ta (TS.334). Đến đây Khởi tiến thêm một bước là dụ dỗ, áp lực các châu động của ta theo họ. Y làm việc quá ồn ào, trong khi Hy-Ninh ban chỉ cho y phải làm thực kín. Việc này xin để vua bà Bắc-biên tâu trình.

Công-chúa Thiên-Thành tâu:

– Tháng tư năm đó (1073), Tống ban chức tước cho bọn trang động Việt dâng đất theo họ. Nùng Tông Đán được giữ chức Đô-giám Quế-châu, Nùng Trí-Hội được coi châu Quy-hóa. Cả hai được phong tước Cung-bị khố phó sứ. Khởi lại sai người dụ Lưu-Kỷ ở Quảng-nguyên. Nhưng Kỷ không theo. Cuối năm, bọn Nùng Thiện-Mỹ đem châu Ân-tình, và 600 gia thuộc theo Tống. Tống nhận. Thần vội mật tấu về triều. Thái-hậu ban chỉ: Tống không e dè mình, thì mình phải tỏ ra mạnh, chúng mới sợ. Một mặt Bắc-cương truyền lệnh đi khắp các châu động chuẩn bị lương thảo, binh lính để làm lại chuyện cô mẫu Bình-Dương đã làm năm Chương-thánh Gia-khánh (Canh-Tý, 1060). Quả nhiên tin đồn ra, tế tác Tống vội tấu về Biện-kinh, làm cho Hy-Ninh đế lo sợ hồi hộp. Một mặt Thái-hậu sai sứ sang triều Tống cáo những việc làm của Khởi và đặt vấn đề: Nếu quả Khởi tuân chỉ của triều đình, thì Đại-Việt xin đem quân qua đòi lại. Còn như tự ý Khởi, thì xin trị tội y cho an lòng các nước Nam biên. Hy-Ninh thấy Khởi làm việc lộ liễu quá rồi, sợ Đại-Việt tiến binh, trong khi họ chưa chuẩn bị xong. Hy-Ninh vội họp đại thần nghị sự.

Thái-úy Hoàng Kiện hỏi Trung-Đạo:

– Xin sư thúc tâu tiếp về tình hình Tống triều.

– Lúc ấy anh em thần đang ở Biện-kinh. Nghe tin này, thần đem vàng bạc đút lót cho bọn văn quan chống Vương An-Thạch như Hàn Kỳ, Tôn Giác, Lã Công-Trứ, Trình Hiệu, Lý Thường, Tô Thức, Tô Triệt... cung cấp tin tức cho họ. Họ xúm váo hạch tội Vương An-Thạch dung dưỡng Thẩm Khởi. Anh em thần lại dùng chim ưng báo tin cho sứ đoàn ta ở Liêu, Tây-hạ. Trần Thanh-Hợp cùng Tuyết-sơn thập anh khích Liêu đòi Tống cắt đất vùng Phần-thủy-lĩnh cho. Động-đình thất kiệt xui Hạ đem quân vào Tây thùy lấn chiếm hai châu. Bỗng chốc Tống thấy Bắc, Tây, Nam cùng chuẩn bị đánh mình. Vương An-Thạch gỡ sức ép của Liêu bằng cách tâu Hy-Ninh cắt đất, như họ đòi. Phía Tây chịu giảng hòa. Còn phía Nam thì chịu nhún bằng cách bãi Thẩm Khởi. Lệnh bãi ban ra ngày 1 tháng ba, niên hiệu Thái-Ninh thứ ba (Tống Hy-Ninh thứ 7, Giáp-Dần 1074), và cử Lưu Di thay Khởi. Anh em thần lại cung cấp tin tức Nam thùy cho các văn thần Tống. Họ xúm vào đàn hạch Vương An-Thạch rằng chỉ vì ham gây sự ở Nam thùy, mà triều đình bị nhục ở Nam, mất đất ở Bắc, mất hai châu ở Tây. Hy-Ninh đế truyền cho Vương An-Thạch rút lui, lấy đàn em Thạch là Lã Huệ-Khanh thay thế vào ngày 6 tháng tư cùng năm (1074). Còn Lưu Di làm những gì ở Nam biên từ hồi đó đến giờ, xin để vua bà Bắc-biên tâu trình.

– Tâu Thái-hậu, tâu Hoàng-thượng.

Công-chúa Thiên-Thành đứng dậy trình bầy: Lưu Di vẫn theo đường lối của Thẩm Khởi. Y tiếp tục sai quan lại vào các khê động kiểm điểm thổ-dân, bắt tập trận. Mặt thủy y đóng chiến thuyền, dùng thuyền muối luyện thủy quân. Tháng giêng năm nay thần tâu chư sự về triều (Đại-Việt Thái-Ninh năm thứ tư, Tống Hy-Ninh năm thứ 8, Ất-Mão 1075). Thái hậu ban chỉ: Như vậy đủ thấy rõ chính Hy-Ninh chuẩn bị đánh ta chứ không phải bọn biên thần. Người sai sứ sang Tống đòi phải trả bọn Nùng Thiện-Mỹ, mục đích dò thái độ của Hy-Ninh. Tống không trả lời. Thái-hậu lại đòi đất và dân động Ân-tình, Tống không bằng lòng trả. Như vậy rõ ràng Tống chuẩn bị đánh ta đã xong, nên mới có thái độ cứng rắn. Để tỏ ý sẵn sàng gây chiến với ta, tháng hai vừa qua, Hy-Ninh lại triệu Vương An-Thạch về triều. Vừa về tới triều, An-Thạch sai sứ sang giảng hòa với Liêu, cắt thêm 700 dặm vùng Hà-đông dâng cho Liêu để an mặt Bắc. (TS 334).

Linh-Nhân hoàng thái hậu đứng dậy, nét mặt bà cực kỳ nghiêm trọng, đôi mắt sắc như dao cau lướt nhìn triều đình một lượt, rồi ban chỉ:

– Tống chuẩn bị đánh ta từ lâu, nay mọi sự cụ bị rồi. Cái ngày quân Tống nhập Việt thực không xa. Vậy ý kiến chư khanh thế nào, xin cứ thành thực trình bầy?

Thái-sư Lý Đạo-Thành cung tay:

– Thần xin tâu: Sách Mạnh-Tử có câu : « Ta hồ binh đao chi sự, thánh nhân bất đắc dĩ dụng chi ».

Nghĩa là : Than ôi! Binh đao là những thứ hung ác, bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến. Các chúa thánh như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang đâu có dùng chiến tranh, mà vẫn an được thiên hạ? Đối với Chiêm, ta đem quân đánh họ, nên nay họ cất quân báo thù, mai họ cất quân đòi đất, cái khốn khổ này thực không biết bao giờ mới hết. Còn Trung-quốc là gốc văn minh thiên hạ, trên cao có thiên-tử trị vì, những sắc dân Di, Địch phải hướng về mà quy phục. Xưa kia vua Trưng cùng 162 tướng, lập lên Lĩnh-Nam mạnh biết là chừng nào! Nhưng chỉ vì cứng quá mà bị gẫy. Giá như hồi đó, ta hậu lễ, hạ thể tiến cống xưng thần với Hán, có phải Lĩnh-Nam yên không? Chỉ vì chư tướng hồi đó quá tự ái, nhất định chống Hán mà đi đến nước mất, tộc Việt bị diệt. Vậy, thần nghĩ, ta nên cử một văn thần giỏi biện thuyết, mang châu ngọc sang Biện-kinh nhún nhường xin Tống bãi binh. Như vậy tránh được chiến tranh.

Lập tức trong khoang thuyền cùng bật lên một loạt tiếng « không ». Lý thái sư rùng mình kinh hãi, ngơ ngác nhìn cử tọa.

Một thiếu-phụ ngồi trong hàng võ tướng nữ đứng dậy cung tay:

– Tâu thái-hậu, tâu hoàng-thượng, thần Trần Ngọc-Liên tước phong nhất phẩm phu nhân, vợ của Đô-thống Trần Ninh thống lĩnh hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải, xin được phép đối thoại với Thái-sư ít điều.

– Tất cả những vị được mời hội hôm nay đều có quyền thảo luận, tâu trình, không phân biệt chức tước, nam nữ, văn võ. Phu-nhân cứ hỏi.

Linh-Nhân hoàng thái hậu phân giải: Huống chi phu nhân là nữ tướng phó thống lĩnh hiệu Đằng-hải.

– Thưa thái-sư. Thái-sư dạy rằng vì ta đem quân đánh Chiêm, mới khiến Chiêm đem quân báo thù, thực không đúng. Kể từ đời đức Thái-tổ nhà ta lên ngối, lúc nào người cũng muốn các vùng tộc Việt sống hòa hoãn với nhau trong thế tương thân, tương ái như môi với răng. Nhưng chính các vua Chiêm thuộc gốc Mã-lị-á cuồng bạo đem quân xâm lấn biên cãnh, cho nên người mới phái đức Thái-tông đem quâo chinh phạt. Như vậy ta đánh Chiêm đúng như Mạnh-Tử nói « Thánh nhân bất đắc dĩ dụng chi ».

Cử tọa vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, trong đó có cả Thái-Ninh hoàng đế. Ngọc-Liên tiếp:

– Còn như thái-sư dạy: Trung-quốc là gốc văn minh thiên hạ, các sức dân Di, Địch phải qui phục, lại càng không đúng. Từ cổ, văn minh tộc Hoa, tộc Việt có hai vẻ rực rỡ khác nhau. Nếu tộc Hoa giỏi về săn bắn, thì tộc Việt giỏi về canh nông. Tộc Hoa tìm ra lý âm dương, ngũ hành, thì tộc Việt lại đi tiên phong trong thuật luyện kim. Bằng cớ, ta đúc được trống đồng từ khi tộc Hoa chưa biết dùng kim loại làm vũ khí. Về y-học, tộc Hoa soạn ra Nội-kinh thì tộc Việt soạn ra Nạn-kinh. Một đặc thái khác là tộc Việt đi tiên phong trong khoa thiên-văn, lịch-số; đời vua Hùng ta soạn ra lịch, chép vào lưng con rùa đem tặng Trung-quốc. Vua Nghiêu truyền chép lại gọi là Quy-lịch; từ đấy Trung-quốc nghiên cứu thêm về lịch số, nhưng căn bản vẫn từ Qui lịch.

Tất cả cử tọa đều gật đầu tỏ vẻ tán thành. Ngọc-Liên vẫn khoan thai:

– Vấn đề thái-sư dạy rằng các dân Di, Địch phải quy phục Trung-quốc, thì tiểu nữ không phục. Những điều mà Thái-sư nói đều phát xuất từ kinh Thư, mà kinh Thư do văn nhân cổ thời viết ra, chứ đâu phải trời đất viết? Nếu như bây giờ tiểu nữ cũng viết bộ kinh Việt, rồi nói rằng Việt là gốc văn minh thiên hạ, các sắc dân khác phải cúi đầu tuân phục thì thái-sư nghĩ sao? Thái-sư viện dẫn cái thất bại của anh hùng Linh-Nam là do không biết nhún mình với Hán. Điều này hoàn toàn sai. Bởi sử sách còn ghi: Vì Lĩnh-Nam tổ chức cai trị hoàn hảo, vua được đưa lên do lối cử hiền, chứ không do cha truyền con nối. Dân Hán nổi lên khắp nơi, muốn thay đổi lối cai trị sao cho giống Lĩnh-Nam. Chính vì vậy, bằng mọi giá Quang-Vũ phải diệt Lĩnh-Nam. Giả như hồi đó vua Trưng có nhún đến mấy Hán cũng phải đánh Lĩnh-Nam để tự tồn.

Cử tọa đều gật đầu công nhận lý luận của Ngọc-Liên. Từ trước đến giờ triều đình đều nghe đồn rằng trong bốn thiếu nữ Việt kiều kết hôn với bốn trong Long-biên ngũ hùng, thì Trần Ngọc-Liên là người có cái học rất uyên thâm, nhưng ít ai tin. Bây giờ giữa buổi triều hội, nàng dùng sử sách bẻ gẫy tất cả lý luận của một đại nho như thái-sư Lý Đạo-Thành, khiến mọi người đều khâm phục.

Ngọc-Liên đọc được trên nét mặt mọi người sự đồng ý với mình. Nàng thêm can đảm, nói tiếp:

– Kinh Thư gọi các dân tộc phía Đông Trung-quốc là Di, phía Nam là man, phía Tây là Nhung, phía Bắc là địch. Khi viết tên các nước xung quanh, thì họ không có bộ trùng, thì cũng bi thú, bộ khuyển. Thế sao Liêu là nước thuộc Bắc địch, mà họ bắt Tống tiến cống xưng thần, họ còn tiến sâu vào chiếm mất một phần ba lãnh thổ Trung-quốc?

Nàng đưa mắt nhìn nhà vua:

– Tâu bệ hạ. Thần nghĩ không những mình nên đánh lại Tống, mà còn nên hợp với Liêu, Hạ bắt Tống tiến cống xưng thần. Hàng năm bệ-hạ gửi sứ sang phong cho Hy-Ninh là Tống-vương nữa.

Đám võ quan nghe Ngọc-Liên tâu, họ cùng cười ồ lên.

Trung-Thành vương tâu:

– Lời của cô em dâu thần khí quá đáng, nhưng không phải là không có lý. Tâu thái-hậu, nếu như dùng lễ mà khỏi được chiến tranh, thì ta nên nghe lời thái-sư. Nhưng đây Tống chủ trương chiếm các nước Nam phương làm quận huyện để lấy nhân lực, vật lực đánh Liêu, thì ta có nhún nhường cũng vô ích.

Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên tâu:

– Tốt hơn hết, ngay bây giờ ta chỉnh bị binh mã, chuẩn bị thế thủ cho chắc. Như vậy Tống kéo quân sang, đánh tỉa từng đồn thì sẽ mất thời gian mấy năm. Trong khi đó, ta lại sai sứ sang vận động với Tây-hạ, Liêu đánh vào mặt Bắc, mặt Tây, như thế ắt Tống phải rút lui.

Đại tư-mã Thường-Kiệt tâu:

– Khi Tống đánh ta, ắt họ phải đem đại quân, ít ra là ba mươi vạn quân triều, hai mươi vạn bảo-giáp, năm mươi vạn dân binh dân phu. Với một lực lượng như thế mà ta đóng đồn cố thủ thì họ sẵn sàng chia quân ra đánh các đồn. Việc phòng ngự e khó thực hiện được.

Triều đình phân vân bàn lui, bàn tới, vẫn chưa tìm được quốc sách giữ nước. Linh-Nhân hoàng thái hậu vẫy tay cho cử tọa im lặng, rồi đập tay xuống án thư. Vì nội công của Hậïu là nội công âm nhu niên tiếng động vang đi khá xa. Hậu tuyên chỉ:

-– Cô-phụ này nghĩ: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng tìm giặc mà đánh trước! Tống muốn chiến tranh, thì được chiến tranh. Ta há sợ Tống sao?

Các võ tướng vỗ tay hoan hô, đầu cúi xuống tỏ vẻ khâm phục ý kiến của Thái-hậu. Bất giác họ cùng đưa mắt liếc trộm Linh-Nhân hoàng thái hậu. Họ chỉ thấy ở bà một thiếu phụ trên ba chục tuổi, nhan sắc dễm lệ, mà không ngờ hùng tâm có thể làm rung động giang sơn nhà Tống.

– Cô phụ quyết định: Cứ tình hình này, Tống xuất binh ra được cũng phải hơn năm nữa. Trong khi ta có thể ra quân trong vòng ba tháng. Về binh pháp, ai ra tay trước thì nắm được thắng lợi. Bây giờ ta vượt biên đánh sang, cướp lương thảo, tiêu diệt các đạo quân triều, bảo-binh, dân binh, hủy thành trì, rồi rút về. Chiến tranh sẽ xẩy ra trên đất Tống. Dân Tống bị hại; còn hơn ngồi chờ họ đem quân vào đất mình, dân mình bị cái vạ chiến tranh. Sau khi ta thành công, Tống không còn đủ sức đánh sang ta nữa. Mà dù họ có cố đánh, thì tinh lực không còn đầy đủ, ta không sợ.

Hình-bộ thượng thư Hoàng Khắc-Dụng tâu:

– Tâu thái-hậu, việc ta vượt biên bất thình lình, ắt thành công rồi. Nếu như Tống thấy mất thể diện quá, họ đem quân từ mặt Tây, mặt Bắc về Nam đánh ta thì ta khó mà đương nổi.

Công-chúa Thiên-Ninh vẫy tay:

– Hoàng thượng-thư tính xa như vậy là phải. Nhưng nếu như Tống bại rồi mà còn giữ ý định đánh ta, thì phải điều quân từ Bắc, Tây về Nam. Bấy giờ hai mặt này Tống không còn binh, ta không cần xui, thì Liêu, Hạ cũng thừa cơ đem quân đánh Tống. Tống bị ba mặt giáp công, sẽ phải đánh ta chớp nhoáng, trong khi ta áp dụng chính sách phòng ngự của Lý đại đô đốc, kéo dài cuộc chiến. Tự nhiên Tống sẽ phải rút quân. Ta nhân đó phản công như thời vua Lê. Dĩ nhiên, sau đó Tống quá mất thể diện, ta sai sứ sang hậu lễ, lời nhún nhường; tự ái được xoa dịu, ắt Tống bỏ ý định Nam xâm. Thế là tự hậu, khi bàn đến Nam xâm, từ vua tới quan Tống đều kinh hồn táng đởm. Mà ví dù họ có muốn đánh nữa, thì binh lính không còn, kho đụn trống rỗng, rồi cũng phải ngồi ôm hận mà thôi.

Sau khi nghị luận một lát, triều đình Đại-Việt cùng đồng ý đánh sang Tống. Việc tổng chỉ huy trao cho đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt.

Ghi chú ,

Từ xưa đến giờ, tất cả sử sách cổ của Đại-Việt như ĐVSKTT, VSL, KĐVSTGCM, đều chép là Lý Thường-Kiệt với Tôn Đản đánh Tống. Không ai chối cãi rằng chiến công đánh Ung, Liêm, cùng cuộc kháng Tống là của Tôn Đản, Lý Thường-Kiệt, Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương, Lý Kế-Nguyên. Nhưng các sử gia cổ bỏ quên không chép rõ rằng người quyết định đánh hay hòa, ngồi chờ giặc hay ra tay trước, cùng tổ chức cai trị giữ vững hậu phương, tiếp vận lương thảo, bổ xung tổn thất v.v. là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Hoặc có người cho rằng chính vua Nhân-tông quyết định, càng hàm hồ hơn nữa. Bởi bấy giờ nhà vua mới mười tuổi, chưa đủ trí khôn, kiến thức để có thể đưa ra quyết định. Linh-Nhân hoàng thái hậu đang nắm tất cả mọi quyền hành. Khi viết những giòng này, tôi theo các tư liệu sau: Một là gia phả của hai giòng họ Lý tại Hãn quốc, vốn là miêu duệ của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Hai là bộ Tống-sử của Thoát-Thoát, Tục tư-trị thông giám trường biên của Lý Đào. Ba là bộ Quách-thị Nam chinh, Triệu thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, một loại nhật ký hành quân của hai tướng Tống đem quân đánh Đại-Việt là Quách Quỳ, Triệu Tiết. Bốn là bộ Tống triều công thần bi ký, chép tất cả văn bia, mộ chí của những công thần nhà Tống, trong tới mười tám người có tham dự vào mặt trận Đại-Việt. Năm là những cuốn phổ, bia đá tại đền thờ các anh hùng đời Lý: Lý Thánh-tông, Linh-nhân hoàng thái hậu, Lý Nhân-Tông, Lý Thường-Kiệt, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, công chúa Thiên-Ninh, Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt.

Chỉ độc giả Nam-quốc sơn hà mới biết tận tường về trang sử huy hoàng nhất Đại-Việt do ai quyết định mà thôi.

Đại-tư-mã Thường-Kiệt hỏi Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản Ngô Cẩm-Thi:

– Thưa nhị vị sư thúc, không hiểu tại sao trong buổi họp quan trọng như thế này, mà sư thúc lại im lặng, không lên tiếng chỉ dạy cho hậu bối?

Từ lúc nhập chiến thuyền triều hội, Tôn Đản, Cẩm-Thi được xếp ngồi cạnh nhà vua, tức ngôi vị cao nhất. Hai vị im lặng hoàn toàn. Bây giờ nghe sư điệt hỏi, ông đáp:

– Tre già, măng mọc. Ta ngồi im để nghe những cây măng cứng hơn tre già. Ta thấy có góp ý chưa chắc đã hơn bọn trẻ.

Ông đưa mắt nhìn nhà vua, rồi tiếp:

– Tâu Thái-hậu, tâu Hoàng-thượng. Phàm ra quân phải có chính nghĩa. Đối với dân Việt, ta đã có chính nghĩa rồi. Chính nghĩa đó là Tống chuẩn bị đánh ta, thì ta đánh trước. Nhưng đối với sĩ dân Tống thì chính nghĩa của ta là gì? Xin thái-hậu ban chỉ cho rõ. Từ đó, Đại-tư-mã Thường-Kiệt mới giới hạn cho các tướng là ta tiến đến đâu thì ngừng? Những thành nào nên phá? Những lực lượng nào của Tống nên diệt. Những kho lương nào nên cướp, hay chở về?

Không nghĩ ngợi, Hoàng thái hậu ban chỉ ngay:

– Nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Sở dĩ Tống muốn đem quân chiếm Đại-Việt vì Tống mạnh. Tống mạnh là nhờ Tân-pháp của Vương A-an-Thạch. Một số lớn đại thần, sĩ dân cực lực chống y, đến nỗi Hy-Ninh phải tạm cất chức y. Trong triều, ngoài dân cái nạn chia rẽ đang như ngọn lửa đốt cháy căn nhà của họ Triệu. Nay vì tình hình nghiêm trọng, Thạch mới được gọi về triều nắm quyền, thì cái ngọn lửa chống đối càng bốc cao. Ta nhân đó đổ thêm dầu vào cho ngọn lửa bốc cao để đốt cháy vĩnh viễn Tân-pháp của y. Tân-pháp không còn, Tống sẽ trở lại với những gì là Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang xưa, thì không bao giờ có thể đủ sức đánh ta nữa. Muốn đổ thêm dầu vào, ta phải làm như cuộc xuất quân này là do Tân-pháp của Thạch gây ra. Vậy khi tiến quân, ta phải làm một tờ hịch, in ra thực nhiều, rồi công bố cho sĩ dân Tống. Nội dung hịch nói rằng Tân-pháp làm khổ dân. Chúng ta ra quân chỉ với mục đích cứu dân vùng Lĩnh-Nam, vốn gốc Việt. Đấy là chính nghĩa ra quân của ta. Vậy ta chỉ tiến đến chân núi Ngũ-lĩnh rồi rút về.

Thái-hậu ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Nhưng sự thực ta ra quân là tự vệ kia mà! Tự vệ bằng cách tiên hạ thủ vi cường. Ta phải thực hiện được ba điều. Một là chiếm lại các trang động đã theo Tống, hay bị Tống lấn. Hai là đánh tan hết hệ thống Tân-pháp đã tạo ra như Thanh-miêu, Trợ-dịch, Thủy-lợi, Quân-điền, Bảo-giáp, Bảo-mã. Nghĩa là bắt hết ngựa, đánh tan các đội Bảo-giáp, lấy hết của lương tiền trong công khố mà Tống tích lũy để chuẩn bị đánh ta. Ta đem của ấy chia cho dân chúng. Ba là những thành trì, xưởng chế vũ khí, xưởng đóng chiến huyền, quân cảng, cầu đường... nhất nhất phá sạch.

Hậu đưa mắt nhìn Tôn Đản, Cẩm-Thi:

– Nhưng có ba điều không nên và không thể phạm đến. Một là nghiêm lệnh chư quân, không được xâm phạm đến tài sản, tính mệnh dân chúng. Hai là tuyệt đối cấm đốt phá các cơ sở tôn giáo như đền thờ, chùa am, miếu mạo, nhà từ, mồ mả của dân chúng. Ba là đối với tù binh, hàng binh, nên cho ăn uống tử tế, rồi đem về Đại-Việt. Ai phạm vào một trong ba điều đó, thì đem ra trước dân chúng xử tử, bêu đầu làm hiệu lệnh. Lệnh xử tử còn gửi về làng xã, để truất công điền mà làng cấp cho chinh nhân.

Hậu đứng dậy hướng Tô Đản, Cẩm-Thi:

– Thưa nhị vị sư thúc! Trong Thuận-Thiên thập hùng, thì Quốc-phụ đã băng hà; Cổ-loa quốc công Tạ Sơn nay tuổi cao sức yếu, mấy năm qua bệnh tật liên miên; Quốc-mẫu, thái công chúa Bình-Dương, Kinh-Nam vương, U-bon vương ngao du sơn thủy không lý đến thế sự; các phò mã Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm đã qui tiên; nay chỉ còn mình sư thúc với công-chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên. Vậy cô-phụ này lớn mật xin thỉnh sư thúc, sư thẩm với Côi-sơn công chúa tham dự vào trận đánh này.

Tôn Đản định từ chối, thì Cẩm-Thi đã trả lời:

– Quốc-gia hưng vong, thất-phu hữu trách. Nay cuộc tiến quân phòng thủ này cưc kỳ trọng đại, mà thái-hậu đã ban chỉ, thì chúng tôi đâu dám từ nan?

Bà hỏi công chúa Côi-sơn:

– Thanh-Nguyên, em nghĩ sao?

– Em chả có quyền nghĩ hay không nghĩ mà phạm quốc pháp.

Côi-sơn công chúa giảng giải: Trượng-phu em hiện lĩnh chức đại tướng quân, tước quốc-công. Còn em là Côi-sơn công chúa kia mà! Đã là công-chúa, quốc-công, khi Thái-hậu ban chỉ thì chỉ việc hoan-hỉ tuân thủ mà thôi.

Cử tọa vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Thái-hậu ban chỉ tiếp:

– Bây giờ cô-phụ này xin mời chư vị sư thúc sư thẩm, sư huynh Thường-Kiệt, nhị vị hoàng thúc Hoằng-Chân, Chiêu-Văn điều quân.

Tôn Đản hỏi Hoàng Kiện:

– Phò-mã! Phò-mã là Binh-bộ thượng thư. Phò-mã cho biết tình hình tướng-sĩ của ta ra sao? Trước hết là quân có thể tham chiến bên Tống. Sau tới quân phòng thủ.

Ghi chú.

Trong suốt cuộc đời, chưa bao giờ Tôn Đản nhận một chức, một tước, lĩnh một đấu gạo, một đồng tiền của Lý triều. Thế nhưng trong khi đối đáp với đệ tử, con cháu vì công vụ, ông luôn trịnh trọng gọi họ bằng chức tước.

– Trình sư-phụ.

Phò-mã Hoàng Kiện lễ phép cung tay hướng Tôn Đản: Quân ta hiện chia làm hai loại. Một là quân triều, hai là quân Bắc-biên. Quân triều chủ lực chính gồm mười hai hiệu Thiên-tử binh. Mỗi hiệu phân ra hai đạo tả, hữu. Quân số mỗi đạo năm nghìn người. Trong một đạo có ba sư bộ, một sư kỵ, một sư trợ. Mỗi sư trợ có một lữ Thần-ưng để thông tin, chiến đấu; một lữ nỏ liên châu; một lữ Thạch-xa tức xe bắn đá. Đấy là bộ-binh. Về kị binh, thì có hiệu Phù-đổng gồm hơn vạn ngựa. Về thủy-quân, ta rất mạnh, gồm bốn hạm đội là Động-đình, Âu-cơ, Thần-phù, Bạch-đằng. Một hiệu trợ chiến, trong hiệu này có một đạo Thạch-xa, một đạo nỏ liên châu, đội Thần-tiễn Long-biên, đội Thủy-thần Giao-long. Về quân Bắc-biên thì có ba đạo bộ binh, một đạo kị-binh, một đạo thú.

Phò-mã hỏi phò-mã Thân Cảnh-Long:

– Anh trình sư phụ em về quân số đạo binh thú, thực chi tiết.

Ghi chú,

Phò-mã Thân Cảnh-Long kết hôn với công chúa Thiên-Thành. Phò-mã Hoàng Kiện kết hôn với công chúa Động-Thiên. Công chúa Thiên-Thành là chị công chúa Động-Thiên vì vậy phò-mã Hoàng Kiện mới gọi phò-mã Thân Cảnh-Long bằng anh.

Phò-mã Thân Cảnh-Long đứng dậy:

– Trình sư thúc, đạo binh thú có tám lữ. Lữ tượng, hổ, báo, ngao, ưng, hầu, mỗi lữ từ năm trăm tới một nghìn con. Lữ phong, xà có mười xe.

Tôn Đản gật đầu rồi hỏi tiếp:

– Bây giờ tới quân phòng thủ.

– Thưa sư phụ! Quân phòng thủ thì ta có mười hai hiệu của mười hai trấn hay phủ. Mỗi phủ, trấn còn có một thủy-đội. Còn các làng xã thì có đội hoàng-nam. Tóm lại, khi quân triều phải chinh chiến xa, lỡ giặc tới thì quân trấn, phủ cỏ thể tự vệ. Khi giặc tới xã nào, thì mỗi xã là một đồn binh, Hoàng-nam trấn thủ bên trong.

Tôn Đản đưa mắt nhìn Thường-Kiệt:

– Đại-tư-mã điều quân.

Thường-Kiệt cầm kiếm lệnh để lên trước mặt, rồi ban lệnh:

– Trong cuộc chiến này, ta chia lực lượng làm hai. Một là lực lượng xung kích đánh sang Tống. Hai là lực lượng phòng thủ. Lực lượng đánh Tống bao gồm toàn thể quân triều, quân Bắc-biên. Lực lượng phòng thủ gồm quân các trấn, hoàng-nam các xã, và thổ-binh các trang động. Việc phòng thủ thì do Binh-bộ thượng-thư, Phụ-quốc thái-úy Hoàng Kiện thống lĩnh.

Phò-mã Hoàng Kiện đứng lên nhận lệnh.

– Phòng thủ từ Thanh-hóa cho đến Hải-vân thì do hoàng-tử Chiêu-Văn làm chánh tướng. Phó thì do Trấn-viễn thượng-tướng quân Gia-viễn hầu Dư Phi đảm trách. Phòng thủ từ Thanh-hóa đến Kinh-bắc thì do hoàng-tử Hoằng-Chân đảm trách, phó thì do Trấn-Bắc thượng-tướng quân Đinh-sơn hầu Nguyễn Căn đảm trách.

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương , cùng hai tướng Dư Phi, Nguyễn Căn đứng dậy nhận lệnh.

– Từ ngày Nam chinh về, ta mang theo các hào kiệt Trung-nguyên đầu hàng. Ta trọng đãi như thượng khách, lại đem gia quyến từ Tống sang, cấp đất cho ở Tây-hồ. Năm trước ta đã nhờ họ theo sứ đoàn sang Liêu, sang Hạ. Về lòng dạ họ tỏ ra tận tâm, về tài trí họ tỏ ra siêu việt. Tuyết-sơn thập anh đã kết bạn với Long-biên ngũ hùng. Động-đình thất kiệt đã kết bạn với Tây-hồ thất kiệt. Vậy nay ta cử Động-đình thất kiệt theo giúp hoàng tử Chiêu-Văn. Lại cho Tuyết-sơn thập anh theo giúp Tôn sư thúc.

Ghi chú,

Về chức vụ (fonction) thì Thường-Kiệt là Đại-tư-mã, tức tổng tư lệnh, cao hơn chức Thượng-tướng quân của hai vương nhiều. Nhưng về tước thì ông chỉ là công, thấp hơn Hoằng-Chân, Chiêu-Văn. Vì vậy ông không thể « hạ lệnh» cho chư vương; mà ông lấy cái nghĩa: ông là con nuôi Khai-Quốc vương, lớn tuổi hơn nên làm anh. Ông có quyền « hạ lệnh » cho em, nên ông gọi hai vương là hoàng-tử.

Ông ban lệnh tiếp:

– Từ trước đến nay, có năm đô-thống, cùng năm phu nhân, văn mô, vũ-lược, võ công cao cường, xuất thân đệ tử danh gia đó là Thần-vũ thập anh; mười vị hằng ước mong được đem tài ra giúp nước, mà chưa có dịp. Mười vị đang giữ trọng trách chỉ-huy ngự-lâm quân cùng thị-vệ. Vậy năm sư đệ, sư-muội hãy trao nhiệm vũ đó cho người khác, để tham dự vào cuộc hành quân này.

Thần-vũ thập anh đứng dậy nhận lệnh.

Từ trước đến nay, triều-đình cũng như võ-lâm chỉ biết Thập-anh theo học Đông-Thiên, sau được Mộc-tồn hòa thượng thu làm đệ tử. Mà Mộc-tồn hoà thượng là sư huynh của Đại-từ Liên-hoa hòa thượng (Viên-Chiếu). Trong khi Đại-từ liên hoa là bản sư của Linh-Nhân hoàng thái hậu với Long-biên ngũ hùng. Thập-anh có đại công trong việc dẹp loan Dương gia... vì những liên hệ đó, nên thái-hậu luôn gọi mười người là sư huynh, sư đệ. Bây giờ mọi người thấy Thường-Kiệt gọi Thập-anh là sư-đệ, sư-muội, chứng tỏ ông với Mộc-tồn hòa thượng có liên hệ môn phái. Mà Mộc-tồn hòa thượng phải là sư đệ của thân phụ Thường-Kiệt, đương nhiên ngài thuộc phái Đông-a mới phải. Hoặc giả hoà-thượng là sư đệ của tiên-nương Bảo-Hòa, thì ngài lại thuộc phái Tản-viên. Thế sao võ công của Thập-anh lại thuộc phái Sài-sơn? Không ai đoán ra tông tích ngài!

Thường-Kiệt tiếp:

– Vậy Lâm-môn thượng tướng quân, Yên-phong hầu Lý Thường-Hiến thay Đô-thống Hùng Nhân, Hùng Nghĩa làm Tổng-lĩnh Ngự-lâm quân. Công chúa Động-Thiên thay đô-thống Hùng Lễ, Hùng Trí thủ Hoàng-thành. Chức điện-súy trước do sư-đệ Hùng Tín chỉ-huy, nay cũng do công chúa Động-Thiên đảm trách.

Công-chúa Động-Thiên, Thường-Hiến đứng dậy nhận lệnh.

Thường-Kiệt hỏi thượng-thư bộ hộ là Mai Đình:

– Xin thượng thư cho biết tình hình lương thảo, quân dụng của ta.

Mai Đình đáp:

– Trình nguyên-soái từ hồi Nam-chinh đến giờ vấn đề lương thảo được phân ra như sau: Thu thuế, quản trị công nho, mua quốc dụng, chi tiêu trên toàn quốc thì thiểm bộ đảm trách. Nhưng mua sắm quân dụng, tích trữ lương thảo dùng vào việc binh, thì do công chúa Thiên-Ninh.

Ghi chú,

Như vậy nhiệm vụ của Mai Đình tương đương với ngày nay là bộ Tài-chánh, còn nhiệm vụ của công-chúa Thiên-Ninh giống như Tổng-cục trưởng tổng cục Tiếp-vận.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:

– Bà-chúa-kho! Thế nào, lương thảo ra sao?

Công-chúa Thiên-Ninh mở một tập sách dày ra, rồi tâu:

– Tâu thái-hậu, hiện lương thảo của ta đủ để nuôi toàn quân trong ba năm. Vũ khí như đao, kiếm, kích, lao, cung, tên, y phục, thuốc men có có thể trang bị cho hai mươi vạn quân. Xưởng đóng chiến thuyền ở Sơn-Nam hiện đã đóng xong ba trăm chiếc dùng bổ xung cho các chiến thuyền tổn thất trong chiến tranh.

Thường-Kiệt hướng vào chư tướng:

– Lương thực đã cụ bị. Ta yên tâm. Bây giờ đến lực lượng đánh Tống. Ta đánh Tống bằng hai đường tiến quân. Một là đường bộ, hai là đường thủy. Đường thủy lực lượng bao gồm bốn hạm đội, bẩy hiệu Thiên-tử binh của Tây-hồ thất kiệt, sẽ vượt biển đánh vào Khâm-châu, Liêm-châu, sau đó tiến về Ung-châu. Đây là đạo kỳ binh. Đường tiến quân này bản soái thân chỉ huy.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Hai là tiến quân trên bộ. Quân trên bộ sẽ đánh tràn qua biên giới, rồi hướng về Ung-châu. Quân trên bộ gồm toàn thể quân Bắc-biên, năm hiệu Thiên-tử binh của Long-biên ngũ hùng.

Ông hướng vào Tôn Đản:

– Quân triều, quân Bắc-biên rất phức tạp. Phải có một người mà uy tín trùm Đại-Việt mới điều khiển nổi. Vậy theo điệt nhi nghĩ ngoài sư thúc, sư thẩm không ai có thể thống lĩnh.

Tôn Đản đứng dậy cung tay:

– Xin tuân lệnh Nguyên-soái.

Uy tín Tôn Đản cực lớn. Từ xưa đến giờ ông bà đối với Thường-Kiệt như đối với con ruột, nay ông nói « xin tuân lệnh nguyên soái» là nói đúng theo nghi lễ. Nhưng cũng gây cho chư tướng bật cười, rồi vỗ tay hoan hô.

Thường-Kiệt lại hướng Côi-sơn tam anh:

– Ba sư-bá từng ở bên Tống lâu. Xin ba sư bá cho những lời dạy dỗ.

Trần Bảo-Dân xua tay:

– Nhị sư bá chỉ biết đánh đàn, thổi tiêu, chứ có biết gì về quân sự đâu. Biết việc quân, họa có tam sư bá. Vì người từng là tư mã Kinh-châu, từng là Tả-kim ngô thượng tướng quân của Tống.

Trần Trung-Đạo đứng dậy phát biểu:

– Lưu Di đóng tổng hành doanh ở Quế-châu. Hiện Tống đang ở thời bình, chưa thiết lập ngựa chạy chạm, tức ngựa Lưu-tinh. Như vậy đường đi ngựa thường đưa tin từ biên giới Tống-Việt đến Quế-châu mất nửa tháng. Từ Quế-châu tới Biện-kinh mất một tháng. Ví thử ta đánh các trại biên giới; ít ra hai ngày sau bọn biên thần mới gửi tin tức về Quế-châu. Lưu Di vốn tính cẩn thận, y chờ vài ngày nữa để có tin chính xác rồi mới gửi tấu chương về. Như vậy kể từ lúc ta đánh sang, phải mất ít nhất một tháng hai mươi ngày triều Tống mới biết.

Thường-Kiệt hướng Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Xin thái-hậu ban chỉ dụ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu sai cung-nga bưng ba chén sâm thang lại cho Tôn Đản, Cẩm-Thi và Thường-Kiệt. Ba người tạ ơn uống xong, thái-hậu ban chỉ:

– Tuy ta ra quân bất thần, hành sự cực kỳ bí mật, thần tốc nhưng cũng phải lợi dụng ba điều. Một là tin tức bên Tống, cùng phản ứng của họ chậm, ta đánh thực mau, hành sự thực mau, không cho viện binh đủ thời giờ cứu ứng. Hai là, ta lợi dụng những đụng chạm ở biên giới gần đây, để khi ta tấn-công thì Lưu Di, Tống triều tưởng đó cũng chỉ là đụng chạm nhỏ, không cần tiếp cứu. Ta kéo dài thêm thời gian cứu binh của họ. Đến khi họ biết sự thực thì đại thế đã tan nát. Nghĩa là ta phải làm sao hành sự xong, mà viện quân Tống chưa tới cứu kịp. Có như thế, ta mới không bị giao chiến với toàn quân Tống. Ba là hiện ở Quảng-châu, Ung-châu, Quế-châu là ba nơi Tống đóng đại quân. Vậy chư vị có ý kiến gì?

Phò-mã Thân Cảnh-Long nghị:

– Hiện Tống có một loạt cửa ải Nam phòng đóng dọc bên giới ta từ Tây sang Đông là Hoành-sơn, Thái-bình, Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu, Cổ-vạn, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long. Nếu ta phá được các cửa ải, thì có thể thẳng tiến về Ung-châu. Nhưng hiềm một nỗi, khi ta tiến quân thì mặt bộ dù khó đánh, chúng cố thủ ta vẫn vây rồi tấn công, trước sau gì rồi cũng hạ được. Duy đạo binh thủy của đại-tư-mã Thường-Kiệt đánh vào Khâm-châu, Liêm-châu, thì có vấn đề. Bởi Khâm-Liêm là nơi có trọng binh Tống, ta từ mặt thủy đổ bộ lên, mà không hạ được ngay, thì bị đánh bật ra biển. Vậy ta phải làm thế nào để quân Ung, Liêm, Khâm cùng kéo về Tây-Nam, bấy giờ Khâm, Liêm không còn quân phòng thủ. Ta từ mặt biển đổ lên đánh úp là được. Đánh úp Khâm, Liêm rồi, ta tiến lên đánh Ung cùng với đạo bộ binh.

Triều đình cùng nghị luận phân vân. Đô-thống Đinh Hoàng-Nghi xin phát biểu:

– Tâu thái-hậu, việc đem quân Tống từ Bắc, Đông xuống Tây-Nam thực không khó.

Linh-Nhân hỏi:

– Đinh đô-thống nổi tiếng mưu thần, chước thánh, ắt có diệu kề.

– Tâu thái hậu.

Hoàng-Nghi phân giải: Ta phải thực hiện hai điều. Một là mặt bộ phải hành sự sao cho Tống tưởng là xung đột giữa các động chủ của ta với khê-động Tống, để họ không cứu ứng kịp thời. Hai là khi ta tấn công toàn diện mặt bộ, thì mặt thủy vẫn ém quân. Chúng tưởng ta tấn công như hồi vua bà Bình-Dương đã làm. Nghĩa là chỉ có mặt bộ, mà không có mặt thủy; ắt chúng đem quân Khâm, Liêm, Ung về Tây-Nam cứu viện. Bấy giờ ta mới cho quân mặt thủy đổ bộ lên đánh Khâm, Liêm.

Triều đình cùng tán thành đề nghị của Hoàng-Nghi. Tín-Nghĩa vương hỏi:

– Theo ý hiền đệ, bây giờ ta phải làm thế nào khi mặt bộ khởi sự tấn công, mà Tống lại tưởng là xung đột giữa các khê-động với nhau?

Hoàng-Nghi đưa mắt nhìn Thân Cảnh-Long:

– Không khó! Khi các trang động Tống-Việt giáp nhau có sự, các trang động thường đem quân đánh lẫn nhau. Vậy trước khi ta khởi sự, thì phò-mã Thân Cảnh-Long ra lệnh cho một trang động nào đó, nhân có hiềm khích với một khê động bên Tống, để Tống đem quân đánh sang, nhân đó ta phản công. Tin này đưa tới Quế-châu, Lưu Di cho rằng đây là sự hiềm khích giữa man dân. Y tâu về triều. Trong triều triều, Hy-Ninh, An-Thạch coi là loại man-dân trộm cướp vặt. Sau đó ta tiến đại binh sang. Tin đưa về triều, lúc đầu Hy-Ninh với An-Thạch cũng tưởng chuyện cướp bóc diễn ra mà thôi, chưa có phản ứng.

Tín-Nghĩa vương khen:

– Mưu của Đinh đệ hay thực. Nhưng nếu như giữa các trang động không có hiềm khích gì, thì sao ta có cớ mà đem quân sang?

Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt đều nhìn nhau cười tủm tỉm. Tín-Nghĩa vương hỏi:

– Anh hỏi vậy không đúng sao mà các chú cười?

Ngô Ức lắc đầu:

– Anh hai ơi! Anh là một thân vương, lại sống trong đạo đức đã quen nên anh tìm không ra cớ. Chứ mười hai đứa chúng em từng ăn mày, từng móc túi, từng ăn cắp vặt, dư thừa thói lưu manh dân dã. Việc kiếm cách gây sự đâu có khó. Này nhé, ở Bắc-biên có lệ, hễ để trâu ăn lúa của nhà người ta, thì người ta có quyền giữ trâu lại. Có đúng thế không?

Tín-Nghĩa vương lắc đầu không hiểu.

Đến lượt Trần Di cười:

– Anh ơi! Chỉ cần một trang động của ta vờ thả trâu ăn lúa của khê-động Tống. Như vậy ắt họ giữ trâu lại bắt chuộc. Ta không chuộc, còn kéo nhau sang đánh cướp trâu về. Dĩ nhiên bên kia không chịu, thế là đánh nhau to. Khi đánh nhau, họ không dự bị, trong khi ta đã chuẩn bị hết. Ta xua quân đánh tràn sang chiếm khê-động của Tống, nhưng cố ý không bắt bọn thủ lĩnh. Bọn thủ lĩnh chạy đến quan huyện tố cáo. Quan huyện cáo về cho Lưu Di. Lưu Di sẽ tâu về triều chi tiết này. Thế là trong triều Tống cho đến Lưu Di đều tưởng cuộc tiến quân của ta chỉ là đụng chạm giữa man dân. Trong lúc đó ta xua quân đánh tràn sang. Đến khi ta hạ hết các khê-động, đồn trại biên giới, bấy giờ Tống mới phản ứng thì đã trễ.

Trong triều đình, thì văn quan đa số là nho gia, đạo đức có thừa. Võ quan đa số xuất thân từ các danh môn chính phái, nên không ai có thể tưởng tượng ra được cớ gây sự. Nay nghe Trần-Di thiết kế, họ đều bật cười.

Đinh Hoàng-Nghi tiếp:

– Khi biết rõ chủ ý cuộc tiến quân của ta, phản ứng tức thời của Lưu Di, của Tống triều là gì? Cứu binh như cứu lửa, ắt họ dùng quân Khâm, Liêm, Ung cứu vùng Tây-Nam. Thế là họ mắc mưu ta. Khi quân ba nơi kia đổ về Tây-Nam, bấy giờ ta mới cho đạo thủy-quân đổ lên đánh Khâm, Liêm.



Ghi chú,

Hồi này thuật rõ:

– Nguyên do nào, Đại-Việt phải đem quân Bắc phạt?
– Ai là người chủ trương?
– Chủ đích cuộc Bắc-phạt như thế nào?

Như phần tựa đã trình bầy: Người chủ trương, lãnh đạo là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Nhưng tại sao, sau này chính sử Đại-Việt lại cố tình làm mờ nhạt huân công của ngài? Lại nữa, bấy giờ các công chúa Bình-Dương , Bảo-Hòa , Thiên-Thành , Động-Thiên ,Thiên-Ninh đã lập không biết bao nhiêu công lao, mà sau sử không nhắc tới? Các bà Trinh-Dung, Ngọc-Huệ, Ngọc-Nam, Thanh-Thảo, với phu nhân Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt... đều là danh tướng, rồi tuẫn quốc. Thế sao ngày nay chỉ thấy bốn bà Dung, Huệ, Nam, Thảo được phối thờ ở đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu; còn mười hai bà là phu nhân của Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt tại sao không thờ? Dù là thờ chung với chồng?

Tôi giải đoán như thế này:

Một là, sau thịnh thời của triều Lý, có tới ba bà thái hậu (vợ vua Thần-tông, Anh-tông, Huệ-tông) nhân con thơ, nhiếp chính như Linh-Nhân hoàng thái hậu rồi làm cho nước loạn, làm những truyện dâm ô. Nên chi sử gia đời sau với quan niệm sử như tấm gương dạy hậu thế, đã bỏ không nói đến huân công của ngài, vì sợ việc cũ tái diễn.

Hai là, có thể thời Lý các bà được thờ chung với các ông. Nhưng đến thời Lê, vua Lê Thái-tổ đánh đuổi ngoại xâm rồi dựng lại kỷ cương. Những cuốn phổ bị Trương Phụ, Mộc Thạch lấy đi được viết lại, tâu lên triều đình xin phong thần. Triều đình nhân đó tước bỏ sắc phong của các bà, tước bỏ việc thờ cúng các bà, vì sợ phụ nữ lại được trọng?. Nên sau này trong đền chỉ thấy thờ các ông mà thôi.

Ba là vào giữa thời Lê, thời Nguyễn, Nho học cực thịnh. Nho học coi các bà nhiếp chính, cầm quân là hiện tượng gà mái gáy. Vì vậy một lần nữa thần tích, sắc phong đã bỏ các bà ra ngoài.

Cũng may, tôi lần mò tìm ở những tập sách nhỏ (sẽ trình bầy ở hồi thứ 34, trong quyển thứ tư này), danh tính, huân nghiệp của các bà. Không biết đến bao giờ đại công của các bà mới được phục hồi? Bao giờ lại đem tượng các bà thờ chung với các ông?

Việc này xin để hậu thế giải quyết.





Thái-úy Lý Thường-Kiệt là nhân vật tài trí bậc nhất thời Thần-vũ (Lý Thánh-tông) và Anh-vũ Chiêu-thắng (Lý Nhân-tông). Ngài là một anh hùng đã lập được huân công vĩ đại cho tộc Việt. Hiện còn nhiều đền thờ ngài. Tôi đã được viếng thăm đền thờ tại xã Ngọ-xá, huyện Vĩnh-lộc, tỉnh Thanh-hóa hai lần. Hiện hầu hết các đền thờ anh hùng dân tộc trong nước đều được dân địa phương trùng tu rất khang trang. Nhưng dân Ngọ-xá quá nghèo, vì vậy đền tiêu điều như hình trên. (Hình chụp tháng 8-2001)

Trên giữa cổng chính là ba chữ Lý Đại Vương (chữ Lý ở giữa. Bên phải là chữ Đại, bên trái là chữ Vương).

Đôi câu đối cổng chính:

Phạt Tống, bình Chiêm vạn cổ danh phương thùy vũ trụ,
Hộ dân bảo quốc thiên thu công đức quán sơn hà.

(Phạt Tống, bình Chiêm tiếng thơm vạn cổ tràn vũ trụ.
Giúp dân, giữ nước, công đức nghìn thu khắp non sông).

Hình dưới là cổng phụ bên trái, đôi câu đối là:

Anh hùng chí khí sinh dũng tướng,
Hào kiệt uy phong hóa phúc thần.

(Chí khí anh hùng sinh tướng mạnh,
Oai phong hào kiệt hóa phúc thần)

Còn cổng bên phải có đôi câu đối:

Hách hách uy phong trừ nội nghịch,
Đường đường kính khí diệt ngoại xâm.

(Uy phong hách hách trừ phản tặc,
Khí cứng đường đường diệt ngoại xâm)

Hình cổng phụ bên phải không còn cánh, tường, vách thủng, nghiêng gần muốn đổ.

Đền thờ chính
Mái ngói lâu ngày đã mục hết.
Các đồ thờ bên trong còn mục hơn nữa.
Dân xã nghèo quá, ăn không đủ, lấy tiền đâu mà cúng, mà trùng tu?


Thái-úy Lý Thường-Kiệt là nhân vật tài trí bậc nhất thời Thần-vũ (Lý Thánh-tông) và Anh-vũ Chiêu-thắng (Lý Nhân-tông). Ngài là một anh hùng đã lập được huân công vĩ đại cho tộc Việt. Hiện còn nhiều đền thờ ngài. Tôi đã được viếng thăm đền thờ tại xã Ngọ-xá, huyện Vĩnh-lộc, tỉnh Thanh-hóa hai lần. Hiện hầu hết các đền thờ anh hùng dân tộc trong nước đều được dân địa phương trùng tu rất khang trang. Nhưng dân Ngọ-xá quá nghèo, vì vậy đền tiêu điều như hình trên. (Hình chụp tháng 8-2001)

Trên giữa cổng chính là ba chữ Lý Đại Vương (chữ Lý ở giữa. Bên phải là chữ Đại, bên trái là chữ Vương).

Đôi câu đối cổng chính:

Phạt Tống, bình Chiêm vạn cổ danh phương thùy vũ trụ,
Hộ dân bảo quốc thiên thu công đức quán sơn hà.

(Phạt Tống, bình Chiêm tiếng thơm vạn cổ tràn vũ trụ.
Giúp dân, giữ nước, công đức nghìn thu khắp non sông).

Hình dưới là cổng phụ bên trái, đôi câu đối là:

Anh hùng chí khí sinh dũng tướng,
Hào kiệt uy phong hóa phúc thần.

(Chí khí anh hùng sinh tướng mạnh,
Oai phong hào kiệt hóa phúc thần)

Còn cổng bên phải có đôi câu đối:

Hách hách uy phong trừ nội nghịch,
Đường đường kính khí diệt ngoại xâm.

(Uy phong hách hách trừ phản tặc,
Khí cứng đường đường diệt ngoại xâm)

Hình cổng phụ bên phải không còn cánh, tường, vách thủng, nghiêng gần muốn đổ.


Đền thờ chính
Mái ngói lâu ngày đã mục hết.
Các đồ thờ bên trong còn mục hơn nữa.
Dân xã nghèo quá, ăn không đủ, lấy tiền đâu mà cúng, mà trùng tu?


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI TƯ

Châu chấu đá xe



Tại động Giáp, thủ đô của Bắc-biên, nước Đại-Việt. Hôm ấy là ngày Quý-Dậu 14 tháng 9 năm Ất-Mão nhằm niên hiệu Thái-Ninh thứ tư đời vua Lý Nhân-tông của Đại-Việt (DL.26-10-1075) bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ tám đời vua Thần-tông. Trong một phòng hội được canh phòng cẩn mật. Chư tướng ngồi im lặng nghe Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản điều quân.

Bằng một giọng ấm áp, ông nói:

– Tất cả chúng ta hiện diện hôm nay, phụ trách toàn bộ đạo quân bộ vượt biên đánh sang Tống. Các cửa ải quân sự Tống đóng dọc theo biên giới Hoa-Việt gồm có Hoành-sơn, Thái-bình, Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu, Cổ-vạn, Như-tích, Thiên-long, Để-trạo... thành một hàng rào bảo vệ Nam-thùy. Phía sau các ải này cho tới Ung-châu không còn trại nào nữa. Ta chỉ cần hạ tất cả các ải hàng rào thì ung dung thẳng đường tới Ung-châu, rồi tiến lên Ngũ-lĩnh. Ta chia quân làm bốn cánh. Một là Quảng-nguyên, hai là Môn-châu, ba là Quang-lang, bốn là Tô-mậu.

Ông nói lớn:

– Mời Thái-tử thiếu bảo, Phiêu-kị thượng tướng quân, Quảng-nguyên hầu Lưu Kỷ nhận lệnh.

Một người thân thể hùng vĩ, tóc hơi bạc đứng dậy:

– Xin chờ lệnh Long-thành đại hiệp.

– Quân hầu trấn nhậm châu Quảng-nguyên đã lâu, đụng chạm với Tống cũng nhiều. Xin quân hầu cho biết tình hình địch tại Thái-bình và Hoành-sơn.

– Thưa đại hiệp, vào thời Đinh, thì vùng Thái-bình, Hoành-sơn còn thuộc Đại-Việt ta, với chín trang ấp. Trong thời gian vua Ngọa-triều cai trị, các trang ấp chán nản bỏ theo Tống, trở thành khê động của họ. Trong chín khê động, thì Hoành-sơn và Thái-bình mạnh hơn cả. Họ áp chế các khê động yếu thế, sát nhập vào đất của họ. Nay các khê động đó hợp thành hai khê động Thái-bình, Hoành-sơn. Chúa khê động Thái-bình là viên quản hạt Ngũ-Cử. Phó là giám-áp trại Quách Vĩnh-Nghiêm. Hai tên này văn võ kiêm toàn, rất giỏi chiến trận. Chúng đã đụng chạm với tôi nhiều lần. Về quân số của Thái-bình, thì có năm nghìn bảo-giáp, năm nghìn quân Quảng. Ải Hoành-sơn thì đông hơn, Bảo-giáp bẩy nghìn, quân Quảng năm nghìn, thủ lĩnh là An-viễn tướng quân Lâm Mậu-Thăng. Cộng chung, chúng có hơn hai vạn. Hai ải Thái-bình, Hoành-sơn được chỉ huy bởi một viên quan Tống tên Thái Bằng, lĩnh chức Trấn Nam tướng quân, văn võ song toàn.

Tôn Đản tần ngần suy nghĩ một lát, rồi tiếp:

– Thái Bằng trước đây xuất thân tiến-sĩ thời vua Nhân-tông. Y vừa có văn tài, vừa có tài dùng binh. Nhưng y đối đáp không vừa lòng tể tướng Lã Di-Giản, nên bị trù. Phải chờ cho tới khi Kinh-Nam vương Tự– Mai đem quân đánh Hy-hà, vương mới trọng dụng y làm chức Tham-tán đạo Tả-quân. Dần dần vương cất nhắc y lên, rồi đề bạt y làm tri châu Hoài, rồi tới chức Tiết-độ-sứ vùng Giang-châu. Mấy năm trước, vì Kinh-Nam vương rời chính trường, y bị Vương An-Thạch chèn ép. Sau nhân một lỗi nhỏ, An-Thạch tâu xin cách chức y, đầy xuống trấn nhậm Thái-bình, Hoành-sơn. Tuy y thất chí, nhưng khi đối trận với y phải cẩn thận.

Tôn Đản hạ lệnh:

– Quân hầu chỉ huy canh thứ nhất, mang tên Quảng-nguyên. Quân hầu đã có đạo quân Quảng-nguyên dưới quyền, được tăng viện thêm Đô-thống Phạm Dật, phu nhân Lê Kim-Liên với hiệu quân Ngự-long, một lữ thú, một lữ kị. Nhiệm vụ của quân hầu là đánh chiếm thành Thái-bình, Hoành-sơn. Sau khi đánh chiếm xong hai thành này, quân hầu trấn giữ tại đây, bảo vệ đường tiếp tế lương thảo, và đường rút quân của ta. Còn Đô-thống Phạm Dật với đạo Ngự-long thì tiến lên đánh Ung-châu. Tính chung quân hầu có một vạn quân của châu, một vạn Thiên-tử binh, cộng hai vạn quân. Như vậy quân số tương đương. Nhưng ta đánh bất ngờ, lại thêm một lữ thú, mà chúng không phòng bị, thì ta phải thắng.

Ông hướng vào cử tọa:

– Kính mời Thái-tử thiếu-sư, Trấn Bắc thượng tướng quân, Môn-châu hầu Hoàng Kim-Mãn nhận lệnh.

Một trung niên nam tử đứng dậy cung tay:

– Xin chờ lệnh đại hiệp.

– Quân hầu trấn nhậm vùng Môn-châu, đối diện với vùng Vĩnh-bình của Tống từ lâu. Xin quân hầu cho biết tình hình địch.

Hoàng Kim-Mãn cung tay:

– Thưa tiền bối! Từ trước đến nay giữa châu Vĩnh-bình với Môn-châu ở vào thế đối nghịch, thù hận bao nhiêu đời rồi. Bất cứ một gia đình, một giòng họ nào ở Vĩnh-bình cũng có người chết vì Môn-châu. Ngược lại bất cứ một người nào ở Môn-châu cũng có kẻ thù ở Vĩnh-bình.

Đô-thống Lý Đoan kinh ngạc:

– Thưa quân hầu nguyên do nào lại đưa đến tình trạng này?

– Cũng dễ hiểu thôi. Đường từ Trung-nguyên sang Đại-Việt nằm trên tuyến Vĩnh-bình, Môn-châu. Cho nên mỗi khi Tầu đem quân đánh mình, thì phải qua tuyến này. Trên đường đi, họ bắt lính, bắt dân phu ở Vĩnh-bình. Những binh lính, dân phu đó qua Môn-châu là tác oai tác quái, cướp của giết người cực kỳ tàn bạo. Cho nên khi Đại-Việt phản công, quân Tàu bỏ chạy, dân Môn-châu tràn sang đòi lại của, đòi lại người; nhân đó giết kẻ thù để trả hận. Mới đây, thời Chương-thánh Gia-khánh (Canh-Tý, 1060) bọn Tống Sĩ-Nghiêu, Dương Lữ-Tài, Lý Đức-Dụng, Tả Minh, Hà Nhuận, Trần Bật mang quân sang đánh Đại-Việt; thì Môn-châu bị quân Tống cướp sạch, đến nỗi cả châu không còn một con trâu, con bò nào. Đến khi vua bà Bình-Dương với phò-mã Thân Thiệu-Thái phản công, dân Môn-châu tràn sang bắt lại thú, đòi lại người, rồi chém giết trả thù. Cũng vì lý do này, mà phụ huynh Môn-châu trong mười lăm năm qua, lúc nào cũng dạy dỗ con cái phải lo trả thù. Các trang trực thuộc thì nam, nữ luyện tập võ nghệ, tập hành binh bố trận để chờ... ngày hôm nay. Bất cứ lúc nào, chỉ cần một lệnh ban ra, thì nửa giờ sau tiểu bối có thể tập trung quân đánh tràn qua biên giới được. Quân số cả nam lẫn nữ gồm năm nghìn người.

Kim-Mãn thở dài:

– Quân số của Vĩnh-bình gồm có hai loại. Quân Quảng khoảng năm nghìn người. Còn bảo-giáp gồm toàn thể tráng đinh tuổi từ mười lăm trở lên khoảng hơn vạn. Người thủ lĩnh trại Vĩnh-bình là Tô Tá, lĩnh chức Chiêu-thảo sứ của Tống, phụ trách cả văn lẫn võ. Mười lăm năm trước, chính y theo quân Tống tràn sang giết vợ, con tôi. Tôi nuốt hận mười năm năm, để chờ cái ngày hôm nay có dịp băm vằm y ra cho hả giận. Y cũng biết vậy, nên phòng thủ rất chu đáo. Cho nên trận chiến sẽ khủng khiếp lắm, chứ không bình thường đâu. Chỉ dụ của hoàng-thượng ban ra là không được giết tù hàng binh, không được giết người cướp của, không được đốt phá chùa miếu... Tiểu bối e khó có thể thi hành được. Vậy xin trình với đại hiệp trước.

Ngô Cẩm-Thi xua tay:

– Hoàn cảnh như vậy, thì ta đành chịu vậy. Tướng ngoài mặt trận không nhất thiết phải theo lệnh vua.

Ghi chú,

Trong bộ Tống-triều công thần bi ký, bản văn trên mộ chí Tô Tá chép rằng : « Vợ của Tôn Đản, nguyên-soái Giao-chỉ tên Ngô Cẩm-Thi ra lệnh cho Hoàng Kim-Mãn tàn sát dân Vĩnh-bình đến mấy vạn người. Bao nhiêu của cải, gia súc cướp sạch mang về ». Bộ Quách-thị Nam-chinh viết : « Vợ Tôn Đản tên Ngô Cẩm-Thi, cháu năm đời Ngô Quyền, là người tài kiêm văn võ, nên cũng tham dự việc quân. Ngô-thị ra lệnh cho Hoàng Kim-Mãn rằng : Nếu chiếm được Vĩnh-bình thì muốn chém giết, tha hồ chém giết; đàn bà thì cho bắt về làm tỳ nữ. Của cải, thú vật thì được chở tận số về làm của riêng ». Bộ Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký viết hơi khác: « Tuy Tôn Đản với vợ là Ngô Cẩm-Thi đã ngăn cấm không cho chém giết lương dân, cướp bóc. Nhưng thù hận giữa Vĩnh-bình, Môn-châu sau biết bao lần binh cách chồng chất quá cao; nên Hoàng Kim-Mãn cho quân tàn sát dân Vĩnh-bình, cướp hết của mang về. Nhà thì đốt sạch ». Ở đây tôi viết theo bộ Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký. Bởi trong hai cuộc bình Chiêm, ba cuộc đánh sang Tống, cánh quân của Tôn Đản, Cẩm-Thi nổi tiếng là kỷ luật, nhân đạo thì không lẽ trong cuộc hành binh này, bà lại ra lệnh trái với chủ trương thông thường?

Tôn Đản hạ lệnh:

– Quân-hầu chỉ huy đạo binh Môn-châu, gồm hoàng-nam bản bộ, được tăng viện thêm đô-thống Vũ Quang, phu nhân Võ Kim-Loan và hiệu Thiên-tử binh Quảng-thánh; một lữ thú, một lữ kị-binh. Sau khi chiếm Vĩnh-bình, quân hầu trấn tại đây bảo vệ đường tiếp tế lương thảo của ta, và giữ đường rút lui sau này. Còn Đô-thống Vũ Quang thì tiếp tục tiến về thánh Ung. Không biết với quân số như vậy có đủ không?

– Thưa tiền bối đủ rồi.

Tôn Đản đứng dậy hướng vào cử tọa:

– Kinh mời Kiểm-hiệu tư-không, Hữu-bộc xạ, Khu-mật viện sứ, Phụ-quốc đại tướng quân, Nghĩa-dũng quốc-công, phò-mã Thân Cảnh-Long nhận lệnh.

Phò-mã Thân Cảnh-Long đứng dậy hành lễ:

– Đệ tử xin chờ lệnh sư thúc.

Ghi chú,

Phò-mã Thân Cảnh-Long là con vua bà Bình-Dương. Mà trong Thuận-Thiên thập hùng, thì Tôn Đản nhỏ tuổi hơn vua Bà, tức ông là vai em. Vì vậy Thân Cảnh-Long mới gọi ông là sư thúc. Tuy vậy, vì chức tước Cảnh-Long quá cao, nên Tôn Đản phải đứng dậy mà ban lệnh.

– Trong bốn đạo quân bộ đánh Tống, thì đạo quân của phò-mã lĩnh nhiệm vụ quan trọng nhất là đánh chiếm Tây-bình, Lộc-châu. Sau khi chiếm hai ải này, phò-mã lĩnh nhiệm vụ trấn thủ, bảo vệ hậu quân cùng đường rút tiếp tế lương thảo, đường lui của ta. Xin phò-mã cho biết tình hình hai ải Tây-bình, Lộc-châu?

– Trình sư thúc! Tây-bình, Lộc-châu, nằm trên con đường chính thông thương giữa Trung-nguyên với ta. Cho nên mấy năm qua Thẩm Khởi, Lưu Di ra sức chiêu mộ, đoàn ngũ hóa, luyện tập tráng đinh để đánh Đại-Việt. Châu-trưởng Tây-bình là Nùng Toàn-An, châu trưởng Lộc-châu là Nùng Tông-Đán. Cả hai được lĩnh chức Chiêu-thảo sứ. Hai châu này được một đại thần Tống là Trấn-viễn đại tướng quân Lưu Khả chỉ huy. Quân bảo-giáp của chúng ước khoảng hai vạn, quân Quảng gồm năm nghìn bộ, ba nghìn kị, rất thiện chiến.

Cẩm-Thi hỏi:

– Lưu Khả là người thế nào?

– Thưa y là con của chị gái Tôn Tiết. Tôn Tiết là một trong Tam-anh của Tống gồm Địch Thanh, Trương Ngọc, Tôn Tiết. Trong dịp công-chúa Bảo-Hòa đem quân đánh Tống, Tam-anh đưa quân từ Kinh-châu về cứu Quảng-châu. Tôn bị giết. Vua Nhân-tông bên Tống truyền cho Khả được tập ấm. Y thi đỗ tiến sĩ thời vua Anh-tông, từng theo Kinh-Nam vương đánh Liêu, Hạ, lập công. Mới đây y được đưa về trấn Tây-bình, Lộc-châu. Võ công y rất cao, tương truyền y đã đỡ được của Kinh-Nam vương tới chín chiêu.

Cử tọa đều bật lên tiếng ”ồ” kinh ngạc. Vì với bản lĩnh của Kinh-Nam vương, trong thiên hạ, khó ai đỡ nổi ba chiêu.

Tôn Đản hỏi:

– Quang-lang là thủ đô của Bắc-biên, vậy lực lượng của phò-mã được bao nhiêu?

– Thưa sư thúc, đệ tử thấy Tống dồn trọng binh đối diện với mình, nên dùng hư kế, chuyển ba đạo binh Bắc-biên trấn ở Quảng-nguyên, Tô-mậu, Môn-châu. Còn chính Quảng-nguyên lại bỏ trống. Mục đích để khi chúng tiến binh sang, đệ tử sẽ rút lui, rồi điều hai đạo Môn-châu, Tô-mậu phục ở tử đạo Chi-lăng. Còn đạo Quảng-nguyên sẽ đánh cắt đường về của chúng. Như vậy chúng sẽ lâm vào tử địa. Cho nên tại Quảng-nguyên chỉ cỏ hoàng-nam mà thôi.

Tôn Đản hài lòng:

– Tôi hiểu! Trước đây vua bà Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái đã dùng kế này để nhử Tống Sĩ-Nghiêu, Dương Lữ-Tài, đánh tan đạo quân của chúng vào thời Chương-thánh Gia-khánh (Canh-Tý, 1060). Như vậy bây giờ Lưu Khả không đề phòng Quang-lang. Ta ra quân như sét nổ, ắt chúng phải thất bại.

Ông chỉ công chúa Thiên-Thành:

– Khi các đạo quân lên đường, thì vua bà trấn thủ Bắc-biên. Mỗi trang, động đều có hoàng-nam làm lực lượng cơ hữu canh phòng trộm cướp, tự vệ khi bị tấn công. Ngoài ra tôi tăng viện cho vua bà hai hiệu binh của Kinh-Bắc, Hồng-châu nữa. Còn phò-mã chỉ huy một lữ thú-binh, một lữ kị binh. Tôi tăng viện cho Đô-thống Trần Ninh, phu-nhân Trần Ngọc-Hương với hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải; Đô-thống Lý Đoan, phu-nhân Trần Ngọc-Liên với hiệu Thiên-tử binh Bổng-nhật. Nhiệm vụa của phò-mã là đánh chớp nhoáng chiếm hai ải Tây-bình, Lộc-châu, tổ chức phòng vệ để giữ vững hậu quân, cùng đường tiếp tế lương thảo, đường rút quân. Sau đó tiến về Ung-châu.

Phò-mã Thân Cảnh-Long cúi đầu:

– Đệ tử tuân lệnh sư thúc.

Tôn Đản lại hướng vào chư tướng:

– Xin mời Thái-tử thái-phó, Trấn-võ thượng tướng quân, Tô-mậu hầu Vi Thủ-An nhận lệnh.

Một trung niên nam tử mình hạc, xương mai, nhưng tóc đã bạc phơ đứng dậy:

– Xin chờ lệnh tiền bối.

– Quân hầu trấn nhậm châu Tô-mậu, đối diện với châu Cổ-vạn của Tống. Xin quân hầu cho biết tình hình ta với Tống.

Vi Thủ-An cung tay:

– Thưa tiền bối, Tô-mậu tuy giầu có, nhưng dân số lại ít, việc võ bị lơ là. Hiện ngoài đạo quân của Bắc-biên, quân của châu chưa quá nghìn tráng đinh. Trong khi châu Cổ-vạn là cuống họng thông từ Đông sang Tây của Quảng-Tây lộ. Tống có trọng binh đóng ở đây. Chủ trại là Nùng Hiệp-Thành với hơn bốn nghìn quân bảo-giáp. Tướng trấn thủ là Tả-lãnh vệ đại tướng quân Chu Am, phó là Bát-tác sứ Toàn Hưng, với năm nghìn quân Quảng, một nghìn kị binh.

– Bọn Chu Am với Toàn Hưng là người như thế nào?

– Am là đệ tử của phái Hoa-sơn, phải gọi công chúa Huệ-Nhu, cùng bọn Triệu Tiết, Khúc Chẩn bằng sư thúc. Xuất thân tiến sĩ, từng theo Kinh-Nam vương đánh Hy-hà có công. Vì là người cùng quê với Vương An-Thạch, nên được Thạch gửi xuống trấn Cổ-vạn trấn thủ, để chỉ huy tế tác dò thám ta, hầu chuẩn bị đem quân sang. Cho nên quân đóng ở Cổ-vạn luôn gây sự với Tô-mậu.

Ông chỉ vào đô-thống Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân Phương-Quỳnh:

– Đã thế, hơn tháng qua Đinh đô-thống cùng phu-nhân từ miền xuôi lên với lệnh của Khu-mật viện nói rằng « làm một số việc cơ mật ». Cơ mật gì mà đô-thống đem một số tùy tùng lên gây ra nhiều chuyện quái đản, khiến cho bên Cổ-vạn căm hờn; họ đang tập trung quân, chuẩn bị đánh sang.

Trong khi Vi Thủ-An than thở, thì Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh ngồi ôm gối mỉm cười trông rất nhàn nhã ung dung. Vi Thủ-An giận muốn ứa gan, mặt hằm hằm tiếp:

– Thứ nhất, đô-thống cho tùy tùng đào bới ở chân ngọn đèo giáp ranh giữa Tô-mậu với Cổ-vạn. Ngày nào đoàn đào đất cũng tìm ra được những thùng gỗ chôn dưới đất, rồi nói rằng đó là thùng vàng, ngọc mà các quan Tầu sang ta cai trị vào đời Đường chôn dấu. Tin này đồn ra làm rúng động quan, quân Cổ-vạn, chúng bàn nhau lăm le muốn kéo sang cướp. Rồi trên tuần qua, người cho Thiên-tử binh giả làm hoàng-nam Tô-mậu; ngày thì thả ngựa, ngày thì thả trâu cho ăn lúa của Cổ-vạn. Bây giờ là tháng chín, hạt lúa đã săn, sắp chín, mà trâu ngựa ăn của người ta mỗi lần hết hơn sào (360 m vuông ngày nay), thì đời nào người ta chịu? Thế là họ ra bắt trâu, bắt ngựa để đòi bồi thường. Thiên-tử binh đã không bồi thường, còn đánh người ta. Thành ra ngày nào cũng có cuộc xô xát, mà bao nhiêu oán hờn bọn Cổ-vạn đổ lên đầu Tô-mậu.

Trong khi Vi Thủ-An vừa giận, vừa sợ, thì Tôn Đản, Cẩm-Thi, Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh lại tủm tỉm cười tỏ vẻ khoan khoái. Vì vậy ông càng cáu thêm, ông tiếp:

– Hiện tiểu bối có ba điều lo lắng, xin tiền bối giúp cho.

– Quân hầu cứ nói.

– Một là binh lực thuộc quyền tiểu-bối quá ít, quá yếu, so với Cổ-vạn. Bọn chúng thường gây sự, chèn ép đủ điều, tiểu bối vốn đã phải nhịn nhục với bọn Nùng quá lắm rồi. Hai là, bọn Nùng vốn ăn hiếp tiểu bối đã quen, thế mà nay Đinh đô-thống mới lên lại làm ngược lại, không những không nhường nhịn chúng, mà còn gây gổ, khiêu khích chúng. Đây là cái cớ, mà bất cứ lúc nào chúng cũng có thể tràn qua đánh cướp, viện cớ mình gây sự. Ba là thời gian qua, chả biết Đinh đô thống đã đào được bao nhiêu vàng ngọc thì tiểu bối không biết, mà tin đồn ra là đào được tới hơn ba chục thùng. Như vậy ngày một ngày hai bọn Nùng sẽ tràn qua lấy cớ trả hận, nhưng thực ra là cướp vàng ngọc.

Nói xong ông quay lại nhìn Đinh Hoàng-Nghi để trút cái hận, thì lại thấy vợ chồng Nghi cười khúc khích, tỏ vẻ khoái chí, khiến mặt ông hầm hầm muốn toé lửa.

Tôn Đản mỉm cười với Vi Thủ-An:

– Quân hầu bình tĩnh! Việc Cổ-vạn tôi xin lo hết. Đừng có sợ! Này quân hầu ơi! Trước kia Thẩm Khởi huênh hoang, le te, ồn ào, để lộ cho ta biết âm mưu mà hỏng việc. Tống đã cách chức Khởi cử Lưu-Di thay thế. Nhưng Lưu còn ngu hơn Thẩm nhiều. Lưu biết rằng phần đối diện với y quân số ít ỏi, thì y cũng phải giảm quân số để đánh lạc hướng ta mới phải. Đây y ra cái bộ y mạnh, y tụ quân ngụ ý đe dọa. Hừ! Biết tâm y như vậy, ta càng khích thêm tính kiêu căng của y, thì việc hạ Cổ-vạn không khó.

Ông nói lớn:

– Khi triều đình nghị kế định rằng ta đánh Tống bằng hai đạo thủy, bộ. Đạo thủy đổ lên Khâm-châu, Liêm-châu. Đạo bộ là chúng ta. Vì Tống có trọng binh ở Khâm, Liêm, e đạo thủy khó đổ bộ lên. Vì vậy chúng ta phải tấn công trước, dẫn dụ cho Tống đem quân Quảng-châu, Khâm, Liêm, Ung về Tây-Nam cứu viện. Bấy giờ đạo thủy mới đổ bộ. Nhưng...

Ông ngừng lại cho mọi người chú ý rồi tiếp:

– Đạo bộ ta cũng phải lừa Tống một lần nữa. Đầu tiên ta đánh một ải dưới hình thức hai khê động Việt-Hoa giáp nhau đụng chạm vì lý do bình thường; để từ Lưu Di cho đến triều Tống tưởng rằng đó chỉ là những gây gổ giữa hai khê động. Sau đó mấy ngày, ta mới đại tấn công.

Ông chỉ Vi Thủ-An:

– Tôi quyết định dùng đạo quân Tô-Mậu khai chiến đánh ải Cổ-vạn để làm kế lừa địch.

Vi Thủ-An giẫy nảy lên:

– Đại hiệp xét cho. Chúng tôi chỉ có nghìn người ô hợp, sao có thể đối đầu với hơn vạn quân tinh nhuệ của Tống?

Tôn Đản xua tay:

– Quân hầu yên tâm. Quân hầu chỉ đứng trên danh nghĩa để đánh lừa địch. Còn người chỉ huy là Trấn Bắc đại tướng quân, Tiên-yên tiết độ sứ, Tản-viên quốc công Tôn Mạnh với Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên kia mà. Tất cả việc làm của Đinh đô-thống là lệnh của Khu-mật viện, với mục đích nhử cho Tống xuất ra khỏi Cổ-vạn đánh ta trước. Ta nhân đó phản công, như vậy Cổ-vạn mất, tin báo về Biện-kinh, vua tôi nhà Tống sẽ cho là chuyện xích mích giữa các khê động mà thôi.

Vi Thủ-An thở dài, như trút được gánh nặng bấy lâu trên vai, ông nhìn Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh như tỏ ý xin lỗi về những bực tức vừa qua.

Ông nói với Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên:

– Đường từ Tô-mậu sang Cổ-vạn phải qua hai cái đèo. Vì vậy ta dùng ít bộ binh, mà dùng kị binh. Hai em được tăng viện Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh với hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ; Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt với đạo kị binh Phù-đổng; Thần-vũ thập anh với hai lữ binh thú. Như vậy có đủ không?

Thanh-Nguyên dơ tay vẫy vẫy:

– Đủ rồi! Đủ rồi!

Tôn Đản nhấn mạnh:

– Cuộc « tấn công để tự vệ » này, quan hệ ở các đạo bộ binh chúng ta. Đạo bộ binh chúng ta, quan hệ ở trận đánh Cổ-vạn. Nhiệm vụ quan trọng ở chỗ: phải chiếm được Cổ-vạn trong vòng ba giờ, để binh Tống không phân biệt được đó là Đại-Việt đánh họ, hay Tô-mậu đánh họ. Nếu như trận này thất bại, thì ta sẽ phải khó khăn, tốn nhiều nhân mạng lắm mới có thể đạt được mục đích.

Tôn Đản đứng dậy hỏi hướng vào Tuyết-sơn thập anh:

– Bẩy nhân huynh đây đều là những người văn mô vũ lược. Vậy lão phu xin bẩy vị dạy cho ít lời.

Trong Tuyết-sơn thập anh thì Tam-Sơn, Tứ-Sơn, Ngũ-Sơn xuất thân tiến-sĩ, ông đứng dậy cung tay:

– Xưa học trò hỏi Khổng-tử rằng: Nếu như nhà vua trao quyền cho thầy, thì việc đầu tiên thầy làm gì? Ngài đáp: Phải chính danh. Hỏi: Sao lại phải chính danh? Đáp: Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn đã thuận thì sự mới thành. Thưa tiền bối có đúng thế không.

– Quả không sai.

– Phàm ra quân phải có chính nghĩa, đó là chính danh. Vậy nay tiền bối ra quân chnh nghĩa là gì? Nếu tiền bối không tuyên cáo chính nghĩa cho dân thì người Tống sẽ nghĩ rằng: Giao-chỉ là nước nhỏ vượt biên đánh nước lớn, chẳng qua là một thứ đạo tặc mà thôi. Đó là một điều khó. Còn như tiền bối nói thực rằng mình đem quân sang phá các kho lương, thành trì của Tống, để Tống không thể đánh Đại-Việt được, thì lại càng làm cho dân khổ, cũng không có chính nghĩa. Đó là hai điều khó.

– Xin tiên sinh chỉ cho cách gỡ hai cái nút này.

– Tiền bối đều biết rằng hiện nay nửa dân Tống chống Tân-pháp của Vương An-Thạch. Các quan càng chống mạnh hơn. Thế thì tiền bối còn chờ gì mà chẳng làm tờ đại cáo với dân rằng: Đại-Việt ra quân chỉ với mục đích hỏi tội Vương An-Thạch bầy ra Tân-pháp làm khổ dân. Rồi những vùng chiếm được, tuyên bố bỏ Tân-pháp, xá thuế cho dân. Như vậy trong triều, ngoài dã từ quan tới dân đều nói rằng: Đấy, Đại-Việt ra quân chỉ vì Tân-pháp. Họ sẽ cùng Đại-Việt chống Tân-pháp hơn lên. Đấy có phải là ta có chính nghĩa không?

Tôn Đản tỉnh ngộ, cung tay:

– Xin nhờ tiên sinh múa bút soạn cho tờ đại cáo.

Tam-Sơn cầm bút viết:

« Trời sinh muôn dân, thì vua phải hòa-mục với họ. Đạo làm chúa dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe Tống chúa hôn ám, không nương theo phép thánh nhân, lại tin vào tà kế Vương An-Thạch, đặt ra cái gọi là Thanh-miêu, Trợ-dịch, khiến trăm họ khốn khổ, mà riêng nuôi thân mình cho mập.

Bởi sinh-mệnh muôn dân là tự trời, thế mà bỗng chốc họ bị sa vào cảnh khốn khó. Lượng kẻ trưởng thượng phải xót thương. Những việc từ trước chẳng nói làm gì!

Nay bản chức vâng lệnh quốc-vương, chỉ ngọn cờ lên Bắc, muốn dẹp yên sóng yêu ma; nên chỉ phân biệt quốc thổ, không phân biệt dân chúng. Phải quét sạch hôi tanh, để dân chúng được sống những ngày Nghiêu, tháng Thuấn thanh bình.

Ta nay ra quân, cốt cứu dân khỏi chìm đắm trong bể khổ. Nên truyền hịch để mọi người cùng nghe. Ainấy hãy đắn đo suy nghĩ, đừng mang lòng kinh sợ ».

Ghi chú,

Bản trên đây, tôi lấy trong Việt-điện u-linh. Trong An-Nam chí lược, Lê Tắc cũng có ghi, nhưng ý hơi khác. Ngoài ra trong Quách-thị Nam-chinh và Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký đều chép một tờ hịch nữa, nội dung hoàn toàn giống nhau. Xin đọc trong hồi 35.

Tôn Đản mừng lắm, sai khắc vào gỗ, rồi in rà thành mấy nghìn tờ, trao cho chúa tướng các đạo, để khi quân tới đâu, thì dán ở những nơi công cộng cho dân chúng đọc.

Tôn Đản nói với Tuyết-sơn thập anh:

– Các vị huynh đài đều là những đại hiệp vì dân trừ bạo. Trong các châu Nam-thùy Tống, có biết bao nhiêu tên cường hào ác bá, có biết bao nhiêu tên tham quan ô lại, có biết bao nhiêu tên đầu trộm đuôi cướp. Vậy lão phu đề nghị mười vị chia nhau theo các đạo quân, đe mỗi khi chiếm được vùng nào, các vị họp dân điều tra, rồi dùng luật võ lâm xử tội chúng, trước làm mát lòng dân, sau là thế thiên hành đạo.

Thập-anh cùng đứng dậy nhận lệnh.

Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên góp ý:

– Sau buổi họp này, thì cuộc chuẩn bị của toàn thể quân Bắc-biên, lẫn hoàng-nam sẽ ồn ào vô cùng. Em sợ tế tác Tống biết được, họ đề phòng, thì cuộc chiến sẽ gay go vô cùng.

Tôn Đản bật cười:

– Anh chị đã dự trù trường hợp đó rồi.

Ông đưa ra một bọc, trong bọc có hơn năm chục cuộn giấy, rồi nói:

– Đây là lệnh hư kế của Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt. Lệnh này nói rằng: Triều đình quyết định điều ba hiệu bộ binh, kị binh, thú binh đi chinh tiễu Chân-lạp để cứu Chiêm-thành. Vì vậy tất cả quân Bắc-biên phải chuẩn bị lừa, ngựa, lương thảo, chờ ngày xuất hành.

Chưa tướng cùng nhận lệnh. Cuộc họp chấm dứt.

Tôn Đản lưu Tôn Mạnh, Thanh Nguyên, Vi Thủ-An, Đinh Hoàng-Nghi Trần Phương-Quỳnh lại. Ông hỏi Hoàng-Nghi:

– Chuyện đó như thế nào?

– Hơn tháng qua cháu đã làm, thành công đã trong tầm tay. Mới đây nhất, ngày hôm qua cháu đã cho năm đứa trẻ giả làm dân Tô-mậu đem trâu sang cánh đồng sát chân núi chăn, rồi để trâu ăn lúa của vùng Cổ-vạn. Đây là lần thứ tám, trong một tháng. Bây giờ lúa sắp chín, mà trâu ăn mất một mảnh lớn ở ruộng. Quân bảo-giáp vùng Cổ-vạn cũng như mấy lần trước, chúng ùa ra bắt trâu, đòi phải mang tiền sang chuộc. Hai bên đánh nhau kịch liệt. Chiều cháu cho hai mươi Thiên-tử binh giả hoàng-nam sang bắt lại trâu. Hai bên giằng co, đánh nhau. Bên Cổ-vạn có hơn mười người bị thương, tám người chết. Như vậy bọn tướng sĩ Tống như Tả-lãnh vệ đại tướng quân Chu Am, Bát-tác sứ Toàn Hưng, châu trưởng Nùng Hiệp-Thành... có là Thích-Ca ngồi trên toà cũng phải nhúc nhích. Theo tin tế tác, đêm nay chúng sẽ vượt qua đường phía Tây đồi Vong-thiên, để sáng mai đánh Tô-mậu.

– Được! Còn hiệu binh Quảng-vũ, kị-binh bây giờ ở đâu?

– Cháu cho di chuyển bằng đường Đông đèo Vong-thiên đến sát Tô-mậu đêm qua. Hiện ẩn ở trong rừng. Chỉ đợi lệnh là vượt biên.

Tôn Đản nói rất chậm:

– Hôm nay là ngày 14 tháng chín, trăng sáng tỏ, vậy trời xập tối thì lên đường. Sao cho đến chân đèo phía Bắc Vong-thiên vào giờ Tý. Ta cho quân nghỉ ngơi, đến giờ Sửu thì tấn công. Kế hoạch tấn công ra sao?

– Cháu đã nghị với công chúa Côi-sơn rồi.

Thanh-Nguyên trình bầy:

– Khi được mật lệnh của anh chị, em sai cháu Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh đích thân giả làm lái buôn sang Cổ-vạn thám sát địa thế cùng tình hình. Về địa thế thì châu Cổ-vạn được bao quanh bởi mặt Đông là dẫy đồi, mặt Bắc là con sông, mặt Tây, Nam là cánh đồng. Về mùa này ruộng đã khô, người ngựa có thể băng qua được. Phía Nam châu có bốn cổng nhỏ, hai cổng lớn. Cổng nhỏ cho người và thú ra đồng làm việc, tối cổng đóng lại, không có người canh gác. Cổng lớn rất rộng dành cho xe, người đi. Đây là trục giao thông chính của ta với Trung-nguyên, cho nên ngày đêm đều có quân canh gác. Quân sĩ thì chia làm bốn toán, mỗi ngày một toán ứng trực canh phòng, hai toán nghỉ, một toán luyện tập. Ban đêm thì tất cả đều về nhà ngủ, để cho quân bảo-giáp canh phòng.

– Kế hoạch đánh như thế nào?

Hoàng-Nghi nói thầm vào tai Tôn Đản một lúc. Ông vui vẻ:

– Được lắm. Ta ngồi xem các vị thành công.

Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên, Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Vi Thủ-An lấy ngựa trở về Tô-mậu. Trước khi khởi hành, Tôn Mạnh viết lệnh triệu tập binh tướng tại Tô-mậu ngay đêm nay, rồi sai chim ưng mang đi. Ba người tới nơi, thì trời xập tối. Cơm nước xong, thì chư tướng đến.

Hoàng-Nghi trình bầy tình hình địch, địa thế, mục đích cuộc hành quân, thời gian xuất quân rồi nhường cho Thanh-Nguyên. Thanh-Nguyên cầm kiếm lệnh để trước mặt. Công-chúa hướng vào chư tướng:

– Hiện hầu hết Quảng-binh, bảo-binh của ở Cổ-vạn đã xuất khỏi đất Tống, đang ẩn ở khu rừng phía Tây đèo Vong-thiên, chờ ngày mai vào cướp Tô-mậu. Ta chia quân làm ba. Một là lực lượng hoàng-nam Tô-mậu, hiệu quân Bắc-biên thứ ba do Trần-vũ thượng tướng quân Vi Thủ-An chỉ huy, nhiệm vụ giữ nhà. Hai là cánh phục trên đường tiến quân của Tống, chặn không cho chúng đánh sang ta. Đạo này do chính tôi với phò-mã chỉ huy được tăng viện các đô thống Hùng Nhân, Âu Hoàng, Hùng Nghĩa, Âu Thanh. Lực lượng gồm hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ tả, một lữ Thần-nỗ, đội Thần-tiễn Long-biên, đội Thần-phong, Thần-tượng, Thần-xà. Ba là đạo đánh chiếm Cổ-vạn, sẽ do Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt, đô-thống Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân là Phương-Quỳnh chỉ huy; lực lượng gồm đạo kị binh Phù-đổng, hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ hữu, một đội Thần-tiễn Long-biên, một lữ Thần-nỏ, đội Thần-hầu, Thần-báo, Thần-hổ.

Công chúa nói với Hà Mai-Việt, Hoàng-Nghi:

– Đêm nay các vị cho thú-binh, kị-binh di chuyển trước, Thiên-tử binh đi sau, tiến theo con đường Nam-Bắc băng qua đèo Vong-thiên. Nhớ nhé. Vong-thiên có hai con đường băng qua. Một con phía Tây, một con phía Đông. Ta bỏ con đường phía Tây, vì Tống đang đóng trên con đường này, ta tiến theo con đường phía Đông. Ta phải tiến sao cho tới chân Bắc đèo vào lúc giờ Tý. Ta chia quân làm hai cánh. Cánh phía Tây do Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt, đô-thống Hùng Lễ, Âu Huyền, Hùng Trí, Âu Lam chỉ huy một lữ kị binh Phù-đổng, một lữ Thiên-tử binh thuộc đạo Quảng-vũ tả, đội Thần-nỏ, đội Thần-tiễn Long-biên. Cánh phía Nam do đô-thống Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh, Hùng Tín, Âu Hồng chỉ huy một lữ kị binh thuộc đạo kị-binh Phù-đổng hữu, một lữ Thiên-tử binh thuộc đạo Quảng-vũ hữu, một đội Thần-tiễn Long-biên, một đội Thần-nỏ.

Công-chúa chỉ lên sơ đồ vùng Cổ-vạn:

– Trong cuộc tập kích này ta tận dùng Thần-hầu, Thần-hổ, Thần-báo, Thần-ngao, Thần-ưng. Khi tiến quân thì sai Thần-ưng bay trên cao thám thính tuần phòng. Thần ngao thám thính, đề phòng dưới đất. Khi ta tiến quân qua vùng nào, cũng nên lưu Thần-ưng, Thần-ngao lại để canh gác, phòng bị đánh tập hậu. Như vậy nhất cử nhất động của địch ta biết hết.

Công chúa chỉ vào các chúa tướng chỉ huy thú và cung thủ Long-biên:

– Đội Thần-tiễn Long-biên đi đầu cùng với Thần-hầu, Thần-hổ. Xưa nay, khi một con hổ đi đến đâu, thì mùi hôi toả ra trong vòng bán kính trăm trượng. Hễ chó ngửi thấy mùi là chúi mũi vào bụi cỏ. Đó là lý do ta cho Thần-hổ cùng Thần-hầu tiến trước, phòng chó xủa. Tới hàng rào, thì Thần-hầu sẽ leo vào trong, mở cổng. Đội Thần-tiễn Long-biên cùng Thần-hổ xông vào trong, tỏa ra phía trước, hai bên phải trái cửa bảo vệ cho Thần-báo vào sau. Sau khi vào rồi, thì cánh phía Nam đánh sang bên Đông. Cánh phía Tây đánh về Bắc, mở tung các cửa ra, rồi trấn tại đó. Đến đây thì kị-binh Phù-đổng ập vào các cửa tấn công trung ương. Thiên-tử binh đi theo sau. Tóm lại thú binh, đội cung thủ Long-biên có nhiệm vụ đánh chiếm các cửa, rồi trấn ở đó, không cho địch chạy thoát. Đạo kị binh Phù-đổng phá vỡ phòng tuyến địch. Còn Thiên-tử binh thì đánh chiếm các kho tàng, doanh trại, trụ sở.

Bà nhấn mạnh:

– Cần đánh cho mau, cho gọn. Sao nội trong hai giờ phải chiếm được hết cơ sở giặc, tổ chức canh phòng thực nghiêm, rồi đem một lực lượng ra phục trên con đường Tây đèo Vong-thiên chờ bọn Tống rút về thì dùng tên, dùng thú chặn đánh. Nhớ, dù thắng, nhưng cũng nên mở con đường cho chúng rút về Ung-châu.

Bà ghé miệng vào tai Hoàng-Nghi dặn dò mật kế.

Ghi chú,

Dùng mồi hôi, nước tiểu của hổ để uy hiếp chó là một khám phá của tộc Việt từ thế kỷ thứ nhất. Trong suốt năm nghìn năm lịch sử, người Việt đã tận dụng cọp, nước tiểu, mồ hôi cọp trong chiến tranh. Cho đến giai đoạn chiến tranh 1960-1975 du kích quân Việt-Nam cũng dùng nước tiểu của cọp hoặc nước tắm cho cọp chà vào quần áo để đột nhập vào các căn cứ Hoa-Kỳ, khiến quân khuyển vô dụng.

Đêm hôm đó là đêm mười tư, tháng chín, niên hiệu Thái-Ninh thứ tư, đời vua Nhân-tông triều Lý, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ tám (1075) đời vua Thần-tông nhà Tống. Dưới ánh trăng huyền ảo của rừng núi Bắc-biên, từng đoàn, từng đoàn người ngựa âm thầm di chuyển băng qua ba ngọn đèo ngắn. Người ngậm tăm, ngựa khóa mõm, nên chỉ có tiếng bước chân người, tiếng vó ngựa, và tiếng bánh xe lóc cóc. Sau khi đổ hết ngọn đèo thứ ba, thì trước mặt họ hiện ra khu đồng bằng. Xa xa trong vùng Cổ-vạn một vài nhà còn để đèn, ánh sáng chiếu leo lét chập chờn như ma chơi. Đoàn người ngựa tẻ ra làm hai... âm thầm và âm thầm.

Phía Nam vùng Cổ-vạn không rộng cho lắm. Hoàng-Nghi nói nhỏ với đám Hùng, Âu:

– Mặt Nam mình có bốn cổng nhỏ. Vậy hai vị sư huynh, sư tỷ, mỗi người đánh chiếm một cổng. Từ trái sang phải, sư huynh Hùng Tín đánh cổng một, sư tỷ Âu Hồng đánh cổng hai, Phương-Quỳnh, tôi bốn. Kìa trên trời Thần-ưng bay lượn bình thường thế kia là phía trong không có quân phòng thủ.

Bốn người nhanh nhẹn vẫy tay. Bọn thiếu niên chỉ huy Thần-hầu, Thần-hổ đã được dặn trước, chúng cho mở cũi, thả thú ra. Đàn thú im lặng băng mình qua cánh đồng cùng với đội tiễn thủ Long-biên. Phía sau là đoàn Thần-báo, rồi kị binh, Thiên-tử binh.

Tới hàng rào, Thần-hầu nhanh nhẹn trèo lên cây thả mình vào trong mở cửa. Thần-hổ, Thần-báo, thần tiễn Long-biên đã lọt vào trong. Sau khi phân chia nhiệm vụ cho các lữ trưởng trấn các cổng; Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh dẫn năm chục tiễn thủ Long-biên tiến về một cổng chính. Ở đây, trên chòi canh, có ngọn đèn nhỏ. Hoàng-Nghi chỉ cho Phương-Quỳnh chiếm một cổng lớn, còn mình chiếm một cổng lớn. Chàng vẫy tay, một mũi tên phát ra tiếng véo, ngọn đèn trên chòi canh vỡ tan. Có tiếng binh canh nói:

– Sao tự nhiên ngọn đèn lại tắt vậy kìa? Ra xem sao?

Hai binh canh ra khỏi chòi, thì véo véo hai tiếng, hai người trúng tên ngã lộn xuống đất. Đám võ sĩ Long-biên tung mình vào chiếm đồn canh. Đám quân canh đang ngon giấc thấy động, giật mình thức dậy, thì đều bị tên bắn trúng trán, ngã lăn xuống. Đám võ sĩ Long-biên mở toang cổng lớn ra. Hoàng-Nghi cầm chiếc pháo thăng thiên châm ngòi, tung lên cao. Pháo nổ đến đùng một tiếng, tỏa ra ánh sáng mầu tím. Đó là lệnh tấn công. Lập tức đoàn kị binh Phù-đổng phi qua các cổng vào trong rồi tỏa ra làm hai tiến về các mục tiêu. Tiếp theo là Thiên-tử binh ào vào. Vùng Cổ-vạn tuy rộng, nhưng phạm vi đóng quân thì có giới hạn. Trong khoảng hơn giờ, quyân Việt đã chiếm xong các doanh trại, kho vũ khí, khu chuồng ngựa, kho lương thực.

Nhìn kho lương thực, kho vũ khí chất cao như núi: Nào cá khô, tôm khô, thịt khô, nào gạo, nào cỏ, nào cung, nào tên, nào đao, nào thương... lại có cả kho chứa tiền, vàng, bạc nữa; không biết bao nhiêu mà kể. Hoàng-Nghi nói với Phương-Quỳnh:

– Em thấy không? Đây rõ ràng là kho lẫm của Tống triều chứ không phải kho của Cổ-vạn. Như vậy chứng tỏ họ đã chuẩn bị đánh mình xong xuôi, chỉ còn đợi ngày xuất quân nữa mà thôi.

Khi đánh vào tới trung ương, trị-sở của Cổ-vạn, thì hai đội kị binh của Hoàng-Nghi, Hà Mai-Việt gặp nhau. Hà Mai-Việt là một đại tướng quân đánh dư trăm trận, kinh nghiệm có thừa, ông hỏi Hoàng-Nghi:

– Đinh đệ! Ta thấy dường như có một sự bất thường thì phải. Bởi chúng ta đánh sao dễ quá, không gặp bất cứ một phản ứng lớn nào của bên địch. Trước sau, chỉ bốn cổng lớn, mỗi cổng có không quá năm mươi binh canh, với trăm binh canh kho tàng. Không lẽ lực lượng của chúng kéo sang Tô-mậu hết? Dù cho chúng kéo sang ta đánh cướp, thì cũng phải để lại ít quân giữ nhà chứ?

– Đệ cũng thấy thế. Hiện chư quân đang lùa dân chúng ra khỏi nhà, rồi thanh lọc bắt quân, tướng địch. Ta cứ chờ xem. Bây giờ hãy tiến vào chiếm trị sở của châu Cổ-vạn đã.

Hà Mai-Việt vẫy tay, lập tức Hùng Nhân, Hùng Nghĩa cho đội võ sĩ Long-biên tiến vào trong hàng rào khu trị sở cùng với đội Thần-ngao. Lát sau Hùng Nhân chạy ra lắc đầu:

– Thưa đại tướng quân, trong trị sở không có một người nào cả. Đồ đạc còn nguyên.

Hà Mai-Việt vội vào xem xét; chỉ liếc qua, ông đã tìm thấy ngay rằng bọn tướng sĩ Tống không hề bỏ chạy, vì đồ đạc vẫn ngăn nắp, căn nhà sạch sẽ. Ông nói với Hoàng-Nghi:

– Thế này là thế nào? Tại sao chúng ta không gặp bọn tướng Tống, bọn binh sĩ khê động? Chúng đi đâu hết? Ta phải sai chim ưng trinh sát xem sao mới được.

Hoàng-Nghi ngửa mặt lên trời, miệng cười toe toét. Hà Mai-Việt đang lo lắng cuống cuồng lên, mà Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh cứ thủng thỉnh; nào là nghe báo cáo số gia súc, số lúa gạo, số vũ khí trong các kho. Rồi lại hỏi về số tù binh bắt được.

Hà Mai-Việt đề nghị:

– Ta phải sai chim ưng trinh sát xem sao mới được. Không lẽ bọn chúng biết ta tấn công, rồi dùng kế không thành? Vô lý, bởi chúng dùng kế không thành, để dâng tính mệnh vợ con, bố mẹ, cùng tài sản cho ta hay sao?

Các lữ trưởng kị binh, Thiên-tử binh lần lượt báo cáo: Sau khi bao vây từng nhà, lùa hết già trẻ, lớn bé ra đệ thanh lọc. Nhưng tuyệt không thấy một tên quân Tống, một quân bảo-giáp. Sau khi bắt bố mẹ, vợ con, gia thuộc bọn tướng Tống, lấy khẩu cung, họ đều khai rằng binh tướng Tống chuẩn bị từ hơn nửa tháng trước để đánh sang Tô-mậu. Nhưng mới lên đường có hai ngày.

Bây giờ Hà Mai-Việt mới hiểu tại sao ban nãy ông lo sợ cuống cuồng, mà Hoàng-Nghi cứ bình tĩnh như không. Ông nói với Hoàng-Nghi:

– Theo lệnh công chúa Côi-Sơn, thì sau khi đánh chiếm Cổ-vạn, ta phải cho phục binh ở phía Tây đồi Vong-thiên, chờ quân Tống rút về thì chặn đánh. Nhưng như Đinh đệ thấy, quân ta thức suốt đêm qua, lại di chuyển hơn trăm dặm, rồi chiếm trại này. Người ngựa đều mệ lả rồi, bây giờ sao có thể di chuyển ra đèo Vong-thiên mai phục? Mà ví dù có lết ra mai phục, thì còn đâu sức mà đánh. Vậy Đinh đệ nghĩ sao?

– Công-chúa ban lệnh là lệnh tổng quát, phần thi hành là nhiệm vụ của chúng ta. Chúng ta phải uyển chuyển thay đổi, chứ không nhất thiết phải giữa nguyên.

– Đệ mới cầm quân nên không hiểu Ngũ-long công chúa tý nào cả? Đệ nên biết rằng từ thời đức Thái-tổ đến giờ, Ngũ-long công chúa đánh đâu thắng đó là nhờ quân lệnh cực kỳ nghiêm. Cái lệnh thép mỗi khi phải đối phó với cường địch, sai một đội đao thủ đi phía sau đội hình xung phong. Ai ngừng lại, lùi lại, đứng lại là chém liền... đâu phải mình Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt, mà cả Ngũ-long công chúa nữa. Bây giờ hiền đệ cãi lệnh thì cãi, chứ huynh thì huynh không dám đâu! Huynh mà cãi lệnh thì mất chỗ đội nón ngay.

Ông cười:

– Chính Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt cũng khét tiếng là Thập-nhị thiết sư (Mười hai con sư tử bằng thép), kỷ luật cực nghiêm. Nên mười hai đạo Thiên-tử binh mới có khí thế nghiêng trời lệch đất.

Hoàng-Nghi mỉm cười, ghé miệng vào tai Hà Mai-Việt:

– Cái vụ ra lệnh cho bọn mình phục ở chân đèo là hư kế, vì sợ tế-tác địch biết được. Chứ sự thực công chúa ra mật lệnh cho em : Cần thắng giặc bất cứ giá nào, miễn ít đổ máu là được rồi. Vậy bây giờ ta làm thế này ... thế này.

Hà Mai-Việt xuất thân trong một gia đình Nho-giáo, phụ thân ông dạy con bằng tinh thần trung-quân, ái-quốc, lấy đạo trung-dung để chính tâm, lấy ngũ-thường để hành xử. Nay nghe Hoàng-Nghi nói những điều khủng khiếp, ông nhăn mặt:

– Làm vậy, chúng coi mình là phường bá đạo, cơ tâm. Có cách nào khác hơn không?

– Đại ca theo Nho thì đại ca cho rằng như vậy là trái. Còn em, thì em hành xử theo đạo lý tộc Việt : Miễn sao giữ được nước, miễn sao cho máu đổ ít mới là chính đạo.

Hà Mai-Việt gật đầu vui vẻ. Hoàng-Nghi lệnh cho Thiên-tử binh bắt hết bố mẹ, vợ con của tướng sĩ Cổ-vạn rồi gọi Hùng Lễ, Hùng Trí, Hùng Tín với Âu Huyền, Âu Lam, Âu Hồng lại dặn nhỏ mấy câu. Sáu người vâng lệnh điểm quân lên đường.

Hà Mai-Việt, Đinh Hoàng-Nghi bận bù đầu với việc thanh lọc dân chúng, kiểm kê tài sản, phân biệt những gì của dân chúng thì trả cho dân chúng. Những gì của Cổ-vạn thì phát cho người nghèo. Còn những gì của công khố Tống thì niêm phong lại. Công việc cho đến trưa thì xong.

Cơm trưa xong, có binh canh vào báo:

– Thưa đại-tướng quân, thưa đô-thống, có Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản cùng phu nhân giá lâm.

Mai-Việt cùng Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh dẫn các tướng ra cổng đón. Tôn Đản vẫy tay:

– Hà tướng quân, Đinh đô thống! Miễn lễ! Miễn lễ! Chúng ta đến đây có chuyện khẩn cấp.

Hoàng-Nghi mời ông bà vào trong sảnh đường. Chư tướng tề tựu. Đinh Hoàng-Nghi báo cáo về trận đánh đêm qua, cùng số lương thực, vũ khí, lừa ngựa thu được. Tôn-Đản xoa tay vào nhau:

– Tôi không ngờ Tống lại chứa lương thảo ở Cổ-vạn nhiều như vậy. Với kho lương này, có thể nuôi mười vạn quân mã trong một năm. Với số cung tên, vũ khí này, có thể trang bị cho năm vạn quân.

Ông rùng mình:

– Nếu ta không khám phá ra âm mưu Nam xâm, nếu chúng ta không ra tay trước, thì khi Tống khởi sự, thực ta không thể nào chống nổi Tống. Chúng ta đã thành công trong trận đánh chiếm Cổ-vạn. Tôi xin loan báo cho chư tướng biết về trận chiến Tây đèo Vong-thiên.

Ông khoan thai kể:

– Từ trước đến nay, thủ lĩnh chủ khê động Cổ-vạn Nùng Hiệp-Thành, ỷ dân đông, binh mạnh, lấn áp Tô-mậu hầu Vi Thủ-An riết rồi khinh thường. Gần đây trong cuộc chuẩn bị đánh Đại-Việt, Vương An-Thạch cử Tả-lãnh-vệ thượng thượng-tướng quân Chu Am, bát-tác sứ Toàn Hưng đem năm nghìn quân Quảng đến trấn Cổ-vạn, cùng giúp Nùng huấn luyện tráng đinh thành bảo-giáp , nên quân số bảo-giáp tới bốn nghìn người. Được Nùng Hiệp-Thành mật báo về rằng Tô-mậu chỉ có một nghìn hoàng-nam, nên An-Thạch càng coi thường. Y quyết định đem lương thảo, vũ khí đồn trú tại đây.

Ông cười lớn:

– Biết thế, hơn tháng qua, tôi cử đô-thống Hoàng-Nghi âm thầm đến Tô-Mậu bầy ra vụ đào vàng, cùng gây sự với Cổ-vạn. Vì tham vàng cũng có, vì tức giận bị khiêu khích cũng có, Hiệp-Thành báo tự sự với An-Thạch. Thạch mật lệnh cho Chu, Toàn, Nùng lấy cớ trả đũa bị khiêu khích, đánh sang Tô-mậu với mục đích chính là thử sức phòng thủ của ta, mục đích phụ để cướp vàng.

Ông ngừng lại hớp một hớp nước trà, rồi tiếp:

– Được mật lệnh của Thạch, bọn Chu, Toàn, Nùng âm thầm dốc toàn lực tiến theo đường Tây Vong-thiên, vào đóng ở thung lũng phía Nam, chờ sáng nay sẽ tiến sang đánh Tô-mậu. Nhưng những hoạt động của họ không qua được mắt ta. Ta ra tay trước. Vì vậy, các vị chiếm Cổ-vạn dễ dàng.

Ông ngừng lại một lát, rồi tiếp:

– Về trận Tây Vong-thiên, chính công-chúa Côi-sơn với phò-mã Tôn Mạnh chỉ huy. Đúng giờ Tý, đô-thống Hùng Nhân cùng phu nhân là Âu Hoàng chỉ huy đội Thần-hầu đột nhập khu chuồng ngựa nổi lửa đốt trại, cắt giây cột ngựa, khiến ngựa chạy lung tung trong khu vực đóng quân. Tống bị bầt ngờ, hơn giờ sau họ mới giữ được yên tĩnh. Chu Am nghe báo rằng chỉ có mấy trăm con khỉ đốt doanh trại, thì an tâm. Y ra lệnh cho binh tướng đi ngủ, nhưng không được rồi giáp trụ. Quân tướng vừa riu riu ngủ, thì đội Thần-long được thả ra khỏi xe, tràn vào trại tấn công. Binh tướng có hơn ba nghìn người bị rắn cắn. Doanh trại náo loạn lên. Biết rằng không cho chữa chạy, thì hai giờ sau đám thương binh sẽ chết hết. Chu Am vội cho hơn ba nghìn binh này trở về Cổ-vạn để cứu chữa. Khi họ rời doanh trại được ba mươi dặm, thì trúng vào trận địa Thần-nỏ đội Thần-tiễn Long-biên do chính phò-mã Tôn-Mạnh chỉ huy. Phần bị thương, phần không có mộc đỡ tên, nên không đầy khắc sau, đám này bị tiêu diệt.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Sau khi tiêu diệt đám binh sĩ này, phò-mã sai bắn tên lửa lên trời báo hiệu cho công chúa Côi-sơn biết. Lập tức công chúa cho Thần-ưng, Thần-phong, tấn công vào dinh trại Tống. Phía sau là đội kị-mã, hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ. Trong đêm tối, quân Tống bị ong đốt, bị ưng đánh, bị kị binh, Thiên-tử binh tấn công, chúng quẳng vũ khí bỏ chạy tán loạn. Khi về đến phía Bắc đèo Vong-thiên, thì trời tảng sáng, thấy xác chết của đám thương binh bị Thần-nỏ tiêu diệt nằm dài trên khắp thung lũng, quân Tống càng kinh hồn táng đởm. Giữa lúc đó, trống thúc vang dội, đội Thiền-tiễn Long-biên, đội Thần-nỏ trên các ghềnh đá xuất hiện. Công chúa Côi-sơn hô lớn:

– Buông vũ khí đầu hàng, bằng không ta ra lệnh buôn tên liền!

Đám binh tướng Tống còn chần chờ, thì phía sau, đội kị mã, hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ tới. Rồi thình lình đô-thống Hùng Lễ, Hùng Trí, Hùng Tín cùng các phu nhân dẫn hơn trăm xe, trên xe chở bố mẹ, vợ con của tướng sĩ Tống tới. Đám bố mẹ, vợ con ùa xuống xe chạy lại nói cho binh tướng Tống biết rằng Cổ-vạn đã bị chiếm mất rồi. Thế là chúng đành buông vũ khí đầu hàng.

Tôn Đản nhìn Hoàng-Nghi:

– Đô-thống nghĩ ra được mưu dùng gia đình binh tướng Cổ-vạn, để tránh cuộc giao tranh đẫm máu, thực đúng với chủ đạo tộc Việt. Bây giờ đám binh tướng Tống bị bắt, hay đầu hàng, đang được chỉnh đốn lại để đánh Ung-châu.

Phương-Quỳnh hỏi:

– Trình thái-sư thúc. Mình có nên dùng binh Tống đánh Tống không? Cái gương thời Lĩnh-Nam, ta dùng người Hán, đánh Hán, cuối cùng các đạo binh đó bị tan rã dễ dàng.

Ghi chú,

Tám nàng Phương là học trò của Lý Thường-Kiệt. Mà Tôn Đản là sư thúc của ông, nên tám nàng Phương gọi ông là thái sư-thúc.

Cẩm-Thi cười:

– Xưa khác, nay khác. Xưa Hán bắt vợ con tướng sĩ, uy hiếp họ theo Hán. Ngược lại ngày nay ta dùng quân bảo-giáp Cổ-vạn đánh Ung-châu , trong khi vợ con họ trong tay ta. Muôn ngàn lần họ không thể phản.

Chiều hôm đó, cánh quân của Tây Vong-thiên tới. Công-chúa Côi-sơn Thanh-Nguyên, phò-mã Tôn Mạnh vào yết kiến Tôn Đản, Cẩm-Thi. Binh tướng hai đạo gặp nhau mừng chi siết kể. Họ thuật cho nhau những chi tiết về trận đánh.

Hơn nửa tháng sau, Tôn Đản, Cẩm-Thi, Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên đang cùng Mai-Việt, Hoàng-Nghi thảo luận về vuệc chuẩn bị tiến binh về Ung-châu thì có binh canh vào báo:Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt giá lâm ở cửa chính Nam.

Tôn Đản, Cẩm-Thi dẫn Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên, Mai-Việt, Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, chư tướng cùng lên ngựa ra đón. Ba người vừa đi được trăm trượng thì gặp viên thị-vệ cỡi ngựa, tay mang cờ, trên có thêu chữ Linh-Nhân hoàng thái hậu đang phi như bay. Hoàng-Nghi quát:

– Ngừng lại!

Nhưng viên thị-vệ cứ ruổi ngựa. Chàng ra lệnh cho hai võ sĩ Long-biên:

– Bắt tên thị-vệ đó chém liền.

Võ-sĩ Long-biên lập tức thi hành. Tên thị-vệ bị trói vào gốc cây sắp sửa khai đao, thì một đội người ngựa phi tới. Hoàng-Nghi quát:

– Trong trại quân, tuyệt đối không cho ai phi ngựa. Bắt đội kị mã kia ngừng lại.

Võ-sĩ Long-biên dương cung lên, tên buông ra véo, véo, bao nhiêu cương ngựa đứt hết. Đội kị mã ngừng lại, bị bao vây liền. Có tiếng nói trong trẻo:

– Tôn sư thúc! Hà tướng quân, Đinh đô thống!

Thì ra đội kị mã hộ tống Linh-Nhân hoàng thái-hậu. Tôn Đản, Cẩm-Thi, Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên được miễn mọi lễ nghi; còn Hà Mai-Việt, Đinh Hoàng-Nghi với chư tướng đều nói lớn:

– Giáp-trụ trên người, bọn hạ-thần không hành lễ được, xin Thái-hậu khoan thứ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Đám thị-vệ này hộ tống ta, có đôi điều vô phép, xin Đô-thống khoan dung.

Hoàng-Nghi điểm mặt viên tốt trưởng canh cổng:

– Người là tốt trưởng, phụ trách việc canh cổng, tức là tai mắt phòng vệ giặc tập kích. Khi thấy có khách đến, phải lưu lại, rồi sai người vào báo với ta. Sau đó phải chờ lệnh ta, rồi mới được cho vào. Nay tuy người có sai binh canh báo với ta, nhưng ta chưa có lệnh, mà người đã để khách vào trại, là một tội phải chém đầu. Trong doanh trại tuyệt đối cấm ruổi ngựa, mà người để thị-vệ phi ngựa như bay là hai tội đáng chém.

Viên tốt trưởng run run:

– Xin đô-thống khoan hồng!

– Tỷ như vừa rồi không phải là Thái-hậu, mà là gian tế đánh úp trại, thì giờ này toàn quân ở đây sẽ ra sao? Ta không thể khoan hồng cho người.

Chàng lại chỉ mặt tên trưởng toán thị-vệ:

– Thị-vệ là móng vuốt xã-tắc bảo vệ Thiên-tử cùng hoàng tộc, luật lệ phải biết, kỷ luật càng phải nghiêm. Bởi vậy bất cứ ai phạm quân luật, đều có thể tha thứ, duy thị-vệ thì không. Người ỷ hộ giá Thái-hậu, rồi không coi quân luật ra gì ư? Đáng lễ ta chém đầu cả toán, nhưng có chỉ dụ của Thái-hậu ân xá, nên chỉ mình người bị hành hình mà thôi.

Chàng quát đao phủ:

– Đem trưởng toán thị-vệ, viên tốt trưởng ra chém đầu làm hiệu lệnh.

Lát sau đao phủ dâng thủ cấp hai người. Hoàng-Nghi sai đem đi khắp các doanh trại, cho toàn quân lấy đó làm gương.

Linh-Nhân hoàng thái hậu ngợi khen:

– Từ trước đến giờ chị vẫn nghe người ta nói Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt coi binh sĩ như chân tay, nhưng ngược lại trị quân rất nghiêm. Bây giờ chị mới được thấy tận mắt. Như vậy, mỗi hiệu Thiên-tử binh tuy chỉ vạn người, nhưng có thể địch lại mười vạn. Chị yên tâm.

Hậu nói với Tôn Đản:

– Tin tế-tác gửi từ Quế-châu cho biết, ta đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng 9 mà mãi tới hôm nay là ngày 1 tháng 10, mà Lưu Di mới biết. Đúng như ta ước đoán, Di cho rằng đây là cuộc đụng chạm giữa hai khê động mà thôi. Như vậy tin này có đến Biện-kinh ít ra là cuối tháng mười. Bây giờ ta cho ba đạo Quảng-nguyên, Môn-châu, Lạng-châu vượt biên. Không biết Tôn sư thúc có cao kiến gì không?

Tôn Đản chỉ lên bản đồ:

– Tuân chỉ thái-hậu. Quân ba đạo Quảng-nguyên, Môn-châu, Lạng-châu đã chuẩn bị sẵn, chỉ cần một lệnh ban ra, là ba giờ sau có thể lên đường. Bây giờ là giờ Tỵ, ta cho chim ưng mang lệnh đi, thì hết giờ Ngọ, cả ba đạo đều nhận được lệnh. Giờ Thân cho quân lên đường. Giờ Tý thì khởi tấn công.

Ghi chú ,

Theo Tục tư-trị thông giám trường biên thì quân Việt đánh Cổ-vạn ngày 15-9 năm Ất-Mão, mà ngày 28-10 tin mới về đến Biện-kinh. Mãi đến ngày 11 tháng 11 (DL. 21-12-1075) triều Tống mới được tin Cổ-vạn mất. Theo Quách-thị Nam chinh thì Vương An-Thạch thư cho Chu Am tiến đánh Tô-mậu để thử phản ứng Đại-Việt ngày 15-9, rồi bị Đại-Việt đánh úp Cổ-vạn, cho nên tin Cổ-vạn thất thủ bị Thạch ỉm đi, nhưng cuối cùng Thạch cũng phải tâu lên vua Thần-tông.

Tôn Đản hỏi Thường-Kiệt:

– Nếu như ngày mai, tôi cho đánh ba ải lớn của Tống, thì chỉ nội trong mười ngày là chiếm được hết. Binh quý hồ tốc. Sau khi chiếm được các ải, tôi để hoàng-nam trấn đóng bảo vệ đường tiếp tế lương thảo, cùng đường rút quân. Còn các hiệu Thiên-tử binh, quân Bắc-biên tiến về Ung-châu. Bấy giờ thì từ Lưu Di cho tới Tống triều đều rúng động. Chắc chắn chúng sẽ cho quân Khâm, Liêm tiến về Tây để đánh Cổ-vạn, rồi tiến vào Bắc-biên đánh úp sau lưng ta. Vậy nguyên soái phải thừa cơ đổ bộ ngay lập tức, để triệt căn bản của các đạo quân này, rồi cùng tiến về Ung-châu.

Thường-Kiệt cung tay:

– Trình sư-thúc, hiện bẩy hiệu Thiên-tử binh, đạo kị-binh Phù-Đổng hữu, cùng các đạo Thần-nỏ, Xa-thạch, Thú-binh đã sẵn sàng. Binh tướng đều được thông báo rằng chuẩn bị đánh Chân-lạp cứu Chiêm-thành. Khi có tin báo quân Khâm, Liêm khởi hành tiến về Tây, là cháu cho xuống các chiến hạm ra khơi. Khi hạm đội rời xa bờ cháu mới ra lệnh cho các tướng, thông báo cho chư quân.

Linh-Nhân hoàng thái-hậu hỏi Tôn Đản:

– Thưa sư-thúc, như vậy Cổ-vạn sẽ là cửa ải địa đầu trấn thủ Đại-Việt. Nhược bằng Cổ-vạn thất thủ thì không những đại quân ta mất đường tiếp vận lương thảo, mất đường về, mà Đại-Việt còn lâm nguy nữa. Vậy không biết sư-thúc đề cử ai trấn nhậm Cổ-vạn?

Tôn Đản suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Người trấn thủ Cổ-vạn phải thuộc loại trí dũng tuyệt vời mới đương nổi. Trong các tướng dự trận Bắc-biên này không ai đủ khả năng. Có lẽ phải mời sư-huynh Trần Trung-Đạo, hay U-bon vương Lê Văn mới đương nổi.

Nghe Tôn Đản nói, công chúa Côi-sơn mở to đôi mắt sắc như dao cao, liếc nhìn ông anh chồng, cũng là ông anh thứ sáu trong Thuận-thiên thập hùng, rồi hừ một tiếng:

– Anh sáu khinh thường em đến thế ư? Thế hồi đánh bọn Địch Thanh ở Khâm-châu, Liêm-châu thì là ai đấy nhỉ? Vừa thôi nhá!

– Hồi đó em mới ba mươi tuổi hơn, khí huyết còn sung thịnh. Nhưng bây giờ... Hừ!

Công-chúa Côi-sơn vốn nóng tính, bà đứng dậy hít hơi, rồi phát chiêu Đông-hải lưu phong hướng Tôn Đản. Chưởng chưa ra hết, mà mọi người đã muốn ngộp thở. Tôn Đản không ngờ cô sư muội tuổi gần năm mươi mà còn nóng nảy như xưa, ông vội vận đủ muời thành công lực ra đỡ. Nhưng ông đỡ vào quãng không, vì Thanh-Nguyên đã thu chưởng lại, rồi mỉm cười:

– Ví thử anh Tự-Mai, Lê Văn có mặt ở đây cũng phải nể em vài thành. Mà anh, thì anh khinh thường em quá.

Tôn Đản lắc đầu:

– Khiếp quá! Vậy thì anh để lại hiệu binh Bắc-biên thứ ba cho muội với Mạnh trấn Cổ-vạn. Nhớ, chớ có khinh thường.

Thanh-Nguyên cười đắc ý:

– Anh đừng lo!

Linh-Nhân hoàng thái hậu mỉm cười:

– Công-chúa Côi-sơn là người con được quốc-trượng Tự-An yêu thương nhất, Kinh-Nam vương cũng sủng ái cùng cực, nên khi công chúa trấn Cổ-vạn sẽ có hai cây cột chống trời đứng sau, thì giặc nào đánh cho nổi?

Công-chúa đưa mắt nhìn Linh-Nhân hoàng thái hậu, rồi nói:

– Nhất là lại có bà chúa kho Thiên-Ninh phò tá nữa, thì thần không còn sợ bất cứ loại giặc nào!

Linh-Nhân hoàng thái hậu ghé miệng vào tai Thanh-Nguyên thì thầm một lúc. Rồi hai vị nhìn nhau mỉm cười. Có ai ngờ, trong cuộc đối thoại ngắn ngủi đó của hai thiếu-phụ Việt, mà làm cho thành Khâm-châu ngập máu vào mấy tháng sau!

Ghi chú hồi thứ 34,

Hồi 34 thuật cuộc tấn công của quân Đại-Việt vào hàng rào 18 ải của Tống đóng dọc biên giới Đại-Việt. Thuật về cuộc tấn công này, dường như sử Việt chỉ dành ra có hai giòng. Ngay những sự tích của chư tướng tham dự cũng rất mơ hồ. Về sau trong những tập sách địa phương chí, hoặc các cuốn phổ tuy có nói đến thần tích chư tướng, nhưng chỉ thuật sờ sài là « Chống Tống » mà thôi. Như chép về :

– Phạm Dật trong Hải-dương tỉnh thần tích;
– Vũ Quang như Lục-Nam địa chí;
– Đinh Hoàng-Nghi như Cao-bằng sự tích;
– Lý Đoan như Bắc-ninh tỉnh thần chí;
– Trần Ninh như Đại-Việt địa dư chí,

Các tập Bắc-ninh tỉnh địa dư, Bắc-thành địa dư chí lục, Đại-Nam nhất thống chí, Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí... hầu như không đi vào chi tiết, lại nữa bỏ quên phu nhân các tướng.

Ngược lại, chi tiết các trận đánh này, tôi tìm thấy ở Trung-quốc. Trong những năm 1977-1995, mỗi lần sang Trung-quốc công tác y khoa là tôi lại mang computer, scanner theo, rồi sau những ngày công tác chính, tôi lần mò vào làng xã thuộc Quảng-Tây, mà trước đây là các trang động Đại-Việt hoặc khê động Tống thời Tống-Lý để tìm tài liệu. Nhân viên trong phái đoàn gọi tôi là ông thầy lẩm cẩm. Vài bạn trẻ Việt chê rằng tôi có dịp làm quen với các cô đẹp (đa số là văn công địa phương) mà bỏ phí, để đọc những bộ sách mục là khù khờ. Tôi chỉ cười.

1. Dùng thuật lột da mặt, cắt mắt, nâng mũi cao, làm trắng da cho các bà, các cô, mà tôi được đọc hầu hết gia phả các giòng họ lớn tại đây. Thú vị một đểm, là trong gia phả các danh gia đó chép những sự kiện giống hệt QTNC, TTCTGCK, TTCTBK.

2. Tôi lại lần mò đọc hầu hết những mộ chí của nhiều danh nhân địa phương còn sót lại, đọc những bia không quan trọng của các trang động, mà cơ quan bảo tàng cấp tính không mang theo. Lại một lần nữa, tôi tìm ra nhiều chi tiết về thời Tống-Lý. Sau đó đem so sánh các chi tiết này với QTNC,TTCTGCK, TTCTBK cùng gia phả, tuy có khá nhiều chi tiết khác biệt nhau, nhưng cũng có nhiều sự kiện giống nhau.

3. Tại thư viện, viện bảo tàng của huyện Nam-ninh (Ung-châu cũ), của tỉnh Quảng-Tây tôi còn tìm được nhiều tập sách mỏng có tính cách địa phương, hoặc soạn vào thời Tống, thời Nguyên, thời Minh; hoặc soạn vào thờ Tống, rồi các thời sau sửa đổi đi. Đó là những sách thần ký, địa lý chí, địa phương chí. Có sách ghi tác giả, có sách không. Những sách này ít nhiều chép các sự kiện lẻ tẻ đã thấy trong các bộ gia phả, bia đá, mộ chí, nhưng chi tiết hơn. Đó là các bộ :

3. Tại thư viện, viện bảo tàng của huyện Nam-ninh (Ung-châu cũ), của tỉnh Quảng-Tây tôi còn tìm được nhiều tập sách mỏng có tính cách địa phương, hoặc soạn vào thời Tống, thời Nguyên, thời Minh; hoặc soạn vào thờ Tống, rồi các thời sau sửa đổi đi. Đó là những sách thần ký, địa lý chí, địa phương chí. Có sách ghi tác giả, có sách không. Những sách này ít nhiều chép các sự kiện lẻ tẻ đã thấy trong các bộ gia phả, bia đá, mộ chí, nhưng chi tiết hơn. Đó là các bộ :

– Ung-châu kỷ sự (Nam-Tống, Vương Trọng-Nghi),
– Hy-Ninh hận sự bi ký của (Nguyên, Cố Bình),
– Quảng-Tây địa dư chí (Nam Tống, không ghi tác gỉả),
– Quảng-Tây chư thần ký (Nam Tống, không ghi tác giả),
– Khâm-châu địa dư chí (Nam Tống, Phùng Kinh),
– Khâm-châu chư thần ký (Nam Tống, Phùng Kinh),
– Vĩnh-bình chư thần ký (Nam Tống, không ghi tác giả),
– Hổ-môn chư thần ký (Nam Tống, không ghi tác giả),
– Tây-bình chư thần chí (Nam Tống, không ghi tác giả),
– Hổ-môn chư thần chí (Nam Tống, không ghi tác giả),
– Thần-tích Hỏa-giáp ngũ đại vương từ (Tống, Thẩm Chính-Văn),
– Thái-bình phong vật chí (Tống, Lý Ôn),
– Hoành-sơn sơn xuyên phong vực (Tống, Lý Ôn),
– Tây-bình sơn xuyên cương vực chí (Tống, Lý Ôn),
– Lộc-châu sự tích (Tống, Lý Ôn),
– Lộc-châu cương vực chí (Tống, Lý Ôn),
– Vĩnh-bình sơn xuyên phong vực ký (Tống, Lý Ôn),
– Cổ-vạn sơn xuyên cương vực ký (Tống, Lý Ôn),
– Như-tích sơn xuyên phong vực chí (Tống, Lý Ôn),
– Ôn-nhuận sự tích (Tống, Chu Đức-Minh),
– Qui-hóa địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Khâm-châu địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Nghi-châu địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Để-vực địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Dung-châu sự tích (Tống, Lý Ôn),
– Bạch-châu địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Liêm-châu địa dư chí (Tống, Nghiêm Vũ),
– Đông-hải Hy-Ninh bản mạt (Minh, Vô danh).




Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI LĂM

Đường về Ung-châu



Ngày Mậu-Thìn, 10 tháng mười một năm Ất-Mão (DL. 20-12-1075), niên hiệu Thái-Ninh thứ tư đời vua Lý Nhân-tông của Đại-Việt, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ tám đời vua Thần-tông nhà Tống.

Không gian đế đô Thăng-long, trấn Thanh-hóa, trấn Thiên-trường, trấn Đồn-sơn muốn nổ tung lên vì những cuộc chuyển quân vĩ đại. Dân chúng, gia đình tướng sĩ chen chúc nhau ở bến thủy-quân để tiễn thân nhân lên đường vào giúp Chiêm-quốc chống với Chân-lạp.

Tại Thanh-hóa, hạm đội Âu-Cơ cập bến. Cờ xí phất phới, những cánh buồm lớn mầu nâu kéo lên, nổi bật trên nền trời xanh lơ. Trên bờ hai hiệu Thiên-tử binh Hùng-lược, Vạn-tiệp dàn ra; cờ xí bay rợp trời, gươm đao sáng ngời, trống thúc vang dội. Trong cái khí thế nghiêng trời lệch đất đó, Trung-Thành vương Lý Hoằng-Chân ruổi ngựa duyệt qua hàng binh. Đi cạnh vương là hai đô-thống Ngô Ức, Tạ Duy với hai phu nhân Phương-Dược, Phương-Quế. Phía sau các hàng quân là vợ con, gia đình bình tướng đi tiễn đưa.

Binh tướng cũng như gia đình đều được thông báo rằng quân trẩy đi lần này để tham chiến tại Pandurango giúp Chiêm-thành chống Chân-lạp.

Sau khi duyệt binh rồi, Trung-Thành vương trao cho đô-đốc Trần Phúc, đô-thống Ngô Ức, Tạ Duy một bức thư niêm phong kín và dặn nhỏ:

- Đây là mật chỉ của hoàng-thượng. Khi hạm đội ra khơi, thì cả ba vị cùng hội nhau lại, mở phong thư này và thi hành.

Một chiếc chiếc pháo lệnh bắn vọt lên trên trời. Chiếc pháo nổ tung ra bốn phía. Đoàn hùng sư hướng các cầu tầu, lên chiến hạm. Thoáng một cái, hơn hai vạn người ngưa đã rời khỏi bờ. Sau ba hồi trống, hạm đội nhổ neo hướng ra khơi, phút chốc đã biến mất vào chân trời mờ mịt.

Đô-đốc Trần Phúc thấy hạm đội đã rời bờ khá xa, trông vào đất liền chỉ còn thấy một mầu xanh lơ của nước biển, dưới chân mây; những con hải-âu đang đo cánh trên nền trời... ông mới nói với Ngô Ức, Tạ Duy:

- Xin mời hai đô-thống, hai phu nhân vào khoang cùng mở mật chỉ để thi hành.

Năm người vào trong khoang lớn, Trần Phúc mở bao thưa ra. Nhìn tờ giấy in hình chim ưng, mỗi chân cặp một thanh kiếm, thì cả năm đều biết là lệnh của Khu-mật viện. Trong lệnh vỏn vẹn có mấy giòng:

« Lệnh nói rằng tham chiến ở Pandurango là hư kế để lừa địch. Hãy quay thuyền lên phía Bắc, rồi giảng giải cho quân sĩ biết rõ những âm mưu xâm chiếm Đại-Việt của Tống; vì vậy ta phải đánh Tống trước để tự vệ. Khi tới ngoài khơi Thiên-trường, sẽ gặp hạm đội Bạch-đằng chở hai hiệu Bổng-thánh, Bảo-thắng. Khi tới cửa sông Hồng, sẽ gặp hạm đội Động-đình chở hiệu Thần-điện. Ba hạm đội đi theo hàng một. Hạm đội Âu-Cơ đi đầu, thứ đến Bạch-đằng. Hạm đội Động-đình đi thứ ba. Tới Đồn-sơn, sẽ gặp hạm đội Thần-phù chở hai hiệu Vũ-thắng, Long-dực đi thứ tư. Bấy giờ sẽ có lệnh chi tiết sau ».

Năm người chia nhau đến từng chiến hạm giảng giải cho binh sĩ. Nghe các chúa tướng kể chi tiết về vụ Tống chuẩn bị đánh Đại-Việt, nên mình phải ra tay trước, binh sĩ hoan hô nhiệt liệt.

Phu-nhân của đô-thống Tạ Duy là Phương-Quế, đứng trên đỉnh một chiến thuyền khích lệ tướng sĩ:

- Chư quân đã nghe, đã hiểu mục đích việc ra quân của chúng ta rồi phải không?

- Nghe, hiểu.

- Chư quân từng học, từng nghe, từng quỳ gối lễ đền miếu thờ các anh hùng đời trước chết cho Đại-Việt. Con người ta, ai sinh ra cũng phải chết, không chết trước thì chết sau. Nếu như được chết cho Đại-Việt, sẽ thành thần, đời đời trăm họ tôn thờ mới là cái chết xứng đáng. Có phải vậy không?

- Đu...úng!

- Vậy đây là dịp duy nhất để chư quân được chết cho Đại-Việt, được thành thần.

- Nghe!

Thuyền tiếp tục đi về hướng Bắc. Sau một ngày thì gặp hạm đội Bạch-đằng. Sang ngày thứ ba lại gặp hạm đội Động-đình. Đến ngày thứ tư, thì chu-sư tới Đồn-sơn. Đây là căn cứ thủy quân chính của Đại-Việt. Bốn hạm đội dàn ra thành một hành dài. Chim ưng mang lệnh của đại đô đốc Lý Kế-Nguyên tới, mời các đô-đốc chỉ huy hạm đội, bẩy đô-thống cùng phu nhân chỉ huy bẩy hiệu Thiên-tử binh đến soái hạm họp.

Chư tướng có mặt đầy đủ. Trên bàn chủ-toạ, nguyên-soái Thường-Kiệt ngồi chính giữa. Bên phải là đại đô đốc Lý Kế-Nguyên, bên trái là Tín-Nghĩa vương Lý Chiêu-Văn.

Tín-nghĩa vương mỉm cười:

- Chắc chư tướng ngạc nhiên vì sự hiện diện của cô-gia ở đây phải không? Bởi trước đây trong cuộc nghị kế Bắc phạt, Linh-nhân hoàng thái hậu ban chỉ cho cô gia giữ nhiệm vụ tổng trấn từ Hải-vân tới Thanh-hóa, mà sao nay cô gia lại hiện diện phải không? Thưa đó là hư kế để lừa giặc mà thôi.

Nguyên-soái Thường-Kiệt để kiếm lệnh lên bàn:

- Trước hết bản soái loan báo cho các vị biết tình hình mặt trận trên bộ. Đầu tiên là trận Cổ-vạn. Bề ngoài là Tô-mậu hầu Vi Thủ-An chỉ huy, nhưng trên thực tế là Côi-sơn công chúa với Tôn phò mã. Như kế đã định trước: Ngày 15 tháng 9 lợi dụng địch mang quân sang đánh ta. Ta chia quân làm hai. Một mặt đi đường tắt đánh úp Cổ-vạn; một mặt chặn đánh địch ở đèo Vong-thiên. Toàn bộ năm nghìn quân Quảng, bốn nghìn Bảo-binh vừa bị bắt, vừa đầu hàng, vừa bị giết. Tả-lãnh vệ đại tướng quân Chu Am bị bắt. Bát tác sứ Toàn Hưng, thủ-lĩnh trại Cổ-vạn Nùng Hiệp-Thành bị giết. Sau khi lên tận nơi kiểm kê chiến lợi phẩm, thái-hậu phải rùng mình, vì số lương thảo tích trữ tại đây có thể nuôi mười vạn quân trong một năm, số vũ khí có thể trang bị cho năm vạn quân. Đó là một bằng chắng Tống định dùng lương thảo đó nuôi quân đánh ta, và d;ung vũ khí đó, bắt dân ta nhập ngũ để đánh Liêu.

Chư tướng vỗ tay.

- Ngày 1 tháng 10, Lưu Di mới được tin Cổ-vạn mất. Y tâu về triều rằng đó là những đụng chạm giữa các khê động. Có lẽ giờ này Tống triều cũng chưa biết rõ cuộc hành quân vĩ đại của ta với chủ đích gì?

Chư tướng lại vỗ tay.

- Ngày 2 tháng 10, cánh quân Quảng-nguyên, Lạng-châu, Tô-mậu đồng loạt tấn công vào các ải Thái-bình, Hoành-sơn, Vình-bình, Tây-bình, Lộc-châu. Trong ba cánh, thì cánh Quảng-nguyên đánh vào Tây-bình, Lộc-châu. Cánh này do phò-mã Thân Cảnh-Phúc với hai đô-thống Lý Đoan, Trần Ninh chỉ huy, ba vị phải đối đầu với quân số đông đảo của Tống gồm hai vạn Bảo-giáp, năm nghìn quân Quảng, ba nghìn kị binh. Nhờ ta tập kích bất ngờ, nên chiếm hai châu này dễ dàng. Bọn Nùng Toàn-An, Nùng Tông-Đán chạy thoát. Sau khi kiểm kê lương thảo, Thân phò mã ước tính rằng số lương tiền của Tống chứa tại đây có thể nuôi năm vạn quân trong một năm. Số vũ khí có thể trang bị cho bẩy vạn quân. Đó là hai bằng chứng về âm mưu của Tống. Trong lúc Tây-bình thất thủ, Trấn-viễn đại-tướng quân Lưu Khả của Tống đang dẫn quân Quảng, quân kị đi thao diễn cách đó hơn năm chục dậm. Bọn Nùng thoát thân, khẩn khoản xin Lưu đem quân về chiếm lại Tây-bình. Nhưng Khả là đại tướng trí dũng tuyệt vời. Y biết rằng đem quân chiếm lại Tây-bình rất khó, sao bằng đem quân đi đường tắt vượt biên đánh vào Lạng-châu, như vậy ta phải rút quân về để tự cứu.

Đến đó ông ngừng lại uống nước, làm chư tướng nóng ruột muốn lên tiếng hỏi: Rồi ra sao? Nhưng quân chế thời Lý rất nghiêm, nên mọi người cố nín nhịn ngồi chờ. Ông hỏi chư tướng:

- Các vị thử đoán xem, tình hình sẽ như thế nào?

Đô-đốc chỉ-huy hạm đội Thần-phù là Trần Hải đáp:

- Từ mấy chục năm nay, ở Bắc-biên dù thời chiến hay thời loạn, lúc nào trên thời cũng có Thần-ưng, dưới đất có Thần-ngao canh phòng; còn quân sĩ, thì cứ ba đội, một đội ứng trực. Chỉ cần ba hồi tù và là có thể lâm chiến. Vì vậy chắc Lưu Khả thất bại.

Phu-nhân đô-thống Trần Di là Phương-Lý lắc đầu:

- Thưa đô-đốc không hẳn như thế. Bởi trong đêm, hai bên cùng có cuộc chuyển quân lớn, Thần-ưng, Thần-ngao khó có thể phân biệt. Mà dù có phân biệt, báo động kịp thời, thì ta cũng không thể ứng chiến được ngay, vì kị kinh phi như bay! Có thể như thế này: Quân Tống tràn vào đánh mấy trang ấp sát biên. Mồi trang ấp đều có lũy tre kiên cố bảo vệ, cổng có hoàng-nam, Thần-ngao canh phòng. Vì vậy Tống phải khó khăn lắm mới chiếm được vài trang ấp. Bấy giờ lực lượng Bắc-biên mới tiếp cứu.

Thường-Kiệt hài lòng:

- Quả đúng như Phương-Lý ước tính. Câu hỏi khác được đặt ra: Nếu các vị là vua bà Thiên-Thành, hay phò-mã Thân, các vị phản ứng ra sao?

Đô-đốc Trần Phúc chỉ huy hạm đội Âu-Cơ, đô-đốc Trần Lâm chỉ huy hạm đội Động-đình cùng đáp:

- Thưa sư huynh, đệ tạm ngừng tiến quân, cho quân của Thân phò mã đánh quặt trở về, quân phòng thủ Bắc-biên cố thủ trong trang ấp. Như vậy chỉ hai ngày quân Lưu Khả hết lương, ắt tan vỡ. Tuy nhiên sẽ có trận đánh quyết tử của Tống với ta, mà số tổn thất của ta cũng không nhỏ.

Ghi chú ,

Thường-Kiệt là con Ngô An-Ngữ. Mà Ngô là đệ tử của Trần Tự-An. Còn Trần Phúc là cháu nội Trần Kiệt; Trần Lâm là con Trần Phụ-Quốc. Vì vậy so vai vế Thường-Kiệt thuộc vai sư đệ Trần Lâm, và vai sư huynh Trần Phúc.

Đô-thống Quách Y đáp:

- Giặc cùng chớ đuổi. Nếu trường hợp đó xẩy ra, ắt Thân phò mã sai hai đô-thống Lý Đoan, Trần Ninh đem quân về cứu Lạng-châu. Hai trự Đoan, Ninh sẽ không ngại ngùng gì mà bắt hết vợ con tướng sĩ Tống chở ra mặt trận cho đi trước, rồi đội cung thủ núp sau, để đe dọa: Ai hàng thì tha cho cả bản thân và gia đình. Ai chống thì cứ tiến lên, bắn ra để vợ con chết trước!

Cả năm đô-đốc Lý Kế-Nguyên, Trần Phúc, Trần An, Trần-Hải, Trần-Lâm đều lắc đầu, phì cười:

- Hành sự như vậy thì thành công đấy, nhưng thiếu tinh thần võ-đạo! Giặc nó cười mình rằng hèn, rằng chơi cùi! Thiếu anh hùng tính.

Đô-thống Tạ Duy cãi:

- Trường hợp này mới đúng võ đạo. Đúng đứt đuôi con nòong nọoc đi chứ lị. Các vị có biết không, khi còn sinh thời, sư-phụ dạy: « Trong việc hộ quốc, nếu phải làm bất cứ việc gì, dù dơ bẩn, dù ác độc, cũng làm. Vả phép dụng binh, làm sao đổ máu càng ít, thì dù phải có hành vi bần tiện đến đâu cũng làm ». Vì vậy bọn đệ đã hẹn nhau, khi chơi với Tống, nếu cần thì bóp dế, xài cẩu quyền cũng xài, nếu phải chơi cùi cũng chơi!

Uy tín Khai-Quốc vương cực kỳ lớn trong thời Lý, vì vậy khi nghe Tạ Duy nhắc đến ngài, tự nhiên mọi người ngồi ngay ngắn lại. Thường-Kiệt gật đầu:

- Quả đúng như lời Tạ đô-thống nói. Khi được tin Lưu Khải đem quân tràn vào biên giới ta, Thân phò mã sai hai đô-thống Lý, Trần đem thú-binh, kị-binh, cùng Thần-nỏ trở về tiếp cứu. Còn vua bà Thiên-Thành thì đem hai hiệu binh Hồng-châu, Kinh-Bắc ứng chiến. Trong khi hai bên đối trận, Đô-thống Trần Ninh đem năm mươi xe, trên chở bố mẹ, vợ con các tướng Tống ra, rồi cho đội Thần-nỏ, Thần-tiễn Long-biên đi sau. Tới trước trận, đô-thống gọi các tướng sĩ Tống: « Phía trước, các người tiến lên đánh các trang ấp, thì trang ấp kiên cố, đánh không nổi. Các người lùi trở về, thì Tây-bình, Lộc-châu bị chiếm, vợ con, của cải trong tay chúng ta. Này! Các người nên nhớ quân Đại-Việt là quân nhân nghĩa, nếu các người buông vũ khí đầu hàng, thì không những tính mệnh được tha, mà của cải cùng gia thuộc cũng được an toàn ». Binh tướng Tống kinh hoàng, một vài người buông vũ khí đầu hàng, lập tức bị Lưu Khải chém đầu tại chỗ, rồi hô tiến lên. Đô-thống Lý Đoan chụp ngay hai đứa trẻ còn bế ngửa, trong đám con của binh-sĩ Tống xé tét làm hai mảnh. Tướng sĩ Tống kinh hoàng, đồng buông vũ khí đầu hàng.

Tây-hồ thất kiệt cười khoái trá:

- Bọn Long-biên ngũ hùng chơi mánh này hay thực!

Đô-đốc Lý Kế-Nguyên lắc đầu:

- Xé xác trẻ con vô tội như vậy e tổn thương đến đức hiếu sinh của Thượng-Đế. Muôn ngàn lần không nên.

Tây-hồ thất kiệt lại bưng miệng cười.

- Tôi bàn vậy không đúng sao?

Lý Kế-Nguyên cau mày: Không lẽ đây cũng là võ đạo?

Đô-thống Mai Cầm bật cười:

- Thưa quan Thái-phó! Quan Thái-phó là thầy của Thái-hậu, cũng như thầy của bọn cháu. Bọn cháu đâu đám bảo Thái-phó sai? Nhưng Thái-phó ơi! Người tắm trong đạo của đức thánh Khổng, thì khó mà hiểu được bọn ăn này, móc túi như bọn cháu.

- ?!?!?!

- Cháu chắc Lý Đoan đã dùng vải bọc xác con chó, con thỏ gì đó, giả làm trẻ nít, rồi đem xé để hù bọn Tống mà thôi, chứ đâu có xé xác trẻ thơ!

Thường-Kiệt bật cười:

- Lý đô-thống quả đã hành sự như Mai đô-thống ước tính.

Lý Kế-Nguyên là một thứ quân tử đầy đức khiêm-cung, biết mình lý giải sai, ông cung tay hướng Mai Cầm:

- Nguyên này thực không bằng Mai đô-thống.

- Cháu không dám. Đa tạ Thái-phó đã dạy cho cháu một bài học về đức khiêm-cung của người quân tử.

Thường-Kiệt tiếp:

- Nhưng Lưu Khải với đội võ-sĩ trực thuộc không chịu hàng. Chúng xông vào trận định bắt hai đô thống Lý Đoan, Trần Ninh. Chỉ hai chiêu Lưu đánh Lý, Trần phun máu miệng bỏ chạy. Cũng may Thân phò mã vừa tới. Lưu thách Thân phò mã đấu tay đôi. Thân phò mã với Lưu đấu đến hơn trăm chiêu bất phân thắng bại. Vì Lưu đã ở vào tuổi gần bốn mươi, công lực thâm hậu vô song, trong khi Thân phò mã mới vừa tới tuổi hai mươi lăm.

Chư tướng đều suýt xoa về bản lĩnh của Lưu hải, bởi bản lĩnh của phò-mã Thân Cảnh-Long đứng vào hàng số một số hai Đại-Việt.

- Dần dần, Thân phò mã yếu thế. Phò-mã đành đánh một chiêu, rồi nhảy ra ngoài chịu thua. Người giữ lời hứa, thả cho Lưu về Tống. Lưu đắc chí cười nhạt: « Ta tưởng Mục-ngưu thiền chưởng của Nam-man xuất ra từ Thiền-công là vô địch thiên hạ, hóa ra cũng tầm thường thôi ». Y vừa giật cương cho ngựa đi, thì một mã phu Đại-Việt tung cái túi vải to bằng quả dưa vào người y. Cái túi bay rất chậm, nhưng quay rất mau. Y vung tay định đỡ, thì cái túi vỡ tan ra, rồi hai viên sỏi trúng vào huyệt Khúc-trì, hai viên khác trúng vào huyệt Dương-lăng-Tuyền của y, khiến chân tay y cứng đơ; rồi một cái đùi chó trong túi bay ra chui tọt vào miệng y, khiến y ngậm lại không được.

Mọi người cùng bật lên tiếng kêu:

- Mộc-tồn Vọng-thê hòa thượng.

- Đúng thế. Quả là ngài!

Thường-Kiệt tiếp: Thình lình một viên kị mã Tống tung người lên; ông vỗ vào vai Lưu Khải một cái, khiến huyệt đạo của y được giải khai. Y lấy cái đùi chó trong miệng ra rồi chửi:

- Đồ hèn hạ đánh trộm. Nếu Mộc-tồn Vọng-thê có giỏi hãy xuất hiện cùng mỗ đấu vài ngàn hiệp.

Bấy giờ chư quân mới nhìn người giải huyệt cho Lưu Khải, thì ra y là một nhà sư mặc áo cà-sa đại hồng.

Mộc-tồn Vọng-thê hoà thượng từ trong quân Việt tung mình nhảy ra. Binh sĩ Việt đồng chắp tay vái:

- Nam mô Mộc-tồn Vọng-thê bồ-tát.

Hoà-thượng hất hàm hỏi Lưu Khải:

- Nhất sinh ta không chấp bọn hậu bối các ngươi. Ngươi đấu võ với tên bé con Cảnh-Long, ngươi thắng y, y rộng lượng tha cho mi sống; đáng lẽ mi phải lủi ngay mới phải. Đây mi lại nhục mạ võ công Đại-Việt, nên ta mới trừng phạt mi. Vậy ta ra chiêu đây, nếu mi đỡ được của ta ba chưởng, thì ta tha cho mi sống. Đỡ đi, chiêu thứ nhất này.

Nói rồi ngài phát chiêu, đó là chiêu Thiên-vương trấn thiên. Lưu Khả vận đủ mười thành công lực đỡ. Ầm một tiếng, người y bay bổng lên cao. Y rơi xuống đất như trái mít rụng, miệng ứa máu ra. Con ngựa của y thì bị tan làm năm sáu mảnh, máu me, ruột gan bay tứ tung.

Mộc-tồn hoà thượng nói:

- Nếu ta đánh một chưởng nữa, thì người mi sẽ bẹp như con tép bị ngựa dẵm lên. Vậy ta cho mi thở trong mười tức, rồi ta đánh chiêu thứ nhì.

Lưu Khả thở đến tức thứ bẩy thì lảo đảo đứng dậy. Mộc-tồn hoà thượng phát chiêu thứ hai, đó là chiêu Lôi-đả Ân-tặc. Chưởng chưa ra hết mà Lưu Khả đã ngã lăn xuống đất. Bỗng có bóng vàng thấp thoáng, nhà sư giải huyệt cho Lưu Khải nhảy ra vung chưởng đánh cắt vào giữa chưởng của ngài. Ầm một tiếng, nhà sư đó bật tung lại sau ba bước liền. Mộc-Tồn hòa thượng cười nhạt:

- Người chẳng là đại-sư Pháp-Nhẫn, thủ tọa Đạt-ma đường chùa Thiếu-lâm đấy ư? Là cao tăng, mà sao người lại theo quân Tống xâm lăng Đại-Việt? Hãy đỡ chiêu nữa của ta.

Bồ-tát lại đánh tiếp chiêu thứ ba. Đại-sư Pháp-Nhẫn đưa cả hai chưởng ra đỡ. Mọi người thét lên kinh khủng, vì dù với chiêu đó, thì cả ông với Lưu Khả đều tan xương nát thịt ra mà chết. Bỗng có tiếng quát thanh thoát:

- Xin Bồ-tát dung tình!

Rồi hai nhà sư náo nâu tung mình ra cùng đỡ chưởng thứ ba của ngài. Ầm một tiếng, đại sư Pháp-nhẫn với hai nhà sư áo nâu đều lảo đảo muốn ngã. Một nhà sư áo nâu chắp tay hành lễ:

- Đại bồ-tát, tiểu tăng lớn mật dám xin đại bồ-tát tha mạng cho vị đại sư Pháp-Nhẫn. Bởi người là một cao tăng đạo cao đức trọng.

Mộc-tồn hoà-thượng cười nhạt:

- Thì ra hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh đấy ư? Tại sao người lại cứu bọn Tống?

Nghe đến Minh-Không, Tây-hồ thất kiệt đồng đưa mắt nhìn nhau, vì ngài chính là Minh-Không bồ tát thời Thuận-thiên tái giáng sinh. Trong thời thơ ấu, khi bẩy vị còn ăn xin lang thang ở Thăng-long, ngài đã phát tâm bồ-đề gửi Tín-Nghĩa vương nuôi dạy, rồi được Khai-Quốc vương thu làm đệ tử, cho nên ngày nay mới thành đại tướng.

Minh-Không đại sư chắp tay:

- Bạch bồ tát! Trước đây đại-sư Pháp-Nhẫn không những đã cản trở vua Tống Anh-Tông đem quân đánh Đại-Việt mà thôi, ngài còn khuyên nhà vua không cho đem quân sang đánh tất cả các nước lân bang nữa. Vì Lưu tướng quân là đệ tử của đại sư. Đứng trước cái chết của đệ tử, hỏi ai đang tâm đứng nhìn? Vì vậy đại sư phải ra tay cứu Lưu tướng quân, đó là lẽ thường tình.

Mộc-tồn bồ-tát chắp tay hành lễ với đại-sư Pháp-Nhẫn ba lễ rồi móc trong túi ra năm viên thuốc trao cho ngài:

- Thiên tai! Thiện tai! Mộc-tồn này kiến văn hủ lậu, nên không biết được tâm bồ tát của đại-sư. Mong đại sư hỷ xả ân xá cho.

Rồi ngài bỏ năm viên thuốc vào miệng đại sư Pháp-Nhẫn. Đại-sư Pháp-Nhẫn nuốt thuốc, sau khi vận khí mấy tức, ngài mửa ra một búng máu, rồi đứng dậy chắp tay vái Mộc-tồn bồ tát:

- Đa tạ Bồ-tát ban thuốc.

Mộc-tồn bồ tát hướng phò-mã Thân Cảnh-Long nói:

- Bé con, ta mang Lưu Khải đi nhé!

Rồi ngài chụp Lưu Khải cặp vào nách, cùng đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh, Pháp-Nhẫn tung mình vào rừng mất hút.

Đô-thống Triệu Thu hỏi:

- Trình nguyên-soái, đạo quân đánh Tây-bình, Lộc-châu coi như xong. Thế còn đạo quân đánh Vĩnh-bình, Thái-bình, Hoành-sơn ra sao?

- Vì những thù hận giữa Môn-châu với Vĩnh-bình, nên khi lệnh tấn công ban ra, Trấn-Bắc thượng tướng quân Hoàng Kim-Mãn cùng đô-thống Vũ Quang xua quân đánh tràn sang như nước vỡ bờ. Quân Vĩnh-bình chống cự rất mãnh liệt. Hoàng-nam của Môn-châu chết khá nhiều, mà không lọt được vào ải. May nhờ phu nhân của đô-thống Vũ Quang là Võ Kim-Liên rất can đảm, bà thân cầm đao đi đầu, chỉ huy đội binh thú tấn công: Trên trời Thần-ưng đánh xuống, bên dưới Thần-nỏ bắn yểm trợ, rồi cho Thần-phong nhào xuống đốt; đợi khi quân phòng thủ rối loạn, mới cho Thần-hổ, Thần-báo, Thần-ngao, Thần-tượng xung phong. Bấy giờ quân ta mới lọt vào trong ải.

Ông đưa mắt nhìn chư tướng một lượt rồi tiếp:

- Khi chiếm Vĩnh-bình xong, Đô-thống Vũ Quang kiểm kê tài sản báo cáo về rằng số lương thảo, tiền bạc chất ở đây có thể nuôi mười vạn quân trong một năm. Số vũ khí có thể trang bị cho năm vạn quân. Đây là bằng cớ thừ ba về âm mưu của Tống. Chiến thắng vẻ vang, quân hầu Hoàng Kim-Mãn cùng ba con trai mới nghĩ đến trả thù năm xưa bị Tô Tá xua quân sang hãm hiếp vợ con hầu trước mặt hầu, giết không biết bao nhiêu dân Vĩnh-bình. Mặc dù có sự can thiệp của Đô-thống Vũ Quang, phu-nhân Võ Kim-Loan, nhưng Hoàng quân hầu cũng cứ trả thù.

Ông thở dài lắc đầu:

- Hầu sai đem mẹ, vợ, con của tướng sĩ Vĩnh-bình, Tô Tá ra hành hình. Lối hành hình thực kinh khủng, dã man, tàn bạo chưa từng có: Sai đặt tiệc rượu để những tướng sĩ Môn-châu có vợ con, gia thuộc bị Tô Tá cho hãm hiếp, chém giết trước đây, vừa ăn vừa coi. Còn tướng sĩ của Tô Tá bị trói vào cọc gần đó để thấy bố, mẹ, vợ, con họ bị xẻo từng miếng thịt, hoặc lấy dùi nung trong bếp than, rồi xiên vào thịt. Tội nhân gào khóc thê thảm, mà không chết được. Cuộc hành hình kéo dài suốt một ngày, đám già trẻ khốn nạn đó mới chết. Hôm sau, Hoàng hầu lại đem đám tướng sĩ Môn-châu tẩm mật lên người, rồi để trước các ổ kiến lửa cho kiến bò lên cắn. Tội nhân rên rỉ suốt hai ngày mà chưa chết. Đứng trước vụ này, đô-thống Vũ Quang nảy ra ý mời Mộc-tồn bồ-tát can thiệp. Nhưng không biết ngài ở đâu? May thay, giữa lúc đó, sứ giả của Ưng-sơn song hiệp đem thanh kiếm tới nói với Hoàng hầu phải chọn một trong hai điều: Hoặc là tha tất cả tội nhân, trao cho sứ giả mang về Vạn-thảo sơn trang trị bệnh; tự hậu không được giết hay đánh tù binh, dân chúng Vĩnh-bình; phải ngăn cấm binh sĩ cướp bóc, hãm hiếp dân chúng. Hoặc là dùng thanh kiếm này tự tử ngay. Nếu trong ba ngày không thi hành xong, thì Ưng-sơn sẽ giết cả nhà hầu, đến con chó, con mèo cũng không tha. Hoàng hầu kinh hãi, vội chọn điều thứ nhất.

Lý Thường-Kiệt sai thân binh đem nước trà mời chư tướng uống cho ấm bụng, rồi tiếp:

- Trong bốn cánh quân, thì cánh Quảng-nguyên thiếu may mắn nhất. Thái-tử thiếu bảo, Phiêu-kị đại tướng quân, Quảng-nguyên hầu Lưu Kỷ chia quân làm hai. Chính hầu đem quân Bắc-biên, hoàng-nam đánh Hoành-sơn; đô-thống Phạm Dật, với phu nhân Lê Kim-Liên mang quân đánh Thái-bình. Không may cho ta, tế-tác của Trấn-Nam tướng quân Thái Bằng biết tin trước một ngày, nên y cho một nửa quân đóng ngoài trại, một nửa quân đóng trong trại làm thế ỷ dốc. Khi quân ta đến nơi, hai bên giao tranh cực kỳ ác liệt. Cánh quân của đô-thống Phạm Dật gồm hiệu Thiên-tử binh Ngự-long do chính đô-thống chỉ huy với đội Thần-ngao. Phu nhân Lê Kim-Liên chỉ huy thú binh, Thần-nỏ, đội Thần-tiễn Long-biên xung phong bốn lần đều bị đánh bật ra. Cuối cùng ban đêm phu nhân cho đội Thần-hầu đột nhập ải Thái-bình đốt doanh trại, nhà cửa. Trong lúc quân Tống lo cứu hỏa, quân ta mới đánh vào được. Trấn-Nam tướng quân Thái Bằng đem tàn quân bỏ chạy, An-viễn tướng quân Lâm Mậu-Thăng bị chết tại trận. Có lẽ đây là cuộc giao tranh khốc liệt nhất. Còn Lưu quân hầu đánh Hoành-sơn có phần cơ cực hơn. Sau ba ngày giao tranh bất phân thắng bại, hoàng-nam, quân Bắc-biên chết quá nhiều, Lưu hầu định rút lui. Giữa lúc đó, đô-thống Phạm Dật đem quân tiếp viện. Sau hơn ngày giao chiến cực kỳ khó khăn, quân ta có vẻ thắng thế, thì một tướng Tống đấu với Lưu hầu hơn trăm hiệp. Hầu bị trúng chưởng suýt bỏ mạng. May thay lúc đó, phu-nhân Ngô Cẩm-Thi xuất hiện cứu hầu. Phu nhân đấu với tướng đó đến ba trăm chiêu mới hạ được y. Thì ra y là Yên Đạt. Nguyên y vâng lệnh triều Tống đi kiểm tra lương thảo ở Nam thùy, giữa lúc y ở Hoành-sơn thì xẩy ra cuộc chiến. Sau khi Yên Đạt bỏ chạy, ta chiếm Hoành-sơn. Trần-Nam tướng quân Thái Bằng bị bà Ngô Cẩm-Thi giết chết, quản hạt Ngũ Cử bị Lê Kim-Liên giết, giám-áp trại Quách Vĩnh-Nghiêm bị đô-thống Phạm-Dật giết. Lưu hầu kiểm kê chiến lợi phẩm ở hai trại này mà phát rùng mình: Lương thảo đủ nuôi hai mươi vạn binh trong một năm, vũ khí đủ trang bị cho năm vạn quân. Đây là bằng chứng thứ tư về âm mưu của Tống định đánh ta.

Tín-Nghĩa vương suýt xoa:

- Tổng cộng lương tiền cả vùng Nam-thùy mà ta thu được, tính ra có thể nuôi năm mươi vạn quân trong một năm, vũ khí có thể trang bị cho ba mươi vạn binh. Như thế đủ hiểu rằng Tống đã chuẩn bị xong để đem trăm vạn người đánh ta trong sáu tháng, không cần tiếp tế. Số vũ khí dự trù bắt người mình để thành lập đạo quân ba mươi vạn, rồi đem lên đánh Liêu, đánh Hạ.

Thường-Kiệt để cho chư tướng nghỉ một khắc, rồi tiếp:

- Đạo trên bộ đã xong. Nay ta được tin Lưu-Di sai chuyển tất cả quân ở Khâm-châu, Liêm-châu kéo về chiếm lại Cổ-vạn, Tây-bình, Lộc-châu. Họ đã khởi hành hai ngày rồi. Bây giờ ta thừa cơ đánh úp Khâm, Liêm châu. Các vị được cái danh dự đánh trận này.

Các tướng vỗ tay nhiệt liệt phấn khởi. Thường-Kiệt tiếp:

- Lực lượng chúng ta đây có bốn hạm đội, bẩy hiệu Thiên-tử binh, một đạo kị binh, một lữ Thạch-xa, một lữ Thần-nỏ, thêm đội Giao-long Tây-hồ. Chúng ta có nhiệm vụ đánh chiếm Khâm-châu, Liêm-châu. Đánh Khâm-châu, thì chỉ cần đổ lên bờ biển, là tiến tới nơi. Tuy nhiên che mặt Nam cho Khâm-châu gồm các ải dọc biên giới Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long. Ta phải đánh bốn trại này trước. Sau khi chiếm các trại biên phòng, ta tiến về Ung-châu. Trên đường đi, phải đánh Dung-châu, Bạch-châu, Nghi-châu.

Giữa cái không khí trang nghiêm của lịch sử ấy, chư tướng cùng im lặng, đến nỗi những người ngồi bên nhau có thể nghe thấy tiếng tim đập của nhau. Trong khoang có tới hơn trăm người, mà im lặng như trong đêm khuya.

Thường-Kiệt tiếp:

- Ta chia quân làm ba cánh. Cánh thứ nhất đánh vào các ải trực thuộc Khân-châu là Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long. Tại vùng này Tống có đạo binh-triều thứ 34, một lữ kị-binh 44, nhưng họ đã tiến về phía Tây để cứu Cổ-vạn rồi, thành ra họ chỉ có bảo-giáp giữ nhà mà thôi. Mỗi ải có khoảng hai nghìn người, được luyện tập cực kỳ tinh nhuệ như binh triều. Thế mà ta phải đánh thực nhanh, bằng không đạo binh cứu viện lại lộn trở về, thì khó thành công.

Ông hướng vào Tín-Nghĩa vương:

- Lực lượng đánh vùng này gồm hạm đội Thần-phù của đô-đốc Trần Hải, bộ binh gồm hai hiệu Thiên-tử binh Vũ-thắng của đô-thống Trần Di, Phương-Lý, Long-dực của đô-thống Dương Minh, Phương-Cúc. Tổng chỉ huy là hoàng-tử Chiêu-Văn.

Tín-Nghĩa vương cùng chư tướng đứng dậy nhận lệnh.

- Cánh thứ hai có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ thủy quân ở cửa biển Khâm-châu. Tống thiết lập căn cứ thủy quân Khâm-châu với mục đích đánh ta, vì vậy họ đã chỉnh đốn, thao luyện hạm đội Nam-thùy, giao cho đô-đốc Dư Tấn chỉ huy từ mấy năm nay. Tấn nguyên xuất thân từ bang Đường-lang, võ công rất cao, lại giỏi thủy chiến. Trước khi xuống Quảng-Đông, y tâu xin vua Tống cho thu dụng hết bọn vong mạng, bọn cướp biển ở vùng Mân-Triết xung quân., Vì thế tuy quân số khoảng một vạn người, nhưng rất thiện chiến. Tấn còn bắt tất cả thợ mộc, thợ rèn ở Quảng-Đông, mở xưởng đóng thuyền. Số thợ tới hơn vạn người nữa, nhưng đám này không luyện tập võ nghệ, binh bị, ta không cần để tâm. Mục đích đánh Tống của ta là bằng mọi giá phải phá cho căn cứ thủy quân này của Tống. Nếu không thì cánh thứ ba tiến đánh Khâm-châu sẽ bị hở lưng. Lực lượng đánh căn cứ thủy quân cần tinh nhuệ, chứ không cần nhiều. Bản soái quyết định để hạm đội Động-đình của đô-đốc Trần Lâm, hiệu Thần-điện, đội Giao-long Tây-hồ của đô-thống Triệu Thu với Phương-Liễu. Tổng-chỉ huy là đại đô-đốc Lý Kế-Nguyên.

Lý Kế-Nguyên cùng chư tướng đứng dậy nhận lệnh.

- Cuối cùng là lực lượng đánh Khâm-châu. Tại Khâm-châu, Tống có đạo binh 31 do giám-áp Văn Lương, Ngô Phúc chỉ huy; một lữ kị 41 hai viên chỉ-huy sứ Tống Đạo, Đinh Toại chỉ huy. Ngoài ra còn có viên tuần-kiểm chỉ huy ba nghìn bảo-binh nữa. Đúng ra đạo binh triều với đạo kị này đã lên đường cứu Cổ-vạn, Tây-bình. Nhưng họ còn chờ quân Liêm-châu xuống thay thế. Nếu như ta đánh úp được khi chúng chưa kịp tập họp quân thì nhất rồi. Còn như trái lại bắt buộc ta phải chấp nhận giao-chiến, e tổn thất không ít. Tướng trấn thủ Khâm-châu là Trần Vĩnh-Thái. Y xuất thân từ phái Hoa-sơn, đỗ tiến sĩ, là đệ tử út của Tây-sơn lão nhân, tức sư đệ của công-chúa Huệ-Nhu, của Triệu Tiết, bản lĩnh y rất cao thâm. Y được Kinh-Nam vương nâng đỡ. Sau thời gian chiến đấu ở mặt trận Tây-hạ, Bắc-liêu, y được phong Đông-hưng hầu, lĩnh ấn Vân-ma đại tướng quân, rồi đề bạt cho làm trấn thủ Khâm-châu. Nhưng phải cái chứng y tự cao, khinh địch. Ngoài ra còn có giám-thuế Âu-dương Dẫn coi về binh lương. Tất cả bọn quan trấn thủ Khâm-châu đều là chân tay Vương An-Thạch sai xuống Nam chuẩn bị đánh ta, nên rất hung hăng.

Ông chỉ lên bản đồ:

- Đây là thành Khâm-châu. Tất cả đạo binh 31, kị-binh 41 đều đóng trong thành. Ta có hai hạm đội, bốn hiệu Thiên-tử binh. Vậy...

Ông chỉ đô-đốc Trần An:

- Hạm đội Bạch-đằng do đô-đốc Trần An chỉ huy chở, hiệu Bổng-thánh của đô-thống Mai Cầm với Phương-Đơn, hiệu Bảo-thắng của đô-thống Quách Y với Phương-Tiên. Sau khi cập bến lập tức hiệu Bổng-thánh đem theo đội Thần-nỏ, đội Thần-hổ, Thần-báo tràn vào cửa Đông, đánh vào trung ương, bắt chiếm dinh tổng-trấn, bắt hết quan lại. Hiệu Bảo-thắng của đô-thống Quách Y với Phương-Tiên đánh chiếm trại kị-binh. Hạm đội Âu-Cơ của đô-đốc Trần Phúc chở hiệu Hùng-lược của đô-thống Ngô Ức với Phương-Dược; hiệu Vạn-tiệp của đô-thống Tạ Duy với Phương-Quế. Sau khi cập bến, hiệu Hùng-lược đánh chiếm hai cửa Nam, Tây; hiệu Vạn-tiệp đánh chiếm cửa Bắc, Đông.

Ông chỉ vào vùng Liêm-châu:

- Sau khi hạ xong Khâm-châu, ta đánh Liêm-châu, rồi tiến về Dung, Bạch, Nghi.

Ông đứng dậy ban lệnh rất chậm:

- Tất cả các đạo quân phải di chuyển đến mục tiêu, để đúng giờ Tý ngày Bính-Tý, tức 20 tháng 11 là tấn công đồng loạt.

Ông quay lại hỏi Động-đình thất kiệt:

- Trước đây chư huynh đều là những cao-thủ võ lâm, hành hiệp ở vùng Lưỡng-Quảng nức tiếng Thiên-hạ. Chẳng may vì lòng yêu nước, mà bị bọn hủ nho Vương An-Thạch đưa vào chỗ chết. Rất may giữa các vị với anh em võ-lâm Đại-Việt thông cảm với nhau. Các vị đã kết huynh đệ với Long-biên ngũ hùng thì cũng như sư huynh sư đệ với Kiệt này. Nay trong cuộc ra quân tự vệ của Đại-Việt, Kiệt dám cả gan nhờ chư vị huynh đệ một việc.

Động-đình nhất kiệt Từ Bá-Tường đứng dậy:

- Anh em chúng tôi là kẻ sĩ đất Kinh-Sở, gặp đường cùng, được đức Thánh-tông ban cho khỏi chết, lại cứu gia quyến sang Đại-Việt. Nhưng chúng tôi cũng được tin từ quê nhà cho biết: Bọn hủ nho Tống ra sức trả thù chúng tôi: họ hàng, hạn hữu, sư huynh sư đệ đồng môn kẻ thì bị giết, người thì bị bắt, gia sản bị tịch thu. Cho nên nay họ phiêu bạt khắp nơi. Còn phía Đại-Việt từ triều đình, đến võ-lâm Đại-Việt đối xử với chúng tôi như tình ruột thịt, đãi chúng tôi như thượng tân. Nghĩ rằng: Phàm kẻ sĩ trong thiên hạ, phải ân oán cho phân minh. Mấy năm qua, anh em chúng tôi muốn đem tài hèn, sức mọn ra đền đáp Đại-Việt để đáp ơn tri ngộ, đó là báo ân; lại cũng hướng mắt về quê, lòng ngút lửa hận, nghiến răng thề có ngày về giết hết bọn kiến ruồi, đó là trả oán. Nay dịp đã đến, vậy Nguyên-soái cần sai bảo gì, xin cứ ban lệnh.

- Các vị sống ở vùng Nam Ngũ-lĩnh, các vị đã biết rồi đó: Tống triều coi dân Nam Ngũ-lĩnh (ghi chú Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quý-châu ngày nay) là thứ man di. Những quan lại, võ tướng được cử xuống, đa số là những kẻ bị đầy, thành ra chúng tha hồ vơ vét, tha hồ tàn ác, mà Tống triều cũng nhắm mắt làm ngơ. Chỉ dụ của thái-hậu là tuyệt đối không được giết tù hàng binh. Nhưng các vị có thể dùng luật võ lâm « Thế thiên hành đạo», điều tra để biết bọn nào là bọn tham quan, bọn nào là bọn ác bá, bọn nào là bọn đầu trộm đuôi cướp... rồi đem xử theo luật võ lâm. Như vậy khiến cho uy danh, đức độ các vị càng thêm lớn, mà dân chúng cũng được tắm ơn mưa móc trong võ đạo của các vị.

Từ Bá-Tường cung tay:

- Xin tuân lệnh nguyên soái.

Hôm ấy là ngày Đinh-Sửu 19 tháng 11 năm Ất-Mão, niên hiệu Thái-Ninh thứ tư đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ 8 đời vua Thần-tông nhà Tống.

Hạm đội Động-đình rời bến Đồn-sơn tiến lên phía Bắc, các chiến thuyền dàn theo hình con thoi. Đi đầu làm mũi nhọn là một chiến hạm lớn. Chiến hạm kéo theo hai mươi chiến thuyền nhỏ, hóa trang thành những thuyền đánh cá của Tống. Kế tiếp là hàng thứ nhất, thứ nhì mỗi hàng có ba chiến hạm trung, dàn ngang. Hàng thứ ba, thứ tư, mỗi hàng là năm chiến hạm lớn. Đến hàng thứ năm, thứ sáu lại thu vào ba chiến hạm trung. Cuối cùng là chiến hạm lớn, dùng làm soái hạm. Trên chiến hạm đi đầu, đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên, đô-đốc Trần Lâm, đô-thống Triệu Thu họp năm trăm dùng sĩ Giao-long Tây-hồ, dặn dò chi tiết. Đại đô-đốc Lý Kế-Nguyên nhắc lại:

- Đoàn của chúng ta phải tới ngoài khơi Khâm-châu vào giờ Tý. Tất cả dũng-sĩ Giao-long do đô-thống Triệu Thu chỉ huy, sẽ xuống hai mươi chiến thuyền nhỏ, hóa trang thành ngư dân, rồi chèo vào cửa biển Khâm-châu. Sao cho đến giờ Sửu thì ép sát vào các chiến hạm Tống, rồi chuồn xuống nước để đục thuyền. Trong khi đó thì ta đổ hiệu Thiên-tử binh Thần-điện do phu-nhân Phương-Liễu chỉ-huy đánh vào xưởng đóng chiến thuyền.

Đô-thống Triệu Thu nói dõng dạc:

- Tôi nhắc lại phép đục thuyền của chúng ta gồm bốn bước là: Bước một định rõ khu đục. Bước thứ nhì dùng đinh sắt có móc câu xuyên thủng đáy thuyền. Bước thứ ba dùng dao sắc vận sức đục nhớm, sao cho lưỡi dao gần xuyên thủng ván thuyền thì dừng lại. Bước thứ tư dùng xích sắt buộc vào móc câu. Bước thứ năm là buộc các xích sắt với nhau. Như vậy khi các chiến thuyền di chuyển, thì sợi xích sắt giật tung miếng ván đục nhớm ra, đáy thuyền sẽ thủng một miếng lớn. Thủy quân Tống sẽ thành tôm cá hết. Sau khi thi hành xong thủ đoạn, lại âm thầm lên thuyền chèo ra khơi.

Đô-đốc Lý Kế-Nguyên tiếp:

- Sau khi đội Giao-long ra khơi, lập tức bắn hỏa hiệu lên, bấy giờ phu-nhân Phương-Liễu mới cho hiệu Thần-điện mới tấn công xưởng đóng chiến thuyền. Còn hạm đội Động-đình dàn ra trấn cửa biển Khâm-châu, để bảo vệ hậu quân cho hạm đội Âu-Cơ, Bạch-đằng đổ quân.

Phương-Liễu thân đến từng chiến thuyền dặn dò các sư, lữ trưởng chi tiết cuộc đổ bộ, rồi nhấn mạnh:

- Hai mươi chiến thuyền lớn, mỗi chiếc chở một lữ, sẽ âm thầm đổ vào bãi biển Đông-tân, nơi đây nước sâu chiến thuyền có thể đậu sát bờ mà không cần phải bắc cầu, hay lội nước. Khi lên bờ, chúng ta vẫn phải giữ tuyệt đối im lặng, rồi tiến dần đến xưởng đóng chiến thuyền chờ sẵn. Đợi khi có tín hiệu của đội Giao-long báo việc đục thuyền đã thành công, mới được đốt đuốc lên tấn công đồng loạt.

Trong khi đó, phía sau hạm đội Động-đình khoảng trăm dặm, hai hạm đội Âu-Cơ, Bạch-đằng âm thầm di chuyển dưới ánh trăng mờ. Binh-sĩ trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng. Khi đoàn chiến thuyền bắt đầu đổi hướng quẹo về Tây, thì người người đều biết rằng các hạm đội đang tiến vào vịnh Khâm-châu.

Trên hai hạm đội, các đô-thống Mai Cầm, Quách Y, Ngô Ức, Tạ Duy cùng các phu nhân Phương-Đơn, Phương-Tiên, Phương-Dược, Phương-Quế đều đứng trên nóc soái hạm quan sát địa thế, tìm bãi đổ bộ. Bởi nguyên soái Thường-Kiệt đã khẩn khoản dặn rằng: « Cuộc đổ bộ này hoàn toàn đặt trên căn bản xuất kỳ bất ý. Nếu như vì lý do nào đó, địch biết trước, chỉ cần vài nghìn cung thủ phục sẵn, thì toàn bộ cánh quân các vị bị diệt. Cánh quân các vị bị diệt, sẽ kéo theo cánh của Tín-Nghĩa vương tan vỡ. Sau đó, Tống kéo đại quân qua, thì cái vạ mất nước e khó tránh ».

Bờ biển thành Khâm-châu đã hiện ra xa xa, Mai-Cầm dặn Phương-Đơn chi tiết những việc phải phối hợp giữa Thần-ngao, Thần-hổ, Thần-báo và bộ binh. Đến đó thì các chiến thuyền cùng lúc cập bến. Cửa thuyền mở thực nhanh, cầu thang bắc lên liền. Phương-Đơn vẫy tay, Ngao-binh mở cũi, đoàn Thần-ngao phóng lên bờ, rồi tỏa ra bốn phía trinh-sát. Người người nín thở chờ đợi. Chưa đầy một khắc, đoàn Thần-ngao đều trở về vẫy đuôi. Như vậy là không có phục binh. Phương-Được phất tay, các xe chở Thần-nỏ đẩy lên bờ, rồi dàn ra tức khắc, trong khi Thần-báo, Thần-hổ chạy song song yểm trợ, đề phòng. Bấy giờ Mai-Cầm mới cho Thiên-tử binh đổ bộ. Cuộc đổ bộ vừa xong, chàng nhìn sang bên trái, thấy hiệu Hùng-lược của Ngô Ức, Phương-Dược cũng vừa đổ xong. Chàng nhìn bên phải; Tạ Duy,Phương-Quế đang cho đổ bộ hiệu Vạn-tiệp.

Vẫn không một tiếng động.

Trống ngực Phương-Đơn đập liên hồi... hồi hộp lo sợ. Nàng tiến đến sát chân thành Khâm-châu quan sát. Vì trước đây Động-đình thất kiệt đã cho người về tìm lại một số bạn hữu, huynh đệ đồng môn dặn họ sẵn sàng chờ quân Việt qua để trả thù. Hôm rồi họ đã sai chim ưng liên lạc với đám này. Họ hẹn đêm nay, khi quân Việt tới, họ sẽ giết quân canh, mở cổng thành cho vào.

Phương-Dược bóp miệng giả làm tiếng cú rúc liền một hồi, lập tức cửa thành bật tung ra. Có tiếng hô mật hiệu. Phương-Dược đáp lại, rồi vọt ngựa vào trước:

- Có gì lạ không?

Một đội võ sĩ hơn ba mươi người đón nàng ở trong, người trưởng toán vẫy tay:

- Tốt đẹp cả, vào đi.

Phương-Dược đánh lửa châm vào chiếc pháo thăng thiên rồi tung lên trời. Chiếc pháo nổ đánh đùng một cái, tỏa ra hình con chim ưng đang bay. Lập tức cửa Bắc, Nam cùng mở tung. Hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp đồng đốt đuốc reo hò tiến vào trung ương thành. Như nguyên soái Thường-Kiệt đã ra lệnh trước. Tạ Duy, Phương-Dược đánh cửa Bắc, Nam, chiếm các kho lương thực, vũ khí. Ngô Ức, Phương-Dược đánh chiếm các cơ sở trong thành. Còn Mai Cầm, Phương-Đơn đánh chiếm dinh tổng-trấn, rồi đem quân vượt cửa Bằc trấn ở chân núi Tiểu-đã.

Khi Phương-Đơn xua Thần-hổ, Thần-báo, Thần-ngao cùng một đội võ sĩ tiến đến vây dinh tổng-trấn, thì cũng đúng lúc Ngô Ức, Phương-Dược, Ta Duy, Phương-Quế đem đội Thần-ngao tới. Phương-Đơn cho thú binh, võ sĩ vây kín dinh, đuốc đốt sáng như ban ngày.

Trong dinh, đèn nến sáng chưng, tiếng nhã nhạc, cùng tiếng ca-nhi vọng ra véo von. Sáu tướng nhìn nhau ngơ ngác. Phương-Quế hỏi:

- Cái gì vậy? Không lẽ giờ này mà bọn tướng soái Tống không biết rằng tính mạng sắp lâm nguy rồi hay sao? Không lẽ chúng bầy kế nghi binh?

Chưa ai kịp trả lời, thì từ phía Đông-Nam lửa bốc lên ngút trời, tiếng quân reo dậy đất. Mai Cầm lớn:

- Hiệu Thần-điện của Triệu Thu đang đánh xưởng đóng tầu. Ta mau giải quyết chuyện ở đây, rồi tiếp viện cho họ. Sáu chúng ta với mấy đội thú binh, thì dù có nguy kế gì ta há sợ sao?

Đến đó có một thị nữ cầm đèn lồng ra, thị cúi đầu lễ phép nói bằng tiếng Việt:

- Hôm nay là ngày sinh nhật của Vân-ma đại tướng quân, Đông-hưng hầu Trần đại nhân. Cho nên đại nhân mời chư vị quan chức trong thành Khâm-châu tới dự tiệc. Đáng lẽ tiệc bắt đầu vào giờ Hợi, tàn vào giờ Tý. Nhưng vì biết có đại giá ba vị đô-thống, ba vị phu-nhân tới, nên Trần đại nhân cho hoãn lại vài giờ để chờ quý khách. Xin mời!!!

Bọn Mai Cầm còn đang trù trừ, thì có tiếng nói vọng từ trong ra, rất quen thuộc:

- Tây-hồ tam kiệt trong tay có đến ba hiệu Thiên-tử binh, mấy đàn thú, hàng trăm nỏ-thần, thế mà được mời dự tiệc lại sợ. Thôi! Trở về Thăng-long đổi tên là Tây-hồ thất cầy sấy đi cho rồi.

Sáu người không đừng được, đành theo ả thị nữ tiến vào trong dinh, tay để vào đốc kiếm. Bước vào đại sảnh, đưa mắt nhìn, sáu người thấy có ít nhất gần trăm thực khách vừa văn, vừa võ, vừa nam vừa nữ chia nhau ngồi cạnh các bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Một đội ca-nhi đang múa hát. Thấy khách vào, nhã-nhạc, ca-nhi ngừng lại.

Quan sát một lượt, cả bọn thấy chỗ bàn chủ vị có có bốn người, đó là Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên, Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Hà Mai-Việt. Cạnh đó còn có cả Thần-vũ thập anh.

Cả sáu người vội cung tay hành lễ:

- Sư thúc, nguyên soái Thương-Kiệt cho biết sư thúc tổng chỉ huy đánh Cổ-vạn... thế mà... thế mà... sao sư thúc lại hiện diện ở đây?

Công-chúa Côi-sơn là con út của đại-hiệp Trần Tự-An, thụ hưởng giòng máu ngang tàng của cha, lại ảnh hưởng của các anh là Thông-Mai, Tự-Mai về cái tật coi trời bằng vung; nhưng được bản sư là Tịnh-Huyền, một thần-ni đắc đạo giáo huấn, nên công chúa chỉ ngang với người trên, mà rất ôn nhu với thuộc hạ, với con cháu. Công chúa mỉm cười:

- Các cháu vượt biển suốt đêm qua, vừa đói, vừa mệt rồi. Hãy ngồi xuống uống hớp rượu, ăn tiệc đã.

Bà đứng lên nắm tay Phương-Đơn, Phương-Dược, Phương-Quế cho ngồi bên cạnh, rồi nhỏ nhẹ nói với các sư điệt:

- Để sư thúc dạy khôn cho! Các con có thấy một sự lạ là, một cái châu Cổ-vạn với những tướng sĩ Tống toàn hạng giá áo túi cơm, thì sư-thúc Tôn Đản, Cẩm-Thi, nguyên-soái Thường-Kiệt chỉ cần sai vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi đánh là được rồi, việc gì phải cử ta với Tôn phò mã đảm trách. Có phải thế không?

- Bọn cháu cũng hơi ngạc nhiên, nhất là để Vũ-kị đại tướng quân Hà cùng Thần-vũ thập anh theo trong đạo này nữa, thực quá dư thừa!

- Đúng thế!

Bà chỉ Phương-Quỳnh:

- Con thuật cho các bạn nghe đi.

- Tuân chỉ sư thúc.

Phương-Quỳnh thuật:

- Sau khi đánh Cổ-vạn, sư-thúc dùng Thần-vũ thập anh tập trung tù binh Tống gồm bảo-binh, cùng binh Quảng tổ chức thành đội ngũ, lập ra hiệu binh Cổ-vạn dùng để tiến đánh các đồn nhỏ xung quanh. Khi tế-tác báo cho biết Lưu Di sai điều đạo quân thứ 34, lữ-kị thứ 44 ở Khâm-châu về cứu Cổ-vạn, Tây-bình, Lộc-châu; sư thúc sai chim ưng báo tin cho Tín-nghĩa vương tiến đánh Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long. Còn đích thân người cùng Vũ-kị đại tướng quân, Thần-vũ thập anh, anh Hoàng-Nghi với em đem kị binh Đại-Việt, hiệu binh Cổ-vạn, Thần-nỏ phục ở chân núi Thập-vạn đại-sơn đánh viện binh. Đạo binh thứ 34 của Tống do hai viên giám-áp Văn Lương, Ngô Phu chỉ huy. Lữ kị binh do hai viên chỉ-huy sứ Tống Đạo, Đinh Toại chỉ huy. Đây là hai đạo binh từng dự trận ở Tây-hạ, nên rất thiện chiến. Tuy bị trúng phục binh, thế mà chúng chiến đấu rất hăng. Trận chiến kéo dài suốt nửa ngày, đạo binh Cổ-vạn hao hụt mất một phần ba mà chúng vẫn không bỏ chạy. Vì đường núi gập ghềnh, nên Thần-nỏ, kị-binh, đội binh thú không tiến lên được. Sau Thần-vũ thập anh phải điều đội Thần-nỏ, Thần-hổ, Thần-báo vượt thung lũng phía sau, đánh vào hậu quân chúng. Bấy giờ chúng mới bỏ chạy.

Nàng ngừng lại, hớp một hớp nước rồi tiếp:

- Chúng chạy về tới Thiên-long, thì bị quân của Tín-nghĩa vương chặn đánh. Chúng đành đầu hàng. Anh Hoàng-Nghi đề nghị với sư thúc, mình nên dùng cờ xí, binh phục Tống, để đánh úp Khâm-châu. Sư thúc đồng ý, nhưng các tướng Tống nhất định không chịu dẫn quân Việt đánh quân họ. Sư thúc sai Thần-vũ thập anh cho binh sĩ giả làm binh tướng Thiên-long bại trận, kéo về Khâm-châu. Khi quân ta sắp đến Khâm-châu, có một số võ lâm Tống phát hiện được, họ báo cho tướng trấn thủ Trần Vĩnh-Thái biết. Nhưng giữa lúc ấy, y đang cùng bạn hữu, văn võ bá quan dự tiệc sinh nhật bà vợ thứ mười. Y không tin, sai võ sĩ đuổi mấy võ lâm Tống ra. Đội quân đầu của ta là kị binh do Hà đại tướng quân chỉ huy, mang cờ Tống, y phục Tống, phi như bay. Còn Thú-binh, Thần-nỏ đi sau. Ta ập vào thành, giữa lúc Trần Vĩnh-Thái cùng các quan đang chuẩn bị nhập tiệc. Chúng ta bắt trọn ổ các quan trong thành Khâm-châu. Vừa lúc đó các anh chị từ biển đánh vào cửa Nam, Bắc, Đông. Sư thúc dùng tiệc của Vĩnh-Thái làm tiệc khao quân... và chờ các anh, các chị tới.

Ghi chú,

Tống-sử, Lĩnh-ngoại đai đáp, thuật rằng: Trước khi quân Đại-Việt tới, đã có kẻ hở cho người Tống biết rằng quân Việt sắp đánh úp Khâm-châu. Dân Khâm mách với Trần Vĩnh-Thái; nhưng y không tin. Khi chiến thuyền Việt ập vào bến, lại có người báo quân Việt đổ bộ, y vẫn không tin, còn bầy tiệc rượu uống. Quân Việt vào thành bắt được Vĩnh-Thái, cùng tất cả bộ hạ đem giết. Sau khi chến tranh Lý-Tống hết, Tống triều cho lập đền, tô tượng Vĩnh-Thái để thờ, phong là Chuyển-trí đại-vương. Vì Trần Vĩnh-Thái đần quá, nên sau này muốn chê ai đần độn thì gọi người đó là Trần Thừa-chỉ. Bởi thừa-chỉ là hàm của Vĩnh-Thái.

Tôi thấy thuyết này vô lý. Bởi bấy giờ Tống triều đang cho tuyển binh, luyện binh, đóng chiến thuyền chuẩn bị đánh ta; Vĩnh-Thái là biên cương trọng thần, thì y với bộ hạ phải có màng lưới tình báo rất bén nhậy, và đặt binh tướng trong tình trạng báo động, chứ có đâu để hoang như vậy? Hơn nữa, khi đạo quân Tôn Đản đánh sang biên giới, chính Lưu Di ra lệnh cho y chuyển quân về Tây cứu viện, thì ít ra y cũng phải cảnhgiác đề phòng chứ? Quách-thị Nam-chinh và Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký lại chép rằng: « Quân Đại-Việt vượt biển trong đêm, thình lình đổ lên đánh xưởng đóng chiến thuyền, đốt phá hạm đội, cùng trèo tường nhập thành Khâm, giữa lúc Trần Vĩnh-Thái đang làm lễ sinh nhật cô vợ thứ mười ».

Trong Tống-triều công thần bi ký phần văn bia Chuyển chí đại vương ghi rằng: « Tướng Đại-Việt là hoàng-tử Chiêu-Văn thăng cho Văn Lương, Ngô Phúc làm thiên tướng; Tưởng Cẩn, Tống Đạo làm thần tướng; Đinh Toại làm vũ-tướng. Còn Vĩnh-Thái được giữ nguyên chức Vân-ma đại tướng quân, Đông-hưng hầu; lại tập hợp tù hàng binh lập ba hiệu binh mới trao cho Từ Bá-Tường chỉ huy. Tường truyền Vĩnh-Thái cùng bộ hạ đánh Liêm-châu. Vĩnh-Thái không tuân, nên bị xử lăng trì cùng Âu-dương Dẫn. Chiêu-Văn sai Từ Bá-Tường dem quân đánh Liêm, Dung, Nghi, Bạch châu ».

Ở đây tôi thuật theo Quách-thị Nam chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký và Tống triều công thần bi ký.

Mọi người nhập tiệc.

Tiệc được một tuần, thì thân binh báo:

- Nguyên soái Đại-tư-mã xin yết kiến công chúa điện hạ.

Tuy Thường-Kiệt là vai sư điệt của công-chúa Côi-sơn, nhưng ông là chúa tướng, nên công chúa vội cùng chư tướng ra đón. Đi theo Thường-Kiệt còn có cả đô-đốc Lý Kế-Nguyên, bốn đô đốc chỉ huy bốn hạm đội, cùng Triệu Thu, Phương-Liễu.

Thường-Kiệt cung tay:

- Cháu được Thấn-ưng của sư thúc Tôn Đản, Cẩm-Thi báo tin đại giá tiểu sư thúc đánh sang Đông, cháu cứ nghĩ ít ra phải năm bẩy ngày nữa sư thúc mới đánh tới. Nào ngờ!

Có tiếng nói đâu đó vọng lại:

- Anh Kiệt! Anh không nhớ thân mẫu thường nói sao! Người cho rằng trong nhà mình, thì dùng người tài nhất là bố, dùng binh vô địch thiên hạ là cậu Tự-Mai. Mấy tháng gần đây cậu Tự-Mai ở cạnh dì Út, thì dì Út không học được hết bản lĩnh dùng binh của cậu, thì cũng học được phân nửa. Đâu có gì lạ?

Tiếng nói vừa dứt thì Tín-Nghĩa vương cùng bọn Trần Di, Dương Minh, Phương-Lý, Phương-Cúc tới.

Lễ nghi tất, mọi người nhập tiệc.

Nguyên-soái Thường-Kiệt ngồi vào chủ vị, bên trái là công-chúa Côi-sơn, bên phải là Tín-Nghĩa vương. Kế tiếp là Động-đình thất kiệt, chư tướng. Ông hỏi Tín-Nghĩa vương:

- Hiền đệ! Việc hiền đệ đánh các ảo Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, cùng Thiên-long ra sao?

- Cánh quân của đệ không gặp may như các cánh Cổ-vạn, Tây-bình, Thái-bình, Hoành-sơn. Khi hạm đội Thần-phù của đô-đốc Trần Hải đổ hai hiệu Vũ-thắng của Trần Di, Phương-Lý, hiệu Long-đực của Dương Minh, Phương-Cúc lên Tiên-yên, thì tế tác giặc đã biết. Đệ cho Trần Di, Phương-Lý đánh ải Thiên-long; Dương Minh, Phương-Cúc đánh Như-tích, Để-trạo; đô-đốc Trần Hải dùng thủy-binh đánh Như-hồng. Như-hồng bị hạ trong ba giờ, chúa trại đấu với đô-đốc Trần Hải được năm mươi hợp thì bị giết chết. Thiên-long có tới năm nghìn Bảo-binh rất thiện chiến. Trần Di, Phương-Lý đánh suốt một ngày, Thần-tượng bị thiệt ba thớt voi, Thần-hổ, Thần-báo chết mất mươi con. Tin này đưa đến, đệ phải thân tới đốc chiến. Đệ truyền cho đội Thần-tiễn dùng tên lửa bắn vào trong, phút chốc khắp ải biến thành biển lửa. Giữa lúc đó ta mới tràn vào được. Thành ra khi chiếm xong ải, Thiên-long chỉ còn là một đống tro tàn. May mắn là kho lương thảo để ở giữa ải, tên bắn không tới, nên còn nguyên.

... Giữa lúc đó, thì Thần-ưng đưa tin cho biết Phương-Cúc đánh trại Như-tích, tuy giết được chúa tướng là Ngũ Hoàn, nhưng cũng bị thương nặng. Trần Di đánh trại Để-trạo suốt hai ngày không vào được, Phương-Cúc phải đem quân tiếp viện. Hai người chia quân ra làm hai đạo, cứ một đạo đánh, một đạo nghỉ, vì vậy hôm sau tướng trần thủ là Trương Thủ bị trúng tên chết. Quân trong ải mệt quá, mở cửa xin hàng.

Vương kết luận:

- Lương-thực chứa ở bốn trại này không nhiều, vì Tống cất ở Khâm-châu, Liêm-châu, rồi dùng thủy quân chở sang bên ta.

Thường-Kiệt hỏi Lý Kế-Nguyên:

- Đại-đô đốc! Việc đánh xưởng đóng chiến thuyền, cùng hạm đội Khâm-châu ra sao?

Lý Kế-Nguyên cung tay:

- Trình nguyên-soái, đô-thống Triệu Thu chỉ huy đội Giao-long Tây-hồ hoàn thành nhiệm vụ trót lọt. Sau khi đô-thống làm xong, bơi thuyền ra khơi, thì hiệu Thần-điện do Triệu phu nhân là Phương-Liễu tấn công xưởng đóng chiến thuyền. Khi quân ta lọt vào trong phóng hỏa khắp nơi, thì thủy quân, cùng thợ đóng thuyền mới tỉnh giấc. Họ phóng mình vào trại với chân tay không, nên bị giết quá nửa. Còn lại chúng bỏ chạy lẫn vào với dân chúng.

Triệu Thu lắc đầu nói với Tây-hồ thất kiệt:

- Cũng may thái-hậu quyết định ra quân trước, bằng không để Tống đánh sang, thì mình đến mất nước. Thực kinh khiếp, xường đóng chiến thuyền đã hoàn thành được hai trăm chiến thuyền lớn loại chở năm trăm quân, ba trăm chiến thuyền nhỏ, loại chở hai trăm quân. Chỉ trong vòng nửa năm nữa hạm đội của họ có thể chở một lúc mười lăm vạn quân đánh mình!!! Còn lương thảo, vũ khí chất cao như núi trong hơn ba mươi dẫy nhà. Tính ra có thể nuôi mười vạn binh trong một năm.

Thường-Kiệt hỏi công-chúa Côi-sơn:

- Sư-thúc! Sư thúc đã kiểm kê lương thảo trong thành Khâm-châu chưa?

- Không cần! Kiểm làm gì?

Bà giảng giải: Ta bắt được Âu-dương Dẫn, khiền cho y một trận, thì lập tức y đem sổ sách về tình hình lương thảo, tiền bạc của Khâm-châu cùng các trại Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long ra nộp.

Nói rồi bà đưa mắt cho Âu Huyền:

- Con đem sổ ra trình nguyên-soái!.

Thường-Kiệt tiếp cuốn sổ ghi lương thảo, vũ khí mà rùng mình. Ông lắc đầu nghĩ thầm:

- Tên Vương An-Thạch thực siêu phàm. Y mới áp dụng Tân-pháp có tám năm mà quốc-sản, kho đụn Tống đã súc tích như thế này. May mà ta ra tay trước!

Thường-Kiệt ban lệnh:

- Tất cả tù binh, cao nhất là Trần Vĩnh-Thái, thấp nhất là phu đóng chiến thuyền, nhất nhất được nuôi dưỡng đầy đủ, không được đánh, không được giết, cũng chẳng nên làm nhục người ta. Sau khi thanh lọc, kiểm kê, trao cho Động-đình thất kiệt, để tùy theo tội chúng nặng nhẹ mà xử, để làm mát lòng dân.

Trưa ngày Mậu-Dần 20 tháng 11 năm Ất-Mão (DL. 30-12-1075)

Động-đình thất kiệt cho người mang loa đi khắp nơi chiêu dụ những binh tướng ẩn trốn ra trình diện, sẽ được ân xá. Bẩy người họp suốt hai ngày với võ-lâm, với sư huynh sư đệ cũ, với gia đình họ hàng, rồi quyết định đem bọn quan lại Tống, bọn đầu trộm đuôi cướp ra xử. Nguyên tắc của Thất-kiệt là quan lại ở đâu, bọn ác bá ở đâu, thì đem về đó họp dân chúng, để ai có ơn thì ra làm chứng, hầu giảm án hoặc tha tội; kẻ làm ác thì bị hành hình.

Trước đây Trần Vĩnh-Thái, ỷ được Vương An-Thạch tín cẩn, nên y lộng hành quá đáng trong vịệc bắt dân chài, dân buôn cùng thợ thuyền xung quân, khiến gia đình họ đói khổ. Y lại ra sức truy lùng họ hàng, thân thích Thất-kiệt. Thất-kiệt quyết định đem y ra xử lăng trì (xẻo từng miếng thịt). Viên giám-thuế Âu-dương Dẫn tham ô quá độ, bị dân chúng giết cả nhà, còn chính y bị mổ bụng lấy gan ăn sống cho hả giận. Ngược lại bọn Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo, Đinh Toại chỉ là những tướng chỉ huy quân, bị đầy xuống Lưỡng-Quảng, mà lại liêm khiết, nên được ân xá.

Trong khi Động-đình thất kiệt xử tội bọn tham quan, bọn ác bá thì nguyên-soái Thường-Kiệt họp chư tướng ở trong soái phủ thành Khâm-châu. Tướng-sĩ hiện diện đầy đủ. Nguyên-soái nói mấy lời ngợi khen tướng-sĩ đã lập được kỳ tích trong thời gian qua.

Ông xoa tay vào nhau:

- Ba vị đại hiệp Phụ-Quốc, Bảo-Dân, Trung-Đạo cunmg cấp tin tức cho ta thực ích lợi vô cùng tận. Ta đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng chín, mà mãi đền ngày 11 tháng 11 (DL.21-12-1075) Tống triều mới hay Cổ-vạn thất thủ. Tiếp theo ta đánh Thái-bình, Hoành-sơn, Vĩnh-bình, Tây-bình ngày 2 tháng mười, Lưu Di có gửi lệnh cho quân Khâm-châu tiếp viện từ ngày 15 tháng 11, nhưng cho đến hôm nay là ngày 20 tháng 11, tức 45 ngày sau mà Lưu Di cũng chưa biết các ải kia thất thủ. Thì hỏi sao Tống triều biết được? Lợi dụng tình hình đó, ta tiến về Ung-châu trước khi Tống triều ra tay.

Ông đứng nói với chư tướng:

- Đạo quân bộ của Tôn sư thúc giờ này đang lên đường tiến về Ung-châu theo trục Nam-Bắc. Bây giờ ta cũng tiến về Ung-châu theo đường Đông-Tây. Đạo quân Tôn sư thúc tiến lên, trong khi phía sau có vua bà Thiên-Thành trấn thủ Bắc-cương Đại-Việt; phò-mã Thân Cảnh-Long cùng các tướng Lưu Kỷ, Hoàng Kim-Mãn, Vi Thủ-An với các hiệu binh Bắc-biến trấn ở Thái-bình, Hoành-sơn, Vĩnh-bình, Tây-bình, Cổ-vạn. Nay ta tiến quân, cũng cần phải có tướng trí dũng song toàn trấn Khâm-châu, cùng cửa biển Nam-hải. Việc trấn thủ này cực kỳ quan trọng. Bởi khi được tin ta tiến về Ngũ-lĩnh, ắt Tống thừa hư trong nước không có trọng binh, họ sẽ đem thủy quân Mân-Triết, thủy quân Kinh-hồ chở đại quan đánh úp Thăng-long. Như vậy ta vừa mất đường về, và mất luôn nước.

Ông đứng dậy nói với Tín-Nghĩa vương, Lý Kế-Nguyên:

- Ta để cho hiền đệ bốn hạm đội trấn Khâm-câu, tuần thám biển Đông. Ta cũng để đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên làm phó cho hiền đệ. Liệu hiền đệ có đảm đương nổi không?

Tín-Nghĩa vương khẳng khái:

- Đại huynh đừng lo, em với Lý đại đô đốc có thể chu toàn nhiệm vụ. Em thấy Khâm-châu đã chiếm, đại huynh tiến về Tây, mà bên hông phải còn các châu Liêm, Dung, Bạch, Nghi. Vậy em xin lĩnh nhiệm vụ đánh các châu này, bảo vệ hông phải cho đại ca, cùng cản viện quân từ Quảng-châu xuống.

- Hiền đệ thực là người tinh-minh mẫn cán, lại trí dũng có thừa. Như vậy ta mới yên tâm. Nhưng hiền đệ chỉ có thủy quân, thì lấy đâu ra quân đánh các châu kia?

- Liêm-châu nằm sát bờ biển, thì thủy quân có thể đổ lên bờ đánh được. Còn các châu kia ư? Đệ dùng bảo-binh bắt được, hoặc đầu hàng ở các ải biên giới, hợp với tù hàng binh của Khâm-châu, thiết lập thành đội binh mới. Tuy quân này ô hợp, nhưng dùng để đánh các châu Liêm, Dung, Bạch, Nghi cũng được.

- Dùng quân người đánh người có nguy hiểm lắm không?

Tín-Nghĩa vương ghé miệng vào tai Thường-Kiệt:

- Không khó. Hiện cha mẹ, vợ con, gia sản của chúng, đệ đã đem về giữ ở trong thành Khâm-châu. Bây giờ đệ ra lệnh: Kẻ nào phản trắc, hèn nhát, thì không những bản thân khó toàn, mà gia thuộc cũng bị giết. Đệ giao các hiệu binh này cho Động-đình thất kiệt, để họ chỉ huy chúng. Thế của Động-đình thất kiệt bây giờ như ngồi trên lưng cọp, không thể bước xuống được nữa. Họ chỉ có thể tới, mà không thể lui! Vậy huynh phải gửi tấu chương về triều, xin phong chức tước cho Động-đình thất kiệt, để đào thêm hố căm thù của Tống với họ, và cột chặt họ với ta.

Nguyên-soái Thường-Kiệt vội sai chim ưng mang biểu về triều. Hai hôm sau có chiếu chỉ ban ra: Phong cho tất cả Động-đình thất kiệt đều lĩnh ấn thiên-tướng, tước hầu. Từ Bá-Tường tước Vạn-sơn hầu, Lý Tân tước Thiên-long hầu, Hà Quan tước Đông-hưng hầu, Vũ An tước Như-tích hầu, Mao Cang tước Liêm-Đông hầu, Đạo Vi tước Khâm-Nam hầu, Phúc Chi tước Dung-Nghi hầu.

Nguyên-soái Thường-Kiệt truyền quân sĩ nghỉ ngơi mấy ngày cho lại sức. Trong khi Tín-Nghĩa vương Lý Chiêu-Văn, đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên cho kiểm kê lọc những bảo-binh, Quảng-binh, binh triều ẩn náu trong dân. Tổng số hàng binh, tù binh lên tới ba vạn người. Vương lập thành ba hiệu binh, mang tên Đông-Việt, Nam-Việt và Tây-Việt. Thăng giám áp Văn Lương, Ngô Phu lên làm thiên-tướng chỉ huy hiệu Đông-Việt; thăng chỉ-huy-sứ Tống Đạo, Đinh Toại lên làm thần-tướng chỉ huy hiệu Nam-Việt; thăng tuần kiểm Tưởng Cẩn lên làm vũ-tướng chỉ huy hiệu Tây-Việt. Ba hiệu binh này mang tên Lĩnh-Nam binh, được trao cho Động-đình thất kiệt chỉ huy. Lại cử Từ Bá-Tường cùng với Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đi các nơi an dân, cắt đặt quan tước cai trị.

Ngay ngày hôm sau, vương truyền ba hiệu binh Đông-Việt, Nam-Việt, Tây-Việt tiến đánh các cửa Bắc, Nam, Tây thành Liêm-châu. Đô-đốc Trần Lâm với thủy quân hạm đội Động-đình đánh cửa Đông. Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên tổng chỉ huy công thành.

Vì thành Khâm-châu bị chiếm, nên thành Liêm-châu tổ chức phòng vệ cực kỳ chu đáo. Trong thành Liêm có đạo quân triều thứ 35 giám-áp Chu Tông-Thích chỉ-huy, lữ kị thứ 45 do chỉ-huy-sứ Ngô Tông-Lập em ruột Tông-Thích chỉ huy. Ngoài ra còn hai vạn bảo-binh do tri huyện Hợp-phố Lương Sở chỉ huy. Tướng trấn thủ là chiêu-thảo-sứ Lỗ Khánh-Tôn, tuổi già, trí dũng tuyệt vời. Vì vậy ba hiệu binh Đông, Nam, Tây-Việt được Thần-nỏ, Thần-hổ, Thần-báo cùng hạm đội Động-đình trợ chiến, mà đánh suốt hai ngày, hai đêm vẫn không hạ được thành. Hai thiên-tướng Ngô Phu, Văn Lương bị trúng tên chết. Trong khi tướng trấn thủ cửa Tây là Chu Tông-Thích, cửa Nam là Ngô Tông-Lập cũng bị đán bắ chết. Trận chiến diễn ra cực kỳ khốc liệt.

Tin đưa về Khâm-châu, Tín-Nghĩa vương phải thân tới đốc chiến. Vương thân cầm dùi đánh trống thúc quân. Thủy-quân thuộc hạm đội Động-đình dùng máy bắn đá, phá cửa Đông thành, tướng trấn thủ là Lương Sở bị đá trúng sọ chết. Quân trấn thủ rối loạn, nhờ vậy quân Đại-Việt xua Thần-hổ, Thần-báo xung vào trước, thủy quân vào sau. Bấy giờ trong thành hỗn loạn, quân vây các cửa kia mới vào được. Quân Việt làm chủ hoàn toàn thành Liêm vào giờ Dậu ngày Tân-Tỵ 23 tháng 11 năm Ất-Mão (DL. 2-1-1076). Chiêu-thảo sứ Lỗ Khánh-Tôn cùng hơn trăm đệ tử phá vỡ vòng vây phía Bắc chạy thoát. Khi y rời khỏi thành hơn mười dặm, thì gặp Vạn-sơn hầu Từ Bá-Tường cùng đô-thống Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đi an dân về tới. Cho rằng Bá-Tường phục binh đánh mình, Tôn không nói không rằng xung vào đánh liền. Y đấu với Bá-Tường được hơn trăm hiệp thì mất mạng.

Tín-Nghĩa vương vào thành Liêm-châu, yết bảng yên dân, truy thăng phủ tuất cho gia đình tử sĩ. Vương truyền tha thuế cho dân, tha tất cả thuế thiếu những năm trước. Năm nay không phải nộp bất cứ thứ thuế gì. Lại tha hết tù, bất kể nặng nhẹ, thành án hay chưa. Vương cho hủy bỏ tất cả Tân-pháp của Vương An-Thạch như Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-giáp, Thủy-lợi v.v. lấy của trong khi phát cho dân nghèo. Dân chúng sung sướng vô cùng. Họ gọi quân Lý là quân của cha mẹ dân (Dân chi phụ mẫu). Vương tự tay soạn một bài hịch gọi là « Điếu dân, khử bạo hịch », rồi sai khắc mộc bản, in ra gửi đi niêm yết khắp nơi:

« Đạo trị dân tự cổ đến nay, trải Tam-hoàng, Ngũ-đế, đều lấy an dân làm gốc. Á-thánh Mạnh-tử nói rằng: Dân vi quý, xã tắc thứ chi. Phép giữ Xã-tắc lấy toàn cương thổ để nêu chính thống. Điều này, không những sĩ thiên hạ biết, mà cho đến ngu dân cũng thuộc nằm lòng.

Nay Hy-Ninh đế lòng dạ u mê, hôn ám, trọng dụng tên khuyển nho Vương An-Thạch, phá bỏ tất cảđạo trị dân của thánh nhân, coi khinh cương kỷ của các tiên đế Tống triều; rồi đặt ra những gì là Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-giáp, Bảo-mã làm cho dân sống không nổi, mà chết cũng không xong. Trời sầu đất thảm, núi khóc, sông rên, khắp các triều đại Hoa-hạ, chưa bao giờ có một hôn quân như vậy, chưa bao giờ có một tên quan ngông cuồng, ác độc như vậy.

Thời đức Thái-tông, Chân-tông, Nhân-tông, trong dụng các bậc đại nho, ngoài dùng chính sách vỗ về, mà bốn phương được phẳng lặng, dân chúng được ấm no. Từ ngày Hy-Ninh lên làm vua, trọng dụng yêu pháp của Vương An-Thạch, rồi gây chiến với Tây-hạ, đến nỗi hao binh tổn tướng, trong khi đó cúi đầu khuất phục đem vàng lụa cống Liêu; nay cắt dất, mai cắt đất dâng cho chúng... để được yên thân. Hỡi ôi, từ Tam-hoàng, Ngũ-đế đến nay, có bao giờ Trung-nguyên nhục nhã như vậy đâu?

Mấy năm qua, Hy-Ninh nghe lời Vương An-Thạch, bắt dân vùng Kinh-Nam, vùng Nam Ngũ-lĩnh luyện tập binh bị, khiến cho việc nông tang bị bỏ phế, học phong bị suy đồi; lại tích trữ lương thảo dọc Nam-thùy, chuẩn bị sang đánh Đại-Việt ta. Dù ta có nínnhịn đến đâu cũng không chịu được. Nay ta ra quân, không có ý chiếm đất Trung-nguyên, cũng chẳng có lòng muốn diệt bỏ Tống triều, mà trước là phá hết những chuẩn bị đánh sang Đại-Việt ta, sau là điếu dân khử bạo.

Ta đã nghiêm cấm quân, không được phạm đến dân chúng, kẻ nào không tuân thì bị giết ngay. Ta đã ban chỉ cho tướng sĩ rằng: Trước thả hết tù, dù thànhán hay chưa thành án; tha thuế trong một năm, tha cả thuế đã thiếu những năm trước; kho lẫm của Hy-Ninh, Vương An-Thạcvh vơ vét của dân bấy lâu, được phát cho dân nghèo; hủy bỏ hoàn toàn Tân-pháp, mà trở lại với đạo lý thánh hiền đời vua Thái-tông, Chân-tông, Nhân-tông. Dân chúng bị bắt xung quân, bị bắt làm bảo-binh, được cho về nhà.

Vậy ta ban bố tờ hịch này đến nhân-sĩ, dân chúng để yên lòng ».

Thái-Ninh vạn vạn niên, nay là năm thứ tư mùa Đông, tháng chạp.

Quân nghỉ được một tuần (ghi chú: tuần của Lịch-việt là 10 ngày), nguyên-soái Thường-Kiệt truyền quân kéo cờ tiến về Đông, hợp với đạo binh Tôn Đản, Cẩm-Thi công phá Ung-châu, sau đó kéo lên đất thiêng của tộc Việt là vùng núi Ngũ-lĩnh.

Phụ lục: Chiêu-thiền tự

Kể từ hồi này, hành trạng của hai vị Thánh-tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh trong công cuộc cứu nước rất quan trọng. Vì vậy thuật giả xin chép vào phụ lục một số di tích về hai ngài, nay vẫn còn.

Chiêu-thiền tự còn có tên là chùa Láng. Chùa tọa lạc tại làng Yên-lãng, huyện Từ-liêm, nay thuộc Đống-đa, Hà-nội. Chùa dựng dưới thời vua Lý Thần-tông để ghi lại Bồ-tát Từ Đạo-Hạnh tu đắc đạo. Hồi thơ ấu (1950-1954) thuật giả thường cùng các bạn hẹn nhau tới chùa này chơi vào cuối tuần. Chùa hiện còn cây muỗm trồng từ thời nhà Trần (xem hình).

Ngài Từ Đạo-Hạnh húy Lộ, quê quán tại làng Yên-lãng. Cha là Từ Vinh làm Tăng-quan đô-án. Từ Vinh có hiềm với Diên-thành hầu. Hầu nhờ Pháp-sư Đại-Điên (Đinh Kiếm Thương) dùng Pháp thuật đành chết, vứt thây xuống sông Tô-lịch. Xác ông trôi đến cầu Quyết, trước nhà Diên-thành hầu thì dựng đứng dậy chỉ tay vào nhà Hầu. Hầu lại đi mời Đại-Điên tới. Đại-Điên phải làm phép, xác mới đổ xuống, trôi đi. Từ Đạo-Hạnh muốn trả thù cha, nhưng không đủ phép. Ngài tiếp tục học. Sau khi đủ phép,ngài tìm giết Đại-Điên rồi tu ở chùa Phật-tích trên núi Sài-sơn. Nay là Thiên-phúc tự thường gọi là chùa Thầy. Xin xem hồi 37 NQSH.

Bấy giờ vua Lý Nhân-tông không có con trai, muốn tìm con của tông thất nối ngôi. Em vua là Sùng-Hiền hầu không con, muốn có con, nhờ ngài Đạo-Hạnh, Minh-Không giúp. Hai ngài hứa giúp. Minh-Không dùng thuốc trị bệnh cho Hầu. Còn Đạo-Hạnh dặn hầu rằng khi phu nhân lâm bồn thì báo cho ngài biết. Đến ngày phu nhân trở dạ, Hầu sai người cáo với ngài. Ngài tắm rửa, thay áo, rồi vào hang núi xuất hồn nhập vào xác thai nhi. Phu nhân sinh một trai đặt tên là Lý Dương-Hoán. Dương-Hoán được vua Lý Nhân-tông nhận làm con nuôi, sau được nối ngôi, tức vua Lý Thần-tông (1128-1138) (Xác này khi Trương Phụ sang đô hộ Đại-Việt đã đem đốt đi).

Khi lên ngôi, vua Thần-tông cho xây chùa để tưởng niệm kiếp trước của mình. Trong chùa thờ ngài Từ Đạo-Hạnh mặc áo vàng, thờ luôn cả vua Lý Thần-tông ngồi trên ngài. Hằng năm vào ngày 7-3 Âm-lịch là ngày kỷ niệm Ngài hóa. Trước hết là nghi lễ tắm tượng, sau đó rước bài vị Ngài sang xã Yên-quyết, Dịch-vọng, rồi diễn lại tích Ngài đánh nhau với Đại-Điên.

Độc giả có thể đọc các sách chữ Hán dưới đây để tìm hiểu thêm về ngôi chùa này:

- Thiền-uyển tập anh.
- Hoàn-long huyện chí.
- An-lang Chiêu-thiền tự.
- Hà-nội địa dư.
- Ngoại truyền kỳ lục.
- Bắc-thành địa dư chí lục.
- Thăng-long cổ tích khảo.
- ĐNNTC.
- Hoàng-Việt địa dư chí.
- La-thành cổ tích vịnh.
- Bắc-kỳ giang sơn cổ tích.

Chùa Láng hay Chiêu-thiền tự


Cổng Tam Quan


Tượng vua Lý Thần Tông tại Chiêu Thiền Tự


Nhà Bát giác trong sân chùa



Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0