📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thơ Sưu Tầm

Ngày Xuân Nhớ Đoàn Văn Cừ (1913-2004)

8 trả lời, 2.300 lượt xem — Trang 1 / 1
Sổ tay văn nghệ cuối tuần của Nhật Thịnh: Lại vì sao rụng

Jul 15, 2004
Trích calitoday.com

Vậy là Đoàn Văn Cừ đã ra đi, lặng lẽ cất cánh xa bay vào cõi hư không, gieo tiếc nuối cho nhiều người, vào độ tuổi đời kể ra đã thọ, 92 tuổi, nhưng văn học chưa già, còn năng lực sáng tác. Một vì sao đã rơi rụng ngày 27.6.2004, sau Hoài Chân đúng ba ngày ngắn ngủi. Hoài Thanh và Hoài Chân là đồng tác giả của tập “Thi nhân Việt Nam” xuất bản năm 1942 viết về các nhà thơ đương thời, trong đó có đề cập tới Đoàn Văn Cừ, không ngờ khi sống đã biết nhau, tới khi chết còn kéo theo nhau, thật khăng khít. Hoài Chân tức em ruột của Hoài Thanh, tên thật Nguyễn Đức Phiên sinh ngày 11.4.1914 tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, cùng Hoài Thanh [15.7.1909 – 14.3.1982] tên thật Nguyễn Đức Nguyên, biên soạn tập “Thi nhân Việt Nam”. Ngay khi đương thời soạn thảo tác phẩm họ đã không nắm vững gì hơn về ông, đã phải ghi chú: “Khi quyển này đưa in chúng tôi vẫn chưa biết gì thêm về ông Đoàn Văn Cừ tuy đã hỏi rất nhiều người. Vậy xin mạn phép ông trích mấy bài thơ. Ông ở đâu làm ơn cho chúng tôi biết.” Phải chăng vì vậy Thế Phong đã gọi ông là “nhà thơ tìm kiếm” của Hoài Thanh và Hoài Chân. Tuy nhiên cho đến nay những gì viết về ông nhiều tài liệu văn học đều đề cập tới một cách đơn sơ.

Sự thật phải nói rằng ông vốn kín đáo, khiêm nhường nên đã không gửi hình và tiểu sử cho Hoài Thanh và Hoàn Chân khi họ nhắn tin ông trên báo chí hồi đó, hơn nữa khi bấy giờ ông đã dời về Nam Định dạy học, tham gia cuộc biểu tình đòi hỏi chính sách lương bổng, thuế khóa cho được công bằng, không để bị bóc lột tàn bạo của công nhân Nhà máy sợi tại đây và đã bị mật thám Pháp ngày đêm theo dõi gắt gao cho rằêng ông hoạt động chính trị để chống đối sự đô hộ của chính phủ bảo hộ. Hoài Thanh và Hoài Chân mệnh danh ông “nhà thơ đồng quê có ngòi bút dồi dào, rực rỡ”, đúng vậy hình ảnh nông thôn trong thơ ông đã phản ảnh trung thực làng xã của đời thực, từ chuyện gặt hái, ma chay, cưới xin, cháy nhà, bắt cướp, đàn trâu, bác bán thuốc...tới phong tục, tập quán, sinh hoạt. Thời bấy giờ xuất hiện nhiều bài thơ tình mượn cảm hứng từ niềm cô độc, nhớ thương riêng tư, ông trái lại đã sáng tác được nhiều bài thơ xuất sắc, đưa thơ ra đường hội nhập với sự đông đúc, tươi vui như cảnh chợ Tết, đám hội làng. Những ai đã một thời sống ở nông thôn vào những ngày hè về thăm quê hay những ngày khói lửa, tản cư về nông thôn mới cực cảm được sự sinh động và kỳ ảo của ông khi diễn tả cảnh “Đám hội” làng vào mùa xuân có rước kiệu, đấu vật, chơi cờ người, tế lễ, hát bội...đến những trò chơi diễn ra ở khắp các làng quê. Cách nhìn và cảm xúc của ông lai láng hồn quê, phản ảnh mọi mặt đời sống thôn dã trong những vần thơ trữ tình, có thể coi thơ của ông như những tư liệu đáng tin cậy đóng góp vào việc nghiên cứu nông thôn. Chính bởi thế thơ ông đã bị cộng sản cho rằng phản ảnh thiếu trung thực xã hội nông thôn với những mâu thuẫn gay gắt, ý họ muốn thơ ông phải đề cập tới sự đấu tranh giai cấp một mất một còn giữa chủ điền và tá điền, rõ sặc mùi văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa phi nhân bản vậy. Nhà văn Thạch Lam trong Tự Lực Văn Đoàn đã lập luận: “Một lối thơ riêng, rất riêng, đặc biệt nhiều mầu sắc và cảnh sắc.”

Ông sinh ngày 25.3.1913 tại làng Đô Quan, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong một gia đình nông dân, lớn lên đi dạy học, sau trở về tỉnh nhà làm việc, gắn bó với mảnh đất cũ, cho đến những năm cuối cùng của đời người ông hầu như sống đời ẩn dật, không bon chen danh lợi. Thanh Tùng trong "Văn Học Tự Điển" 1973, đã đặt nghi thuyết cho rằng ông sinh tại tỉnh Thái Bình, căn cứ theo một sự kiện năm 1946 khi nhà thơ Vũ Hoàng Chương tản cư về dạy học tại tỉnh Thái Bình có sống với Đoàn Văn Cừ. Ông không những yêu quê hương một cách đơn thuần mà còn khát vọng tìm hiểu phong tục, tập quán, đời sống của người nông dân in sâu dấu vết xưa. Thơ ông được in báo từ những năm 1939 – 1940, nổi tiếng cách đây hơn 60 năm với những bài thơ mang đậm phong vị làng quê và lễ Tết như “Đám cưới mùa Xuân”, “Đám hội”, “Đường về quê mẹ”, “Trăng hè”...mang cùng tâm trạng của những nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên nhớ thương dĩ vãng. Thơ ông được xuất bản bằng các ngoại ngữ Pháp, Tây Ban Nha để giới thiệu với người ngoại quốc.

Hoài Thanh và Hoài Chân nhận định: “Những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như những bức tranh xưa của Á Đông. Bức tranh nào cũng đầy dẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt. Người xem tranh hoa mắt vì những nét những màu hình như rối rít cả lại; nhưng nhìn kỹ thì màu nào nét nào cũng ngộ nghĩnh vui vui.” Ông sở trường lối thơ tả chân nông thôn kết hợp với suy tư, tưởng tượng, nhiều màu sắc, hình tượng mang tính chất dân tộc và hiện đại, hiện thực và lãng mạn. Đọc bài “Chợ Tết” ông đã ném vào cái ngoại cảnh dồn dập, tươi vui đó một ít cảm xúc của mình, tạo được cái hậu khi kết thúc. Người ta say sưa theo dõi từng đoàn người kéo nhau đi trên đường quê. Từ “ những thằng cu áo đỏ chạy lon xon”, vài cụ già tay chống gậy tre “bước lom khom” trên đường đất sống trâu, đến những “cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ”, đứa bé “nép đầu bên yếm mẹ” và nào “hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu”, theo sau “con bò vàng ngộ nghĩnh” lũ lượt kéo về hướng chợ. Chưa tới chợ không khí đã thấy tươi vui, nhộn nhịp, thậm chí núi đồi xưa nay vẫn im lìm, bỗng dưng nôn nao choàng thức giấc, choàng vội lên người thảm cỏ xanh non, và thoa lên màu son thắm của bình minh. Tới chợ thì người, vật, hàng quán chen lấn, xô bồ, người ta xấn kéo cụ lý đến tung cả khăn quấn đầu, cảnh tượng đó làm họ hoa mắt lên, vậy mà ông còn bình tĩnh nhận thấy:

Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.

Ông có cái nhìn tinh tế, bao quát, thấy từ “con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ”, “anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ”, một thày khóa đang gò lưng “hí hoáy viết thơ xuân”...đến một bà mua gà cầm cẳng con gà sống dốc ngược lên xem, mào thâm như miếng tiết. Trời xuân có khác, thật bát ngát, trên bãi cỏ xanh, một chị đánh đu, ngửa người tít trên không, cụ già mắt hấp háy ngẩng đầu trông theo. Điểm thêm một sắc màu ấm áp cho bức tranh quê, ông phác họa nhiều nét linh hoạt:

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau

Hay cảnh người chị đứng gào đến khản cổ lũ em bị thôi miên bởi những bức tranh con gà, con lợn. Đàn lợn mẹ và con tượng trưng con đàn cháu đống, thương yêu, đùm bọc nhau qua mọi cơn hoạn nạn. Tranh đàn gà mẹ và con nói lên tình mẹ thương con, đẹp muôn thuở, nuôi nấng con cái, dạy dỗ nên người, bảo vệ, chống đối mọi sự đe dọa của loài diều hâu thường hay lai vãng rình rập. Tranh con gà trống dáng vẻ hiên ngang, biểu tượng chữ tín cao quý của con người, gáy đúng giờ giấc mỗi ngày, không lười biếng, trễ nại, quanh năm suốt tháng là bạn của người nông dân chân lấm tay bùn, làm bạn với con trâu cái cày:

Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi

Phiên chợ quê họp đến khuya, họ quanh năm chỉ có một ngày để người mua người bán, chuẩn bị sắm sửa cho mấy ngày đầu năm xum họp gia đình. Dù ai buôn ngược bán xuôi ngày Tết đều tìm về bên nhau ôn nhớ lại những kỷ niệm xưa cũ, hàn huyên về công ăn việc làm trong năm cũ và những vui buồn để đời. Họ loãng tan trên khắp các nẻo đường quê, trở về những làng mạc xa xôi, hẻo lánh, lặng lẽ và buồn hiu. Cảnh vật dường như chia sẻ tâm trạng đó của con người, nắng vàng tắt lịm và lá khô rơi rụng tan tác. Thế giới thực khép kín nhường chỗ cho thế giới mộng hiện ra, cảnh vật thật tan biến, mở ra thế giới mộng, tâm hồn bâng khuâng, man mác như vắng thiếu một cái gì:

Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về.
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

Đây có thể coi như điển hình cho lối thơ của ông. Người ta thấy hình ảnh Tết được ông ghi nhận một cách sâu đậm, tưởng chừng một thứ kỷ niệm không thể phai mờ trong tâm trí. Hoài Thanh và Hoài Chân lập luận: “Nghĩ đến Đoàn Văn Cừ là tôi lại nghĩ đến Tết. Cái tên Đoàn Văn Cừ trong trí tôi đã lẫn với màu bánh chưng, mùi thuốc pháo, vị mứt gừng.” Thơ của ông biểu tượng cho những hoạt cảnh rộng lớn người ta có thể tìm gặp bằng cái nhìn khách quan, một đôi bài, chẳng hạn bài “Tết” không gian lại được thu hẹp trong khung cảnh chật hẹp của gia đình, ông ký thác nhiều tâm tình :

Trời lất phất mưa sa
Giờ lâu tràng pháo chuột,
Đì đẹt nổ trên hè,
Con gà mào đỏ chót,
Sợ hãi chạy le te
Cây nêu trồng ngoài ngõ,
Soi bóng dưới lòng ao
Chùm khánh sành gặp gió,
Kêu lính kính trên cao
Từ khi ông tôi mất,
Bà tôi đã qua đời,
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui

Ngoài ra ông còn phô diễn được trọn vẹn những kỷ niệm vui buồn thời thơ ấu, làm chứng nhân trước những biến đổi gia đình, những cảnh tử biệt sinh ly đớn đau, tang tóc không ai tránh khỏi một lần trong đời. Hình ảnh ông bà già nua, những cử chỉ chăm nom săn sóc của những cháu chắt, biểu hiện tình thương yêu đậm đà chỉ còn tìm thấy trong xã hội Đông phương nặng mang truyền thống giáo lý ngàn đời của dân tộc:

U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Nơi miền quê ngoại của hai thân
Tôi nhớ đi qua những rặng đề
Những dòng sông nhỏ chạy ven đê
Cồn xanh bãi tía kề liên tiếp
Người xới cà ngô rộn bốn bề

Mẹ hiện ra trong tiềm thức, ngày nào lon xon đuổi theo chân mẹ, trong cảnh quê êm đềm nọ. Thật cao đẹp, son sắt trong nghĩa tình, duyên dáng bởi hình thức. Khuyên vàng, yếm thắm, áo bùn non lồng lộng giữa trời trong xanh, bà thúng cắp ngang hông, đem tạc thành tượng, khắc ghi muôn đời, hình ảnh đẹp của người phụ nữ đoan trang, tiết hạnh:

Thúng cắp ngang hông nón đội đầu
Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu
Trông u như thể thời con gái
Mắt sáng môi hồng má đỏ âu

Tới cảnh “Trăng hè” ở thôn quê có thể nói ông đã đạt tới đỉnh cao của tả chân, tinh vi và sắc sảo. Trong khi nhiều nhà thơ khác tìm cảm xúc từ những lãnh vực triết học, xã hội...ông và Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Anh Thơ - Vương Kiều An - đã tìm về nông thôn tưởng rằng quá quen thuộc, nhưng tạo được những dáng vẻ đẹp chứa đựng những tập tục cổ xưa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc trải dài ngót năm ngàn năm lịch sử. Nếu Đoàn Văn Cừ nhìn đồng quê từ cái nhìn bên ngoài, trái lại Anh Thơ diễn tả qua tâm sự của người con gái ở bên trong, thấm đượm tình yêu thương nơi mình sinh ra, lớn lên. Khung cảnh làng quê im lìm dưới trăng vàng, ngoài hiên kẽo kẹt tiếng võng đưa, tiếng ầu ơ của bà mẹ ru con, con chó ngủ lơ mơ nơi đầu thềm. Đêm khuya vắng lặng, ông lão nằm trơ vơ giữa sân:

Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng giậu,
Đêm vắng, người êm, cảnh lặng tờ
Ông lão nằm chơi ở giữa sân
Tàu cau lấp lánh ánh trăng ngân,
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

Nói về mình ông phát biểu: “Ngót 60 năm cầm bút tôi chỉ có một ước mơ khiêm tốn: “Trong thơ góp một đường cày – Nước non gieo hạt mong ngày nở hoa.” Ông giờ đây đã xa lìa cõi thế nhưng những thi phẩm “Thôn quê” 1 – 2, "Việt Nam huy hoàng", "Trần Hưng Đạo anh hùng dân tộc", “Dọc đường xuân”, “Đường về quê mẹ”, “Tuyển tập Đoàn Văn Cừ”...viết theo bút pháp tả thực, sâu đẫm hồn quê tạo được sắc thái đặc thu không dễ mấy ai đã có thể đi vào. Cho đến những năm cuối cùng của cuộc đời, tuổi cao bệnh nặng, ông vẫn nặng mang một niềm tin về những sắc màu tuyệt diệu của nông thôn, và đúng như ông từng quan niệm: “Những giờ sống đích thực của nhà văn là trên trang viết.” Đó mới chính là chân giá trị của người cầm bút chân chính thực sự phục vụ cho những gì cao đẹp của văn học nghệ thuật vậy.

NHẬT THỊNH
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
CHỢ TẾT

Dải mây trắng đỏ lòm trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon.
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu.
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa.
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh.
Ðồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ dim hai mất ngủ,
Ðể lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán.
Một thầy khoá gò lưng trên tấm phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhầm dọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo.
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.

ĐOÀN VĂN CỪ




TẾT


Sáng hôm mồng một tết,
Đèn nến thắp xong rồi,
Bà tôi ngồi trong ổ,
Mặc áo đỏ cho tôi .

Ông tôi vừa thức dậy,
Nằm ngó cổ trông ra .
Trên ngọn cây đèn bóng,
Trời lất phất mưa sa .

Giờ lâu tràng pháo chuột,
Đì đẹt nổ trên hè,
Con gà mào đỏ chót,
Sợ hãi chạy le te .

Cây nêu trồng ngoài ngõ,
Soi bóng dưới lòng ao .
Chùm khánh sành gặp gió
Kêu lính kính trên cao,

Từ khi ông tôi mất,
Bà tôi đã qua đời,
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui .

Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu .

1939
ĐOÀN VĂN CỪ




TẾT QUÊ BÀ


Bà tôi ở một túp nhà tre .
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nứa .
Xuân về hoa cải nở vàng hoe .

Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng .
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông .

1941
ĐOÀN VĂN CỪ




CHƠI XUÂN


Ngày xuân trẻ bức tranh gà,
Cụ già quần nhiễu đỏ lòa sang nhau .
Đàn ông khăn nhiễu đội đầu,
Đôi giày da láng, khăn trầu đỏ loe .
Đàn bà yếm đậu vàng hoe,
Hàm răng đen nhức, váy lê thẹn thùng .
Đám "quay đất" họp đang đông,
Tiếng cười nắc nẻ vang trong góc lều
Hiu hiu trời tắt nắng chiều,
Chõ xôi trong bếp phì phèo lên hơi .
Bàn thờ hương cháy tỏa mùi,
Từng tràng pháo chuột nổ dài trong khuya .

1941
ĐOÀN VĂN CỪ




ĐÁM HỘI


Mùa xuân ấy, ông tôi lên tận tỉnh
Đón tôi về xem hội ở làng bên.
Suốt ngày đêm chuông trống đánh vang rền
Người lớn bé, mê man về hát bội.
Những thằng cu tha hồ khoe áo mới
Và tha hồ nô nức kéo đi xem.
Các cụ già uống rượu mãi gần đêm,
Tổ tôm điếm chơi đều không biết chán.
Những con bé áo xanh đòi chị ẵm
Để đi theo đám rước lượt quanh làng.
Các bà đồng khăn đỏ chạy loăng quăng.
Đón các khách thập phương về dự hội,
Một chiếc kiệu đương đi dừng bước lại,
Rồi thình lình quay tít mãi như bay.
Một bà già kính cẩn chắp hai tay,
Đứng vái mãi theo đám người bí mật.
Trên bãi cỏ dưới trời xuân bát ngát,
Một chị đương đu ngửa tít trên không.
Cụ lý già đứng lại ngửng đầu trông,
Mắt hấp háy nhìn qua đôi mục kỉnh.
Mấy cô gái nép gần hai chú lính.
Má đỏ nhừ bẽn lẽn đứng ôm nhau.
Chiếc ô đen lẳng lặng tiến ra cầu
Tìm đến chiếc san màu bay trước gió,
Bác nhà quê kiễng chân nhìn ngấp ngó,
Rồi leo lên cho ai nấy cùng trông
Đoàn trải dài vùn vụt giữa dòng sông
Người lố nhố chèo trên làn nước lạnh.
Bọn đô vật trước đình thi sức mạnh
Mình cởi trần gân cốt nổi như lươn;
Tiếng reo hò khuyến khích dậy từng cơn
Lẫn tiếng trông bên đường khua rộn rã.
Bên mấy chiếc khăn vuông hình mỏ quạ,
Đứng chen vào chiếc mũ trắng nghênh ngang.
Bọn trai quê bá cổ cạnh cô hàng
Vờ mua bán để tìm câu chuyện gẫu.
Một chú xẩm dạo đàn bên chiếc chậu,
Mắt lờ mờ nghe ngóng tiếng gieo tiền.
Thằng bé em đòi mẹ bế lên đền
Xem các cụ trong làng ra cử tế;
Tiếng chiêng trống chen từng hồi lặng lẽ,
Những bóng người trịnh trọng khẽ đi lên;
Những cánh tay áo thụng vái mơ huyền,
Đang diễn lại cả một thời quá khứ
Mà đất nước non sông cùng cây cỏ
Còn thuộc quyền sở hữu của Linh thiêng.
Khi tế xong một cụ đứng trên thềm,
Giơ bánh pháo cho người kia lại đốt.
Bọn trai gái đứng xem đều chạy rạt,
Một thằng cu sợ hãi khóc bi be.

Người đi xem nhiều bọn đã ra về
Trên đường vắng lá đề rơi lác đác,
Ốc xa rúc từng hồi trong xóm mạc,
Trời đỏ hồng sau những trái đồi xanh,
Đàn chim hôm nhớn nhác gọi trên cành
Vệt tháp trắng in dài trên đồng vắng,
Tiếng chuông tối nhạt khoang trong yên lặng.
Lẫn trống chèo văng vẳng phía làng xa.
Của đám dân nô nức dưới trăng tà...

Đoàn Văn Cừ
(Ngày nay)




Đám cưới mùa xuân


Ngày ửng hồng sau màn sương gấm mỏng,
Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh.
Dịp cầu xa lồng bóng nước long lanh,
Đàn cò trắng giăng hàng bay phấp phới.

Trên cành cây, bỗng một con chim gọi
Lũ người đi lí nhí một hàng đen
Trên con đường cát trắng cỏ lam viền
Họ thong thả tiến theo chiều gió thổi,
Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi,
Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung.
Một cụ già râu tóc trắng như bông,
Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám.
Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm,
Quần nâu hồng, chống gậy bước theo sau.
Hàng ô đen thong thả tiến lên sau.
Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ.
Bọn trai tơ mặt mày coi hớn hở,
Quần lụa chùng, nón dứa áo sa huê.
Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê,
Đầu nón nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ.
Bà lão cúi lom khom bên cháu nhỏ,
Túi đựng trầu chăm chăm giữ trong tay.
Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây,
Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm.
Cô bé để cút chè người xẫm mẫm,
Đi theo bà váylĩnh, dép quai cong.
Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng,
Đặt trên cái hòm da đen bóng lộng.
Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn.
Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao.
Các cô bạn bằng tuổi cũng xinh sao,
Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc.
Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc
Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh.

* * *

Một lúc sau đi tới chỗ vòng quanh,
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm,
Thì cả bọn dần đần cùng khuất lẩn
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân.
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng.

Đoàn Văn Cừ
(Ngày nay)




Trăng hè


Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm văng, người im, cảnh lặng tờ.

Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

Bên giếng, dăm cô gái xứ quê
Từng đàn vui vẻ rủ nhau về,
Trên vai nặng trĩu đôi thùng nước,
Kĩu kịt đi vào lối cổng tre.

Trong xóm giờ lâu quá nửa đêm,
Tiếng chày giã gạo đã ngừng im.
Trăng tà hạ xuống ngang đầu núi,
Đom đóm bay qua dải nước đen.

Tiếng ốc trên chòi rúc thiết tha,
Gió lay cót két rặng tre già.
Sao trời từng chiếc rơi thành lệ,
Sương khói bên đồng ủ bóng mơ.

Đoàn Văn Cừ
(Ngày nay)




Đường Về Quê Mẹ


U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân,
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần,
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Bên miền quê ngoại của hai thân.

Tôi nhớ đi qua những rặng đề,
Những dòng sông trắng lượn ven đê .
Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp,
Người xới cà, ngô rộn bốn bề .

Thúng cắp bên hông, nón đội đầu,
Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu
Trông u chẳng khác thời con gái
Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au .

Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng,
Đoàn người về ấp gánh khoai lang,
Trời xanh cò trắng bay từng lớp,
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.

Tà áo nâu in giữa cánh đồng,
Gió chiều cuốn bụi bốc sau lưng.
Bóng u hay bóng người thôn nữ
Cúi nón mang đi cặp má hồng.

Tới đường làng gặp những người quen.
Ai cũng khen u nết thảo hiền,
Dẫu phải theo chồng thân phận gái
Đường về quê mẹ vẫn không quên.

Đoàn Văn Cừ



Giờ Quốc Sử


Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử.
Thầy tôi bảo: «Các em nên nhớ rõ,»
«Nước chúng ta là một nước vinh quang.»
«Bao anh hùng thuở trước của giang san,»
«Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.»
«Các em phải đêm ngày chăm chỉ học»
«Để sau này nối được chí tiền nhân.»
«Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,»
«Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.»
«Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,»
«Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam»
«Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm»
«Đầy chiến thắng, đầy vinh quang, máu thắm...»

Đoàn Văn Cừ
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Trương Củng.

Bài Ngày Xuân nhớ Đoàn Văn Cừ
Đã được mang vào thư viện.


Bài" Lại vì sao rụng." Ct.Ly mang vào trang truyện.
Còn lại những vần thơ, Ct.Ly mang vào trang thơ.

Không biết làm vậy được không??? có gì cho Ct.Ly biết nhé [:)]

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
Chào TC, cám ơn bạn đã mang lên những bài thơ hay cho mọi người thưởng thức. Một số bài TT đã được đọc, nhưng không biết tác giả là ai, nay đã được rõ ràng. Không biết những bài thơ này TC đã lấy từ tập thơ nào ra vậy? TT nhớ là hình như bài thơ chợ Tết dài hơn[sm=think.gif] Còn bài Giờ Quốc Sử TT biết qua 1 tựa khác là Bản Đồ Nước Việt dài hơn rất nhiều.
Đăng nhập để trả lời
0
Không biết những bài thơ này TC đã lấy từ tập thơ nào ra vậy? TT nhớ là hình như bài thơ chợ Tết dài hơn Còn bài Giờ Quốc Sử TT biết qua 1 tựa khác là Bản Đồ Nước Việt dài hơn rất nhiều.


Theo TC biết là những bài thơ trên đây của Đoàn Văn Cừ lần đầu tiên được in là trên báo Ngày Nay, một tờ báo thời tiền chiến. Số bài được gởi đến báo Ngày Nay tổng cộng khoảng 6, 7 bài vào khoảng năm 1938 - 1940 ( theo Thi Nhân Việt Nam). Trong Thi Nhân Việt Nam TC nhớ là Hoài Thanh-Hoài Chân đăng 4 bài, trong đó 2 bài TC chắc chắn là Chợ Tết và Đám Cưới Mùa Xuân. Bài Đám Cưới Mùa Xuân gần cuối có mấy câu theo Hoài Thanh là bị thất lạc, chỗ mấy ngôi sao. Còn về bài Giờ Quốc Sử hình như cũng có trong Thi Nhân Việt Nam (TC không chắc lắm vì cuốn Thi Nhân Việt Nam của TC bị mất, chắc hôm nào phải kiếm mua lại), bài này TC trích từ địa chỉ www.univiet.com/Tho/gqs.html. TC không biết có bị mất đoạn nào không. Nếu Tố Tâm có trọn bài này xin Tố Tâm đăng cho các bạn trong Thư Quán thưởng lãm, TC cám ơn tố Tâm trước.

Bài Chợ Tết , và bài Đám Cưới Mùa Xuân TC cũng chỉ thuộc lõm bõm, TC tìm ở nhiều web site khác nhau rồi đối chiếu với trí nhớ của mình, đia chỉ TC dùng là: www.suutap.com, www.luongsonbac.com, và www.dactrung.com. Lý do TC không đưa các web site đó lên vì những Web site đó không phải là gốc phát hành những bài thơ trên.

Những bài thơ trên đã được in ra từ xưa trên báo Ngày Nay, tên báo TC ghi dưới tên Đoàn Văn Cừ, và sau này Đoàn Văn Cừ đã thu thập các bài thơ đó cho in lại thành một tập lấy tên là Thôn Ca I (1944) -- Ai ở ngoài Bắc có lẽ biết đến tập thơ này, TC chỉ biết đến tên nó gần đây qua Net, chưa từng thấy tập thơ đó ra sao.

Sau đây là môt số địa chỉ có bài nói về Nhà Thơ Đoàn Văn Cừ , người vừa mới mất tháng Sáu năm ngoái.

Nét Cố Đô : http://www.hue.vnn.vn/vanhocthica/2004/06/22083/

Thanh Niên OnLine : http://www.thanhnien.com.vn/TinTuc/VanHoa/2004/6/29/21599

Báo Lao Động: http://www.laodong.com.vn/pls/bld/folder$.view_item_detail(105393)

Thân
Trương Củng
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
Bản đồ nước Việt


Tôi giữ mãi suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bàng
Có tấm biển đề : "An thôn học hiệu".

Mỗi buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử

Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thưở trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc

Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau này nối được chí tiền nhân
Nhưng cách sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt đã trở nên hùng nghiệp

Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Trên những trang lịch sử nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm.

Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nước Việt Nam địa giới phải chia rời
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam Bắc không cùng chung cỗi rễ

Ta nhất định không khi nào chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam".
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính

Tôi tưởng tượng như đang ngồi dự thính
Thầy tôi đang hùng biện giữa thanh niên
Đang những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.
Đăng nhập để trả lời
0
Thân Chào Tố Tâm

TC xin Cám ơn TT đã đăng bài Bản đồ nước Việt của Đoàn Văn Cừ cho các bạn trong TQ thưởng lãm. Đọc toàn bài là hiểu ngay bài thơ được làm sau tháng 7, 1954. Vậy không thể có trong Thi Nhân VN của Hoài Thanh-Hoài Chân. TC xin Đính Chính.

Chúc Tố Tâm luôn vui vẻ, an bình.

Trương Củng

Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0
CHỢ TẾT

Giải mây hồng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.

Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ lim dim mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ Lý bị người chen sấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà sống mào thâm như cục tiết
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

ĐOÀN VĂN CỪ
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-02-20 04:00:41Trương Củng>
Thân chào Tố Tâm

Cám ơn Tố Tâm thêm một lần nữa nghen: đăng giúp TC đầy đủ bài Chợ Tết.

Bài do TC đăng đọc lại quả là thiếu nhiều, dễ thấy nhất là bài thơ không có đoạn kết thúc mà TC không để ý; nhất là hai câu cuối " Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê, Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ" là cả một tấm lòng tiếc nuối của nhà thơ về một quê-hương-của-ngày-xưa đang tan biến.

Một lỗi lầm đáng trách hén.

Chúc Tố Tâm luôn vui vẻ và an bình.

Thân
Trương Củng
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
Đăng nhập để trả lời
0