📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Nam Quốc sơn hà (từ hồi 36)

18 trả lời, 4.217 lượt xem — Trang 1 / 1
HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU

Đường về đất Tổ



Niên hiệu Thái-Ninh thứ tư, đời vua Lý Nhân-tông của nước bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ tám đời vua Tống Thần-tông bên Trung-nguyên, tháng chạp, ngày Đinh-Dậu (10 tháng chạp Ất-Mão, DL. 10-01-1076).

Trong đại bản doanh của quân Đại-Việt, đóng cách thành Ung-châu hai trăm dặm về phía Nam. Chư tướng cánh quân thứ nhất của Đại-Việt, phạt Tống đều tề tựu. Trên trướng, ngồi giữa là Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản với phu nhân Ngô Cẩm-Thi, bên trái là công-chúa Thiên-Ninh, bên phải là Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt. Tiếp theo các tướng, theo thứ tự ngồi gồm Long-biên ngũ hùng cùng năm vị phu nhân, Tuyết-sơn thập anh, tám tướng Bắc-biên chỉ huy tám đội binh Long, Phong, Hầu, Ưng, Ngao, Tượng, Hổ, Báo, các tướng chỉ huy Thạch-xa, Thần-nỏ.

Long-thành ẩn-sĩ Tôn-Đản xoa tay vào nhau, hỏi chư tướng:

– Kể từ khi khai chiến đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng chín, cho đến nay, xấp xỉ đã ba tháng. Trong ba tháng đó, chúng ta cho quân nghỉ ngơi, thao luyện, cùng nghiên cứu tình hình trước khi tiến xa hơn. Bây giờ chúng ta chuẩn bị đánh Ung-châu. Chư tướng có ý kiến gì không?

Đô-thống Vũ Quang hỏi:

– Thưa sư thúc, đệ tử được sư phụ (ghi chú: chỉ Khai-Quốc vương) dạy rằng: Binh qúy hồ tốc. Phàm phép dụng binh, ai ra tay trước thì nắm được tiên cơ thắng lợi. Thế sao sau khi ta chiếm được các thành Nam phòng của Tống, lại không thừa thế chẻ tre tiến lên đánh Ung-châu ngay, mà để cho đến nay mới khởi sự? Vì ta chậm chạp, mà nảy sinh ra ba điều khó khăn vô cùng tận.

Nhìn qua sắc diện chư tướng, thấy dường như họ đều đồng ý với Vũ Quang; Tôn Đản hỏi:

– Theo đô-thống, năm khó khăn của ta là gì?

– Thưa sư thúc, khó khăn thứ nhất là tướng trấn chủ. Tướng trấn thủ Ung-châu tên Tô Giàm, vốn xuất thân tiến sĩ, võ công bình thường, nhưng là người văn mô vũ lược, can đảm khó ai bằng. Giàm từng trấn thủ Nam thùy Tống hơn ba mươi năm qua, nên y nắm rất vũng tình hình Đại-Việt ta. Thời vua Thái-tông, khi Nùng Trí-Cao khởi binh, tài trí như Quảng-Đông ngũ cái, cũng bại về tay y. Thế mà nay ta đánh biên giới rồi dùng quân lại, tất y củng cố đề phòng rất nghiêm mật. Đó có phải là điều tự ta tạo lấy khó khăn không?

– Đúng thế!

Tôn Đản hỏi: Còn điều khó khăn thứ hai?

– Thành Ung là bản doanh chỉ huy tất cả lực lượng Nam-thùy Tống, trong thành có hai đạo binh triều 29, 30, một sư kị binh 40. Các đạo binh này do Kinh-Nam vương huấn luyện, từng tham dự các trận đánh với Tây-hạ nến rất thiện chiến, thếm vào đó ba vạn bảo-binh, cộng sáu vạn người. Trong binh pháp, cứ một thủ thành thì phải mưởi mới đánh nổi. Đối diện với sáu vạn binh thủ, ta lấy đâu ra sáu mươi vạn mà đánh? Đã vậy, còn chậm chạp, giúp Tô có thêm thời gian chuyển một số quân ở trấn xung quanh về. Y lại tùng quyền bắt tất cả trai tráng xung quân; bởi thế số người trấn trong thành Ung nay lên tới hơn mười vạn. Đó có phải là ta chậm chạp mà nảy sinh ra khó khăn này không?

Ghi chú,

Về quân số thủ thành Ung, các sách chép bất nhất. Có sách chép 2.800 người. Có sách chép năm vạn, có sách chép sáu vạn. Nhưng cuối cùng tất cả đều chép giống nhau rằng, quân Lý vào thành giết sáu vạn người.

– Tống-sử quyển 446 ghi rõ: Quân Việt xếp đầu ngưởi thành đống, mỗi đống một trăm đầu, cộng 580 đống.

– Quách-thị Nam-chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, Tống-triều công thần bi ký chép giống nhau: Quân trong thành Ung có sáu vạn người gồm đạo binh 29, 30 đạo kị-binh 40, ba vạn bảo-binh, và bốn vạn dân binh. Tổng-cộng mười vạn người thủ thành.

Vì vậy, tôi chép là mười vạn.

– Được lắm! Nhận xét như vậy thực đáng tài đại tướng. Còn khó khăn thứ ba?

– Thành Ung xây bằng đá ong, vừa cao, vừa chắc. Hào vừa rộng, vừa sâu. Với ba tháng nghỉ ngơi, chần chờ của ta khiến cho Tô-Giàm đã đào hào thêm rộng, thêm sâu; đặt bẫy đặt chông thực nhiều. Y lại cho đắp thành thêm cao, đem gỗ đá vào, chế thêm cung nỏ. Bây giờ ta mới tiến đánh, có phải tự ta tạo thêm khó khăn cho ta không? Vậy sư thúc định thế nào, xin dạy cho bọn hậu bối các cháu.

Tôn Đản chậm rãi trả lời:

– Cháu đừng lo. Ta đã hội với thái-hậu, với nguyên-soái Thường-Kiệt, rồi đưa ra ý kiến rằng: Binh-pháp có muôn hình vạn trạng, ta không thể dùng một số phương-pháp nào đó mà áp dụng cho toàn thể. Này cháu! Binh bất yếm trá! Phàm dụng binh phải biết lừa địch. Khi địch cho rằng ta khôn, thì ta phải làm ra dại. Khi địch cho rằng ta dại, ta phải làm ra khôn. Người chỉ huy quân đối đầu với ta là Lưu Di. Từ khi xuống trấn Lưỡng-Quảng đến giờ, Lưu thường khinh ta là man di, mọi rợ, không biết lễ nghi phép tắc, tức y tưởng ta dại. Cho nên ta khôn bằng cách đánh úp hàng rào mười hai ải Nam biên của y, lại chiếm Khâm, Liêm châu. Tin này đưa về triều thì từ Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch cho rằng ta quá khôn. Bây giờ ta phải làm ra dại, thì mới thành công. Vì vậy ta mới dừng quân lại, để tỏ ra dại, khiến chúng sinh ra nghi ngờ. Trong phép dụng binh, điều tối kị là trì nghi bất quyết của tướng. Bây giờ chúng đang hoang mang, ta dễ dàng thắng chúng.

Vũ-kị đại-tướng quân Hà Mai-Việt hỏi:

– Xin tiên sinh cho biết mục đích của ta khi giả dại để làm gì?

– Lão-phu xin vì các vị mà nói. Mục đích của cuộc tiến quân này là gì? Ta có cần chiếm đất không? Ta có cần khai chiến với toàn thể Trung-nguyên không? Trước hết chư vị phải hiểu rõ về mục đích cuộc tiến quân. Cuộc tiến quân có hai mục đích, mưc đích gần là phá từ trong trứng nước cuộc chuẩn bị đánh ta của Tống; do vậy phải chiếm các kho tàog chứa lương thảo, thành trì khắp Nam biên, làm cho Tống khó có thể tập kích ta. Mục đích này ta đã thành cống rồi. Bao nhiêu lương thảo bị chiếm, phát cho dân; bao nhiêu vũ khí chở về Đại-Việt hết; bao nhiếu thành trì, cầu cống đường xá bị phá hết rồi. Mục đích thứ nhì là phá bỏ Tân-pháp. Việc này thì đâu có thể làm ào ào một lúc, mà phải làm từ từ. Khắp vùng ta chiếm được, phải cử người về từng trang, từng ấp chứ? Phải nghiên cứu, chia lại ruộng đất cho đều, bằng bất công thì có khác gì lấy bạo tàn thay bạo tàn không?

Ông mỉm cười:

– Nhưng giờ này, từ Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch cho đến Khu-mật viện Tống đều tưởng chúng ta tiến quân chiếm lại cố-thổ như thời vua Trưng, như Nùng Trí-Cao. Họ đang nghĩ rằng, ta sẽ tiến quân lên chiếm Quảng-châu, Ung-châu, rồi vượt Ngũ-lĩnh chiếm Trường-sa. Do đó họ không giám đem quân từ Kinh-châu về cứu Khâm-châu, Liêm-châu như đã cho Địch-Thanh làm hồi trước. Họ cũng không dám đem quân Trường-sa vượt Ngũ-lĩnh cứu Ung-châu. Thế nhưng ta để ba tháng không tiến quân, họ cho rằng ta ngu, nên họ mới dùng cái thành Ung kiên cố để nhử ta đâm đầu vào vách đá, đợi cho ta hao binh, tổn tướng rồi mới phản công. Trong tâm, họ quyết ta không đủ quân số đánh thành này. Vì chủ quan, họ quên mất địa thế thành Ung ở vào vùng đất quá cao, trong thành nhiều quân, đông dân. Ta chỉ việc khơi lạch cho nước chảy đi hết, thì quân dân trong thành sẽ chết khát.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

Ngô Cẩm-Thi tiếp lời:

– Các vị có thấy không? Ta có năm hiệu Thiên-tử binh, với hiệu kị-binh, quân số chưa quá sáu vạn người, lại đi đường xa mệt mỏi, mà đến đây hơn ngày rồi Tô Giàm cũng không dám đem quân ngưng chiến, thì rõ ràng y nhử ta đánh thành, để ta mua lấy cái thất bại. Ta biết rõ ý đồ của Tô là không xuất khỏi thành đánh ta, thì ta cũng không cần đánh thành vội. Hiện tại Quế-châu có ba đạo binh triều mang số 1, 2, 3 và đạo kị-binh 47. Kinh-châu còn đạo 19, 35. Khi ta vây Ung-châu gấp, ắt Lưu Di cho ba đạo binh 1, 2, 3 và kị binh 47 xuống cứu. Các đạo binh này nhất định phải đi qua núi Đại-giáp, Hỏa-giáp nằm trên đường từ Quế-châu đi Ung-châu, Tân-châu.

Bà chỉ Vũ Quan, Võ Kim-Loan, Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh:

– Ta phải chuẩn bị chặn đánh cánh quân tiếp viện này. Vậy hai đô-thống đem hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ, một lữ Thạch-xa, một lữ Nỏ-thần, một lữ thú, đội Thần-tiễn Long-biên phục ở núi Đại-giáp để chặn lại.

Đô-thống Phạm Dật hỏi:

– Thưa sư thúc, ta chỉ có hai hiệu Thiên-tử binh mà phải chặn đánh ba đạo binh triều, một đạo kị-binh, e có nguy hiểm không? Hơn nữa, khi ta tiến quân mà phía sau thì thành Ung còn đó. Vạn nhất Tô Giàm cho xuất quân ra đánh cắt mất đường tiếp tế lương thảo thì nguy tai.

– Ta mong như thế.

Cẩm-Thi khẳng định: Nếu Tô xuất quân ra, thì bị trúng kế dụ hổi khỏi hang. Ta sẽ có cách làm cho y kinh hồn táng đởm đến không dám ra khỏi thành nữa. Các vị tưởng rằng ta chỉ có năm hiệu binh thôi ư? Không! Chỉ nội chiều nay bẩy hiệu binh của canh quân đánh Khâm, Liêm sẽ tới, ấy là chưa kể ba hiệu binh thuộc binh Lĩnh-Nam của Tín-Nghĩa vương bất cứ lúc nào cũng có thể nhập cuộc.

Vũ Quang, Hoàng-Nghi lĩnh mệnh rời trướng.

Tôn Đản ban lệnh tiếp:

– Bây giờ lợi dụng việc Tô Giàm không dám xuất thành, mà ta uhì quân ít không thể tấn công, ta làm kế nghi binh, khiến cho lòng y nghi hoặc, quân sĩ mệt mỏi. Đợi khi nguyên-soái Thường-Kiệt tới, ta mới đánh thực sự. Vậy...

Ông mỉm cười:

– Phạm Dật, Lê Kim-Liên đánh cửa Tây; Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên đánh cửa Nam; Trần Ninh,rần Ngọc-Hương đánh cửa Đông. Hà Mai-Việt đánh cửa Bắc. Ngày mai, giờ Thìn bắt đầu khai pháo.

Kim-Liên kinh ngạc:

– Trình sư thúc, như vậy là ta đánh thành chứ đâu phải gây hoang mang?

– Sư-thúc chưa nói hết. Ta chỉ đánh cầm chừng thôi. Đến đêm thì rút ra xa cho binh sĩ nghỉ ngơi, nhưng vẫn phải cho Thần-ưng, Thần-ngao tuần tiễu đề phòng chúng cướp trại. Sang ngày thứ nhì, thì chỉ mình Phạm Dật, Lê Kim-Liên công phá cửa Tây; ngày thứ ba Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên công phá cửa Nam; ngày thứ tư Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương công phá cửa Đông; ngày thứ năm Hà Mai-Việt công phá cửa Bắc.

Trần Ngọc-Hương bật cười:

– Tô Giàm là người đa mưu túc trí, trong lòng y nghĩ sằng ta sẽ đánh ào ạt bằng một quân số đông đảo. Không ngờ mỗi ngày ta chỉ công phá một cửa thành, với một quân số bằng một phần mười quân thủ. Nhất định y sẽ hoang mang vô cùng tận. Nhưng thưa sư thúc, tỷ như y thử cho quân xuất thành đánh ta, thì ta phải đối phó ra sao?

Tôn Đản hài lòng:

– Phu-nhân đặt câu hỏi thực thông minh. Ta mong như thế. Mỗi ngày, khi các hiệu binh tấn công, ta đều cho dàn trận phía sau gồm Thần-hổ, Thần-báo, Thần-tượng và Thần-phong. Khi Tô Giàm đem quân ra tập kích, thì các vị cho quân giao chiến qua loa rồi chạy về sau tỏa ra như hình rẻ quạt. Nếu chúng đuổi tiếp sẽ trúng vào trận phục kích của ta. Hiện Tuyết-sơn thập anh với ba trăm đệ tử đã tới ngày hôm qua. Họ trang bị giống quân Tống. Đợi giữa lúc quân Tống trúng phục binh đang hỗn loạn, họ trà trộn nhập thành, để chờ làm nội ứng ngoại hiệp.

Cuộc họp chấm dứt. Tôn Đản sai thư lại ghi chép chi tiết kế hoạch, rồi cho chim ưng mang đến cho nguyên-soái Thường-Kiệt.

Sáng hôm sau, Long-thành ẩn-sĩ Tôn-Đản cùng phu-nhân đứng quan sát các đạo quân lên đường. Ông bà cùng đệ tử đi sau cùng, tiến về thành Ung.

Từ xa xa, nhìn lên thành, thấy binh Tống đi đi lại lại phòng vệ nghiêm mật, cờ xí bay phất phới, gươm đao sáng choang. Ông nói với chư tướng:

– Tô Giám quả xứng đáng là biên-cương trọng thần của Tống, tài y thực không tầm thường. Nhưng tiếc rằng y không có phần nên phải ở dưới quyền bọn tham quan ngu như lợn Dư Tĩnh, Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di. Nếu y ở vào chức vụ An-vũ kinh lược sứ Lưỡng-Quảng, thì dễ gì mình đã đến được đây.

Giữa lúc đó có tiếng trống thúc vang dội, quân reo dậy đất, cùng tiếng pháo lệnh nổ liên hồi, thì ra đã tới giờ Thìn, quân Đại-Việt bắt đầu công hãm. Loạt đầu Thạch-xa bắn đá lên thành, rồi bộ binh reo hò tiến đến bờ hào. Nhưng quân trên thành cũng bắn tên, quẳng đá xuống, làm quân Việt lại phải lùi lại.

Sau hai lần xung phong thử thách sức phòng ngự, Tôn Đản cho quân lùi ra xa, đánh trống reo hò hư trương thanh thế. Cứ như thế kéo dài suốt ngày, rồi cùng rút ra xa an nghỉ. Sang ngày thứ nhì, Phạm Dật, Kim-Liên; ngày thứ ba Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên công thành đều vô sự. Sang ngày thứ tư đến lượt Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương công cửa Đông. Từ sáng đến chiều, bộ binh dàn thế trận trước cửa, rồi cho hai đội Thạch-xa, thần tiễn Long-biên ứng trực. Cứ mỗi khắc, Thạch-xa lại bắn những tảng đá lớn lên cổng thành, mặt thành. Quân Tống kinh sợ, không dám nhô đầu lên. Thỉnh thoảng một vài đội trưởng vừa thò đầu lên quan sát, là bị đội thần tiễn Long-biên bắn ngã lộn xuống liền. Cứ như vậy từ sáng tới chiều, hai người vừa định cho quân lui lại, thì Thần-ưng bay tuần thám trên trời báo hiệu trong thành có cuộc chuyển quân ở cửa Bắc, Nam, Đông.

Trong những năm nghiên cứu binh pháp của Tống, các tướng Đại-Việt được biết rằng, mỗi khi cho quân trong thành tiến ra phá vòng vây, thì đầu tiên họ cho đội cung thủ lên mặt thành bắn tên ào ạt, khiến quân vây thành phải lùi lại. Bấy giờ họ mới mở cửa xông ra.

Bây giờ đứng trước việc quân Tống chuẩn bị xuất ra ba cửa, Trần Ninh ước đoán rằng hai cánh xuất ra cửa Bắc, Nam sẽ đánh kẹp hai hông, rồi kị binh sẽ mở cửa Đông đánh trực diện.

Trong Long-biên ngũ-hùng, thì Trần Ninh là người trầm tĩnh, can đảm bậc nhất; chàng vội sai báo cho Tôn Đản biết, rồi lệnh quân cho đổi thế trận: Chia quân làm hai, đối lưng chờ đợi. Còn đội Thạch-xa, Thần-tiễn, Nỏ-thần vẫn tiếp tục tấn công mặt trước.

Quả nhiên, trên thành phát ba tiếng pháo lớn, quân Tống xuất hiện trên cửa Đông thành, dùng cung tên bắn xuống, mục đích đẩy lui quân Việt, cho kị binh xông ra. Nhưng khi họ vừa lên mặt thành, thì đội thần-tiễn Long-biên với đội Thạch-xa bắn những tảng đá khổng lồ bay vi vu, rơi xuống đầu như mưa, khiến kẻ vỡ dầu, người dập thây; người nào thoát được thì lại bị đội thần tiễn bắn ngã. Rồi cửa thành mở lớn, kị binh vọt ra ào ào.

Trần Ninh đứng trên bành voi, phất cờ đỏ, lập tức Thần-nỏ tác xạ. Chỉ ba loạt tên liên châu, hơn nghìn kị binh ngã lổng chổng ngay phù kiều chồng chất lên nhau, làm đám kị binh đi sau ùn lại. Toán Thần-tiễn Long-biên dàn ra sau đội Nỏ-thần, cứ kị binh nào xông ra kéo xác người, xác ngựa để mở lối là bị bắn chết. Trong khi đó hai đạo tả, hữu đang giao chiến khốc liệt với quân Tống từ cửa Nam, Bắc đánh kẹp lại.

Một hồi chiêng lệnh vang lên.

Đội Thần-nỏ chia hai, quay lại tác xạ ào ào yểm trợ cho hai đạo Đằng-hải tả hữu. Nhờ vậy cánh quân Tống từ cửa Nam, Bắc phải lùi mấy bước.

Một tiếng pháo lệnh nổ lớn.

Hiệu Đằng-hải chia làm bốn cánh, mỗi cánh đều kéo cờ hồng trên thêu con rồng mầu đỏ, với hàng chữ ”Đằng-hải, đô-thống Trần” bỏ chạy về phía Đông, tỏa ra như hình rẻ quạt. Trong khi đội Thần-nỏ được hai trăm hổ, hai trăm báo yểm trợ vừa tác xạ vừa lùi. Đến đây bộ binh, kị binh trong thành đã đổ ra, tất cả cùng đuổi theo quân Việt.

Một bên đuổi, một bên rút được khoảng hơn bốn dặm (2km ngày nay), có ba tiếng pháo thăng thiên nổ tung trên bầu trời, biến thành hình hai con ưng mầu đen bay giữa mặt trời mầu đỏ chói. Đó là hiệu tập trung binh vào đội giữa. Lập tức hiệu Đằng-hải đang tung ra như hình rẻ quạt, đổi thế trận, tập trung thành trận như hình bốn mũi tên, hàng lối ngay thẳng: Giữa là đội Thần-nỏ, Thạch-xa, hai bên, hai hiệu Đằng-hải tả, hữu. Quân khí hùng tráng ngút trời.

Quân Tống cũng dàn ra thành ba phía như muốn bao vây lấy quân Việt. Rồi một toán quân từ hàng ngũ Tống hộ vệ một người cỡi ngựa đi dưới lá cờ có chữ Trấn-Nam đại tướng quân Tô. Bên phải bên trái là có bốn tướng cỡi ngựa theo bên cạnh từ từ tiến ra.

Bên trận Việt cũng phát ba tiếng pháo, rồi một đoàn nhã nhạc gồm hơn trăm nhạc công nam nữ đi thành hai hàng vừa tấu nhạc vừa tiến ra. Phía sau là hai cỗ xe. Trên cỗ xe thứ nhất một trung niên nam tử mình hạc xương mai ngồi, dáng người tiên phong đạo cốt. Trên cỗ thứ nhì, một trung niên thiếu phụ sắc nước hương trời, tay cầm cây phất trần. Cạnh hai cỗ xe, có lá cờ đề chữ Thuận-thiên đệ ngũ, một lá khác có hàng chữ Đại-Việt Long-thành ẩn-sĩ, Tôn. Phía sau, một đội đệ tử trường Long-thành, lưng đeo cung tên, tay cầm bảo đao đi hộ tống. Khi hai cỗ xe tới trước trận Tống thì ngừng lại.

Một đệ tử trường Long-thành hô lớn:

– Đệ ngũ nhân trong Thuận-Thiên thập hùng, Long-thành ẩn sĩ Tôn Đản xin được thưa chuyện với Tô đại tướng quân.

Tô Giàm thấy quân mình đông gấp ba quân Việt, dàn trận bao vây đối phương, thế mà chúa tướng đối phương lại ngồi xe, ung dung tấu nhạc ra trước trận, thì trong lòng bắt đầu nghi hoặc, từ nghi-hoặc đến chột dạ. Y cung tay:

– Tiểu bối từng nghe danh Tôn lão sư trong lần đi sứ Trung-nguyên thời vua Nhân-tôn: Cùng Kinh-Nam vương, U-bon vương diệt trừ dư đảng Hồng-thiết giáo Trung-nguyên. Khi về nước lão sư lại vang danh trong trận chư vương khởi loạn thời Thuận-Thiên. Rồi lão sư lại oai trấn Nam phương trong hai lần bình Chiêm. Gần đây trong trận đánh Chương-giang, Quảng-châu với Dư Tĩnh, người cùng phu nhân đuổi Dư Tĩnh chạy trên hai trăm dặm. Hôm nay, tiểu tướng mới được diện kiến với lão-sư cùng phu nhân, thực là tam sinh hữu hạnh.

Tôn Đản cung tay đáp lễ:

– Đa tạ Tô đại tướng quân quá khen.

– Tiểu bối hằng khâm phục cái đức của lão sư cùng phu nhân. Tuy công lao trùm hoàn vũ, mà một đồng bạc, một đấu thóc của nhà vua lão sư cũng không nhận. Thanh cao thay, nghĩa khí thay. Nhưng thưa lão sư, nay giữa lúc hai dân Tống Việt đang sống thanh bình, lão sư với phu nhân lại đem quân đánh phá suốt một giải Nam thùy của Đại-Tống, khiến quân sĩ hai bên phơi thây trên chiến địa như núi, máu chảy thành sông đã đành; mà... dân chúng còn tan nhà nát cửa điêu linh vô cùng tận. Dám hỏi, đó có phải là võ đạo của lão tiên-sinh không? Mong lão tiên sinh dạy cho một lời.

Tôn Đản phe phẩy chiếc quạt lông, rồi mỉm cười:

– Chết thực, một người trong lòng chứa không biết bao nhiêu cơ trí, kiến thức như Tô tướng quân mà sao lại nói vậy? Này tướng quân ơi, thời đức Chân-tông, Nhân-tông bên quý quốc, các ngài yêu thương dân như con đỏ, coi binh tướng như chân tay. Cho nên hơi có đụng chạm ở Nam-thùy là người ban chỉ dàn xếp cho êm đẹp. Vì vậy Tống triều không phải lo mặt Nam, mới đủ sức chống với Tây-Hạ, Bắc-Liêu. Có đúng thế không?

– Quả như lão-sư dạy.

– Hy-Ninh dùng ma pháp, tà-pháp của Vương An-Thạch, làm cho nhân-sĩ, võ-lâm thiên hạ đều oán hận, dân chúng khổ đến sống không nổi, mà chết cũng không xong vì pháp Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-mã, Bảo-giáp; oán khí bốc lên đến trời xanh. Để che lấp tội trạng, Hy-Ninh tích trữ lương thảo chuẩn bị đánh chiếm tám vùng tộc Việt. Triều đình, võ-lâm Đại-Việt biết hết. Con chó, con mèo bị dồn đường cùng, nó cũng phải cắn lại, huống hồ chúng tôi? Cho nên triều đình võ-lâm Đại-Việt quyết định đánh sang, trước giúp dân Lĩnh-Nam thoát khỏi nỗi thống khổ của ma pháp họ Vương, sau là diệt từ trong trứng nước âm mưu gây chiến của Hy-Ninh. Này Tô tướng quân.

Ông vận nội lực nói thực lớn:

– Vơ vét của dân làm giầu là Hy-Ninh, là Vương An-Thạch, thế nhưng chúng sai những bọn vừa ngu, vừa đần Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di xuống Lĩnh-ngoại này lăng xăng gây chiến, rồi đẩy Tô tướng quân với tướng sĩ vào chỗ chết. Này Tô tướng quân! Nay hùng sư Đại-Việt sang đây, thế nghiêng trời lệch đất, liệu Tô tướng quân có chống nổi không?? Dĩ nhiên là không! Biết rằng chống không nổi, mà vẫn chống, tự lăn mình vào chỗ chết, tấm thân phơi cho ruồi bâu cho quạ ăn đã đành, mà vợ con, tôi tớ đều chết oan cho bọn cú diều Hy-Ninh, Vương An-Thạch, hỏi có đáng không? Như vậy là ngu trung, si dũng. Tôi có đề nghị với tướng quân.

– ???

– Sẵn binh lực trong tay, tướng quân cũng lão phu đem quân đánh Quế-châu, bắt tên Lưu Di ngu dần cùng cả nhà chúng giết cho hả giận, rồi sang Đại-Việt sống, như vậy vừa giữ được tấm thân kẻ sĩ, vừa bảo trọng được gia quyến; mà sĩ thiên hạ đều ngợi khen.

Từ lâu rồi, Tô Giàm đã viết thư khuyến cáo bọn quan trên như Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di không nên dùng chính sách khiêu khích với Đại-Việt e có chiến tranh lớn. Nhưng bọn này nhận mật chỉ từ Tống triều, nên không những không nghe lời Tô, mà còn khiển trách Tô nữa. Nay giữa trận tiền, Tôn Đản nói ra cái sự thực, cái phẫn hận của mình, làm cho Tô mát lòng, mát dạ. Nhưng Tô xuất thân tiến-sĩ, lại có tiếng trong thiên-hạ, vì vậy Tô không thể nghe theo Tôn, hàng Đại-Việt. Tô cất cao tiếng nói:

– Thưa lão tiên-sinh. Tiểu tướng ăn cơm, mặc áo chúa thì dù phơi thây nơi sa trường cũng...

Thình lình có tiếng pháo nổ, rồi tiếng quân reo dậy đất. Tô Giàm kinh hoảng nhìn về phía phải, nơi đó có đạo quân hùng tráng, trọn đời Tô chưa từng thấy qua. Đi đầu đạo quân, là một đôi nam nữ, tuổi khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm, cạnh có lá cờ mầu hồng, chính giữa thêu hình con rồng vàng, với hàng chữ Ngự-long, đô-thống Phạm. Cạnh hai tướng, bên phải là đội hổ, bên trái là đội báo, phía sau là mười cỗ xe chở Thần-nỏ.

Bình tĩnh, Tô cho quân dàn ra chuấn bị chiến đấu. Quân chưa dàn xong, lại có tiếng pháo nổ, rồi một đội quân khác, cũng do đôi nam nữ tướng chỉ huy, nhưng trên cờ thiêu con rồng mầu xanh, với hàng chữ Bổng-nhật, đô thống Lý, phía sau cũng có hổ, báo, Thần-nỏ. Bị ba hiệu Ngự-long, Bổng-nhật, Đằng-hải vây ba phía, Tô Giàm kinh hoảng, cho chia quân làm ba chuẩn bị nghinh chiến trong thế tuyệt vọng.

Ba tiếng pháo nổ lớn.

Cỗ xe chở Tôn Đản tiến tới trước trận, ông vẫy tay một cái, ba hiệu binh Việt đang hùng hổ lập tức dừng lại, trống trận ngừng thúc, tiếng reo im bặt. Hiện diện quân Việt có tới hơn ba vạn, mà im phăng phắc, không một tiếng động. Quân sĩ hùng tráng, kỷ luật như vậy, trọn đời Tô chưa hề thấy qua, nghe qua. Tôn Đản chỉ tay vào trận Tống, ông vận nội lực nói lớn:

– Chư quân Tống nghe đây! Ban nãy kị binh các người tràn ra như sóng vỗ, nhưng chỉ một loạt Nỏ-thần của ta, đã khiến hơn nghìn người ngựa chết nghẹt cửa thành, lấp hào sâu. Nay các người bị vây, mà còn chống trả thì chẳng khác gì tự tử. Ta chuyên lấy nhân nghĩa đối xử với người. Quân Đại-Việt ta là quân anh hùng, không bao giời giết hại tù hàng binh. Vậy các người cứ thong thả mà vào thành suy nghĩ kỹ nên hàng hay nên chết vô lý.

Tô Giàm thấy quân Việt tuy hùng tráng, nhưng vẫn ít hơn quân mình, y chưa quyết đánh hay lùi, thì từ xa xa, bụi bay mịt mờ, trống thúc vang dội, bẩy hiệu Thiên-tử binh nữa tiến tới. Tham tướng chỉ vào đoàn quân đang tới nói với Tô:

– Thưa tướng quân, đây là bẩy hiệu Thiên-tử binh, sau khi hạ Khâm, Liêm châu, đã tiến về đánh thành Ung ta. Bẩy hiệu này được chỉ huy bởi bẩy tướng trẻ và bẩy cô vợ, cũng là nữ tướng, được mang mỹ danh Tây-hồ thất kiệt. Bẩy cặp này mưu trí không bằng năm cặp Long-biên ngũ hùng, nhưng cực kỳ can đảm.

Tô Giàm không còn ý chí chiến đấu, y cung tay hướng Tôn Đản:

– Xin kiếu từ lão tiên sinh và phu nhân.

Rồi y cùng chư tướng cản hậu cho quân rút vào thành. Sau khi cho quân trấn các cửa thành, Tô than với các tham tướng:

– Thời Đại-Việt giúp Nùng Trí-Cao, tôi từng giao chiến với Thiên-tử binh, thì thấy cũng không hơn binh triều của ta làm bao. Nay sao lại hùng mạnh, tinh nhuệ, kỷ luật đến như vậy? Tôi thấy rõ, khi kị binh ta ào ào tràn ra, mà nháy mắt một cái thế trận của họ đã đổi. Đội Thạch xa tiếp tục bắn lên khiến đội cung thủ của ta không lên mặt thành yểm trợ cho quân kị vì vậy bên ngoài Thần-nỏ của họ bắn vào đội hình kị của ta hàng loạt, kị binh ta ngã lổng chổng. Một số kị của ta thoát khỏi Thần-nỏ, thì lại bị đội tiễn thủ bắn, bị bộ binh lăn dưới đất chặt chân ngựa. Binh như thế thì dù ta có đem năm vạn quân xuất thành cũng không thắng nổi một vạn của họ.

Một tham tướng phụ trách tế-tác, trước đây từng theo đội võ sĩ của Yên Đạt, Tu Kỷ cứu Chiêm-thành, nên y biết rất rõ tình hình Đại-Việt, y nói:

– Từ bẩy năm nay, mười hai hiệu Thiên-tử binh được chỉ huy bởi mười hai tướng trẻ. Mười hai tướng này được vua Đại-Việt ban cho mỹ hiệu Tây-hồ thất kiệt và Long-biên ngũ hùng. Đặc biệt mười hai tướng này có mười hai bà vợ tài quá trượng phu. Về võ công, họ là những cao thủ hạng nhất. Về mưu trí, đởm lược của họ, nói ra thực xấu hổ, tôi chưa từng thấy tướng nào của ta có thể so sánh được. Trong bẩy năm, họ bắt binh tướng luyện tập suốt ngày, hóa cho nên mỗi Thiên-tử binh trở thành một chiến tướng.

Rồi y thuật lại phương thức tổ chức, huấn luyện, trang bị Thiên-tử binh cho Tô Giàm nghe. Giàm nghe xong, mặt trở thành lầm lỳ không nói không rằng.

Thế là hai cánh quân của Tôn Đản, Lý-thường-Kiệt đã từ hai hướng Nam, Đông tiến lên vây Ung-châu.

Lê Kim-Loan hỏi Tôn Đản:

– Thưa sư thúc, lúc nãy ta có thể xua quân diệt đạo binh Tô Giàm, sao sư thúc lại tha cho họ?

– Phu nhân giỏi chiến trận, nhưng chưa biết nhìn xa. Phu nhân phải biết rằng chúng ta đánh sang kỳ này chỉ với mục đích phá kho lẫm, thành trì Tống, chứ đâu có cần giết người? Trận này ta ra quân bất thần mà thành công. Sau trận này ta còn phải đối đầu với trận báo thù của Tống, nên ta cần tiết kiệm xương máu cho trận sau mới là trận quyết định. Ta biết rõ mười vạn người trong thành Ung đều nghiến răng căm hận ta đem quân vào cướp nước họ. Nếu ta giao chiến với họ, thì họ có chết hết mười vạn người, ta cũng chết mất bốn vạn. Như thế đến trận sau tinh lực ta còn gì? Cho nên ta cố dụ cho quân Tống ra ngoài thành, tuyên cáo tội ác của Hy-Ninh, Vương An-Thạch, để phá đi cái khí thế do căm hờn của họ. Cho nên ta mới buông tha cho họ vào thành. Bây giờ trong thành, mười vạn người như một cùng oán hận Hy-Ninh, Vương An-Thạch. Sau này ta muốn đánh thành, khí thế của họ không còn, thì đánh đâu có khó?

Tôn Đản, Lý Thường-Kiệt hội binh lại bàn kế sách: Sau khi đánh xong thành Ung thì lui quân. Lợi dụng thành Ung bị vây, cho Tuyết-sơn thập anh cùng chư tướng đi về các thôn xã, khê động tuyên cáo: Tha thuế, bãi bỏ Tân-pháp, ân-xá mọi tội trạng, thu thóc lúa công nho Tống phát cho dân chúng. Theo ước tính của Ngô Cẩm-Thi, thì cần khoảng 45 ngày mới làm xong. Vì vậy không cần đánh thành ngay. Tạm thời chia quân làm ba phần, mỗi ngày một phần công thành để làm cho quân thủ mệt mỏi.

Chiều hôm ấy cớ thư mang chim ưng tới, Ưng-binh lấy thư trình cho Tôn Đản, Thường-Kiệt, thì ra chỉ dụ của Linh-Nhân hoàng thái hậu:

« Kính báo cho sư-thúc, sư thẩm cùng sư huynh Thường-Kiệt biết. Vua bà Bình-Dương cùng phò mã Thân Thiệu-Thái đang vân du Xiêm-quốc. Các ngài nghe tin Đại-Việt tiến binh phạt Tống, đã rủ U-bon vương Lê Văn cùng công chúa Nong-Nụt sang Tống, mục đích thu lượm tin tức, cùng dùng võ công quấy phá triều đình Tống, làm nhụt chí Hy-Ninh với Vương An-Thạch. Vậy xin sư thúc cho Thần-vũ thập anh lên đường đi Biện-binh để vua bà có thêm người giúp đỡ ».

Thường-Kiệt cho mời Thần-vũ thập anh vào trướng ban lệnh:

– Có những việc mà người trí không làm được, trong khi người thường làm được. Cũng có những việc mà người già không làm được, trong khi người trẻ làm được. Hiện vua bà cùng phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương, công chúa Nong-Nụt đang lên đường đi Biện-kinh, vậy các sư đệ, sư muội khẩn lấy ngựa lên đường để giúp đỡ các vị ngay. Đây là thẻ bài, giả làm tế-tác Tống. Chúc các sư đệ, sư muội gặp may mắn.

Mười người tuân lệnh lên đường ngay chiều hôm đó.

Kể từ ngày đầu tiên Tôn Đản công thành Ung là 10 tháng chạp, cho đến hôm nay là ngày 20, tức đã trải qua 11 ngày. Thấy quân trong thành quá mệt mỏi, đô-thống Vũ Quang đề nghị dùng hỏa pháo bắn vào đốt dinh thự, kho lẫm thành Ung, khiến cho tướng sĩ, dân chúng không còn nhà trú ngụ, cùng gây cho binh tướng bận tâm với gia đình, mất hết ý chỉ chiến đấu. Thường-Kiệt đồng ý cho thi hành ngay.

Đúng giờ Thìn, quân Đại-Việt không bắn đá vào thành nữa, mà bắn hỏa-pháo, hoàng-thạch, mã-não, khiến thành Ung biến thành một biển lửa. Trong khi quân Tống phải lên mặt thành chống quân Việt; thì nhà cửa, dinh thự, kho lẫm bị cháy. Dân chúng, vợ con tướng sĩ kêu khóc thảm thiết, bồng bế nhau rời khỏi những căn nhà bốc lửa. Dưới thành, đội Thần-tiễn Long-biên dương cung sẵn, cứ thấy một binh sĩ nhô đầu lên là buông tên, lập tức binh tướng đó ngã lộn xuống chết liền. Cho đến chiều, trong thành Ung lửa bốc cháy khắp nơi, tiếng người khốc, tiếng cho kêu, tiếng mèo gào hoà lẫn nhau cực kỳ thê thảm.

Trong khi đó, trên khắp Trung-nguyên, theo lễ nghi cổ-truyền, thì vào đầu tháng chạp, dân chúng đã chuẩn bị đón tết Nguyên-đán. Nhà nhà đều nhộn nhịp, tại các trường học, thầy cho môn sinh về nhà nghỉ. Dân chúng nuôi heo, nuôi gà, nuôi cá, trồng hoa từ mấy tháng trước để có thể bán vào dịp này. Cái không khí tại Biện-kinh năm nay càng thêm ồn ào.

Sau khi làm lễ rằm tháng chạp, dân chúng đang chuẩn bị lễ tiễn đưa ông Táo chầu trời. Không khí đế đô tự nhiên ấm áp kỳ lạ. Dân chúng lũ lượt kéo nhau đi xem chợ hoa.

Nhưng từ sáng đến giờ, dân chúng cảm thấy như có một cái nguy hiểm, đe dọa mà họ không biết rõ nguồn gốc... vì đã hơn mười lần, họ phải tránh dạt vào lề đường, nhường cho những con ngựa trạm chạy như bay đem tin cấp báo từ Nam thùy về Khu-mật viện. Kinh nghiệm cho họ biết, dường như một việc hệ trọng đang ngấm ngầm đe dọa họ. Vì vậy, giữa cái không khí tưng bừng ấy, người dân vẫn hồi hộp lo âu.

Đúng cái giờ thành Ung ngụt lửa đó, tức giờ Thìn ngày 20 tháng chạp, Hy-Ninh đế đang thiết triều tại Sùng-chính điện. Cuộc thiết triều hôm nay còn có tất cả các cựu thần đã về hưu tham dự để chúc tết nhà vua.

Lễ nghi tất.

Nhà vua đưa mắt nhìn các đại thần một lượt. Cao nhất làm tam-công gồm tư-đồ, tư-mã, tư không, rồi đến tả hữu tể tướng.

Từ khi lên ngôi đến giờ, trải đã chín năm, vì thi hành Tân-pháp của Vương An-Thạch, nhà vua bị các đại thần chống đối. Bất đắc dĩ nhà vua phải cách chức không biết bao nhiêu người. Khổ một điều, những người đó đều là những văn-thi sĩ danh tiếng, những tư tưởng gia khắp thiên-hạ khâm phục. Thay vào đó, nhà vua dùng một số Nho sĩ trẻ. Tự nhiên trong triều các quan chia làm hai phe. Phe thủ cựu, gọi là Cựu-đảng, phe theo Vương An-Thạch gọi là Tân-đảng. Trong chín năm thi hành Tân-pháp nay đã có kết quả, quốc-sản dồi dào, binh lực hùng mạnh. Năm vừa qua, có thể kể là năm tươi sáng nhất kể từ khi Tống triều lập lên. Phía Bắc, Liêu không dám gây chiến; phía Tây, Hạ phải tiến cống. Phía Nam, thì Lưu-Di công khai khiêu khích, đe dọa dụ dỗ các khê-động Đại-Việt theo Tống. Đại-Việt cử sứ sang đòi, lúc đầu Tống lờ đi, sau tiến tới không thèm trả lời. Cuối cùng là đuổi sứ về. Nhà vua cảm thấy tự hào, trong lòng mơ ước làm những điều mà Thủy-Hoàng đời Tần, Vũ-đế đời Hán, Thái-tông đời Đường đã làm. Nhà vua thấy việc chuẩn bị Nam chinh; Tân-đảng cùng nhà vua âm thầm làm, Cựu-đảng không biết gì, thì thực là một điều thống khoái kim cổ.

Nhà vua bàn với Vương An-Thạch rằng trong buổi thiết triều cuối năm này, triều đình cho mời hầu hết các quan bị cách đuổi đi trấn nhậm ở ngoài, cũng như những người đã về hưu vào chầu; rồi nhân đó Vương tâu trình tình hình năm qua, nhất là cuộc chuẩn bị Nam-chinh đã xong. Như vậy những lão hủ Nho, những gã văn-gia, thi-sĩ nhai văn nhấm chữ sẽ phải cúi đầu tuân phục, không thể mở miệng chống đối. Tự nhiên cái gọi là Cựu-đảng phải tan rã.

Vương An-Thạch ngửa mặt nhìn lên nóc Sùng-chính điên, đôi mắt sáng rực, bước đi trầm mà dài. Y xưng chức tước:

– Thần Kiểm-hiệu thái-phó, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Chiêu-văn quan đại học sĩ (Tể-tướng), giám tu quốc-sử, Kinh quốc-công Vương An-Thạch xin tâu trình.

– Thái-phó bình thân.

Vương đứng dậy, tay cầm tờ biểu dài lê thê, tâu trình về thành công của Tân-pháp trong chín năm; đặc biệt là năm vừa qua: Nào nhờ Tân-pháp mà quốc sản dồi dào, dân chúng ấm no, khiến cho Nhung, Di, Địch, Man các nơi kinh sợ, cúi đầu tuân phục. Nào là nhờ Tân-pháp, mà Thiên-triều mới gỡ được cái nhục tiến cống cho Liêu, cái uất bị Hạ đánh ép, cái đau phải lùi bước nhân nhượng Giao-chỉ ở phương-Nam.

Các quan trong Tân-đảng vênh mặt lên nhìn các lão thần cựu đảng.

Nhà vua hài lòng, xuất trong bọc ra cái khánh ngọc ban cho Vương. Vương tạ ơn về chỗ. Các quan Cựu-đảng từ từ cúi mặt xuống trong cái thế bị thua, trong cái thế bất tài, có vị chảy nước mắt hối hận đã công kích một thánh nhân như Chu-công, Thái-công xưa kia.

Quan Kiểm-hiệu Tư-đồ, Thượng-thư tả bộc xạ, Trung-thư lệnh Văn Ngạn-Bác đã về hưu, nay nhập triều chúc tết nhà vua. Ông hỏi Vương An-Thạch:

– Vừa rồi Chiêu-văn quan đại học sĩ tâu rằng: Phía Bắc, Liêu không dám gây hấn. Phía Tây, Hạ chịu thần phục. Phía Nam, Giao-chỉ sợ uy tiến cống. Nhưng, hôm qua lão phu nghe gia tướng gốc người Quảng-Tây nói rằng quân Giao-chỉ đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng 9, Tả lĩnh-vệ đại tướng quân Chu Am, Bát-tác sứ Toàn Hưng, thủ-lĩnh Nùng Hiệp-Thành kẻ chết, người bị bắt; năm nghìn quân Quảng, bốn nghìn bảo-giáp, hơn nghìn bị bị đánh tan. Không biết việc này có thực không?

– Thưa quan đại tư đồ quả có.

Vương An-Thạch tái mặt giải thích: Nguyên do thế này, bọn Chu Am, Toàn Hưng, Hiệp Thành nghe bên Tô-mậu đào được vàng, bèn đem quân sang cướp, rồi bị trúng phục binh. Đây chẳng qua là những đụng chạm của man dân mà thôi, không phải là của triều đình Giao-chỉ.

Văn Ngạn-Bác lắc đầu:

– Lão phu nghĩ không hẳn như đại-học sĩ nói. Vì hai mươi bẩy ngày sau tức ngày 12 tháng mười, quân Giao đồng tiến đánh tất cả các trại Nam-thùy. Vĩnh-bình mất sau nửa giờ giao chiến, năm nghìn quân Quảng, một vạn Bảo-giáp, một nghìn kị bị bắt, bị giết; các tướng cùng gia đình bị tùng xẻo trả thù. Tây-bình, Lộc-châu mất sau hai giờ giao chiến, các Chiêu-thảo sứ Nùng Tông-Đán, Nùng Toàn-An bỏ chạy, Trấn-vũ thượng tướng quân Lưu Khả bị bắt. Thái-bình, Hoành-sơn, Ôn-thuận, Quy-hóa bị mất sau hai ngày cố thủ; năm nghìn Bảo-giáp, năm nghìn quân Quảng, một nghìn kị binh bị đánh tan; Quản-hạt Ngũ Cử, Quách Vĩnh-Nghiêm, Giám-áp Lâm Mậu-Thăng bị giết. Việc ấy có thực không?

Mặt Vương An-Thạch tái như gà cắt tiết, y đưa mắt nhìn nhà vua rồi nói cứng:

– Bọn man dân gây hấn với nhau. Hoàng-thượng đã ban mật chỉ cho Lưu Di đem quân từ Khâm-châu về chiếm lại các ải thất thủ. Đại tư-đồ chẳng nên bận tâm. Hiện Lưu Di đã sai sứ sang Giao-chỉ khiển trách Lý Càn-Đức, để y bắt bọn khê-động Giao rút về.

– Đại-học sĩ khuyên lão phu không nên bận tâm. Nhưng có những sự xẩy ra khiến lão phu phải lưu tâm, vì trước sau ta mất ba vạn bảo-binh, hai vạn quân Quảng, một vạn kị binh, sáu vạn binh chứ có ít đâu? Ta lại mất hết các ải biên phòng. Ví thử quân Giao tiến lên đánh Ung-châu, rồi vượt Ngũ-lĩnh chiếm Trường-sa, thì chúng như con hổ ngồi ở bờ Giang-Nam rình Biện-kinh ta thì sao? Vả theo lão phu, vụ này không giản dị như đại-học sĩ tâu đâu, bởi chủ trương là triều đình Giao-chỉ chứ không thể là khê động. Khê động không đủ quân làm việc đó.

Vương An-Thạch gắt lớn:

– Triều-đình Giao-chỉ hay khê động gây chiến thì cũng như ghẻ ngoài da, ta há sợ sao?

Quan Kiểm-hiệu Thái-úy Tào Dật xua tay:

– Chiêu-văn quan đại-học sĩ không thể lẫn lộn việc gây chiến của triều-đình Đại-Việt với khê động Bắc-biên được. Bắc-biên chỉ là một vùng nhỏ, do công chúa Thiên-Thành làm vua, trấn nhậm. Binh lực, võ tướng không hơn Quảng-Nam Tây-lộ của ta. Còn triều đình Đại-Việt, binh lực vô cùng hùng hậu, võ lâm cao thủ như cây trên rừng. Năm xưa Khai-Quốc vương đi sứ, chỉ mang theo mấy đứa trẻ với dăm người đàn bà, mà giúp vua Nhân-tông diệt được bọn Hồng-thiết giáo. Nay nếu như Bắc-biên gây chiến thì ta không cần đề phòng. Còn như Giao-chỉ gây chiến, thì triều-đình phải truyền hịch tới các gia, các phái, các bang hội cùng ứng nghĩa đánh giặc, mới mong chống lại. Tại Biện-kinh, ta phải đặt cao thủ khắp nơi canh phòng, bằng không họ gửi cao thủ sang, chỉ một đêm, các đại thần sẽ bị giết hết.

Vương An-Thạch với các đại-thần Tân-đảng cùng bật lên tiếng cười lớn. Vương lắc đầu:

– Tôi nghe Tào đại nhân xuất thân từ phái Thiếu-lâm, là sư đệ của Pháp-Nhẫn đại-sư thủ toạ Đạt-ma đường; Tào đại nhân là một võ lâm cao thủ bậc nhất bậc nhì thiên hạ; Tào đại nhận hiện lĩnh chức Thái-úy, nắm binh quyền trong tay, mà sao nhát gan vậy? Xá gì mấy tên võ phu vai u thịt bắp của Nam-man. Hễ đứa nào lảng vảng đến Biện-kinh là tôi cho bắt đem chặt đầu hết.

Vương chỉ vào quan Tổng-lĩnh ngự-lâm quân Tu Kỷ, quan Tổng-lĩnh thị vệ Yên Đạt, quan Điện-tiền chỉ huy sứ Lý Hiến:

– Từ thời thơ ấu, ba vị này đã sang Giao-chỉ, biết bao lần từng giao chiến với cao thủ bậc nhất của chúng, rồi nghiên cứu cách khắc chế võ công của chúng. Nay ba vị trấn thủ trong hoàng-thành, thì chúng có vào được, cũng như cá lọt lưới mà thôi.

Lý Hiến xuất thân từ hoạn quan, ỷ làm tôi tớ hầu hạ nhà vua, phi tần đã quen, nên không coi các quan vào đâu. Y nói lớn:

– Tào đại nhân sao lại đề cao địch như vậy. Trước đây võ-công Đại-Việt cao hơn ta, chứ nay lại thua xa. Đại-Việt ngũ-long danh vang một thủa, nhưng nay đều nằm dưới mồ cả rồi. Xưa võ công Giao-chỉ cao, nhưng nay chúng tôi đã biết cách khăc chế rồi thì còn sợ gì chúng. Tôi cam kết, bất cứ cao thủ Giao-chỉ nào đến đây, tôi cũng không cho chúng đến gần Vương đại học sĩ đến ba bước. Tôi sẽ bắt chúng, đàn ông thì gọt đầu, đàn bà thì lột quần áo rồi trói lại đem ra phơi mưa phơi nắng ở chợ Khai-phong cho dân coi.

Nhà vua, Vương An-thạch cùng Tân-đảng vỗ tay hoan hô. Tiếng vỗ tay vừa dứt thì thình lình bốn tiếng ầm, ầm, ầm, ầm kinh khủng phát ra trên nóc điện, rồi gạch ngói rơi xuống ào ào. Bốn người từ trên nóc điện nhảy xuống như bốn con đại bàng. Tư Kỷ, Yên Đạt, Lý Hiến, Tào Dật cùng quát lên, rồi vọt tới vung chưởng tấn công. Bình, bình, bình, bình, tám chưởng chạm nhau, bọn Tu Kỷ bật tung lại phía sau, khí huyết đảo lộn cực kỳ khó chịu. Cả bốn phải hít một hơi chân khí, mới đứng vững không bị ngã. Một thích khách vung tay lên, tiếp theo hai ám khí to bằng quả cau quay rất nhanh, nhưng bay rất chậm hướng người Lý Hiến. Hiến vung tay gạt, nhưng y gạt hụt, vì ám khí vỡ tan thành đám bụi hồng chụp lên người y.

Tu Kỷ hỏi:

– Các người là ai?

Một thích khách mặc quần áo tím cười nhạt:

– Chúng ta là những người Việt yêu dân Hán, trọng văn minh Trung-nguyên, thích văn-học Hoa-hạ. Các vị hiện diện nơi đây, nếu không là những bậc túc Nho, thì cũng là những văn thi sĩ nức tiếng, hoặc là những võ lâm cao thủ. Hôm nay chúng ta hiện diện nơi đây với ý nguyện nói với các vị ít điều, không biết các vị có cho phép không?

Tu Kỷ quát lên:

– Đây thiên-triều, chốn cực kỳ tôn nghiêm, không phải là chỗ cho bọn Nam-man nói láo. Nếu các ngươi là người ngay, thì hãy mở khăn ra cho ta biết các người là ai?

Nói rồi y vận đủ mười thành công lực tấn công người mặc quần áo tím. Chưởng phong chưa ra hết, mà mọi người muốn nổ tung lồng ngực ra. Người áo tím cười nhạt, phát chiêu đỡ. Ầm một tiếng, Tu-Kỷ lảo đảo lùi lại, còn người kia thì đứng nguyên. Thắng bại đã phân.

Người nhỏ bé mặc quần áo trắng cung tay hướng Hy-Ninh đế vái ba vái, rồi lại hướng các đại thần vái một vái, rồi chỉ vào mặt Vương An-Thạch:

– Từ sáu chục năm nay, giữa Tống với Việt luôn giữ được hòa hoãn, cho nên dân chúng vùng biên giới hai nước được hưởng thái bình. Gần đây, bệ-hạ nghe lời tên khuyển-nho mặt dơi tai chuột kia, áp dụng Tân-pháp, bắt dân theo những cái quái quỷ Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-mã, Thanh-điền, Thủy-lợi, khiến cho tiếng kêu oan thấu đến trời xanh. Y lại mật lệnh cho kinh-lược an-vũ sứ Lưỡng-Quảng, Kinh-Hồ tích trữ lương thảo, thao luyện sĩ tốt để chuẩn bị Nam xâm. Các vị đại hiền Nho muốn đem tài lương đống ra để giúp thiên-tử, tạo cho dân Trung-nguyên sống những ngày Nghiêu, tháng Thuấn thì lại bị đầy...

Vương An-Thạch đưa mắt cho bọn Tu-Kỷ. Lập tức Tu Kỷ, Yên Đạt, Lý Hiến, Tào Dật cùng phát chưởng tấn công bốn thích khách để bịt miệng. Bốn người vung chưởng đỡ. Bình, bình, bình, bình, bốn thích khách cất tiếng cười ha hả, rồi chia làm bốn, xung vào giữa các đai thần. Các võ quan cùng quát lên, tiến tới ngăn cản. Người thì ra ưng-trảo, người thì ra hổ trảo, người thì ra cầm long công chụp bốn người kia. Cả bốn trơn như con cá trạch, xuyên bên Đông, lách bên Tây, len lỏi giữa các quan văn võ, Vì vậy các võ quan thì đông, mà không bắt được bốn người này.

Các quan Tổng-lĩnh thị-vệ Tu Kỷ, quan Tổng-lĩnh ngự-lâm quân Yên Đạt, quan Điện-tiền chỉ huy sứ Lý Hiến, đã kịp đem thị-vệ đứng quanh nhà vua hộ giá, rồi hô lớn:

– Xin các quan ra khỏi điện để chúng tôi bắt thích khách. Bên ngoài đã có thị vệ vây kín rồi, chúng không chạy thoát đâu.

Ngay lúc đó, trên nóc điện, có năm nam mặc áo hồng, năm nữ mặc áo xanh tà tà đáp xuống như năm con diều hâu. Năm người này như đã phân chia trước, hễ hặp bất cứ võ quan nào là phóng chưởng đánh trước. Cho đến khi các quan ra khỏi điện, thị vệ tiến vào bắt gian, thì không còn một ai ở trong nữa.

Trật tự đã trở lại.

Nhà vua nhận thấy chỏm mũ tất cả các quan đều bị năm nữ thích khách áo xanh len lỏi cắt đứt. Bao nhiêu hốt của các quan đều bị năm nam thích khách áo hồng cướp mất. Thanh Thượng-phương bảo kiếm của nhà vua cũng bị một nữ thích khách đoạt mất.

Tu Kỷ, Yên Đạt, Lý Hiến quỳ gối tạ tội, vì không bắt được thích khách. Nhà vua từng tập võ, võ công của ông thuộc hàng cao thủ, nên ông xua tay:

– Ba khanh vô tội. Hãy đứng dậy. Tào Thái-úy, Thái-úy có nhận được võ công của các thích khàch không?

– Tâu bệ hạ.

Tào Dật thở hổn hển: Bốn người xuống trước gồm có hai người đàn bà, và hai người đàn ông.

Điện-tiền chỉ huy sứ Lý Hiến cau mày:

– Thưa Tào đại nhân, tiểu nhân thấy rõ chúng là bốn người đàn ông mà?

Tào Dật lắc đầu thở dài:

-Nguy quá, Lý chỉ huy sứ sơ tâm đến thế thì chết thực.

– ???

– Bây giờ tôi hỏi chỉ-huy sứ nhé: Trong bốn người, thì hai người to lớn dùng chưởng, một mặc quần áo nâu, một mặc quần áo tím. Còn hai người nữa nhỏ nhắn, dùng kiếm, khi lộn trên không người chúng uốn cong trông rất đẹp mắt. Trong hai người nhỏ bé đó, một người mặc áo tím quần trắng, một người mặc quần áo trắng, trên người chúng tiết ra mùi thơm của nước hoa, thì nhất định chúng là đàn bà rồi.

Lý Hiến khâm phục Tào Dật tinh tế, nhưng vì tự ái, y vẫn lắc đầu:

– Chưa chắc!

Quan Thượng-thư tả thừa, Tham-tri chính sự (phó tể tướng) cau này:

– Không biết bọn chúng là ai? Tại sao đại náo điện Sùng-chính rồi lại ra đi? Tôi có đối chưởng với người đàn bà mặc áo tím, thì thấy y thị dùng võ công Sài-sơn của Giao-chỉ, giống hệt võ công của Yên-vương phi (Thiếu-Mai) nhưng công lực thấp hơn đôi chút.

Tào Dật ôm bàn tay sưng vù nói:

– Tôi ra chiêu bắt thích khách áo nâu, y đánh lại tôi một chưởng, tôi nhận ra chiêu số của y chính đại quang minh, rất lạ. Còn nội lực thì giống như Thiền-công Thiếu-lâm của tôi. Nói ra thực xấu hổ, trọn đời tôi chưa từng thấy ai luyện nội lực tới trình độ đó. Dường như y không có ác ý, nên y chỉ xử dụng có năm thành công lực, mà khiến cho tôi bị thương như thế này. Không lẽ bọn Giao-chỉ lộng hành đến vậy sao?

Chợt Tu Kỷ chỉ cho Vương An-Thạch:

– Dường như thích khách dán một tờ giấy trên lưng Vương đại nhân thì phải.

Nói rồi y lạng người tới lột tờ giấy trên lưng Vương trao cho y. Y cầm lên đọc:

« Võ-lâm Đại-Việt kính chào Vương tể tướng. Đa tạ Vương tể tướng thi hành Tân-pháp, làm cho dân Tống oán vua, thù quan. Nay nước Tống chia làm hai, thù nghịch, chém giết nhau, để Đại-Việt hùng mạnh lên. Ký tên: Thân Thiệu-Thái, Lý Mỹ-Linh, Lê Văn, Long-Nụt và Thần-vũ thập anh ».

Thạch run run gấp tờ giấy bỏ vào túi.

Bấy giờ các quan mới vội vàng xem trên người mình có giấy dán hay không. Ai cũng thở phào, vì mình không bị thích khách chiếu cố. Duy Lý Hiến, có tờ giấy dán ngay ở vành sau mũ, tờ giấy có chữ:

« Quan Điện-tiền chỉ huy sứ Lý-Hiến, không có hột nào, giống như gà thiến, mà lại thích gáy. Người đe trói chúng ta, lột quần áo đem phơi ở chợ, lát nữa chính người sẽ tự lột quần áo cho các bạn đồng liêu coi để làm trò chơi cho vui ».

Lý Hiến nổi giận cành hông, y vò nát tờ giấy ra vứt xuống đất rồi về chỗ đứng.

Vương An-Thạch cười nhạt:

– Gian nhân đánh trộm, không phải anh hùng.

Chợt Lý Hiến hét lên, rồi y đưa tay gãi mặt, cào cấu khắp thân thể. Mọi người đều thấy bàn tay, mặt y sưng vù, nước vàng rỉ rỉ chảy ra. Y gào lên:

– Ngửa quá! Ngứa chết đi thôi.

Rồi y ngồi xuống nền điện xé tung quần áo ra mà gãi. Phút chốc người y thành trần truồng. Yên Đạt vội sai thị-vệ lấy khăn cuốn quanh người y đem ra khỏi điện.

Văn Ngạn-Bác thở dài:

– Bởi ban nãy Lý hăm bắt võ lâm Giao-chỉ lột quần áo đem phơi ở chợ, nên bị họ phạt để làm trò cười. Cái ngứa chắc chỉ trong chốc lát thì hết.

Tu Kỷ quỳ gối:

– Tâu bệ hạ, thì ra đây là bốn Thái-sơn Bắc-Đẩu võ lâm Lĩnh-Nam, bọn thần thực không phải đối thủ của chúng. Mong bệ hạ đại xá.

Triều Tống lại bàn về chiến cuộc Nam-thùy. Văn Ngạn-Bác nhắc lại câu hỏi về các ải Nam-thùy bị chiếm mất.

Vương An-Thạch lắc đầu:

– Khu-mật viện chưa nhận được tin đó. Có lẽ là tin đồn mà thôi. Tuy nhiên tôi sẽ cho coi lại. Vì tin tức từ Nam-thùy đến Quế-châu mất hơn tháng. Tin từ Quế-châu về kinh ta hơn tháng nữa. Có thể tin tức chưa tới, hoặc giả không có chuyện lớn lao như vậy. Xin quan Đại tư-đồ không nên nghe tin phao vu đồn nhảm. Có thể tin này do gian tế Giao-chỉ phao ra làm loạn long dân mà thôi.

Văn Ngạn-Bác dem ra hai tờ hịch của Đại-Việt, một do Tín-Nghĩa vương truyền ở Khâm-châu, một do Tôn Đản truyền đi ở các ải Nam thùy. Ông đọc lớn lên cho bách quan cùng nghe. Mỗi lời Văn đọc, như một mũi dao đâm vào tim Hy-Ninh đế và Vương An-Thạch. Đọc xong Văn Ngạn-Bác nói:

– Nào, Vương đại học sĩ có còn cho là man dân đánh nhau nữa không? Cứ như hai bài hịch này, thì cuộc tiến công rõ ràng do triều đình Giao-chỉ chủ trương.

Ngay lúc đó quan Sùng-chính điện đại học-sĩ kiêm Khu-mật viện phó-sứ Trương Thành-Nhất thuộc Tân-đảng của Vương An-Thạch từ ngoài bước vào điện quỳ tâu:

– Muôn tâu bệ hạ.

Trên từ Hy-Ninh đế cho đến bách quan, thấy nét mặt Trương tái ngắt, lời tâu đứt đoạn, thì biết rằng có sự gì ghê gớm lắm đã xẩy ra.

Trương Thành-Nhất tâu dõng dạc: Tin ngựa trạm từ Quế châu chuyển về cho biết rằng ngày Mậu-Dần, 20 tháng 11, quân Việt chiếm Khâm-châu cùng các ải Như-tích, Để-trạo, Như-hồng, Thiên-long. Các tướng trấn thủ kẻ bị bắt, người bị giết. Ba ngày sau, ngày Mậu-Thìn, 22 tháng 11 đến lượt Liêm-châu bị mất. Quân Việt chia làm ba cánh. Một cánh từ Khâm, Liêm do Lý Thường-Kiệt chỉ huy theo đường Đông-Tây; một cánh từ Cổ-vạn, Hoành-sơn, Tây-bình do Tôn Đản chỉ-huy tiến theo đường Nam-Bắc... để đánh Ung-châu. Một cánh từ Liêm-châu tiến đánh các châu Dung, Nghi, Bạch do Lý Chiêu-Văn chỉ huy. Hiện thành Ung đang bị vây. Các châu Dung, Nghi, Bạch đã bị chiếm; Đô tuần-kiểm Phan Nhược-Cốc, Chỉ-huy sứ Vương-Đạt, Tào Quăng tử trận. Dường như quân Việt đang chuẩn bị vượt Ngũ-lĩnh đánh Trường-sa.

Trong Sùng-chính điện có hơn năm trăm người, mà im phăng phắc, không một tiếng động. Hy-Ninh đế, Tể-tướng Vương An-Thạch chết lặng chưa nói lên lời, thì một đại thần trong hàng văn quan lên tiếng:

– Thần kiểm hiệu Thượng-thư tả bộc-xạ, Trung-thư lệnh, Võ-minh quân tiết độ sứ, Khu-mật viện sứ, Nam quốc công Phú Bật xin tâu: Gần đây trong triều thì bách quan không được thông báo gì về tình hình Nam biên, thế mà trong dân chúng thì tin đồn thực mau. Nay tình hình đã nguy ngập, thần giám xin bệ hạ cho tóm lược mọi biến cố Nam thùy, để cùng đình nghị.

Nhà vua tuyên chỉ:

– Được, Trương đại học sĩ hãy tóm lược mọi biến cố Nam thùy trình cho bách quan cùng nghe.

Trương Thành-Nhất đứng dậy trình bầy tỉ mỉ việc Hy-Ninh với Vương An-Thạch mật chỉ cho Thẩm Khởi, Lưu Di luyện quân, đồn trữ lương thảo mấy năm qua để chuẩn bị đánh Đại-Việt, rồi sau đó đánh Chiêm, Lào, Chân, Xiêm, Lý như thế nào. Rồi quân Đại Việt đánh Cổ-vạn hầu lừa Lưu Di, triều đình để rồi sau đó đánh hết các ải Nam thùy. Cuối cùng Đại-Việt đổ quân đánh úp các ải xung quanh Khâm-châu, rồi công Khâm, Liêm. Hạ Khâm, Liêm, quân Việt tiến về vây Ung-châu ra sao.

Sau khi Trương trình bầy, triều đình Hy-Ninh mới cảm thấy tất cả cái chua chát, chán nản rằng nhà vua với Vương An-Thạch âm thầm làm những việc kinh thiên động địa ở Nam-thùy, mà họ bị gạt ra ngoài, không biết mảy may gì cả. Bây giờ, chính những việc đó, đưa đến chiến tranh, mà nhà vua vẫn dấu, để đến nỗi mất liên tiếp hơn hai mươi ải, chín châu, việc mới vỡ lở. Quần thần bàn cãi mặc quần thần, nhà vua bỏ ngoài tai, trong thâm tâm tự nhủ thầm:

– Ta với Vương An-Thạch dùng Tân-pháp với chủ đích làm cho nước giầu dân mạnh. Trong khi đó bọn Giao-chỉ lại chủ trương làm cho dân giầu nước mạnh, tức là ngược với ta. Ta cũng biết rằng quốc-sách Giao-chỉ khó hơn, lâu có kết quả hơn, nhưng khi đã có kết quả thì vững chắc vô cùng. Muốn vượt Giao-chỉ, ta cần đi mau, nên mới dùng Tân-pháp. Dùng Tân-pháp thì mau có kết quả, nhưng phải cái nó vượt ra ngoài Tam-hoàng, Ngũ-Đế, và những gì các triều đại trước đã làm, thành ra bị chống đối. Bình tâm mà xét, Tân-pháp của Vương có khác gì những cải cách của Đại-Việt đâu? Thế mà dân Đại-Việt không chống đối. Bây giờ ta hãy cứ giữ nguyên Tân-pháp. Nếu như trận chiến này ta thắng thì sẽ tuyên chỉ rằng nhờ Tân-pháp. Còn như ta bại, thì ta cách chức Vương An-Thạch là xong. Còm Lưu-Di, y nhận mật chỉ từ ta, nhưng khẩu thiệt vô bằng. Nay ta tạm cách chức y, nếu cần thì mượn cái đầu y, đổ tội cho y giả mật chỉ, thế là xong.

Nghĩ thế nhà vua hỏi:

– Việc đã xẩy ra như vậy, bây giờ các khanh nghị nên giải quyết ra sao?

Cần-chính điện đại học sĩ Ngô Sung bàn:

– Khâm, Liêm mất đến nay vừa tròn một tháng, mà triều đình mới biết là do ta chưa lập ngựa trạm ở Nam-thùy. Nếu có ngựa trạm, thì tin tức chỉ trong vòng bẩy ngày đã tới nơi. Cứu binh như cứu hoả, vậy ngay ngày hôm nay phải giải quyết ba việc. Một là thiết lập ngựa trạm, để có tin tức. Hai là cử ngay mấy đại thần xuống Nam-thùy để thiết lập tổ chức hành doanh. Ba là điều động binh Kinh, Hồ (tức Kinh-châu, Hồ-Nam) tiếp viện cho Ung-châu. Sau đó mới nghị kế sách.

Ngô Sung là đối đầu số một của Vương An-Thạch. Nay Vương thấy việc làm của mình bất lợi, mà phải nhờ đến Ngô bàn kế cứu Ung-châu thì bực mình. Y nói cứng:

– Ngô huynh khỏi lo. Thành Ung có đến ba lợi thế, quyết Giao-chỉ không thể đánh được. Một là, thành Ung lớn, là lỵ sở chỉ huy phòng vệ Nam thùy, thành cao, hào sâu, tường xây bằng đá ong dầy đến mười thước (2,5 m ngày nay). Hai là trong thành chứa lương thảo đầy đủ, quân trấn nhậm tới mười vạn. Binh thư nói, một người thủ, phải mười người đánh; Giao-chỉ lấy đâu ra trăm vạn quân mà đánh? Ví dù chúng cố đánh, thì có khác gì tự tử không? Ba là An-vũ sứ Quảng-Tây Lưu Di trí lự hơn đời, y có ba đạo quân triều số 1, 2, 3 với đạo kị binh 47. Có lẽ Lưu chờ cho quân Giao đánh thành Ung mệt mỏi, tổn thất nhân mạng thực nhiều, rồi mới cho các đạo trừ bị đánh xuống.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI BẨY

Giao-chỉ ngũ kiêu



Giữa lúc Tống triều chia phe tranh cãi suốt ngày này qua ngày khác, thì chiến cuộc Ung-châu đang diễn ra cực kỳ khốc liệt.

Theo lời đề nghị của quân-sư Tôn Đản, nguyên-soái Lý Thường-Kiệt trao việc chỉ huy công thành cho đô-thống Trần Di. Lập tức Di họp Tây-hồ thất kiệt, Long-biên tam hùng lại để nghị kế. Trần Di hỏi:

– Từ trước đến nay, chúng ta đã học công-kiên pháp. Công-kiên pháp có rất nhiều: Dùng máy bắn đá, dùng cung thủ bắn tỉa, đào hầm xuyên vào trong, khơi nước làm lở thành, dùng tên lửa đốt dinh thự kho lẫm, bắc thang leo vào. Nay thành Ung quá kiên cố, tường cao, hào sâu, các phương pháp trên đều vô hiệu. Vậy anh em có ý kiến gì không?

Lý Đoan là thầy thuốc, chàng đưa ra một ý kiến:

– Trước hết phải làm sao cho quân ta khỏi mệt, gây cho quân địch mệt mỏi đã. Làm cho quân ta khỏi mệt, ta chia lực lượng làm ba đạo, một đạo tấn công, một đạo nghỉ hoàn toàn, một đạo nghỉ một nửa. Vậy trong mười hiệu Thiên-tử binh với hiệu kị-binh, ta chia thành ba đạo, mỗi đạo ba hiệu; mỗi ngày một đạo công thành, một đạo nghỉ. Đó là lực lượng tấn công và nghỉ hoàn toàn.

– Như vậy... Ta.. ta.. còn.. còn hai hiệu nữa để làm gì?

– Điếc hay hóng, ngọng hay nói.

Lý Đoan méo mặt trêu Dương Minh: Ta đã nói hết đâu? Còn đạo thứ ba chỉ có hai hiệu thôi. Trong khi ba hiệu tấn công, ba hiệu nghỉ thì hai hiệu này nghỉ một nửa tức ứng trực, phòng quân trong thành đánh ra có thể tham chiến ngay.

Đô-thống Ngô Ức hỏi:

– Kế này được quá. Vậy còn phương pháp làm cho quân Tống mệt mỏi?

– Thì chính việc ta vừa đánh vừa nghỉ hẳn, vừa nghỉ một nửa... Nên ta có thể đánh hoài không mệt, mà quân Tống cứ phải lo chống đỡ, nên chỉ mấy ngày chúng sẽ mệt lả.

Thế là cuộc chia quân công thành được áp dụng. Quả nhiên ngày thứ nhất quân Tống chống trả rất hăng, sang ngày thứ nhì bắt đầu chùn nhụt. Đến ngày thứ ba thì mệt nỏi vô cùng. Nhưng sang ngày thứ tư, thì sức chống trả lại hăng hái như ngày đầu. Lập tức Trần Di cho họp anh em nghị kế.

Quách Y xoa tay vào cái đầu hói bóng như quả dưa:

– Tôi thấy phương pháp của Lý Đoan làm cho quân mình khỏe thì thực tuyệt diệu. Nhưng còn làm cho địch mệt thì chỉ hữu hiệu có ba ngày. Vậy bây giờ ta phải làm gì?

Tạ Duy dơ tay lên nói. Trần Di cười:

– Duy có cao kiến gì?

– Tao lùn như con vịt, thì chỉ có ý kiến vịt mà thôi. Tên tướng thủ thành là Tô Giàm, nó khôn như cáo già. Sau ba ngày ta công thành vào giờ Thìn, nghỉ vào giờ Mùi, nó nhận ngay ra sơ hở của ta. Lập tức nó dùng toàn lực chống trả vào lúc ta đánh thành. Còn vào giờ khác, thì chia toán ra canh chừng. Vì vậy quân nó khỏe re hà!

Vợ Triệu Thu là Phương-Liễu đề nghị:

– Hồi còn bé mỗi khi em phạm tội gì, mẹ em thường kết tội rồi tuyên phạt đánh bao nhiêu roi. Nhưng người không đánh ngay, thành ra em luôn luôn lo sợ không biết bao giờ thì bị đòn. Rồi khi người đánh đòn, người cứ dơ roi mà kể tội, trong khi em cong mông lên sợ hãi, mà không biết bao giờ cái roi quất xuống. Bây giờ muốn cho quân Tống mệt, ta hãy là bà mẹ, còn quân Tống là đứa trẻ bị phạt. Như vậy ắt chúng mệt nhừ tử ngay.

Phạm Dật vui vẻ:

– Hay, không ngờ hoàng-hậu của Mai Hắc-đế lại nghĩ ra được phương pháp hay đến như vậy. Ngay ngày mai ta áp dụng. Vậy thì thế này: Ta vẫn giữ nguyên việc chia toán, nhưng còn giờ công thành thì thay đổi. Khi thì ta công vào buổi sáng, khi thì ta công vào buổi chiều, khi thì ta công vào nửa đêm; lại có khi ta công liên tiếp mấy ngày mấy đêm. Chúng sẽ không biết đâu là thực đâu là hư, như vậy chỉ mấy ngày là mệt hết thở nay.

Kế này quả nhiên hữu hiệu. Sau năm ngày công thành, làm cho quân, dân binh thủ thành luôn luôn kinh hoàng, phập phồng lo sợ. Hôm ấy tới lượt hiệu Bảo-thắng, Hùng-lược, Vạn-tiệp công thành. Hai hiệu Ngự-long, Đằng-hải làm trừ bị. Ba đô-thống Quách Y, Ngô Ức, Tạ Duy cùng Phương-Tiên, Phương-Dược, Phương-Quế dự định công thành vào giờ Tý (nửa đêm). Đúng giờ, sáu người cho quân phát pháo bắn đá lên thành, rồi bộ binh reo hò xung phong. Quân thủ thành giật mình thức dậy, mặc giáp trụ, mang vũ khí ra vị trí phòng thủ. Đuốc đốt lên sáng rực, trong khi cơ thể rã rời.

Quách Y cỡi ngựa cùng toán thần-tiễn Long-biên đi vòng quanh thành, cứ thấy quân Tống nhô đầu lên là bắn ngã. Khi đến cửa Đông thì gặp Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương đang cho hiệu Đằng-hải mang tre đến. Quách Y hỏi:

– Hôm nay bọn mi nghỉ một nửa, sao không nghỉ, mà làm gì đây?

Ngọc-Hương nhỏ nhẹ:

– Chúng mình công thành, nhưng thành cao tới bốn trượng (8 m ngày nay) thành ra không biết tình hình bên trong. Em cho làm một cái đài bằng tre gọi là trúc đài, cao tới mười hai trượng (24m), để mình leo lên quan sát tình hình địch, như vậy đánh mới kết quả.

Lát sau, bốn cái đài được dựng lên bằng những khúc tre ngắn nối với nhau, đặt ở bốn góc thành. Các tướng chỉ huy leo lên lên cao quan sát. Nhưng trong đêm, nhìn không rõ. Sáng hôm sau, trong buổi họp, Trần Di hỏi anh em:

– Hôm qua ông bà Trần Ninh chế ra cái thang có thể nhìn vào trong thành. Vậy anh chị em có ý kiến gì không?

Lê Kim-Loan đề nghị:

– Sáng nay em đã leo lên bốn cái thang ở bốn cửa thành nhìn vào, rồi vẽ được bản đồ dinh thự, kho lẫm, nhà cửa. Thì ra từ trước đến giờ, mình dùng Thần-nỏ bắn đại-tiễn tẩm dầu, đốt lửa bắn vào đều là bắn hú hỏa, nên không gây kinh hoàng cho địch. Vậy đêm nay ta leo lên thang, chỉ huy đại nỏ bắn vào mới chính xác.

Đêm hôm ấy, đến lượt ba hiệu Vũ-thắng, Long-dực, Thần-điện công thành. Hiệu Ngự-long, Đằng-hải trừ bị. Trần Di, Dương Minh, Triệu Thu cho khởi sự vào giờ Dậu (19-21 giờ). Đúng giờ, Thạch-xa bắn đá, bộ binh reo hò bắc thang leo lên. Trống thúc vang dội, quân reo rung động trời đất. Cuộc tấn công đến giờ Sửu (1-3 giờ sáng), thì đại-nỏ khai hỏa bắn vào. Những mũi tên bằng tre, to hơn bắp tay, ruột chứa nhựa cháy, đầu quấn bông tẩm dầu; châm lửa bắn bay bổng lên cao thành những vệt đỏ như con rồng lửa sáng rực bầu trời thành Ung. Các đội trưởng Thần-nỏ đứng trên đài điều chỉnh cho xạ thủ bắn. Tại cửa Đông, Trần Minh, Phương-Lý thân điều chỉnh cho các dàn đại-nỏ. Mũi thứ nhất rúng vào khu vườn hoang. Phương-Lý hô:

– Xa hơn khoảng chín trượng, lùi về bên trái ba trượng nữa.

Mũi thứ hai trúng ngay vào khu nhà của quân Tống và gia đình ở. Lập tức lửa bốc cháy ngụt trời.

Phương-Lý hô:

– Trúng rồi, cứ thế mà bắn.

Lát sau hơn hai chục mũi khác đều trúng đích. Cả một khu nhà chìm trong biển lửa, ánh sáng rực trời. Trong khi quân lính hò hét chữa cháy, thì dân chúng bồng bế dắt díu nhau rời khỏi nhà. Những ống tre gặp lửa nổ lốp bốp, mỗi lần nổ lại tung những tàn ra xung quanh.

Tại cửa Nam, Dương Minh, Phương-Cúc chỉ huy bắn trúng vào dinh thự tổng-trấn. Khu này lại bốc cháy. Tiếp theo đại nỏ cửa Tây do Triệu Thu chỉ huy bắn trúng khu nhà dân chúng. Đại nỏ cửa Bắc do Phương-Liễu chỉ huy bắn trúng khu chứa lương thảo. Thế là thành Ung biến thành một biển lửa. Tiếng kêu khóc, hoà lẫn tiếng la hét gọi nhau ơi ới, tiếng rên la vọng ra như một cơn bão biển.

Giữa giờ khắc kinh hoàng của thành Ung ấy, thì Phạm Dật, Trần Ninh đem mười xe chở những ống luồng to bằng bắp chân, dài khoảng nửa trượng (1 m). Dương Minh hỏi:

– A ha! Hai bà chị thấy nỏ-binh mệt, thổi xôi lam mang đến tiếp tế hả? Cơm lam mà do bà chị Kim-Loan, Ngọc-Hương nấu thì tuyệt vời.

Ngọc-Liên xua tay:

– Không phải cơm lam đâu! Mà là Lôi-tiễn, bọn em mới chế ra, nay mang đến để các anh thử đấy!

– Lôi tiễn?

Phương-Cúc hỏi: Lôi tiễn là gì vậy? Khi học binh pháp mình đâu có nghe nói?

Kim-Loan bật cười:

– Binh pháp của các cụ đặt ra được, thì ta cũng biến chế đi được chứ? Lôi nghĩa là sấm sét, tiễn là mũi tên. Bọn em dùng ống luồng gồm có ba đốt, chẻ đôi ra. Đốt thứ nhất chứa nhựa cháy, đốt giữa chứa hoàng-thạch (lưu huỳnh), đốt thứ ba chứa dẻ tẩm dầu. Sau đó cột lại. Ta đốt lửa đầu có dẻ tẩm dầu, rồi dùng Thần-nỏ bắn vào thành. Khi Lôi-tiễn bay tới thành thì lửa cháy tới đốt chứa hoàng thạch. Hoàng thạch nổ tung, bắn nhựa cháy ra xung quanh. Như vậy, một mũi có sức công phá mạnh hơn đại nỏ tẩm dầu nhiều.

Triệu Thu khen ngợi:

– Hay thực, để ta thử xem.

Y rời trúc đài, đặt ba mũi Lôi-tiễn vào Thần-nỏ, đích tay châm lửa rồi hô:

– Bắn.

Nỏ binh giật dây, ba mũi Lôi-tiễn xẹt lên trời tỏa ánh sáng xanh-vàng-đỏ kéo dài trên không. Bọn Phạm Dật, Trần Ninh, Triệu Thu tung mình lên trúc đài quan sát. Vì mục tiêu quá xa, nên Lôi-tiễn còn đang bay trên không đã phát nổ. Ba tếng nổ lớn như sét đánh trên không trung, rồi ba trái cầu lửa mầu xanh lè chụp xuống ngay giữa chỗ tập trung quân phòng ngự. Hàng vạn viên lửa do nhựa cháy chụp xuống đám quân. Chúng la hét, chạy tứ tán.

Thế là Phạm Dật, Kim-Loan, Trần Ninh, Ngọc-Hương cho binh sĩ chở hai chục xe Lôi-tiễn tiếp tế cho Dương Minh, Trần Di, Triệu Thu nã vào thành. Có những Lôi-tiễn rơi xuống rồi mới phát nổ, có những Lôi-tiễn đang bay thì phát nổ, cũng có Lôi-tiễn tới mục đích rồi phát nổ. Tiếng nổ kinh thiên động địa, ánh lửa bốc lên sáng rực một bầu trời, đến nỗi những vùng cách xa đến hai mươi dặm cũng nhìn thấy.

Tiếng kêu làm cho Tôn Đản, Cẩm-Thi thức giấc. Không biết chuyện gì đã xẩy ra? Hai ông bà vội mặc quần áo, cỡi ngựa đến quan sát trận địa. Ông bà leo lên trúc-đài nhìn vào trong thành: Dưới ánh lửa sáng rực, thấy rõ cảnh bên trong. Chỗ này quân sĩ lăn mình vào chữa cháy, chỗ kia thì dân chúng kêu khóc thảm thiết. Cũng có người chạy không kịp, lăn lộn trong đống lửa. Đại-nỏ vẫn tiếp tục nã Lôi-tiễn vào. Mười Lôi-tiễn trúng ngay chỗ kho lương đang cháy, lập tức mười cột lửa nổ tung tàn lửa bay vọt lên cao, khiến cho hơn trăm người vừa già, vừa đàn bà, vừa trẻ con bốc cháy như cây đuốc.

Dù đã chinh chiến bốn chục năm qua, dù đánh dư trăm trận, dù lăn mình vào chỗ chết biết bao lần; nhưng ông bà Long-thành ẩn-sĩ vẫn không đủ can đảm nhìn cảnh đó. Ông bà vội xuống thang. Ông nhìn bà, bà nhìn ông, hai vị không nói với nhau một lời; nhưng trong cái nhìn ấy, chứa biết bao nhiêu lời nói, bao nhiêu đau xót.

Cuộc nã Lôi-tiễn tới sáng thì chấm dứt, nhưng khói lửa trong thành vẫn bốc lên ngùn ngụt.

Trưa hôm đó Phạm Dật họp Long-biên tam hùng, Tây-hồ thất kiệt, cùng các đội trưởng Thần-nỏ lại nghị sự.

Dương Minh suýt xoa:

– Sáng chế của hai anh Phạm Dật, Trần Ninh thực hiệu nghiệm. Hiện chúng ta có lệnh chỉ đánh cầm chừng, để hút viện quân tới. Bằng không ta chỉ cần nã một đêm nữa, thì trong thành không còn một người sống sót.

Triệu Thu góp ý:

– Anh Dật, Ninh này. Lôi-tiễn hay thực, nhưng nó chỉ hữu hiệu khi đốt kho tàng, dinh thự thôi. Tôi đề nghị anh chị chế ra bốn loại khác nhau!

Trần Di cũng đồng ý:

– Đúng! Loại Lôi-tiễn đầu tiên dùng để đánh phá kho tàng, dinh thự. Ta nên làm loại thứ nhì, trộn lẫn hoàng thạch với nhựa cháy. Loại này bắn lên trên không thì nổ, hoàng thạch sẽ tung nhựa chứa thành cái lơm lửa. Loại này dùng để bắn vào đội hình quân giặc.

Kim-Loan khen:

– Ý anh Di hay. Loại thứ ba chỉ chứa toàn dẻ tẩm dầu, dùng để đốt rừng, đốt nhà!

Triệu Thu chắp tay:

– Chịu bà chị. Loại thứ tư chỉ chứa toàn mã não, hoàng thạch. Loại này cần bắn lên thực cao, khiến nó phát nổ trên không. Tiếng nổ do mã não, hoàng thạch sẽ lớn vô cùng. Ta dùng để gây kinh hoàng cho địch.

Thế là Phạm Dật, Trần Ninh tập trung nỏ binh lại hướng dẫn chế tạo năm loại Lôi-tiễn. Ngay đêm đó, các dàn Thần-nỏ chia nhau "thí nghiệm" Lôi-tiễn. Thành Ung muốn nổ tung lên về những trái Lôi phát ra.

Cuộc nã đại nỏ sang ngày thứ ba thì quân thủ thành mệt mỏi đến không còn sức chống trả. Phạm Dật họp chư tướng lại, quyết định công thành liên tiếp ba ngày, sang ngày thứ ba sẽ tấn công thực sự vào thành. Kế hoạch được trình lên nguyên-soái Thường-Kiệt. Ông gọi Phạm Dật giảng giải:

– Nếu đánh như thế thì chiếm được thành. Chiếm được rồi, ta phá hủy thành, sau đó phải rút về. Nhưng tại Quế-châu, Tống còn ba đạo binh đệ 1, đệ 2, đệ 3 và đạo kị-binh số 47 ta vẫn chưa phá được. Vậy ta phải duy trì thành Ung, để nhử cho Lưu Di gửi bốn đạo binh kia tiếp viện cho ta diệt.

Ông ghé miệng vào tai Phạm Dật dặn mấy câu. Phạm Dật tuân lệnh, rồi ra họp chư tướng, quyết định ngừng nã hoả pháo.

Hôm sau Phạm Dật sai bắn thư của nguyên-soái Lý Thường-Kiệt gửi cho Tô Giàm. Đại ý thư nói, quân Việt là quân nhân nghĩa, nên tạm hưu chiến, lùi xa ba chục dặm, để quân Tống có thể tắm rửa, nghỉ ngơi, chữa trị thương binh; hoặc ra ngoài thành kiếm củi, mua lương thực. Thư cũng nói rõ: Chinh chiến, chém giết là giữa quân với quân, dân chung vô tội. Vậy Tô hãy cho dân chúng rời khỏi thành, để khỏi bị chết oan.

Khi nhận được thư, thì khi quân tướng Tống reo hò, mừng rỡ. Trong khi Tô Giàm tỏ ý nghi ngờ:

– Bọn Tôn Đản, Thường-Kiệt là những tên xảo trá khón lường. Chúng đành thành không được, nên giả nhân giả nghĩa, để ta không phòng bị, rồi bất thần tấn công đấy.

Nhưng quả nhiên quân Việt rút ra xa thực. Binh tướng Tống được nghỉ ngơi. Họ xin phép được ra ngoài thành kiếm củi, mua lương thực. Nhưng người đi thì nhiều, mà về thì chẳng bao nhiêu, bởi họ nhân dịp này đào ngũ hết. Tô sai thành lập một đội đao phủ, gồm toàn những thân binh trung kiên ra nấp ngoài thành, hễ bắt được người nào trốn là bắt đem chém liền. Hôm ấy, quả bắt được mười người bỏ trốn. Tô sai chém đầu, rồi đem đi bêu khắp các trại quân. Nhưng lần quân Việt hưu chiến sau, than ôi, chính đội đao thủ đi bắt đào binh lại bỏ trốn hết.

Quân Việt lại công thành.

Lối công thành của quân Việt cũng không nhất định. Khi thì dùng đội Thần-tiễn Long-biên đi vòng quanh thành, hễ thấy quân Tống thò đầu lên là bắn ngã liền. Khi thì cho quân giả bắn đá lên, rồi sai bắc thang leo vào, thế bắt buộc quân thủ phải rời khỏi chỗ núp lên mặt thành lăn gỗ đá xuống. Lập tức bị đội Thần-tiễn bắn rơi như sung rụng. Một vài lần Tô-Giàm cho rằng quân Việt xung phong giả, không cho quân lên mặt thành lăn gỗ đá, thì quân Việt lại đánh thực; lần ấy gần mười người lọt vào thành.

Nhưng kinh khủng nhất vẫn là những lần quân Việt dùng hỏa công bắn Lôi-tiễn khiến lửa bốc cháy khắp nơi.

Chính lối công thành không giờ nhất định, không có phương pháp nhất định và cũng không dùng hiệu quân nào nhất định, làm cho Tô Giàm cùng tướng sĩ kinh hoảng, không biết đâu mà chống đỡ. Tô lâm tình trạng bị động, bất an, suốt ngày đêm không dám rời giáp trụ.

Hôm ấy như thường lệ, nguyên-soái Thường-Kiệt, quân-sư Tôn Đản hội các tướng lại nghị kế.

Công-chúa Thiên-Ninh lên tiếng trước:

– Thưa sư thúc, thưa nguyên-soái, sau năm lần dùng đại nỏ đánh hỏa công, thì nhà cửa trong thành không còn được một nửa. Nếu ta cứ tiếp tục bắn như vậy năm lần nữa, thì trong thành không còn ngôi nhà nào. Dĩ nhiên bấy giờ ta chiếm được thành. Nhưng... nhưng... dân chúng chết nhiều quá.

Tôn Đản cũng nói:

– Mấy đêm nã Lôi-tiễn, tôi lên đài tre nhìn vào thành, thấy dân chúng chết cháy, xác xếp thành mấy đống cao, trông thực thương tâm.

Thường-Kiệt hỏi chư tướng:

– Bà chúa kho tuyên chỉ, sư-thúc dạy như vậy, các vị nghĩ sao?

Đô-thống Mai Cầm phát biểu:

– Chiến tranh là như vậy! Gươm đao, cung tên vốn vô tình. Hiện không có binh pháp nào để tránh cái chết cho dân chúng được cả. Ta đành chấp nhận. Công-chúa là bà chúa kho, công chúa nhân từ là phải. Bọn thần biết làm sao bây giờ?

Trần Ngọc-Liên tiếp lời Mai Cầm:

– Công chúa ơi! Bọn thần là tướng cầm quân, bọn thần thương quân như chân tay. Nếu bây giờ không dùng hỏa công đánh thành, mà dùng lối leo thang vào thì quân chết nhiều lắm. Bọn thần trộm nghĩ: Thà dân Tống chết, chứ không thể nhìn quân mình chết.

Trong khi Ngọc-Liên phát biểu, thì ông bà Tôn Đản ôm trán, trầm tư không nói, không rằng.

Đô-thống Dương Minh tiếp:

– Công chúa thương dân Tống, nhưng quan Tống lại không thương dân họ thì bọn thần chả tội gì mà phí mạng quân mình. Bằng cớ là ta đã bắn thơ vào, yêu cầu Tô Giàm cho dân ra khỏi thành. Nhưng Tô lại giữ dân làm bùa hộ mạng. Như vậy rõ ràng Tô biết ta trọng nhân nghĩa, nên lấy dân làm cái mộc che thân. Nếu ta thương dân Tống, không bắn hỏa pháo vào nữa là mắc mưu y.

Công-chúa Thiên-Ninh thấy các tướng trẻ không nghe lời mình, nàng đưa mắt nhìn Trần Ngọc-Hương để cầu cứu. Bởi Ngọc-Hương được các bạn đặt cho ngoại hiệu là bà đồ, vì nàng học Nho rất uyên thâm, lại hay phản đối chiến tranh. Ngọc-Hương cung tay:

– Khải điện hạ, trước đây thần đã đọc Chiến-quốc sách nói về việc dùng nhân nghĩa trong chiến tranh. Nay xin đọc để điện hạ tường.

Nói rồi nàng rút trong bọc ra bộ sách đọc.

« Tống Tương-công chiến ư Giang-ngạn. (Tống Tương-công đánh nhau ở bờ sông Trường-giang).

Châu... vương năm thứ... mùa Xuân tháng hai, Tống Tương-công đem binh đánh Sở, dàn quân ở bờ bắc sông Trường-giang chờ giặc. Giữa lúc quân Sở đang dùng thuyền qua sông, chư tướng khuyên: Sở đang độ giang, nhân lúc quân chúng chưa sang hết, ta đánh, tất thắng. Tương-công không bằng lòng đáp: Ta ra quân nhân nghĩa, mà nhân lúc người chưa qua hết đã đánh, thì còn là nhân nghĩa được không? Rồi không nghe lời. Lát sau, quân Sở qua sông, đang bầy trận, hàng ngũ lộn xộn. Chư tướng khuyên: Nên nhân lúc chúng mới qua sông, quân còn say sóng, hàng ngũ chưa thành. Ta đánh chắc thắng. Tương-công mắng: Ta mang quân nhân nghĩa đi đánh bọn Sở bất nghĩa, mà nhân lúc chúng mệt mỏi, lại thúc quân đánh, thì còn gì nhânnghĩa nữa? Rồi không nghe lời chư tướng. Kịp đến khi quân Sở chỉnh đốn trận thế, hai bên giáp chiến, Tương-công bị bại. Hóa cho nên sau này tục ngữ có câu "Ngu như người nước Tống" ».

Tôn Đản, Thường-Kiệt thấy từ xưa đến giờ mỗi khi công chúa Thiên-Ninh nói gì là đám Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt luôn tuân chỉ răm rắp. Nhưng nay rõ ràng Thiên-Ninh đưa ra đề nghị hợp lý, mà chúng thẳng tay bác bỏ đã đành; mà đến ngay Ngọc-Hương mà cũng mang sách ra bác lời công-chúa nữa. Ông hiểu ngay rằng chúng đã trưởng thành, lại có ý-thức rõ ràng. Hai người chưa biết giải quyết sao, thì thân binh bưng vào một cái hộp trình:

– Thưa nguyên-soái, có ba nhà sư đến xin yết kiến nguyên soái, tiểu nhân hỏi pháp danh, cùng mục đích, thì hai nhà sư đưa ra cái hộp rồi nói: Hai bần tăng là sứ giả của chủ nhân cái hộp này xin cầu kiến.

Thường-Kiệt mở hộp ra, thì thấy trong hộp có cái đùi chó luộc, đã lóc hết thịt, cạnh đó còn có cành hoa sen. Cử tọa cùng bật lên tiếng oà vì biết đó là biểu hiệu của Viên-Chiếu và Mộc-tồn hòa thượng.

Tôn Đản, Thường-Kiệt vội đứng dậy ra đón khách, thì ra là ba sư Đạo-Hạnh, Minh-Không và Pháp-Nhẫn. Tây-hồ thất kiệt thấy Minh-Không, vội vàng hô cả bẩy bà vợ cùng thụp xuống đất hành lễ với ngài:

– A-di-Đà Phật, chúng đệ tử xin tham kiến sư phụ.

Minh-Không cười:

– Các con không nên đa lễ. Thầy có việc nhờ đến các con đây.

Trà nước, phân ngôi chủ khách xong, Tôn Đản hỏi:

– Không biết ba đại sư quang lâm có điều chi dạy bảo?

Đại sư Pháp-Nhẫn quỳ mọp xuống chắp tay hướng Thường-Kiệt, Tôn Đản và chư tướng. Tôn Đản vội đỡ ông dậy. Pháp-Nhẫn nói:

– Vì tham vọng, Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch gây hấn với Đại-Việt, nên Đại-Việt phải ra quân trước hầu tự vệ. Bần tăng muôn ngàn lần không dám nói gì. Nhưng thưa nguyên soái, trong mấy lần công thành vừa qua, dân thành Ung chết oan nhiều quá, nên bần tăng phải tìm hai vị bồ tát Viên-Chiếu, Mộc-tồn để nhờ hai vị giúp cho bần tăng được diện kiến nguyên soái, xin nguyên soái tha mạng cho đám dân vô tội.

Trần Ngọc-Hương chắp tay:

– Bạch đại sư, bọn đệ tử đều là con nhà Phật, cho nên phải giữ ngũ giới. Nhưng đại sư ơi! Ung-châu là lỵ sở của cuộc xâm lăng Đại-Việt, bọn đệ tử không thể không phá. Sự bất đắc dĩ mấy ngày qua, bọn đệ tử phải dùng hỏa công đánh thành, làm dân chúng chết oan, điều này chúng đệ tử đều cảm thấy bất nhẫn vô cùng. Cũng vì thương dân nên nguyên soái đã bắn thư vào khuyên Tô Giàm cho dân chúng ra khỏi thành. Tô không những không nghe, mà lại giữ dân làm con tin. Vậy đại sư dạy cho bọn đệ tử phải làm sao bây giờ?

Ghi chú về di tích ngài Đạo-Hạnh

Hồi 35 phần phụ lục thuật hành trạng ngài Từ Đạo-Hạnh với Chiêu-thiền tự đã kể rằng ngài tu ở núi Sài-sơn. Nay xin thuật tiếp về chùa núi Sài-sơn:

Chùa Thiên-phúc, tiếng bình dân gọi là chùa Thầy. Tên cổ là Hương-hải hay viện Bồ-đà ở núi Sài-sơn. Núi này còn có tên khác như Thạch-thất, Phật-tích thuộc hai xã Thiên-phúc và Thụy-khuê, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai, nay là xã Sài-sơn, huyện Quốc-oai, tỉnh Sơn-Tây. Chùa được kiến tạo vào tháng 12 niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ tư đời vua Lý Thánh-tông (1-1058).

Khi ngài Đạo-Hạnh vào hang chùa, xuất hồn đầu thai làm con Sùng-Hiền hầu, sau là vua Lý Thần-tông, xác trải biết bao năm tháng vẫn còn. Khi triều Minh bên Trung-quốc sai Trương Phụ đánh giặc Hồ Quý Ly (1407); y đốt xác ngài suốt ba ngày không cháy. Sang ngày thứ tư, đệ tử ngài khấn xin xác mới cháy, ngọc Xá-lợi được chia cho dân chúng.

Đời vua Lê Thánh-tông, ngài sai Thái-úy Trinh quốc công Nguyễn Đức-Trung trùng tu, tuy vậy vẫn giữ quy mô cũ. Vua có làm bài thơ:

Đề Sài-sơn tự

Ngẫu nhiên thừa hứng đáo nham tìm,
Ổn bộ vân cù thướng thản nhiên.
Điểu ngữ hoán nghênh tùng hạ khách,
Hoa dung tĩnh đối động trung tiên.
Túc siêu trần thế tam thiên giới,
Thủ trích tinh thần đệ nhất thiên,
Thí tảo thạch đài miêu thử cảnh,
Thi hành bút dĩ động sơn xuyên.

Bản dịch của Mai Xuân Hải:

Đề chùa Sài-sơn

Bỗng nhiên cao hứng tới non chơi,
Bằng phẳng đường mây bước thảnh thơi.
Đón khách rặng tùng chim chóc hót.
Chào tiên bên động cỏ hoa tươi.
Chân ngoài trần giới ba nghìn cõi.
Tay hai trăng sao một lớp trời.
Vội quét vách rêu đề cảnh đẹp,
Bút thơ rung động núi sông rồi.

Niên hiệu Đại-chính thứ 9 (1538) thời giặc Mạc Đăng Doanh, Chiêu-nghi (một bậc của phi tần) Nguyễn-thị Ngọc-Phương đứng ra tu sửa thủy các, xây hồ sen.

Thời Lê Trung-Hưng các vua Lê, chúa Trịnh thường viếng, lễ chùa. Định-vương Trịnh Căn (1682-1709) vịnh chùa:

Phật-tích sơn tự thi

Càn khôn vẹn thiểu một bầu đông,
Này này siêu nhiên chỉn lạ lùng.
Hương vũ trăng thiền soi vằng vặc,
Vân song tiếng ngọc nặng boong boong.
Trì thanh leo lẻo ngư long hội,
Non nhiều trùng trùng cầm tú phong.
Luận thế giới này giai cảnh ấy,
Có bề quẩng đại, có linh thông.

Độc giả muốn thâm cứu chùa Thiên-phúc, có thể tìm đọc các sách chữ Hán sau:

– ĐVSKTT, BK 2a.
– Sơn-tây tỉnh chí.
– Sơn-tây chí.
– Hoàng Việt địa dư chí.
– Bắc-thành địa dư chí lục.
– ĐNNTC.
– Đồng-Khánh địa dư chí lược.
– Châu cơ thăng thưởng.
– Ngự đề thiên hòa doanh bách vịnh.

– A-di-Đà Phật! Tội quá! Tội quá! Không biết Lý phu nhân có thể tìm cách khác mà công thành không?

Ngọc-Liên trả lời bằng cái lắc đầu. Phương-Lý cung tay:

– Thôi thì thế này vậy, bọn hậu bối xin lùi quân mười dặm, để đại sư vào thành khuyên Tô Giàm cho dân ra ngoài; không biết đại-sư nghĩ sao?

– Bần tăng xin tuân lời Trần phu nhân.

Thế rồi Trần Di lại bắn tên mang thư vào thành. Trong thư đại ý nói: Quân Việt lùi ra xa mười dặm, để đại sư Pháp-Nhẫn, thủ tọa Đạt-ma đường chùa Thiếu-lâm vào thành cứu dân chúng.

Đại-sư Pháp-Nhẫn vào thành đã hai ngày, mà không có tin tức gì, quân Việt lại tiếp tục công thành, nhưng không bắn hỏa pháo vào nữa.

Bấy giờ Tô Giàm mới thực sự thấy cái nguy kề cổ. Nguyên lúc đầu, theo ước tính của Lưu Di, Tô Giàm thì quân Việt có mười hai hiệu Thiên-tử binh, khoảng mười hai vạn người. Với quân số đó, sau khi đánh chiếm mười tám ải, với các châu Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch thì phải dàn người trấn thủ; giỏi lắm chỉ có thể đem khoảng ba vạn công Ung-châu, làm sao thắng nổi sáu vạn binh với bốn vạn dân binh? Vì vậy Lưu Di, Tô Giàm không đặt vấn đề đem quân từ Quế-châu xuống tiếp viện. Lưu, Tô nào ngờ Tôn Đản dùng hoàng nam Bắc-biên trấn mười tám ải, còn Tín-Nghĩa vương dùng hàng binh Tống, thành lập đạo binh Lĩnh-Nam đánh Khâm, Liêm, đánh Dung, Nghi, Bạch và trấn thủ tại đây. Còn mười hai hiệu Thiên-tử binh công hãm Ung-châu.

Giữa lúc quân Việt mới công phá thành Ung, thì con trai của Tô Giàm là Tô Tử-Nguyên làm quan ở Quế-châu dẫn vợ con tới thăm cha, bị kẹt trong vòng vây. Nhờ một lần hưu chiến, Tử-Nguyên từ biệt cha, đem vợ con đi. Nhưng Giàm chỉ cho mình Tử-Nguyên đi mà thôi, vì sợ dân chúng tưởng Giàm đem con cháu bỏ chạy. Trước khi Tử-Nguyên đi, Giàm dặn con:

– Rời thành, con lấy ngựa phi thượng khẩn về Quế-châu báo cáo quân tình cho An-vũ kinh lược sứ Lưu Di, để xin người đem đạo quân đệ 1, 2, 3 với đạo kị-binh 47 vượt Đại-giáp sơn, Hỏa-giáp sơn xuống cứu viện. Vì với bốn vạn quân đó, đánh từ ngoài vào, cha đem sáu vạn người từ trong đánh ra, tuy không thắng nổi quân Việt, nhưng cũng giải được vòng vây. Bấy giờ hoặc quân Việt lâu ngày chán nản rút lui; hoặc quân Kinh, Hồ xuống cứu thì đuổi được chúng.

Ghi chú ,

TS. quyển 446, TTTTGTB Hy-Ninh thứ 8 chép việc Giàm cho Tử-Nguyên ra khỏi thành, mà không chép rõ y đi đâu. Lại nữa trận đánh viện binh kinh thiên động địa của quân Việt, các sách chép không giống nhau. TS chép diễn ra ở núi Đại-giáp, còn TTTTGTB lại chép là núi Hỏa-giáp. Trong khi QTNC, TTCTGCK lại chép rõ rằng Giàm viết thư sai con đem về Quế-châu cầu cứu với Lưu Di, và trận đánh diễn ra ở suối Ngọc-tuyền.

Vì những bất đồng này và cũng để có thể mô tả trận đánh chi tiết hơn; hè năm 1990, tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc-kinh đi Liễu-châu (thủ-phủ của Quảng-Tây) sau đó thuê xe xuống Nam-ninh (Ung-châu cũ). Cuối cùng đi ngược đường lên phía Bắc tìm di tích trận đánh ở núi Giáp. Thực tế đã mở mắt cho tôi thấy rõ: Nơi xẩy ra trận đánh có hai ngọn núi song song nhau nằm theo chiều Đông-Tây. Ngọn ở phía Bắc mang tên Đại-giáp, ngọn ở phía Nam mang tên Hỏa-giáp. Giữa hai ngọn Giáp là một thung lũng khá rộng, có suối Ngọc-tuyền chảy theo chiều Tây về Đông. Như vậy địa danh xẩy ra trận đánh mang tên Hỏa-giáp, Đại-giáp, hay Ngọc-tuyền đều đúng cả.

Tử-Nguyên đem theo bốn kị binh hộ tống, khóc từ biệt cha, phi ngựa bất kể ngày đêm về Quế-châu xin yết kiến Lưu Di, trình bầy quân tình. Trong đoàn bốn kị binh, có một người tách ra khỏi đoàn, bị Thiên-tử-binh thuộc hiệu Vạn-tiệp của Tạ Duy bắt được, giao cho Phương-Quế. Phương-Quế sai cởi trói, đem rượu thịt giải về cho y ăn, rồi hỏi:

– Tại sao người không đi theo Tô Tử-Nguyên, mà lại tách ra?

Người lính đó quỳ mọp xuống khóc, rồi nói:

– Thưa phu nhân, đại-sư Pháp-Nhẫn vào thành thuyết phục Tô Giàm cho dân chúng, vợ con tướng sĩ ra ngoài để khỏi chết oan. Đại sư hứa rằng quân Việt sẽ không đụng đến những người dân vô tội này. Tô Giàm giả thuận theo ý của đại sư. Y sai làm cơm chay cúng dàng, rồi bỏ thuốc độc vào thức ăn. Đại sư vô tình ăn phải, ngã ra mê man. Bấy giờ Tô mới sai trói đại sư lại rồi kết tội là gian tế cho Đại-Việt, mục đích đem gia đình tướng sĩ ra ngoài cho quân Việt bắt làm con tin, hầu đòi đầu hàng. Đêm, đại sư vận công phá gông, rồi bỏ đi đâu, không ai biết.

Phương-Quế giải tên kị binh ấy đến dinh Thường-Kiệt, Tôn Đản. Sau khi cật vấn viên kị binh, biết chắc rằng y không có gì giả dối, Thường-Kiệt truyền tha cho y.

Phạm Dật nói với công chúa Thiên-Ninh:

– Công chúa! Chúng ta đã làm hết sức, nay Tô không thương dân Tô, thì việc gì ta phải thương dân của y?

Giữa lúc đó, thân binh vào báo:

– Có Trung-Thành vương đem theo một đội cung-thủ Long-biên lên tiếp ứng.

Tôn Đản, Thường-Kiệt, Thiên-Ninh vội vàng ra đón.

Lễ tất.

Mọi người vào trướng. Phạm Dật trình bầy tình hình từ khi quân Việt vượt biên đến giờ. Trung-Thành vương nói với Tôn Đản, Thường-Kiệt:

– Tin tế-tác của ta từ Biện-kinh báo về cho biết, Tống đang chuyển binh từ Bắc, Tây về Nam định đánh lớn. Vì vậy Thái-hậu truyền đệ tử lên tiếp viện cho sư thúc với sư-huynh. Ta phải giải quyết cho mau, rồi rút về giữ nhà.

Thường-Kiệt trình bầy về việc công thành. Trung-Thành vương ra lệnh cho Phạm Dật:

– Ngày mai ta sẽ xem các đệ công thành, rồi mới có ý kiến.

Hôm sau quân Việt tiếp tục công thành như trước.

Bây giờ nói chuyện Lưu Di ở thành Quế-châu.

Từ khi được cử xuống trấn nhậm Nam-thùy, bao nhiêu tâm huyết của Lưu đặt cả vào mười tám ải biên phòng, hy vọng khi Tống triều cử người đánh Đại-Việt, y sẽ được lĩnh ấn nguyên nhung. Sau khi thắng Đại-Việt, thì cái tước công không thể rời khỏi tầm tay. Nay quân Việt đánh như sét nổ, mười tám ải mất quá dễ dàng, rồi Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch thất thủ. Y bàng hoàng cả người, nên muốn lưu ba đạo binh triều với đạo kị binh để thủ thân, thì đời nào y cho đem đi cứu viện thành Ung? Nhưng trước sự khẩn khoản của Tử-Nguyên, y đành sai viên Đô-giám tuần kiểm Quảng-Tây Nam-lộ Trương Thủ-Tiết, đem ba đạo binh đệ 1, 2, 3, cùng đạo kị-binh 47 cứu viện.

Trương Thủ-Tiết là một tướng giỏi việc quân, xuất thân tiến-sĩ, nhưng võ công bình thường. Nghe nói quân Việt cực kỳ thiện chiến, lại đông gấp bốn, năm quân mình, nên y cho quân đi mỗi ngày năm mươi dặm (25 km ngày nay), với ý nghĩ rằng chờ cho quân Việt với quân Ung đều mệt mỏi, y mới nhập cuộc.

Tại thành Ung, Tử-Nguyên đi rồi, quân Việt lại dùng hỏa công đánh cầm chừng suốt ba ngày 27, 28, 29 tháng chạp (Ghi chú: Vẫn là năm Ất-Mão 1075). Lần này quân đô thống Ngô Ức có sáng kiến chỉ cho đánh hai cửa thành. Còn hai cửa thì bỏ trống cho quân Tống trốn ra. Tô Giàm thấy rằng sau khi bị đánh hỏa công, lương thảo chày mất hơn nửa. Số lương còn lại, không đủ nuôi quân trong vòng một tháng. Y vội viết thư, rồi sai bọc sáp cho khỏi ướt, đem nhét vào âm hộ một con ngựa; nhân lúc quân Việt hưu chiến trong dịp tết Nguyên-đán, y sai người phi ngựa đưa cho viên Đề-điểm hình ngục Quế-châu Tống Cầu, để Cầu thúc Lưu Di dùm.

Khi Cầu nhận được thư, thì Trương Thủ-Tiết đã lên đường đang đóng ở ải Côn-lôn, nằm giữa đường Ung-châu đi Tân-châu. Cầu đuổi theo kịp, khóc xin Thủ-Tiết cứu viện khẩn cấp. Hôm ấy là ngày mùng một tết. Thủ-Tiết đành họp các tướng dưới quyền là Đề-cử Tả-Giang Ôn Nguyên-Dụ chỉ huy đạo binh đệ nhất; Đô-giám Hồ-Nam là Trương Biện chỉ huy đạo binh số đệ nhị; tuần kiểm hai châu Ung, Tân là Hứa Dự chỉ huy đạo binh đệ tam; tuần kiểm ba châu Liễu, Tượng, Tân là Vương Trấn chỉ huy đạo kị binh thứ 47. Ngoài ra còn có tham-tướng Triệu Tú coi về Tế tác Quảng-Nam Tây-lộ Các tướng đồng ý để cho quân ăn tết ba ngày, sang ngày 4 tháng giêng là ngày Tân-Dậu, năm Bính-Thìn (DL. 11-02-1076) thì xuất quân.

Ghi chú,

Xét quan chế Tống triều, thì Lưu Di làm Kinh-lược An-vũ sứ, tương đương với ngày nay :

– Thời Pháp thuộc là Thống-sứ (Pháp) hay Kinh-lược-sứ (Việt).
– Thời Việt Nam Cộng-hòa là Đại-biểu chính phủ miền.
– Hiện trong nước không có chức vụ tương đương.
– Dưới Di còn có viên Chuyển-vận sứ,tương đương với ngày nay là Phó đại biểu hành chánh miền.

Đô-giám tuần kiểm Quảng-Tây Nam-lộ tức chỉ huy quân sự vùng này. Ngày nay bao gồm lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Hồ-Nam và Quý-châu, tương đương với lãnh thổ hai Quân-khu. Ta cứ coi như là Tư-lệnh Quân-lực liên Quân-khu Nam-thùy. Trương Thủ-Tiết giữ chức này.

Đề-cử Tả-giang, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh Quan-khu Tả-giang. Ôn Nguyên-Dụ giữ chức này.

Đô-giám Hồ-Nam,tương đương với ngày nay là Tư-lệnh Biệt-khu Hồ-Nam hay Chỉ-huy trưởng bộ chỉ huy Chiến-khu Hồ-Nam.

Tuần-kiểm, tương đương với ngày nay là Chỉ-huy trưởng bộ chỉ huy Quân-sự tỉnh hay Tiểu-khu trưởng Tiểu-khu

Đạo-binh tương đương với một Sư-đoàn.

Với bốn vạn người ngựa ăn tết ở giữa vùng đông dân như vậy, tin tức lọt ra rất mau, Tế-tác Đại-Việt thu được, trình cho Đinh Hoàng-Nghi, Vũ-Quang biết. Hai người vội sai chim ưng báo cho đại bản doanh của nguyến-soái Thường-Kiệt, Tôn Đản. Sau khi hội ý wới nhau, Thường-Kiệt cho gọi Phạm Dật, Lý Đoan, Trần Ninh tới, ban lệnh:

– Đúng như chúng ta ước đoán, Lưu Di đem ba Đạo quân đệ 1, 2, 3 và đạo kị 47 uiếp ứng Ung-châu. Trước đây ta đã cho Vũ Quang, Đinh Hoàng-Nghi đem cản bộ binh mã phục ở núi Đại-giáp gần Côn-lôn. Nhưng với hai hiệu Thiên-tử binh, không thể thắng bốn vạn quân Tống. Vậy ba Đô-thống hãy đem bản bộ quân mã lên hợp với Quang, Nghi diệt đám viện binh này. Có điều ta lo lắng là võ công bọn Ôn Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn rất cao cưởng, đang ở tuổi bốn mươi, công lực mạnh vô cùng. Long-biên ngũ hùng không phải là đối thủ của chúng. Vậy phải dùng mưu mà trừ chúng.

Trần Ninh hỏi:

– Xin nguyên soái cho biết trong năm đứa chúng tôi, ai là chúa tướng?

Thường-Kiệt trầm tư suy nghĩ rồi nói với Tôn Đản:

– Xin sư thúc chỉ định cho.

Tốn Đản chỉ Trung-Thành vương :

– Năm Đô-thống cùng năm phu nhân tuy tài ba, nhưng không ai hơn ai, thực khó vô cùng. Nguyên soái nên để cho vương-gia tổng chỉ huy là hơn cả.

Trung-Thành vương đứng dậy:

– Xin tuân lệnh sư thúc và đại-ca.

Vừa lúc đó, thì Thần-vũ thập anh phi ngựa về tới. Thường-Kiệt hỏi:

– Thế nào, các sư đệ, sư-muội theo nhị vị sư thúc, sư thẩm về Biện-kinh, đã làm được những gì?

Hùng Nhân cười vui vẻ thuật lại vụ vua bà Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn, công-chúa Nong-Nụt cùng Thần-vũ thập anh phá nóc Điện Sùng-chính đại náo Tống triều. U-bon vương còn dùng thuốc làm cho Lý Hiến ngứa ngáy khốn khổ; rồi Âu Hoàng, Âu Huyền trêu ghẹo, làm cho y phát điên phát khùng.

Trung-Thành vương bảo Thần-vũ thập anh:

– Các vị sư-huynh, sư-tỷ về đúng lúc. Hiện chúng tôi đang cần những cao thủ bậc nhất để chặn viện quân từ Quế-châu xuống. Không biết các vị có thể lên đường được ngay khống?

Âu Hoàng vui vẻ;

– Đa tạ vương gia đã tin dùng.

Ngay chiều hôm đó, Trung-Thành vương dẫn Thần-vũ thập anh, bọn Dật, Đoan, Ninh cùng bản bộ quân mã lên đường. Tất cả đoàn quân tới núi Đại-giáp chiều ngày 3 tháng giêng. Vương được Đinh Hoàng-Nghi, Phạm Dật dẫn đi quan sát địa thế. Ngay đêm hôm đó, vương cho họp chư tướng để ban lệnh.

Vương thăng trướng, rồi giảng giải:

– Trương Thủ-Tiết đem quân từ Côn-lôn xuống Ung phải qua hai ngọn núi Đại-giáp và Hỏa-giáp. Hai ngọn Giáp nằm song song theo hướng Đông-Tây. Tính từ Bắc xuống Nam là ngọn Đại-giáp rồi tới ngọn Hỏa-giáp. Giữa hai ngọn là một thung lũng nhỏ tên Ngọc-tuyền, dân cư thưa thớt, sống quanh ngọn suối này. Theo binh pháp của Tống, khi di chuyển sẽ cho bộ binh đi trước, kị binh đi sau, rồi tới lương bổng. Hai ngọn Giáp có con đường tắt, vậy Phạm Dật Kim-Loan được tăng viện Hùng Nhân, Âu Hoàng đem hiệu Ngự-long đi theo con đường này ém quân chờ sẵn. Đợi khi toàn quân của chúng đã lên đường hết, thì đem quân đánh úp trại lương. Sau khi đánh xong đoàn vận lương, thì đốt cỏ lên để làm nát lòng quân giặc.

Bốn người lĩnh mệnh đi ngay.

– Đường từ Côn-lốn đến núi Đại-giáp ít ra là bốn mươi dặm. Quân Thủ-Tiết khởi hành sớm thì buổi chiều mới vượt qua núi Đại-giáp. Y sẽ dừng quân lại thung lũng Ngọc-tuyền nấu ăn, và qua đêm. Lý Đoan, Ngọc-Liên được tăng viện Hùng Nghĩa, Âu Thanh đem hiệu Bổng-nhật phục ở trên đỉnh ngọn Đại-giáp. Trần-Ninh Ngọc-Hương được tăng viện Hùng-Lễ Âu-Huyền đem hiệu Đằng-hải phục trên đỉnh ngọn Hỏa-giáp. Hai đạo chờ cho quân Thủ-Tiết nghỉ ngơi nấu cơm chiều, sắp sửa ăn, thì phát pháo reo hò, treo cờ khắp núi, nhưng không được đổ xuống đánh. Mục đích của hai hiệu Bổng-nhật, Đằng-hải là đóng chặn làm cho giặc tiến không được, mà lùi cũng không xong. Như vậy chỉ trong vòng hai ngày, người ngựa đói lả, ta sẽ bắt chúng như bắt ốc trên bãi biển.

Tám người lĩnh mệnh.

Vương quay lại nói với Vũ Quang, Kim-Liên, Đinh Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh, Hùng Trí, Âu Lam, Hùng Tín, Âu-Hồng:

– Các sư huynh, sư tỷ cùng các em với ta sẽ làm nhiệm vụ đặc biệt.

Hôm ấy là ngày Tân-Dậu, 4 tháng Giêng năm Bính-Thìn, niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Nhân-tông Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống(DL. 11-02-1076).

Đô-giám tuần kiểm Trương Thủ-Tiết cho quân lên đường cứu Ung-châu thực sớm. Quân chia làm ba cánh. Cánh đi đầu gồm đạo binh đệ nhất, do viên đề cử Tả-giang là Ôn Nguyên-Dụ chỉ huy. Cánh thứ hai là đạo binh đệ nhị do đô-giám Hồ-Nam chỉ huy. Trương Thủ-Tiết và các tướng tham mưu đi giữa hai đạo binh này. Cánh thứ ba, là đạo binh đệ tam, do tuần kiểm hai châu Ung,Tân là Hứa Dự chỉ huy đi với đạo kị binh 47 do tuần-kiểm hai châu Liễu, Tượng là Vương Trấn chỉ huy.

Đoàn quân rầm rộ lên đường. Đến khoảng giờ Tỵ thì toàn quân đã vượt qua núi Đại-giáp. Sang đầu giờ Ngọ thì quân đã vào thung lũng Ngọc-tuyền. Các tướng truyền cho quân đóng trại, nấu cơm ăn.

Từ tiền cổ, dù thời bình hay thời loạn, người Hoa, người Việt đều có lệ ăn tết từ ngày 23 tháng Chạp cho tới ngày rằm tháng giêng. Trong những ngày đó, hễ có dịp là người ta lại họp nhau đánh bạc. Vì vậy, tuy trên đường mang quân cứu viện, các tướng Tống cũng không quên cái thú đổ bác.

Trương Thủ-Tiết cho gọi các tướng tới doanh mình uống rượu, đánh bạc. Rượu ngà ngà say, tần-kiểm hai châu Liễu, Dự nói:

– Tất cả chúng ta đây đã từng vào sinh ra tử ở mặt trận Tây-hạ, nhờ lập công, mà được thăng quan tiến chức đổi về đây. Bây giờ đức vua nghe lời tên thư sinh mặt trắng Vương An-Thạch bầy ra cái gì là Thanh-miêu, Trợ-dịch, khiến cho dân chúng khốn khổ. Rồi triều đình lại sai tên Lưu-Di, một cái múa, một chiêu võ không biết xuống trấn Nam thùy. Y hung hăng gây chiến với Đại-Việt. Nay quân Đại-Việt kéo cao cờ nghĩa điếu dân phạt tội; chỉ một trận chiếm mười tám ải, năm châu Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch. Bây giờ đại quân lại vây thành Ung. Tên Lưu Di bắt chúng ta đem quân cứu viện. Các huynh nghĩ sao?

Đô-giám Hồ-Nam Trương Biện nổi cáu:

– Con bà nó chứ, tôi làm Đô-giám ở Hồ-Nam, đâu có thống thuộc tên Lưu Di? Y làm Kinh-lược an-phủ sứ Quảng-Nam lộ tôi đếch cần biết y là gì. Ngặt một điều, mới đây y được chiếu chỉ có toàn quyền trưng dụng binh tướng vùng Kinh, Hồ. Vì thế y bắt tôi dẫn quân đi cứu Ung. Tổ bà nó, giả như khi tôi vắng nhà, mà Hồ-Nam có sự thì sao đây?

Tham-tướng Triệu Tú bàn:

– Tôi nghĩ, chúng ta trung với chúa, nhưng đừng trở thành ngu trung. Tôi nghe quân Đại-Việt chỉ đánh thành Ung rồi rút. Nay thành Ung như ngọn đèn trước gió, chúng ta có cứu cũng không nổi. Chi bằng ta cứ tiến quân thực chậm, chờ đợi. Nếu Ung thất thủ, quân Đại-Việt rút đi là may. Còn như Ung vẫn chống trả được, ta đợi quân Việt mệt rồi mới tiến lên, thì may ra thắng được.

– Đúng thế. Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau đen đỏ một phen đã.

Bàn Tài-sửu bầy ra, Trương Thủ-Tiết làm cái. Sau bốn lần sóc, đến lần thứ năm, hầu như tất cả nhà con đều đặt bên Tài, Trương Thủ-Tiết hô lớn:

– Yêu cầu thu tay lại!

Y mở bát, thì ra Sửu. Y vừa thu bạc, thì tiếng pháo nổ liên hồi, rồi tiếng trống thúc vang dội, tiếng quân reo như sấm động vọng lại. Các tướng kinh hoàng, thế là sòng bạc tan. Trương Thủ-Tiết nhét bạc vào túi, mặc giáp trụ.

Đến đây quân vào báo:

– Trình tướng quân, chúng ta bị vây rồi. Quân Nam-man đóng trên đỉnh núi Đại-giáp, Hỏa-giáp đánh trống reo hò chặn mất đường tiến quân, lẫn đường lui quân.

– Cứ bình tĩnh.

Y ra lệnh:

– Tạm ngừng nấu cơm. Chuẩn bị tác chiến, nếu chúng đổ đồi. Đạo đệ tam thử cho quân thám thính xem tình hình quân Man ra sao.

Hứa Dự tuân lệnh lên đường. Lát sau y trở về báo tin:

– Không rõ quân Man bao nhiêu, chỉ thấy cờ xí treo khắp núi, quân reo, trống thúc mà thôi.

– Lệnh đóng trại, canh phòng thực cẩn thận.

Cho đến hết canh hai, vẫn không thấy quân Việt đổ đồi tấn công, Thủ-Tiết ra lệnh cho quân tiếp tục nấu cơm ăn, rồi đi ngủ, nhưng phải để nguyên giáp trụ trên người.

Quân sĩ vừa riu riu ngủ, thì có tiếng cọp gầm, tiếng quân reo, rồi lửa bốc cháy ở khu trại kị binh. Quân sĩ vội rời chỗ ngủ, cầm vũ khí chuẩn bị chiến đấu. Lát sau Vương Trấn trở lại báo:

– Trình tướng quân, bọn Nam-man không tiến công, chúng xua hơn hai trăm con hổ tràn vào khu chuồng ngựa, làm hơn nghìn ngựa vừa bị chết, vừa bị thương, hơn ba nghìn ngựa chạy tán loạn vào rừng. Vì trong đêm, sợ có phục binh, nên tiểu tướng không dám cho quân bắt về. Viên tướng chỉ huy còn rất trẻ, trên cờ hiệu có chữ « Đô-thống Đinh » và « Đại-Việt thiên tử binh Quảng-vũ ». Cạnh y còn một nữ tướng cực kỳ xinh đẹp.

Thủ-Tiết đưa mắt hỏi tham-tướng Triệu Tú. Tú đáp:

– Trình đô-giám, nếu kỳ hiệu như vậy thì y tên là Đinh Hoàng-Nghi, giữ chức Đô-thống, chỉ huy hiệu Quảng-vũ. Còn nữ tướng là vợ y tên Phương-Quỳnh. Võ công tên này bình thường, nhưng tài dụng binh của y thực hiếm người bằng.

– Thôi được, cho quân đi nghỉ, ngày mai sẽ liệu.

Đèn trong trại vừa tắt, trống điểm canh đánh ba tiếng, quân tướng mới chợp mắt, thì lại thấy tiếng la hét, tiếng quân reo, đèn đuốc đốt lên sáng rực. Quân sĩ vội dàn trận chuẩn bị chiến đấu. Nhưng không thấy động tĩnh gì khác. Lát sau Ôn Nguyên-Dụ lại báo:

– Trình tướng quân, không có quân Nam-man, mà chỉ có khoảng hai trăm con báo xông vào khu trại đạo đệ nhất, làm hơn nghìn người vừa chết vừa bị thương. Tướng chỉ huy đi dưới cờ có chữ « Đô-thống Vũ », và « Đại-Việt thiên tử binh Quảng-thánh ». Cạnh y cũng có một nữ tướng trẻ, rất xinh đẹp.

Trương Thủ-Tiết kinh hãi. Y chợt nhớ lại hồi theo quân đánh Tây-hạ, y được Kinh-Nam vương kể rằng, người Việt thường nuôi thú huấn luyện thành binh đội để dùng trong việc xung phong hãm trận. Y đưa mắt hỏi Triệu Tú. Tú đáp ngay:

– Trình Đô-giám như vậy đây là hiệu Thiên-tử-binh Quảng-thánh do đô-thống Vũ Quang chỉ huy, võ công y rất cao thâm. Còn vợ y tên Võ Kim-Liên.

– Thôi đi nghỉ.

Quân sĩ tắt đèn, vừa riu riu ngủ, thì lại có tiếng quân la hét, rồi tiếng chó tru. Quân sĩ lại phải thức dậy, đèn đuốc đốt lên sáng rực, chuẩn bị chiến đấu. Lát sau Trương Biện lại báo:

– Trình tướng quân, lại tên Đinh Hoàng-Nghi với vợ y, đem khoảng hai chục tên tiểu yêu xua đàn chó sói xông vào trại đạo đệ nhị, làm hơn nghìn người vừa chết vừa bị thương.

Trương Thủ-Tiết ra lệnh:

– Không ngủ nữa. Giữ nguyên đèn đuốc, đề phòng chúng xua thú tấn công.

Y nói với Vương Trấn:

– Lúc đầu chúng tấn công đạo kị binh, rồi tới đạo đệ nhất, đệ nhị. Bây giờ chắc tới đạo đệ tam. Vậy Vương tuần kiểm phải cẩn thận.

Nhưng từ sau khi bị sói tấn công cho đến lúc trời sáng, doanh trại Tống hoàn toàn yên tĩnh. Thủ-Tiết họp các tướng lại để nghị sự. Vương Trấn chửi thề:

– Con bà nó! Từ qua đến giờ, mình hao hơn ba nghìn ngựa, bốn nghìn người vừa chết, vừa bị thương, mà chưa được đánh một chiêu võ, bắn một mũi tên; cũng chưa thấy mặt một tên Nam-man nào.

Bỗng có tiếng trống thúc, tiếng quân reo, rồi quân vào báo:

– Có một đoàn quân đang kéo từ phía Đông tới, dàn ra trước trại khoảng ba dặm. Chúng cử một đôi nam nữ thanh niên cỡi voi tới trước trại xin được yết kiến tướng quân.

– Cho vào!

Thủ-Tiết dàn võ sĩ làm hai hàng, rồi y rút kiếm lệnh để lên án thư ngồi chờ. Lát sau, đôi nam nữ phong lưu tiêu sái khoan thai bước vào trại, cung tay hành lễ:

– Đô-thống lĩnh đạo Thiên-tử binh Quảng-vũ Đinh Hoàng-Nghi cùng vợ là Phương-Quỳnh xin tham kiến Trương đại nhân và quý vị tướng sĩ Đại-Tống.

Thủ-Tiết xuất thân tiến sĩ, nên y cũng có cái nét phong lưu. Y đáp lễ rồi mời Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh ngồi:

– Đô-thống tới đây có việc gì? Từ qua đến giờ các người không dám trực điện đánh với chúng ta, mà chỉ cho đội thú cắn trộm, như vậy thực không đáng mặt anh hùng?

Phương-Quỳnh cười đáp:

– Trương đại nhân nói sai rồi. Thứ nhất chúng tôi chỉ là hai thiếu niên thuộc tộc Việt, không bao giờ mơ ước thành anh hùng cả. Thứ nhì là thú của chúng tôi công khai tấn công, cắn trước mặt chứ đâu có cắn trộm?

– Các ngươi tới đây với mục đích gì? Ai sai các người tới đây?

– Chúng tôi tuân lệnh Trung-Thành vương, thống lĩnh mặt trận Đại-giáp này tới yết kiến Đô-giám, xin trả Đô-giám hơn trăm tù binh bắt được hôm qua. Chỉ có vậy mà thôi. Mời Đô-giám ra trước trại nhận người.

Trương Thủ-Tiết cùng các tướng ra trước trại. Đinh Hoàng-Nghi cầm tù và rúc lên, trận Việt tách ra làm hai, rồi một toán tù binh Tống được đưa đến trước trại. Thủ-Tiết nhận ra đó là viên lữ trưởng Tô An cùng đám binh sĩ trong đoàn vận tải lương thực. Không giữ được bình tĩnh, Thủ-Tiết lên tiếng hỏi:

– Tô An, tại sao các người ở đây?

– Trương đại nhân ơi! Hôm qua, lúc Trương đại nhân lên đường rồi thì quân Việt ập tới đánh chiếm hết đoàn xe vận lương. Chỉ hơn một khắc, toàn thể lữ vận lương bị bắt, bị giết hết. Quân Việt rất tử tế, họ băng bó vết thương cho chúng tôi, rồi đem trả về với đại nhân.

Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh cung tay:

– Xin cáo từ Đô-giám, hậu hội hữu kỳ.

Thủ-Tiết nghĩ thầm:

– Chúng đem người đến trả cho ta chỉ với mục đích làm nản lòng quân mà thôi. Ta hãy bắt hai đứa này khiền cho một trận, thì mới biết rõ tình hình quân Nam-man.

Nghĩ vậy, y đưa mắt cho Vương Trấn, Hứa Dự. Hai tướng tung mình lên chụp Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh. Nhưng Nghi, Quỳnh vẫn thản nhiên như không biết bị tập kích, khoan thai đi. Thình lình hai bóng hồng từ hai bên vọt người tới vung chưởng tấn công Vương, Hứa. Chưởng chưa ra hết, mà hai người đã cảm thấy ngộp thở. Cả hai vội biến trảo thành chưởng đỡ. Bình, bình. Cả bốn người đều bật lui. Bấy giờ Vương, Hứa mới để ý đến đối thủ: Đó là đôi nam nữ, nam thì hùng vĩ khôi ngô, nữ thì yểu điệu sắc nước hương trời.

Cả hai cung tay:

– Hùng Tín, Âu Hồng tham kiến Vương, Hứa đại nhân. Mong nhị vị thứ lỗi cho cái tội vô phép này.

Nói rồi hai người hú lên một tiếng dài, một đôi cọp từ trong bụi cỏ phóng tới. Hùng, Âu khoan thai lên lưng cọp, phơi phới mà đi.

Hứa Dự chửi thề:

– Mẹ cha bọn gái Việt, chúng đẹp thực, mà cũng đáng sợ thực. Hèn chi xưa kia Ngô Phù-Sai mất nước vì Tây-Thi. Phải chi bắt được một đứa, đem về ôm vài đêm, rồi có chết cũng cam lòng.

Sau khi đối chưởng với hai thiếu niên Việt, Vương Trấn, Hứa Dự cảm thấy khí huyết đảo lộn cực kỳ khó chịu. Hai người vội ngồi xuống điều khí. Được ba tức, cả hai kinh hãi khi thấy bàn tay sưng vù đỏ như máu, rồi như có con dao đâm vào ngực đau đớn đến không chịu nổi. Hai người cùng bât lên tiếng Ái rồi lăn lộn, trong khi chân tay dẫy tê tê.

Chư tướng kinh hãi la lên:

– Chư-sa huyền âm chưởng.

Thủ-Tiết xuất trận phen này đặt hết tin tưởng vào võ công bọn Vương, Hứa, Ôn, Trương. Nhưng chỉ mới xuất chiêu lần đầu, mà hai người không thắng nổi đôi thiếu niên Đại-Việt, thì còn mong mỏi gì nữa? Y hỏi Vương Trấn, Hứa Dự:

– Các vị thấy thế nào?

– Võ công đôi nam nữ vừa rồi thực kỳ lạ. Nam ra chiêu Lôi-đả Ân tặc của phái Sài-sơn, nữ ra chiêu Phong-đáo sơn đau của phái Đông-a. Cả hai chiêu đều thuộc chính phái của Đại-Việt, nhưng nội công có đôi phần giống nội công Huyền-âm của phái Trường-bạch ở Liêu-Đông, lại phảng phất giống Hồng-thiết công của Hồng-thiết giáo.

Ôn Nguyên-Dụ than:

– Vua Thái-tổ triều Lý bên Đại-Việt xuất thân từ Thiền-môn, nên cực kỳ bài bác tà ma, tại sao trong quân Vệt lại có người xử dụng võ công Hồng-thiết giáo?

Sau hai giờ bị đau đớn hành hạ, Hứa, Vương trở lại bình thường. Thủ-Tiết họp các tướng lại nghị sự. Hứa Dự bàn:

– Phía trước tiến lên thì không nổi, phía sau rút về cũng không xong. Đóng ở đây, thì chiều nay quân sĩ hết lương thực, e ngày mai không chết trận mà chết đói hết. Bây giờ chỉ có cách đánh liều mạng phá vòng vây trở về Côn-lôn, rồi tính sau.

Thủ-Tiết đồng ý, y truyền cho Ôn Nguyên-Dụ mang đạo đệ nhất leo núi Đại-giáp mở vòng vây. Tiếp theo Trương Biện mang đạo đệ nhị, Hứa Dụ mang đạo đệ tam tiếp ứng. Đạo kị binh đi sau cùng.

Nguyên-Dụ trở về cho quân dàn trận, rồi tiến đến chân núi Đại-giáp.

Đường từ chân núi lên đỉnh khoảng sáu dậm (3 km), nhưng hẹp và dốc, nên quân chỉ có thể di chuyển theo đội hình dọc, mỗi hàng từ ba tới năm người. Tốt đầu tiên lên đến lưng chừng núi, thì một tiếng nổ rung động không gian, rồi một trái cầu lửa chụp xuống đầu toán tiền sát. Trống thúc vang lừng. Quân Việt từ các hốc đá, từ sườn núi dùng cung tên bắn ra. Trọn vẹn hai tốt đi đầu bị giết trong khoảng một khắc. Bốn tốt đi sau vội lùi trở xuống. Quân Việt chỉ reo hò, mà không đuổi theo.

Tuy kinh hoàng, nhưng bị lâm thế cùng, Ôn Nguyên-Dụ cho quân để tất cả hành lý dưới chân núi, chỉ mang vũ khí nhẹ, rồi dàn ra len lỏi theo cây cối mà tiến lên. Khi vượt qua khoảng hai phần ba sườn núi quân sĩ mệt thở dốc, thì quân Đại-Việt lại thúc trống, rồi dùng máy bắn đá bắn ra, đội thần-tiễn Long-biên núp trong các hốc đá, nhắm từng người mà bắn tỉa.

Khác với lần trước, tên đều nhắm trán, ngực quân Tống, nên ai trúng tên là chết ngay tại chỗ. Lần này tên lại trúng mông, đùi, vai, làm cho binh Tống ngã xuống, rồi la hét, kêu khóc đồng đội cấp cứu.

Quân bị thương, bị chết mặc quân, Ôn cứ thúc tiến lên. Hai quân đã giáp với nhau, cuộc giao tranh giữa kẻ trấn thủ và người mở đường máu cầu sống diễn ra cực kỳ khốc liệt.

Lý Đoan đứng trên một tảng đá lớn trấn ở đỉnh cao nhất, nơi có con đường băng qua, tay cầm ngũ hành kỳ, tù và, pháo thăng thiên để chỉ huy. Cạnh Đoan là Hùng Nghĩa với đội võ-sĩ dàn ra bảo vệ chúa tướng.

Dưới sườn, Ngọc-Liên cầm kiếm đứng ngay tuyến đầu đốc chiến. Cách nàng không xa, Âu Thanh cũng cầm kiếm chỉ huy một tuyến phòng thủ.

Quân Tống đông như kiến, dẵm lên xác đồng đội để leo núi, rồi xông vào chém giết. Nhưng quân Việt nhất định không lùi giữ nguyên vị trí.

Ôn Nguyên-Dụ thoáng trông thấy Ngọc-Liên đang đứng chỉ huy quân. Y tung mình lên chụp nàng. Ngọc-Liên kinh hoảng, đưa kiếm vào ngực y. Nguyên-Dụ lách tay một cái đoạt được kiếm của nàng, rồi túm áo nàng quật vào tảng đá. Nhưng y cảm thấy ngộp thở, vì phía sau y, một thiếu phụ mặc quần áo trắng sắc nước hương trời đang đưa kiếm vào cổ y, kình lực kiếm phát ra vo vo. Kinh hoảng, y đưa Ngọc-Liên ra đỡ kiếm. Nhưng mũi kiếm lách sang phải, trúng cùi chỏ y. Đau quá y buông rơi Ngọc-Liên xuống, rồi lộn đi hai vòng, tránh ba chiêu kiếm của người áo trắng. Ôn với người áo trắng quay tròn đấu với nhau, bất phân thắng bại.

Tuy suýt chết, nhưng khi vừa đứng dậy, Ngọc-Liên vẫn bình tĩnh chạy dọc theo tuyến đầu chỉ huy. Bấy giờ nàng mới kịp nhận ra người áo trắng là Âu Thanh.

Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn khốc liệt. Quân Tống tuy đông gấp ba quân Việt, nhưng một là mất tinh thần, hai là leo núi mệt, ba là võ công không giỏi như quân Việt, nên cuộc chiến vẫn ngang ngửa.

Thình lình có tiếng tù và thổi một hơi dài. Ngọc-Liên biết đó là biểu hiệu của đạo Ngự-long. Khoảng nửa khắc sau, có hàng trăm hàng ngàn tiếng chó sói tru, tiếng cọp gầm, tiếng beo rống. Rồi từ phía sau, đội Thần-báo, Thần-hổ, Thần-ngao do Phạm Dật, Lê Kim-Loan, Hùng Nhân, Âu Hoàng chỉ huy xông vào phòng tuyến. Trận tuyến quân Tống bị rối loạn liền.

Đứng trên cao, Lý Đoan nhìn rõ, lập tức chàng cầm cờ phất, đội Thấn-nỏ đổ đồi, vừa đi vừa bắn liên châu vào hông quân Tống. Thoáng một cái quân Tống đã bị đánh bật xuống đưới núi.

Lý Đoan thổi tù và ra lệnh thu quân. Chàng hỏi Phạm Dật, Kim-Loan:

– Anh chị tới tiếp viện vừa kịp, bằng không thì bọn em sẽ bị tổn thất nhiều lắm.

– Hôm qua, sau khi đánh cướp lương thảo của quân Tống, ta sai chim ưng báo tin cho Trung-Thành vương biết. Công chúa sai vợ chồng Hoàng-Nghi tới lĩnh tù binh. Người truyền lệnh cho ta đánh ải Côn-lôn, rồi đem quân đóng ở dưới chân núi Đại-giáp, bảo vệ lưng, cùng tiếp tế nước cho tứ đệ. Sáng nay, ta thấy Thần-ưng tuần thám báo cho biết tứ đệ, Ngọc-Liên đang giao chiến với địch. Ta vội rủ Kim-Loan đem thú binh lên tiếp ứng. Bây giờ chú tính sao?

– Em đã ra lệnh thu nhặt xác chết, cùng tù binh Tống, đem xuống núi trao cho họ. Anh nghĩ có nên không?

Hùng Nhân xua tay:

– Tại sao lại phải mất công trao trả xác chết với tù binh cho chúng?

Ngọc-Liên nói nhỏ:

– Sư huynh ơi! Về võ công thì sư huynh cao thực, nhưng sư huynh chưa quen chinh chiến. Để em nói cho sư huynh nghe. Binh pháp dạy rằng : « Bất chiến nhi khắc nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã ». Nghĩa là: Không đành nhau, mà thắng được binh địch là người dùng binh giỏi trong những ngươi dùng binh giỏi. Nay ta chỉ mất chút công, đem xác chết, thương binh trả cho tướng Tống. Tướng Tống tất sai binh sĩ nhận mặt xác chết, rồi đào lỗ chôn cất. Lại nữa, họ phải sai binh sĩ trông coi chăm sóc thương binh. Như thế ta có ba điều lợi. Một là ta được tiếng nhân nghĩa. Hai là làm hao tổn nhân lực địch. Ba là binh sĩ địch thấy đồng đội chết, bị thương, sẽ mất nhuệ khí sẽ mất đi. Trong trận sau ta dễ thắng.

Nàng hỏi Âu Thanh:

– Gã Ôn Nguyên-Dụ đấu với sư tỷ thắng bại ra sao?

– Chúng ta đấu được trên trăm chiêu, thì cả hai cùng bị gẫy kiếm. Chúng ta quay ra đấu chưởng. Thực đáng nể, Dụ là cao thủ của phái Võ-đang, chúng ta đấu ngang tay. Cuối cùng đi đến đấu nội lực. Khoảng một khắc, nội lực ta yếu hơn, nên bị lùi bốn bước. Trong khi nguy cấp, ta tòng tâm phát Chu-sa huyền âm nội lực, rồi đánh bậy ba chưởng. Giữa lúc đó quân Tống lui binh. Đêm nay tên họ Ôn sẽ đau đớn đến chết đi sống lại vì Chu-sa huyền âm độc tố. Ta lấy làm lo sợ vô cùng, vì nếu vụ này đến tai sư phụ, ắt người phạt ta về cái tội dùng võ công tà môn.

Phạm Dật, Lý Đoan cho quân nghỉ ngơi, tuy nhiên dưới chân núi lúc nào cũng duy trì hai đội Ngao-binh, trên trời cho Thần-ưng canh phòng. Trận đánh tuy ác lệt, nhưng Thiên-tử binh tổn thất rất ít, vì hầu như mỗi người lính đều là một võ sĩ.

Phạm Dật họp các tướng lại để chuẩn bị chống trả cuộc đánh mở đường máu ngày mai của quân Tống. Sáu cặp vợ chồng, sau trận xung sát vào sinh ra tử, họ mới cảm thấy yêu thương nhau hơn.

Vừa lúc ấy có chim ưng mang lệnh của Trung-Thành vương tới. Sáu người lấy thư trong ống dưới chân chim ưng ra cùng nhau nghiên cứu.

« ... Sau trận đánh vừa qua, đạo quân đệ nhất của Tống chỉ còn một phần ba, đạo đệ nhị còn một nửa. Đêm qua quân Tống bị Hoàng-Nghi, Phạm Dật quấy phá suốt đêm, mệt rã rời. Sáng hôm nay phá vòng vây không nổi. Đêm nay Trần Ninh, Ngọc-Hương sẽ đổ đồi, cướp trại, mục đích làm cho quân Tống mệt mỏi hơn nữa. Các hiền đệ cho quân ngủ sớm. Vì quân Tống tuyệt đường lương, bằng mọi giá, ngày mai chúng phải phá vòng vây. Vậy hãy cố gắng tránh giao tranh. Đợi đến chiều mai quân Tống đói rã ra, mới giao chiến ».

Sáu người cho quân đi ngủ sớm, rồi lên ngọn cây cao chót vót nhìn xuống vùng thung lũng Ngọc-tuyền chờ xem quân của Trần Ninh, Ngọc-Hương hành sự.

Rừng núi Đại-giáp chứa gần hai vạn người, mà không một tiếng động. Trên bầu trời, đội Thần-ưng vẫn bay lượn tuần phòng. Dưới sát chân núi, đội Thần-ngao gục mõm nằm ngủ, nhưng chỉ cần một con chồn, con cáo chạy qua, chúng cũng biết.

Sang giờ Tý, thình lình ba chiếc pháo thăng thiên từ phía Nam bay vọt lên trên không, rồi đèn đuốc sáng rực. Bọn sáu người nhìn rõ quân Việt chia làm hai cánh. Một cánh do Trần Ninh, Hùng Lễ chỉ huy, một cánh do Ngọc-Hương, Âu Huyền chỉ huy; đang đánh vào trại Tống. Hai bên giao chiến cực kỳ khốc liệt.

Khoảng nửa giờ sau, phòng tuyến quân Tống bị vỡ, quân Việt tràn vào trong. Cuộc chiến lại càng ác liệt hơn nữa.

Khoảng nửa giờ sau nữa, giữa lúc hai quân đâm chém kịch liệt, thì từ phía Đông, một chiếc pháo thăng thiên nổ trên không, tỏa ra hình con chim ưng xòe cánh, chân cặp hai thanh kiếm. Đó là lệnh lui quân của Trung-Thành vương. Lập tức Trần Ninh đánh ba tiếng chiêng lệnh, quân Việt đang reo hò, bỗng im bặt. Ngọc-Hương đánh ba tiếng chiêng lệnh tiếp theo, thoáng một cái, quân Việt đổi tiền đội ra hậu đội rồi vừa đánh trống vừa rút lui.

Không gian biến thành mầu tối, chỉ còn tiếng thương binh Tống rên khóc mà thôi.

Trương Thủ-Tiết cùng các tham tướng đứng trên một cái đài cao để quan sát chỉ huy. Y thấy quân Việt không làm bao, nhưng can đảm, kỷ-luật, dũng-mãnh, phối hợp nhịp nhàng giữa Thần-nỏ, thú binh, Thạch-xa, bộ binh; nên dù quân Tống đông gấp năm, mà không thắng được. Y ném kiếm lệnh xuống đất than:

– Hỡi ơi! Trước kia ta thấy quân Liêu dũng mãnh, kỷ luật, đã cho là bầy sói trong khi quân Tống chỉ là đám gà chọi. Sau này, ta lại thấy quy cách tổ chức, kỷ luật, thiện chiến của các đạo quân thuộc quyền Kinh-Nam vương, vội cho rằng sức mạnh như beo, như hổ. Nhưng nay thấy quân Việt, ta mới cảm thấy chua xót rằng: Chúng biến hóa không ngừng, khi thì như bầy diều hâu, khi thì như bầy sư tử, khi thì như Thiên-binh, không còn biết đâu mà chống trả nữa. Không chừng ta bỏ mạng tại đây mất!!!

Sau một ngày một đêm không ngủ, bây giờ vừa chợp mắt, lại phải thức dậy, trực diện giao chiến với quân Việt; quân Tống đã mệt mỏi lắm rồi. Nên khi thấy quân Việt rút lui, thì từ tướng tới quân đều quẳng vũ khí lăn ra ngủ.

Nhưng sang giờ Sửu, Trần Ninh, Ngọc-Hương, Hùng Lễ, Âu Huyền lại đem quân đánh nữa. Khác với lần trước, quân Việt tới sát trại Tống mới đốt đuốc reo hò, bắn tên rồi xung phong. Lần này, Trần Ninh, Ngọc-Hương cho quân vừa đánh trống, vừa đốt đuốc, vừa reo hò từ xa xa tiến lại. Quân Tống mệt đến cất chân tay không nổi, nhưng vẫn phải choàng dậy cố thủ trong trại.

Hai tiếng chiêng, một tiếng trống lệnh vang lên. Quân Việt im bặt, rồi nhanh chóng dàn trận: Thần-nỏ đặt trên xe lớn do voi kéo ngừng lại trước trại Tống một lằn tên (50 m ngày nay). Đội Thần-hổ, Thần-báo dàn ra bảo vệ xung quanh. Mỗi xe chở nỏ, lại có năm mươi Thần-tiễn Long-biên trấn phía sau.

Hai quân im lặng nhìn nhau, trong ánh đuốc chập chờn của đêm Xuân giá buốt. Trần Ninh, Hùng Lễ tay cầm cờ mầu đỏ đứng trên một bành voi đối diện cửa chính trại. Xa hơn chút nữa Trần Ngọc-Hương, Âu Huyền tay cầm tù và, đứng trên một bành voi khác.

Thình lình Trần Ninh cầm cờ phất một cái.

Ba nỏ binh cầm đuốc châm vào ba mũi Lôi-tiễn, rồi ba xạ thủ giật dây, ba mũi đại tiễn bay vọt lên cao, lửa chiếu ra như ba con rồng đỏ xé không gian. Khi bay tới bầu trời trại Tống, ba Lôi-tiễn nổ tung, tỏa lửa mầu xanh, đỏ, vàng, như ba quả cầu khổng lồ, rồi những đám lửa đó rơi xuống trại Tống như đám mưa. Tiếp theo thạch-xa bắn đá vào. Quân Tống kinh hoàng rú lên, chạy vào các căn trại núp, thì cũng vừa lúc đó, các trại bốc cháy ngùn ngụt.

Bấy giờ quân Việt mới đánh trống reo hò « Giết, giết, giết »... « Đốt, đốt, đốt ». Trong khi đại nỏ, thạch-xa cứ tiếp tục nã đại tiễn vào trại Tống, khi thì đại tiễn thường, khi thì đại tiễn tẩm dầu đốt lửa, khi thì đại tiễn chứa dầu, mã não, hoàng thạch. Phút chốc trại Tống biến thành một biển lửa.

Trong khi ấy, Thiên-tử binh chỉ reo hò mà không xung phong đánh trại. Cứ như vậy khoảng nửa giờ, ba tiếng chiêng lệnh đánh lên, các đại nỏ ngừng tác xạ. Quân Việt lại ngừng reo hò, đổi tiền đội ra hậu đội, rồi rút vào trong bóng đêm, không một tiếng động.

Bọn Phạm Dật quan sát đội quân của Trần Ninh, Ngọc-Hương hành sự từ đầu đến cuối. Sáu người cùng khoái trá, cười ha hả:

– Vợ chồng Ninh Mai Hắc-đế chơi vụ này đẹp thực. Từ trước đến nay, Ninh trị quân hiệu Đằng-hải cực kỳ nghiêm, ta cứ cho là khắt khe. Nay mới thấy cái lợi của kỷ luật.

Rồi kéo nhau tìm chỗ ngủ.

Quan sát trận chiến, Trương Thủ-Tiết biết ngay quân Việt không muốn đánh thực sự, mà chỉ làm mệt mỏi tinh thần quân mình. Y gọi các tướng lại ban lệnh:

– Bọn Việt chỉ có khoảng vạn người, do hai thằng nhãi ranh với hai con lỏi chỉ huy. Vậy tất cả chuẩn bị sẵn, đợi chúng đến quấy rối nữa, thì cùng xông ra diệt chúng, rồi cướp lấy lương cho quân mình ăn.

Các tướng đồng ý với Thủ-Tiết, vì không còn cách nào hơn nữa.

Nhưng lần này Trần Ninh, Ngọc-Hương bỏ đi luôn. Thủ-Tiết cho quân chờ tới sáng, cũng không thấy quân Việt trở lại. Bấy giờ y mới biết mình mắc mưu. Thế là sau hai ngày, hai đêm quân Tống luôn bị động, không được ngủ. Bây giờ mệt đến bước không nổi. Dù tướng, dù quân, đều lăn ra ngủ.

Từ ba ngày qua, bây giờ quân Tống mới được ngủ một giấc no nê cho đến xế Ngọ. Khi vừa tỉnh giấc, các tướng đến gặp Trương Thủ-Tiết với vẻ mặt lo lắng. Hứa Dự than:

– Vì nghĩ rằng nơi đây gần chiến trường, nên ta chỉ cho quân mang theo trên mình một ngày lương; sau mỗi ngày lại phát tiếp. Không ngờ nay đoàn chở lương bị đánh, còn chúng ta thì tiến không nổi, lùi không xong. Hôm qua đô-giám đã lệnh cho quân giết ngựa ăn tạm, rồi phá vòng vây. Nhưng vòng vây không phá nổi. Bây giờ sang ngày thứ nhì phải ăn thịt ngựa, trong khi tướng, quân đều mệt rã rượi, đến cất chân, cất tay cũng không nổi, lỡ ra giặc tới đánh thì chống sao được?

Vừa lúc đó, trống thúc vang dội, quân reo dậy đất. Quân canh vào báo:

– Có hai đạo quân từ phương Đông đang kéo đến.

Thủ-Tiết với các tướng vội ra phía Đông trại quan sát: Từ xa xa, hai đạo quân hùng tráng, uy nghi, cờ xí rực trời, gươm đao sáng choang đang tiến tới. Đi đầu là một tướng trẻ, với kỳ hiệu thêu hàng chữ lớn « Trung-Thành vương »; cạnh có hai nam khôi ngô hùng vĩ, hai nữ yểu điệu sắc nước hương trời trông như bốn cây ngọc trước gió. Bên trái, một cặp nam nữ tướng đi dưới lá cờ vàng thêu con rồng trắng có hàng chữ « Đại-Việt, Thiên-tử binh Quảng-thánh », một lá khác có chữ « Đô-thống Vũ ». Bên phải lại một cặp nam nữ nữa đi dưới lá cờ vàng thêu con rồng đen có hàng chữ « Đại-Việt Thiên-tử binh Quảng-vũ » một lá khác có chữ « Đô-thống Đinh ».

Thủ-Tiết hỏi viên tham-tướng coi về tế tác:

– Hôm qua đánh lên núi, ta đã gặp sáu tướng Việt đều là con nít, ba trai, ba gái. Ban nãy ta lại bị hai đôi trai gái xua quân đốt trại, quấy rối suốt đêm. Bây giờ còn bốn trai, bốn gái nữa. Chúng là ai vậy?

– Thưa, Đại-Việt có mười hai hiệu Thiên-tử binh. Mỗi hiệu do một tướng với vợ y chỉ huy. Tuy tuổi chúng trẻ, nhưng mưu kế, cùng tài dụng binh thực vô địch. Năm tên được vua Giao-chỉ ban cho mỹ hiệu là Long-biên ngũ hùng, bẩy tên được ban mỹ-hiệu là Tây-hồ thất kiệt. Ngoài ra, trong khi đánh Chiêm, Mộc-tồn hòa thượng ra tay cứu mạng cho mười kỳ-chủ Hồng-thiết giáo Chiêm, rồi thu làm đệ tử, bọn này được Thái-hậu Giao-chỉ ban cho mỹ-hiệu Thần-vũ thập anh. Trận này Long-biên ngũ hùng, Thần-vũ thập anh đều có mặt. Đám Thần-vũ thập anh không có tài dùng binh, nhưng võ công cao thâm, lại yêu nước vô bờ bến. Cứ như hiệu kỳ, thì tên đi giữa là hoàng tử Lý Hoằng-Chân, con của Khai-Quốc vương, cháu gọi Kinh-Nam vương bằng cậu. Võ công, trí lự của y không thua cậu làm bao.

Ôn Nguyên-Dụ than:

– Hôm trước tên thứ ha, thứ ba trong Long-biên ngũ hùng là Vũ Quang, Đinh Hoàng-Nghi với vợ chúng xuất hiện rồi. Hôm qua, tôi đụng trận với hai tên Phạm Dật, Lý Đoan cùng hai con vợ nó, suýt nữa thì bỏ mạng. Còn cái tên với vợ nó bắn đại nỏ ban nãy là ai?

– Thưa y đứng hàng thứ tư trong Long-biên ngũ hùng tên Lý Đoan.

Thủ-Tiết lắc đầu:

– Năm tên này không thể gọi là Long-biên ngũ-hùng, mà phải gọi là « Giao-chỉ ngũ kiêu » mới đúng. Chúng lợi hại không ai tưởng tượng nổi.

Ghi chú,

Kiêu là con cú. Tiếng kiêu trong ngôn từ Trung-hoa để chỉ những người tài trí, hùng tâm, đại lược, nhưng không đi theo chính nghĩa. Mộ chí của Trương Thủ-Tiết thì nói rằng Trương gọi Long-biên ngũ hùng là Giao-chỉ ngũ kiêu. Trong khi QTNC chép rằng chính Triệu Tiết đã đặt tên ấy. Ngược lại TTCTGCK lại chép rằng Tu Kỷ đã đặt tên này. Tôi tra trong TTCTBK, phần văn bia Tu Kỷ lại không thấy ghi. Cho nên tôi tin vào bia Trương Thủ-Tiết hơn, vì Trương đối trận với cả ngũ hùng, rồi tử trận, nên Trương gọi ngũ-hùng là Ngũ-kiêu thì đúng lý hơn.

Các tướng Tống nghe nói đều kinh hãi.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM

Trung-nghĩa thiên thu



Tham-tướng Triệu Tú tiếp:

– Quả đúng như đại nhân đoán, tên đi bên trái Hoằng-Chân là Đô-thống Vũ Quang, với con vợ tên Võ Kim-Liên. Tên đi bên phải là Đô-thống Đinh Hoàng-Nghi, y là con tể tướng Đinh Nho-Quan của Nùng Trí-Cao hồi trước. Võ công y bình thường, nhưng y là người có tài dùng binh bậc nhất trong mười hai tướng trẻ; vợ y tên Phương-Quỳnh là học trò tên hoạn quan Lý Thường-Kiệt. Còn hai cặp thiếu niên, thì một cặp mặc quần áo mầu lam, chồng tên Hùng Trí, vợ tên Âu Lam; cặp thiếu niên mặc quần áo hồng đã từng đối chưởng với Hứa, Vương đại nhân hôm qua; chồng tên Hùng Tín, vợ tên Âu Hồng. Bốn đứa này đã dùng thú binh quấy rối ta đêm trước.

Đến đây, thì quân Việt chỉ còn cách trại Tống không đầy hai dặm (1 km). Ba hồi tù và rúc lên. Chưa đầy một khắc, quân Việt dàn thành trận thế. Rồi một đội nhã nhạc hơn năm chục người đi hai bên, Trung-Thành vương ngồi trên cỗ xe do đôi cọp kéo. Vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín đi sau. Gió Xuân thổi nhẹ trên cánh đồng Ngọc-tuyền đầy cỏ non, trăm hoa đua nở. Khi xe đến trước trại, thì nhã nhạc im bặt. Âu Hồng bước lại cổng trại cung tay:

– Trung-Thành vương nước Đại-Việt, xin được cầu kiến với Trương đại nhân.

Trương Thủ-Tiết bàn với các tướng:

– Ta nghe tên Hoằng-Chân tài trí không thua Kinh-Nam vương làm bao. Y có điên hay không, mà chỉ đem mấy người vào trại ta để nộp mạng? Hoặc giả y có mưu gì chăng?

Hứa Dự đáp:

– Với đội quân hùng-tráng thế kia, nếu y cho đánh trại, thì ta không thể đương nổi; ấy là chưa kể hai đạo đóng ở Đại-giáp, Hỏa-giáp có thể đánh vào hai hông. Ta cứ mở cửa tiếp đón y, xem y muốn gì?

Trương bèn cho mở cổng trại, rồi dẫn bốn tướng ra ngoài. Y cung tay:

– Đô-giám Quảng-Nam Tây-lộ Trương Thủ-Tiết xin ra mắt vương gia. Giữa lúc hai bên giao tranh, không biết vương gia tới đây có chuyện gì?

Trung-Thành vương mỉm cười:

– Trương Đô-giám cầm quân đến đây là vì sự nghiệp họ Triệu. Hậu bối đem quân đến ây là vì sự sống còn của tộc Việt. Nghĩ cho kỹ, giữa Đô-giam với hậu bối không thù, không oán, mà phải xua quân đánh nhau đã hai ngày. Vãn bối thấy binh tướng của Đô-giám quá mệt mỏi, nên tạm thời cho quân hưu chiến, rồi đem ít quà tết tới đây mời Trương đại nhân với Ôn, Trương, Hứa, Vương tướng quân cùng uống rượu mừng Xuân; đợi vài ngày sau, quân hai bên đều khoẻ, rồi sẽ tính sau, không biết Trương đại nhân nghĩ sao?

Vương quay lại chỉ vào bốn chiếc xe, trên chứa đầy thực phẩm. Bốn chiếc xe do ngựa kéo từ từ tiến lên. Âu Thanh cung cung, kính kính đến trước Thủ-Tiết trao tờ giấy hồng, trên có ghi số lễ vật. Thủ-Tiết tiếp lấy đọc: Lợn (heo) quay năm con, gà hấp ngũ vị hương mười con, vịt quay mười con, giò lụa hai mươi cây, giò thủ hai mươi cây, bánh chưng một trăm cặp, bánh dầy một nghìn cặp, nước mắm chắt (nhĩ) năm hũ, trà năm cân.

Trương Thủ-Tiết chỉ tay vào trong:

– Xin mời vương gia.

Trung-Thành vương vẫy tay, đội nhã nhạc lùi lại, vương cùng vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín vào trại. Phân ngôi chủ khách xong. Binh Tống đã đem hết lễ vật bầy ra.

Trung-Thành vương cung tay nói:

– Các vị tướng quân! Các vị đều là những tướng giỏi, thưởng phạt công bằng, mệnh lệnh nghiêm minh, trí dũng song toàn; binh lính đều thiện chiến. Thế nhưng các vị bị tên thư sinh mặt trắng Vương An-Thạch bầy ra ma pháp Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-giáp, Nông-điền, Thủy-lợi... khiến cho lòng dân oán hận. Trong nước cứ trăm người thì chín mươi người chống đối. Chính vì vậy Thạch mới đem bọn Thẩm Khởi, Lưu Di xuống Nam thùy, luyện quân, tích trữ lương thảo để đánh Đại-Việt, với ý nghĩ đem chiến công ra che lấp tội lỗi. Đứng trước cái thế một mất, một còn, nên chúng tôi phải tiến quân sang tự vệ. Rút cuộc, đưa đến các vị cùng chư quân phải lăn mình vào chỗ chết, mà không đáng! Tiếc quá! Tiếc quá!

Vương thở dài:

– Nay các vị tiến lên cứu Ung-châu, thì bị chặn ở Hỏa-giáp, lùi lại thì bị cắt ở Đại-giáp. Đóng quân ở chỗ vô dụng, lương thảo không còn. Ví dù chư vị có cố phá được vòng vây lùi về, thì bọn Lưu Di, Vương An-Thạch sẽ đổ lỗi lên đầu các vị... rồi không những các vị lâm cảnh đầu bị chặt đem bêu, thân bị vứt cho ruồi nhặng, dòi bọ đục khoét; mà đến vợ con, gia thuộc e không bị giết, thì cũng bị tịch biên điền sản, rồi sẽ phải sống kiếp tôi đòi. Ôi! Nghĩ thực đáng thương.

Hứa Dự hỏi:

– Theo như vương gia thì chúng tôi phải làm gì?

– Kẻ thức thời mới là người tuấn kiệt. Cô-gia nghĩ khắp thiên hạ, đâu không là nhà? Các vị còn ngại ngùng gì mà không cho quân hạ cờ đầu hàng, rồi sang Đại-Việt sống, để dành tấm thân mai hậu; một khi Vương An-Thạch không còn nữa, các vị lại trở về cố lý.

Ôn Nguyên-Dụ cười nhạt:

– Tên nhãi con Lý Hoằng-Chân kia, suốt mấy ngày nay, người chuyên cắn trộm, đánh lén, thực đúng là đồ Nam-man, không đáng mặt anh hùng. Hôm trước, người bầy trò sai tên Đinh Hoàng-Nghi tới trả tù binh, rồi sai hai vợ chồng tên Hung Tín dùng Chu-sa huyền âm chưởng đánh lén, làm cho Hứa Dự, Vương Trấn bị thương. Hôm qua đến lượt con vợ tên Hùng Nghĩa dùng Chu-sa huyền âm chưởng đánh ta. Bây giờ người lại mang lễ vật đến đây để mong làm nản lòng ta ư? Được! Người hãy rời khỏi nơi đây tức thời, ta quyết đem quân ra đại chiến với người.

Trương Thủ-Tiết vẫy tay ra hiệu cho Ôn Nguyên-Dụ im lặng rồi nói:

– Nếu như vương gia có lòng tử tế, thì xin cho lui binh khỏi núi Đại-giáp, để chúng tôi rút về Côn-lôn chỉnh đốn binh mã, rồi mời vương gia đến quyết chiến một trận, không biết vương gia nghĩ sao?

– Thế thì được. Cô-gia xin y lời Trương đô giám. Sáng mai, quân Việt sẽ rút khỏi núi Đại-giáp, để các vị lui quân.

Nói xong vương đứng dậy cung tay hành lễ, rồi cùng tùy tùng rời khỏi trại Tống .

Giữa lúc đó, chim ưng mang thư của nguyên-soái Thường-Kiệt đến mặt trận cho Trung-Thành vương. Vương mở ra đọc:

« Các đại thần Tống triều, thuộc Cựu-đảng, Tân-đảng tranh cãi nhau từ ngày 20 tháng chạp, đến nay chưa ngã ngũ.

Cựu-đảng chủ hòa, Tân-đảng chủ chiến.

Phe chủ hòa do Ngô Sung đứng đầu, chủ trương chém Thẩm Khởi, Lưu Di cùng một số biên thần chủ chiến, rồi sai sứ sang Đại-Việt giảng hòa; yêu sách Đại-Việt phải dâng biểu tạ tội, trả hết tù hàng binh cùng lương thảo. Phe chủ chiến do Vương An-Thạch cầm đầu, chủ trương lập hành doanh, đem quân nghiêng nước sang chiếm Đại-Việt, đặt làm quận huyện. Phechủ hòa cãi rằng, hiện tài nguyên Nam thùy không còn; bảo-binh tan nát, thành trì hủy diệt, lương thảo không còn, thì phải đem quân với lương từ Tây, Bắc xuống. Như vậy phải lụy Liêu, Hạ, bằng không hai nơi này đem quyân vào thì nguy khốn thay. Phe chủ chiến không chịu, nhất định nhân dịp này đem quân chiếm Đại-Việt là có danh nghĩa. Sau khi chiếm Đại-Việt sẽ đánh Chiêm, Lào, Chân, Xiệm, Lý. Bấy giờ sẽ quay lên Bắc rửa hận bị Liêu làm nhục bao năm qua.

Cuối cùng nhà vua nghiêng theo phe chủ chiến. Triều đình lại họp bàn định. Nay đã quyết định năm việc khẩn cấp.

– Một là cử hai đại thần thuộc Khu-mật viện là Trươn Thuật, Tạ Quý-Thành ngay ngày hôm sau lên đường xuống Quảng-Tây tổ chức trướng lệnh.

– Hai là cho thiết lập ngựa chạy trạm từ Ung-châu về Biện-kinh (20 tháng chạp).

– Ba là cách chức Lưu Di, cử Thạch Giám thay thế (22 tháng chạp). Sai tập họp hết bảo-binh vùng Kinh, Hồ, Lưỡng-Quảng thành từng ”chỉ huy” một, mỗi chỉ huy năm trăm người, sai huấn luyện võ-nghệ, xung phong hãm trận, đưa xuống cản quân Việt (23-24 tháng chạp)

– Bốn là điều đạo binh thứ 19 xuống Đàm-châu (Trường-sa), đạo binh 35 xuống Quế-châu, để chặn không cho quân Việt tiến đánh vùng Bắc Ngũ-lĩnh; vì ba đạo binh 1, 2, 3 ở Quế-châu, đã được Lưu Di cử Trương Thủ-Tiết đem xuống cứu Ung-châu, thành ra Quế-châu không có quân trấn thủ (25 tháng chạp).

– Năm là cử Triệu Tiết đang trấn thủ Diên-châu (Thiểm-Tây) lĩnh chức « An-nam đạo hành doanh mã bộ đô tổng quản chiêu thảo sứ » kiêm chức Quảng-Nam Tây-lộ An-phủ-sứ (Tức Quảng-Tây); sai Lý Hiến làm phó; Yên Đạt làm phó đô tổng quản; Ông Cảo làm quản câu, tức coi về thư từ, trướng lệnh. Đem tất cả binh tinh nhuệ ở miền Tây, Bắc, chuyển về Nam-thùy để đánh Đại-Việt. Vậy xin vương giải quyết ba đạo binh đệ 1, 2, 3, và kị binh 47 càng sớm càng tốt ».

Ghi chú,

Như vậy so với ngày nay thì Triệu Tiết làm tổng tư-lệnh, Lý Hiến làm tư-lệnh phó, Yên Đạt làm tư-lệnh hành quân, Ôn Cảo làm tham mưu trưởng.

TS, TTTTGTB chỉ thuật qua việc Trương Thủ-Tiết đem quân cứu viện, rồi bị quân Việt đón đánh, y cùng bốn tướng Ôn Nguyên-Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn tử trận. Trong khi mộ chí của năm người đều thuật lại trận đánh này bằng nhiều chi tiết khác nhau. Tôi tổng hợp năm mộ chí mới vẽ ra được trận đánh khủng khiếp này. Trong TTCTBK, Giang Văn-Dụ thời Khang-Hy chú giải bia Ôn Nguyên-Dụ cho rằng: Con cháu năm tướng đã đề cao quân Việt quá đáng, mục đích biện luận cho việc bại trận của tổ tiên mình. Nhưng đến thời Càn-Long, sau khi Tôn Sĩ-Nghị đại bại ở Đại-Việt (1789), Vương Dã-Nam lại cho rằng bia, mộ chí năm tướng chép đúng. Tống thua vì bốn điều quân Tống không bằng quân Việt, đó là tổ chức, huấn luyện, trang bị, kỷ luật.

Sau khi Trung-Thành vương rời trại Tống trở về, Trương Thủ-Tiết họp chư tướng bàn luận. Vương Trấn đưa ý kiến:

– Lý Hoằng-Chân là một tướng mưu trí trùm hoàn vũ, y lại có tài dùng binh không kém Kinh-Nam vương. Nay tự nhiên y hứa mở đường cho ta rút quân, chưa chắc đã là thực. Nếu ta rút quân, có thể y cho phục binh chờ đợi để tiêu diệt. Ta khó mà bảo toàn tính mệnh.

– Tôi cũng nghĩ thế.

Hứa Dự tiếp:

– Trước mắt ta có bốn con đường đi. Một là đầu hàng thì mạng sống được bảo toàn, nhưng gia đình sẽ bị liên lụy. Ta không thể đi đường này. Hai là đóng quân ở đây chờ viện binh, thì viện binh ít ra phải vài tháng mới tới, mà lương thảo của ta thì tuyệt rồi. Ta cũng không thể đi đường này. Ba là tin lời Hoằng-Chân rút lui. Ví thử Hoằng-Chân có thiện tâm mở đường cho ta lui quân; cho rằng ta lui quân trót lọt, nhưng không cứu được thành Ung, thì trước sau gì cũng bị họa sát thân. Con đường này càng không thể đi được. Bốn là, lợi dụng quân Giao-chỉ đóng trên Hỏa-giáp không làm bao, ta liều lĩnh đánh lên, phá vòng vây, rồi tiến về thành Ung. Trong Tô Giàm đánh ra, ta từ ngoài đánh vào, may ra cứu được Giàm. Chỉ có con đường này khả dĩ đi được mà thôi.

Trương Biện nhăn mặt:

– Nếu như ta đánh lên Hỏa-giáp, rồi phía sau Hoằng-Chân cho quân đuổi theo, thì chẳng hóa ra ta chui đầu vào rọ ư?

Hứa Dự chỉ lên bản đồ:

– Từ đây lên Hỏa-giáp chỉ có một đường đi, Hoằng-Chân không bao giờ nghĩ rằng ta dám hành sự liều lĩnh như vậy. Khi y biết, tập trung được quân, đuổi theo; thì ta đã phá xong vòng vây, tiến về thành Ung rồi.

Các tướng bàn luận phân vân chưa quyết, thì tế tác vào báo:

– Quân Giao-chỉ tên núi Hỏa-giáp đã nhổ trại tiến về thành Ung; còn quân đóng trên núi Đại-giáp đã đổ đồi, tiến về hợp với quân của Trung-Thành vương.

Ôn Nguyên-Dụ nhảy phắt lên:

– Vậy thì ngay bây giờ, bao nhiêu đồ dùng nặng để lại hết, thương binh cũng không mang theo. Ta chờ trời tối sẽ âm thầm tiến lên núi Hỏa-giáp. Để đánh lừa địch, ta vẫn để nguyên trại, đèn các cửa trại vẫn đốt sáng, lại duy trì đội quân tiếp tục đánh trống hiệu cầm canh.

Đêm mùng sáu tháng giêng, khi màn đêm buông xuống, Ôn Nguyên-Dụ dẫn đạo binh đệ nhất lên đường trước. Khi tới chân núi Hỏa-giáp y cho đội thám mã đi dò đường. Lát sau thám mã báo rằng quân Việt đã rút khỏi, bao nhiêu bếp đã lấp hết, chúng bỏ lại trên núi một số đồ dùng vô ích. Ôn yên tâm cho quân vượt núi. Khi sang đến chân núi bên kia, cũng không thấy bóng dáng một tên quân Việt, y cười thầm:

– Tên Hoằng-Chân tưởng ta sợ hãi rút lui, nên bỏ không chặn phía trước nữa. Y nào ngờ!!!

Ôn sai người báo với Trương Thủ-Tiết. Thủ-Tiết cho đạo đệ nhị leo núi, đạo đệ tam tiếp theo. Y với các tham tướng đi giữa hai đạo đệ nhị, đệ tam. Còn đạo kị binh 47 đi sau làm đoạn hậu.

Khi lên tới đỉnh Hoả-giáp, Trương đứng trên mỏn núi cao quan sát về hướng Đông, nơi Trung-Thành vương đóng quân, thấy đèn đuốc lập lòe trên một khoảng thung lũng rộng, y cười với chư tướng:

– Ngày mai, ít ra phải tới Ngọ Hoằng-Chân mới biết ra tiến quân, y có tập trung quân đuổi theo thì cũng phải sáng ngày kia (mốt) mới lên đường được. Bấy giờ ta đã bắt tay được với Tô Giàm rồi.

Thình lình ba chiếc pháo thăng thiên vọt lên trên trời, nổ tung, ánh sáng tỏa ra hình ba con chim ưng sáng chói trong đêm tối. Rồi tiếp theo hàng loạt tiếng Lôi-tiễn bắn lên trời, nổ rung động không gian, ánh lửa sáng lòa rừng núi. Lại tiếng máy bắn đá kêu rít lên những tiếng ghê sợ. Lôi-tiễn, đá đổ chụp lên đầu đội hình quân Tống đang đi. Quân reo, trống thúc, chiêng rền. Quân Việt từ trong các hốc đá, trong rừng bắn ra. Quân Tống không biết quân Việt ở đâu, thành ra chỉ biết tìm chỗ núp.

Thủ-Tiết kinh hồn, hỏi viên tướng tham quân Triệu Tú:

– Lỗi tại ta! Lỗi tại ta! Người đã rộng lượng, mở đường cho ta lui, mà ta làm ngược, nên ta phải lĩnh cái hậu quả này. Làm sao bây giờ???

Y đứng trên mỏm đá cao, trông về hướng Bắc, nơi đạo kị mã đi đoạn hậu; y rùng mình khi thấy dưới ánh lửa chập chờn hiện ra cảnh hỗn loạn: Kị-binh bị trúng phục binh của Thần-nỏ, Thần-hổ, Thần-báo. Kị-mã bị bắn ngã lổng chổng, còn ngựa thì bị Thần-hổ, Thần-báo, Thần-ngao tấn công bỏ chạy tán loạn. Dù khoảng cách hơn sáu dậm (3 km), y cũng nhìn thấy tướng chỉ huy đoàn phục kích là Lý Đoan, Ngọc-Liên, Hùng Nghiã, Âu Thanh.

Y lại nhìn về hướng Nam, nơi đạo quân đệ nhất đã đổ đồi, thì chỉ còn thấy cảnh quân Tống đầu hàng bị quân Việt lùa ngồi thành từng hàng, hai tay đưa lên đầu.

Còn hai đạo binh đệ nhị, đệ tam thì đang chiến đấu tuyệt vọng. Vô tình y nhìn lên: Phía chỏm ba góc núi, mỗi chỏm một tướng Việt đang dùng đuốc để chỉ đường cho quân tấn công. Dưới ánh đuốc chập chờn, y nhận ra đó là Phạm Dật, Vũ Quang, Đinh Hoàng-Nghi.

Cuộc nã Thạch-xa, Lôi-tiễn, bắn tên, xung sát suốt từ giờ Sửu đến hết giờ Dần thì Hoàng-Nghi đánh ba tiếng chiêng, lập tức Thạch-xa, đại nỏ ngưng tác xạ, quân Việt cũng lui vào rừng.

Trung-Thành vương đứng trên chót vót một cây cao, tay cầm loa hướng vào phía quân Tống :

– Binh tướng Tống nghe đây! Phía hậu quân, đạo kị binh bị Thần-hổ, Thần-báo, Thần-Ngao bao vây đã đầu hàng hết rồi. Phía trước, đạo đệ nhất bị Thần-phong đốt, bị trúng trận địa của Thần-nỏ, bị diệt hết. Hãy mau mau buông vũ khí, hai tay chắp lại để lên đầu, rồi đi xuống chân núi, sẽ khỏi chết. Ta, Trung-Thành vương, đem quân nhân nghĩa sang cứu dân Hán bị khổ vì Tân-pháp; hứa rằng: Ai đầu hàng sẽ được tha. Ai chống sẽ bị bắt cho hổ, báo ăn thịt.

Sau mấy lần gọi loa, quân Tống buông vũ khí, rời chỗ nấp, nối đuôi nhau xuống núi. Đến cuối giờ Dần, khi ánh nắng Xuân chiếu chứa chan trên núi Hỏa-giáp; Trương Thủ-Tiết cùng mấy viên tá lãnh mệt nhừ người ra, rồi cùng nhau đứng dậy quan sát trận địa: Trên con đường vắt ngang qua núi Hỏa-giáp, vũ khí, vật dụng ngổn ngang khắp nơi. Cạnh vũ khí, nào xác chết của người, nào xác chết của ngựa nằm rải rác trên đường, dưới khe, hốc đá. Có xác bị tên xuyên qua người, có xác bị trúng đá thây dập nát; lại có thương binh chưa chết, kẻ thì nằm thở thoi thóp, người thì rên la. Một vài binh sĩ còn sống sót, ngồi dựa lưng vào vách đá, vào gốc cây, mặt mũi lem luốc, máu me khắp thân. Chúng ngơ ngác nhìn Trương, mà không nói lên lời.

Có hai phụ nữ trẻ từ dưới đi lên, Trương nhận ra một người là Trần Ngọc-Liên, một người là Âu Huyền. Ngọc-Liên bưng cái khay, trên đựng bình rượu, một cái bát, một đôi đũa, một đĩa đựng bánh chưng, một đĩa đựng giò bì. Âu Huyền dắt một con ngựa đầy dủ yên cương. Ngọc-Liên cung tay nói:

– Thưa Đô-giám, Trung-Thành vương sai chị em chúng tôi lên mời Đô-giám xơi điểm tâm, rồi lên ngựa về Quế-châu cho.

Trương Thủ-Tiết đưa đôi mắt lờ đờ nhìn hai thiếu phụ trẻ, y không nói không rằng, hai tay tiếp khay đồ ăn; thản nhiên uống rượu, an bánh. Ăn xong Trương hỏi:

– Trần, Âu phu nhân. Kẻ bại trận này muốn biết tình hình các tướng, cùng quân sĩ Tống ra sao?

Ngọc-Liên cung tay:

– Như Trương đại nhân biết, sau trân đánh Đại-giáp hai hôm trước, đạo đệ nhất quân số chỉ còn một nửa, nên bị hiệu Đằng-hải của vợ chồng chúng tôi tiêu diệt trong nửa giờ. Ôn tướng quân chết trong loạn quân.

– Còn đạo kị-binh?

– Đạo kị binh bị trúng phục binh của hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ, tất cả người ngựa phơi thây ở bên bờ suối Ngọc-tuyền. Vương Tuần-kiểm đấu võ với sư huynh Hùng Trí, đã chết vào giờ Sửu đêm qua.

– Còn hai đạo đệ nhị, đệ tam?

Ngọc-Liên chỉ vào con đường vắt ngang qua núi:

– Họ bị Thạch-xa, Lôi-tiễn nã suốt đêm; bị hai hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ tập kích chết phân nửa; còn phân nửa xuống núi đầu hàng. Nội ngày hôm nay, Trung-Thành vương sẽ cấp lương thực cho họ về Quế-châu.

Thủ-Tiết nói như người mất hồn:

– Thế còn Trương Biện, Hứa Dự?

– Dường như hai vị đó chết trong loạn quân, chúng tôi đang cho tìm xác, để tẩm liệm, rồi sẽ đưa về Quế-châu.

Trong khi Ngọc-Liên đối đáp, thì từ phía sau Lý Đoan đã đem đội y-sĩ lên, đang băng bó cho thương binh Tống. Thấy viên tham tướng Triệu Tú nằn thoi thóp thở miệng xin nước uống. Lý Đoan vội bồng y lên, đưa về chỗ bằng phẳng, lấy nước cho uống, rồi băng bó cấp cứu.

Trương Thủ-Tiết ngửa mặt lên trời chỉ về phía núi Ngũ-lĩnh, lạy ba lạy rồi than:

– Hy-Ninh bệ hạ! Trước đây vua Đế-Minh đã lập đàn tế cáo trời đất, phân chia cương thổ Nam-Bắc rằng: Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng hiếp Nam, kẻ nào trái lời thì tuyệt tổ tuyệt tôn. Cho nên đời Tần, Đồ Thư với nửa triệu quân bị đốt ở Ma-tần lĩnh; đời Hán, Mã Viện, Lưu Long bạị quân ở hồ Động-đình; rồi Hoàng Thao bị giết ở sông Bạch-đằng; rồi Hầu Nhân-Bảo, Triệu Phụng-Huân, Quách Quân-Biện, Tôn Toàn-Hưng bại ở Chi-lăng, Bạch-đằng. Bây giờ thành Ung như đèn trước gió, thần đã làm hết sức, mà đưa đến kết quả này. Chẳng qua là số trời đã định.

Ngọc-Liên tiếp:

– Khảng khái thay! Trung nghĩa thay lời của một tướng ngoài biên thùy không nhục mệnh quân vương. Trương đại nhân luận đúng. Cái thời vua Đế-Minh lập đàn tế trời đất đã quá xa. Tiểu nữ xin dẫn tích mới đây tại Tống triều để đại nhân nghe: Bấy giờ là niên hiệu Đại-trung Tường-phù nguyên niên (Mậu-Thân, DL.1008), tháng giêng, ngày Ất-Sửu, có tiếng thần tiên từ cửa Đại-thừa trên trời đọc bài văn rất dài, khắp Biện-kinh đều nghe được. Vua Chân-Tông sai chép lại, rồi cho triệu quần thần ở điện Triều-nguyên, và gọi sách ấy là Thiên-thư. Nội dung sách định rõ cương vực Trung-nguyên và bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Phần định cương giới Nam vực chả nói rõ rằng con vua Viêm-đế làm vua phương Nam đó sao? Vì Thiên-thư rất linh, nên từ đấy, mỗi tháng, tể-tướng phải đến điện Kính-thiên đọc một lần, mong thấu đến trời; nhờ trời sai Thiên-binh, Thiên-tướng ngăn chận không cho Khất-Đan vượt biên chiếm đất Trung-thổ. Kể từ khi Vương An-Thạch lên làm tể-tướng, y mới bỏ không đọc, rồi Trương đại nhân cùng chư quân mới mua lấy kết quả này.

Ghi chú,

Việc chép Thiên-thư này, được ghi rõ trong Tống-sử quyển 7, Chân-tông bản kỷ, trang 135. Sự thực bấy giờ phía Bắc Tống bị Liêu uy hiếp, bắt cắt đất, nộp vàng lụa. Phía Tây bị Tây-hạ tấn công. Phía Nam bị Đại-Việt ép. Bọn 5 gian thần bị Tống-sử gọi là Ngũ-quỷ gồm Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu-Tá (Tẩu), Đinh Vị, Trần Bành Niên, Lưu Thừa Hoa mới bầy ra trò bịp bợm. Niên hiệu Đại-trung Tường-phù đời vua Chân-Tông (1008) thay vì tổ chức binh bị giữ nước, thì Tể-tướng Vương Khâm Nhược đề nghị nên dùng hình thức Phong-thiện, tức tế cáo trời đất ở núi Thái-sơn để trấn phục bốn phương. Nhưng muốn tỏ ra việc cúng tế đó là linh ứng tự trời, cần phải có bộ sách gọi là Thiên-thư, của Thiên-đình ban xuống.

Tháng ba niên hiệu Thiên-hy thứ ba (? ?) vẫn thời vua Chân-Tông, viên Tuần-kiểm Chu Năng cùng viên Thái-giám Chu Hoài Chính được nhà vua chuẩn cho làm Thiên-thư giả, đem dấu vào hang núi Càn-hựu, phía Nam Trường-an, rồi sai bọn đồng cốt nói rằng « Từ nghìn xưa, có Thiên-thư từ trời rơi xuống hang núi Càn-hựu ». Song sĩ dân không ai tin.

Bấy giờ danh sĩ Khấu Chuẩn, trước từng là Tể-tướng, bị biếm vì tội nói thẳng, rất được sĩ dân tin tưởng. Oâng đang trấn nhậm đạo Vĩnh-hưng quân gần núi Càn Hựu. Sĩ dân nói rằng : Cái vụ Thiên-thư là bịa đặt. Nếu như có thì ắt Khấu Chuẩn đã dâng về triều.

Vua Chân-Tông mật sai Chu Hoài Chính ngỏ ý rằng Khấu Chuẩn nên giả vào núi, tìm thấy Thiên-tư rồi dâng lên vua. Lúc đầu Khấu Chuẩn từ chối, nhưng vì say quyền hành, muốn về triều, ông phải bán rẻ cái chính khí. Khi ông mang Thiên-thư về Biện-kinh, nhà vua thân ra cổng thành rước. Dĩ nhiên Khấu Chuẩn thanh vân đắc lộ. Thế là tháng sáu năm đó, Vương Khâm Nhược chết, Khấu Chuẩn được phong chức Tể-tướng kiêm Lại-bộ thượng-thư.

Một danh sĩ đương thời là Ngụy Dã người Thiểm-châu đã đã làm một bài thơ châm biếm Khấu Chuẩn. Khấu Chẩn đau lắm, ông làm thơ để biện luận cho mình như sau :

Tặng Ngụy Dã xử sĩ

Nhân văn danh lợi tẩu trần ai,
Duy tử cao nhàn hối thịnh tài.
Hâm chẳm dạ phong huyên tiết lệ,
Bế môn xuân vũ trưởng môi đài.
Thi đề viễn tụ kinh niên đắc.
Tăng luyến u hiên kế nhật lai,
Khước khủng minh quân trưng ẩn dật,
Khê vân nan đắc, cận bồi hồi.

Dịch

Người đời danh lợi thích bon chen,
Duy chỉ ngài đây quả thực nhàn.
Ôm gối ngồi nghe thanh gió thổi,
Mưa xuân, cửa khép cảnh rêu lan.
Hang núi xa xăm thư gửi lại,
Tăng nhân yêu thích hiên hoang tàn.
Chỉ sợ vua trưng người ở ẩn,
Còn đâu mây, suối cảnh xanh lam !

Thế rồi, triều đình tế cáo khắp nơi, nào núi Thái-sơn, nào Khổng-miếu, nào tế Đạo-tổ. Các châu quận cũng tế , dân cũng tế, náo loạn cả nước.

Nội dung Thiên-thư nói rằng : Vua Trung-nguyên là thiên-tử được sai xuống cai trị Thiên-hạ. Sắc dân Bắc là Địch, Tây là Nhung, Đông là Di, Nam là Man phải quy phục. Trong sách cũng định rõ cương thổ của Trung-nguyên với bốn vùng Đông, Tây, Nam, Bắc. Sáchlại được vua cho người núp trên các nóc đền thờ Tam-hoàng, Ngũ-đế đọc. Dân chúng nghe thấy tưởng đâu trời sai thiên tướng xuống đọc. Họ chép lại rồi lưu truyền. Sau vụ này tinh thần quân, dân Tống hưng khởi lên, giữ được cương giới phía Bắc hơn năm mươi năm.

Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang đánh Đại-Việt, quân Tống tiến tới sông Như-nguyệt, chỉ còn cách Thăng-long có 25 km. Lý Thường-Kiệt cho làm bài thơ, ngụ ý Thiên-thư đã định ranh giới Hoa-Việt, kẻ nào xâm lăng Đại-Việt là trái với sách trời, ắt phải bại. Sau đó ông sai người núp trong đền thờ chư thần, mà đọc. Binh tướng Tống nghe được, lại tưởng là trời sai thần xuống kể tội, rồi truyền nhau về sự tích Thiên-thư, về trận đánh Hỏa-giáp. Họ thì thầm: Như vậy việc Tống ra quân trái với Thiên-thư, thì trước sau rồi cũng đến chết hết. Đó là một nguyên do đưa đến quân Tống mất hết tinh thần chiến đấu, rồi bị bại. Nhắc lại bài thơ như sau:

Nam-quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch :

Nam-quốc sơn hà vua Nam ở,
Điều này đã định tại Thiên-thư.
Bọn bay là giặc từ xa đến,
Làm sao tránh được đại bại ư ?

Suốt 987 năm qua, người Việt đọc bài thơ trên thấy câu « Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư » thì cứ cho thiên thư là danh từ chung để chỉ sách trời do Thường-Kiệt bịa ra; không ai biết rằng đó là danh tự riêng để chỉ bộ sách ra đời vào thời vua Chân-Tông.

Vì hệ thống tuyên truyền từ thời Chân-Tông qua thời Nhân-Tông, Anh-Tông, bấy giờ là thời Thần-tông, (1076) trên từ vua, đại thần, cho đến dân Trung-hoa đều tin vào Thiên-thư nên Thường-Kiệt mới nhân đó, dùng gậy ông đập lưng ông. Chỉ độc giả Nam-quốc sơn hà mới hiểu rõ ý nghĩa chữ Thiên-thư này mà thôi.

Trương Thủ-Tiết cung tay nói với Ngọc-Liên:

– Mệnh trời đã định như vậy, thì Trương này còn sống sao được? Kẻ bại trận mong phu nhân về khải với Trung-Thành vương rằng, xin người cho chôn năm anh em chúng tôi tại đây, để oan hồn ngày ngày cản bước những kẻ làm trái mệnh trời.

Nói dứt lời, Trương đưa kiếm lên cổ tự tử.

Ghi chú,

Sau này, triều Tống cho xây mộ năm tướng tử trận này rất lớn; truy phong cho Trương Thủ-Tiết tước vương; lại truy phong cho Ôn Nguyên-Dụ, Hứa-Dự, Trương-Biện, Vương-Trấn tước công, và lập đền thờ ngay chân núi Hỏa-giáp. Sau con cháu của họ cải táng mang xương về quê, còn mộ ở cạnh đền hiện nay là mộ tượng trưng. Niên hiệu Thiệu-Hưng thứ chín, đời Tống Cao-tông (DL. 1139), triều đình cho tạc bia đá, đúc tượng, gia phong tước vương cho cả năm, đền thờ đó mang tên « Trung-liệt ngũ đại vương từ ». Sang triều Minh, dân chúng xây thêm đền thờ năm tướng ở Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền. Trong cuộc cách mạng văn hóa (1966), đền bị phá hủy, tượng đồng bị nấu ra, bia bị vạc, nhưng rất may nguyên văn bia vẫn còn in trong TTCTBK. Khi tôi viết những giòng này (1995), thì bác-sĩ Ôn Thúy-Hoa hậu duệ của Ôn Nguyên-Dụ; kỹ-sư Trương Minh, hậu duệ của Trương Thủ-Tiết, đang thu góp tiền của con cháu năm tướng, dựng lại đền.

Trong TS, TTTTGTB ghi trận Đại-giáp diễn ra ngày Tân-Dậu, tháng giêng niên hiệu Hy-Ninh thứ chín(4 tháng giêng, năm Bính-Thìn, DL. 11-02-1076). Còn theo bia của năm tướng thì trận khởi diễn vào giờ Mùi ngày 4, Trương tự tử vào giờ Thìn ngày 7 tháng giêng. Như vậy trận đánh diễn ra trong bốn ngày.

Chiều ngày 7 tháng giêng niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Nhân-tông nước Đại-Việt (DL. 14-1-1076), sau khi đã cho băng bó, chữa trị thương binh Tống, lại cấp cho lương thực để về Quế-châu; Trung-Thành vương truyền hội chư tướng lại mừng chiến thắng.

Vương gọi vợ chống Đinh Hoàng-Nghi ra chỗ vắng, ban lệnh:

– Năm tướng Tống vì chúa tuẫn quốc, vậy hai em hãy sắm sửa quan quách chôn ở đỉnh Hỏa-giáp, trên mộ cho khắc bia đá ghi rõ tên, ngày, giờ chết của họ. Lại làm một tấm bia, chép lại hùng khí khi họ lúc tử trận. Còn đám binh sĩ, đệ dùng tù binh thu nhặt xác đem chôn cạnh con đường từ Côn-lôn tới chân núi phía Nam Hỏa-giáp sơn. Trên mỗi mộ, nhớ cắm một miếng ván đề rõ tên họ, chức tước của từng người. Như vậy, sau này gia đình họ có thể tìm đến để cái tải táng về quê.

Đinh Hoàng-Nghi đưa mắt nhìn vương, miệng cười tủm tỉm:

– Xin tuân chỉ.

Thấy nét mặt Hoàng-Nghi cười mà không phải cười vương hỏi:

– Nghi đệ hiểu ý ta rồi ư?

– Dĩ nhiên em hiểu.

– Em thử nói cho ta nghe xem, có đúng không nào?

– Sau này chúng ta rút đi rồi thế nào Tống cũng đem quân từ Tây, từ Bắc xuống Nam đánh ta trả thù. Quân nhất định phải qua Đại-giáp, Hoả-giáp, Ngọc-tuyền. Thử hỏi ai ra trận mà không sợ chết? Khi quân Tống qua đây, trong lòng vốn sợ sệt, mà suốt dọc đường thấy bốn vạn cái mả, với ngôi mộ lớn của năm tướng, thì dù can đảm đến đâu cũng phải bở vía. Vương sai em chôn quân Tống thì một là do thiện-tâm, hai là dùng mả Tống hớp hồn quân Tống vậy.

– Đúng thế.

Tướng sĩ tề tựu vương hỏi:

– Trong trận vừa qua, ta dùng hư binh nhiều hơn là thực, ta đánh vào tâm giặc hơn là dùng đao kiếm. Chính vì vậy quân Tống tan vỡ mau chóng, mà cả hai bên đều ít đổ máu. Bây giờ ta rút quân.

Phạm Dật đứng lên nói:

– Khải vương gia, hôm trước đánh chiếm Côn-lôn, đệ đã cho phá hầu hết những gì do Tân-pháp thiết lập, lại hủy hết cầu cống, thành trì từ Côn-lôn tới Liễu-châu, Tân-châu. Ta rút là phải.

Lý Đoan đứng dậy:

– Khải vương gia, thời Lĩnh-Nam, công-chúa Gia-hưng Trần Quốc được lệnh đem quân đốt hết kho lẫm, xưởng đóng chiến thuyền Hán. Người đã nhân đó, vi chỉ, đem quân tiến về Lạc-dương lật đổ triều Hán. Nay vùng Quế-châu, Trường-sa... Tống không còn quân. Ta nhân mới đại thắng, thể như trẻ tre, xin vương gia cho bọn đệ tiến về chiếm lại Trường-sa, hồ Động-đình, lập lại lãnh thổ thời Văn-lang, thời Lĩnh-Nam.

Trung-Thành vương hỏi các tướng:

– Chư tướng nghĩ gì về lời đề nghị của Lý đệ?

Tất cả Long-biên ngũ hùng, Thần-vũ thập anh đều tán thành ý kiến của Lý Đoan. Trung-Thành vương chưa biết trả lời sao, thì thân binh báo có nguyên-soái Thường-Kiệt, Tôn Đản, Cẩm-Thi, Tín-Nghĩa vương tới. Vương vội dẫn các tướng ra đón vào.

Lễ tất.

Tín-Nghĩa vương khen ngợi Long-biên ngũ hùng và Thần-vũ thập anh:

– Ta không ngờ các em lại biến chế Thần-nỏ thành những nỏ bắn mã não, hoàng thạch lợi hại như vậy. Nhân bà chúa kho Thiên-Ninh than rằng các em dùng số mã não, hoàng thạch nhiều quá, không kịp tiếp tế. Lại nhân ta thu được mấy kho loại nhựa cháy, mã não, hoàng thạch của Tống tích trữ ở Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch châu. Ta sai chở lên Ung-châu cho các em dùng.

Tôn Đản vỗ tay lên vai Lý Đoan:

– Trước khi cho Long-biên ngũ hùng, Thần-võ thập anh lên đây đánh viện binh Tống, vua bà Bình-Dương đã bàn với nguyên soái Thường-Kiệt và ta rằng: Cho Trung-Thành vương với các cháu đi phen này, thì thành công cầm chắc trong tay. Nhưng phải cẩn thận, bằng không các cháu sẽ đánh lên chiếm lại vùng Trường-sa, hồ Động-đình, mà gây ra tai vạ lớn. Nay quả nhiên đúng như vậy.

Lý Đoan hỏi:

– Trình sư thúc, nay ta tiến lên, thì việc chiếm lại cố thổ thời Linh-Nam đâu có khó?

Tôn Đản mỉm cười:

– Cháu biết một mà không biết hai. Dĩ nhiên các cháu đánh Trường-sa thì thành công. Nhưng thành công rồi có giữ được không? Này cháu, đường từ Đại-Việt lên đây xa diệu vợi, làm sao ta có thể tiếp tế lương thảo cho năm vạn người ngựa? Với năm vạn người ngựa làm sao trấn được cả một vùng rộng gấp hai mươi lần Đại-Việt? Thời Lĩnh-Nam, bấy giờ vùng này cứ hai Hán, một Việt, mà khi người Hán nổi dây ta cũng không giữ nổi, huống hồ nay khắp vùng, ta không còn người Việt nào?

Lý Đoan im lặng ngồi xuống, nhưng trong lòng còn ấm ức.

Tín-Nghiã vương nói:

– Cáo chết ba năm, quay đầu về núi. Hồi đánh Chiêm, ta kết bạn, cứu giúp cho Động-đình thất kiệt, Tuyết-sơn thập anh, Trường-bạch ngũ hùng, cùng một số cao thủ. Ta lại đưa vợ con họ sang bên Đại-Việt sinh sống. Thế nhưng, trong trận đánh vừa qua ta giao cho họ việc tổ chức cai trị, trừng trị ác bá, tuyển mộ nhân tài. Ta dùng tù binh tổ chức thành hai hiệu binh Lĩnh-Nam, một hiệu binh Quế-lâm để trấn thủ đất chiếm được. Thế nhưng bây giờ trở về đất Trung-nguyên, họ lại muốn dùng quân ấy cát cứ địa phương. Cho nên ta chỉ nên đánh Tống, dành lại những khê động đã mất mà thôi, ta chẳng nên tham vọng chiếm đất của họ làm gì.

Thế là ngày hôm sau, Trung-Thành vương truyền lệnh rút quân.

Ngày Ất-Sửu, tháng giêng niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt (20 tháng giêng năm Bính-Thìn, DL. 26-2-1076).

Tại đại bản doanh của nguyên-soái Lý Thường-Kiệt, chư tướng tề tựu đầy đủ, để nghe Tuyết-sơn thập anh, Động-đình thất kiệt, Trường-bạch ngũ hùng tường trình về ba việc đã làm tại vùng quân Việt mới chiếm được: Một là hủy bỏ Tân-pháp của Vương An-Thạch, hai là tổ chức lại guồng máy cai trị như thời vua Tống Nhân-tông, ba là trừng trị bọn tham quan, bọn cường hào ác bá.

Sau khi nghe trình bầy xong, người đứng đầu Động-đình thất kiệt là Từ Bá-Tường đề nghị rằng tất cả vùng Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch xin để cho Động-đình thất kiệt cai trị; vùng Ung, Liễu, Tân xin để cho Tuyết-sơn thập anh cai trị; vùng các khê động 18 ải xin để cho Trường-bạch ngũ hùng cai trị.

Nguyên-soái Thường-Kiệt vui vẻ:

– Tục ngữ nói: Việc thiên hạ, ắt có người thiện hạ giải quyết, thực không sai. Nay các vị võ-lâm Trung-nguyên đã muốn như vậy, thì là điều chúng tôi cầu mà không được. Xin các vị cứ tự tiện bổ quan lại, định thuế khóa tùy ý.

Sau khi đám võ lâm Trung-nguyên rời hành doanh, nguyên-soái Thường-Kiệt cho canh phòng thực cẩn thận, rồi nghị tới việc rút quân.

Trung-Thành vương bàn:

– Mục đích thứ nhất của chúng ta là hủy bỏ Tân-pháp của Vương An-Thạch tại Quảng-Nam Tây-lộ. Nay đã xong. Mục đích thừ nhì là phá hết kho lương thảo, vũ khí, thành trì, quân lữ của Tống chuẩn bị đánh ta cũng đã xong. Mục đích thứ ba là chiếm lại các vùng đất bị Tống cướp, cũng đã xong. Vậy ta có nên phá thành Ung rồi mới rút. Hay rút luôn?

Chư tướng bàn luận phân vân. Phía không muốn phá thành Ung, vì đánh thành Ung xong cũng chẳng ích lợi làm bao, trong khi quân dân Tống trong thành chết nhiều quá; quân mình chết cũng không ít. Chủ trương này gồm có Tôn Đản, Cẩm-Thi, công chúa Thiên-Ninh, Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt, đại đô đốc Lý Kế-Nguyên, các đô đốc Trần Lâm, Trần Phúc, Trần An, Trần Hải. Một phía cho rằng thành Ung là đầu não chỉ huy các ải tiếp giáp với Đại-Việt, bằng mọi giá phải san bằng thành Ung, để sau này Tống muốn xây lại cũng phải tốn nhiều công sức, như vậy khả năng đánh Đại-Việt đã giảm đi. Chủ trương này gồm có Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương, Long-biên ngũ-hùng, Tây-hồ thất kiệt, Thần-vũ thập anh.

Hai bên bàn luận gần nửa ngày, mà vẫn không đi đến kết quả nào. Cuối cùng nguyên soái Thường-Kiệt quyết định: Đồng ý cho đánh thành Ung, với hai điều kiện. Một là không được hy sinh quá năm trăm quân Việt. Hai là trong bẩy ngày mà không hạ được thành, thì coi như thất bại, cho rút quân.

Việc đánh thành trao cho Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương. Hai vương họp với Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt, Thần-vũ thập anh, Vũ-kị thượng tướng quân để nghị kế đánh thành.

Đinh Hoàng-Nghi đứng lên nói:

– Nguyên soái đã giới hạn cho chúng ta bẩy ngày, vậy bây giờ đệ xin đưa ra năm bước phá thành Ung, chỉ trong ba ngày; mà quân mình chết rất ít, nhưng quân Tống thì chết nhiều lắm.

Tín-Nghĩa vương hỏi:

– Nghi đệ thử nói cho ta nghe xem nào?

– Bước thứ nhất là tuyệt đường cấp nước. Trong mấy ngày đánh thành, đệ chú ý thấy quanh thành Ung có con hào cực sâu bắt nguồn từ một sông nhỏ. Hào lại có lạch nhỏ thông vào trong thành. Địa thế thành rất cao. Nếu bây giờ ta ngăn nước con sông thông với hào, rồi khơi đất thực sâu, ắt bao nhiêu nước quanh hào sẽ rút ra hết. Như vậy chỉ nội trong hai ngày trong thành không còn nước uống nữa.

Mọi người vỗ tay hoan hô.

– Bước thứ nhì là lấp hào. Ta hiện có trong tay hai vạn tù binh. Sau khi khơi hết nước ở hào quanh thành, ta dùng tù binh khuân đá lấp hào. Dĩ nhiên trong khi họ lấp hào, thì quân trong thành có thể bắn tên, lăn đá xuống. Vậy khi họ khuân đá lấp hào, thì ta dùng đội Thần-tiễn Long-biên phục bên ngoài, hễ quân Tống nhô đầu lên là bắn ngã.

Trung-Thành vương gật đầu:

– Phương pháp này được. Rồi sao?

– Bước thứ ba là ta dùng lối công thành như vũ bão, như sét nổ liên tiếp ngày đêm; reo hò xung phong, dùng đại nỏ bắn Lôi-tiễn đốt sạch nhà cửa, kho lẫm. Như vậy chỉ hai ngày sau quân Tống kiệt lực, lương thảo cháy hết, nhà cửa trú ngụ chẳng còn. Bấy giờ ta tiến sang bước thứ tư.

Mọi người hỏi:

– Bước thứ tư là gì?

– Bước thứ tư là, quân ta, người nào cũng có một cái túi vải lớn đựng trang phục, dụng cụ. Ta lệnh cho quân tạm cất trang phục, dụng cở ở trại, lấy túi đó đựng đất. Ta cho họ chờ sẵn ở gần bốn khu của bốn tường thành. Bước thứ năm, ta cho bắn tới tấp, bắn thực nhiều Lôi-tiễn vào thành, không chừa một chỗ nào. Bấy giờ quân Tống không còn thấy trời đất là gì; ta cho quân xung phong đến trước tường thành xếp bao lại thành bức tường có bậc, rồi leo vào trong.

Trung-Thành vương khen ngợi:

– Được, ta đồng ý kế hoạch của Nghi đệ.

Vương ban lệnh:

– Trong năm bước Nghi đệ đưa ra, có hai phần chính yếu. Hai phần này phải phối hợp nhịp nhàng với nhau. Việc thứ nhất là khơi nước, lấp hào, đem túi vải làm ụ. Việc thứ nhì là công thành. Vậy việc thứ nhất Tín-Nghĩa vương đảm trách. Việc thứ hai do ta đảm trách.

Vương hỏi em:

– Nhị đệ! Nhị đệ định trao cho ai làm, bao giờ thì làm?

– Làm ngay lập tức.

Tín-Nghĩa vương trả lời: Việc tổng chỉ huy đào đất ngăn nước sông, khơi nước trong thành chảy ra ngoài giao cho Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt.

Hà Mai-Việt đứng dậy nhận lệnh.

– Việc dùng tù binh lấp hào trao cho Thần-vũ thập anh. Công tác phải thi hành ngay lập tức, không kể ngày đêm.

Thần-vũ thập anh đứng dậy nhận lệnh.

– Việc chất bao đất làm ụ, sẽ do Tây-hồ thất kiệt dùng bản bộ quân mã thực hiện.

Trung-Thành vương vui lòng:

– Lực lượng công thành không cần đông. Chỉ cần bốn hiệu đánh bốn mặt, một hiệu đánh vào trung ương. Việc này ta giao cho Long-biên ngũ-hùng.

Vương ban lệnh:

– Việc tổng chỉ huy nã đại nỏ vào thành, ta giao cho Phạm Dật. Lúc đầu để cho quân khỏi mệt, ta chia lực lượng làm hai, luân phiên nhau, mỗi ngày hai hiệu đánh hai hiệu nghỉ. Vậy Vũ Quang, Hoàng-Nghi một phiên; Lý Đoan, Trần Ninh một phiên. Cứ hai hiệu công, thì hai hiệu nghỉ. Sau hai ngày, quân Tống mệt mỏi rồi, thì ta dùng cả bốn hiệu cùng đánh. Vũ Quang cửa Tây, Hoàng-Nghi cửa Bắc, Lý Đoan cửa Nam, Trần Ninh cửa Đông.

Vương đưa mắt nhìn Phạm Dật:

– Ngay chiều nay, Vũ Quang, Hoàng-Nghi đánh trước.

Giờ Tuất (19-21 giờ)ngày 20 tháng giêng,

Phạm Dật sai bắn lên trời mũi Lôi-tiễn chứa hoàng-thạch, mã-não. Mũi Lôi-tiễn lên cao, thì lửa bắt cháy vào hoàng thạch, mã não phát nổ như tiếng sấm rung động không gian thành Ung. Tại bốn phía, bọn Vũ Quang, Hoàng-Nghi, Võ Kim-Liên, Phương-Quỳnh, đã leo lên trúc đài chờ đợi từ lâu. Khi thấy mũi đại Lôi-tiễn nổ, thì biết là lệnh công thành bắt đầu. Cả bốn người đều cầm cờ đỏ phất lên, nỏ binh châm lửa phát pháo. Phút chốc hàng trăm tiếng nổ rung động thành Ung, lửa phụt lên cao, bắn tung ra khằp nơi. Sau hai khắc, thành ngập trong biển lửa. Quân Tống kinh hoàng ôm đầu chạy toán loạn, tiếng ngựa hí, tiếng chó tru, tiếng người gào thét lẫn với tiếng nổ của Lôi-tiễn vọng đi rất xa. Quân trên thành đành núp trong hố, không giám ngóc đầu dậy. Tín-Nghĩa vương đứng trên đài cao nhìn rất rõ biến chuyển trong thành. Vương ra lệnh cho Hà Mai-Việt, Thần-vũ thập anh hành sự.

Cuộc nã Lôi-tiễn diễn ra suốt đêm, cho tới giờ Thìn ngày hôm sau, 22 tháng giêng, thì đổi phiên. Phiên này do Lý Đoan, Trần Ninh, Ngọc-Liên, Ngọc-Hương đảm trách. Cũng cùng lúc ấy Hà Mai-Việt đã cho khơi cạn hết nước bốn con hào quanh thành.

Đến chiều hôm ấy, thì Thần-vũ thập anh đã lấp xong bốn con hào.

Giờ Dậu, ngày 22 tháng Giêng

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương đi một vòng quanh thành quan sát trận thế. Đến tối nhị vương truyền mời chư tướng lại họp. Tín-Nghĩa vương hỏi Long-biên ngũ hùng:

– Từ trưa đến giờ các em có nhận thấy gì khác lạ không?

Kim-Loan, Kim-Liên trả lời:

– Em thấy dường như trong thành tê liệt hoàn toàn, không còn sức chống trả nữa.

– Đúng thế. Vậy Tây-hồ thất kiệt chuẩn bị, đúng gờ Dần ngày mai, thì cho quân xếp bao đất làm ụ leo vào.

Đêm đó, đến phiên Lý Đoan, Trần Ninh, Ngọc-Liên, Ngọc-Hương chỉ huy hai hiệu Bổng-nhật, Đằng-hải nã đại nỏ cầm chừng, mục đích làm cho quân Tống ăn ngủ không yên.

Ngày 23 tháng giêng

Đúng ra sang giờ Sửu (1-3 giờ sáng) thì tới phiên Vũ Quang, Hoàng-Nghi, Kim-Liên, Phương-Quỳnh công thành cho đám Lý Đoan, Trần Ninh nghỉ. Nhưng hôm nay là ngày đại tấn công. Bốn cặp Dật, Quang, Đoan, Ninh dàn quân ra bốn mặt Tây, Bắc, Đông, Nam, còn Hoàng-Nghi với bản bộ quân mã thêm đội Thần-tiễn Long-biên chờ đợi ở cửa Nam. Bốn mặt, bốn hiệu quân cùng bắn đại nỏ vào thành. Đây là lần đầu tiên thành Ung phải hứng chịu một cuộc hỏa công kinh hồn động phách như vậy.

Sau một giờ bắn đá, Lôi-tiễn, vừa sang giờ Dần, Tín-Nghĩa vương cho tung lên trời năm chiếc pháo thăng thiên, toả ra năm mầu vàng, trắng, đen, xanh, đỏ. Đó là lệnh cho quân mang bao đất làm ụ. Lập tức Tây-hồ thất kiệt phất cờ hiệu, quân xung vào sát tường, mỗi người lính đều mang một bao đất, mau chóng xếp lại với nhau, phút chốc thành một cái ụ có nhiều bậc cao bằng mặt thành.

Thần-vũ thập anh tung mình leo lên đầu tiên với đội Thần-tiễn Long-biên. Không gặp một chống cự nào. Mười người cho mở cổng thành ra, đội Thần-hổ, Thần-báo gần lên một tiếng rung động trời đất, tỏa ra như rẻ quạt, xung vào trước. Bốn hiệu Thiên-tử binh reo hò tràn như nước vỡ bờ tiến vào chiếm bốn khu. Còn hiệu Quảng-vũ do Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh chỉ huy, xông thẳng vào trung-ương. Tất cả không gặp một kháng cự nào.

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương đã nhập thành. Một cảnh tượng kinh hoàng phơi bầy ra trước mắt hai vương: Khắp nơi chỉ còn trăm căn nhà bằng ngói là nguyên vẹn. Còn nhà gỗ, nhà tranh, cái thì cháy chỉ còn nền, cái thì trơ lại mấy cái cột. Rải rác trên mặt đất, xác chết chồng chất lên nhau, lẫn lộn trong đống tro, trong bùn lầy. Lại có những cái nằm vắt vẻo trên cây, chân tay co quắp, mặt trợn trừng trừng; mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

Đinh Hoàng-Nghi có nhiệm vụ tiến chiếm dinh tổng trấn. Cho nên khi vừa vào trong, chàng cùng Phương-Quỳnh xua quân tiến thẳng vào trung ương. Một đội võ sĩ Tống hơn ba trăm người dàn ra ra chặn lại. Đội võ sĩ này, quần áo rách bươm, đầu tóc tả tơi; được chỉ huy bởi Tô Giàm. Họ chiến đấu rất mạnh liệt. Nhưng họ đương đầu sao nổi với đội Thần-tiễn Long-biên, và hiệu Quảng-vũ? Nên trong khoảnh khắc, chỉ còn lại hơn ba chục người.

Phương-Quỳnh thấy vậy, động lòng bất trắc, ra lệnh cho đội Thấn-tiễn:

– Ngừng tay!

Nàng tiến lên cung tay hành lễ với Tô Giàm:

– Tô tướng quân! Người cứ thong thả lùi vào dinh. Tiểu nữ hứa không làm khó dễ người cùng bảo quyến đâu.

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương đã tới. Tín-Nghĩa vương hướng Tô Giàm chắp tay:

– Tô tiên sinh, đầu hàng đi thôi!

Tô Giàm trong dáng mệt mỏi cùng cực, nhưng tinh thần vẫn tỉnh táo, ông chắp tay hướng hai vương:

– Nhị vị vương gia! Tô Giàm này đã trấn ở Nam-thùy trong hơn ba mươi năm nay, nên hiểu rất rõ Đại-Việt. Chính lão phu từng chống đối chính sách của Thẩm Khởi, Lưu Di gây hấn với Đại-Việt. Nhưng... nhưng chỉ vì cương trực, lại chủ thân với Đại-Việt, mà hoạn lộ đầy chông gai, mà phải ở dưới quyền bọn Thẩm, Lưu. Nay cái tai vạ này, do chính chúng gây ra, rồi lão phu phải chịu. Hôm nay lão phu nhất định sẽ chết ở thành Ung này để báo đáp quân phụ.

Trung-Thành chắp tay hành lễ:

– Tô tiên sinh chẳng nên bi phẫn, anh em tiểu-sinh hứa cấp ngựa, xe, lương thảo để tiên sinh với gia quyến rời khỏi đây.

Tô Giàm vái nhị vương:

– Đa tạ nhị vị vương gia, lão phu sống thì trấn thủ thành Ung, nay thành Ung mất, thì nguyện làm ma thành Ung. Vậy lão phu xin nhị vương ban cho một ân huệ.

Tín-Nghĩa vương cảm động:

– Xin tiên sinh cứ nói, anh em tiểu-sinh nguyện chu toàn.

Tô chỉ vào dinh mình:

– Nguyện vọng của lão phu là: Xin nhị vương không cho bất cứ người hay thú nào vào trong dinh của lão phu trong vòng một giờ. Không biết vương có hứa cho không?

Tín-Nghĩa vương gật đầu:

– Tiểu sinh xin hứa.

Vương phất tay cho binh sĩ, cùng các đội thú lùi ra xa.

Tô Giàm cùng đôi võ sĩ tiến vào trong dinh. Khoảng hơn khắc sau, trong dinh bốc cháy, phút chốc ngọn lửa bốc cao. Trong khói lửa chập chờn, người người đều thấy Tô Giàm mặc quần áo đại trào, tay cầm hốt, ngồi nghiêm chỉnh, miệng mỉm cười, cho tới khi dinh thự xụp đổ.

Nhị vương cùng chư tướng hướng vào trong đám lửa cháy, vái ba vái. Khoảng nửa giờ sau, dinh tổng trấn chỉ còn lại một đống than đỏ lừ. Nhưng vì đã hứa trong một giờ không cho quân nhập dinh tổng trấn, nên Tín-Nghĩa vương chỉ biết đứng nhìn. Đợi đúng một giờ sau, nhị vương cho bới than, tìm ra được ba mươi sáu xác chết là vợ, con, cháu của Tô Giàm, với xác của hai mươi mốt dũng sĩ.

Quân Đại-Việt được lệnh rút ra ngoài thành, chỉ để lại hiệu Bổng-nhật của Lý Đoan, Ngọc-Liên thu dọn chiến trường.

Trung-Thành vương cho quân thu nhặt xác chết xếp lại thành từng đống, rồi sai chất củi, đổ dầu thiêu hết. Vương sai khâm liệm thi thể Tô Giàm với gia quyến đem chôn, lại cho lập bia đá trên từng mộ, đề tên từng người. Còn dân, quân còn sống sót thì bắt rời thành, vì sợ độc khí tử thi gây bệnh.

Nguyện-soái Thường-Kiệt, quân sư Tôn Đản đã tới. Nước mắt đầm đìa, công chúa Thiên-Ninh đọc kinh vãng sinh cho oan hồn binh tướng, dân chúng Tống. Thường-Kiệt nói với Trung, Tín nhị vương:

– Ta hẹn cho nhị đệ bẩy ngày để hạ thành Ung, nhưng nhị đệ thành công trong vòng ba ngày. Ta lại hẹn không thể để quân chết quá năm trăm, mà nhị đệ chỉ hy sinh có hơn trăm tù binh. Giỏi. Thôi, ta hủy thành, rồi lui binh.

Ghi chú ,

Về ngày thành Ung thất thủ và ngày lui quân của Đại-Việt, các sách chép không giống nhau.

– Tư-mã Quang, tể-tướng Tống kế nhiệm Vương An-Thạch chép: Thành Ung thất thủ ngày Mậu-Dần, tháng giêng niên hiệu Hy-Ninh thứ 9 (21 tháng giêng, năm Bính-Thìn, DL. 27-2-1076). Ngày 23 (1-3-76) Đại-Việt rút quân.

– TTTTGTB chép thành Ung thất thủ ngày Canh-Thìn, tháng giêng, niên hiệu Hy-Ninh thứ chín (23 tháng giêng năm Bính-Thìn, DL. 1-3-1076), Đại-Việt rút quân khỏi đất Tống vào tháng 3.

– QTNC, TTCTGCK chép rất chi tiết việc quân Việt vây đánh cầm chừng thành Ung từ 10 tháng chạp năm Ất-Mão (DL.18-1-1076). Đến ngày 20 tháng giêng năm Bính-Thìn khởi sự tấn công vào giờ Tuất (19-21 giờ). Thành Ung thất thủ giờ Dần (3-5 giờ) ngày 23 tháng giêng (DL. 1-3.1076). Quân Đại-Việt rút ngày 24 tháng giêng, cho đến ngày 15 tháng ba toàn quân mới ra khỏi đất Tống.

Tôi giải đoán như thế này: Tư-mã-Quang lấy ngày quân Việt thực sự tấn công coi như ngày thất thủ. Ngày quân Việt khởi sự rút tức ngày thành Ung bị tràn ngập, nên mới có sự khác biệt.

TS quyển 446, TTTTGTB chép rằng khi quân Việt vào thành Ung, quá tức giận giết hết quân và dân, xếp đầu thành 580 đống, mỗi đống 100 đầu. Sau này các sử gia Việt-Hoa cứ theo đó chép lại. Có lẽ TS, TTTTGTB căn cứ vào tấm bia, của một Nho sĩ Tống soạn vào niên hiệu Nguyên-phong thứ nhì (1079) đời Tống Thần-tông. Tấm bia này hiện còn lưu trữ ở viện bảo tàng Quảng-Tây. Nội dung đọan này như sau « Quân Giao-chỉ đánh lâu mới vào được thành, khi vào được thì trong thành chỉ còn hơn sáu nghìn quân. Hai bên hỗn chiến nửa ngày, thì quân Tống chết hết. Quân Giao chặt đầu xếp thành 580 đống, mỗi đống 100 đầu. Họ (quân Giao) lại thu nhặt xác chết của gần mười vạn quân Tống chết trước đó, vùi tạm trong thành; đem đốt đi ».

QTNC chép rằng khi quân Việt vào thành Ung, quân trong thành chỉ còn hơn sáu nghìn người. Họ đều chiến đấu đến khi chết hết. Vậy 580 đống, 58.000 người bị giết, chất đống là số người sống sót, sau hơn tháng chiến đấu. Chứ thực sự quân thủ thành khoảng mười vạn.

Niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Nhân-tông nước Đại-Việt

Ngày hai mươi tháng ba, Thái-Ninh hoàng đế, thiết đại triều ở điện Càn-nguyên, để nghe nguyên-soái Lý Thường-Kiệt tâu trình về công cuộc Bắc-phạt.

Các quan tề tựu đông đủ, nhà vua cùng Linh-Nhân hoàng thái hậu từ trong cung đi ra. Lễ quan xướng:

– Hoàng thượng giá lâm.

Nhạc tấu bản Nguyên-thọ. Nhà vua đưa tay ra hiệu miễn lễ. Lễ quan hô:

– Bình thân.

Thái-sư Lý Đạo-Thành bước ra:

– Tâu Thái-hậu, tâu Bệ-hạ. Nguyên-soái Lý Thường-Kiệt cùng chư tướng đem quân Bắc phạt đã về tới Thăng-long. Hôm nay thần xin thiết đại triều, để nguyên soái Thường-Kiệt tâu trình lên bệ hạ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Kể từ khi ta khởi binh, hàng ngày triều đình đều nhận được tấu chương của Nguyên-soái cùng Tôn quân-sư gửi về. Nhưng tại sao cái ngày vui hôm nay, bách quan hiện diện đầy đủ, mà Tôn quân sư lại không tới?

Phò-mã Hoàng Kiên tâu:

– Sau khi hạ thành Ung, sư phụ, sư mẫu của thần vào thành, tận mắt nhìn xác chết của hơn mười vạn người. Có người chưa chết hẳn, còn đang quằn quại. Có xác chết còn đang chảy máu. Có xác chết sình thối, chương lên. Cũng có xác chết thịt rữa gần hết. Sư phụ, sư mẫu thần chợt cảm thấy thương tâm; trên đường về Thăng-long, người luôn thở dài. Khi qua Bắc-ngạn, người gặp lại đại sư Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Pháp-Nhẫn; ba vị đại sư đem cái lẽ vô-thường của thế gian ra giảng giải. Sư phụ, sư mẫu thần ngộ đạo, đã vào chốn Không-môn. Người có để lại một tờ biểu xin dâng lên Bệ-hạ.

Lễ quan tiếp biểu dâng lên. Linh-Nhân hoàng thái hậu mở ra, thì trong trục giấy, không có biểu, mà chỉ có mấy câu trong kinh Lăng-già, xưa bồ-tát Đại-Huệ tán thán phật Thích-ca mâu-ni:

Thế gian ly sinh diệt,
Do ư hư không hoa.
Trí bất đắc hẫu vô,
Nhi sinh đại bi tâm.

(Thế gian lìa sinh, diệt,
Ví như hoa hư không.
Trí chẳng thấi có, không,
Mà khởi tâm đại bi).

Cả triều thần cùng bàng hoàng.

Thái hậu hỏi:

– Tôn sư thúc là người để hết tâm chí vào cuộc bảo vệ Xã-tắc, không thể một chốc, một lát, mà sư bá, với sư phụ có thể thuyết pháp khiến người bỏ đi được. Cô-phụ này muốn biết chi tiết hơn. Điều này xin Tín-Nghĩa vương thuật lại cho cả triều đình biết.

Tín-Nghĩa vương tuân chỉ đứng dậy. Vương thuật chi tiết từ khi Long-biên ngũ hùng chế ra Lôi-tiễn bắn vào thành Ung, Tôn Đản đang đêm choàng dậy, lên trúc đài quan sát thấy đàn bà, trẻ con trong thành bị bắn cháy như cây đuốc, xác chết xếp thành đống; cái thì đứt đôi, cái thì gẫy cân, cái thờ cháy vàng... ông đã tái mặt, tỏ vẻ không vui. Lại đến khi trận đánh núi Hỏa-giáp diễn ra, ông lên thăm chiến trường, lội dọc núi, chính mắt nhìn bốn vạn xác chết ngổn ngang; lại một lần nữa, mặt ông xạm lại. Sau hai trận đó, ông bà cùng một số tướng không tán thành diệt Ung-châu. Nhưng Ung-châu vẫn bị phá, khi quân Việt vào thành, trong thành hơn mười vạn người, mà chỉ còn mấy trăm người sống sót; một lần nữa ông bà trở thành trầm ngâm khác thường. Rồi trên đường về Thăng-long, ông bà bỏ đi.

Cả triều đình đều im lặng, nhìn nhau để tìm lấy cái gì giải thích rõ ràng hơn về việc ra đi của Tôn Đản, Cẩm-Thi.

Công-chúa Thiên-Ninh tâu:

– Khi đại quân về qua sông Hồng, thì sư thúc, sư thẩm gặp đại sư Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Pháp-Nhẫn đang neo thuyền giữa sông. Hai vị sang thuyền của ba đại sư. Năm vị thảo luận suốt một ngày. Hôm sau sư thúc trao trục giấy cho đệ tử. Người nói rằng đó là biểu nhờ Hoàng phò mã dâng lên Thái-hậu.

Triều đình nghị sự, thăng thưởng tướng sĩ có công; lại phủ tuất cho gia đình các tử sĩ.

Trước hết là:

Trung-Thành vương, Lý Hoằng-Chân

Kiểm-hiệu thái-sư, Thượng-thư lệnh kiêm trung-thư lệnh, Thăng-long tiết độ-sứ, Tả kim ngô đại tướng quân, quản Khu-mật viện. Phu-nhân Nguyễn-thị Trinh-Dung được phong Minh-đức Thạc hòa, Chí nhu công chúa.

Tín-Nghĩa vương, Lý Chiêu-Văn

Kiểm-hiệu thiếu-sư, Khai-phủ nghị đồng tam-tư, Võ-minh quân tiết độ sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Phụ-quốc đại tướng quân, Khu-mật viện sứ. Vương-phi Lê Ngọc-Nam được phong Ninh-đức, Trang-duệ, Hiếu-khang công chúa.

Phò-mã Thân Cảnh-Long

Kiểm-hiệu tư-đồ, Thượng-thư tả thừa, Khu-mật viện sứ, Phiêu-kị thượng tướng quân, tổng-trấn Bắc-cương, tước Lạng-quận vương.

Phò-mã Hoàng Kiện

Phụ-quốc thái-phó, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Binh-bộ thượng thư, Kinh-Bắc tiết độ-sứ, Uy-viễn đại học-sĩ, Khu-mật viện sứ, Thuần-nghĩa quốc công.

Lý Thường-Kiệt

Phụ-quốc thái-úy, Dao-thụ Nam-bình tiết độ-sứ, thượng-trụ quốc, Hoài-hóa đại tướng quân, Khai-quốc công, Thiên-tử nghĩa đệ.

Lý Kế-Nguyên

Thái-tử thái phó, Tham-tri chính sự, Thượng-thư tả thừa, Khu-mật viện sứ, lĩnh Đại-đô đốc thủy-sư Đại-Việt, Gia-thụy công.

Các vị thủ lĩnh Bắc-cương

Lư Kỷ, Hoàng Kim-Mãn, Vi Thủ-An trước đây lĩnh ấn đại tướng quân, tước hầu. Nay đều thăng lên Tiết độ sứ, tước Quốc công.

Thần-vũ ngũ-hùng được phong chức Đô-thống, tước Bá. Thần-vũ ngũ Âu được phong nhất phẩm phu nhân.

Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt được phong tước hầu. Tất cả vẫn giữ nguyên chức cũ, như hồi chưa xuất chinh.

Long-biên ngũ hùng đều được thăng chức thượng tướng quân, tước hầu. Bốn phu nhân sau trận bình Chiêm được phong nhất phẩm phu nhân, nay lại lập đại công, nên phong làm quận chúa. Duy Phương-Quỳnh đã lập công trong lần dẹp loạn họ Dương, nay lại lập công lớn nữa, nên cũng được phong quận chúa.

Phạm Dật được phong chức Long-nhương thượng tướng quân, tước Thiện-tâm hầu. Phu nhân Lê Kim-Loan được phong Thiên-ân Nhu-mẫn quận chúa.

Vũ Quang được phong Hổ-uy thượng tướng quân, tước Thành-tâm hầu. Phu-nhân Võ Kim-Liên được phong Trang-hòa Thiên-đức quận chúa.

Đinh Hoàng-Nghi được phong Quán-quân thượng tướng quân, tước Chính-tâm hầu. Phu nhân Phương-Quỳnh được phong Tuyên-đức Thạc-hòa quận chúa.

Lý Đoan được phong Hoài-hóa thượng tướng quân, tước Trực-tâm hầu. Phu-nhân Trần Ngọc-Liên được phong Thiên-y Đại-từ quận chúa.

Trần Ninh được phong Vân-ma thượng tướng quân, tước Nhu-tâm hầu. Phu nhân Trần Ngọc-Hương được phong Thiên-hương Thuần-mẫn quận chúa.

Xét về công lao, Tây-hồ thất kiệt ngang với Long-biện ngũ hùng, tất cả được thăng tướng, tước hầu. Nhưng các phu nhân mới dự trận Bắc phạt, nên chỉ được phong nhất phẩm phu nhân.

Trần Di được phong Qui-đức đại tướng quân, tước Hư-tâm hầu.

Dương Minh được phong Trung-vũ đại tướng quân, tước Kính-tâm hầu.

Triệu Thu được phong Tuyên-vũ đại tướng quân, tước Tín-tâm hầu.

Mai Cầm được phong Tuyên-uy đại tướng quân, tước Từ-tâm hầu.

Quách Y được phong Minh-uy đại tướng quân, Minh-tâm hầu.

Ngô Ức được phong Định-viễn đại tướng quân, tước Huệ-tâm hầu.

Tạ Duy được phong Ninh-viễn đại tướng quân, tước Dũng-tâm hầu.

Ngoài ra các quan văn võ chiếu công lao đều được thăng thưởng cao thấp khác nhau.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN

Con Rồng, cháu Tiên



Không biết ở đâu tung ra cái tin: Tất cả 207 trang động Bắc-biên đã đầu hàng, mở cửa biên giới cho Tống đánh vào Thăng-long. Lại có người thì thầm: Không những đầu hàng Tống, mà các trang động còn đi tiên phong cho Tống để đánh Đại-Việt nữa.

Từ hồi tháng ba, quân Việt Bắc-phạt trở về, thì khắp lãnh thổ , dân chúng sống trong tình trạng cực kỳ căng thẳng, vì cái tin Tống kéo bốn mươi vạn quân triều, một trăm vạn dân binh sang; quyết chí giết cho tuyệt giống Việt đã đành, mà đến con chó, con mèo cũng không tha. Tin nói rõ: Quân Tống sang phen này để trả thù quân Việt đã đánh Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch châu hồi cuối năm trước sang đầu năm nay. Trong một ngày, dân chúng Thăng-long náo loạn đến mấy lần. Một số nhà giầu vội đem gia thuộc, chở của cải rời Thăng-long về quê tránh chiến tranh.

Để đối phó với tình thế ấy, ngày Ất-Mão tháng bẩy, mùa Thu niên hiệu Thái-Ninh thứ năm (1-7 Bính-Thìn, DL 3-8-1076), Linh-Nhân hoàng thái hậu ban chỉ cho thiết Tinh-triều khẩn cấp.

Lần thiết triều này được tổ chức ở điện Uy-viễn, nơi đặt Khu-mật viện. Mọi lễ nghi, âm nhạc đều giản tiện hoăc bãi bỏ. Các đại thần được ngồi để nghị sự chứ không phải đứng như thường lệ.

Mở đầu, Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Trước khi đình nghị, xin Khu-mật viện hãy trình bầy tình hình tiến quân của Tống đã.

Quản Khu-mật viện, Trung-Thành vương tâu:

– Trước hết thần xin trình bầy về tình trạng tướng Tống đã. Ngày 25 tháng Chạp năm trước (Ất-Mão, 1075), khi ta đang vây Ung-châu, thì Hy-Ninh đế đã chọn Triệu Tiết, đang thay Kinh-Nam vương cầm đại binh Tống ở vùng Hy-hà; phong làm An-Nam đạo hành doanh mã bộ đô tổng quản, kinh-lược chiêu thảo sứ, kiêm chức Quảng-Nam Tây-lộ An-phủ sứ. Lại phong cho hoạn quan Lý Hiến làm phó An-phủ sứ, Yên Đạt làm Phó Đô-tổng quản, Ôn Cảo làm Quản-câu. Vương An-Thạch đích thân thảo một tờ chiếu, gọi là Thảo Giao-chỉ chiếu.

Vương trao tờ chiếu cho quan thái-phó Quách Sĩ-An. Quách cầm lấy đọc lớn:

« Chúa nước Nam các người, đời đời được phong tước vương, nên chi con cháu được ta thừa nhận, vỗ về. Tiên-đế từng tha cho các ngươi cái tội cướp ngôi nhà Lê. Nay các người lại đem quân phạm vào nội địa, giết hại quan dân. Các người phạm tội với nước Thiên-tử như thế, thì ta không thể tha thứ được.

Trẫm truyền quân trời tới đánh, thật đúng danh nghĩa.

Nay trẫm sai Triệu Tiết làm An-Nam đạo hành doanh mã bộ đô tống quản, Kinh lược chiêu-thảo sứ. Lý Hiến làm phó An-phủ sứ, và Yên Đạt làm Phó Đô tổng quản.

Này Tiết, Đạt, Hiến, các người hãy đem quân thủy, lục tiến đánh cho mau. Trời đã có lòng giúp, nên khiến sao chổi xuất hiện điềm lành, còn người đã rõ lòng gian của bọn Nam-man nên đều căm hận bọn giặc ác.

Nay chiếu cho quân Giao-chỉ biết rằng, khi thấy quan quân tới, thì đừng có chạy, dân chúng đã chịu khổ lâu ngày. Vậy nếu chúng bay dỗ được chúa vào nội phụ, trẫm sẽ ban tước lộc cho. Này Càn-Đức, ngươi còntrẻ, việc làm không tự chủ được, tội không phải ở người. Ngày nào người tới chầu, trẫm sẽ tha thứ cho... »

Quan Thái-phó Quách Sĩ-An hỏi:

– Xin các đồng liêu cho biết ý kiến về bản văn này.

– Đầu Ngô mình Sở.

Công-chúa Côi-sơn cười nhạt: An-Thạch là một văn gia lỗi lạc, một tư tưởng gia quán thế, mà y soạn bài chiếu lủng củng như nồi cơm độn ngô, độn khoai là tại sao? Y đặt hết tất cả hy vọng vào việc xâm lăng Đại-Việt để lấy đó làm cớ bịt miệng đồng liêu chống đối y. Nay việc đó bị ta phá từ trong trứng nước, nên y mất bình tĩnh, mà rặn ra bản văn trên. Phàm chiếu, thì chỉ nói rõ việc phong chức tước cho bọn Tiết, Hiến, Đạt rồi định nhiệm vụ chúng. Còn đối với người Việt, thì y phải làm một tờ hịch mới phải. Đây tờ chiếu chẳng ra chiếu, hịch chẳng ra hịch. Dù bọn Tiết, Hiến, Đạt, dù ta có đọc cũng chẳng rõ y nói gì.

Trần Trung-Đạo gật đầu khen ngợi:

– Sư muội luận đúng. Lúc toà Khâm-thiên giám báo có sao chổi xuất hiện, Thạch tỏ ra lo sợ, dấu đến bốn ngày mới tâu vua. Khi ta vây Ung-châu, Thạch quả quyết: Thành Ung chắc lắm, quân Giao không thể phá được; mà quân thủ thành tới mười vạn cộng bốn vạn quân của Trương Thủ-Tiết xuống cứu thành mười bốn vạn, trong khi chúng chỉ có mười vạn. Quân ta trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân Giao ắt bị bại. Nhà vua cũng đồng ý. Khi được tin toàn quân của Tiết bị diệt, thành Ung mất, vua muốn triệu hai ty Trung-thư và Khu-mật viện họp ở các Thiên-chương. Thạch run run nói: Họp ở đó thì việc thất lợi này hóa ra to mất. Chi bằng hội ở Đông-phủ. Vương Thiều thấy Thạch run, phải trấn tĩnh: « Ông ở đây mà còn lo như thế, huống chi kẻ ở ngoài biên cương. Xin ông bình tĩnh lại ».

Trung-Thành vương trình bầy tiếp:

– Lý Hiến quả có tài, nhưng vì ỷ là hoạn quan được gần vua, nên coi thường các đại thần. Việc gì y cũng muốn tâu thẳng lên vua, trong khi Triệu Tiết hiểu rằng cuộc chiến này không phải mình vua mà quyết được, y muốn tâu qua hai tòa Trung-thư lệnh và Khu-mật viện. Vì vậy hai người thường cãi nhau. Vương An-Thạch bênh Triệu Tiết xin bãi Hiến, vua không nghe. Nhưng trước đấy, U-bon vương với vua bà Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái đem Thần-vũ thập anh đại náo điện Sùng-chính; người tung thuốc vào Hiến, khiến y ngứa phát điên phát khùng, lâu ngày hóa điên thực. Vua buộc lòng phải bãi Hiến. Nhân dịp đó vua hỏi Tiết: Ai có thể thay Hiến? Tiết tiến cử Quách Quỳ. Trong triều, thì Thạch làm Tả Tể-tướng chủ đánh ta. Người chống Thạch là Ngô Sung làm Hữu Tể-tướng chủ hòa với ta. Thạch muốn tiến cử Triệu Tiết làm chánh tướng, trong khi Ngô Sung lại muốn Quách Quỳ làm chánh tướng. Sau vua hỏi Triệu Tiết: Khanh làm chánh, Quỳ làm phó sao? Tiết đáp nhún: Vì nước mà làm việc, sao lại ai chánh, ai phó. Tôi chỉ xin làm phó thôi. Vua cho là Tiết nhát, tránh trách nhiệm, vì vậy ngày Mậu-Tý tháng hai (2-2 Bính-Thìn, DL. 9-3-1076) ban chiếu phong Quỳ làm Tuyên-huy Nam viện sứ, An-Nam đạo hành doanh mã bộ đô tổng quản, Chiêu thảo sứ kiêm Tuyên-phủ lộ Kinh-Hồ, Quảng-Nam. Tiết thay Hiến làm phó, Yên-Đạt vẫn giữ chức phó đô tổng quản.

Công-chúa Thiên-Ninh cười nhạt:

– Qua bài chiếu, ta thấy rõ tâm thần An-Thạch quá mệt mỏi vì bị đồng liêu chống đối, vì mưu Nam xâm bị ta khám phá ra tay trước. Bây giờ vua lại phong Quỳ là người của phe chủ hoà làm chánh; phong Tiết là người của Thạch làm phó. Như vậy ta biết rõ lòng vua bắt đầu bớt tin Thạch.

Thái-Ninh đế hỏi Trần Bảo-Dân:

– Sư-phụ! Sư-phụ từng ở Biện-kinh lâu ngày, sư-phụ có cách nào trừ khử tên Vương An-Thạch đi không?

Bảo-Dân lắc đầu:

– Tâu bệ hạ không có cách nào cả. Nguyên từ hôm vua bà Bình-Dương, Thân phò-mã, U-bon vương đại náo Sùng-chính điện đến giờ, thị-vệ canh phòng Hoàng-thành cũng như dinh An-Thạch cực kỳ chu đáo. Trong thế gian này chỉ có một người giết được Thạch, đó là sư đệ Tự-Mai, vì y có chân tay khắp nơi. Nhưng y là Kinh-Nam vương, là phò-mã của Tống triều; trong khi Vương An-Thạch là đại công-thần nhà Tống, công-lao thực không nhỏ.

Thái-hậu hỏi Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan:

– Đoan đệ! Đệ là thầy thuốc giỏi. Chị Nghe nói trong trận công thành Ung, đệ đã hiến phương thức làm cho tướng sĩ Tống bị kinh hoảng, mệt mỏi. Nay trường hợp An-Thạch, y cũng đang mề mệt, đệ có cách nào làm cho tâm thần y rối loạn hơn, để y mất hết minh mẫn, rồi sinh cáu giận. Như vậy y càng có thêm đồng liêu chống đối, để cuối cùng y phải mất chức không?

Lý Đoan tâu:

– Con người ta có ba mối liên hệ. Một là liên-hệ chúa tôi, hai là mối liên-hệ đồng-liêu, ba là mối liên hệ gia-thuộc. Từ ngày thi hành Tân-pháp, gần như Thạch không có liên hệ đồng liêu; những người dưới quyền y, chỉ là chân tay y, để y sai khiến, hở ra là phản y, như trường hợp Lã Huệ-Khanh. Y không có bạn, y cô đơn. Nay y sống bằng hai liên hệ chúa tôi, gia thuộc, mà bây giờ liên hệ chúa tôi nhạt dần. Vậy nếu ta có cách nào làm cho gia đạo y bất an nữa, thì mới khiến cho y bị rối loạn.

Thái-hậu tuyên chỉ:

– Việc này phi Côi-sơn tam anh, không ai làm nổi. Ba vị sư bá! Cô-phụ biết việc làm cho gia đạo An-Thạch rối loạn không phải là dễ, nhưng tam vị sư bá cứ thử xem, ta tùy nghi dùng thực nhiều vàng ngọc. Biết đâu?

Phụ-Quốc cung tay:

– Tuân chỉ Thái-hậu. Muốn thực hiện được điều này có lẽ phải nhờ đến hai vị đại-sư Minh-Không, Đạo-Hạnh giúp một tay. Thần xin cố gắng.

Quán-quân thượng tướng quân, Chính-Tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi hỏi Trung-Thành vương:

– Thưa vương gia, bọn đệ là những người trực tiếp đối đầu với các tướng cầm quân Tống. Bọn đệ cần biết, ngoài Quỳ, Tiết, Đạt, Cảo ra, những tên nào được sai sang đánh ta?

– Quỳ xin vua cho mang tất cả binh tướng từng chiến đấu ở Tây-thùy theo. Bởi đây là những đạo binh, những tướng do Kinh-Nam vương huấn luyện, từng tham chiến bao năm qua, rất tinh nhuệ, thiện chiến. Tổng số có 12 tướng đó là:

– Diêu Tự lĩnh chức hàm-hạt ở Kinh-nguyên.

– Lý Hạo lĩnh chức hàm-hạt ở Hy-hà.

– Trương Chi-Giám coi đạo quân Tần-phượng.

– Dương Vạn lĩnh chức đô-giám ở Hoàn-khánh.

– Lôi Tự-Văn chỉ huy đạo binh Hoàn-khánh.

– Lữ Chân lĩnh chức đô-giám ở Diên-Phu.

– Trương Thế-Cự lĩnh chức Vũ-kị thượng tướng quân.

– Lý Hiếu-Tôn chỉ huy đạo binh Hy-hà.

– Địch Tường chỉ huy đạo binh Hà-Bắc.

– Khúc Chẩn chỉ huy đạo binh Diên-Phu.

– Quản Vi chỉ huy đạo binh Kinh-Tây.

– Vương Mẫn chỉ huy đạo binh Hà-Đông.

Đây là những tướng ở vào tuổi trung niên, kinh nghiệm chiến đấu, có tài dùng binh.

Tín-Nghĩa vương hỏi Trung-Đạo:

– Thưa sư-bá, võ công bọn này ra sao?

– Nếu so với những cao thủ bậc nhất của ta như vua bà Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương, Tôn Đản, Cẩm-Thi thì chúng không bằng. Nhưng so với các tướng trẻ của ta trong Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất-kiệt thì bản lĩnh chúng bỏ xa. Bản lĩnh của chúng suýt soát với Thần-vũ thập anh!

Cả triều đình đều tỏ vẻ lo lắng.

Trung-Thành vương tiếp:

– Về quân số thì trước khi An-Nam đạo hành doanh giao cho Triệu-Tiết ngày Giáp-Dần, tháng Chạp năm Ất-Mão (27-12. DL. 25-02-76) là mười vạn quân bộ, đó là các đạo đóng từ Biện-kinh tới Ung-châu; hai vạn binh từ Biện-kinh đến Quảng-châu. Cộng mười hai vạn quân triều. Quảng-châu ra lệnh cho các châu lấy bảo-binh huấn luyện thành các chỉ-huy xạ-binh và dũng-lực. Các vùng Mân, Triết, Kinh, Hồ, Lưỡng Quảng đều mộ binh lập ra các chỉ-huy tân-đằng-hải, sồ này khoảng mười vạn nữa. Cộng chung hai mươi hai vạn (TS-TTTTGTB, Hy-Ninh 8, tháng 12).

Vương đưa mắt nhìn đình thần một lượt rồi tiếp:

– Khi Quách-Quỳ được làm nguyên-súy, y xin cho các tướng đem quân theo. Mười hai tướng này, đang chỉ huy mười hai đạo binh, mỗi đạo khoảng một vạn người, và hơn vạn kị binh. Đây là binh triều. Theo quan chế nhà Tống, thì mỗi tướng chỉ huy đạo quân ở đâu, phải lấy bảo-binh huấn luyện sẵn, để khi lâm chiến bị tổn thất thì lấy binh đó bổ xung. Vì vậy mỗi tướng còn có một vạn quân trừ bị, chia năm trăm người làm một chỉ-huy, thành ra mỗi tướng có hai mươi chỉ-huy nữa. Số quân này khoảng mười hai vạn nữa. Tổng cộng có hai mươi bốn vạn binh mang từ Tây-thùy về. Như thế tính chung là bốn mươi sáu vạn binh, chia ra ba mươi vạn binh triều, mười sáu vạn binh các lộ, các châu (QTNC, TTCTGCK), năm vạn kị binh, năm vạn thủy binh.

Công-chúa Thiên-Ninh hỏi:

– Thưa hoàng thúc, theo binh chế Tống, cứ một người lính chiến thì có một bảo-binh hay phụ lực binh theo để mang vật dụng, quần áo, nấu ăn, tắm ngựa. Đám này còn dùng để giữ trại, trấn giữ những nơi chiếm được, khi cần cũng có thể đem ra xung trận. Ngoài ra lại còn đám bảo-binh để chuyển vận lương thảo. Vậy thúc phụ có biết rõ quân số này là bao nhiêu không?

– Thưa điện hạ, tế-tác của ta không biết rõ được. Chỉ biết viên chuyển-vận sứ Quảng-Tây là Lý Bình-Nhất tâu: Bao nhiêu lương thảo tích trữ ở Nam-thùy bị ta lấy phát cho dân hết, thành ra Tống phải chuyển vận từ Kinh, Hồ, Mân, Triết và cả vùng Biện-kinh xuống. Việc chuyển vận này hoàn toàn bắt dân chúng đem đến các trấn bên bờ sông Tương, rồi dùng thuyền đưa xuống Quảng-Tây. Dân Quảng-Tây phải chuyển tới biên giới, sau đó phụ lực binh sẽ chuyên chở ra mặt trận. Y xin bắt 40 vạn bảo binh làm phụ-lực binh.

Vương kết luận:

– Tính chung, ta phải đối đầu với bốn mươi sáu vạn quân triều, năm vạn kị, năm vạn thủy và bốn mươi vạn bảo binh là chín mươi sáu vạn. Tôi xin nhắc lại, chỉ dụ mới nhất của Khu-mật viện Tống như sau: Binh triều là binh được tổ chức thành từng đạo, mỗi đạo năm nghìn người, rất thiện chiến, được luyện tập võ nghệ, giỏi xung phong hãm trận, võ trang đầy đủ để tấn công. Để giữ sức, mỗi quân triều được cấp một bảo binh, dân phu dùng để nấu ăn, giặt quần áo, mang hành trang. Còn quân tân-đằng-hải cũng là quân triều, tổ chức thành từng chỉ huy; mỗi chỉ huy năm trăm người, dùng trong những trận nhỏ, hoặc dùng để trấn đóng, bảo vệ lương thảo. Còn bảo binh, là những trai tráng, được huấn luyện quân sự để giữ làng ấp, bố xung tổn thất cho binh triều, tân-đằng-hải. Tân-đằng-hải, bảo binh phải tự túc nấu ăn, mang trang phục lấy.

Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên hỏi:

– Về thủy quân, hiện tình Tống ra sao?

– Trước, xưởng đóng chiến thuyền Tống ở Khâm-châu đã đóng được ba trăm chiến thuyền lớn, sáu trăm chiến thuyền nhỏ. Khi ta đánh Khâm-châu thì các chiến thuyền này được kéo về Đồn-sơn, thợ bị giết sạch, kho gỗ để đóng thuyền bị đốt. Vì vậy, Tống cho chuyển toàn bộ thủy-quân vùng Mân, Triết, Quảng-châu xuống, lực lượng có bốn hạm đội. Đô đốc chỉ huy là Dương Tùng-Tiên, phó là Tô Tử-Nguyên, con Tô Giàm.

Phò-mã Hoàng Kiện cung tay:

– Trước tình hình như vậy, xin Thái-hậu ban chỉ dụ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu đứng dậy đưa mắt nhìn quần thần một lượt rồi nói:

– Trước khi đem quân Bắc phạt, các vị với cô phụ này đã nghị việc Tống đem quân nghiêng nước phục thù rồi. Giả như ta không đem quân Bắc phạt, thì Tống cũng đem quân đánh ta kia mà! Nếu ta không ra quân trước, thì với lương thảo, vũ khí, thủy bộ mã quân ở Nam thùy chuẩn bị từ lâu, nay Tống đánh ta, thì quả ta không đương nổi. Vì ta ra quân trước, thành ra tinh lực Tống bị giảm một nửa, trong khi ta lại có thêm lương thảo, vũ khí, chiến thuyền. Bây giờ Tống đem quân sáng, ta chỉ phải đối đầu với một nửa tinh lực mà thôi.

Chư đại thần đều đồng ý lý giải của thái hậu. Hậu hỏi:

– Bây giờ sắp tới Ngọ rồi. Có thực mới vực được đạo. Chúng ta sang cung Long-hoa, ta ăn cơm đã. Trước khi ăn, cô phụ xin đặt một câu hỏi: Với tình thế này, các vị hãy suy nghĩ kỹ rồi trình bầy xem: Ta phải làm gì? Chịu nội thuộc để nước khỏi bị phá, dân khỏi bị giết, hay đánh đến cùng? Nào, ta ăn trưa.

Thái-sư Lý Đạo-Thành đại diện các quan tạ ơn Thái-hậu với nhà vua ban yến. Không tấu nhạc trước khi ăn yến như thường lệ. Trong yến, các quan thì thầm bàn tán. Kẻ bàn nên đánh, người bàn nên chịu nhún để toàn vẹn. Tiệc được nửa chừng, thì hoàng môn quan vào tâu:

– Có tiên nương Bảo-Hòa, Thiếu-Mai; công chúa Bình-Dương, Kim-Thành, Trường-Ninh xin cầu kiến.

Lập tức trong điện đông đến hơn trăm người, mà im bặt, không một tiếng động. Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Phúc đức thay! Giữa lúc chúng ta đang phân vân không biết tiến thoái lẽ nào, thì Quan-âm với hai vị tiên nương, nhị vị công chúa giá lâm! Tất cả chúng ta phải ra đón các vị.

Tới cổng thành, Linh-Nhân hoàng thai hậu hô lớn:

– Cô phụ Yến-Loan, hài nhi Càn-Đức cùng trăm quan xin bái kiến Quan-Âm bồ tát, nhị vị tiên nương, nhị vị trưởng công chúa.

Tiếng tiên nương Bảo-Hòa êm, nhẹ, nhưng vang đi rất xa:

– Nhọc kim thể Thái-hậu, Hoàng-thượng đã ra đón.

Nhắc để độc giả nhớ: Tiên nương Bảo-Hòa là chị con cô, vua Thánh-tông là em con cậu. Ngài lại là sư phụ của vua Thánh-tông với Thường-Kiệt. Vua bà Bình-Dương là sư phụ của Linh-Nhân hoàng thái hậu; công chúa Kim-Thành, Trường-Ninh đều là chị ruột vua Thánh-tông từng lĩnh nhiệm vụ biên cương trọng thần gần bốn chục năm qua. Vua Thánh-Tông mồ côi mẹ từ thủa còn thơ, được ba bà chị Bình-Dương, Kim-Thành, Trường-Ninh chăm sóc nhà vua như con. Tiên nương Thiếu-Mai là vương phi của Yên-vương, quốc phụ Tống triều. Cả bốn vị đều lập không biết bao nhiêu huân công với xã tắc, cho nên ân đức, uy tín cực kỳ lớn lao.

Phía sau các vị còn có chín nam, chín nữ, tuổi khoảng hai mươi hăm một. Nam thì hùng vĩ khôi ngô, nữ thì yểu điệu sắc nước hương trời. Linh-Nhân hoàng thái hậu đưa mắt hỏi tiên nương Bảo-Hòa. Tiên nương cười:

– Đây là mười tám thiếu niên Việt kiều ở Xiêm, chỉ vì có chút lòng son hướng về đất nước, mà bị bọn Hồng-thiết giáo dụ dỗ theo chúng, rồi mắc vào vòng Chu-sa Huyền-âm độc tố không thoát ra được. U-bon vương đã trị dứt Chu-sa Huyền-âm độc tố, rồi dạy binh pháp, võ công cho. Công chúa Nong-Nụt lại kết họ thành phu phụ. Nhân khi hai vị Mộc-tồn, Viên-Chiếu vân du Xiêm quốc, vương xin hai vị thu họ làm đệ tử. Hiện bản lĩnh họ không thua Thần-vũ thập anh làm bao. Về hành binh, xung phong hãm trận họ lại có tài không thua Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt. Nay nghe giặc Tống phạm cảnh, họ trở về chùa Báo-ân xin sư phụ cho theo quân giữ nước, nên chị dẫn họ đến yết kiến thái hậu.

Tiên nương Thiếu-Mai tiếp:

– Mộc-tồn hòa thượng đặt cho họ cái tên Thập-bát Kim-cương. Cặp lớn nhất là Kim-cương đệ nhất, cập thứ nhì là Kim-cương đệ nhị...

Thập-bát Kim-cương hành lễ với mọi người.

Linh-Nhân hoàng thái hậu truyền đặt thêm tiệc cho bốn vị, với Thập-bát Kim-cương. Tiệc tàn, mọi người trở lại điện Uy-viễn.

Thường-Kiệt là đệ tử của tiên nương Bảo-Hòa, ông tóm lược những điều triều đình đã nghị sự trình với ngài.

Nghe xong, tiên nương hỏi công chúa Kim-Thành:

– Em nghĩ sao?

Công chúa đưa mắt nhìn bách quan một lượt, rồi tiếp:

– Tâu Thái-hậu! Không cần phải hỏi nên đánh hay nên hòa, mà chỉ có một đường là đánh đến cùng. Hòa là chết, chết hết. Chỉ có đánh họa chăng mới có con đường sống mà thôi. Vì sao???

Công chúa ngửa mặt nhìn lên nóc điện, cúi xuống, nói thực chậm:

– Tại sao ta phải đánh? Xét kỹ ra có ba điều. Một là, rõ ràng Tống xuất quân để chiếm sáu nước tộc Việt đặt làm quận huyện. Nhưng chiếm Đại-Việt trước; thế mà trong biểu xuất quân, Tống nói lơ mơ rằng nếu ta phụ thuộc sẽ để cho tồn tại. Kìa cái gương Nam Đường, Bắc Hán, Đông Việt còn đó. Chúa các nước đầu hàng, tưởng được yên thân trong nước của mình; đâu ngờ sau khi đầu hàng, Tống đem hết gia thuộc về Biện-kinh, phong tước vương, phải chịu cảnh ra luồn vào cúi, ngơ ngáo hàng thần. Còn nước thì mất. Nay nếu ta chịu nhục, nội thuộc Tống, thì e rằng số phận còn tàn tệ hơn các nước kia nữa.

Triều đình cùng gật đầu công nhận lời công chúa thực chân xác.

– Hai là, nói rằng ta nội thuộc Tống để bớt đổ máu ư? Nói như thế là nói theo kiểu ngu phu ngu phụ để che dấu cái hèn nhát. Này, cho rằng ta kháng Tống có chết vài chục vạn người đi, thì cũng là những cái chết oanh liệt. Còn như nội thuộc Tống, việc đầu tiên chúng giết người trả thù trận Khâm, Liêm, Ung, số người chết không phải là vài chục vạn mà là hàng trăm vạn. Rồi sau đó, chúng lấy tất cả Thiên-tử binh, binh các trấn, các lộ, hoàng nam đem đi đánh Chiêm, Chân, Xiêm, Lào, Lý. Số người chết không đáng chết này có khi tới trăm vạn. Lại nữa, các gia, các phái, các bang sẽ hô hào người người nổi lên chống ngoại xâm, chiến tranh còn khủng khiếp hơn nữa, số người chết còn cao gấp bội. Đó là hai điều ta không thể nội thuộc Tống.

Nhà vua tuyên chỉ:

– Còn điều thứ ba, xin cô mẫu dạy cho.

– Ba là, các quan tưởng nội phụ, sẽ bảo toàn được cái mạng mình với gia thuộc, rồi sẽ được Tống phong chức tước ư? Thử tưởng tượng xem, đến bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ mà giờ này cũng chỉ có chức mà không có tước gì! Nếu như mai sau chúng thắng Đại-Việt, may ra được thí cho tước hầu là cao lắm. Bọn chúng còn vậy, huống hồ các quan đầu hàng? Vậy thì con đường trước mắt ta hãy nhìn cho rõ: Sau khi nội thuộc, bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ sẽ được bổ làm quan cai trị, các vị không bị giết, thì cũng sẽ phải ra luồn vào cúi với chúng. Thảng hoặc chúng thí cho chức thư lại ở một vùng hẻo lánh nào đó, rồi tìm cớ giết sau mà thôi.

Thế là triều thần đều nhất trí phải đem hết lực ra đánh Tống để tồn tại.

Tiên nương Bảo-Hòa hỏi Thường-Kiệt:

– Này Kiệt nhi! Trong trận này, con định dùng phương thức gì để giữ nước?

– Khải tấu sư phụ! Tống đánh ta phen này, ắt đem quân nghiêng nước để quyết thắng. Như vậy hầu hết quân họ đem sang đánh ta là quân từ Bắc-thùy, Tây-thùy, với kị-binh. Quân hai nơi này có ưu điểm là giỏi dàn trận, dùng kị binh xung sát. Họ muốn thắng thực mau vì sợ Liêu, Hạ thừa cơ đem quân đánh vào phía Bắc, phía Tây. Đệ tử biết thế, họp chư tướng, rồi quyết định: Tống giỏi dùng trường binh, thì ta dùng đoản binh. Tống giỏi dàn trận, thì ta không dàn trận, đóng thực nhiều đồn kiên cố, gần chỗ đồng lầy; như vậy kị binh, trường binh vô dụng. Họ muốn đánh cho mau, thì ta lại cố kéo dài cuộc chiến.

– Được. Con tiếp đi.

– Vân-ma thượng tướng quân Nhu-Tâm hầu Trần Ninh, Trung-vũ đại tướng quân Kính-Tâm hầu Dương Minh là hai tướng giỏi về y học, đưa ý kiến rằng: Hiện quân Tống sắp vượt biên, nếu ta kéo dài cuộc chiến được tới mùa hè sang năm, thì dù ta không giết, trời cũng giết hết quân Tống.

Tiên nương vẫy tay gọi Trần Ninh, Dương Minh khen ngợi:

– Được! Ý kiến này thực phi phàm. Bằng vào nguyên do nào, hai tướng quân có thể quyết đoán rằng nếu kéo dài tới mùa hè, thì trời giết quân Tống dùm?

Dương Minh kính cẩn thưa:

– Tấu tiên nương, quân Tống từ miền Bắc, miền Tây đến, thì người ngựa quen với khí hậu lạnh, không muỗi, mòng, vắt. Nay họ xuống Lĩnh-Nam, khí hậu nắng nực thấp nhiệt sức người suy yếu, sức ngựa ngựa kiệt quệ. Họ uống nước lạ, sẽ sinh bệnh. Dù họ không chết vì nước, vì khí hậu, thì cũng chết vì sốt rét ngã nước do muỗi đốt. Chính vua Anh-tông bên Tống, là người có võ công cao, đang tuổi tráng niên, mà cũng chết về bệnh này.

– Được. Ý kiến siêu việt. Này Kiệt, từ khi đánh Tống trở về, con đã chuẩn bị cuộc phòng thủ như thế nào. Sư phụ muốn biết qua để còn liệu.

Thường-Kiệt chắp tay vái ba vái, rồi cung cung kính kính trình:

– Tấu sư phụ. Từ hồi đức Thánh-tông còn tại thế, vào niên hiệu Thiên-huống Báu-tượng nguyên niên (1068) khi được tin Tống chuẩn bị Nam xâm, Quốc-phụ đã thiết kế phòng vệ rất chi tiết. Trước hết thấp nhất, tại các xã, trang, động thì triều đình cử võ quan về giúp trương tuần huấn luyện hoàng nam về võ nghệ, về tiến thoái, về bầy trận, về bắn cung, cùng tùy theo vị trí làng, củng cố lại lũy tre bao bọc, phương thức phòng thủ. Hóa cho nên mỗi xã, mỗi trang, mỗi động hiện là một đồn binh rất kiên cố. Lương thực bên trong có thể tự túc trong sáu tháng. Chỉ nguyên hệ thống làng xã, ta cũng kéo dài cuộc chiến được cả năm, không cho Tống tiến về Thăng-long.

Ông đưa mắt nhìn Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Trong thời gian đức Thánh-tông bình Chiêm, ở nhà Thái-hậu nhiếp chính, người ban chỉ: Gái trai đều phải được cho đi học như nhau, khi họp việc làng, gái cũng được dự họp như trai. Trái lại, gái cũng được luyện tập võ nghệ, huấn luyện quân sự; để khi giặc tới nhà đàn bà phải đánh. Chính vì vậy, mà lực lượng phòng thủ làng xã, trang động tăng lên gấp bội.

Vua bà Bình-Dương nắm tay Thái-hậu:

– Hồi xưa, ta với chị Bảo-Hòa, có sự đi qua Vạn-thảo thảo thôn trang, đã cải lệ xã cho con gái được dự họp việc làng. Sau, Kim-Thành lên trấn Bắc-cương, cũng đưa ra lệnh cấm đa thê, nam nữ đều được học như nhau, trách nhiệm giữ nước gái trai chung. Nhưng chỉ tại Bắc-cương mà thôi, còn miền xuôi thì phụ nữ vẫn chui đầu vào chổng đít ra ở bếp; cho nên cái tinh lực Trưng, Triệu mất mát rất nhiều. Nay Thái-hậu hơn hẳn ta với chị Bảo-Hòa đã đành, mà còn hơn cả Kim-Thành nữa. Thái-hậu đã cho gái cả nước đều được cái hãnh diện gánh vác sơn hà. Giả như vua Trưng có sống dậy cũng phải khen ngợi.

Nghe sư phụ khen, dù đã tới tuổi ba mươi, dù đã là Thái-hậu, uy quyền mênh mông, Linh-Nhân cũng cảm thấy sung sướng cực điểm. Hậu cung tay:

– Đa tạ sư phụ ban khen.

Thường-Kiệt trình tiếp:

– Còn quân các trấn, các lộ, các phủ, huyện, thì luôn luyện tập, di động. Cho nên những hiệu quân này đều có khả năng không thua Thiên-tử bnh làm bao. Như khi giặc thình lình tới thì hoàng nam, hoàng nữ ở trang động, làng xã đủ khả năng tự vệ ít nhất là ba ngày. Sau đó quân trấn, lộ, phủ, huyện sẽ can thiệp. Trong cuộc Bắc-phạt vừa rồi, kế hoạch này tỏ ra rất hữu hiệu. Khi Thiên-tử binh đánh sang Tây-bình, Lộc-châu, quân Tống thừa hư vượt biên đánh vào Lạng-châu. Lập tức chúng gặp sức kháng cự của hoàng nam, hoàng nữ trong các làng xã trải qua ba ngày, mà không một làng nào thất thủ; chúng chết rất nhiều, số còn sống thì mệt mỏi. Khi quân lộ Kinh-Bắc, Hồng-châu can thiệp, thì chúng bị tan rã.

Công chúa Kim-Thành hỏi:

– Được rồi! Bây giờ con hãy trình bầy về binh triều tức thủy quân, Thiên-tử binh.

Tuổi Lý Thường-Kiệt đã đi vào năm mươi, chức tới Đại-tư-mã, tước tới công, mà được công chúa Kim-Thành gọi là con, khiến ông cảm động vô bờ bến. Vì ông bị mồ côi song thân từ nhỏ, lớn lên lại bị Dương Hồng-Hạc tĩnh thân; nên ông được được các công chúa Bình-Dương, Kim-Thành, Trường-Ninh coi như cháu ruột, thường xưng cô, gọi ông là con. Cho đến nay ba vị vẫn dùng ngôn từ này với ông. Riêng công chúa Bảo-Hòa còn thu ông làm đệ tử, yêu thương ông cùng cực. Ông cung cung, kính kính hướng công-chúa:

– Khải cô mẫu, người chỉ huy trực tiếp Thiên-tử binh là Tín-Nghĩa vương. Con xin để vương tấu với cô.

Tuổi của Tín-Nghĩa vương nhỏ hơn con của công chúa Kim-Thành, nhưng vương là vai em của công chúa. Chỉ dụ của phụ vương là Quốc-phụ ban ra rằng: Khi đối thoại với các công chúa, thì vương không dùng nghi thức triều hội, mà dùng nghi thức gia đình. Vì vậy vương đứng dậy cung tay:

– Thưa chị, ta hiện có mười hai hiệu Thiên-tử binh, do Long-biên thất hùng, Tây-hồ thất kiệt chỉ huy. Mười hai tướng có mười hai phu nhân đều xuất thân danh gia để tử. Bốn phu nhân Kim-Loan, Kim-Liên, Ngọc-Liên, Ngọc-Hương đều được vương mẫu nhận làm nghĩa nữ, rồi dạy binh pháp, võ công cho. Còn lại tám phu nhân, đều xuất thân ở trường của đại tư mã Thường-Kiệt, văn võ song toàn; được Thái-hậu chuẩn tấu, mười hai phu nhân tuyển chọn những thanh-nữ ở làng xã huấn luyện, đem gả cho các Thiên-tử binh. Cho nên hiện mỗi hiệu Thiên-tử binh còn có thêm ba nghìn nữ binh.

Rồi vương trình bầy tổ chức, phồi hợp, phương thức hấn luyện, cùng kỷt luật của Thiên-tử binh ra sao; cuối cùng vương kết luận:

– Trong trận Bắc-phạt vừa rồi, thì các trận Ung, Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch ta dùng lối xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị hay công thành thì không kể. Duy trận Đại-giáp, Hỏa-giáp, Ngọc-tuyền; Thiên-tử binh trực tiếp đối trận với ba đạo đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đạo kị binh 47 của Tống, đó là những đạo kinh nghiệm, thiện chiến trong chiến tranh Tống-Hạ. Thế mà số tổn thất của ta quá ít, so với toàn quân của họ bị diệt. Cho nên trận này, ta có thể yên tâm rằng quân ta ít, nhưng một người có thể thắng trăm người.

Vương ngừng lại, chỉ vào đại đô đốc Lý Kế-Nguyên với bốn đô đốc chỉ huy bốn hạm đội:

– Thưa chị, về thủy quân của ta, hiện có bốn hạm đội mang tên Âu-Cơ, Động-đình, Bạch-đằng, Thần-phù. Đại đô đốc là quan Thái-bảo Lý Kế-Nguyên, cố vấn là sư bá Trần Phụ-Quốc. Mỗi hạm đội do một đô đốc chỉ huy. Ngoài ra, mỗi lộ, trấn huyện, phủ lại có những đội giang thuyền để bắt giặc cướp, để vận chuyển. Về lực lượng, về tổ chức, về kinh nghiệm chiến đấu từ trước đến giờ ta mạnh hơn Tống nhiều.

Vua bà Bình-Dương hỏi Côi-sơn tam anh:

– Ba vị sư huynh từng ở Trung-nguyên lâu, nhị sư huynh từng lĩnh chức đô đốc Tương-giang Động-đình. Xin sư huynh cho biết ý kiến?

Trung-Đạo đứng lên:

– Tấu vua bà, từ cổ, vì thủy thổ của ta nhiều sông, biển, nên người Việt giỏi thủy tính hơn người Hoa. Thời Lĩnh-Nam ta thắng Hán năm trận, thì ba trận là Động-đình, Đông-hải, Lãng-bạc, đều là thủy chiến. Đến thời Ngô, thời Lê, ta lại thắng Trung-quốc ở Bạch-đằng. Vừa rồi, trận Khâm-châu, ta phá thủy quân Tống như bắt con cua trong chậu. Tính chung về quân số, tổ chức, chiến hạm, kinh nghiệm, thì thủy quân của ta ví như con cá kình, còn thủy quân Tống ví như con tôm.

Ông chỉ vào Đại Đô-đốc Lý Kế-Nguyên, với bốn đô đốc Trần Phúc, Trần An, Trần Lâm, Trần Hải:

– Trong năm đô đốc, thì bốn đô đốc họ Trần đều ở trong thủy quân từ năm hai mươi tuổi, kinh nghiệm có thừa, võ công cao thâm. Trẻ nhất là đại đô đốc Lý Kế-Nguyên, tuổi mới bốn mươi; đô đốc xuất thân là văn quan, một chiêu võ không biết, nhưng mưu trí trùm hoàn vũ. Về tài dùng binh trên biển; dù Hoa, dù Việt, không ai địch nổi người. Vậy, trong cuộc chiến này, ta yên tâm mặt biển đã đành, mà còn dùng thủy quân như lực lượng đe dọa đánh úp Tống như công chúa Gia-Hưng thời Lĩnh-Nam hay trận Khâm, Liêm vừa rồi.

Tiên nương Bảo-Hòa hỏi Đại-tư-mã Thường-Kiệt:

– Cho đến giờ này, quân Tống đã tới biên giới, con hãy trình bầy thế thủ của ta ra sao?

– Tấu sư phụ! Hồi tháng ba, khi rút quân khỏi đất Tống, con ước tính rằng: Tống đánh ta, ắt chỉ dùng có hai con đường. Một là dùng đường thủy. Hai là, dùng đường bộ. Về đường thủy, họ đổ quân vào Bạch-đằng, Thiên-trường, rồi tiến về Thăng-long; như Đông-Hán dùng trong thời Lĩnh-Nam, như Nam-Hán dùng trong thời Ngô, như Tống dùng trong thời Lê. Nay thủy quân của họ ở Nam-thùy quá yếu, họ đem các hạm đội từ Kinh-châu, Mân-Việt, Triết-giang xuống. Số chiến hạm, quân số ngang với ta. Đại đô-đốc Lý Kế-Nguyên phối trí hạm đội Âu-Cơ ở Tiên-yên, hạm đội Động-đình ở Đồn-sơn, hạm đội Bạch-đằng ở Thăng-long, còn hạm đội Thần-phù thì lưu động làm trừ bị.

Tiên nương đưa mắt nhìn Lý Kế-Nguyên:

– Lý tiên sinh là nhà nho, mà kinh luân gồm tài. Mặt biển như vậy là yên. Nếu ta không thắng họ thì cũng hòa.

Thường-Kiệt tiếp:

– Về mặt bộ họ có độc đạo từ Ung-châu, tới Tây-bình, Lộc-châu rồi vượt biên đánh vào Quảng-nguyên, Môn-châu, Lạng-châu, Tô-mậu. Đệ tử lập một phòng tuyến thứ nhất, chỉ dùng binh trang động, hoàng nam trấn thủ, mục đích làm cho địch mệt mỏi, tổn thất, mất thời gian. Phòng tuyến này gồm 207 trang động Bắc-biên.

– Được. Chi tiết ra sao?

– Trấn cánh tả ở Quảng-nguyên là Tiết-độ-sứ Lưu Kỷ, thống lĩnh binh mã hơn năm mươi trang động. Kế tiếp trấn cánh tả là tiết độ sứ Môn-châu Hoàng Kim-Mãn, thống lĩnh hơn bốn mươi trang động. Trấn cánh hữu là Tiết-độ-sứ Tô-mậu Vi Thủ-An thống lĩnh hơn hai mươi trang động. Nhưng cuối cùng, muốn tiến vào đồng bằng, đánh Thăng-long, họ chỉ có một con đường duy nhất là qua Lạng-châu. Tại Lạng-châu họ sẽ gặp đạo quân tiền phong của vua bà Thiên-Thành, với phò mã Thân Cảnh-Long, thống lĩnh một trăm mười bẩy trang động. Như vậy thế bắt buộc Quách Quỳ phải trải quân ra làm bốn khu vực, đánh từng trang, từng động một, rất vất vả, lại hao tốn nhân mạng. Sau khi Quỳ giải quyết xong 207 trang động, thì y mới tiến vào trung châu.

– Rồi sao?

– Nếu Quách Quỳ giải quyết được phòng tuyến thứ nhất, thì y lại đụng phải phòng tuyến thứ nhì. Phòng tuyến thứ nhì gồm vùng núi Tam-đảo, Chi-lăng, Đông-triều. Tại Chi-lăng, đệ tử lập hai ải cực kỳ kiên cố, phía sau Lạng-châu. Một là Quyết-lý, dựa lưng vào hai ngọn núi, có suối chảy qua, đề phòng bị vây, không sợ thiếu nước. Nếu như Quyết-lý thất thủ, thì phía sau là ải Giáp-khẩu tức Chi-lăng, nơi hai ngọn núi hiểm trở khép lại. Với hai ải này, có thể làm cho quân Tống ùn lại ít nhất cả mấy tháng.

– Được. Nhưng tướng nào trấn thủ ở đây?

– Tâu, trấn thủ ải Quyết-lý là công-chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên cùng Trấn Bắc đại tướng quân, Tiên-yên tiết độ sứ, Tản-viên quốc công Tôn Mạnh với hiệu binh Kinh-Bắc. Trấn thủ ải Giáp-khẩu là Quán-quân thượng tướng quân Chính-Tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi cùng phu nhân là quận chúa Trần Phương-Quỳnh với hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ.

Tiên nương nói với Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Về đồn trú, quân, tướng như vậy là ổn rồi. Nhưng vùng Lạng-châu là cổ họng vào Thăng-long, liên lạc khó khăn, trong khi đó chỉ huy phải thống nhất. Thái hậu phải cắt cử một người chỉ huy thống nhất giữa tiền quân của Cảnh-Long với hai ải Quyết-lý, Giáp-khẩu.

Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định ngay:

– Vâng chỉ của tiên nương, đệ tử xin cử phò mã Thân Cảnh-Long tống chỉ huy ba đạo quân này.

Phò mã Thân Cảnh-Long đứng dậy cung tay nhận lệnh.

Thường-Kiệt tiếp:

– Tuy vậy, đệ tử thấy hai con đường nhỏ, nếu Quách Qùy đánh không nổi Quyết-lý, Giáp-khẩu, y có thể bỏ con đường chính, mạo hiểm cho quân vươt qua hai con đường nhỏ. Con đường thứ nhất là con đường từ Quảng-nguyên, Môn-châu, vòng qua đường núi Tam-đảo xuống Vạn-nhai tức là phía Bắc sông Phú-lương. Cho nên đệ tử đã cho Vũ-dực đại tướng quân, Nam-sơn hầu Dư Phi đem hiệu binh Đại-hoàng trấn ở ải Đâu-đỉnh. Con đường thứ nhì mà quân Tống có thể mạo hiểm đánh xuống là con đường nhỏ men theo bờ biển tiến về Đông-triều rồi tới Thăng-long, nên đệ tử đã cho Thái-tử thiếu-phó Trấn-viễn thượng tướng quân Gia-viễn hầu Bùi Hoàng-Quan, cùng phu nhân là Trần Ngọc-Huệ đem hiệu binh Đông-triều, đóng ở trại Ngọc-sơn.

Công-chúa Kim-Thành lắc đầu:

– Phối trí như vậy, cánh tả, cánh trung ương rất vững, vì có tới hai phòng tuyến. Duy cánh hữu, thì đồn Ngọc-sơn trấn ở Vĩnh-an, trực diện với Tống, vừa là phòng tuyến một, vừa là phòng tuyến hai, thì rất nguy hiểm.

– Khải cô-mẫu, thần-nhi cũng biết vậy, nhưng nếu như Tống đánh Ngọc-sơn xong, thì cũng không thể tiến về Thăng-long ngay, mà phải vòng sang phía Tây, vì họ sẽ bị thủy quân rất hùng hậu của ta chạn đánh ở các cửa sông .

Tiên-nương Bảo-Hòa hỏi:

– Xưa nay việc cố thủ trong các đồn, các ải quan trọng nhất là lương thảo. Nay mục đìch ta kéo dài cuộc chiến thì việc tiếp tế lương thảo tối cần thiết. Nếu cất lương trong ải nhiều, thì sợ Tống dùng hỏa công bắn vào đốt cháy; hoặc giả ải thất thủ thì lương đó lọt vào tay giặc, giặc dùng lương đó nuôi quân đánh ta, hóa ra ta nối giáo cho giặc sao? Còn như để ở ngoài, thì ải bị vây lâu ngày, sao có thể tiếp tế được?

Thường-Kiệt chỉ công chúa Thiên-Ninh:

– Tấu sư-phụ, về lương-thảo, thì Bà-chúa-kho sẽ trình sư -phụ.

Tiên-nương Bảo-Hòa là sư-phụ vua Thánh-tông với Thường-Kiệt, sau ngài lại thu công chúa Thiên-Ninh làm đệ tử út. Vì tuổi của công chúa với tiên nương quá cách xa, vì liên hệ sư đồ đã hai đời, nên công chúa được tiên nương yêu thương nhất trong các đệ tử. Từ lúc tiên nương nhập điện, người đã kéo công chúa cho ngồi bên cạnh như bà với cháu. Bây giờ nghe Thường-Kiệt nói việc cung ứng lương thảo do công-chúa đảm trách, tiên nương cầm tay công chúa:

– Ninh nhi! Con mà lo việc lương thảo thì sư phụ yên tâm lắm. Vậy kế hoạch ra sao?

Công chúa trình:

– Thưa sư phụ, về lương của phòng tuyến thứ nhất không do đệ tử đảm trách; vì lực lượng chiến đấu là hoàng nam, họ dùng lương của trang động tích trữ. Tại ải Đồn-sơn, thì do thủy quân tiếp tế, như vậy ải này được bảo đảm. Còn lương ải Đâu-đỉnh, Quyết-lý, Chi-lăng, con cho tích trữ đủ dùng trong ba tháng, lương đều cất dưới hầm rất kiên cố. Trong kho lương con chất thêm một ít hoàng thạch, mã não. Khi đồn thất thủ hay phải rút, thì chỉ cần một mồi lửa là kho lương bị cháy sạch, giặc không thể dùng lương của ta nuôi quân được.

Tiên nương vuốt tóc công chúa:

– Con thực xứng đáng với danh hiệu Bà-chúa-kho. Còn như nếu quân giữ ải không được, phải rút vào rừng, thì dùng lương thảo đâu để sống?

– Dạ, hồi đánh Tống, ta có thu được một số lương thảo khá lớn, con đã cho vận tải về chất ở hai kho lớn, một là ở núi Vạn-nhai, hai là ở Nam Chị-lăng. Đó là lương dùng tiếp tế cho ba ải Đâu-đỉnh, Quyết-lý, Chi-lăng dùng trong thời bình, trong lúc ải chưa bị vây. Trong rừng Vạn-nhai, Quyết-lý, Chi-lăng, con đều cất dấu lương thảo gồm cá khô, tôm khô, thịt khô, mắm, gạo, đậu, đường, dưới những hầm xây bằng đá. Vị trí hầm này rất bí mật, chỉ các chúa tướng mới biết mà thôi. Nếu quân các ải rút vào rừng, thì chúa tướng cho đào hầm lấy lương cho binh dùng. Ngoài ra con còn gửi lương ở nhà dân; khi cần thì hoàng nam, hoàng nữ, ông già bà cả bí mật vận tải, tiếp tế cho quân.

Tiên nương hài lòng hướng Thường-Kiệt:

– Được! Con tiếp đi.

Ông chỉ lên bản đồ:

– Nếu như Quách Quỳ vượt được hai phòng tuyến đầu, thì sẽ gặp phòng tuyến thứ ba. Phòng tuyến này đệ tử lập ở phía Nam ngạn sông Như-nguyệt kéo dài từ núi Tam-đảo tới Vạn-xuân. Ngay phía Nam sông Cầu, núi Tam-đảo, đệ tử cử phò mã Thái-úy Hoàng Kiện, với công chúa Động-Thiên trấn thủ. Chính giữa ở khúc sông Như-nguyệt, đích thân đệ tử trấn thủ. Phía cuối, nơi ngã ba sông Thương, sông Lục-Nam đổ vào Vạn-xuân, đệ tử để hai hàng tử Hoằng-Chân, Chiêu-Văn trấn thủ. Trên bờ sông, đệ tử cho đắp đất cao đến ba trượng (6m ngày nay), bên ngoài cắm chông, gai lởm chởm. Vì như sau khi Quỳ phá được hai phòng tuyến đầu, chúng muốn vượt sông thì phải có thủy quân chở qua. Nhưng thủy quân không có, chúng chỉ co thể đóng bè. Bè e không chở được nhiều quân. Mà có chở được nhiều, cũng khó lọt vào trong chiến lũy.

Công chúa Kim-Thành hỏi:

– Như vậy, trong mười hai hiệu Thiên-tử binh, chỉ có hiệu Quảng-vũ trấn ở Chi-lăng, còn mười một hiệu đều dàn ra từ Tam-đảo tới Vạn-xuân cả. Tại sao con không dùng Thên-tử binh trấn ở phòng tuyến thứ nhất, thứ nhì?

Thường-Kiệt cúi đầu xuống, trán ông cau lại rồi đưa mắt nhìn Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt:

– Khải cô mẫu, chiến lược phòng thủ của ta là kéo dài thời gian của Tống. Mà kéo dài thời gian, thì không gì bằng dùng hoàng nam của làng xã, tráng đinh trang động. Thiên-tử binh không dùng được trong trường hợp này. Giả dụ như dùng Thiên-tử binh trấn hai phòng tuyến đầu, thì khi hai phòng tuyến này vỡ, ta không còn quân bảo vệ Thăng-long.

Công chúa Kim-Thành lắc đầu:

– Con trình bầy như vậy, thì cô không hiểu nổi. Giả như hai phòng tuyến đầu, ta sai Thiên-tử binh giữ, lỡ có vỡ, thì cho rút lui về phòng tuyến ba, và Thăng-long cũng được chứ có sao đâu?

Thường-Kiệt trầm ngâm không nói. Tiên nương Bảo-Hòa, vua bà Bình-Dương linh cảm thấy người đệ tử, người cháu mình tài trí bậc nhất Đại-Việt, nhưng dường như có điều gì khó khăn, mà nói không được. Cả hai cùng đưa mắt nhìn nhau, rồi hỏi:

– Ta là sư phụ con, Bình-Dương là cô con. Chúng ta yêu thương con thế nào, trong bốn mươi năm qua, con biết rồi đó. Nay con lo việc nước, nếu có lỗi gì ta cũng khoan thứ. Vậy con cứ nói ra đi.

Thường-Kiệt lột mũ, phục xuống hành lễ:

– Tấu sư phụ, tấu tam vị cô mẫu. Con tuy lãnh trọng trách, nhưng vì bạc đức, nên không điều khiển nổi một số tướng.

Cả ba công chúa Bảo-Hòa, Kim-Thành, Trường-Ninh cùng Thiếu-Mai đều kinh ngạc. Công chúa Kim-Thành rút thanh Thượng-phương bảo kiếm ra, mắt phượng quắc lên:

– Ai? Ai dám chống lệnh con, con cứ đem ra chặt đầu. Con sợ ư? Ai? Con nói ra đi, ta chặt đầu nó ngay tức thời.

– Không phải chư tướng chống lệnh, mà tất cả mười hai vạn binh sĩ trong mười hai hiệu Thiên-tử binh đều quá cứng.

Linh-Nhân hoàng thái hậu lên tiếng:

– Kính chị, nguyên do thế này. Hồi Quốc-phụ còn tại thế, người soạn ra một thiên binh thư, dùng chủ đạo tộc Việt luyện quân. Binh thư này chưa truyền ra ngoài, chỉ mới dạy cho Trung-Thành, Tín-Nghĩa nhị vương. Nhị vương đem giảng cho Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt. Mười bốn tướng trẻ lại đem ra luyện binh. Trong binh thư của Quốc-phụ, thì chỉ dạy tiến, chứ không dạy thoái. Phàm khi lâm trận, khi có lệnh xung phong, thì bất cứ binh tướng nào đứng nguyên, lùi lại, quay nhìn về sau, đều bị chém tại chỗ. Vì giáo huấn lâu ngày, những điều đó nhập tâm, trở thành Kinh-Việt; chư tướng, chư vương thuộc nằm lòng ví như nho gia thuộc Luận-ngữ vậy. Nên chi, nếu như thượng cấp ra lệnh rút lui, bỏ chạy, thì họ quyết bất tuân. Họ tự coi là điều xỉ nhục nhất trên đời, họ sẽ tự tử ngay tại trận.

Hậu kể:

– Hồi ta đem quân đánh Tống, trong trận Đại-giáp, một Thiên-tử binh gác ở dưới chân núi, bị mười quân Tống tấn công. Y can đảm chống trả, khi sáu binh Tống bị giết, thì y cũng bị thương. Y bỏ chạy, phiá sau bốn địch quân đuổi theo. May đâu, y được các bạn tiếp cứu, giết hết bốn kẻ thù. Sau này luận công, y được thăng chức ngũ-trưởng. Nhưng bốn Thiên-tử binh đặt dưới quyền y không chịu y, lấy lý do rằng người chỉ huy chúng đã chạy trước quân Tống thì không xứng đáng để chúng tuân lệnh. Rồi bạn hữu chế diễu y khốn khổ. Nào « liên tử banh » (hạt sen vỡ) chứ không phải là Thiên-tử binh, nào là « Không phải là con Rồng, cháu Tiên, đệ tử thánh Gióng, mà là con thằn lằn, cháu điên, đệ tử võ phái cầy sấy». Cuối cùng y tự tử chết, bấy giờ các bạn mới làm ma linh đình cho y và khen là người biết tự trọng.

Tiên nương Bảo-Hòa hiểu ngay:

– À thì ra thế, nên Kiệt nhi không thể cho Thiên-tử binh trấn ở tuyến thứ nhất, thứ nhì; vì lỡ ra khi quân Tống đông quá, Thiên-tử binh chỉ biết tiến, không chịu thoái rồi hy sinh hết, cuối cùng không còn quân bảo vệ phòng tuyến thừ ba. Có phải thế không?

– Tấu sư phụ vâng.

Tiên-nương cau mày suy nghĩ:

– Ta hiểu! Chính vì thế, mà trong trận Ung-châu, tất cả các tướng chỉ huy mười hai hiệu Thiên-tử binh nhất quyết rằng Ung-châu chưa hạ, họ không chịu lui binh. Kết quả Ung châu hạ được, mà dân, quân Tống chết nhiều quá, khiến Tôn Đản, Cẩm-Thi bỏ đi mất tích. Bây giờ ta mới hiểu.

Tiên nương hỏi Trung-Thành vương:

– Hoằng-Chân, em không thể giáo dục lại binh sĩ được sao?

– Thưa chị, em không muốn giáo huấn quân mình đang từ những dũng sĩ can đảm thành những kẻ hèn nhát. Mà em có muốn làm, thì vợ chồng bọn Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt, cộng hai mươi tư người này họ cũng không nghe theo.

Vương cười:

– Không phải mình em với Chiêu-Văn, Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt... đâu, mà cả Hoàng Kiện Động-Thiên, Thiên-Ninh; thêm vợ chồng Bùi Hoàng-Quan, vợ chồng Nguyễn Căn, Dư Phi nữa, tới ba mươi sáu đứa kia. Tất cả đều nhất quyết giữ nguyên ý chí này. Chị thử tưởng tượng xem, chúng em là con Rồng, cháu Tiên, hậu duệ của Phù-đổng thiên vương, của vua Trưng mà phải lùi trước bọn cướp nước, thì... thì thà chết quách đi cho rồi. Lùi, chạy, thì nhục lắm, nên bọn em chỉ tuân lệnh anh Thường-Kiệt để tiến, chứ không tuân lệnh anh ấy lùi đâu.

Vua bà Bình-Dương lắc đầu than:

– Khó quá. Trọn đời ta, với chị Bảo-Hòa, Thiếu-Mai, Kim-Thành, Trường-Ninh; mỗi lời nói, đến uy quyền như đức Thái-tông, Thánh-tông bên Đại-Việt cho đến Nhân-tông, Anh-tông bên Tống; hét ra lửa, mửa ra khói như Kinh-Nam vương, Mộc-tồn Vọng-thê hòa thượng... nhất nhất nghe theo. Mà nay bọn trẻ ba mươi sáu đứa bay, lại bất tuân lệnh. Để ta sang thỉnh Quốc-mẫu giải quyết vụ này.

Công chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên nắm tay vua bà:

– Chị Mỹ-Linh à! Chị có biết rằng mấy thiên sách mà Quốc-phụ soạn để luyện thần cho binh tướng là ý kiến của chị Thanh-Mai không? Bây giờ chị muốn gặp bà ấy, để bà ấy đổi ý ư? Khó lắm. Chị đi tu, hiền lành quá thì cãi không lại bà chằng tinh đâu.

Thấy mặt vua bà không vui, Thanh-Nguyên cười:

– Chị giận đấy à? Chị đi tu thành Phật bà rồi, mà còn nổi cơn A-tu-la hay sao? Báo cho chị biết, không phải ba mươi sáu đứa trẻ đâu, mà em với Tôn Mạnh, không hẹn, cũng đồng ý với chúng. Thế là ba mươi tám người chứ không phải ba mươi sáu đâu.

Tiên vương Bảo-Hòa hỏi Thần-vũ thập anh, Thập-bát Kim-cương:

– Còn các con, các con có theo các tướng kia không?

Hùng Nhân cung tay:

– Kính tiên nương, sư phụ của chúng con dạy rằng: Mũi nhọn dễ gẫy. Phàm làm tướng, thì phải biết lẽ tiến lui. Khi thấy không đánh được, thì ta tạm lui. Khi thấy thắng được địch, thì ta phải đánh đến cùng.

– À, có thế chứ.

Tiên nương Thiếu-Mai hỏi Trung-Thành vương:

– Hiện quân Tống đã tiến tới đâu rồi?

– Trình sư thúc, hiện giờ thì Quách Qùy đã tới Quế-châu. Y cho Lý Thật đem đạo quân hữu đệ nhất xuống đắp lại thành Ung-châu. Hồi ta sang đánh Tống, các trang trưởng khê động Tống ở vùng Tả-giang, Hữu-giang phải theo ta. Nay họ lại theo về Tống, đó là bọn Nùng Quang-Lâm, Nùng Thịnh-Đức coi ải Hạ-lôi. Y lại sai bọn Khúc Chẩn, Đào Bật đem bằng sắc vào các trang động của ta vừa đe dọa, vừa chiêu hàng. Hiện cho đến nay chưa trang động nào hàng Tống cả.

Đến đây tiên nương Bảo-Hòa, Thiếu-Mai cùng công chúa Kim-Thành, Trường-Ninh cáo từ sang dinh Quốc-phụ thăm Quốc-mẫu Thanh-Mai, để thỉnh người ban chỉ cho đám tướng trẻ cứng đầu.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Về vệc dân chúng Thăng-long náo loạn, nguyên do từ đâu?

Trung-Thành vương tâu:

– Nguyên trước đây, mấy công tử họ Dương như Đức-Huy, Đức-Nhàn, Đức-Minh thường ỷ thế cha, anh lêu lổng ăn chơi ở Thăng-long, kết thân với bọn du thủ, du thực thành đảng. Buồn thay trong đám đó, có một tên tương đối thuộc loại tài trí tên Nguyễn Dư, em của Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn-Căn, theo làm quyân sư cho bọn chúng. Hồi Dương gia nổi loạn, bọn này được trọng dụng. Lúc Dương gia bị dẹp, tên Nguyễn Dư bỏ theo bọn Triệu Tiết. Nay Triệu Tiết đem bọn này về làm hướng đạo. Chính Nguyễn Dư đã thư cho bọn dư thủ, du thực ở Thăng-long phao tin bất lợi cho ta. Thần đã bắt những tên tay sai này đem ra chợ chém đầu rồi.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi phu nhân của tướng Nguyễn Căn là công chúa Vũ Thanh-Thảo:

– Chị Thảo à! Trong Hồng-hà ngũ long, chị là người có tài cảm hóa người nhất, sao chị không cảm hóa tên Dư, để đến nỗi truyện xẩy ra như vậy?

– Tâu Thái-hậu! Khi thần làm dâu họ Nguyễn, thì tên Dư đã trưởng thành. Trong nhà, y là em sinh đôi với anh Căn. Thoạt trông, ai cũng tưởng y là anh Căn. Y chuyên giả anh Căn đi làm không biết bao nhiêu truyện đốn mạt. Vô học, bất thuật, y sống nhờ vào các anh. Các anh đều là những người có kiến thức, có tài, có địa vị, nhưng y không theo các anh, mà cúi đầu làm đầy tớ, theo hầu hạ tên lưu manh họ Dương. Vì vậy, thần vô dụng với y.

Bãi triều.

Hôm ấy là ngày Tân Dậu, tháng bẩy, niên hiệu Thái-Ninh thứ năm(7-7 năm Bính-Thìn, DL. 9-8-76)

Tại đồn Ngọc-sơn thuộc châu Vĩnh-an, nằm giữa biên cương Hoa-Việt.

Trấn-viễn thượng tướng quân Gia-viễn hầu Bùi Hoàng-Quan, cùng phu nhân Trần Ngọc-Huệ dậy thực sớm; hai vị vừa ăn điểm tâm vừa bàn luận với nhau. Phu-nhân nói:

– Kể ra, từ hôm chúng ta ra trấn ở đây đã bốn tháng, ngày ngày thao luyện sĩ tốt chờ giặc, chả biết bao giờ giặc mới tới. Em chỉ mong chúng đừng đến là hơn hết.

Hầu phì cười:

– Em nói! Bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Khúc Chẩn, Tu Kỷ, Yên Đạt từng sang Đại-Việt mình nhiều lần, lại biết nói tiếng Việt. Nay chúng được mang quân đánh mình, thì chúng phải biết rằng: Muốn đánh vào Thăng-long, thì phải chiếm cho được cánh trái là vùng Tam-đảo, cánh phải là Ngọc-sơn. Bằng không thì sẽ bị cắt đường vận lương. Anh sợ chúng đánh mình trước là khác.

– Từ ngày em được Linh-Nhân hoàng thái hậu đem về Thăng-long gửi vào trường xin sư phụ, sư mẫu thu làm đệ tử, thấm thoát đã mười ba năm. Nghĩ lại thời gian qua mau thực. Anh thì đã có dịp xử dụng những gì học được. Còn em, thì vẫn phụ tá cho Thái– hậu những vấn đề liên quan đến bộ Lễ như phong thần, cải cách phong tục, chỉnh dốn học phong. Mãi đến nay mới được rời kinh thành ra cầm quân để xử dụng võ công. Sau trận giặc này, đất nước mình thanh bình, em nghĩ chúng mình cáo quan về điền dã, ngao du sơn thủy như Kinh-Nam vương, hay trồng hoa nuôi tằm như sư phụ, sư mẫu em. Đấy mới là hạnh phúc.

– Kể ra em học võ với ông bà Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản, bản lĩnh cao thâm, mà chưa có dịp xử dụng, thì cũng đáng tiếc. Còn anh, anh làm tướng, mà bản sự lại chẳng lằm bao. Nghĩ cũng chán.

– Anh nói! Thời Lĩnh-Nam, công chúa Phùng Vĩnh-Hoa, Thánh-Thiên võ công đâu có cao, mà cũng làm đại tướng đánh những trận kinh thiên động địa? Em nghe Thái-hậu nói: Anh là một tướng có tài dùng binh, tính lại cẩn thận, nên mới chịu cho mình trấn ở đây đấy chứ.

Nghe phu nhân nói, hầu mỉm cười. Từ ngày thánh hôn đến giờ, đã mười ba năm, hầu với phu nhân luôn hợp truyện về quốc sự, có khi bàn luận suốt đêm không ngủ. Hầu chỉ tay lên trời:

– Chim ưng bay tuần phòng trong tư thái an nhàn thế kia, thì giặc chưa tới đâu. Hôm qua tin của công chúa Thiên-Thành báo Quách Quỳ sai Lý Thật mang đạo quân hữu đệ nhất xuống đóng ở Ung-châu mà thôi. Đại quân Tống hiện chưa tới biên giới. Đối diện với ta là Khâm-châu, do Nhâm Khởi trấn nhậm. Y chỉ có quân bảo-giáp, tân đằng hải mới tuyển mà thôi. Nếu như Nhâm muốn đánh ta, thì ít ra cũng phải cả tháng nữa.

Nguyên hôm dự buổi thiết Tinh-triều ở Thăng-long, Thái-tử thiếu-bảo, Trấn-viễn thượng-tướng quân, Gia-viễn hầu, Binh-bộ tham-tri, Khu-mật viện sứ Bùi Hoàng-Quan tình nguyện ra trấn ở châu Vĩnh-an. Khi trao nhiệm vụ cho hầu, Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt nhấn mạnh rằng: Hầu đi lần này, thì chín phần chết mới có một phần sống, cần phải suy nghĩ cho kỹ. Hầu đâu phải là người ngu mà không biết truyện đó? Nhưng hầu nghĩ khác: Ông nội của hầu làm tới tể thần thời vua Thái-tổ, phụ-thân hầu là Bùi Hựu làm tới Thái-sư đời vua Thái-tông, Thánh-tông. Hầu lại được chính vua Thánh-tông ưu ái hỏi vợ cho. Vậy hầu không nhận nhiệm vụ nguy hiểm này thì để cho ai bây giờ?

Phu-nhân của hầu là Trần Ngọc-Huệ, bạn tâm giao thời thơ ấu của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Suốt mấy năm qua, phu-nhân làm việc bên cạnh thái-hậu, như một phụ tá về Lễ-bộ, chỉ quanh quẩn ở Thăng-long. Trong khi đó cháu gọi hầu bằng chú là Bùi Phương-Lý cùng chồng là Trần Di sát cánh bên nhau chỉ huy hiệu Thiên-tử binh Vũ-thắng, dự cuộc Bắc-chinh, thực là oanh liệt; phu nhân nảy ra ý muốn cùng chồng ra trấn biên cương. Bà xin Linh-Nhân hoàng thái hậu chuẩn cho mang đội nữ binh trực thuộc theo giúp chồng.

Biết rằng cho hầu với phu nhân đi lần này, khó mà trở về an toàn, nhưng Thái-hậu lại nghĩ: Việc khó khăn, nguy hiểm này, phi người cực thân, khó ai dám hy sinh cho xã tắc. Vì vậy Thái-hậu thầm nuốt lệ rồi tiễn đi. Hậu cầm tay phu nhân dặn:

– Kể ra, trấn thủ ải địa đầu Vĩnh-an là nơi biên khích, một đi không trở lại này, cần phải có người tâm phúc, tín cẩn. Mà tâm phúc giữa Ngọc-Huệ với Yến-Loan, thì không ai có thể sánh. Mình để Ngọc-Huệ đi, mà trong lòng lại có chỗ bất nhẫn.

Hầu với phu nhân tới nơi, kiểm điểm lại nhân mã, thì biết rằng bao nhiêu hoàng nam đã được mộ vào hiệu binh Đông-triều hết. Vì vậy lực lượng trấn thủ chỉ có hiệu binh này mà thôi. Đô-thống chỉ huy hiệu binh Đông-triều là Lê Huy, viên trương tuần làng Thổ-lội, vốn quen biết với phu nhân từ hồi thơ ấu. Mấy năm trước, Lê Huy chỉ huy hiệu binh địa phương Thiên-trường, mới đổi về coi hiệu Đông-triều hơn năm nay. Vợ Lê Huy là Chu Thúy-Phượng cũng biết võ, trước đây có tuyển mộ một đạo nữ binh hơn trăm người, nay xin mang theo giúp chồng. Chỉ huy phó hiệu Đông-triều là đô-thống Trần Thanh-Nhiên.

Nguyên trước đây Bùi Hoàng-Quan với Trần Thanh-Nhiên là bạn đồng liêu với nhau, mỗi người chỉ huy một hiệu Thiên-tử binh. Cả hai cùng dự cuộc bình Chiêm, vì Hoàng-Quan lập đại công, nên khi hồi triều được phong hầu, chức tới tướng quân. Còn Thanh-Nhiên bị kết án chém đầu vì can tội không cứu đồng bạn. May đâu gặp dịp ân xá, y lại được trở lại làm việc tại Khu-mật viện. Tại đây, y cùng với Minh-Can chuyển tin tức của Thượng-Dương thái hậu cho Tống, bị Mộc-tồn hòa thượng bắt được trói lại giao cho triều đình. Triều đình chuyển cho bộ Hình điều tra. Bộ Hình xét thấy y vô tội, vì y tuân chỉ Dương hậu chuyển thư, mà không biết trong thư nói gì. Vì vậy Linh-Nhân hoàng thái hậu ân xá cho y, rồi đổi ra biên thùy, giáng xuống làm chỉ huy phó hiệu binh Đông-triều.

Lê Huy trình bầy với hầu: Hiệu binh chia làm ba sư, mỗi sư 1.500 người, và một lữ kị 500 người. Sư một đóng tại Như-hồng, trên đất Tống, sư trưởng là Nguyễn Văn-Khan. Trại này do Trần Thanh-Nhiên chỉ huy. Sư hai đóng ở Ngọc-sơn, sư trưởng là Trần Ngọc-Bá. Bộ chỉ huy trấn thủ biên giới Đông-Bắc Đại-Việt, đóng ở đây. Sư ba với lữ kị do chính Lê Huy chỉ huy đóng ở Tiên-yên.

Hầu quyết định:

– Phối trí như vậy là được rồi. Tôi sẽ đóng ở ải Ngọc-sơn.

Hầu nghĩ lại, trước đây Trần Thanh-Nhiên với mình, cùng một đẳng trật, mỗi người chỉ huy một hiệu Thiên-tử binh. Nay vì y thất thế, mà bị giáng truất, nên đối xử với y như một người bạn, hơn là một thuộc hạ. Hầu dẫn phu nhân cùng Lê Huy, Thúy-Phượng, Thanh-Nhiên đi quan sát địa thế, thăm dân tình toàn châu Vĩnh-an rồi trở về thiết kế phòng thủ.

Hầu ban lệnh cho Lê Huy, Thanh-Nhiên và các lữ trưởng:

– Lệnh của Đại-tư-mã Thường-Kiệt truyền rằng: Tống muốn đánh ta cho mau, để còn kéo quân về. Chúng sợ lỡ Hạ từ Tây đánh vào, Liêu từ Bắc đánh xuống. Vậy chúng ta phải cản trở bước tiến của Tống, kéo dài thời gian càng lâu càng tốt. Vậy chúng ta củng cố hàng rào cho cao, hào cho sâu, chông cho nhiều; rồi trấn ở trong. Tuyệt đối không được xuất trại giao chiến. Vì vậy, ta phải dự trù trường hợp quân Tống đông, bao vây lâu ngày. Xin các tướng coi lại các giếng nước trong trại, cho đào hầm chứa lương thảo, vì sợ chúng bắn tên lửa vào đốt nhà, đốt lương. Chư tướng có ý kiến gì không?

Lê Huy thưa:

– Hiện ta có đủ số lương ăn trong ba tháng. Ba đồn của ta đóng ở ven biển. Nếu như bị vây lâu ngày hết lương, ta có thể sai chim ưng cầu cứu với đô-đốc Trần Phúc, chỉ huy hạm đội Âu-Cơ đang trấn ngoài khơi.

– Được.

Đến đó ưng-binh vào trình cho Hoàng-Quan một ống tre, hầu mở ra, đó là tin tức của phò mã Thân Cảnh-Long:

« Phải tối cẩn thận, trấn thủ Khâm-châu là Nhâm Khởi mới được viện hai đạo binh từ Quảng-châu xuống. Có thể y sẽ phụ trách đánh Vĩnh-an ».

Hoàng-Quan đọc tin cho các tướng nghe. Thanh-Nhiên hiến kế:

– Nếu Khởi đem quân đánh qua, thì có thể đi bằng ba đường. Một là qua huyện Tuy-viễn. Đường này y sẽ đụng phải các trang động của Tô-mậu. Một đường qua trại Như-tích, thì đụng phải ải do tôi trấn thủ. Đường thứ ba là dùng thuyền nhỏ chở quân men theo bờ biển, đường này y sẽ đụng phải hạm đội Âu-Cơ của đô-đốc Trần Phúc. Vậy bây giờ, hàng ngày ta phải cho đội Ngao-binh, Thần-ưng tuần tiễu xâm nhập đất Tống để lấy tin tức. Như vậy, nếu như giặc mới chuẩn bị vượt biên, ta đã biết trước. Tôi xin lĩnh nhiệm vụ đó.

Hầu vui mừng:

– Đúng thế. Trần đô-thống từng làm việc ở Khu-mật viện, thì thành thạo vấn đề này. Tôi xin trao đội Thần-ngao, Thần-ưng cho Trần đô thống chỉ huy. Bắt đầu từ ngày mai ta thi hành.

Thanh-Nhiên lĩnh mệnh đi rồi, Thúy-Phượng nói nhỏ với phu nhân Ngọc-Huệ:

– Về cái ông Trần Thanh-Nhiên này, mình phải cẩn thận lắm mới được. Vì lữ của ông gồm toàn đám thị-vệ cung Thượng-Dương với con cháu họ Dương bị đầy ra đây. Nay lại giao đội tế-tác cho ông ta, lỡ ông ta phản thì e trở tay không kịp.

– Khi chị lên đường, Thái-hậu cũng dặn vậy. Nhưng Đại-tư-mã Thường-Kiệt lại nói rằng việc này không ngại, bởi vợ con Thanh-Nhiên với đám thị vệ bị đầy đều ở Thăng-long, nếu chúng phản thì không khác gì chúng giết vợ con chúng vậy.

Chiều hôm đó, Thanh-Nhiên cho một viên trưởng đội tế-tác về báo rằng: Không có dấu hiệu quân Tống xuật hiện trong vòng trăm dặm.

Nhưng vào lúc trời chập choạng tối, thì viên tốt trưởng đi tuần tiễu ở phía Tây về báo cho biết: Cách đây hơn hai ngày, quân Tống từ Cổ-vạn tràn qua đánh Tô-mậu. Vì Tô-mậu chỉ có khoảng nghìn hoàng nam, nên không đầy nửa ngày đã thất thủ. Dân chúng các động xung quanh đang bồng bế nhau đang trên đường chạy về Vĩnh-an.

Lập tức Bùi Hoàng-Quan gọi Lê Huy:

– Đô-thống hãy mang theo một lữ tuần tiễu phía Tây xem sao!

Lê Huy chưa kịp đi, thì quân báo: Vì Tô-mậu thất thủ, nên chiêu-thảo sứ Vi Thủ-An, dẫn tướng sĩ, gia thuộc, cùng hơn năm trăm hoàng nam đến xin nương nhờ.

Bùi Hoàng-Quan cho tập họp binh sĩ, truyền canh phòng doanh trại cho cẩn thận, rồi ông cùng với phu-nhân, dẫn hơn trăm võ-sĩ ra khỏi đồn đón Vi Thủ-An. Từ phía xa, Vi Thủ-An cỡi trên bành voi, đầu bù tóc rối, quần áo xốc xếch đang đi tới. Phía sau hơn trăm hoàng nam cùng với vợ con được thồ trên lừa, ngựa, trâu, bò kêu khóc thảm thiết.

Vi Thủ-An trông thấy Hoàng-Quan, thì bật lên tiếng khóc:

– Bùi huynh ơi! Thôi rồi, Tô-mậu tan nát hết rồi.

Hoàng-Quan ra lệnh cho Lê Huy tiếp cứu đám người chạy loạn. Huy đưa họ đến một bãi cỏ lớn gần bãi biển cho nghỉ ngơi. Còn hầu thì dẫn Thủ-An với vợ con vào trong đồn. Thủ-An kể:

– Hôm qua, quân Tống từ Cổ-vạn kéo sang đến hơn vạn người. Chúng ào ạt xông vào tấn kích. Chúng tôi chỉ cầm cự được nửa ngày, rồi bị tràn ngập. May đội cận vệ dùng cung bắn cản đường, nhờ thế chúng tôi mới đem gia thuộc chạy thoát vào rừng. Chúng tôi đi suốt từ qua đến giờ, người, ngựa đều mệt. Xin huynh cho nương nhờ.

– Được. Vi huynh với quý quyến tạm ở đây ít ngày, tôi sẽ nhờ thủy quân đưa về Thăng-long cho an ninh hơn.

Vừa lúc đó, Trần Thanh-Nhiên tới. Y báo cáo:

– Trình quân hầu, phía Bắc không thấy quân Tống, nhưng phía Tây có một đạo quân rất hùng tráng đang tiến tới, không biết là quân nào?

Vi Thủ-An run rẩy:

– Quân Tống đấy, chúng đuổi theo tôi đấy!

Đến đó đám hoàng nam, đàn bà, trẻ con tỵ nạn của Tô-mậu cùng kêu khóc, tỏ vẻ sợ hãi. Thanh-Nhiên đề nghị:

– Đám người này vừa đói khát, vừa mệt, xin quân hầu cho họ vào trú trong đồn, bằng không quân Tống tới, họ sẽ bị giết chết hết.

Hoàng-Quan gật đầu đồng ý. Ông ra lệnh cho binh sĩ đem đám người Tô-mậu vào trong ải. Còn Thanh-Nhiên, Lê Huy phải lên ngựa phóng như bay về ải của mình. Mọi việc vừa xong, thì quân Tống kéo đến hàng hàng, lớp lớp, reo hò tỏ ý đe dọa.

Bùi Hoàng-Quan bình tĩnh nói với Vi Thủ-An:

– Chà, quân Tống đông thực, dễ thường tới vài vạn chắc! Vi huynh với gia đình cứ tạm nghỉ ngơi, tắm rửa, ăn uống. Tuy tôi chỉ có hơn nghìn binh, nhưng ải này chắc lắm, không dễ gì quân Tống đánh được ngay đâu. Nếu chúng muốn đánh, thì phải chấp nhận một đổi mười.

Hầu đeo kiếm cùng phu nhân đi vòng quanh ải kiểm điểm lại hệ thống phòng thủ. Trong khi quân Tống kéo đến tuy đông, nhưng chúng không đánh đồn, mà cắm trại, rồi nấu cơm ăn, trong tư thế nghi ngơi.

Hầu cười, bảo viên lữ trưởng Thần-nỏ:

– Dường như chúng nghỉ ngơi, chờ thêm viện quân rồi mới công đồn. Hừ! Dễ gì ta cho chúng được yên thân như thế. Em hãy dùng Lôi-tiễn bắn vào chỗ đóng quân của chúng, bắn hết lực, cho chúng kinh hoàng, phải lùi xa ải mình.

Viên lữ trưởng tuân lệnh, sai mồi lửa, rồi bắn Lôi-tiễn. Mũi tên khổng lồ đầu tiên bay lên trời phát ra tiếng vi vu, khi rơi cách đầu người hơn năm trượng thì phát nổ. Lập tức môt trái cầu lửa xanh lè, tím ngắt, đỏ chói lòa con mắt tỏa ra trên không, chụp xuống đầu quân Tống. Chúng la hét oai oái, ôm đầu tìm chỗ nấp, thì tiếp theo hơn mười Lôi-tiễn nữa chụp xuống đầu. Nỏ thần của ải Ngọc-sơn có năm dàn, thì bốn dàn bắn liên châu, và một dàn bắn Lôi-tiễn. Vì vậy sau hơn hai khắc, mới bắn được khoảng trăm mũi. Lôi tiễn tuy không làm cho quân Tống chết nhiều, nhưng doanh trại bị cháy, binh tướng bị phỏng nhiều.

Đến đây, quân Tống rút ra xa, rồi đóng trại. Hoàng-Quan cho hai lữ làm trừ bị nghỉ ngơi, chỉ để lại một lữ ở các vị trí phòng thủ.

Trời tối dần.

Vào khoảng giờ Tuất (19-21 giờ), thì có tiếng quân reo, tiếng ngựa hí, tiếng trống thúc từ phía trại Như-hồng vọng lại. Binh canh báo:

– Trình quân hầu, dường như quân Tống đánh trại Như-hồng, tiểu nhân lên đài cao quan sát, thì thấy lửa tại đây bốc cao tới trời, lẫn vào đó là tiếng quân reo, ngựa hí, nhưng không thấy chim ưng của Trần đô thống báo tin.

Càng về khuya, tiếng reo hò tiếng trống thúc càng nhiều hơn. Hoàng-Quan leo lên đài cao quan sát, trong bóng đêm, chỉ thấy lửa trong trại Như-hồng bốc lên ngút trời. Lát sau, tiếng reo càng vọng lại gần hơn, rồi một đoàn quân Việt vừa đánh, vừa rút về phía Ngọc-sơn. Chính Thanh-Nhiên với viên sư trưởng Nguyễn Văn-Khan đi cản hậu. Phía sau quân Tống đuổi theo rất gấp.

Viên sư trưởng Trần Ngọc-Bá kêu lên:

– Có lẽ ải Như-hồng bị chiếm, quân mình rút chạy về. Xin quân hầu mở cửa đồn cho họ vào.

Từng đánh dư trăm trận, kinh nghiệm có thừa, Hoàng-Quan truyền cho đội cung thủ, hai dàn Thần-nỏ dàn ra trước cổng trại, lại cho đội đao thủ dàn phía sau đề phòng, rồi truyền mở cổng.

Đám bại binh từ Như-hồng về vào khoảng hơn hai trăm tên. Thấy cổng ải mở, chúng chạy ùa vào. Thanh-Nhiên với viên sư trưởng Nguyễn Văn-Khan nhảy theo. Trong khi phía sau, quân Tống bám sát. Đội cung thủ buông tên, rồi nỏ thần bắn loạt đầu. Đám quân Tống đi đầu ngã lổng chổng.

Đám bại binh Như-hồng vừa vào trong ải, thì nhanh nhẹn chia làm hai vung đao tấn công đội cung thủ, đội xạ thủ nỏ thần. Bị tập kích bất ngờ, đám cung thủ hét lên kinh hoàng, mạnh ai người ấy phản công. Nhờ đám cung thủ bị rối loạn, quân Tống tràn vào trại như nước vỡ bờ. Sư trưởng Trần Ngọc-Bá quả là người gan dạ, bình tĩnh. Y điều động hai lữ trừ bị ra phía trước cổng. Một lữ vây đánh đám bại binh Như-hồng, một lữ đánh đám quân Tống lọt vào trong trại.

Đội cung thủ lại được rảnh tay, bắn cản không cho quân Tống tiến đến cổng trại. Thành ra đám binh Tống trong trại bị cô lập với bên ngoài.

Thanh-Nhiên, Nguyễn Văn-Khan dùng kiếm đâm Hoàng-Quan. Hoàng-Quan kinh hãi, ông tung người lên cao, trong khi tay rút kiếm chĩa xuống gạt kiếm đối thủ. Trong ải náo loạn cả lên. Tiếng đao chém nhau phầm phập, tiếng người kêu gào thảm thiết vì đau đớn.

Đội đao thủ cuối cùng của đồn Ngọc-sơn đã được tung ra nhập cuộc, cùng vây đánh đám bại binh Như-hồng. Giữa lúc đó, trong dinh trấn thủ, lửa bốc lên cao ngụt trời, rồi có tiếng reo:

– Gian tế! Gian tế.

– Phản! Phản!

Hoàng-Quan vừa đấu với Nguyễn Văn-Khan, tên Thanh-Nhiên, vừa đưa mắt nhìn vào trong dinh tổng trấn: Phu nhân cùng đám vệ sĩ, nữ binh đang giao chiến với Vi Thủ-An và đám hoàng nam Cổ-vạn.

Nguyên Ngọc-Huệ là đệ tử của Tôn Đản, Cẩm-Thi, bản lĩnh hơn chồng nhiều. Trong khi biến cố xẩy ra ở cổng, thì bên trong dinh, Vi Thủ-An với hơn trăm hoàng nam hò hét rút vũ khí đánh từ trong ra. Tuy bị đánh úp, nhưng đội nữ binh nhanh nhẹn phản công. Họ chỉ có hơn trăm người, nhờ luyện tập nhiều, võ công cao, nên trong chốc lát, đám hoàng nam Tô-mậu bị đánh bật ra khỏi dinh. Vi Thủ-An thấy Ngọc-Huệ đứng đốc chiến, y khinh thường, cho rằng bà không biết võ, y dí kiếm vào cổ bà, bắt ra lệnh cho đám nữ binh buông vũ khí.

Bị bất ngờ, Ngọc-Huệ cười nhạt, rồi vờ ngã chúi về trước. Bà trầm người xuống cho kiếm Thủ-An qua đầu, rồi quét chân một cái, khiến y ngã úp sấp về trước. Bà rút kiếm ra chiêu Vân hoành Tản-lĩnh, đầu y bị bay khỏi cổ. Giải quyết xong đám nội phản, Ngọc-Huệ dẫn đám nữ binh ra tiếp chiến với chồng, đúng lúc quân Tống rút đi hồi chiều, bây giờ đã trở lại. Chúng reo hò, vác lá chắn bằng rơm cản tên, đang phá các lớp rào. Ngọc-Huệ đứng nhìn chồng đấu với Thanh-Nhiên, Văn-Khan, chỉ ngang sức. Muốn giải quyết chiến trường cho mau, bà lách tay phải bắt lấy kiếm Thanh-Nhiên, tay trái điểm huyệt đại-trùy của y. Y ngã lăn ra liền. Thuận tay, bà thích một mũi kiếm vào ngực tên Khan. Y vung kiếm gạt. Choang nột tiếng, kiếm của y vuột khỏi tay bay ra xa. Bà điểm vào huyệt đản trung của y. Y trầm người xuống tránh, thành ra tay bà điểm trúng mắt phải của y. Con ngươi y lòi ra ngoài. Y ngã ngửa về sau.

Trần Ngọc-Bá sai trói hai gian nhân lại, đem vào dinh thẩm vấn. Bấy giờ Ngọc-Huệ mới quay lại quan sát trận tuyến: Quân Tống đã lọt được vào hàng rào thứ ba, nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt, bị nỏ thần bắn chết la liệt, nên đành rút lui.

Trại Ngọc-sơn trở lại yên tĩnh.

Sau khi thẩm vấn tù binh, Trần Ngọc-Bá trình vời Hoàng-Quan:

« Khi ra trấn ở đây, Thanh-Nhiên đã liên lạc với Tống. Khu-mật viện Tống cho y biết viên sư trưởng Nguyễn Văn-Khan trước đây là thị vệ trong cung Thượng-Dương, cũng là người của Thiên-triều. Hai người được đặt dưới quyền viên trấn thủ Khâm-châu là Nhâm Khởi. Khởi dặn hai người phải tiềm ẩn, chờ ngày quân Thiên-triều đánh sang sẽ làm nội ứng. Mấy hôm trước, Khởi sai người truyền lệnh: Vi Thủ-An hàng Tống, sẽ làm khổ nhuc kế, để có thể lọt vào trại Ngọc-sơn, trong khi Nhiên với Khan cũng phải giả thua chạy về. Thế rồi nội ứng, ngoại hợp đánh úp trại Ngọc-sơn. Không ngờ Hoàng-Quan quá kinh nghiệm chiến đấu, hiệu quân Đông-triều lại can đảm, thiện chiến, nên mưu không thành ».

Hoàng-Quan kiểm điểm lại: Hơn hai trăm quân Tống giả làm bại quân Như-hồng bị giết hết, đám người của Vi Thủ-An cũng bị giết sạch. Quân Tống chết phơi thây ngoài hàng rào kể đến mấy nghìn. Điểm lại, quân thủ ải cũng chết mấy trăm.

Viên sư trưởng Trần Ngọc-Bá trình:

– Thưa quân hầu, mình có khoảng nghìn rưởi binh, nay vừa chết, vừa bị thương hết phân nửa, vậy ta có nên thủ đồn, hay rút về Tiên-yên?

Hầu chưa kịp trả lời, thì trống thúc vang dội, quân Tống đã trở lại. Dưới ánh sáng của đuốc, hầu nhìn rõ: Quân tấn công lần này có cả quân Việt thuộc sư một ở Như-hồng hàng Tống, hoàng nam Tô-mậu. Chúng dùng những tấp liếp nhồi rơm làm lá chắn chống tên lăn vào đem đoản đao chặt rào.

Ngọc-Huệ than với chồng:

– Cơ chừng này chúng thí quân để chiếm cho được đồn đây. Đánh nhau từ chiều đến giờ, chúng chết có tới mấy nghìn, mà nay chúng còn đông dường này, thì ta chỉ có cách tử chiến.

Phu nhân cầm kiếm đốc chiến phía Tây, Ngọc-Bá đốc chiến phiá Nam, hầu đốc chiến phía Bắc.

Quân Tống thúc trống, reo hò lăn xả vào tấn công. Quân Việt dùng tên lửa bắn ra, những tấm liếp nhét rơm bị bốc cháy. Hai bên giằng co đến hơn ba khắc, quân Tống chết nhiều quá lại phải rút ra ngoài, để lại không biết bao nhiêu xác chết nằm vắt vẻo trên hàng rào bên những lá chắn bốc cháy sáng rực trong đêm.

Nghỉ hơn giờ, quân Tống lại thúc trống tấn công, quân Việt lại bắn ra. Giữa lúc chiến trận nghiêng về phía quân Việt thì viên đội trưởng cung thủ báo cáo:

– Trình quân hầu, chúng ta đã hết tên rồi, xin hầu định liệu xem có nên rút lui không?

– Không! Chúng ta quyết tử chiến.

Đến đó phu nhân bị trúng một mũi tên vào bụng. Sợ binh sĩ trông thấy, bà vung kiếm cắt dứt chuôi tên, lấy dây lưng buộc bụng lại, tiếp tục đốc chiến. Quân Tống đã tràn vào trong đồn, chúng reo hò dùng đao giáp chiến với quân Việt.

Phu nhân cùng đám nữ binh vừa đánh vừa lùi về phía trước, thì gặp hầu cùng đám vệ sĩ cuối cùng cũng đang chiến đấu tuyệt vọng. Hầu với phu nhân đứng đâu lưng vào nhau, múa kiếm như mấy trôi, như sóng dạt, quân Tống xông vào người nào, bị giết người đó.

Thình lình có tiếng quát:

– Lùi ra!

Quân Tống lùi ra ngoài. Quân Việt cũng thu chiêu, đứng thành vòng tròn, tay lăm lăm vũ khí.

Có hai người cầm đao nhảy vào vòng chiến, đó là Trần Thanh-Nhiên với Nguyễn Văn-Khan. Nhiên tấn công hầu, Khan tấn công phu nhân. Biết quân Tống đã vào nhà tù thả hai tên này ra. Không nói, không rằng, phu nhân phóng một chiêu kiếm thực thần tốc vào ngực tên Khan, y gạt kiếm của bà; nhưng không kịp, kiếm đã xuyên qua ngực y. Y loạng choạng ngã xuống, máu từ ngực phun ra có vòi. Trong khi hầu với Nhiên đang chiết chiêu.

– Ngừng tay!

Thanh-Nhiên thu kiếm lùi lại.

Một tướng Tống bước tới, y chĩa mũi kiếm xuống đất, rồi bái phu nhân:

– Tại hạ Nhâm Khởi, tổng trấn Khâm-châu, xin được ra mắt quân hầu và phu nhân.

Tuy mệt mỏi, nhưng hầu cũng đáp lễ:

– Kính chào Nhâm đại nhân.

Nhâm Khởi chỉ xác quân Việt nằm la liệt khắp nơi:

– Sự đã đến như thế này thì quân hầu hàng đi thôi. Đánh nữa cũng vô ích mà thôi. Trọn đời họ Nhâm này, chỉ biết kính trọng những bậc anh hùng trung liệt như quân hầu. Nếu quân hầu đầu hàng, thì cái tước hầu, tước bà cũng không đến nỗi mất.

Hầu lắc đầu, chưa kịp trả lời thì phu-nhân quay lại hỏi hơn ba chục nữ binh, năm chục binh Việt còn sống sót:

– Nhâm đại nhân muốn chiêu hàng. Các em nghĩ sao?

– Không hàng!

– Chúng em chỉ biết chết chứ không biết hàng.

Phu nhân cung tay tạ Nhâm Khởi:

– Đa tạ nhã ý quân tử, chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên thì chỉ biết chết chứ không biết hàng.

Vừa dứt lời bà đưa kiếm vào cổ Thanh-Nhiên. Y kinh hoàng lộn người ra sau tránh, nhưng mũi kiếm đã trúng ngực y, đúng vào miếng hộ tâm kính đến choang một tiếng.

Đám tiễn thủ Tống vội dương cung bắn vào phu nhân để cứu Nhiên. Nhưng phu nhân đã quyết chết ngày hôm này, nên thay vì dùng kiếm gạt tên, bà chuyển mũi kiếm thúc vào sườn y, người y đứt làm hai khúc.

Nhâm Khởi hô quân Tống tấn công. Đám nữ binh, vệ sĩ lại lăn xả vào chém giết. Giữa lúc cuộc chiến đang ác liệt, thì một mũi tên trúng giữa ngực Hoàng-Quan, hầu ngã xuống. Phu nhân thấy chồng ngã, bà hơi phân tâm một chút, bị trúng một mũi đao vào bụng, ruột lòi ra ngoài. Bà nghiến răng dùng tay trái nhét ruột vào bụng, tay phải vẫn múa kiếm như mây bay, như gió lốc. Bà đi đến đâu, quân Tống ngã tới đó.

Dưới ánh đuốc lờ mờ, binh tướng Tống nhìn bà chiến đấu như một con sư tử, đều nhảy lùi ra xa, đứng nhìn. Một tay ôm bụng, một tay chống kiếm, bà đứng thở dốc, nhìn bên mình: Phu quân chết nằm đó, đám nữ binh cũng không còn một người.

Nhâm Khởi là tiến sĩ xuất thân, y cực kỳ kính trọng những bậc trung quân tuẫn quốc. Y cung tay hưởng bà:

– Phu nhân! Ngừng tay đi thôi. Tôi hứa băng bó, chữa trị cho phu nhân, rồi đưa phu nhân với thi hài hầu về Thăng-long. Phu nhân chiến đấu như thế cũng đủ rồi, khí phách của phu nhân e rằng cao tới trời xanh.

Ngọc-Huệ thở hổn hển:

– Đa ta đại nhân. Vợ chồng tôi sống với Ngọc-sơn, thì chết với Ngọc-sơn. Nay Ngọc-sơn bị chiếm, tôi còn mặt mũi nào về nhìn chúa tôi nữa?

Tay vung lên, kiếm đâm suốt qua ngực, bà ngã xuống. Đám binh tướng Tống từng trải qua nhiều cuộc chiến đấu kinh hồn động phách, nhưng chưa bao giờ họ thấy một thiếu phụ sắc nước hương trời chiến đấu anh dũng đến như vậy. Bất giác, nào tướng, nào binh, đều hướng bà vái ba vái.

Bấy giờ là giờ Mão ngày Quý-Hợi, tháng bẩy, mùa Thu, niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt (9-7 năm Bính-Thìn. DL. 11-8-1076) bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống.

Sau khi Bùi Hoàng-Quan với phu nhân tuẫn quốc, Nhâm Khởi sắm quan quách, mai táng bên khe suối ở đồn Ngọc-sơn, trên mộ khắc tấm bia đá có chữ :

« Lĩnh-Nam nghĩa sĩ Bùi, phu phụ chi mộ ».

Tin Ngọc-sơn thất thủ đưa về Thăng-long, Linh-Nhân hoàng thái hậu, Thái-Ninh đế truyền triều đình để tang, làm lễ tế vọng, truy phong cho hầu tước:

Trung-vũ, Anh-duệ, Tráng-tiết đại vương.

Phu nhân được phong:

Nhu-mẫn, Đoan-huệ, Anh-văn công chúa.

Truyền phối thờ vào thái-miếu, cho nên sau này ngoài dân chúng không có đến thờ của hai ngài. Riêng công chúa thì đời sau phối thờ với Linh-Nhân hoàng thái hậu. Cho đến nay (1995) trải 919 năm, nếu những con dân Việt đọc được những giòng này, mà còn tưởng nhớ huân nghiệp của công chúa, xin viếng thăm các đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu (ghi ở mục 3.2 phần tựa, quyển 1, NQSH) sẽ thấy:

– Tượng Linh-Nhân hoàng thái hậu ngồi trên chiếc ngai ở giữa trong y-phục Thái-hậu mầu vàng.

– Hai bên là tượng của sáu bà, trong y-phục công-chúa. Áo choàng, khăn tuy giống nhau, thêu hoa văn giống nhau, nẹp giống nhau, nhưng mầu khác nhau.

Đền thờ Linh-Nhân hoàng Thái-hậu ở Dương-xá, Gia-lâm, Hà-nội


Phía trước bàn thờ với chữ đại tự:
THÁNH CUNG VẠN TUẾ

Tượng Thái-hậu ngồi trên ngai, trong y phục vàng


3. Bên trái tượng Thái-hậu: Tượng mặc áo xanh khuất sau cột là bà Nguyễn-thị Trinh-Dung, vương phi Trung-thành vương. Tượng mặc áo đỏ là Công-chúa Thiên-Thành. Tượng mặc áo trắng là Nhu-mẫn đoan duệ, anh văn công chúa Trần Ngọc-Huệ



Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI

Không thù, chẳng oán



Chiến thắng Ngọc-sơn được ngựa trạm báo về An-Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản chiêu thảo sứ kiêm tuyên-phủ sứ Kinh, Hồ, Quảng ở Quế-châu. Đây là chiến thắng đầu tiên của quân Tống. Quách Quỳ vội sai ngựa lưu-tinh phi bất kể ngày đêm, tâu về triều. Ngày Bính-Tý, tháng 9, niên hiệu Hy-Ninh thứ 9 (23-9, Bính-Thìn. DL.23-10-1076), vua Tống họp đại thần ở Thiên-chương các để công bố tin mừng. Đặc biệt buổi hội này còn có Tuyên-Nhân hoàng thái hậu (vợ vua Anh-tông) buông rèm thính chính. Bởi hậu đã cùng vua Anh-tông, Dư Tĩnh, Lý Hiến, đại sư Pháp-Nhẫn nam du, hiểu rất rõ tình hình Giao-chỉ. Sau khi đọc biểu tâu của Quách Quỳ, chính tể-tướng Vương An-Thạch thảo tờ chiếu gửi cho Quách Quỳ, chỉ dụ rằng:

« Binh mã đi An-Nam chẳng bao lâu nữa sẽ ra khỏi nước. Phải làm một cái gì để gia tăng sĩ khí. Nhâm Khởi đánh được trại Ngọc-sơn, tuy công không lớn, nhưng cũng là lần đầu phấn khích sĩ tốt. Ai lập công, phải thưởng ngay, rồi tâu lên, ta sẽ phong tặng, bố cáo cho sĩ dân biết ». (TTTTGTB, Hy-Ninh 9, tháng 9, Bính-Tý).

Hữu tể tướng Ngô Sung công kích:

– Với một cái đồn Ngọc-sơn cô lập ở biên thùy, quân đồn trú chưa quá nghìn rưởi, lại là quân thuộc hiệu Đông-triều, tức quân địa phương; thế mà Nhâm Khởi hy sinh mất ba nghìn quân Cổ-vạn, hơn nghìn quân thuộc hiệu Đông-triều của tên Thanh-Nhiên đầu hàng, một vạn hơn quân Quảng-Đông, tức một đổi mười. Như vậy mà cũng gọi là chiến thắng ư? Nếu nay triều đình tuyên chỉ khen thưởng, thì muốn thắng mười lăm vạn quân Giao, ta phải hy sinh một trăm năm mươi vạn binh ư?

Tuyên-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Quân hùng hay hèn, căn cứ vào ba điều. Một là quân khí, hai là quân kỷ, ba là quân tâm. Một cái đồn nghìn rưởi quân Việt, mà ta hy sinh vạn rưởi người, như vậy là chiến thắng lớn rồi. Vì sao? Nghĩ cho cùng, người Việt bị ta đuổi từ Kinh, Hồ xuống Nam, mấy nghìn năm nay, uất khí kết đọng; bây giờ ta đánh họ, họ bị cùng đường, thì quân khí phải mạnh. Điều này quân ta không thể so với quân Việt. Về quân kỷ, thì Khai-Quốc vương đã để ra cả đời, lấy chủ đạo của tộc Việt soạn ba chương sách luyện thần cho binh tướng. Binh tướng Việt chỉ có tiến mà không có lùi. Nếu có kẻ nào lùi, sau này, đồng đội, hương đảng chế diễ, xấu hổ, rồi cũng đến phải tự tử. Điều này quân ta lại cũng không bằng quân Việt. Ba là quân tâm, thì với cái đồn nhỏ ở biên thùy, mà Linh-Nhân hoàng thái hậu hy sinh bằng cách thuận cho bạn thân nhất là Trần Ngọc-Huệ theo chồng ra trấn thủ. Ta nghe nói, Ngọc-Huệ luyện được hơn trăm nữ binh, gả cho nam binh, rồi đem chúng theo để cùng chiến đấu; cặp vợ chồng này lại ăn cùng, nghỉ cùng với binh tướng. Hỏi sao quân tình không mạnh? Nhâm Khởi đánh được đồn Ngọc-sơn phải coi là chiến công lớn vậy.

Triều Tống đều biết Tuyên-Nhân hoàng thái hậu nhũ danh Cao Thái-Vân là người có cái học bao la, uyên thâm cùng cực, võ công bà cao siêu; mỗi lời luận bàn của bà đều chính trực, phân minh. Ngặt một điều, bà sùng Nho, lại trọng những văn gia, thi sĩ, mà những người này hầu hết chống đối Tân-pháp của Vương An-Thạch, nên bà không thích y.

Hy-Ninh đế bênh An-Thạch, nói với Ngô Sung:

– Đúng như mẫu hậu chỉ dụ, đây là chiến thắng. Còn quân ta chết nhiều, chết ít, còn tùy hoàn cảnh địa phương. Bổn phận đấng quân phụ là phải cổ võ chiến công. Khanh không nên bàn nữa.

Tiếp theo Vương An-Thạch tâu trình về hệ thống phòng thủ của Đại-Việt bằng ba phòng tuyến: Phòng tuyến một dùng trang động làm mỏi mệt, kéo dài thời gian của quân Tống. Phòng tuyến hai là bốn ải kiên cố Ngọc-sơn, Đâu-đỉnh, Quyết-lý, Giáp-khẩu làm tiêu hao nhân lực. Phòng tuyến ba là chiến lũy Vạn-xuân, Tam-đảo, Như-nguyệt. Ngoài ra, còn bốn hạm đội hùng hậu luôn đe dọa lãnh hải từ Khâm, Liêm đến Quảng-châu.

Cuối cùng y kết luận:

– Ngọc-sơn là ải vừa nằm trên phòng tuyến một lẫn phòng tuyến hai. Nay ta chiếm được, thì có thể dùng thủy quân vượt sông Bạch-đằng đánh vào Thăng-long.

Nghe An-Thạch nhắc đến những địa danh Chi-lăng, Bạch-đằng, trên gương mặt Hy-Ninh đế cho đến các đại thần đều hiện ra những nét không vui. Bởi đó là những chiến trường cổ, mà quân Trung-nguyên đã để lại hàng trăm vạn bộ xương. Biết thế Vương An-Thạch tâu:

– Thời vua Thái-tông, ngài ủy việc Nam chinh cho Hầu Nhân-Bảo, Quách Quân-Biện, Triệu Phụng-Huân. Chư tướng, chư quân thiếu chuẩn bị, lại nữa lương thiếu, quân ít; các tướng vội vã nên mới bị thất bại. Còn lần này, ta ra quân có chính nghĩa, quân đông gấp đôi, lương thực dư thừa, lại do triều đình đứng chủ động, thì há sợ bọn Giao-chỉ kia sao? Trước kia ta ra quân chỉ với mục đích nhắm vào triều đình chúng, nên bỏ qua các khê động. Lần này ta chiếm Giao-chỉ, đặt làm quận huyện, nên phải thanh toán cái nút chặn này trước.

An-Thạch đem tấu chương của Triệu Tiết ra dọc, rồi phân tích:

– Nay Triệu Tiết hiến kế: Trước hết phải giải quyết xong 207 khê-động của Việt đã. Bằng không, quan quân tiến xuống Chi-lăng, chúng có thể thừa hư đánh sang Ung-châu, hay chặn đường vận lương. Đầu tiên ta dùng lợi nhử chúng: Họ nào đầu hàng, thì động trưởng được phong chức tước, dân chúng năm năm miễn thuế, binh dịch. Còn động nào chống lại, thì sẽ giết đi vài động để thị oai.

Y nhìn nhà vua:

– Thấy rằng nếu ty Chiêu-thảo chiêu dụ được khê động nào, rồi tâu về triều để phong chức tước, e lâu quá. Nên năm trước, triều dình gửi cho Quách Quỳ một trăm bằng để trống tên. Hễ động trưởng nào đầu hàng, thì điền tên vào, rồi nói rằng, đã tâu về triều, được triều đình cấp bằng phong thưởng. Hiện các tướng Đào Bật, Khúc Chẩn, Yên Đạt, Tu Kỷ là những tướng biết nói tiếng Việt đã đi cùng những người của ta đến tận các khê động chiêu dụ chúng.

Y nhìn Ngô Sung:

– Cái khó khăn nhất là tụi thủ lĩnh. Thủ-lĩnh Quảng-nguyên là Lưu Kỷ cai quản 50 khê động, thủ lĩnh Môn-châu là Hoàng Kim-Mãn cai quản 40 khê động, thủ lĩnh Lạng-chậu Thân Cảnh-Long cai quản 117 khê động, thủ lĩnh Tô-mậu là Vi Thủ-An cai quản 20 khê động. Vi Thủ-An đã theo hàng, rồi cùng với Nhâm Khởi đánh Ngọc-sơn, nhưng y tử trận.

Ngô Sung nhăn mặt:

– Tôi biết, vừa rồi những bọn này từng mang quân sang phạm cảnh, mà bây giờ ta chiêu dụ chúng. Liệu chúng có theo không?

– Không khó! Trước hết ta chiêu dụ từng khê động nhỏ, như tằm ăn dâu. Khi các khê động nhỏ theo ta, thì tụi thủ lãnh trơ như con cá thối, chỉ còn bộ xương. Bấy giờ chúng không hàng cũng không xong. Khi giải quyết xong 207 khê động rồi, ta dùng đại quân đánh thẳng vào Chi-lăng, Bạch-đằng, trả cái thù từ thời vua Thái-tông.

Tuyên-Nhân hoàng thái hậu tỏ vẻ lo lắng:

– Ta nghe người trấn Lạng-châu là phò-mã Thân Cảnh-Long với vợ là công-chúa Thiên-Thành, thì không hy-vọng gì họ đầu hàng đâu. Nếu quân ta đánh Thăng-long, chỉ có con đường độc nhất để tiến quân, mà con đường này phải qua Lạng-châu, thì trận chiến sẽ khủng khiếp lắm. Sau Lạng-châu là ải Quyết-lý, do em gái, em rể Kinh-Nam vương tử thủ. Ta sợ giờ này, có khi vương đang ở bên cạnh em gái để chỉ dạy cho ả cách chống quân ta, mới là điều đáng sợ.

Nghe nói đến Kinh-Nam vương, trên từ Hy-Ninh đế cho tới văn võ bách quan đều cảm thấy phát ớn da gà, bất giác mọi người cùng đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn xung quanh; người người đều có cảm giác như Ưng-sơn đang vung kiếm chặt đầu, giết cả nhà, cho đến con chó, con mèo cũng không từ.

– Phía sau Quyết-lý là Chi-lăng.

Thái-hậu tiếp: Ải hiểm trở này do vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi trấn thủ. Y là người mưu trí, có tài dùng quân khiến cho đối thủ không biết đâu mà lường. Dưới quyền hai người là hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ. Ta nghe, trong trận Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, mỗi Thiên-tử binh này chiến đấu như một con sư tử. Vậy triều đình phải tìm kế sách vẹn toàn, chứ không thể tin vào việc chiêu hàng, mà hỏng việc.

Tuyên chỉ xong, Thái-hậu hồi cung.

Nhà vua ban chỉ:

– Trong khi ta tìm kế vạn toàn, thì hãy tạm cho quân xuống Nam đã. Đại quân hiện ở Quế-châu, vậy hãy ban chỉ cho Quách Quỳ rằng: Hãy chuyển đại quân xuống Ung-châu ngay.

Đến đó, bãi triều.

Nhà vua vẫy tay gọi An-Thạch theo vào nội cung. Khi không có ai bên cạnh, nhà vua tuyên chỉ:

– Vương tể tướng. Khanh hãy tuyển lấy mấy võ sĩ, âm thầm xuống Ung-châu duyệt xét tình hình, rồi về tâu lại cho trẫm. Nhớ, phải tuyệt đối giữ bí mật, đến vợ con cũng không cho biết. Thôi khanh lui, nội trong ba ngày phải lên đường ngay.

Nhà vua tưởng dụ cơ mật này chỉ có mình với Vương biết. Ông quên mất viên Tổng-lĩnh thị-vệ Lý Hiến theo hộ vệ bên cạnh. Từ lâu rồi Lý Hiến căm thù Vương An-Thạch, chỉ chờ dịp trả thù. Ngay chiều hôm đó, y đến cung Tuyên-Nhân, mật tấu với Tuyên-Nhân hoàng thái hậu (Vợ vua Anh-tông).

Nguyên do Hiến thù Thạch như sau: Vốn có võ công cao siêu, lại lầu thông binh pháp, nên trước đây Lý Hiến từng được Tần-vương Triệu Thự với vương phi Cao Thái-Vân cho tháp tùng sang Đại-Việt. Sau khi nhà vua lên ngôi, y nghiễm nhiên trở thành người hiểu các vấn đề Nam thùy bậc nhất trong hậu cung, cùng bàn bạc với hoàng hậu. Nay nhà vua băng, hoàng hậu thành thái hậu, y được thái hậu dùng làm tai mắt riêng. Vì vậy, y hy vọng được cầm quân đánh Đại-Việt, khi trở về sẽ được lĩnh tước hầu, tước công. Nào ngờ y bị Vương An-Thạch bênh Triệu Tiết, tâu với nhà vua bãi chức y, gạt y ra khỏi việc cầm quân. Từ đấy, y tìm đủ mọi cách trả thù Thạch. Y bỏ ra không biết bao nhiêu tiền bạc để thu nhặt tin tức xấu về Tân-pháp, rồi tâu lên Tuyên-Nhân hoàng thái hậu.

Hôm nay y thu được khá nhiều tin đặc biệt, trong đó có việc nhà vua sai An-Thạch mật công cán Nam thùy, y đem tâu với thái hậu. Y đâu ngờ trong khi y tâu, lẫn trong đám cung nga phục thị thái hậu, lại có sự hiện diện của hai nữ sứ giả do Linh-Nhân hoàng thái hậu sai sang dâng lễ vật mừng sinh nhật ngài.

Nguyên trước đây, khi vua Anh-tông còn là thái tử, tước phong Tần-vương. Vương cùng vương phi Cao Thái-Vân nam du mật nghiên cứu tình hình Đại-Việt. Trong lần đó vương với vương phi đã dạy võ, ban vàng cho cô thiếu nữ cùng khổ Lê-thị Minh-Đệ ở chùa Từ-quang. Khi Minh-Đệ thành Ỷ-Lan thần phi, thì vua Anh-tông băng hà. Phi tưởng nhớ đến việc nhà vua với hậu chiếu cố tới phi. Phi xin vua Thánh-tông cho chịu tang, làm lễ tế vọng. Từ đấy, hàng năm, đến ngày giỗ vua Anh-tông, ngày sinh nhật của Thái-hậu, Ỷ-Lan đều gửi sứ sang dâng lễ vật. Nay Ỷ-Lan thành Linh-Nhân hoàng thái hậu, đang bận rộn điều khiển cuộc chiến giữ nước, nhưng hậu vẫn không quên ngày sinh nhật của sư mẫu. Hậu sai phu nhân của Vân-ma thượng tướng quân Trần Ninh là Trần Ngọc-Hương làm chánh sứ; phu nhân của Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi là Trần Phương-Quỳnh làm phó sứ sang dâng lễ vật. Thái-hậu thấy hai nữ sứ giả xinh đẹp, võ công cao thâm, lầu thông kinh, sử, tử tập của Trung-quốc, ngài cực kỳ yêu mến. Hậu giữ hai phu nhân ở trong cung đàm đạo mấy ngày.

Ngay chiều hôm đó, Trần Ngọc-Hương xin phép Tuyên-Nhân hoàng thái hậu ra ngoài kinh thành để tìm mua một số sách Trung-quốc. Sợ Khu-Mật viện Tống cho người theo dõi, phu nhân đi khắp các hiệu, mua không biết bao nhiêu sách mà kể, rồi âm thầm ra bến sông. Ở bến sông có con đò chờ sẵn, chở phu nhân ra giữa giòng rồi áp vào con thuyền lớn. Trong con thuyền đó đã có mười người ngồi chờ. Mười người đó là đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh; đại hiệp Trần Bảo-Dân, phu nhân là Khấu Kim-An; sáu người trong Thần-vũ thập anh là vợ chồng Hoàng, Thanh, Huyền. Ngọc-Hương trình bầy tỷ mỉ từ những xung đột của các đại thần Tống cho đến việc Tuyên-Nhân hoàng thái hậu vốn sùng Nho, yêu thơ văn. Thái hậu muốn hủy bỏ Tân-pháp, cách Vương An-Thạch và đồng bọn; dùng Ngô Sung, Vương Khuê, Phùng Kinh. Hậu lại muốn gọi các văn thi sĩ danh tiếng của Tống như Tô Thức, Tô Triệt, Tần Quan, Hoàng Đình-Kiên đang bị lưu đầy về triều.

Trần Bảo-Dân cùng hai đại sư, Thần-vũ lục anh, Ngọc-Hương bàn kế hoạch chi tiết, sao khiến cho Vương An-Thạch mệt mỏi, đưa đến tâm thần hỗn loạn, rồi nhà vua cách chức y. Xong việc, Ngọc-Hương trở về cung Tuyên-Nhân với hàng trăm bộ sách.

Hôm sau, Vương An-Thạch nhập triều bàn việc Nam thùy với Hy-Ninh đế, qua giờ Ngọ mới lên xe về dinh. Phía trước y có năm mươi kị mã, phía sau có năm mươi võ sĩ cầm đao hộ vệ. Xe vừa ra khỏi Hoàng-thành, thì thình lình có tiếng kêu rắc, rắc rồi bánh xe bên trái văng ra xa. Xe lật nhào. Viên gia tướng Đô Kinh nhấp nhô một cái, đã nhảy lên ôm lấy Thạch. Y dùng một thức khinh thân vọt mình như chiếc pháo thăng thiên, rồi đáp xuống vệ đường an toàn.

Chiếc xe lật nhào, đè lên người tên mã phu. Hai con ngựa cất cao vó trước hí lên inh ỏi. Đám vệ sĩ vội lật xe lại, cứu tên mã phu ra, rồi lấy ngựa cho Thạch cỡi.

Về tới dinh, Thạch nổi lôi đình, truyền gọi viên gia tướng Đô Kinh hỏi:

– Người đã điều tra xem tại sao trục xe lại gẫy không?

– Trình quốc công, tiểu tướng đã xem xét rất kỹ: Gỗ làm trục xe là loại gỗ trắc còn mới, không có vết tích bị chặt, bị cưa, thế mà một khúc bị nứt ra mới kỳ lạ. Tiểu tướng thẩm vấn tên mã phu, thì từ sáng đến giờ, không có ai lại gần xe cả. Kết lại, chẳng may trục xe của quốc công làm bằng gỗ, trúng phải một miếng bị mục.

Viên gia tướng ra rồi, thì người tỳ thiếp thứ năm mà Thạch cực kỳ sủng ái là Hương-Lan sai bưng trà với bánh, mứt, hoa quả dâng cho Thạch. Thấy người tỳ thiếp, cơn giận của Thạch hạ xuống liền. Hương-Lan thỏ thẻ:

– Tướng-công ơi! Hôm nay nhà mình có nhiều sự lạ xẩy ra, biết tướng công cần lao chính sự nhiều, nhưng thiếp vẫn phải trình tướng công.

– Đó là những sự gì vậy?

– Trước hết, là con chó xinh đẹp của tướng công bị mất tích hôm trước, nay đã thấy rồi.

– Thế nó đâu?

– Nó rơi xuống giếng chết đã mấy ngày, hôm nay mới nổi lên. Vì vậy nước giếng hôi thối, nên quản gia phải cho tát giếng. Còn nước dùng trong dinh hôm nay là nước gánh từ sông về.

– Đáng tiếc. Còn sự gì khác nữa không?

– Tin này thực khủng khiếp, kinh thiên động địa.

An-Thạch lo lắng:

– Trong nhà có ai chết ư?

– Hơn thế nữa. Tướng công ơi! Tin từ cố lý đưa về rằng, ngôi mộ hiển khảo (bố đẻ), tỷ khảo (mẹ đẻ) bị kẻ trộm đào lên, mang xương mang đi mất.

An-Thạch nổi giận hét be be:

– Ta phải đem tên lý dịch, cùng đám bảo binh trong làng chém hết để trị tội. Mộ của song thân ta xây bằng đá ong lớn như vậy. Nếu muốn đào lên, thì phải hàng chục người, đào trong hơn ngày. Hơn ngày mà lý dịch, bảo binh không biết, thì giả như giặc đến, sẽ ra sao?

Giận quá, y ném chung tra trên tay xuống nền nhà vỡ tan tành.

Chính thê của An-Thạch bước vào:

– Tướng công ơi! Khi tướng quân được đắc dụng, thiếp chẳng từng nói rằng: Nho học có từ mấy nghìn năm, đã ăn vào xương tủy Thiên-hạ rồi. Nay tướng quân muốn thay đổi hẳn, thì chỉ là dã tràng xây cát biển Đông mà thôi. Thiếp cho rằng trục xe gẫy, con chó chết, mộ hai thân bị đào, chắc cũng vì thù hằn mà thôi. Cổ nhân nói:

Sự phùng đắc ý tuyên hưu tức,
Phú quý trường trung dị bạch đầu.

(Khi mộng ước đã đắc ý rồi, thì nên lùi về nghỉ ngơi. Trong trường phú quý đầu dễ bạc).

Tướng quân không nhớ sao?

Phu nhân thở dài:

– Bây giờ Tân-pháp của tướng công được đắc dụng, tướng công có ở lại; quan cũng không quá tể tướng, tước cũng chỉ tới quốc-công. Tướng công lui đi là hơn.

An-Thạch thở dài:

– Ta nay lâm thế cỡi cọp mất rồi. Ta với nhà vua chủ đánh Giao-chỉ, nay quân đã vượt Ngũ-lĩnh xuống Nam. Ta làm sao mà lùi được?

Hương-Lan lại thỏ thẻ:

– Được chứ! Thiếp nghe nói, đất Giao-chỉ là nơi rồng nằm hổ phục. Mấy trăm năm nay, biết bao nhiêu tướng, biết bao nhiêu binh đem quân sang đánh, cũng đều bỏ thây cả. Nay ra quân lỡ bị thất bại, ắt nhà vua đổ lên đầu tướng công hết. Chi bằng bây giờ tướng công từ chức, lui về điền dã. Nếu Quách Quỳ thắng, thì nhà vua cũng biết là công của tướng công. Nhược bằng Quỳ bại, thì ai cũng nói là tự tướng công rút lui nên mới ra cơ sự.

An-Thạch lắc đầu:

– Ta không phải là người hèn. Ta nhất định phải chủ trương cuộc chiến này. Thắng Giao-chỉ, ta đánh Chiêm, Lào, Chân, Xiêm, Lý, rồi đem quân lên Bắc. Xưa kia Quản Trọng giúp Tề Hoàn-công thành nghiệp bá; Trương Lương làm quân sư cho Hán Cao-tổ, Tiêu Hà cầm quyền cai trị giúp Cao-tổ, Hàn Tín thống lĩnh binh mã cho Cao-tổ. Còn ta, ta quyết vừa làm Quản Trọng, lại kiêm cả Trương, Tiêu, Hàn. Thôi các phu nhân đừng bàn nữa.

An-Thạch uống trà rồi, y ngồi thừ người ra suy nghĩ: Trong triều, ngoài dân ai cũng chống ta. Vậy Tân-pháp là chính lệnh hay ma lệnh? Tại sao đến các phu nhân là người thân tín, đầu gối, tay ấp mà cũng chống Tân-pháp? Ta nhất quyết xuống Lĩnh-ngoại phen này để tìm hiểu thêm. Nhưng ta không thể mang theo đám tùy tùng cũ của ta, như vậy e bị lộ mất. Ta kiếm đâu ra những vệ sĩ thân tín đây?

Đâu đó có tiếng tiêu véo von vọng lại rót vào tai Thạch. Lúc đầu tiếng tiêu êm đềm, dìu dặt. Sau dần dần chuyển sang âm điệu cực kỳ khó chịu, khiến chân tay Thạch không tự chủ được muốn múa may nhảy nhót. Thạch bực mình gọi Đô Kinh, truyền lệnh:

– Đứa nào tấu những khúc ma quái vậy?

Nhưng Đô Kinh lắc đầu:

– Tiểu tướng không nghe thấy gì cả.

Hương-Lan lắng tai nghe ngóng rồi nói:

– Thiếp cũng không nghe thấy gì cả.

An-Thạch kinh hãi cau mặt lại, dùng hai tay bịt tai, nhưng tiếng tiêu như ma hờn, như quỷ khóc vẫn lọt vào tai y, khiến y không tự chủ được, phải đứng dậy múa may, quay cuồng.

Hương-Lan kinh hãi thét lên:

– Tướng công. Tướng công ơi!

Nhưng An-Thạch vẫn múa may. Viên gia tướng chạy lại ôm lấy Thạch. Thạch bịt hai tai lại, để khỏi nghe tiếng tiêu ma quái, nhưng tiếng tiêu vẫn lọt vào tai y. Y hét:

– Lấy giấy cho ta!

Hương-Lan chưa kịp lấy giấy, thì An-Thạch đã xé tờ giấy ở cuốn lịch đặt trên án-thư , vo tròn, rồi nhét vào tai.

Nhưng vô ích.

Múa may một lúc, y ngã ngồi xuống. May thay, lúc đó tiếng tiêu ma quái từ nhỏ dần, rồi tắt hẳn. Mệt quá, y quay lưng dựa vào người Hương-Lan, nói trong hơi thở:

– Hương-Lan, nàng có nghĩ rằng ta điên không? Hay ta bị ma trêu, quỷ ám?

– Thiếp không tin rằng tướng công bị ma trêu, quỷ ám, mà do làm việc quá độ, khiến tâm thần hoảng hốt. Thiếp đã cho mời đại phu. Có lẽ người sắp tới.

An-Thạch với Hương-Lan cùng ngồi ăn chiều. Ăn xong thì đã giờ Tý. Bấy giờ đại phu mới tới. Đại phu là một viên quan ở Thái-y viện, tên Vũ Hồ-Nhân, nổi tiếng là thần-y đương thời. Y với Hương-Lan ra đại sảnh tiếp khách. Sau khi bắt mạch, xem lưỡi, Vũ đại phu nói:

– Thưa quốc công, thiểm chức thấy mạch của ngài trầm, mà xác. Trầm chủ hư chứng, xác chủ nhiệt. Y học gọi là âm-hư nội nhiệt. Âm hư nội nhiệt nặng thì có thể gây nhức đầu chóng mặt, mất ngủ, tai kêu như ve, chứ có đâu lại nghe thấy tiếng tiêu làm cho chân tay múa may?

Ngay lúc đó, người thiếp thứ nhì của An-Thạch là Phương-Lan chạy vào kêu lên:

– Ma quái! Tướng công ơi! Ma quái!

– Cái gì vậy?

An-Thạch hỏi: Ma ở đâu?

– Thưa tướng công, từ nãy đến giờ, thiếp nghe thấy tiếng kêu khóc thảm thiết từ cõi âm vọng về. Đó là tiếng của oan hồn tử sĩ ở Đại-giáp, Hỏa-giáp, Ngọc-tuyền, Ung-châu than thở rằng họ bị chết oan, hồn không siêu thoát được. Họ xin tướng công cho thu nhặt hài cốt đem về cố lý chôn cất.

An-Thạch kinh hãi hỏi:

– Tiếng kêu khóc đó còn không?

– Từ lúc thiếp vào đây thì tiếng kêu đó hết.

Lát sau đến lượt phu nhân, rồi tứ thiếp, lục thiếp cũng chạy vào kêu cứu rằng bị ma quỷ kêu gào giống như nhị phòng. Nhưng khi vào đại sảnh thì tiếng ma gào, quỷ khóc lại hết.

Vũ đại phu bàn:

– Không chừng là ma quỷ thực cũng nên. Vì các vị phu nhân yếu bóng vía, nên bị chúng trêu cợt. Còn quốc công, thì tướng tinh vượng, nên chúng không thể vào đây quấy nhiễu.

An-Thạch là người thực tế, không tin ma quỷ. Y cảm ơn Vũ đại phu, rồi cho về. Y thừ người ra nghĩ thầm:

– Không lẽ có ma, quỷ thực?

Quản gia là người thân tín của Thạch đề nghị:

– Xin quốc công cho tiểu nhân đi mời Thanh-Hư đạo trưởng, để người bắt tà.

An-Thạch chưa quyết định, thì đến lượt tên thư đồng cũng bị ma gào, quỷ khóc, xin được vào đại sảnh lánh nạn. Đến khoảng giờ Sửu, thì hầu như chính thê, thứ thiếp, con trai, con dâu, con gái, nữ tỳ đều bị ma gào, quỷ khóc phải kéo đến đại sảnh ngồi. Giữa lúc đó, có tiếng ngựa hí, tiếng la hét ồn ào. Thạch sai một nữ tỳ ra ngoài hỏi xem cái gì đang xẩy ra, nhưng y thị sợ ma, không dám đi. Lát sau, tiếng la hét im. Đô Kinh chạy vào trình:

– Trình quốc công, tự nhiên bầy ngựa sút chuồng chạy nhảy, cắn nhau, đá nhau lung tung. Tiểu tướng đã cho thân binh bắt đem trở về tầu.

Phút chốc trống điểm canh, báo hiệu đã sang giờ Mão là giờ An-Thạch phải vào Đông-các bàn việc với vua. Tuy mệt lả người, nhưng y vẫn phải ăn một bát cháo, uống chung trà, rồi truyền thắng xe vào Hoàng-thành. Thời bấy giờ dinh tể tướng ở gần cửa Kim-long, phía Tây thành, nên xe phải đi sang hướng Đông rồi mới vào Đông-các được.

Viên gia tướng Đô Kinh kiểm lại xe, cương, ngựa thực kỹ rồi mới tiền hô, hẩu ủng lên đường. Xe vừa ra khỏi cổng phủ, thì dân chúng, xe cộ ùn lại nghẹt cứng. Viên trưởng toán cận vệ Vi Trọng la hét thế nào, cũng không dẹp được đường. Viên gia tướng Đô Kinh vội vọt ngựa về phía trước. Lát sau y trở lại lắc đấu:

– Thưa quốc công, chẳng có gì lạ hết, không biết ở đâu xuất hiện bọn mãi võ kiếm tiền, gồm ba nam, ba nữ. Nam thì hùng vĩ khôi ngô, nữ thì sắc nước hương trời. Bọn này có tài thổi tiêu, khiến cho hàng nghìn con rắn múa theo điệu nhạc rất đẹp. Đội tuần tiễu hỏi lý lịch, thì chúng xưng là người Chàm, nhân bị quân Giao-chỉ chiếm nước, chúng phải tha hương cầu thực. Đội tuần tiễu bắt chúng trói lại giải về phủ thừa Khai-phong. Vì vậy bầy rắn không người điều khiển, chúng bò ra khắp phố. Dân chúng kinh hoảng chạy nhảy lung tung làm kẹt đường.

Y nói nhỏ:

– Mai này tướng công trẩy Nam, đang cần thêm vệ sĩ. Mà đem vệ sĩ có sẵn đi e bị lộ. Bọn Chàm này vốn thù bọn Việt, tướng công nên thu dụng chúng mang theo, như vậy vừa bảo mật, vừa yên tâm.

An-Thạch gọi một viên cận vệ trao cho y tấm lệnh bài:

– Người cầm tấm lệnh bài này đến phủ thừa Khai-phong, truyền giải ba đôi trai gái người Chàm vào Đông-các cho ta ngay.

Đoàn tùy tùng An-Thạch lại tiếp tục lên đường. Khi An-Thạch vừa tới Đông-các đã thấy bọn bộ khoái Biện-kinh giải ba đôi trai gái tới. Ba cặp mặc cùng một thứ y phục, nhưng mầu khác nhau. Một cặp mặc quần áo vàng, một cặp mặc quần áo trắng, một cặp mặc quần áo đen. Thoạt nhìn qua, An-Thạch nghĩ thầm:

– Sao lại có ba đứa con gái đẹp đến như thế kia?

Viên bộ khoái trình bản cung từ của ba cặp nam nữ Chàm. Nội dung bản cung từ như sau: Ba nam đều là tốt trưởng quân Chiêm. Mấy năm trước, quân Giao-chỉ xâm Chiêm quốc. Quân Chiêm tan vỡ, nên ba người đem vợ vượt biển đến Triết-giang xin kiều ngụ. Cả ba cặp đều làm nghề mãi võ, cùng diễn trò để làm kế sinh nhai.

An-Thạch đã đọc rất nhiều tấu chương của Khu-mật viện về Chiêm quốc, nên y biết nhiều về nước này. Y cật cấn những vấn đề về nội tình Chiêm, sáu người trả lời không sai một chút nào. Y tin những lời khai của chúng:

– Các ngươi đã mãi võ ở những vùng nào?

– Thưa, chúng tôi mãi võ ở hầu hết các châu, lộ Nam thùy của Thiên-triều.

– Các người có thuộc đường từ đây đi Ung-châu không?

– Thưa, chúng tôi từng mãi võ kiếm ăn suốt sáu năm qua ở vùng này, nên đường xa, sông núi đều thuộc nằm lòng.

– Các người có biết võ không?

Cả sáu người đều đáp:

– Dạ, biết.

An-Thạch gọi Đô Kinh, ra lệnh:

– Người thử đấu với thanh niên áo đen xem sao!

Y nói với gã áo đen:

– Người hãy chiết ít chiêu với Đô tướng quân. Nếu như bản sự khá, thì ta tha cho, rồi tuyển làm gia tướng.

Gã áo đen dạ một tiếng, bái tổ đứng chờ. Trọng hít hơi xuống trung bình tấn, rồi đấm thẳng về trước đến vù một tiếng. Người áo đen trầm người xuống tránh, tay phải gạt tay phải của Kinh, rồi tay trái trả đòn. Đô Kinh nhảy lùi về sau một bước, để tránh thế phản công, vung chưởng gạt. Binh một tiếng, cát bụi bay mịt mờ. Hai người lảo đảo lui lại gườm gườm nhìn nhau. Thế là hai người đấu với nhau trên trăm chiêu bất phân thắng bại.

Như vậy đã đủ biết bản sự của gã Chàm, An-Thạch hô:

– Ngừng tay!

Hai người bái tổ, rồi lùi lại. Gã áo đen chắp tay hướng Đô Kinh:

– Đa tạ nhân huynh đã nới tay.

An-Thạch truyền lệnh cho tên bộ khoái phủ thừa Khai-phong:

– Ba cặp nam nữ này vô tội. Ta muốn lưu họ để làm một việc mật. Thôi người về đi.

Viên bộ khoái đi rồi, An-Thạch bảo ba cặp nam nữ:

– Trong cung từ các người mang tên Chàm khó nhớ quá. Vậy từ nay ta cho các người mang họ Vương của ta, và đặt cho các người tên là Phúc, Lộc, Thọ. Các người hãy bỏ nghề mãi võ, ta tuyển làm vệ sĩ riêng. Còn vợ, ta cũng tuyển làm nữ tỳ.

An-Thạch gọi viên gia tướng lại bên cạnh dặn dò một lúc. Viên gia tướng dẫn ba cặp Phúc, Lộc, Thọ rời khỏi Đông-các.

Nhà vua đã giá lâm, có Lý Hiến theo hầu. Vừa trông thấy An-Thạch, ông đã hỏi:

– Sao, hôm qua nhà khanh bị ma quỷ phá suốt đêm phải không?

An-Thạch kinh ngạc, mở to mắt nhìn nhà vua, trong lòng tự hỏi: Việc mới đây, mà sao nhà vua đã biết. Lý Hiến cười:

– Vương đại nhân đừng kinh ngạc. Việc khủng khiếp như vậy xẩy ra làm sao mà dấu được? Sáng nay khắp kinh thành đều biết cả rồi.

Lý Hiến là đại tôn sư võ học đương thời, hôm qua khi nghe tai mắt của y trong phu tể tướng thuật việc ma quỷ đại náo phủ Thạch. Y biết Thạch bị một võ lâm cao thủ nào đó tấu khúc tiêu ma quái, rồi dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai y, khiến mình y nghe thấy mà thôi. Sau lại chính cao thủ đó sai người gào khóc làm ma, làm quỷ, rồi lại dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai vợ, con, gia thuộc nhà Thạch để dọa. Mặc dù biết rất rõ, mà thay vì y giải thích cho Thạch, y lại hù dọa thêm cho bõ ghét.

Nhà vua hỏi:

– Nay trong nhà khanh bị ma quỷ quấy phá, liệu khanh có đi Lĩnh-ngoại được không?

– Tâu bệ hạ, vì việc nước, thì dù nhà có tan, cửa có nát thần cũng nhất định ra đi.

Sau buổi làm việc hôm đó, An-Thạch trở về nhà. Quản gia cho biết, từ sáng đến giờ không thấy ma khóc, quỷ gào nữa. Tình hình hoàn toàn yên tĩnh, vô sự. Thạch gọi chính thê, sáu thiếp, con trai với quản gia vào đại sảnh, rồi nghiêm mặt nói:

– Vì cuộc Nam chinh đang hồi khẩn yếu, hoàng thượng ban chỉ ta mật nhập cung, để đêm ngày nghị sự với hoàng thượng. Vậy ta chỉ mang theo có mình Đô Kinh mà thôi. Để đánh lừa tai mắt tế tác giặc, các người phao rằng ta bị bệnh đậu mùa, phải kiêng gió, nghỉ ở trong phòng Hương-Lan, không dự triều chính được. Ta không tiếp ai. Nhớ đấy, ai lộ ra sẽ bị tội chặt đầu.

Đêm đó, An-Thạch gọi Đô Kinh, ba vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ vào thư phòng rồi dặn:

– Chuyến Nam du này hoàn toàn bí mật. Từ đây xuống Ngũ-lĩnh ta cải trang làm phú thương, các người làm tùy tùng. Khi đi vào địa phận Quế-châu, thì sẽ gặp binh tướng đi Nam. Nếu ta vẫn cải làm phú thương, thì họ không cho đi. Vậy từ Quế-châu trở xuống ta sẽ cải trang làm một viên thị lang lĩnh chức kinh-lược khâm sứ; còn các ngươi thì giả làm thị vệ. Dọc đường, nếu cần lên tiếng chỉ Phúc, Lộc, Thọ được nói, còn ba người đàn bà không được lên tiếng, vì sợ lộ hình tích.

Đô Kinh chuẩn bị y phục thị vệ cho ba cặp vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ. Còn Hương-Lan thì chuẩn bị trang phục cho An-Thạch.

Hôm sau, vào lúc trời bình minh, thì An-Thạch lên xe âm thầm ra đi. Xe đó do Đô Kinh đánh, phía sau có ba cặp nam nữ kị mã theo hộ tống.

Khi xe An-Thạch đến Quế-châu, thì các đạo quân mang từ Bắc, Tây thùy xuống đã lên đường hết. Hành doanh của Quách Quỳ cũng di xuống Ung-châu một ngày rồi. Hôm ấy đoàn người ngựa của An-Thạch qua đêm ở một khách điếm lớn. An-Thạch gọi ba vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ dặn:

– Đường từ đây xuống Nam, đầy quan binh. Nếu chúng ta tiếp tục giả làm phú thương, thì họ không cho đi. Ta tiên đoán thế, nên đã chuẩn bị sẵn thẻ bài, lệnh tiễn chứng nhận ta là kinh lược sứ của triều đình sai xuống hành doanh Nam chinh. Vậy ba người đàn bà phải giả trai. Tất cả sáu người hãy lấy y phục thị vệ mặc vào, sáng mai ta lên đường.

Sáng hôm sau, ba vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ trong lớp y phục thị vệ cỡi ngựa đi trước. Phía sau là xe của An-Thạch, trên có lá cờ với mấy chữ : « Kinh lược sứ Nam thùy ». Nhờ vậy mà xe vượt qua không biết bao nhiêu đoàn quân đang trên đường xuống Nam. Dọc đường, An-Thạch thấy dân chúng, bảo binh đánh xe, chèo thuyền chuyên chở lương thảo rầm rộ hướng Nam. Vì mệt mỏi, vì phải khuân vác, chúng vừa đi, vừa bới móc tổ tiên mười đời nhà Vương An-Thạch mà chửi. An-Thạch cắn răng, không dám hé môi nói một lời.

Trưa hôm đó, Vương Phúc ghé ngựa lại bên rèm xe Thạch trình:

– Thưa quốc-công chỉ còn hơn hai mươi dặm nữa tới Côn-lôn phố. Xin quốc công cho biết ta qua đêm tại đây, hay vượt Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp xuống Ung-châu ngay?

– Nếu xuống Ung-châu có kịp không?

– Có lẽ không kịp. Nếu xe đi nhanh, thì tới thung lũng Ngọc-tuyền vào lúc nhá nhem tối.

– Được, ta muốn nghỉ ở Ngọc-tuyền.

Xe lại phóng như bay, giờ Mùi (13-15 giờ) thì tới Côn-lôn. Tại Côn-lôn quan quân đóng chật ních, đường đi rất khó khăn. Khi ra khỏi thành, một trận gió Nam thổi tới mang theo mùi hôi thối cực kỳ khó chịu tạt vào mặt đoàn người ngựa An-Thạch. Liếc mắt nhìn xa xa, Thạch thấy: Trên một giải đồng mênh mông dài vô tận, có không biết bao nhiêu người mà kể. Họ là ông già, bà cả. Họ là thiếu phụ trẻ. Họ là trai tráng. Họ là trẻ thơ. Tất cả đều chít khăn trắng. Cứ hai người một, họ khiêng cái bọc dài lủng lẳng, vừa đi vừa kêu gào thảm thiết. Lại có những người đang dùng móng, cuốc, xẻng đào bới. Tất cả đều khóc như di.

Các đoàn binh đang trẩy về Nam cũng ngừng lại giúp dân đào đào, xới xới. An-Thạch mở màn, nhô đầu ra khỏi xe, hỏi một viên tướng trong y phục cấp đô thống:

– Này đô thống. Cái gì đã xẩy ra vậy?

Viên đô-thống liếc nhìn lá cờ của An-Thạch, y lễ phép trả lời:

– Thưa đại quan, hồi tết Nguyên-đán vừa qua, tại đây đã diễn ra trận đánh lớn. Chỗ này là nơi đoàn chuyển vận lương của ta, bị quân Giao-chỉ đánh úp. Hơn ba nghìn quân bỏ mạng. Quân Giao-chỉ rất tử tế, họ chôn cất tử sĩ, rồi trên mỗi nấm mộ họ còn cắm miếng gỗ đề tên, tuổi, cấp bậc nữa. Nay đại quân Nam chinh, gia đình tử sĩ mới dám đến cải táng mang về quê. Vì thời gian mới có tám, chín tháng, thịt chưa rữa hết, tử thi bốc lên mùi xú uế như đại nhân thấy.

An-Thạch ra lệnh cho Đô Kinh ruổi xe rời khỏi Côn-lôn. Hơn giờ sau tới chân núi Đại-giáp. Cái cảnh ở Côn-lôn lại xuất hiện. Nhưng ở đây, số gia đình tử sĩ đông gấp bội. Quân lính đã ngừng hẳn lại để giúp dân chúng đào đất moi tử thi lên. Cái cảnh thê thảm đó kéo từ chân núi phía Bắc Đại giáp, qua đỉnh xuống Nam.

Khi lên tới đỉnh Đại-giáp, xe bắt đầu đổ dốc, thì trước mặt hiện ra thung lũng Ngọc-tuyền kéo dài đến chân trời phía Nam, rồi lại chạy ngược lên núi Hỏa-giáp. Ở giữa thung lũng, nối hai ngọn Đại, Hỏa-giáp, là con đường dài. Hai bên đường, đầy những người mặc tang phục trắng. Hóa cho nên từ núi Đại-giáp, qua thung lũng Ngọc-tuyền tới núi Hoả-giáp giống như một tấm vải trắng khổng lồ trải ngang qua.

An-Thạch nghĩ thầm:

– Đúng rồi, nơi đây, mấy tháng trước đạo binh đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đạo kị binh 47 đã bị quân Giao-chỉ đánh tan. Tổng cộng bốn vạn người, một vạn ngựa. Số bị bắt, đầu hàng chưa quá một vạn. Vậy ít ra có tới ba vạn nấm mồ.

An-Thạch thúc xe đi thực nhanh, tiếng con khóc cha, tiếng vợ khóc chồng, tiếng mẹ già gào thét khóc con; tạo thành âm thanh thê lương, ào ào như sóng thủy triều gặp lúc động trời. Phân nửa những nấm mồ đã được khai quật lên. Nhưng một số vẫn còn đó. Người người hàng hàng lớp lớp nhấp nhô cúi xuống, ngẩng dậy, nhìn những thanh gỗ đề tên người xấu số để tìm thân nhân mình. Có những bà mẹ không tìm thấy mộ con, gào đến lạc giọng:

– Con ơi là con! Con nằm đâu? Con cho mẹ biết đi, để mẹ đưa con về quê.

Tiếng của người mẹ khốn nạn tìm xác con lẫn với hàng chục vạn tiếng khác, ào ào vang vang, thành điệu nhạc đoạn trường vô tận.

An-Thạch ra lệnh cho Đô Kinh đánh xe vượt Hỏa-giáp sơn xuống Nam, cốt sao xa cái địa ngục kinh hoàng, hôi thối, thê thảm này. Cũng may, xe vừa đổ đồi phía Nam Hỏa-giáp, thì trời tối. Rời chân núi Hỏa-giáp hơn mười dặm, thì không còn cái cảnh đào bới tìm xác tử sĩ nữa. Đô Kinh đánh xe vào ngôi nhà ngói, dường như của một phú gia, để xin qua đêm. Nhưng nhà này đã được đặt làm hành doanh của viên chỉ huy đạo quân tả đệ tam tên Miêu Lý và viên chỉ huy phó tên Vương Tiến. Miêu, Vương thấy Đô Kinh với sáu thị vệ hộ tống một đại quan, xưng là kinh-lược sứ, y vội chạy ra tiếp vào.

An-Thạch là người bác văn, cường trí, nên y biết rất rõ tiểu sử hai tướng, tình hình đạo quân tả đệ tam, trong khi hai viên tướng lại không biết y là ai. Y đảo ngược tên đi, xưng họ Thạch tên An, hiện lĩnh chức thị lang bộ lại.

An-Thạch hỏi thăm tình hình quân sĩ, Miêu Lý than thở:

– Kể từ tháng ba đến giờ, quân vượt mấy ngàn dặm, đến Kinh, Hồ người ngựa đã quá mệt mỏi rồi. Từ lúc vượt Ngũ-lĩnh xuống đây, khí hậu thấp nhiệt, thêm muỗi dữ như ong. Quân chưa đánh trận nào, mà đã chết bệnh hơn năm nghìn. (TTTTGTB, Hy-Ninh 9, ngày 14-10. DL. 13-11-1076).

Vương Tiến cũng đang bị sốt rét ngã nước hành hạ. Y nói trong khi hai hàm răng đánh nhịp lách cách:

– Thưa đại nhân, tiểu tướng biết phen này ra đi, khó mà trở về. Trước sau không bị giặc giết, thì cũng chết về muỗi, nên cứ thực tình mà trình. Quân của tiểu tướng đánh dư trăm trận, chưa người nào đau yếu, chưa người nào sợ hãi cả. Nhưng khi vượt núi qua Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, thấy mấy vạn nấm mồ, với cảnh bố mẹ, vợ con, anh em khóc lóc đào bới tìm xác, thì không người nào còn can đảm chiến đấu nữa. Ai cũng mong sao thiên tử đổi ý, chặt đầu tên khuyển nho Vương An-Thạch, rồi rút quân về.

An-Thạch tím mặt lại. Y nói gượng:

– Ta nghĩ Vương tể tướng nghĩ ra Tân-pháp, làm cho nước giầu, dân mạnh, chứ người đâu có hại đến chư quân?

Lão ông chủ nhà chắp tay:

– Thực tình mà bàn, nếu Tân-pháp từ từ thi hành, thì quả là diệu sách, đổi cả trời đất lại. Nhưng đây họ Vương muốn làm nhanh quá, thành ra xáo trộn hết. Giá như triều đình cho thi hành Tân-pháp mươi năm nữa, đợi cho Tân-pháp ngấm vào dân, đợi cho nước thực giầu, đợi cho bảo binh thuần thục, thì chả cần đánh, các nước xung quanh cũng quy phục.

Lão nghiến răng:

– Khổ một điều, từ xưa đến giờ, Giao-chỉ vẫn thần phục, vẫn ngoan ngoãn tiến cống đấy chứ. Chỉ vì bọn mặt dơi tai chuột Thẩm Khởi, Lưu Di với tên khuyển nho Vương An-Thạch muốn chiếm nước người, thành ra chúng phải ra quân tự vệ. Rút cuộc, chỉ khổ dân, chỉ chết quân mà thôi.

Vương An-Thạch bị chửi rủa vào mặt, mà không dám nói gì.

Hôm sau An-Thạch tiếp tục đi xuống Nam. Tới thành Ung, y lại được chứng kiến cảnh đào bới tìm xác chết nữa. Ở đây còn khủng khiếp hơn, vì số người chết lên tới hơn mười vạn. Y lại được nghe dân, quân, tướng nguyền rủa y. Lòng y nguội như tro tàn.

Suốt mười năm qua, y phải phấn đấu, chống đỡ với mấy trăm đồng liêu công kích y. Y đã mệt mỏi lắm rồi. Khi rời Biện-kinh ra đi, trong nhà y lại xẩy ra nhiều truyện, làm cho thần chí y hỗn loạn. Bây giờ, vượt đường trường vạn dặm Nam du thể xác mệt mỏi. Chính mắt y lại thấy cảnh chết chóc thê thảm; chính tai y nghe tướng sĩ, dân chúng nguyền rủa. Thần chí y xụp đổ hoàn toàn. Y bỏ không tiếp xúc với Quách Quỳ, Triệu Tiết nữa. Y ra lệnh cho Đô Kinh đánh xe trở về Biện-kinh.

Vừa về tới dinh, bước vào trong, kìa vườn cảnh sao tiêu điều kỳ lạ! Ngoài tên thân binh gác cổng ra, không thấy ai đón y cả. Y lên tiếng gọi, thì chỉ có tên trưởng toán vệ sĩ Vi Trọng xuất hiện. Y chưa kịp hỏi, thì Vi Trọng đã khóc:

– Khi quốc công rời khỏi dinh nửa ngày, thì ma, quỷ lại cất tiếng từ cõi âm truyền về khóc lóc kể rằng: Quốc công không hề vào hoàng cung nhiếp chính với hoàng thượng, mà lên đường kinh lý Nam thùy. Rồi ngày ngày, ma kêu, quỷ khóc trong dinh. Bọn nữ tỳ, mã phu, bộc phụ hoảng sợ bỏ trốn gần hết. Sau đến thân binh cũng từ từ trốn đi. Phu nhân mời Thanh-Hư đạo trưởng đến bắt ma. Đạo trưởng lập đàn trừ tà, thì tiếng ma, quỷ càng vọng về càng lớn hơn. Một ngày sau, ma quỷ truyền tiếng tiêu vào tai đạo trưởng, khiến đạo trưởng múa may suốt nửa ngày cuối cùng lăn ra chết.

Mặt An-Thạch co dúm lại như chiếc bánh bao chiều, trông rất khó coi. Vi Trọng kể tiếp:

– Nhân đại sư Pháp-Nhẫn chùa Thiếu-lâm cùng hai đại-sư Giao-chỉ vân du qua Biện-kinh. Có người mách phu nhân cầu người làm lễ cầu siêu cho oan hồn tử sĩ, để chúng khỏi quấy phá. Đại sư Pháp-Nhẫn cùng với hai nhà sư người Việt pháp danh Minh-Không, Đạo-Hạnh tới dinh. Đại sư từ chối không biết làm chay, vì chùa Thiếu-lâm là chùa Thiền-tông. Đại sư chỉ hai nhà sư Việt: « Hai vị này có tài trừ tà ».

An-Thạch cau mày:

– Rồi sự thể ra sao, mà nhà lại vắng thế này?

– Quả thực thế, từ lúc hai đại sư Việt tới dinh, thì tiếng ma hờn, quỷ khóc biến mất. Phu nhân bắt mọi người gọi hai đại sư là thánh tăng. Ngay đêm ấy, vì có hai thánh tăng Việt ở trong dinh mình quỷ không hờn, ma không khóc nữa. Nhưng chúng lại quấy rối ngay trong hoàng cung. Tuyên-Nhân hoàng thái hậu tuyên triệu đại pháp sư Nguyên-Đăng vào cung, lập đàn, rước tượng đức thánh Quan bắt tà. Hoàng cung yên tĩnh được một đêm. Đến đêm thứ nhì thì chính pháp sư Nguyên-Đăng bị quỷ nhập. Người nhảy múa lung tung, đập vỡ cả tượng đức thánh Quan, Chu Sương, Quan Bình.

An-Thạch lắc đầu:

– Chắc không phải quỷ nhập đâu, mà bị tiếng tiêu quái gở kia thúc đẩy mà thôi.

– Tuyên-Nhân hoàng thái hậu lại tuyên triệu hai nhà sư Việt vào cung trừ tà. Hai vị đó chối rằng không biết trừ tà, mà chỉ biết tụng kinh siêu độ cho hương linh người chết bình thường. Còn đối với người chết oan, thì phải giải cái u uất, thì oán mới hết. Khi oán hết, thì tự nhiên chúng sẽ bỏ ra đi.

– Có lý. Rồi sao?

– Đúng vậy, sau khi hai nhà sư thay nhau tụng niệm ba ngày, thì ma, quỷ lại nói vọng từ cõi âm về rằng: « Vì quốc công muốn chiếm Đại-Việt, mới khiến họ bị chết oan. Nay muốn giải cái uất hờn của chúng, thì phải chém đầu quốc công tế họ ». Hoàng thượng không chuẩn. Sau hai vị tăng đó cúng vái, dỗ dành;, oan hồn chịu, không đòi chém đầu quốc công nữa, mà chỉ đòi cách chức thôi. Vì vậy... vì vậy...

An-Thạch chua chát:

– Vì vậy Hoàng-thượng ban chỉ cách chức ta phải không?

– Không, Hoàng-thượng không chuẩn. Lập tức ngay đêm đó Hoàng-hậu bị tiếng tiêu ma quái làm cho múa may đến nhừ người ra. Cung nga, thái giám sợ quá, tối tối tụ nhau ngồi lại một chỗ mà khóc. Tuyên-Nhân hoàng thái hậu tuyên triệu Hoàng-thượng đến cung của người bắt phải giải quyết vụ ma kêu, quỷ khóc, bằng không người cũng rời cung ra ngoài ở. Bấy giờ hoàng thượng mới ban chỉ.

– Người giáng ta xuống làm gì?

– Trong chỉ tuyên rõ: Quốc công tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-bình chương sự. Sau khi chiếu chỉ ban ra, lập tức mọi sự ma, chư sự quỷ không còn nữa.

An-Thạch nổi cáu:

– Ta nghĩ, hai tên trọc thối tha Minh-Không, Đạo-Hạnh chính là gian tế của Giao-chỉ. Thế chúng đâu rồi?

– Tuyên-Nhân hoàng thái hậu tuyên mời hai đại sư đó vào cung làm tiệc chay cúng dàng, truyền gọi là « Lĩnh-Nam thánh tăng ». Nguyên hồi trước khi cùng tiên đế vân du Đại-Việt, thái hậu đã gặp một trong hai thánh tăng này. Người lại ban chỉ cho hoàng thượng phải cúng dàng vàng bạc tiễn hai thánh tăng về cố quốc. Hoàng thượng hỏi rằng: « Hai thánh tăng Việt muốn được cúng dàng gì? ». Thì hai ngài đưa ra cái túi rồi tâu rằng: « Chỉ muốn được vào kho lựa lấy một túi đồng đen mang về nước đúc tượng Phật mà thôi ». Hoàng thượng truyền dẫn hai ngài vào kho tả. Hai ngài lựa mãi mà không được thứ đồng tốt. Thái giám lại dẫn hai ngài vào kho hữu...

Mặt An-Thạch cau lại:

– Kho hữu? Thế đã được chỉ dụ của Hoàng-thượng chưa mà dám dẫn hai tên trọc đó vào cấm địa ấy?

– Thưa lão gia, kho hữu là cấm địa gì kia?

– Người không biết đâu. Kho hữu không phải là kho, mà là nơi chứa những cơ mật của bản triều.

– Dạ, tiểu nhân không biết.

– Người thuật tiếp đi.

– Hôm sau quan giữ kho khám phá ra, trong kho không còn một mảnh đồng nào. Như vậy hai thánh tăng đã làm phép lấy hết đồng mang đi, mà toàn là đồng đen mới khổ chứ. Hoàng thượng truyền cho quan Tổng-lĩnh Thị-vệ Lý Hiến mang năm trăm thị vệ đuổi theo bắt lại. Khi Lý đuổi tới bờ biển, thì thấy hai thanh tăng đang tìm thuyền ra khơi. Lý tổng lĩnh hô thị vệ bao vây hai thánh tăng. Hai ngài ném cái nón tu lờ xuống bể. Lập tức hai cái nón hóa ra hai con rồng. Hai ngài cỡi rồng bơi về hướng Nam mất.

Vương An-Thạch lắc đầu:

– Huyền hoặc. Ta không tin. Láo hết. Nhưng gia quyến ta đâu?

– Vì quá sợ hãi, phu nhân không dám ở trong dinh này nữa, người cho dọn ra ở nhờ trong chùa Vạn-pháp tại phía Nam phủ Khai-phong rồi.

– Thế ai thay ta?

– Thưa là Ngô Sung thay quốc công. Còn Vương Khuê thay Ngô Sung, Phùng Kính coi Khu-mật viện.

An-Thạch ngửa mặt nhìn trời than:

– Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Ta đã ngu quá! Ta đã ngu quá. Chỉ vì muốn mau thành công, mà bao nhiêu tâm huyết một đời ta, hóa ra tro bụi, làm mấy chục vạn người chết oan.

Hôm sau An-Thạch sai thân binh từ từ chở gia quyến đi Giang-ninh. Y xin vào triều từ biệt Hy-Ninh đế, nhưng dường như nhà vua ngượng ngập, không tiếp y. Y cùng Đô Kinh với ba cặp vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ dùng ngựa lên đường đáo Giang-ninh.

Vào một buổi trưa, đoàn người ngựa của An-Thạch sắp tới bờ sông Trường-giang. Xe còn cách bờ sông mười dặm, phải đi chậm lại, vì hai bên đường là những khách điếm, tửu lầu, hàng quán đủ loại để tiếp đón du khách chờ đò chở qua sông. Trên bến, hàng ngàn ngựa, xe, đi lại tấp nập. Dưới sông, thuyền bè đậu lố nhố, cái đi, cái đến.

An-Thạch truyền Đô Kinh kiếm một tửu lầu lớn, để gia thuộc lên đó ăn uống. Đô Kinh vừa ra đi, thì đâu đó tiếng tiêu, tiếng trống vọng lại một điệu nhạc nhu hòa khiến cho người nghe cảm thấy nhẹ nhàng như bay lên cõi tiên. Lòng An-Thạch đang nặng chĩu nỗi chán chường, mà cũng cảm thấy khoan khoái kỳ lạ. Y xuống xe, lần theo tiếng nhạc, tới một khoảng đất trống, người ta đang đứng thành vòng tròn xem diễn trò.

Vợ chồng Vương Phúc rẽ đám đông ra cho Thạch nhìn vào trong: Một thiếu phụ còn rất trẻ, nhan sắc cực kỳ diễm lệ, ngồi xếp chân trên cái chiếu nhỏ, tay lần cây đàn tranh, mắt mơ màng nhìn trời, bật ra những âm thanh huyền ảo. Gần đó, một người đàn ông, đang đánh cây đàn chỉ có một dây, âm thanh vọng đi rất xa. Lại còn một thiếu phụ tuổi tuy lớn, nhưng nhan sắc vẫn còn mặn mà, bà ta mặc quần áo xanh, đang thổi tiêu. Ba âm thanh hòa hợp với nhau thành điệu nhạc rất êm tai. Ngay chính giữa ba người, có đôi công đang xòe cánh, múa theo tiếng nhạc.

Khúc nhạc đang dồn dập, tự nhiên dây đàn của người đàn ông đứt, phát ra tiếng phựt. Lập tức tiếng tiêu, tiếng đàn tranh cùng ngừng lại. Đôi công cũng thôi múa. Người đàn ông tần ngần vừa thay dây đàn, vừa nói:

– Tiếng đàn đang xuống thấp, cớ sao dây lại đứt? Ắt hẳn có bậc danh sĩ bất đắc chí mới đến, uất khí tỏa ra, làm đứt dây đàn chăng?

Y nhìn khán giả nói bâng quơ:

– Hỡi ơi! Trăng tròn rồi lại khuyết, đêm dài rồi cũng sáng. Đời người khi được một, lại đòi hai. Được hai lại đòi ba. Biết đến bao giờ cho thoả chí! Nay nhân lúc bất như ý sự, uất khí dâng lên, mà cứ khư khư oán thân, trách trời e chỉ làm cho thần tổn mà thôi. Hỡi ơi! Đời dùng ta thì ta đem sức ra giúp đời. Đời không dùng ta thì đội cỏ bồng phơi phới mà đi. Việc gì mà phải lao tâm khổ tứ?

Vương An-Thạch cau mày suy nghĩ:

– Tại sao gã nhạc công này lại đoán biết tâm sự mình, mà thốt ra những lời như vậy?

Gã nhạc công nói rồi y vẫy tay, hai thiếu phụ lại đánh đàn, thổi tiêu. Còn y, y lại bật dây trên cây độc huyền cầm, rồi cất tiếng hát bài từ « Quy khứ lai » của Đào Tiềm. Hát xong y lại nói trống không:

– Đào Tiềm thế mà khôn! Hỡi ơi, con người ta đâu phải vì mấy đấu thóc mà phải ra luồn vào cúi cho khổ?

Đến đó cuộc tấu nhạc chấm dứt, khán giả tản ra bốn phía. An-Thạch trở về tửu lầu với gia thuộc. Một người ăn mày ngơ ngơ ngác đi ngược chiều với y, dường như người ăn mày không nhìn thấy y. Hai người đụng vào nhau khá mạnh, cả hai ngã ngồi xuống đất. Người ăn mày nắm lấy An-Thạch chửi:

– Ta đã vì phép Thanh-miêu, Trợ-dịch, mà phải đi ăn mày. Mi có mắt hay không mà thấy ta không tránh? Hay người cũng là Vương An-Thạch???

Vợ chồng Vương Phúc định can thiệp, An-Thạch ngoắc tay ra hiệu không cần. Y hỏi:

– Phép Thanh-miêu, Trợ-dịch là thần pháp của ta, làm cho nước giầu, cớ sao mi bảo làm cho mi phải đi ăn mày?

Người ăn mày cười nhạt:

– Thì ra ông là tể tướng Vương An-Thạch đó sao? Tôi nghe Hy-Ninh hoàng đế mới cách chức ông, đuổi khỏi Biện-kinh, có đúng không?

– ???

– Hà hà! Khi ông cầm quyền, thì hét ra lửa, mửa ra khói, bây giờ thất thế, cũng không hơn gì gã ăn mày như ta, thui thủi như con chó cụt đuôi vậy.

Lão ăn mày bắt con sâu ở bụi cây gần đó, bỏ lên mui xe An-Thạch, rồi cầm cục than viết bài thơ như sau:

Thanh-miêu, Trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
Độc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy xa giá quá Giang-Đông.

Dịch

Thanh-miệu trợ dịch hại nhà nông,
Thiên hạ xôn xao oán tướng công.
Độc hữu sâu vàng còn cảm đức,
Tháp tùng xa giá quá Giang-Đông.

Chữ của lão đẹp như rồng bay, phượng múa. An-Thạch biết đây là một dị nhân, giả làm ăn mày trêu mình. Y cung tay:

– Chẳng hay tiên sinh cao danh, quý tính là gì, có thể cho ta biết được không?

Lão mở to mắt nhìn An-Thạch, hai mắt An-Thạch gặp luồng nhãn quan của lão làm y rùng mình, hồn phách cảm thấy u u mê mê; y chỉ muồn nằm lăn ra ngủ một giấc. Tiếng lão ăn mày như rót vào tai An-Thạch:

– Biết để làm gì? Này tướng công. Xưa kia Hạng vương anh hùng là thế, khi qua sông này mang tám nghìn đệ tử, vào Trung-nguyên đuổi hươu. Lúc sự không thành, về qua bến Ô-giang, lủi thủi một mình. Vương nghĩ lại xấu hổ, không còn mặt mũi nào gặp phụ huynh của con em tử đệ đã chết, mà tự ải, nên danh lưu muôn thủa. Nay tướng công bầy ra Tân-pháp, oai phong biết mấy, rồi bị đàn bà, trẻ con Giao-chỉ đánh bại. Ôi đau biết bao, nhục biết bao? Sao tướng công không tự tử để lưu danh như Hạng-vương xưa???

Nghe lời lão ăn mày nói, An-Thạch cảm thấy mắt buồn ngủ muốn dí lại, tâm hồn mơ mơ tỉnh tỉnh. Y nghĩ thầm: Ừ ta còn sống làm gì nhỉ? Chết đi cho khỏi mệt thân, khỏi lao tâm khổ tứ.

Tiếng lão ăn mày vẫn như thiết như tha:

– Thời không đến! Vận đi qua. Tự tử đi thôi! Tự tử đi thôi.

Trong khi đó tếng tiêu từ đâu đưa đến, lọt vào tai y buồn đến đứt ruột ra được. Y rùng mình vẫy tay gọi Vương Phúc. Vương Phúc tiến tớ, tay rút kiếm, trở chuôi trao cho An-Thạch. Tiếng lão già vẫn thiết tha:

– Kiếm đó! Kiếm đó, tự tử đi thôi!

An-Thạch từ từ đưa kiếm lên cổ, lòng trù trừ chưa quyết. Tiếng lão già ăn mày càng thúc dục khẩn cấp hơn:

– Đâm kiếm vào ngực đi! Đâm ngay đi! Còn chờ gì nữa.

An-Thạch nghiến răng thọc kiếm vào ngực.

Bỗng có tiếng quát thanh thoát:

– Ngừng lại! Không nên!

Rồi một trái cam bay đến, đánh bay kiếm của An-Thạch đi. Thanh kiếm rời khỏi tay y đến hai trượng, rồi rơi xuống đất đến choang một tiếng. An-Thạch ngơ ngơ, ngác ngác nhìn người ném cam không cho y tự tử: Đó là một đôi nam nữ cỡi ngựa thủng thỉnh tiến tới. Bất giác y rùng mình, vì chính là Kinh-Nam vương Trần Tự-Mai với công chúa Huệ-Nhu.

Y mơ mơ màng màng cung tay hành lễ:

– Thần Vương An-Thạch xin tham kiến đại vương và điện hạ. Thời hết! Vận hết! Hôm nay thần nhất định tự kết liễu đời mình ở đây.

Công chúa Huệ-Nhu chĩa ngón tay điểm vào trán y đến véo một tiếng. Y rùng mình tỉnh lại. Chợt hiểu mọi sự, y chỉ mặt lão ăn mày, ba nhạc công:

– Thì ra các người định hại ta. Trọn đời ta, ta chỉ biết đem tài lương đống ra thờ vua, việc của ta không đụng chạm gì đến các người. Hà cớ các người muốn giết ta?

Y khom mình trước công chúa Huệ-Nhu:

– Đa tạ điện hạ cứu mạng.

Công chúa Huệ-Nhu cười nhạt:

– Kinh quốc-công cũng còn nhớ đến ta ư?

Kinh-Nam vương hướng lão già ăn mày:

– Tam sư huynh! Vương quốc công nay đã cùng đường, xin tam sư huynh tha mạng cho y một lần.

Vương An-Thạch kinh hãi hỏi lão già ăn mày:

– Người là người Việt ư?

Lão ăn mày vuốt mặt một cái, tay lột bộ râu giả ra rồi cười:

– Vương tiên sinh có nhận ra ta chăng?

An-Thạch rùng mình:

– Thì ra người là Kinh-châu tư mã Trần Trung-Đạo đấy ư?

– Chính thị. Ta với người không thù không oán. Tân-pháp của người thực là cổ kim chưa thánh nhân nào bằng. Giả như người thi hành Tân-pháp mưu cho dân giầu, nước mạnh, thì ta cũng khom lưng kính phục người. Nhưng người lại mưu đồ gây chiến, Nam xâm, thì ta phải giết người; để dân Hoa, dân Việt không tàn sát nhau, không thù hận nhau.

Kinh-Nam vương vẫy tay gọi vợ chồng Phúc, Lộc, Thọ lại, rồi mỉm cười:

– Thôi, việc của các con như vậy là xong rồi. Các con mau trở về cầm quân đi thôi. Quách Quỳ đang vượt biên vào Đại-Việt đấy.

An-Thạch ngơ ngơ ngác ngác như người trong mộng. Vương nói với y:

– Xin giới thiệu với quốc-công, đây là sáu sư điệt của ta. Ba đứa con trai đều họ Hùng có tên Nhân, Nghĩa, Lễ. Ba đứa con gái đều họ Âu có tên Hoàng, Thanh, Huyền. Trước đây chúng là trưởng lão Hồng-thiết giáo Chiêm đấy. Hiện chúng đều là tướng cầm quân bên Đại-Việt, võ công rất cao cường.

An-Thạch kinh hãi hỏi:

– Thì ra sáu người là gian tế của Giao-chỉ đấy ư? Đáng chết thực. Đáng lẽ ta phải biết từ trước mới phải. Ta trúng kế các người suốt mấy tháng qua mà chưa chết, cũng là điều lạ.

Hùng Nhân chỉ Kinh-Nam vương:

– Chính sư thúc của bọn tiểu nhân tuyên chỉ rằng không những không được giết tướng công, mà còn phải bảo vệ tướng công nữa.

Sáu người tới trước Vương An-Thạch cung tay:

– Cùng nhau qua chuyến đò cũng nên nghĩa. Huống hồ ba tháng qua, sáu chúng tôi được quốc công đãi ngộ, tin dùng. Nay chúng tôi trở về cố quốc, xin quốc công nhận lấy một vái, gọi là lễ tạ ơn.

Sáu người vái An-Thạch rồi cùng Trung-Đạo, ba nhạc công cùng nhập bọn ra đi. Thình lình Hùng Nhân quay lại vỗ tay vào cái trục xe ngựa của An-Thạch, lập tức rắc một tiếng, cái trục bị gẫy, bánh xe văng ra xa. Trong khi đó gã nhạc sĩ gảy độc huyền cầm, để tiêu liên miệng thổi một hơi. Tiếng tiêu làm cho An-Thạch, cùng tất cả gia thuộc đều không tử chủ được, chân tay múa may quay cuồng. Gã nhạc sĩ ngừng thổi tiêu, quay lại cười:

– Ta là ma sống, quỉ sống đây.

Rồi cả bọn phơi phới xuống con thuyền ở bên sông. Thuyền phu kéo buồm lên, con thuyền từ từ xa bến. Đâu đó, tiếng tiêu, tiếng phách, tiếng đàn vọng lại lẫn trong gió dìu dặt, thê lương như khóc như than.

Bằng ấy sự kiện, làm Vương An-Thạch như người trong cơn mê chợt tỉnh: Thì ra khi quân Việt đánh trận Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp cố tình thu lượm thây tử sĩ đem chôn, lại đề tên trên mộ, chỉ với mục đích dùng binh Tống chết, cướp hồn binh Tống sống. Việc xe gẫy trục, việc chó chết quẳng xuống giếng, việc hồn ma, bóng quỷ kêu khóc, việc tiếng tiêu ma quái làm chết người, việc hai thánh tăng... đều do Đại-Việt tạo ra để đánh triều Tống ngay tại Biện-kinh. Bất giác y rùng mình:

– Giả như ba cặp Phúc, Lộc, Thọ mà ra tay, thì giờ này ta còn đâu? Kinh-Nam vương là đấng anh hùng, bằng như vương trả thù ta, thì liệu gia thuộc ta, bản thân ta đâu có còn đến ngày nay?

Nghĩ vậy, lòng y nguội như tro tàn, bao nhiêu chí khí tiêu ma hết, y cùng với gia thuộc xuống đò sang sông.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT

Kim-cương thập bát hùng



Ngày Nhâm Thìn, mùa Đông, tháng chạp, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng nguyên niên đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt (10-12– Bính-Thìn. DL. 7-1-1077) nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống.

Trời Bắc-biên Đại-Việt đang mưa phùn, gió bấc đột nhiên mây quang, mưa tạnh, nắng ấm. Không khí trở lên khô quạnh, gió heo may rít trên những ngọn cỏ tiêu sơ.

Trên suốt một giải biên giới Hoa-Việt, các đạo quân Tống đóng thành một giải, trại nọ nối tiếp trại kia đến hơn hai trăm dậm. Binh tướng vừa nhận được lệnh:

Ngày 12 bắt đầu tiến đánh vào động Giáp, thủ đô của Bắc-biên.

Tin này, tế tác Bắc-biên thu được, lập tức sai chim ưng chuyển về cho Khu-mật viện. Một mặt Trung-Thành vương vội vã thông báo với Linh-Nhân hoàng thái hậu, Đại-tư mã Lý Thường-Kiệt. Một mặt sai chim ưng đi mời các tướng trấn thủ về thiết Tinh-triều.

Lễ nghi tất.

Trung-Thành vương trình bầy:

– Trong khoảng thời gian từ tháng ba đến giờ, mới có tám tháng, mà tình thế đã thay đổi gần như hoàn toàn. Trước hết là tình hình Tống. Hy-Ninh với Vương An-Thạch dốc quân nghiêng nước xuống đánh ta. Họ huy động tới bốn mươi vạn binh từ Tây-thùy, từ Bắc-cương, kể cả quân vùng Biện-kinh, vùng Kinh-Hồ, Mân-Triết. Họ lại huy động sáu mươi vạn bảo binh, vừa dùng để chuyển lương, vừa dùng để trấn thủ hậu cứ, trấn thủ vùng đã chiếm được.

Vương nói chậm lại:

– Với lực lượng đó, với quyết tâm của Tống triều, thì dù dân ta có đông gấp ba, quân ta có đông gấp hai, cùng không đủ khả năng chống đỡ. Hy-Ninh lệnh cho Quỳ, Tiết dùng lối đánh Thập kỷ, nhất bỉ, tức hy sinh mười của mình, chỉ để giết một địch. Quỳ cho viên trấn thủ Khâm-châu thí nghiệm lối đánh này ở Vĩnh-an. Quả nhiên đồn Ngọc-sơn thất thủ. Trong trận này, quân trấn thủ của ta có nghìn rưởi, Khởi dùng tới nghìn rưởi hàng binh của Thanh-Nhiên, ba nghìn rưởi hoàng nam của Vi Thủ-An, hai vạn quân Quảng, tức mười lăm người đánh một người. Dĩ nhiên Ngọc-sơn tử thủ, từ tướng tới quân ta đều tuẫn quốc. Nhâm Khởi hy sinh đến một vạn tám nghìn người, tức một đổi mười hai, mà Hy-Ninh vẫn coi là chiến thắng, ban chỉ cổ võ sĩ khí.

Thường-Kiệt tiếp lời Trung-Thành vương:

– Trong nguy cơ diệt tộc đó, Thái-hậu ban chỉ: Trước đây Tống đánh ta bằng Ngũ-lôi. Họ dùng hậu cung làm gian tế, họ dùng Chiêm đánh sau lưng, họ dùng người Việt gốc Hán làm nội ứng thì ta cũng dùng thuật đó đánh lại họ. Việc này xin để Trung-Thành vương phi trình bầy.

Trung-Thanh vương phi Nguyễn-thị Trinh-Dung, phụ tá Linh-Nhân hoàng thái hậu về Khu-mật viện đứng lên:

– Thái-hậu ban chỉ: Tống ra binh như đàn beo, đàn hổ đánh ta, thì ta cũng dùng năm mũi thần tiễn bắn chúng. Mũi thứ nhất quan trọng vô cùng. Mũi này mang tên dĩ hổ trị hổ. Ta dùng quân Tống đánh quân Tống, biến dân Tống thành kẻ thù của quân Tống. Nội dung thi hành như sau: Hồi ta ra quân Bắc-phạt, Thái– hậu ban mật chỉ cho Tín-Nghĩa vương tập hợp tù hàng binh, bắt hết bảo binh vùng Khâm, Liêm, các trại Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long thành lập các đạo quân Lĩnh-Nam rồi trao cho Động-đình thất kiệt; vùng Tô-mậu, Tây-bình, Lộc-châu, Ung-châu thành đạo quân Nam-Việt trao cho Tuyết-sơn thập anh; vùng Thái-bình, Hoành-sơn, Ôn-nhuận, Quy-hóa và Dung, Nghi, Bạch châu thành đạo quân Đông-Việt trao cho Trường-bạch ngũ hùng. Sau đó để cho họ tổ chức những vùng này như một nước nhỏ. Nay Tống đem quân xuống, thì bao nhiêu tài nguyên, tráng đinh bị ba nhóm này lấy hết. Ba nhóm này huy động quân cơ hữu, dân chúng kháng chiến đánh Tống. Quỳ, Tiết có dẹp được họ, thì cũng hao tổn tinh lực rất nhiều. Dĩ nhiên khi ba nhóm này bị diệt, quân cơ hữu, bảo binh chết hết, thì vô tình dân Nam-thùy Tống coi quân Tống triều là kẻ thù. Đó là lý do Tống ra quân từ tháng ba, mà giờ này mới tới đây. Đó cũng là lý do, Tống phải dùng bảo binh trấn từ Quế-châu trở xuống, phòng bị đánh tập hậu.

Vương phi tiếp:

– Mũi tên thứ nhì mang tên Tôn nho diệt tả tức dùng Nho giáo đánh Tân-pháp của Vương An-Thạch. Trước ta đã dùng tiền bạc khích các bậc chính Nho, danh nhân, văn thi sĩ chống Tân-pháp; tức chống Hy-Ninh, Vương An-Thạch. Điều này các vị đều biết. Cho đến nay các đại thần chống đối trở thành lực lượng được dân chúng, hậu cung cảm tình. Họ gồm Phó Tể-tướng Ngô Sung, Vương Khuê, Binh-bộ thượng thư Phùng Kinh. Ngoài các châu thì có hàng trăm đại thần chống Tân-pháp bị đầy, trong đó có các danh sĩ Tư-mã Quang, Tô Thức, Tô Triệt, Tần Quan, Trình Hiệu, Hoàng Đình-Kiên.

Ghi chú,

Sau này Hoàng Đình-Kiên soạn bộ Thần-tông thực lục, tức bộ sách chép tất cả sự kiện diễn ra dưới thời Hy-Ninh (1067-1077) và Nguyên-Phong (1078-1084), là một trong những tài liệu chính yếu để viết bộ Nam-quốc sơn hà này. Niên hiệu Thiên-Thánh nguyên niên (1094), Tân-pháp của Vương An-Thạch lại được tái dụng. Ông đang làm chức Bí-thư thừa kiêm biên tu quốc-sử, Tể-tướng Chương Đôn thuộc Tân-đảng vu cáo rằng trong bộ Thần-tông thực lục ông cố ý chép sai sự thực. Ông bị vua đầy ra Phù-châu (Tứ-xuyên ngày nay). Những điều Chương Đôn cáo ông chép sai chỉ có ba phần chính: Một là phe đảng của Vương An-Thạch quá khích; hai là các tướng Việt quá anh hùng, quân Việt quá thiện chiến; ba là sự vội vã đem quân đánh Đại-Việt thay vì đánh Liêu. Đem so sánh với Quách-thị Nam chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, các bia ở đền thờ Tống ngũ đại vương từ tại Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp là Quách Thủ-Tiết, Ôn Nguyên-Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn...Tôi thấy trong ba vấn đề mà Chương Đôn nói rằng ông chép sai sự thực đó, thì trại lại quá sơ lược, gần như lướt qua mà thôi.

Mọi người đều gật đầu công nhân mũi này khá độc.

– Mũi thứ ba là dùng hậu cung chống Hy-Ninh, Vương An-Thạch. Mũi này mang tên Trung thứ bại tặc Nho, tức ta dùng lòng ngay thẳng, sự hiếu kính của ta, đánh tên tặc Nho Vương An-Thạch. Nguyên thời hàn vi, Thái-hậu được vua Anh-tông và Tuyên-Nhân Thánh-liệt hoàng thái hậu bên Tống tặng vàng, dạy võ thu làm đệ tử. Từ ngày người nhập cung, hàng năm vẫn sai sứ sang dâng lễ vật lên sư phu, sư mẫu vào dịp sinh nhật, vào dịp tết Nguyên-đán. Nay nhân dịp sinh nhật Tuyên-Nhân Thánh-liệt hoàng thái hậu; người sai hai quận chúa Trần Ngọc-Liên, Trần Phương-Quỳnh đi sứ, để kết thêm tình thân, và trình bầy tất cả thảm trạng chiến tranh do Hy-Ninh, Vương An-Thạch gây ra.

Vương-phi đưa mắt nhìn Phương-Quỳnh rồi tiếp:

– Mũi thứ tư là giết chết Vương An-Thạch. Mũi này mang tên Viêm-đế sát Bắc cẩu. Mũi thứ năm là dùng xác chết, hồn ma quân Tống, đánh vào tâm quân Tống, mang tên Xử ma bại quỷ. Mũi này xuất phát trong Võ-kinh Phù dụng binh chi đạo, công tâm vi thượng; công thành vi hạ. Tâm chiến vi thượng, binh chiến vi hạ. Nghã là: Phàm đạo dùng binh thì đánh vào tâm giặc là thượng sách; đánh vào thành giặc là hạ sách. Tâm chiến là thượng sách; binh chiến là hạ sách». Kết quả ba mũi tên này đều có liên hệ với nhau. Xin để quận chúa Phương-Quỳnh trình bầy.

Phương-Quỳnh đứng lên thuật lại: Khi hai nàng đến Biện-kinh, vào cung Bảo-từ yết kiến Tuyên-Nhân Thánh-liệt hoàng thái hậu dâng lễ mừng. Ngọc-Liên là người có giọng nói ngọt như cam thảo, rất dễ lọt tai. Nhân thái hậu là người Hào-châu, hai nàng cố luyện giọng nói, mặc y phục vùng này mà bái kiến. Cho nên vừa gặp hai nàng, Tuyên-Nhân hoàng thái hậu đã hài lòng. Hai nàng trình bầy đức hiếu kính của Linh-Nhân hoàng thái hậu lên sư mẫu; lại xin được đến điện Linh-thiên để dâng lễ, cùng bái yết di dung vua Anh-tông là sư phụ của Thái-hậu. Ngọc-Liên tâu với Tuyên-Nhân hoàng thái hậu: Khi thần lên đường, Linh-Nhân hoàng thái hậu dặn dò đủ điều. Người nhớ đến tình yêu vô bờ bến của tiên đế với Thái-hậu ban cho hồi ở Từ-quang tự, mà khóc đến hết nước mắt. Tuyên-Nhân Thánh-liệt nghe đến đây hồi tưởng lại lúc bà với vua Anh-tông rời chùa Từ-quang, bấy giờ Thái-hậu còn là Minh-Đệ gục đầu vào ngực bà mà khóc nức nở, không muốn xa; nay nghe Ngọc-Liên kể, bà chợt nhớ truyện xưa rồi cũng bật lên tiếng khóc.

Nhờ hai nàng nói giỏi, thông thạo kinh, sử, tử, tập Trung-quốc, nên được Tuyên-Nhân Thánh-liệt hoàng thái hậu giữ chơi hơn tháng ở trong cung để giảng kinh sách, lễ nghi cho. Hai nàng đã được bà thu làm đệ tử. Chính vì vậy mà hai nàng biết Thái-hậu rất ghét Tân-pháp, bởi Tân-pháp đi ra ngoài Nho. Hai nàng lại trình bầy: Đại-Việt đã lập Văn-miếu đắp tượng thờ Không-tử, bẩy mươi hai vị tiên hiền để thờ. Nhân lúc Tuyên-Nhân thái hậu vui lòng, hai nàng trình bầy rõ: Linh-Nhân hoàng thái hậu là người xuất thân dân dã, Thái-Ninh đế tuổi còn thơ, Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản không thích công danh, Lý đại tư mã là quan thị; chả ai có can đảm gây chiến với Thiên-triều. Tất cả chỉ mong ơn mưa móc của Thiên-triều xuống, mà khốn thay Vương An-Thạch muốn đánh Đại-Việt để giải làn sóng chống đối trong triều, ngoài trấn. Nay quân Thiên-triều hơn trăm vạn sang, Linh-Nhân hoàng thái hậu nhờ hai nàng tâu với sư mẫu rằng, nếu như Đại-Việt không giữ nổi, thì sẽ dùng thuyền vượt biển sang nương nhờ sư mẫu. Tuyên-Nhân thái hậu nổi lôi đình, người hứa sẽ tìm cớ cách chức Vương An-Thạch.

Trong khi ở trong cung Bảo-từ, hai nàng biết rất nhiều tin tức về Tống triều, đặc biệt việc An-Thạch kinh lý phương Nam. Ngọc-Liên vội báo cho hệ thống tế tác của ta do Trần Bảo-Dân điều khiển. Hệ thống tế tác gồm có Côi-sơn tam anh, Thần-vũ thập anh, thêm hai đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh đang nghiên cứu cách giết Vương An-Thạch. Ngặt vì từ khi phò mã Thân Thiệu-Thái, vua bà Bình-Dương, U-bon vương... đại náo Sùng-chính điện, thì từ trong cung, cho đến tư dinh đều bố trí thị vệ, võ sĩ rất cẩn mật, ta không có cách nào giết Thạch. Côi-sơn tam anh nhờ Kinh-Nam vương giúp đỡ. Nhưng Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu đều từ chối rằng: Tuy Thạch cùng Hy-Ninh đế kiếm cớ để đến nỗi vương với công-chúa phải rời quân-lữ thực; nhưng đó là cớ có thực. Bình tâm mà xét, Thạch là đại thiên tài, là đại công thần của Tống, vương không thể, và không nên giết Thạch. Côi-sơn tam anh nhờ đến Quốc-mẫu, Mộc-tồn hòa thượng, tiên nương Bảo-Hòa, vua bà Bình-Dương, U-bon vương can thiệp, vương cũng lắc đầu, khoanh tay đứng ngoài cuộc: Ai giết Thạch được thì cứ giết, vương không cản; ngược lại vương không giúp ta giết y.

Mọi người đều gật đầu công nhận Ưng-sơn song hiệp có lý: Đối với luật pháp, đạo lý Tống; quả Thạch vô tội, lại có đại công. Hơn nữa y là một thiên tài.

Phương-Quỳnh tiếp:

– Nhân ngày sinh nhật chín mươi lăm của quốc-trượng Tự-An. Quốc-mẫu xin quốc trượng can thiệp, bắt Kinh-Nam vương giết An-Thạch. Không những quốc trượng không can thiệp, mà lại còn dạy: Bất cứ người Việt nào cũng có thể giết An-Thạch, trừ Tự-Mai. Vì An-Thạch là thiên tài, là đại công thần Tống, trong khi Tự-Mai là phò mã là Kinh-Nam vương của Tống. Nếu ta hay Tự-Mai là An-Thạch, ta cũng hành xử như y. Cuối cùng công chúa Huệ-Nhu đồng ý giúp Côi-sơn tam anh làm cho Thạch tiêu ma chí khí, hóa khùng hóa điên, bị cách chức, chứ không giết y.

Thế rồi nàng thuật chi tiết việc Kinh-Nam vương sai chân tay của người là Đô Kinh, làm gia tướng cho An-Thạch giúp đỡ Côi-sơn tam anh để lọt vào dinh An-Thạch, hậu cung; làm rối loạn dinh An-Thạch, hậu cung. Chính Đô Kinh bầy ra vụ Thần-vũ thập anh mãi võ, rồi tuyển làm vệ sĩ của Thạch; cố tình đánh xe cho Thạch qua vùng Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, thay vì đi đường khác. Cuối cùng y bị tiêu ma chí khí, bị cách chức, suýt nữa tự tử ở bờ sông Trường giang. Đúng lúc đó Ưng-sơn song hiệp xuất hiện cứu y, và cho y biết rõ: Đáng lẽ y bị giết, song hai vị nhớ công, thương tài mà cứu cho. Nếu muốn sống thì phải ở yên Giang-ninh.

Công-chúa Côi-sơn hỏi:

– Phương-Quỳnh, thế còn mũi tên thứ năm, dùng quân Tống chết, đánh quân Tống sống ra sao?

– Trình thái sư thúc.

Phương-Quỳnh trình: Sau trận đánh Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, Ung-châu; phu nhân với chồng huy động quân Việt thu nhặt tử thi quân Tống chôn riêng từng người một, suốt dọc đường Bắc-Nam từ Côn-lôn xuống Ung-châu. Trên mỗi mộ đề rõ tên tuổi, đơn vị, quê quán. Nay quân Tống từ Tây, Bắc xuống, khi qua hàng chục vạn nấm mồ ấy, dù can đảm đến đâu cũng tan nát chí khí. Một điều may mắn nữa, khi ban chỉ thiết kế thái hậu không ngờ tới: Đó là bố mẹ, vợ con, anh em tử sĩ nhân thấy quân Tống chiếm lại vùng đất bị ta đánh, đã theo xuống cải táng tử thi mang về nguyên quán. Vì xác chết mới chôn được hơn sáu tháng, nên khi đào lên hôi thối cùng cực, dòi bọ lúc nhúc, ruồi nhặng sinh ra hợp với lam chướng, khiến quân Tống chết vì bệnh không biết bao nhiêu mà kể.

Ghi chú,

Ngày nay quân đội các nước đều mang một tấm thẻ kim khí đeo ở cổ, để khi chết dễ dàng tìm ra căn cước. Còn đời Tống, quân sĩ đều phải dùng chàm xâm vào người các chi tiết: Họ tên, quê quán, ngày giờ tháng năm sinh. Có lẽ Đinh Hoàng-Nghi sai Thiên-tử binh căn cứ vào đó mà viết lên những mảnh gỗ cắm trên mộ, cho thân nhân dễ tìm kiếm.

Trung-Thành vương trình bầy tiếp:

– Bây giờ tới tình hình mặt trận Bắc-cương. Tên Vi Thủ-An với hai mươi trang động hàng giặc; tên Trần Thanh-Nhiên, Nguyễn Văn-Khan làm phản, vì vậy đồn Ngọc-sơn thất thủ, trại Như-hồng về tay giặc. Nhờ hạm đội Âu-Cơ yểm trợ, đô thống Lê Huy với quận chúa Chu Thúy-Phương vẫn cố thủ được ở Tiên-yên. Thế là mặt trận Bắc-cương bị hở cánh Đông-Bắc. Bây giờ vua bà Thiên-Thành cho biết tình hình cánh Tây-Bắc.

– Tâu Thái-hậu, kính Hoàng-thúc, kính đại huynh.

Công-chúa Thiên-Thành trình: Trong hai tên cầm quân đánh ta, thì tên Triệu Tiết là ngưới mưu lược hơn hết. Y tận dụng bọn trang trưởng, động-chủ thuộc vùng Tả-giang, Hữu-giang của Tống, vùng Tô-mậu của ta, vốn có giao hảo với các trang-động chủ thuộc quyền Lưu Kỷ; sai chúng dẫn bọn tướng Tống biết nói tiếng Việt như Tu Kỷ, Yên Đạt, Khúc Chẩn đi chiêu hàng. Có trang động ham danh mà theo, có trang động vì cô lập mà theo, cũng có trang động cương quyết chống, nhưng bị chúng đem quân ép mà phải nép. Cuối cùng, Lưu Kỷ mất hết các trang động trực thuộc đành phải hàng. Tiết biết Kỷ có uy tín, bất đắc dĩ mà khuất, nên sau khi hàng, chúng đưa Kỷ với cả gia quyến về Biện-kinh.

Thường-Kiệt hỏi:

– Còn Hoàng Kim-Mãn, xưa nay y thù hận Tống ghê lắm, mà sao y đầu hàng dễ dàng như vậy?

– Thưa đại huynh.

Phò-mã Thân Cảnh-Long trình: Từ lâu rồi, giữa 40 trang động của Môn-châu với ba mươi trang động của Vĩnh-bình thù hận, chém giết nhau khủng khiếp lắm. Khi Tống mạnh thì Vĩnh-bình dựa hơi chém giết người thuộc Môn-châu. Khi Việt mạnh thì Môn-châu dựa hơi chém giết người của Vĩnh-bình. Hồi tháng chín năm trước, ta đem quân Bắc-phạt, Hoàng Kim-Mãn với các trang động thuộc Môn-châu tàn sát các khê động của Vĩnh-bình khủng khiếp lắm, đến như sư thúc Tôn-Đản Cẩm Thi mà cũng không ngăn cấm được. Sau nhờ Kinh-Nam vương sai sứ lên bắt phải ngừng, bấy giờ cuộc chém giết mới hết. Từ ngày ấy, người của Môn-châu chia nhau cai trị các trang động Vĩnh-bình. Sau khi Yên Đạt, Tu Kỷ thu phục được các trang động thuộc Lưu Kỷ, y đem quân ép phía Tây Môn-châu; Khúc Chẩn đem quân ép phía Bắc, rồi Triệu Tiết sai sứ đến dụ rằng: Nay các thủ lãnh của khê động thuộc Vĩnh-bình bị Mãn giết hết rồi, nếu Mãn hàng thì không những vẫn cho cai quản trang ấp thuộc lãnh thổ Việt, mà còn cho tiếp tục cai quản các khê động Tống mà Mãn đang cai trị nữa. Thế là Hoàng Kim-Mãn đầu hàng.

Lý Thường-Kiệt thấy công chúa Thiên-Thành gọi mình là đại huynh, ông cũng dùng ngôn từ bình dân đáp lại:

– Thiên-Thành đừng lo. Mục đích của ta là dùng các trang động kéo dài thời gian, làm cho Tống hao tốn tiền của. Với mấy trang động, ta cản được quân Tống tới chín tháng, thì quả thực vượt ra ngoài điều ước muốn rồi; huống hồ ta còn nguyên 117 trang động thuộc Lạng-châu.

Ông nói với Trung-Thành vương:

– Hiền đệ hãy trình bầy tình hình mặt trận trên biển cho Thiên-Thành, Cảnh-Long biết đi.

– Về mặt trận trên biển.

Trung-Thành vương giảng giải: Tống có hai hạm đội. Hạm đội Tương-giang hồ Động-đình thường được gọi tắt là hạm đội Kinh-Tương do đô đốc Hứa Ngạn-Tiên, Lưu Sơ chỉ huy. Theo chỉ dụ của Khu-mật viện Tống, hạm đội này chạy ra thực xa bờ biển, rồi đổi hướng Nam vào giúp Chiêm đánh chiếm lại Nhật-lệ, kéo vào đánh sau lưng ta ở Thanh-Nghệ. Hạm đội thứ nhì là hạm đội Mân-Triết di xuống Khâm-châu. Hạm đội này do đô đốc Dương Tùng-Tiên, Tô Tử-Nguyên chỉ huy. Hạm đội có nhiệm vụ chuyển lương từ Giang-tô, Triết-giang, Phúc-kiến xuống Khâm-châu. Đợi sau Quách Quỳ tiến tới sông Như-nguyệt, thì phải vượt biển chở lương xuống tiếp tế, cùng chở quân bộ qua sông.

Vương ngừng lại uống chung trà, rồi tiếp:

– Tin này ngư dân ta thu được, báo cho đại đô đốc Lý Kế-Nguyên. Đô-đốc phái đô-đốc Trần Lâm đem hạm đội Động-đình, đô-đốc Trần An đem hạm đội Bạch-đằng ra khơi đánh tan hạm đội Kinh-Tương. Hứa Ngạn-Tiên, Lưu Sơ chỉ còn hai chiến thuyền chạy thoát về Quảng-châu. Đô-đốc Lý Kế-Nguyên lại sai đô đốc Trần An dùng tù binh Tống, chiến hạm Tống bắt được, giả thủy binh Tống cập bến Thi-nại đón quân Chiêm đi chiếm Nhật-lệ. Quân Chiêm không đề phòng, bị đánh tan ở cửa Thi-nại.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi phò-mã Thân Cảnh-Long:

– Từ tháng ba đến giờ, bọn Triệu Tiết, Ty Kỷ, Yên Đạt, chiếm được hết các trang động của Lưu Kỷ, Hoàng Kim-Mãn. Cánh tả của ta, bị hở. Trong khi cánh hữu, Vi Thủ-An hàng, đem quân trợ giặc đánh Ngọc-sơn. Lạng-châu hoàn toàn bị cô lập, chỉ còn hai ngày nữa quân Tống tiến đánh, vậy phò-mã ứng chiến ra sao?

– Tâu thái hậu:

Phò mã Cảnh-Long đáp: Hiện nay đại lực lượng quân Tống đang dồn vào khu hẹp, mà chỉ có con đường duy nhất tiến về Nam thì bị bốn tướng khạc ra lửa, mửa ra khói của ta trấn nhậm; đó là công-chúa Côi-sơn, phò mã Tôn Mạnh trấn ở Quyết-lý; Quán-quân thượng tướng quân Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh trấn ở Chi-lăng. Tình thế bắt buộc Tống phải nhổ hai ải này. Vậy lực-lượng hoàng nam của Lạng-châu sẽ cố thủ trong các trang động, để làm chậm bước tiến của giặc, đánh tập hậu. Nếu Quách Quỳ muốn đánh hai ải Quyết-lý, Chi-lăng, thì phải tốn ít nhất từ ba tới năm vạn nhân mạng.

Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi đề nghị:

– Quân Tống đang đóng trại liên tiếp nhau như vậy, lại khinh thường ta không dám trực diện đối chiến. Thần xin đề nghị: Ta đem quân bất thần trong đêm cướp trại, đốt lương, khiến chúng kinh hoàng, trở thành e dè. Như vậy còn hơn ngồi chờ chúng đến đánh.

Linh-Nhân hoàng thái hậu đưa mắt cho Đại-tư mã Lý Thường-Kiệt, rồi tuyên chỉ:

– Cách đây ít lâu, đệ tử của sư bá Mộc-tồn là Thập-bát Kim-cương từ Chiêm về để dự cuộc chống Tống cứu nước. Cô phụ đã trao cho Binh-bộ thượng thư cứu xét tài năng, rồi bổ nhiệm. Mới đây Binh-bộ tâu rằng, về võ công, cả mười tám vị đều cao thâm không thua Thần-vũ thập anh làm bao. Về tài dùng binh, thì chỉ thua Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt chút kinh nghiệm mà thôi. Cô phụ với đại tư mã Thường-Kiệt quyết định bổ nhiệm như sau.

Mười tám Kim-cương bước ra quỳ gối nghe chiếu chỉ:

– Tất cả các Kim-cương vì sinh đẻ ở Xiêm, mang họ Tha-ma-đạt, Lôi-ki-đa, Vong-si-vít, U-bộc than-na rất khó cho binh tướng Việt gọi, nên triều đình quyết định ban cho nam quốc tính Lý, còn tên thì vẫn giữ nguyên. Riêng nữ, đều xinh đẹp, dáng điệu thanh nhã, nên ban cho chữ mai. Tất cả chín người đều được giữ chức Đô-thống. Lý Nhất với vợ là Mai-Nhất chỉ huy phó hiệu Ngự-long. Lý Nhị, Mai Nhị chỉ huy phó hiệu Quảng-thánh. Lý Tam, Mai Tam chỉ huy phó hiệu Quảng-vũ. Lý Tứ, Mai Tứ chỉ huy phó hiệu Bổng-nhật. Lý Ngũ, Mai Ngũ chỉ huy phó hiệu Đằng-hải. Lý Lục, Lý Thất, Mai Lục, Mai Thất theo Trung-Thành vương. Lý Bát, Ly Cửu, Mai Bát, Mai Cửu theo Tín-Nghĩa vương.

Mười tám Kim-cương lạy tạ, rồi về chỗ.

– Xin sư huynh điều quân.

Nghe Thái-hậu tuyên chỉ, Thường-Kiệt để kiếm lệnh lên trước mặt:

– Tổng chỉ huy phòng tuyến chặn giặc ở Bắc-cương là phò mã Thân Cảnh-Long với vua bà Thiên-Thành. Ngay bây giờ hai vị về Bắc-cương, cùng công chúa Côi-sơn, phò mã Tôn Mạnh; Quán-quân Thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi, quận chúa Phương-Quỳnh, đô thống Lý Tam, Mai Tam... xử dụng hoàng nam, hiệu binh Kinh-Bắc, hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ cướp trại giặc, đánh cho chúng kinh hoàng. Sau đó phò mã, công chúa dùng hoàng nam 117 trang động làm chậm bước tiến của chúng, cướp lương đánh tập hậu, khiến chúng phải chia quân phòng vệ khắp nơi. Còn công chúa Côi-sơn với tướng quân Hoàng-Nghi cố thủ trong ải Quyết-lý, Chi-lăng.

Tám người đứng dậy nhận lệnh.

– Tuy nhiên phía Tây, còn một con đường từ Quảng-nguyên, qua Đâu-đỉnh. Có thể khi đánh không được Quyết-lý, Chi-lăng, bọn Quách Quỳ sẽ dùng đường này xuống đồng bằng. Trước ta đã cử Vũ-dực đại tướng quân Dư Phi với hiệu binh Đại-hoàng trấn ở đây. Nay không có gì thay đổi.

Dư Phi đứng dậy nhận lệnh.

– Về phòng tuyến sông Như-nguyệt, thì tại thượng lưu, phía sau núi Tam-đảo là Phú-lương do phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên trấn thủ. Lực lượng gồm hiệu Thiên-tử binh Vũ-thắng, do Quy-đức đại tướng quân Trần Di, phu nhân Phương-Lý chỉ huy; hiệu Bổng-nhật do Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan, với phu-nhân là quận chúa Trần Ngọc-Liên chỉ huy. Các tướng phụ trấn gồm các đô thống Hùng Trí, Hùng Tín, Lý Tứ với bốn phu nhân.

Mười hai người đứng đậy nhận lệnh.

– Tại hạ lưu, khu Vạn-xuân, Lục-đầu do Tín-Nghĩa vương với vương phi Lê Ngọc-Nam trấn thủ. Lực lượng gồm có hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải do Vân-ma thượng tướng quân Trần Ninh, với phu nhân là quận chúa Trần Ngọc-Hương chỉ huy; hiệu Long-dực do Trung-vũ đại tướng quân Dương Minh, với phu nhân là Phương-Cúc chỉ huy. Phụ trấn có đô thống Lý Bát, Lý Cửu và hai phu nhân.

Mười người đứng dậy nhận lệnh.

– Tại chính phòng tuyến Như-nguyệt là cửa ngõ vào Đình-bảng có lăng tẩm tiên đế, lại gần Thăng-long, ta có hai vòng đai bảo vệ. Vòng đai chiến lũy Như-nguyệt do Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn Căn, phu nhân là công chúa Vũ Thanh-Thảo chỉ huy. Lực lượng gồm hiệu Thiên-tử binh Bổng-thánh do Tuyên-uy đại tướng quân Mai Cầm, phu nhân Phương-Đơn chỉ huy; hiệu Bảo-thắng do Minh-uy đại tướng quân Quách Y với phu nhân là Phương-Tiên chỉ huy. Phụ trấn có đô thống Hùng Nhân, Hùng Nghĩa, Hùng Trí và các phu nhân Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền.

Mười hai người đứng dậy nhận lệnh.

– Tại vòng đai thứ nhì bao gồm khu rừng tre tới Thăng-long do công chúa Thiên-Ninh chỉ huy. Lực lượng trực thuộc gồm có hiệu Ngự-long do Long-nhương thượng tướng quân Phạm Dật, với phu nhân là quận-chúa Lê Kim-Loan chỉ huy; hiệu Quảng-thánh do Hổ-uy thượng tướng quân Vũ Quang với phu nhân là quận chúa Võ Kim-Liên; hiệu Phù-đổng do Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt; hiệu binh Hồng-châu do đô thống Dương Nghi chỉ huy.

Chư tướng đứng dậy nhận lệnh.

– Một lực lượng nữa, lĩnh nhiệm vụ thần sầu, quỷ khốc, là dùng thuyền nhỏ di động ở những sông lạch phía Nam sông Như-nguyệt; khi thì thình lình vượt sông làm rối loạn địch; khi địch vượt sông, thì chặn đánh địch ở ngoài chiến lũy, gây cho địch luôn ở thế bất an. Người lĩnh nhiệm vụ này, phi Trung-Thành vương với vương phi Nguyễn-thị Trinh-Dung không ai đảm trách nổi.

Trung-Thành vương với vương phi đứng dậy nhận lệnh.

– Lực lượng thống thuộc vương gồm hạm đội Thần-phù do đo-đốc Trần Hải chỉ huy. Lực lượng xung kích gồm: Hiệu Thiên-tử binh Hùng-lược do Định-viễn đại tướng quân Ngô Ưùc với phu nhân là Phương-Dược chỉ huy; hiệu Vạn-tiệp, do Ninh-viễn đại tướng quân Tạ Duy với phu nhân là Phương-Quế chỉ huy; hiệu Thần-điện do Tuyên-vũ đại tướng quân với phu nhân là Phương-Liễu chỉ huy. Phụ tá có Lý Lục, Lý Thất, Mai Lục, Mai Thất.

Thường-Kiệt hỏi đại đô-đốc Lý Kế-Nguyên:

– Xin đô đốc cho biết việc phòng lãnh hải.

Tất cả các võ tướng, đô đốc đều mặc quần áo võ, duy Lý Kế-Nguyên vẫn trang phục nho sĩ, tay phe phẩy quạt lông, dáng thực nhàn nhã. Ông chắp tay vào nhau:

– Thủy quân ta đã làm chủ, đang làm chủ, và sẽ vẫn làm chủ trên biển Đông.

Cử tọa vỗ tay hoan hô.

Ông tiếp: Tống hiện chỉ còn hạm đội Mân-Triết do Dương Tùng-Tiên, Tô Tử-Nguyên chỉ huy đang đóng ở Khâm-châu, chờ khi bộ binh của họ tới sông Như-nguyệt là chúng đánh xuống, rồi vào chở qua. Nếu như ngay bây giờ tôi diệt hạm đội này, thì bọn Quách Quỳ sẽ dùng phương thức khác qua sông. Vì vậy tôi để chúng yên. Khi Quách Quỳ đến sông Như-nguyệt, hạm đội Mân-Triết vừa tới Tiên-yên là tôi bao vây chặt cứng, để cho Quách Quỳ chờ đỏ con mắt ra, mà không hiểu tại sao.

Vũ-dực đại tướng quân Dư Phi hỏi:

– Kính tiên sinh, vì cớ nào tiên sinh không diệt chúng, mà chỉ bao vây thôi?

Kế-Nguyên cười:

– Nếu tôi diệt hạm đội Mân-Triết, khi tin đưa về Biện-kinh, Tống triều sẽ sai hạm đội khác xuống; mình lại phải đánh hạm đội này, có phải tốn thêm máu, thêm của không? Hoặc giả Tống báo cho bọn Quách Quỳ, để chúng tìm cách khác qua sông; thì sao bằng mình bao vây chúng, để Quách Quỳ đóng quân ở chỗ vô dụng, hao tốn lương thảo; ngày đêm binh tướng bị muỗi, bị nước độc giết dùm ta ?

Triều đình cùng vỗ tay hoan hô. Ai cũng nghĩ như nhau: Một nho sinh cầm quân, nên có những cái nhìn thực xa, thực rộng, mưu trí thâm sâu vô tận.

Buổi thiết Tinh-triều chấm dứt.

Ngày Quý Tỵ, mùa Đông tháng chạp, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng nguyên niên đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt (11-12 Bính-Thìn,DL.8-1-1077)nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống.

Bấy giờ đã là giờ Dần (3-5 giờ), tại ải Quyết-lý, thuộc Bắc-cương; phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiên-Thành; công chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên, Trấn Bắc đại tướng quân Tôn Mạnh; Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi, quận chúa Phương-Quỳnh, cặp Kim-cương đệ tam; bàn luận, phân công, để thi hành chỉ dụ của triều đình: Cần đánh một trận, để dằn mặt quân Tống, và nâng cao sĩ khí quân Việt.

Công chúa Thiên-Thành trình bầy:

– Tin mới nhất cho biết, bọn chúng đã chuẩn bị sẵn, ngày mai tiến quân vào đánh Lạng-châu. Kế hoạch tiến quân như sau: Mũi thứ nhất xuất phát từ Vĩnh-bình vượt biên đánh vào hông trái, chiếm mười hai trang động, rồi tấn công động Giáp. Cánh này do Tu Kỷ chỉ huy. Quân tham chiến có đạo binh đệ tứ do tướng Lý Hạo chỉ huy với hơn nghìn hoàng nam của con trai Hoàng Kim-Mãn là Hoàng Kim-Khôi dẫn đường. Mũi thứ nhì xuất phát từ Tây-bình vượt biên chiếm mười bốn trang động, rồi tấn công trực diện vào Quyết-lý. Cánh này do Yên Đạt chỉ huy. Quân tham chiến có đạo đệ ngũ do tướng Trương Chi-Giám chỉ huy với hơn nghìn hoàng nam của con trai thứ nhì Hoàng Kim-Mãn là Hoàng Kim-Ngọc dẫn đường. Mũi thứ ba phát xuất từ Lộc-châu vượt biên chiếm mười sáu trang động, rồi tấn công phía sau Quyết-lý, cản trở không cho quân Chi-lăng cứu viện. Cánh này do Khúc Chẩn chỉ huy. Quân tham chiến có đạo đệ lục do tướng Dương Vạn chỉ huy với hơn nghìn hoàng-nam của con trai thứ ba Hoàng Kim-Mãn là Hoàng Kim-Ngân dẫn đường.

Công chúa đưa ra ba tấm lụa, trên đó vẽ bản đồ đồn trú quân của ba trại. Đinh Hoàng-Nghi mở to mắt ra nghiên cứu, rồi hầu gật đầu, như tìm được điều gì khoan khoái vậy.

Công chúa Côi-sơn sẽ vỗ vai Đinh Hoàng-Nghi:

– Bây giờ chúng ta phải hành động ra sao? Cô chỉ giỏi dùng binh, chứ mưu mẹo thì không bằng cháu. Cháu lắm mưu, nhiều mẹo, cháu định làm thịt chúng cách nào đây?

Hoàng-Nghi từng tham dự trận đánh Cổ-vạn, Tiểu-dã, Khâm-châu với Thanh-Nguyên, hầu biết rằng: Bà cô này cực kỳ yêu thương hầu, lại rất tin tướng hầu. Về võ công bà cao thâm không biết đâu mà lường, tài dùng binh thì thuộc loại số một, số hai Đại-Việt. Nhưng mưu kế thì bình thường thôi. Hầu cung tay:

– Thưa cô! Ngày mai chúng vượt biên tấn công, thì trong lòng chư tướng Tống vốn đã có ý tự phụ, không đề phòng kỹ. Vậy đêm nay ta tấn công chớp nhoáng vào ba căn cứ trên, đốt sạch lương thảo, rồi rút về. Như vậy, nhất định thành công.

Tôn Mạnh cau mày:

– Ba đạo quân này của Tống, cùng với hoàng nam phản bội, ít ra là bốn vạn. Trong khi ta chỉ có khoảng hai vạn, lại phải để lại giữ nhà, phục kích chặn đường nếu chúng đuổi theo. Liệu có thành công không? Con nên cẩn thẩn hơn.

– Thưa phò mã, ta có cần cướp trại giết quân giặc đâu? Ta chỉ cần đốt lương thảo rồi bỏ chạy mà thôi. Đốt lương thảo, ta đánh cảm tử, mỗi trại chỉ cần nghìn người cũng đủ rồi.

– ???

– Cháu đã nghiên cứu bản đồ ba trại, thì thấy rằng bọn hoàng nam đều đóng bên cạnh kho lương. Vậy ta âm thầm đột nhập, thình lình đốt lương, rồi cứ nhắm bọn hoàng nam phản bội mà chặt, miệng la bai bải Bọn Môn-châu làm phản! Anh em họ Hoàng đốt lương. Thế là tụi nó chém giết nhau hỗn loạn, còn ta thì chuồn êm. Vì các đạo quân Tống là người Hà-Bắc, vậy ta phải dậy cho quân sĩ hô câu này bằng tiếng Hà-Bắc.

Thanh-Nguyên hiểu liền:

– À, phải rồi. Hồi đánh Cổ-vạn mình chiếm được kho vũ khí, quân trang của Tống, cháu sai cất đi, rồi nói rằng sau có chỗ dùng đến. Bây giờ ta cho quân mình mặc giả làm quân Tống, nhưng trên cánh tay mỗi người phải buộc thêm một miếng vải trắng để khỏi ngộ nhận.

Cảnh-Long vui vẻ:

– Được! Đúng giờ Hợi, khi Lôi-tiễn bắn lên trời, thì đồng tấn công.

Sau khi luận bàn xong, chư tướng trở về trại mình.

Tối hôm ấy, khi màn đêm buông xuống Lộc-châu, sau ba tiếng trống báo hiệu tắt đèn đi ngủ, các trại quân Tống chìm vào trong không gian đen tối. Lát sau, quân tướng đã riu riu nhập hồn vào giấc ngủ.

Thình lình một tiếng rú như cú kêu, tiếp theo một vệt xanh-vàng-đỏ bay vọt lên trên bầu trời, rồi phát ra tiếng nổ như sấm. Một trái cầu lửa từ vệt xanh-vàng-đỏ ấy chụp xuống trại Tống. Binh canh chưa biết đó là cái gì, và phải làm gì; thì lửa trong khu chứa lương thảo ngùn ngụt bốc lên, rồi tiếng ngựa hí, tiếng cọp gầm, tiếng beo rống, tiếng sói tru như muốn nổ tung trại ra. Đâu đó có tiếng la lớn:

– Phản! Phản! Phản!

– Bọn Man làm phản đốt kho lương.

– Anh em họ Hoàng làm phản.

Bấy giờ bọn binh canh mới biết rằng có biến, vội thúc trống báo động. Binh tướng Tống mới từ Ung-châu di xuống Lộc-châu được mấy ngày, trong thế công chuẩn bị đánh thẳng vào Lạng-châu, nên không có kế hoạch đề phòng. Sáng hôm nay, các sư trưởng tập họp quân lại, giảng giải cho biết, sáng mai bắt đầu tiến đánh Bắc-cương đại Việt. Bây giờ thấy báo động, họ choàng thức dậy. Các cơ đội đều ở nguyên chỗ, trong thế thủ.

Đội hổ, đội báo, đội sói từ trong rừng xông thẳng vào tấn công quân Tống. Không đầy một khắc đã vượt qua trung ương trại, tới phía Nam, là nơi chứa lương thảo.

Tại khu chứa lương thảo, các căn trại đều bốc lửa. Đám binh Việt giả quân Tống lăn xả vào chém giết bọn hoàng nam phản bội. Bọn này ngơ ngơ ngác ngác không hiểu gì cả. Thoáng một cái, hơn nghìn tên đều bị hạ.

Khúc Chẩn, Dương Vạn là những tướng kinh nghiệm chiến đấu. Trong nhất thời, hai người chỉ biết ban lệnh cho quân đâu ở đấy, giữ vững doanh trại, chờ các khu báo cáo:

– Bọn Việt của họ Hoàng làm phản đốt lương ở khu Nam.

Khúc Chẩn ra lệnh:

– Hãy giết chết chúng ngay, không để sót một đứa.

Lại có quân báo:

– Khu Đông có đàn sói xông vào trại đánh xuyên xuống Nam, binh sĩ đang chống trả.

– Khu Bắc có đàn cọp, đánh xuyên xuống Nam.

– Khu Tây có đàn báo, đánh xuyên xuống Nam.

– Binh đội ta đang vây đánh bọn họ Hoàng làm phản. Nhưng không biết thuộc sư nào. Bởi y phục, vũ khí thì giống ta, nhưng mặt thì lạ hoắc.

– Kho lương bị cháy sạch.

– Bọn họ Hoàng bị giết chết hết.

– Đội quân nhà lạ mặt, sau khi giết xong đám họ Hoàng đã rút về hướng Nam với đội hổ, báo, sói.

– Trại Vĩnh-bình lửa bốc cao, có nhiều tiếng quân reo, dường như đang đánh nhau.

– Trại Tây-bình dậy lửa, có tiếng trống trận lẫn với tiếng quân reo.

Đến đây Khúc Chẩn hiểu ra liền: Quân Việt đã giả làm quân Tống, đột nhập đốt lương. Có lẽ hai trại Tây-bình, Vĩnh-bình cũng đang thọ địch.

Dương Vạn là tướng chỉ huy đạo binh đệ lục từ hơn năm năm qua, võ công y cực cao. Đạo binh đệ lục này của y nổi tiếng thiện chiến, từng thắng Tây-hạ nhiều lần. Trong mỗi đạo binh Tống, có một sư khoảng 2.500 người, mặc giáp sắt, cực kỳ dũng mãnh, gọi là sư thiết đột. Quân Tây-Hạ, Bắc-Liêu nghe đến sư thiết đột là kinh hoàng. Y lại có hai Đô-thống phụ tá là em ruột y, tên Dương Thiên, Dương Bách, tài dùng binh thua y, nhưng võ công cực kỳ cao thâm. Bây giờ xuống cái sứ Nam-man này, chưa kịp ra quân, lương đã bị đốt cháy hết. Mất mặt, Vạn nói với Khúc Chẩn:

– Cứ tình hình quân nhà báo, bọn Việt đánh trộm không quá nghìn đứa. Xin tướng quân cho anh em chúng tôi đuổi theo, bắt về băm ra từng mảnh cho nư giận.

Khúc Chẩn cũng đang có ý tưởng đó:

– Tướng quân mang sư thiết đột đuổi theo ngay, chúng chạy không xa đâu.

Dương Vạn hô một tiếng, sư thiết đột trực thuộc y xuất trại liền. Viên sư trưởng đi đầu là Dương Thiên. Dương Vạn đi giữa. Dương Bách đi đoạn hậu. Tuy trong đêm tối, quân phải đốt đuốc soi đường, nhưng việc tìm vết tích quân Việt không khó; duy một điều Dương Vạn bực mình, vì quân của y rất giỏi trong việc dàn trận, đổi thế trận, thì nay phải đi trên con đường chật hẹp, chỉ có thể hai người một hàng lọt qua mà thôi. Đuổi được khoảng hơn năm dậm, Dương Thiên cho người báo:

– Phía trước, có khoảng hai chục quân Việt. Ta đã dùng tên tấn công.

Lát sau lai báo:

– Không phải hai chục quân, mà là hai chục bộ quần áo, quân Việt mắc lên cây, để đánh lừa.

Dương Vạn ra lệnh:

– Như vậy là chúng sợ hãi, bỏ chạy, nên làm nghi binh khiến ta chậm bước mà thôi. Đuổi gấp.

Y bỏ trung quân, vọt lên hàng đầu. Quả nhiên đuổi được khoảng năm dặm nữa, đã thấy quân Việt đang cầm đuốc chạy phía trước, hậu quân do một đôi nam nữ tướng cầm kiếm cản hậu. Dương Vạn hô quân đuổi thực gấp. Quân Việt vất vũ khí lại mà chạy. Dương Vạn càng thúc quân đuổi rát hơn, khi qua khu bằng phẳng, hai quân sắp giáp nhau, thì có tiếng nổ như sấm trên không, rồi một trái cầu lửa chụp xuống, trống thúc vang đội.

Quân Việt từ trong các bụi cây bắn ra như mưa, rồi đám đang chạy từ phía trước, đã quay trở lại đánh rất hung hãn. Đôi tướng trai gái dẫn đầu đội quân Việt, võ công cực cao, cứ mỗi chiêu của cặp này đánh ra, là một thiết đột bị giết. Dương Vạn bình tĩnh, truyền Dương Bách chỉ huy hậu đội đánh sang phải, Dương Thiên đánh sang trái, còn y đánh vào giữa. Nhưng đôi tướng trẻ cầm tù và rúc lên một tiếng, từ hai bên hông, đàn báo, hổ, sói gầm lên xung vào tấn công. Thoáng một cái, quá nửa quân bị thương, bị chết. Đội thiết đột vốn gan dạ, thiện chiến, chúng quay lưng vào nhau chống thú dữ. Viên tướng trẻ Việt lại cầm tù và rúc lên, thú dữ biến vào rừng mất, trong khi tên liên châu từ mười cỗ xe tác xạ vào đội hình. Binh tướng Tống la hét, nhưng trong bóng đêm mờ mờ ảo ảo lửa đuốc, không sao biết rõ tình hình địch.

Vô tình nhìn lên đỉnh một mỏm đá cao gần đó, Dương Vạn thấy lại một thiếu phụ khác được hơn trăm xạ thủ bảo vệ, đang cầm đuốc chỉ huy cho quân Việt tấn công. Y giận cành hông, than thầm:

– Muốn sống sót hôm nay, phải giết chết con nhỏ kia.

Y thân dẫn hơn trăm thiết đột tiến về phía thiếu phụ. Nhưng một đàn hổ hơn hai mươi con từ đâu xông ra cản đường. Nhanh nhẹn quân thiết đột tập trung lại thành thế trận, binh sĩ quay lưng vào nhau chờ đón đối thủ.

Lại một tiếng nổ lớn trên không. Bao nhiêu đuốc của quân Việt tắt hết, tiếng vũ khí, tiếng người, tiếng thú cũng im bặt. Giữa khu rừng cây cối âm u, chập chờn, quân Tống tay cầm đuốc, tay cầm đao chờ đợi.

Rừng núi hoàn toàn im lặng, chỉ có tiếng thương binh kêu khóc, tiếng binh sĩ lạc đội ngũ gọi nhau.

Một khắc trôi qua, vẫn không thấy quân Việt đâu. Dương Vạn ra lệnh thu nhặt xác chết, thương binh để rút về trại. Viên sư trưởng trình: Ra đi hai nghìn rưởi, bây giờ chỉ còn nghìn hơn.

Dương Vạn chửi thề:

– Bọn chó Việt chỉ quen đánh trộm! Rút! Tức thực là tức. Từ nãy đến giờ chúng ta chưa được đánh một chiêu võ, chưa được bắn một mũi tên, mà đã hao hụt quá nửa quân số!

Đội quân Tống vác thương binh, vác tử sĩ đổi hậu đội làm tiền đội rút lui. Lui được khoảng hai dặm, thì đâu đó có tiếng tiêu vọng lại thê lương, thảm não. Dương Vạn cười với viên sư trưởng:

– Bọn chó Việt định bắt chước Trương Lương dùng tiếng tiêu làm loạn lòng quân ta đây. Vô ích.

Bỗng Dương Thiên thấy vật gì lạnh ngắt, mềm mềm từ trên cây rơi xuống đầu y, rồi y cảm thấy đau nhói ở cổ. Y vội cầm vật đó lên xem, thì ra là con rắn. Kinh hoảng, y nói với Dương Vạn:

– Tôi bị rắn cắn.

Tiếp theo Dương Thiên, đến lượt binh sĩ kêu oai oái:

– Rắn! Rắn cắn. Rắn ở đâu nhiều quá.

Rồi chính Dương Vạn cũng bị rắn cắn.

Đến đây bao nhiêu đuốc đã cháy hết. Quân Tống phải người nọ dắt người kia, lò mò di trong đêm. Lại có tiếng kêu:

– Ối! Tôi dẵm phải chông.

– Tôi cũng dẵm phải chông.

Dương Bách ra lệnh:

– Ngừng lại! Chờ trời sáng. Đi nữa sẽ dẵm phải chông.

Giữa lúc quân Dương Vạn tuyệt vọng, có ba tiếng thanh la vang lên, rồi tên từ trong các bụi cây bắn ra. Quân Tống kinh hãi la hét thảm thiết. Trong lúc chúng tuyệt vọng đó, thì phía trước mặt, có ánh lửa lóe lên, rồi bốn ngọn đuốc cắm ở bốn gốc cây bốn góc một bãi đất. Đâu đó đâu đó vang lên tiếng loa:

– Ta! Quán quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi và quận chúa Phương Quỳnh. Hồi tám tháng trước, chúng ta từng chôn xác bốn vạn quân Tống ở Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hoả-giáp. Nay chư quân bị thương, bị rắn cắn, bị chông đâm cũng sắp bỏ mình ở rừng hoang này. Chúng ta không nỡ giết chư quân. Vậy chư quân mau bỏ vũ khí tiến lên chỗ có lửa này đầu hàng. Chúng ta sẽ tha cho.

Đám quân Tống còn sống sót, vội buông vũ khí chạy về phía bãi đất có đuốc sáng.

Biết có gào thét, cũng vô ích với đám binh sĩ thương tích tuyệt vọng, Dương Vạn cùng một số thiết đột khỏe mạnh, nhắm hướng Bắc bỏ chạy. Bỗng có tiếng tù và rúc lên, rồi phía trước đèn đuốc sáng lòa; thiếu phụ ban nãy cùng một đội cung thủ, với hơn trăm thú vừa hổ, vừa báo chặn mất lối đi. Dù can đảm, dù võ công cao, nhưng Dương Vạn bị nọc rắn chạy vào cơ thể, y lại dẵm phải chông tẩm thuốc độc, nên không còn sức chiến đấu nữa. Đưa mắt nhìn số binh sĩ sống sót, không người nào còn ý chí chiến đấu.

Thiếu phụ cung tay:

– Quận-chúa Phương-Quỳnh nước Đại-Việt xin kính chào Dương tướng quân. Đã đến tình cảnh này, tướng quân định sao đây?

Bà chỉ vào đôi thiếu niên trẻ:

– Xin giới thiệu với Dương tướng quân, hai vị này là sư huynh, sư tỷ của tiểu nữ.

Dương Thiên la lên:

– Ta nghe nói, quân Giao-chỉ có Giao-chỉ ngũ kiêu, Tây-hồ thất quái, Thần-vũ thập ma, Kim-cương thập bát qủy. Chồng mi là đệ tam nhân trong Giao-chỉ ngũ kiêu, còn hai đứa này là???

– Thưa tướng quân, hai vị này chính là đệ tam nhân trong Kim-cương thập bát hùng đấy ạ.

Dương Vạn nổi cáu:

– Bọn Nam-man các ngươi chỉ quen cắn trộm. Họ Dương này không phục. Nếu mi có bản lĩnh, hãy cùng ta chiết ngàn chiêu. Còn không thì mi giết ta đi cho rồi. Ta hận mình sơ tâm trúng kế mi, thì chỉ biết chết chứ ta không hàng đâu.

Thiếu phụ mỉm cười:

– Thế nào là cắn trộm? Phàm dùng binh, thì một là dùng mưu, hai là dùng sức, ba là dùng trận. Đây tiểu nữ dùng mưu, mà tướng quân bảo là cắn trộm ư? Còn như nếu tướng quân muốn chiết chiêu, thì tiểu nữ xin sẵn sàng nghinh đón.

Bà nói với Mai Tam:

– Sư tỷ, xin sư tỷ ra lĩnh mấy cao chiêu của đô thống Dương Bách. Sư tỷ phải cẩn thận, vì Dương tam gia xuất thân từ phái Liêu-Đông nổi danh về độc chưởng đấy.

Dương Bách thấy đối thủ chỉ là một thiếu nữ, lại biết rõ y giỏi về độc chưởng mà còn dám khiêu chiến với y, y khinh thường cho rằng đây là bọn ngu xuẩn. Vỗ hai tay vào nhau, y hất hàm:

– Người xuất chiêu đi.

Mai Tam phát chiêu trong Thiên-vương chưởng đánh thẳng vào mặt Dương Bách. Bách thấy công lực đối thủ không lấy gì làm mạnh, mà lại phát chiêu trong dương chưởng thì khinh thường. Y vận độc công, rồi phát chiêu đỡ, chưởng phong của y cực kỳ trầm trọng. Khi hai chưởng gặp nhau, thì kình lực của Mai Tam biến ra âm nhu. Dương Bách kinh hoàng, nhưng y không kịp biến chiêu. Bộp một tiếng, chưởng của y mất tăm mất tích. Y nhảy lùi lại, rồi tấn công tiếp. Cứ mỗi lần Dương Bách đánh ra một chưởng, Mai Tam ung dung đỡ, rồi lùi một bước. Nhưng cứ sau một chiêu, y cảm thấy cánh tay nặng hơn một chút. Sau khi y đánh đến chiêu thứ chín, thì Mai Tam chuyển sang dương cương. Bùng một tiếng, Dương Bách bị bay tung trở lại, y cảm thấy lạnh buốt, chân tay run lẩy bẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập.

Dương Thiên lạng người đến bên em hỏi:

– Tam đệ sao rồi!

– Trúng Huyền-âm độc chưởng.

Dương Thiên chỉ tay vào mặt Mai Tam:

– Không ngờ Kim-cương là đệ tử của Mộc-tồn hòa thượng, nức danh chính phái, mà cũng dùng Huyền-âm độc tố hại người. Con lỏi kia, mi dùng Huyền-âm chưởng với chúng ta, không khác gì đọc Hiếu-kinh trước nhà Khổng-tử, múa búa trước cửa Lỗ Ban. Tam đệ sơ tâm bị trúng kế mi, nhưng không hề gì.

Y móc túi lấy ra cái lọ nhỏ, rồi đổ ba viên thuốc vào miệng Dương Tam. Dương Tam nuốt đi, rồi ngồi vận công. Dương Thiên cừơi nhạt:

– Con lỏi kia, hãy lĩnh chưởng của ta.

Mai Tam lại dùng Thiên-vương chưởng đấu với Dương Thiên. Bình tâm ma xét, thì Mai Tam không thể là đối thủ của Dương Thiên. Nàng vừa đánh, vừa lui, cũng như Dương Bách, sau chín chiêu, cánh tay Dương Thiên trở thành nặng chĩu, rồi y lảo lảo đảo như người say rượu. Mai Tam điểm một chỉ vào ngực y, rồi túm áo y ném về phía quân Việt.

Dương Vạn thấy hai em võ công có phần cao hơn mình, mà bị đánh bại trong trường hợp mờ ám, thì kinh ngạc vô cùng. Y quát lên:

– Con lỏi kia, mi đã dùng võ công tà môn gì hại nhị, tam đệ của ta. Nếu là anh hùng, hãy nói ra trước mặt ba quân.

Nói rồi y vận đủ mười thành công lực đánh vào người Mai Tam. Biết Mai Tam không hiểu tiếng Hoa, Phương-Quỳnh dịch lại cho nàng nghe. Phương-Quỳnh vừa dịch xong, thì chưởng của Dương Vạn đã bao trùm người Mai Tam. Mai Tam lạng người sang bên cạnh, khiến chưởng của Dương Vạn đánh vào chỗ không.

Mai Tam nói với Phương-Quỳnh:

– Phương-Quỳnh, sư tỷ không biết tiếng Hoa, muội dịch dùm chị.

Rồi nàng giảng giải, Phương-Quỳnh dịch:

– Này Dương tướng quân! Người phải biết rằng ta là đệ tử yêu của Mộc-tồn hòa thượng, thì sao biết Huyền-âm với tà thuật? Vừa rồi hai gã em người dùng Huyền-âm công tấn công ta, ta dùng nội công âm nhu đẩy những gì chúng gia đánh ta về cơ thể y. Trong khi đẩy, ta dồn một ít thuốc Phá mạch, loạn huyết vào Thủ Khuyết âm tâm bào kinh của chúng. Chúng không biết cái nguy, lại đi uống thuốc giải, rồi vận công cho thuốc tan ra khắp cơ thể. Do đó, thuốc Phá-mạch, loạn huyết nhập tâm mạch, mới khiến tâm mạch vỡ ra mà vong mạng.

Lời giải thích của Tam Mai, dù tướng Tống, dù tướng Việt, đều kinh hồn động phách. Tất cả cùng nhớ lại truyện xưa: Lão sư Phan Nam của phái Sài-sơn, bị hai ma đầu trong Hồng-hiết giáo hại thành tàn tật. Ông cắn răng chiu nhục, nghiên cứu, tìm ra phép đẩy thuốc vào kinh mạch đối phương. Trong trận đánh tại hoàng thành Biện-kinh, ông đã dùng thuốc độc đẩy vào kinh mạch hai ma đầu, khiến y bị mù mắt, tai điến, lưỡi cứng, chân tay tê liệt. Suốt hơn bốn mươi năm qua, giang hồ huyền thoại về thuật này, và cho rằng đã tuyệt tích, không ngờ nay Mộc-tồn hòa thượng lại đem ra dạy đệ tử, và Dương Bách là nạn nhân đầu tiên. (Xin xem Anh linh thần võ tộc Việt, của Yên-tử cư-sĩ,)

Phương-Quỳnh vẫy tay cho quân lui lại, rồi cung tay nói với Duơng Vạn:

– Nếu như tướng quân cho rằng võ công của sư tỷ tôi là tà môn, thì tôi xin dùng võ công Đông-a lĩnh giáo cao chiêu của tướng quân. Xin mời tướng quân chỉ giáo.

Dương Vạn nghiến răng phát chiêu, chưởng lực của y trầm trọng, cương nhu hợp nhất, sát thủ cực kỳ ác liệt. Phương-Quỳnh liếc nhìn qua, biết đối thủ thuộc phái Liêu-Đông, bà phát chiêu Đông-hải lưu phong trả đòn. Bình một tiếng, cả hai cùng lảo đảo lùi lại ba bước. Phương-Quỳnh lại tấn công liên tiếp bằng chiêu Phong ba hợp bích, rồi Phong đáo sơn đầu. Dương Vạn bình tĩnh trả đòn. Hai người đấu với nhau được trên trăm chiêu, thì công lực Phương-Quỳnh bắt đầu cạn dần. Cứ mỗi chiêu, bà lại phải lùi một bước.

Nguyên phụ thân Phương-Quỳnh là đô-đốc Trần Lâm, con trai của Trần Phụ-Quốc, đại đệ tử chưởng môn phái Đông-a Trần Tự-An. Nhưng thời thơ ấu, bà được gửi vào trường của sư thúc là Lý Thường-Kiệt học. Trường của Thường-Kiệt dạy cả văn lẫn võ. Vì vậy võ công của bà không do phụ thân truyền dạy, mà do Thường-Kiệt dạy. Kể ra với bản lĩnh của bà, cũng thuộc vào loại hiếm hoi so với những người ngang tuổi. Nhưng đối thủ của bà hôm nay là Dương Vạn, một cao thủ phái Không-động, lại đang ở tuổi trên bốn mươi, nội công thâm hậu, nên dù bà đã xử dụng hết công lực, mà cũng dần dần yếu thế.

Phương-Quỳnh chợt nhớ lại: Ngày sinh nhật 95 tuổi mới đây của tổ-sư Trần Tự-An, bà đã được người dạy cho Cổ-loa tâm pháp, rồi dặn rằng:

"Trọn đời, ta nghiên cứu võ công khắp Trung-nguyên, Đại-Việt, rồi tốn không biết bao nhiêu tâm huyết mới tìm ra môt loại nội công tâm pháp, khắc chế tất cả các nội công Trung-nguyên. Bây giờ ta truyền cho con. Nhưng ta dặn trước: Chỉ được dùng khi nào nguy đến tính mệnh và vị quốc đối trận với quân thù."

Bây giờ trước trận, trước thế nguy của Bắc-biên, bằng mọi giá, bà phải thắng Dương Vạn. Như vậy bà có thể xử dụng nội công Cổ-loa.

Nghĩ vậy, bà đánh liền ba chưởng bằng tất cả bình sinh công lực, khiến Dương Vạn lùi lại hai bước, rồi bà vận công theo Cổ-loa tâm pháp. Vừa lúc đó Dương Vạn đánh tới một chưởng mạnh như núi lở, băng tan. Phương-Quỳnh nghiến răng đỡ. Binh một tiếng, Dương Vạn lảo đảo bật lui hai bước. Không nhân nhượng, Phương-Quùnh đánh liền hai chiêu nữa, Dương Vạn nghiến răng đỡ, người y lắc lư như sau rượu, rồi ngã ngồi xuống. Y xua tay, tỏ ý xin thua, miệng mửa ra một búng máu:

– Quận chúa là chỗ thế nào với Kinh-Nam vương?

Thấy Dương Vạn không gọi mình là Nam-man, mà gọi là quận chúa, Phương-Quỳnh mỉm cười nghĩ thầm:

– Ta không cần giết tên này, cứ chần chờ cho nọc rắn, độc tố của chông ngấm vào người y, rồi tha cho y về. Y sẽ chết trước mặt quân tướng Tống, để chúng kinh hồn.

Nghĩ vậy Phương-Quỳnh cung tay:

– Tôi họ Trần. Còn Kinh-Nam vương ư? Tôi gọi người là Ông trẻ. Bởi phụ thân tôi gọi người là chú.

Dương à lên một tiếng:

– Quận chúa là cháu của vương, hèn chi chiêu Đông-hải lưu phong vừa rồi bao hàm sát thủ kinh khủng. Tiểu tướng từng ở dưới trướng vương gia với công chúa Huệ-Nhu. Người thường ban thưởng cho tiểu tướng luôn.

– Thì ra chúng ta đều là người nhà cả. Tục ngữ Việt có câu: Đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ. Ông chú trẻ của tôi cũng nhắc đến Dương tướng quân luôn. Sự việc đã như thế này, thì tôi xin thu nhặt tử thi của thuộc hạ tướng quân, để tướng quân đem về.

Nói rồi Phương-Quỳnh phất tay ra lệnh, lát sau nào tử thi, nào thương binh đều được thu gọn lại. Quân Việt cấp cho quân Tống mấy cái xe để chở thây ma, rồi dẫn lối cho ra con lộ lớn.

Dương Vạn chắp tay:

– Non xanh còn đó, lục thủy còn kia, sẽ tái ngộ với quận chúa sau.

Bọn Dương Vạn đi rồi, thì Hoàng-Nghi từ trên ngọn cây nhảy xuống:

– Em hay thực. Lát nữa đây, gần hai nghìn cái thây ma chở về trại, sẽ trở thành quỷ nhập tràng hớp hồn đồng đội. Lại cái đám binh Tống bị rắn cắn kia, e cứu không kịp nữa. Chúng sẽ đau đớn quằn quại hàng nửa ngày mới chết. Anh nghĩ ba hồn bẩy vía bọn quân khỏe sẽ thăng thiên mất.

Bốn người rút quân về tới Chi-lăng, thì có sứ giả của phò mã Thân Cảnh-Long tới. Sứ giả trình bầy:

– Thưa thượng tướng quân. Đạo Lạng-châu đột kích vào trại Vĩnh-bình thành công mỹ mãn. Công-chúa Thiên-Thành giết chết tên Hoàng Kim-Khôi, diệt sạch bọn hoàng nam phản bội, đốt hết kho lương; sau đó rút lui. Tu Kỷ, Lý Hạo đem quân truy kích. Trên đường rút lui ta gặp đạo binh của Hoàng Kim-Mãn đang di chuyển. Hai bên tao ngộ chiến giữa giữa rừng. Quân của công chúa chỉ hơn nghìn, phải rút vào rừng. Hoàng Kim-Mãn đem quân vây kín. May đâu sau khi chặn đánh truy binh; phò mã biết công chúa bị vây, người đem quân đánh tập hậu Kim-Mãn. Y thua chạy, thì chúng ta lại gặp lại gặp quân của Tu Kỷ. Tu Kỷ đấu với phò mã ngang tay. Còn Lý Hạo bị công chúa giết hết. Giữa lúc bên ta gặp nguy, lại có tin đạo binh Dương Vạn đuổi theo tướng quân bị bại, Tu Kỷ phải ra lệnh rút quân về.

– Hiện phò mã ở đâu?

– Hiện phò mã với công chúa đang đi khắp các trang động, tổ chức ban lệnh lại. Phò mã có lệnh cho tướng quân: Người được tin Hy-Ninh đế ban chỉ cho Quách Quỳ rằng hễ trang động nào không chống Tống, thì không được đánh. Vì vậy phò mã muốn cho các trang động Lạng-châu tuyệt đối im lặng. Như vậy mình giữ được toàn vẹn. Đợi khi Tống xuống đồng bằng, đang giao chiến phòng tuyến Như-nguyệt, bấy giờ các trang động mới đánh tập hậu, cướp lương.

Hoàng-Nghi trình bầy diễn tiến trận đột kích, đánh quân truy cản của mình cho sứ giả nghe, hầu tường trình với Thân phò mã. Hầu còn gửi thủ cấp tên Hoàng Kim-Ngân đem về nộp cho phò mã, để người đem đi bêu khắp các trang động, làm gương cho bọn động chủ, trang chủ phản bội.

Cho đến trưa, vẫn chưa có tin tức của công chúa Côi-sơn. Hoàng-Nghi sai tế tác mang chim ưng đi dò thám. Hơn giờ sau, tế tác về cho biết: Trại Quyết-lý đang bị quân Tống bao vây, tấn công. Trận chiến diễn ra ác liệt vô cùng. Người trực tiếp đốc chiến là Quách Quỳ. Giữa Quyết-lý với Chi-lăng, Tống có một đạo binh khoảng năm nghìn người mai phục, dường như sợ ta tiếp cứu. Đạo này do Khúc Chẩn chỉ huy.

Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh nóng nảy vô cùng, đi đứng bồn chồn không yên. Ý hầu muốn đem quân tiếp viện cho Quyết-lý, ngặt vì lệnh bắt phải giữ đồn, cố thủ, kéo dài thời gian, nên đành chịu. Trong khi hầu kiểm điểm binh mã, thì phu nhân viết tấu chương, sai chim ưng mang về triều, tường trình ba mặt trận.

Mãi đến giờ Ngọ, mới thấy chim ưng mang tin tức tức từ Quyết-lý về.

« Ta tấn công Tây-bình, đốt lương thảo, diệt bọn Hoàng Kim-Ngọc dễ dàng. Khi ta rút lui, thì Trương Chi-Giám mang thiết đột đuổi theo. Y bị trúng phục binh của phu quân ta. Ta cũng đánh quặt trở lại. Ta giết Trương Chi-Giám tại trận tiền. Giữa lúc chiến trận nghiêng về phía ta, thì Yên Đạt, mang quân đến tiếpviện; rồi Tu Kỷ, đánh vào bên trái, Đào Bật đánh vào bên phải. Diêu Tự đánh vào phía sau. Chính Quách Quỳ đốc chiến. Chúng ta đành rút quân về đồn Quyết-lý. Hiện ba tên này đem quân đánh ta. Từ sáng đến giờ chúng xung phong đến ba lượt, đều bị đánh lui. Quân Tống, quân bảo giáp chết trước sau ước hơn vạn. Bây giờ chúng rút lui nghỉ ăn trưa. Kết quả ba đợt xung phong chúng đã lấp được hai cái hào, phá ba lớp hàng rào rồi. Nếu chúng thí một vạn quân nữa, thì Quyết-lý thất thủ mất. Có cách nào tiếp cứu ta không? »

Hoàng-Nghi bàn với Phương-Quỳnh:

– Tuy lệnh không cho chúng ta xuất trại, nhưng trong trường hợp này ta cũng phải tìm cách gì tiếp cứu Quyết-lý chứ?

– Em thấy đội quân của Khúc Chẩn chặn đường Chi-lăng đi Quyết-lý đóng ở khu rừng lau sậy. Mùa này lau sậy chết khô, mấy hôm nay trời nắng, lau sậy rất dễ bắt lửa. Vậy ta có thể dùng hỏa công đốt chúng không?

– Ừ nhỉ. Đêm nay ta sẽ dùng Lôi-tiễn đốt bọn Khúc Chẩn.

Hầu suýt xoa:

– Ta ra quân kỳ này, giết được năm tướng Dương Vạn, Dương Thiên, Dương Bách, Lý Hạo, Trương Chi-Giám, chắc quân Tống dao động lắm.

Chiều hôm đó, có tin tế tác của công chúa Thiên-Thành báo:

« Quách Qùy biết rõ ta cố tình làm chậm bước tiến quân Tống. Nên y quyết định để lại vài vạn quân công ải Quyết-lý cầm chừng, rồi đánh Chi-lăng thực gấp. Tu Kỷ hiến mưu: Dùng hư kế đánh Quyết-lý, để dụ cho quân Chi-lăng tiếp viện, thì đánh mới dễ. Vậy phải cẩn thận ».

Hoàng-Nghi rùng mình:

– Suýt nữa bọn mình trúng kế giặc. Nhưng lỡ chúng đổi hư thành thực, đánh Quyết-lý thì sao?

Lý Tam bàn:

– Ta cứ chờ. Nếu đúng như tin của công-chúa Thiên-Thành báo, thì ta không cần tiếp cứu Quyết-lý, chỉ nội sáng mai chúng tiến đánh ta. Đám quân Khúc Chẩn phục suốt ngày, không thấy ta xuất đồn, thì chiều chúng sẽ rút về nơi nào đó đóng trại. Ta sẽ liệu tình hình mà đối phó.

Quả nhiên chiều hôm đó, tế tác báo cho biết, quân Khúc Chẩn đã đóng trại ngay giữa khu bãi trống lau sậy, dưới chân núi Kháo-mẹ.

Hoàng-Nghi vỗ tay:

– Tên Khúc Chẩn khôn bỏ mẹ đi ấy. Y đóng quân ở khu bằng phẳng, lại dựa lưng vào núi, thì không sợ ta tập kích. Nhưng y không biết rõ trang bị của ta. Đêm nay ta đánh y một trận cho biết tay nhau. Được, ta cho binh sĩ đi ngủ sớm, sang giờ Sửu thì khởi sự.

Trong khi đó bên phía quân Tống:

Đêm trước, vì Quách Quỳ không phòng bị, nên bị quân Việt đánh vào ba căn cứ Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu là nơi đồn trú ba đạo binh đệ tứ, ngũ, lục với ba lữ hoàng nam thuộc Môn-châu. Kết quả, ba tướng chỉ huy ba đạo quân bị giết, ba anh em họ Hoàng chỉ huy đám phản quân cũng bị giết; ba đạo quân bị hao hụt nặng: Đạo đệ lục bị chết gần hết, chỉ còn sót hơn ba trăm quân cùng với ba anh em họ Dương bị rắn cắn, dẫm phải chông, bị trúng độc chưởng; thất thểu chở thương binh, tử sĩ trở về, rồi đến trưa cũng chết hết. Lập tức Quỳ ra lệnh lấy quân bảo giáp bổ xung cho đạo đệ tứ, đệ ngũ. Còn đạo đệ lục, Quỳ du di quân của các đạo khác một nửa, lấy một nửa là bảo binh, tái lập lại, rồi sai Khúc Chẩn chỉ huy đạo này.

Quỳ họp chư tướng bàn kế tiến về Thăng-long.

Tu Kỷ hiến kế: Để lại vài vạn quân vây Quyết-lý, rồi dốc toàn lực đánh Chi-lăng. Ải Chi-lăng quá kiên cố, vậy hãy giả công ải Quyết-lý để dụ Chi-lăng tiếp viện rồi chặn đánh.

Quỳ đồng ý. Y dùng bốn danh tướng Yên Đạt, Tu Kỷ, Diêu Tự, Đào Bật xua quân tấn công Quyết-lý suốt nửa ngày, chỉ phá được lớp rào thứ ba, lấp được con lạch thứ ba, thế mà chết mất hơn bẩy nghìn bảo giáp với năm nghìn quân triều.

Cảm thấy chán nản, Quỳ than với thủ hạ:

– Quân thủ trong Quyết-lý là hiệu quân Kinh-bắc, chứ chưa phải Thiên-tử binh, mà chúng trấn thủ đồn còn vững như vậy; huống hồ quân trấn Chi-lăng là hiệu Quảng-vũ, nổi tiếng thiện chiến, lại do vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi, Lý Tam thống lĩnh!!!

Đến trưa, Quỳ ra lệnh ngừng tấn công, cho quân nghỉ ngơi, hy vọng Hoàng-Nghi xuất ải cứu Quyết-lý. Y sẽ tung phục binh bao vây, rồi tiến đánh Chi-lăng. Nhưng chờ đến tối, vẫn không thấy quân Chi-lăng xuất ải. Quỳ đành ra lệnh cho Khúc Chẩn đóng quân lại nghỉ ngơi, giữ sức.

Để tỏ tình phụ tử chi binh Quỳ qua đêm với đạo quân đệ lục, mới được tái lập, để binh sĩ lên tinh thần..

Nguyên Quách Quỳ với Triệu Tiết có sự bất hòa lớn lao: Năm trước, Tiết được cử làm chánh tướng, Lý Hiến làm phó. Tiết thì cậy tài kiêm văn võ, lại thuộc vây cánh Vương An-Thạch. Hiến thì ỷ mình là Tổng– lĩnh thị-vệ, được Tuyên-Nhân thánh-liệt hoàng thái hậu tin dùng. Vì vậy Hiến thường cãi Tiết. Vương An-Thạch khuyên vua không nên dùng hoạn quan, xin cách Hiến. Cách Hiến rồi, vua hỏi Tiết nên dùng ai thay Hiến? Tiết tiến cử Quách Quỳ. Khi vua hỏi Tiết: Ngươi với Quỳ, ai giỏi hơn ai, Tiết nói nhún Quỳ giỏi hơn. Vì vậy vua cử Quỳ làm chánh tướng, Tiết làm phó. Oan nghiệt thay Quỳ lại thuộc phe của Cựu-đảng, họ xa gần với phó Tể-tướng Ngô Sung, người đối đầu số một của Vương An-Thạch. Vì vậy, trong những lúc nghị sự ở Biện-kinh, Quỳ với Tiết thường cãi nhau. Đôi khi cãi nhau ngay cả trước mặt vua.

Trong khi trên đường đem quân xuống Nam, thì Vương An-Thạch bị cách chức. Ngô Sung chủ hoà lên làm Tể-tướng. Ngô viết thư cho Quỳ dặn: Hãy tiến quân chậm chậm, đóng tại biên cương, chờ đợi xem sao. Chính vì vậy, mà bây giờ Quỳ còn đóng quân ở đây.

Quỳ hỏi Khúc Chẩn:

– Trên đường xuống Nam, qua chiến trường Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, Ung-châu, thì từ tướng cho đến quân đều mất hết chí khí chiến đấu. Chính vì vậy mà đêm qua quân Việt cướp trại, phục binh đánh quân truy kích thành công.

Chẩn đề nghị:

– Hôm qua, ta đã vào được đến lớp rào thứ ba. Nếu như ngày mai, ta quyết đánh nữa, thì có thể tràn ngập được ải này.

– Ta thực không nỡ. Ta mới vào lớp thứ ba, mà đã chết hơn vạn. Nếu như muốn đánh đến lớp thứ mười, rồi cận chiến chiếm đồn, e phải hao hụt gấp đôi, thì thực là phí nhân mạng sĩ tốt quá đáng.

Khúc Chẩn an ủi:

– Nhưng... hôm trước một chỉ dụ trong kinh đưa ra về vụ đánh đồn Ngọc-sơn: Nếu cần một đổi mười, thì vẫn được coi là chiến thắng. Vì vậy tiểu tướng thấy các tướng Triệu Tiết, Tu Kỷ, Yên Đạt, Diêu Tự, Đào Bật đều nhất quyết đánh Chi-lăng. Dù tổn thất, ta cũng đành hy sinh vậy.

Hai người bàn cho đến giờ Dậu, trong quân đánh trống báo hiệu tắt đèn đi nghỉ. Y vừa chợp mắt một lúc thì có tiếng la:

– Cháy! Cháy! Cháy!

Rồi có tiếng trống báo động. Quách Quỳ, Khúc Chẩn cũng vùng dậy, thì trước mặt hai người hiện ra một biển lửa: Xung quanh khu đóng quân, lau sậy bốc cháy ngùn ngụt. Chẩn hô quân dập tắt lửa, nhưng ở giữa rừng lau sậy, lấy đâu ra nước, ra dụng cụ cứu hỏa?

Binh sĩ đạo đệ lục này, một nửa lấy từ các đạo khác, một nửa lấy từ bảo binh, mới tái lập, nên tổ chức còn lộn xộn, trên dưới chưa thuộc mặt nhau; lệnh ban ra không được thi hành nghiêm minh. Tướng quát tháo mặc tướng quát tháo, binh sĩ la hét mặc binh sĩ la hét.

Lửa mỗi lúc một bốc cao, chỗ sậy bốc cháy, mỗi lúc một thu hẹp, quân sĩ bỏ chạy hỗn độn, không còn phân biệt đội ngũ nữa. Quách Quỳ ra lệnh chém đầu hơn mười người, mới chính được đội ngũ.

Quỳ bàn với Chẩn:

– Khi bọn Nam-man thiết kế dùng hỏa công, chúng nghĩ rằng gặp lửa cháy, ta sẽ bỏ chạy về phía Bắc. Vì vậy chúng đốt ba phía Đông, Tây, Nam rất kỹ. Còn phía Bắc, y để hở khu thông với con đường lớn. Như vậy rõ ràng chúng dụ ta chạy về phía đó, rồi phục binh chận đánh. Đã vậy, ta cố dập tắt lửa, rồi đóng quân tại đây, cho chúng biết ta không ngu như chúng tưởng.

Hai tướng ra lệnh cho binh sĩ dùng đao phát quang một khu xung quanh một bãi lớn, rồi truyền quân rút vào đó. Quả nhiên, biện pháp này, khiến lửa không lan đến chỗ trú quân.

Quỳ cho quân sĩ ngồi dựa vào nhau mà qua đêm, chờ trời sáng sẽ có quân tiếp viện. Mọi sự vừa xong xuôi, thì bỗng có hàng chục tiếng rít xé gió trên không. Hàng chục vệt lửa xanh-đỏ-vàng bay vọt lên cao, trông rất đẹp mắt, rồi những vệt đó phát nổ, biến thành trái cầu lửa nổ chụp xuống chỗ đóng quân. Hoàng thạch, mã não, nhựa cháy chụp xuống đầu binh tướng Tống. Binh tướng Tống la lớn:

– Lôi tiễn! Lôi tiễn!

Nhiều người bị cháy như cây đuốc.

Hàng loạt Lôi-tiễn tiếp tục bắn tới. Lôi-tiễn tuy không làm chết nhiều người, nhưng làm quân Tống kinh hoàng, vì nhựa cháy, hoàng thạch rơi trúng người, bị phỏng. Một vài mũi trúng khu cỏ khô, lại làm lửa bốc cháy ngùn ngụt. Quân-sĩ bị Lôi-tiễn bắn chụp lên đầu, muốn bỏ chạy, nhưng vì sợ bỏ chạy sẽ bị chém đầu, nên đành ngồi trơ thân ra chịu trận, miệng la hét, kêu khóc.

Khúc Chẩn bàn:

– Cơ chừng này, đến sáng, quân sĩ bị phỏng sẽ chết hết. Chi bằng ta rút lui thì hay hơn.

Quách Quỳ ra lệnh:

– Binh pháp có câu: Tìm chỗ sống ở chỗ chết. Bọn Nam-man đốt bốn phía, để hở phía Bắc, vậy chắc chúng phục binh ở đây chờ ta. Nay ải Chi-lăng ở phía Nam, tức chỗ chết của ta, chúng sẽ không phục binh tại đây. Vậy ta cho quân âm thầm rút về phía Nam, sau đó vượt con đường ở chân núi vòng lên Bắc.

Lệnh vừa ban ra, lập tức quân Tống rời chỗ trú quân, rút theo con đường cái, hướng về Chi-lăng. Khi người lính cuối cùng ra khỏi khu vực, thì Lôi-tiễn cũng ngưng bắn. Đoàn quân âm thầm rút lui. Vừa được khoảng bốn dặm, thì có ba tiếng thanh la, rồi thiếp theo trống thúc vang dội, tên từ bên vệ đường bắn ra như mưa. Trong đêm tối, quân Tống không biết ai bắn, bắn từ đâu, mà chỉ thấy đồng đội trúng tên kêu thét lên, lăn ra chết.

Quách Quỳ hô lớn:

– Nằm xuống hai bên lề đường để tránh tên. Đề phòng phục binh tấn công.

Biện pháp này quả nhiên hữu hiệu, không thấy tên bắn ra nữa, lại cũng không thấy trống thúc quân reo. Rừng núi trở lại yên tĩnh, chỉ còn tiếng thương binh rên rỉ.

Thời gian trôi qua khoảng hơn khắc, thì lình có tiếng tù-và rúc lên thê lương:

– Úúú, uuu, úúú, uuu!

Rồi tiếng hổ gầm, tiếng sói rống, tiếng sói tru. Tiếp theo, hổ, báo, sói trong rừng nhảy ra. Quân Tống kinh hoàng, bỏ hàng ngũ chạy tứ tán. Đến trình độ này, thì Quách Quỳ, Khúc Chẩn cũng đành buông xuôi. Hai người tập họp được đội võ sĩ cận vệ binh xung quanh; cố thủ, chờ trời sáng, sẽ có viện quân.

Sau đợt tấn công của thú binh, rừng núi lại trở về yên tĩnh. Quách Quỳ, Khúc Chẩn cùng đội quân còn sống sót đành ngồi xuống đất chờ đợi, trong khi lòng rối như tơ vò.

Trời sáng dần, trong màn sương dày đục, Quách Quỳ đứng dậy quan sát: Trên con đường dài hun hút, ngổn ngang tử thi, cái thị bị tên xuyên qua đầu, qua ngực; cái thì bị thú vồ nát thây; cái thì nằm ngửa mắt mở thao láo nhìn trời.

Quách Quỳ hỏi Khúc Chẩn:

– Theo như Khúc tướng quân đoán, thì bọn nào bắn Lôi-tiễn, phục binh đánh ta đêm vừa qua?

– Thưa nguyên soái, với kế phục binh để trống phương Bắc, khiến ta rút phương Nam, thì Tôn Mạnh với Thanh-Nguyên không thể nghĩ ra được. Tiểu-tướng đoán là Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Lý Tam, Mai Tam.

– Ta cũng nghĩ vậy.

Khúc Chẩn hỏi:

– Bây giờ ta rút về, hay chờ viện quân?

– Chờ viện quân biết đến bao giờ? Ta rút thôi!

– Còn thương binh? Không lẽ để chúng lại? Trong khi ta chỉ còn không quá năm trăm người toàn vẹn!

– Đành vậy!

Quỳ cùng Chẩn thất thểu đi trước, đoàn quân không cờ, chẳng hàng lối lê bước theo sau. Đi được khoảng sáu dặm, thì có tiếng trống thúc, rồi một đội quân Việt hùng tráng dàn ra chặn mất lối đi. Phía trước có hai cây cờ. Cây thứ nhất cờ nền mầu vàng, trên thêu con rồng mầu đen với hàng chữ Thiên-tử binh Quảng-vũ, cấy thứ nhì nền xanh có hàng chữ Quán-quân thượng tướng quân, Chính-Tâm hầu, Đinh, một đôi nam nữ cỡi... cọp đứng song song chặn mất lối đi. Quỳ đưa mắt nhìn: Nam thì hùng vĩ uy nghi, nữ thì sắc nước, hương trời, dáng điệu ôn nhu văn nhã.

Quách Quỳ đã được Khu-mật viện Tống cung cấp đầy đủ tình hình trận liệt quân Việt, tiểu sử các tướng: Tài năng, sư thừa, sở thích, gia cảnh. Vì vậy nhìn lá cờ, y biết ngay người đối diện với y là Đinh Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh. Y nghĩ thầm:

– Chỉ với hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ, mà vợ chồng tên nhóc con này đánh tan đạo binh đệ lục ngày hôm qua. Ta đã tái lập, hôm nay chúng lại đánh tan một lần nữa. Đau đớn cho ta, một danh tướng Thiên-triều, mang đại quân bình man, chưa được đánh một chiêu võ, bắn một mũi tên, mà bị thất bại như thế này.

Vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi ngồi yên trên mình cọp, miệng tủm tỉm cười, rồi nghiêng mình:

– Quán-quân thượng tướng quân nước Đại-Việt, trấn thủ Chi-lăng, xin kính chào Tuyên-huy Nam-viện, kinh lược Nam-thùy sứ Quách đại tướng quân, và Vũ-dương đại tướng quân Khúc.

Quách Quỳ nổi cộc lên chửi:

– Bọn Nam-man các người chỉ giỏi đánh trộm. Mi có giỏi, đem cả hiệu binh Quảng-vũ ra đối trận với ta, ta có thua, cũng đành cam chịu. Chứ mi đánh trộm như thế này, thì không đáng mặt nam nhi đại trượng phu.

Đến đây có tiếng trống thúc pha với tiếng quân reo, tiếng vũ khí chạm nhau từ xa vọng lại. Phương-Quỳnh đưa mắt cho một nữ binh tế tác, nữ binh này đi liền. Bà cười rất tươi nói với Quách Quỳ:

– Quách nguyên soái ơi! Người đem quân đốt kho lương Lộc-châu là tiểu nữ chứ có phải phu quân tiểu nữ đâu? Rồi phục quân diệt đạo quân đệ lục cũng là tiểu nữ, với sư tỷ Mai Tam. Trận bắn Lôi-tiễn, dùng thú binh, cùng băn tên đêm rồi lại cũng là tiểu nữ với sư tỷ Mai Tam cả, chứ phu quân tiểu nữ nào đã ra tay! Bọn tiểu nữ là đàn bà, chứ có là đàn ông đâu mà nguyên soái bảo nam nhân đại trượng phu?

Hoàng-Nghi chỉ tay về phía Chi-lăng:

– Quách nguyên soái! Tiểu tướng được lệnh nguyên soái Thường-Kiệt trấn thủ ải Chi-lăng. Tiểu tướng nghe nói, thời niên thiếu nguyên soái từng sang Đại-Việt, hẳn biết nhiều về địa danh này. Tiểu tướng cũng được biết xưa kia tổ phụ của nguyên soái là Quách Quân-Biện từng theo nguyên soái Hầu Nhân-Bảo đánh Đại-Việt; trận ấy Hầu bị giết, còn tổ phụ của nguyên soái bị bắt cầm tù. Nay tiểu tướng cũng chuẩn bị một căn nhà thực đẹp, trồng đủ hoa thơm cỏ lạ ở bờ hồ Tây, đợi khi nguyên soái qua Chi-lăng, sẽ rước nguyên soái về đó ở. Nguyên soái nghĩ sao?

Ghi chú,

Trong Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký chép rằng: Tuy Hoàng-Nghi nói đùa, nhưng Quách Quỳ vốn úy kị địa danh Chi-lăng; vì vậy sau này Triệu Tiết, Tu Kỷ đề nghị bỏ đường Chi-lăng, dùng đường thượng đạo Đâu-đỉnh đánh xuống Phú-lương, Quỳ tuy ghen tài, ghét Triệu Tiết, nhưng cũng phải nghe theo. Chính vì vậy, mà có trận đánh đẫm máu ở Phú-lương, Vạn-xuân, Như-nguyệt, sau này.

Trong khi Hoàng-Nghi đối đáp với Quách Quỳ, thì nữ binh tế tác trở lại báo với Phương-Quỳnh:

– Bốn đạo quân Tống lại đánh Quyết-lý rất hung hãn. Có hai đạo thiết kị Tống đang tiến lại đây.

Đến đó tiếng vó ngựa phi lộp cộp tới gần. Biết bản lĩnh cả hai vợ chồng với đội nữ binh có vây bắt Quách Quỳ với Khúc Chẩn cũng không nổi, mà phía sau viện binh của chúng đã tới. Hoàng-Nghi nghiêng mình vái Quách Quỳ hai vái, rồi nói với vợ:

– Bây giờ Quách, Khúc nhị vị chẳng may sa cơ, lỡ thế, mà vợ chồng mình bắt người, thì không phải là anh hùng hảo hán. Thôi, mình để hai vị về chỉnh đốn lại quân mã, rồi sẽ gặp nhau ở Chi-lăng cũng không muộn. Bấy giờ em muốn trói hai vị lại, đâu có khó?

Hai người hô lên một tiếng, đôi cọp thủng thẳng tến vào khu rừng cây rậm rạp, đội nữ binh cũng theo sau, phút chốc mất dạng.

Vừa lúc đó, một đạo thiết kị Tống phi đến như bay. Tướng dẫn đầu là Trương Thế-Cự. Y thấy Quách Quỳ, Khúc Chẩn trong tình trạng thê thảm, thì kinh ngạc vô cùng:

– Nguyên soái! Cái gì đã xẩy ra?

Khúc Chẩn đáp:

– Đêm qua chúng ta bị thú binh, Thần-nỏ, Lôi-tiễn đánh suốt đêm. Người mau thu nhặt xác tử sĩ, rồi đem về bên đất Trung-nguyên chôn cất.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI

Cái tình là cái chi chi



Quách Quỳ trải qua một lần suýt chết, nhưng là người gan dạ, y trở lại bình tĩnh như thường. Cơm trưa xong, y triệu tập chư tướng lại nghị sự.

Yên Đạt từng sang Đại-Việt lâu ngày, rất thông thạo đường xá, cùng phong tục tập quán dân Việt. Y hiến kế:

– Kể ra muốn đánh Quyết-lý thực không khó. Nhưng khổ nột điều, người trấn thủ ải này là Trần Thanh-Nguyên, em út của Kinh-Nam vương. Võ công thị cực kỳ cao thâm, thị lại là người có tài dùng binh bậc nhất, bậc nhì Đại-Việt. Ải Quyết-lý lập ra chỉ với mục đích cản đường ta, nên họ chứa rất nhiều cung tên ở trong. Ải được bao quanh bởi mười lớp hào, mười hàng rào. Giữa các hàng rào đều có cửa lưu thông với nhau. Hôm qua ta đánh suốt ngày, với quân số gấp năm lần, mà chỉ lấp được ba hào, chiếm được ba hàng rào. Khi ta rút về nghỉ đêm, chúng lại củng cố rào, hào như cũ. Tôi nghĩ, ta nên để lại vài vạn quân bao vây là đủ. Giỏi lắm hai tháng sau hết lương, thị phải ra hàng.

Sau trận đột kích hôm trước của quân Việt, ba con trai Hoàng Kim-Mãn đều bị giết thê thảm. Y nghiến răng, đứng lên nói trong nước mắt:

– Thưa nguyên-soái, giữa Bắc-biên với đồng bằng Đại-Việt, chỉ có con đường duy nhất, thì Thân Cảnh-Long đã cho đóng hai ải Quyết-lý, Chi-lăng. Quyết-lý còn có thể đánh được, vì quân thủ là hiệu Kinh-bắc; chứ Chi-lăng do hiệu Quảng-vũ, một hiệu thiện chiến nhất Đại-Việt, ta muốn qua, thì thực là thiên nan vạn nan.

Triệu Tiết cau mày hỏi:

– Không lẽ với một vạn binh thủ, mà ta có tới trăm vạn lại chịu thua sao?

Kim-Mãn chỉ lên bản đồ:

– Thưa phó nguyên soái, cái phòng tuyến Chi-lăng này quá đặc-biệt. Xin phó nguyên-soái thử nhìn xem: Đây, nó nằm giữa hai ngọn núi khép lại, thác nước trên núi đổ xuống tạo thành khu đồng lầy, chỉ có con đường độc đạo xuyên qua. Ta tuy có trăm vạn quân, nhưng hiện đóng dồn cục lại, tại cái kẹt núi này. Nếu ta muốn qua, thì chỉ có thể đưa những toán năm, ba người một, xếp thành hàng dài mà qua, như thế không khác gì bưng tính mệnh dâng cho chúng. Chính vì vậy, mà biết bao lần các danh tướng Thiên-triều đều thất bại tại đây.

Kim-Mãn nhấn mạnh:

– Tên Thường-Kiệt đã sai hai tướng vừa mưu-trí, trung-thành lại có tài dùng binh bậc nhất trong 12 tướng chỉ huy Thiên-tử binh là vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi trấn thủ Chi-lăng. Hai đứa này đã lập tới ba mươi vị trí phòng thủ, các vị trí thông với nhau bằng những con lộ xuyên rừng khúc khủy quanh co. Ví dù ta có thí quân chiếm được hết các phòng tuyến này, thì chúng rút lên núi ẩn thân, chờ tiền quân ta đi qua, rồi đổ phục binh đánh cướp lương thảo, thì nguy lắm.

Tư lệnh đạo quân hữu đệ nhất là Miêu Lý hỏi:

– Hầu hết tất cả tướng soái Bắc-cương đều theo gió đầu Thiên-triều. Vậy ta cũng nên chiêu dụ vợ chồng Thân Cảnh-Long, Tôn Mạnh, Đinh Hoàng-Nghi, hơn là đánh.

Yên Đạt lắc đầu:

– Đối với ba cặp vợ chồng này, thì dù ta có phong vương cho chúng cũng vô ích mà thôi. Thứ nhất là Thân Cảnh-Long, họ Thân nhà y đã ba đời làm phò mã Lý triều; vợ y, công-chúa Thiên-Thành, là chị ruột vua Giao-chỉ. Còn Tôn Mạnh, thì vợ y là em gái Kinh-Nam vương tên Trần Thanh-Nguyên... mà nguyên soái đã biế rõ.

Quách Quỳ bèn tường thuật lại chi tiết truyện xưa:

« Hồi thơ ấu, y theo sư-phụ với Yên-vương Triệu Nguyên-Nghiễm sang Đại-Việt, khi qua Thanh-hóa đã gặp Thanh-Mai nay là Quốc-mẫu Đại-Việt; Tự-Mai nay là Kinh-Nam vương; Thanh-Nguyên với Tân-quy thất quỷ, sau là Tôn Đản, Tôn Mạnh, Tôn Trọng, Tôn Quý, Trần Anh, Hà Thiện-Lãm, Lê Thuận-Tông »...(xin đọc Anh-hùng Tiêu-sơn của Yên-tử cư-sĩ, do Xuân-thu Hoa-kỳ xuất bản 1990).

Yên Đạt tiếp:

– Còn Đinh Hoàng-Nghi, y là con Đinh Nho-Quan triều Đại-Nam của Nùng Trí-Cao, vợ y là cháu nội của Trần Phụ-Quốc. Y là em nuôi của Linh-Nhân hoàng thái hậu. Vì vậy, chiêu dụ ba người này e còn khó hơn bắc thang lên trời.

Triệu Tiết chỉ Tu Kỷ:

– Hiện Tu tướng quân đã tìm được một đường khác có thể xuống đồng bằng, nhưng phải đánh mạo hiểm mới có thể thành công. Xin Tu tướng quân trình bầy.

Tu Kỷ đem ra một mảnh lụa, vẽ bản đồ Bắc-cương, rồi chỉ về phía Tây Chi-lăng:

– Đây, ngoài con đường chính Chi-lăng ra, còn có con đường thượng-đạo, đi vòng qua phía Tây. Con đường này chỉ bọn thợ săn mới biết. Ta cho quân từ Vĩnh-bình tiến về phía Tây, rồi từ Môn-châu vượt qua hai khe suối, ba cái đèo thì tới châu Vạn-nhai; rời Vạn-nhai tới xã Bình-gia, rồi Vạn-linh. Vạn-linh nằm trên bờ sông Phú-lương, tức thượng lưu phòng tuyến Như-nguyệt. Trên đường đi đó, chỉ ải Đâu-đỉnh là có quân trấn đóng. Ta đánh úp ải này, thì có thể đưa đại quân xuống đồng bằng Phú-lương, rồi tiến về phía Đông, uy hiếp Như-nguyệt, Vạn-xuân.

Miêu Lý hỏi:

– Tại sao cái con sông kia, mà khi thì Tu huynh gọi là sông Phú-lương, khi thì gọi là sông Như-nguyệt, khi thì gọi là sông Nham-biền?

Tu Kỷ giảng giải:

– Con sông chạy dài từ dẫy núi Đông-triều đến Vạn-xuân này có tên là sông Cầu. Nhưng mỗi khúc lại có một tên khác. Như khúc thượng lưu này tên là Phú-lương vì có bến đò Phú-lương cắt con đường Vạn-nhai đi Tam-đảo. Khúc giữa mang tên Như-nguyệt, vì có bến đò Như-nguyệt cắt đôi con đường Chi-lăng đi Thăng-long. Khúc cuối mang tên Nham-biền hay Vạn-xuân, vì con sông này cắt đường Nham-biền đi Vạn-xuân bằng bến đò Vạn-xuân.

Quách Quỳ tính vốn cẩn thận, y phân vân:

– Đường đi ngả đó cheo leo, bộ binh qua thì được, chứ xe, ngựa thì không thể nào đi nổi. Giả như ta đánh úp được Đâu-đỉnh, đưa được đại quân qua, nhưng lấy lương thảo đâu cho quân dùng?

Hoàng Kim-Mãn đáp ngay:

– Vì Thường-Kiệt cho rằng Tống không biết con đường thượng đạo, mà dù có biết cũng không dám mạo hiểm vượt hẻm núi đánh Vạn-nhai, nên Bà-chúa-kho Thiên-Ninh đồn trú tại đây một kho lương đủ nuôi cho hơn vạn quân trong sáu tháng. Thường-Kiệt tin rằng Chi-lăng có thể cầm cự trong sáu tháng, nên phía Nam Chi-lăng, Thiên-Ninh cũng chứa một kho lương đủ nuôi quân trong sáu tháng nữa. Nếu như ta vượt thượng đạo thành công, thì với hai kho lương này, ta đủ nuôi hai vạn quân trong sáu tháng.

Quách Quỳ cau mày:

– Quân ta đổ xuống đâu phải hai vạn, mà ít ra là ba mươi vạn! Chỉ với số lương ít đó thì thấm thía gi?

Triệu Tiết tự chửi thầm: « Con mẹ nó, vì ta nói lỡ một câu, mà nhà vua để tên ngu như lợn này làm nguyên-soái. Không biết ta có toàn thây về tới Trung-nguyên không? Đã vậy ta lên mặt dạy dỗ y trước chư tướng cho bõ ghét ». Nghĩ vậy y nói với Quỳ như nói với thuộc-hạ:

– Khi đại quân qua được, lập tức ta men theo sông Cầu, tiến về Như-nguyệt, Vạn-xuân. Lúc ấy vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi đang bị ta đánh ở phia Bắc, chúng quay lưng về Nam chống trả. Bây giờ phiá Nam bị ta chiếm, thì chúng đưa lưng ra cho ta tha hồ mà đâm, mà bắn vào lưng chúng; chỉ một ngày là quân tan vỡ Chi-lăng thất thủ. Lấy Chi-lăng rồi, lập tức ta dùng đường này vận lương chứ khó gì!

Quách Quỳ tức ứa gan, nhưng đành đồng ý để cho Triệu Tiết trách nhiệm mặt trận phía Tây. Trong tâm, Quỳ nghĩ: Nếu Tiết thành công, thì ta là chúa tướng, công lao vẫn thuộc về ta. Nếu Tiết bại, ta có cớ loại Tiết dễ dàng, mà y không than gì được.

Quỳ ban lệnh:

– Phó nguyên soái Triệu Tiết làm chánh tướng, kiểm điểm binh mã, tiến đánh Đâu-đỉnh. Sau khi chiếm Đâu-đỉnh, thì tràn xuống chiếm Bắc-ngạn sông Phú-lương, rồi nhanh chóng tiến về phía Đông, đánh phía sau Chi-lăng. Binh tướng trực thuộc, có đạo tả đệ nhất của tướng Miêu Lý.

Miêu Lý hỏi:

– Thưa nguyên soái, đạo tả đệ nhất có bốn đạo, đó là đạo đệ 7, 8, 9, 10. Vậy mang những đạo nào theo?

– Mang đạo binh đệ thất của Vương Tiến, đạo đệ bát của Bình Viễn, đạo đệ cửu của Lưu Mân. Còn đạo đệ thập thì đặt trực thuộc tướng Yên Đạt công ải Chi-lăng.

Quỳ lại ban lệnh:

– Còn lại, thì tướng Khúc Chẩn chỉ huy các tướng Đào Bật, Diêu Tự công ải Quyết-lý. Yên Đạt chỉ huy các tướng Vương Mân, Lý Hiếu-Tông công Chi-lăng.

Ngày Quý-Mão, tháng Chạp, niên hiệu Thái-Ninh thứ năm, đời vua Nhân-tông nước Đại-Việt (21-12, Bính-Thìn, DL. 18-1-1077), nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống.

Khí hậu mấy ngày cuối Đông sang Xuân tự nhiên ấm áp lạ lùng. Nắng mới êm nhẹ tỏa xuống khắp rừng núi Bắc-biên. Những nụ hoa căng thẳng, đang muốn nứt ra thì gặp nắng, lập tức nở tung, toả ra muôn mầu nghìn sắc, hương thơm ngào ngạt.

Sau trận phục kích đêm, làm cho Quách Quỳ, Khúc Chẩn (11-12 tháng Chạp)phờ phạc, Đinh Hoàng-Nghi vội viết biểu sai chim ưng tâu về triều, và bản doanh nguyên soái Thường-Kiệt. Hầu cũng gửi một bản cho phò mã Thân Cảnh-Long với công chúa Trần Thanh-Nguyên. Ngay ngày hôm sau (13 tháng Chạp), một nữ sứ giả cùng với năm nữ binh phi ngựa đem chỉ dụ của Linh-Nhân hoàng thái hậu tới phòng-tuyến Chi-lăng, cùng với một hộp đựng bảo vật ban cho Đinh Hoàng-Nghi. Nữ sứ giả nói:

– Thưa thượng tướng quân, Thái-hậu ban dụ rằng tướng quân không phải quỳ gối lĩnh chỉ, mà nhận chỉ như em nhận thư của chị.

Hầu cảm động tiếp thư mở ra, đó là tời giấy hoa tiên mầu hồng, in mờ mờ hình Quan-thế-âm đứng trên lưng con rồng. Hương ngọc lan của nước hoa mà Thái– hậu quen dùng bốc lên mũi, hầu nghĩ thầm:

– Bà chị Yến-Loan ban thưởng gì cho mình đây?

Hầu vẫy phu nhân lại cùng đọc:

« Tiếp được biểu của Nghi, chị không ngạc nhiên về chiến thắng Nghi đạt được. Tài của Nghi đâu chỉ có vậy? Mưu trí của Nghi đâu có giản dị như thế? Này Nghi! Hồi ở chùa Từ-quang, chị đã từng làm bếp cho Nghi ăn, giặt quần áo cho Nghi mặc; bẹo tai khi Nghi không gội đầu, rồi phải điệu Nghi ra ao gội đầu... Nếu Nghi nhớ những kỷ niệm ấy, thì hãy nghe chị dặn đây »

Dù đã là thượng tướng quân, xung sát có dư trăm trận, nhưng khi đọc những giòng ấy, nước mắt hầu chảy xuống hai gò má xạm nắng gió:

– Em nguyện tuân theo lời dạy dỗ của chị.

« Một là, quân của Nghi quá ít, so với quân Tống. Nhờ tướng Tống khinh địch, quân Tống lạ địa thế, Nghi ra quân bất thần mà thành công; chứ thực lực tướng Tống toàn những kẻ tài trí siêu việt, võ công cao cường, thuật dùng binh bỏ xa Nghi. Vậy từ nay, tuyệt đối Nghi không ra khỏi ải Chi-lăng, dù chỉ để bắt một tên tế tác giặc.

Hai là, nếu như Chi-lăng bị tràn ngập, thì lập tức Nghi rút quân về hướng Đông, ẩn trong rừng, chờ dịp đánh tập hậu, chứ không nên tử chiến vô ích.

Ba là ta gửi theo một nữ tướng, đệ tử của tiên nương Thiếu-Mai tên Bùi Phương-Lan. Như vậy Lan ngang vai với chúng ta. Nàng dẫn theo năm nữ võ sĩ để trợ chiến với Nghi đệ. Vậy Nghi đệ hãy đối xử với họ bằng tình sư huynh sư muội. Lỡ ra, sau này họ có làm điều gì không như ý Nghi đệ, thì ta chịu lỗi với Nghi đệ.

Ta ban cho Nghi đệ một bảo vật, nhưng chỉ mình Nghi đệ mới được mở ra mà thôi ».

Hoàng-Nghi nhăn mặt hỏi phu nhân:

– Bà chị tuyên chỉ bắt chúng ta bỏ Chi-lăng, em nghĩ xem có nên tuân không? Còn anh ấy à, thà anh chết chứ anh không rút đâu.

Phương-Quỳnh nghĩ thầm:

– Từ trước đến giờ bề ngoài thì Long-biên ngũ hùng với Thái-hậu chị chị em em, chứ thực sự ra Thái-hậu coi ngũ-hùng như con; ngược lại ngũ hùng coi hậu như mẹ. Giữa mẹ con, chắc có truyện gì riêng tư, ta chả nên xen vào.

Nghĩ vậy, Phương-Quỳnh vẫy vợ chồng Lý Tam, năm nữ võ sĩ cùng mình ra ngoài. Bấy giờ Phương-Lan mới trao cái hộp cho Hoàng-Nghi. Hầu trịnh trọng mở hộp ra. Bất giác mặt hầu đỏ rực lên, rồi biến sang tái ngắt, chân tay hầu run lẩy bẩy.

Nguyên trong thư đựng một chiếc khăn lụa mầu vàng lợt, một chiếc áo choàng mầu tím, một cái xiêm mầu đen. Đây là bộ xiêm áo Nang Chang Lan mặc hôm vào triều kiến vua Thánh-tông, sau đó nàng sang cung Ỷ-Lan để dự tiệc, rồi xẩy ra vụ hiểu lầm, khiến nàng bỏ đi mất tích.

Không tự chủ được, hầu ôm bộ xiêm y của Chang-Lan vào người, ngồi lặng đi một lúc. Bao nhiêu kỷ niệm với Chang-Lan trở về: Lúc từ biệt nhau, để dự trận Nhật-lệ; lần chia tay đầy nước mắt ở cung Ỷ-Lan; lần Chang-Lan giả làm nữ tỳ theo hầu từ Trường-yên ra Thăng-long; rồi Chang-Lan theo hầu như bóng với hình. Cho đến khi hầu đem quân về Thăng-long dẹp loạn Dương gia, bấy giờ Chang-Lan mới bị Linh-Nhân hoàng thái hậu khám phá ra. Hậu giữ nàng ở trong cung, tới khi Hoàng-Nghi cưới vợ, nàng mới bỏ đi mất tích.

Trong hộp có mẩu giấy, thủ bút chủa Chang-Lan, hầu nở ra đọc:

« Nghi ơi! Khi rời cung Ỷ-Lan để về Chiêm, thì em gặp hai hòa thượng Mộc-tồn, Viên-Chiếu. Hai ngài thấy em quá thương tâm, bèn thu làm đệ tử. Sau này, em theo Nghi về Thăng-long, hai vị sư phụ vẫn đêm đêm truyền thụ võ công cho em. Hiện em vẫn hầu hạ cạnh Thái-hậu.

Em biết rằng bấy lâu trốn tránh Nghi, để cho Nghi mòn mỏi chờ mong, em có muôn vàn lỗi, nhưng em tin rằng Nghi sẽ tha thứ cho em.

Ở ngoài biên cương, Nghi hãy bảo trọng thân thể, để khi hết giặc, Nghi về Thăng-long, em sẽ đón Nghi, và chúng ta lại đoàn tụ sau bẩy năm xa cách ».

Hoàng-Nghi đem bộ xiêm y của Chang-Lan nhét vào cái túi vải nhỏ mà hầu vẫn cột ngang lưng để đựng bút, mực, với mấy bộ binh thư. Bất giác hầu ngửng lên nói với Bùi Phương-Lan đang tần ngần quan sát hành vi của hầu:

– Sư muội là đệ tử của tiên nương Thiếu-Mai, thì hẳn y thuật cao minh lắm nhỉ?

– Rất tiếc muội chưa học được một phần mười thủ thuật của sư phụ.

– Thế muội có trị được bệnh tương tư không?

Phương-Lan mỉm cười:

– Tương tư không phải là bệnh. Thế đại ca tương tư ai? Có phải là chị Chang-Lan không? Muội nghe Linh-Nhân hoàng thái hậu nói thế, chả biết có đúng không? Hay tương tư cô khác, đàn ông năm bẩy lá gan. Lá để cho vợ, lá toan cùng người. Anh cũng là đàn ông, thì chắc cũng vậy.

Hoàng-Nghi thấy Phương-Lan không gọi mình là đại ca nữa, mà lại gọi là anh, hầu chỉ lên trời thề:

– Trọn đời anh chỉ biết có nàng. Nếu anh nói sai, thì trời vật chết!

– Anh nói! Anh chỉ biết có nàng, tại sao anh lại cưới chị Phương-Quỳnh?

– Anh cưới Phương-Quỳnh vì tuân chỉ của chị Ỷ-Lan, à quên Thái-hậu.

– Này anh Nghi! So sánh ba người đàn bà mà anh yêu thương là Thái-hậu, Phương-Quỳnh, Chang-Lan. Anh yêu ai nhất?

– Tình là cái chi chi, khó mà định nghĩa. Trong ba người, anh yêu mỗi người một khác. Phương-Quỳnh với anh tuy có nghĩa phu thê, nhưng chị ấy chỉ là người bạn cùng chung lo quốc sự. Chị ấy đã hứa rằng sau này anh tìm thấy Chang-Lan, thì chị ấy nhất định không ghen. Còn Thái-hậu! Em nên nhớ, đối với anh, Thái– hậu vừa là bà mẹ dịu dàng nhất thiên hạ, vừa là bà chị ôn nhu nhất thiên hạ. Anh vừa yêu, vừa kính chị ấy đến độ bất cứ lúc nào, cần chết thay cho hậu, anh cũng vui lòng. Còn Chang-Lan ư?

Hầu nói bằng giọng ôn nhu:

– Nếu em đếm hết lá trên rừng, hết cát trên biển, đếm hết sao trên trời, được bao nhiêu, anh yêu nàng còn hơn thế nữa.

Đến đó Hoàng-Nghi chợt để ý: Mặt Phương-Lan khi tái xanh, khi hồng, hai tay nàng run run.

Trong khi đó hầu nghĩ thầm:

– Ta định chết với Chi-lăng, nhưng nếu ta chết, thì sao còn tái ngộ với Chang-Lan được? Ừ, nếu không giữ nổi Chi-lăng, thì ta rút về phía Đông. Sau này bọn Long-biên, Tây-hồ có cật vấn, ta sẽ nói rằng việc này ta không làm chủ được, vì đó là chỉ dụ của Thái-hậu. Như vậy chúng không trách ta đã bỏ ải trốn đi.

Cho hay sức mạnh của ái tình thực vô biên, Linh-Nhân hoàng thái hậu đã biết xử dụng nó. Chỉ mấy giòng thư của Chang-Lan, mà làm cho Hoàng-Nghi thay đổi hẳn thái độ cứng ngắt: Chết sống với Chi-lăng. Trong khi trước đây, uy đức như công chúa Bảo-Hòa, Bình-Dương, Kin-Thành, Trường-Ninh, và cả tiên nương Thiếu-Mai cũng không lay chuyển nổi.

Chợt để ý đến trên lưng bàn tay Phương-Lan có mụn nốt ruồi đỏ, hầu giật bắn người lên:

– Mình đáng chết thực! Thì ra bà chị gửi Chang-Lan cho mình, mà mình ngu muội nhận không được. Nàng hóa trang khéo quá, mình nhận không ra. Được!

Hầu nói với Phương-Lan:

– Em này!

– Gì vậy Nghi?

– Em thử chẩn mạch xem anh có bị bênh gì không? Tự nhiên tim đập mau, lồng ngực đau chịu không nổi. Chắc anh nhớ Chang-Lan quá, nên tim vỡ ra thì phải.

Hầu làm bộ run lấy bẩy.

Phương-Lan không nghi ngờ:

– Anh vào phòng ngủ nằm thẳng, rồi đưa bàn tay trái cho em.

Hoàng-Nghi dẫn Phương-Lan vào phòng ngủ. Thuận tay hầu đóng cửa lại rồi nằm dài ra. Phương-Lan cầm lấy bàn tay Hoàng-Nghi, thì nhanh như chớp, hầu bật tay dậy điểm huyệt Nội-quan của nàng. Chân tay Phương-Lan cứng đơ. Nàng hỏi:

– Nghi ơi! Nghi làm gì vậy? Tại sao Nghi lại điểm huyệt em?

Trong lúc hoảng hốt, Chang-Lan quên mất mình là cô sư muội Phương-Lan, mà thốt ra câu thân ái thường nói với Hoàng-Nghi trước đây.

Hoàng-Nghi ôm chặt lấy nàng, nói trong hơi thở:

– Chang-Lan! Anh nhớ em đến điên đảo thần hồn, mà em cứ ẩn thân, trốn tránh anh hoài là tại sao?

Ghi chú ,

Viết đến đây, tôi không dám thuật gì hơn. Bởi sau khi tra kết các thư tịch Tống, Việt; kể cả bia đá, mộ chí, gia phả của chư tướng tôi cũng không tìm ra đoạn văn nào chép rõ sau khi nói câu này, tình trạng Quán-quân thượng tướng quân Chính-Tâm hầu của triều Lý với Chang-Lan ra sao? Tôi vốn kém thông minh, nên không tưởng tượng nổi hôm ấy anh hùng Đinh Hoàng-Nghi với giai nhân Câu-thi Lị-ha Bài-ma-la Nangchanglan làm những gì, nói những gì với nhau? Ví dù tôi có tưởng tượng ra được, thì cũng chẳng dám viết. Vì sau này Đinh Hoàng-Nghi tuẫn quốc, được phong Hiển-uy, Trung-nghĩa, Duệ-mưu đại vương, rất linh thiêng; nếu tôi chép sai, e bị ngài phạt thì khổ to. Nhược bằng ngài có đại xá cho, thì con cháu ngài hiện sống cạnh tôi như Đinh Vĩnh-Phúc, Đinh Hà-Thanh (tức ca sĩ Julia Thanh), Đinh Giao-Linh (tức ca sĩ Mỹ-Linh), Đinh Nho-Tiêu cũng bẹo tai tôi. Độc giả Nam-quốc sơn-hà vốn thông minh, xin đoán dùm. Đa tạ.

Từ hôm 14 đến nay, trong suốt tám ngày liền, ngày nào Yên Đạt cũng cùng hai tướng Vương Mân, Lý Hiếu-Tông đem quân tấn công ải Chi-Lăng suốt từ sáng đến tối. Mấy ngày đầu, sau khi tấn công, quân Tống lại rút về hậu cứ qua đêm, sáng hôm sau mới trở lại tấn công tiếp. Nhưng sau khi tấn công đến ngày thứ bẩy, thì quân Tống lại đóng ngay trên con đường dẫn đến ải, và ven núi gần ải để qua đêm.

Trong bẩy ngày đó, Hoàng-Nghi cũng nhận được tin tức do chim ưng đem lại: Công chúa Thiên-Thành với phò-mã Thân Cảnh-Long vẫn âm thầm di chuyển từ trang này, sang động khác, khuyên các trang động chủ không gây chiến để bảo toàn chủ lực. Nên chiến trường không có gì xẩy ra.

Còn tin của công chúa Côi-sơn cho biết: Khúc Chẩn cùng hai tướng Diêu Tự, Đào-Bật, hàng ngày đem quân tấn công ải Quyết-lý rất gấp. Hai bên đều tổn thất khá trầm trọng.

Hoàng-Nghi bàn với chư tướng:

– Các vị thử nghĩ xem, Yên Đạt là một đại tướng giỏi nhất của Tống, mà lại hành sự ngơ ngẩn, cho đóng quân ngay ngoài ải của ta. Vậy ý định y là gì?

Chang-Lan vẫn hóa trang, đóng vai Phương-Lan. Nàng bàn:

– Theo muội nghĩ, thì Tống triều muốn Quách Quỳ phải đánh ta thực nhanh, để còn về giữ Tây-thùy, Bắc-thùy. Thế mà bẩy ngày qua, quân Tống chỉ đánh cầm chừng, e chúng có âm mưu chứ chẳng không đâu?

Phương-Quỳnh gạt ngang:

– Tôi cho rằng chúng chả có âm mưu gì cả. Chẳng qua, chúng khinh thường mình mà thôi. Tôi nghĩ đêm nay, mình bắn Lôi-tiễn lên đầu chúng cho bõ ghét.

Hoàng-Nghi thấy rõ Chang-Lan nghị luận rất đúng, mà vợ lại gạt đi, thì trung gian do cái ghen mà ra. Hầu không đồng ý với phu nhân, đưa mắt hỏi vợ chồng Lý Tam:

– Sư huynh, sư tỷ nghĩ sao?

– Phương-Quỳnh luận đúng, đêm nay mình bắn Lôi-tiễn cho chúng phải rời xa đồn của ta.

Mai Tam góp ý: Thử dùng chim ưng dò thám thực xa xem sao. Một mặt gửi thư đến phò mã Hoàng Kiện, Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương, với nguyên soái Thường-Kiệt để hỏi thăm tin tức xem có gì lạ không?

Đến đây, quân báo: Có hai cột khói bốc lên tận mây. Một cột ở phía Nam, một cột ở phía Tây.

Hoàng-Nghi vội lên đài cao quan sát. Chang-Lan theo bén gót. Nàng định hướng rồi nói:

– Chỗ khói bốc lên là nơi công chúa Thiên-Ninh chứa lương thảo tiếp tế cho Đâu-đỉnh và cho ta với Quyết-lý. Như vậy hai kho lương này lành ít, dữ nhiều rồi.

Hoàng-Nghi sai chim ưng mang thư đi các nơi hỏi tin tức. Thư gửi hơn hai giờ sau thì có thư của Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương khuyên « nên cẩn thận, giữ vững ải, chớ có xuất ải đánh giặc ». Không thấy thư trả lời của nguyên soái Thường-Kiệt với phò mã Hoàng Kiện. Mặt khác, tế tác cho biết: Phía Tây Chi-lăng đang có cuộc giao tranh.

Lòng Hoàng-Nghi rồi như tơ vò. Tuy nhiên, đề nghị dùng Lôi-tiễn bắn quân Tống của Phương-Quỳnh cũng hợp lý. Lập tức hầu ra lệnh:

– Đúng giờ Dậu thì khai hỏa.

Giờ Dậu, Phương-Quỳnh mặc cho Hoàng-Nghi ngồi trong trướng nói truyện với vợ chồng Lý Tam, chư tướng, với Chang-Lan. Bà cho tập trung tất cả hai mươi đại nỏ, cùng nhắm vị trí đóng quân của Tống khai hỏa. Cho hay cái giận, cái hờn, cái ghen của đàn bà xưa nay đều giống nhau: Giận cá chém thớt. Phương-Quỳnh cho bắn tối đa, bắn liên tiếp. Những tiếng rú, tiếng nổ kinh hồn ở trên không, ở dưới đất làm rung động không gian. Rừng núi Chi-lăng như chìm trong biển lửa. Quân Tống bị Lôi-tiễn bắn, cùng hò hét, rồi chạy ra xa ngoài tầm đại nỏ hơn dặm, đứng nhìn vào ải.

Tuy ngồi đàm đạo với các tướng, nhưng Đinh Hoàng-Nghi vẫn chú ý theo dõi cuộc nã Lôi-tiễn. Khi hầu thấy Lôi-tiễn nã nhiều quá thành vô ích, vội ra lệnh cho nỏ binh ngưng lại, rồi hỏi phu nhân:

– Sao em cho nã nhiều quá vậy? Địch đã rút ra xa rồi mà?

Phu nhân quẳng cây cờ lệnh xuống đất, ôm đầu chạy vào trong nhà. Cho rằng vợ mình khó ở, hầu định vào hỏi thăm bệnh tình của phu nhân, thì ưng binh trình hầu một bản tin của phò mã Hoàng Kiện:

« Trưa nay một toán hơn trăm binh thuộc hiệu Đại-hoàng bị quân Tống đuổi chạy tới xã Vạn-linh, tràn đến Bắc-ngạn Phú-lương. Qui-đức đại tướng quân Trần Di đem quân vượt sông sang đánh lùi quân Tống, cứu được hơn trăm binh sĩ đó. Theo đám quân này cho biết, quân Tống vượt rừng từ Vĩnh-bình, xuống Môn-châu, rồi đi theo thượng đạo đánh úp ải Đâu-đỉnh. Dường như Đâu-đỉnh thất thủ, Vũ-đực đại tướng quân, Nam-sơn hầu Dư-Phi tuẫn quốc. Có tin gì ta sẽ báo cho ngay. Bà-chúa-kho Thiên-Ninh sợ lương thảo lọt vào tay giặc, đã cho đốt kho lương Vạn-nhai ».

Kinh-hoàng, Hoàng-Nghi vội triệu tập chư tướng báo hung tin, một mặt hầu sai ưng binh đem tin này cho phò mã Thân Cảnh-Long và công chúa Trần Thanh-Nguyên. Hầu nói với chư tướng:

– Nếu sự thực Đâu-đỉnh thất thủ, tất Tống đi theo Bắc-ngạn Phú-lương, tiến về Đông đánh sau lưng ta. Chiến lũy Chi-lăng của ta, có tới ba mươi lớp, đều quay lưng về Nam. Nếu nay quân Tống từ Nam đánh lên, thì ta nguy mất.

Phương-Quỳnh nói ngang:

– Tống đánh từ trước, chống đã khốn khổ rồi, nay lưng hở mà chúng đánh vào lưng, thì chỉ có một đường là chết mà thôi. Tôi đang muốn chết đây!

Từ hôm Chang-Lan hiện diện ở Chi-Lăng, thì Phương-Quỳnh không lấy làm vui lòng. Chang-Lan ít nói, lại luôn luôn tránh gặp mặt bà. Mỗi khi Chang-Lan nói với Hoàng-Nghi, thì nàng thỏ thẻ êm đềm, tha thiết. Tuy Phương-Quỳnh biết rằng ghen tương là điều xấu, cần phải gạt bỏ. Nhưng biết là một truyện, mà gạt bỏ ra ngoài lại là một truyện khác.

Cái tình là cái chi chi, thực khó mà giảng giải nổi. Cũng vì vậy mà Phương-Quỳnh luôn nói ngang, hay cáu gắt vô lý với hầu. Nhưng một là trong lòng hầu chỉ để hết tâm tư đến Chang-Lan, hai là hầu lo chống giặc, nên không ngờ đến việc phu nhân ghen với Chang-Lan.

Ngay trưa hôm đó, có sứ giả của nguyên soái Thường-Kiệt phi ngựa tới yết kiến hầu. Hầu cho mời vào. Sứ giả nói:

– Nguyên soái Thường-Kiệt có lệnh: Đâu-đỉnh thất thủ hôm qua. Hiện đại quân Tống như nước vỡ bờ tràn xuống Phú-lương, đang tập họp để tiến đánh sau lưng Chi-lăng. Vì chuyên chở không kịp, sợ kho lương phía Nam Chi-lăng lọt vào tay giặc, Bà-chúa-kho Thiên-Ninh đã thiêu hủy kho này rồi. Vậy quân hầu hãy rút lui về phía Đông, ẩn trong vùng Tô-mậu. Công chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên rút vào rừng Quảng-nguyên, Môn-châu, còn công chúa Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long ẩn ở rừng Lạng-châu.

Nói rồi sứ giả trao cho hầu một cái bản đồ, trên ghi vị trí các hầm mà công chúa Thiên-Ninh cất dấu lương thảo trong rừng:

– Công chúa Thiên-Ninh truyền trao bản đồ này cho quân hầu. Quân hầu hãy tìm, đào lên lấy lương nuôi quân. Còn ải Quyết-lý bị vây, công chúa đã sai chim ưng mang đến cho quốc công Tôn Mạnh rồi.

Hầu hỏi:

– Vụ Đâu-đỉnh thất thủ ra sao?

– Thưa, tên gian tặc Hoàng Kim-Mãn chỉ con đường thượng đạo cho quân Tống. Y dẫn Triệu Tiết đem Miêu Lý, Vương Tiến, Bình Viễn, Lưu Mân điều ba đạo quân đệ 7, 8, 9, âm thầm đi đường thượng đạo qua Vạn-nhai, rồi đợi trời tối thình lình đánh úp ải Đâu-đỉnh.

Phương-Quỳnh quên cả ghen, quên cả giận dỗi, bà hỏi:

– Vô lý, thế chim ưng tuần thám đâu? Chó sói canh gác đâu?

– Thưa phu nhân, chim ưng tuần thám bị đội ưng-binh của Hoàng Kim-Mãn phất cờ gọi xuống rồi giữ luôn không cho bay về. Còn Thần-ngao canh phòng, tuần tiễu ngoài ải, cũng bị ngao binh của Kim-Mãn ra hiệu, chúng tưởng binh nhà, nên không báo động. Quân Tống thình lình tràn vào ải giữa lúc quân Việt đang ăn cơm sáng. Tuy vậy, Dư tướng quân cũng phản ứng kịp. Trận chiến kinh hồn động phách diễn ra trong ải suốt từ sáng tới giờ Thân mới dứt. Quân Việt tử chiến tới người cuồi cùng. Dư tướng quân đấu với tướng Tống là Lưu Mẫn, đến hai trăm hiệp thì Mẫn bị bại. Sau Tu Kỷ nhảy vào vòng chiến, Dư tướng quân đấu được hơn trăm hiệp, phải lùi lại, dẫn quân rút vào rừng, vì quân Tống đã chiếm được hết ba đồn của Đâu-đỉnh. Tu Kỷ xua quân đuổi theo. Dư tướng quân cùng hơn hai trăm quân cuối cùng chiến đấu đến kiệt lực, rồi tự tử .

Chang-Lan hỏi:

– Thế tại sao lại có hơn trăm quân sĩ chạy thoát về Phú-lương?

– Thưa đó là quân đi tuần tiễu, qua đêm ở xã Vạn-linh. Khi được tin Đâu-đỉnh có giặc, họ vội về ải chiến đấu. Khi họ đi được nửa đường thì gặp quân Tống đang tràn xuống Nam. Họ vừa đánh, vừa chạy về bờ sông Phú-lương, được phò mã Hoàng Kiện cứu qua sông.

Hoàng-Nghi cho tập trung binh sĩ, giảng giải cho họ biết, hiện Chi-lăng bị hở phía sau, phía trước bị tấn công. Bây giờ nhiệm vụ hiệu Quảng-vũ nặng nề hơn: Ẩn thân vào vùng Tô-mậu, chờ đợi, bất cứ lúc nào lệnh ban ra, là đánh tràn sang Tống, để đốt phá lương thảo, cùng cắt đường tiếp vận của chúng.

Đêm hôm đó, khi chập choạng tối, ngày 22 tháng Chạp năm Bính-Thìn, toàn bộ hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ âm thầm rút vào rừng. Chang-Lan lĩnh nhiệm vụ rút sau cùng. Nàng cho chất tất cả gỗ, củi, cỏ vào các căn trại, rồi sai bện một cái bùi nhùi cỏ dài, châm lửa , rồi từ từ rời khỏi ải Chi-lăng.

Như thường lệ, giờ Mão ngày 23 tháng Chạp, Yên Đạt, Vương Mãn, Lý Hiếu-Tông dẫn quân công ải Chi-lăng. Mọi khi quân vừa tới tới hoàng rào, là bị quân Việt dùng nỏ bắn ra. Nhưng lần này, sau ba lần xung phong vào sát hàng rào, quân Việt vẫn không phản ứng. Lý Hiếu-Tông nghi ngờ, vội cho quân rút ra xa, để xin lệnh Yên Đạt.

Yên Đạt cũng kinh ngạc không ít. Y thân tới hàng rào nhìn vào trong: Không một bóng người, không một bóng thú. Trầm ngâm một lúc, y sai quân dùng búa phá rào. Không khó nhọc, sau khi phá được hai lớp, thì quân theo các ngả lách lọt qua tuyến phòng thủ thứ nhất. Vẫn không thấy một bóng người nào. Y cho phá rào, tiến vào phòng tuyến thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, cũng vẫn không một bòng người.

Yên Đạt tỉnh ngộ, y hét lên:

– Bọn Hoàng-Nghi trốn hết rồi.

Vừa lúc đó, sứ giả của Khúc Chẩn tới báo:

– Đêm qua, quân trong ải Quyết-lý đã rút vào rừng, không biết đi đâu.

Lập tức Yên Đạt hô quân đồng loạt phá rào, tràn vào ải Chi-lăng. Tuy vậy y vẫn cẩn thận cho quân vượt từng tuyến phòng thủ một. Sau khi vượt hết ba mươi tuyến, thì tới khu chứa lương thảo. Yên tâm không còn quân Việt, Đạt sai quân lục soát kho lương thảo. Đúng lúc đó, con bùi nhùi bén tới chỗ chứa hoàng-thạch, mã-não, nhựa cháy. Một tiếng nổ long trời lở đất phát ra, rồi tất cả các căn nhà đều bốc cháy ngùn ngụt. Quân Tống kinh hoàng cùng bỏ chạy tán loạn. Chạy được mấy chục trượng, thấy không có gì khác lạ, chúng đều đứng lại nhìn những căn nhà ngút lửa.

Yên Đạt quan sát một lúc, y đoán ra ngay: Quân Việt đã âm thầm rút đi từ đêm qua. Y liền sai quân về hành doanh báo cho Quách Quỳ biết. Y lên tháp nhìn về phía Nam Chi-lăng: Một đoàn quân mang cờ Tống, do Triệu Tiết, Tu Kỷ đi đầu, đang tiến tới.

Triệu Tiết hỏi:

– Đạt! Bọn Đinh Hoàng-Nghi đâu?

Yên Đạt đáp cụt ngủn:

– Cút từ lâu rồi. Sao? Tốt đẹp cả chứ?

– Hà! Quách Quỳ cho rằng ta mạo hiểm, mà không thể thành công. Bây giờ đại công cáo thành, ta phải gặp y, để y ngượng mặt một bữa cho bõ ghét.

Triệu Tiết cùng mấy võ sĩ cận vệ phi mgược đường về Lạng-châu, tới hành doanh của Quách Quỳ, thì cũng là lúc Quỳ đang cùng các tham-tướng như Ôn Cảo, Quản Vi, Đặng Trung... bắt đầu di chuyển qua Chi-lăng. Bất đắc dĩ Quách Quỳ phải ngợi khen Tiết:

– Mừng Triệu huynh đã thành công. Này Triệu huynh, tôi nghe trước đây Triệu huynh có nói rằng: Một ngày nào đó, ngọn cờ chỉ xuống Nam, Triệu huynh hứa sẽ làm cỏ động Giáp để trả cái thù trước đây bị nhục ở đỉnh Tản-lĩnh. Bây giờ Triệu huynh hãy tự trả hận đi thôi.

– Nguyên-soái không nhắc, suýt nữa tôi quên mất.

Quách Quỳ chỉ một tên Việt theo trong quân:

– Người này biết rõ mồ chôn của họ Thân, từ Thân Thiệu-Anh, Thân Thừa-Quý, công-chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa, Thân Thừa-Phú, Thân Thiệu-Cực, cho đến Lâm Thanh-Trúc. Y sẽ chỉ cho Triệu huynh.

Ghi chú,

Hồi niên thiếu, Triệu Tiết, Khúc Chẩn theo sư phụ, sư thúc trong phái Hoa-sơn như Bắc-sơn, Tây-sơn, Nam-sơn lão nhân v.v. sang Đại-Việt định chiếm núi Tản-lĩnh. Trong trận đánh này, không những các vị sư bá, sư phụ, sư thúc đại bại nhục nhã; mà Triệu Tiết, Khúc Chẩn, cũng bị Tự Mai, Tôn Đản, Lê Văn đánh bại, rồi bị Thân Thiệu-Cực làm nhục. Tiết thề sau này có dịp sẽ làm cỏ động Giáp để trả thù. Xin xem Anh-hùng Bắc-cương của Yên-tử cư-sĩ, do Xuân-thu Hoa-kỳ xuất bản 1992.

Tiết cho ruổi ngựa song song với Quách Quỳ, đi được khoảng mười dặm, thì tên hướng dẫn chỉ vào một trang động rất thanh nhã, nhưng hàng rào phòng thủ cực kỳ kiên cố:

– Đây là động Giáp, nơi vua bà Bắc-biên đóng đô. Bên trong có mồ mả ba chục đời nhà họ Thân.

Triệu Tiết ra lệnh cho quân gọi cổng. Cổng vẫn đóng kín mít. Tiết truyền quân tấn công. Lập tức hoàng nam canh cổng nhô đầu lên khỏi ụ phòng thủ nói:

– Hôm trước Quách nguyên soái có lệnh: Nếu chúng tôi không đánh quân Thiên-triều, thì quân Thiên-triều sẽ để cho được yên. Thế sao bây giờ các vị lại đánh chúng tôi?

– Các người nghe đây.

Triệu Tiết nói:

– Chúng ta có việc cần vào trong, mi mau mở cửa. Bằng không ta cho quân san bằng động này.

Hoàng nam mở rộng cửa động ra. Lập tức Tiết phất tay cho đội thiết đột xông vào. Một tiếng pháo nổ vang, rồi bốn dàn Thần-nỏ cùng bắn ra một lúc. Quách Quỳ, Triệu Tiết kinh hãi, vội tung mình nhảy lên cao, tay rút kiếm gạt tên. Khi cả hai rơi xuống đất, lại tung mình nhảy về sau liến mười bước, ra khỏi tầm sát hại của Thần-nỏ mới dám đứng lại.

Bấy giờ Triệu Tiết mới nhìn lại: Cổng trang đã đóng, bên trong trấn một con bùi nhùi bằng rơm trát bùn. Đội thiết đột hơn hai mươi người chỉ thoát ra được ba người, còn lại không biết chết sống ra sao?

Khúc Chẩn đã tới, y hỏi Triệu Tiết:

– Sư huynh! Cái gì đã xẩy ra?

Tiết tường thuật chi tiết. Quách Quỳ truyền lệnh:

– Ta hãy chiêu dụ chúng xem sao, đừng vội nóng nảy.

Khúc Chẩn tiến lên cầm loa gọi vào trong:

– Quân tướng trấn thủ động Giáp nghe đây! Chúng ta là tướng Thiên-triều đem quân sang trừng phạt bọn trộm cướp từng xâm phạm Thiên-quốc. Các người vô tội. Vậy các người mở cổng cho chúng ta vào, chúng ta hứa không đụng đến cây kim, sợi chỉ của các người. Bằng không ta sẽ san bằng động Giáp.

Một lão già quắc thước leo lên tháp phòng thủ. Lão cung tay hướng ra ngoài vái ba vái, lão nói bằng tiếng Biện-kinh:

– Tôn Tử nói « Quân trung bất hí ngôn ». Hôm rồi vua bà Bắc-biên cùng Thân phò-mã đem triều đình rút về Thăng-long có di chiếu rằng: Từ nay động Giáp không còn là thủ-đô của Bắc-biên nữa, các người muốn hàng Tống, hay chống Tống, thì tùy ý. Sau hôm ấy, chúng tôi cương quyết trung-thành với Đại-Việt. Nhưng mới đây, nguyên-soái Quách Quỳ có gửi tới cho chúng tôi bài lộ-bố, hứa rằng: Trang nào, động nào không chống quân Thiên-triều thì sẽ để cho yên. Chính vì vậy, mà chúng tôi nguyện trở thành ngoan dân. Hơn tháng nay, biết bao lần quan quân đi qua, chúng tôi không chống lại. Thế sao bây giờ các vị lại cho quân thiết-đột xông vào chém giết chúng tôi?

Nghe lão nói, Quách Quỳ nhủ thầm:

– Thì ra vợ chồng Thân Cảnh-Long bỏ trốn về Thăng-long, rồi sai người phao rằng ẩn ở trong rừng. Lão già này vô tình tiết lộ cho ta. Ta phải nói truyện với lão để khai thác thêm tin tức.

– Thế còn Tôn Mạnh với Đinh Hoàng-Nghi hiện ở đâu?

– Sau khi quân Thiên-triều đổ xuống Phú-lương, thì hai ải Quyết-lý, Chi-lăng bị đánh phía sau, nên đã xuyên rừng tiến về Tây, qua sông để về trấn Thăng-long rồi.

Quách Qùy nói với chư tướng:

– Thì ra thế. Chúng rút đi mà lại phao rằng ẩn trong rừng, làm ta phải chia quân ở lại giữ Bắc-cương. Ta bị chúng lừa mà không biết. Vậy ta dốc toàn lực đổ xuống đồng bằng, không cần để quân ở đây nữa.

Lão già chỉ vào Quách Qùy, Triệu Tiết, Khúc Chẩn:

– Các vị có biết rằng khi các vị đánh chúng tôi là phạm vào lệnh cấm của Quách nguyên-soái không? Nay chúng tôi tạm bắt giữ mười bẩy quân thiết đột này làm bằng chứng, rồi sẽ đến cửa Quách nguyên-soái để kiện.

Ôn Cảo chỉ vào Quách Quỳ:

– Quách nguyên-soái chính là vị này.

Quách Quỳ thúc ngựa tiến lên:

– Ta chính là Quách nguyên soái đây.

Lão già chắp tay vái:

– Người xưa nói: Không biết là không có tội. Vừa rồi tiểu nhân có đôi chút lầm lỡ, mong nguyên-soái đại xá. Xin nguyên soái chờ một lát, tiểu nhân gọi bô-lão ra đón nguyên-soái.

Nói rồi lão xuống đài. Lát sau, con bùi nhùi được vần sang bên cạnh, cánh cổng mở rộng. Bên trong bô-lão quần áo chỉnh tề đứng làm hai hàng, mỗi người cầm một bó hương, khói lên nghi ngút. Tiếp theo là đội hoàng-nam, hoàng-nữ gươm đao sáng ngời. Lui vào trong hơn mười trượng, là đàn hổ, báo, sói, voi ngồi nghểnh cổ lên, lưỡi thè ra đỏ lòm.

Bô lão ban nãy cung tay hướng Quách Quỳ:

– Ngoan dân Thân Thiệu-Minh, động trưởng động Giáp cùng dân toàn động kính ra mắt Quách nguyên-soái.

Lão phất tay một cái, đội âm nhạc hơn trăm người, xử dụng đủ thứ nhạc-cụ, đồng tấu lên bản nhạc êm dịu, hòa-nhã. Quách Quỳ nhận ra đó là bản nhạc đời nhà Chu khi xưa đã tấu để tế Khương Thái-công.

Từ ngày vượt biên vào đại Việt, chư tướng Tống hết bị Lôi-tiễn, lại bị thú-binh, Thần-nỏ cứ nhè không đề phòng là tấn công. Đây là lần đầu tiên Quỳ được dân chúng tiếp đón với đầy đủ lễ nghi. Quỳ cùng mấy võ tướng cận vệ xuống ngựa vào trong trang. Triệu Tiết la lớn:

– Nguyên soái đừng vào. Bọn Nam man gài bẫy đấy. Người mà vào trong là trúng phục binh của chúng.

Quách Quỳ nghĩ rất nhanh:

– Tên Triệu Tiết này thực nhát gan, với bản lĩnh của ta, với đội võ sĩ này, thì dù tất cả đám thú binh, hoàng-nam, hoàng-nữ có tấn-công ta há sợ sao?

Quỳ vẫy tay cho năm trăm thiết đột đi trước, còn y khoan thai cùng các tướng vào trong. Thân Thiệu-Minh đi trước dẫn đường. Triệu Tiết, Khúc Chẩn lững thững theo sau. Tới điện Kinh-Dương lão rước Quỳ ngồi vào cái ghế khổng lồ bọc da hổ. Hai bên còn mấy ghế nhỏ hơn, thấp hơn, cũng bọc da hổ được dành cho Triệu Tiết, Khúc Chẩn, Ôn Cảo v.v. Chư tướng còn lại đứng hầu làm hai hàng. Đám thiết-đột bị bắt đã được tha ra, dàn ngoài sân.

Thiệu-Minh chắp tay:

– Đây là nơi thiết triều của vua bà Bắc-biên. Bọn tiểu-nhân rất mong nguyên-soái hứa cho một lời, để dân trong động không phải lo âu cái nạn diệt chủng.

Quỳ hài lòng, y bảo Ôn Cảo:

– Ôn huynh hãy cho làm một tấm bảng lớn, viết lệnh của ta, rồi dán lên, đem treo ngoài cổng trang:

« Bất cứ quân, tướng nào xâm phạm động này sẽ bị xử tử ».

Thiệu-Minh dẫn Quỳ cùng chư tướng dạo chơi một vòng trong động. Y trình bầy: Dân trong động ước khoảng năm nghìn nóc gia, dân số hai vạn người. Hoàng-nam, hoàng-nữ khoảng ba nghìn.

Đi khắp động, Quỳ nhận thấy hầu như nhà đều bằng gạch hay gỗ, lợp ngói xanh. Các lối đi đều lát đá bằng phẳng. Phía sau động có nhiều cánh đồng nuôi trâu, nuôi bò; nhiều vườn nuôi lợn, nuôi gà; nhiều ao nuôi cá, nuôi vịt, ngan, ngỗng. Ôn Cảo nói với Quách Quỳ:

– Giao-chỉ biết khuyến khích dân canh-tác, Giáp chỉ là một động ở sơn cước, mà cũng giầu có thế này. Như vậy thì dân vùng đồng bằng sẽ giầu đến đâu? Hèn chi chúng dám đem quân phạm cảnh.

Triệu Tiết nói với Thiệu-Minh:

– Nguyên-soái hứa rằng: Không phạm đến cây kim, sợi chỉ của dân. Đó là truyện ngày nay. Nhưng trước đây, bọn Thân Thiệu-Anh, Thân Thừa-Quý, Thân Thừa-Phú, Lĩnh-Nam Bảo-Hòa, Thân Thiệu-Cực, Lâm Thanh-Trúc đã tàn hại dân Nam thùy Thiên-quốc, lại chém giết quan quân rất nhiều. Nay tuy chúng chết rồi, nhưng cũng phải đền tội. Ta sẽ quật mồ chúng lên, lấy xương bỏ vào cối dã ra để làm gương cho kẻ ác sau này.

Nói rồi y gọi tên hướng đạo:

– Người dẫn ta đến chỗ chôn bọn tội đồ.

Tên hướng đạo chỉ về phía chân núi:

– Kia! Mộ bọn tội đồ chôn ở chỗ kia. Tiểu nhân xin đi trước dẫn đường.

Triệu Tiết gọi hơn trăm thiết-đột theo tên hướng đạo đi trước. Y với Quạch Quỳ, Chúc Chẩn theo sau. Tới gần chân núi, xa xa hiện ra những nấm mồ xây bằng đá lớn như những căn nhà. Càng gần chân núi, con đường càng hẹp, quân thiết-đột chỉ đi được hàng hai mà thôi. Hai bên là lau sậy.

Bỗng từ sườn núi có bốn người cỡi trâu lững thững đổ đồi, rồi đi theo con lộ, ngược chiều với đội thiết đột. Trong bốn người, thì hai người ngồi ngang trên lưng trâu, còn hai người lại ngồi xếp bằng tròn. Họ đều mặc áo tơi, đội nón lá che mất đầu. Một người ngồi xếp bằng tròn tay cầm ống tiêu, tấu nhạc rất nhu hòa êm ái. Một người ngồi ngang, để cây đàn bầu trên đùi, tay bật những âm thanh huyền ảo. Tiếng tiêu, tiếng đàn hợp với nhau thành một âm thanh êm đềm, dìu dặt như muôn ngàn chim hót trong buổi sáng mùa Xuân.

Viên đội trưởng thiết đột hô lớn:

– Chúng ta là binh Thiên-triều. Bọn nhà quê mau tránh ra!

Nhưng bốn người dường như không biết tiếng Việt, trâu vẫn thủng thẳng tiến tới. Tiếng tiêu, tiếng đàn vẫn hoà nhịp. Tên hướng đạo quát bằng tiếng Việt:

– Bọn nhà quê, tránh ra mau!

Nói rồi y vung côn đập vào đầu trâu của người thổi tiêu. Ai cũng tưởng chiêu đó trúng đầu trâu, ắt con trâu sẽ lồng lên, hắt tên mục đồng xuống. Không ngờ, chát một tiếng, cây côn gẫy làm đôi, một nửa bay ngược lên xuyên qua ngực tên hướng đạo. Y ngã lộn về sau, nằm thẳng cẳng, mắt mở trừng trừng, trong khi máu trong miệng, trong mũi ứa ra.

Cả đội thiết đột không hiểu tại sao cây côn lai gẫy, rồi một nửa bay trở lại, xuyên qua ngực tên hướng đạo; nhưng ở phía sau, bọn Quách Quỳ lại nhìn rất rõ: Gã mục đồng phát một chỉ đánh gẫy côn, rồi phất tay một cái, đẩy khúc côn gẫy về sau. Có điều gã ra tay nhanh quá, nên bọn thiết đột không nhìn thấy.

Quách Quỳ chưa kịp ra lệnh, thì tên đội trưởng thiết-đột vọt lên trước, y vung đao chặt đầu trâu. Gã mục đồng lại phát chỉ, ánh thép lấp loáng một cái, thanh đao bay ngược trở lại tiện đứt đầu viên đội trưởng. Cái đầu rơi xuống đất, trong khi cổ phun máu lên cao, rồi thân ngã úp sấp xuống. Kỳ diệu ở chỗ tên mục đồng ra tay, mà khúc tiêu vẫn không bị đứt đoạn. Đám thiết đột hô lên một tiếng, bao vây bốn mục-đồng vào giữa.

Khúc Chẩn tung mình lên cao, nhấp nhô mấy cái, y đã lên trước hàng quân thiết đột quan sát bốn tên mục đồng, nhưng cả bốn người đều đội nón, nón che mất mặt. Khúc Chẩn biết đây là những đại cao nhân, y cung tay:

– Hoa-sơn Khúc Chẩn xin ra mắt bốn vị. Xin bốn vị cho biết cao danh quý tính?

Bốn người vẫn im lặng, ngồi im trên mình trâu. Hai người vẫn tấu nhạc. Khúc nhạc dứt, hai người ngồi xếp bằng tròn vung tay một cái, bốn tên thiết-đột bay tung lên cao, rơi xuống bãi lau cách đó đến bốn trượng. Vòng vây hở một khoảng trống. Bốn con trâu lại thủng thẳng đi.

Khúc Chẩn không đừng được, y quát lên một tiếng, rồi phát chưởng. Chưởng của y mạnh đến nghiêng trời lệch đất, hướng mục đồng thổi tiêu. Gã mục đồng cầm ống tiêu điểm vào giữa chưởng của Khúc. Bộp một tiếng, Khúc cảm thấy đau nhói ở ngực. Y vội hít một hơi phát chưởng nữa tấn công vào hạ hàn con trâu của gã mục-đồng. Gã mục đồng không đỡ chưởng của Khúc, mà dùng một chỉ tấn công vào ngực y. Khúc kinh hoảng, vội thu chiêu, rồi nhảy lên cao tránh chiêu chỉ. Véo một tiếng, chỉ trúng vào thanh kiếm của Khúc đeo bên hông, dây đeo kiếm bị đứt, khiến thanh kiếm rơi xuống. Gã mục đồng ra chiêu ưng-trảo, thanh kiếm bay vọt tới trước mặt gã; gã bắt lấy.

Qua mấy chiêu, Khúc đã nhận ra hai mục đồng ngồi ngang trên mình trâu là đàn bà, một người mặc quần áo tím, một người mặc quần áo vàng. Hai người cùng đi hài mầu đen, trên hài có thêu kim cương óng ánh. Còn hai người ngồi xếp bằng tròn là đàn ông, thì người thổi tiêu mặc quần áo xanh, người còn lại mặc quần áo nâu. Trong khi Khúc Chẩn chiết chiêu với người quần áo xanh, thì tùy tùng đã đi gọi quân tới. Hơn năm trăm võ sĩ Tống dàn ra, vây lấy bốn người mục đồng vào giữa. Gươm đao, cung tên chĩa ra tua tủa. Chỉ cần một mệnh lệnh là chúng buông tên, rồi xông vào băm vằm bốn người ra như băm chả.

Triệu Tiết tiến lên cung tay:

– Triệu Tiết phái Hoa-sơn xin tham kiến tứ vị. Xin tứ vị cho biết cao danh quý tính? Tại sao tứ vị lại cản trở, rồi giết binh của Thiên-triều?

Người đàn bà quần áo xanh nói với Tiết như chủ nói với đầy tớ:

– Người không cần xưng danh, ta cũng biết người là Triệu Tiết. Ta còn biết rõ người đến chân núi này để đào mả giòng họ Thân hầu trả cái thù trước ây người bị Thân Thiệu-Cực làm nhục ở đỉnh Tản-lĩnh. Này Triệu Tiết, người đường đường là đệ tử phái Hoa-sơn, một danh môn bậc nhất Trung-nguyên. Người từng đậu tiến-sĩ, hiện tước tới Hầu. Người lại đang lĩnh trọng trách đánh Đại-Việt, nắm trong tay trăm vạn mạng tướng sĩ. Thế nhưng người là một gã đốn mạt, hèn hạ.

Nói đến đây bà ta chỉ tay và mặt Tiết:

– Hèn hạ, vì xưa kia mi bị Thiệu-Cực làm nhục, mi không chống nổi. Bây giờ Thiệu-Cực chết rồi, mi lại đi đào mả trả thù. Đốn mạt, vì hiện có bao nhiêu việc cần làm, thế mà dân động Giáp theo gió đầu Thiên-triều; đáng lẽ mi phải phủ dụ, rồi làm những việc cần thiết ngay... thế mà mi lại đi vào cái hẻm núi này để quật mồ trả thù. Mi không xứng đáng làm con người chứ đừng nói là làm tướng.

Triệu Tiết quát lớn:

– Con mụ kia, mi là ai? Mi hãy mở nón ra cho ta xem mặt đã. Bằng không mi đừng có trách ta.

Thấp thoáng một cái, gã mục đồng quần áo nâu từ lưng trâu tung mình xuống, tát vào mặt Triệu Tiết. Tiết đang mải nói, không đề phòng, mà người áo nâu lại ra tay quá thần tốc, nên y chỉ biết lộn người về sau tránh đòn. Người áo nâu di chuyển thân mình theo như bóng với hình. Tiết kinh hoảng, y lộn liền bốn vòng về sau, nhưng người kia cũng di chuyển theo. Đám cung thủ Tống thấy vậy hướng người áo nâu buông tên. Người áo nâu như không để ý, y vẫn di chuyển theo Tiết. Bốp, bốp hai tiếng, Tiết bị tát hai cái nảy đom đóm mắt. Còn người kia tát Tiết xong, mới vòng tay ra sau lưng quơ một cái, y đã bắt được tất cả đám tên bắn y. Y nhảy gật lùi ba bước, lại trở về mình trâu.

Nói thì chậm, chứ kẻ tát, người tránh đều nhanh như điện chớp.

Người đàn bà quần áo xanh lại chỉ tay vào mặt Quách Quỳ:

– Còn người! Người là nguyên-soái. Người không ngăn cấm tên Triệu Tiết, đã không xứng đáng làm nguyên-nhung rồi; đây người lại nhắc nhở y trả thù, rồi theo y đi đào mả. Ôi! Thực là nhục nhã thay.

Người đàn bà đó chỉ tay vào đám võ sĩ Tống:

– Người đường đường là đệ nhất cao thủ, đi theo người còn có Triệu Tết, Khúc Chẩn, Ôn Cảo... đều là cao thủ bậc nhất bậc nhì, mà đối phó với mấy mục đồng không xong! Đẹp mặt ông Tuyên-huy Nam-viện sự, An-Nam đạo hành doanh mã bộ đô tổng quản, chiêu-thảo sứ, kiệm tuyên phủ sứ chư lộ Kinh, Hồ, Quảng-Nam phải đem năm trăm võ-sĩ để đối phó với bốn mục đồng!

Ôn Cảo quát lên, y chỉ tay vào người đàn ông áo nâu:

– Vừa rồi gã kia đánh trộm mà đắc thế. Bây giờ gã có gan thì đường đường đối chiêu với chúng ta xem nào?

Người đàn ông áo nâu không trả lời, y tung mình khỏi mình trâu, tay phóng chưởng tấn công Ôn Cảo. Chưởng của y chưa ra hết, mà Ôn Cảo muốn nghẹt thở. Ôn quát lên một tiếng phát chưởng đỡ. Ầm một tiếng, người y bật lui về sau ba bước liền, miệng ri rỉ ứa máu ra. Trong khi y chưa đứng vững thì người kia đã phát chiêu thứ hai. Biết rằng nếu Cảo đỡ chiêu đó ắt nát thây ra, Quách Quỳ vội phát chiêu đỡ. Rầm một tiếng, y phải lùi liền ba bước mới đứng vững. Tai y phát ra tiếng vo vo không ngừng.

Người kia cười nhạt, phát chiêu thứ ba. Quỳ vận đủ mười thành công lực đỡ. Binh một tiếng, người áo nâu cười nhạt đánh tiếp chiêu thứ tư. Cứ thế, khi người áo nâu đánh đến chiêu thứ mười tám, thì Quách Quỳ lảo đảo đứng không vững.

Người đàn ông áo xanh hô lên:

– Ngừng tay!

Người áo nâu cười nhạt, rồi nhảy lùi lại ba bước, y tung mình cỡi lên mình trâu. Người đàn bà áo tím nói với Quách Quỳ:

– Không ngờ công lực người lại cao thâm đến như thế. Khắp Tây-Hạ, Bắc-Liêu không ai đỡ nổi của anh sáu nhà ta quá mười lăm chiêu, mà mi đỡ được mười tám chiêu, kể cũng đáng mặt anh hùng. Hôm nay chúng ta tha cho bọn mi sống, nhưng tự hậu mi phải nhớ ba điều. Một là không được để cho binh-sĩ cướp của, hãm hiếp giết người vô tội. Hai là không được trả thù cá nhân. Ba là, hễ để cho chúng ta thấy mặt, thì chúng ta sẽ giết ngay tức thời.

Quách Quỳ hỏi:

– Nếu ta không tuân ba điều đó thì sao?

Nói rồi y đưa mắt cho Khúc Chẩn.

Khúc Chẩn hô võ sĩ xông vào vây bắt bốn người. Cả bốn người tung nón, tung áo áo tơi ra. Bất giác đám binh Tống cùng bật lên tiếng kinh ngạc, rồi vứt vũ khí quỳ mọp xuống đất khấu đầu:

– Bọn hạ thần xin khấu đầu trước đại-vương và công-chúa điện hạ.

Bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Khúc Chẩn thấy bốn người đó thì bở vía, chúng cùng chắp tay vái ba vái rồi tung mình chạy về động Giáp.

Nguyên người mặc quần áo nâu là Kinh-Nam vương Trần Tự-Mai, người mặc quần áo xanh là U-bon vương Lê Văn, người đàn bà mặc quần áo xanh là công chúa Huệ-Nhu, người đàn bà mặc quần áo tím là công chúa Nong-Nụt.

Công chúa Huệ-Nhu vẫy tay ra hiệu cho đám võ sĩ Tống:

– Miễn lễ! Các người trở về đi thôi.

Nói dứt bà mở cái túi trên lưng ra, luồn tay vào, rồi vung lên như gieo mạ. Mỗi cái vung, trên không có những thỏi bạc óng ánh hướng đám binh sĩ Tống, rồi chui tọt vào cái túi trước ngực chúng, mỗi người được một nén bạc.

Chúng cùng hướng công-chúa chắp tay, miệng hô::

– Đạ ta điện hạ ban thưởng.

Bốn vị lên mình trâu thủng thẳng đi về phía chân núi. Tiếng tiêu, tiếng đàn lại vang lên trong cảnh rừng Xuân đây hoa thơm, cỏ biếc.

Hình chụp cửa ải Chi-lăng, và bia kỷ niệm (8-2001) nơi mà năm 1076, anh hùng Đinh Hoàng Nghi cùng phu nhân trấn ngự.




Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA

Thánh tăng cứu nước



Sau khi chiếm được Bắc ngạn sông Cầu, thì đã sang ngày 23 tháng Chạp, là ngày ông Táo chầu trời. Quách Quỳ sai ngựa lưu tinh thượng biểu về Biện-kinh, tâu thắng trận. Trong biểu nói rõ: Từ bản doanh của Quỳ tới lăng tẩm triều Lý còn ba mươi dặm (15 km), tới Thăng-long chỉ năm mươi dặm (25km). Hiện Quỳ cho quân nghỉ ăn tết, đợi sang giêng sẽ tiến quân vào ổ, bắt Lý Càn-Đức, với Lê-thị Yến-Loan đem về phục mệnh. Trong biểu, Quỳ xin triều đình cắt cử những chức quan cai trị gửi sang càng sớm càng tốt.

Chiều ba mươi tết, Quỳ ban lệnh giết trâu, mổ bò khao quân, mừng giao thừa. Quỳ cho phép các doanh được tổ chức những trò giải trí để quân khỏi nhớ nhà: Nào thi bắn tên, thi đánh vật, thi leo dây, hoặc họp nhau ca hát. Trong khi quân-sĩ ăn thịt, uống rượu mừng Xuân Đinh Tỵ, thì Quỳ cho họp chư tướng tại bản doanh ở phía Bắc bến đò Như-nguyệt để định kế đánh Thăng-long.

Hàng tướng Hoàng Kim-Mãn mách cho biết: Có ba con đường tới Thăng-long, Lý Thường-Kiệt đã cho lập phòng tuyến kiên cố chờ đợi. Con đường gần nhất là con đường qua bến đò Như-nguyệt. Lý Thường-Kiệt đã bố trí tại đây những lực lượng tinh nhuệ chờ đợi. Con đường gần thứ nhì là con đường Vạn-xuân, nằm cuối phòng tuyến Như-nguyệt, chỗ hội tụ ba con sông Lục-Nam, sông Cầu, sông Đuống. Tại đây cũng có phòng tuyến rất kiên cố. Ba là con đường bến đò Phú-lương men theo núi Tam-đảo, chỗ này cũng có phòng tuyến rất kiên cố.

Quách Quỳ nhắc lại cho tướng sĩ hiểu tình hình: Ta đã phân chia quân làm ba mặt trận đóng dài trên sông Cầu. Thứ nhất, mặt trận trên bến đò Phú-lương trao cho Yên Đạt làm chánh tướng, Khúc Chẩn làm phó tướng, với ba tướng xung-kích Lôi Tự-Văn, Lữ Chân, Lý Hiếu-Tông; ngoài ra còn có bọn hàng tướng Hoàng Sầm-Mãn, Nùng Thuận-Ninh, Sầm Khánh-Tân làm hướng đạo. Mặt trận Vạn-xuân trao cho Tu Kỷ làm chánh tướng, Đào Bật làm phó tướng, với bốn tướng xung kích Địch Tường, Quản Vi, Giới Định, Lý Thật; hai hàng tướng Lưu Báo, Nùng Sĩ-Trung làm hướng đạo. Mặt trận Như-ngyệt, Triệu Tiết làm chánh tướng, Miêu Lý làm phó tướng, với năm tướng xung kích Diêu Tự, Vương Tiến, Bình Viễn, Đặng Trung, Lưu Mân; các hàng tướng Nùng Thịnh-Đức, Nùng Quang-Lâm, Hoàng Kim-Mãn làm hướng đạo. Hai tướng kị binh Trương Thế-Cự, Vương Mẫn lưu động, do chính Quách Quỳ chỉ huy.

Quỳ nhấn mạnh:

– Ta đã sai sứ hẹn với đô đốc Dương Tùng-Tiên, phó đô-đốc Tô Tử-Nguyên tiến quân chiếm cửa Đông-kênh, sau đó vượt sông vào Như-nguyệt để chở quân vượt sông Cầu đánh Thăng-long. Vậy chư tướng hãy cho quân ăn tết ba ngày. Sang ngày mùng bốn, thì sai quân vào rừng đốn nứa, đốn tre làm bè. Ngày mười lăm phải xong. Còn quân sĩ thì kể từ ngày mười lăm đều đặt trong tình trạng ứng trực, để khi có lệnh là vượt sông liền.

Miêu Lý hỏi:

– Thưa nguyên soái, nếu đã có thủy quân chở mã bộ quân qua sông, thì sao phải làm bè?

– Giặc có mười vạn binh ở Nam ngạn. Ta muốn thắng giặc, thì phải đem ít nhất ba mươi vạn binh một lúc. Với quân số này, thì thủy quân không đủ khả năng vận tải trong một chuyến, vì vậy ta phải đóng bè.

Quỳ nói lớn:

– Đúng ngày mười sáu, cả ba cánh quân cùng vượt sông, phá chiến lũy. Chiếm được chiến lũy rồi, thì cánh quân Như-nguyệt tiến nhanh về đánh Thăng-long. Cánh quân của Yên Đạt tiến dọc theo Nam ngạn sông Cầu, tiến về vây Tây Thăng-long. Cánh quân Tu Kỷ đi song song tiến về vây phía Đông Thăng-long.

Y bảo Nguyễn Dư và bọn du thủ du thực theo trong quân:

– Người là em ruột Nguyễn Căn, mà Nguyễn Căn hiện trấn ở bên kia sông. Ta muốn dùng người làm hướng đạo. Nhưng sợ người xót tình anh em, nên không muốn người dự vào trận đánh này.

Triệu Tiết biết Quách Qùy khích Nguyễn Dư, y làm bộ bênh hắn:

– Tôi xin bảo đảm với nguyên soái là Nguyễn Dư sẽ trung thành với ta. Dư theo ta, chỉ với mục đích muốn giết thằng anh Căn mà thôi. Để chứng tỏ trung thành với ta, Dư đã cho người dò thám tình hình Thăng-long, tôi xin để Dư trình bầy.

Ghi chú,

QTNC chép về Nguyễn Dư như sau: Đứng xa mà trông Nguyễn Dư với Nguyễn Căn, thì ai cũng tưởng rằng một, nhưng nhìn kỹ ra, thì cái mặt y gẫy như lưỡi cầy, cái cằm nhọn hoắt. Mỗi khi nói, y hay làm điệu bộ, chù mỏ ra phụng phịu.

Được Triệt Tiết bênh vực, Dư đứng lên nói. Y không biết nói tiếng Hán, mà nói tiếng Việt, thành ra chỉ bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Khúc Chẩn, Yên Đạt, Tu Kỷ đã từng học tiếng Việt, từng sang Đại-Việt hiểu được mà thôi:

– Bẩm nguyên soái, tên Căn là kẻ thù truyền kiếp của con. Nó đắc tội với con vô cùng, con chỉ muốn ăn tươi nuốt sống nó.

– Được! Ta tin người! Thế người cho ta biết, từ Như-nguyệt tới Thăng-long có quân Việt trấn đóng không?

– Thưa quan đại nguyên soái có. Có rất nhiều. Từ Như-nguyệt tới Cổ-pháp, lăng tẩm của triều Lý, có tới mười sáu xã. Như tất cả xã thôn Đại-Việt, các xã này đều có lũy tre bao bọc, ngoài lũy tre có hào sâu. Nếu nguyên soái muốn tiến quân về Cổ-pháp thì phải đánh các xã này, bằng không khi quan quân đi qua, chúng sẽ đánh tập hậu thì nguy lắm.

Quách Quỳ khen:

– Giỏi, người quả có tài đại tướng mà tên Thường-Kiệt không biết dùng. Người tiếp đi.

– Từ phòng tuyến Như-nguyệt tới Thăng-long chỉ có năm mươi dặm. Nhưng trên đường đi phải qua khu rừng tre mênh mông. Sau rừng tre là chiến lũy Cổ-pháp. Trong chiến lũy Cổ-pháp, rừng tre có đến bốn hiệu binh trấn đóng, đó là hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ, Ngự-long và Phù-đổng.

Quách Quỳ à lên một tiếng:

– Từ hôm vợ chồng Tôn Mạnh, Đinh Hoàng-Nghi rút khỏi Quyết-lý, Chi-lăng, ta cứ lo lắng rằng chúng ẩn náu trong rừng Bắc-biên để đánh sau lưng ta. Nào ngờ chúng rút về Cổ-pháp. Hà, tại Như-nguyệt chỉ có hai hiệu Thiên-tử binh thôi. Còn tại Cổ-pháp chúng có tới ba hiệu Thiên-tử binh với hiệu kị binh Phù-đổng. Khó đấy.

Đến đây hỏa đầu quân loan báo:

– Tiệc rượu đã xong, xin mời nguyên soái cùng chư tướng nhập tiệc mừng Xuân.

Quỳ bước ra khỏi căn lều, ngước mắt nhìn trời: Đúng là đêm ba mươi tết, màn đêm một mầu đem đặc, đến nỗi xoè bàn tay ra mà không nhìn thấy gì. Quỳ cầm cây pháo thăng-thiên châm lửa, tung lên trời. Chiếc pháo nổ đến đùng một tiếng, rối toả ra ánh sáng như ngôi sao. Lập tức các trại khác cũng đốt pháo, đánh trống, khua chiêng mừng Xuân mới.

Không khí mừng Xuân, mừng chiến thắng thực là nhộn nhịp. Lại có đội quân làm được con lân, múa trước cửa trướng Quách Qùy. Nhiều sòng bạc mở ra, quân sĩ tụ nhau đỏ đen, reo hò.

Quỳ cùng chư tướng nhập tiệc, người người đưa lời chúc tụng lẫn nhau. Rượu được hai tuần, Quỳ uống hết một bát lớn, rồi nói:

– Hôm nay là ngày tết. Hồi nãy ta ra lệnh chuẩn bị đổ bộ sau rằm tháng giêng. Ta muốn cùng chư tướng vào Thăng-long ngày hai mươi tháng giêng, hái một cành đào, sai ngựa mang về Biện-kinh dâng hoàng thượng.

Chư tướng hồ hởi vỗ tay hoan hô.

Giữa cái không khí đó, Triệu Tiết hơi cau mày lại, vì y nghe đâu đó có tiếng quân reo hò, la hét ở phía Đông. Y vẫy tay cho chư tướng im lặng. Chư tướng cùng đã nghe thấy tiếng reo. Họ đưa mắt nhìn nhau. Trong căn trại có đến hơn trăm người mà không một tiếng động.

Nùng Quang-Lâm nói cứng:

– Chắc binh sĩ vui đùa la hét đó thôi!

Lát sau, tiếng la hét lại từ phía Tây vọng lại, rồi tiếng la hét ngay doanh đóng ở bờ sông. Lần này lẫn cả tiếng trống báo động. Quỳ với các tướng bỏ tiệc rượu ra ngoài nhìn: Ba doanh Đông, Tây, Nam lửa bốc cháy ngùn ngụt.

Lôi Tự-Văn chỉ về phía Phú-lương:

– Kìa! Chết thật! Quân của ta ở Phú-lương có sự, lửa đang bốc cao.

Lý Thật chỉ tay về phía Vạn-xuân:

– Kìa, trại của ta ở phía Nham-biền cũng bốc cháy.

Đến đó quân báo:

– Giặc dùng thuyền đổ bộ dọc bờ sông, xung phong đánh ba doanh trung ương, Đông, Tây. Hai trại sát bờ sông bị tràn ngập. Địch đã đánh vào tới trại thứ ba. Chư quân đang ra sức chống trả.

Quách Quỳ ban lệnh:

– Bỏ tiệc, chư tướng đâu trở về đó.

Quỳ buột miệng ban lệnh rồi, y tự biết rằng lệnh đó khó thi hành, vì đường từ Như-nguyệt đến Phú-lương, Nham-biền đâu có gần? Dù võ công cao, địch tấn công tứ phía thì liệu trong đêm tối, chư tướng có thể về tới nơi không?

Tuy nhiên các tướng ở vùng Phú-lương, Nham-biền cũng lên ngựa với tùy tòng đốt đuốc ra đi. Còn các tướng tại trại Như-nguyệt thì trở về với quân.

Quân báo liên tiếp:

– Giặc từ sông đổ bộ lên ba doanh. Chúng rất hung hãn, lại có hổ, báo, chó sói yểm trợ. Quân ta không phòng bị, chết rất nhiều, ba dẫy trại sát bờ sông bị chọc thủng. Chúng đang đánh vào dẫy thứ tư.

– Giặc cũng từ sông đổ bộ vào căn cứ Nham-biền, Phú-lương. Tại hai nơi này, mỗi nơi chúng đổ bộ làm hai cánh, đánh ép lại. Hai nơi này chạm đích rất nặng. Ta với giặc đang hỗn chiến.

Quách Quỳ, Triệu Tiết lên đài cao đứng nhìn: Dưới ánh đuốc chập chờn, quân Việt như đàn hổ đói, dàn hàng ngang xung sát. Quân Tống chống không nổi, cứ lùi dần.

Tại khu Tây, do Miêu Lý, Vương Tiến, Bình Viễn đã trở về trại, đang đứng đốc quân chống trả. Tại khu giữa, Diêu Tự, Nùng Thịnh-Đức, Nùng Quang-Lâm, Hoàng Kim-Mãn đã giữ vững được phòng tuyến. Tại khu Đông, Lưu Mân, Đặng Trung trở về tới nơi, thì trại bị vỡ, quân sĩ bỏ chạy tán loạn.

Quân lại báo:

– Giặc dùng hạm đội Thần-phù chở ba hiệu Thiên-tử binh. Chúng lợi dụng đêm tối đổ binh lên ba nơi đánh trộm. Đạo đột kích ở phía Tây là hiệu Thần-điện do tướng Triệu Thu với vợ là Phương-Liễu chỉ huy. Đạo đột kích ở giữa là hiệu Bổng-thánh do tướng Mai Cầm với vợ là Phương-Đơn chỉ huy. Đạo đột kích ở phía Đông là hiệu Hùng-lược do tướng Ngô Ức với vợ là Phương-Dược chỉ huy.

Quân Tống bị bất ngờ, hỗn loạn, bốn doanh trại gần bờ sông bợ vỡ, người chết la liệt. Quân Việt đánh đến hàng thứ năm, thì quân Tống đã kịp thời chỉnh đốn hàng ngũ chống lại rất gắt.

Quách Quỳ đã nhìn rõ ba tướng Việt, cùng với ba bà vợ đứng đốc chiến. Y nói với Ôn Cảo, Triệu Tiết:

– Hôm trước ta tưởng trong các tướng chỉ huy Thiên-tử binh, chỉ có vợ chồng tên Đinh Hoàng-Nghi, Lý Tam là ghê gớm. Hôm nay ta mới biết đứa nào cũng thế cả. Phải làm cách gì giết đi một cặp, thì họa may chúng mới chùn nhụt.

Y ra lệnh:

– Báo cho Miêu Lý giữ vững mặt Tây, Đặng Trung giữ vững mặt Đông. Ta dồn chủ lực diệt vợ chồng Mai Cầm, Phương Đơn.

Quân chấp lệnh đi rồi, y bảo Triệu Tiết:

– Điều hai đội thiết-đột, hai đội cung thủ từ doanh Bắc về, giết cho bằng được thằng Mai Cầm với con Phương Đơn.

Quân chấp lệnh đi liền. Thoáng một cái thiết đột với cung thủ tới; quân Tống ở phòng tuyến doanh giữa dạt ra, các đội thiết đột, cung thủ tiến lên trước. Một đội thiết đột, một đội cung thủ đi cánh phải; một đội thiết đột cung thủ khác đi cánh trái. Cung thủ bắn, thiết đột xung lên, tiến ra bờ sông, rồi cánh trái quay về phải, cánh phải quay về trái. Thế là hiệu Bổng-thánh bị vây ba mặt như hình chữ U, sau lưng là sông.

Mai Cầm thấy thế nguy, hầu lấy tù và rúc lên một hồi, hiệu Bổng-thánh chia làm ba, cánh trước vẫn đánh thẳng vào trung ương; cánh phải, trái quay lưng lại nhau chống với thiết đột, và cung thủ. Thoáng một cái, quân thiết đột với quân Bổng-thánh lẫn vào nhau, thành ra đội cung thủ Tống hóa ra vô dụng.

Quách Quỳ nghiến răng dậm chân:

– Thần diệu! Sao trên đời lại có đội quân tinh nhuệ, can trường thế kia? Chúng đổi trận thế quá nhanh, quân ta bì thế nào được! Đội cung thủ của ta hóa vô dụng mất rồi.

Triệu Tiết ra lệnh cho đám hàng tướng đem quân khê động tiếp viện quân Tống:

– Nùng Thịnh-Đức đánh vào bên phải, Nùng Quang-Lâm đánh vào bên trái, Hoàng Kim-Mãn đánh vào giữa.

Đám hàng binh được tung vào trận, nhưng hiệu binh Bổng-thánh vẫn không nao núng, người người sát cánh xung sát... đao vung, giáo đâm tiến về trước lên. Đám hàng binh bị giết chết, ngã lổng chổng. Đứa còn sống thì bật lui trở lại.

Thịnh Đức thấy một nữ tướng rất xinh đẹp mặc quần áo trắng đang xung sát ở hàng đầu, y vung đao lên chém ngang vào lưng đối thủ. Nữ tướng cười nhạt, chuyển tay một cái đã bắt được đao Thịnh-Đức, tay kia đưa một nhát kiếm, đầu y rơi xuống đất. Trong khi cánh bên trái, Nùng Quang-Lâm đang đấu với một thiếu niên mặc quần áo trắng. Sau mười hiệp, y cứ phải lùi dần. Trong ánh đuốc chập chờn, y nhận ra tướng đó là Hùng Nghĩa. Y bật lên tiếng kêu:

– Hùng Nghĩa! Quang-Lâm đây! Xin dung tình!

Hùng Nghĩa quát lên:

– Ta không thể tha thứ cho bọn cõng rắn cắn gà nhà. Coi đây!

Choang một tiếng cây đoản thương trên tay của y chạm vào kiếm Hùng Nghĩa, bị bay vọt lên cao. Y còn đang bàng hoàng, thì đầu đã bay khỏi cổ.

Phương Đơn đứng đốc chiến reo lên:

– Anh Hùng Nghĩa, chị Âu Thanh, mau quay lại giết tên phản bội Hoàng Kim-Mãn.

Hoàng Kim-Mãn đang chiến đấu ở cánh giữa, y giết được hai Thiên-tử binh, làm phòng tuyến Việt bị hở một quãng. Thình lình một bóng trắng từ trên cao như con đại bàng chụp xuống đầu y. Y vung đôi song kiếm lên đâm vào bóng đó. Choang một tiếng, đôi song kiếm của y bật tung trở lại, hai cánh tay y tê rần. Bóng trắng đã đứng trước mặt y. Y nhận ra đó là Âu Thanh. Âu Thanh đưa kiếm vào cổ y. Y cười nhạt vung song kiếm tấn công. Đấu được mười chiêu, kiếm bị văng mất, Kim-Mãn kinh hoàng vội phát chưởng đánh Âu Thanh. Âu Thanh cười nhạt, vận đủ mười thành công lực đánh liền ba chưởng. Kim-Mãn đỡ được đến chiêu thứ nhì, thì người y như say rượu, lắc lư đứng không vững. Âu Thanh đánh tiếp chiêu thứ ba, y đưa cả hai tay đỡ, nhưng mặt y tím bầm, máu ứa ra hai mắt, hai mũi, hai tai và miệng, rồi ngã xuống.

Ôn Cảo hỏi Quách Quỳ, Triệu Tiết:

– Nguyên soái, võ công gì mà khủng khiếp vậy?

Quách Quỳ đáp, mà cảm thấy lạnh gáy:

– Chiêu số thì là chiêu số Sài-sơn, còn nội công thì là Cổ-loa tâm pháp, do Trần Tự-An, cha đẻ Kinh-Nam vương chế ra. Ai trúng phải, thì toàn bộ mạch máu trong người vỡ ra mà chết.

Đến đây thì quân thiết đột đã chặn được bước tiến của hiệu Bổng-thánh. Một bên là đội thiết đột rất thiện chiến, một bên là Thiên-tử binh rất tinh nhuệ cùng đem hết sức tranh thắng. Đao, kiếm chạm nhau chan chát.

Quách Quỳ bảo Triệu Tiết:

– Ta tấn công thằng Mai Cầm, huynh tấn công con vợ nó. Có như vậy mới mong diệt đươc hiệu Bổng-thánh này.

Quỳ, Tiết tung mình xuống đài, chỉ nhấp nhô mấy cái, hai người đã tới phòng tuyến. Quỳ vọt mình qua đầu quân thiết đột. Ở trên cao, y phóng chưởng tấn công Mai Cầm. Chưởng của y mạnh đến nghiêng trời lệch đất. Mai Cầm kinh hãi; biết rằng nếu mình đỡ, thì sẽ tan thây nát thịt ra mà chết, hầu vội lăn mình xuống đất tránh khỏi. Rầm một tiếng, chỗ hầu đứng thủng một hố sâu. Quách Quỳ chuyển tay phát chiêu thứ nhì hướng Mai Cầm.

Hùng Nghĩa vội phát chiêu tấn công Quách Quỳ cứu bạn. Hai chưởng gặp nhau, bình, binh hai tiếng, Hùng Nghĩa bật tung về sau ba bước, ông ọe một tiếng rồi miệng phun ra một búng máu.

Lý Lục, Mai Lục đem một toán Thiên-tử binh cùng vung đao tấn công Quách Quỳ. Quỳ khinh thường, y tung một chưởng vào Lý Lục. Lý Lục nghiến răng phát một chiêu Thiên-vương chưởng đỡ. Binh một tiếng, ông cảm thấy như trời long đất lở, người lảo đảo muốn ngã. Mai Lục xả một kiếm vào Quách Quỳ, để cứu chồng. Sau khi đối một chưởng với Lý Lục, cánh tay Quách Quỳ cảm thấy tê rần, y định đánh một chiêu nữa kết thúc tính mệnh ông, thì chiêu kiếm của Mai Lục đã tới. Y nhảy lùi về sau tránh.

Bên cạnh Quách Quỳ, Triệu Tiết đã đẩy lui Âu Thanh bằng hai chưởng. Âu Thanh lảo đảo muốn ngã. Bà kêu lớn:

– Kim-cương đệ thất đâu?

Vợ chồng Lý Thất đang mải chiến đấu, nghe tiếng sư tỷ kêu, cả hai vội quay lại xả kiếm tấn công Triệu Tiết. Hàng ngũ hiệu Bổng-thánh không người điều động bắt đầu rối loạn.

Giữa lúc đó, từ dưới sông có tiếng cọp gầm, beo rống, rồi hơn trăm con cọp, hơn trăm con beo với đội cung thủ Long-biên dàn lẫn với nhau; cứ một người, một thú, tiến lên. Đội binh được dẫn đầu bởi hai cặp nam nữ tướng rất trẻ, võ công cực cao, cứ mỗi chiêu đánh ra, là một thiết đột mất mạng. Cung thủ nạp tên bắn vun vút, đội thú tiến theo, lăn xả vào hông hai cánh thiết đột. Sau hai loạt tên, hàng ngũ thiết-đột bị đứt làm hai ba quãng. Quân thiết đột lại phải bỏ quân Bổng-thánh dàn hàng chống với hổ, báo, tiễn thủ.

Quách Quỳ định đánh một chưởng nữa kết liễu tính mệnh vợ chồng Lý Lục, thì y cảm thấy như có ai đánh trộm phía sau. Kinh hãi y tung mình lên cao, từ trên cao y đánh xuống một chưởng. Hai chưởng gặp nhau đến binh một tiếng, cánh tay y tê rần, còn người kia bị bật lui liền ba bước. Quỳ nhìn lại xem ai, mà đủ có công lực đỡ được chưởng của y. Trước mặt y, một trung niên nam tử, thân thể hùng vĩ, khôi ngô, dáng diệu ung dung nhàn nhã. Liếc nhìn bên cạnh, Quỳ thấy Tiết đang đối chiêu với một trung niên nam tử khác.

Quỳ đánh tiếp ba chiêu, trung niên nam tử không đỡ, mà đánh thẳng vào ngươi y một chưởng, làm y phải trở về với thế thủ. Sau khi chiết với nhau chín chiêu, thì thanh niên có vẻ yếu thế. Một thiếu phụ sắc nước hương trời, mặc quần áo xanh đánh liền chín chiêu kiếm, làm Quỳ phải lui mấy bước. Thanh niên ung dung mỉm cười, rồi nắm tay thiếu phụ nhảy vào giữa trận Thiên-tử binh.

Trong khi bên cạnh, một thanh niên khác chiết chiêu với Triệu Tiết, cũng lâm thế yếu, rồi cũng một thiếu phụ múa kiếm xông vào cứu viện, làm Tiết phải nhảy lui.

Dường như hai trung niên nam tử chỉ muốn cứu vợ chồng Hùng Nghĩa, Mai Cầm. Hai người đánh liền ba chưởng rồi nhảy vào giữa trận của hiệu Bổng-thánh. Hai đôi trung niên nam tử đó là Trung-Thành vương, vương phi Trinh-Dung; Tín-Nghĩa vương, vương phi Lê Ngọc-Nam.

Đến đây có tiếng tù và rúc lên, quân Bổng-thánh đổi trận rất mau, chuyển ra phía sau đội thú, rồi thoáng một cái đã đeo vũ khí lên vai, tay rút cung, nạp vào tên bắn vào quân Tống; cứ sau mỗi lần bắn một mũi, lại nhảy lùi mười bước. Khi tới bờ sông, tất cả tung mình xuống một dẫy chiến thuyền đậu ở đó. Trên bờ chỉ còn bẩy cặp thiếu niên Hùng Nghĩa, Hùng Lễ, Hùng Trí, Lý Lục, Lý Thất, Lý Bát, Lý Cửu với đội Giao-long Tây-hồ.

Đội thiết-đột, đội cung thủ Tống chỉnh lại được hàng ngũ, thì hiệu Bổng-thánh, đạo thú binh, đội cung-thủ Long-biên đã rút xuống chiến thuyền. Thuyền chèo ra giữa sông, dàn thành một hàng dài, đuốc đốt sáng rực.

Quách Quỳ thấy bẩy cặp nam nữ với đội Giao-long không quá năm trăm người vẫn can đảm đứng bên bờ sông cản hậu, y hô thiết đột xông vào. Một hồi tù và rúc lên, lập tức bẩy cặp nam nữ với đội Giao-long tung mình nhảy xuống sông, rồi lặn mất tích.

Trên sàn một soái hạm, Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương cùng chư tướng ung dung ngồi quanh bàn tiệc, tay cất chung rượu mừng xuân. Hơn trăm nhạc công đang tấu khúc nhạc mừng xuân, nhàn nhã như giữa thời thanh bình.

Quách Quỳ, Triệu Tiết nhìn cảnh đó mà tức ứa gan. Y chửi đổng:

– Đồ hèn hạ, chuyên cắn trộm.

Tuy vậy, hai người là những tướng đánh dư trăm trận, kinh nghiệm có thừa, cho nên sau trận bị đột kích; cả hai tướng thản nhiên vào trướng ngồi. Quân hầu rót rượu, Quỳ, Tiết nâng chung rượu uống, coi trận xung sát vừa qua như không đáng để mình chú ý. Sự thực trong tâm hai tướng dâng lên nỗi lo lắng không yên.

Lát sau ba tướng chỉ huy ba doanh là Miêu Lý, Diêu Tự, Đặng Trung tới. Quách Quỳ hỏi Nguyễn Dư:

– Ta có đấu vài chiêu với một tướng rất trẻ, thân thể hùng vĩ, khôi ngô tuấn tú dáng điệu phong lưu, tiêu sái. Cạnh y còn một thiếu phụ sắc nước hương trời, kiếm thuật tinh diệu. Vậy chúng là ai?

Dư khúm núm đáp:

– Tướng đó tên Lý Hoằng-Chân, tước phong Trung-Thành vương.

Quách Quỳ suýt xoa:

– Thì ra y! Thảo nào, y còn trẻ, mà đỡ được của ta trước sau chín chiêu. Ừ! Y vừa dùng võ công Tiêu-sơn vừa dùng võ công g Đông-a. Thì ra y học võ công của cha, lẫn của mẹ.

Triệu Tiết từng sang Đại-Việt trong thời khởi loạn của Dương gia, nên y biết rất nhiều về các nhân vật Đại-Việt. Y lắc đầu:

– Không phải thế. Bọn Giao-chỉ thường không dạy võ cho con. Như Lý Đức-Chính (ghi chú: Lý Thái-tông) không học võ với Lý Công-Uẩn mà học với sư huynh Công-Uẩn là tên thầy chùa Minh-Không. Lý Long-Bồ cũng học võ với sư huynh Công-Uẩn là Huệ-Sinh. Vợ Lý Long-Bồ không học võ với Trần Tự-An, mà học với Trần Kiệt; Kinh-Nam vương học võ với Vũ Anh. Hai tên Hoằng-Chân, Chiêu-Văn học võ công Tiêu-sơn với Huệ-Sinh, học võ công Đông-a với Trần Tự-An.

Triệu Tiết cau mặt lại một lát rồi tự nói một mình:

– Ừ! Cái tên đối chiêu với mình là Lý Chiêu-Văn, công lực thực kinh nhân. Sau khi mình đánh con Âu Thanh bay về sau hơn hai trượng thì tên Chiêu-Văn can thiệp. Y đỡ của mình được tới bẩy hiệp, thì một thiếu phụ xử dụng võ công Cửu-chân làm mình suýt bị thương. Không biết thị là ai?

Nguyễn Dư đáp:

– Hai đứa con gái dùng kiếm cứu Hoằng-Chân, Chiêu-Văn đều là bạn với Lê-thị Yến-Loan. Chúng là học trò của Tôn Đản, Cẩm-Thi. Đứa cứu Hoằng-Chân tên Nguyễn-thị Trinh-Dung, đứa cứu Chiêu-Văn tên Lê Ngọc-Nam.

Quỳ chợt nhớ ra điều gì, y hỏi:

– Tại trại Tây, trại trung ương, trại Đông đều có mấy đôi trai gái. Trai thì khôi ngô tuấn tú, gái thì yểu điệu xinh đẹp, nhưng võ công của chúng nửa chính, nửa tà. Chúng tà ai vậy?

Nguyễn Dư tự cảm thấy mình quan trọng vô cùng. Y đáp:

– Tại trại Tây, hai đứa con trai tên Hùng Lễ, Lý Lục; hai đứa con gái tên Âu Huyền, Mai Lục; tại trại trung ương, ba đứa con trai tên Hùng Nghĩa, Lý Thất, Lý Bát; ba đứa con gái tên Âu Thanh, Mai Thất, Mai Bát; tại trại Đông, hai đứa con trai tên Hùng Trí, Lý Cửu; hai đứa con gái tên Âu Lam, Mai Cửu. Bọn chúng có hai toán. Toán thứ nhất gồm mười đứa, kết thành năm cặp vợ chồng, mang tên Thần-vũ thập anh. Toán thứ nhì gồm mười tám đứa, kết thành Kim-cương thập bát hùng. Trước đây tất cả đều là kỳ chủ Hồng-thiết giáo Chiêm, vì vậy võ công của chúng là võ công tà môn. Sau này chúng được Mộc-tồn hoà thượng thu làm đệ tử, chúng được truyền võ công Sài-sơn, là võ công chân chính. Vì vậy võ công của chúng nửa chính nửa tà.

Quỳ hỏi Tiết:

– Tôi có một thắc mắc là: Ta mang quân trăm vạn sang, trong khi bọn Giao-chỉ chỉ có mười hai hiệu Thiên-tử binh chưa quá mười hai vạn. Nếu chúng khôn khéo, thì phải đóng cửa tử thủ mới phải. Đây, chúng luôn ra tay trước; như lúc ta sắp đánh Lạng-châu, thì đêm đó chúng đem một quân số quá ít đột kích ta. Rồi bây giờ ta chiếm được nửa nước, 207 khê động bị mất, Quyết-lý, Đâu-đỉnh, Chi-lăng, Phú-lương, Như-nguyệt, Lục-đầu bị chiếm. Ta chỉ việc dơ tay ra là chiếm được Thăng-long. Tại sao chúng không thủ ở Nam ngạn, mà lại vượt sông đột kích? Huynh có biết tại sao không?

Tiết được dịp khoe kiến thức. Y đáp:

– Đó là binh pháp của Thánh-Thiên thời Lĩnh-Nam chép trong bộ Dụng-binh yếu-chỉ. Sau này Quốc-phụ Giao-chỉ là Lý Long-Bồ có tu chỉnh lại. Căn bản binh pháp này là luôn đặt đối thủ vào thế bị động. Hóa cho nên, ta chuẩn bị đánh chúng, thì chúng kéo quân sang đánh ta trước. Lưu Di cho quân cứu viện Ung-châu, thì tên hoạn quan Thường-Kiệt cho quân chặn ta ở Côn-lôn. Khi bọn Trương Thủ-Tiết tới Ngọc-tuyền, thì ngay đêm đầu quân Giao-chỉ cướp trại, quấy phá suốt đêm.

Quách Quỳ như người mù được mở mắt, y nghĩ thầm:

– Tên Triệu Tiết khốn nạn thực. Điều đáng lẽ phải nói, thì y ngậm miệng, điều không cần nói thì y lại xen vào. Y có ý để cho ta chỉ huy bị thất bại, rồi mới ra tay. Chư tướng, triều đình sẽ cho rằng y có tài hơn ta. Như khi ta đánh khê động, y ngậm miệng, đợi khi hao quân, tổn tướng rồi y mới bàn đến việc chiêu dụ. Ai cũng cho việc chiếm 207 khê động là công của y. Khi ta định đánh Lạng-châu, y cũng ngậm miệng, kịp đến khi Thân Cảnh-Long, Tôn Mạnh, Đinh Hoàng-Nghi cướp trại, đánh viện quân nghiêng ngả, rồi y mới đưa ra kế vượt thượng đạo xuống Phú-lương. Ai cũng nói là trí lự y cao, nhiều mưu, công này thuộc về y. Khi ta chia quân đóng làm ba khu Phú-lương, Như-nguyệt, Nham-biền, đáng lẽ y nói rõ binh pháp Giao-chỉ cho ta đề phòng, thì y lại ngậm miệng. Đến nay ta bị Giao-chỉ đột kích xong, y mới nói rõ binh pháp của Khai-Quốc vương.

Đến đó, các cánh quân đều báo về đầy đủ.

Yên Đạt sai một tham tướng đến trình với Quách Qùy:

« Tại phòng tuyến Phú-lương, vợ chồng Hoàng Kiện, Động-Thiên có hiệu Thiên-tử binh Bổng-nhật của vợ chồng Lý Đoan, Lý Tứ; hiệu Vũ-thắng của vợ chồng Trần Di, Phương-Lý. Muốn qua sông đột kích, thì cần một hiệu giữ nhà, hai hiệu tập kích, nên y xin Lý Thường-Kiệt tăng viện. Thường-Kiệt gửi hiệu Bảo-thắng của vợ chồng Quách Y, Phương-Tiên tới trợ chiến. Hoàng Kiện cho hai hiệu Vũ-thắng, Bảo-thắng âm thầm dùng thuyền nhỏ đổ lên bờ đánh úp. Vì các tướng về hội tại Như-nguyệt, chư quân lại đang ăn tết, nên quân Giao đánh được bốn trại trong hai mươi trại. Khi chư tướng trở về, gần đến Phú-lương thì bị trúng phục binh của đội hổ, báo, sói. Tướng Lý Hiếu-Tông với hàng tướng Sầm Khánh-Tân bị trúng Cổ-loa nội lực của Hùng Nhân, Âu Hoàng, cả hai đều tuẫn quốc. Theo Yên tướng quân, cặp này là trưởng lão Hồng-thiết giáo Chiêm; hồi người tiếp viện cho Chiêm, đã chiết chiêu với chúng, hút chết về Chu-sa Huyền-âm độc tố ».

Tu Kỷ từ phòng tuyến Lục-đầu trở về, cứ nhìn gương mặt của y, Quách Quỳ cũng biết cánh quân này bị thảm bại. Y trình:

– Bọn Giao cực kỳ xảo quyệt. Rõ ràng trấn thủ Vạn-xuân ở Nam Lục-đầu là tên Lý Chiêu-Văn với vợ y là Lê Ngọc-Nam. Ấy thế mà giờ phút cuối, chúng đem tên Nho-sinh mặt trắng Lý Kế-Nguyên về thay vợ chồng Chiêu-Văn. Tên Kế-Nguyên dùng hiệu Đằng-hải của vợ chồng Trần Ninh, Lý Ngũ ; hiệu Long-dực của vợ chồng Dương Minh đánh trộm vào căn cứ Nham-biền.

Đến đây, tức quá, y chửi tục:

– Con bà nó, tôi chờ cái ngày mình đánh vào Thăng-long, sẽ bắt tên Kế-Nguyên nhét vào miệng y ba bãi phân ngựa cho bõ ghét.

Triệu Tiết hỏi:

– Tu huynh cứ bình tĩnh mà trình. Cái gì đã xẩy ra?

– Nguyên chỗ đóng trại của tôi dựa vào chân núi Nham-biền, kéo dài tới Bắc ngạn sông Cầu. Quân Giao đóng ở phía Nam. Vì khu gần bờ sông lầy lội, nên tôi đóng các doanh cách xa đến hơn mười dặm. Nơi đồn trú các doanh thông với sông Cầu có hai con đường đi khá rộng băng qua bãi lau sậy. Tên Kế-Nguyên cho hai mươi dàn Thần-nỏ phục sẵn tại đây. Đúng lúc giao thừa, y dùng bè chuối, đốt đuốc, reo hò, đánh trống chở quân từ Nam ngạn đổ bộ lên Bắc-ngạn.

Ôn Cảo gật đầu:

– Mưu y sâu thực.

Tu Kỷ cau mặt nghĩ thầm: Cái tên này biết mẹ gì về quân lữ mà cũng ra bộ ta đây biết mưu địch? Nghĩ vậy y hỏi:

– Ôn huynh đoán được mưu y chăng? Tôi xin rửa tai ra nghe Ôn huynh dạy.

– Có khó gì đâu? Phàm đánh đêm, nhất là đêm giao thừa, thì phải âm thầm chuyển quân như tên Hoàng-Nghi đột kích Vĩnh-bình; tên Hoằng-Chân, Chiêu-Văn đột kích Như-nguyệt; tên Hoàng Kiện đánh Phú-lương. Có phải thế không?

– ???

– Đây chúng đốt đuốc, vừa đánh trống reo hò vừa qua sông, thì rõ ràng chúng nói lớn: Ta đánh mày đây, mày có giỏi hãy ra bờ sông chơi với ta một trận. Đấy, y dụ huynh xuất quân ra bờ sông chặn chúng đấy. Chúng còn khôn ngoan hơn, là không dùng chiến thuyền chở quân, mà dùng bè chuối, để ta nghĩ rằng: Nếu ta chặn đánh, khi chúng bại mà rút lui, ta có thể dùng cung tên bắn theo.

Mặt Tu Kỷ xám như tro, Ôn Cảo tiếp:

– Tôi độ chừng chúng biết chư tướng ta vắng mặt, ắt không ai dám ban lệnh cho quân xuất trại đánh chúng. Cho nên chúng ngừng bè ở giữa sông reo hò, đợi đến khi quý huynh trở về, chúng mới làm bộ cập bến. Quý huynh thấy ngon ăn điều quân đi theo hai con đường ra bờ sông chặn đánh chúng. Thế là lọt vào trận địa phục binh của chúng. Có đúng thế không?

– ???

– Chúng đợi đội tiền phong của chư huynh vừa tới bờ sông, thì lập tức đội Thần-nỏ, hổ, báo, sói tấn công. Quân ta bị cắt làm đôi. Đám quân di chuyển theo hai con lộ dài mười dặm làm mồi cho Thần-nỏ, với hổ báo. Tiền quân tới bờ sông, bị đám quân đổ bộ xơi tái dễ dàng. Trong khi đó, phục binh ở phía Bắc Nham-biền mới nhân trại ta còn lại ít quân, chúng xông vào đốt phá, chém giết. Thế các tướng bình an cả chứ?

– Địch Tường bị Hùng Tín giết, Nùng Sĩ-Trung bị Âu Hồng giết.

Yên Đạt đặt vấn đề:

– Giao-chỉ có 12 hiệu Thiên-tử binh, thì hiệu Quảng-vũ do vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi chỉ huy, chúng ta đã đụng nhau với chúng mấy lần. Tôi nhận thấy hiệu Quảng-vũ đa hiệu, đa dụng, uyển chuyển. Thế sao nay bẩy hiệu đột kích hôm nay, dường như chỉ can đảm, vũ dũng mà thôi; còn uyển chuyển thì thiếu.

Triệu Tiết đáp:

– Cả mười hai hiệu Thiên-tử binh đều được huấn luyện giống nhau, song khi lâm trận lại không giống nhau là do người chỉ huy. Trong 12 tướng , thì Giao-chỉ ngũ kiêu (Long-biên ngũ hùng) chỉ huy các hiệu Ngự-long, Quảng-thánh, Quảng-vũ, Bổng-nhật, Đằng-hải. Chúng là những đại tướng tài kiêm văn võ, mưu mẹo không biết đâu mà lường. Còn Tây-hồ thất quái (Tây-hồ thất kiệt) chỉ huy bẩy hiệu Vũ-thắng, Long-dực, Thần-điện, Bổng-thánh, Bảo-thắng, Hùng-lược, Vạn-tiệp. Chúng là những người giỏi dùng binh, có tài xung phong hãm trận, kém mưu mẹo. Nhưng ngược lại là những tướng can đảm, liều mạng, chúng chỉ là những chiến tướng. Khi lâm chiến với bọn Giao-chỉ ngũ kiêu, phải coi chừng bị trúng kế của chúng. Còn khi đối trận với Tây-hồ thất quái, phải nhớ hai điều; một là chúng liều mạng, dù ta đông người đến đâu, doanh trại kiên cố đến đâu chúng cũng thí mạng cùi cho đến khi đạt mục đích; hai là chúng rất giỏi thủy-chiến. Ngoài ra bọn Giao-chỉ còn có Kim-cương thập bát hùng nữa. Bọn này, về tài dùng binh, chúng không thua Ngũ-kiêu làm bao, nhưng về võ công, chúng cao thâm khôn lường. Chúng là học trò của Mộc-tồn hòa thượng. Chính ba tướng Dương Vạn, Dương Thiên, Dương Bách đã bỏ mạng về tay con vợ tên Lý Tam đấy.

Quách Quỳ an ủi chư tướng:

– Hôm trước, chỉ với bọn Cảnh-Long, Tôn Mạnh, Hoàng-Nghi mà ba đạo binh đệ tứ, ngũ, hao hụt một nửa; đạo đệ lục hoàn toàn tan rã phải tổ chức lại, rồi lại bị Lôi-tiễn bắn tan rã lần nữa. Khi đánh Quyết-lý đạo đệ thất, bát, cửu bị hao một nửa, đã cho bổ xung. Trong trận đột kích vừa qua, quân triều chỉ có đạo đệ thập trấn doanh trung ương giao chiến với hiệu Bổng-thánh của Mai Cầm là bị hao hụt. Còn lại toàn các chỉ-huy tân-đằng-hải bị tổn thất. Tinh lực của ta còn nguyên, ta thừa sức đánh Thăng-long.

Y nói cứng:

– Chúng ta bị chúng cắn trộm, tuy hao binh, tổn tướng, nhưng quân ta vẫn còn đông gấp chín chúng. Kế hoạch sang sông mà ta đã định vẫn không đổi. Xin các vị trở về chuẩn bị ngay. Từ đây tới Thăng-long chỉ có năm mươi dặm. Chúng có chạy lên trời được đâu?

Ôn Cảo hỏi:

– Trong trận vừa qua, quân Tân-đằng-hải bị tổn thất quá nặng. Binh tướng đều là bảo binh vùng Kinh, Hồ, Mân, Triết, Lưỡng Quảng. Bây giờ nên đưa tử thi về nguyên quán, hay chôn tại chỗ?

Quỳ hỏi ngược lại:

– Ôn huynh cho tôi biết số tổn thất thực sự là bao nhiêu?

– Trong ba mặt trận, thì mặt trận Nham-biền bị tổn thất nặng nhất, tổng cộng có mười hai chỉ huy tân-đằng-hải bị tan vỡ hoàn toàn, hai đạo quân triều bị hao hụt quá nửa. Mặt trận Như-nguyệt, thì đạo đệ thập hao phân nửa, sáu chỉ huy tân-đằng-hải bị xóa sổ. Mặt trận Phú-lương ít tổn thất nhất, chỉ có năm chỉ huy tân-đằng-hải bị tan vỡ mà thôi. Tính chung ba mặt trận, quân triều mất vạn rưởi, tân-đằng-hải mất quá bốn vạn. Cộng sáu vạn.

Quỳ ban lệnh ngay:

– Chở tử thi đem về nguyên quán, để tránh nạn thân nhân đi tìm xác như đã xẩy ra ở Côn-lôn, Đại-giáp.

Thấy Ôn Cảo trầm tư, Quỳ hỏi:

– Có gì khó khăn không?

– Thưa nguyên soái, đem tử thi về nguyên quán, đòi hỏi ba điều, mà ta khó cung ứng nổi: Một là phải bắt bảo binh vào rừng đẵn gỗ, xẻ ván làm sáu vạn cái quan tài không phải là dễ. Hai là lại phải dùng tới hai mươi bốn vạn bảo binh đem quan tài vừa đi vừa về ít ra hàng tháng. Ba là bảo binh nhân dịp này sẽ bỏ trốn hết.

– Nhưng ta có tới sáu mươi vạn bảo binh, dân phu kia mà!

– Thưa nguyên soái, hiện cứ một binh triều, có một bảo binh mang đồ, nấu ăn, giặt quần áo. Ta có ba mươi vạn binh triều, thì mất ba mươi vạn bảo binh cung cấp cho binh triều rồi. Còn lại hai mươi vạn để vận tải lương thảo, nếu lấy đi hai mươi bốn vạn bảo binh vận chuyển xác chết thì kiếm đâu ra?

Quỳ quyết định:

– Sai binh bắt dân Việt, bất kể nam, phụ, lão, ấu tập hợp thành đoàn lùa đi đào huyệt, còn bảo binh vào rừng đốn cây, xẻ gỗ làm quan tài, chôn tạm tại đây. Sau khi bình Giao-chỉ, ta sẽ bắt dân Việt cải táng, chuyên chở về nguyên quán. Nhớ chỉ đề tên tử sĩ trên nắp áo quan thôi, sau này ta cải táng lên khắc biết rõ tên người nằm ở trong; chứ đừng cho viết tên lên ván, cắm ở mồ, tránh nạn binh tướng tìm mồ bạn hữu để thắp hương, gây ra nạn yếm thế trong quân.

Hôm sau, tại một địa điểm cách phía Nam chiến lũy Như-nguyệt hơn mười dặm, đại tư mã Lý Thường-Kiệt hội với chư tướng để kiểm điểm tình hình. Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Trước đây chúng ta nghị kế thiết lập ba vòng đai phòng thủ, tưởng đâu Tống có thanh toán được vòng một, vòng hai; thì ít ra cũng phải một năm. Nào ngờ bọn Lưu Kỷ, Hoàng Kim-Mãn, Vi Thủ-An lại đầu hàng sớm, khiến Lạng-châu bị cô lập. Trước tình hình đó, để tránh bị diệt chủng, triều đình cho phép các trang động thuộc Lạng-châu được đứng trung lập; chúng ta hy vọng vào phòng tuyến thứ nhì. Nào ngờ vì Hoàng Kim-Mãn phản bội, nên ngao binh, ưng binh của ta hoá vô dụng, đưa đến Đâu-đỉnh bị thất thủ. Ta đành bỏ Quyết-lý, Chi-lăng. Bây giờ ta chỉ còn có phòng tuyến cuối cùng Như-nguyệt. Trước khi nghị kế, xin Đại-tư mã cho biết rõ tình hình địch.

– Tâu Thái-hậu.

Thường-Kiệt trình bầy: Tính tổng cộng từ khi Tống vượt biên đến giờ, giữa ta với Tống đã giao chiến với nhau trước sau tám trận. Trong tám trận đó, nếu định nghĩa theo binh pháp của Quốc-phụ : Khi ta với địch giao tranh, mà ta tổn thất một, địch tổn thất hai, được coi là thắng trận, thì ta thắng cả tám. Còn như theo chỉ dụ của Hy-Ninh đế, nếu ta mất một, Tống mất mười, mà chiếm được lãnh thổ ta thì vẫn coi là thắng. Theo dụ này thì Tống thắng sáu, ta thắng hai.

Linh-Nhân hoàng thái hậu an ủi:

– Sư huynh không nên câu nệ thắng hay hại. Từ cổ đến giờ chỉ có Trung-quốc mới xử tử tướng bại trận mà thôi. Như trong trận Hầu Nhân-Bảo đánh Đại-Việt, khi trở về, toàn bộ các tướng bị Tống Thái-tông xử tử trong quân. Còn lịch đại tộc Việt ta, không bao giờ kết tội các tướng bại trận cả, mà chỉ chú ý đến việc các tướng đó có quyết tâm bảo vệ đất tổ hay không mà thôi. Muội thấy, trong tám trận đã đánh, thì chính khí dọc ngang trời đất phải kể đến tướng sĩ của ta ở Ngọc-sơn, Đâu-đỉnh. Hùng khí lưu thiên cổ phải kể đến cuộc cướp trại Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu. Trí dũng có thừa là cuộc thủ Quyết-lý, Chi-lăng. Mưu thần, chước thánh là trận đột kích đêm Giao-thừa.

Nét lo lắng trên gương mặt chư tướng đều từ từ biến đi.

Thường-Kiệt tiếp:

– Trước hết là trận Ngọc-sơn. Ta mất một, Tống mất mười hai. Nhưng đồn Ngọc-sơn thất thủ, Gia-viễn hầu Bùi Hoàng-Quan và phu nhân tuẫn quốc. Kể từ ngày ấy, ở mặt biển quân Tống không tiến thêm được bước nào, vì thủy quân Tống bị thủy quân ta đè bẹp.

Linh-Nhân hoàng thái hậu cúi đầu xuống, có lẽ ngài nhớ đến người bạn thời niên thiếu Trần Ngọc-Huệ nay đã ra người thiên cổ. Ngài đưa mắt nhìn Thái-sư hồi hưu Bùi Hựu:

– Một lần nữa triều đình chia buồn cùng Thái-sư và tang quyến.

Thái-sư Bùi Hựu cười dòn dã:

– Tâu Thái-hậu, trước khi trận Ngọc-sơn diễn ra, Hoàng-Quan có viết thư về cho lão phu. Nay lão phu xin đọc để Thái-hậu và chư vị cùng nghe.

Ông móc thư trong túi ra đọc lớn:

« Phụ thân, lão nhân gia đại kính.

Trước hết con xin gửi lời vấn an đến phụ thân và mẫu thân. Tình hình Ngọc-sơn rất nguy ngập. Tống tập trung quân ở Khâm-châu đến ba vạn người, cùng với hai hạm đội, không biết lúc nào, sẽ đánh Ngọc-sơn. Con tự biết, với ba nghìn người của con, thì Tống phải hy sinh tới ba vạn mới đánh được. Nếu như Tống thương quân, tiếc người, ắt họ không dám đánh. Còn như họ quyết tâm chiếm đất, không tiếc người, thì e con không giữ nổi.

Theo suy tính của vợ con, thì chắc Tống sẽ chịu mất người, để chiếm đất. Vậy con xin gửi mấy giòng này để vĩnh biệt song thân. Hai chúng con kết hôn trải mười ba năm, phu thê thuận hòa, chung lo quốc sự, ngày đêm ăn không biết ngon, ngủ không yên giấc; nayđã có với nhau ba mặt con. Bây giờ biết trước cái ngày tận trung báo quốc không xa, con xin gửi lời về; một là xin song thân tha cho cái tội bất hiếu, lỗi đạo thần hôn định tỉnh; hai là xin song thân thương tình, nuôi dạy ba trẻ cho nên người.

Chúng con khép nép, siết bao khiếp sợ, khóc chảy máu mắt, cúi rạp người, lạy tám lạy xin song thân tha tội cho chúng con.

Hoàng-Quan, Ngọc-Huệ ».

Đọc xong, Thái-sư nói:

– Đại-tư-mã bình tâm. Ta bại hay thắng, thực không đáng quan tâm. Lão phu tin rằng, chư tướng, chư quân đều nhất nhất sẵn sàng tận trung báo quốc như Hoàng-Quan, Ngọc-Huệ, đó mới là điều cần bàn luận.

Ông nhắc Thường-Kiệt:

– Xin Đại-tư-mã tiếp cho.

– Trận thứ nhì là trận quân ta đột kích đốt kho lương Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu, rồi phục kích đánh truy binh. Trận này ta thắng lớn, vì giết được ba tên tướng phản họ Hoàng, diệt trọn đám hàng binh, đốt rụi ba kho lương. Trận thứ ba là trận đánh khi giặc truy kích, ta giết năm đại tướng danh tiếng là Lý Hạo, Dương Vạn, Dương Thiên, Dương Bách, Trương Chi-Giám, đánh tan đạo quân đệ tứ, đệ ngũ, diệt trọn đạo quân đệ lục. Tổng cộng đột kích, phục kích, Tống thiệt hại một vạn rưỡi quân triều, hai vạn Tân-đằng-hải với hàng binh. Tốn thất về phía ta gần như không, chỉ có sáu trăm người chết. Tiếp theo Tống tung người công ải Quyết-lý hai lần, Chi-lăng hai lần, đều thất bại, số tổn thất lên đến hơn sáu vạn người, đa số là Tân-đằng-hải với hàng binh.

Thái-hậu lắc đầu:

– Như thế trong bốn mươi vạn quân triều, Tống chỉ mới mất có vạn rưỡi thôi phải không?

– Tâu, đúng vậy.

Thường-Kiệt đáp: Trận Đâu-đỉnh, Tống dùng số đông tràn ngập. Ta mất hiệu binh Đại-hoàng gần vạn người. Tống mất ba vạn quân triều với năm vạn Tân-đằng-hải, và hàng binh. Nam-sơn hầu Dư Phi tuẫn quốc. Vì mất Đâu-đỉnh, ta phải bỏ Quyết-lý, Chi-lăng, thành ra phòng tuyến thứ nhì tan vỡ.

Ông cau mày, thở dài:

– Vỡ phòng tuyến thứ nhì, ta mất vạn quân không đáng lo. Cái đáng lo của ta là ta lợi dụng địa thế để kéo dài cuộc chiến bị mất; ngược lại cái ưu thế của Tống tăng, vì quân Tống được luyện tập đánh nhau ở đồng bằng đã quen, nay chúng lọt được vào đồng bằng rồi, như cá gặp nước. Lợi dụng Tống mới hạ trại, Trung-Thành, Tín-Nghĩa thử đột kích để dò thám thực lực của chúng. Trận này mới diễn ra trong đêm hôm qua là đêm Giao-thừa. Xin để nhị vương trình bầy.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi Trung-Thành vương:

– Hoàng thúc! Kết quả trận đột kích ra sao, xin hoàng thúc trình cho triều đình biết.

– Tâu Thái-hậu, trận đột kích thành công. Nhưng sau trận đột kích, thần cảm thấy lo lắng vô cùng. Trong trận đột kích ven sông này, cần phải dùng quân, tướng giỏi thủy chiến. Vì vậy thần cho Long-biên ngũ hùng giữ nhà, đùng Tây-hồ thất kiệt với bẩy hiệu Thiên-tử binh trực thuộc xuất chiến. Mặt Phú-lương, phò mã Hoàng-Kiện, công chúa Động-Thiên xử dụng hai hiệu; mặt trận Nham-biền, thần nhờ Lý đại đô đốc xử dụng hai hiệu; mặt trận Như-nguyệt thần cùng Tín-Nghĩa vương xử dụng ba hiệu. Trận đột kích thành công mỹ-mãn. Tại Nham-biền giết được đại tướng Địch Tường và hàng tướng Nùng Sĩ-Trung; tại Phú-lương, giết được đại tướng Lý Hiếu-Tông, hàng tướng Hoàng Sầm-Mãn; tại Như-nguyệt giết được hết các hàng tướng Hoàng Kim-Mãn, Nùng Thịnh-Đức, Nùng Quang-Lâm. Về quân số, đánh tan 23 chỉ huy tân-đằng hải, ba đạo quân triều, tổng số sáu vạn người. Về phía ta, các tướng vô sự, Thiên-tử binh mất hơn nghìn.

Vương nhấn mạnh:

– Ta ra quân trong lúc Tống đang ăn tết, khởi đầu thắng thế lớn. Sau hơn giờ giao chiến, giặc chỉnh bị được hàng ngũ, cuộc giao tranh cực kỳ ác liệt. Sau trận thử lửa, thần nhận thấy quân tân-đằng hải có khả năng ngang với hoàng nam của ta, nhưng vì chưa quen dàn trận, nên ta mới thành công. Còn quân triều, nói thực ra, chúng ngang với Thiên-tử binh của mình.

Trong phòng họp, mọi người cùng đưa mắt nhìn nhau, vì cái nguy cơ mất nước gần kề. Bởi quân triều của Tống tới bốn mươi vạn, mà ta chỉ có mười hai vạn.

Trung-Thành vương tiếp:

– Tính chung, kể cả trận Ngọc-sơn cho đến nay, ta mất hai vạn người, đa số là quân các lộ, Thiên-tử binh mất chưa quá bốn nghìn. Quân Tống mất hai mươi bốn vạn, thì mười tám vạm là quân Quảng, quân tân-đằng-hải, bảo binh; còn quân triều chỉ hao có sáu vạn.

Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt tiếp lời Trung-Thành vương:

– Quách Quỳ mang theo bốn mươi vạn binh triều, chủ yếu là 30 đạo binh đem từ Tây, Bắc về với năm đạo kị binh. Kị binh chúng còn nguyên, binh triều mới chỉ có chín đạo hao hụt. Nếu bây giờ tấn công ta, chúng sẽ dùng binh triều đối trận với Thiên-tử binh; tân-đằng-hải đánh các xã. Như vậy một kị binh của ta phải đánh với năm kị binh Tống, một Thiên-tử binh của ta phải đánh với bốn quân triều của Tống.

Triều đình đều ngao ngán, lo lắng bứt rứt.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi Trung-Thành vương:

– Theo hoàng thúc ước tính, thì Tống sẽ đánh xuống Thăng-long như thế nào?

– Tâu Thái-hậu, tin mới nhất cho biết, Quách Quỳ hội chư tướng đêm Giao-thừa. Y đã định đánh sang cả ba mặt Phú-lương, Như-nguyệt, Nham-biền một lúc. Nhưng Nham-biền, Phú-lương là hư, Như-nguyệt là thực. Sau khi Như-nguyệt bị chiếm, ắt quân ta ở Phú-lương, Nham-biền phải bỏ phòng tuyến về cứu Thăng-long. Bấy giờ quân Tống mới biến hư thành thực, vượt Phú-lương, Nham-biền truy kích tiêu diệt.

Linh-Nhân hoàng thái hậu suýt xoa:

– Cũng may tế tác của ta biết được việc này trước. Thưa hoàng thúc, chúng định đánh Như-nguyệt bằng cách nào?

– Tâu, phương lược như sau: Đợi chu-sư Tống tới chở quân qua Nam ngạn phá chiến lũy. Nhưng Triệu Tiết khôn hơn, y hiến kế rằng, chu sư giỏi lắm mỗi chuyến chở được năm vạn người. Như vậy khi chu sư trở về chở lần thứ nhì, thì năm vạn trước bị ta làm thịt hết rồi. Phải làm cách nào chở sang một lúc mười vạn quân, ào ạt phá chiến lũy, khiến ta không kịp trở tay. Sau đó chu sư kết thành phù kiều (cầu nổi) để tiếp tế chiến cụ như rơm tẩm dầu đốt chiến lũy, thuẫn, lá chắn, cùng tải thương binh tử sĩ về. Chọc thủng Như-nguyệt rồi, thừa thắng cho kị binh hỏa tốc tiến về Thăng-long, quân bộ tiến sau bảo vệ hai hông cho kị binh cùng phòng ta đánh cắt đường về. Còn tân-đằng-hải chia nhau đánh các xã để kiếm lương, dân phu.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:

– Trong chư vị đây, ai có diệu kế gì để gỡ thái thế một mất, một còn của ta này?

Lập tức chư tướng ào lên bàn luận phân vân.

Đến đó một thị vệ vào trình:

– Thưa Đại-tư-mã, có thư từ Khu-mật viện báo rằng hai vị thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh dẫn theo bốn vị sư phụ Viên-Căn, Viên-Mộc, Viên-Chi, Viên-Diệp cầu kiến. Xin Đại-tư-mã cho biết tôn ý.

Nguyên-soái Thường-Kiệt ban lệnh cho viên tá lãnh phụ trách truyền tin:

– Dùng chim ưng truyền lệnh cho Khu-mật viện rằng: Đem xe ngựa rước các ngài đến đây ngay.

Viên tá lãnh dạ một tiếng rồi rời trướng liền.

Từ hai mươi năm qua, bồ tát Minh-Không, Đạo-Hạnh thường sống lẫn lộn với kẻ cùng khổ. Khi thì hai ngài dùng y đạo chữa trị, khi thì hai ngài thuyết pháp; cũng có khi hai ngài gặp bọn trộm cướp, đạo tặc, bọn du thủ du thực, hai ngài dùng võ công thu phục chúng, rồi giáo hóa pháp lý từ bi của đức Thế-tôn khiến chúng trở thành thiện nhân. Hóa cho nên khắp Đại-Việt, ai cũng kính trọng gọi hai ngài là thánh tăng.

Đại-Việt dưới quyền cai trị của Linh-Nhân hoàng thái hậu luôn dùng đức cải hóa người hơn là hình pháp khiến trong dân gian, kẻ phạm pháp rất ít. Hơn bốn chục năm qua, đã có Mộc-tồn, Viên-Chiếu vừa dùng đức cảm hóa, vừa dùng hình pháp trị bọn gian tà. Nay thêm hai ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh nữa, nên chi nhà tù gần như trống không.

Mấy tháng trước đây, hai ngài vân du Trung-quốc, giúp Hy-Ninh hoàng đế nhà Tống trị tà trong Hoàng-cung, được vua cúng dàng đồng đen. Ngài Minh-Không dùng phép thu cả kho đồng vào túi, đem về Đại-Việt đúc thành Nam-thiên tứ đại thần khí, thì dân chúng gọi hai ngài là thánh tăng.

Công chúa Thiên-Ninh hỏi Tín-Nghĩa vương:

– Hoàng-thúc! Chư tướng hiện diện hôm nay đây biết rất ít về hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh. Đại khái chỉ biết hai ngài là sư phụ của Tây-hồ thất kiệt mà thôi. Còn ngoại giả thì không biết gì hơn. Xin hoàng-thúc cho biết hành trạng hai ngài, trước khi cùng hai ngài nghị kế cứu nước.

Tín-Nghĩa vương đáp ngay:

– Thánh-tăng Minh-Không họ Nguyễn. Thánh-tăng Đạo-Hạnh họ Từ.

Long-nhượng thượng tướng quân, Thiện-Tâm hầu Phạm Dật hỏi:

– Khải vương gia, đệ đọc trong Thái-tổ thực lục thấy chép rằng ngài Minh-Không, Huệ-Sinh với đức Thái-tổ là ba đệ tử đắc ý của quốc-sư Vạn-Hạnh. Như vậy năm nay ít ra ngài Minh-Không phải trên trăm tuổi. Nhưng... nhưng đệ thấy ngài còn trẻ quá. Không lẽ ngài thành bồ tát rồi trẻ mãi không già như tiên nương Bảo-Hòa chăng?

Phạm Dật vừa hỏi dứt, thì từ Linh-Nhân hoàng thái hậu cho đến Thường-Kiệt, Trung-Thành, Tín-Nghĩa... đều lắc đầu. Tín-Nghĩa vương ngồi ngay ngắn, sửa y phục rồi nói:

– Để ta nói về hành trạng anh linh tộc Việt cho đệ nghe. Nguyên vào cuối thời Thập-nhị sứ quân, dân Việt cực khổ đến nỗi sống không được, mà chết cũng không xong. Bấy giờ ba vị đại đệ tử của đức Thích-ca Mâu-ni là Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-diếp, Di-Lặc quá thương xót dân Việt, mới đầu thai làm người Việt với hạnh nguyện rằng sẽ giúp tộc Việt dựng lại nước. Ngài Tu-bồ-đề đầu thai thành tổ Minh-Không, ngài Ma-ha Ca-diếp đầu thai làm ngài Sùng-Phạm, ngài Di-Lặc thành Bố-Đại hòa thượng. (Xin xem Anh-hùng Tiêu-sơn, hồi 27-28, của Yên-tử cư-sĩ).

Phạm Dật cùng chư tướng đều gật đầu, tỏ vẻ hiểu biết về việc này.

Tín-Nghĩa vương tiếp:

– Khi bồ-tát Sùng-Phạm truyền 100 năm công lực cho phò-mã Thân Thiệu-Thái xong, ngài không đầu thai ngay, mà chờ tổ Minh-Không viên tịch rồi cùng đầu thai. Niên hiệu Thuận-Thiên thứ 19 (1028), tổ Minh-Không thấy xác mình mục, mới gọi sư đệ là tổ Huệ-Sinh với chư đệ tử tới dặn rằng người với tổ Sùng-Phạm sẽ tái đầu thai. (Xin xem NQSH, hồi thứ 11).

Phạm Dật vốn cực kỳ thông minh, hầu à lên một tiếng:

– Đệ hiểu rồi, sau đó tổ Minh-Không tái đầu thai, vẫn lấy pháp danh là Minh-Không, còn tổ Sùng-Phạm đầu thai vào nhà Tăng-quan đô-án Từ Vinh, thành ngài Từ Đạo-Hạnh. Có đúng thế không?

– Đúng vậy. Niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ 2 (1060) hai ngài tìm đường sang Tây-trúc tu đạo, nhưng đi đến nước Kim-xỉ thì bị núi ngăn tuyệt đường. Hai ngài mới trở về Đại-Việt.

Đến đây vương đưa mắt nhìn Linh-Nhân hoàng thái hậu, ngụ ý muốn để hậu thuật hành trạng nhị thánh, mà chính hậu được hưởng.

Linh-Nhân hoàng thái hậu biết ý vương. Hậu bèn thuật hành trạng của ngài Minh-Không như giả làm ăn mày dạy dỗ cho công tử họ Dương giữa Thăng-long; chữa bệnh cho chó của Tín-Nghĩa vương, rồi nhận Tây-hồ thất kiệt làm đệ tử; xem Tử-vi, cùng ban thuốc cho hậu để trị bệnh khi bị thác loạn thần kinh; xuất hiện tại chùa Pháp-vân trị bệnh cho vua Thánh-tông; xuất hiện tại chùa Thánh-chúa ban thuốc trị bệnh cho vua Thánh-tông với hậu, nên mới có vua Nhân-tông. Trong trận Bắc phạt ngài lại xuất hiện với ngài Đạo-Hạnh hai lần. Một lần cứu tướng Tống để khỏi bị Mộc-tồn hòa thượng giết, một lần tại thành Ung để giúp thần tăng Pháp-Nhẫn khuyên Tô Giàm cho dân rời xa chiến địa. Nhưng gần đây nhất, hai ngài nhận lời Khu-mật viện vân du Trung-quốc để làm cho Hy-Ninh đế cách chức Vương An-Thạch, và phá thế yểm hại Đại-Việt gần nghìn năm của Trung-quốc, rồi đúc Nam-thiên tứ đại thần khí.

Chư tướng nghe xong, bất giác cùng có cảm nghĩ hân hoan vô cùng. Linh-Nhân hoàng thái hậu kết luận:

– Phật giáo đến Trung-quốc, bị Trung-quốc hóa đi, nhưng vẫn rời xa việc bảo vệ xã tắc. Còn Phật-giáo vào Đại-Việt, đã được Việt hoá thành một chủ đạo tộc Việt là lấy đạo pháp bảo vệ đất nước từ thời ngài La Quý-An, Sùng-Phạm, Bố-Đại, Vạn-Hạnh, Minh-Không, Huệ-Sinh; nhưng cái chủ đạo ấy vẫn chưa hình thành một thứ chủ đạo dân tộc hoàn toàn. Nay đến ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh, tinh thần đó thành chủ đạo, thành vũ khí giữ nước.

Đến đó, thân binh báo:

– Hai thánh tăng cùng với bốn hòa thượng chùa Báo-ân giá lâm.

Linh-Nhân hoàng thái hậu vẫy Long-biên tứ hùng, Tây-hồ thất kiệt ra ngoài đón rước.

Linh-Nhân hoàng thái hậu cung tay:

– A-di-đà Phật! Chúng đệ tử xin tham kiến nhị vị bồ tát. Tứ vị sư huynh.

Minh-Không đáp lễ:

– Nhọc thánh thể Thái-hậu cùng chư vị ra đón. Nghe Thái-hậu cũng chư tướng nghị kế giữ nước. Anh em bần tăng tuy hạc nội mây ngàn, nhưng cũng là con dân Đại-Việt, nên đến thái hậu cho ra trận làm bốn phận con dân.

Lễ nghi tất.

Tây-hồ thất kiệt là đệ tử của Minh-Không, nên bẩy tướng kéo ghế lại ngồi bên ngài. Linh-Nhân hoàng Thái-hậu với Long-biên ngũ hùng là sư đệ sư muội của bốn nhà sư Viên, nên tứ hùng cùng lại ngồi bên bốn ngài.

Lý Thường-Kiệt tóm lược những gì đã nghị sự cho sáu vị nghe.

Minh-Không chỉ Tín-Nghĩa vương:

– Bần tăng thấy dường như vương gia đã có đến năm sách lược bảo quốc, mà sao chưa tâu lên Thái-hậu?

Tín-Nghĩa vương kinh hoàng, vì năm sách lược đó, ông hoạch định trong tâm, mà sao vị sư phụ này lại biết. Chợt động tâm cơ, vương chửi thầm:

– Mình thực sơ tâm! Hai vị bồ tát này luyện Mật-giáo đến trình độ tối cao, thì tất cả những gì mình suy nghĩ, ngài cũng thấy, đâu có lạ?

Vương cung tay:

– Xin tuân pháp dụ của sư phụ.

Vương cung tay hướng Thái-hậu:

– Thần xin đưa ra năm diệu kế để giữ nước.

– Xin hoàng thúc cứ nói.

– Cái ngày mà Quách Quỳ vượt sông e không xa. Ta không thể cản bước tiến quân của y. Phòng tuyến Như-nguyệt của ta cực kiên cố, với hai hiệu Thiên-tử binh Bổng-thánh của Mai Cầm, Phương-Đơn; Bảo-thắng của Quách Y, Phương-Tiên quyết tử trấn ở đây. Vậy sách đầu tiên của ta là chấp nhận trận đánh Như-nguyệt, ta mất một, Tống mất mười. Nếu như trong khi đánh, thấy quân mình chết nhiều quá, Quách Qùy cho lui quân, thì e rằng sau này khó có thể đủ khả năng vượt sông nữa; đây là thượng sách cho ta. Bằng y chịu hy sinh hai mươi vạn người, để phá Như-nguyệt thì ta cũng đành chấp nhận.

Quan Thái-phó Quách Sĩ-An hỏi:

– Khi ta biết chủ tâm của Tống là dùng hết khả năng đánh Như-nguyệt. Vậy sao ta không phối trí tại đây ba, bốn hiệu binh nữa cho ăn chắc?

Tín-Nghĩa vương lắc đầu:

– Thưa quan Thái-phó, phòng tuyến Như-nguyệt phía trước là sông, đã đắp thành lũy. Phía sau là vườn, ruộng, địa thế rất hẹp, không thể đồn trú quá hai hiệu binh. Vả có đem nhiều binh tới đây cũng vô ích, mà chỉ nên đồn trú dọc đường Như-nguyệt Thăng-long mà thôi. Vì vậy tôi đã đề nghị đem thực nhiều Thần-nỏ, thú-binh, cùng các cao thủ. Nhân Như-nguyệt gần Tản-lĩnh, tôi đã xin tiên nương Bảo-Hòa viện cho đội võ sĩ phái Tản-viên nghìn người. Với nghìn người này, có sức mạnh bằng mười vạn quân.

Nhiều đại thần chau mày tỏ vẻ không đồng ý vì: Phía sau Như-nguyệt năm mươi dặm thì tới Thăng-long. Như-nguyệt thất thủ, thì e hai khắc sau kị mã đã tới kinh đô rồi. Quan tổng trấn Thăng-long Ngô Thường-Hiến hỏi:

– Ví thử Tống chịu hy sinh 20 vạn người để phá cho được Như-nguyệt thì vương gia tính sao?

– Đó là điều tôi mong đợi. Nếu như Quách Quỳ nướng 20 vạn người vào đây, thì ta đánh một hai trận nữa, ắt y không còn lực, chỉ có thể rút lui. Vì từ Như-nguyệt tới Thăng-long có ba đoạn đường. Một là Như-nguyệt đến rừng tre khoảng hai mươi dặm, hai bên có 18 xã. Theo phương lược của Quách Quỳ, thì y cho kị binh đi trước, bộ binh đi sau, dùng tân-đằng-hải đánh các xã. Ta dùng hai hiệu binh các lộ, chia cho các xã hợp với hoàng nam để chống lại quân tân-đằng-hải. Như thế là sách dùng tân-đằng-hải kiếm lương với dân phu bị phá; mà kị binh, bộ binh tiến trước thấy hai sườn bị uy hiếp phải dừng lại. Đây là sách thứ nhì.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Đoạn đường thứ nhì là từ rừng tre tới Cổ-pháp, khoảng mười dặm, hai bên có mười xã, ta cũng áp dụng như trên. Ngay trước Cổ-pháp là vòng đai bảo vệ Thăng-long của công chúa Thiên-Ninh với hai hiệu Ngự-long của Phạm Dật, Kim-Loan; Quảng-vũ của Vũ Quang, Kim-Liên. Phòng tuyến này còn chắc hơn phòng tuyến Như-nguyệt nữa. Quân Tống đến đây dù Quách Qùy có muốn hy sinh giống Như-nguyệt, thì e không còn đủ quân nữa. Trong khi đó dọc đường, quân các lộ của ta với hoàng nam đánh chặn dường tiếp tế lương thảo. Như vậy Tống không thể xuống Thăng-long được. Đây cũng vẫn nằm trong sách thứ nhì.

Thái sư Lý Đạo-Thành hỏi:

– Khải vương gia, ví thử Quách Qúy nhất quyết thí quân ở Cổ-pháp, thì Thăng-long nguy tai!!!

– Thưa Thái-sư, tiểu bối chưa trình bầy xong mà.

Tín-Nghĩa vương giảng giải: Sách thứ ba, là ta lợi dụng Tống dùng hết khả năng đánh Như-nguyệt, còn hai mặt Nham-biền, Phú-lương là hư. Ta hãy tưởng tượng rằng khi chiến lũy Như-nguyệt thất thủ, quân kị bộ Tống đang tiến về Thăng-long. Ta dùng đạo binh lưu động của Trung-Thành vương đánh tan một trong hai đạo Nham-biền, Phú-lương, rồi tiến về uy hiếp bản doanh Quách Quỳ, đốt cháy kho lương. Dĩ nhiên Quách Quỳ phải rút quân về bảo vệ lấy căn bản. Nếu y không rút về, thì chỉ nửa ngày quân y sẽ tan, vì không có lương ăn!

Vương nhấn mạnh:

– Cái khó khăn là chiến lũy Cổ-pháp phải cầm chân kị binh ít nhất trong hai ngày, để đạo binh Trung-Thành vương có thời giờ hành sự. Không biết công chúa Thiên-Ninh giữ nổi chiến lũy Cổ-pháp trong bao nhiêu lâu?

Công chúa Thiên-Ninh tự tin:

– Xin hoàng thúc yên tâm, cháu có thể giữ được ít nhất một tháng.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

Tín-Nghĩa vương tiếp:

– Bấy lâu nay, triều đình bắt Thân phò mã với công chúa Thiên-Thành; công chúa Côi-sơn với phò mã Tôn Mạnh; thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân ẩn thân trong rừng. Bây giờ ta thư cho ba vị ấy xuất hiện, vượt biên sang Tống đốt kho lương, đánh úp các đồn Quyết-lý, Chi-lăng, rồi trấn giữ tại đây. Tống bị cắt đường vận lương, bị tuyệt đường về, ắt Quỳ phải dồn hết lực lượng khai thông đường Như-nguyệt sang Trung-nguyên, Như thế y không thể tiến về Thăng-long được. Đây là sách thứ tư.

Vương đưa mắt nhìn Côi-sơn tam anh:

– Sách thứ năm, phi tam vị sư bá, không ai thực hiện nổi.

Trần Trung-Đạo hỏi:

– Sách này ra sao?

– Sách này ta đã dùng sau trận Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, Ung-châu. Nay dùng lại một lần nữa.

Trung-Đạo bật cười:

– Sách này tuy không có kết quả ngay, nhưng nó thấm vào tâm não muôn nghìn năm sau của người Hoa rằng: Cho con em đánh sang Đại-Việt, thì chỉ có đi, mà không có về.

Phò mã Hoàng Kiện hỏi:

– Trình sư bá, chi tiết áp dụng ra sao?

– Ta khích động cho gia đình tử sĩ sang đào mả đem xác về, để gây trấn động giang sơn Tống, gây bất mãn, lo sợ cho binh Tống. Không biết số tổn thất chính xác của Tống ở mỗi mặt trận là bao nhiêu? Chôn tại đâu?

Trung-Thành vương trình:

– Sau trận đột kích của ta vào Vình-bình, Tây-bình, Lộc-châu, cùng cuộc phục kích đánh truy binh của Tống cộng bốn lần Tống đánh Quyết-lý, Chi-lăng, số quân triều chết khoảng hai vạn. Quách Qùy đã cho đưa tử thi về nguyên quán, khiến dân phu phục dịch cực kỳ khổ sở, dọc đường gây ấn tượng kinh hoàng cho dân chúng. Cho nên Quách Quỳ tạm bỏ chương trình đưa xác tử sĩ về nguyên quán. Số quân tân-đằng-hải chết trận tại Bắc-biên là sáu vạn, đa số quê ở vùng Trường-sa được chôn ngay ở biên giới. Từ trận Đâu-đỉnh, trận đánh đêm Giao-thừa, quân triều chết hơn bốn vạn, quân tân-đằng-hải chết hơn chín vạn, đa số quê ở Quảng-Đông, Quảng-Tây y cho chôn ở Bắc Như-nguyệt. Quách Quỳ, đợi sau chiến tranh sẽ cải táng đưa về nguyên quán.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:

– Triều đình có nhận được tin của Đinh Hoàng-Nghi báo cho biết Quách Quỳ không cho cắm gỗ đề tên tử sĩ lên mộ là ý gì vậy?

– Tâu, vì y sợ quân Tống sống thăm mồ mả bạn hữu tử trận, nên không cho đề tên kẻ xấu số lên ván, cắm ở mộ; mà chỉ cho viết trên nắp áo quan, đợi sau chiến tranh, mới đào lên đem về nguyên quán.

Trung-Đạo hỏi:

– Có cách nào lấy được danh sách tử sĩ Tống tại các mặt trận không?

– Thưa sư bá cháu đã có trên tay.

Trung-Thành vương đáp: Vì Quỳ bắt dân ta xẻ gỗ làm quan tài chôn tử sĩ Tống, cùng chôn cất, cháu lợi dụng cho tế tác len lỏi vào, nên đã lấy được đầy đủ họ tên, cấp bậc, quê quán. Không biết sư bá dùng làm gì?

– Tốt lắm. Trước đây, ta đã cho đệ tử đón đường giết ngựa trạm của Tống, tịch thu được nhiều văn kiện. Nhờ đó ta biết ấn, chữ ký, binh phù của Ôn Cảo, Triệu Tiết, Quách Quỳ. Ta đã cho khắc mấy chiếc ấn giống của chúng. Bây giờ ta chép danh tính của tử sĩ Tống từng huyện một, rồi giả công văn gửi đến các huyện; lệnh cho huyện loan báo hung tín tới gia đình. Trong thư ta sẽ ghi rõ mồ hiện chôn tại đâu, thân nhân có thể sang thăm, hoặc tự cải táng mang về.

Linh-Nhân hoàng thái hậu nhắm mắt lại một lát rồi nói:

– Sách này rất độc. Hãy cứ tưởng tượng, gần hai chục vạn dân phu, bảo binh, tân-đằng-hải tử trận, thì ít ra cũng có mười vạn gia đình đi tìm xác con em. Họ đâu có đi một mình? Tính trung bình mỗi tử sĩ có ba người đi tìm xác, thì ít ra cũng có sáu mươi vạn người tràn qua biên giới. Bấy giờ Quách Quỳ ắt biết đây là mưu của ta, nhưng đành thúc thủ. Y không thể sai quân cản những người này. Nhược bằng y có sai, thì quân cũng không tuân.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TƯ

Nam-thiên tứ đại thần khí



Tín-Nghĩa vương hướng Minh-Không, Đạo-Hạnh:

– Xin nhị vị sư phụ ban pháp dụ.

Đạo-Hạnh chắp tay vái cử tọa một lượt, rồi nói:

– Vương gia đưa ra năm phương lược cứu nước. Vậy bần tăng cũng đưa ra hai phương lược nữa là bẩy. Ta tạm gọi là Thất lược trấn quốc.

Cao nhất là Linh-Nhân hoàng thái hậu, thấp nhất là thị vệ đứng hầu đều im lặng, hồi hộp nghe hai phương lược của hai thánh tăng Đại-Việt. Vì từ lâu, khắp Hoa-Việt đều tôn hai ngài là đấng trí tuệ cao thâm vô cùng tận.

– Trong Thiên-hạ này, nơi nào tụ được nhiều linh khí, thì sẽ có chúa thánh, tôi hiền ra đời; mưa hòa, gió thuận, dân chúng ấm no. Ngược lại, nơi nào có nhiều ác khí nảy sinh, thì sẽ có quỷ vương, ma quái đội lốt quan; gió bão, hạn hán nảy sinh, dân chúng đói khổ. Xưa, khi vua Minh tế cáo trời đất, chia Thiên-hạ làm hai, Bắc thành Trung-nguyên, Nam thành Đại-Việt. Trong khi linh khí miền Bắc tản ra khắp nơi, thì Linh khí Lĩnh-Nam tụ về vùng Giao-chỉ, Cửu-chân. Thế nhưng cuối đời Tây-Hán, linh khí miền Bắc phân tán ra khắp nơi, bởi vậy mới có nạn Vương Mãng cướp ngôi. Linh khí Lĩnh-Nam cực thịnh, nên mới có việc vua Trưng cùng 162 tướng khởi nghiệp, suýt làm đổ triều Hán.

Ngài ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Thời Bắc thuộc, vua Đường thấy linh khí Đại-Việt ta quá thịnh, mới sai Cao Biền sang làm thứ sử Giao-châu để yểm tất cả các thế đất linh. Biền thành công hầu hết, duy hai nơi thất bại là núi Tản và Cổ-pháp. Thế đất Tiêu-sơn ở Cổ-pháp tụ khí thiêng Nam-nhạc, nên mới sinh đức Thái-tổ nhà ta, lập ra bản triều trên hai trăm năm. Trong khi Biền yểm đất thiêng Lĩnh-Nam, thì y quy hướng tất cả hồn, phách linh khí vào bụng ba mươi sáu con trâu vàng, rồi đem về chôn ở trong lòng núi Thái-sơn.

Minh-uy đại tướng quân Quách Y hỏi:

– Bạch sư thúc, thủa nhỏ con có nghe thầy đồ kể truyện này. Thầy nói rằng Biền thu ba mươi sáu ngôi sao ở Thiên-hà chiếu xuống Lĩnh-Nam, rồi đem về giam ở núi Thái-sơn. Nay sư thúc lại kể rằng hồn và phách. Vậy có gì khác nhau giữa sao với hồn, phách?

– Con hỏi thực phải! Này con hãy nghe cho kỹ, sư thúc vì con mà nói.

Tiếng ngài Đạo-Hạnh thật đầm ấm, thật trong nhẹ, hợp với tư thái, nét mặt từ ái của ngài; khiến cử tọa đều có cảm tưởng đang nghe đức Phật A-di-đà thuyết pháp:

– Sao là tinh thể, kết hợp khí của vũ trụ mà thành. Sao chiếu xuống Thiên-hạ thành linh khí. Linh khí bàng bạc trong trời đất, gặp cây nuôi cây, gặp hoa nuôi hoa, gặp người tạo cơ thể con người thành hùng tráng, thần minh sáng suốt. Cái thần minh đó gọi là hồn và phách. Này con hãy nghe: Lột quần áo ra, thì con với đứa trẻ chăn trâu cũng giống nhau. Nhưng sao con lại làm đại tướng, trí dũng có thừa mà đứa trẻ lại là mục đồng chất phác? Cái mà con với trẻ mục đồng khác nhau đó là do phách, và hồn tạo ra.

Quách Y reo lên:

– Con hiểu rồi! Con hiểu rồi.

– Con thử nói cho sư thúc nghe xem nào?

– Khi sao ở Thiên-hà chiếu xuống thế gian, con người thấu, cảm ánh sáng đó, hợp với mưa, nắng, núi, sông cho nên thể thì giống nhau, mà phách và hồn thì khác nhau. Thế thì từ con sâu, cái kiến, con chó, con mèo cho đến con người đều có hồn và phách. Nhưng mỗi cơ thể thấu cảm linh khí của tinh hoa sơn xuyên, nhật nguyệt mà khác nhau. Nay Cao Biền yểm hết thế đất thiêng, đào lấy những kết tinh của thế đất đem đi. Thế nhưng...

– Thế nhưng sao?

– Thế sao y lại bỏ vào ba mươi sáu con trâu vàng? Mà không bỏ vào con rồng, con phượng? Thưa sư thúc?

– Giản dị thôi! Tộc Việt chúng ta là con cháu vua Thần-Nông. Tộc Hoa cũng là con cháu vua Thần-Nông. Nhưng sau triều đình Thần-Nông phương Bắc bị vua Hoàng-Đế đánh bại. Vua Hoàng-Đế là dân du mục, săn bắn. Người Hoa sau tôn vua Hoàng-Đế là Quốc-tổ. Bởi vậy Biền mới bắt tinh hoa 36 ngôi sao, bỏ vào bụng trâu, đem về chôn ở núi Thái-sơn, để diệt linh khí Nam phương, cái linh khí dùng sức trâu để canh tác.

Nói đến đây, ngài đưa mắt nhìn Linh-Nhân hoàng thái hậu. Hậu tiếp lời ngài:

– Đến đời vua Thái-tông nhà Tống, sau khi bị bại ở Chi-lăng, Bạch-đằng; nhà vua sai bẩy đạo sĩ của phái Hoa-sơn lên núi Thái-sơn đào trâu vàng đem về, rồi lấy đồng đen đúc thành hộp. Mỗi hộp để chín lá bùa, giam một trâu, sau đó cất vào một nơi cực mật trong kinh thành Biện-kinh. Hồi Khai-Quốc vương đi sứ, người đã sai Kinh-Nam vương đột nhập ngự thư phòng vua Tống Nhân-tông tìm di chúc của vua Thái-tông nói về việc này, nhưng không ra manh mối. Hơn bốn chục năm qua, Kinh-Nam vương có tai mắt khắp nơi trong triều Tống, mà cũng chỉ biết rằng ba mươi sáu hộp đồng đó để ở trong kho tại Hoàng-cung. Đích thân vương âm thầm đột nhập tìm kiến nhiều lần mà không thấy.

Ngài nhìn Trần Trung-Đạo:

– Vừa rồi, trong dịp người của ta làm rối loạn phủ đệ Vương An-Thạch, cùng hoàng cung Tống, vô tình đã tìm ra nơi để hộp giam trâu vàng.

Nghe hậu cùng đại sư Đạo-Hạnh thuật, trên cao nhất là các công chúa, phò mã, cho tới văn võ các quan đều ngẩn người ra. Thực vạn vạn lần họ cũng không ngờ các vua triều Lý lại giữ một bí ẩn ghê gớm về đất nước như thế.

Đạo-Hạnh tiếp:

– Bần tăng với sư huynh phải tìm trăm phương ngàn kế mới xin Hy-Ninh đế thưởng công trị tà, bằng cách ban cho ít đồng đen, chính mình chọn. Nhà vua truyền quan giữ kho dẫn sư huynh sư đệ bần tăng vào kho tả, trong khi ba mươi sáu hộp đồng để ở kho hữu. Bần tăng giả chọn đi chọn lại hết kho tả, mà cũng không được đồng như ý muốn. Viên thái giám đưa bần tăng với sư huynh sang kho hữu, thì hỡi ơi! Vừa vào kho, bần tăng đã thấy ngay.

Ngài lắc đầu:

– Ba mươi sáu cái hộp được đặt trên một bệ theo hình Tiên-thiên bát quái. Xung quanh đầy những tượng hổ, báo, rắn, cùng mô hình núi sông Đại-Việt. Anh em bần tăng vờ như không biết gì, sau khi lựa đồng, lẳng lặng cáo từ ra về, đến đêm báo cho Côi-sơn tam anh biết.

Đến đây, ngài đưa mắt cho Côi-sơn tam anh. Trần Phụ-Quốc tiếp:

– Khi được sư phụ báo tin, anh em thần tức tốc dùng chim ưng báo cho sư đệ Tự-Mai biết, vì chỉ người của Tự-Mai mới có khả năng đột nhập kho đồng hữu lấy ba mươi sáu cái hộp ra. Cái khó khăn là phải báo cách nào để qua được mắt công chúa Huệ-Nhu; vì công chúa với sư đệ luôn ở cạnh nhau như bóng với hình. Cuối cùng thần báo cho sư phụ (ghi chú: Đó là Trần Tự-An) biết. Lập tức người triệu sư đệ tới để dạy dỗ võ công, rồi nói cho y biết. Y giả rủ công chúa Huệ-Nhu lên đường sang Tống, rồi chính y điều động chân tay đột nhập kho đồng hữu, lấy ba mươi sáu cái hộp trao cho ba anh em thần mang về nước.

Nghe Phụ-Quốc thuật, mọi người như đang đi trong đêm, được đốt lên cây đuốc, nhìn rõ mọi vật. Bởi trước đây họ chỉ nghe nói hai vị được vua Tống ban đồng, rồi làm phép lấy hết kho đồng, rồi Hy-Ninh đế sai Tổng-lĩnh thị vệ Lý Hiến đem quân đuổi theo. Họ thắc mắc rằng dù võ công cao, làm sao hai vị có thể mang được hết kho đồng đi? Xá gì chút đồng mà nhà vua phải sai thị vệ đuổi theo?

Từ đầu đến cuối, ngài Minh-Không ngồi trầm tư, để ngài Đạo-Hạnh trình bầy. Bây giờ ngài mới nói:

– Ta đã tìm lại được tinh hoa linh khí mấy nghìn năm tộc Việt. Bần tăng đem đặt vào chỗ cũ của nó được mấy tháng nay. Còn ba mươi sáu cái hộp với bùa, bần tăng tìm ba mươi sái cái xương sọ của tướng sĩ Tống tử trận bỏ vào, rồi đem chôn ở khắp các cửa sông, cửa biển Đại-Việt làm quỷ trấn áp quân Trung-nguyên. Còn ba mươi sáu con trâu thì sẽ ném xuống đáy hồ Tây với tất cả tinh hoa võ công Đại-Việt, để làm thần trấn Thăng-long.

Thấy mọi người ngơ ngác không hiểu, ngài tiếp:

– Nguyên cách đây hơn năm, bần tăng có duyên hội ngộ với quốc sư Huệ-Sinh, lão tiên sinh Trần Tự-An, tiên nương Bảo-Hòa, Quan-âm Bình-Dương, Thái-sư Dương-Bình, phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn. Các vị đưa ra ý kiến rằng: Thời vua Hùng, phò mã Sơn Tinh đã chép tất cả võ công lại thành bộ Văn-lang vũ kinh; nhờ vậy mà sau này Bắc-bình vương Đào Kỳ tìm được, rồi đem quảng bá, mà không đến nỗi tuyệt tích. Thời Lĩnh-Nam, võ học tộc Việt cực thịnh, vua Trưng sợ sau này mai một đi, mới ủy cho Bắc-bình vương Đào Kỳ, tể tướng Phương Dung, công chúa Phùng Vĩnh-Hoa chép tất cả tinh hoa lại, thành bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Đến thời Thuận-Thiên, vua bà Bình-Dương, tiên nương Bảo-Hòa tìm lại được, rồi luyện thành.

Ngài dừng lại, móc trong túi ra một cái hộp, rồi mở ra. Trong hộp có một trăm cái thẻ đồng. Ngài chỉ vào thẻ đồng:

– Các vị đưa ý kiến: Hiện nay võ học Đại-Việt ta tối thịnh, cũng nên chép thành sách để lại cho đời sau. Các vị ủy cho Kinh-Nam vương, U-bon vương, Quan-âm Bình-Dương với bần tăng chép lại. Sau khi chép, mỗi vị giữ một bản. Bần tăng dùng nội lực khắc vào trăm cái thẻ đồng này một bản nữa. Bây giờ bần tăng dùng trăm thẻ, ba mươi sáu con trâu vàng, chôn ở đáy hồ Tây, làm vật trấn Thăng-long. Như vậy, vĩnh viễn từ nay cho đến muôn ngàn năm sau, Trung-nguyên không bao giờ có thể cai trị Đại-Việt ta quá hai kỷ.

Tây-hồ thất kiệt đều là đệ tử của Minh-Không bồ tát, Quy-Đức đại tướng quân Trần Di hỏi:

– Bạch sư phụ! Sư phụ, sư thúc đã đem linh khí từ phương Bắc về Thăng-long, con nghĩ mình nên yểm khiến Trung-nguyên vình viễn không chiếm được Đại-Việt lấy một ngày thì hơn là để Trung-nguyên cái trị mình hai kỷ.

Đại sư Minh-Không chiếu con mắt từ ái nhìn đệ tử:

– Thông minh! Sư phụ biết con có lòng son với nước, mà đặt câu hỏi đó. Nhưng con ơi! Trong những ngày sư phụ, sư thúc cùng với Côi-sơn tam anh thiết kế giả làm ma, làm quỷ khiến toàn thể người trong phủ Vương An-Thạch, trong nội cung Tống hóa điên, hóa khùng; lỡ tay làm quá khiến Thanh-Hư đạo trưởng với đại pháp sư Nguyên-Đăng chết oan. Nghiệp quả từ đó sinh ra, nên sau này Đại-Việt ta thế nào cũng bị Trung-nguyên cai trị nữa, trong khoảng hai kỷ.

Ghi chú,

Thuật Phong-thủy (Địa-lý) xuất phát từ Trung-quốc vào thời Chiến-quốc (thế kỷ thứ ba trước Tây-lịch). Cho đến đời Hán (thế kỷ thứ tư) đời Đường (thế kỷ thứ bẩy) thì cực thịnh. Hiện nay tại Hương-cảng, Đài-loan, Trung-quốc đã đưa vào đại học, vì có thể thử nghiệm được bằng khoa học.

Tương truyền Cao Biền sang cai trị nước ta, y đã yểm tất cả các thế đất phát đế vương, yểm tất cả các linh thần để diệt anh khí. Đến đời Lý, hai đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh sang vân du Trung-quốc, tìm ra nơi đặt bùa yểm, mới phá đi. Hai ngài nhân đó, phối hợp thuật Phong-thủy với Mật-giáo của nhà Phật thành một thuật mới, để giữ linh khí Đại-Việt trong việc bảo quốc. Về sau ngài Đạo-Hạnh đã dùng một phần của thuật này để thoát xác, đầu thai làm con của Sùng-hiền hầu, rồi lên làm vua, đó là vua Lý Thần-tông.

Sang đời Trần, thuật này càng thịnh, Thủy-Tiên công chúa (Dưỡng nữ đức thánh Trần, phu nhân Phạm Ngũ-Lão), đã dùng bắt sống tên Nguyễn Linh-Nhan.

Sau khi hết giặc Mông-cổ, Chiêu-Văn vương Trần Nhật-Duật, Hưng-Võ vương Trần Quốc-Hiến, Hưng-Nhượng Trần Quốc-Tảng chép lại thành sách, mang tên Vạn pháp quy nguyên. Bộ này được xử dụng như một thứ vũ khí quốc phòng, suốt đời Trần, đời Lê.

Đến triều Nguyễn, Vạn-pháp quy nguyên vẫn được coi như quốc sách giữ nước.

Khi vua Gia-long chiếm được nước, đã dùng thuật chép trong Vạn pháp quy nguyên để trấn áp linh khí triều Tây-sơn, ý định diệt tận gốc, không cho con cháu Tây-sơn trung hưng. Việc yểm này sử chép: Đem xương sọ của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang-Toản bỏ vào trong ba cái vò (chum, lu), cùng với nhiều bùa. Lại lấy máu một con vượn đen, ba con chó mực, bẩy con chồn hôi đổ vào vò, rồi dùng nhựa sắn thuyền bịt kín miệng. Trên nắp vò, dùng một thanh kiếm đâm sâu xuống xuyên qua xương sọ. Ngoài vò dán bùa, dùng xiềng; xiềng ba cái vò, đem giam trong ngục tối lẫn với các tử tội. Mỗi ngày một nhất đẳng thị vệ thân vào ngục kiểm soát. Hàng tháng, một vị đại thần thuộc Cơ-mật viện tới kiểm một lần. Các tử tội bị giam, đều cho biết ba ông vò rất thiêng. Cho đến cuộc chính biến năm 1885, vua Hàm-Nghi rời kinh thành ra đi, ba ông vò được di thần thời Tây-sơn ăn cắp đem đi gỡ bùa, rồi chôn cất cẩn thận.

Khi phụ thân giảng dạy cho tôi về thuật Phong-thủy, người chỉ có quyển thứ năm của bộ Vạn-pháp quy nguyên chép thuật Dương-trạch (để hướng nhà), cùng thuật trị bệnh tà. Nhưng người lại không phải là y sĩ, nên không hiểu nội dung thuật trị bệnh tà nói gì, dĩ nhiên không giảng cái thuật này cho tôi. Sau này học y khoa, tôi mới đem ra nghiên cứu lại.

Năm 1976, trong khi trị bệnh cho góa phụ một cựu công sứ từng cai trị Bắc-Kỳ, bà tặng tôi một số sách cũ của ông. Trong số sách đó có bộ Vạn-pháp quy nguyên. Bộ này ông cựu công sứ ghi chú ở đầu là Nhảm nhí, dị đoan. Tôi biết ông không hiểu nổi. Bởi sách viết với trình độ khoa học Đông-phương rất cao. Người đọc phải hiểu rất cặn kẽ bằng này vấn đề:

1. Về triết học, gồm bộ kinh Dịch, nhất là các thuyết âm dương, học thuyết ngũ hành, tiên thiên bát quái.
2. Về y học phải hiểu thấu bộ Hoàng-Đế nội kinh tố vấn, bộ Nạn-kinh, bộ Mạch-kinh.
3. Phải có kiến thức rất sâu về sử, về địa lý Hoa-Việt.
4. Phải có cái học rất rộng về thiên văn, lịch số, phong thủy.
5. Đủ kiến thức về kinh điển Phật-giáo.

Sách lại viết bằng văn đời Trần, một loại cổ văn trúc trắc, đầy điển cố. Xin cử một tỷ để độc giả hiểu rõ hơn: Như muốn học toán trình độ lớp 12, mà không biết gì về hình học, đại số, lượng giác thì sao học cho nổi.

Khi mới tìm được, tôi đem công bố vài chi tiết trên tờ Văn-nghệ tiền phong ở Hoa-kỳ, thì có rất nhiều độc giả viết thư đòi cho nghiên cứu. Chín phần mười những thư đó tôi không trả lời, vì bấy giờ tôi đã ba mươi bẩy tuổi rồi, mà những gì ông cha ủy cho làm, chưa được lấy một phần năm; tôi không thể ăn rồi ngồi viết hàng nghìn lá thư trả lời những thắc mắc về vấn đề ấu trĩ về học thuật Đông-phương. Tuy nhiên, có những người lịch sự, viết thư xin « trao đổi kinh nghiệm ». Tôi đồng ý tiếp. Khi đối diện, tôi mới bật ngửa ra rằng những vị đó nhìn cái cây đổ nằm ngang, cũng không biết rằng nó tượng trưng cho chữ nhất! Cũng có người rất giỏi về phong thủy đến tìm tôi, khi tôi đưa sách ra để cùng nghiên cứu, thì vị đó lại mù tịt về y học. Tuy nhiên, tôi cũng gặp được mươi vị ở Trung-quốc, vài vị ở Đài-loan, Hương-cảng, mươi vị người Việt kiến thức rất rộng để thảo luận về bộ này. Dĩ nhiên cuộc thảo luận đem lại cho tôi nhiều bài học quý giá. Trong các vị người Việt đó, có giáo sư Lương Kim-Định, sư phụ tôi là cố hòa thượng Chân-Thường, văn hữu Nguyễn Đức-Sách (Úc).

Sau khi nghiên cứu tường tận, tôi cảm thấy rùng mình. Vì những thuật đó ngoài chương dùng để trị bệnh tà ra, còn lại quá bá đạo, quá ác độc. Bản sư Chân-Thường khuyên tôi đừng đem ra thử. Bốn thân hữu tình nguyện làm vật thí nghiệm để xem nó ra sao. Sau khi tôi thử, cả bốn đều gặp những truyện thảm khốc. Từ đó tôi ngừng.

Thời gian 1980-1982, do tính bồng bột, tôi có đem vài thuật ra trừng trị một đại ma đầu trong làng báo ở Hoa-kỳ. Kết quả, y sống dở chết dở cho đến chết. Năm 1990 tôi lại trị một nữ ma đầu ở Ivry sur Seine thuộc Pháp; thị bị táng gia bại sản, thân bại danh liệt, trong khi tinh thần trở thành ngớ ngớ, ngẩn ngẩn, khật khật, khùng khùng. Mà ác một điều, tôi đã gỡ ra, mà thị vẫn không khỏi. Sau vụ này, quá hối hận, tôi tìm bản sư sám hối. Từ đấy tôi bỏ không đem ra thử nữa.

Tuy nhiên, tôi đã có chủ ý, tự hứa, đợi đến tuổi cổ lai hy, sẽ đem ra thử lại một lượt, rồi dịch, chú giải để lại cho hậu thế. Bấy giờ lỡ sự gì không hay xẩy đến, thì có chết cũng chẳng sao.

Trở lại với lời ngài Đạo-Hạnh, quả nhiên cuối đời Trần, sau khi đánh tan giặc Hồ Quý-Ly, người Minh cai trị Đại-Việt trong hai kỷ, từ 1407-1428. Rồi từ đấy về sau, không bao giờ họ có thể cai trị ta nữa.

Công chúa Thiên-Ninh hỏi đại sư Đạo-Hạnh:

– Hồi nãy đại sư phụ có dạy rằng đại sư phụ có thêm hai phương lược giữ nước nữa. Phương lược đem linh khí trở về là một. Vậy còn phương lược thứ nhì?

Minh-Không đáp ngay:

– Phương lược thứ bẩy, là vào thời vua Tống Nhân-tông, phía Bắc Trung-nguyên bị Liêu xâm chiếm, bắt cắt đất, nộp vàng lụa, lương thực rất nhiều. Nhà vua nhân đó sai văn thần soạn ra bộ sách đặt tên là Thiên-thư nghị chế (Xin xem NQSH hồi 41).Khi Vương An-Thạch còn tại chức, bấy giờ ta đang vây Ung-châu; y có sai bộ Lễ in ra mấy vạn quyển, truyền giảng cho quân sĩ, để họ tin rằng vua họ là con trời, ta là man di. Thạch quên mất một điều là trong phần nói về cương vực có đoạn minh thị rằng kẻ nào phá bỏ biên giới trời định thì sẽ bị thiên binh, thiên tướng giết chết. Hiện khắp quân, tướng Tống đều đọc qua bộ sách này. Vậy ta cũng nhân đó, cho người mang loa, đêm đêm hướng vào chỗ Tống đóng quân mà đọc để họ nghĩ rằng họ sang đánh Đại-Việt là phạm Thiên-thư. Điều này hợp với những gì anh em bần tăng đã làm, sẽ khiến quân Tống kinh sợ.

Rồi ngài dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai Linh-Nhân hoàng thái hậu, Đại-tư-mã Thường-Kiệt với công chúa Thiên-Ninh. Ba vị nghe xong đều cung tay:

– Diệu pháp. Trí tuệ đại sư phụ thực vô song.

Minh-Không bảo Thường-Kiệt:

– Thôi, Đại-tư-mã tiếp tục điều quân đi thôi.

Ghi chú,

Đại-Việt có hàng ngàn cao tăng đắc pháp thành bồ tát, nhưng hai thiền sư Minh-Không, Đạo-Hạnh được thiền sử tôn là thánh tăng. Hai ngài được thờ ở khắp nơi, được coi là hai vị tăng có tư tưởng nhập thế bậc nhất. Xét chung về hành trạng của hai ngài, tôi thấy hai ngài thoát ra ngoài khuôn khổ Phật-giáo Đại-thừa, Tiểu-thừa từ Ấn-độ truyền vào. Hai ngài đã hoà lẫn tinh hoa của Phật-giáo Ấn-độ vào với tinh hoa chủ đạo tộc Việt thành Phật-giáo Đại-Việt, với tinh thần nhập thế, đem đức từ bi hỷ xả của đức Thế-tôn bảo vệ đất nước.

Vua Lý Thánh-tông làm chùa Thiên-phúc niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ 4 (1058) ngài Đạo-Hạnh tu ở đây. Vua Lý Nhân-tông không có con trai, xuống chiếu chọn con trai trong hàng tôn thất để lập làm thái tử. Em vua là Sùng-hiền hầu cũng chưa có con trai. Bấy giờ thánh tăng Đạo-Hạnh đến chơi nhà hầu. Hầu tỏ ý muốn có con trai. Ngài dặn : « Bao giờ phu nhân sắp lâm bồn thì báo cho bần tăng biết ». Ba năm sau phu nhân của Sùng-hiền hầu họ Đỗ có thai. Lúc lâm bồn trở dạ mãi không đẻ được. Hầu nhớ lời ngài Đạo-Hạnh dặn trước, vội sai người báo với ngài. Lập tức ngài tắm rửa, rồi vào hang xuất hồn đầu thai làm con Sùng-hiền hầu. Phu nhân sinh ra con trai ngay sau đó, đặt tên là Lý Dương Hoán. Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (1117) Dương-Hoán được vua Lý Nhân-tông lập làm thái tử. Khi vua Lý nhân-tông băng, thái tử Dương-Hoán lên nối ngôi vua, tức vua Lý Thần-tông.

Thời còn là thái tử, vua Lý Thần-tông bị bệnh Zonna, đau đớn gầm thét như cọp, da sần xùi trông giống da cọp, nên người đương thời đồn rằng ngài hóa hổ. Bấy giờ trong dân gian trẻ con truyền nhau hát rằng:

Tập tầm vông,
Có sư Nguyễn Minh-Không,
Chữa được bệnh thái tử.

Triều đình sai sứ về Thần-quang tự mời ngài Minh-Không tới Thăng-long trị bệnh cho thái tử. Bệnh khỏi. Khi thái tử lên ngôi vua, phong ngài Minh-Không làm Quốc-sư, truyền lập đền thờ sống. Đền đó nay là chùa Quán-sứ, ở số 73 phố Quán-sứ Hà-nội.

Đó là truyện sau.

Hầu như các chùa miền Bắc đều thờ hai ngài, cho đến nay (1995) tôi còn ghi lại được những chùa, đền chính thờ hai ngài.

1. Chùa Chúc-thánh.

Hay còn gọi là chùa Phả-lại ở trên núi xã Phả-lại, huyện Quế-dương, tỉnh Bắc-ninh.

Tài liệu

Xin xem phần nói về chùa Chúc-thánh trong hồi này.

2. Chùa Quán-sứ.

Trước kia thuộc thôn Yên-tập, huyện Thọ-xương, Hà-nội. Nay tọa lạc tại số 73 phố Quán-sứ, Hà-nội. Khởi đầu là ngôi đền, được kiến tạo do sắc chỉ của vua Lý Thần-tông để thờ sống Minh-Không thiền sư. Đời vua Trần Dụ-tông (1341-1369), công quán để đón tiếp sứ giả Chiêm-thành, Vạn-tượng, Nam-chưởng v.v. gần đền, nên vua ban sắc xây ngôi chùa ngay trước đền để các sứ giả lễ Phật, vì vậy chùa mang tên là Quán-sứ.

Tài liệu

– Thăng-long cổ tích khảo,
– Hoàng Việt địa dư chí,
– Đại-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Hà-nội sơn xuyên phong vực,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– La-thành cổ tích vịnh.



Chùa Quán-sứ

3. Nguyễn Minh-Không từ

Đền thờ quốc sư triều Lý Nguyễn Minh-Không, tại xã Điềm-xá, huyện Gia-viễn, tỉnh Ninh-bình. Đền được kiến tạo niên hiệu Đại-định thứ 2 (1141) đời Lý Anh-tông.

Tài liệu

– Đại-Việt sử ký toàn thư (Lý kỷ, Thần-tông bản kỷ),
– Ninh-bình sử tích,
– Ninh-bình toàn tỉnh địa chí khảo biên,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Đồng-khánh địa dư chí lược.

4. Quốc-thanh tự

Toạ lạc ở thị xã Ninh-bình. Chùa được kiến tạo trước năm 1077.

Tài liệu

– Thiền-uyển tập anh,
– Nam ông mộng lục,
– Việt điện u linh,
– Lĩnh-Nam chích quái,
– Thiên-Nam văn lục liệt truyện.

5. Hào-khê tự

Ở xã Hào-khê, huyên Ninh-giang, nay là Ninh-thanh, tỉnh Hải-hưng. Chùa từng là nơi trụ trì của ngài Minh-Không. Như vậy chùa phải được xây ít nhất vào khoảng 1077 là năm xẩy ra chiến cuộc Tống-Việt.

Tài liệu

– Hải dương tỉnh thần tích.

6. Lạc-lâm tự

Ở núi Không-lộ, huyện Thạch-thất, tỉnh Sơn-tây, nay thuộc Hà-nội. Theo ĐNNTC thì ngài Từ Đạo-Hạnh xuất hồn tại đây để đầu thai làm con Sùng-hiền hầu (Thuyết này không đúng). Như vậy chùa phải được kiến tạo trước năm 1077 là năm đang xẩy ra chiến cuộc Tống-Việt.

Tài liệu

– Thiền-uyển tập anh,
– An-Nam chí nguyên,
– Lê triều ngự chế quốc âm thi,
– Ngự đề Lạc-lâm thi,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược.

7. Thần-quang tự

Còn gọi là chùa Keo. Có hai chùa Keo. Cả hai chùa đều thờ ngài hai. Nhưng chùa Keo dưới to lớn hơn, liên hệ tới lịch sử nhiều hơn. Hai chùa cách nhau bởi con sông Thái-bình. Nếu đi bằng đường bộ thì xa nhau diệu vợi. Còn đi bằng đường thủy, thì chỉ cách nhau một quãng nửa giờ.

Chùa Keo dưới hay chùa Keo Giao-thủy, ở xã Vũ-ghĩa, huyện Vũ-thư, tỉnhThái-bình. Chùa do ngài Minh-Không xây dựng năm Chương-thánh Gia-khánh thứ ba (1061) đời vua Lý Thánh-tông. Lúc đầu chùa mang tên Nghiêm-quang. Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ năm (1167) vua Lý Nhân-tông nhớ ơn ngài Minh-Không chữa trị cho vua Thánh-tông với Linh-Nhân hoàng thái hậu, nên mới có ngài. Ngài đến lễ chùa, tu sửa, đổi tên là Thần-quang. Độc giả NQSH là Phật-tử, hay theo bất cứ tôn giáo nào, nếu có dịp cũng nên tới hành hương tại đây để được thấy một kiến trúc cổ, mang đầy di tích lịch sử.

Tài liệu

– Thái-bình địa dư,
– Nam-định tỉnh địa dư chí,
– Hành-thiện xã chí.


Chùa Keo hay Thần-quang tự

8. Diên-phúc tự

Còn gọi là chùa Keo trên, chùa Keo Giao-thủy, ở ấp Giao-thủy, hương Hải-thanh thời Lý, nay là thôn Hành-thiện, xã Xuân-hồng, huyện Xuân-thủy, tỉnh Nam-Hà. Khởi đầu chùa do vua Lý Nhân-tông ban sắc kiến tạo niên hiệu Thiên-phù Duệ-vũ thứ 2 (1121) gọi là chùa Diên-phúc. Niên hiệu Thiệu-Minh thứ nhất (1138) vua Lý Anh-tông ban sắc chỉ tu bổ. Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (1167) lại xuống chiếu trùng tu, đổi tên là chùa Viên-quang, đổi tên ấp Giao-thủy là Hộ-xá. Đến năm Tự-Đức thứ 5 (1865) bờ sông bị lở, dân Hộ-xá dời chùa đến địa điểm hiện nay. Xã Hộ-xá sau đổi là Nghĩa-xá, đến triều Nguyễn đổi là xã Hành-thiện, huyện Xuân-trường, tỉnh Nam-định.

Tài liệu

– Thiền-uyển tập anh,
– Thánh-tổ hành thực diễn âm ca,
– Lĩnh-Nam chích quái.

9. Không-lộ tự

Tọa lạc ở cuối núi Hân, xã Chính-đại, huyện Tống-sơn, tỉnh Thanh-hóa. Tôi không tìm được năm kiến tạo.

Tài liệu

– Thanh-hóa tỉnh chí,
– ĐNNTC,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược.

10. Dương-nham tự

Tọa lạc ở động núi xã Dương-nham, huyện Hiệp-sơn, nay là xã Kính-chủ, huyện Kim-môm, tỉnh Hải-hưng. Tôi không tìm được năm kiến tạo. Đây là một danh thắng rất đẹp.

Tài liệu

– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Kim-văn loại tụ,
– Toàn Việt thi lục,
– Dương-nham khắc thạch.

11. Bản-tịch tự

Ở thôn Bình-lương, xã Đình-loan, huyện Văn-lâm, tỉnh Hải-dương, nay là tỉnh Hải-hưng. Chùa được kiến tạo do sắc chỉ của vua Lý Thần-tông (1128-1138).

Tài liệu

– Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.

12. Bối-am tự

Ở núi Sài-sơn, xã Thiên-phúc, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai, nay là huyện Quốc-oai, tỉnh Hà-sơn-bình. Hồi sinh tiền, ngài Từ Đạo-Hạnh có đến ngụ tu một thời gian, nên người sau huyền thoại rằng đây là nơi ngài hoá thân (Không đúng).

13. Chiêu-thiền tự

Còn gọi là chùa Láng, ở xã Yên-lãng, huyện Từ-liêm, nay thuộc quận Đống-đa, Hà-nội. Nguyên hồi chưa đi tu, sư Đại-Điên (tức Đinh Kiếm-Thương) đã giết phụ thân ngài Từ Đạo-Hạnh là Từ Vinh. Sau này ngài gặp y ở địa điểm này, và giết chết y để báo thù. Vua Lý Thần-tông (1128-1138) ban sắc chỉ kiến tạo chùa để ghi nhớ sự tích và công ơn ngài Từ Đạo-Hạnh, cũng là tiền thân của vua. Hiện chùa còn mấy cây muỗn trồng từ đời Trần. Đây là nơi mà thời thơ ấu thuật giả thường ra nô đùa với các bạn cùng lứa tuổi.

Tài liệu

– Thiền-uyển tập anh,
– Hoàn-long huyện chí,
– An-lãng Chiêu-thiền tự,
– Hà-nội địa dư,
– Ngoại truyền kỳ lục,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Thăng-long cổ tích khảo,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Hoàng-Việt địa dư chí,
– La-thành cổ tích vịnh,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích.


Chiêu-thiền tự hay chùa Láng

14. Minh-Không thiền sư từ

Ở xã Cổ-đam, huyện Ý-yên, tỉnh Nam-hà. Đền được xây vào đời vua Lý Thần-tông (1128-1138), để tưởng nhớ công ơn ngài trị bệnh cho vua.

Tài liệu

– ĐVSKTT, Lý kỷ
– Đại-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Đồng-khánh địa dư chí lược.

15. Đền thờ Minh-Không thiền sư

Ở xã Hán-triền (Hay Hán-lý), huyện Vĩnh-lại, tỉnh Hải-dương, nay thuộc huyện Vĩnh-bảo, Hải-phòng. Tương truyền Minh-Không thiền sư hóa thân ở núi Tam-viên thuộc xã này, nên dân chúng lập đền thờ.

Tài liệu

– ĐVSKTT, Lý kỷ.
– Đại-Việt địa chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Đại-Nam nhất thống chí.

16. Thiên-phúc tự

Còn có tên là chùa Thầy. Chùa ở núi Sài-sơn (hay Thạch-thất, hay Phật-tích) thuộc địa phận hai xã Thiên-phúc, Thụy-Khuê, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai. Nay là xã Sài-sơn, huyện Quốc-oai, tỉnh Hà-sơn-bình.

Đây là nơi ngài Từ Đạo-Hạnh xuất hồn đầu thai làm vua Lý Thần-tông. Trong các đền, chùa thờ hai ngài, thì đây là chùa chính. Sau khi ngài hóa, xác vẫn còn. Năm 1407, bọn Trương Phụ, Mộc-Thạch chiếm Đại-Việt mới đem xác này đốt đi. Tương truyền chúng phải đốt ba ngày mới cháy hết.

Tài liệu

– ĐVSKTT, Lý kỷ,

– Sơn-tây tỉnh chí,
– Hoàng-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Đồng-khánh địa dư chí lược,


Thiên-phúc tự hay chùa Thầy

Đại tư mã Lý Thường-Kiệt hỏi chư tướng:

– Trước đây tôi chỉ định trấn tại phòng tuyến Như-nguyệt là Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn Căn với phu nhân Vũ Thanh-Thảo. Lực lượng gồm hai hiệu Bổng-thánh của Mai Cầm, Phương-Đơn; hiệu Bảo-thắng của Quách Y, Phương-Tiên. Trấn Như-nguyệt kỳ này coi như lành ít, dữ nhiều. Nay tôi muốn chọn lấy hai tướng tình nguyện. Vậy ai có thể nhận trọng trách một đi không về này?

Lập tức chư tướng đều dơ tay tình nguyện. Thường-Kiệt không biết giải quyết ra sao, ông đưa mắt hỏi ý kiến Linh-Nhân hoàng thái hậu. Thái-hậu lại đưa mắt hỏi công chúa Thiên-Ninh. Công chúa cảm động:

– Thế mới biết anh linh thần vũ của tộc Việt ta mạnh vô cùng. Trấn ở Như-nguyệt không cần tài trí, mà cần quyết tâm, can đảm. Xét trong chư tướng đây, ai cũng có đầy đủ hai đức tính đó. Thần xin Thái-hậu cho chư tướng rút thăm. Ai trúng thì được lĩnh cái vinh dự này.

Mai Cầm, Quách Y đỏ mặt lên cãi:

– Trước đây Đại-tư-mã đã chỉ định hai chúng thần rồi, tại sao bây giờ lại cho rút thăm? Như vậy là bất công. Chúng thần không chịu.

Mặc hai tướng cãi, cử tọa nhất định đòi rút thăm. Cuối cùng hai đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh được cử ra chủ trì cuộc tuyển chọn này. Tất cả có mười một tướng thống lĩnh mười một hiệu Thiên-tử binh, một tướng thống lĩnh kị binh, mười tướng thống lĩnh các hiệu binh của châu-lộ, bốn đô đốc. Tổng cộng 26 tướng.

Đạo-Hạnh để 26 thăm vào trong cái hộp, rồi ngài nâng hộp lên ngang mày khấn:

– Xin liệt tổ 88 đời vua Hùng, vua An-Dương cùng chư đại thần, vua Trưng cùng 162 anh hùng... xin anh linh liệt tổ chọn cho hai tướng xứng đáng để trấn ở phòng tuyến Như-nguyệt.

Khấn xong ngài bảo ưng binh:

– Gọi cho thầy một chim ưng.

Ưng binh rút tù và ra thổi lên tu tu, lập tức có một chim ưng từ ngoài bay vào đậu trên tay ngài. Ngài nói:

– Trong hộp này có 26 thăm, thì 24 thăm trắng, còn hai thăm bần tăng vẽ con rồng. Ai được chim ưng rút cho thăm có con rồng, thì sẽ lĩnh vinh hạnh trấn Như-nguyệt.

Thế rồi ngài chỉ tay vào cái hộp, chim ưng nhặt thăm đưa đến tận tay các tướng. Sau khi 26 tướng nhận thăm rồi, ngài hô:

– Mở thăm ra.

Chư tướng mở thăm cùng một lúc. Đúng là có người mà cũng tại trời, hai tướng Mai Cầm, Quách Y trúng thăm có con rồng. Hai tướng chắp tay hướng lên trời:

– Đa tạ Quốc-tổ, Quốc-mẫu đã chọn chúng con.

Chư tướng đều đưa lời chúc tụng hai tướng.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tới bên hai tướng, ngài nắm lấy vai hai tướng, trong khi nước mắt chảy xuống đôi gò má:

– Chị biết chính khí chư tướng hào hùng vô tận. Chị cũng biết hai em do liệt tổ chọn. Nay hai em được tận trung báo quốc, chị mừng cho hai em. Nhưng này, hai em đã nghĩ kỹ chưa?

Hai tướng quỳ gối rập đầu xuống đất:

– Chúng em là những trẻ mồ côi, lang thang vô sở bất chí, được hậu thương yêu như con. Hậu nuôi dạy bọn em, gây dựng hạnh phúc sự nghiệp cho bọn em. Nay hậu thấy bọn em sắp chết, mà lòng không nỡ. Nhưng hậu ơi! Con người ta ai cũng phải chết, không chết bằng cách này, thì cũng chết bằng cách kia. Nay chúng em được chọn cái chết vinh dự nhất, thì thực là trời cho bọn em. Hậu cứ để cho các em ra đi.

Linh-Nhân hoàng thái hậu bảo Mai Cầm, Quách Y:

– Hai em xòe bàn tay ra nào!

Hai tướng xòe bàn tay ra trước mặt hậu. Ngài nắm lấy bàn tay hai tướng, đưa lên miệng cắn sẽ một cái:

– Hồi gặp các em ở hồ Tây, chị đã cắn bàn tay các em, để sau này đi đâu, các em cũng không quên chị. Bây giờ chị lại cắn nữa, để không bao giờ chị em ta quên nhau.

Thường-Kiệt đứng lê tóm tắt:

– Tôi xin nhắc lại năm điều.

Trong phòng im phăng phắc.

– Một là, chưa biết ngày mười chín tháng giêng, giờ Thìn, quân Tống sẽ vượt biên đánh xống Thăng-long hay không ? Nhưng tôi biết chắc rằng chúng phải tiến quân cho nhanh, vì sang tháng ba, trời bắt đầu nóng, mà chưa chiếm được Đại-Việt, thì chúng phải lui quân, nếu không thì bộ, kị binh sẽ bệnh mà chết hết. Bằng lui quân thì bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết sẽ bị xử trảm. Chủ tâm của chúng là phá vỡ Như-nguyệt, rồi dùng kị binh tiến khẩn cấp về Thăng-long, bộ binh tiến sau. Quân tân-đằng-hải sẽ đánh chiếm các xã ấp để kiếm lương, dân phu.

Ông chỉ vào tướng Nguyễn Căn:

– Tổng trấn tại Như-nguyệt là Trấn-Bắc thượng tướng quân Tản-viên hầu Nguyễn Căn. Lực lượng thống thuộc gồm có hai hiệu Thiên-tử binh Bổng-thánh, Bảo-thắng, mười dàn Thần-nỏ, một hiệu thú binh gồm sáu sư Phong, Tượng, Ưng, Hổ, Báo, Ngao. Về cao thủ gồm bốn đại sư Viên Căn, Viên Mộc, Viên Chi, Viên Diệp chùa Báo-ân; Hùng Nhân, Hùng Nghĩa, Hùng Lễ, Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền. Đặc biệt còn nghìn đệ tử của trường Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản, do phu nhân Vũ Thanh-Thảo chỉ huy.

Ông chỉ vào công chúa Thiên-Ninh:

– Kế tiếp Như-nguyệt là vòng đai bảo vệ Thăng-long, do công chúa Thiên-Ninh chỉ huy. Lực lượng trực thuộc có hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, kị-binh, hiệu binh địa phương Hồng-châu trấn ở Cổ-pháp; hiệu Thiên-tử binh Quảng-thánh, hiệu binh địa phương Sơn-Nam phân tán vào các xã cùng hoàng nam đánh vào hông địch. Yểm trợ cho Cổ-pháp còn có mười dàn Thần-nỏ, sáu sư thú, một nghìn đệ tử phái Tản-viên.

Các tướng im lặng, dù không phải lệnh của mình cũng phải nghe cho rõ, để còn biết mà phối hợp.

– Hai là, mặt Phú-lương, Nham-biền. Ở đây Tống chỉ hư trương thanh thế. Ta nhân đó dùng toàn lực đánh chúng. Mặt Phú-lương do phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên trấn giữ. Lực lượng trực thuộc có hai hiệu Thiên-tử binh Vũ-thắng, Bổng-nhật; 10 dàn Thần-nỏ, sáu sư thú binh; tăng viện thêm bốn cao thủ Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng; một ngàn cao thủ phái Tiêu-sơn. Bằng mọi giá phải giữ vững mặt này, nếu như vì lý do gì để Tống phá vỡ phòng tuyến Phú-lương, thì Thăng-long lâm nguy, bởi phía sau không còn lực lượng nào nữa.

Công chúa Động Thiên chỉ vào phò mã Hoàng Kiện; Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên; Lý Tứ, Mai Tứ; Trần Di, Phương Lý:

– Đại huynh đừng lo. Tống chỉ có thể vượt Phú-lương, khi tất cả chúng em bị tan thây mà thôi.

Chư tướng vỗ tay.

– Ba là mặt Nham-biền. Mặt này của Tống là hư. Còn ta, thì ta đánh như sét nổ, diệt các đạo binh Tống ở Nham-biền, rồi tiến về Như-nguyệt. Mặt này do Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương tổng chỉ huy. Lực lượng thống thuộc gồm năm hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải, Long-dực, Hùng-lược, Vạn-tiệp, Thần-điện; đội Thần-tiễn Long-biên, đội Giao-long Tây-hồ; một nghìn võ sĩ phái Đông-a; hạm đội Thần-phù.

Trung-Thành, Tín-Nghĩa cùng chư tướng đứng dậy nhận lệnh.

– Bốn là, Khu-mật viện sẽ dùng chim ưng đem lệnh cho phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiêm-Thành đem quân vượt biên đánh sang Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu để dọa Tống. Công chúa Côi-sơn, phò mã Tôn Mạnh đánh chiếm Quyết-lý; Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi sẽ đánh Chi-lăng, cắt đường lui quân tiếp tế lương thảo của Tống.

– Năm là đội công tác đặc biệt, do quan Thái-phó Quách Sĩ-An chỉ huy với đội cao thủ trường Thái-hà dàn ra từ Phú-lương tới Như-nguyệt, Nham-biền, ngày đêm dùng loa đọc bộ Thiên-thư nghị chế thời Tống Nhân-tông cho binh tướng giặc nghe. Không biết quan Thái-phó có điều gì thắc mắc không?

Quách Sĩ-An là quan văn, bây giờ được lệnh ra trận, ông vui mừng chi siết kể:

– Đại-tư-mã có nhã ý cho tôi ra trận, thực thâm cảm vô cùng. Tôi có đề nghị này: Nhiều người trong chúng ta biết nói tiếng Hoa, nhưng nói tiếng Hoa Biện-kinh thì ít ai nói trôi chảy văn chương. Tôi từng đi sứ, đã học nói tiếng Biện-kinh, nhưng nội lực không làm bao để có thể phát thanh vượt sông đến trại Tống. Ở đây, ta có ba vị, không những võ công cao cường, nội lực xung mãn, mà văn chương quán thế, nói tiếng Biện-kinh như người Tống. Xin Đại-tư-mã mời ba vị ấy cùng làm với tôi thì hay biết bao.

Mọi người cùng đổ dồn mắt nhìn Côi-sơn tam anh. Linh-Nhân hoàng thái hậu biết Thường-Kiệt là sư điệt, nên không dám sai ba đại sư bá. Hậu định lên tiếng, thì Phụ-Quốc đã nói:

– Quan Thái-phó đã có ý kiến ấy, thì chúng tôi đâu dám từ. Được! Vậy thế này, chúng tôi dẫn đệ tử, trường Thái-hà đi phát thanh. Còn quan Thái-phó thì nghiên cứu, rồi viết ra bản văn, để chúng tôi phát thanh cho thống nhất.

Buổi hội chấm dứt.

Tết Đinh-Tỵ năm nay trên khắp đất nước Đại-Việt, gần như dân chúng không còn tâm trí nghĩ đến ăn uống, vui mừng, vì cái tin 40 vạn quân Tống, 60 vạn bảo binh, dân phu đã tràn đến Bắc sông Như-nguyệt. Chúng như đàn hổ đói, đang rình rập, chờ dịp thuận tiện là nhảy xuống ăn thịt dân Thăng-long.

Nhưng trưa mùng một, mõ khắp nơi cùng rao rằng: Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương đã đột kích quân Tống giữa đêm giao thừa. Giặc chết đến hơn sáu vạn. Sau đó, khắp các trấn, các huyện, các làng... các thầy đồ kể truyện cho dân chúng nghe về chi tiết trận đánh. Trong quân, thì các vị sư trưởng, đạo trưởng tập họp quân sĩ lại kể cho họ nghe.

Dân chúng bớt lo sợ, người người hăm hở lo phòng bị giữ làng khi giặc tới.

Ngay đêm mùng một, sang ngày mùng hai, mõ lại rao một tin lạ lùng vô cùng:

« Hai đại bồ tát Minh-Không, Đạo-Hạnh trong khi vân Trung-thổ đã trị bệnh, trừ tà trong thành Biện-kinh. Vua Tống cúng dàng một kho đồng. Đây không phải đồng bình thường, mà là tinh hoa linh khí Trung-thổ kết tinh mà thành. Hai ngài đã dùng đồng đó để đúc: Nam thiên tứ khí. Tứ khí gồm một tượng Phật cao hai trượng, một cái vạc nặng ba vạn cân, một cái chuông ngân thiên, và đỉnh tháp Báo-thiên. Với Nam thiên tứ đại thần khí, thì chư thiên, chư bồ tát, chư thần sẽ giáng hạ đánh tan giặc Tống. Dân chúng muốn biết rõ chi tiết hãy đến các quán trà, các trường học mà nghe thầy đồ kể rõ ngọn nguồn ».

Dân chúng lại ào ào đến các trường, các quán trà nghe thấy đồ kể truyện. Trong quân, thì các cấp chỉ huy họp tướng sĩ để giảng giải. Thế là khắp Đại-Việt, chỗ nào cũng nghe nói về Nam thiên tứ đại thần khí.

Tại rừng Bắc-biên, nơi ém quân của hiệu binh Quảng-vũ ở trong rừng Bắc-biên.

Từ hôm được chỉ dụ của Linh-Nhân hoàng thái hậu truyền rút quân vào ẩn trong rừng, chờ khi có lệnh, sẽ đánh vào hậu quân địch đến giờ; Phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiên-Thành; phò mã Tôn Mạnh, công chúa Côi-sơn; Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi, quận chúa Phương-Quỳnh; đô thống Lý Tam và phu nhân... phân tán quân ra thành từng tốt (100 người), rồi cho ẩn vào các trang động Bắc-biên chờ lệnh.

Lúc được lệnh rút quân vào rừng, Đinh Hoàng-Nghi bàn với Phương-Quỳnh, Chang-Lan rằng: Vi Thủ-An hàng Tống thực, nhưng nay y chết rồi, mà mấy chục trang động thống thuộc y thì bất mãn vì Tống bắt dân phu, thu lương, nên vẫn anh hùng một cõi. Chúng ta cử sứ giả tới liên lạc với họ, giúp đỡ, bảo vệ họ; như vậy ta vừa được dân, vừa có lương thực nuôi quân.

Thế là hầu thì lưu động nay đây, mai đó, trong khi Phương-Quỳnh hoạt động ở phía Đông, Chang-Lan hoạt động ở phía Tây-Bắc, vợ chồng Lý Tam hoạt động ở vùng Chi-lăng.

Tuy ẩn ở các trang động trong rừng, nhưng tết Đinh-Tỵ, Hoàng-Nghi cũng cho binh, tướng ăn tết rất đầy đủ. Sáng mùng hai, quân báo rằng có cố nhân từ Thăng-long lên thăm. Hầu vội ra đón, thì ra sư Viên-Căn ở chùa Báo-ân. Cố nhân gặp nhau, hầu quên cả lễ nghi, chạy ra ôm lấy sư:

– Sư huynh! Sư phụ vẫn thường an lạc chứ? Sư bá Mộc-tồn vẫn mạnh khoẻ chứ? Làng Siêu-loại ta vẫn an ninh chứ?

– Tất cả đều được Phật-tổ hộ trì vô sự. Sư bá sai sư huynh lên gặp hầu có truyện khẩn.

Đối với bọn mãi quốc cầu vinh, bọn tham quan ác bá, thì Mộc-tồn hòa thượng cực kỳ nghiêm khắc. Nhưng đối với đệ tử, thì ngài lại cực kỳ ôn nhu, yêu thương. Trong Long-biên ngũ hùng, ngài thương Hoàng-Nghi nhất. Nên nay nghe thấy sứ giả của ngài lên truyền lệnh, hầu vội ngồi ngay ngắn lại:

– Sư bá truyền cho đệ phải làm gì đây?

Viên Căn ghé miệng vào tai Hoàng-Nghi thuật một lúc. Hoàng-Nghi gật đầu tỏ ý hiểu. Ngay chiều hôm đó, hầu tập trung binh tướng lại cho Viên-Căn tường thuật tình hình miền xuôi.

Sau khi tường thuật hai đề tài lớn:

– Một là trận đột kích đêm Giao-thừa của Trung-Thành, Tín-Nghĩa nhị vương.

– Hai là vua Đường sai Cao Biền sang Đại-Việt yểm hết các thế đất linh, lấy tất cả tinh hoa linh khí bỏ vào bụng ba mươi sáu con trâu vàng đem về giam núi Thái-sơn. Đến đời vua Tống Thái-tông, vì thất trận nên sai đào trâu mang về yểm ở trong Hoàng-cung, hy vọng tuyệt hết linh khí Đại-Việt. Trong dịp hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh vân du Trung-thổ, trừ tà tại Hoàng-cung Tống, được nhà vua cúng dàng đồng đen. Hai ngài làm phép lấy hết một kho đồng đem về Đại-Việt. Nhân đó hai ngài đoạt ba mươi sáu con trâu chứa tinh hoa anh linh tộc Việt, rồi đem về đặt vào chỗ cũ. Hiện linh khí Đại-Việt đang sáng rực trời Nam.

Hôm sau sư Viên-Căn thuật việc hai thánh tăng đem đồng đen về đúc bốn bảo khí của Đại-Việt:

Thần khí thứ nhất

« Thần khí thứ nhất mà ngài đúc là đỉnh tháp Đại-thắng Báo-thiên. Tháp nằm trong khuôn viên chùa Sùng-khánh Báo-thiên. Chùa Sùng-khánh Báo-thiên dựng vào tháng tư, năm Bính-Thân, nhằm niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ ba đời đức Thánh-tông (1056). Sở dĩ chùa có tên Báo-thiên, vì ngày lễ Thượng-nguyên, tức rằm tháng giêng năm ấy, vua xa giá ra hồ Tây xem cá. Khi đến bờ đê, thì gặp một người trang phục như thằng điên, mắng vua rằng: Nhà vua làm chúa trời Nam, sao không tu đức, sửa sang chính sự, mà lại rong chơi? Như vậy là làm gương xấu khiến cho bọn quan lại tham ô, hà hiếp dân chúng. Ta là thần, được thượng đế sai xuống giữ việc mưa nắng vùng này. Nay thấy dân khổ, nên hiện ra báo cho vua hay. Lập tức đức Thánh-tông bỏ cuộc đi chơi, trở về giảm yến tiệc, giảm chi tiêu nội cung, cách chức bọn tham quan, sai làm chùa để tạ ơn trời. Chùa mang tên Sùng-khánh Báo-thiên là tích đó. Nơi tọa lạc chùa, được mang tên phường Báo-thiên, thuộc thôn Tiên-thị, huyện Thọ-xương, Thăng-long.

Năm sau, Đinh-Dậu, niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ tư (1057) đức Thánh-tông lại cho dựng tháp ở trong sân chùa. Tháp cao hai mươi trượng (40 mét), gồm 12 tầng. Nay hai thánh tăng lấy đồng đen, là tinh hoa linh khí núi Thái-sơn bên Trung-nguyên đúc cái đỉnh tháp. Từ khi đỉnh tháp được an vị, linh khí Trung-nguyến, tinh đẩu phương Bắc đều chiếu về trời Nam. Hiện, đêm đêm hào quang chiếu sáng rực đất Thăng-long.

Ghi chú

Chùa Sùng-khánh Báo-thiên, tháp Báo-thiên cho đến đời Trần vẫn còn. Nhà thơ Phạm Sư-Mạnh, cuối đời Trần có làm bài thơ Đề Báo-thiên tháp như sau:

Trấn áp Đông, Tây củng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.
Sơn hà bất động kình thiên trụ,
Kim cổ nan ma lập địa chùy.
Phong bãi chung linh thời ứng đáp,
Tinh di đăng chúc, dạ quang huy.
Ngã lai dục thử đề danh bút,
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.

Đào Thái-Tôn dịch như sau:

Trấn áp Đông, Tây giữ đế đô,
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ.
Non sông vững chãi tay trời chống,
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô.
Thỉnh thoảng gió lay, chuông ứng đáp,
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ.
Tới đây những muốn dầm ngòi bút,
Chiếm cả giòng sông mài mực thơ.

Năm 1406, vì giặc Hồ Quý-Ly cướp ngôi nhà Trần, linh khí trời Nam mất hết, đỉnh tháp bị gẫy rơi xuống. An-phủ-sứ Đông-đô là Lê Khải thấy đềm gở, không dám báo cho giặc Hồ biết, vì vậy bị biếm một tư. Sau đó đỉnh tháp được hàn, đem lên như cũ.

Năm 1427, quân Minh bị Bình-Định vương Lê Lợi vây ở Đông-đô (Thăng-long) chúng cho rằng tháp Báo-thiên là nơi hút linh khí thiên hà, vì vậy vương thành công, chúng phá tháp với hy vọng tuyệt linh khí trời Nam; nhưng thác rằng lấy đồng làm súng. Chỗ nền tháp được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

Đến cuối thời Lê, chùa bị bỏ hoang phế. Khu đất gần nền tháp cũ biến thành chợ, gọi là chợ Tiên. Đến thời Tây-sơn, năm Giáp-Dần, 1792, dân chúng đào gò lấy gạch, đá; tu bổ thành Thăng-long, nhặt được tượng đá chạm hình tiên, chim muông, chén bát sứ không biết bao nhiêu mà kể. Trên gạch đào được có chữ « Lý gia đệ tam đế Long-thụy Thái-bình tứ niên tạo » (Làm năm Long-thụy Thái-bình thứ tư đời vua thứ ba nhà Lý).

Định-vương Trịnh Căn có bài thơ Đề Báo-thiên tự như sau:

Tứ bề chăn ngắt gấm chương sinh,
Cảnh lạ mười phân, chín khác thường.
Thăm thẳm liên đài, nhuần diệu sắc,
Thênh thênh phúc chỉ nức thanh hương.
Vậy nên cõi phép trừng tha tính,
Tốt được lòng người lạc thiên phương.
Gió đạo thổi đưa hòa hây hẩy,
Trong khi ngoạn thưởng rất thư lương.
Bình phong tám bức mọi đồ thâu,
Đầm ấm trời xuân ngọc một bầu.
Mây thụy soi soi truyền bảo các,
Non nhân rắp rắp đối chung lâu.
Mở đường tế độ là ơn rộng,
Song cửa từ thông tỏ đạo mầu.
Thắng lãm luận đây làm phẩm nhất,
So trong tỉnh giới há nhường đâu.

Đến thời Nguyễn, đời vua Tự-Đức, tổng đốc Hà-nội là Tôn-thất Bật theo nền chùa cũ, xây lại, giữ được một số đá xanh chạm hình hoa sen là đá ở tháp Báo-thiên, đá chạm hình bát giác là đá ở bệ tháp từ thời Lý.

Hồi người Pháp sang cai trị, họ phá chùa này, lấy đất xây nhà thờ lớn Hà-nội. Vị trí chùa cũ nằm từ phía bên phải đền Lý Quốc-Sư đến đầu phố Nhà-chung, quận Hoàn-kiếm, Hà-nội.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa Sùng-khánh Báo-thiên, tháp Báo-thiên có thể tìm đọc các sách:

Trung-quốc:

– Quách thị Nam-chinh,
– Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký.

Việt-Nam:

– Việt sử lược (Lý kỷ),
– Đại Việt sử ký toàn thư (Lý kỷ, Thánh-tông kỷ),
– Khâm định Việt sử thông giám cương mục,
– Đại Nam nhất thống chí,
– Hoàng Việt địa dư chí,
– Bắc thành địa dư chí lục,
– Thăng-long cổ tích khảo,
– Hà-nội địa dư,
– Hà-nội sơn xuyên phong vực,
– Đại-Việt địa chí,
– Hoàng Việt thi tuyển,
– Khâm định thăng bình bách vịnh,
– Ngự đề Thiên-hòa doanh bách vịnh,
– Toàn Việt thi lục,
– Tang thương ngẫu lục,
– Long-biên bách nhi vịnh.

Thần khí thứ nhì

Sư Viên-Căn tiếp tục:

« Bảo khí thứ nhì là một tượng phật Thích-ca Mâu-ni cao hai trượng. Trên thân tượng ngài cho yểm 18 viên Xá-lợi của 18 vị bồ tát Đại-Việt, 360 hạt đá linh khí lấy từ 360 đền thờ chư thánh Đại-Việt ».

Chang-Lan hỏi:

– Sư huynh ơi! Em nghe nói, khi đúc tượng, các vị tăng thường để một lỗ trống phía sau lưng tượng thông vào bụng, chỗ huyệt thần đạo. Sau đó hoặc yểm ngọc Xá-lợi vào, hoặc yểm ngọc, hay vàng vào. Em chưa từng nghe yểm nhiều như vậy bao giờ.

Chang-Lan nói tiếng Việt bằng giọng Chàm, nhẹ như giò thoảng, nghe rất êm tai. Viên-Căn đáp:

– Sư muội hỏi vậy thực phải. Này sư muội! Phàm các bậc đại giác như phật, bồ tát, la hán, thường phân thân đi khắp nơi, làm đủ mọi loài để cứu độ, để thuyết pháp. Sư huynh có thể là bồ tát phân thân, cũng có thể là quỷ A-tu-la. Muội có thể là Quan-âm phân thân.

– Dạ, em nhớ ra rồi! Cảm ơn sư huynh khải ngộ cho. Thế danh hiệu 18 bồ tát, 360 thánh là những vị nào?

– Sư huynh nhớ không hết. Về bồ tát thì có các ngài Tỳ-ni Đa-lưu-chi, Pháp-Hiền, La Quý-An, Sùng-Phạm, Bố-Đại, Vạn-Hạnh... Về chư thánh thì Phù-Đổng thiên vương, thánh Tản, Chử đạo tổ, công chúa Tiên-Dung, Vạn-Tín hầu Lý Thân, Cao-Cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-Tín hầu Vũ Bảo-Trung, Phương-Chính hầu Trần Tự-Minh, vua Trưng cùng 162 anh hùng thời Lĩnh-Nam... mới nhất là Vũ-dực đại tướng quân Dư Phi, Phiêu-kị đại tướng quân Bùi Hoàng-Quan và Nhu-mẫn Đoan-duệ Anh-văn công chúa Trần Ngọc-Huệ.

Hoàng-Nghi là người cực thông minh, hầu hiểu liền:

– Phải như vậy. Pho tượng là tượng đức Thích-ca Mâu-ni, nhưng yểm tâm toàn là chư bồ tát, chư thần linh Đại-Việt. Như thế thì anh linh của các ngài tập trung lại, mạnh vô cùng. Em chắc hai ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh sẽ đặt pho tượng đó vào một vị trí quan trọng để trấn áp quân Trung-nguyên.

– Đúng vậy, ngài cho đặt ở chùa trong núi Quỳnh-lâm, thuộc trấn Đông-triều, mặt hướng về phương Bắc. Như vậy linh khí chư bồ tát, chư thần vừa trấn Bắc, vừa trấn biển Đông. Từ nay, và mãi mãi, khi pho tượng còn, thì Trung-nguyên không thể đánh chiếm Đại-Việt ta được nữa.

Núi Quỳnh-lâm cách khu vực kiểm soát của Phương-Quỳnh không xa. Bà nói:

– Chùa Quỳnh-lâm được kiến tạo vào thời đức Thái-tổ (1010-1028), tường xây bằng đá, mái lợp ngói, rất hẹp, là nơi cho dân làng tới niệm Phật, chứ không có tăng ni trụ trì. Năm trước đây đại sư Từ Đạo-Hạnh quyên giáo được rất nhiều tiền. Ngài cho xây dựng qui mô như hiện nay, rồi đúc tượng. Từ ngày an vị tượng, đêm đêm hào quang chiếu sáng rực một vùng, dân chúng đến lễ bái rất đông. Chùa hiện do một đệ tử của quốc sư Huệ-Sinh trụ trì.

Ghi chú,

Chùa Quỳnh-lâm tọa lạc tại núi Quỳnh-lâm, xã Hà-lôi, huyện Đông-triều , tỉnh Hải-dương. Nay thuộc tỉnh Quảng-ninh. Từ khi ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh an vị tượng quốc bảo, chùa trở thành danh tiếng. Sang đời Trần, thiền sư Pháp-Loa trụ trì tại đây. Chùa có viện Quỳnh-lâm rất lớn, làm nơi giảng kinh. Tương truyền viện có thể thu nhận tới ba nghìn người một lúc. Lại có am Bích-động để tọa thiền. Một phò mã họ Vũ đời Trần cúng 20 mẫu ruộng. Quan tư đồ Văn-Huệ vương Trần Quang-Triều và công chúa Thượng-Trân cúng 900 lượng vàng để đúc tượng Di-Lặc. Chùa sở hữu tới hơn nghìn mẫu ruộng, tá điền nghìn người. Đương thời chùa được tôn làm Thiên Nam đệ nhất danh lãm. Trong thời gian 1285 đến 1315 chùa nổi danh cùng với chùa Vân-yên ở núi Yên-tử, chùa Báo-ân (Từ-quang) ở làng Siêu-loại.

Khi giặc Minh xâm lược Đại-Việt (1407) chùa bị phá hủy, tượng phật Quỳnh-lâm bị cướp mang về Kimh-lăng. Đầu đời Lê, chùa được dựng lại.

Vào thời Vĩnh-khánh (1729-1732) Uy-Nam vương Trịnh Giang cấp tiền, rồi lấy dân ba huyện Đông-triều, Thủy-đường, Chí-linh, tu tạo qui mô, bài trí lộng lẫy. Đến đầu đời Vĩnh-hựu (1735-1746), lại lấy dân các huyện Hiệp-sơn, Thủy-đường, Đông-triều, Kim-thành và Thanh-hà sửa sang lần nữa, rộng lớn hơn.

Đến thời Nguyễn, niên hiệu Thiệu-Trị thứ sáu (1845) chùa bị bọn Thổ-phỉ người Tầu đốt cháy mất chính điện và tiền đường. Tất cả các tượng gỗ đều cháy, duy tượng vua Trần Nhân-tông là còn nguyên.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa, tượng phật Quỳnh-lâm, có thể tìm đọc thêm các sách:

Trung-quốc:

– Quách-thị Nam chinh,
– Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký,
– Nam-hải chư thần cảo lục.

Việt-Nam:

– Lục Nam địa chí,
– Kiến văn tiểu lục,
– Lịch triều hiến chương loại chí,
– Hoàng Việt địa dư chí,
– Thoái thức ký văn,
– Đại Nam nhất thống chí,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Việt-Nam địa dư chí,
– Đại-Việt địa chí.

Chang-Lan hỏi:

– Sư huynh nói hai vị thánh tăng đúc Nam-thiên tứ khí. Một là đỉnh tháp Báo-thiên, hai là tượng phật Quỳnh-lâm. Vậy thần khí thứ ba, thứ tư là gì?

Thần khí thứ ba

– Thần-khí thứ ba là cái vạc lớn an vị tại chùa Phổ-minh thuộc trấn Thiên-trường. Nguyên niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười chín (1028), trong lúc chư vương nổi loạn, Ngô-quốc quận vương Trần Tự-Mai cùng công chúa Huệ-Nhu đem anh hùng võ lâm Trung-nguyên về giúp Khai-Quốc vương đánh dẹp. Nhân đó vương xây chùa Phổ-minh tại trang Thiên-trường để cầu phúc cho thân mẫu. Nay hai thánh tăng cho đúc vạc, xây bệ đặt tại chùa. Vạc nặng ba vạn cân (13 tấn ngày nay), phía ngoài có hình rồng quấn xung quanh, và hình chim âu đang bay. Đầu rồng, đầu âu nghểnh lên trên vành vạc để quy linh khí của Quốc-tổ Lạc-long quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ. Thành vạc khuyết 100 lỗ hình như quả trứng, trong mỗi lỗ khuyết đặt một tượng rồng vàng, để quy liễm linh khí trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Bệ vạc khắc tên tất cả các vị vua tộc Việt. Cao nhất là vua Kinh-Dương, gần nhất là vua Thánh-tông; để anh linh các tiên đế tụ lại, phù hộ cho dân giầu, mưa thuận gió hòa. Sau khi an trí vạc xong, thì ngay đêm đó, trên không có tiếng nhã nhạc vang lừng, rồi hàng vạn con hạc từ đâu về bay lượn, hào quang từ trong chùa chiếu ra sáng rực. Ngài Minh-Không thấy vậy, mới nói rằng: « Không ngờ linh khí tụ nhanh như vậy. Sau đây hơn trăm năm, sẽ có giặc phương Bắc, thiên hạ không ai đương nổi. Đất này sẽ có một vị đại thánh giáng trần phá giặc đó ».

Ghi chú,

Chùa Phổ-minh ở xã Tức-mặc, nay là Lộc-vương, ngoại ô thành phố Nam-định. Từ khi bồ tát Minh-Không đúc vạc, an vị, thì chùa trở thành đanh tiếng. Đây là nơi phát tích ra giòng dõi các vua Trần sau này. Sau khi họ Trần lên làm vua, các thân vương được cắt đất phong khắp nơi, nhưng mỗi thân vương đều được cầp một mãnh đất nhỏ ở Tức-mặc, gọi là cố trạch, có nghĩa là đất cũ.

Đúng như lời tiên đoán của Minh-Không bồ tát, sau khi an vị vạc Phổ-minh, vùng Tức-mặc quy liễm được nhiều khí thiêng của trời Nam, nên đức thánh Trần mới giáng sinh, đánh bại Mông-cổ ba lần.

Đức thánh là con của An-sinh vương Liễu, sau khi thắng giặc, vua Nhân-tông cắt nhiều ấp giầu có phong cho ngài, ngài không nhận, và vẫn ở Yên-banglà ấp của An-sinh vương. Tại Tức-mặc, cố trạch của ngài nằm ngay cạnh chùa Phổ-minh.

Niên hiệu Thiệu-long thứ nhì (1262) đời vua Trần Thánh-tông, dựng cung Trùng-quang ở gần và cho tu sửa chùa, làm chỗ nghỉ ngơi của Thái-thượng hoàng.

Niên hiệu Hưng-long thứ 13 (1305) đời vua Trần Anh-tông, cho xây tháp 14 tầng trên 12 bậc gạch, caohơn 20 mét bằng đá quý, gạch nung trang trí hình rồng lượn, với chữ « Hưng-long thập tam niên ».

Sau khi vua Trần Nhân-tông băng hà, nhục thể đem thiêu, triều đình đem bẩy viên xá lợi đặt trong tháp để thờ phụng. Chính vua Trần Minh-tông có thơ đề:

Đề Phổ-minh tự thủy tạ.

Huân tận hương đầu mãn tọa hương,
Thủy lưu sơ khởi bất đa lương.
Lão dung ảnh lý tăng khai bế,
Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.

Đào Thái-Tôn dịch như sau:

Đề ở nhà thủy tạ chùa Phổ-minh.
Hương cháy ngàn tăm khắp chốn thơm,
Nhẹ trôi dòng nước khói lan nồng.
Đa già rợp bóng, sư cài cửa,
Một tiếng ve kêu, thu rộn buông.

Năm 1426, Vương Thông bị Bình-Định vương Lê Lợi đánh bại, có người mách với y rằng: Sở dĩ người Việt nổi lên bại được quân Minh là do Nam-thiên tứ khí. Vương Thông sai quân hủy vạc Phổ-minh cùng với đỉnh tháp Báo-thiên, tượng phật Quỳnh-lâm, nói thác rằng để đúc súng đạn.

Tiến-sĩ Bùi Huy-Bích (1744-1818) có bài thơ Du Phổ-minh tự dưới đây:

Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ-minh,
Nhàn hoa dã thảo mãn nham quynh.
Bi văn tước lạc hòa yên bích,
Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp giới dữ đồng thiên quảng đại,
Thổ nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại?
Thức đắc vô hình thắng hữu hình.

Ngô Đức-Thọ dịch như sau:

Sau loạn tìm về đến Phổ-minh,
Hoa đồng cỏ nội ngút trời xanh.
Văn bia sứt mẻ nhòe mây khói,
Mắt Phật âu sầu chiếu ngũ canh.
Cõi phép cùng trời bao rộng lớn,
Người đây vẫn nói đất linh thiêng.
Não lòng đỉnh cổ rầy đâu tá?
Mới biết vô hình thắng hữu hình.

Hiện nay vạc không còn nữa, nhưng tháp, chùa Phổ-minh vẫn còn đó. Chùa, tháp cùng vời đền thờ các vua Trần, đền thờ Hưng-Đạo vương ở cạnh nhau. Du khách muốn hành hương, có thể dùng xe, đi về hướng Bắc thành phố Nam-định, qua khu Lò-trâu, tới những đoạn sông Vỵ-hoàng chỗ còn, chỗ bị lấp, rồi quẹo trái là đến khu di tích lịch sử này. Đầu tiên là cái sân ngoài, có cây đa cổ. Qua lần cổng thứ nhất tới cái hồ. Đi vòng qua bờ phải hồ tới đền thờ đức thánh Trần. Vòng qua trái hồ là đền thờ các vua Trần. Bên trái đền thờ vua Trần là tháp và chùa Phổ-minh. Trong đền thờ đức thánh Trần cũng như các vua Trần. Hai đền, chùa, tháp còn giữ được khá đầy đủ tượng, câu đối, hoành phi cổ.

Tháp Phổ-minh hiện được các nhà sản xuất tranh sơn mài, các họa sĩ dùng làm cảnh tiêu biểu cho di tích lịch sử, văn hóa Việt-Nam. Nếu đi sâu vào Tức-mạc còn có lăng đức thánh Trần và vương phi, nhưng lăng này là lăng vọng, chứ không phải lăng thực.

Độc giả muốn thâm cứu về chùa, tháp Phổ-minh, có thể đọc thêm các sách:

Trung-quốc:

– Quách-thị Nam-chinh,
– Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký,
– Giao-chỉ linh thần kỷ sự.

Việt-Nam:

– Đại-Việt sử ký toàn thư (đệ ngũ kỷ),
– Hoàng-Việt nhất thống địa dư chí,
– Đại-Việt địa chí,


Tháp Phổ Minh

– Nam-định tỉnh địa dư chí,
– Phương-đình mạn hứng tập,
– Tồn thi cảo,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Toàn Việt thi lục.



Chùa Phổ-minh

Thần khí thứ tư

Chang-Lan nghe Viên Căn nói về linh khí Đại-Việt, mà lòng nàng nảy ra cảm giác khó tả. Bảo rằng vui, thì cũng vui, bảo rằng lo âu thì cũng lo âu. Bởi nếu Đại-Việt tụ nhiều linh khí, thì đất Chiêm của nàng e khó đứng nổi. Nàng hỏi:

– Em nghe nói tinh hoa của Hoa-hạ là một con trâu bằng vàng nằm ở trong lòng núi Thái-sơn. Biết bao đời, các anh hùng Trung-nguyên thi nhau bắt giữ nó mà không được. Vụ này do đâu mà ra?

Sư Viên-Căn khen:

– Sư muội bác học thực. Nguyên thời vua Thần-Nông mới định thiên hạ, ngài quy liễm linh khí sơn xuyên, giang hà, cương vực, nhật nguyệt, tinh đẩu xuống núi Thái-sơn. Cho nên đá trong lòng núi kết tinh thành con trâu vàng. Khi thiên hạ thanh bình, hoặc có chúa thánh ra đời, thì những đêm trăng sáng con trâu vàng thường chui ra khỏi núi, bay lửng lơ trên các ngọn cây, ánh sáng chiếu rực một vùng. Tại núi Thái-sơn có mỏ đồng đen, các nhà phong thủy Hoa-hạ mói rằng đồng đen là mẹ vàng. Chính đồng đen đã kết tinh thành trâu vàng. Cho nên vua các đời đều thu nhặt đồng đen ở núi Thái-sơn cất trong kho, rồi làm phép trấn yểm, để giữ cho con trâu vàng không rời núi. Bởi trước đây, đã có lần Ngũ-hồ ở phương Bắc làm cách nào không biết, họ gọi được con trâu vàng rời Thái-sơn về với họ. Từ đấy Ngũ-hồ thay nhau chiếm Trung-nguyên làm vua, sử gọi là Ngũ-hồ loạn hoa.

Chang-Lan lại hỏi:

– Sư huynh à! Trước khi rời Thăng-long lên Chi-lăng, em nghe nói hai thánh tăng đem đồng từ Tống về đúc quả chuông, đánh lên, tiếng vang rền không gian. Không biết các ngài đánh thế nào, mà con trâu vàng nằm trong núi Thái-sơn tưởng tiếng mẹ gọi, vùng chạy về Đại-Việt. Khi về đến nơi, không thấy mẹ đâu, nó nhảy lung tung, thành ra đất lún, khiến hồ Tây trở thành rộng hơn đến mấy mẫu. Sự thực việc này ra sao?

Viên Căn xua tay:

– Sư muội nghe lầm rồi. Sự thực như thế này. Ngài mang đồng từ Tống về, đầu tiên đúc tượng phật Quỳnh-lâm. Khi linh khí tượng tỏa hào quang trấn quốc rồi, ngài mới đúc vạc Phổ-minh. Vạc Phổ-minh an vị, linh khí chư bồ tát, chư thần chiếu xuồng sáng vở trời Thiên-trường. Bấy giờ các ngài mới đúc đỉnh tháp Báo-thiên cùng một lúc với quả chuông lớn gọi là chuông Ngân-thiên. Chuông mang tên Ngân-thiên, vì vì tiếng vang tới trời. Sau khi đỉnh đưa lên tháp, thần linh tụ về, ngài mới làm phép, đánh chuông, tiếng chuông vang rền, khiến con trâu vàng nằm ở trong núi Thái-sơn chạy bổ về Đại-Việt. Khi về đến nơi, ngài làm phép, khiến nó bị sa lầy ở hồ Tây. Ngài bèn bỏ 100 thẻ đồng, khắc tinh hoa võ thuật các phái của Đại-Việt vào một quả chuông nhỏ, rồi lấy dây buộc chân trâu với quả chuông. Sau đó ngài làm phép, ném quả chuông xuống đáy hồ, rồi nguyền rằng: « Nhà nào một vợ một chồng, đẻ mười con trai, thì ra kéo được cái chuông với con trâu vàng ». Từ đấy, đêm đêm, dân Thăng-long thường thấy con trâu vàng đi lập lờ trên mặt hồ Tây.

Phương-Quỳnh hỏi:

– Như vậy là tinh hoa hồn nước của Hoa-hạ đã bị ngài chuyển về Đại-Việt ta rồi phải không?

– Đúng thế.

Ghi chú,

Thăng-long cổ tích khảo lại chép rằng: Đền Kim-ngưu ở thôn Tây-hồ, phường Võng-thị, Thăng-long; nay thuộc quận Ba-đình, Hà-nội. Tương truyền hồi Cao Biền làm An-Nam đô hộ phủ, thường đi khắp các danh lam, địa linh nước ta đặt bùa yểm long mạch. Khi Biền đào sông yểm núi Long-đọi (huyện Duy-tiên, tỉnh Nam-Ninh), sơn thần núi ấy thấy nguy, hóa hình thành con trâu vàng, bơi qua sông Đường-giang lên phía Bắc, rồi dừng lại ẩn náu ở vùng hồ Tây gần thành Đại-la (Thăng-long). Những đêm trời đẹp, dân chúng thấy trâu vàng hiện lên ở bãi sông. Nhân đó lập đền thờ.

Thuyết này không hợp với các sư kiện lịch sử, tôi bỏ qua.

Phương-Quỳnh hỏi tiếp:

– Vậy quả chuông Ngân-thiên, ngài để đâu? Phép mầu của chuông là gì, có giống tượng phật Quỳnh-lâm, vạc Phổ-minh, đỉnh tháp Báo-thiên không?

– Khác nhiều lắm. Sau khi đánh chuông gọi trâu vàng về Thăng-long. Hai ngài sai chở chuông đem về chùa Chúc-thánh trên núi Phả-lại, thuộc lộ Đông-triều.

Thấy Hoàng-Nghi tỏ vẻ đăm chiêu, Viên Căn hỏi:

– Sư đệ có gì không hiểu chăng?

– Có! Điều đệ thắc mắc là ngài Minh-Không tu ở chùa Chúc-thánh. Tại sao ngài không đúc chuông tại đây, mà đúc ở Thăng-long rồi chở về chi cho tốn sức Phật-tử?

– Ngyên do như thế này. Chùa Chúc-thánh là nơi xuất thân của Minh-Không bồ tát. Sau khi dùng chuông Ngân-thiên gọi con kim ngưu từ núi Thái-sơn về hồ Tây, ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh thấy rằng thần linh Đại-Việt tuy nhiều, nhưng ác qủy, ác ma không thiếu. Lại nữa sau những lần chiến tranh Hoa, Việt, binh tướng Trung-quốc bỏ mình tại Đại-Việt không biết bao nhiêu mà kể. Một số đã trở về quê quán, một số đã đi đầu thai. Một số vì quá uất ức không siêu thoát được, vẫn chập chờn đi lại trên đất nước ta. Hai ngài bèn chiêu hồn họ về chùa Sùng-khánh Báo-thiên để làm chay giải oan cho họ. Khốn thay, có một số không tuân, cứ vơ vẩn chờ quân Tống đến Thăng-long là trợ giúp. Các ngài đành thu tất cả hồn phách họ vào chuông Ngân-thiên rồi dùng thuyền chở về chùa Chùa-thánh. Trong khi đi đường, có không biết bao nhiêu oan hồn tử sĩ Trung-quốc trầm dưới đáy sông, không sao lên được. Chúng làm sóng làm gió giúp quân Tống. Vì vậy, hai ngài đành tùng quyền thu hết hồn chúng vào trong chuông, rồi ném xuống sông Lục-đầu.

Chang-Lan ngơ ngác:

– Họ là oan hồn tử sĩ trận nào vậy?

– Họ chết trong trận đánh biển Đông giữa công chúa Gia-Hưng Trần Quốc với Nam-an hầu Đoàn Chí, trận Lãng-bạc, hai trận Bạch-đằng, mới đây trận đánh Khâm, Liêm.

Phương-Quỳnh à lên:

– Mấy hôm trước, muội nghe đồn hai ngài đem chuông về treo trên gác chuông. Sau gác chuông sụt lở, làm chuông chìm xuống sông Lục-đầu. Muội lấy làm lạ, là từ chùa, tới bờ sông Lục-đầu khá xa, đâu có truyện gác chuông sụt lở. Thì ra thế.

Ghi chú,

Nhiều thuyết nói rằng Nam-thiên tứ khí là :

– Tượng phật Quỳnh-lâm,
– Đỉnh tháp Báo-thiên,
– Vạc Phổ-minh,
– Chuông Quy-điền, thực lầm lớn.

Vì chuông Quy-điền không do ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh đúc.

Chùa Chúc-thánh còn gọi là chùa Phả-lại. Đây là một trong những ngôi chùa danh tiếng trong Thiền-sử Việt-Nam. Chùa ở trên núi xã Phả-lại, huyện Quế-dương, tỉnh Bắc-ninh. Nay là huyện Quế-võ, tỉnh Hà-Bắc. Chùa được xây vào niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười tám (1027) đời vua Lý Thái-tổ. Chính sư Minh-Không, Chân-Không đã tu ở đây. Sau này, vua Trần Nhân-tông đi tu cũng có lần đến đây giảng kinh.

Vị đại thần cuối đời Trần là Nguyễn Sưởng qua đây cảm tác một bài thơ nhan đề:

Đề Phả-lại sơn tự

Thế áp ngao đầu, thống bách man,
Chử ba cô điểu tịch dương gian.
Giang bàn lão tướng luận binh địa,
Vân ủng tiên hoàng trách tích san.
Tuế nguyệt xâm xâm phong bán lạc,
Thủy thiên mạc mạc điểu song hoàn.
Thắng du phủ ngưỡng thành trần tích,
Liêu vị bằng cao phá lữ nhan.

Huệ-chi Phạm Tú-Châu dịch như sau:

Thế đè cá dữ cắn trăm nơi,
Sóng bãi, chiều buông cánh nhạn côi.
Vua dựng gậy thiền, non khói phủ,
Tướng bàn chiến sự, bãi sông bồi.
Lá phong rụng nửa, năm theo tháng,
Chim chóc về đôi, nước lẫn trời.
Chớp mắt cuộc chơi thành dấu cũ,
Lên cao, lữ khách hãy tươi cười.

Còn rất nhiều danh sĩ làm thơ ca tụng cảnh chùa Chúc-thánh, chép hết vào đây, e dài giòng quá.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa Chúc-thánh, xin đọc thêm các sách:

Trung-quốc:

– Quách-thị Nam chinh,
– Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký,
– Giao-chỉ linh thần kỷ sự.

Việt-Nam:

– Toàn Việt thi lục,
– Lã-Đường di cảo,
– Hoàng Việt thi tuyển,
– Nam Việt địa dư chí,
– Hoàng Việt địa dư chí,
– Thiền-uyển tập anh,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Bắc thành địa dư chí,
– Bắc-ninh tự miếu bi văn,
– Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Nam sử lược biên.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI LĂM

Đã đem xương máu đền non nước,
Còn mãi tinh thần với gió trăng.



Tại phía Bắc chiến lũy Như-nguyệt,

Những ngày mùng một, mùng hai, mùng ba tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Trời phía Bắc sông Như-nguyệt thực đẹp. Nắng mới tỏa trên cây có mới nảy mầm trổ hoa, ngàn chim hót líu lo mừng Xuân. Trong cái cảnh Xuân đẹp ấy, quân Tống ngao ngán nghĩ lại cuộc chiến đêm Giao-thừa, đã cướp đi hơn sáu vạn đồng đội. Bây giờ trong khung cảnh hoa Xuân, khung cảnh Tết, họ đứng nhìn từng toán dân phu đông như kiến; hai người một, ba người một đang khiêng xác đồng đội của họ nằm cong queo, mắt trợn trừng, máu rơi thành những vệt dài trên cỏ.

Họ đành uống cho thực say, rồi ngâm bài Đường thi của Vương Hàn:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhận hồi.

Trần Trọng-San dịch như sau:

Rượu bồ đào, chén dạ quang,
Muốn say đàn đã rền vang dục rồi.
Sa trường say ngủ ai cười.
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu?

Quách Quỳ cho quân mặc giáp trụ, chờ quân Việt trở lại. Nhưng suốt ngày mùng một, mùng hai, mùng ba, quân Việt biệt tăm. Tế tác Tống leo lên cao, nhìn sang Nam ngạn sông Cầu, chỉ thấy ụ đất cao như núi, với hàng rào dày đặc, không một bóng người, không một cụm khói.

Tin tế tác ở Thăng-long gửi về liên tiếp, thuật vụ hai thánh tăng Dương Không-Lộ (Minh-Không), Từ Đạo-Hạnh đúc Nam-thiên tứ đại thần khí. Hai ngài lại làm phép khiến con Kim-ngưu trong núi Thái-sơn chạy về hồ Tây.

Được tin này Quách Quỳ phân vân không ít, nhưng y vẫn phải cố trấn tĩnh, sợ lòng quân loạn. Thế nhưng, không biết ai cung cấp, mà tất cả tướng sĩ Tống đều truyền tụng nhau về Nam-thiên tứ đại thần khí, về con Kim-ngưu bỏ núi Thái-sơn về Thăng-long. Lòng tướng sĩ Tống bắt đầu loạn, người người tụ lại thuật cho nhau nghe những gì mình biết.

Ngày mùng bốn tháng giêng.

Bỗng nhiên vào đêm mùng ba sang ngày mùng bốn, khi trống lệnh vừa điểm ba tiếng, báo hiệu tắt đèn đi ngủ, thì có tiếng từ ngôi đền thờ bên kia sông Như-nguyệt vọng sang rõ ràng, bằng giọng Biện-kinh:

« Chư tướng sĩ Tống nghe đây.

Ta là Đại đương giang đô hộ quốc thần vương Trương Hống và Tiểu đương giang đô hộ quốc thần vương Trương Hát. Ngọc-Hoàng thượng đế sai chúng ta trấn ở sông Như-nguyệt này. Đêm qua, thiên sứ giáng trần, trao cho chúng ta bộ Thiên-thư nghị chế, truyền ta đọc cho chư tướng sĩ nghe ».

Tiếng thần vang đi rất xa, rõ ràng, lọt vào tai binh tướng Tống. Đến đoạn nói về Nam-thùy Tống, tiếng càng rõ, chậm hơn:

« Đây là nguyên văn Thiên-thư nghị chế »

« ...Ta đã sai con thứ làm vua Nam-phương tức Viêm đế. Cương vực Nam, Bắc phân ra mấy nghìn năm có dư. Hóa cho nên người phương Nam biết phận, cung tay quy phục Trung-nguyên, hàng năm tiến cống đầy đủ, không dám xâm phạm cương thổ Trung-nguyên. Chư thiên tử ngồi trấn Hoa-hạ cũng nhân đó mà ban bố ân đức xuống khắp trời Nam. Thế mới đúng là mệnh ta dội xuống, khiến cho cương vực Nam, Bắc phân ra không bị thay đổi. Kẻ nào không tuân mệnh ta, thì ta sẽ sai thiên binh, thiên tướng xuống giết chết không tha ».

Tướng sĩ Tống kinh hoàng vô cùng, thì lại có tiếng thần đọc thơ :

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan, thủ bại hư.

(Nước Nam là nơi vua nước Nam cai trị, điều đó đã chép trong bộ Thiên-thư nghị-chế. Chúng bay là bọn giặc, dám trái mệnh trời đến xâm phạm, thì sao tránh khỏi bị bại?)

Quách Quỳ cũng nghe rất rõ, y triệu Nguyễn Dư đến hỏi:

– Ngôi đền ở bên kia sông thờ thần nào vậy?

– Thưa nguyên soái, đền đó tên là Đại đương giang thần từ, thờ hai thần Trương Hát, Trương Hống. Hai thần là anh em, cùng làm tướng cho Lý Nam-đế (tức Triệu Việt-vương), đánh thắng quân Lương nhiều trận. Sau một tướng trong huyết tộc với vua là Lý Phật-tử đánh bại đế lên làm vua, tức là hậu Lý Nam-đế (571-602). Hậu Lý Nam-đế gọi hai anh em họ Trương đến trao cho quan tước. Hai ngài không nhận, trả lời: « Tôi trung không làm quan với kẻ đã giết chúa mình », rồi ẩn lánh ở Phù-long. Hậu Lý Nam-đế sai sứ gọi nhiều lần, hai ngài đều không ra. Vua ban chỉ: Ai chém được đầu hai ông, thì thưởng cho ngàn vàng. Hai ngài bèn uống thuốc độc tự tử. Đến đời Ngô, Nam-Tấn vương đi đánh giặc Lý Huy ở Tây-long, đêm chiêm bao thấy hai thần xin theo giúp việc quân và nói rằng: Vì có lòng trung, anh được trời cho làm Thần-hà Long-quân phó thần Vũ-lạng nhị giang, em làm Chi-mạn nguyên tuần giang đô phó sứ. Yên giặc, Nam-Tấn vương phong cho anh làm Đại dương giang đô hộ quốc thần vương, em làm Tiểu dương giang đô hộ quốc thần vương, và sai lập đền thờ.

Ghi chú,

Hai thần Trương Hát, Trương Hống được thờ ở rất nhiều nơi. Cho đến nay, trải hơn nghìn năm lịch sử, nhiều đền bị phá hủy. Hiện (1995) những đền sau đây vẫn còn trơ gan với tuế nguyệt:

1. Đình Bích-động,

Ở làng Bích-động, nay là xã Dỉnh-sơn, huyện Việt-yên, tỉnh Hà-bắc, thờ hai ngài làm thần thành hoàng.

Tài liệu: Bắc-giang tỉnh thần tích.

2. Đình Châu-xuyên,

Ở thôn Châu-xuyên, xã Thọ-chân, tổng Thọ-xương, phủ Lạng-giang, tỉnh Bắc-giang, nay là tỉnh Hà-Bắc, thờ hai ngài làm thần thành hoàng.

Tài liệu: Bắc-giang tỉnh thần tích.

3. Đại Đương-giang thần từ,

Ở phố Như-nguyệt, xã Tam-giang, huyện Yên-phong, tỉnh Hà-Bắc, chính là nơi lập chiến lũy Như-nguyệt, thời Lý. Nay là thị xã Đáp-cầu, Bắc-ninh.

Thoát-hiên Đặng Minh-Khiêm có thơ vịnh như sau:

Sất mã quân vương nhập thủy tần,
Đệ huynh nhẫn tác sự thù nhân.
Nguyệt-giang thanh dạ cao ngâm hậu,
Nam-quốc càn khôn tận tảo trần.

Ngạn-Xuyên dịch như sau:

Ruổi ngựa nhà vua nhảy biển trầm,
Anh em quyết chẳng chịu vong ân.
Nguyệt-giang đêm vắng thơ vừa dứt,
Trời đất Nam-bang sạch bụi trần.

Tài liệu

– Đại-Việt sử ký toàn thư (Lý kỷ, Nhân-tông kỷ),
– Việt điện u linh,
– Thiên Nam vân lục liệt truyện,
– Hoàng Việt nhất thống địa dư chí,
– Trương tồn thần sự tích,
– Đại Việt địa chí.


Hình chụp tượng thờ hai vị Đại-vương Trương Hát, Trương Hống tại thị xã Đáp-cầu, Bắc-ninh.

Hình dưới là cổng đền thờ. Cổng này là cổng chung, phía trong còn thờ bà sinh mẫu của Thánh-Gióng. (Hình chụp tháng 8-2001)


4. Tam-giang thần từ,

Tại xã Loa-lâu, huyện Tư-nông, tỉnh Thái-nguyên, nay là tỉnh Bắc-thái.

Tài liệu

– Bắc thành địa dư chí,
– Đại-Nam nhất thống chí.

Quỳ cho Nguyễn Dư về, trầm ngâm không nói gì, mặc cho tướng sĩ bàn tán xôn xao. Tiếng người đọc Thiên-hư tiếp tục cho đến hết canh hai mới dứt.

Trước khi khởi hành Nam chinh, Vương An-Thạch sai bộ Lễ cho in bộ Thiên-thư nghị chế ra hàng vạn bản, truyền phát cho tướng sĩ, để họ biết rằng vua Trung-quốc là con trời, nay Giao-chỉ đem quân phạm cảnh, triều đình mang quân đi chinh tiễu là đúng với Thiên-thư. Cho nên sách này binh tướng Tống đã đọc thuộc làu. Bây giờ nghe thần nhắc, họ mới kinh hoàng:

– Thôi rồi! Hy-Ninh đế nghe lời Vương An-Thạch bắt họ Nam chinh, vượt cương giới Thiên-thư định, thì trước sau gì rồi cũng bại.

Sang ngày thứ tư, các tướng Tống đem quân đi đẵn tre, đẵn nứa, đẵn gỗ, cắt dây đem về bờ sông đóng bè. Theo tế tác loan báo, thì quân Việt ở Nam ngạn được chia thành từng tốt (100 người), trấn xung quanh một ụ phòng thủ; cần đổ bộ mỗi đơn vị năm trăm người một lúc, mới đủ sức đàn áp một tốt. Vì vậy phải đóng loại bè có khả năng chở năm trăm người một lúc.

Đêm đó, chư thần lại đọc Thiên-thư, lại đọc thơ. Lòng binh tướng Tống càng căng thẳng, mà Quách Quỳ cũng không biết giải quyết ra sao.

Tướng Yên Đạt nghiên cứu binh thư cùng kinh nghiệm các đời về phương thức vượt sông. Y đã tìm thấy phương pháp vượt sông Độ-khẩu của Hán-trung vương Đào Kỳ thời Hán là toàn vẹn. Nay y đem ra giảng giải cho chư tướng. Đầu tiên cho thủy quân cùng trăm bè chở năm vạn quân vượt sông, ào ạt leo lên chiến lũy đánh với quân thủ. Dĩ nhiên trận đánh sẽ rất khủng khiếp.(Xin xem Anh-hùng Lĩnh-Nam, quyển 4, của Yên-tử cư-sĩ, do Nam-á Paris xuất bản).

Sau khi đổ quân lên, lập tức dùng trăm bè nhanh chóng kết thành ba cái cầu nổi, các cánh quân khác nhất tề vượt cầu nổi tiếp viện cho đạo quân tiên phong; còn thủy quân dàn ra bảo vệ cầu nổi, cùng các đầu cầu.

Chư tướng đem phương pháp này giảng giải rất kỹ cho binh tướng. Trong khi bảo-binh bắt tay vào việc đóng bè. Ngay ngày đầu, quân Tống đã đóng được hơn hai mươi bè. Sang ngày thứ nhì đóng được bốn mươi bè. Ngày thứ ba đóng được bốn mươi bè nữa, như thế là đủ số một trăm như Quách Quỳ muốn.

Chỉ còn chờ thủy quân tới nữa là đổ bộ.

Ngày mùng bẩy tháng giêng.

Nguyên-soái Quách Quỳ được phúc trình rằng bè đã đóng xong, quân sĩ luyện tập cách chèo, chống, tập đổ bộ rất thuần thục. Quỳ mừng lắm, sai họp chư tướng bàn định kế hoạch chi tiết việc vượt sông phá chiến lũy Như-nguyệt.

Ôn Cảo trình bầy tình hình quân Việt:

– Tên Lý Thường-Kiệt quả thực tài không thua Kinh-Nam vương. Y phối trí quân rất cẩn thận. Đầu tiên là chiến lũy cao tới ba trượng, mười lớp rào. Trấn lớp rào là một hiệu Thiên-tử binh của bọn Tây-hồ thất quái, bọn này rất giỏi thủy chiến. Nếu như ta phá được mười lớp rào, đánh tan được hiệu binh trấn ở đây, tiến vào sâu một chút lạo gặp một hiệu Thiên-tử binh khác của bọn Giao-chỉ ngũ-kiêu chặn đường. Ngoài ra, y còn phối trí bốn hiệu binh, cũng do bọn Tây-hồ thất quái chỉ huy, lưu động dọc sông với hạm đội Thần-phù. Nếu như tiền quân ta vượt sông, bọn này sẽ đánh cắt ngang lưng ta.

Khúc Chẩn hỏi:

– Trong ba nút chặn, thì tên Thường-Kiệt phối trí các hiệu ra sao?

– Đối diện với Nham-biền có hai hiệu, thì hiệu Long-dực trấn ở chiến lũy trên bờ sông; hiệu Đằng-hải trấn phía sau. Đối diện với Phú-lương có hai hiệu, thì hiệu Vũ-thắng trấn ở chiến lũy trên bờ sông, hiệu Bổng-nhật trấn phía sau. Đối diện với Như-nguyệt có bốn hiệu. Hai hiệu Bổng-thánh, Bảo-thắng trấn ở chiến lũy trên bờ sông; Ngự-long, Quảng-thánh, Phù-đổng trấn ở dọc đường về Thăng-long. Còn lưu động có ba hiệu Hùnglược, Vạn-tiệp, Thần-điện.

Khi Ôn Cảo nhắc đến tên ba hiệu Thần-điện, Bổng-thánh, Hùng-lược là những hiệu đã đột kích vào doanh trung-ương; trên mặt chư tướng đều đều hiện ra nét cau có, vì hình ảnh những Thiên-tử binh lăn xả vào chém giết như bầy sư tử lại hiện ra trong trí nhớ.

Quách Quỳ trầm tư một lúc, rồi đập tay lên án thư:

– Ta nhất định phải qua sông. Phương thức đánh như sau: Đầu tiên cho quân dùng dao, câu liêm mà cắt mà chặt các lớp rào kiếm chỗ đặt chân, chỗ nào kiên cố quá ta dùng rơm tẩm dầu mà đốt. Các tướng phải đi tiên phong, dùng đội võ sĩ đánh cảm tử, sao cố đục thủng một lỗ thì quân, tướng ào ạt tràn vào trong, đánh tỏa ra hai bên thì quân ngoài rào không bị cản trở nữa; chiến lũy sẽ bị tràn ngập.

Quỳ nhấn mạnh:

– Về việc sang sông, bằng mọi giá, trong đợt đầu, ta đưa chín đạo binh triều tinh nhuệ đánh phá lũy lấy chỗ đặt chân. Trong khi đó ta kết bè thành phù kiều, bấy giờ các đạo khác ào ạt đổ sang sau. Chiến lũy tuy chắc, tuy cao, nhưng ta chấp nhận hy-sinh để lọt vào trong. Lọt vào rồi, thì chỉ cần hai giờ là ta tới Thăng-long.

Quỳ yên lặng một lúc, rồi tiếp:

– Ta vượt sông bằng cả ba mặt trận: Phú-lương, Như-nguyệt, Nham-biền. Nhưng Nham, Phú là hư, chỉ với mục đích cầm chân bốn hiệu Thiên-tử binh tại đây. Còn Như-nguyệt là thực, ta cần đánh tan hiệu Bảo-thắng, Bổng-thánh trấn lũy. Chiếm được lũy rồi khi đại quân ồ ạt sang, thì hai hiệu trấn dọc đường về Thăng-long là Ngự-long, Quảng-thánh nghiền ta nát ra như tương trong chốc lát. Chỉ có hiệu kị binh Phù-đổng là đáng ngại. Tướng tổng chỉ huy chiến lũy Như-nguyệt là ai?

Ôn Cảo đáp:

– Y tên là Nguyễn Căn, tuổi còn trẻ, võ công bình thường, nhưng y là người kinh nghiệm xung phong hãm trận. Y từng tham dự trận đánh Chiêm. Vợ y tên Vũ Thanh-Thảo, bạn thân của Linh-Nhân hoàng thái hậu, học trò Tôn Đản, Cẩm-Thi. Võ công thị rất cao thâm. Cả hai vợ chồng đều thuộc loại gan lỳ, sẵn sàng thí mạng chứ không chịu lui hay đầu hàng đâu.

– Tôi đã có cách trị tên này rồi.

Triệu Tiết kể: Nguyễn Căn có đứa em sinh đôi. Hai anh em giống nhau như đúc. Thằng em tên Nguyễn Dư, bất học, vô thuật, vô sở bất chí lêu lổng. Cách đây mấy năm, khi sang Đại-Việt, vô tình gặp Dư, tôi cho y ít tiền. Y chiêu dụ được hầu hết bọn bất lương, lưu manh ở Thăng-long, dẫn theo hầu tôi. Hiện tôi có mang chúng theo trong quân.

Đào Bật suýt xoa:

– Kế này hay đấy. Lấy em, xưng làm anh...

Triệu Tiết mỉm cười:

– Đúng như Đào huynh nghĩ. Hiện bên trong chiến lũy, chúng chia ra từng đoạn một. Mỗi đoạn một tướng trấn thủ. Chúng phối trí từ trái sang phải như sau: Vợ Nguyễn Căn, Phương-Đơn, Mai Cầm, Phương-Tiên, Quách Y. Nguyễn Căn lưu động đốc thúc. Ta cho Nguyễn Dư mặc y phục như anh y, lại sai đội tế tác du thủ du thực của y mặc y phục giả làm võ sĩ theo hầu. Ta phải cố chọc thủng phòng tuyến, lọt vào trong, rồi cho Nguyễn Dư dùng cờ đốc thúc, lệnh cho quân lùi lại, để quân ta từ ngoài chiến lũy tràn vào. Tất nhiên bọn Mai Cầm, Quách Y không tin, nhưng hàng ngũ quân Giao sẽ cực kỳ rối loạn.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

Ôn Cảo lắc đầu:

– Xin nguyên soái lưu tâm. Hai hiệu trấn ở lũy Như-nguyệt do vợ chồng hai tên Mai Cầm, Quách Y chỉ huy. Hai đứa này võ công thấp nhất, mưu trí nông cạn nhất so với mười đứa kia, nhưng chúng lại là hai tên liều mạng nhất. Chính vì vậy mà tên yêm hoạn Thường-Kiệt mới để chúng trấn ở chỗ nguy hiểm này. Ta chỉ có thể chiếm được chiến lũy khi hai hiệu Bảo-thắng, Bổng-thánh bắn hết tên. Nếu hai hiệu này bắn hết tên, ta cũng phải mất từ mười vạn tới hai mươi vạn người. Chẳng lẽ ta hy sinh nhiều như vậy sao?

Quách Quỳ hiểu Ôn Cản hơn ai hết. Y xua tay:

– Quân số hai hiệu này khoảng hai vạn người phải không? Huynh đừng lo, tôi sẽ đổ mười đạo binh triều, với năm trăm chỉ huy Tân-đằng-hải vào chiến lũy. Tức ta dùng hai mươi lăm người đánh một người. Cho rằng ta hy sinh hai mươi vạn người, đổi lấy hai vạn của chúng, mà chiếm được chiến lũy, hoàng thượng vẫn coi là chiến thắng mà.

Chư tướng rùng mình. Quỳ tiếp:

– Trong trận đánh Hy-hà, Kinh-Nam vương có bốn mươi vạn, mà vương dám hy sinh hai mươi vạn người để phá tan giặc. Nay ta có trăm vạn, sao ta không thể hy sinh hai mươi vạn?

Triệu Tiết thắc mắc:

– Xin nguyên soái cẩn thận, bởi Giao-chỉ còn ba hiệu lưu động do Lý Hoằng-Chân chỉ huy, bất cứ lúc nào cũng có thể nhập cuộc.

Quỳ tự tin:

– Huynh đừng lo, tôi đã dự tính rồi. Hạm đội Thần-phù với ba hiệu này của Hoằng-Chân hiện đang lưu động ở vùng sông Hồng. Tôi cho tế tác theo dõi đường đi nước bước của chúng rất kỹ. Tôi chờ khi chúng ở xa phòng tuyến, thì cho quân vượt sông. Khi ta vượt sông xong rồi, tất y phải kéo về bảo vệ Thăng-long, chứ đâu có thể nhập cuộc?

Khúc Chẩn hỏi:

– Liệu Việt có còn quân khác thủ Thăng-long không?

Triệu Tiết đáp:

– Giao-chỉ có 12 hiệu Thiên-tử binh là đáng kể, còn các hiệu địa phương thì ô hợp, giữ sao nổi Thăng-long? Vả khi ta đem đại quân trăm vạn ào ạt tới Thăng-long, chỉ cần mỗi tên quân của ta vạch quần đái một bãi, thì cái thành kia phải xụp đổ.

Chư tướng bật cười về câu nói đùa của Tiết.

Quân Tống chuẩn bị vũ khí, hành trang, để bất cứ lúc nào có lệnh là xuống bè xung trận. Bảo-binh, dân phu thì cho nhổ lều trại, đợi khi quân triều đánh chiếm được chiến lũy, sẽ theo sau để cắm trại, đào bếp nấu nướng.

Quân chờ hết ngày mùng tám tháng giêng, mà thủy quân vẫn chưa tới. Người người truyền tai nhau rằng chắc ngày chín. Nhưng ngày chín vẫn chưa thấy tin tức gì. Quân tướng bắt đầu uể oải, ngồi tưởng tượng sau trận đánh sẽ được ban thưởng, thăng cấp, mỗi người được gả cho một cô gái Thăng-long đẹp như tiên.

Trong khi đó đêm đêm, thần linh Đại-Việt vẫn đọc Thiên-thư, đọc thơ rót vào tai tướng sĩ Tống.

Rồi ngày mười, mười một, mười hai rồi... mười sáu cũng chưa thấy chu sư tới, đêm chư thần vẫn đọc Thiên-thư, đọc thơ.

Trong khi đó, trong hành doanh, Quách Qùy, Triệu Tiết, Đào Bật còn nóng lòng hơn. Trước đây hơn tháng, chỉ dụ từ Khu-mật viện ở Biện-kinh ban ra, hẹn chắc rằng chu sư do đô đốc Dương Tùng-Tiên, phó đô đốc Hòa Mân sẽ vận tải lương thảo từ Khâm-châu tiếp tế; chậm nhất là ngày mười rằm sẽ tới sông Cầu. Mà bây giờ đã là ngày mười sáu, lương thì sắp cạn, quân thì chờ đợi lâu sinh chán nản, mệt mỏi, mà chẳng thấy thủy quân đâu.

Quách Quỳ triệu tập chư tướng, rồi đưa ra hai phương thức giải quyết: Một là chờ thủy quân rồi mới vượt sông. Hai là vượt sông ngay. Các tướng bàn luận phân vân. Kẻ thì bàn nên sang sông ngay, vì khi đã sang được sông, xuống khu đồng bằng phì nhiêu, thóc gạo dư thừa; trâu bò, gà vịt ăn không bao giờ hết. Ngoài ra còn giải quyết được vấn đề dân phu. Lại có người bàn không nên qua bây giờ, mà phải chờ chu sư tới, họ viện lẽ: Nếu như đổ bộ không thành, quân chết nhiều mà chẳng nên cơm cháo gì. Bấy giờ giặc thừa cơ đuổi theo, thì thực là nguy.

Cuối cùng Quỳ quyết định trung dung:

– Chờ hai ngày nữa, dù chu sư tới hay không cũng đổ bộ.

Ngày mười bẩy trôi qua, lòng Quách Quỳ nóng như lửa đốt, y cho tế tác lên đài cao, nhìn về hướng Đông chờ đợi. Chờ suốt ngày, vẫn chỉ thấy sông rộng, có Xuân xanh rì, hàng đoàn chim đo cánh ngang trời.

Ngày 18 tháng giêng.

Ngày mười tám dài lê thê qua đi... Không chờ được nữa, Quỳ cho họp chư tướng tại hành doanh. Chư tướng đều biết rằng giờ trọng đại nhất đời họ đã tới. Vì tất cả hy vọng của Hy-Ninh đế, tất cả lương tiền đổ ra bấy lâu, tất cả công lao trăm vạn người thành hay bại là lúc này đây.

Nếu qua sông thành công, thì chiếm được Đại-Việt, rồi thuận thế chiếm luôn Chiêm, Chân, Lào, Xiêm, Đại-lý; thế lực Tống sẽ trấn động, Tây-Hạ, Bắc-Liêu không còn dám gây sự nữa. Các tướng kẻ ít công nhất cũng được thăng quan, người có công sẽ được phong hầu, tên ghi thanh sử, ấm mồ mả tổ tiên, vinh dự ở triều đình. Còn như bại, thì cuộc viễn chinh này hóa ra một tuồng ảo mộng, triều đình sẽ chém đầu đem bêu cho dân chúng xem, gia đình họ hàng nhục nhã không biết đâu mà kể. Còn giang sơn Đại-Tống, phải chịu nhục nhã với man di đã đành, mà e còn khó giữ nổi.

Quách Quỳ ban lệnh:

– Sáng mai, giờ Thìn bắt đầu qua sông.

Các tướng ngồi im phăng phắc. Quỳ gọi bốn tướng Yên Đạt, Khúc Chẩn, Tu Kỷ, Đào Bật:

– Tôi nhắc lại, quân ở Phú-lương của Yên, Khúc tướng quân; quân ở Nham-biền của Tu, Đào tướng quân; chỉ đánh cầm chừng, mục đích giữ chân giặc không cứu ứng Như-nguyệt mà thôi. Sau khi cánh Như-nguyệt đổ bộ thành công, ắt bọn Hoàng Kiện, Lý Chiêu-Văn sẽ bỏ phòng tuyến rút về cứu Thăng-long. Bấy giờ bằng mọi giá các vị phải vượt sông đuổi theo chúng đánh tiêu diệt, không để chúng về an toàn.

Bốn tướng nhận lệnh.

Tại Như-nguyệt, ta đổ bộ bằng ba cánh. Giữa, tả, hữu.

Quỳ gọi Miêu Lý, Vương Tiến:

– Hai vị đổ bộ cánh giữa, làm nỗ lực chính. Miêu tướng quân đem ba đạo binh đệ tứ, ngũ, lục dùng bè qua sông; Vương tướng quân dùng một chỉ huy Tân-đằng-hải (nhắc lại môt chỉ huy có 500 quân) chèo bè, kết bè thành phù kiều. Sau đó cho đổ bộ chín chỉ huy Tân-đằng-hải khác vượt phù kiều tiếp viện cho Miêu tướng quân. Bằng mọi giá, hai tướng quân phải phá bằng được bức tường phòng thủ. Khi lọt được vào trong, thì tiến thẳng về Thăng-long.

Hai tướng nhận lệnh.

Quỳ gọi Diêu Tự, Bình Viễn:

– Hai vị đổ bộ cánh tả. Diêu tướng quân đem ba đạo binh đệ thất, bát, cửu đổ bộ cánh tả, làm nỗ lực phụ, dùng bè qua sông; Bình tướng quân dùng một chỉ huy tân-đằng-hải, chèo bè, kết bè làm phù kiều. Sau đó đổ bộ mười bốn chỉ huy tân-đằng-hải tiếp viện cho Diêu tướng quân. Bất cứ giá nào hai tướng quân cũng phải chọc thủng chiến lũy Như-nguyệt, rồi tiến sau đạo trung ương của Miêu, Vương tướng quân.

Hai tướng nhận lệnh.

Quỳ gọi Đặng Trung, Lưu Mân:

– Hai vị đổ bộ cánh hữu. Đặng tướng quân đem theo ba đạo binh đệ thập, thập nhất, thập nhị, làm nỗ lực phụ thứ nhì dùng bè qua sông; Lưu tướng quân dùng một chỉ huy Tân-đằng-hải chèo bè, kết bè làm phù kiều. Sau đó đổ bộ mười chín tân-đằng-hải tiếp viện cho Diêu tướng quân. Dù khó khăn, dù phải hy sinh tính mệnh binh sĩ, hai tướng quân cũng phải phá bằng được chiến lũy , rồi tiến sau cánh của Diêu, Bình tướng quân.

Quỳ nói với Triệu Tiết, Ôn Cảo:

– Khi quân bắt đầu xuống bè, các vị cho nhổ trại, để sang sông thực mau. Nội chiều mai, chúng ta phải tới Thăng-long.

Cuối cùng Quỳ gọi hai tướng kị binh là Trương Thế-Cự, Vương Mẫn:

– Bên kia sông là đồng bằng, kị binh sẽ có chỗ đắc dụng. Ngay khi các đạo quân bắt đầu qua sông, hai tướng cho kị binh tiến tới gần phù kiều. Đợi khi chiến lũy phá rồi, Trương tướng quân đem một đạo kị binh phá vòng đai phòng thủ thứ nhì phục trên đường Như-nguyệt đi Thăng-long. Còn Vương tướng quân đem hai đạo ẩn ở chân núi Nham-biền phòng bọn Trung-Thành vương đánh hậu cứ ta.

Quỳ nói với chư tướng:

– Từ xưa đến giờ, võ học Giao-chỉ lúc nào cũng thịnh hơn chúng ta. Ngược lại dân ta đông hơn. Cho nên trong bất cứ trận đánh lớn nhỏ, ta cũng dùng cái ưu điểm nhiều người, đem quân số đông đảo tràn ngập đối phương. Ngược lại bọn Giao-chỉ lại dùng những cao thủ bậc nhất tung ra chiến trường để giết tướng của ta. Thế nhưng trong cuộc hành quân xâm phạm Thiên-quốc, cũng như cuộc chiến một mất, một còn này, tên hoạn quan Thường-Kiệt lại bỏ quên cái ưu điểm của mình. Y chỉ biết tận dụng mấy đội quân tinh nhuệ mà thôi. Giả như trận đánh Ngọc-sơn, nếu y dùng mấy cao thủ hạng nhất trấn thủ, thì dễ gì ta thành công?

Chư tướng đều gật đầu công nhận lý luận của Quách Quỳ. Quỳ tiếp:

– Xét trong quân của y hiện thời, mười hai tướng chỉ huy Thiên-tử binh đều là những tên nhóc con, võ công bình thường, xuất thân lưu manh, chỉ biết liều chết. Về kị binh, Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt võ công càng tầm thường hơn nữa. Nực cười nhất là thủy quân, y dùng tên Nho sinh mặt trắng trói gà không chặt Lý Kế-Nguyên làm Đại Đô-đốc, còn bốn đô đốc, tuy võ công cũng cao, nhưng chưa phải là hạng nhất. Cao thủ hạng nhất chỉ có Thân Cảnh-Long, Thiên-Thành, Trần Thanh-Nguyên, nhưng hiện cả ba đang phiêu bạt trong rừng, coi như vô dụng. Đối diện với chúng ta, chỉ có mình y là đáng kể, thì y phải trấn Thăng-long. Quanh đi, quẩn lại y chỉ còn Thần-vũ thập anh, Kim-cương thập bát hùng. Nhưng hai mươi tám tên này chưa phải là loại thượng thừa. So sánh về võ công, bất cứ tướng nào của ta cũng có thể đàn áp tướng của chúng. Vậy khi đối trận, hoặc chư tướng đích thân, hoặc dùng cao thủ giết tướng của chúng. Khi tướng bị giết, thì quân loạn, ta thắng dễ dàng.

Ôn Cảo hỏi:

– Thưa nguyên soái, xét về cao thủ thượng thừa, ở đây chúng tôi thấy ngoài nguyên soái ra còn có Triệu Tiết, Tu Kỷ, Yên Đạt, Khúc Chẩn, Miêu Lý, Diêu Tự, Trương Thế Cự; còn lại thì hạng nhất khoảng mươi người. Tất cả các cao thủ thượng thừa, hạng nhất đều là tướng cầm quân, lúc xung trận phải điều quân, thì sao có thể rảnh tay đàn áp tướng giặc?

Quách Qùy cười đắc chí:

– Chính vì lẽ đó, khi quân lên đường, hoàng thượng còn lưu tôi lại họp ở Thiên-chương các với các chưởng môn phái Thiếu-lâm, Hoa-sơn, Trường-bạch, Liêu-Đông, bàn về việc đem cao thủ theo trong quân. Thế nhưng, từ hôm vượt biên sang đến giờ, tôi không cho họ xuất hiện; hơn nữa để cho Thần-vũ thập anh tung hoành, hầu đánh lừa tên Thường-Kiệt.

Thấy Khúc Chẩn nhăn mặt tỏ ý không phục, Quách Quỳ xua tay:

– Huynh không bằng lòng phải không? Nếu như chúng ta tung cao thủ ra lúc đầu, giết tướng Giao-chỉ như giết chó, giết mèo, thì thỏa được tự ái. Nhưng giữa tự ái với đại cuộc, thì ta phải chọn đại cuộc. Huynh biết không, trong buổi hội ở Thiên-chương các, Tể-tướng Vương An-Tạch đưa ra lý luận này: Các cao thủ siêu hạng của Giao-chỉ hiện phải kể Côi-sơn tam anh Phụ-Quốc, Bảo-Dân, Trung-Đạo; Bình Dương, Thiệu Thái, Lê Văn, Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Minh-Không, Đạo Hạnh, Bảo-Hòa, và vợ Lý Long-Bồ là Thamh-Mai. Nhưng bọn này hiện hạc nội mây ngàn, mà tên hoạn quan Thường Kiệt quên tận dụng. Vậy khi đem quân sang, ta mang thực nhiều cao thủ thượng thừa, nhưng ém đi làm như không có; rồi thình lình tung vào trận chiến nào quyết định mất còn, khiến chúng trở tay không kịp.

Tu Kỷ hỏi:

– Thưa nguyên soái, hiện trong quân ta có bao nhiêu cao thủ thượng thừa?

– Thứ nhất là phái Thiếu-lâm. Trước đây Lê Văn đã sát hại thái sư phụ của ta là chưởng môn Minh-Đức đại sư. Cái hận đó toàn thể đệ tử không bao giờ quên. Trong trận này, đích thân thủ tọa Đạt-ma đường Pháp-Tuệ dẫn mười cao thủ chữ Pháp đi theo, trong đó có một vị đã để trọn đời ra nghiên cứu cách phá võ công Sài-sơn để giết tên Lê Văn.

Yên Đạt hỏi:

– Có một điều tôi lấy làm lạ là đại sư Pháp-Nhẫn, thủ tọa La-hán đường, trước đây đã cùng với vua Anh-tông sang Đại-Việt quan sát tình hình. Không hiểu sao nay người lại chống đối cuộc viễn chinh này, rồi lại theo Giao-chỉ?

Quách Quỳ xua tay:

– Đô tổng quản lầm rồi. Đại sư Pháp-Nhẫn đã ngộ đạo, người không muốn cho bất cứ chúng sinh nào đau khổ, chứ đừng nói người Hoa, người Việt giết nhau. Trong cuộc Nam du với vua Anh-tông, duyên may người gặp Kinh-Nam vương, rồi kết huynh đệ. Trong cuộc xâm lăng của Giao-chỉ, chính người đã xuất hiện, chịu một chưởng của Mộc-tồn hòa thượng suýt mất mạng, để cứu tướng của ta. Trong trận Ung-châu, người xin tên Lý Thường-Kiệt tha cho dân trong thành, rồi nhập thành khuyên Tô Giàm để dân rời xa trận địa. Người cũng như Kinh-Nam vương, không muốn có chiến tranh Hoa-Việt mà thôi. Chứ người không phản đâu. Tướng quân đừng nói bậy, e Ưng-sơn song hiệp nghe thấy thì e mất chỗ đội nón.

Nghe nói đến Ưng-sơn song hiệp, chư tướng đều cảm thấy ớn lạnh. Bất giác họ quay lại sau, nhìn phải, nhìn trái, tưởng tưởng như người của song hiệp đang rình mò đâu đây.

Quỳ tiếp:

– Thứ nhì là phái Hoa-sơn. Trước đây trong Hoa-sơn ngũ lão, Thất-kiệt thì bốn lão với toàn thể thất kiệt bị chết về tay võ lâm Giao-chỉ. Duy Đông-Sơn lão nhân ẩn thân, nghiên cứu cách phá Long-biên kiếm pháp, nên sống sót. Hơn hai chục năm nay, toàn phái để tang, ngày đêm luyện tập để chờ ngày trả thù. Phái này cử bốn trưởng lão kiếm pháp cao thâm không biết đâu mà lường theo trong quân. Bốn vị này đã họ được phép phá Long-biên kiếm pháp, như vậy ta không sợ võ công Mê-linh nữa.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Phái Trường-bạch sở trường về Ngũ-độc, lại nhân trước đây trao đổi võ công với bọn Đinh Kiếm-Thương, Lê Phúc-Huynh, Vũ Chương-Hào mà học được Nhật-hồ độc chưởng. Phái Liêu-Đông sở trường về Huyền-âm độc tố. Từ lâu rồi, đệ tử hai phái này này bị triều đình truy lùng, các đệ tử phải lẩn trốn khổ sở. Nay triều đình ban mật chỉ ân xá cho họ, vì vậy Trường-bạch song hùng, Liêu-Đông tam kiệt võ công cao siêu không biết đâu mà lường; tất cả đều theo trong quân.

Quỳ nhìn Triệu Tiết ra vẻ đắc ý:

– Ngoài ra, trước đây bất cứ võ lâm dù hắc đạo, bạch đạo, khi phạm tội, mà trốn ra Tây-thùy xin tòng quân diệt giặc, đều được Kinh-Nam vương ân xá. Họ được đặt dưới quyền của Vũ-kị đại tướng quân Trương Thế-Cự. Đám này ước hơn nghìn người, nay cũng được đem theo.

Y nắm tay đấm lên bàn:

– Trận Như-nguyệt, Phú-lương, Vạn-Xuân này cũng chưa phải là trận quyết định, vì vậy tôi vẫn ém họ trong quân. Bằng như nay tôi đưa họ ra trận, tên Thường-Kiệt biết ngay, y sẽ tung chim ưng đi mời các cao thủ thượng thừa Giao-chỉ tới thì thực là nguy vô cùng.

Quỳ nói với Triệu Tiết:

– Tại Như-nguyệt, huynh thống lĩnh các đội võ sĩ hắc đạo được ân xá, tung vào trận. Dĩ nhiên chúng sẽ bị giết rất nhiều. Nhưng đó là điều hoàng thượng mong: Mượn tay giặc giết dùm bọn du thủ du thực, còn hơn ta giết chúng. Huynh nhớ, lúc phù kiều bắc xong, huynh dẫn chúng tràn qua, dùng võ công gạt tên, cố sao lọt vào trong chiến lũy, rồi đánh tỏa ra hai bên, mở đường cho thiết đột theo. Đợi thiết đột vào rồi, huynh mới dùng tên Ngyễn Dư để làm rối loạn hàng ngũ giặc.

Cuộc họp vừa bế mạc, thì đội trưởng tế tác vào báo:

– Thưa nguyên soái, thân quyến tử sĩ đang ùn ùn vượt Chi-lăng đến chỗ nghĩa địa đòi đào mồ lên tìm xác con em họ. Binh canh không cho, họ đánh luôn binh canh. Hiện họ đang đào xới.

Quỳ hoảng hốt:

– Họ đi có đông không?

– Thưa đông lắm lắm, ít nhất là hai ba chục vạn.

Quách Quỳ hỏi Triệu Tiết:

– Làm sao bây giờ?

– Khó lắm.

Triệu Tiết trả lời: Luật của bản triều đặt ra từ thời vua Thái-tông là khi chiến sĩ tử trận, thì bằng mọi giá phải đem xác về nguyên quán trao cho người thân. Các quan địa phương chiếu luật lệ mà phủ tuất. Nay nguyên soái tạm chôn ở đây, đã là điều vi chỉ rồi. Không biết bằng cach nào đó, mà gia đình tử sĩ biết, nay họ sang đây tìm xác người thân, thì ta phải giúp đỡ họ.

– Nhưng, tử sĩ chết cho đến nay đã mười tám ngày, tử thi chương, thịt bắt đầu rữa, mà đào lên thì hôi thối không thể chịu được. Bệnh dịch từ đó sinh ra, e quân sĩ chết hết.

Ôn Cảo thở dài:

– Cũng đành vậy chứ biết làm sao bây giờ?

Triệu Tiết thêm vào:

– Bọn Giao-chỉ rút đi, đã tận thu hết lương thực. Lương thực cho quân ta còn đang thiếu thốn, mà nay với mấy chục vạn người đổ xuống vùng này thì lấy đâu ra lương cho họ ăn?

Lát sau, quân lại báo:

– Tại vùng Phú-lương, gia đình tử sĩ cũng biết đi theo đường thượng đạo tới đào mả để tìm xác con em. Tướng Khúc Chẩn cũng đành nhắm mắt để họ muốn làm gì thì làm.

Miêu Lý cau mày:

– Tôi nghĩ vụ này nhất định có bàn tay của tế tác Giao-chỉ, chứ sao thân nhân tử sĩ ở những nơi cách nhau hàng vạn dặm, mà cũng ồ ạt tới một lúc!!!

Tại chiến lũy Như-nguyệt, Đại-Việt.

Ngày 19 tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Đúng giờ Thìn. Ba tiếng pháo lệnh nổ trên không.

Các đạo binh triều thiện chiến bậc nhất, từng thắng Tây-Hạ, Bắc-Liêu biết bao nhiêu trận, ào ạt xuống những chiếc bè khổng lồ. Người người tay mang vũ khí mắt đăm đăm nhìn sang bên kia sông: Chiến lũy cao vòi vọi, rào tre dầy đặc kiên cố. Trên đài cao ở đỉnh chiến lũy, hai cây cờ mầu vàng, một cây có hình chim âu mầu đen, đó là kỳ hiệu của hiệu Bổng-thánh; một cây có hình chim âu mầu xanh, đó là kỳ hiệu của hiệu Bảo-thắng.

Bè từ từ rời bến tiến dần ra giữa sông, rồi áp sang Nam ngạn. Hàng chục vạn con mắt đều đăm đăm nhìn lên chiến lũy. Hàng vạn cung thủ, tên nạp cung chờ đợi, để hễ thấy quân Việt nhô lên là buông tên.

Hàng trăm vạn người hồi hộp, khi bè tiến gần đến Nam ngạn, vẫn không thấy bóng quân Việt đâu, chỉ thấy trên trời mười đoàn chim ưng bay lượn.

Thình lình những tiếng rú kinh hồn, xé gió trên không, rồi Lôi-tiễn bắn thẳng vào những bè chở quân. Mỗi mũi Lôi-tiễn trúng giữa bè phát nổ inh tai nhức óc, thì tiếp theo hàng trăm người bay tung xuống sông, thịt nát xương tan. Lẫn trong tiếng Lôi-tiễn là tiếng thét, tiếng la, tiếng rú, tiếng kêu của những kẻ đau đớn cùng cực.

Lôi tiễn bắn, mặc Lôi-tiễn bắn, trống lệnh vẫn thúc ; binh chống, chèo bè vẫn cứ đẩy bè sang sông. Cũng có loại Lôi-tiễn nổ chụp lên đầu những đội quân Tống, khói bốc mịt mờ, tiếng la hét kinh hoàng, tiếng rú tuyệt vọng vì bè đang trôi giữa sông, người người đứng sát vào nhau, không tránh vào đâu được; đành ngửa cổ chịu cho Lôi-tiễn rơi xuống đầu. Mã não, hoàng thạch phát nổ, bốc cháy. Hơn chục bè, quân sĩ cháy như những cây đuốc, chúng định nhảy xuống sông, nhưng những viên đội trưởng tay lăm lăm bảo đao chờ đợi kẻ nào nhảy xuống là chém liền.

Đoàn chim ưng tha những bó cỏ tẩm dầu thả xuống những bè đang bốc cháy. Binh tướng Tống kêu thét lên kinh khủng. Một vài người bị cháy nóng quá, tung mình nhảy xuống nước, lập tức bị các đội trưởng chém liền.

Bè đã tới sát Nam ngạn, đi vào chỗ nông, quân sĩ nhảy xuống sông bơi lóp ngóp tiến tới hàng rào, tay bám vào các cọc ngửa cổ nhìn, để tìm chỗ leo lên. Trên bè chỉ còn lại những người chết cháy, da vàng như lợn quay, nằm co quắp.

Bấy giờ trên chiến lũy vang lên một hồi tù và. Quân Việt xuất hiện, dùng tên, dùng Lôi-tiễn bắn trực xạ như mưa. Chim ưng nhào xuống mổ mắt, cấu mặt.

Thảm thay, quân Tống chơi vơi dưới sông, nước ngập tới ngang vai, không chỗ tránh né, chỉ còn biết nhắm mắt chờ chết.

Quân Việt từ trên chiến lũy dùng lao phóng xuống, mỗi mũi, một quân Tống bị giết. Nhưng tướng Tống vẫn ra lệnh leo rào. Lớp này chết, lớp khác tiếp nối.

Miêu Lý là một trong những tướng tài trí, võ công cao thâm, y ra lệnh cho ba tướng chỉ huy ba đạo binh, tung đội thiết đột lăn xả vào chặt rào. Thoáng một cái, đã chặt được ba bốn lớp rào. Có chỗ đặt chân, quân sĩ reo hò leo lên, nhưng lại bị bắn ngã lộn xuống. Việt bắn mặc Việt bắn, Việt phóng lao mặc Việt phóng lao, Việt dùng giáo dài đâm mặc Việt đâm; người này chết, người khác tiến theo. Hơn khắc sau, quân Tống đã đứng ở lớp rào thứ ba.

Quân trên chiến lũy vẫn dùng tên bắn xuống, quân Tống ra sức chém rào, lớp lớp bị bắn ngã xuống sông như sung rụng. Người này ngã, người khác tiếp tục leo lên. Phút chốc xác chết lấp đầy hai lớp rào. Lớp người sau dẵm lên xác chết người trước, tiến lên lớp thứ tư.

Miêu Lý hô lớn:

– Chư quân tiến lên! Một là chiếm được chiến lũy, hai là chết; còn hơn chết ở dưới bờ sông này.

Quân Tống ào ạt tiến lên lớp thứ năm, lớp này bị bắn ngã, lớp khác nối tiếp như đàn kiến. Đến đây, các bè đã nối thành phù kiều. Quân Tống từ bên kia sông lại ùn ùn kéo sang.

Cứ thế, trên bắn xuống, dưới liều chết leo lên. Sang giờ Tỵ thì quân Việt cạn tên, quân Tống nhờ đó phá được lớp rào thứ bẩy. Xác chết nằm xếp lên nhau lớp lớp bên ngoài. Tại các phù kiều, quân, tướng ùn lại, không còn chỗ đứng.

Đến đây xác quân Tống trôi lềnh bềnh trên mặt sông, nằm kín các lớp rào, các đợt quân sau không còn chỗ leo lên nữa.

Quách Quỳ ra lệnh cho các tướng:

– Mỗi người đem theo đội võ sĩ vượt lên chiến-lũy đánh dạt quân phòng thủ, như vậy may ra mới có thể thành công.

Đám tướng Tống chia làm ba toán, mỗi toán ba trăm võ sĩ. Toán thứ nhất gồm Quách Quỳ, Triệu Tiết, Ôn Cảo với năm nhà sư chữ Pháp; toán thứ nhì gồm Miêu Lý, Diêu Tự, Vương Tiến đem năm nhà sư chữ Pháp nữa; toán thứ ba gồm Lưu Mân, Đặng Trung, Bình Viễn đem Hoa-sơn tứ lão. Sau một tiếng hô cả ba toán tung mình nhảy qua mấy lớp rào, lên nóc chiến lũy. Lập tức một tiếng tù và rúc lên, quân Việt đều nằm rạp xuống, rồi Thần-nỏ tác xạ. Bọn tướng Tống, bọn cao thủ kinh hãi tay rút kiếm gạt tên, nhưng vừa gạt được loạt đầu, thì loạt thứ nhì đã bắn tới. Đám võ sĩ tháp tùng ngã như sung rụng. Quách Quỳ kinh hãi vội tung người lên cao, trong lúc y chơi vơi trên không thì hơn chục chim ưng lao tới cào mặt, móc mắt y. Y vội ôm lấy đầu, thì một nhà sư đứng ở bờ chiến lũy tung vào người y một chưởng. Không hổ là đệ nhất cao thủ Tống, y vung tay đỡ. Binh một tiếng người y bắn ra ngoài chiến lũy, rơi xuống sông như trái mít rụng. Y nhìn lại, thì bọn Triệu Tiết, với các cao thủ cũng đang bơi lõm bõm trên sông như chó ngã xuống cầu.

Chín tướng cùng leo lên một bè. Vương Tiến văng tục:

– Tổ bà nó, trong chiến lũy có bốn thằng trọc non, võ công thua xa bọn mình, nhưng nhờ chúng phối hợp Thần-nỏ, Thần-ưng nhịp nhàng mà bọn mình ra thế này.

Triệu Tiết nhắc các bạn:

– Các huynh phải cẩn thận, 12 tướng chỉ huy Thiên-tử binh võ công bình thường, nhưng tài điều binh của chúng thực thần sầu quỷ khốc. Tôi để ý quan sát, cứ hai mươi Thiên-tử binh lại xen vào một thằng nhóc hoặc một con đượi non mặc quần áo nâu, võ công chúng khá cao. Không biết chúng là ai?

Nguyễn Dư giảng giải:

– Đó là đội võ sĩ học sinh trường Long-thành ẩn-sĩ. Về quân sự, chúng rất dở, nhưng võ công chúng rất cao, lại liều mạng, hung dữ hơn cọp đói.

Đến đây quân Tống đã phá được đến lớp rào thứ chín, thứ mười. Bọn Quách Quỳ lại điểm thêm võ sĩ, rồi tung mình lên, nhảy vào trong chiến lũy. Ba tiếng tù và rúc lên inh tai, nhức óc, một thiếu phụ quần áo đen tay cầm cờ chỉ huy Thần-ưng nhào xuống tấn công. Các tướng Tống nhận ra đó là Âu Huyền. Chín tướng cùng vội rút kiếm đánh dạt chim ưng ra, thì Thần-nỏ lại bắn là là tới. Các tướng phải nằm rạp trên đất tránh tên, rồi tung người lên, thì chim ưng đã bay đi mất, một đàn ong nhào xuống . Không đề phòng, các tướng Tống đều bị ong bu lại đốt. Nhức nhối chịu không nổi cả mười tướng nhắm mắt nghiến răng múa tít vũ khí bảo vệ thân.

Đến đây, quân Tống đã lọt được vào trong chiến lũy.

Quân Việt vẫn bình tĩnh tiếp tục đánh quân ở ngoài hàng rào. Đội võ sĩ trường Long-thành vây lấy các tướng Tống. Các tướng Tống ra sức tả xung hữu đột chống trả với đội thiếu niên võ sĩ. Đám thiếu niên này cực kỳ can đảm. Người này bị đánh ngã, thì người khác lại thay thế, chín tướng Tống bị họ bao vây kín.

Hùng Lễ hú lên một tiếng dài, đội hổ báo nhảy vào phụ với đội võ sinh vây lấy các tướng Tống. Bọn Quách Quỳ quay lưng vào nhau chống với hổ, với đám võ sinh can trường.

Quân Tống ồ ạt tràn vào trong chiến lũy. Một hồi tù và rúc lên, quân Việt cùng lui trở lại. Hùng Nhân, Hùng Nghĩa cho mười dàn Thần-nỏ cùng tác xạ một lượt. Trên trời Thần-phong, Thần-ưng đánh xuống. Chỉ một loạt tên, bao nhiêu quân Tống lọt được vào trong chiến lũy bị bắn ngã hết. Quân Việt lại trở về chiến lũy, tiếp tục đánh quân từ ngoài đánh vào.

Vừa chống với hổ, báo, vừa quan sát trận chiến, thấy quân mình chết la liệt trong chiến lũy, Bình Viễn nói với Quách Quỳ:

– Xin nguyên soái tạm cho lui binh thôi. Phân nửa số binh triều đã chết ngoài hàng rào, bây giờ tình hình trong chiến lũy thế này, nếu cứ đánh nữa, thì không còn quân vào Thăng-long.

Quỳ lắc đầu, tỏ ý cương quyết cứ tiến binh.

Miêu Lý chửi tục:

– Bọn tướng Việt toàn một tụi nhóc con với đàn bà. Võ công chúng bình thường, nhưng chỉ nhờ tài điều quân giỏi mà thôi. Phải giết chết một vài đứa mới mong quân mình lên được bờ.

Triệu Tiết để ý quan sát trận Việt, sau chiến lũy, trên hai cái đài cao, mỗi cái có một tướng đứng cầm cờ chỉ huy. Nhận ra trên đài thứ nhất chính là Mai Cầm, trên đài thứ nhì là Phương-Đơn. Y nghĩ thầm:

– Phải giết hai đứa này, mới hy vọng chiếm được chiến lũy.

Y ra lệnh cho Đặng Trung đánh đài của Mai Cầm, Lưu Mân đánh đài của Phương-Đơn. Hai tướng dẫn võ sĩ hướng đài chỉ huy xông tới.

Một tiếng hú lảnh lót vang lên, dưới chân mỗi đài có mười con hổ do một nhà sư chỉ huy. Chúng cùng gầm vang tấn công đám võ sĩ. Đặng Trung coi thường nhà sư, y múa kiếm tấn công ông. Nhà sư cười rất tươi, dùng tay kẹp lấy sống kiếm của Đặng. Đặng kinh hãi nghĩ thầm:

– Thằng trọc non này dám bắt kiếm của ta ư?

Y hơi phân tâm một chút, thì nhà sư đã bật tay một cái, biến thành chỉ. Choang! Kiếm của y trúng chỉ gẫy làm ba bốn mạnh. Thuận thế nhà sư đẩy một chưởng, những mảnh kiếm bay vào người Đặng. Đặng kinh hãi tung người lên cao. Lúc y rơi xuống, thì chỉ còn kịp thấy mấy võ sĩ tùy tùng bị hổ vồ chết hết. Còn nhà sư thì khoanh tay đứng nhìn y. Biết đối phương tha chết cho mình, y hỏi:

– Đại sư là ai? Tại sao không ở chốn thanh cao, xuống đây làm gì?

– A-di-đã Phật! Bần tăng pháp danh Viên-Căn, đệ tử chùa Báo-ân. Bần tăng thực không muốn khai sát giới. Bần tăng chỉ bảo vệ Mai sư đệ mà thôi. Đặng cư sĩ, người lùi lại đi.

Nghe đến tên Viên-Căn, Đặng Trung rùng mình chắp tay:

– Đa tạ đại sư dung tình.

Rồi y bỏ chạy.

Đến đây, đội võ sĩ Tống hơn nghìn người đã vào trong chiến lũy, chúng cùng bọn Quách Quỳ mười người giao chiến với đội võ sinh trường Long-thành. Đội võ sinh Long-thành chiến đầu từ sáng đến giờ bị hao hụt quá nửa, bây giờ phải đánh nhau với lực lượng địch đông gấp ba, đã bắt đầu yếu thế.

Dù biết nguy hiểm gần kề, Mai Cầm, Phương Đơn vẫn không sờn lòng, tay cầm cờ chỉ huy quân giữ chiến lũy.

Chợt có tiếng reo hò ở phía bên trái, hầu liếc mắt nhìn: Đó là nơi hiệu Bảo-thắng của Quách Y với Phương-Tiên trấn thủ. Bất giác hầu rụng rời cả chân tay, vì quân Tống đã lọt được vào trong chiến lũy, đang reo hò leo tỏa ra bốn bên, chúng đông như kiến.

Thần-nỏ đã bắn đến loạt tên cuối cùng, Hùng Nhân, Hùng Nghĩa ra lệnh phá hủy Thần-nỏ, rồi cho xạ thủ thoái lui về sau.

Tướng Nguyễn Căn đang cầm cờ đứng giữa đám quân Tống, tay phất ra lệnh cho quân tháo lui, miệng hô:

– Trận vỡ rồi, bốn vị sư phụ chùa Báo-ân! Sáu em trong Thần-vũ thập anh, mau đem sáu sư thú binh rút về Cổ-pháp giúp công chúa Thiên-Ninh bảo vệ Thăng-long. Ta bị giặc bắt. Để mặc ta ở đây.

Bốn nhà sư, ba cặp vợ chồng hú lên một tiếng, dẫn đội thú rút lui. Mặt trận Việt đã thủng mấy khu, binh sĩ đang chiến đấu tuyệt vọng, nay lại mất đi mười cao thủ với đội thú binh, càng yếu hơn.

Quách Y, Phương Tiên ngơ ngơ, ngác ngác không hiểu cái gì đã xẩy ra. Thoáng một cái, Phương Tiên giải đoán:

– Chắc Nguyễn Căn bị Tống bắt sống, nên mới ra lệnh như vậy.

Bà đưa mắt nhìn hầu, cả hai như cùng tương thông: Không tuân lệnh Nguyễn Căn, cứ thúc quân giữ nguyên vị trí. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, sự phối hợp Thần-nỏ, thú binh bị mất. Quân Việt dao động mạnh, phòng tuyến bị đánh cắt ra nhiều đoạn. Bây giờ hai quân Tống, Việt chỉ còn cận chiến với nhau.

Mai Cầm biết thế trận đã vỡ, hầu phất cờ cho quân mình tập trung lại dàn thành trận thế quanh đài chỉ huy. Phương-Đơn cũng đã xuống dưới đài, đang cho quân đánh thục mạng, tiến về phía hầu. Cánh quân của hai vợ chồng đã bắt tay được với nhau. Hầu hỏi phu nhân:

– Lui chăng?

– Không lui, sống ta không giữ được chiến lũy, thì làm ma giữ chiến lũy vậy.

– Tại sao Nguyễn Căn lại hàng giặc?

– Khó hiểu quá.

– Mặt trận phía Quách Y, Phương-Tiên ra sao?

– Chúng đông quá, hiệu Bảo-thắng bắn hết tên, thì chúng leo lên được. Đang kịch chiến.

Hầu kiểm lại: Toàn bộ hiệu Bổng-thánh còn không quá năm trăm người, tên không còn một mũi, nhưng không ai tỏ vẻ sợ hãi cả.

Quân Tống như nước vỡ bờ tràn vào trong chiến lũy. Diêu Tự cho quân dàn ra thành trận chuẩn bị tiến về Thăng-long. Nhưng trên đường đi, bị Mai Cầm, Phương-Đơn dàn quân chặn trước mặt.

Vũ Thanh-Thảo cũng dẫn mấy đội tàn quân hợp lại. Mai Cầmthan:

– Chị Thanh-Thảo ơi! Anh Nguyễn Căn hàng giặc rồi!

Thanh-Thảo ngước mắt nhìn lên, công chúa thấy rõ ràng người đang phất cờ ra lệnh cho quân Việt đầu hàng là em chồng. Bàla lớn:

– Không phải! Y là Dư, em anh Căn đấy!

Bấy giờ quân sĩ mới biết mình lầm, từ nãy đến giờ chính gã Dư đã cầm cờ lệnh điều khiển quân sĩ lùi xa chiến lũy, để cho giặc tràn vào.

Đến đây, hiệu Bảo-thắng của Quách Y, Phương-Tiên còn không quá ba trăm người cũng lùi đến bên hiệu Bổng-thánh. Hai hiệu nhập làm một dàn ra nhanh chóng trên bãi đất chặn đường tiến quân của Tống.

Quân Tống lũ lượt sang sông.

Quách Quỳ chỉ đám quân còn sống sót của Mai Cầm, Quách Y ra lệnh cho Miêu Lý:

– Thanh toán bọn này ngay.

Miêu Lý, Diêu Tự thúc quân xung vào. Thanh-Thảo chỉ huy Mai Cầm, Quách Y, Phương-Đơn, Phương-Tiên cùng tàn quân chống trả. Hai bên xông vào chém giết nhau, đao thương chạm nhau choang choảng.

Hơn khắc sau, quân Việt chỉ còn không quá một trăm, nhưng họ vẫn giữ nguyên trận thế, không chịu lui lấy một bước.

Kị binh đã sang sông. Triệu Tiết thấy tàn quân Việt chỉ còn không ba trăm, mà Tống hao hơn hai nghìn vẫn chưa giải quyết xong; bây giờ còn không quá trăm, mà vẫn can trường chống trả. Y hô kị binh xông vào.

Quách Y hú lên một tiếng, đám quân Việt đều nằm lăn dưới đất, vung đao chặt chân ngựa. Ngựa bị chặt chân ngã vật xuống, hí lên inh ỏi. Khoảng một khắc, quân Việt chết hết, chỉ còn lại Thanh-Thảo, cặp vợ chồng Mai Cầm, Quách Y.

Miêu Lý thấy địch chỉ còn năm người, mà vẫn khảng khái chống trả, thì động lòng trắc ẩn. Y ra lệnh cho kị binh lùi lại, rồi tiến lên cung tay:

– Công chúa! Mai tiểu tướng quân! Quách tiểu tướng quân. Họ Miêu này không can đảm dùng số đông giết chết bốn nghĩa sĩ như bốn vị. Kìa, tôi xin tặng bốn vị bốn con ngựa, bốn vị hãy lên yên về Thăng-long nghỉ ngơi thôi.

Vũ Thanh-Thảo dắt kiếm vào lưng rồi cung tay:

– Miêu tướng quân! Tướng quân có biết phu quân tôi hiện ra sao không?

Nguyễn Dư cầm một cái đầu đưa ra:

– Hà! Y chết rồi! Ha ha! Nó chết về tay ta, về bộ mặt lưỡi cầy của ta, ha ha!

Thanh-Thảo đưa mắt nhìn Quách Y. Phương Tiên, rồi nhìn vợ chồng Mai Cầm. Cả năm như cùng tương thông với nhau. Công chúa cung tay vái Miêu Lý:

– Xin đa tạ lượng quân tử của Miêu tướng quân. Năm chúng tôi được lệnh giữ chiến lũy. Nay chiến lũy vỡ, thì chúng tôi xin chết theo chiến lũy.

Thình lình cả năm cùng đưa kiếm lên cổ tử tử.

Bấy giờ là thời kỳ Nho học cực thịnh của Trung-nguyên, người người đều trọng kẻ sĩ tận trung báo quốc; bây giờ binh tướng Tống chứng kiến cái chết trung liệt của một thiếu phụ trẻ với hai cặp vợ chồng tướng Việt, bất giác họ cùng hướng tử thi năm vị lạy một lạy.

Ghi chú,

Trong suốt năm nghìn năm lịch-sử , tất cả những trận đánh với Trung-quốc bao giờ quân Đại-Việt cũng phải chấp nhận đối kháng với lực lượng đông đảo hơn. Lần vượt sông Như-nguyệt này, Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn Căn, Tuyên-uy đại tướng quân Mai Cầm, Minh-uy đại tướng quân Quách Y cùng ba vị phu nhân phải chống với một lực lượng đông gấp mười. Tuy sáu ngài tuẫn quốc, nhưng tổn thất của Tống thực kinh khủng: Chín đạo binh thiện chiến nhất chỉ còn lại một nửa, tân-đằng-hại, bảo binh chết không biết bao nhiêu mà kể. Tổng cộng Tống hy sinh mười vạn người. Quách Quỳ vội dùng bảo-binh bổ xung cho các đạo chính binh, nhưng tinh lực không còn.

Hơn mười vạn xác chết, ba vạn thương binh được đưa về Bắc Ngạn. Với số tử sĩ quá cao, dân phu không thể xẻ gỗ, đóng quan tài kịp. Quách Quỳ lệnh cho Ôn Cảo lấy y phục bọc xác, rồi chôn tại chỗ, thành một khu mênh mông.

Bình luận trận đánh, TTCTGCK viết: « Quỳ ham lập công, mà hy sinh mười vạn nhân mạng. Nếu như không có Nguyễn Dư giả Nguyễn Căn ra lệnh làm rối loạn quân Việt, thì binh triều còn chết biết bao nhiêu nữa ».

Sau khi hết giặc, triều đình nghị công, truy phong:

Cho Quang-lộc đại phu, Trấn Bắc thượng tướng quân, Tản-viên hầu Nguyễn Căn tước Nhân-võ, Hùng-huân, Trấn Bắc đại vương. Phu nhân Vũ Thanh-Thảo được phong Hòa-huệ, Ninh-tĩnh, Ôn-văn công chúa. Hai vị được phối thờ tại thái miếu, nên không có đến thờ riêng.

Một vài tài liệu chép: Nguyễn Căn bị bắt. Sau khi Quách Quỳ rút lui, vua Tống phong cho ông một chức quan, lưu lại bên Trung-quốc, hoàn toàn sai. Chính QTNC và TTCTGCK chép : « Giết Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn Căn và vợ là Vũ Thanh-Thảo ở sông Như-nguyệt. Em Căn là Dư đầu hàng. Dùng Dư giả xưng là Căn ».

Người sau lập đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu, có phối thờ bà Vũ Thanh-Thảo (Xem NQSH hồi 39). Cho đến nay (1995) trải 918 năm lịch sử thăng trầm, nếu con dân Đại-Việt nào còn nghĩ đến huân công của bà, có thể viếng thăm các đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu ghi chép ở mục 3.2 bài tựa NQSH quyển 1, sẽ thấy tượng bà mặc quần áo công chúa mầu đỏ sẫm, khăn choàng áo khoác ngoài mầu hồng.


Hình chụp tượng thờ Hòa-huệ, Ninh-tĩnh, Ôn-văn công chúa Vũ Thanh-Thảo, tại đền thờ Linh-Nhân hoàng Thái-hậu ở xã Dương-xá, Gia-lâm, Hà-nội.

Cho Tuyên-uy đại tướng quân Từ-Tâm hầu Mai Cầm tước Tuyên-uy phúc tướng đại vương, phu nhân được phong Trang-Mẫn quận chúa, truyền lập đền thờ. Hiện hai đền thờ ngài vẫn còn tại làng Đạo-sử, tổng Phá-lãng, và làng Đông-hương huyện Lang-tài. Nay là xã Phá-lãng, huyện Gia-lương tỉnh Hà-Bắc.

Cho Minh-uy đại tướng quân Minh-Tâm hầu Quách Y tước Minh-uy Lôi-trấn đại vương, phu nhân được phong Trang-Thanh quận chúa. Vì sau khi bình Chiêm trở về, ngài có dùng Lôi-tiễn bắn giết bầy chó sói giúp dân ở núi Lôi-sơn, xã Hữu-biệt, huyện Nam-đàn, trấn Nghệ-an; đương thời dân chúng lập sinh từ (thờ sống) ngài. Nay ngài tuẫn quốc, triều đình ban thêm tiền để tu bổ đền, cấp thêm ruộng cho dân lấy hoa lợi thờ cúng ngài.

Độc giả muốn tìm hiểu thêm về tiểu sử hai ngài, xin tham khảo các tài liệu ghi ở phần tựa, NQSH quyển 1, mục 7.2.4 và 7.2.5.

Tại chiến lũy Vạn-xuân, Đại-Việt,

Ngày 3 tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Sau buổi hội ngày mùng một tết, Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương trở về căn cứ Vạn-xuân hội chư tướng. Chưởng môn phái Đông-a Trần Phụ-Quốc cũng đem trên nghìn cao thủ tới. Nếu võ sĩ của trường Long-thành, Thái-hà toàn là thiếu niên, thì đoàn cao thủ phái Đông-a lại gồm đủ loại. Nam có, nữ có. Già có, trẻ có. Tăng có, tục có. Họ được tổ chức thành đôi ngũ để chiến đấu như Thiên-tử binh, duy một điều khác là võ công họ rất cao thâm.

Tín-Nghĩa vương thăng trướng. Đưa mắt nhìn chư tướng một lượt, vương ban lệnh:

– Trong ba mặt trận, thì mặt trận Phú-lương chỉ thủ, mà không tấn. Mặt trận Như-nguyệt dùng làm cái bẫy, để tiêu hao lực lượng Tống. Còn mặt trận Vạn-xuân ta, lĩnh nhiệm vụ quan trọng vô cùng, là lợi dụng Tống đánh Như-nguyệt, tràn về Thăng-long; ta tấn công diệt đội quân ở Nham-biền, rồi tiến lên uy hiếp hậu quân giặc, khiến chúng phải rút quân về giữ hậu cứ. Nếu như vì lý do gì đó mà ta thất bại, thì Thăng-long bị tràn ngập.

Chư tướng đều biết nhiệm vụ của họ rất trọng yếu, người người nhìn nhau, im lặng chờ lệnh.

– Khi Tống vượt sông đánh Như-nguyệt, thì Tu Kỷ cũng cho quân vượt sông sang Nam-ngạn. Nhưng chúng chỉ đánh cầm chừng, hư trương thanh thế đợi khi Như-nguyệt thất thủ, mới biến hư thành thực phá chiến lũy rồi tiến về Thăng-long. Lực lượng Tống ở Nham-biền có mười đạo binh triều, khoảng năm vạn. Một trăm chỉ huy tân-đừng-hải khoảng năm vạn, với năm vạn bảo binh. Như vậy lực lượng Tống có mười lăm vạn.

Vương mỉm cười:

– Còn lược lượng ta. Ta có hạm đội Thần-phù, được tăng viện thêm hạm đội Bạch-đằng từ Thăng-long lên, khoảng hai vạn. Bộ binh ta có năm hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải, Long-dực, Hùng-lược, Vạn-tiệp, Thần-điện. . Ngoài ra ta còn có đội tiễn thủ Long-biên, đội Giao-long Tây-hồ, đội võ sĩ Đông-a, hơn hai nghìn nữa. Tổng cộng ta có khoảng bẩy vạn người. Tức quân số ta chỉ bằng nửa địch. Nhưng, quân quý hồ tinh, bất quý hồ đa.

Chư tướng nhìn nhau, gật đầu công nhận lý luận của Tín-Nghĩa vương. Vương tiếp:

– Tướng chỉ huy mặt trận Nham-biền là Tu Kỷ. Võ công y cao, biết nói tiếng Việt, kinh nghiệm chiến đấu, lại rất can đảm. Ngoài ra còn ba tướng nữa, võ công rất cao, đó là Lý Thật, Quản Vi, Giới Định và hàng tướng Lưu Báo. Hiện Kỷ đã cho đóng một trăm bè, như vậy khi đổ bộ, có thể y sẽ đổ một lúc cả mười đạo binh, rồi dùng bè kết thành phù kiều cho các chỉ huy Tân-đằng-hải theo sau. Vì tin rằng phía trước chúng, ta chỉ có hai hiệu binh, phía sau chúng ta không có quân, nên tại hậu cứ Nham-biền giỏi lắm Kỷ chỉ để lại bảo binh với ít chỉ huy tân-đằng-hải.

Vương để kiếm lệnh lên án thư:

– Ta chia quân làm hai mặt trận. Mặt trận đánh úp Nham-biền, và mặt trận trấn ở Vạn-xuân.

Chư tướng hồi hộp không biết mình sẽ được lĩnh nhiệm vụ ở mặt trận nào.

– Mặt trận đánh úp Nham-biền do Trung-Thành vương tổng chỉ huy. Lực lượng thống thuộc gồm hạm đội Bạch-đằng của đô đốc Trần An, hiệu Vạn-tiệp của Ninh-viễn đại tướng quân Tạ Duy và hiệu Thần-điện của Tuyên-vũ đại tướng quân Triệu Thu. Nhiệm vụ đánh tiêu diệt quân Tống còn lại ở Nham-biền, cướp phá kho lương, làm cho tiền quân đánh Vạn-xuân không còn đường về. Sau đó tiến đến hậu cứ Tống ở Như-nguyệt khiến tiền quân Tống ở Như-nguyệt kinh hoảng phải rút lui.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Mặt trận Vạn-xuân, do chính tôi chỉ huy. Lực lượng thống thuộc có hạm đội Thần-phù của đô đốc Trần Hải, hiệu Hùng-lược của Định-viễn đại tướng quân Ngô Ức, hiệu Đằng-hải của Vân-ma thượng tướng quân Trần Ninh, hiệu Long-dực của Trung-vũ đại tướng quân Dương Minh; được tăng viện đội Thần-tiễn Long-biên, đội Giao-long Tây-hồ, đội võ sĩ Đông-a. Nhiệm vụ: Giữ chiến lũy Vạn-xuân, tiêu diệt tiền quân Tống, sau đó tiến về Như-nguyệt.

Vương đứng dậy cung tay hướng Trần Phụ-Quốc:

– Bây giờ tới kế hoạch tiến công. Đầu tiên ta đánh vào tâm địch trước. Vậy kể từ đêm mai, xin sư bá chỉ huy chư đệ tử, dùng nội lực bắc loa hướng vào các trại Tống, thi hành kế hoạch của thái phó Quách Sĩ-An: Giả làm thần đọc Thiên-thư, đọc thơ để loạn lòng quân giặc. Cháu hy vọng rằng, sau mười lăm ngày nghe đọc Thiên-thư, thơ, thì tinh thần quân Tống sẽ rối loạn không ít.

Vương nói với các tướng:

– Hiện địch chỉ biết ta có một hiệu trấn chiến lũy, một hiệu đóng ở phía sau chiến lũy hai mươi dặm trên đường về Thăng-long. Còn hạm đội Thần-phù với ba hiệu binh, chúng tưởng ta trấn giữ ở cửa biển Bạch-đằng, không bao giờ chúng ngờ tới việc ta đánh úp Nham-biền. Vậy hai hạm đội Bạch-đằng, Thần-phù với ba hiệu binh Hùng-lược, Vạn-tiệp, Thần-điện cứ đóng ở cửa các sông lớn. Ngày mười chín tháng giêng giờ Thìn, quân Tống ào ạt vượt sông, thì sau hai giờ đánh chiến lũy, chúng mệt mỏi, ta mới xuất hiện. Vậy hai hạm đội xuất phát giờ Dần, sao cho giờ Tỵ tới mục tiêu.

Buổi họp chấm dứt.

Tại chiến lũy Vạn-xuân, Đại-Việt.

Ngày 19 tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Giờ Thìn.

Đúng lúc Quách Quỳ cho đổ hai mươi vạn quân từ Bắc Như-nguyệt sang Nam ngạn; chiến trận kinh thiên động địa bắt đầu điễn ra; cũng đúng lúc Yên Đạt phất cờ lệnh, cho bè chở mười vạn quân đánh chiến lũy Phú-lương; thì tại mặt trận Vạn-xuân, Nham-biền nổ ra khủng khiếp gấp bội.

Tu Kỷ là một tướng tài trí bậc nhất của Tống. Y được Quách Quỳ ủy cho chỉ huy cánh tả, đánh xuống Vạn-xuân, rồi tiến về vây Thăng-long. Lực lượng cánh tả có mười đạo binh triều, một trăm chỉ huy tân-đằng-hải, năm vạn bảo binh, năm vạn hàng binh. Tổng cộng hai mươi vạn. Trong đó có năm nghìn kị binh.

Trong trận đánh đêm Giao-thừa trước đây, cánh này bị tổn thất mất hai vạn, đa số là quân tân-đằng-hải, đã được bổ xung bằng hàng binh, vì vậy tinh lực còn nguyên.

Tu Kỷ cho quân đồn trú làm ba khu, theo hình tam giác. Khu Nam gồm có mười đạo binh triều, với năm vạn bảo binh. Khu Bắc gồm hơn trăm chỉ huy tân-đằng-hải. Khu Đông gồm binh các khê động Nam phương của Tống và hàng binh Bắc biên Đại-Việt. Còn tại trung ương, y cho đồn trú tổng hành doanh, kị binh và lương thảo, xe cộ, vũ khí.

Tuy lệnh Quách Quỳ ban ra cho y tướng phải dùng bè vượt sông, hư trương thanh thế đánh chiến lũy Nam Nham-biền. Nhưng y giữ bí mật không cho quân biết. Tế tác đã báo cho Tu Kỷ rõ rằng, quân Việt chỉ có hai hiệu Thiên-tử binh. Hiệu Long-dực do Dương Minh với vợ là Phương-Cúc chỉ huy. Hiệu Đằng-hải trấn ở phía sau hiệu Long-dực hai mươi dặm, do vợ chồng Trần Ninh, vợ chồng Lý Ngũ chỉ huy. Tướng tổng chỉ huy phòng tuyến Nham-biền là Tín-Nghĩa vương; mưu trí, võ công thuộc loại số một số hai Đại-Việt.

Cũng như ở Như-nguyệt, suốt mười bốn đêm qua, « thần nhân» từ trên trời hiện xuống đọc Thiên-thư của Tống triều cùng thơ của thần cho binh Tống nghe. Tướng sĩ Tống hoang mang cùng cực, tinh thần căng thẳng vô cùng.

Nhưng phương lược đã định, Kỷ chia quân làm hai cánh. Cánh tả do Đào Bật, Quản Vi chỉ huy. Cánh hữu do chính y chỉ huy. Tướng Lý Thật phụ trách trấn ở Bắc-ngạn, bảo về phù kiều. Còn Giới Định với hàng tướng Lưu Báo giữ hậu cứ.

Cuối giờ Mão sang giờ Thìn, Kỷ bàn với Quản Vi, Đào Bật:

– Bên kia sông, quân Giao chỉ có một hiệu Thiên-tử binh gần vạn người. Trong khi ta đem năm vạn quân triều, ba vạn Ttân-đằng-hải, thì ta nuốt chúng dễ dàng. Thế nhưng Quách Quỳ lại bắt ta đóng vai hư. Thực cũng bực mình. Tôi nghĩ, chúng ta nên dứt điểm tên Tín-Nghĩa, rồi xua quân tràn về Thăng-long, khiến bọn Quách Quỳ nể mặt chúng ta một phen.

Đào Bật, Quản Vi cũng có ý tưởng đó:

– Nhất là phía sau lưng ta, giặc không còn một tên quân. Việc gì ta phải lưu binh giữ trại? Nhưng tôi hơi lo lắng một chút, vì không biết hiện Trung-Thánh vương với hạm đội Thần-phù và ba hiệu binh trực thuộc của y ở đâu? Nếu thình lình chúng xuất hiện thì nguy lắm.

– Nếu y xuất hiện, thì ta đánh cầm chừng, rồi rút. Ta là hư mà!

Đúng giờ Thìn, Kỷ cho phát pháo. Một loạt trăm bè, chở mười đạo binh triều, năm vạn người cùng vượt sông. Bè đã tới giữa sông, mà bên kia chiến lũy vẫn không thấy một tên quân Việt xuất hiện. Hai lá cờ đang bay phất phới. Một lá mầu hồng, chính giữa thiêu hình con âu vàng, đó là kỳ hiệu của hiệu Thiên-tử binh Long-dực. Cạnh đó lá khác thêu chữ Trung-vũ đại tướng quân, Chính-Tâm hầu Dương.

Bè tiến gần sang Nam ngạn. Hơn năm vạn quân thiện chiến bậc nhất của Tống, từng tung hoành trên trên sa mạc Tây-thùy, Bắc-thùy cùng hướng mắt nhìn lên chiến lũy cao vòi vọi.

Thình lình, ba tiếng trống lệnh vang lên. Cờ xí, quân sĩ Việt cùng xuất hiện trên chiến lũy. Nhìn kỳ hiệu, bất giác Tu Kỷ kinh hoàng: Vì tế tác báo rằng quân Việt chỉ có một hiệu Long-dực, mà bây giờ y lại thấy kỳ hiệu Đằng-hải, Hùng-lược, Vạn-tiệp, Thần-điện. Như vậy quân Việt hiện diện tới năm hiệu.

Tuy vậy, đã trót vượt sông, y hô quân nhảy khỏi bè, leo lên phá lũy. Trong khi đó bè nhanh chóng kết thành hai phù kiều. Các chỉ huy tân-đằng-hải ào ào qua sông.

Quân Việt xuất hiện chống trả rất mãnh liệt. Khi quân Tống còn đang lội lõm bõm dưới nước, thì quân Việt dùng tên bắn xuống. Sau hai khắc cầm cự, quân Tống đã phá được lớp rào thứ ba, thì quân Việt dùng dáo dài tấn công.

Tấn công một lúc, Tu Kỷ mới biết mình trúng kế hư binh, vì trong chiến lũy, quân Việt quá ít, có lẽ chưa tới một hiệu, mà hư trương thanh thế năm hiệu để dọa quân Tống.

Kỷ lại gần Đào Bật, Quản Vi. Vi chửi thề:

– Tổ bà nó. Anh em mình lại trúng kế bọn Nam man rồi. Rõ ràng trong chiến lũy chúng chỉ có một hiệu binh, mà chúng kéo cờ hư trương thanh thế tới năm hiệu, làm từ sáng đến giờ anh em mình không dám tấn công. Bây giờ đã biết sự thực. Ta tấn công ào ạt hạ cho bằng được chiến lũy này, rồi tiến về Thăng-long.

Hai người ra lệnh cho quân tấn công ráo riết. Trong khoảng ba khắc, đã phá được lớp rào thứ chín. Quân Việt chống trả mãnh liệt. Đến hết giờ Tỵ, quân Tống phá được lớp rào cuối cùng, tràn vào trong chiến lũy như nước vỡ bờ.

Một hồi tù và rúc lên, hiệu binh Long-dực lùi lại phía sau chiến lũy. Lý Bát, Lý Cửu, cùng hai phu nhân chỉ huy mười dàn Thần-nỏ, mỗi dàn có năm mươi Thần-tiễn Long-Biên hộ tống. Nỏ thần tác xạ loạt đầu, quân Tống ngã lổng chổng. Trong khi Thần-nỏ nạp tên để bắn loạt thớ nhì, thì Thần-tiễn Long-biên cùng hiệu Đằng-hải từ sau xuất hiện hợp với hiệu Long-dực dương cung bắn vào đội hình quân Tống. Quân Tống lớp lớp bị bắn ngã.

Một hồi tù và rúc lên, hiệu Long-dực, Đằng-hải reo hò tiến lên chém giết quân Tống, chiếm lại chiến lũy. Trước kia chỉ có hiệu Long-dực, mà quân Tống phải chết biết bao nhiêu người mới leo vào chiến lũy được. Bây giờ thêm hiệu Đằng-hải với đội cung thủ Long-biên liên thủ, quân Tống bị chặn lại ở giữa các lớp rào chiến lũy. Cuộc giao tranh khốc liệt diễn ra.

Thình lình có tiếng la hoảng phía sau. Tu Kỷ quay lại nhìn: Một đoàn quái vật thân thể giống người, mặt đen như nhọ chảo, khắp người có vảy như vảy rồng, từ dưới sông vọt lên như cá, rồi vung đao chém quân giữ phù kiều. Võ công bọn này thực kinh khủng, hơn năm nghìn quân giữ phù kiều mà thoáng một cái đã bị giết chết hoặc đánh rơi xuống sông. Hai phù kiều bị cắt đứt. Bọn quái nhân chiếm bè, rồi khoan thai chèo về phía Đông.

Thế là quân Tống mất đường về. Tu Kỷ chợt nhớ lại: Tế tác báo cho biết, Giao-chỉ có một đội Giao-long binh khoảng năm trăm người, bơi lội cực giỏi, có tài lặn dưới nước dưới nước cả ngày, võ công rất cao cường. Hồi chiến tranh Chiêm Việt, đội binh này đã đục thuyền, khiến trọn vẹn ham đội Chiêm chìm dưới đáy biển. Chăc là bọn này.

Bây giờ phù kiều bị phá, bè bị cướp mất, quân Tống chơi vơi ở giữa chiến lũy, mất đường về. Tu Kỷ quyết định: Quân trong chiến lũy không nhiều, chỉ có cách chiếm chiến lũy, mới mong sống còn.

Tu Kỷ hô quân tấn công ráo riết. Bây giờ quân Việt mới xuất hiện thực đông chống trả. Quân Tống chết chồng chất trên các lớp rào.

Thình lình quân Tống la hoảng. Kỷ quay nhìn lại: Một đoàn chiến thuyền nhỏ từ phía Đông chèo tới nhanh như tên bắn. Trên mỗi chiến thuyền đều có hai dàn Thần-nỏ. Thần-nỏ cùng tác xạ vào phía sau quân Tống. Chỉ loạt đầu, hơn vạn người ngã lộn xuống sông.

Quân Tống chơi vơi la hét như điên loạn, phía trên thì quân thủ chiến lũy đánh xuống; phía sau thì Thần-nỏ tác xạ, hàng ngũ rối loạn, tiếng gọi nhau ơi ới. Nhưng quân Việt chỉ dùng Thần-nỏ bắn có một loạt đầu, rồi dàn ra đe dọa.

Loa gọi lớn bằng tiếng Biện-kinh:

– Chư quân Tống nghe đây! Vì Hy-Ninh, Quách Quỳ làm trái Thiên-thư nên các người bị bại. Các người thử nhìn xem phía trước là chiến lũy, lên không được. Phía sau là sông sâu, Thần-nỏ bắn vào lưng, không chỗ nấp, chẳng có gì che thân. Các người hãy buông vũ khí đầu hàng, sẽ được tha chết.

Quân Tống còn đang lưỡng lự, thì chiến thuyền lớn, nhỏ từ phía Đông đã tới từ bao giờ. Trên các chiến hạm, cờ xí bay phất phới. Quân sĩ uy nghi, gươm đao sáng ngời. Chiến thuyền ghé bờ Bắc, đổ quân xuống hai đạo quân. Một đạo là hiệu Hùng-lược của Định-viễn đại tướng quân Ngô Ức với phu nhân Phương-Dược. Một đạo là thủy quân của hạm đội Thần-phù.

Trên bờ Bắc, Lý Thật có một trăm chỉ huy tân-đằng hải, với hai vạn bảo binh, thì hai mươi chỉ huy tTân-đằng-hải đã vượt phù kiều sang Nam ngạn, hiện đang mắc kẹt ở dưới chiến lũy. Mười chỉ huy ở trên phù kiều, bị đội Giao-long giết chết, hay đánh rơi xuống sông. Bây giờ Thật chỉ còn hai mươi chỉ huy với bảo binh.

Nhìn sang Nam ngạn thấy Tu Kỷ, Quản Vi đang chơi vơi, y muốn thúc các chỉ huy tân-đằng-hải cứu viện, nhưng phù kiều đã bị bị cướp mất. Y chưa biết phải làm gì thì chiến hạm Thần-phù ghé vào Bắc ngạn. Hiệu binh Hùng-lược, thủy quân của hạm đội Thần-phù; khí thế mạnh nghiêng trời lệch đất đổ bộ. Y dàn hai mươi chỉ huy tân-đằng-hải với bảo binh ra chống cự.

Trong khi quân hai bên bắt đầu giao chiến, thì ở Nam ngạn, Quản Vi đưa mắt nhìn trận tuyến Việt: Một trung niên nam tử, dáng người hùng vĩ, bên cạnh một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp. Cả hai đang đứng trên chiến hạm Việt cầm loa gọi:

– Buông vũ khí, rồi bơi ra giữa sông, leo lên bè đầu hàng. Bằng không ta cho buông tên. Ta, Tín-Nghĩa vương chuyên lấy đức trị người, nói một là một, nói hai là hai.

Quân Tống đành ném vũ khí xuống sông rồi bơi ra bè. Quân Việt trói lại. Phân nửa tướng Tống đầu hàng, còn phân nửa đều vung kiếm tự tử ngay ở hàng rào chiến lũy.

Tu Kỷ bàn với Quản Vi, Đào Bật:

– Bây giờ chúng ta chỉ còn có cách bắt sống cặp vợ chồng Tín-Nghĩa vương, mới mong sống sót. Nào, tôi tấn công thằng chồng, huynh tấn công con vợ nó.

Ba người cùng vọt lên cao như con diều hâu, rồi đáp xuống một chiếc bè. Từ chiếc bè nhấp nhô mấy cái hai người đã nhảy lên chiến hạm. Trong khi còn lơ lửng trên không, Tu Kỷ phóng chưởng tấn công Tín-Nghĩa vương; Quản Vi, Đào Bật phóng chưởng tấn công vương phi Lê Ngọc-Nam. Chưởng của hai người mạnh đến nghiêng trời lệch đất.

Vương xuất chiêu Đông-hải lưu phong hướng lên trời đánh thẳng vào người Tu. Hai chưởng đụng nhau đến bùng một tiếng. Tu Kỷ cảm thấy cánh tay tê rần, khí huyết hỗn loạn cực kỳ khó chịu. Còn Tín-Nghĩa vương cảm thấy trời long đất lở, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Vương phải lùi đến ba bước để giữ thăng bằng.

Vương đưa mắt nhìn vương phi: Vương phi rút kiếm xỉa vào giữa chưởng của Đào Bật. Bật kinh hãi, vội biến chưởng thành cầm nã bắt kiếm. Ngọc-Nam vòng kiếm xuống dưới rồi tà tà đưa vào ngực Bật. Bật vội rút kiếm gạt; hai kiếm chạm nhau đến choang một tiếng. Đào Bật đã đáp xuống sàn cùng Ngọc-Nam chiết chiêu.

Về phía Quản Vi, y vừa lên sàn thuyền, tay đã rút thanh đoản đao tấn công vương phi cùng với Đào Bật. Nhưng tiếng rít lên ở phía sau lưng y, rồi một thanh nhuyễn tiên đánh thẳng vào cổ y. Kinh hoàng y vội tung người lên cao tránh đòn. Ở trên cao y nhìn xuống, người tấn công y bằng chiếc roi chỉ huy quân là một thiếu niên mặt non choẹt. Khinh thường thiếu niên, y đưa đao bổn xuống đầu đối thủ. Thiếu niên tỏ ra rất can đảm, dùng roi quấn lấy đao của Vi rồi giật mạnh. Vi quay đao một cái, cây roi đứt làm ba bốn đoạn, vừa lúc đó y đáp xuống sàn. Thiếu niên vẫn không lùi bước, tay rút kiếm đưa một chiêu thần tốc vào ngực Vi. Vi vung đao gạt. Choang một tiếng, kiếm của thiếu niên bay tung lên trời, Vi bổ một đao vào đầu thiếu niên. Thiếu niên mỉm cười không tránh, mà dùng tay bắt đao của Vi. Vi kinh ngạc tử hỏi:

– Thằng lỏi con này, võ công kém ta xa, nó có điên không mà dám bắt đao của ta?

Nhưng khi đao Vi gần tới cổ thiếu niên, thì một mùi hương thơm ngát xông vào mũi y, rồi cánh tay y mất hết kình lực; đao của y bị thiếu niên bắt lấy rồi đưa vào ngực y. Máu từ ngực y vọt ra, y ôm ngực lảo đảo, miệng quát lên:

– Tại sao tay ta lại liệt? Ai đánh trộm ta?

Trước khi ngã xuống, y cũng còn kịp thấy một thiếu nữ xinh đẹp đang chống kiếm nhìn y. Thiếu nữ chắp tay lễ phép chỉ vào thiếu niên:

– Vi tướng quân, tôi là Mai-Cửu vợ của anh Lý Cửu. Vì chồng tôi sắp mất mạng về tay tướng quân, nên tôi phải tung viên thuốc Đoạn-cân hoàn vào huyệt khúc trì của tướng quân. Vì vậy tay tướng quân mới bị mất lực.

Quản Vi than:

– Hỡi ơi! Ta nghe Giao-chỉ có Thần-vũ thập anh, Thập bát Kim-cương là đệ tử của Mộc-tồn hòa thượng. Không ngờ ta bị mất mạng vì cặp Kim-cương thứ chín.

Nói rồi, y gục xuống, mắt trợn ngược.

Hai cặp vợ chồng Lý Bát, Lý Cửu chỉ huy đội võ sĩ Đông-a vây kín Tu Kỷ, Quản Vi lại. Hai người tả xung hữu đột, nhưng không thoát ra được. Biết có đánh nữa, thì cũng đến mất mạng vô ích. Tu Kỷ quát lớn:

– Khoan!

Đội võ sĩ Đông-a cùng ngừng tay, lùi lại. Tu Kỷ hướng Tín-Nghĩa vương:

– Vương gia! Họ Tu này nghe vương gia học nghề với ngoại tổ là Côi-sơn đại hiệp Trần Tựï-An, nức tiếng thiên hạ. Thế sao vương gia không thể tứ giáo cho tại hạ mấy chiêu, mà lại dùng số đông vây phủ? Võ đạo Đại-Việt như thế ư?

Sợ chồng tha cho Tu Kỷ, vương phi cười nhạt:

– Này Tu tướng quân. Chỉ vì xưa kia quốc công Thân Thiệu-Cực tha cho tướng quân trên núi Tản; Đại tư mã Thường-Kiệt tha cho Tư tướng quân trong trận Phong-sa-trang; mới đây công chúa Kim-Thành tha cho Tu tướng quân trong dịp họ Dương nổi loạn, mà ngày nay mấy trang động Bắc-biên bị tướng quân tàn sát. Hiện giờ chúng ta đối trận với nhau, chứ không phải đấu võ mà phải tuân theo lề luật võ lâm. Đã đối trận thì phải dùng quân.

Vương phi hô:

– Tấn công!

Tu Kỷ, Đào Bật kinh hãi, vội phóng liền ba chưởng về bên phải, rồi cả hai tung mình nhảy xuống sông. Vương phi Ngọc-Nam rút kiếm phóng theo Tu Kỷ. Hai người rơi ùm xuống nước. Tu Kỷ phóng chưởng đánh vào đầu vương phi. Phi lặn xuống dưới nước. Chưởng của Kỷ làm nước bắn tung lên thành cột.

Trong khi ấy, một người từ chiến lũy Nam ngạn tung mình nhảy ùm xuống sông. Vừa rơi xuống, người đó lại vọt lên cao như con cá. Cứ như thế, người đó vọt hơn mười lần thì đến bên Đào Bật, tay rút kiếm đâm y. Đào Bật vội lặn xuống nườc. Người đó cũng lặn theo y.

Tín-Nghĩa vương nhận ra người đó là Dương Minh.

Cuộc chiến dưới nước giữa Ngọc-Nam, Tu Kỷ; Dương Minh, Đào Bạt diễn ra ác liệt trước mắt hàng mấy vạn người. Sau hơn khắc, Tu Kỷ, Đào Bật đã cảm thấy mệt mỏi lắm rồi. Hai người lặn xuống dưới nước, chuồn sang Bắc ngạn. Ngọc-Nam, Dương Minh cũng lặn theo. Không biết những gì xẩy ra dưới nước, chỉ thấy sóng cuồn cuộn nổi lên. Hơn khắc sau, từ giữa giòng sông « ầm » một tiếng, vương phi Ngọc-Nam tay túm tóc Tu Kỷ vọt lên khỏi mặt nước, tà tà đáp lên sàn chiến hạm. Phi ném y xuống mặt chiến hạm đến bộp một tiếng. Chư quân thấy mắt y mở trừng trừng, bụng chương lên như cái trống.

Võ sĩ trói y lại. Còn vương phi vào khoang chiến hạm thay y phục.

Tiếp theo, Dương Minh túm tóc Đào Bật tung lên chiến hạm, người y bị ba bốn vết thương, máu chảy đầm đìa.

Tín-Nghĩa vương dùng mưu bắt được hơn ba vạn quân triều, hơn vạn quân tân-đằng-hải rồi, vương nhìn lại bờ Bắc: Hiệu Hùng-lược, thủy quân tuy ít hơn quân Tống, nhưng đã chọc thủng chiến tuyến khiến hàng ngũ quân Tống rối loạn. Tướng Lý Thật với đội võ sĩ cận vệ vẫn can đảm đứng chỉ huy chống trả. Vương cho hạm đội Thần-phù kết bè làm phù kiều, rồi ra lệnh:

– Dương Minh, Phương-Cúc với hiệu Long-dực trấn chiến lũy, bảo vệ phù kiều. Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương, Lý Ngũ, Mai Ngũ đem hiệu Đằng-hải vượt sông đánh ngược trở lên, tiếp viện Ngô Ức, Phương-Dược.

Trần Ninh, Ngọc-Hương phi ngựa dẫn đầu cánh tả; Lý Ngũ, Mai Ngũ dẫn đầu cánh hữu. Binh sĩ hiệu binh Đằng-hải như đoàn sư tử đói reo lên rung động mặt sông, thoáng một cái đã vượt phù kiều đánh vào hông trận tuyến của Tống. Trận Tống bị cắt làm ba làm bốn. Các chỉ huy tân-đằng-hải chưa có kinh nghiệm chiến đấu, chưa quen phối hợp, thì đấu sao lại Thiên-tử-binh? Thế là trận Tống bị vỡ. Quân Việt xung vào chém giết, không đầy một khắc, bao nhiêu quân Tống còn lại, hoặc đầu hàng, hoặc bị giết.

Biết thế nguy Lý Thật cùng đội võ sĩ tung mình chạy về hướng Bắc. Nhưng một người mặc quần áo nâu, tóc đã bạc, chỉ huy một đội võ sĩ dàn ra trấn trước mặt y. Kinh hoàng, y kêu lên:

– Phải chăng người là Phụ-quốc thượng tướng quân, tổng lĩnh thị vệ Vương Văn?

– Đúng thế, Vương Văn là tên giả. Tên thực của ta là Trần Phụ-Quốc. Dường như người có quen ta?

– Trước đây tiểu nhân từng là thị vệ dưới quyền tướng quân. Xin tướng quân tha cho tiểu nhân.

Phụ-Quốc đưa mắt nhìn Trần Ninh, Ngọc-Hương như hỏi ý kiến. Trần Ninh lắc đầu:

– Xin sư bá tha lỗi. Y là bộ hạ cũ của sư bá, nhưng nay y là kẻ đi chiếm nước của đệ tử. Đệ tử không thể tha cho y.

Phụ-Quốc lắc đầu, cùng đội võ sĩ rút ra phía bờ sông. Trần Ninh hô lên một tiếng, đội cung thủ thuộc hiệu Đằng-hải buông tên, đám võ sĩ Tống không kịp phản ứng, bị bắn ngã gần hết. Lý Thật tung mình chạy, Lý Ngũ đưa mắt cho vợ; Mai-Ngũ bắn theo hai viên thuốc, kình lực kêu lên tiếng véo. Lý Thật đang lơ lửng trên không, bị hai viên thuốc Đoạn-cân hoàn trúng đầu gối. Hai chân y bị tê liệt, y rơi xuống như trái mít rụng. Thiên-tử binh định trói y lại. Biết thế nguy, tay y rút kiếm đưa lên tự đâm vào ngực tự tử.

Thế là trận chiến ở Nam ngạn, Bắc ngạn Vạn-xuân chấm dứt.

Trên suốt một giải đất Bắc ngạn sông Cầu, xác người, xác ngựa, xe cộ, quân trang, vũ khí nằm la liệt dài đến hơn mười dặm.

Tín-Nghiã vương ra lệnh:

– Trần Ninh, Ngọc-Hương, Lý Ngũ, Mai Ngũ mau đem quân tiến về Nham-biền bắt tay với Trung-Thành vương, rồi tiến về Tây đốt phá hậu cứ quân Quách Qùy.

– Ngô Ức đem hiệu Hùng-lược, xuống hạm đội Thần-phù cũng ta tiến về Như-nguyệt.

Giữa lúc đó có tiếng quân reo, tiếng ngựa hí tiếng vũ khi chạm nhau từ xa vọng lại, rồi lửa từ căn cứ Tống ở Nham-biền bốc cháy ngùn ngụt.

Trần Ninh, Ngọc-Hương cầm cờ phất lên dẫn đầu cánh tả; Ly Ngũ, Mai ngũ dẫn đầu cánh hữu. Hiệu binh Đằng-hải thiện chiến anh hùng nhất Đại-Việt, từng làm mưa làm gió trong trận Hỏa-giáp, Ung-châu vượt phù kiều như đàn sư tử đói, vừa reo vừa tiến. Trống thúc nhịp nhàng.

Tín-Nghĩa vương bảo Ngô Ức, Phương Dược:

– Hai em cho cho quân lên sàn chiến thuyền phất cờ, reo hò, thúc trống, hư trương thanh thế làm như tiến về Như-nguyệt.

Ngô Ức hỏi:

– Vương gia! Tại sao ta phải làm thế?

– Ta ước tính giờ này, quân Quách Quỳ đã phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt đang tiến về Thăng-long. Cho nên ta hư trương thanh thế, để y sợ mà rút quân về Bắc Như-nguyệt. Bấy giờ công chúa Thiên-Ninh sẽ tái chiếm chiến lũy Như-nguyệt. Còn chúng ta sẽ dàn ra không cho Tóng tái đổ bộ Như-nguyệt nữa.

Ngô Ức y lệnh thi hành. Một đoàn chiến thuyền dàn ra tới mấy dặm, phất cờ, thúc trống, quân reo hò từ từ tiến về hướng Tây.

Tín-Nghĩa vương với vương phi Lê Ngọc-Nam ngồi trên sàn một soái thuyền. Vương thấy vương phi luôn bồn chồn nhìn về hướng Tây thì hỏi:

– Em có gì không yên tâm?

– Em lo quá, nếu Như-nguyệt thất thủ thì Thanh-Thảo ắt lành ít dữ nhiều. Trong Hồng-hà ngũ long, thì Ngọc-Huệ đã hy sinh ở Ngọc-sơn rồi. Không lẽ trận này đến Thanh-Thảo?

– Em có lo cũng vô ích thôi. Buổi họp ngày mùng một Tết, chúng ta đã khẳng định rằng trấn ở Như-nguyệt là cầm chắc cái chết trong tay. Giờ này e Thanh-Thảo đã hy sinh rồi cũng nên.

Quân sĩ đã băng bó cho Đào Bật, dốc ngược đầu cho nước ra khỏi bụng Tu Kỷ, rồi giải tới trước mặt vương với vương phi. Tu Kỷ vẫn không khuất phục:

– Vương phi! Đánh nhau dưới nước, thì vương phi thắng mỗ, chứ đánh nhau trên cạn thì mỗ nhất định thắng vương phi. Nghĩ lại, một đời Tu mỗ, anh hùng cái thế, mà bị bắt ở đây như thế này, thì cũng đáng tiếc thực.

Vương phi Ngọc-Nam là người ôn nhu văn nhã bậc nhất trong Hồng-hà ngũ long. Nghe Tu Kỷ tỏ ý bất khuất, phi cười:

-Tu tướng quân nói đúng. Bản lĩnh Tu tướng quân cao thâm hơn ta nhiều.

Phương-Dược ngồi cạnh vương phi Ngọc-Nam, bà lên tiếng hỏi:

– Tu tướng quân! Tướng quân có biết vương phi biệt hiệu là gì không?

– ???!!!

– Hồi niên thiếu vương phi cùng bốn người bạn nữa nổi danh là Hồng-hà ngũ long.

– Thế ngũ long là những ai?

– Hoàng-long là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Bạch-long là Nhu-mẫn, Đoan-duệ, Anh-văn công chúa Trần Ngọc-Huệ. Thanh-long là vương phi Trung-Thành vương nhũ danh Nguyễn-thị Trinh-Dung. Hồng-long là Hòa-huệ, Ninh-tĩnh, Ôn-văn công chúa Vũ Thanh-Thảo.

Tu Kỷ thở dài:

– Như vậy vương phi đây là Hắc-long?

– Không, Huyền-long chứ không phải hắc. Này tướng quân! Tướng quân được võ lâm tướng sĩ, Tống đặt cho mỹ danh là Xích-ô có đúng thế không?

Tu Kỷ kêu lên:

– Ta bại là phải! Ta bại là phải! Hỡi ôi! Con quạ lửa mà nhảy xuống nước, đấu với rồng đen, thì kết quả đã thấy rõ rồi.

Phương Dược hỏi Đào Bật:

– Đào tướng quân! Nếu đánh nhau trên cạn, anh Dương Minh của chồng tôi thực không đỡ nổi ba chiêu của tướng quân. Nhưng tướng quân có biết biệt hiệu của anh Dương Minh là gì không?

– ???!!!

– Phu quân tôi là người đứng hàng thứ sáu trong Tây-hồ thất kiệt. Anh Dương Minh đứng hàng thứ nhì. Sau trận đột kích đêm Giao-thừa, nguyên soái Quách Quỳ gọi Tây-hồ thất kiệt là Giao-long thất quái. Phó nguyên soái Triệu Tiết gọi là Giao-chỉ thất long. Đào tướng quân có biệt hiệu là Trầm-hà cư sĩ phải không?

– Đúng thế.

– Trầm là con sông Trầm, nhưng cũng có nghĩa là chìm. Hà là sông, nhưng cũng có nghĩa là con tôm. Con tôm, mà gặp giao-long, thì sống sao nổi? Vậy tướng quân có muốn nói gì nữa không?

– Bại tướng thì chỉ có chết mà thôi. Phu nhân giết ta đi cho rảnh.

– Được! Lát nữa chúng ta sẽ đem hai người về Ngọc-sơn tế công chúa Trần Ngọc-Huệ với tướng quân Bùi Hoàng-Quan.

Một con thuyền nhỏ áp mạn vào chiến hạm, rồi một người tóc bạc như cước, nhưng mặt đẹp vô cùng tung mình nhảy lên. Người đó là Trần Phụ-Quốc. Tín-Nghĩa vương với vương phi cung tay:

– Đại sư bá.

Đào Bật thấy Phụ-Quốc thì kêu lên:

– Người! Người! Phải chăng người là đô đốc Tương-giang hồ Động-đình, sau làm Phụ-quốc thượng tướng quân tổng lĩnh thị vệ chăng?

Phụ-Quốc không nhận ra Đào Bật, ông hỏi:

– Dường như người có quen biết ta?

– Tiểu nhân là Đào Bật, trước đây làm sư trưởng ngự lâm quân dưới quyền tướng quân.

Lòng Phụ-Quốc nhũn ra, ông đưa mắt nhìn Tín-Nghĩa vương, mà không dám nói một câu. Hiểu ông bác thi sĩ nhiều tình cảm của mình hơn ai hết. Vương cung tay:

– Việc Tu, Đào tướng quân xin để sư bá phát lạc.

Phụ-Quốc nói với Tu, Đào bằng giọng ôn tồn của kẻ cả:

– Hai tướng quân là những anh tài của đất Hoa-hạ, trí dũng có thừa. Hai chục năm qua, vào sinh ra tử biết bao phen, mong có chút công danh. Thế mà cho đến nay, cái tước hầu cũng chưa thấy đâu. Trong khi bọn thư sinh mặt trắng ngồi ở Biện-kinh gây chiến với lân bang, rồi bắt chư tướng lăn mình vào chỗ chết. Nếu như việc thành, thì Hy-Ninh cho là công của chúng. Còn thất bại, chúng đổ lên đầu chư tướng, rồi đem giết cả nhà. Hỡi ôi! Nam nhi đại trượng phu da ngựa bọc thây là truyện thường, nhưng đầu bị chém vì bại trận; thây mình, đầu mình; thây vợ, thây con... dĩ chí thây cha mẹ bị đem phơi ở chợ cho dân chúng coi. Nhà cửa, ruộng đất bị tịch thu thì thực là thảm thương.

Phụ-Quốc bấu tay hai cái, dây trói hai người dứt rời, ông lại lấy bầu rượu bên hông đưa cho Tu, Đào:

– Uống đi, rồi ta đưa vào bờ. Sau trận này, ví dù Quách Quỳ có chiếm được Đại-Việt, thì hai tướng quân cũng không thể được thăng quan tiến chức. Vậy từ nay, hai tướng quân nên cáo bệnh, chẳng nên xuất trận nữa, nhớ không?

– Dạ.

Bấy giờ là tháng giêng, tiết trời lạnh giá, mà hai người ở dưới nước khá lâu, rồi bị trói với quần áo ướt, người run lập cập. Bây giờ được rượu thì mừng chi siết, hai người vội đưa lên miệng uống hết sạch; rồi cung tay vái Phụ-Quốc, Tín-Nghĩa vương, vương phi, sau đó theo võ sĩ đội Giao-long xuống con thuyền nhỏ bơi vào bờ.

Ghi chú,

QTNC, TTCTGCK chép rằng: « Đào Bật, Tu Kỷ là hai tướng tài, thế mà sau khi bại trận, được giặc tha cho về, cáo ốm cho đến ngày lui quân ».


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU

Công cha, nghĩa mẹ



Tại căn cứ Nham-biền, Đại-Việt.

Ngày 19 tháng giêng năm Đinh-Tỵ, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077)

Trong khi trận Như-nguyệt, Vạn-xuân, Phú-lương diễn ra, thì hạm đội Bạch-đằng từ sông Lục-Nam tốc thẳng đến mỏm Nham-biền, rồi đổ quân lên.

Đạo thủy quân hạm đội Bạch-đằng, của đô đốc Trần An có nhiệm vụ đánh trại phía Đông, do hàng tướng Lưu Báo với gần năm vạn quân khê động Tống trấn đóng. Tuy bị bất ngờ, nhưng khoảng cách từ bãi sông tới trại tới sáu dặm (3km), khi thấy quân Việt đỗ bộ, quyân Tống còn đủ thời giờ báo động, sẵn sàng nghinh chiến. Thủy quân Việt rất thiện chiến, nhưng quân số chỉ bằng một phần năm quân Tống, nên khi tới nơi, đô đốc Trần An cho dàn trận cách xa hơn dặm, rồi dùng Lôi-tiễn bắn vào. Sau hai loạt nã Lôi-tiễn, trại Tống bốc cháy khắp nơi. Bấy giờ thủy quân mới công phá doanh trại địch. Cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt.

Ninh-viễn đại tướng quân, Dũng-Tâm hầu Tạ Duy với phu nhân Phương-Quế chỉ huy hiệu Vạn-tiệp đánh căn cứ Bắc Nham-biền. Trong căn cứ chỉ còn có năm chỉ huy tân-đằng-hải, cùng với thương binh, do một đô thống chỉ huy. Từ bãi sông đổ bộ đến căn cứ dài tới tám dặm. Khi quân Việt đổ bộ, Tống đã biết, chuẩn bị nghênh chiến. Quân tân-đằng-hải vốn không thiện chiến, thiếu phối hợp, lại chỉ bằng một phần tư hiệu Vạn-tiệp thì chống sao nổi? Quân Việt dàn ra, rồi đánh vào trại. Cuộc chiến không đầy hai khắc (30 phút) thì quân Việt đã tràn ngập. Hầu hết tân-đằng-hải đầu hàng.

Lập tức Tạ Duy sai chim ưng báo cho Trung-Thành vương biết. Không đầy nửa khắc sau, hầu được lệnh vương giúp thủy quân đánh trại Đông. Hiệu Vạn-tiệp reo lên, rồi tiến về phía Đông. Hai khắc sau hai đạo Vạn-tiệp, thủy quân bắt tay được với nhau.

Tạ Duy hỏi đô đốc Trần An:

– Đô đốc! Tình hình ra sao?

– Chúng chống trả mãnh liệt. Vì quân số mình ít, quân chúng đông mà thủ, nên tôi chỉ mới cho nã Lôi-tiễn mà thôi. Giặc cùng chớ đánh. Vậy chúng ta dọa cho chúng bỏ chạy, rồi đuổi theo tiêu diệt thì hay hơn. Bây giờ tôi đánh vào mặt Đông, tướng quân đánh mặt Bắc. Mặt Nam thì trại Tống bị hiệu Thần-điện đánh úp rồi. Vậy ta để hở mặt Tây cho chúng chạy.

Tạ Duy đồng ý. Hầu cho dàn quân đánh vào mặt Bắc. Còn phu nhân Phương-Quế chi huy Lôi-tiễn nã vào trại Tống. Hai đạo quân cùng nã Lôi-tiễn trong nửa giờ, thì toàn thể trại Tống biến thành một biển lửa. Bấy giờ cả hai mặt Đông, Bắc cùng đánh vào. Quân phòng thủ chống trả được hơn khắc, thì trại bị tràn ngập. Số đông quân Tống đầu hàng.

Lưu Báo đã biết chiến thhuật của Thiên-tử binh là không bao giờ mạo hiểm truy kích địch. Vì vậy y cho đội cung thủ đi đoạn hậu, còn tiền quân rút chạy về phía Như-nguyệt.

Bộ chỉ huy của Trung-Thành vương đi theo hiệu Thần Điện của Tuyên-vũ đại tướng quân Tín-Tâm hầu Triệu Thu với phu nhân Phương-Liễu, đánh trại Nam Nham-biền. Trại này do chính binh Tống trấn đóng. Nhưng chính binh đã xuất trận hết, trong trại chỉ còn bảo binh, thương binh, do tướng Giới-Định chỉ huy. Vì vậy khi thấy hiệu Thần-điện vừa dàn ra ngoài trại, đánh trống, rồi dùng Thần-nỏ nã Lôi-tiễn vào, thì bảo binh bỏ chạy. Thế là trại vỡ. Vương lệnh cho Triệu Thu đánh vào trại trung ương, nơi đặt tổng hành doanh, chứa lương của Tu Kỷ. Hiệu Thần-điên reo lên, rồi tiến về trung ương. Trại trung ương trống trơn, chỉ còn lại hơn năm trăm thương binh.

Tín-Tâm hầu Triệu Thu vừa chiếm được trại trung ương, còn đang kiểm kê kho đụn, thì Trung-Thành vương với vương phi tới. Hầu tường trình tự sự. Đúng lúc đó vương nhận được báo cáo của đô đốc Trần An, Ninh-viễn đại tướng quân Tạ Duy rằng đã chiếm xong căn cứ phía Đông. Bọn Lưu Báo, Giới Định rút chạy về phía Như-nguyệt.

Vương ra lệnh cho Triệu Thu:

– Em cùng Phương-Liễu khẩn đem Thần-nỏ, với bản bộ quân mã đuổi theo ngay, đừng cho chúng chạy thoát về Như-nguyệt. Ta tăng viện cho hai em hai cặp vợ chồng Lý Lục, Lý Thất, vì võ công Giới Định rất cao.

Hầu tuân lệnh điểm binh lên đường liền. Đuổi không đầy hai khắc, thì đã thấy tàn quân Tống đang chạy phía trước. Lưu Báo biết có chạy, cũng khó thoát thân. Y cho dàn quân ra ở chân núi, sẵn sàng nghênh chiến. Quân số của y còn ước hơn vạn, đông hơn hiệu Thần-điện nhiều.

Hầu nói với phu nhân:

– Em với Mai-Lục, Mai-Thất đánh vào bên trái; còn anh với Lý Lục, Lý Thất đánh vào bên phải.

Hiệu Thần-điện xung vào trận. Quân Tống tuy vừa bại trận, nhưng bây giờ lâm thế cùng đường, bắt buộc phải tử chiến. Hai bên giao tranh ác liệt. Quân Tống dựa lưng vào núi, nấp sau những phiến đá dùng cung tên chống lại, thành ra Thần-nỏ hóa vô dụng. Sau hơn hai khắc giao tranh, thì hàng ngũ Tống bắt đầu rối loạn. Cánh trái của Phương-Đơn đã chiếm được một phần sườn núi. Cuộc đánh cận chiến bắt đầu.

Giữa lúc đó, có tiếng ngựa hí, tiếng quân reo. Triệu Thu nhìn lại phía sau: Xa xa, một đoàn kị binh Tống dàn ra đang phi tới như bay. Phía trước thì quân của Lưu Báo, phía sau thì kị binh. Hầu hô lớn:

– Phải thanh toán bộ binh, chiếm sườn núi, bằng không thì kị binh tới sẽ nguy lắm.

Quân Việt tấn công ào ạt, nhưng kị binh tới nhanh quá. Hầu cầm cờ biến thế trận: Hiệu Thần-điện chia làm hai, quay lưng vào nhau chiến đấu. Phu nhân đánh quân Lưu Báo, còn hầu chống với kị binh.

Chân núi là khu đất bằng, kị binh dàn ra xung vào trận mạnh như thác đổ. Lập tức Thần-nỏ tác xạ. Nhưng kị binh phi đến gần tầm sát hại của Thấn-nỏ, rồi quay đầu phi ngược trở lại. Cứ như thế, sau hai loạt tên bắn vô ích, đến lần thứ ba thì kị binh Tống ào ạt chọc sâu vào phòng tuyến Việt phóng lao, bắn tên, tấn công thực sự. Hiệu Thần-điện vẫn can trương quay lưng vào nhau chiến đấu.

Hiệu Thần-điện trước đã đánh trại Nam, trại trung ương, rồi giao chiến với bộ binh Lưu Báo, sức giảm phân nửa, tên gần cạn. Bây giờ phải chống nhau với đội kị binh thiện chiến bậc nhất của Tống, nên sau hai đợt xung phong của kị binh, phòng tuyến bị cắt làm ba. Triệu Thu ra lệnh cho quân rút lên núi, tử chiến với bộ binh Tống, tránh mũi nhọn của kị binh.

Quân kị lại ào ạt xung phong, tên bắn như mưa, một mũi tên trúng giữa bụng hầu. Tuy đau thấm tâm can, nhưng sợ binh sĩ trông thấy, hầu rút kiếm cắt đứt đuôi tên, rồi xé vạt áo buộc bụng lại, sau đó tiếp tục đứng chỉ huy quân. Nhờ Lý Lục, Lý Thất võ công cao cường đứng đầu hàng quân chống với kị binh, nên hàng ngũ chưa đến nỗi loạn.

Nhìn lại phía trận của phu nhân, bất giác hầu kinh hãi rụng rời, vì phu nhân đang giao chiến với Lưu Báo, đầu tóc rũ rượi, có vẻ yếu thế lắm rồi. Mai-Lục đấu với Giới Định ngang tay. Còn Mai-Thất đang thay thế phu nhân chỉ huy quân chống trả.

Trong lúc quân Việt đang chiến đấu tuyệt vọng, thì bỗng kị binh Tống reo lên rồi rút chạy về phía Tây. Hầu kinh ngạc nghiến răng chịu đau quan sát: Từ phía Đông, hiệu binh Đằng-hải đang tiến đến như gió, bên trái Trần Ninh, Ngọc-Hương, bên phải Lý Ngũ, Mai Ngũ; Thần-nỏ chỉ bắn hai loạt, khiến mấy trăm kị mã ngã ngựa.

Một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp tung người khỏi mình ngựa tiến về sườn núi. Chỉ nhấp nhô mấy cái, bà đã tới chỗ Phương-Liễu đang giao tranh với Lưu Báo. Bà rút kiếm đưa vào ngực y, y lộn người ra sau tránh, nhưng bà đã tung người theo, kiếm chặt y làm hai khúc. Thiếu phụ thấy Phương-Liễu đang ôm ngực thở hổn hển, bà hỏi:

– Có sao không em?

Phương-Liễu nhìn lại: Người cứu mình là vương phi Trinh Dung. Bà thở khò khè:

– Em bị trúng tên vào ngực trái, đã cắt chuôi.

Vương phi vội bồng Phương-Liễu lên, đưa lại chỗ Triệu Thu. Hầu ngồi dựa lưng vào phiến đá, cho Trần Ninh băng bó. Hầu hỏi phu nhân:

– Em! Có sao không?

– Em bị trúng hai mũi tên, một vào ngực trái, một vào bụng. Em cắt tên... máu ra nhiều... lại phải đấu với Lưu..ưu..ưu.

Đến đó phu nhân nghẹo đầu sang một bên. Hầu thét lên:

– Liễu! Liễu sao rồi?

Đến đó hầu giật lên mấy cái, rồi ngả đầu vào lòng phu nhân. Người ngoài đứng xa tưởng rằng đó là cặp tình nhân trẻ đang âu yếm nhau, đâu ngờ, họ đã cùng nhau ra đi, để về với thế giới vua Hùng, vua Trưng, trường thọ với non sông.

Về phía Mai-Lục đấu với Giới Định ngang tay. Định Thấy trận tuyến bên mình tan vỡ, y đâm đại một bát-xà-mâu rồi tung người lên cao chạy khỏi vòng vây. Nhưng khi y vừa đáp xuống, thì một thanh kiếm đưa vào cổ y, rồi có tiếng trong trẻo ra lệnh:

– Buông vũ khí đầu hàng, bằng không ta nhả kình lực.

Giới Định nhìn lại, thì ra Mai-Thất. Y chưa kịp phản ứng, thì Mai-Lục đã điểm vào huyệt Đại-chùy của y. Y tê liệt ngã xuống. Quân Việt trói y lại.

Ghi chú ,

Tuyên-vũ đại tướng quân Tín-Tâm hầu Triệu Thu tuẫn quốc năm 26 tuổi, phu nhân Phàn Phương-Liễu tuẫn quốc năm 25 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công phong cho hầu tước Anh-văn, Tuyên-vũ đại vương, phu nhân được phong Trang-Ninh quận chúa, truyền xây đền thờ. Trải qua biết bao lớp sóng phế hưng, cho đến nay (1995) sau 918 năm, đền thờ ngài vẫn còn tại xã Cung-nhượng, tổng Thọ-xương, phủ Lạng-giang, tỉnh Bắc-giang, nay là Hà-bắc. Độc giả muốn thâm cứu thêm về tiểu sử ngài, xin xem bài tựa, NQSH quyển 1, mục 7.2.3.

Trời đã về chiều.

Sau khi kiểm điểm lại nhân mã, tù binh; Trung-Thành vương cử đô thống Lý Lục, với phu nhân là Mai Lục thay thế Triệu Thu chỉ huy hiệu Thần-điện. Vương truyền lệnh cho hiệu Đằng-hải, Thần-điện dựa lưng vào chân núi đóng trại, rồi sai giải Giới Định lên. Quân vừa dẫn Giới Định vào, vương thân cởi trói cho y, rồi mời ngồi. Mặt Giới Định lạnh như tiền, y thản nhiên ngồi, không nói không rằng. Vương rót rượu, đem giò, chả, nem mời y:

– Giới tướng quân là tinh hoa của tộc Hán, võ công cao, văn chương nức tiếng Tây thùy. Tôi ở mãi miền thấp nhiệt này, mà cũng nghe danh Tương-giang túy khách.

Giới Định là một tướng võ, nhưng cũng như Trương Thế-Cự, y là một thi nhân có danh đương thời, với biệt hiệu là Tương-giang túy-khach. Bây giờ dù bị cầm tù, dù đối diện với tướng Đại-Việt, nhưng thấy kẻ đối đầu tỏ vẻ hâm mộ văn chương của mình, y cố giữ cái phong nhã:

– Đa tạ vương gia quá khen, Giới này thực xấu hổ. Vương gia khen tiểu tướng có võ công cao, mà lại bị bại về tay một thiếu nữ Việt. Còn văn chương nức tiếng, thì thực Giới không dám nhận. Này, không biết vương gia đã đọc những áng văn nào của tiểu tướng?

Miệng nói, y tiếp chung rượu từ tay Trung-Thành vương uống cạn, tay cầm đũa gắp nem (chả giò) ăn.

– Kiến văn của tôi hủ lậu lắm, sở dĩ tôi được nghe danh Tương-giang túy-khách là do một lần đứng hầu mẫu thân với cậu mợ út của tôi. Trong câu chuyện, cậu mợ không ngớt khen từ của tướng quân rằng : « Bảo rằng hùng tráng, thì cũng thực hùng tráng; bảo rằng tươi như hoa, như cỏ Xuân, thì cũng thực tươi ». Mợ út cứ khen bài « Túy ngọa Hy-hà »( Uống say nằm bên bờ sông Hy-hà) với bài « Điểu minh Xuân dạ » (Chim hót đêm Xuân), thì chỉ có thơ của Ngụy Võ-đế (Tào Tháo) là hơn được mà thôi.

Ghi chú,

Giới Định người đất Trường-sa, sinh giờ Tý ngày 29 tháng 9 năm Giáp-Tuất, nhằm niên hiệu Cảnh-hựu nguyên niên đời vua Tống Nhân-tông (1034), tự là Minh-Đạo, hiệu là Tương-giang túy khách. Thi tiến sĩ bị trượt, bỏ văn theo võ. Sau nhiều lần lập chiến công ở Tây-thùy lên tới chức đô-thống, rồi Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân. Trong khi theo Quách Qùy sang đánh Đại-Việt, bị bắt ở trận ngã ba sông Thương, sông Lục-Nam. Sau chiến tranh, Giới xin ở lại Thăng-long dạy học. Trong thời gian này, Giới kết hôn với một thôn nữ tên Bùi-thị Như-Phương, sinh được hai con trai. Niên hiệu Nguyên-hữu thứ tám đời vua Tống Triết Tông, nhằm niên hiệu Hội-phong thứ nhì đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt, Giới 60 tuổi (1093), dẫn vợ con hồi hương. Tác phẩm để lại có thi tập Tương-giang túy khách cảo lục, gồm 35 bài từ, 59 bài thơ. Thi tập này được hội Văn-học Trường-sa tái bản năm 1988. Năm 1990, tôi có dịp tiếp xúc với danh ca Giới Thu-Hoa, hậu duệ của Giới Định tại Nhạc-dương lâu bên bờ hồ Động-đình, nhờ đó tôi được đọc gia phả họ Giới. Kể từ Giới Định tới Thu-Hoa trải 33 đời.

Giới Định kinh ngạc:

– Không biết cữu phụ, cữu mẫu của vương gia là ai?

Trung-Thành vương lấy thanh trủy thủ mà Mai-Lục tịch thu được trên người Giới Định ra trao tận tay y:

– Là người đã ban thưởng cho tướng quân thanh trủy thủ này.

Giới Định bật người dậy:

– Thì ra vương gia là cháu Kinh-Nam vương. Hèn gì quân Giới Định này bị tan, thân Giới Định này bị bắt thì cũng là sự thường thôi.

Trung-Thành vương nói:

– Trước khi ra trận, cậu út tôi có dạy: Binh tướng Tống đều là thủ hạ cũ của cậu mợ. Chẳng may Hy-Ninh hoàng đế tin dùng ma pháp của tên cẩu nho Vương An-Thạch, mà bị đẩy vào vòng chiến với Đại-Việt. Vậy khi ra trận, tuyệt đối tránh chém giết. Nếu bắt được tù binh thì phải đối xử tử tế, rồi đưa về Thiên-trường cho cậu mợ nuôi. Đợi hết chiến tranh, cậu mợ sẽ đưa về Tống, như vậy bọn mặt dơi tai chuột không dám kết tội rồi giết cả nhà như tù binh thời vua Thái-tông bị bắt ở Chi-lăng, Bạch-đằng.

Giới Định chắp tay hướng Trung-Thành vương vái ba vái:

– Đa tạ Kinh-Nam vương, đa tạ Thái Công-chúa, đa tạ vương gia.

Chợt thấy Mai-Lục, Mai-Thất đứng hầu sau vương phi Trinh Dung, Giới Định hỏi:

– Giới này bị bại về tay hai tiểu cô nương mà trong lòng còn ấm ức. Cứ như con mắt của Giới này, thì nhị vị cô nương chưa quá cái tuổi đôi mươi, mà sao công lực lại cao thâm đến như thế?

Vương phi Trinh-Dung đáp bằng giọng cực kỳ ôn nhu:

– Để tôi giới thiệu với Giới tướng quân, hai nữ tướng này khuê danh là Mai Lục, Mai Thất...

Giới Định bật lên tiếng than:

– Hỡi ơi! Tiểu tướng đã bại về tay hai trong Thập-bát Kim-cương, ái đồ của Mộc-tồn hòa thượng thì không ân hận gì nữa.

Sau khi khoản đãi Giới Định cùng một số tướng sĩ bị bắt, Trung-Thành vương truyền đem tất cả tù binh chở về Thiên-trường trao cho Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu.

Vương phi Trinh-Dung bàn:

– Triệu Thu, Phương-Liễu tuẫn quốc, em đề nghị cho Lý Lục, Mai Lục thay thế chỉ huy hiệu Thần-điện. Tinh thần binh tướng hiệu này đang giao động. Vậy ta nên cho hiệu này về trấn chiến lũy Vạn-Xuân, đem hiệu Long-dực đến đây thay thế.

– Được. Để anh viết thư cho Chiêu-Văn, báo tình hình.

Chiều hôm sau, tức ngày 20 tháng giêng, Dương Minh, Phương-Cúc, cùng hiệu Long-dực tới. Trung-Thành vương cử Lý Thất, Mai-Thất làm phó thống lĩnh cho Dương Minh, Phương-Cúc.

Vương ra lệnh:

– Chim ưng của Khu-mật viện báo cho biết, chiến tuyến Như-nnguyệt bị vỡ. Vậy chúng ta phải tiến thực mau, uy hiếp hậu cứ Như-nguyệt của Tống, bằng không Thăng-long nguy mất. Ta đã cho hạm đội Bạch-đằng chở hiệu Vạn-tiệp theo sông Cầu đi sau hạm đội Thần-phù giả tiến về Như-nguyệt. Vậy bây giờ hiệu Đằng-hải đi làm tiền đội, hiệu Long-dực đi làm hậu đội tiến về Như-nguyệt. Khi còn cách Như-nguyệt năm chục dặm, ta đóng quân lại để uy hiếp hậu cứ Quách Qùy, bắt y phải rút quân từ chiến lũy Như-nguyệt về. Như vậy công chúa Thiên-Ninh mới có thể tái chiếm chiến lũy.

Quân tướng rầm rập, rầm rập lên đường.

Tại phía Nam chiến lũy Như-nguyệt, Đại-Viêt.

Đúng lúc đó (19 tháng giêng), Quách Quỳ vừa chiếm được chiến lũy Như-nguyệt. Tuy vượt qua song, nhưng tất cả 30 đạo binh triều đều bị tổn thất nặng, duy kị binh thì tinh lực còn nguyên.

Quách Quỳ họp chư tướng lại ban lệnh:

– Giặc mới bị thua, nhân lúc chúng bàng hoàng, ta ở thế thắng như chẻ tre, đánh như sét nổ, khiến chúng không kịp trở tay. Từ đây về Thăng-long toàn đồng bằng, vậy chư tướng có ý kiến gì?

Triệu Tiết thấy Quách Quỳ thành công, y dọa già:

– Tuy chỉ có quãng đường năm mươi dặm, nhưng không phải dễ dàng đâu. Đường Như-nguyệt, Thăng-long có ba khúc, ta phải thanh toán từng khúc một. Khúc thứ nhất, Như-Nguyệt tới rừng tre, hai bên đường có mười tám xã. Khúc thứ nhì từ rừng tre đến Cổ-pháp nơi có lăng tẩm triều Lý là vòng đai phòng thủ Thăng-long. Giao-chỉ có trọng binh tại đây; khúc này có tới hai mươi bốn xã. Khúc cuối cùng từ Cổ-pháp tới Thăng-long cũng có trọng binh với ba mươi sáu xã.

Quỳ vui mừng:

– Hay! Ta cho quân vào xã bắt hoàng nam làm dân phu, lấy lương cho binh sĩ ăn.

Tiết cười, mỉa mai Quách Quỳ dốt nát:

– Xã ở vùng đồng bằng đều bao bọc bởi một lũy sống, dầy tới ba bốn trượng, muốn chặt lũy mà vào, e tốn công, tốn sức không ít. Xã thông với bên ngoài bằng hai tới năm cổng, với những con đường nhỏ nằm giữa ruộng lầy lội. Mỗi xã đều tổ chức thành một chiến lũy, tại các cổng đều có hệ thống phòng thủ, do hoàng nam, hoàng nữ trấn giữ. Bọn này được huấn luyện võ nghệ, xung phong, hãm trận rất công phu. Lương thảo của quân Giao-chỉ đều do các xã cất giữ. Ta muốn có phu, có dân phu để khuân vác; muốn có gạo thịt, tôm cá, rau dậu cho quân ăn; muốn có cỏ non cho ngựa... thì bằng mọi giá phải đánh chiếm mười tám xã trước đã.

Gì mà Quỳ không hiểu ý Triệu Tiết. Y giận cành hông, nhưng phải nuốt hận ban lệnh cho Vũ-kị thượng tướng quân Trương Thế-Cự:

– Thiết kị là sức mạnh vô địch, Trương tướng quân cứ thẳng tiến về Thăng-long, bỏ lại tất cả các đồn ải dọc đường. Các đồn ải tôi sẽ cho bộ binh tiến đánh cùng một lúc. Còn các xã thì ta dùng các chỉ huy tân-đằng-hải đánh. Nội chiều hôm nay, kị binh phải tới Thăng-long. Ngay khi tới nơi, cho thiết kị đi đi, lại lại quanh thành dương oai diễu võ làm cho vua tôi Giao-chỉ sợ hãi. Đêm thì dùng mã não, hoàng thạch bắn vào đốt nhà, dinh thự. Nhưng phải đợi bộ binh tới rồi mới đánh thành.

Trương Thế-Cự hỏi:

– Ví thử Càn-Đức, Yến-Loan, Thường-Kiệt đầu hàng hay bỏ chạy thì tôi phải phản ứng ra sao ?

– Trường hợp chúng đầu hàng, thì một mặt tướng quân nhập thành, trấn các cửa, rồi sai sứ khẩn báo cho tôi biết. Còn như chúng bỏ chạy, thì bằng mọi giá phải đuổi đến cùng.

Quỳ nhấn mạnh:

– Trong khi kị binh vượt đường về Thăng-long, thì ta dùng quân tân-đằng-hải giải quyết các xã dọc đường. Trong mỗi xã, số hoàng nam cao nhất là ba chục, đến một trăm. Mỗi chỉ huy tân-đằng-hải của ta có tới năm trăm người. Mỗi xã ta dùng hai chỉ huy đến bao vây, rồi gọi loa chiêu dụ. Chiêu dụ không xong thì đánh chiếm.

Quỳ gọi Triệu Tiết:

– Tôi phối trí tại Nam ngạn Như-nguyệt sáu đạo binh tinh nhuệ nhất, chưa bị tổn thất, đó là các đạo 10, 11, 12, 13, 14, 15 và ba mươi sáu chỉ huy tân-đằng-hải. Tướng quân cùng các tướng Diêu Tự, Bình Viễn, Vương Tiến dùng binh triều giữ Nam ngạn sông Như-nguyệt, dùng tân-đằng-hải tiến đánh các xã hai bên đường từ đây tới rừng tre. Đánh xong, bắt hết hoàng nam hoàng nữ xung làm dân phu.

Quỳ gọi ba tướng Miêu Lý, Lưu Mân, Đặng Trung:

– Phía sau rừng tre là châu Cổ-pháp, có lăng tẩm của triều Lý. Chắc chắn bọn Giao-chỉ sẽ cho những cao thủ bậc nhất thủ tại đây đánh cảm tử. Trong tất cả chư tướng Nam chinh, thì ba vị có võ công cao nhất, vậy ba vị hãy đem quân đi sau đạo kị binh. Trước chiếm Cổ-pháp để uy hiếp Càn Đức, sau đó tiến về Thăng-long.

Miêu Lý đặt vấn đề:

– Trong trận đánh vừa rồi, ba mươi đạo quân triều đều hao hụt quá nửa. Vậy bây giờ đem đạo quân nào đi?

– Tôi đã kiểm điểm rồi. Chín đạo binh bị hao nhưng tinh lực chưa đến nỗi kiệt quệ. Vậy các vị hãy đem bảo binh bổ xung sáu đạo 4, 5, 6, 7, 8, 9, rồi lên đường ngay.

Miêu Lý, Lưu Mân, Đặng Trung lĩnh mệnh.

Triệu Tiết hỏi:

– Trong ba người, ai làm chúa tướng?

Quỳ chỉ Miêu Lý:

– Miêu tướng quân có đẳng trật cao nhất. Vậy Miêu tướng quân làm chúa tướng.

Quỳ vẫn để nguyên tổng hành doanh ở Bắc-ngạn sông Như-nguyệt, ý định chờ tin tức hai cánh Phú-lương, Nham-biền rồi mới cho sang sông.

Trương Thế-Cự xua kị binh ruổi trên con đường cái quan hướng về Thăng-long.

Cự là một tướng kị binh tài kiêm văn võ, ưu tú nhất của Tống. Cách đây hai mươi năm, khi mới nhập ngũ, với tuổi mười chín; nhờ võ công cao cường, lại có học thức, y được Kinh-Nam vương trọng dụng. Sau thời gian huấn luyện ở trường kị binh, vương cho y giữ chức lượng trưởng (coi 25 kị binh) và chú ý nâng đỡ. Nhờ những chiến công hiển hách trong các trận đánh với Tây-Hạ, Bắc-Liêu, y được thăng chức liên tiếp, dần dần tới Vũ-kị thượng tướng quân, tước tới Vũ-Dương hầu (Tương đương với ngày nay là tư lệnh kị binh).

Trong thời gian ở Tây-thùy, mỗi khi nghe thấy một võ lâm đồng đạo bị kết tử hình, tù đầy, lập tức Cự thượng biểu xin ân xá tội nhân, trao họ cho Cự, để đánh giặc lập công. Hóa cho nên, cạnh Cự, lúc nào cũng có hàng trăm cao thủ võ lâm đi theo. Tuy vậy đám võ sĩ này mới chỉ có những cao thủ bậc nhất, toàn loại đầu trộm đuôi cướp, chứ loại thượng thừa thì không có. Lúc quân lên đường, Cự năn nỉ Quách Quỳ cho một cao thủ thật uy tín, vào hàng đại tôn sư để chỉ huy bọn này. Quỳ sai đại sư Pháp-Tuệ thủ tọa Đạt-Ma chùa Thiếu-lâm đường đi theo Cự, nhưng dặn kỹ chỉ xuất hiện trong trường hợp bất khả kháng.

Tuy là tướng võ, nhưng Cự bị ảnh hưởng của Kinh-Nam vương, nên luôn luôn tỏ ra ôn nhu, văn nhã. Trong thời gian ruổi ngựa ở biên thùy, y sáng tác được rất nhiều bài từ chứa đựng tình cảm dào dạt, bi hùng của một người yêu nước. Đầu thời Nam-Tống, thời Thiệu-Hưng, nhà vua cho sưu tầm, in thành tập, mang tên Hy-giang túy ngoạ. Hy-giang hay Hy-hà là con sông lớn thuộc Tây-Hạ, sát với Tống. Đây là vùng đất mà Tống Thần-tông khởi khai chiến với Tây-hạ, sai Kinh-Nam vương đánh chiếm. Túy là say, ngọa là nằm. Ý lấy trong thơ Đường « Túy ngoạ sa trường quân mạc vấn. Do lai chinh chiến kỷ nhân hồi ». Nghĩa là « Say nằm bãi cát hỏi chi? Xưa nay chiến trận mấy khi trở về ».

Trương Thế-Cự cùng đoàn kị mã phi được hơn mười dặm, Nguyễn Dư chỉ về hướng Nam nói với y:

– Phía trước, chỗ có nhiều nhà trắng, ngói đỏ là làng Đình-bảng, thang mộc ấp của triều Lý, có lăng tẩm ba đời vua Lý. Nếu chiếm được Đình-bảng, quật mồ các vua Lý lên, thì từ trong triều tới ngoài trấn đều rúng động.

Cự lắc đầu:

– Đem binh sang cướp nước ta là bọn Lý Nhật-Tông, Lê-thị Yến-Loan, Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản. Ta cần tới Thăng-long bắt chúng đem về cho triều đình trị tội; chứ ông bà, cha mẹ chúng không liên hệ gì. Vậy ta chỉ chiếm Đình-bảng, để uy hiếp triều Lý, chứ nhất định không đụng đến nơi an nghỉ của người quá cố. Nếu ta quật mồ tổ tiên họ Lý thì chẳng hóa ra ta là bọn tà ma, bọn thú vật sao?

Cự đưa mắt nhìn phía trước, tay mở tấm bản đồ vẽ bằng lụa: Chỉ cần qua khu rừng tre nữa là tới Đình-bảng. Sau Đình-bảng, một khắc (14 phút) sức ngựa sẽ tới Thăng-long.

Y truyền lệnh cho đạo kị mã chậm gót lại, rồi sai một đội tiền phong đi trước thám sát. Lát sau viên đội trưởng trở lại báo: Trong rừng tre, có nhiều đường thông qua rất rộng. Xe ngựa có thể đi hàng ba.

Cự truyền cho sư kị đệ nhất tiến trước. Sư đệ nhất rầm rộ vượt qua rừng như sóng vỡ bờ thực dễ dàng, không một bóng người, không một ụ đất cản trở. Viên sư trưởng sai thám mã trở lại báo tin. Cự hạ lệnh: Tiếp tục tiến về Thăng-long.

Sau khi ban lệnh, Cự mừng run lên:

– Biết bao nhiêu tâm huyết của triều đình, của trăm vạn quân, chỉ còn một khắc sức ngựa nữa là tới ổ giặc.

Cự lên ngựa, dẫn đầu sư đệ nhị vượt rừng, sai sư đệ tam đi đoạn hậu. Cự ra roi cho ngựa chạy bon bon qua cánh đồng lúa non, tới rừng tre. Trong rừng toàn loại tre già, sắc vàng cao vút từng mây. Đường đi bằng phẳng, rộng rãi. Cứ mỗi lần gặp những con đường nhỏ cắt ngang, Cự dừng ngựa quan sát thực kỹ, khi biết chắc không có dấu vết phục binh; y mới tiếp tục cất vó.

Tới khoảng giữa rừng, thì phía trước có con đường lớn theo hướng Đông-Tây cắt ngang con đường Nam-Bắc mà Cự đang đi.

Thình lình có ba con trâu lồng, trên lưng mỗi con đó một người cỡi. Một trong ba người cầm tù và thôi tu tu... chạy theo con đường Đông-Tây, vọt qua ngã tư, rồi biến mất. Cự ra roi cho ngựa xẹt tới, nhìn theo ba con trâu, thì chỉ thấy con đường xa thẳm, hai bên đường đầy hoa Xuân, cỏ mướt xanh. Còn trâu thì đã biến mất.

Biết rằng ba con trâu đã rẽ vào con lộ nào đó, Cự ra lệnh dừng quân, rồi truyền một tên đội trưởng dẫn mười kị binh, truy tầm tung tích. Sư kị đệ tam cũng vừa đến. Quân ùn lại trong rừng.

Cự chột dạ nghĩ thầm:

– Trong binh pháp, kị binh sợ nhất là gặp đồng lầy, và rừng rậm. Ta không nên ở đây lâu.

Tuy vậy, thấy sư đệ nhất đã vượt qua vô sự, y tự tin một phần nào. Hai sư đệ nhị, đệ tam dàn thành hàng dài bốn dặm, đang dừng vó, lỏng buông tay khấu, cho ngựa gặm cỏ non bên đường.

Cự nghĩ thầm:

– Suốt thời gian qua, ở Bắc-ngạn có bao nhiêu cỏ tươi, ngựa ăn hết rồi; hơn mười ngày nay, ngựa ăn toàn cỏ khô. Nay gặp cỏ xanh non thế kia, chiến mã ăn vào chắc dễ chịu lắm.

Đội thám thính đi khoảng hai dặm, thì dường như thấy điều gì kỳ lạ, nên rẽ vào con đường bên phải mất hút.

Hơn khắc sau, không thấy đội thám thính trở về, Cự lại sai một đội nữa đi tìm. Nhưng cũng như đội trước, không thấy đội thứ nhì trở về. Sốt ruột, Cự thân dẫn trăm kị binh đi tìm hai đội trước.

Khi đến chỗ rẽ, y dừng ngựa lại quan sát: Trước mặt y, con đường nhỏ sâu hun hút, không một bóng người. Sợ bị trúng phục binh, Cự quay ngựa trở về chờ đợi.

Khoảng hai khắc sau (30 phút ngày nay) hai đội thám thính đầu tiên bị mất tích bây giờ xuất hiện ở phía Nam, đang phi như bay trở về, ngược chiều với sư kị đệ nhị. Viên sư trưởng phất cờ ra lệnh cho chúng đi chậm lại. Hai đội thám thính như không thấy hiệu lệnh của chủ tướng, vẫn phi nước đại.

Viên sư trưởng cảm thấy có gì bất tường, y quát lên:

– Cản lại!

Một đội đao thủ dàn ngang qua đường. Hơn hai chục con ngựa thấy bị cản trở, chúng hí lên inh ỏi, hai vó trước cất cao lên, hất hai mươi hai kị mã xuống đất. Lạ thay, đám kị mã đều nằm đứ đừ, bất động.

Bấy giờ viên sư trưởng mới nhận ra, đó không phải là lính của y, mà chỉ là những bộ quân phục mặc vào hình nộm. Như vậy hai đội kị mã thám sát lành ít dữ nhiều.

Trương Thế-Cự đã nghe thuật về những trận đột kích, những mưu kế vô cùng tận của mười hai đại tướng trẻ Đại-việt trong các trận đụng độ ở Bắc-cương; lại cũng thấy lối đánh táo bạo trong lần đột kích đêm giao-thừa; rồi lối đánh thí mạng, khiến Tống phải đổi mười mạng lấy một mạng trong trận đánh chiến lũy Như-nguyệt. Bây giờ, y là người trong cuộc, bị trúng kế. Nhưng y không biết đối thủ là ai? Định làm gì? Muốn gì?

Từ phía Nam, một chiếc xe bốn ngựa khoan thai đi tới. Người đánh xe là một thiếu nữ trang phục quận chúa của Tống, áo tím, xiêm trắng; khăn, dây lưng mầu xanh lá cây. Thiếu nữ tuổi khoảng mười lăm mười sáu, đôi mắt đen lay láy, sáng long lanh, hợp với khuôn mặt thực khả ái. Ngồi giữa xe là một thiếu nữ, rất khó đoán tuổi, mặc áo vàng, quần đen, khăn choàng cổ, dây lưng mầu hồng. Phía sau ghế của thiếu nữ áo vàng có sáu thiếu nữ nữa đều mặc áo tím, quần đen; khăn, dây lưng xanh như thiếu nữ đánh xe. Sáu thiếu nữ xử dụng sáu nhạc khí, đang tấu một bản nhạc êm dịu, dìu dặt, nhẹ nhàng. Cự nhận ra đó là bản nhạc ở vùng Trường-sa, hồ Động-đình, chứ không phải nhạc Việt.

Trương Thế-Cự nghĩ rất nhanh:

– Bọn con gái này là ai, đi ngược chiều với sư một kị, mà sao không bị cản trở? Chúng là con gái, mà dám ruổi xe đi giữa trận tuyến, ắt không phải là bọn tầm thường. Có lẽ chúng mới từ trong rừng ra làm trò ma, trò quỷ gì đây?

Y sai quân cản lại, rồi hỏi:

– Các người là ai?

Thiếu nữ đánh xe cười rất tươi:

– Ta ấy à? Ta họ Trần-Triệu, tiểu danh Minh-Thúy. Còn người, có phải người là Vũ-kị thượng tướng quân, Vũ-Dương hầu không?

Thấy một cô gái dáng dấp ngây thơ, nói tiếng Biện-kinh rất rõ ràng, lại biết chức tước của mình, nhưng nói bằng giọng hách dịch, xưng ta gọi mình là người ; Thế-Cự cho rằng nàng là công chúa, quận chúa Đại-Việt đây. Y cung tay hành lễ:

– Không dám, chào Trần-Triệu cô nương. Trên đường đi cô nương có gặp đội thiết kị của tôi không?

Y chỉ tay vào thiếu nữ áo vàng:

– Không biết cô nương đây phương danh quý tính là gì?

Minh-Thúy nghiêng nghiêng đầu hỏi lại Thế-Cự:

– Đây là một nữ nhân nức tiếng thiên hạ vì lắm tiền nhiều của, mà trong tay không có một đồng. Trương hầu mà đoán được cô ta là ai thì ta sẽ trả lời câu hỏi của hầu.

Trương Thế-Cự nhìn thiếu nữ áo vàng: Thực là một người đẹp, mà trọn đời y chưa từng thấy ai có thể so sánh. Đúng như Minh-Thúy nói, thiếu nữ trang phục rất giản dị, trên người không một chút nữ trang. Y đáp bằng lời của một văn nhân:

– Dễ quá! Hôm qua, Hằng-Nga trên cung Quảng mới cỡi hạc giáng trần, thì chắc là cô nương đây. Có đúng không?

Thiếu nữ reo lên:

– Trương tướng quân đoán sai rồi! Y không phải Hằng-Nga đâu, y là cháu ta đấy. Y họ Lý, nhũ danh An-Quốc, sắc phong Thiên-Ninh công chúa.

Đám kị binh cùng bật lên tiếng reo lớn, vì cái tên Bà-chúa-kho nức tiếng Hoa-Việt từ lâu. Trong khi Trương Thế-Cự thấy thiếu nữ bảo công chúa Thiên-Ninh là cháu, thì dường như nàng là bà con với thân mẫu công chúa.

Cự cung tay hướng công chúa Thiên-Ninh:

– Vũ-kị thượng tướng quân, Vũ-Dương hầu Trương Thế-Cự xin bái kiến công chúa điện hạ. Tiểu tướng nghe công chúa lánh xa chốn bụi trần, cho nên nay tuổi gần ba mươi mà vẫn còn là khuê nữ. Tiểu tướng còn nghe nói, công chúa phụ trách lương thảo của toàn quân Giao-chỉ, được người đời tôn là Bà-chúa-kho. Không biết hôm nay đại giá công chúa đi đâu đây? Không lẽ công chúa lại đến đây giao chiến với tiểu tướng?

Nguyễn Dư nói nhỏ:

– Tướng quân phải cẩn thận, chúng ta đang tiến vào vòng đai bảo vệ Thăng-long, mà y thị tổng chỉ huy vòng đai này. Vì cái dáng xinh dẹp, nói năng nhu nhã của thị mà hồi đánh Chiêm, đánh sang Trung-quốc, các tướng Chiêm lẫn Trung-quốc bị mắc mưu y thị mà mất mạng đấy.

Trương Thế-Cự nói ngang:

– Vì dù ta được ôm con nhỏ này ngủ một đêm, rồi có tan xương nát thịt cũng cam lòng. Người câm cái mõm lại.

Công chúa Thiên-Ninh vái dài:

– Đánh nhau với Trương tướng quân là chư tướng Đại-Việt. Còn tôi, tôi chỉ biết nuôi người chứ không biết giết người. Từ hôm Quách nguyên soái đem quân sang đến giờ, quân Tống bị bắt ở Bắc-biên có tới hơn vạn, tôi đều tiếp đãi nuôi nấng đầy đủ. Hôm nay nghe phòng tuyến Như-nguyệt bị vỡ, Quách nguyên soái sai Trương tướng mang kị binh đi trước, tôi vội ra đón đường để cứu hơn vạn chiến mã Tống!

– ???

Công chúa chỉ vào thảm cỏ non bên đường:

– Cỏ xanh đẹp thế này, nhưng là cỏ kịch độc; nếu chiến mã phương Bắc ăn vào thì không chết cũng bị bệnh. Vì vậy muốn cứu đàn ngựa chiến, tôi mạo muội đón Trương tướng quân, để báo cho tướng quân rõ mà lệnh cho kị binh không nên để ngựa ăn cỏ độc này. Nhưng dường như trễ rồi thì phải.

Trương Thế-Cự cau mày:

– Công chúa có đùa không? Cỏ nào chả là cỏ, loại cỏ này ở Hy-hà cũng có, ngựa ăn vào có sao đâu?

Viên sư trưởng nghe nói, nhảy xuống ngựa vặt một đám cỏ đưa lên ngửi. Y kinh hoàng, vì có mùi thơm thơm khác thường. Y nói với Trương Thế-Cự:

– Cỏ có độc thực!

Đến đây kị binh mới nhận thấy đoàn chiến mã đang ở trạng thái kỳ lạ: Nước mắt dàn dụa, miệng mở lớn sùi bọt, trong khi bốn vó run run như muốn ngã.

Trương Thế-Cự kinh hoảng, y cung tay hỏi công chúa Thiên-Ninh:

– Xin công chúa ban thuốc giải để cứu bầy ngựa. Tiểu tướng nguyện không quên ơn.

Minh-Thúy nhoẻn miệng cười:

– Thuốc trị cỏ độc, chỉ Thái-y viện mới có. Mà Thái-y viện ở Thăng-long kia. Vậy Trương tướng quân đi với ta về Thăng-long. Ta sẽ xin thuốc cho.

– Ngựa bệnh như thế này, làm sao chúng tôi về Thăng-long được?

– Vậy ta xin cáo từ về Thăng-long lấy thuốc. Nếu chậm trễ, chỉ nửa ngày sau chúng sẽ chết hết.

Nàng than một mình bằng tiếng Việt:

Công cha như núi Thái-sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Thôi đành vậy.

Nói rồi Minh-Thúy ra roi, chiếc xe ngựa quay đầu trở lại. Thế-Cự đưa mắt cho đội võ sĩ.

Bốn tên võ sĩ hộ vệ bên Trương Thế-Cự tên Đông, Tây, Nam, Bắc. Chúng nổi tiếng thần quyền vô địch trong các trận đánh với Tây-Hạ. Được lệnh Thế-Cự chúng tung mình lên cao, đáp xuống trước xe, mỗi người chụp đầu một con ngựa ghì lại. Bốn con ngựa hí lên inh ỏi, không cất nổi vó.

Thiếu nữ áo tím nhỏm người dậy, nàng vung roi ngựa lên, bốn tiếng véo, véo, véo, véo bốn võ sĩ bay bổng lên cao, rồi rơi chổng ngược đầu xuống vũng bùn bên đường. Bùn ngập tới ngang lưng, còn lại hai chân đạp loạn xạ. Các võ sĩ Tống vội nhảy xuống lôi bạn ra khỏi vũng bùn. Bốn tên võ sĩ đầu, mình đầy bùn. Chúng ngoác miệng ra chửi:

– Tổ bà con lỏi đánh trộm.

Chúng tung mình lên ngựa định đuổi theo, nhưng xe đã đi xa, chỉ còn tiếng đàn, tiếng tiêu, tiếng phách, tiếng trống vọng lại. Phút chốc, chiếc xe đã mất hút trên con đường cái quan đầy hoa thơm mùa Xuân.

Nhìn gương mặt, tiếng nói, cùng thủ pháp của thiếu nữ áo tím, Trương Thế-Cự thấy rất quen thuộc, rất uy nghiêm, mà trong nhất thời, y không tìm ra mối liên hệ của nàng với mình. Trong lòng y nảy ra một mối lo nghĩ, mà y không hiểu tại sao?

Giữa lúc Trương Thế-Cự hoảng hốt, lòng rối như tơ vò, thì từ phía trước, mấy kị binh sư đệ nhất y phục tả tơi phi ngựa ngược chiều với đoàn quân. Mấy viên kị binh thấy Trương Thế-Cự, vội ghì cương cho ngựa dừng lại.

Cự hỏi:

– Cái gì đã xẩy ra?

Viên tốt trưởng mặt đầy máu đáp bằng giọng kinh hoàng:

– Hổ, báo, voi! Thần-nỏ! Chết hết rồi!

Hai hàm răng của y đánh vào nhau lập cập:

– Xin tướng quân chuẩn bị, chúng sắp tới bây giờ.

Nói đến đây, vì máu ra nhiều quá, y ngã lăn xuống đất. Hai kị mã khác đỡ y dậy, nhưng mắt y trợn trừng. Y chết rồi.

Trương Thế-Cự hỏi mấy kị mã còn lại:

– Tại sao lại ra nông nỗi này?

Một kị mã tường thuật:

– Sư đệ nhất vượt khỏi rừng tre, phi như bay tiến về Thăng-long. Khi qua một khúc đường nhỏ, chạy giữa khu đồng lầy lau sậy, thì một tiếng pháo nổ lớn, rồi hai bên đường, nào hổ, nào báo, nào voi xông ra tấn công. Ngựa thấy hổ, báo thì kinh hãi lồng lộn chạy quàng vào đồng lầy lau sậy, rồi bị mắc lầy chôn vó. Thoáng một cái hơn nửa ngựa bị hổ, báo, sói cắn bị thương, bị chết. Rồi một đội tiễn thủ xuất hiện. Tiễn công của bọn này thực kinh khủng, mũi tên dài bọc thép, tầm bắn xa gấp đôi kị mã của ta. Tiếp theo một đạo binh hùng dũng vừa thét lên, vừa xông ra. Bộ binh, tiễn thủ vừa đâm chém, vừa bắn tên. Không đầy một khắc, trọn sư đệ nhất bị chết hết. Chúng bắt ngựa đem đi.

– Sao các người lại thoát về được?

– Dạ, viên nữ tướng chỉ huy đội tiễn thủ tha cho bọn tiểu nhân về. Y thị... Y thị nhắn rằng: Nếu tướng quân có còn là con người thì hãy tiến lên, thị sẽ... thị sẽ bắt tướng quân giam vào cũi... cũi chó.

– Người có biết nữ tướng đó là ai không?

– Không! Chỉ biết y thị với chồng đi dưới cây cờ mầu hồng nhạt, thêu con rồng kim tuyến óng ánh.

Nguyễn Dư nói:

– Thưa tướng quân, nếu đúng như vậy thì chúng ta đang ở phòng tuyến cuối cùng của Giao-chỉ, tức phòng tuyến bảo vệ Thăng-long. Đội tiễn thủ bắn sư đệ nhất có tên Thần-tiễn Long-biên. Đội Thần-tiễn Long-biên khoảng 500 người. Tên nào võ công cũng cao cường, nên chúng bắn xa gấp đôi chúng ta, trăm phát trăm trúng. Căn cứ vào lá cờ hồng thêu rồng vàng, thì đạo binh phục kích là hiệu Ngự-long do Long-nhương thượng tướng quân tước Thiện-Tâm hầu Phạm Dật, với vợ là Lê Kim-Loan chỉ huy. Cặp vợ chồng này không như bọn Mai Cầm, Quách Y chỉ giỏi đốc chiến, liều mạng đâu; mà võ công chúng rất cao siêu, mưu trí không biết đâu mà lường. Xin tướng quân cẩn thận.

Cự nhìn lại: Đoàn chiến mã vô địch của y, từng ruổi vó trên khắp sa mạc Tây-thùy, Bắc-thùy, bách chiến bách thắng, bây giờ chúng đứng không nổi, nằm bẹp xuống đất, nước mắt dàn dụa, tỏ vẻ đau đớn vô cùng.

Trương Thế-Cự tiến thoái lưỡng nan. Y lệnh cho quân tạm nghỉ nấu cơm ăn, rồi qua đêm.

Tại chiến lũy Cổ-pháp, Đại-Việt.

Ngày 20 tháng giêng, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống.

Đạo quân của Miêu Lý, Lưu Mân, Đặng Trung tới hội với đạo quân Miêu Lý ở rừng tre. Ba tướng thấy tình trạng đội thiết kị vô địch của Trương Thế-Cự như vậy đều kinh hãi. Ba đạo quân cùng đóng trại trong rừng tre.

Quân sĩ đang ăn cơm, thì tiền quân báo với Thế-Cự:

– Thưa tướng quân, từ phía Nam có một đoàn ngựa tải đồ đang tiến tới đây, không rõ là quân nào, tải gì?

Miêu Lý dẫn bọn Thế Cự, Đặng Trung, Lưu Mân cùng chạy lên coi, thì không phải là đoàn ngựa, mà toàn trâu. Mỗi con kéo một cái xe trên chất đầy hàng. Cự ra lệnh trên trăm quân dàn ra trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Còn y, y đeo kiếm cùng với đoàn võ sĩ chờ đợi.

Đoàn xe mỗi lúc một đến gần.

Cự đã nhìn rõ, đoàn xe khá dài, mỗi xe do một con trâu kéo. Xe chở đầy hàng. Hàng được phủ bằng lá cây, thành ra không biết đó là loại hàng gì. Mỗi con trâu có một thiếu nữ, ngồi ngang trên lưng. Đoàn xe được dẫn dầu bởi thiếu nữ áo tím đã đánh xe cho công chúa Thiên-Ninh, có tên Trần-Triệu Minh-Thúy. Minh-Thúy cầm ống tiêu đưa lên miệng thổi một khúc của mục đồng chăn trâu, tiếng tiêu véo von nghe rất êm tai. Cạnh nàng còn một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp, tuổi khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu, mặc võ phục, lưng đeo kiếm.

Trương Thế-Cự đưa mắt ra lệnh, bốn võ sĩ tiến tới trước xe Minh-Thúy ra lệnh:

– Ngừng lại! Các người đi đâu? Trên xe chở những gì?

Đây là bốn võ sĩ đã bị Minh-Thúy đánh chúi đầu vào vũng bùn ban nãy.

Minh-Thúy nhoẻn miệng cười, tay đưa ra một cái hũ lớn:

– Người biết không? Ta đến Thái-y viện nói dối gã ngự y Trần Hữu-Đức rằng ngựa của ta ăn phải cỏ độc ở rừng trúc Kinh-Bắc; xin y cho ít nghìn viên thuốc chữa trị. Hừ! Cái gã... cái gã Ngự-y Trần Hữu-Đức béo ị ấy, thực keo kiệt. Y chỉ cho ta có hai viên, rồi nói: Hai viên đủ rồi. Ta nói thực rằng xin thuốc trị bệnh cho kị mã Tống. Y lắc đầu quầy quậy như trúng tà, rồi nhất định không cho. Ta năn nỉ thêm, không những y không cho, còn hăm mách gia gia, ma má ta nữa. Tức mình, ta bỏ đi, chờ lúc y đánh đàn cho vợ xinh đẹp của y hát, ta vượt tường vào trộm cả hũ cho bõ ghét.

Viên võ sĩ tên Bắc đưa mắt hỏi ý kiến Trương Thế-Cự. Cự gật đầu. Gã Bắc tiến lên, hai tay tiếp hũ thuốc. Nhớ đến cái nhục bị Minh-Thúy đánh chúi đầu xuống bùn, Bắc nghĩ ngay đến trả thù. Tay tiếp hũ thuốc, y vận công truyền chân khí sang, với ý hất Minh-Thúy bay xuống vũng nước bên đường cho nư giận. Nhưng vù một tiếng, gã Bắc bay bổng lên cao, rồi rơi xuống giữa chiếc xe phía sau Minh-Thúy.

Từ Trương Thế-Cự cho tới đội võ lâm theo y đều kinh hãi vô cùng. Bởi Đông, Tây, Nam, Bắc xuất thân từ phái Côn-luân nội ngoại công cao thâm hiếm có; mà sao thiếu nữ này lại có thể đánh y bay tung lên dễ dàng như vậy?

Minh-Thúy mắng gã Bắc:

– Sao người vô lễ, lấy ân làm oán thế? Ta đem thuốc cho Trương tướng quân cứu mấy nghìn chiến mã, mà người lại dùng nội công đánh ta? Đáng lẽ ta giết mi về tội vô ơn, nhưng sợ giết mi thì má má đánh ta què giò. Ta tha cho đấy.

Lời của Minh-Thúy làm tướng sĩ Tống suy nghĩ: Mẹ nàng là hoàng thân, quốc thích triều Lý, thì phải đối đầu với quân Tống mới phải, thế mà sao nàng giết tướng Tống, bà lại đánh què? Lại nữa vừa rồi nàng xử dụng nội công phái Hoa-sơn của Trung-quốc hắt gã Bắc lên cao. Vậy e nàng có liên hệ gì với Trung-quốc đây.

Trương Thế-Cự hỏi:

– Cô nương! Thế lệnh tôn, lệnh đường là ai vậy?

– Là... là... ta không dám nói. Nhược bằng ta nói ra, thì e bọn người vỡ mật mà chết mất. Nào? Bây giờ người có nhận thuốc hay không?

Trương Thế-Cự cung tay:

– Bắc thiếu hiệp có đôi chút nóng nảy, mong cô nương thứ lỗi cho.

Y thân tiến lên đỡ lấy bình thuốc.

Minh-Thúy nói:

– Trong hũ có hai loại thuốc, một loại mầu vàng, một loại mầu đỏ. Tướng quân cho kị binh nhét vào miệng mỗi chiến mã một viên mầu vàng, và nhét vào hậu môn một viên mầu đỏ. Nội trong hai giờ, thì chúng sẽ đi tháo, bao nhiêu cỏ độc được tống ra hết. Sau đó phải cho chúng dưỡng bệnh, trong mười ngày không được cỡi, không được bắt chúng chuyên chở.

Trương Thế-Cự đã từng làm tướng kị binh lâu năm, y khá am tường phép dùng thuốc trị bệnh cho ngựa; thấy thiếu nữ chỉ dẫn hợp lý, y trao hũ thuốc cho hai viên sư trưởng. Nhưng trong lòng y than thầm:

– Hỏng bét! Quách Quỳ bắt mình phải tới Thăng-long chiều nay; mình có ba sư kị, thì một sư bị phục binh giết hết, hai sư thì chiến mã bị bệnh, phải nghỉ dưỡng bệnh mười ngày, thì làm sao bây giờ?

Y hỏi Minh-Thúy:

– Trần-Triệu cô nương! Còn năm mươi xe, cô nương chở những gì thế? Không lẽ Bà-chúa-kho Đại-Việt lại đem lương cho chúng tôi?

Minh-Thúy chỉ vào đoàn xe, vào thiếu-phụ ngồi cạnh:

– Trên đường từ Thăng-long về đây, đem thuốc trị độc cho ngựa, lúc ta đi qua bãi chiến trường; thấy trên hai nghìn xác tử sĩ Tống phơi trên cánh đồng cho qụa rỉa, cho ruồi bu! Động lòng trắc ẩn, thương người vị quốc vong thân, ta nhờ tỷ tỷ đây sai người thu nhặt tử thi, rồi chở đến trao cho Trương tướng quân. Tướng quân thử coi lại một chút xem có đúng không?

Thế-Cự đưa mắt cho đội võ-sĩ. Chúng tiến đến bên đoàn xe, lật những tấm lá chuối phủ bên trên lên coi: Bên dưới quả toàn xác kị binh thuộc sư một, đặt nằm dài như những cây củi.

Minh-Thúy bảo Thế-Cự:

– Ta mượn xe của tỷ tỷ đây đem tử thi trao cho tướng quân. Vậy tướng quân nhận lấy đi, để ta còn đem xe về trả chứ!

– Hiện ngựa của tôi đều trở thành vô dụng. Phiền cô nương cho đoàn xe này đến Bắc-ngạn Như-nguyệt dùm, nguyện không quên ơn.

Minh-Thúy la lên, nàng xua tay rối rít:

– Không thể được! Muôn ngàn lần không thể được. Ta... ta phải nhờ chị Kim-Liên đây xin mãi, má má mới cho ta đi chơi với chị ấy. Má má hẹn giờ Thân ta phải về. Nếu nay ta đưa đám tử thi này tới Như-nguyệt giúp người, thì e giờ Dậu mới về tới nhà. Như vậy má má đánh ta què mất.

Giọng cô nói đầy nũng nịu, rất dễ lọt tai.

Thế-Cự hỏi:

– Cao danh quý tính của lệnh tôn, lệnh đường là gì? Cô nương học võ với ai, mà bản lĩnh đã đến trình độ cao thâm như vậy?

– Ta không nói.

Thế-Cự đưa mắt cho đại sư Pháp-Tuệ. Nhà sư trong đội võ sĩ tiến ra cung tay:

– Trương tướng quân xin cô nương chở dùm tử sĩ, mà cô nương chối. Bây giờ bần tăng xin đánh cuộc với cô nương một lần.

Minh-Thúy nói với Thế-Cự luôn luôn dùng giọng kẻ cả, coi chúng không ra gì. Trái lại, đối với nhà sư, nàng tỏ ra cực kỳ lễ độ:

– Không ngờ đại sư Pháp-Tuệ, thủ toạ La-Hán đường phái Thiếu-Lâm, mà cũng tới đây sao? Than ôi! Chốn thanh cao sao người không ở, lại xuống đây làm gì e bụi trần vướng vào áo thì chẳng đáng tiếc sao? Đại sư muốn đánh cuộc gì nào?

Trương Thế-Cự nghe Minh-Thúy nói, y càng thêm kinh ngạc:

– Thiếu nữ này ở xứ Nam-man, mà sao cũng nhận biết đại sư Pháp-Tuệ?

Pháp-Tuệ đáp:

– Bây giờ cô nương hãy đấu với bần tăng mười hiệp. Nội trong mười hiệp, nếu bần tăng nói được sư thừa của cô nương ra, thì cô nương phải đưa đám tử sĩ này đến Như-nguyệt. Còn như bần tăng không tìm ra được sư thừa của cô nương, thì cô nương muốn gì nào?

– Dễ thôi! Trường hợp đó, Trương tướng quân phải đem quân lui về sông Như-nguyệt. Đại sư biết không? Gia gia, má má đệ tử thực đau lòng khi thấy người Hoa, người Việt chém giết nhau.

Nàng hỏi Trương Thế-Cự:

– Trương tướng quân có dám đánh cuộc không?

Trương Thế-Cự gật đầu:

– Tiểu tướng xin hứa.

Mắt Minh-Thúy sáng ngời:

– Đại sư nhớ nhé.

Nói rồi nàng vọt mình lên cao như con chim én. Ở trên cao, nàng vung roi ngựa quất vào đầu Pháp-Tuệ. Pháp-Tuệ né tránh, mỉm cười:

– Đây là một chiêu trong Vô sắc kiếm pháp của phái Nga-mi biến ra.

Minh-Thúy vòng roi quay hai lần, cái roi vọt ra như con rắn hướng cổ Pháp-Tuệ. Pháp-Tuệ bắt lấy roi rồi cười lớn:

– Đây là Tiên-pháp của phái Đường-lang.

Minh-Thúy giật roi lại, nhưng cây roi như dính chặt vào tay Pháp-Tuệ. Nàng buông roi, đánh một chưởng vào giữa ngực nhà sư. Nhà sư tung mình lên cao, miệng la:

– Đây là chiêu Kình-ngư thăng thiên của phái Mê-linh bên Đại-Việt.

Cứ như thế, Minh-Thúy dùng tám chiêu của tám môn phái khác nhau, mà Pháp-Tuệ vẫn chưa nhận ra môn hộ của nàng, làm cho bọn Trương Thế-Cự cuống lên. Đến chiêu thứ chín, nàng dùng hổ trảo chụp nhà sư, miệng nói:

– Chiêu thứ chín này.

Pháp-Tuệ kinh hãi, vì chỉ còn một chiêu nữa là ông thua cuộc. Nghĩ ra một kế, ông vận đủ mười thành công lực đánh xuống đỉnh đầu nàng. Chưởng phong bao trùm khắp một vùng. Minh-Thúy kinh hãi, biến trảo thành chưởng đỡ. Nàng đỡ vào quãng không, bởi Pháp-Tuệ phát hư chiêu. Vì đỡ hụt, lảo đảo suýt ngã, nàng phải lộn người đi đến ba vòng mới đứng vững.

Minh-Thúy la lớn:

– Đủ mười chiêu rồi. Đại sư không tìm ra được môn phái của đệ tử, như vậy là người thua cuộc!

Nàng nói với bọn Trương Thế-Cự, Miêu Lý:

– Các người mau lui quân về Như-nguyệt ngay!

Không thấy nhà sư Pháp-Tuệ cũng như bọn Trương Thế-Cự trả lời, Minh-Thúy nhìn lại: Trên gương mặt ông cũng như đội võ sĩ Tống đều hiện ra vẻ hoảng hốt, kinh khủng như gặp sự gì ghê gớm nhất đời.

Pháp-Tuệ cười gượng:

– Quận chúa thua rồi. Vì không những bần tăng biết sư phụ của quận chúa, mà con biết cả tổ phụ, lệnh tôn, lệnh đường của quận chúa nữa!

– ???

– Quận chúa là con gái út của Kinh-Nam vương với Thái-trưởng đại công chúa Huệ-Nhu. Quận chúa không học võ với song thân. Bản lĩnh của quận chúa do nội tổ của quận chúa là Côi-sơn đại hiệp Trần Tự-An truyền thụ. Có đúng thế không?

Minh-Thúy ngơ ngác hỏi Kim-Liên:

– Tỷ tỷ! Tại sao đại sư lại nhận ra chân tướng em?

– Vừa rồi em ra chiêu Đông-hải lưu phong, lại nữa em dùng Cổ-loa tâm pháp, thì với một người minh mẫn như đại sư Pháp-Tuệ, người nhận ra ngay.

Trương Thế-Cự chắp tay hành lễ:

– Người xưa nói, không biết là không có tội. Tiểu tướng xin quận chúa tha cho cái tội vô phép hôm nay. Xin quận cúa chuyển lời vấn an của anh em tiểu tướng đến vương gia cùng công chúa điện hạ.

Minh-Thúy hư một tiếng, miệng cười, chỉ vào gã Bắc nói với Trương Thế-Cự:

– Người dở quá! Phải chờ đến đại sư phụ đây nói ra, người mới biết thân thế ta. Ta chẳng từng nói ta họ Trần-Triệu là gì? Gia gia ta họ Trần, má má ta họ Triệu. Cũng vì vậy ta không thể giết tướng sĩ Tống, vì họ là bầy tôi của má má ta. Ta mà giết họ, ắt má má đánh ta què giò. Ta ăn trộm thuốc cứu chiến mã, đem xác tử sĩ về là vì thương họ tận trung báo quốc, vị quốc vong thân. Nhưng ta cũng cản các người tiến về Thăng-long vì gia gia, má má ta thấy người Hoa, người Việt giết nhau, các người đau lòng lắm.

Nàng chỉ vào thiếu phụ ngồi cạnh rồi nói với nhà sư Pháp-Tuệ:

– Đệ tử thua cuộc rồi. Vậy đệ tử xin cùng tỷ tỷ đây đưa xác tử sĩ về Như-nguyệt.

Thiếu phụ ngồi cạnh Minh-Thúy hỏi Trương Thế-Cự:

– Trương tướng quân! Tôi là Trang-hòa Thiên-đức quận chúa nhũ danh Võ Kim-Liên, vợ của Hổ-uy thượng tướng quân Vũ Quang.

Tướng sĩ Tống đều bât lện tiếng úi chà , ối trời, vì sau trận Côn-lôn, Đại-giáp, Tiểu-giáp, Ngọc-tuyền, Ung-châu, danh tiếng vợ chồng Vũ Quang trấn động Hoa-Việt. Nay họ mới được thấy bà.

Kim-Liên chỉ tay về hướng Nam:

– Hiện vợ chồng chúng tôi chỉ huy hiệu Thiên-tử binh Quảng-thánh bảo vệ Lăng-tẩm của Lý triều. Trong khi chư vị đang tụ binh ở đây để đánh xuống. Có thể trong chốc lát, có thể ngày mai, ngày kia, chúng ta sẽ chém giết nhau. Liệu việc tôi đưa tử sĩ về Như-nguyệt, có gây ra trở ngại gì cho tướng quân không? Nếu như sau này có sự gì xẩy ra, tướng quân có hối hận không?

Thế-Cự hiên ngang đáp:

– Nam nhi đại trượng phu dám làm thì dám chịu. Quận chúa yên tâm, tôi xin đem danh dự bảo đảm rằng, nếu như sau này có sự gì không hay xẩy ra cho quận chúa, cho tôi. Tôi xin gánh chịu.

Kim-Liên bảo Minh-Thúy:

– Biểu muội! Em về đi thôi, để chị đi một mình được rồi. Bằng không em về trễ, thì cậu mợ lại trách phạt đấy.

Ghi chú,

Từ sau trận bình Chiêm, bốn thiếu nữ Việt-kiều Lê Kim-Loan, Võ Kim-Liên, Trần Ngọc-Liên, Trần Ngọc-Hương được Khai-Quốc vương nhận làm nghĩa nữ; mà Khai-Quốc vương phi là chị của Kinh-Nam vương. Vì vậy Kim-Liên với Minh-Thúy có tình chị em con cô, con cậu.

Kim-Liên ngửa mắt lên trời hú một tiếng dài liên miên bất tuyệt, vang vang đi rất xa. Lát sau có một con trâu từ trong rừng chạy tới. Thế-Cự nhận ra đó là một trong ba con trâu, mà ban nãy người ta cỡi chạy qua để dụ cho thám mã đuổi theo, rồi bị giết.

Kim-Liên túm áo Minh-Thúy tung lên cao. Minh-Thúy lộn một vòng, rồi đáp xuống lưng trâu. Nàng ra roi, miệng hô:

– Nghé oọ...ọ...ọ.

Con trâu lồng trở về hướng Nam.

Trương Thế-Cự gửi một viên tham tướng đem mấy tên kị binh của sư đệ nhất sống sót dẫn đoàn trâu của Kim-Liên hướng về Như-nguyệt.

Thế-Cự họp với Miêu Lý, Lưu Mân, Bình Viễn bàn việc tiến binh. Miêu Lý ra lệnh:

– Sư đệ kị đệ nhất vì khinh địch mà trúng phục binh. Sư đệ nhị, đệ tam chẳng may ngựa bị trúng độc. Bây giờ ta để lại mấy trăm kị binh ở đây trông coi ngựa, còn lại ta dùng kị binh như bộ binh, tiến về Thăng-long.

Thế-Cự đành tùng quyền, trong khi chờ ngựa phục hồi sức khỏe.

Thế-Cự bàn:

– Theo như tin tức của phó nguyên soái Triệu Tiết, thì từ đây về Thăng-long, quân Giao có hai hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, với Quảng-thánh. Trong khi ta có sáu đạo binh, lại thêm đạo kị, như vậy quân số đông gấp ba chúng. Ta cứ tiến trước, gặp giặc thì đánh. Phía sau còn sáu đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15 với hơn trăm chỉ huy tân-đằng-hải. Ta thừa sức đánh bọn chúng.

Sau khi bàn luận, thì Đặng Trung dẫn đạo đệ tứ đệ ngũ đi đầu, Lưu Mân dẫn đạo đệ lục, đệ thất đi thứ nhì, Miêu Lý dẫn đạo đệ bát, đệ cửu đi thứ ba. Trương Thế-Cự dẫn đạo kị binh đi bộ cuối cùng.

Quân sĩ rầm rộ lên đường. Bốn đạo quân đi thành một tuyến dài đến hơn mười dặm trên con đường rộng, hai bên là cánh đồng lúa mới cấy. Quân rời rừng tre được khoảng năm dậm, thì đội tiền phong trở lại báo với Bình-Viễn:

– Trình tướng quân, phía trước có một bãi đất hoang rộng mênh mông, đó là nghĩa địa, có thể dàn quân được. Sau nghĩa địa là ruộng mới cấy, nước không sâu. Sau khu ruộng là chiến lũy chắn ngang đường đi. Không biết bên trong có bao nhiêu quân trấn đóng?

Đặng Trung dẫn hơn chục võ sĩ vọt ngựa lên quan sát: Trên đường di, một cái cổng lớn chắn ngang. Giữa cổng là con bùi nhùi khổng lồ che kín. Hai bên cổng là lũy tre cao vút, mỗi bên kéo dài đến bốn dặm. Ngoài lũy tre có cái lạch rộng ước hơn hai trượng, nông sâu không biết bao nhiêu, nhưng dưới hào đầy chà, cọc lởm chởm.

Đặng Trung hỏi Nguyễn Dư:

– Đồn này là đồn gì vậy?

– Thưa tướng quân đây không phải là đồn, mà là xã Cổ-pháp, nằm trên con đường thông với Thăng-long. Trong xã có khoảng trăm hoàng nam, hoàng nữ trấn đóng.

Viễn sai quân đem loa đến, rồi truyền bọn du thủ, du thực của Nguyễn Dư dùng loa chiêu dụ. Nhưng phía trong vẫn im lìm, không một tiếng động.

Đặng Trung ra lệnh:

– Phá cổng tiến vào!

Đội thiết đột dẫn đầu tiến lên, khi vưa tới cổng, thì một tiếng lệnh vang lên. Véo, véo, véo, tên từ trong lũy bắn ra, kình lực khiến tên rít lên tiếng vi vu. Thoáng một cái, trăm thiết đột đều bị trúng đầu, cổ, ngã lăn ra bên đường.

Bấy giờ trong lũy trống thúc vang dội, quân reo dậy đất, cờ xí kéo lên bay phất phới. Nhưng vẫn không thấy một bóng người. Trong khi quân Tống ùn lại trên đường, đành tập trung vào khu nghĩa địa.

Miêu Lý, Đặng Trung đã vọt ngựa tới. Miêu Lý chỉ vào lũy tre dài năm dặm:

– Đúng là một làng, nhưng giặc đã lợi dụng địa thế dùng làm chiến lũy. Kìa, con hào đầy những chông, chà mới dựng lên. Nhưng không biết đạo quân nào trấn ở trong?

Nguyễn Dư chỉ vào cây cờ soái mầu hồng, thêu con rồng vàng, với hàng chữ « Đại-Việt Thiên-tử binh Ngự-long » một lá khác « Long-nhương thượng tướng quân, Thiện-Tâm hầu, Phạm » :

– Chỗ kia là hiệu Ngự-long.

Y lại chỉ vào cây cờ soái mầu vàng, thêu con rồng trắng, với hàng chữ « Đại-Việt Thiên-tử binh Quảng-thánh », một lá khác « Hổ-uy thượng tướng quân, Thành-Tâm hầu, Vũ »:

– Chỗ kia là hiệu Quảng-thánh.

Miêu Lý cau mày:

– Ta nghe nói, tại vòng đai này, quân Giao có hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh, tại sao lại còn cây cờ thiêu hình con ngựa phun lửa với cây cờ thêu hình con rồng đen kia nữa. Đó là hiệu quân nào?

– Kỳ hiệu thêu con ngựa phun lửa là của hiệu binh Phù-đổng. Tướng chỉ huy là Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt, võ công bình thường, nhưng là một tướng dụng binh như thần. Còn kỳ hiệu con rồng đen là của Quảng-vũ của vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi, Lý Tam.

Miêu Lý, Đặng Trung, Lưu Mân cùng các hiệu binh Tống từng bị Đinh Hoàng-Nghi với hiệu Quảng-vũ đánh cho những trận kinh thiên động địa. Nay nghe Nguyễn Dư nói, cả ba cùng chột dạ.

Lưu Mân cau mày:

– Sau khi Đâu-đỉnh thất thủ, vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi, Lý Tam cùng hiệu Quảng-vũ biến mất, tưởng đâu chúng còn ở trong rừng. Nào ngờ chúng rút về trấn ở đây.

Lưu Mân hỏi Nguyễn Dư:

– Tại sao cạnh kỳ hiệu Ngự-long, Quảng-thánh còn có soái kỳ của Phạm Đật, Vũ Quang, mà sao cạnh kỳ kiệu của hiệu Quảng-vũ với Phù-đổng lại không thấy có soái kỳ của Đinh Hoàng-Nghi với Hà Mai-Việt?

Nguyễn Dư trả lời bằng cái lắc đầu.

Miêu Lý ra lệnh:

– Cũng may cho ta, song song với chiến lũy có khu đất cao đầy mồ mả. Ta tập trung quân vào đây, dàn trận, rồi chỉ cần lội bùn hơn hai dặm là tới hào. Vậy Đặng tướng quân đánh vào bên trái, Lưu tướng quân đánh vào bên phải, tôi dánh vào chính giữa. Trương tướng quân bảo vệ hậu quân.

Ba đạo quân rời con đường cái quan tiến vào khu nghĩa trang, dàn thành trận song song với chiến lũy. Trống lệnh, thanh la lệnh, cờ phất liên tiếp.

Ba tiếng trống lệnh vang lên. Hơn sáu vạn quân tinh nhuệ của Tống từng tung hoành trên sa mạc Tây-thùy, Bắc-thùy, rời khu đất khô ở nghĩa địa tràn xuống ruộng. Còn ngựa không thể lội bùn phải để lại trên bãi đất.

Quân dẵm lên lúa, bùn chỉ tới mắt cá. Nhưng đây là những đội quân sinh sống ở sa mạc đã quen, bây giờ lội bùn lên tới dầu gối đã lấy làm khó khăn, chứ đừng nói vận động chiến. Người thì rút chân lên không nổi, kẻ thì ngã xuống, bùn nước ướt hết quân phục. Lại nữa quân phải mang theo y phục, chăn, màn, cung, tên, đao, mộc, thuẫn, quá nặng. Nhiều người bị lún tới háng đứng như trời trồng, đồng đội phải xách nách lôi ra khỏi hố.

Các tướng cho lệnh:

– Chỉ mang theo vũ khí tùy thân. Còn lại, để trên bãi đất.

Từ nghĩa trang tới bờ chiến lũy không quá hai dặm (1 km) mà quân lội ỳ ạch mãi mới được nửa đường. Khi quân còn cách chiến lũy một lằn tên, thì cờ lệnh phất lên, ra hiệu ngừng lại, chuẩn bị hàng ngũ để xung phong.

Trong chiến lũy vẫn im lìm.

Đứng trên mỏm đất cao quan sát trận tuyến, Miêu Lý thấy trận thế bên Tống đã xong. Y dơ tay ra lệnh. Ba chiếc pháo thăng thiên tung lên trời, rồi nổ tan. Quân Tống reo hò xung phong. Người thì bước những bước khó khăn, kẻ thì ngã, nhưng rồi tất cả chỉ còn cách bờ chiến lũy 20 trượng.

Trong chiến lũy vẫn im lìm. Quân Tống tiến gần hơn nữa. Đâu đó, có tiếng rít vi vu, rồi ba quả Lôi-tiễn bay lên giữa bầu trời, nổ tung thành ba trái cầu lửa. Tên trong chiến lũy bắn ra vun vút. Quân Tống ngã lổng chổng. Nhờ bắn bất ngờ, quân Việt thành công được hai loạt tên. Đến loạt thứ ba quân Tống vội lấy thuẫn, lá chắn ra che, rồi tiếp tục tiến vào.

Bỗng quân Tống la ơi ới:

– Chông! Tôi dẵm phải chông!

– Tôi cũng dẵm phải chông!

Trận tuyến Tống bị rối loạn. Người khỏe đỡ người bị chông. Quân Việt núp trong lũy, rình địch sơ hở, không che kín người là buông tên.

Miêu Lý ban ra một lệnh khủng khiếp:

– Ném xác tử sĩ về trước làm chỗ để chân, che cho khỏi chông rồi tiến lên.

Quân Tống reo hò, tiến tới sát con hào. Đội này dùng lá chắn chăng lên che chở cho đội kia dùng đao chặt, kéo những cây chà. Hơn khắc sau, đã có đội vượt hào tiến vào tới chiến lũy.

Nếu chiến lũy Như-nguyệt gồm những cây tre trơ trọi cắm lên tường đất, thì chiến lũy này lại là những bụi, những cụm tre với cành lớn, cành nhỏ, lá, gai xen nhau, kết lại thành bức tường. Thỉnh thoảng có quãng trống, thì lại được lấp bằng những cây tre khổng lồ kết thành dậu.

Quân Tống tấn công vào những quãng trống đó, dùng dao chặt rào. Quân Việt từ trong bắn ra.

Hơn hai khắc sau, tại hơn mười chỗ, bụi tre mỏng, quân Tống đã phá được hàng rào, chúng reo hò, tràn vào trong như nước vỡ bờ. Nhưng khi chúng vừa tràn vào thì bị Thần-nỏ bắn ngã lổng chổng.

Người trước bị bắn ngã, thì người sau tiến lên. Nhưng Thần-nỏ đã được đưa đến hàng chục dàn, thi nhau tác xạ. Quân Tống chết chồng đống lên nhau. Lớp này ngã, lớp kia nối tiếp.

Quân Việt dàn sau Thần-nỏ đứng chờ sẵn, hễ quân Tống lọt qua lưới Thần-nỏ là làm thịt liền. Cuộc chém giết cực kỳ khốc liệt. Mỗi lúc quân Tống tràn vào một nhiều.

Đặng Trung đưa mắt nhìn: Phía sau quân Việt, một tướng trẻ đứng trên cái đài khá cao, tay đang cầm cờ phất lia lịa chỉ huy quân.

Trung hỏi Nguyễn Dư:

– Viên tướng kia là ai vậy?

– Y là Hổ-uy thượng tướng quân, tước Thành-Tâm hầu tên Vũ Quang, chỉ huy hiệu Thiên-tử binh Quảng-thánh, là một trong Long-biên ngũ hùng. Con mụ Kim-Liên chở xác chết ban nãy chính là vợ y. Nếu tướng quân muốn chiếm được chiến lũy này, thì phải giết cho được y.

Đặng Trung phất cờ gọi đội võ sĩ của Trương Thế-Cự đến, rồi ra lệnh cho bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc:

– Bốn vị nhân huynh phải tìm mọi cách giết tên nhóc con kia cho ta.

Bốn võ sĩ bàn sơ với nhau, rồi bốn người dẫn bốn đội võ sĩ đánh thốc vào phòng tuyến Việt. Phòng tuyến bị cắt ra làm đôi. Lập tức hai đội tiếp tục đánh thẳng, hai đội đánh bọc sang tả, hữu. Thoáng một cái bốn đội đã tới gần đài chỉ huy.

Một tiếng tù và rúc lên, đội võ sĩ phái Tản-viên hơn trăm người do Lý Nhị, Mai Nhị chỉ huy phóng đến như bay cản đội võ sĩ Côn-lôn lại. Hai đội võ sĩ lăn xả vào đấu với nhau.

Quân Tống tràn vào mỗi lúc một đông.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẨY

Tri-tôn Đầu-thượng
Quả-cảm, Hùng-vĩ đại vương



Vũ Quang nhìn sang bên trái, chỗ phòng tuyến của hiệu binh Hồng-châu, mặt trận đã vỡ, quân Lưu Mân ùa vào trong lũy rồi. Đội võ sĩ phái Tản-viên hơn trăm người đang tử chiến cản lại. Hầu cầm cờ xanh phất lên, thì từ phía sau, Hùng Nhân, Hùng Nghĩa, Hùng Lễ dẫn đội hổ hơn trăm con phóng đến như bay xông vào trợ giúp võ sĩ Việt, lập tức cánh quân của Lưu Mân bị đánh bật lại. Trong khi đội báo, voi xông vào đánh đội võ sĩ của Đặng Trung.

Hầu nhìn sang bên phải, cánh quân của Miêu Lý đã tràn vào trong lũy. Công chúa Thiên-Ninh với Miêu Lý đang đấu chưởng đến một mất, một còn. Hầu cầm tù và rúc lên. Từ đâu đó một đàn ong bay đến rợp trời, nhào xuống đốt hậu quân Tống ngoài chiến lũy. Hàng ngũ quân Tống bị rối loạn, bỏ chảy tứ tán. Đội võ sĩ Côn-luân đang bị võ sĩ Tản-viên, báo, voi vây đánh, bây giờ không có quân bộ giúp sức, thoáng một cái, bị giết gần hết.

Đặng Trung thấy nguy, y hú lên một tiếng dài, rồi y với bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc cùng bỏ phòng tuyến tiến đến đài của Vũ Quang. Lý Nhất, Mai Nhị thất kinh hồn vía, vội bỏ trận tuyến quay lại cứu Vũ Quang. Nhưng đã chậm, năm người cùng phát chưởng hướng cột đài. Rầm một tiếng, đài từ từ đổ xuống. Lý Nhị, Mai Nhị cản bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc lại. Đặng Trung nhảy lên vung kiếm chém Vũ Quang. Biết thế nguy, hầu rút kiếm đưa vào ngực Trung, như lối đánh cả hai cùng chết. Đặng Trung vội thu kiếm về nhảy lộn ra phía sau để tránh thế kiếm ác liệt. Bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc cùng Đặng Trung vây lấy Vũ Quang, Lý Nhị, Mai Nhị. Trận Việt không người điều khiển, bắt đầu rối loạn.

Bỗng có tiếng quát:

– Sư đệ đừng sợ! Có ta đây.

Hai nhà sư Viên Căn, Viên Mộc, từ ngoài nhập cuộc, tấn công hai gã Đông, Tây; vợ chồng Lý Nhị đấu với hai gã Nam, Bắc. Vũ Quang được rảnh tay, hầu đưa kiếm vào cổ Đặng Trung. Y khinh thường không đỡ kiếm của hầu, mà vòng tay thọc kiếm vào cổ hầu, để hầu phải thu chiêu về đỡ đòn. Nhưng đã chậm, đầu y bay khỏi cổ, trong khi kiếm của y xớt vào cổ hầu, máu phun ra ra xối xả. Kinh hãi, hầu vội xé vạt áo buộc vết thương, tiếp tục cầm cờ chỉ huy.

Trận thế Việt lại nối liền với nhau. Trận chiến diễn ra ác liệt.

Về phía công chúa Thiên-Ninh, công chúa đã phát huy hết công lực, nhưng vẫn không địch nổi Miêu Lý. Y quát lên, rồi phát ra một chiêu với tất cả bình sinh công lực, định kết liễu tính mệnh bà. Công chúa nghiến răng đỡ. Bình một tiếng người bà bay bổng lại phía sau. Miêu Lý không nhân nhượng, y đánh tiếp một chiêu nữa. Công chúa đành nhắm mắt chờ chết. Thì thình lình có tiếng quát thanh thoát, rồi một người mặc quần áo vàng phi thân tới phát chưởng mạnh đến nghiêng trời lệch đất đánh vào lưng Miêu Lý. Biết rằng nếu không thu chưởng về đỡ, thì người sẽ nát ra như tương mà chết, Miêu Lý vội chuyển tay về sau đỡ. Bùng một tiếng người y rung động, cánh tay tê rần. Y nhìn lại thì ra Âu Hoàng.

Công chúa Thiên-Ninh thoát nạn, bà lại cầm cờ chỉ huy, Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền dẫn đầu đội võ sĩ Việt đánh như hổ đói vồ mồi, hàng ngũ Tống bị đánh cắt làm nhiều khúc. Trận chiến diễn ra khủng khiếp.

Sự xuất hiện của bốn nhà sư chùa Báo-ân với Thần-vũ lục anh, khiến các võ sĩ Tản-viên lấy lại được thế công, thoáng một cái, hơn hai trăm võ sĩ Côn-luân bị giết hết.

Trong bốn nhà sư, thì Viên Diệp có võ công cao nhất. Ông đấu với gã Bắc thắng thế rõ rệt. Thấy máu ở cổ Vũ Quang chảy nhiều quá, cần phải kết thúc trận đánh mau chóng; ông quát lên một tiếng, đánh ra chiêu Lôi đả Ân tặc, gã Bắc vỡ làm năm sáu mảnh. Ông tiếp năm lá cờ trên tay Vũ Quang rồi đánh hai chiêu đẩy hai gã Nam, Bắc ra xa, nói với Lý Nhị:

– Sư huynh mau thay thế Vũ đệ. Còn Vũ đệ mau lui về băng bó.

Vũ Quang nhảy lên mình ngựa phi về hướng Thăng-long.

Giữa lúc trận chiến nghiêng ngửa chưa phân thắng bại, thì lại năm trái Lôi-tiễn nổ trên không. Tiếp theo Lôi-tiễn nổ liên tiếp ở khu rừng tre phía hậu quân Tống, lửa cháy ngụt trời.

Bất giác chư tướng Tống cùng quay đầu nhìn lại: Suốt một giải rừng tre, cờ Việt bay phất phới, quân reo dậy đất. Kị binh Việt đang phi như bay đuổi theo mười hai kị mã Tống nằm rạp xuống, ra roi cho ngựa chạy.

Miêu Lý kinh hoàng, vội lệnh cho quân rút khỏi chiến lũy. Lệnh vừa ban ra, quân sĩ un ùn bỏ chạy, bỏ cả lá chắn. Bấy giờ quân Việt mới xuất hiện truy kích. Tống bỏ lại tử sĩ, thương binh la liệt trong chiến lũy; chồng chất trên bờ chiến lũy, dưới con hào, và trên những thửa ruộng đầy nước.

Ghi chú,

Bình luận về trận chiến thê thảm này, gia phả Lưu thị chép về Lưu Mân như sau:

« Thảm thương thay, những chiến binh Tống kinh nghiệm có thừa, võ nghệ cao cường, trung nghĩa không thiếu; suốt cuộc đời sống ở miền Bắc, luyện tập chiến đấu ở vùng sa mạc. Bây giờ bị bọn ngu tướng (chỉ Quách Quỳ, Triệu Tiết) đẩy vào vùng bùn lầy, lội nước lõm bõm; đi đứng xoay sở đã khó khăn, thì còn nói gì đến chiến đấu? Họ giống như người bị trói chân trói tay. Khổ cho họ, họ phải đối địch với đội quân Việt thiện chiến hơn, dược dưỡng sức nên khoẻ hơn, được nuôi ăn đầy đủ hơn; trong lòng lại quyết tử để bảo vệ sống còn cho đất nước. Tướng của họ lại biết lựa chọn địa thế, để diệt khả năng chiến đấu địch, tăng khả năng chiến đấu quân mình».

Gia phả của họ Đặng chép về Đặng Trung có hơi khác:

« Tổ (Trung) tiến trước quân sĩ, đánh phá được chiến lũy Cổ-pháp, rồi kịch chiến với Hổ-uy thượng tướng quân, tước Thành-Tâm hầu tên Vũ Quang. Người giết được Quang, nhưng cũng bị trúng thương tuẫn quốc. Quách Qùy cố che dấu việc tiến binh vụng về, nên không tâu rõ rằng trận đánh thất bại, vì quân triều phải lội qua bùn lầy lên tới gối. Còn quân Việt thì phục ở trong bắn ra ».

Quân Tống rút ra khỏi tầm tên quân Việt, tập trung lại trên các bờ ruộng, trên nghĩa địa, thì đội kị binh Việt lại biến mất trong rừng tre.

Công chúa Thiên-Ninh gọi Mai Nhị:

– Miêu Lý cho quân rút khỏi tầm tên, y đã tưởng được yên thân ư? Khó lắm. Em cho nã Lôi-tiễn lên đầu chúng, để chúng kinh hoàng.

Lá cờ đỏ phất lên, tiếp theo những tiếng vi vu rít lên không gian, rồi hàng chục, hàng trăm mũi Lôi-tiễn nổ chụp trên đầu chỗ quân Tống tập trung. Mệt mỏi sau cuộc giao chiến thất bại, bây giờ bị Lôi-tiễn nã. Quân Tống không còn lòng dạ chiến đấu, quẳng vũ khí chạy tán loạn ra cánh đồng, vượt khỏi tầm Lôi-tiễn.

Mười hai kị mã Tống đã tới trước Miêu Lý. Y nhận ra bẩy kị mã không phải kị binh của y mà là quân chấp lệnh (quân chuyên chuyển lệnh) cạnh Quách Quỳ, với bẩy kị mã già, mũ che kín gần hết mặt. Miêu hỏi chúng:

– Các người đi đâu đây?

Viên đôi trưởng thở hổn hển:

– Quách nguyên soái truyền tướng quân hãy ngừng tấn công để chỉnh đốn lực lượng. Bởi toàn bộ cánh Nham-biền của ta bị diệt. Nguyên soái đang chuẩn bị lực lượng phá chúng. Để lừa chúng, người giả sai sứ chiêu hàng Lý Càn-Đức, hẹn cho y phải đầu hàng trước giờ Ngọ ngày mai. Được tin này ắt chúng yên tâm, không tấn công ta nữa, như vậy tướng quân với đô tổng quản Yên Đạt có thời giờ chỉnh đốn binh mã trước khi vào Thăng-long.

– Tình hình rừng tre ra sao? Có gặp kị binh của ta không? Tại sao bị kị binh Giao-chỉ đuổi theo?

– Khi tôi đến rừng tre, thì vừa gặp lúc quân Việt xuất hiện, giết đám kị binh giữ ngựa, rồi cướp ngựa. Chúng tôi kinh hoàng bỏ chạy về hướng này. Chúng cho một đoàn đuổi theo chúng tôi, đến đây thì rút chạy.

Trương Thế-Cự cau mặt:

– Ngựa bị bệnh, sao chúng có thể dùng được?

Đội trưởng chấp lệnh nói:

– Tế tác của ta ở Thăng-long thu lượm được tin tức báo về cho Quách nguyên soái rằng ba vị mắc mưu bọn Giao-chỉ. Nhưng tin đến quá trễ.

– ?!?!?!

– Trương tướng quân bị Giao-chỉ lừa mà không biết. Nguyên trong khi thiết kế, chúng tính trước rằng Như-nguyệt bị thất thủ, ắt ta đem kị mã đánh về Thăng-long. Chúng dùng thuốc nhuyễn cân tưới lên khắp cỏ non vùng rừng tre. Chúng lại bầy ra vụ cho ba con trâu, ba đứa cỡi, thổi tù và, khiến ta dừng quân lại, rồi ngựa ăn cỏ độc, gân cốt nhuyễn ra.

– Lẽ nào quận chúa Minh-Thúy cũng giúp bọn Giao-chỉ hại ta?

– Không! Quận chúa bị lầm lẫn mà thôi. Quận chúa không biết chiến mã ta bị trúng độc. Người tưởng chúng ăn phải cỏ độc, nên người mới lấy trộm thuốc giải cỏ độc cho ta, dặn ta cách trị v.v; trong khi ngựa của ta ăn phải thuốc nhuyễn cân. Cho nên khi các vị đem quân đi rồi, thì binh tướng Giao-chỉ xuất hiện, không đầy nửa khắc trên hai trăm kị binh giữ ngựa bệnh bị giết hết. Chúng đem thuốc giải nhuyễn cân cho chiến mã ta uống. Hơn khắc sau, ngựa khoẻ như thường. Lập tức kị binh Giao-chỉ cỡi chiến mã của ta cùng hiệu binh Ngự-long tiến lên lập phòng tuyến ở rừng tre chặn đường tiếp tế của tướng quân. Thành ra bây giờ tướng quân tiến lên thì vướng chiến lũy Cổ-pháp, lui lại thì gặp chiến lũy rừng tre.

Miêu Lý nhăn mặt:

– Ngự-long? Thế quân nào trấn ở chiến lũy kia?

– Thưa chúng dùng hư binh cả. Hiệu Quảng-vũ vẫn còn ẩn ở trong rừng Bắc-biên. Hiệu Ngự-long ẩn ở trang ấp gần rừng tre. Còn trong chiến lũy kia chỉ có hiệu binh địa phương Hồng-châu với hiệu Quảng-thánh mà thôi.

Miêu Lý giận cành hông, y hỏi:

– Tin tức có cho biết tướng Giao-chỉ nào bầy mưu này không?

– Nghe nói là công chúa Thiên-Ninh.

– Con tiện tỳ thực xảo trá, ban nãy suýt nữa ta giết được thị. Sau này chiếm Thăng-long rồi ta sẽ bắt thị cho một trăm tên quân hiếp mới nư giận.

Nghe viên đội trưởng chấp lệnh nói, lòng Miêu Lý ngút lửa hận:

– Mình ngu thực. Chúng lợi dụng địa thế, ém quân ở trong. Vì vậy chỉ có một hiệu Thiên-tử binh với một hiệu địa phương, mà mình tưởng có tới bốn hiệu, nên dàn quân thực rộng. Rút cuộc quân không chết vì giao chiến, mà chết vì chông, vì tên, vì Thần-nỏ. Nghĩ một đời Đặng Trung trí dũng có thừa, từng tung hoành trên sa mạc Tây-thùy hai mươi năm qua anh hùng là thế, mà nay bỏ thân ở chốn man mọi này. Thảm thương thực.

Nhìn về phía chiến lũy, bất giác y nổi giận cành hông: Công chúa Thiên-Ninh ngồi trên chiếc xe tứ mã, bên cạnh có ba nàng Âu với sáu thiếu nữ đang tấu nhạc, mà lại là nhạc chiến thắng của nhà Chu bên Trung-quốc. Phía sau quân Việt đang nở cổng ra ngoài thu nhặt tử thi quân Tống. Miêu Lý bàn với các tướng:

– Ví thử ban nãy, không thấy đám kị binh xuất hiện, thì chúng ta đã chiếm được chiến lũy. Từ đây về Thăng-long còn có hai mươi dặm (10 km). Ta biết rõ hai hiệu Ngự-long, Phù-đổng đều chặn đường tiếp tế của ta, trong khi Thăng-long trống trơn. Ta có nên tiến đánh Thăng-long, bắt Càn-Đức, Yến-Loan, tạo thành một chuyện thống khoái kim cổ chăng?

Bọn Trương Thế-Cự, Lưu Mân đều đồng ý. Viên đội trưởng chấp lệnh nói:

– Chính vì giặc sợ tướng quân đánh Thăng-long, chúng mới dùng toàn lực đánh vào quân ta ở Nham-biền. Một vạn quân triều chết, bốn vạn bị bắt sống. Toàn bộ mười lăm vạn quân bị bắt, bị giết hết. Hiện tên Chiêu-Văn đang đem hai hạm đội, chở thêm hai hiệu Thiên-tử binh đi ngược sông Cầu tiến về Như-nguyệt. Trên bộ tên Hoằng-Chân chỉ huy hai hiệu nữa đánh phía sau. Còn vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi chiếm Chi-lăng, vợ chồng Tôn Mạnh chiếm Quyết-lý, vợ chồng Thân Cảnh-Long chiếm lại Lạng-châu. Đường về của ta bị mất. Có tin thủy quân Việt đánh chiếm Khâm, Liêm, đang tiến về Quảng-châu. Xin tướng quân tạm cho quân nghỉ, chờ nguyên soái thanh toán hai đạo của Hoằng-Chân, Chiêu-Văn rồi sẽ tiến công cũng chưa muộn.

Y chỉ vào năm kị mã già nói nhỏ:

– Đây là năm đại sư Pháp-Minh, Pháp-Đức, Pháp-Thiên, Pháp-Hạ. Nguyên soái truyền rằng: Bốn vị phải ẩn thân, ngày mai nguyên soái thanh toán bọn Hoằng-Chân, Chiêu-Văn, rồi sẽ cho ba tướng Vương Tiến thống lĩnh hai tướng Bình Viễn, Vương Mẫn đem quân tiếp viện cho tướng quân. Trong đội quân tiếp viện sẽ có thêm năm đại sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị, Pháp-Quốc, Pháp-Cách, Pháp-Vật. Mười đại sư thình lình xuất tấn công giết tướng giặc như giết chuột. Bấy giờ tướng quân sẽ tiến thẳng về Thăng-long.

Miêu Lý chỉ vào chiến lũy Cổ-pháp mà than:

– Chỉ vì Quách nguyên soái muốn giữ bí mật đến giờ chót, mà mình phải hy sinh mấy vạn tướng sĩ tại đây. Ví thử người cho mười đại sư xuất hiện trước, thì ta đã chiếm được Cổ-pháp, và đang vây Thăng-long rồi. Hỡi ơi!

Y lắc đầu:

– Bao nhiêu lương thực, với các đội hỏa đầu quân của ta để ở rừng tre bị Giao-chỉ tràn ngập. Đường tiếp tế phía trước thì hiệu Phù-đổng, Ngự-long lập chiến lũy cắt mất. Phía sau thì hiệu Quảng-thánh, Hồng-châu đóng chặn đường. Ta lâm thế tiến không xong, mà lùi cũng không được, chiều nay không có lương, thì làm sao đây?

Nguyễn Dư chỉ vào hai làng bên đường:

– Thưa tướng quân, hai làng này là nơi đồn trú lương thảo của Giao-chỉ, không biết bây giờ có còn không, hay đã di chuyển đi rồi.

Miêu Lý ra lệnh:

– Làng này là nơi đồn trú lương thảo, mà sao Thiên-Ninh lại không cho lập chiến lũy?

– Thưa làng nào, thị cũng cất đấu lương thảo, chứ không phải chỉ hai làng này mà thôi.

– Ta đánh Như-nguyệt như sét nổ, nếu thực sự trong làng chứa lương, thì chúng chưa di chuyển đi đâu. Người dẫn theo mấy tên bảo binh vào dò thám xem sao! Nhớ không được giết hại dân chúng.

Nguyễn Dư đi một lúc rồi trở về đưa ra cuốn sổ:

– Thưa tướng quân, quả như tướng quân đoán, lương thảo vẫn còn nguyên, chúng chưa di chuyển kịp. Trong làng chỉ còn đàn bà, trẻ con, người già, còn trai tráng thì bị bắt đem vào chiến lũy hết rồi.

Miêu Lý cầm sổ coi: Gạo mới sáu nghìn thùng (tương đương với ngày nay là sáu mươi nghìn kg), tôm khô nghìn cân, cá khô nghìn cân, mắm trăm cân. Y xem xuống dưới, còn có cả đường, đậu, chảo, nồi, bát, đũa. v.v.

Miêu Lý mừng rỡ vô cùng. Nhưng vốn tính cẩn thận, y cho gọi y sĩ tới kiểm lại xem, thực phẩm của Nam nan ăn vào có ngộ độc không. Sau khi kiểm soát, y sĩ trình:

– Ta ơn trời Phật, hai kho này toàn thực phẩm thượng hạng. Gạo có ba loại, một là gạo nếp tía, vừa thơm vừa dẻo; hai là gạo tám, vừa thơm vừa mềm; ba là gạo rự vừa dẻo vừa mềm. Cá khô thì toàn cá thu, cá chim; tôm thì toàn tôm he.

Miêu ra lệnh:

– Vào làng lấy gạo, cá khô, tôm khô phát cho quân ăn. Với số gạo này, đủ nuôi ba vạn người trong hai ngày.

Quân sĩ được phát gạo, cá khô, tôm khô, vội cùng nhau nấu cơm chiều ăn. Quân Tống đa số là người miền Bắc, chưa từng dược ăn cá thu, cá chim, tôm he, mực khô, với gạo tám. Đây là lần đầu tiên họ được ăn nhừng sản phẩm, mà họ chỉ được nghe kể trong những câu truyện cổ tích.

Trương Thế-Cự bàn với Miêu Lý:

– Bây giờ chúng ta phải hành động ra sao? Quân của ta bộ còn gần hai vạn; kị tuy không còn ngựa, nhưng số người cũng hơn vạn. Tổng cộng hơn ba vạn. Dù quân trong rừng tre, cộng với quân trong chiến lũy Cổ-pháp, ta vẫn đông hơn chúng. Nay lại thêm năm vị đại sư nữa, thì ta có hy vọng thắng chúng. Vậy ta nên chọn một trong hai đường: Hoặc phá vòng vây rừng tre mở thông đường về Như-nguyệt, hoặc phá chiến lũy Cổ-pháp tiến về Thănglong. Ta nên chọn đường nào?

Miêu Lý thở dài:

– Thôi đành theo lệnh nguyên soái, chờ đến trưa mai.

Đâu đó tiến nhã nhạc rất êm dịu vọng lại, y đưa mắt nhìn: Công chúa Thiên-Ninh cùng ba nàng Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền đang dẫn quân thủng thẳng theo sau y, đầy đe dọa.

Một đoàn trâu kéo xe từ chiến lũy từ từ đi tới. Miêu Lý nhận ra đây chính là đoàn xe trâu của Võ Kim-Liên với Trần-Triệu Minh-Thúy đã chở xác tử sĩ sư một kị binh trả về cho Tống hôm trước. Nhưng lần này, thì đoàn xe dài gấp bội. Trên mỗi lưng trâu, có một người cỡi, kéo theo một chiếc xe chất đầy xác chết. Đoàn xe tới gần, y nhận ra người ngồi cạnh Minh-Thúy không phải là Võ Kim-Liên, mà là một thiếu phụ mình hạc xương mai, dáng điệu uy nghi; tuổi tuy cao, nhưng cực kỳ xinh đẹp. Thiếu phụ mặc y phục của vương phi Tống. Y vội cùng đội võ sĩ ra cản đường.

Quận chúa Minh-Thúy chỉ thiếu phụ hỏi Miêu Lý:

– Miêu tướng quân, người có biết ai đây không?

Miêu Lý đã nhận ra thiếu phụ là Yên-vương vương phi Lê Thiếu-Mai. Trước đây khi Yên-vương còn tại thế, vương phi cùng vương trấn Bắc-thùy, thì y chỉ là một đội trưởng kị binh. Y vội nghiêng mình thi lễ:

– Tiểu tướng giáp trụ trên người, không hành đại lễ được, xin vương phi đại xá.

Tiên nương vẫy tay:

– Tướng quân không nên đa lễ. Chỉ vì hoàng thượng nghe lời Vương An-Thạch xua trăm vạn quân tinh hoa xuống vùng lam chướng này, họ chết mà không đáng chết. Trong trận vừa qua, tướng quân để lại vừa thương binh, vừa tử sĩ trên ba vạn người. Ta bùi ngùi thương xót kẻ chinh phu, chết uất ức, chết tức tưởi mà xin công chúa Thiên-Ninh cho thu nhặt tử thi trả về Quách Quỳ. Ta lại băng bó cho thương binh, nay trao cho người. Vậy thương binh ta để lại đây, còn tử thi thì ta cho đem về Như-nguyệt.

Miêu Lý cung tay:

– Đa tạ vương phi.

Quận chúa Minh-Thúy chỉ vào năm lão già hom hem ngồi trên năm xe trâu bảo Miêu Lý:

– Ta với sư bá trở về Thăng-long. Còn đoàn trâu chở xác chết này thì do năm lão nhà quê với đám thiếu niên tiếp tục đánh xe đến tổng hành doanh Quách Quỳ. Họ là đệ tử của sư bá, nể lời ta mà giúp Tống, vậy các người phải đối đãi với họ cho tử tế.

Nói rồi nàng giật cương, xe trâu quay trở về chiến lũy Cổ-pháp.

Bấy giờ Miêu Lý mới kiểm soát qua loa năm lão già hom hem ngồi trên năm con trâu dẫn đầu đoàn sáu trăm xe. Thấy không có gì nghi ngờ, y cung tay:

– Tuân lệnh quận chúa.

Y sai quân kiểm soát sơ sài đoàn xe, rồi cho lên đường.

Hổ-uy thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Vũ Quang bị thương ở cổ, hầu nằm rạp trên lưng ngựa tay bịt vết thương, hướng về hậu cứ để điều trị. Vì máu ra nhiều quá, hầu không điều khiển được ngựa. Con thần mã quen đường, đưa hầu về ấp phong của hầu là xã A-hộ, huyện Lục-ngạn (Kinh-Bắc) thì ngừng lại. Gió lạnh làm hầu tỉnh giấc. Một thiếu phụ thấy ngài thì chắp tay:

– Bẩm lậy đại vương ạ! Con nghe nói đại vương đang đánh giặc, sao lại về đây?

– Ta bị giặc chém vào cổ. Này bà ơi! Người ta bị chém mất đầu có sống được không?

– Bẩm, e không sống được.

Hầu tuyệt vọng, buông vết thương trên cổ, máu phun ra như vòi, rồi ngã lăn xuống mình ngựa. Người đàn bà kinh hãi, tri hô lên. Dân chúng vực hầu vào đình cứu cấp, thì hầu đã hóa.

Lại nói, phu nhân Kim-Liên đem xác tử sĩ Tống đến Như-nguyệt trở về hỏi thăm tin tức hầu, công chúa Thiên-Ninh cho biết hầu bị thương, đã về hậu cứ điều trị. Phu nhân về hậu cứ không thấy hầu, thì cực kỳ kinh hãi. Bà truyền lấy hai ngao binh đi tìm hầu. Ngao binh đánh hơi, dẫn bà về đây. Thấy hầu đã hóa nằm đó, dân chúng khóc lóc thảm thiết, bà vẫy tay cho họ im lặng, rồi lấy bút viết tờ biểu tâu lên triều đình. Sau khi niêm phong lại, bà trao cho viên lý trưởng:

– Các người không nên khóc. Hãy nghe ta dặn. Cách đây mấy năm, vùng này còn là rừng hoang, đầy ác thú, rắn độc. Ta với hầu đã dùng quân phá hoang, quy tụ các người thành trang ấp này. Triều đình lấy ba xã, trong đó có xã này làm ấp phong cho chúng ta. Ta với hầu thắt lưng buộc bụng, chi tiêu bằng bổng mấy chục đấu gạo, cá, mắm triều đình ban cho; nhất định không dùng tiền thuế làm của riêng, mà dùng tiền đó xây trường học, làm đường, mua trâu cho xã. Vì vậy ba xã của chúng ta trở thành giầu có.

Bà thở dài:

– Hầu với ta thành vợ chồng đã tám năm, chung lo việc nươc, không bao giờ rời nhau. Nay hầu tuẫn quốc, ta nguyện đi theo hầu. Nay ta để lại một tờ biểu tâu lên triều đình xin ân huệ không thu thuế cho các người trong mười năm. Vậy các người hãy đem về Thăng-long, đánh hồng chung, nộp lên Thái-hậu. Khi ta chết rồi, thì các người đem chôn ta với hầu thì nhớ để đầu chúng ta hướng về Bắc, tướng tinh chúng ta sẽ trấn không cho giặc xâm phạm Đại-Việt.

Nói dứt phu nhân đưa kiếm lên cổ tự tử.

Ghi chú,

Sau khi hết giặc, triều đình luận công, phong cho ngài tước Tri-tôn Đầu-thượng, Quả-cảm, Hùng-vĩ đại vương. Phu nhân được phong Trang-hòa, Thiên-đức, Trinh-tĩnh công chúa, truyền lập đền thờ. Ngài tuẫn quốc năm 28 tuổi, vương phi tuẫn quốc năm 26 tuổi. Trải qua 918 năm dài lịch sử, đến nay (1995) đền thờ ngài và công chúa vẫn còn, mang tên đền Bảo-linh, ở xã A-hộ, huyện Lục-ngạn; nay là xã Biện-sơn, huyện Lục-ngạn, tỉnh Hà-Bắc. Độc giả muốn thâm cứu thêm tiểu sử của ngài, xin đọc bài tựa NQSH, quyển 1, mục 7.1.2.

Trời đã về chiều (vẫn ngày 20 tháng giêng), công chúa Thiên-Ninh họp chư tướng kiểm điểm lại nhân mã, để chuẩn bị truy kích bọn Miêu Lý, thì thân binh vào báo:

– Linh-Nhân hoàng thái hậu với nguyên soái Thường-Kiệt giá lâm.

Công chúa dẫn Thần-vũ lục anh với bốn nhà sư chùa Báo-ân ra đón.

Lễ nghi tất.

Thái hậu tuyên chỉ:

– Thiên-Ninh hãy cho canh phòng cẩn thận, vì lát nữa sẽ có rất nhiều bậc tôn trưởng tới đây để bàn truyện cứu nước.

Công chúa Thiên-Ninh đưa mắt cho Phạm Dật, Kim-Loan:

– Hai em đem đội thần ngao canh gác dưới đất, đội thần ưng kiểm soát trên không thực cẩn thận.

Hai người cúi đầu rời trướng.

Lát sau, thị vệ dẫn một đoàn người vào, đó là hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh, với mấy đệ tử.

Lễ nghi vừa dứt, thì thị vệ lại dẫn vào một đoàn nữa: Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn, công chúa Nong-Nụt; tiếp theo là tiên nương Bảo-Hòa với bốn nữ đệ tử Mai, Lan, Cúc, Trúc.

Mọi người yên vị.

Linh-Nhân hoàng thái hậu chỉ vua bà Bình-Dương:

– Vì phòng tuyến Phú-lương thất thủ, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện, Qui-đức đại tướng quân Trần Di với phu nhân Phương Lý tuẫn quốc. Yên Đạt, Khúc Chẩn, Lôi Tự-Văn đem năm vạn quân triều, một trăm chỉ huy Tân-đằng-hải với năm vạn bảo binh kéo hết sang sông. Hiện chúng đang đánh phá vòng đai cuối cùng. Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan với phu nhân Trần Ngọc-Liên; đô thống Lý Tứ, phu nhân Mai Tứ; các cao thủ phái Tiêu-sơn tử chiến. Bây giờ chúng tạm nghỉ ăn cơm chiều. Có lẽ sáng mai chúng sẽ phá chiến lũy, rồi tiến về Thăng-long. Xã tắc mất còn trong sớm tối, nên quốc trượng Tự-An sai chim ưng đem thư cho sư phụ của cô phụ bảo phải mời các vị trưởng thượng tới bàn kế giữ nước. Nhưng giờ này vẫn chưa thấy quốc trượng giá lâm.

Công chúa Thiên-Ninh rụng rời chân tay, hỏi nguyên soái Thường-Kiệt:

– Đại ca! Làm sao chúng đánh Phú-lương dễ dàng như vậy?

Lý Thường-Kiệt kể:

– Dường như Quách Quỳ biết được ý định của ta. Một mặt khi họp chư tướng, y vẫn ban lệnh cho Yên Đạt rằng mặt Phú-lương là hư, Đạt chỉ cần đánh cầm chừng cho đến khi Như-nguyệt thất thủ, ta rút quân Phú-lương về cứu Thăng-long, bấy giờ mới vượt sông truy kích. Một mặt y gọi Đạt ra chỗ vắng ban mật lệnh rằng: Bằng mọi giá Đạt phải phá chiến lũy Phú-lương, rồi đem quân về đánh phía sau phòng tuyến Cổ-pháp. Công chúa Thiên-Ninh đang chống với Miêu Lý phía trước, nay bị đánh phía sau ắt tan vỡ. Vì vậy Yên Đạt mới quyết đánh bằng được Phú-lương.

Ông lắc đầu, tỏ ý rùng mình:

– Yên Đạt thực là tướng tài. Khi nhận được lệnh Quách Quỳ, y có năm mươi bè. Y ước tính rằng, ta có hiệu Vũ-thắng thủ trong lũy, mà muốn đánh, thì y phải có quân số năm vạn cùng tiến công. Với năm mươi bè, y chỉ có thể chở một lúc hai vạn rưởi quân, rồi trở về chở tiếp. Thời gian trở về, rồi lại bơi sang ấy, thì ta làm thịt hết hai vạn rưởi quân kia rồi. Tính thế, y ra lệnh cho bảo binh đẵn chuối làm bè nhỏ, chở trăm người một lúc. Suốt đêm hôm kia, bảo binh đóng được hơn hai trăm bè chuối. Thế là sáng qua, y có thể chở năm vạn quân qua sông một lúc.

Âu Hoàng vẫn không chịu:

– Trình nguyên soái, ví thử Yên Đạt có chở được năm vạn quân sang một lúc, mà y muốn phá chiến lũy Phú-lương, thắng lực lượng phòng thủ của công chúa Động-Thiên cũng không phải là dễ. Bởi ngoài hiệu Long-dực của Trần Di, Phương-Lý ra, ta còn có mười dàn Thần-nỏ, sáu sư thú, với hơn nghìn cao thủ phái Tiêu-sơn; lại còn mấy đội cảm tử binh của Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng nữa. Bằng y thí quân, thì ít ra phải mất năm vạn. Mất năm vạn quân, thì sao y có thể đánh phòng tuyến thứ nhì của Lý Đoan, Ngọc-Liên, Lý Tứ, Mai Tứ?

Thường-Kiệt lắc đầu:

– Không ai ngờ đến một chi tiết nhỏ, chính cái chi tiết đó, làm vỡ phòng tuyến Phú-lương. Nguyên, trong trận Đâu-đỉnh, bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn bắt được mười dàn Thần-nỏ của ta với hơn hai vạn mũi Lôi-tiễn. Khi bàn kế vượt sông, sao cho khỏi chết nhiều quân, đám hàng tướng Nùng Thuận Ninh, Sầm Khánh-Tân đề nghị dùng Lôi-tiễn đốt hàng rào chiến lũy.

Âu Hoàng vốn cực kỳ thông minh, bà bật lên tiếng úi:

– Hỏng rồi, trong quân bọn phản tướng cũng có mấy dàn Thần-nỏ, cũng có thú binh. Bây giờ chúng dùng bọn này xử dụng Lôi-tiễn bắn vào chiến lũy; lại dùng bọn thú binh làm hỗn loạn hàng ngũ thú binh của mình!!!

– Đúng như sư muội đoán.

Thường-Kiệt giảng giải: Lệnh Quách Quỳ ban ra rằng đúng giờ Thìn sáng ngày 19 tháng giêng, ba mặt Vạn-xuân, Như-nguyệt, Phú-lương đồng vượt sông. Yên Đạt đổi lại, ra quân trước hai giờ. Đúng giờ Dần, y cho quân xuống bè vượt sông. Quân ta chuẩn bị chống trả. Khi bè tới giữa sông thì dừng lại. Y cho quân đánh trống reo hò, rồi Lôi-tiễn từ các bè bắn trực xạ vào các lớp rào. Hàng rào bốc cháy khắp nơi. Bấy giờ chúng mới cho bè sang Nam ngạn, hô quân đổ bộ. Về phía ta, Trần Di thấy giặc bắn Lôi-tiễn thì hiểu rằng hàng rào vô dụng rồi. Hầu đợi cho các lớp rào bị cháy gần hết, quân Tống reo hò leo lên chiến lũy; bấy giờ quân ta xuất hiện đánh xuống. Nhưng khổ một điều Thần-nỏ ở dưới bè bắn trực xạ trở lên. Quân sĩ chết quá nhiều. Âu Lam, Âu Hồng tung thần ưng, thần phong đánh xuống, lập tức bọn hàng binh dưới bè cũng dùng cờ ra lệnh cho ưng, phong quay trở lại đánh ta. Ưng, phong không biết tuân lệnh ai, chỉ bay lượn trên trời. Đứng trước mối nguy, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện lệnh cho quân lùi lại phía sau, chờ quân Tống leo vào trong chiến lũy, mới dùng Thần-nỏ bắn ào ạt. Nhưng khốn nỗi, chỉ có mười dàn Thần-nỏ, thì sao cản nổi năm vạn quân? Phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên lệnh cho Hùng Trí, Hùng Tín sai hổ, báo, ngao, tượng phối hợp với Thần-nỏ, Thiên-tử binh lâm trận. Cứ mười Thiên-tử binh lại có một cao thủ phái Tiêu-sơn hỗ trợ. Quân Tống chết hàng hàng lớp lớp. Nhưng bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn vẫn thúc quân tiến lên. Giữa lúc ấy bọn hàng binh, hàng tướng đã vào trong chiến lũy; chúng dùng tù và, cờ, ra lệnh cho hổ, báo, ngao, tượng quay ngược lại đánh quân ta. Thú binh đứng trước hai lệnh trái ngược, chúng trở thành ngơ ngơ ngác ngác. Lập tức hàng ngũ quân Việt hỗn loạn ngay.

Thường-Kiệt hớp một hớp nước. Hùng Nghĩa nóng lòng hỏi:

– Thưa nguyên soái, rồi sao?

– Đứng trước nguy nan đó, Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng xua đội cảm tử cố chọc thủng trận bọn hàng quân, tấn công bọn thú binh phản quốc. Bọn này không đề phòng, thành ra chỉ nửa khắc chúng bị giết sạch. Thú binh ta lại phất cờ, rúc tù và sai thú tấn công. Cho đến lúc này toàn bộ năm vạn quân triều của Tống đã lọt vào trong chiến lũy, phù kiều đã nối; quân tân-đằng-hải ào ào đổ bộ. Trận chiến cực kỳ khốc liệt. Sau nửa giờ gần như toàn bộ thú binh chết hết; hiệu Vũ-thắng, đội võ sĩ Tiêu-sơn còn lại không quá hai trăm người. Yên Đạt, Khúc Chẩn cho quân vây kín, rồi chiêu hàng.

Công chúa Động-Thiên hướng Yên Đạt xá một xá:

– Yên tướng quân, chúng tôi nay lâm đường cùng rồi, dĩ nhiên chỉ có hai đường. Một là hàng, hai là chết. Vậy trước khi quyết định, xin tướng quân cho chúng tôi được thảo luận với nhau, để trên dưới đồng lòng trong hành động tối quan hệ này.

Yên Đạt vẫy tay ra lệnh cho quân sĩ lùi lại. Công chúa gọi chư tướng tới gần, rồi nói:

– Chúng ta được lệnh trấn Phú-lương. Nay Phú-lương thất thủ, không phải chúng ta bất tài, cũng không phải chúng ta hèn nhát; mà vì quân chúng ta quá ít. Sau đây, giặc sẽ tiến đánh Yên Dũng, để tới Thăng-long.

Công chúa nói với vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín:

– Ta biết các em là những người yêu nước, sống chết với Phú-lương, không chịu rút chạy. Nhưng này các em, tiết tháo là điều cần thiết, nhưng đại cuộc lại là điều cần thiết hơn. Đằng nào Phú-lương cũng bị vỡ rồi, vậy các em hãy tìm cách chạy về Yên Dũng giúp vợ chồng Lý Đoan, Lý Tứ cố thủ, chờ quân tiếp viện. Các em có nghe ta không?

– Bọn thuộc hạ xin tuân chỉ công chúa.

– Vậy lát nữa đây, ta sẽ thách bọn Yên Đạt đấu võ. Trong khi chúng ta đấu, thì bốn em phá vòng vây bỏ chạy. Nhớ!

Đến đây, công chúa gọi Yên Đạt:

– Yên đô tổng quản! Tài trí chúng tôi không dở, võ công chúng tôi không hèn. Chúng tôi bị thua, vì đất chúng tôi hẹp, dân chúng tôi thưa. Vậy nếu như tổng quản muốn chúng tôi đầu hàng, thì xin lấy võ công thắng chúng tôi, chúng tôi mới phục.

Công chúa chỉ vào Trần Di, Phương-Lý:

– Bây giờ thế này, xin đô tổng quản cử ra ba người đấu với chúng tôi. Nếu như Tống thắng hai cuộc, thì chúng tôi xin quy hàng. Còn như Tống bại, xin Đô tổng quản rút quân về bên kia sông. Không biết đô tổng quản có chấp thuận không?

Yên Đạt cử Lôi Tự-Văn đấu với Hoàng phò mã, Lữ Chân đấu với công chúa, Tống Đạo đấu với Trần Di. Thế là ba cặp đấu một lúc. Quân Tống cùng ngồi xuống bãi cỏ say mê xem cuộc đấu, chúng thả ngựa cho gặm cỏ. Giữa lúc trận đấu nghiêng ngửa, thì vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín cùng phát chưởng đánh dạt quân Tống ra, rồi tung mình lên lưng ngựa, phi về hướng Nam. Quân Tống la hét, định đuổi theo, thì bốn người đã chạy mất hút.

Trận đấu giữa sáu người mỗi lúc một khốc liệt. Công chúa với phò mã vừa đánh vừa lùi tới chỗ đứng của bọn hàng tướng Nùng Thuận-Ninh, Sầm Khánh-Tân. Thình lình hai vị quát lên một tiếng, rồi xả kiếm chém hai tên hàng tướng. Hai tên Nùng, Sầm đang say mê quan sát trận đấu, tuyệt không đề phòng, trong khi hai vị ra chiêu như sét nổ. Lôi Tự-Văn, Lữ Chân muốn cứu chúng, nhưng thế không kịp. Hai người cùng xuất chiêu xả vào vai hai vị, để bắt buộc hai vị phải thu chiêu về tự cứu mình. Nào ngờ công chúa, phò mã vẫn không thu chiêu, đầu hai tên bay khỏi cổ. Bấy giờ hai vị mới chuyển chiêu đánh thẳng vào người Lôi, Lữ. Lôi, Lữ vội thu chiêu về cứu mình, nhưng không kịp nữa, kiếm hai vị xuyên qua ngực Lôi, Lữ; trong khi kiếm của Lôi, Lữ chém xả từ vai xuống ngực hai vị. Thế là cả bốn cùng chết.

Về phía Trần Di, hầu đấu với Tống Đạo, có hơi kém thế rõ rết. Khi thấy công chúa, phò mã tuẫn quốc, chiêu số của hầu bị rối loạn, bị Tống Đạo chém bay đầu. Phương-Lý thấy chồng chết, quận chúa rất bình tĩnh. Quận chúa nhặt đầu hầu ráp lại với thân, quỳ xuống lạy ba lạy. Lạy xong, thì lình bà tung người lên phóng kiếm lia vào cổ Tống Đạo. Đạo rút kiếm đâm vào ngực quận chúa, để quận chúa phải đổi chiều tự cứu mình. Không ngờ quận chúa vẫn không thu chiêu, kiếm của Đạo đâm suốt qua ngực bà, trong khi đầu y bay khỏi cổ.

Ghi chú,

Theo QTNC và TTCTGCK thì lúc tuẫn quốc, chức tước của phò mã Hoàng Kiện như sau: Phụ-quốc thái úy, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Binh-bộ thượng thư, Kinh-Bắc tiết độ sứ, Uy-viễn đại học sĩ, Sơn-Nam quốc công. Sau khi hết giặc, chức tước của phò mã vẫn giữ nguyên, nhưng tước thì thăng lên làm Hưng-quốc, Bảo-nghĩa, Nhân-dũng đại vương. Phò mã với công chúa được phối thờ ở thái miếu nên không có đền thờ riêng.

Sau này, khi lập đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu, hậu thế phối thờ công chúa cùng với ngài. Nếu con dân Đại-Việt nào đọc được những giòng này, mà còn tưởng nhớ đến huân công của công chúa, có thể hành hương đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu (Chép ở phần thứ 3.2 bài tựa, NQSH quyển 1, hoặc hồi thứ 39). Tại đây, tượng của thái hậu trong trang phục mầu vàng, ngồi ở chính giữa. Hai bên là tượng của sáu công chúa: Thiên-Thành, Động-Thiên, Nguyễn-thị Trinh-Dung, Vũ Thanh-Thảo, Trần Ngọc-Nam, Trần Ngọc-Huệ. Tượng của công chúa Động-Thiên y phục mầu đỏ sẫm, áo choàng ngoài, mũ mầu hồng nhạt, hai tay chắp lại trước ngực. ( Xin đừng lầm với tượng công chúa Thiên-Thành, y phục giống công chúa Động-Thiên, nhưng hai tay bưng cái quả đựng lộc).

Còn Trần Di tuẫn quốc năm 27 tuổi, truy phong là Nhân-dũng, Tráng-tiết, Thần-oai, Thủy-tế Long-vương. Phu nhân tuẫn quốc năm 26 tuổi, được truy phong Hòa-thạc, Chí-nhu, Uyển-mị, Đông-hải công chúa. Truyền lập đền thờ. Trải qua 918 năm dài thăngtrầm của lịch sử, hiện nay (1995) đền thờ của ngài vẫn còn tại xã Mộ-đạo, huyện Vũ-thư, tỉnh Thái-bình. Độc giả muốn thâm cứu thêm tiểu sử của ngài, có thể tìm đọc thêm các tài liệu ghi ở phần tựa NQSH, quyển 1, mục 7.2.1.


Hình chụp tượng thờ công chúa Động-Thiên tại đền thờ Linh-Nhân hoàng Thái-hậu, xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội.

Đợi cho Thường-Kiệt thuật xong, Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Tình hình xã tắc nguy trong sớm tối. Quách Quỳ có gửi sứ tới Thăng-long chiêu hàng. Y hẹn nếu trưa mai, giờ Ngọ, mà ta không tuân, thì y cho phá vòng đai Cổ-pháp với vòng Yên Dũng, tới làm cỏ Thăng-long. Nhưng cô phụ này thà chịu ngọc nát chứ không để có vết. Hà! Tính chung, sau khi chiếm được chiến lũy Phú-lương, Tống mất hơn hai vạn quân triều, năm mươi chỉ huy tân-đằng hải. Cộng chung hơn bốn vạn người. Như vậy Yên Đạt vẫn còn ba vạn quân triều, sáu mươi chỉ huy tân-đằng-hải, năm vạn bảo binh. Với mười một vạn binh, y thừa sức tràn ngập Yên Dũng. Thế đã cùng, nước mất trong sớm tối, ta phải làm một trong hai việc sau : Một là đem quân từ đây, tiếp viện cho Yên Dũng. Hai là đem quân đánh tập hậu, khiến Yên Đạt phải đem quân trở về giữ hậu cứ. Các vị nghĩ sao?

Chư tướng yên lặng, suy nghĩ.

Ngài dùng ngôn ngữ bình dân nói với công chúa Thiên-Ninh:

– Nguyên soái Thường-Kiệt thì muốn đem quân tiếp viện cho Yên Dũng hơn là đánh tập hậu. Nhưng nếu đem quân từ đây sang Yên Dũng, e mặt Cổ-pháp này không đủ sức chống với Miêu Lý, y sẽ tràn ngập Thăng-long ngay. Vì vậy cô phải lên đây hội ý với Thiên-Ninh xem sao. Ý Thiên-Ninh thế nào?

– Ý kiến của cô với anh Kiệt đều hợp lý cả. Theo cháu nghĩ, mặt Nham-biền, Tống bị hai vị hoàng thúc đánh tan mười lăm vạn quân. Mặt này thế của ta như chẻ tre. Còn tại Cổ-pháp, thì hiện quân số ta với Tống ngang nhau. Về phía ta, hiệu Quảng-thánh, với hiệu địa phương Hồng-châu bị thiệt hại nặng, chỉ có thể phòng thủ chứ tấn công thì không được. Hai hiệu Ngự-long với Phù-đổng cháu vẫn ém ở rừng tre, chưa dùng đến, tinh lực mạnh vô cùng. Còn Tống, thì sáu đạo binh triều, thiệt hại mất một nửa; đạo kị binh thì còn nguyên, nhưng ngựa lại bị ta cướp mất.

Công chúa tỏ vẻ cương quyết:

– Muốn cứu viện Yên Dũng cho mau, thì phải dùng hiệu Phù-đổng mới kịp. Vả vùng Yên Dũng là đồng bằng, thì kị binh sẽ tha hồ tung hoành. Còn mặt Cổ-pháp, dù thiếu hiệu Phù-đổng cháu vẫn thừa sức chặn Miêu Lý.

Nguyên soái Thường Kiệt lắc đầu:

– Dù ta có đem hiệu Phù-đổng sang mặt Yên Dũng, thì mặt ấy ta cũng chỉ có hai vạn quân, làm sao địch lại mười vạn người của Yên Đạt?

– Đại ca ơi! Muội đâu có ý định đem quân sang tiếp viện để đương đầu với Yên Đạt? Ý muội muốn đem quân sang chỉ với mục đích cầm chân chúng qua đêm nay. Nội ngày mai, quân của hai vị hoàng thúc sẽ đến Phú-lương, đánh phía sau địch. Trường hợp đó trận chiến sẽ khủng khiếp vô cùng, vì Yên Đạt phải đánh thục mạng để mở đường máu về Bắc Phú-lương.

– Này Thiên-Ninh!

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi: Liệu hiệu Phù-đổng rút đi rồi, lỡ ra Quách Quỳ mang đại quân tới thì sao? Thiên-Ninh có chống nổi không?

– Cháu hứa với cô rằng có thể cản trở chúng trong ba ngày, chờ quân của hai vị hoàng thúc tới.

Tiên nương Bảo-Hòa nắm tay công chúa Thiên-Ninh, cử chỉ của ngài đối với công chúa như mẹ với con, hơn là thầy với trò:

– Phàm làm việc nước, thì phải thiết kế sao cho vẹn toàn. Đấu võ, lỡ ra thất thố thì chỉ một mình con bị thương, quá lắm thì chết. Còn thiết kế cứu nước, sai một tý, thì xã tắc sẽ lâm nguy, tội đó có chết đến nghìn lần cũng không chuộc lại được. Nay mặt trận Phú-lương, giặc có tới mười một vạn quân mà con định đem hai vạn ra cản ư? Không được. Muôn ngàn lần không được! Tại Cổ-pháp này chỉ còn hiệu Ngự-long nguyên vẹn, với hiệu khập khễnh Quảng-thánh, Hồng-châu mà định cản bốn vạn quân của Miêu Lý, đằng sau còn ba mươi vạn quân của Quách Quỳ ư? Phải tính lại.

Nghe sư phụ quở, công chúa Thiên-Ninh toát mồ hôi ra:

– Xin sư phụ dạy cho đệ tử phải hành động ra sao?

– Hiện Tống không có khả năng đem quân vượt biển đánh vào Thăng-long. Vậy ta không cần để quân trấn ở Nam Thăng-long nữa. Trước khi lên đây, ta đã truyền sư huynh Thường-Kiệt đem hiệu địa phương Thiên-trường, Trường-yên lên tiếp viện cho mặt Phú-lương rồi. Nay thêm hiệu Phù-đổng nữa, thì mới có thể giữ nổi. Trước kia phò mã Hoàng Kiện với công chúa Động-Thiên chỉ huy mặt này. Nay hai người đã tuẫn quốc, thì đích thân vua bà Bình-Dương phải đến trấn thủ mới nổi.

– Dạ.

– Còn con! Con phải làm sao diệt hết cánh quân của Miêu Lý trong đêm nay, rồi tràn đến đuổi giặc khỏi Nam Như-nguyệt, lập lại phòng tuyến. Bấy giờ Quách Quỳ muốn đánh nữa, lại phải hy sinh hai chục vạn người như trận vừa qua là điều y không thể làm. Ví dù y có muốn thí quân nữa, thì sau lần vượt sông này, y không còn quân đánh Thăng-long.

– Thưa sư phụ đệ tử,

Công chúa Thiên-Ninh đáp: Muốn làm như thế, nhưng không đủ sức. Sư phụ dạy cho phải làm thế nào?

– Tại sao con không làm được?

– Thưa, vì dù bị tổn thất, Miêu Lý cũng còn ba vạn quân. Tại Nam Như-nguyệt, Triệu Tiết với ba tướng Bình Viễn, Vương Mẫn, Vương Tiến có bốn vạn quân gồm sáu đạo cinh 11, 12, 13, 14, 15, 16. Ấy là không kể Bắc-ngạn y còn ba đạo 17, 18, 19, tới hai vạn nữa. Tổng cộng chúng có 9 vạn, mà đệ tử chỉ có hai vạn, thì làm sao mà thắng được?

– Con đừng sợ, ta đã có kế phá giặc rồi. Hãy đợi sư huynh Thường-Kiệt tóm lược tình hình đã.

Tiên nương đưa mắt cho Thường-Kiệt. Ông tóm lược:

– Hiện hai vương Hoằng-Chân, Chiêu-Văn đang tiến từ mặt trận Nham-biền về Như-nguyệt bằng hai cánh. Cánh trên bộ do Trung-Thành vương chỉ huy gồm hiệu Đằng-hải, Long-dực, với đội Thần-tiễn Long-biên. Cánh dưới sông do Tín-Nghĩa vương chỉ huy, gồm hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng chở iai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp. Nhiệm vụ hai cánh này là đe dọa đánh vào hậu cứ tổng hành doanh của Quách Qùy, bắt buộc y phải rút quân từ Nam ngạn về.

Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt hỏi:

– Thưa nguyên soái, nếu như Quách Quỳ vẫn chưa chịu lui quân, vì y cho rằng lực lượng của y tại tổng hành doanh dư sức đánh bật hai cánh của Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương thì sao?

– Trường hợp này nhị vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa sẽ đánh thẳng vào hậu cứ cũa y. Đương nhiên y phải rút các đạo quân 10, 11, 12, 13, 14, 15 ở Nam ngạn về để đối phó với nhị vương. Cả hai trường hợp, Nam ngạn đều để trống rồi cái thế bắt cuộc y phải lệnh cho Miêu Mý đóng quân chờ y giải quyết xong hai cánh quân Nham-biền; Yên Đạt giải quyết xong Yên Dũng, rồi tái tấn công Cổ-pháp.

Ông nhấn mạnh:

– Nếu vì lý do nào, mà một trong hai cánh Yên-dũng, Cổ-pháp, Nham-biền thất thủ, thì Thăng-long nguy. Vì vậy bằng mọi giá, ta phải diệt cánh quân Miếu Lý, rồi thừa cơ Như-nguyệt trống trơn, ta tái chiếm.

Các tướng đều như nín thở nghe Thường-Kiệt trình bầy :

– Hôm qua, trong khi Tống, Việt chưa giao tranh ở Như-nguyệt, Thái-hậu đã đoán biết Như-nguyệt khó giữ. Tống thừa thế đánh Cổ-pháp sẽ bị chặn lại. Chúng tuyệt đường tiếp tế lương bổng, sẽ tràn vào hai xã nằm ngoài phòng tuyến cướp lương. Người viết thư sai chim ưng chuyển cho sư thúc Mộc-Tồn, đẫn đội đệ tử đem thuốc trộn vào gạo, cá khô, tôm khô, mắm ở hai xã. Quân Tống cướp lương này ăn vào, thì chân tay sẽ bải hoải trong một ngày, bấy giờ ta cắt chúng như bắt ốc vậy. Việc này trước đây công chúa Thiên-Ninh đã làm ở Nam-giới, khiến toàn bộ cánh quân của Đinh Kiếm-Thương không đánh mà tan.

Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Sau khi thanh toán đám quân của Miếu Lý, ta lấy quân phục, vũ khí của chúng cho hiệu Ngự-long mặc. Đợi trời sáng, ta cho hiệu Quảng-thánh, hiệu Ngự-long âm thầm đột kích Như-nguyệt. Chiếm Như-nguyệt xong, ta lập lại phòng tuyền như cũ.

Long-Nhương thượng tướng quân Phạm Dật hỏi:

– Thưa nguyên soái, tại đây ta có hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh. Cho rằng đêm nay đạo quân Miêu Lý bị trúng độc, ta diệt được, rồi sau đó tái chiếm chiến lũy Như-nguyệt. Giả như Quách Quỳ không rút khỏi Nam ngạn chiến lũy Như-nguyệt, thì hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh làm sao địch lại sáu đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15? Rồi trên bờ Bắc ngạn, Tống vẫn duy trì ha đạo binh 16– 17, 18. Vì dù khi ta đánh Nam ngạn thành công, thì Quỳ sẽ tung ba đạo Bắc ngạn vượt phù kiều tiếp viện cho Nam ngạn. Bấy giờ hai hiệu Quảng-thánh, Ngự-long phải đương đầu với chín đạo binh Tống thì dù Thiên-tử binh có tài kinh thiên động địa cũug không địch nổi.

– Hầu hỏi thực phải. Sáu đạo quân trấn ở chiến lũy Như-nguyệu tin rằng phía trước có đạo quân Miêu lý, nên không đề phòng. Hơn nữa ta lợi dụng đêm tối, đột kích, khiến chúng kinh hoảng. Chúng bị bất ngờ tất thua chạy qua sông. Đợi cho chúng sang sông một nửa, giữa lúc đó, ta cho đội Giao-mong Tây-hồ nhảy xuống nước cắt phù kiều thì bao nhiêu quân chưa kịp chạy sẽ nhảy xuống sông mà trốn. Đội Giao-long binh sẽ giết sạch. Bấy giờ lập tức ta củng cố lại phòng tuyến như cũ. Tôi chỉ sợ có một điều.

– ???

– Quân của Quách Quỳ có hơn nghìn võ sĩ. Trong trận hỗn chiến đánh Như-nguyệt, chết mất ba trăm, còn lại bẩy trăm người. Trong đám võ sĩ đó có rất nhiều cao thủ thượng thừa.

Chư tướng bật lên tiếng:

– Úi chà!

– Với võ công của đám này trừ Côi-sơn tam anh ra, trong các tướng của ta, không ai có thể địch lại. Nhưng chả hiểu sao, trận chiến Cổ-pháp, Quỳ chưa cho lâm chiến. Nhược bằng họ xuất hiện thì từ công chúa Thiên-Ninh, cho tới Thần-vũ lục anh, bốn vị đại sư chữ Viên chùa Báo-ân đã mất mạng! Giờ này Miêu Lý đang vây Thăng-long rồi. Vì vậy Thái-hậu mới thỉnh các vị tôn trưởng hiện diện để đối phó. Chỉ thiếu thái sư phụ mà thôi.

Có tiếng nói rất trong trẻo, rất dịu dàng vọng vào:

– Sư huynh! Ông nội tới rồi này.

Mọi người nhận ra là tiếng nói của quận chúa Minh-Thúy. Tiếng nói vừa dứt thì năm người xuất hiện, đó là quốc trượng Tự-An, quận chúa Minh-Thúy và ba thanh niên thân thể hùng vĩ, tư thái phong lưu, trông như ba cây ngọc trước gió.

Lễ nghi tất.

Mọi người đưa mắt nhìn ba thanh niên, như ý muốn hỏi ai vậy, quận chúa Minh-Thúy biết ý, giới thiệu:

– Đây là ba anh của tôi tên Vị-Hoàng, Thiên-Trường, Linh-Cơ.

Mọi người đều suýt xoa, vì từ lâu rồi, võ lâm Hoa-Việt truyền tụng ba thế tử con trai Kinh-Nam vương, từ năm bẩy tuổi được ông nội là quốc trượng Tự-An đem theo để dạy dỗ. Cho nên quốc trượng ngao du khắp Chiêm, Lào, Xiêm, Chân-lạp, Đại-lý, Tây-hạ, Bắc-liêu, Trung-nguyên, đều có ba thế tử ở bên cạnh. Ba người đã học được hầu hết học thuật của ông nội: Về võ công công có bản lĩnh ngang với phụ thân, về văn học uyên thâm như những đại học sĩ của triều đình. Bây giờ họ mới thấy mặt.

Quốc trượng Trần Tự-An, năm nay tuổi vừa đúng một trăm, nhưng tóc chỉ mới hơi hoa râm, da chưa nhăn, răng chưa rụng. Ông nói lớn:

– Già này tới đây để báo với Thái-hậu ba tin khủng khiếp.

Mọi người đều nín thở, mở to mắt, để nghe cái tin mà người ngang tàng coi thường cả Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La lão tử như Tự-An mà còn phải mệnh danh là khủng khiếp.

– Quán-quân thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân là quận chúa Trần Phương-Quỳnh đã tuẫn quốc tại Khâm-châu.

Linh-Nhân hoàng thái hậu kinh hoảng, tay ngài nắm lấy tay sư mẫu là vua bà Bình-Dương, giọng ngài run run:

– Sao? Sao? Quốc trượng được tin này từ đâu? Nghi đệ tuẫn quốc mà sao Khu-mật viện không biết gì? Trời ơi. Không thể thế được, vạn vạn lần Nghi đệ không thể chết được!

Tự-An thở dài:

– Tin này lão phu mới nhận được, chưa sai chim ưng báo về, thì Khu-mật viện làm sao mà biết được? Thái hậu bình tĩnh. Dù gì thì bọn chúng cũng đã ra người thiên cổ rồi. Việc trước mắt của chúng ta là làm sao giữ được nước.

– Đa tạ quốc trượng.

Thái-hậu ngồi chết lặng đi.

Tự-An thuật:

– Trước đây triều đình lệnh cho phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiên-Thành chiếm lại Lạng-châu; lệnh cho Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên chiếm lại Quyết-lý; lại lệnh cho Đinh Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh chiếm lại Chi-lăng. Mục đích của triều đình là chặn đường tiếp tế lương thảo của giặc, bắt buộc Quách Quỳ phải ngừng tiến quân, để giải tỏa con đường tiếp tế lương thảo. Nhưng triều đình không ngờ tới, con đường đó bị nghẽn, Quách Quỳ dùng đường Khâm-châu, Ngọc-sơn tiếp tế; vả lương thảo cho cuộc Nam xâm hầu hết chứa ở Khâm-châu. Vì vậy phò mã Thân Cảnh-Long bàn với Chính-Tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi rằng hiệu Quảng-vũ nên chia làm hai. Một nửa trao cho Lý Tam, Mai-Tam trấn Chi-lăng, kéo cờ phô trương thanh thế. Một nửa do Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh, Chang-Lan âm thầm di sang phía Đông chặn đường tiếp tế từ Ngọc-sơn.

Linh-Nhân hoàng thái hậu, nguyên soái Thường-Kiệt đều gật đầu, tỏ vẻ tán thành kế hoạch này của phò mã Thân Cảnh-Long.

– Ba người nghe theo.

Tự-An tiếp: Ba người đem quân về đóng ở vùng ven biển Ngọc-sơn. Chúng bàn rằng vì quân số ít ỏi mà chặn đường giặc thì không làm nổi. Vậy chỉ có cách lén đổ bộ Khâm-châu, đốt trọn kho lương giặc là truyện thống khoái kim cổ. Bởi hiện giặc tưởng phía trước quân Quách Quỳ, Khúc Chẩn, Tu Kỷ, Yên Đạt đang uy hiếp Thăng-long, thì sao ta có thể sang tận Khâm-châu. Nên tại Khâm-châu chúng không đề phòng. Ba đứa liên lạc được với đô đốc Trần Lâm nói dối rằng được lệnh Khu-mật-viện đem một ngàn quân, giả làm thủy quân Tống thi hành sứ mạng đặc biệt. Phương-Quỳnh là con Trần Lâm, nên Lâm tin ngay. Nhân Lâm mới bắt được hơn hai chục chiến thuyền của Tống với nghìn thủy thủ di dò thám; y lấy y phục, chiến thuyền, vũ khí, lệnh bài trao cho con rể, con gái. Thế là Nghi, Quỳnh, Lan dùng hơn nghìn Thiên-tử binh giả làm thủy thủ Tống chèo thuyền về Khâm-châu. Chúng tính sao về tới Khâm-châu đúng lúc trời chập choạng tối. Tổng trấn Khâm-châu là Nhâm Khởi thấy báo đội thủy tế tác từ Đại-Việt về, thì lệnh cho chiến thuyền neo ngoài khơi, hôm sau vào trình. Bọn Hoàng-Nghi cùng một số võ sĩ lên bộ mua sắm, rồi lọt vào trong thành. Đến đêm đám võ sĩ giết quân canh, mở cửa cho quân cảm tử vào. Khi quân Việt phóng hỏa khắp nơi, kho lương biến thành một biển lửa, thì bọn Nhâm-khởi mới biết. Nhâm cho quân đuổi theo tới bờ biển, thì đội cảm tử của Hoàng-Nghi đã xuống thuyền được một nửa. Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Chang-Lan đứng cản hậu cho quân rút lui. Khi quân xuống thuyền hết, ba người mới tung mình theo. Nhâm-Khởi truyền quân bắn tên, Hoàng-Nghi bị trúng năm mũi; Phương-Quỳnh bị trúng tám mũi. Đội cảm tử chạy thoát về tới vịnh Hạ-long thì gặp hạm đội Động-đình của Trần Lâm tiếp cứu. Từ Khâm-châu về tới Hạ-long mất ba ngày sóng gió, tên lại tẩm thuốc độc, nên Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh chỉ sống khắc khoải thêm một ngày, rồi chết. Trần Lâm cử một chiến thuyền chở xác Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh về Trường-yên mai táng. Nghe đâu Chang-Lan chôn xác hai người ở một ngôi chùa, rồi thế phát quy y.

Ghi chú,

Quán-quan thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi tuẫn quốc năm 26 tuổi. Phu nhân là Tuyên-đức, Thạc-hòa quận chúa Trần Phương-Quỳnh tuẫn quốc năm 25 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công phong cho hầu chức tước như sau: Hiển-uy, Trung-nghĩa, Duệ-mưu đại vương. Phu nhân được phong là Nghi-hòa, Tuyên-đức, Trang-duệ công chúa, truyền lập đền thờ ở vùng Nho-quan, Trường-yên. Nay thuộc thị xã Ninh-bình, tôi không tìm được dấu tích đền này.

QTNC và TTCTGCK thuật hơi lạ: Ngài được Linh-Nhân hoàng thái hậu yêu như con. Khi ngài tuẫn quốc, thái hậu khóc đến bỏ ăn, bỏ ngủ. Một hôm ngài hiện về trong giấc mộng nói với hậu rằng: Ngài không phải là người thường. Tiền thân ngài là con của Lạc-long-quân, vâng lệnh Ngọc-Hoàng thượng đế đầu thai làm Việt-vương Đinh Liễn đánh 12 sứ quân. Nay lại đầu thai đánh Tống. Vì vậy Linh-Nhân hoàng thái hậu truyền tu bổ đền thờ vua Đinh ở Trường-yên. Trong đền thờ cả Việt-vương Đinh Liễn tức ngài. Đền này nay còn ở thị xã Ninh-bình.

Trong khi tìm tòi trong kho tàng thư tịch Việt, tôi thấy ĐNCTC và Cao-bằng sự tích có chép: Đền Hoàng-lục ở xã Lũng-định, huyện Thương-lang, tỉnh Cao-bằng thờ An-biên tướng quân Hoàng Lục. Tướngquân sống vào thời vua Lý Nhân-tông, từng tham gia cuộc Bắc phạt đánh châu Khâm, Liêm, Ung và cuộc kháng chiến chống bọn tướng Tống là Quách Qùy, Triệu Tiết, rồi tử trận. Triều đình truyền lập đền thờ. Có lẽ là đền thờ ngài Đinh Hoàng-Nghi. Nhưng tôi chưa đến tận nơi sưu tầm, vả không thấy chép trong QTNC và TTCTGCK nên không dám quyết. Đành áp dụng phương pháp của cổ sử: Nghi dĩ truyền nghi (Điều gì nghi ngờ, thì cũng nói là nghi ngờ).

Độc giả muốn thâm cứu về tiểu sử ngài, xin xem bài tựa NQSH, quyển 1, mục 7.1.3.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi trong nước mắt:

– Thưa quốc trượng, thế còn tin khủng khiếp thứ nhì?

– Tin này đáng kinh sợ hơn tin trước.

Ông ngửa mặt nhìn lên nóc nhà: Hy-Ninh thâm! Vương An-Thạch cũng thâm! Quách Quỳ càng thâm hơn. Trước khi rời Biện-kinh ra đi, Hy-Ninh cho mật sứ mời các cao thủ thượng thừa Trung-quốc âm thầm theo trong quân, nhưng giữ tuyệt mật. Mật đến độ Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Khúc Chẩn, Miêu Lý cũng không biết, đợi khi trận đánh quyết định mới xuất hiện, khiến ta không trở tay kịp.

Cử tọa mặt nhìn mặt kinh hoàng. Vua bà Bình-Dương hỏi:

– Khải sư bá, những cao thủ đó là ai vậy?

– Mười đại cao thủ chữ Pháp ở chùa Thiếu-lâm, Tứ đại trưởng lão phái Hoa-sơn, Song-hùng phái Trường-bạch, Tam-ma phái Liêu-Đông.

Cử tọa cảm thấy lạnh xương sống, cùng phát ra tiếng « ái chà! ối! trời ơi ». Nhất là nghe đến tên Liêu-Đông tam ma, không ai mà không ớn.

Tiên nương Bảo-Hòa lắc đầu:

– Thưa sư bá tin này liệu có chính xác không? Với những cao thủ thượng thừa này, nếu như Quách Quỳ cho xuất trận thì e rằng sư huynh Phu-Quốc, nhị vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa cùng chư tướng ở Nham-biền đã mất mạng, mười lăm vạn quân Tống không đến nỗi bị đánh tan. Tại chiến lũy Như-nguyệt, nếu họ xuất thủ thì chỉ cần nửa giờ các tướng ta mất mạng hết, Tống không đến nỗi thiệt mười vạn nhân mạng. Mới đây trận Cổ-pháp, Phú-lương, nếu họ cho cao thủ thượng thừa ra trận, thì giờ này họ đã ở Thăng-long rồi.

– Bởi vậy già này mới nói là chúng thâm. Nguyên khi Hy-Ninh họp các đại tôn sư ở Thiên-chương các, xin trợ giúp Quách Quỳ đánh Đại-Việt, thì các tôn sư đều từ chối. Họ viện lý rằng giữa võ lâm Đại-Việt với Trung-quốc vốn có tình giao hảo từ lâu. Nay họ không thể giúp triều đình xâm lăng Đại-Việt, theo ý ngông cuồng của Vương An-Thạch. Hy-Ninh khẩn khoản mãi, họ mới đồng chấp nhận chỉ xuất trận một lần duy nhất, sau trận đó, dù bại dù thắng họ cũng không can thiệp nữa. Do vậy Hy-Ninh trao mật chỉ cho Quách Quỳ rằng các các cao thủ chỉ được tung vào một trận cuối cùng mà thôi. Vì y sợ nếu tung ra sớm e các cao thủ thượng thừa của ta xuất hiện thì các trận sau khó mà thành công. Theo ý Hy-Ninh, thì dù phải hy sinh năm mươi vạn quân, mà chiếm được Đại-Việt thì Quách Quỳ cũng được phong tước công. Theo tin mới nhận được, thì trận đánh ngày mai các cao thủ Tống mới xuất trận. Ý định của Quách Quỳ là cao thủ Tống thình lình ra tay, các tướng ta bị giết hết, đại quân Tống sẽ tràn ngập Cổ-pháp, Phú-lương, Vạn-xuân, rồi tới Thăng-long.

Ông cầm tờ giấy ra đọc lớn:

– Từ khi Quách Quỳ đem quân tới Bắc Như-nguyệt thì Mộc-tồn, Viên-Chiếu đã đem một số cao thủ ẩn trong quân Tống để dò la tin tức. Đây tin mới nhất đây: Năm nhà sư Pháp-Tuệ, Pháp-Minh, Pháp-Đức, Pháp-Thiên, Pháp-Hạ mới tăng viện cho Miêu Lý để ngày mai đánh vào Cổ-pháp. Năm nhà sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị, Pháp-Quốc, Pháp-Cách, Pháp-Vật đã ở trong đạo quân của Vương Tiến, ngày mai tiếp viện cho Miêu Lý. Hoa-sơn tứ lão chuẩn bị để đánh đạo quân Trung-Thành vương. Liêu-Đông tam ma chuẩn bị đánh đạo quân của Tín-Nghĩa vương. Trường-bạch song hùng đã có mặt ở Phú-lương.

Ông chỉ vào Vị-Hòang:

– Cháu nói rõ về vụ này cho chư tướng biết.

Thế-tử Vị-Hoàng đứng dậy chào cử tọa một lượt rối nói:

– Các đại cao thủ Tống hạ sơn đa số do lời thỉnh cầu của Hy-Ninh, duy có Liêu-Đông tam ma thì lại do Vương An-Thạch chiêu mộ. Võ công của Liêu-Đông thuộc tà môn, nên từ xưa đến giờ bị võ lâm Trung-nguyên coi là tà ma ngoại đạo. Đệ tử Liêu-Đông đa số đều là đầu trộm đuôi cướp, bị quan quân truy nã rất gấp. Nay An-Thạch hứa rằng, sau khi bình Đại-Việt, bất biết đệ tử môn phái này phạm tội gì cũng được ân xá hết.

Chư tướng cùng thắc mắc về võ công của phái Liêu-Đông ra sao, mà bất cứ cao thủ võ lâm nào nghe đến đều kinh hồn táng đởm.

Vị-Hoàng đáp:

– Sở trường của phái Liêu-Đông là dùng Huyền-âm chưởng. Chưởng này bá đạo hơn Nhật-hồ độc chưởng nhiều. Bởi bất cứ cao thủ nào đấu với đệ tử Liêu-Đông, chỉ cần chạm vào chưởng của chúng, là bao nhiêu công lực tiêu tan hết, hóa ra người tàn tật.

Tiên-nương Bảo-Hòa cau mặt lại:

– Thế thì nó cũng giống như Qui-pháp âm dương của Đại-Việt ta. Tôi nhớ trước đây trong trận Tản-lĩnh, Kinh-Nam vương Tự-Mai, U-bon vương Lê Văn rồi Tôn Đản đã dùng thuật này hút hết công lực của các đại cao thủ phái Hoa-sơn, mà có ai gọi là tà ma đâu? Hiện bốn đệ tử Mai, Lan, Cúc, Trúc của tôi cũng biết thuật này.

Vị-Hoàng cung tay:

– Thưa sư bá! Qui pháp âm dương với tản công của phái Liêu-Đông khác nhau rất nhiều. Qui-pháp âm dương chỉ hút công lực đối thủ, khi đối thủ dồn chân khí tấn công mình. Còn tản công phái Liêu-Đông thì chính bọn họ dồn công lực đánh người, nhân đó đẩy độc khí sang. Ai bị qui-pháp âm dương hút mất công lực, sau đó tái luyện lại rất mau. Còn ai bị tản công, thì độc chất vào cơ thể, công lực mất hết, sau không thể luyện lại được. Bọn Liêu-Đông thường dùng tản công làm mất hết công lực người rồi bắt sống, làm nhục đủ điều. Chính vì vậy... vì vậy chúng mới đóng năm cái cũi mang theo trong quân rồi tuyên bố rằng sẽ bắt...sẽ bắt... năm người giam vào đó đem về Biện-kinh.

Đến đây Vị-Hoàng ngừng lại dường như không dám nói. Tiên-nương Bảo-Hòa cười:

– Chúng tuyên bố bắt những ai? Cháu cứ nói ra, việc gì mà phải che dấu?

– Dạ, chúng tuyên bố bắt Mộc-tồn hòa thượng, Viên-Chiếu hòa thượng, sư thúc Lê Văn với hai vị thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh.

Cử tọa cùng bật lên tiếng ồ.

Tự-An nghiêm mặt:

– Khi chúng dám tuyên bố như vậy, ắt bản lĩnh của chúng không tầm thường đâu. Phải cẩn thận lắm mới được.

Thường-Kiệt cung tay:

– Xin thái sư phụ điều động chư tôn sư Đại-Việt để chống với cao thủ Tống.

Tự-An suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Bọn Trường-bạch sở trường về độc công. Đối phó với Trường-bạch song hùng ở Phú-lương ngoài Thiệu-Thái ra, không ai đương nổi. Vậy Thiệu-Thái, Bình-Dương đem bẩy đại cao thú phải Mê-linh khẩn lên đường ngay.

Hai vị cúi đầu nhận lệnh.

Linh-Nhân hoàng tái hậu đứng dậy chắp tay:

– Vì tầm quan trọng của mặt trận Phú-lương nên trước đây đệ tử để phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên trấn thủ tại đây. Nay hai vị đó đều tẫn quốc rồi. Vậy đệ tử lớn mật, dám xin sư phụ, sư mẫu tổng chỉ huy mặt này cho.

Vua bà Bình-Dương cầm tay thái hậu, nói bằng ngôn từ bình dân:

– Thái hậu yên tâm. Anh chị sẽ cố gắng làm tròn bổn phận.

Tự-An tiếp:

– Bọn Liêu-Đông chuyên dùng thuốc luyện độc chưởng. Đối phó với chúng phải có người giỏi y lý. Vậy U-bon vương Lê Văn với công chúa Nong-Nụt bằng mọi giá phải dùng thuyền nhỏ đuổi theo hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng để diệt bọn Liêu-Đông tam ma, và để bắt bọn chúng bỏ vào cũi mang về Thăng-long.

Ông đưa mắt nhìn cử tọa một lượt:

– Từ hai chục năm nay, Hoa-sơn tứ lão ra sức tìm cách phá Long-biên kiếm pháp. Họ đã tìm ra rằng: Long-biên kiếm pháp dùng kiếm chiêu ảo diệu để thắng địch. Vì vậy họ dùng kiếm khí để khắc chế. Họ ra sức luyện nội công Long-biên đến chỗ cực kỳ cao thâm. Trong các cao thủ của ta, họa may Mộc-tồn, Viên-Chiếu hòa thượng là có thể trị được họ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu lắc đầu:

– Trình quốc trượng, khổ một điều là sư phụ với sư bá hỉ nộ bất thường, hạc nội, mây ngàn không biết đâu mà tìm. Nhất là sư bá Mộc-tồn, chỉ có tiên nương Bảo-Hòa, Thiếu-Mai mới có thể nói cho sư bá nghe. Không biết sao, trong cuộc hội quan trọng như thế này, mà sư bá, sư phụ không giá lâm?

Tự-An cười:

– Dĩ nhiên gã Mộc-tồn không tới. Bởi trên đời này dù cho Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La lão tử y cũng không sợ, mà chỉ sợ gặp mặt Bảo-Hòa với Thiếu-Mai. Trong cuộc hội quan trọng này, y biết thế nào Bảo-Hòa, Thiếu-Mai cũng hiện diện, thì đời nào y dẫn xác tới? Nhưng lão phu biết y ở đâu rồi. Để lão phu viết thư cho y.

Nối rồi ông viết thư, vẫy tay gọi bốn nhà sư chữ Viên:

– Phiền bốn hòa thượng cầm thư này trao cho Mộc-tồn, Viên-Chiếu dùm. Nhớ sao chiều nay phải tới tay họ.

Bốn người lến đường tức thì.

Tự-An nhìn Bảo-Hòa mỉm cười:

– Người chỉ huy tuyến Cổ-pháp này là cô cháu xinh dẹp Thiên-Ninh. Vậy tiên nương là sư phụ của Thiên-Ninh, xin đem các cao thủ Mai, Lan, Cúc, Trúc, vợ chồng Hùng Nhân, Nghĩa, Lễ giúp đệ tử đối phó với ngũ đại thần tăng Thiếu-lâm.

Ông đưa mắt cho hai thánh tăng Đạo-Hạnh, Minh-Không:

– Sau khi đánh tan đạo quân Miêu Lý, ắt công chúa Thiên-Ninh sẽ đánh úp Như-nguyệt. Tại Như-nguyệt còn năm thần tăng Thiếu-lâm nữa, xin hai thánh tăng hạ Phật giá giúp Bà-chúa-kho.

Ông nhìn Thường-Kiệt:

– Già trả lại việc điều quân cho cháu.

Công chúa Thiên-Ninh hỏi Thường-Kiệt:

– Thưa sư huynh! Ban nãy sư huynh nói rằng đội Giao-long binh sẽ đánh phù kiều. Mà đội này hiện theo Tín-Nghĩa vương, thì sao có thể cùng ta xuất thủ?

– Sư muội ơi! Trước khi thiết kế, ta đã cho chim ưng mang lệnh tới Tín-Nghĩa vương. Vương đã lệnh cho ho dùng thuyền khẩn cấp ẩn trong nhánh sông nhỏ gần chiến lũy Như-nguyệt, chờ khi quân Tống đang bỏ chạy xuống phù kiều, thì xuất hiện giết chúng, rồi cắt phù kiều. Ta lại nhân Quảng-đông ngũ cái từ Chiêm về trợ chiến. Ta nhờ họ cùng đội đệ tử Việt kiều của họ giả làm dân phu tải tử thi Tống về Như-nguyệt. Xe của họ có hai lớp đáy. Dưới lớp đáy thứ nhì để toàn mã não, hoàng thạch. Ngày mai giữa lúc ta đánh phù kiều, tất Quách Quỳ cho quân tập trung ở bờ Bắc, để sang sông tiếp viện. Quảng-Đông ngũ cái cùng đội Giao-long sẽ lắp giáo vào sừng trâu, rồi đốt mã não, hoàng thạch. Trâu bị đốt nóng, chạy đâm bổ vào đội hình quân Tống. Với sáu trăm trâu, kéo sáu trăm xe lửa, sẽ gây cho quân Tống kinh hoàng. Còn đội Giao-long Tây-hồ thì nhảy xuống sông chặt phù kiều.

Ông ngừng lại:

– Hôm trước Bà-chúa-kho bắt được bao nhiêu ngựa của Tống? Ngựa đó bây giờ ở đâu?

Công chúa Thiên-Ninh chỉ Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt:

– Muội bắt được năm nghìn chiến mã Tống, đã trao cho Mai tướng quân. Trước đây Mai tướng quân có một vạn kị mã, mà chỉ có năm nghìn chiến mã. Nay bắt được chiến mã Tống, thành ra ta có một vạn chiến mã cho một vạn kị mã. Hiệu Phù-đổng trở thành mạnh vô cùng.

Thường-Kiệt ban lệnh:

– Bây giờ Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt hãy lên đường ngay. Còn mặt trận này xin trao trả công chúa Thiên-Ninh.

Buổi hội chấm dứt.

Tại chiến lũy Cổ-pháp, Đại-Việt

Giờ Hợi, ngày 21 tháng giêng, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Công chúa Thiên-Ninh thăng trướng:

– Hiệu Ngự-long của Phạm Dật, Kim-Loan, Lý Nhất, Mai Nhất phát xuất từ rừng tre; có hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh, Thần-vũ tam hùng Nhân, Nghĩa, Lễ chỉ huy thú binh theo trợ chiến. Hiệu Quảng-thánh của Lý Nhị, Mai Nhị phát xuất từ Cổ-pháp; có bốn sư tỷ Thân Mai, Lan, Cúc, Trúc; Thần-vũ tam thư Âu Hoàng, Thành, Huyền đem thú binh trợ chiến. Đúng giờ Sửu ngày mai, khi thấy Lôi-tiễn bắn lên trời, thì đồng loạt tấn công vào chỗ đóng quân của Miêu Lý.

Công chúa dặn:

– Chư tướng phải ra lệnh cho quân: Nhược bằng quân Tống bị trúng độc, thì tuyệt đối không được chém giết.

Công chúa nói với tiên nương Bảo-Hòa:

– Sư phụ cùng chư đệ tử theo giúp con.

Các cánh quân âm thầm lên đường. Công chúa Thiên-Ninh đứng bên mười dàn Thần-nỏ chờ đợi. Thời gian nặng nề trôi qua.

Đúng giờ Sửu, công chúa phất tay, xạ thủ châm lửa đốt vào Lôi-tiễn rồi bắn. Ba trái Lôi-tiễn rú lên chói tai, bay lên nền trời, kéo thành ba vệt đỏ tươi, rồi nổ ba tiếng lớn, biến thành ba trái cầu lửa trên trời.

Lập tức tiếng trống thúc, tiếng quân reo, tiếng ngựa hí, tiếng thú gầm rung động trời đất. Hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh cùng đốt đuốc, reo hò tấn công vào khu vực đóng quân của Tống.

Hồi chiều ngày 20 tháng giêng, Miêu Lý cướp được lương thảo, y hí hửng định phát cho quân nấu ăn. Sau khi ăn xong, chư quân đều cảm thấy buồn ngủ kỳ lạ. Miêu cho rằng, sau hai ngày xung sát, nay quân được ăn no, thì buồn ngủ là lẽ thường. Chính y với chư tướng cũng lăn ra ngủ.

Nhưng qua ngày hai mươi mốt, binh tướng càng cảm thấy người mề mệt, buồn ngủ kỳ lạ, rồi đến chiều thì chân tay cảm thấy vô lực. Miêu Lý bàn với Trương Thế-Cự, cả hai cứ cho rằng binh tướng nhiễm phải lam chướng, chỉ cần nghĩ một hai ngày là hết.

Bây giờ thình lình, tiếng Lôi-tiễn nổ rung động không gian, Miêu Lý cùng chư tướng giật mình thức dậy. Nhưng người nào cũng cảm thấy chân tay vô lực, cử động khó khăn. Trương Thế-Cự lên tiếng:

– Chóng mặt quá.

Y tung người lên cao, nhưng lực không có, y loạng choạng rồi ngã ngồi xuống. Các tướng cũng cùng một hoàn cảnh như Thế-Cự.

Xung quanh trại, đốc đốt sáng rực. Quân Việt đang hò hét xua thú tấn công. Miêu Lý thét lên:

– Tại sao chúng ta lại mệt như thế này? Hay là chúng ta bị trúng độc?

Thiếu-lâm ngũ đại thần tăng đã dẫn đám võ sĩ tới. Pháp-Tuệ lên tiếng:

– Miêu quân hầu, dường như chư quân đều trúng độc. Có lẽ độc ở trong thực phẩm của bọn Giao-chỉ thì phải. Hồi chiều, sau khi ăn xong, chư đệ tử của anh em bần đạo đều cảm thấy buồn ngủ kỳ lạ. Sau bần tăng dùng thần công giải độc cho họ. Cho đến lúc nãy mới xong.

Nói rồi năm vị tăng đều vận chưởng phát nhẹ vào lưng chư tướng. Kỳ diệu thay, chỉ một cái phát nhẹ, mà độc tố được giải. Chư tướng vận công thử, thấy khí huyết trở lại bình thường thì mừng chi siết kể.

Quân Việt đã tràn ngập các trại, khu trung ương bị bao vây bởi đội cung thủ Long-biên. Xen giữa hai cung thủ lại có một cặp hổ, một cặp báo, hay một cặp sói. Chúng nhe nanh trắng ởn, há miệng đỏ lòm ra mà gầm gừ. Ngũ-tăng vẫy tay ra lệnh, lập tức đội đệ tử dàn ra thành vòng tròn, chuẩn bị đối phó. Miêu Lý biết đại cuộc đã hỏng, y quát lớn:

– Ta muốn gặp chúa tướng các người.

Hai thớt voi từ từ tiến tới. Trên bành, mỗi thớt có đôi trai gái tuổi khoảng trên hai mươi lăm. Trai thì hùng vĩ, khôi ngô, gái thì sắc nước hương trời. Bọn Miêu Lý nhận ra đó là Phạm Dật, Kim-Loan, Lý Nhất, Mai Nhất. Phạm Dật cung tay:

– Long-nhương thượng tướng quân, Thiện-tâm hầu Phạm Dật cùng Thiên-ân, Nhu-mẫn quận chúa Lê Kim-Loan xin bái kiến chư vị tướng quân nhà Đại-Tống cùng các vị võ lâm đồng đạo.

Là một tướng kị binh lỗi lạc, nhưng từ lúc rời Như-nguyệt đến giờ, Trương Thế-Cự bị mắc mưu Phạm Dật, Kim-Loan quá nhiều: Nào cho ba con trâu lồng để lừa bắt đội kị binh thám mã, nào sư kị đệ nhất bị trúng phục binh, nào ngựa ăn phải cỏ độc, nào bị ăn phải thực phẩm tẩm thuốc; bây giờ bị bao vây. Y nổi cáu:

– Tên ôn con kia! Mi có giỏi hãy cùng lão gia đấu vài nghìn chiêu, chứ người chỉ biết dùng mưu cắn trộm, thì lão gia có chết cũng không phục.

Kim-Loan cười lớn:

– Chư tướng có nghe Vũ-kị đại tướng quân nói không? Này Trương tướng quân, phàm dụng binh, thì trước hết dùng mưu để thắng đối phương. Khi không còn cách nào nữa, mới phải lăn vào chém giết nhau. Từ lúc Trương hầu đem đoàn kị binh vô địch đến rừng tre, phu quân tôi chưa bắn một mũi tên, đánh một chiêu võ, mà bắt được hai đội thám mã kị binh. Một trận phục kích nho nhỏ, diệt trọn sư đệ nhất. Một vài hũ thuốc, bắt hơn năm nghìn chiến mã, khiến cho đội kị binh vô địch thành đội kị binh đi bộ. Đó mới là đại tướng; chứ còn lăn mình vào đấm đá nhau hùng hục, thì chẳng hóa ra mình cũng như trâu, như bò sao?

Binh tướng Việt cười ồ lên.

Trong khi Kim-Loan nói, Miêu Lý dặn ba gã Đông, Tây, Nam:

– Cục diện ngày hôm nay, dù chúng ta có bản lĩnh nghiêng trời lệch đất cũng không thoát khỏi vòng vây này. Vậy trong khi thị mải nói, ba người vọt tới kiềm chế vợ chồng thị, bắt chúng phải mở vòng vây cho ta.

Ba người gật đầu, vận khí đứng chờ.

Trong khi đó Kim-Loan tiếp:

– Còn như cái việc các vị ăn gạo tám, gạo rự, gạo nếp cùng khô cá thu, cá chim, chúng tôi có mời các các vị đâu? Có ai vô lý như Trương hầu không? Trương hầu sai quân đi cướp về ăn, rồi chẳng may thực phẩm miền Nam không hợp với tỳ vị người miền Bắc mà sinh bệnh, bây giờ quân hầu lại chửi chúng tôi! Hỡi ơi! Đạo lý ở chỗ nào vậy?

Ba gã Đông, Tây, Nam cùng vọt người lên, chỉ nhấp nhô mấy cái, ba người đã vượt khỏi vòng vây của đội cung thủ Long-biên với đội binh thú. Ba người cùng lạng người tới cạnh voi, phóng chưởng đánh xuống đầu vợ chồng Phạm Dật. Chưởng phong làm quân sĩ đứng gần muốn nghẹt thở. Phạm Dật, Kim Loan như không biết đến cái nguy hiểm. Nàng tiếp:

– Hỡi ơi!

Đến đây chưởng phong đã bao trùm hai người. Ba gã Côn-lôn biến chỉ thành trảo chụp đối thủ. Bỗng từ hai bên với của Phạm Dật, Kim-Loan, có ba bóng trắng, đen, xanh xẹt lên cao như bốn con hạc, rồi cùng phát chưởng tấn công vào trước mặt ba gã Côn-lôn. Kình phong mạnh muốn nghiêng trời lệch đất. Ba gã Côn-lôn kinh hãi, vội biến trảo thành chưởng đỡ. Bình, bình, bình ba gã Côn-lôn bắn vọt trở về chỗ đứng cũ như chính chúng nhảy về vậy. Cả ba gã đều cảm thấy cánh tay tê liệt, khí huyết chạy nhộn nhạo cực kỳ khó chịu.

Bon Miêu Lý nhìn lại, xem ai mà có công lực mạnh như vậy? Bất giác chúng đều ngẩn người ra, vì đó là ba thiếu nữ mình hạc xương mai, tuổi tuy lớn, nhưng vẫn còn giữ được vẻ đẹp hiếm có.

Miêu Lý hỏi Nguyễn Dư:

– Ba con đượi non nào vậy?

– Chúng họ Thân, có tên Mai, Lan, Cúc. Chúng hông còn trẻ đâu. Tuổi chúng khoảng trên dưới năm mươi; tất cả đều là đệ tử của tiên nương Bảo-Hoà tức sư muội của Lý Thánh-tông, Lý Thường-Kiệt.

Lưu Mân than:

– Mẹ cha nó, đàn bà Việt đẹp thực, ba con đượi này tuổi trên năm mươi, mà sao trông như hơn hai mươi vậy?

Bỗng mặt ba gã Côn-môn tím bầm lại, rồi màu ứa ra ở thất khiếu (hai mắt, hai mũi, hai tai, và miệng). Cả ba lảo đảo ngã lăn ra.

Từ đầu đếo cuối, nhà sư Pháp-Tuệ không nói, không rằng, bây giờ ông tới bắt mạch ba gã Côn-lôn, rồi đọc kinh vãng sinh. Miếu Lý hỏi:

– Đại sư! Họ chết vì lý do gì?

– Đúng ra với ba chiếu võ của phái Tản-viên không thể khiến Côn-lôn tam kiệu mất mạng. Nhưng... nhưng ban chiêu võ được xử dụng bằng « Bức mạch công» hay còn có tên là Cổ-loa tâm pháp.

Nghe đến Cổ-loa tâm pháp, các cao thủ Tống mặt nhìn mặt, chân tay phát run. Bởi họ biết thức nội công này do đại hiệp Trần Tự-An, phụ thân Kinh-Nam vương chế ra, ai trúng phải, thì các mạch màu đều vỡ tan ra mà chết. Họ từng thấy Kinh-Nam vương xử dụng đấu với các cao thủ Tây-hạ, Liêu. Cứ mỗi chiêu, một người mất mạng.

Có tiếng nhã nhạc đâu đó vọng lại, rồi một thớt voi tiến tới. Người ngồi trên bành là một thiếu nữ sắc nước hương trời, bọn tướng Tống nhận ra là Bà-chúa-kho. Voi rẽ vòng vây tiến vào trong, công chúa Thiên-Ninh hướng các cao thủ Tống:

– Sự thể đã như thế này, mà các vị còn muốn dùng võ công thoát khỏi nơi đây ư? Khó lắm! Ví dù các vị có phá được vòng vây này, thì liệu trên con đường dài tới Như-nguyệt có mấy đội sói, mấy đội ưng canh phòng; các vị chạy đến đâu cũng bị chúng tru tréo lên, rồi hổ, báo, tiễn thủ xông ra cản trở, thì trước sau cũng uổng mạng mà thôi.

Trương Thế-Cự khảng khái:

– Công chúa điện hạ! Trong trận này, chúng ta thấp cơ, thua trí, thì quyết lấy cái chết để báo đáp đấng quân phụ, chứ nhất định không chịu hàng đâu. Ví dù chúng tôi hang Việt, thì triều đình cũng giết cả nhà chúng tôi. Vì vậy chúng tôi đành chịu chết, để được triều đình phủ tuất, thân được phong thần, gia đình được hưởng ân huệ của triều đình còn hơn hàng.

– Ta không muốn, cũng không đòi tướng quân hàng mà.

– Thế thì công chúa định thế nào đây?

– Này Trương tướng quân, tướng quân bị đẩy sang đây là do giấc mộng điên cuồng của tên hủ Nho Vương An-Thạch, mà nay y đã bị cách chức rồi. Bây giờ tướng quân hàng Việt, thì sẽ bị thiên hạ chê cười rằng hèn nhát, rằng bất trung. Còn như tử chiến, thì trở thành thứ ngu trung, chết cho cái ngông cuồng của tên Vương An-Thạch, muôn nghìn năm sau võ lâm, nhân sĩ sẽ chê bai.

– Đúng thế.

Pháp-Tuệ ứng lời: Không biết công chúa có cao kiến gì khác để cứu chư vị tướng quân hiện diện không?

Công chúa Thiên-Ninh mỉm cười:

– Trước khi xuất trận, Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu đã dặn tôi rằng: Khi đối trận với bộ hạ cũ của người thì phải nới tay, không thể giết, cũng chẳng nên làm nhục. Vì vậy, hôm nay tôi xin mời các vị quá bộ ghé Thăng-long nghỉ ngơi, đợi hết chiến tranh, chúng tôi sẽ đưa các vị về Trung-nguyên.

Miêu Lý giận cành hông, y quát lên:

– Như vậy thì không khác gì chúng tôi bị cầm tù. Này công chúa, đầu kẻ sĩ có thể chặt, chứ không thể làm nhục. Đã đến nước này, chúng tôi xin một trận liều chết chứ chứ không chịu nhục.

– Vậy thì được! Chúng tôi xin giúp chư vị tướng quân được trở thành những tên ngu trung, chết cho cái ngông cuồng của tên hủ nho Vương An-Thạch. Hiện chúng tôi có bốn vị sư tỷ Mai, Lan, Cúc, Trúc, tôi xin mời ba vị tướng quân chỉ giáo cho vài chiêu. Nếu như bên các vị thắng hai thì các vị cứ việc thư thả trở về Như-nguyệt. Còn như chúng tôi thắng hai, thì xin mời các vị về Thăng-long. Không biết chư vị nghĩ sao?

Miêu Lý chỉ vào ba nhà sư chữ Pháp-Tuệ, Pháp-Minh, Pháp-Đức:

– Không được! Muốn cho công bằng, thì bên Đại-Việt cử người đại diện cho Đại-Việt; còn bên Đại-Tống cũng phải do bên Đại-Tống chỉ định.

Y chỉ vào năm nhà sư Thiếu-Lâm là Pháp-Minh, Pháp-Đức, Pháp-Thiên:

– Tôi xin cử ba vị đại sư đây lĩnh giáo cao chiêu của các tiên cô phái Tản-viên.

Bỗng có tiếng quát thanh thoát:

– Khoan!

Một thớt voi từ từ tiến tới. Tướng sĩ Tống cùng mở to mắt nhìn: Trên bành có hai thiếu nữ, tuổi khoảng mười bẩy, mười tám. Một người là quận chúa Minh-Thúy, còn một người nữa sắc nước hương trời. Mùi trầm hương từ thiếu nữ này bốc ra thơm ngát. Cao nhất là công chúa Thiên-Ninh, cho tới các tướng thấp nhất của Đại-Việt cùng cung cung kính kính hướng voi hành lễ.

Miêu Lý hỏi Nguyễn Dư:

– Con lỏi nào mà Thiên-Ninh phải hành lễ vậy? Không lẽ là Linh-Nhân hoàng thái hậu?

– Không phải đâu! Y thị họ Thân tên Bảo-Hòa, chưởng môn phái Tản-viên đấy!

Miêu Lý kinh hãi:

– Ta nghe nói tiên nương Bảo-Hòa lớn hơn Kinh-Nam vương hai ba tuổi gì đó, thế thì nay ít ra y thị cũng phải bẩy mươi tuổi rồi mới đúng; có đâu trẻ như con gái mười bẩy mười tám thế kia?

– Thị tu tiên, nên trẻ hoài không già.

Công chúa Bảo-Hòa không coi bọn tướng sĩ Tống ra gì, ngài hướng năm vị sư chữ Pháp:

– A-di-đà Phật, không biết cơ duyên nào khiến năm vị thần tăng giá lâm Đại-Việu thấp nhiệt này? Kìa, cả đại sư Pháp-Tuệ, sao lại để cà sa nhuốm bụi trần thế này?

– Đa tạ tiên nương quá khen! Anh em bần tăng hạ sơn cũng chỉ vì quốc sự như tiên nương cả.

Tiên nương vẫn lễ độ, ngọt ngào:

– Nếu như ba vị thần tăng xuất thủ, thì bên Đại-Việt, tôi xin cùng mấy đệ tử phải ứng tiếp cho phải đạo lý. Không biết các vị nghĩ sao?

Nghe tiên nương đề nghị, Pháp-Tuệ kinh hãi:

– Công chúa điện hạ! Khi công chúa cùng đại hiệp Thông-Mai danh trấn Hoa-Việt, thì anh em bần tăng còn là những thiếu niên. Trong trận Khâm-châu trước đây, công chúa đã thắng bang trưởng Hồng-thiết giáo Trung-nguyên là Đặng Đại-Bằng. Không lẽ nay công chúa lại hạ thể đấu với anh em bần tăng, chẳng hóa ra lớn bắt nạt nhỏ ư?

– Thôi được, các vị đại sư đã tự xin thua, thì tôi cũng chẳng xuất thủ làm gì. Bên Đại-Việt, trận đầu do Thân Mai xuất thủ. Nhưng tôi có một đề nghị: Xuất quân chiếm Đại-Việt là tên hủ nho Vương An-Thạch với Hy-Ninh. Còn giữa các cao tăng Tống, Việt, không thù không oán. Vậy tôi xin, nếu sau ba trăm chiêu, mà không phân thắng bại thì coi như hòa. Không biết đại sư nghĩ sao? Không biết bên Tống, vị nào tứ giáo trận đầu?

Miêu Lý cẩn thận hơn:

– Nếu như cả ba trận cùng hòa thì tiên nương định sao?

– Cũng dễ thôi! Quận chúa Minh-Thúy đây sẽ đưa quý vị về Thiên-trường để Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu, để vương với công chúa dẫn quý vị về trả cho Tống triều.

Pháp-Tuệ chỉ Pháp-Minh:

– Sư đệ bần tăng đây xin được lĩnh giáo cao chiêu của Thân tiên tử.

Thân Mai cung tay:

– Xin mời đại sư!

Hay tay bà chắp lại vái dài, rồi biến thành chiêu Ác ngưu nan độ, trong Tản-viên chưởng pháp, kình lực mạnh như nghiệng trời lệch đất. Bọn Miêu Lý kinh hãi nghĩ thầm:

– Hỡi ơi! Bốn con lỏi này là sư muội của tên yêm hoạn Thường-Kiệt có khác. Không biết Pháp-Minh có thắng được thị hay không?

Pháp-Minh thấy đối phương là nữ, mà dùng dương chưởng thì coi thường. Ông cũng chắp tay đáp lễ, rồi biến ra chiêu Vô-vô minh trong Kim-cương ban nhược chưởng tấn công. Chưởng chưa ra hết, mà mọi người như muốn nghẹt thở. Thân Mai tung người lên cao, khiến chưởng của Pháp-Minh trúng vào ụ đất cạnh đó đến ầm một tiếng. Ụ đất bay tung lên cao, bụi tỏa ra một vùng lớn. Pháp-Minh đánh hụt, lập tức phát chiêu Vô lão tử đánh từ dưới chuyển lên trên, kình phong mạnh như núi lở băng tan. Thân Mai chĩa ngón tay phát một chỉ xuyên vào giữa chưởng của Pháp-Minh đến véo một tiếng. Chỉ xuyên qua chưởng trúng giữa ngực đối thủ. Pháp-Minh kinh hãi vội lăn mình xuống đất tránh chiêu chỉ ác liệt. Thân Mai không nhân nhượng đánh theo một chỉ nữa. Pháp-Minh lại tung người lên cao tránh, rồi đánh xuống một chưởng. Đến đây, cả hai cùng biết rõ bản lĩnh của nhau.

Quận chúa Minh-Thúy hỏi tiên nương Bảo-Hòa:

– Sư bá, theo sư bá, trận này ai sẽ thắng?

– Pháp-Minh là thần tăng của Thiếu-Lâm, ông đã luyện tới cùng kỳ cực tinh hoa võ thuật của phái này. Mà tinh hoa võ thuật Thiếu-Lâm xuất phát từ thiền công của Phật-gia là một thoại thần công chính đại quang minh. Còn Thân Mai là đệ tử đằc ý của sư bá. Mai ở trên Tản-lĩnh từ hồi sáu bẩy tuổi, trải qua hơn bốn mươi năm khổ công luyện tập, đã học đến cùng kỳ cực của võ công Tản-viên.

– Thưa sư bá, cháu nghe phụ vương nói rằng võ công Tản-viên nức tiếng vô địch thiên hạ. Vậy sư tỷ Thân Mai phải thắng đại sư Pháp-Minh chứ?

– Không hẳn thế đâu con ơi! Võ công Tản-viên do tổ sư Sơn-Tinh sáng lập đặt trên căn bản thuần dương, mà võ công trấn môn là Phục-ngưu thần chưởng nức danh thiên hạ. Sau này Vạn-tín hầu Lý Thân dùng võ công âm nhu đấu với tổ Sơn-Tinh ba ngày ba đêm bất phân thắng bại. Cuối cùng hầu phải dùng Long-biên kiếm pháp mới thắng được tổ. Tuy thắng tổ, nhưng ngài cũng khâm phục Phục-ngưu thần chưởng; ngài cùng tổ thảo luận với nhau hơn tháng, cuối cùng ngài dùng nội công âm nhu của mình luyện được Phục-ngưu thần chưởng âm nhu. Vì cương, nhu trái ngược nhau, nên khó có người luyện thành. Thời Lĩnh-Nam chỉ có ba người luyện được, đó là Khất đại phu Trần Đại-Sinh, Bắc-bình vương Đào Kỳ và phu nhân của Khất đại phu là Chu Tái-Kênh. Tới những ngày gần đây, Bố-Đại hòa thượng lại hợp nội công dương cương của Tản-viên, nội công âm nhu của Long-biên, thiền công, với Phục-ngưu thần chưởng cương nhu mà chế thành Mục ngưu thiền chưởng dạy cho anh ta là Thiệu Thái. Trong khi ngài dạy anh ta, ta cũng có mặt; ta dùng nội công âm nhu, dương cương thử luyện Mục-ngưu chưởng, nhưng ta không chế chỉ nổi cái nhân ngã tứ tướng của nhà Phật, nên Mục ngưu thiền chưởng lại hóa ra một loại chưởng mới cực kỳ hung ác. Ta không dạy chưởng này cho Thân Mai. Tuy vậy Mai đã học được tất cả những tinh hoa của Phục nưu thần chưởng âm, nhu. Chỉ dùng Phục ngưu thần chưởng cương, nhu thì Mai có thể thắng Pháp-Minh. Nhưng thể tố Pháp-Minh to lớn, lại đang tuổi khí huyết sung mãn, nhưng thể tố Thân Mai lại quá nhỏ bé, vì vậy trong vòng ba trăm chiêu, không ai có thể thắng ai.

– Thưa sư bá, nế như ba trận đều hòa, thì sư bá có để cho cháu dẫn họ về yết kiếm phụ vương không?

– Dĩ nhiên là sư bá giữ lời hứa. Con nên nhớ rằng trong cuộc Nam xâm của Tống này, giữa mấy nghìn tướng Tống, trăm vạn binh Tống với toàn thể Đại-Việt vốn không thù không oán. Binh, tướng Tống đều là những anh tài tinh hoa của Trung-thổ. Chỉ vì tham vọng điên cuồng của Vươg An-Thạch, mà họ phải xa quê hương, xa cha mẹ, vợ con, thân bằng để xuống miền Nam thấp nhiệt này. Đúng ra, ta chỉ cần hô một tiếng, thì quân Đại-Việt sẽ băm vằm họ ra ngay, nhưng ta không muốn giết họ.

– Vậy sao sư bá không tha cho họ?

– Có ba điều không thể tha cho họ. Một là trong khi chúng ta ở đây, thì công chúa Thiên-Ninh đang dẫn đại quân tập kích quân Tống ở Nam ngạn sông Cầu. Ta tha cho họ về, thì kế hoạch bị lộ. Hai là ta tha cho họ về, rồi Quách Qùy lại sai họ dẫn quân đánh Đại-Việt nữa, như vậy Linh-Nhân hoàng thái hậu sẽ không bằng lòng. Ba là nếu như Quỳ không dùng họ, thì sau này họ trở về Trung-thổ, bọn hủ nho sẽ nêu là những cái quái qủy gì, nào là nhục mệnh quân vương, nào là tướng để mất quân, rồi đem cả nhà họ ra chém.

Minh-Thúy hiểu ngay:

– Con hiểu rồi. Nếu như nay họ được giao cho phụ vương, phụ vương sẽ sai người vưa về trả cho triều đình, lấy lý do rằng họ đã làm hết sức, đã tận trung với quân phụ. Nhưng chẳng may binh lực Đại-Việt quá hung hậu mà sa cơ. Phụ vương mủi lòng vì thương họ là bộ hạ cũ, xin với Đại-Việt tha cho họ. Như vậy, bọn mặt dơi tai chuột ở Tống triều vì kinh sợ phụ vương, mà không dám hại họ.

– Con thông minh thực, thông minh ngang với cô mẫu Thanh-Mai của con.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI TÁM

Anh-linh vạn đại



Trong khi Pháp-Minh, Thân Mai giao đấu, thì công chúa Thiên-Ninh truyền hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh lùa binh sĩ Tống về phía chiến lũy Cổ-pháp. Thương thay, những binh sĩ Tống kinh nghiệm chiến đấu có thừa, họ đều là những hán tử đầy sức sống, mà nay trúng độc, chân lê bước như đàn thú theo quân Đại-Việt dẫn giải đi.

Khoảng hơn khắc sau, trên bãi đóng quân chỉ còn năm thần tăng Thiếu-lâm, ba trăm đệ tử, với hơn trăm tướng Tống, đứng quan sát trận đấu. Phía Đại-Việt cũng chỉ còn công chúa Bảo-Hòa, bốn cao thủ Mai, Lan, Cúc, Trúc, hơn ba trăm đệ tử.

Sau khi giao tù binh cho hai hiệu binh Hồng-châu với hoàng nam giải đi; hiệu Ngự-long lấy quân phục của binh tướng Tống mặc vào, lại mang cả cờ xí theo, rồi hướng Như-nguyệt tiến phát. Hiệu Quảng-thánh cũng thay y phục rồi theo sau. Hai hiệu quân âm thầm di chuyển về hướng Bắc.

Tới rừng tre, thì có chim ưng mang thư tới, đó là lệnh mới nhất của Khu-mật viện:

« Phải cẩn thận, dường như nhị vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa thất bại, vì Quách Quỳ không rút quân từ Nam sông Như-nguyệt về cứu hậu cứ. Được toàn quyền quyết định tái chiếm Như-nguyệt hay trấn tại Cổ-pháp ».

Công chúa Thiên-Ninh truyền họp chư quân lại, rồi nói:

– Than ôi, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Trong khi nghị kế, triều đình tin rằng hai đạo binh của Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương tiến đánh Nham-biền và hậu cứ của Quách Qùy, như vậy ắt y phải rút quân từ Nam sông Như-nguyệt về để tự cứu viện. Nhưng cho đến nay, tin tế tác báo rằng, dường như hai đạo binh của hai vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa gặp điều bất lợi, nên Quách Quỳ vẫn duy trì sáu đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15 ở phòng tuyến Như-nguyệt. Bên bờ Bắc, Quỳ vẫn để ba đạo 17, 18, 19 làm trừ bị. Với chín đạo này, mà chúng tiến đến đây, thì làm sao chúng ta đương nổi?

Công chúa ngửa mặt nhìn bầu trời lấp lánh đầy sao, rồi tiếp:

– Nếu đúng như ta luận rằng nhị vương thất bại, thì nội ngày mai Triệu Tiết sẽ dẫn bọn Vương Tiến, Bình Viễn, Vương Mẫn đem chín đạo binh đến đây. Với chín đạo này, chúng nghiền ta nát ra như tương rồi tràn về Thăng-long. Mà thảm thay, Thăng-long hiện không còn một hiệu quân nào trấn thủ cả. Làm sao bây giờ?

Phạm Dật đề nghị:

– Nhưng cho đến giờ này Quách Quỳ cũng chưa biết toàn quân của Miêu Lý bị thất bại. Ta lợi dụng đêm tối, lợi dụng chín đạo quân Tống cứ tưởng phía trước là quân Miêu Lý, nên không lập doanh trại, cũng chẳng phòng thủ; thình lình ta tập kích, ắt chiếm được Nam ngạn Như-nguyệt. Chiếm lại được chiến lũy Như-nguyệt rồi, ta củng cố phòng thủ như cũ, Quách Qùy không thể đổ bộ được nữa, vì không còn quân.

Công chúa hỏi chư tướng:

– Kế của Dật để thực là kế hoàn hảo nhất. Ta tái chiếm chiến lũy thì được. Nhưng có điều, một người chúng ta phải đánh với chín địch, như vậy trong chúng ta đây, cái hy vọng sống còn rất mong manh!

Kim-Loan cầm kiếm chỉ về hướng Như-nguyệt:

– Trước mắt bắt buộc ta phải chấp nhận hai điều. Một là ta thủ ở đây, không tái chiếm Như-nguyệt. Hai là tái chiếm Như-nguyệt. Ta phải chọn đường nào? Giả như ta chọn đường lối hành động thứ nhất, thì ngày mai ta phải tử chiến với chín đạo binh Tống. Chiến lũy Cổ-pháp này sẽ bị chiếm, đương nhiên chúng ta chết hết, rồi Thăng-long bị tràn ngập. Hai là chúng ta tái chiếm chiến lũy Như-nguyệt, mà đành phải chấp nhận hy sinh hết. Nhưng hy vọng chiếm được Như-nguyệt, thì Thăng-long còn. Vậy, đằng nào chúng ta cũng chết, thì thà chúng ta tái chiếm Như-nguyệt, có nhiều hy vọng sống còn hơn là ngồi chờ giặc.

Công chúa Thiên-Ninh hỏi chư tướng:

– Chư tướng nghĩ sao? Ta tái chiếm chiến lũy Như-nguyệt, hay trấn tại Cổ-pháp?

Lý Nhị khẳng khái:

– Khải công chúa điện hạ, phàm là tướng, là quân thì phải ra trận. Chiến sĩ ra trận không chết cũng bị thương. Triều đình nghị kế: Đại-Việt còn hay mất là do ta có chiếm lại Như-nguyệt hay không? Nay chúng ta được giao cho nhiệm vụ đánh chiếm lại Như-nguyệt, quả chúng ta lĩnh trọng trách vô cùng trọng đại. Cái thế đã như vậy, ta không thể lùi được. Bọn thần xin quyết chiến.

Chư quân cùng hô:

– Tử chiến!

– Tử chiến! Nhất định tử chiến.

Phạm Dật, Kim-Loan cùng Thần-vũ lục anh cùng dơ tay thề:

– Bọn thần xin lấy cái chết để đền ơn tri ngộ của Linh-Nhần hoàng thái hậu.

Thấy chư quân tướng cương quyết, công chúa hài lòng:

– Ta cũng mong được chết với chư quân. Nào! Chúng ta lên đường.

Thế là đúng như kế hoạch, hiệu Ngự-long đi trước, hiệu Quảng-thánh đi sau. Những người con yêu nhất của Đại-Việt âm thầm tiến về Như-nguyệt.

Công chúa Thiên-Ninh dẫn ba nghìn nữ thị vệ, đoàn thú binh cùng hai vị thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh đi giữa hai hiệu binh.

Trời tháng giêng, gió bấc thổi lạnh thấu xương, nhưng hai hiệu binh Ngự-long, Quảng-thánh đều được uống thuốc ngự hàn, nên khí hậu không làm cho họ khó chịu. Trời tối xòe bàn tay ra không nhìn thấy gì. Tiền quân chỉ còn cách Như-nguyệt có hơn ba dặm. Phạm Dật, Kim-Loan cỡi ngựa đi cạnh Lý Nhất, Mai Nhất, Nhân, Nghĩa, Lễ. Trong lòng bẩy người hồi hộp vô cùng, vì họ đều biết rằng trận đột kích này thành công, thì Đại-Việt mới mong tồn tại. Còn như họ thất bại, thì e rằng đất nước này sẽ thành quận huyện của Tống.

Tiền quân chỉ còn cách Như-nguyệt hơn hai dặm, xa xa đã thấy ánh lửa của doanh trại Tống lấp lánh trong đêm. Quân Tống vẫn chưa phát giác ra cái nguy gần kề.

Chỉ còn hai dặm, rồi một dặm. Cả bẩy người đều muốn ngộp thở, tim đập thình thình.

Rồi trăm trượng, năm mươi trượng. Phạm Dật đốt chiếc pháo thăng thiên tung lên trời. Hiệu Ngự-long reo hò rồi xung vào trại Tống. Lý Nhất Mai Nhất chỉ huy sư một; Hùng Nhân, Hùng Nghĩa chỉ huy sư hai; Hùng Lễ chỉ huy sư ba; Kim-Loan chỉ huy sư bốn. Bốn mũi lao thẳng vào doanh trại Tống đánh thọc tới trung ương. Đây là nơi đồn trú của đạo quân thứ mười, mười một do Vương Tiến chỉ huy. Quân Tống đang ngon giấc, giậu mình choàng dậy, chỉ kịp thấy một « đội quân nhà » đang xung vào chém giết. Thoáng một cái, cả bốn mũi đều thọc tới bờ sông.

Công chúa Thiên-Ninh ra lệnh mở xe chở thú. Đội tượng binh, ngao binh đánh thẳng ra bờ sông. Đội hổ binh đánh sang trái, đội báo binh đánh sang phải. Tiếng thú gầm, tiếng quân reo, tiếng trống thúc hòa lẫn với tiếng vũ khí chạm nhau, tiếng người gào thét vang lên bên bờ sông đầy hoa Xuân.

Đúng lúc đó, hiệu Quảng-thánh cũng chia làm bốn mũi, lao vào vòng chiến. Sau khi cả hai hiệu bắt tay được với nhau, thì hiệu Ngự-long đánh quặt về trái; hiệu Quảng-thánh đánh quặt sang phải.

Trời vẫn tối như mực.

Quân Việt như đánh vào chỗ không người, lại có thú binh yểm trợ. Đao kiếm chém phầm phập, thương mâu đâm vào người như xiên chả, thú binh gầm thét nhảy vào vồ, cắn. Quân Tống chỉ còn biết la hoảng, rồi không kịp mặc quần áo, bỏ chạy tán loạn về phía bờ sông, xô đẩy nhau xuống phù kiều tuôn về Bắc ngạn. Trong cái giây phút tranh sống ấy, tướng không khiến được quân, quân không nghe lời tướng, người người xô đẩy nhau, ngã xuống sông.

Thế là không đầy một khắc, hai đạo binh 10, 11 phần chết, phần rơi xuống sông, phần tháo lui về Bắc ngạn.

Triệu Tiết, Vương Tiến giật mình thức giấc, hai người chưa kịp mặc giáp trụ, thì quân Việt đã đánh tràn tới. Tiết quát tháo, hò hét, nhưng nào có giữ nổi trận tuyến! Không hổ là danh tướng, Tiết rút kiếm đứng cản lại lớp sóng quân Việt, cho binh tướng vượt phù kiều qua sông. Tuy biết rằng đây là đoàn quân Việt giả làm quân Tống, nhưng y không phân biệt được kẻ nào là quân Việt, kẻ nào là quân Tống. Thoáng thấy Phạm Dật, Lý Nhị đang đứng trên lưng ngựa chỉ huy, Tiết bảo Vương Tiến:

– Chúng ta phải bắt sống hai thằng lỏi này, mới mong giải quyết cục diện ngày hôm nay.

Nhưng khi y quay lại, thì Vương Tiến đã bỏ chạy từ bao giờ, đoàn quân Tống giả đang đánh vào doanh trại của đạo binh 12, 13 và 14, 15; còn y thì bị bao vây giữa đội nữ thị vệ Việt. Tiết quát lớn một tiếng, rồi tung mình lên cao. Ở trên cao y đánh xuống hai chưởng như trời long đất lở. Bùng, bùng, bẩy nữ vệ sĩ Việt bị đánh bay tung ra bốn phía. Triệu Tiết tà tà rơi xuống, tay y vung kiếm đánh bay vũ khí của bẩy tám vệ sĩ nữa. Y đang định tháo lui, thì một bóng vàng thấp thoáng, rồi một thiếu niên hùng vĩ, trấn trước mặt y, tung vào người y hai chưởng liền; chưởng lực mạnh kinh nhân. Y vội vận công phát chiêu đỡ. Bình một tiếng, Tiết cảm thấy cánh tay ê ẩm, còn thiếu niên thì bị bay tung lại sau. Y nhìn lại, thì ra Hùng Nhân.

Thấy Hùng Nhân lạc bại, Tiết định bỏ chạy, thì Hùng Nghĩa, Hùng Lễ phát chưởng cản lại, rồi Hùng Nhân cũng vọt mình tới tấn công y. Không hổ là đệ nhất cao thủ Trung-nguyên, y bình tĩnh đấu với ba người một lúc. Vừa đấu, y vừa quan sát trận tuyến: Hai mặt trận đạo binh 12, 13 và 14, 15 đang chiến đấu ác liệt. Một số quá kinh hoàng bỏ chạy xuống phù kiều, người người xô nhau xuống sông, la hét ơi ơí. Những người chưa kịp xuống phù kiều, kẻ thì nhảy đại xuống sông, bị nước cuốn đi, người thì xin quy hàng.

Tiết nhìn về Tổng hành doanh: Phía Đông, lửa cháy sáng rực bầu trời, tiếng Lôi-tiễn nổ, tiếng voi rống, tiếng hổ gầm, tiếng beo gào, tiếng sói tru, tiếng ngựa hí, hòa lẫn với tiếng quân reo, tiếng vũ khí chạm nhau. Tiết kinh hoàng:

Dường như tổng hành doanh cũng bị tấn công.

Ghi chú,

Hồi này thuật trận Như-nguyệt của công chúa Thiên-Ninh đánh với Triệu Triết. Hồi sau sẽ thuật trận Nham-biền của Trung-Thành, Tín-Nghĩa nhị vương. Hai trận cùng diễn ra một lúc. Công-chúa Thiên-Ninh đánh mặt Nam sông Cầu. Nhị vương đánh mặt Đông-Bắc sông Cầu.

Biết không thể giữ nổi Nam ngạn Như-nguyệt nữa, Triệu Tiết quát lên một tiếng, dáng xuống người Hùng Nhân một chưởng như sét nổ, cả người ông bay tung lại sau. Y lại dáng hai chưởng nữa, đến lượt Hùng Nghĩa, Hùng Lễ phun máu miệng, lảo đảo lui lại. Vòng vây mở rộng, y vọt người hướng về phù kiều định chạy về Bắc ngạn.

Nhưng, thấp thoáng bóng nâu, một người từ sau đáp xuống trước mặt y như con đại bàng, chặn giữa phù kiều. Người ấy tay cầm cây gậy đồng chĩa vào ngực y. Kinh hãi, y uốn cong người, bật ngửa về sau lộn liền ba vòng, thế là y lại trở lại Nam ngạn. Nhưng khi y vừa đáp xuống đất, thủy chung, cây gậy vẫn chĩa vào cổ . Biết có lui nữa cũng vô ích, y đứng dậy nhìn đối thủ: Đó là một nhà sư, tuổi còn trẻ, đẹp như tượng Thích-ca Mâu-ni. Y chửi tục:

– Đồ hèn hạ, mi đánh trộm mà thành công. Ta không phục. Mi là ai?

Nhà sư mỉm cười:

– Bần tăng pháp danh Đạo-Hạnh.

Triệu Tiết la lên:

– Thì ra Nam-thiên đại thánh tăng. Hèn gì Triệu mỗ thua là phải. Nay Triệu mỗ đã bại dưới tay người, thì người muốn mổ, muốn băm vằm xin cứ ra tay, mỗ không hề hối tiếc.

Nhà sư vung tay phóng một chỉ đến véo một tiếng điểm vào huyệt đản trung của Triệu Tiết, rồi cười:

– Giết Triệu tướng quân thì bần tăng không nỡ. Bần tăng chỉ xin mời tướng quân về Thăng-long chơi ít lâu, chờ hết chiến tranh, sẽ để tướng quân về Tống.

Đạo-Hạnh túm ngực Tiết ném xuống đất cho đệ tử trói lại. Nhưng khi Tiết còn đang lơ lửng trên không, thì có hai chưởng mạnh như bài sơn, đảo hải đánh vào hai bên hông ngài; rồi một chưởng thứ ba hắt Triệu Tiết lên cao, huyệt đạo của y được giải, y lộn một vòng, đáp xuống an toàn.

Bị hai chưởng đánh vào hai bên, Đạo Hạnh tung người lên tránh khỏi. Ở trên cao, ngài đá gió một cái, người bật ra xa đến hai trượng rồi đáp xuống. Bấy giờ ngài mới nhìn lại, xem hai người đánh mình với người cứu Triệu Tiết là ai? Thì trước mặt ngài là năm nhà sư, mặc áo cà sa đại hồng. Ngài chắp tay hành lễ:

– A-di-đà Phật, thì ra năm vị thần tăng Thiếu-lâm giá lâm. Phải chăng năm vị có đại danh Pháp-Tiên, Pháp-Trị, Pháp-Quốc, Pháp-Cách, Pháp-Vật?

– Đa tạ thánh tăng đã nhẹ tay với Triệu tướng quân.

Nói dứt lời, Pháp-Tiên, Pháp-Trị cùng quát lên một tiếng phát chưởng tấn công Đạo-Hạnh. Còn Pháp-Quốc, Pháp-Cách, Pháp-Vật với Triệu Tiết tung mình về phía phù kiều. Đạo-Hạnh thấy kình lực đối thủ mạnh như núi lở, băng tan, vội phát hai chỉ đỡ. Bộp, bộp hai tiếng, hai ngón tay Đạo-Hạnh đau ê ẩm, lồng ngực muốn nổ tung ra; ngài vội lùi lại hai bước để điều tức, thì Pháp-Tiên, Pháp-Trị đã tung mình theo bọn Triệu Tiết xuống phù kiều, sang bên kia sông.

Công chúa Thiên-Ninh cho trấn tại đầu Nam mười hai phù kiều, mỗi phù kiều bốn thớt voi, hai chục chó sói, với hai dàn thần nỏ đặt xế với hai hông cầu nổi. Còn đoàn nữ thị vệ thì dàn xung quanh voi của công chúa, để bảo vệ chúa tướng. Nhìn về hướng Đông, thấy doanh trại Tống bốc lửa, lẫn với tiếng quên reo, thú gầm, công chúa Thiên-Ninh chỉ cho tướng sĩ:

– Chư tướng, chư quân nhìn coi! Hai đạo quân của Trung-Thành, Tín-Nghĩa đang đánh vào tổng hành doanh Quách Quỳ đấy.

Cuộc chiến bên bờ Nam ngạn, khiến cho các đạo binh ở Bắc-ngạn tỉnh giấc, chỉnh đốn lại đội ngũ. Triệu Tiết trở về Bắc, thì quân chỉ về phía Đông:

– Đại lực lượng Giao-chỉ tấn công vào đệ tam doanh. Nguyên soái cùng với chư tướng đang dồn hết lực lượng ra chống giặc.

Tiết hoang mang cùng cực. Y ra lệnh cho Vương Tiến:

– Quân Giao-chỉ có hai hiệu binh Ngự-long với Quảng-thánh. Chúng đang đánh quặt về phía phải với trái, chỉ để rất ít quân trấn ở mười hai phù kiều. Người đợi cho chúng đang giao chiến ác liệt với đạo 12, 13, 14, 15 thì lập tức đem hai đạo 16, 17 vượt phù kiều đánh vào sau lưng hiệu Ngự-long. Còn ta sẽ đem hai đạo 18, 19 đánh tan đội thú binh, bắt con lỏi Thiên-Ninh, rồi đánh vào sau lưng hiệu Quảng-thánh.

Vương Tiến vâng lệnh chuẩn bị sẵn.

Tiết nói với năm nhà sư chữ Pháp:

– Bên kia bờ sông, giặc cho trấn ở đầu mười hai phù kiều, mỗi phù kiều có hai dàn thần nỏ đặt xiên hai hông; chúng lại còn bố trí đội binh sói, voi. Xin năm vị đại sư cầm mộc, dùng đao gạt tên, xử dụng khinh công thượng thừa dẫn đầu năm đội quân vượt sông. Sau khi tới Nam ngạn, các vị giết bọn xạ thủ thần nỏ, cho quân đổ bộ.

Pháp-Tiên cau mặt lại, tỏ vẻ lo lắng:

– Tướng quân ban lệnh, dĩ nhiên anh em bần tăng phải tuân. Nhưng tướng quân thử nghĩ xem, nếu như hai dàn thần nỏ cùng tác xạ, bần tăng có thể dùng mộc đỡ được tên của dàn bên trái; còn dàn bên phải, chỉ với thanh đơn đao, thì sao có thể đạt được hàng ngàn mũi tên? Thôi! Biết vậy, nhưng anh em bần tăng xin tuân lệnh.

Trong khi đó, tại Nam ngạn, cuộc chiến diễn ra cực kỳ khốc liệt:

Từ chỗ đóng quân của đạo binh 10, 11 đến đạo 12, 13 và 14, 15, khoảng hơn hai dặm. Khi quân Việt tấn công vào đạo 10, 11 thì quân sĩ hai khu kia đã tỉnh giấc. Binh, tướng vội mặc giáp trụ, chỉnh đốn hàng ngũ chuẩn bị ứng chiến. Bốn mũi của bốn sư thuộc hiệu Ngự-long tiến đến sát trại của đạo 12, 13 thì tên từ trong trại bắn ra như mưa. Phạm Dật rúc hai tiếng tù và. Quân Việt lùi lại hơn ba trượng, ngoài tầm tên. Ông phất cờ đỏ lên, lập tức hàng triệu thần phong từ mười chiếc xe đậu phía sau bay lên, nhào xuống trại Tống mà đốt. Các đội tiễn thủ Tống bị bất ngờ, vất cung tên chống ong. Bốn sư Việt chỉ chờ có thế, các tướng xua hổ lao vào hàng ngũ Tống, rồi Thiên-tử binh tiến theo.

Nói thì chậm, chứ Phạm Dật ra lệnh cho quân ngừng, ong bay lên, thú lao vào, Thiên-tử binh xung phong, phối hợp nhịp nhàng, thoáng một cái quân Việt với đội hổ đã tràn ngập trại Tống. Đội tiễn thủ Tống bị diệt. Quân Tống, quân Việt cùng một thứ y phục lẫn vào nhau. Quân Tống không còn phân biệt được bạn hay thù nữa, trong khi quân Việt vốn thuộc mặt nhau, nên cứ thấy lạ mặt là chặt.

Tướng chỉ huy khu này là Bình Viễn, y là người cực kỳ tinh minh, mẫn cán. Biết quân mình không phân biệt được bạn hay thù, y hô lớn:

– Chư quân nghe đây, thấy người trước mặt, cứ hô bằng tiếng Biện-kinh « Thiên-triều » người nghe đáp lại « Sát Nam-man ». Kẻ nào không hô, không đáp đúng thì là giặc.

Biện pháp này quả nhiên lợi hại. Quân Tống nhờ đó phân biệt được bạn hay thù, quân Việt bị chặn lại. Hai bên giao chiến ác liệt. Đám quân Tống thuộc đạo 12, 13 kinh hoảng bỏ chạy về Bắc ngạn, đã được chỉnh đốn, lại vượt phù kiều sang Nam ngạn tiếp cứu đồng đội.

Trong khoảng hơn một khắc, phần thắng nghiêng về phía hiệu Ngự-long. Trong bốn doanh trại Tống, thì hai doanh trại bị tràn ngập.

Đúng lúc đó bên bờ Bắc ngạn, Triệu Tiết hô lên một tiếng, bốn đạo binh 16, 17, 18, 19 do chính y cùng năm nhà sư chữ Pháp dẫn đầu tràn xuống phù kiều. Khinh công năm nhà sư đã đến trình độ siêu phàm, nên chỉ nhấp nhô mấy cái, năm ông đã tới bờ Nam ngạn. Thần nỏ trấn tại 12 đầu phù kiều lập tức tác xạ. Năm nhà sư dùng mộc đỡ, dùng đao gạt. Nhưng mỗi đầu cầu có hai dàn thần nỏ đặt chéo với phù kiều, ba nhà sư Tiên, Trị, Quốc gạt được hết tên, đáp chân lên Nam ngạn, vung đao cản đội sói, voi rồi tấn công xạ thủ nỏ thần. Còn hai nhà sư Cách, Vật, mỗi người bị đến ba bốn mũi tên lọt lưới đao, xuyên thủng áo, làm xước da. Hai thần tăng kinh hoàng, nhưng cả hai vẫn nghiến răng, tung mình đáp xuống bờ sông chống với thú, đánh giết xạ thủ thần nỏ.

Đội nữ thị vệ vây lấy hai nhà sư Pháp-Cách, Pháp-Vật, thần nỏ lại tác xạ, binh tướng Tống bị bắn ngã từng loạt, phải lùi về Bắc ngạn.

Hai nhà sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị đã phá được bốn dàn thần nỏ, cả hai đang định phá hai dàn khác, thì một bóng nâu đáp trước mặt hai ông nhanh như chớp giật, rồi hai chỉ phóng ra kình lực rít lên vo vo. Kinh hãi, hai ông tung mình nhảy lên cao, ở trên cao hai ông nhìn xuống: Người đánh hai ông là thánh tăng Đạo-Hạnh. Hai ông đang chới với trên không, thì Đạo-Hạnh lại đánh lên hai chỉ. Quá kinh hãi, hai ông kêu lớn:

– Xin dung tình!

Rồi vung đao đỡ. Choang, choang! Đao bị chỉ đánh gẫy làm ba bốn mảnh. Hai ông vừa đáp xuống, thì Đạo Hạnh lại tung ra hai chưởng. Hai ông dùng Kim-cương ban nhược chưởng đỡ. Bình, bình hai tiếng, khí huyết Pháp-Tiên, Pháp-Trị đảo lộn cực kỳ khó chịu, trong khi Đạo-Hạnh cũng bật lui lại ba bước.

Nhìn lại, thấy hai đoàn binh tướng Tống theo sau hai nhà sư Tiên, Trị định lên bờ; Đạo-Hạnh chĩa hai ngón tay điểm xuống phù kiều, mỗi chỉ xuyên qua ngực hàng năm sáu người. Thoáng một cái, ngài điểm hơn hai chục chỉ, bao nhiêu binh tướng trên phù kiều bị đánh bay xuống sông, xác trôi lập lờ trên mặt nước. Pháp-Tiên, Pháp-Trị kinh hoàng, vận công phát chiêu hướng Đạo-Hạnh. Thế là hai nhà sư Tiên, Trị đấu với ngài Đạo-Hạnh.

Về phía Pháp-Quốc, ông vừa phá được một dàn nỏ thần, thì cảm thấy khó thở, lưng như bị hòn núi đè lên. Biết có cao thủ nội công cực kỳ cao thâm đánh vào phía sau, ông vội lăn mình đi hai vòng, rồi tung mình dậy. Trước mắt ông là một nhà sư mặc quần áo nâu rách rưới như ăn mày, nét mặt từ ái, ôn nhu giống hệt Phật A-di-đà đang nhìn ông mỉm cười:



Tượng thờ Từ Đạo Hạnh tại chùa Thầy (Sơn-tây)

– A-di-đà Phật, bần tăng pháp danh Minh-Không, xin tham kiến thần tăng Thiếu-lâm.

Pháp-Quốc kinh hoảng la lên:

– Thì ra ngài là thánh tăng Nam-thiên. Hèn gì công lực vô song. Tiểu tăng xin tham kiến thánh tăng.

Trong khi đối đáp với Pháp-Quốc, Minh-Không vẫn vung tay đánh xuống phù kiều, bao nhiêu binh tướng Tống theo sau Pháp-Quốc đều bị đẩy bay xuống sông, mà không ai bị thương, bị chết cả. Ngài Minh-Không dùng một tay đấu với Pháp-Quốc, một tay phát chiêu trấn không cho binh Tống lên bờ.

Thế là trận tuyến Như-nguyệt diễn ra ở ba khu.

– Khu phía trái, thì hiệu Ngự-long đánh với đạo 12, 13.

– Khu phía phải thì hiệu Quảng-thánh đánh với đạo 14, 15.

– Ở chính giữa thì đạo 16, 17, 18, 19 đang cố gắng vượt qua dàn thần nỏ để đổ sang Nam ngạn.

Công chúa Thiên-Ninh đứng trên bành voi cầm cờ chỉ huy, xung quanh có hơn ba nghìn nữ thị vệ bảo vệ. Triệu Tiết cùng đội võ sĩ đã sang được bờ Nam ngạn. Thấy công chúa Thiên-Ninh, y xua quân tràn tới bao vây, đội nữ thị vệ dàn ra chống lại.

Trong khi đó, hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh cùng đội thần nỏ giữ vững không cho hai đạo 16, 17 của Tống đổ bộ qua năm phù kiều, nhưng chúng đổ qua năm phù kiều khác, đánh vào sau lưng hiệu Ngự-long.

Đến đây, đạo quân 18, 19 của Tống đã vượt qua được bốn phù kiều, ào ào đổ sang Nam ngạn. Không đầy hai khắc, đội voi, đội sói đã bị giết hết. Biết thế nguy, công chúa Thiên-Ninh rúc lên một hồi tù và. Hiệu Ngự-long, chia làm hai, một nửa tiếp tục chiến đấu với đạo 12, 13; một nửa quay lại đánh với đạo 16, 17.

Trận tuyến Việt bắt đầu dao động, vì một người phải chống với bốn. Đội nữ thị vệ lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Triệu Tiết biết rằng muốn thắng trận này, thì phải hạ cho được công chúa Thiên-Ninh. Y cùng hai nhà sư Pháp-Cách, Pháp-Vật dẫn đầu đội cao thủ bao vây lấy đội nữ thị vệ.

Thánh tăng Đạo-Hạnh thấy công chúa lâm nguy, ngài biết rằng cái thế hôm nay không thể dùng đức từ bi của nhà Phật nữa; trong khoảnh khắc ngài nghĩ thầm:

– Kẻ kia muốn giết ta, muốn cướp nước ta, ta mà nhân nhượng thì mạng sống có mất cũng không sao. Nhưng con đỏ Đại-Việt vô tội, không thể để cho người Tống muốn chém, thì chém; muốn giết thì giết được.

Nghĩ vậy ngài vận đủ mười thành công lực, đánh liền chín chỉ xuống phù kiều. Chỉ của ngài rít lên vo vo, mỗi chiêu kình lực vọt qua phù kiều tới bờ bên kia; bao nhiêu quân Tống đang vượt qua đều bị chỉ xuyên thủng người, ngã lộn xuống sông chết hết. Quân Tống kinh hoàng, dừng lại bên kia đầu cầu la hét. Ngài lại đánh liền ba chỉ, đẩy lùi hai nhà sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị, rồi vọt lên cao như tia chớp, hai tay đánh xuống đầu hai nhà sư Pháp-Cách, Pháp-Vật và Triệu Tiết. Ba người đang tấn công đội nữ thị vệ, thình lình ba chỉ đánh tới như chớp giật, cả ba người kinh hoàng vọt lên cao tránh đòn. Đạo-Hạnh đánh lên hai chỉ trúng hai nhà sư Cách, Vật. Hai thần tăng bị bay ra xa đến hơn hai trượng rồi rơi xuống đất nằm đứ đừ như trái mít rụng, không biết sống chết ra sao. Còn ngài Đạo-Hạnh, thì đứng trấn trước đội nữ thị vệ. Cứ mỗi chỉ đánh ra là hai, ba võ sĩ Tống bị xuyên thủng ngựa, bay tung về sau.

Trước đây Triệu Tiết nghe võ lâm Trung-nguyên gọi hai ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh là thánh tăng, thì y cho rằng người ta quá đề cao hai ngài. Y tỏ ý không tin, tự cho rằng hai ngài không thể thắng được mình với Quách Quỳ. Bây giờ y chứng kiến tận mắt bản lĩnh của ngài, thì kinh hồn táng đởm.Y tung người ra xa cùng đội võ sĩ reo hò, nhưng không dám xông vào.

Trong khi Đạo-Hạnh điểm ngã hai nhà sư Pháp-Cách, Pháp-Vật thì hai nhà sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị quay lại đánh phá hai dàn thần nỏ, rồi cùng với Pháp-Quốc bao vây Minh-Không. Minh-Không mỉm cười, một mình chống với ba thần tăng Thiếu-lâm.

Hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh là sư huynh, sư đệ đồng môn. Suốt mười năm qua, hai ngài cùng nhau vân du khắp Hoa, Việt thuyết pháp, trị bệnh cứu người. Nhưng hai ngài lại có hai cái nhìn rất khác biệt nhau về đạo lý tộc Việt. Ngài Minh-Không thì từ bi, bác ái, tuyệt đối không sát sinh, cũng chẳng muốn giết giặc. Còn ngài Đạo-Hạnh thì trái lại. Ngài cho rằng cái đức từ bi của nhà Phật phải hiểu rằng « tru diệt kẻ ác, cứu người vô tội. Đối với Đại-Việt, không thể để cho ngưười Tống chiếm lấy đất, cướp của, giết người ». Cho nên ngài thẳng tay giết giặc.

Bây giờ ngài Minh-Không phải đấu với ba nhà sư Thiếu-lâm, chính mắt thấy ba nhà sư dùng võ công giết nữ thị vệ Việt cực tàn bạo, thì không nhân nhượng được nữa; bao nhêu tam quy, ngũ giới hay thất bát giới gì nữa, ngài quên sạch. Trong khoảnh khắc, trở về với con ngưới trần tục, ngài đánh liền ba chiêu chưởng mạnh như bài sơn đảo hải. Ba nhà sư Pháp-Quốc, Tiên, Trị thấy chưởng phong của ngài như có như không thì coi thường. Thoáng một cái, chưởng phong của ngài đã bao trùm khắp người ba sư, thì ba nhà sư mới thấy trong cái sắc, sắc, không, không đó, tính mệnh đã lâm nguy. Cả ba tung ngưới lên cao tránh thế chưởng quái ác. Minh-Không mỉm cười, tay bóp ba viên thuốc tung lên theo. Ba nhà sư Thiếu-lâm hít phải, chân tay mất hết kình lực, thân xác đang rơi xuống; thì từ xa, ngài Đạo-Hạnh phóng đến ba chỉ, ba người bay đến cạnh hai nhà sư Pháp-Cách, Pháp-Vật, nằm dài ra, giống như năm người nằm ngủ, hàng lối ngay thẳng.

Trời đã sáng. Mặt trời tỏa ánh sáng chứa chan trên sông Như-nguyệt.

Nhờ hai ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh đứng trấn hàng đầu đội nữ thị vệ, đám võ sĩ Tống kinh hoàng lùi ra xa la hét. Nhưng sau trận xung sát, đội nữ thị vệ hơn ba nghìn người, chỉ còn vài trăm.

Triệu Tiết hô quân bao vây bốn phía rồi dùng loạn tên bắn vào. Hai thánh tăng dùng đoản đao quay tròn như hai trái ầu bạc trấn hai mặt bảo vệ công chúa Thiên-Ninh, không một mũi tên nào lọt được vào.

Triệu Tiết hô quân bao vây bốn mặt, rồi dùng đội tiễn thủ bắn tiếp. Thảm thương thay, đội nữ thị vệ chỉ còn vài trăm người, mà phải chống với đội quân hơn vạn người của Tống. Hơn hai khắc giao chiến, đội nữ thị vệ chỉ còn hơn trăm người, mà vẫn chiến đấu trong tuyệt vọng. Dù là tướng trọn đời sống trong cảnh chém giết, nhưng Triệu Tiết cảm thấy bất nhẫn, y quát lên một tiếng, hô đám võ sĩ lui lại, rồi tung người qua vòng vây vung chưởng tấn công công chúa Thiên-Ninh. Công chúa phát chiêu Ác-ngưu nan độ trả đòn. Binh một tiếng, Triệu Tiết cảm thấy rung động toàn thân, trong khi công chúa nảy đom đóm ắt, tai phát ra những tiếng vo vo. Đội nữ thị vệ thấy chúa tướng lâm nguy, vây lấy Triệu Tiết. Tiết tung mình ra khỏi vòng vây, đứng lên lưng ngựa chỉ huy tiễn thủ bắn vào công chúa.

Được hai thánh tăng trấn hai bên bảo vệ, công chúa Thiên-Ninh đứng trên bành voi quan sát ba mặt trận:

– Mặt trận của hiệu Quảng-thánh: Việt, Tống dằng co khó biết bên nào thắng, bên nào bại. Vì hai đạo 14, 15 của Tống đông gấp hai, còn quân Việt thì thiện chiến, can đảm.

– Mặt trận hiệu Ngự-long, hai sư của Lý Nhất, Mai-Nhất cùng Hùng Nhân, Nghĩa đánh với hai đạo 12, 13 thắng rõ rệt, quân Tống vừa chiến đấu, vừa lùi tới phù kiều; hai sư của Hùng Lễ, Kim-Loan đánh với đạo binh 16, 17 đang gặp nguy. Kim-Loan bị trúng một mũi tên vào vai trước, quận chúa nghiến răng nhổ tên, xé vạt áo băng lại, rồi tiếp tục xung sát. Hơn khắc sau, quận chúa lại bị trúng một mũi lao nhỏ vào bụng, tuy đau thấm tâm can, nhưng bà vẫn nghiến răng nhổ lao; ruột theo lao lòi ra ngoài. Bà lấy khăn choàng cổ buộc bụng lại.

Phạm Dật đang đứng trên bành voi chỉ huy, thấy bà bị thương, hầu vội tung người xuống đỡ dậy:

– Em! Em có đau lắm không?

Phu nhân nghiến răng:

– Không sao! Em còn chiến đấu được.

Nói dứt lời quận chúa đứng dậy, tay cầm kiếm đứng chỉ huy. Trong khi quận chúa bị thương, quân Việt không có tướng trấn ở trước, mặt trận bị hở một khoảng, quân Tống đánh thẳng vào. Phạm Dật kinh hoàng, vội cùng Kim-Loan xung lên trước, nối lại được trận tuyến. Bấy giờ hầu mới tung mình lên bành voi để tiếp tục chỉ huy. Trong khi hầu lơ lửng trên không thì đội cung thủ Tống cùng buông tên. Hầu dùng kiếm gạt tên, nhưng năm mũi lọt lưới kiếm trúng người hầu. Hầu rơi xuống nằm ngang trên bành voi.

– Mặt trận trung ương, thánh tăng Đạo-Hạnh, Minh-Không bị mấy trăm võ sĩ Tống bao vây, nên không còn bảo vệ được công chúa nữa.

Bỗng cảm thấy đau nhói ở hông trái, công chúa đưa tay sờ vào mới biết mình bị trúng một mũi tên nhỏ, tên xuyên ngập gần tới chuôi. Tuy đau đớn cùng cực, công chúa vẫn nghiến răng cầm gươm đứng chỉ huy.

Chợt thấy tiếng vũ khí chạm nhau của đội nữ võ sĩ im lặng, công chúa nhìn xuống: Số võ sĩ còn không quá trăm người, đội ngũ tả tơi; Triệu Tiết đang dẫn đội cung thủ tới. Tiết hô quân ngừng chiến, rồi nói với công chúa:

– Công chúa! Đã đến tình trạng này mà công chúa còn chiến đấu chi vô ích? Công chúa hãy cùng đám nữ binh này lui về Thăng-long đi thôi. Tôi không muốn thấy người đẹp như công chúa mà phải chết dưới kiếm mình.

Công chúa cười khổ sở:

– Đa tạ Triệu tướng quân. Tôi là con cháu của vua Trưng, của công chúa Thánh-Thiên, Gia-Hưng thì khi quân bại, đành chết theo quân.

Công chúa hỏi đám nữ võ sĩ:

– Triệu tướng quân có nhã ý tha mạng cho các em, vậy các em bỏ chạy về Thăng-long đi thôi.

– Không! Không! Không!

Gần trăm nữ võ sĩ cùng lên tiếng khẳng định. Công chúa nói với Triệu Tiết:

– Đấy! Tướng quân thấy đấy. Chúng tôi thà chết chứ không chạy.

Triệu Tiết hô cung thủ:

– Bắn, nhưng không được bắn vào công chúa.

Đội cung thủ buông tên, đám nữ võ dĩ dùng vũ khí gạt tên, rồi lao mình đánh toả ra bốn phía, bất chấp tên bắn. Triệu Tiết tuyệt không ngờ đám con gái xinh đẹp lại liều chết chết như vậy, nên không đề phòng. Đội nữ võ sĩ lăn xả vào chém giết đội cung thủ Tống, thoáng một cái, hơn hai trăm cung thủ bị giết hết. Y kinh hoàng hô quân xung vào. Đội nữ thị vệ đã bỏ ra ngoài sống chết, đánh thục mạng; trong khoảng hơn một khắc gần nghìn quân Tống bị giết, mà đám nữ thị vệ chỉ còn lại không quá mười người, đầu tóc tả tơi, thương tích khắp người. Họ chống vũ khí đứng thở hổn hển.

Triệu Tiết vừa kinh hoàng, vừa kính phục, y hô:

– Nhảy vào ôm lấy, bắt sống.

Quân Tống buông vũ khí, tung mình ôm lấy chín nữ thị vệ, rồi trói lại. Triệu Tiết truyền lệnh:

– Đem qua sông băng bó cho họ.

Nhưng y ngạc nhiên vô cùng, vì cả chín người đều ứa máu ra miệng, mắt trợn trừng. Một Đô-thống Tống lắc đầu:

– Trình phó nguyên soái, họ cắn lưỡi chết hết rồi.

Triệu Tiết quay lại: Võ sĩ Tống đang bao vây voi của công chúa Thiên-Ninh. Sợ công chúa tự tử, y tung người lên, dùng chiêu cầm nã bắt công chúa. Công chúa vọt người khỏi bành voi, vừa rơi xuống đất, thì quân Tống đã bao vây quanh. Triệu Tiết lạng mình tới phóng tay điểm vào huyệt Kiên-ngung công chúa. Công chúa lảo đảo ngã xuống. Tiết mừng quá, nhảy vào bắt sống.

Khi tay y sắp chạm vào người công chúa, thì ai đó đánh y một chỉ, kình lực mạnh như bài sơn đảo hải ụp lên lưng y, khiến y phải tung người về trước đánh đòn. Nhưng người ấy lại đánh tiếp một chỉ nữa, chỉ trúng giữa ngực y chạm vào miếng hộ tâm kính đến choang một tiếng; dư lực đẩy y bật tung ra xa. Người ấy dùng chiêu cầm long công móc một cái, công chúa Thiên-Ninh bật tung lên cao. Người ấy cặp bà vào nách.

Trong khi Triệu Tiết bị tung lên cao, y kinh hãi tự hỏi rất nhanh:

– Kể về bản lãnh, ta ngang với Quách Quỳ, Thập-đại thần tăng Thiếu-lâm. Nếu có thua, chỉ thua Kinh-Nam vương mà thôi. Không biết ai mà có bản lĩnh này?

Khi rơi xuống, y nhìn lại: Kẻ đánh y là một thiếu nữ sắc nước hương trời tuổi khoảng mười bẩy mười tám; chính thị công chúa Bảo-Hòa, mà y đã gặp mấy chục năm trước. Phía sau công chúa là bốn nữ đệ tử Mai, Lan, Cúc, Trúc cùng đội võ sĩ Tản-viên hơn ba trăm người đã đến từ lúc nào.

Rùng mình, Tiết cung tay:

– Cô nương, phải chăng cô nương là công chúa Bảo-Hòa?

– Đúng thế, trí nhớ Triệu tướng quân tốt thực.

– Tiểu tướng nghe cô nương tu thành tiên, trường sinh bất lão, trẻ mãi không già, thường bay lên trời. Đã là tiên sao cô nương còn đến chỗ chiến trường này làm gì?

Tiên nương Bảo-Hòa cười:

– Chủ đạo của tộc Việt định rằng: Dù tăng, dù tục; dù nam, dù nữ; dù già, dù trẻ; dù tiên, dù Phật... Khi đất nước hữu sự, cũng phải dùng hết sức mình để bảo vệ. Chính vì vậy, mà ta mới xuống đây.

Không thấy năm thần tăng chữ Pháp với bọn Miêu Lý. Tiết hỏi:

– Nghe nói ba đệ tử của công chúa đấu với ba đại thần tăng Thiếu-lâm để quyết định về tính mạng bọn Trương Thế-Cự, Miêu-Lý. Không biết bây giờ bọn họ đâu?

– Họ đang ở Thăng-long.

Tiên nương đáp: Trong ba trận đấu, đều hòa cả ba. Ta định để ngũ đại thần tăng trở đề đây, còn đem bọn Miêu Lý đi. Nhưng Kinh-Nam vương kịp xuất hiện, đem họ về Thăng-long, để sau này chính vương đưa họ về Tống, để họ không bị bọn hủ nho hạch tội khiến Tống triều giết cả nhà họ.

Trong khi Triệu Tiết đối đáp với tiên nương, thì cả bốn đạo binh 16, 17, 18, 19 đã sang sông. Đạo 16, 17 cùng đạo 12, 13 vây tròn hiệu Ngự-long vào giữa. Đạo 18 đang đánh vào lưng hiệu Quảng-thánh. Đạo 19 dàn ra chỉ chờ lệnh là xung vào đánh đội đệ tử Tản-viên. Năm thần tăng Thiếu-lâm nằm dài trên đất, không biết sống chết ra sao?

Triệu Tiết biết võ công tiên nương cực kỳ cao thâm, hơn nữa tiên nương ra tay cực nhanh, nên y phải ra tay trước. Thình lình y tung mình lùi về sau liền bẩy bước, rồi hô quân vây lấy tiên nương với đội võ sĩ Tản-viên. Tiên nương tung công chúa Thiên-Ninh cho một nữ đệ tử, rồi cùng Mai, Lan, Cúc, Trúc đồng quát lên một tiếng, tung ra năm chưởng liền. Hàng ngũ quân Tống bị đứt ra làm hai. Đội võ sĩ Tản-viên thừa thế đanh thẳng về trước, cắt trận tuyến đạo binh 19 làm ba làm bốn.

Tiên nương nhấp nhô mấy cái, đã vượt qua hàng quân tới trước Triệu Tiết. Kinh hoàng, y tung vào người tiên nương một chưởng với tất cả bình sinh công lực. Tiên nương không đỡ chưởng của y, mà phát chiêu Nhân ngưu câu vong trong Mục-ngưu thiền chưởng đánh thẳng vào người y. Y đỡ được một chiêu, trong khi người lảo đảo lui lại. Tiên nương lại phát chiêu Kiến tích dã ngưu. Triệu Tiết nghiến răng đỡ, mắt y nảy đom đóm, tai phát ra tiếng vo vo, bật lui về sau bốn bước liền. Tiên nương lại phát chiêu Sơn trung tầm ngưu. Bùng một tiếng, Triệu Tiết bật lui liền ba bước, y oẹ một tiếng, miệng mửa ra một ngụm máu. Y xua tay tỏ ý chịu thua, rồi hỏi:

– Công chúa, rõ ràng vừa rồi công chúa phát ba chiêu trong Mục-ngưu thiền chưởng. Tiểu tướng nghe Mục ngưu thiền chưởng do Bố-đại hòa thượng chế ra, dạy cho phò mã Thân Thiệu-Thái, mỗi chiêu gồm ba chiêu trong Phục ngưu thần chưởng. Đây là võ công chính tông dùng thiền công phát lực, thế sao vừa rồi tiểu tướng thấy dường như không phải, vì nó quá bá đạo.

Tiên nương cười:

– Kiến thức Triệu tướng quân khá rộng đấy. Phàm muốn xử dụng Mục ngưu thiền chưởng, thì phải bỏ ra ngoài ngũ uẩn, lục trần. Nhưng, ta không tu thiền nên không bỏ được những thứ đó, nên chưởng mới có sát thủ như vậy. (Độc giả muốn hiểu rõ về Mục ngưu chưởng xin đọc Thuận-Thiên di sử, quyển 3 của Yên-tử cư sĩ).

Lợi dụng tiên nương đang nói, Triệu Tiết tung mình vào giữa trận quân Tống.

Đến đó, mặt trận phía trái, hiệu Ngự-long đang chiến đấu tuyệt vọng. Phía phải, hiệu Quảng-thánh bị vây tròn, đang cố gắng chống trả. Tại chính giữa, thì thánh tăng Đạo-Hạnh, Minh-Không, cùng bọn Mai, Lan, Cúc, Trúc với mấy trăm đệ tử Tản-viên đang đánh đạo binh 19 đứt làm ba, làm bốn khúc.

Sau hơn khắc nặng nề trôi qua, quân Tống càng thêm thắng lợi, hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh vẫn chiến đấu tuyệt vọng. Tiên nương Bảo-Hòa phất cờ lệnh cho hai hiệu tạm rút lui về phía Cổ-pháp. Nhưng dù đã ra lệnh đến ba lần, chư quân tướng cũng nhất định không chịu rút lui.

Giữa lúc tuyệt vọng đó, thì, thình lình bên phía Bắc trại Tống có hàng nghìn tiếng trâu rống, rồi những chiếc xe trâu kéo, trên chứa đầy mã não hoàng thạch phát nổ. Trại Tống như chìm trong một biển lửa.

Một đoàn hơn hai mươi chiếc thuyền con, từ nhánh sông Như-nguyệt ở Nam ngạn bơi ra nhanh như tên bắn. Trên mỗi thuyền chở khoảng ba chục thần nhân. Những thần nhân này bụng đóng khố, mình vẽ rằn rết như rồng, mặt đen như nhọ chảo, lưng đeo bảo đao. Khi thuyền ra tới sông Cầu thì đám người này nhảy ùm xuống nước lặn mất. Binh tướng Tống ngơ ngác không hiểu những gì đang xấy ra, thì ầm, ầm, ầm, những thần nhân từ dưới nước vọt lên như cá chép, đáp xuống phù kiều, tay vung đao chém quân Tống. Thoáng một cái, quân Tống trên phù kiều bị giết sạch. Đám thần nhân vung đao cắt dây buộc, thế là phù kiều bị cắt đứt hết, trôi lềnh bềnh về hướng Nam.

Thấy bị tuyệt đường về, lại nữa hậu cứ đang phát nổ, bốc cháy. Quân Tống kinh hoàng, ngừng hẳn lại, không giao chiến nữa. Họ cùng nhìn về hậu cứ, lòng đầy lo lắng. Về phía quân tướng Việt thì biết rằng Nùng Trí-Cao với Quảng-Đông ngũ cái đã ra tay. Chư quân hân hoan không bút nào tả siết.

Giữa lúc đó, từ hạ lưu sông Cầu, hai đoàn chiến thuyền kéo cờ Việt đang chèo tới như bay. Một đoàn kéo kỳ hiệu hạm đội Thần-phù, một đoàn mang kỳ hiệu hạm đội Bạch-đằng. Trên chiến thuyền, binh sĩ gươm đao sáng choang, chiêng trống rung động trời đất. Hạm đội Thần-phù đổ hiệu Hùng-lược ngay cạnh hiệu Ngự-long. Hạm đội Bạch-đằng đổ hiệu Vạn-tiệp ngay cạnh hiệu Quảng-thánh.

Vừa lên tới bờ, hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp lăn xả vào tấn công địch. Quân Tống đang bị kinh hoàng vì phù kiều bị cắt, hậu cứ đang chìm trong biển lửa, bây giờ quân Việt có thêm viện binh đánh như sét nổ. Cuộc giao chiến không đầy hai khắc, quân Tống bị đánh bật về bờ sông, rồi binh, tướng cùng nhảy đại xuống sông bơi về Bắc ngạn.

Tại mặt trận phía trái, từ lúc Phạm Dật, Kim Loan bị thương, thì Lý Nhất, Mai Nhất thay thế chỉ huy hiệu Ngự-long chống trả với hai đạo quân 12, 13, rồi sau thêm đạo 16, 17. Hiệu Ngự-long tuy thiện chiến, can đảm, nhưng một người không thể chống trả với bốn người. Hơn nữa chúa tướng Phạm Dật, Kim-Loan bị thương; Lý Nhất, Mai-Nhất phải bỏ chiến đấu, thay thế chỉ huy, nên sức mạnh bị giảm rất nhiều. May nhờ có Hùng Nhân, Nghĩa, Lễ võ công cực cao dẫn đầu đội đội hổ binh xung kích, nên cầm cự được từ sáng đến giờ.

Từ lúc thấy hiệu Hùng-lược do Lý Thất, Mai-Thất đổ lên tiếp viện, binh tướng hiệu Ngự-long như hổ thêm cánh, lao vào tấn công địch.

Tướng Tống chỉ huy đạo 12, 13 là Bình-Viễn, thấy nguy, y cầm kiếm cùng đội cận vệ đứng trên bờ chiến lũy, hễ binh tướng nào định nhảy xuống sông là chém liền, lập tức phòng tuyến Tống lại vững trở lại.

Lý Thất nói với Lý Nhất, Mai-Nhất:

– Sư huynh! Sư tỷ! Xin sư huynh sư tỷ yểm trợ để đệ giết tên Bình-Viễn này hầu giải quyết chiến trường cho mau.

Lý Nhất, Mai-Nhất cùng vợ chồng Lý Thất vung đao chém xả về trước mười chiêu liền, hàng ngũ quân Tống dãn ra. Lý Thất, Mai-Thất nhấp nhô mấy cái đã tới trước Bình Viễn. Viễn thấy đôi thiếu niên nam nữ còn trẻ lao tới thì coi thường, y quay kiếm hai vòng rồi đưa một chiêu vào cổ Lý Thất. Thất không tránh, mà còn lao đầu tới như không nhìn thấy đối thủ, trong khi Mai-Thất dùng đàn chỉ thần công bắn vào người y hai viên thuốc. Vì nàng dùng âm kình, nên hai viên thuốc bay đến không có tiếng động. Khi kiếm Bình Viễn tới ngực Lý Thất, thì cũng vừa đúng lúc hai viên thuốc trúng huyệt Khúc-trì của y. Cánh tay y mất kình lực, kiếm rơi xuống, tiếp theo đầu y bay khỏi cổ.

Chúa tướng bị giết, trận quân Tống bị vỡ liền. Không đầy một khắc, toàn bộ bốn đạo 12, 13, 16, 17 lớp bị giết, lớp nhảy xuống sông bị chìm, lớp đầu hàng.

Đến đây, tại mặt trận trung ương, thủy quân thuộc hạm đội Thần-phù cùng đội võ sĩ Tản-viên đã thanh toán xong đạo binh 19.

Mặt trận phía phải, các hiệu Quảng-thánh, Vạn-tiệp, thủy quân hạm đội Bạch-Đằng đang vây đánh ba đạo binh 14, 15, 18. Lý Cửu, Mai-Cửu chỉ huy hiệu Vạn-tiệp chặn ngay bờ sông, khiến quân Tống không còn đường rút về Bắc. Mặt trận này do tướng Diêu Tự chỉ huy. Về tài dùng binh, y chỉ có bản lĩnh trung bình, nhưng võ công y cực cao. Diêu Tự thân cầm thương đi đầu mở đường máu.

Thấy vợ chồng Lý Cửu còn trẻ, Tự khinh thường, dùng thương đâm vào Mai-Cửu. Mai-Cửu dùng kiếm gạt. Choang một tiếng, kiếm của bà vuột khỏi tay bay lên trời, trong khi người bà như tê liệt. Âu Hoàng vội bỏ đội ngũ, xả kiếm chém vào lưng Diêu Tự cứu sư muội. Tự quay tít thương xông về trước. Thương chạm phải kiếm của Âu Hoàng, choang một tiếng thương của Tự súyt bay khỏi tay. Y bỏ thương phát chưởng đánh vào người Âu Thanh, Âu Huyền để mở đường máu. Bùng, bùng, Âu Thanh, Âu Huyền bật lui về sau, trong khi Diêu Tự cũng cảm thấy rung động toàn thân. Nhờ tam Âu bị bật lui, vòng vây mở ra, y cùng quân tướng tung mình nhảy xuống sông.

Khi Diêu Tự đang lơ lửng trên không, thì một người từ chiến thuyền vọt lên cao như con đại bàng chụp y. Kinh hoàng y phát chưởng đánh vào người này. Bình một tiếng, bị bay tung ra giữa sông, Diêu Tự lộn một vòng rồi đáp xuống. Khi chạm chân, y mới biết mình rơi giữa một chiến hạm. Bấy giờ y mới nhìn lại, thì ra người đối chiêu với y là một võ tướng trong y phục đô đốc. Y nhận ra đó là đô đốc Trần An, chỉ huy hạm đội Bạch Đằng.

Không nói, không rằng, y phát một chiêu với tất cả bình sinh công lực đánh vào người Trần An để thoát thân. Đô đốc Trần An phát chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a trả đòn. Hai chưởng chạm nhau đến bùng một tiếng. Cả hai đều bật lui ba bước. Qua một chiêu, Diêu Tự biết võ công đối thủ có đôi chút trội hơn mình. Y cười nhạt một tiếng, rồi tung mình xuống sông. Nhưng khi y đang lơ lửng trên không, thì cảm thấy kình lực bị mất hết, rồi như hai, ba con dao đâm vào ngực. Y lại rơi xuống chiến thuyền, tay ôm bụng bật lên tiếng « ái ».

Biết mình bị trúng độc chưởng, Tự vừa run lẩy bẩy vừa hỏi Trần An:

– Đô đốc! Ta nghe đô đốc là con trai của tư mã Kinh-châu Trần Trung-Đạo, thời vua Nhân-tông bản triều được thăng tới Phiêu-kị đại tướng quân tổng lĩnh Ngự-lâm quân. Võ công của người thuộc danh môn chính phái, mà sao nay đô đốc lại dùng Chu-sa Huyền-âm chưởng hại ta? Ta không phục!

Trần An lắc đầu:

– Ta nào biết xử dụng võ công tà môn này? Vừa rồi người đối chiêu với ba sư muội của ta là Âu Hoàng, Thanh, Huyền; cả ba trước đây là kỳ chủ trong Hồng-thiết giáo Chiêm. Bởi công lực người quá cao, ba sư muội của ta phải dùng hết bình sinh công lực phát chiêu để bảo vệ mạng sống, vì thế họ không kiềm chế được độc tố, mới khiến người bị thương.

Trần An truyền quân trói Diêu Tự lại.

Thấp thoáng bóng nâu, một người râu tóc bạc phơ, nhưng mặt lại còn rất trẻ xuất hiện. Người đó phóng tay điểm mấy chỉ vào người Diêu Tự. Bao nhiêu cái đau biến mất. Tự nhìn lại, y bật lên tiếng kêu:

– Phải chăng người là Phiêu kị đại tướng quân Trần Trung-Đạo? Xin đại tướng quân nghĩ tình cố cựu mà cứu tiểu tướng một phen.

Trung-Đạo móc trong túi ra một cái hộp, lấy ba viên thuốc bỏ vào miệng Diêu Tự:

– Hỡi ơi! Diêu tướng quân là một hào kiệt, kỳ tài thiên hạ; chỉ vì tham vọng ngu xuẩn, mà Hy-Ninh, Vương An-Thạch đẩy tướng quân vào tuyệt lộ như thế này. Ta tặng tướng quân ba viên thuốc giúp người thoát khỏi đau đớn trong 49 ngày. Trong 49 ngày đó, tuyệt đối không được xử dụng võ công, cũng không nên dùng sức. Nhớ nhé! Sau đó người có thể tìm Kinh-Nam vương, xin vương cứu mạng cho. Thôi, người hãy sang sống đi.

Trung-Đạo túm áo Diêu Tự tung một cái, người y tà tà đáp xuống Bắc ngạn sông Cầu.

Ghi chú,

QTNC và TTCTGCK đều chép rằng: Sau khi bị bắt được tha về, Diêu Tự không muốn xuất trận nữa. Quách Quỳ cũng không muốn dùng y vì nghi ngờ.

Trời đã về chiều.

Sau trận chiến kinh tâm động phách, quân Tống bị mất 10 đạo chính binh thiện chiến nhất. Còn về phía Việt, tổn thất cũng rất nặng; hiệu Ngự-long chỉ còn một phần ba; hiệu Quảng-thánh còn một nửa; đội nữ thị vệ hy sinh trọn vẹn. Dọc chiến lũy Như-nguyệt, xác người, xác ngựa, vũ khí, dụng cụ trải dài ra trên một vùng hơn hai mươi dặm.

Vì công chúa Thiên-Ninh bị trọng thương, tiên nương Bảo-Hòa tạm cử đô đốc Trần An, Trần Hải thay thế tổng trấn chiến lũy Như-nguyệt. Hoàng nam, hoàng nữ các làng xung quanh đã chở tre, gỗ tới để tu bổ các lớp rào bị phá.

Tù binh Tống được tập trung để thu dọn xác chết tử sĩ. Dọc bờ Nam ngạn sông Cầu, hai hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng dàn ra, cờ xí bay phất phới.

Bây giờ tiên nương Bảo-Hòa mới hỏi Thân Mai:

– Công chúa Thiên-Ninh, Phạm Dật, Kim-Loan đâu?

– Thưa sư phụ tất cả đã được đặt trên chiếc xe, con định đưa họ về Thăng-long để điều trị.

Tiên nương tới bên chiếc xe tứ mã. Phạm Dật bị trúng bốn mũi tên, thuốc độc đã ngấm, nên nằm mê man. Kim-Loan tuy còn tỉnh táo, nhưng hơi thở rất yếu. Công chúa Thiên-Ninh đang thiêm thiếp, mơ mơ tỉnh tỉnh. Tiên nương vừa nắm lấy công chúa Thiên-Ninh chẩn mạch, thì có tiếng nói rất êm đềm ngay bên cạnh:

– Chị Bảo-Hòa, để em cứu Thiên-Ninh, may ra còn hy vọng gì chăng?

Tiếng nói vừa dứt, thì tiên nương Thiếu-Mai, Linh-Nhân hoàng thái hậu với nguyên soái Thường-Kiệt tới.

Lễ nghi tất.

Thiếu-Mai tiến lên, dùng chỉ điểm vào mấy yếu huyệt ba người, nhổ tên trên người Thiên-Ninh, Phạm Dật ra, rồi lấy thuốc trị thương băng bó lại. Bấy giờ tiên nương mới bắt mạch công chúa Thiên-Ninh, Phạm Dật, Kim-Loan.

Mọi người hồi hộp theo dõi nét mặt của tiên nương, khi thì chau mày, khi thờ mở to mắt ra, cũng có lúc lại lắc đầu. Bắt mạch xong, tiên nương móc trong bọc ra hộp thuốc, bỏ vào miệng mỗi người ba viên, rồi dặn y sĩ:

– Đại phu ngồi đây coi chừng, sau một giờ không thấy người nào tỉnh dậy, thì gọi tôi.

Mọi người rời xa xe. Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:

– Thưa sư thúc, còn hy vọng gì không?

– Tình trạng thương thế ba người quá nặng, ngoài khả năng của thầy thuốc. Cho đến giờ phút này thì tôi chưa thể nói trước được rằng có cứu nổi họ hay không. Sống chết có mệnh.

Đô đốc Trần An, Trần Hải dẫn Tiên nương Bảo-Hòa, Linh-Nhân hoàng thái hậu, nguyên soái Lý Thường-Kiệt đi duyệt lại phòng tuyến Như-nguyệt một lượt rồi tường trình về trận đánh kinh thiên động địa vừa qua:

– Về quân số, hiệu Ngự-long bị tổn thất ba phần tư. Hiệu Quảng-thánh tổn thất một nửa. Xin dùng quân của các hiệu địa phương bổ xung.

Nguyên soái Thường Kiệt chấp thuận ngay.

– Đội nữ thị vệ tuẫn quốc hoàn toàn. Đội hổ, báo còn được một nửa. Đội sói, voi chết hết. Về tướng, thì Hùng Nhân, Nghĩa, Lễ bị thương nặng. Âu Hoàng, Thanh, Huyền bị thương nhẹ. Công chúa Thiên-Ninh, Thiện-tâm hầu Phạm Dật với quận chúa Kim-Loan bị thương trầm trọng. Bên Tống, các đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 hoàn toàn bị tiêu diệt. Các đạo 17, 18, 19 bị tổn thất một nửa. Về tướng lãnh, năm nhà sư chữ Pháp bị hai thánh tăng bắt sống. Kinh-Nam vương sai sứ giả lĩnh tất cả tù binh đem về giữ tại Thiên-trường. Tướng Bình Viễn bị Lý Thất, Mai-Thất giết tại trận. Tướng Diêu Tự bị Âu Hoàng, Thanh Huyền đánh trọng thương, được phụ thân thần ân xá cho về với Tống.

Đô đốc Trần An xuất trong bọc ra một tờ giấy, rồi trình tiếp:

– Về mặt trận bên Bắc ngạn, thần nhận được tin tức tế tác cho biết rằng Nhân-Huệ hoàng đế Nùng Trí-Cao, hoàng hậu Tạ Thuần-Khanh, Quảng-Đông ngũ cái huy động đội đệ tử Việt-kiều bên Chiêm tung 600 xe trâu chứa chất nổ đánh phá hậu quân Tống. Kết quả hơn phân nửa doanh trại bị cháy, tám kho chứa lương thảo bị đốt cháy mất ba. Đội trâu bị chết hết. Còn Nùng Trí-Cao, Quảng-Đông ngũ cái với đội đệ tử đã được hạm đội Thần-phù chở về chiến lũy Vạn-xuân.

Đến đó, mọi người nhìn sang Bắc ngạn: Quân Tống đang dùng một đoàn trâu cùng với đội thiết đột, cung thủ núp phía sau mấy ụ đất để phòng thủy quân Việt đổ bộ.

Bỗng Linh-Nhân hoàng thái hậu cau mày, rồi mặt ngài trở nên ngơ ngơ ngác ngác như xuất thần. Không ai hiểu tại sao cả. Thình lình ngài vận nội lực hướng mặt sang Bắc ngạn hú lên một hồi dài miên miên bất tuyệt. Vì nội công âm nhu của ngài đã luyện đến mức thượng thừa, nên tiếng hú vang đi rất xa:

– Nghé ơ! Nghé à! Nghé!

Trong khi ngài hú, thì đoàn trâu của Tống cùng nghểnh cổ hướng về Nam lắng nghe, mắt mở thực to. Chư tướng Việt đều nhận thấy trên sừng trâu có buộc dao nhọn. Bụng trâu buộc dáo dài chĩa về trước, trong tư thế bảo vệ phòng tuyến.

Khi Thái-hậu hú đến hồi thứ hai, lập tức đoàn trâu cùng rống lên rung động cả bờ sông rồi quay đầu húc vào đội thiết đột. Bị bất ngờ, đội thiết đột bỏ chạy tán loạn, miệng la lớn:

– Trâu điên! Trâu điên!

Thái-hậu lại hú lên một hồi thứ ba, lập tức đoàn trâu bỏ không đuổi theo quân Tống nữa, mà chạy ra bờ sông, rồi bơi về Nam ngạn.

Đô đốc Trần An vội ban lệnh cho chư quân:

– Chuẩn bị chống bầy trâu điên!

Linh-Nhân hoàng thái hậu xua tay:

– Hãy mở cửa chiến lũy cho cô phụ. Mau!

Quân sĩ vội mở cửa chiến lũy. Thái-hậu tung mình đến đứng trấn ở cửa, rồi lại hú lên một tiếng dài. Đoàn trâu theo cửa chiến lũy lên bờ. Lát sau, một trăm tám mươi mốt con trâu đều đã lên bờ xong. Cổng chiến lũy đóng lại. Bầy trâu cùng quỳ xuống hướng Thái-hậu hành lễ. Thái-hậu âu yếm vuốt sừng từng con một, cử chỉ cực kỳ thân ái như mẹ với con.

Bấy giờ tướng sĩ mới nhìn lại: Nhờ dấu đóng ở lưng, mà họ nhận ra tất cả bầy trâu đều là trâu Đại-Việt, trước đây đem cống sang Tống. Trong đó có con trâu mộng ở Thổ-lội mà hồi còn thơ, Thái-hậu đã cứu nó thoát chết. Thái-hậu đang vuốt ve đầu nó, cả trâu lẫn Thái-hậu đều không cầm được nước mắt, sau 11 năm xa cách.

Đô đốc Trần Hải, chỉ huy hạm đội Thần-phù hỏi:

– Tâu Thái-hậu, phải chăng Thái-hậu sai trâu tấn công binh Tống, rồi gọi chúng sang sông?

– Đúng vậy! Nguyên thời thơ ấu tôi đi chăn trâu, nhờ thế mà học được thuật sai khiến trâu của mục đồng. Ban nãy, khi nhìn sang sông, tôi nhận ra bầy trâu này là trâu của ta cống Tống; tôi mới vận công sai chúng đánh bọn thiết đột để khỏi bị thiết đột ngăn cản, rồi mới gọi chúng về đây.

Một đoàn người ngựa từ phía Nam phi tới như bay, mọi người nhận ra bốn kị mã dẫn đầu là thế tử Trần Vị-Hoàng, Thiên-Trường, Linh-Cơ và quận chúa Minh-Thúy. Phía sau là năm thần tăng Thiếu-lâm chữ Pháp: Tuệ, Minh, Đức, Thiên, Hạ; bọn Miêu Lý, Lưu Mân, Trương Thế-Cự, với hơn trăm tướng nhỏ ở cấp thiên tướng, đô thống; hơn ba trăm võ sĩ Thiếu-lâm.

Đô đốc Trần An tiến ra chặn trước:

– Các sư đệ với sư muội đi đâu đây?

Anh em Trần Vị-Hoàng nghiêng mình hành lễ:

– Xin tham kiến sư huynh. Phụ vương đệ có biểu dâng lên Thái-hậu.

Tuy là sư huynh, sư đệ đồng môn, bốn anh em Vị-Hoàng là con của sư thúc Tự-Mai thực, nhưng họ cũng là con của công chúa Huệ-Nhu bên Tống; nên Trần An ra hiệu cho họ dừng vó ngựa, rồi đem biểu trình cho Linh-Nhân hoàng thái hậu.

Cao nhất là tiên nương Bảo-Hòa, Thiếu-Mai, Linh-Nhân hoàng thái hậu, nguyên soái Thường-Kiệt cho tới chư tướng đều khâm phục cách hành xử của đô đốc Trần An, với anh em Vị-Hoàng.

Linh-Nhân hoàng thái hậu nói với chư tướng:

– Chư tướng phải học lấy cung cách nhã nhặn của ba vị thế tử với quận chúa Minh-Thúy cùng phép duy trì quân luật của đô đốc Trần An.

Không biết trong thư Kinh-Nam vương nói gì, mà sau khi đọc xong, Linh-Nhân hoàng thái hậu cất vào bọc, rồi ban chỉ cho đô đốc Trần An:

– Đô đốc cấp thuyền cho ba vị thế tử với quận chúa dẫn chư tướng Tống với các cao thủ bị cầm tù sang sông. Xin đem cả năm vị thần tăng mới bị bắt là Pháp Tiên, Trị, Quốc, Cách, Vật sang sông một thể.

Tiên nương Thiếu-Mai nói nhỏ vào tai Thái-hậu mấy câu. Thái hậu lại tuyên chỉ:

– Xin Đô đốc sai chở tất cả tù binh, thương binh trong trận đánh hôm nay cho ba vị thế tử mang về trao trả nguyên soái Quách Quỳ.

Đến đấy viên y sĩ trông coi công chúa Thiên-Ninh, thượng tướng quân Phạm Dật, quận chúa Kim-Loan đến báo với tiên nương Thiếu-Mai:

– Khải tiên nương, cả ba vị đều không tỉnh lại.

Tiên nương Thiếu-Mai nói với Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Tâu Thái-hậu, thần bất tài, không cứu nổi ba người. Vậy bây giờ chỉ có cách dùng nội công thượng thừa làm cho họ tỉnh rồi ra đi, hơn là để mê man như vậy.

Mọi người cùng lại chỗ xe đặt ba vị nằm. Tiên nương sẽ đỡ ba vị đặt ngồi dựa lưng vào thành xe. Sắc mặt ba vị cực kỳ bạc nhược, chỉ còn thoi thóp thở. Bắt mạch ba vị xong, tiên nương đưa mắt cho tiên nương Bảo-Hòa, hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh. Ba vị cùng vận công rồi chĩa ngón tay chỏ về trước. Tiên nương Bảo-Hòa điểm vào huyệt Đản-trung công chúa Thiên-Ninh; Thánh-tăng Đạo-Hạnh điểm vào huyệt Aán– đường quận chúa Kim-Loan; Thánh-tăng Minh-Không điểm vào huyệt Trung-uyển thượng tướng quân Phạm Dật. Cả ba cùng rung động, sắc mặt trở nên tươi hồng như khi khỏe mạnh, nhưng mắt vẫn còn nhắm.

Tiên nương Thiếu-Mai khẽ vỗ vào vai công chúa Thiên-Ninh một cái. Công chúa rùng mình, mở mắt ra; trong khi Phạm Dật, Kim-Loan vẫn còn thiêm thiếp. Công chúa thở dài một tiếng, rồi hỏi:

– Tình hình ra sao? Đã chiếm lại được chiến lũy Như-nguyệt chưa?

Thấy xung quanh mình nào sư phụ Bảo-Hòa, nào hai Thánh-tăng, nào Tiên-nương Thiếu-Mai, nào Linh-Nhân hoàng thái hậu; nét mặt người nào cũng nghiêm trọng. Công chúa biết rằng mình sắp chết, nên nói với Tiên-nương Bảo-Hòa, Linh-Nhân hoàng thái hậu bằng giọng tha thiết:

– Sư phụ! Sư phụ vừa là thầy, vừa là cô của con! Thái-hậu, Thái-hậu vừa là mẹ trẻ, lại vừa là bạn tâm giao của con. Nhưng con gọi Thái-hậu là cô. Trong thế gian này, chắc chỉ có Phụ-hoàng là thương yêu con bằng hai cô mà thôi. Khi bắt đầu trận đánh hôm nay, con đã biết rằng mình sẽ chiếm lại được chiến lũy Như-nguyệt, nhưng phải chịu hy sinh thực lớn. Con đã mật hẹn với chư tướng, chư quân hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh rằng dù hai hiệu binh có chết hết, mà đoạt lại được Như-nguyệt thì cũng chấp nhận. Bởi, sau trận này, vĩnh viễn Quách Quỳ không đủ quân vượt sông đánh chiếm chiến lũy một lần nữa. Không biết con nghĩ có đúng không?

Nước mắt đầm đìa, Linh-Nhân hoàng thái hậu nói:

– Ninh luận đúng. Cho đến nay, hầu như tất cả các đạo chính binh của Quách Quỳ không bị diệt thì cũng bị hao hụt quá nửa, phải tái lập. Y chỉ còn bảo binh, dân phu thì giỏi lắm sang tháng ba, khí hậu oi bức, quân bệnh hoạn, thì y phải rút. Mà dù y không rút, thì ta chỉ cần đánh một trận là chúng phải bỏ chạy.

Đến đây Phậm Dật, Kim-Loan đã tỉnh dậy. Công chúa Thiên-Ninh nói với hai người:

– Trong Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt, ta gần hai em nhiều nhất. Hàng ngày, ta là chúa tướng của các em, nhưng giữa chúng ta đối với nhau như tình chị em. Bây giờ chúng ta cùng về với vua Hùng, vua Trưng, với liệt tổ Lý triều. Không biết các em có gì ân hận không?

Kim-Loan nói trong hơi thở hổn hển:

– Công chúa điện hạ, trước đây tại trận Đồ-bàn, bọn thần đã tình nguyệt nhập thành phá giặc, tình nguyện hy sinh cho Quốc-tổ. Nhưng trận ấy chúng thần lại thành công. Rồi chúng thần được dự cuộc Bắc phạt, đánh ba trận. Một là Thái-bình, Hoành-sơn, Ôn-nhuận, Quy-hóa. Hai là Đại-giáp, Hỏa-giáp, Ngọc-tuyền. Ba là Ung-châu. Ôi sinh ra là con cháu vua Hùng, vua Trưng, mà được như vậy thì đã quá đủ rồi. Huống hồ nay còn đánh trận rừng tre, trận Cổ-pháp, trận Như-nguyệt này.

Linh-Nhân hoàng thái hậu, vẫn nắm tay Phạm Dật, Kim-Loan. Phạm Dật nói với ngài:

– Thái-hậu! Thái hậu là Ỷ-Lan thần phi, là Thái-hậu chăng nữa, thì bọn em vẫn chỉ thấy ở Thái-hậu một bà chị Minh-Đệ, Yến-Loan. Nhớ lại, khi xưa, Thái-hậu với bọn em đã sống với nhau một thời ở chùa Báo-ân. Thái-hậu dạy bọn em học, thổi cơm cho bọn em ăn, giặt quần áo cho bọn em; đôi khi Thái-hậu còn tắm cho bọn em nữa. Cho đến nay, bề ngoài em gọi Thái-hậu là chị, mà trong lòng thì cứ nghĩ Thái-hậu là mẹ bọn em.

Hầu rùng mình một cái, rồi tiếp:

– Chị Yến-Loan nhỉ, nghĩ cho cùng chị là cô gái bị đời hành hạ, bọn em là những trẻ mồ côi, thế mà... thế mà chỉ với tấc lòng son, chị em ta đã làm lên những việc nghiêng trời, lệch đất; thì chết một lần, chứ chết mười lần, trăm lần, em cũng mãn nguyện.

Hầu nói với Kim-Loan:

– Vợ chồng chúng ta gặp nhau trong trận đánh Vọng-hương. Từ đấy, chúng ta tâm đồng, ý hiệp, vào sinh ra tử biết bao phen. Em chẳng từng nói rằng: Nếu sau này chúng ta chết, thì xin được cùng chết. Bây giờ, bây giờ... em... em...

Đến đó hầu nghẹo đầu sang một bên, rồi tắt thở. Phu nhân gọi lớn:

– Anh, anh chờ em với. Em... Em...

Nói đến đây phu nhân tắt tiếng.

Công chúa Thiên-Ninh nói với thánh tăng Minh-Không:

– Sư phụ! Sư phụ từng dạy con rằng, sau khi chết, phải đầu thai ngay, đừng để hồn ma phiêu bạt. Nhưng, nay con không tuân pháp chỉ của sư phụ. Sau khi con chết, nhất định con sẽ qui tụ hơn ba nghìn hồn nữ thị vệ, thành đội âm binh để giữ nước. Con cũng sẽ thu của báu, lương tiền trong thiên hạ, ban phát cho những kẻ có tấc lòng son với xã tắc, để xứng với danh xưng Bà-chúa-kho mà sư phụ ban cho.

Thánh-tăng Minh-Không rùng mình:

– Như vậy thì...

Đến đây ngài ngừng lại, vì công chúa đã quy tiên.

Ghi chú,

Công chúa Thiên-Ninh tuẫn quốc năm ba mươi mốt tuổi, trong khi vẫn còn là một trinh nữ, bởi công chúa xin đức vua Thánh-tông cho xuất gia. Sinh thời vua Thánh-tông đã thuận, nhưng vì công chúa bận rộn với quốc sự, cho đến khi hoăng, mà vẫn chưa thụ giới. Sau khi công chúa tuẫn quốc, được phối thờ tại thái miếu với liệt tổ Lý triều.

Đương thời, công chúa lấy vàng, bạc, lương thực trong kho cho nhiều người vay, đến khi công chúa hoăng họ không trả được. Vì công chúa tuẫn quốc, sổ sách bị mất, nên đa số các con nợ không chịu trả. Hồn công chúa nhập vào xác các thiếu nữ đồng trinh, rồi gọi các quan đến, truyền cho biết người này nợ bao nhiêu, người kia nợ bao nhiêu. Linh-Nhân hoàng thái hậu thấy vậy sai lập đền thờ ngay tại nơi công chúa thường đóng bản doanh, rồi sức cho dân biết: Ai nợ bao nhiêu phải đến trước đền công chúa khai rõ, rồi trả lại công khố.

Đền thờ công chúa trải 918 năm, hiện (1995) vẫn còn tại Thị-cầu, tỉnh lỵ Bắc-ninh.

Cũng vì lời nguyền khi sắp hoăng rằng sẽ thu nhặt của báu, lương tiền trong thiên hạ, giúp người cólòng son với xã tắc, mà đến nay, trải 918 năm, cứ đầu Xuân, dân Việt vẫn đến đền công chúa vay tiền, hay xin đồng rụng đồng rơi.

Thủ tục như sau: Cứ đầu Xuân, từ ngày mùng một tới ngày hai mươi hai là ngày công chúa tuẫn quốc phải làm sớ xin hay vay. Trước tiên đến đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu ghi ở mục 3, bài tựa NQSH, quyển 1, làm lễ, dâng sớ vay hay xin đồng rụng đồng rơi. Nếu vay, phải nói rõ vay bao nhiêu lượng vàng. Sau đó xin âm dương. Nếu ba lần mà được cả ba, là đã được thái hậu thuận. Bấy giờ mới tới đền công chúa ở Cổ-mễ, thuộc thị xã Bắc-ninh dâng sớ xin hay vay. Sau khi dâng sớ, phải lễ tạ. Nếu lòng thành cầu xin, thì trong năm đó, nhất định phát tài. Khi phát tài, thì phải tới dâng sớ tạ; nếu xin đồng rụng, đồng rơi, thì chỉ lễ tạ thôi, còn cúng tiền thì tùy hỉ; nếu như vay thì phải đến trả nợ bằng cách cúng tiền tu bổ đền. Nhược bằng vay, phát tài, mà không trả nợ, thì ngay năm sau sẽ tán tài đúng bằng số tiền phát tài.

Năm 1954 về trước, cứ đến đầu Xuân, dân Việt khắp nơi đổ về Bắc-ninh xin hoặc vay tiền. Thời gian 1954 cho đến khi « cởi mở » 1990 thì tôi không rõ. Nhưng từ mùa Xuân năm Tân-Mùi (1991) cho đến nay, vào đầu Xuân, dân chúng khắp nơi trên đất Việt, cả Việt kiều; đều lũ lượt đến đền thờ Bà-chúa-kho đội sớ xin vay tiền. Người đến vay đông đến nỗi phải đứng chen chúc nhau ngoài sân, đầu đội sớ, rồi ông từ cho làm lễ xin vay cho từng loạt người. Người xin, vay đông suốt tháng giêng, làm lễ cả ngày lẫn đêm, từng loạt, từng loạt mà không hết.

Tôi có làm một cuộc thăm dò trong sáu mươi sáu người đã xin vay, xin đồng rụng đồng rơi (1993), thì năm mươi bẩy người xin vay đều được công chúa « thuận » và phát tài, phải lễ tạ.

Long-nhương thượng tướng quân, Nhu-Tâm hầu Phạm Dật tuẫn quốc năm 28 tuổi, phu nhân là Thiên-ân, Nhu-mẫn quận chúa Kim-Loan tuẫn quốc năm 27 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công tâu lên, Linh-Nhân hoàng thái hậu phong cho ngài chức tước như sau: Long-biên, Vũ-liệt, Chiêu-thắng đại vương. Phu nhân được phong Thiên-ân, Nhu-mẫn, Hồng-đức công chúa. Triều đình ban chỉ lập đền thờ. Trải 918 năm dài, với biết bao thăng trầm lịch sử, cho đến nay (1995) đền thờ ngài vẫn còn tại xã An-cư tục gọi là làng Gờ, tổng Đông-bối, huyện Linh-giang, nay là huyện Linh-thanh tỉnh Hải-hưng. Độc giả muốn tìm hiểu thêm về huân nghiệp của ngài, xin đọc các tái liệu ghi ở mục 7.1.1. phần tựa, NQSH, quyển 1.

Năm 1994, tháng 8, tôi về Việt-Nam công tác cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP tức Coopérative Européenne Pharmaceutique). Tôi dẫn các bạn trong phái đoàn đi Thị-cầu viếng đền thờ Bà Chúa-kho Thiên-Ninh. Tôi cũng mời một đệ nhất danh ca dân tộc tại Hà-nội, cùng ba nhạc công theo. Khi lễ, tôi làm một bài hát nói, rồi nhờ họ hát, và tấu nhạc. Tôi khấn như sau :

« Khải Công-chúa điện hạ, thần tên Trần Đại-Sỹ, hiện sống ở Pháp-quốc, xa Đại-Việt đến mấy chục vạn dặm. Hôm nay thần về cố quốc, tưởng nhớ huân công của Điện-hạ, lòng thành dâng một lễ bạc, xin có bài ca, dâng lên :

Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng

Thời Chiêu-Thắng, mùa Xuân năm Đinh Tỵ,(1)
Tống Thần-tông đem tướng sĩ Nam xâm.
Phong Quách Quỳ với Triệu Tiết, làm nguyên soái, cầm quân.
Đến Như-nguyệt vượt sông, như thác đổ.

Nam-quốc sơn hà, Nam đế ở,(2)
Bắc-cương địa giới, Bắc vương cư.

Lũ giặc kia, bay dám đến đây ư?
Trận Cổ-pháp phơi thây dư chục vạn.
Bọn Miêu Lý, Lưu Mân, Trương Thế-Cự,(3)
Bị quần thoa, yếm thắm, đánh tan hoang.
Thương thay cái mộng họ Vương!(4)

Chú giải

(1) Chiêu-Thắng: Tức Anh-vũ Chiêu-Thắng (1076-1084), là niên hiệu của vua Lý Nhân-tông, từ tháng 4 mùa hạ năm Bính-Thìn (DL.1076), vua đặt niên hiệu này, sau trận đánh sang Ung-Liêm châu nhà Tống. Năm sau (Đinh Tỵ, DL 1077) vua Thần-tông nhà Tống sai Quách Quỳ, Triệu Tiết mang đại quân sang báo thù.

(2) Hai câu này lấy ý trong bài thơ đánh Tống của Lý Thường-Kiệt:

Nam-quốc sơn hà Nam-đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư.

Nghĩa là: Nước Nam, thì vua Nam trị vì, điều này đã định tại Thiên-thư. Tác giả đổi đi đôi chút: Nước Nam do vua Nam cai trị, biên giới phía Bắc, vua Bắc ở. Bắc đây để chỉ vua Trung-quốc.

(3) Cổ-pháp: Tên một châu thời Lý nay thuộc Hà-Bắc, nơi phát tích ra triều Lý. Lăng tẩm các vua Lý đều ở đây. Trong trận đánh mùa Xuân năm 1077, Quách Quỳ phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt rồi sai Vũ-kị thượng tướng quân Trương Thế-Cự, dẫn các tướng Miêu Lý, Lưu Mân ào ào tiến về Thăng-long, chỉ còn cách 25 cây số, là tới kinh đô Đại-Việt. Nhưng ba tướng bị công chúa Thiên-Ninh chỉ huy phòng tuyến này đánh bại, phải lui về Như-nguyệt. Sử gọi trận này là trận Cổ-pháp, Tống mất mười vạn binh. Lưu Mân tử trận.

(4) Mộng họ Vương: Vương để chỉ Vương An-Thạch, tể tướng có tài kinh bang tế thế. Những cải cách của Thạch, chỉ trong chín năm, mà làm cho Tống giầu có súc tích. Nhưng vì bị phe bảo thủ công kích, Thạch chủ trương đánh Đại-Việt để bịt miệng phe đối lập. Nhưng mộng của y bị Linh-Nhân hoàng thái hậu phá vỡ! Xin đọc Nam-quốc sơn hà, 5 quyển, 2232 trang, của Yên-tử cư sĩ, do Đại-Nam, Hoa-kỳ xuất bản.

Sau khi truyền đem thi thể ba vị chúa tướng tuẫn quốc về Thăng-long, Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi đô đốc Trần An:

– Đô đốc! Tình hình hai đạo quân của Trung-Thành, Tín-Nghĩa ra sao? Các tướng Trần Ninh, Dương Minh, Ngô Ức, Tạ Duy cùng các phu nhân đâu, mà chỉ thấy đô thống Lý Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu với các phu nhân?

Trần An đáp bằng giọng thê lương:

– Trong trận đánh vào tổng hành doanh Tống đêm qua, sư đệ Dương Minh, sư muội Phương-Cúc tuẫn quốc. Sau đó Tống tấn công vào quân ta ở Nham-biền, nhị vương với vương phi, các sư đệ Trần Ninh, Ngô Ức, Tạ Duy với vợ... đều tuẫn quốc.

Thái hậu kinh hãi hỏi:

– Trận chiến ra sao, xin đô đốc kể lại chi tiết cho cô phụ này nghe.

Trần An khoan thai kể...

Tại ngã ba sông Lục-Nam, Đại-Việt

Ngày 20 tháng giêng giờ Ngọ, niên hiệu Anh-vũ chiêu thắng thứ nhì đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ 10 đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Trong ngày 19 tháng giêng, khi mặt trận Như-nguyệt, Phú-lương diễn ra, thì Tín-Nghĩa vương đại phá quân Tu Kỷ, Đào Bật ở Vạn-xuân, rồi đổ bộ lên Bắc-ngạn sông Cầu, đánh phá hậu quân Tống ở đây.

Cũng đúng lúc đó, Trung-Thành vương đánh phá quân Tống đóng ở ngã ba sông Thương, sông Lục-Nam.

Trung-Thành vương gửi cho Tín-Nghĩa vương loan báo quân tình:

« ... Trong khi truy kích địch, Tuyên-vũ đại tướng quân, Tín-tâm hầu Triệu Thu với phu nhân Phàn Phương-Liễu tuẫn quốc. Giết chết phản tướng Lưu Báo, cầm tù tướng Giới Định, bắt năm vạn tù binh. Tất cả đều đưa về Thiên-trường. Đã đem hiệu Thần-điện về trấn Vạn-xuân, để hiệu Long-đực xuất chiến. Vậy ngày mai hiền đệ cho hai hạm đội tiến về gần Như-nguyệt hơn, rồi cho đổ bộ hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp lênBắc-ngạn sông Cầu, cách xa tổng hành doanh Quách Qùy 50 dặm. Ta đã tiến quân tới gần. Phải cố hư trương thanh thế, khiến Quỳ rút quân từ Cổ-pháp, Nam Như-nguyệt về ».

Sau khi gửi thư đi, vương họp chư tướng, rồi ban lệnh:

– Chúng ta lập tức tiến binh đến chân núi Nham-biền chiếm ngự núi này. Từ chân núi đến kho lương Quách Quỳ không xa. Như vậy thế bắt buộc y phải tung quân đánh ta. Ta lợi dụng địa thế cố thủ, trong khi y bắt đầu đánh ta, thì Tín-Nghĩa vương sẽ đổ bộ đánh vào sau lưng y.

Vương trầm tư một lúc rồi tiếp:

– Từ chân núi Nham-biền có con sông nhỏ chảy về hướng Nam. Vậy Trần Ninh, Ngọc-Hương đem hiệu Đằng-hải vượt sang phía Tây sông. Sau khi sang sông thì hai người cho đạo tả đóng đựa vào chân núi Nham-biền. Lý Ngũ, Mai-Ngũ đem đạo Đằng-hải hữu đóng trên sườn núi làm thế ỷ dốc. Dương Minh, Phương-Cúc đem hiệu Long-dực đóng bên bờ Đông con sông, rồi cho đạo tả đóng dưới chân núi. Còn đạo hữu thì cho Lý Lục, Mai-Lục chỉ huy đóng ở trên sườn núi.

Vương đứng dậy:

– Ta sẽ đi giữa hai hiệu binh. Thôi, ta lên đường.

Hai hiệu binh theo thứ tự lên đường. Đến giờ Dậu thì Trần Ninh sai chim ưng báo cho vương biết hai hiệu binh đã vượt sông, đang đóng trại. Vương thúc hiệu Long-dực tiến mau, để đóng trại trước khi trời tối.

Giữa lúc đó, có chim ưng đem lệnh của nguyên soái Thường-Kiệt:

« ... Phải tối cẩn thận, tại bản doanh của Quách Qùy hiện có Hoa-sơn tứ lão với đội võ sĩ hơn trăm người. Tứ lão kiếm thuật, võ công cao siêu không biết đâu mà lường. Đã cầu Mộc-tồn, Viên-Chiếu hòa thượng để đối phó với tứ lão. Lại được tin Liêu-Đông tam ma cùng mấy trăm ma đầu cũng có mặt. Đã cầu U-bon vương Lê Văn ».

Vương vội loan báo cho các tướng biết, rồi cùng vương phi dùng ngựa duyệt một vòng khu vực đóng quân của hai hiệu Đằng-hải, Long-dực. Thấy doanh trại đã hoàn tất, vương hỏi hai Đô-thống chỉ huy Ngao-binh, Ưng-binh:

– Các em phòng thủ như thế nào?

– Cách doanh trại bốn dặm, bọn thần đều cho bố trí ba phía ba đội Ngao-binh, trên trời một đội Ưng-binh. Cách hai dặm, lại cũng bố trí như vậy.

Vương yên tâm, nói mấy câu khen ngợi đám Ngao-binh, Ưng-binh, bởi chúng đều còn rất trẻ.

Giờ Hợi ngày 20 tháng giêng.

Trung-Thành vương với vương phi trở về trướng. Hai vị chưa kịp cởi giáp trụ, thì lại có chim ưng mang lệnh của Khu-mật viện tới báo tình hình Phú-lương, tình hình ở rừng tre, tình hình chiến lũy Cổ-pháp. Vương chú ý nhất đoạn:

« ... Đêm 21 sang ngày 22 tháng giêng, tiên nương Bảo-Hòa, công chúa Thiên-Ninh sẽ xử dụng hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh đột kích, tái chiếm Như-nguyệt. Vậy bằng mọi giá phải đem quân đến gần tổng hành doanh vào ngày 21 tháng giêng, uy hiếp, khiến Quỳ phải rút bớt quân ở Nam Như-nguyệt về. Trong đêm 21 rạng 22 đánh thẳng vào hành doanh Tống, để cầm chân Quách Quỳ, khiến y không thể tiếp viện cho Nam Như-nguyệt. Nếu không thể thực hiện được những điều này, để Quách Quỳ đem quân cứu Nam Như-nguyệt thì đạo quân của tiên nương Bảo-Hòa với công chúa Thiên-Ninh sẽ bị diệt. Tống chỉ việc thẳng đường tới Thăng-long... »

Vương nói với vương phi:

– Từ đây tới bờ sông Cầu không xa, ta phải thân đến bàn với chú Chiêu-Văn rồi mới quyết định được. Vậy em ở nhà đốc thúc Ngao, Ưng binh canh phòng cẩn thận.

Vương gọi Trần Ninh, Ngọc-Hương, Dương Minh, Phương-Cúc, Lý Ngũ, Mai-Ngũ, Lý Lục, Mai-Lục, đem theo đội Ưng-binh, Ngao-binh đi theo để liên lạc, rồi lấy ngựa lên đường. Khoảng hơn khắc sau, thì sông Cầu đã hiện ra trước mặt. Hai hạm đội dàn ra thành một hàng dài, đèn sáng như sao sa. Tín-Nghĩa vương đã được Ưng-binh báo trước. Vương thân lên bờ đón anh xuống soái hạm của hạm đội Thần-phù. Trong soái hạm đã có Côi-sơn tam anh, hai đô đốc Trần An, Trần Hải cùng Ngô Ức, Phương-Dược; Tạ Duy, Phương-Quế cùng vợ chồng Lý Thất, Lý Cửu.

Trung-Thành vương đọc lệnh của Khu-mật viện cho Tín-Nghĩa vương với cử tọa nghe. Trần Trung-Đạo cau mày:

– Trong lệnh này tôi thấy có một điều khó hiểu. Như triều đình đã nghị kế rằng quân ta chỉ bằng một phần mười quân Tống, nên ta phải đối phó bằng ba phương thức. Một là đóng trong chiến lũy kiên cố, lấy khỏe chống mệt, một người thủ, địch phải dùng mười để tấn công, chấp nhận tổn thất gấp mười ta. Hai là ta nhân họ không phòng bị, mà đột kích, tập kích, phục kích. Ba là tuyệt đối ta không nên tấn công địch. Hôm rồi, trong buổi nghị kế cuối cùng, triều đình giao cho chúng ta nhiệm vụ kéo đến đây hư trương thanh thế, để Quách Quỳ phải mang quân về giữ tổng hành doanh. Sau đó ta đổ bộ lên chiếm lại Nam ngạn Như-nguyệt. Thế mà bây giờ Khu-mật viện lại lệnh cho ta đánh vào tổng hành doanh Tống là điều nguy hiểm.

Ông nhấn mạnh:

– Tại hậu cứ Bắc ngạn chiến lũy Như-nguyệt, Tống còn tới mười lăm vạn binh, nhất là hơn vạn kị binh cực kỳ tinh nhuệ. Nếu ta tấn công Tống, thì không khác gì tự tử. Tôi nghĩ, tướng ngoài mặt trận không nhất thiết phải nghe lệnh vua. Ta chỉ cho dàn quân hư trương thanh thế mà thôi. Chiều mai, dù Quách Quỳ có rút quân từ Nam ngạn về hay không, ta cũng dùng hai hạm đội này phá phù kiều, rồi đổ bốn hiệu Đằng-hải, Long-dực, Hùng-lược, Vạn tiệp lên đánh chiếm lại chiến lũy Như-nguyệt.

Tín-Nghĩa vương rùng mình:

– Thưa sư bá, tại Nam Như-nguyệt, Tống có sáu đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15. Lại thêm cánh quân của Miêu Lý ở Cổ-pháp có sáu đạo 4, 5, 6, 7, 8, 9 với đạo kị binh; dù rằng sau hai đợt tấn công Cổ-pháp, Miêu Lý bị thiệt hại nặng. Cả hai cánh quân hợp lại đông gấp ba ta, làm sao ta địch lại chúng?

Trung-Thành vương đứng dậy, vương đưa mắt nhìn cử tọa một lượt rồi cất tiếng trầm trầm:

– Thế nước đang chông chênh như trứng trồng trên đá, lập lờ như ngọn đèn hết dầu. Vậy chư tướng có kế gì không?

Vân-ma thượng tướng quân Trần Ninh đứng dậy nói lớn:

– Thưa vương gia, điều quan trọng là ta phải làm sao cho Tống rút từ Cổ-pháp, từ Nam ngạn Như-nguyệt về Bắc ngạn, rồi ta tái chiếm chiến lũy. Bấy giờ chỉ cần hai hiệu binh trấn ở đấy, cũng khiến Tống không thể đánh nổi. Vì đánh thì phải hy sinh mười vạn quân, muôn ngàn lần Quách Quỳ không dám. Ví dù y tàn nhẫn, cứ hy sinh thì sau khi chiếm được Như-nguyệt lần nữa, y không còn quân đánh Thăng-long.

Trung-Thành vương gật đầu công nhận lý luận của Trần Ninh. Trần Ninh tiếp:

– Theo đệ thì chúng ta chỉ cần một đạo quân đánh cảm tử, đột kích vào hậu cứ Tống. Đường lối này, chỉ cần một mạng Việt đổi năm mạng Tống, cũng khiến Tống mất năm vạn quân. Như vậy ắt y phải rút quân về để củng cố tổng hành doanh.

Trần Trung-Đạo nhíu mày lại:

– Phải tìm ra kế khác, hơn là đem cả vạn người chết một lúc ta thấy ghê quá. Không nên.

Trung-vũ đại tướng quân, Kính-Tâm hầu Dương Minh đứng dậy nói:

– Thưa sư bá! Thiếu-bảo Bùi Hoàng-Quan với phu nhân dám đem một đổi mười ở Ngọc-sơn. Quang-lộc đại phu Nguyễn Căn, với phu nhân Vũ Thanh-Thảo; Mai Cầm, Phương-Đơn; Quách Y, Phương-Liễu; đã hy sinh ở Như-nguyệt để đổi một lấy mười một. Phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên; Trần Di, Phương-Lý đã hy sinh ở Phú-lương để đổi một lấy tám. Vũ Quang, Võ Kim-Liên đã hy sinh ở Cổ-pháp để đổi một lấy mười ba. Triệu Thu, Phương-Lý đã hy sinh ở Nham-biền để đổi một lấy bẩy. Hơn thế nữa Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh dám đột kích ở Khâm-châu, đốt lương thảo, làm rúng động triều đình Tống. Không chừng giờ này Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên sắp hy sinh ở Yên-dũng để đổi một lấy mười bốn. Công chúa Thiên-Ninh, Phạm Dật, Lê Kim-Loan cũng sắp hy sinh ở Như-nguyệt để đổi một lấy mười lăm. Người trước hy sinh được, không lẽ bọn cháu lại lùi bước trong trận này?

Nói xong hầu ngồi xuống.

Ninh-viễn đại tướng quân, Dũng-Tâm hầu Tạ Duy đứng dậy tiếp lời bạn:

– Khải vương gia! Thưa sư bá. Sự thể cần phải hy sinh, thì ta phải hy sinh. Nếu như ta không đánh cảm tử, thì đạo quân của tiên nương Bảo-Hòa sẽ bị diệt. Đạo quân này bị diệt thì nước mất. Nước mất thì chúng ta chẳng còn mặt mũi nào nhìn trăm họ, rồi cũng đến tự tử mà chết. Vậy chi bằng ta chết trước, mà nước còn, hơn là chết sau, mà nước mất.

Chư tướng cùng vỗ tay hoan hô lý luận của Tạ Duy.

Trung-Thành vương đưa mắt nhìn em. Chỉ nhìn nét mặt em, vương biết rằng em mình đồng ý những gì đám tướng trẻ đề nghị. Vương gõ tay xuống án thư để cho cử tọa chú ý rồi nói:

– Thế bắt buộc chúng ta phải chấp nhận đường lối hành động của Tạ Duy. Muốn một mạng đổi mười mạng, thì ta không thể tấn công vào trại Tống, mà ta phải dụ cho Tống tấn công ta. Vậy thì thế này: Ngay đêm nay tôi cho hai hiệu Long-dực, Đằng-hải củng cố lại vị trí cho thực chắc. Sáng mai hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp cũng đổ bộ lên, tiến về Nham-biền hư trương thanh thế. Như vậy thế bắt buộc Tống phải xuất trại giao chiến với ta.

Trần Trung-Đạo hỏi:

– Nhược bằng Quách Quỳ không cố thủ trong trại, không chịu xuất quân thì sao?

– Bấy giờ ta mới dùng một hiệu đánh cảm tử vào trại Tống như Tạ Duy đề nghị.

Tín-Nghĩa vương hỏi:

– Trong bốn hiệu Long-đực, Đằng-hải, Vạn-tiệp, Hùng-lược, hiệu nào sẽ lĩnh nhiệm vụ đánh cảm tử?

Cả bốn tướng Trần Ninh, Dương Minh, Tạ Duy, Ngô Ức đều dơ tay xin lĩnh nhiệm một đi không trở lại này. Vương-phi Tín-Nghĩa Lê Ngọc-Nam là người cùng quê với Long-biên ngũ hùng. Thời thơ ấu, ngũ hùng cùng phi sống với nhau ở Thổ-lội, bề ngoài thì là chị em, nhưng tình cảm như mẹ với con. Vương-phi đưa mắt nhìn Vân-ma thượng tướng quân Nhu-tâm hầu Trần Ninh... trong lòng phi muốn cho em mình được lĩnh cái nhiệm vụ vinh dự này. Đúng lúc đó hầu cũng đưa mắt nhìn phi. Chị em cùng hiểu ý nhau. Vương-phi nói với Trung-Thành vương:

– Thưa vương huynh, theo muội nghĩ thì hiệu Đằng-hải hiện đóng gần trại Tống nhất, ta nên để hiệu Đằng-hải lĩnh nhiệm vụ đánh cảm tử vào trại Tống là hợp lý.

Ba tướng Dương Minh, Ngô Ức, Tạ Duy cùng lắc đầu, xua tay tỏ ý phản đối. Định-viễn đại tướng quân, Huệ-Tâm hầu Ngô Ức nói:

– Thưa vương phi, chúng em đều cầm quân như nhau, đều là con cháu vua Hùng như nhau, tại sao anh Trần Ninh lại được lĩnh nhiệm vụ này, mà không phải là Dương Minh, Tạ Duy hay em. Để công bằng, chúng em xin cho được rút thăm.

Tín-Nghĩa vương đưa mắt nhìn vương phi, như ngụ ý rằng: Anh cũng muốn chiều em. Nhưng, vụ này thì không thể.

Trần Phụ-Quốc được chỉ định làm thăm. Ông sang khoang bên cạnh, lấy ra bốn mảnh giấy. Ông dùng bút viết vào một mảnh chữ :

« Xã tắc lao tưởng,
Anh linh vạn đại »,

Còn bốn mảnh để trắng, rồi gấp lại, đem ra trước cử tọa.

Trần Bảo-Dân hú lên gọi một chim ưng vào. Ông chắp tay hướng lên trời khấn:

– Xin liệt tổ Đại-Việt chọn cho chúng con một trong bốn tướng vì nước quên mình, giết giặc bảo vệ đất tổ.

Con chim ưng dùng mỏ gắp một thăm đưa đến trước mặt Trần Ninh. Hầu run run bóc ra. Thăm của hầu là thăm trắng. Hầu xịu mặt xuống nhìn vương phi Ngọc-Nam rồi lắc đầu. Chim ưng lại mổ một thăm đem đến trước mặt Tạ Duy. Hầu mở thăm ra, lại cũng thăm trắng. Cử tọa nhìn Ngô Ức, Dương Minh trong lòng cực kỳ hồi hộp.

Phụ-Quốc lại ra lệnh cho chim ưng, nó mổ một thăm đưa đến cho Trung-vũ đại tướng quân, Kính-Tâm hầu Dương Minh. Phu nhân là Phương-Cúc tiếp lấy thăm. Trong khoang thuyền có tới hơn trăm người, mà không một tiếng động, mọi người đều mở to mắt nhìn Phương-Cúc. Vì quá cảm động, tay phu nhân run run. Thăm vừa mở, hầu reo lên:

– Ha! Ha! Ha!

Phương-Cúc cầm lấy thăm có chữ « Xã-tắc lao tưởng. Anh linh vạn đại » trao cho Trung-Thành vương. Cử tọa đều lên tiếng chúc mừng Dương Minh, Phương-Cúc.

Dương Minh, Phương-Cúc hỏi Trung-Thành vương:

– Thưa vương gia, hiện sư huynh Lý Lục, sư tỷ Mai-Lục làm phó thống lĩnh hiệu Long-đực. Vậy trong trận này, sư huynh, sư tỷ có được đi theo không?

Trung-Thành vương cười:

– Liệt tổ chọn là chọn hiệu Long-dực chứ đâu có chọn em với Phương-Cúc? Sư huynh Lý Lục, sư tỷ Mai-Lục là phó thống lĩnh hiệu Long-dực thì đương nhiên cũng được đi chứ.

Trong Thập-bát kim cương, thì vợ chồng Lý Lục thâm trầm, nhiều mưu trí nhất, võ công cao thâm nhất. Không ai hiểu tại sao, hai người còn trẻ như vậy mà Trung-Thành vương lại gọi là sư huynh, sư tỷ?

Cử tọa lại chúc mừng vợ chồng Lý Lục.

Tín-Nghĩa vương ban lệnh cho Dương Minh, Phương-Cúc:

– Trong Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt thì vợ chồng em là người thâm thầm, mưu trí nhất. Nay liệt tổ đã chọn các em để vào hang hùm giết giặc. Ta không thể không chấp thuận. Phàm đột kích thì phải nhẹ nhàng. Vậy khi lên đường, Dương đệ truyền cho hiệu Long-dực bỏ hết vũ khí , dụng cụ kềnh càng, chỉ mang theo đoản đao, lá chắn thôi. Trong thuật đột kích cần nhiều thú binh. Vậy ngay bây giờ trở về, Trần Ninh giao tất cả đội Hổ, Báo, Sói, Voi, Thạch-xa, Nỏ-thần trực thuộc tăng viện cho Dương Minh. Ngược lại Dương Minh trao đội Lôi-tiễn nặng nề cho Trần Ninh.

Vương ngừng lại cho chư tướng theo kịp:

– Nội ngày mai, ta cho hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp đổ bộ lên bờ, rồi đóng trại liên tiếp với hiệu Đằng-hải. Tế-tác Tống ắt báo cho Quách Quỳ biết. Nếu y đem quân xuất trại đánh ta, thì là điều ta mong mỏi. Còn như y không chịu xuất quân, thì đêm mai Dương Minh sẽ đột kích vào trại chúng. Khu trại Tống gần ta nhất là doanh ba. Nhớ khi vào trại Tống rồi, thì đánh như vũ bão, đánh nhanh như chớp, xuyên từ Đông sang Tây. Khi đánh tới trung ương, lại đánh tỏa ra hai hướng hướng Nam, Bắc rồi rút lui.

Vương ra lệnh cho Trần Ninh, Ngô Ức, Tạ Duy:

– Trong khi Dương Minh đột kích vào trại giặc, thì các em đem Lôi-tiễn đến gần trại Tống. Lúc thấy trong trại Tống có tiếng quân reo, thì nã Lôi-tiễn vào doanh một, doanh hai, để gây rối loạn, khiến chúng không thể xuất quân truy kích. Nhược bằng chúng truy kích, thì ta mở cổng trại cho hiệu Long-dực vào, rồi cố thủ ở trong.

Buổi họp chấm dứt.


Cổng ngoài đền thờ công chúa Thiên-Ninh (Bà chúa Kho) ở Bắc-ninh. (Hình chụp tháng 8 năm 2001)


Cổng trong


Chính điện


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN

Đã đem xương máu đền non nước,
Còn mãi tinh thần với gió trăng.



Tại chân núi Nham-biền, nước Đại-Việt.

Ngày 21 tháng giêng, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Nhân-tông bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Suốt ngày 21, Trung-Thành vương nhìn chim ưng tuần thám trên trời để theo dõi tình hình địch, mà không thấy một dấu hiệu gì. Cho đến trưa, thì chim ưng mang lệnh từ Khu-mật viện đến, vương hồi hộp mở ra đọc. Trong lệnh, nguyên soái Thường-Kiệt cho biết tình hình mặt trận Cổ-pháp Vũ Quang với Võ Kim-Loan tuẫn quốc. Tuy toàn bộ đạo kị binh Tống bị thảm bại, nhưng có lẽ Tống sẽ tràn ngập căn cứ Cổ-pháp bất cứ lúc nào. Tại Yên-dũng, Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên đang chống trả với Yên Đạt trong thế tuyệt vọng. Cuối cùng lệnh ban ra:

« ... Nhắc lại, đêm nay tiên nương Bảo-Hòa, công chúa Thiên-Ninh sẽ đem hiệu Ngự-long, Quảng-thánh đánh úp căn cứ Như-nguyệt. Bằng mọi giá phải tấn công vào tổng hành doanh Quách Quỳ, nếu không y tung quân sang cứu viện Nam ngạn, thì hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh bị tiêu diệt. Sau khiđánh vào tổng hành doanh Tống, phải lui quân xuống hai hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng kéo về trấn Như-nguyệt ».

Vương than với vương phi:

– Chúng ta đang đối đầu với các đại tôn sư Trung-nguyên. Mộc-tồn hoà thượng với Đại-từ Liên-hoa hoà thượng lúc nào cũng ẩn trong quân Tống rồi, khi chúng ta gặp nguy, thì người sẽ tếp cứu. Duy U-bon vương, không biết vương có tới kịp để dự trận với chú Chiêu-Văn không?

– Em cũng lo điều đó. Ta đành để số phận làm việc.

Cho đến chiều, vương cùng vương phi dùng ngựa duyệt lại doanh trại hiệu Long-đực, Đằng-hải một lượt. Duyệt xong vương lại đến doanh trại của hiệu Vạn-tiệp, Hùng-lược duyệt qua. Vương hỏi Tín-Nghĩa vương:

– Sư thúc Lê Văn tới chưa?

– Chưa.

Vương an ủi em:

– Nhưng dù sao em cũng có ba vị sư bá Côi-sơn tam anh bên cạnh, dư sức đối phó với Liêu-Đông tam ma.

Tín-Nghĩa vương lắc đầu:

– Trong ba sư bá, thì chỉ mình tam sư bá Trung-Đạo ở cạnh em mà thôi. Nhưng người phải trấn trên hạm đội Bạch-đằng mất rồi. Còn đại sư bá Phụ-Quốc, nhị sư bá Bảo-Dân đã giả trang làm Thiên-tử binh đi theo Dương Minh.

Trung-Thành vương kinh hãi:

– Sao? Tại sao có vụ này?

– Tại em lỡ lời. Em nói rằng ba vị sư bá tuổi cao, sức không được như xưa thì nên ở trên chiến hạm hơn là xuất trận. Câu nói này, sư bá Trung– Đạo không để vào tai. Nhưng đại, nhị sư bá thì bực mình ra mặt. Các cụ cùng hơn trăm đệ tử giả làm Thiên-tử binh theo Dương Minh. Em cố cản mà không được.

Vương phi Trinh-Dung tính đốt ngón tay rồi nói:

– Không ngờ các cụ lớn tuổi mà hỏa khí còn mạnh quá. Đại sư bá đã 79 tuổi, nhị sư bá đã 77 tuổi rồi chứ có ít đâu. Đành vậy.

Anh em từ biệt nhau.

Trời nhá nhem tối, thì các hiệu binh bắt đầu di chuyển Lôi-tiễn tới vị trí ấn định. Dương Minh họp chư tướng lần cuối, để nhắc lại nhiệm vụ:

– Lệnh ban cho chúng ta đánh vào doanh ba. Doanh ba là nơi đồn trú của năm đạo quân triều, lực lượng trừ bị của Quách Qùy dùng để đánh Thăng-long, tổng số khoảng năm vạn người. Ta cần phải giết ít nhất phân nửa số quân này, hay ít ra cầm chân không cho chúng tiếp cứu Nam ngạn Như-nguyệt.

Hầu ngừng lại để cho chư tướng theo kịp, rồi tiếp:

– Quân Tống tuy đông, nhưng ta không sợ, bởi vì một là ta ra quân bất ngờ. Hai là ta lợi dụng đêm tối dùng Thần-nỏ, Thạch-xa, thú binh làm chủ lực chính. Ba là chúng ta đều quyết tử một đi không về.

Hầu ban lệnh:

– Sư huynh Lý Lục đem đội hổ, mười dàn Thần-nỏ với sư một đi bên trái. Sư tỷ Mai-Lục đem sư hai, mười dàn Thần-nỏ với đội báo đi bên phải. Phương-Cúc đem sư ba, đội Thạch-xa với sư ba đi chính giữa. Chúng ta di chuyển tới gần trại Tống chờ đợi. Khi trong trại Tống tắt đèn một lúc, thì ta cùng tấn công. Quân Tống kinh hoàng thức giấc, thì ta dùng Thạch-xa, Thần-nỏ bắn mở đường, rồi cho thú binh tiến trước, Thiên-tử binh tiến sau. Khi vào tới trung ương, thì sư huynh đánh quặt sang trái, sư tỷ đánh quặt sang phải. Khi có lệnh thì đổi tiền đội làm hậu đội rồi rút lui.

Một bữa tiệc khao quân đã được chuẩn bị: Thịt nướng, giò, chả, rượu đem ra. Tướng mời binh, binh mời tướng cùng uống chung rượu vĩnh biệt.

Người ngậm tăm, thú buộc mõm, âm thầm lên đường. Tới giờ Dậu, thì các đoàn quân chỉ còn cách trại Tống hơn sáu dặm. Quân tướng cùng dừng lại nghỉ ngơi. Sang giờ Tuất, trống trong trại Tống đánh ba hồi, báo hiệu sang canh, tắt đèn đi ngủ. Đèn đuốc tắt hết. Dương Minh ra lệnh cho các đội quân lên đường. Sang giờ Hợi thì tới doanh trại Tống.

Một tiếng hú lảnh lót vang lên, đó là hiệu lệnh tấn công. Ba đội quân cùng nã Thạch-xa phá tan các hàng rào, các cổng, rồi Thần-nỏ đi giữa, hai bên là thú binh, phía sau là Thiên-tử binh reo hò xung vào trại Tống. Quân Tống đang riu riu ngủ, choàng thức dậy, thì bốn phía toàn quân Việt lố nhố, Thạch-xa nã, Thần-nỏ bắn, thú xông vào mà vồ, mà cắn, mà quật. Thoáng một cái quân Việt đã xông vào tới trung ương trại. Bấy giờ quân Tống mới đốt được đèn đuốc lên, thì hai trong năm trại đã bị đánh phá.

Không hổ là những binh đội tinh nhuệ nhất của Tống, bị tấn công bất ngờ, nhưng chỉ hơn khắc sau ba trại còn lại đã dàn ra phản công, bao vây hiệu Long-dực vào giữa.

Lại nói ngày 21 tháng giêng, Quách Quỳ cùng chư tướng nhận được tin Yên Đạt chiếm Phú-lương, giết được các tướng Việt như phò mã Hoàng-Kiện, công chúa Động-Thiên; Trần Di, Bùi Phương-Lý. Hiện Đạt đang phá chiến lũy Yên-dũng. Lại được tin đạo quân của Miêu Lý công phá Cổ-pháp, giết được Vũ Quang; Võ Kim-Liên tử tử theo chồng. Quỳ sai quân chấp pháp gửi lệnh cho hai cánh quân:

« ... Nội ngày 22 tháng giêng, Yên Đạt phải phá cho được Yên-dũng; Miêu Lý phải nhổ cho được cái gai Cổ-pháp... Rồi hai đạo cùng tiến về Thăng-long... »

Quỳ họp chư tướng, lần này có cả Liêu-Đông tam ma, Hoa-sơn tứ lão rồi quyết định:

– Tên yêm hoạn Lý Thường-Kiệt với tên Nho sinh mặt trắng Lý Kế-Nguyên bị mắc mưu ta. Chúng cho rằng cánh quân mặt biển với Như-nguyệt của ta là thực, nên chúng để tới hai hạm đội trấn ở Nam-hải. Lại để hai hiệu Bổng-thánh, Bảo-thắng trấn Như-nguyệt; ba hiệu Ngự-long, Quảng-thánh, Phù-đổng trấn Cổ-pháp. Ta cũng giả hư trương thanh thế đánh Như-nguyệt, Cổ-pháp, nhưng thình lình diệt Phú-lương, Yên-dũng. Quả Phú-lương bị ta chiếm. Yên-dũng chỉ có một hiệu binh Bổng-nhật thì mười lăm vạn binh của Yên-đạt sẽ nghiền nát trong nửa ngày rồi tiến về Thăng-long. Bây giờ ta cho cả hai mặt Cổ-pháp, Yên-dũng là thực. Tên Thường-Kiệt tưởng ta ngu như nó, nó sai hai tên Hoằng-Chân, Chiêu-Văn với hai hạm đội tiến về đây để ta tưởng mặt Nham-biền là thực, rồi rút quân về.

Chư tướng đều cười khoan khoái. Quỳ tiếp:

– Còn lâu ta mới mắc mưu chúng. Ta không rút quân về. Nếu chúng muốn tự tử thì cứ đánh vào bản doanh ta. Vậy ta chỉ để lại hai đạo binh triều, hai mươi chỉ huy tân-đằng-hải trấn ở Nam-Bắc chiến lũy Như-nguyệt. Với quân số này đông hơn chúng, lại thủ trong đồn, thì Hoằng-Chân, Chiêu-Văn không thể nào đánh được. Ngay sáng mai chúng ta di chuyển tổng hành doanh theo đạo quân Miêu-lý tiến về Thăng-long.

Ôn Cảo vội xuống lệnh cho quân sĩ nhổ trại, thu xếp quân trang, lừa ngựa, để sáng hôm sau lên đường vào giờ Mão.

Nhưng đúng lúc đó thì ngựa lưu tinh loan báo một tin khủng khiếp:

– Toàn bộ cánh quân Nham-biền bị đánh tan, hai đạo quân của Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương đang tiến về tổng hành doanh.

Quỳ hơi chột dạ. Nhưng Liêu-Đông tam ma trấn an:

– Chúng hư trương thanh thế đấy. Từ hôm khởi cuộc chiến đến giờ bọn Giao-chỉ luôn ẩn trong hang, trong ổ, nên Thiên-binh phải khó nhọc lắm mới đánh được. Bây giờ chúng ra khỏi ổ chó của chúng, với hai cánh quân này chưa tới 4 vạn người. Bố bảo chúng cũng không dám đánh vào tổng hành doanh. Có lẽ chúng chỉ hư trương thanh thế, hầu ta phải rút quân ở Cổ-pháp, Yên-dũng về mà thôi.

Ôn Cảo, Vương Mẫn cũng đồng ý với Liêu-Đông tam ma. Ôn Cảo nói:

– Chỉ nội ngày mai, chúng ta đánh Thăng-long, thì hai tên ôn con Hoằng-Chân, Chiêu-Văn mất đường về. Bấy giờ một là quân của chúng tan, hai là chúng phải đầu hàng.

Vừa lúc đó thì có tiếng quân reo ở phía Như-nguyệt và tiếng Lôi-tiễn nổ ở phía Đông. Rồi có quân báo:

– Quân Giao do công chúa Thiên-Ninh đánh chiếm Như-nguyệt. Phó nguyên soái Triệu Tiết cùng chư tường đang chống trả rất khó khăn.

Quỳ hỏi:

– Thế bọn Miêu Lý, Trương Thế-Cự, Đặng Trung, Lưu Mân đâu?

– Có tin tất cả đều bị bắt hay giết rồi.

– Vô lý, không thể dễ dàng như vậy, nhất là đạo kị binh của Trương Thế-Cự.

Lát sau lại có tin:

– Quân Giao chọc thủng tuyến giữ Như-nguyệt, thế cực kỳ nguy cấp.

Quỳ bắt đầu bối rối:

– Cho hai hiệu 16, 17, 18, 19 từ Bắc ngạn vượt phù kiều sang tiếp viện Nam ngạn.

Bây giờ tiếng Lôi-tiễn xé không gian, tiếng voi rống, tiếng hổ gầm, tiếng báo gào, tiếng sói tru, tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, tiếng vũ khí chạm nhau hoà lẫn với tiếng người bị giết, bị chém kêu thét lên từ doanh ba vọng lại. Quỳ với bộ tham mưu chột dạ. Lát sau quân báo:

– Đệ tam doanh bị địch tấn công. Quân Giao đã tiến tới trung ương. Đệ nhất, đệ nhị doanh bị Lôi-tiễn bắn vào, bốc cháy khắp nơi.

Quỳ hoảng hốt ra mặt. Y yên trí mặt Như-nguyệt đã có Triệu Tiết, Diêu Tự. Y cùng Ôn Cảo, Vương Mẫn với Liêu-đông tam ma, Hoa-sơn tứ lão rời hành doanh tới đệ tam doanh.

Dưới ánh đuốc chập chờn, Quỳ đưa mắt quan sát: Hai trại quân đã bị phá tan nát. Lều bốc cháy ngùn ngụt, quân Tống nằm la liệt trên mặt đất; kẻ thì chết, người thì quằn quại bị thương. Ba trại còn lại đang dùng lá chắn chống nỏ thần. Quân sĩ dùng đao, cung tên chống với thú binh. Thiên-tử binh Đại-Việt như đàn hổ đói, được thú binh yểm trợ đang chém giết quân Tống. Quân Việt dàn trận thành ba mũi tấn công, khi chĩa vào chỗ nào, quân Tống bị đánh ngã chỗ đó.

Quỳ ra lệnh cho tướng kị binh Vương Mẫn:

– Hồi chiều tế tác báo cho biết Hoằng-Chân, Chiêu-Văn dựa vào chân núi Nham-biền mà đóng quân. Chúng lập phòng tuyến hướng về ta. Phía sau lưng chúng để hở, chỉ canh gác lấy lệ, vì tin rằng ta không có quân. Bây giờ y nghĩ rằng quân của chúng đột kích ta, ta mải chống trả. Vậy tướng quân cho xuất tất cả kị binh, đi vòng phía bờ sông, rồi đánh vào sau lưng y, thì diệt được y.

Quỳ nói với Liêu-Đông tam ma:

– Xin ba vị tiên sinh cùng hai trăm cao đồ theo trợ chiến cho Vương tướng quân.

Vương Mẫn, Liêu-Đông tam ma cùng đám đệ tử vội về khu trại kị binh. Trận chiến ở đệ tam doanh, ở Như-nguyệt làm cho kị binh tỉnh giầc. Tướng sĩ đã mặc giáp trụ, mang cung tên, thắng yên cương chờ đợi sẵn. Nên khi Vương Mẫn về tới nơi, y gọi chư tướng tới giảng giải về nhiệm vụ, chỉ cần nửa khắc là đoàn kị binh rầm rộ lên đường.

Địa thế Bắc Như-nguyệt tới Nham-biền về thời Lý là khu đất hoang khô quạnh. Bấy giờ thời tiết vào dịp tết, cỏ non mới mọc, cây còn trơ cành, thực là thiên thời, địa lợi cho đoàn kị binh tung hoành.

Trận chiến ở đệ tam doanh vẫn tiếp diễn ác liệt. Sau khi đánh tan hai đạo binh triều Tống, hiệu Long-dực bị ba đạo binh thiện chiến nhất bao vây chặn lại. Nhưng người người đều bỏ ra ngoài lẽ sống chết, lại có thú binh yểm trợ, nên cuộc chiến vẫn chưa phân thắng bại.

Sau hơn giờ giao chiến, Thần-nỏ, Thạch-xa đã bắn hết đá, hết tên. Nỏ binh, xa binh phá các xe bắn đá, nỏ thần, rồi cầm vũ khí chiến đấu với Thiên-tử binh.

Đứng quan sát trận chiến, Quách Quỳ để ý thấy chỗ mũi nhọn do một nữ tướng chỉ huy cạnh Dương Minh; mạnh đến nỗi mũi này đi đến đâu là binh Tống bị đánh dạt ra đến đó. Đặc biệt, đội cảm tử trên hai trăm võ sĩ được chỉ huy bởi hai đội trưởng già;, bất cứ đội trưởng, võ sĩ nào của Tống, hai lão già với đám võ sĩ Việt chỉ đưa một đao là cả người lần vũ khí đứt ra làm hai.

Quỳ hỏi:

– Nữ tướng kia là ai vậy?

– Y thị là vợ tên Dương Minh cùng chồng thống lĩnh hiệu Thiên-tử binh Long-dực. Hồi còn con gái, khuê danh là Hoàng Phương-Cúc. Thị là con của Hình-bộ thượng thư Hoàng Khắc-Dụng.

Quỳ lại chỉ vào hai cánh khác: Cánh bên phải do một thiếu niên chỉ huy. Cánh bên trái do một thiếu nữ chỉ huy. Mặt hai tướng này non choẹt, nhưng võ công rất cao thâm. Quỳ hỏi:

– Hai tướng thiếu niên kia là ai?

– Chúng là vợ chồng. Chồng tên Lý Lục, vợ tên Mai-Lục. Chúng thuộc đám Thập-bát kim cương, là Việt-kiều ở bên Chiêm về cố quốc tham chiến. Sư phụ của chúng là Mộc-tồn hòa thượng.

Nghe đến Mộc-tồn hòa thượng, mặt Quỳ cau lại thực khó coi. Quỳ nói với Hoa-sơn tứ lão:

– Xin Tứ-lão cùng quý cao đồ bao vây, giết chết đám tướng Giao-chỉ kia, thì mới mong diệt được đạo quân này.

Trong Hoa-sơn tứ lão, thì Bạch-lão có vai vế cao nhất. Từ hôm theo quân sang Nam. Lão phân chia hai trăm đệ tử làm bốn toán, mỗi toán cho được đặt thuộc quyền một lão luyện tập, để khi ra trận tiện việc chỉ huy. Cả bốn toán đều chờ đợi. Mãi tới hôm nay, anh em lão mới được Quách Quỳ nhờ đến. Lão phân chia: Xích-lão đánh Mai-Lục, Thanh-lão đánh Lý Lục, còn Bạch-lão, Hắc-lão đánh Dương Minh, Phương-Cúc.

Thoáng một cái, các lão với đệ tử đã xông vào trận chiến. Bạch-lão tung người lên, lão dùng một ưng trảo chụp Dương Minh đang đứng trên bành voi chỉ huy. Trảo của lão phát ra kình lực khiến cho tên quản tượng suýt ngã xuống. Lão kinh ngạc vô cùng, khi thấy trảo sắp tới cổ Dương Minh, mà viên tướng này coi như không biết tới, lão mừng thầm. Nhưng lão chợt cảm thấy phía trước mình có một kình lực mạnh đến nghiêng trời lệch đất đè xuống. Kinh hoàng lão vội biến chỉ thành chưởng đỡ. Ầm một tiếng, người lão bật tung về sau, rơi xuống đất, khí huyết trong người lão chạy nhộn nhạo cực kỳ khó chịu. Bấy giờ lão mới nhìn đối thủ của mình, chỉ là một Thiên-tử binh già. Lão chưa kịp định thần, thì đối thủ đã phóng một chỉ hướng đỉnh đầu lão, chỉ lực phát ra tiếng véo chói tai. Kinh hãi, lão trầm người xuống, rồi rút kiếm đánh cắt ngang vào luồng lực đạo. Choang một tiếng, kiếm của lão bị gẫy làm năm sáu mảnh. Lão ném chuôi kiếm rồi đẩy ra một chưởng, hắt tất cả những mảnh vụn về phía đối thủ. Viên Thiên-tử binh cũng đẩy một chưởng, đánh ngược lại. Hai chưởng chạm nhau đến bùng một tiếng. Cả hai người cùng lảo đảo lùi lại.

Bạch-lão quát lên:

– Cao nhân là ai, xin cho biết cao danh quý tính?

Sau khi quát, lão tưởng đối thủ không biết tiếng Biện-kinh. Nào ngờ viên Thiên-tử binh hỏi ngược lại cũng bằng tiếng Biện-kinh:

– Hoa-sơn tứ lão danh trấn Trung-nguyên về đạo đức, về võ đạo; thế mà sao lại sang đây lăn mình vào chỗ chết, cướp nước người chỉ vì cái mộng ngông cuồng của gã hủ Nho Vương An-Thạch? Xin Bạch-lão giải thích cho?

Bạch-lão liếc nhìn bên cạnh, Hắc-lão đang đấu chưởng với một viên Thiên-tử binh già, hơi yếu thế.

Quách Quỳ đứng xa đã lược trận, y thấy Bạch, Hắc là hai đệ nhất cao nhân đương thời, mà bị hai Thiên-tử binh đánh cho đến luống cuống chân tay thì kinh ngạc không ít. Y đến gần quan sát, chợt y chửi thầm:

– Mình đáng chết thực, thì ra hai Thiên-tử binh này là Trần Phụ-Quốc, Trần Bảo-Dân. Hèn chi Hoa-sơn nhị lão không đàn áp nổi.

Y lên tiếng:

– Ngừng tay!

Bốn người ngừng tay lùi lại. Quách Quỳ xá một xá:

– Thì ra tiền bối Phu-Quốc, người chẳng từng là Phụ-quốc đại tướng quân tổng lĩnh thị vệ đời vua Nhân-tông bản triều đó ư? Còn vị tiền bối kia, người chửng từng là một tao nhân trên giòng Tương-giang, hồ Động-đình sao? Tại sao hai vị lại giả trang làm Thiên-tử binh hèn hạ như thế này?

– Bọn lão phu không nhận chức tước gì của triều đình Đại-Việt, thì khi xuất trận chỉ có thể mặc quân phục của Thiên-tử binh mà thôi.

Phụ-Quốc, Bảo-Dân thấy hai viên tướng Tống đứng rất gần mình, đang chỉ huy thiết đột vây quân Việt. Hai người đưa mắt cho nhau, rồi thình lình mỗi người tung mình về hai tướng đó, tay rút kiếm xả một nhát. Hai viên tướng đang mải chỉ huy không phòng bị, bị chiêu kiếm như trời giáng. Cả hai bị đứt làm hai khúc.

Bạch-lão nổi giận rút kiếm xả vào người Phụ-Quốc, trong khi Hắc-lão xả kiếm vào người Bảo-Dân. Bốn đại cao thủ Hoa-Việt cùng cố xuất hết lực bảo vệ quân mình.

Quách Quỳ nhìn về phía trái. Mai-Lục tay kiếm, tay đao dẫn đầu đội Thiên-tử binh, không tướng nào đương nổi. Giữa lúc Mai-Lục vung kiếm chặt đầu một đô thống Tống, thì Xích-lão tung mình lên cao, lão búng tay một cái, thanh kiếm của Mai-Lục bay vọt lên cao, tay còn lại lão đoạt đao của nàng. Mai-Lục bình tĩnh, tay rút cây roi da trên lưng quất vào người lão. Lão hớt một đao, cây roi bị đứt rồi vọt người lên cao, tay lão dùng một ưng trảo chụp cổ nàng nhắc bổng khỏi bành voi.

Viên đội trưởng chăn ngựa cho các tướng ở tổng hành doanh tên Trịnh Can đang dắt ngựa cho ôn Cảo đứng sau Quách Quỳ. Y hú lên một tiếng rung động không gian, dài liên miên bất tuyệt, khiến mọi người phải bịt tai lại; rồi y tung người lên cao, tay phóng một chưởng mạnh như bài sơn đảo hải hướng Xích-lão. Xích-lão kinh hoảng vội dùng tay trái cặp Mai-Lục, tay phải xuất chiêu đỡ chưởng của Trịnh Can. Nhưng Trịnh Can lại phát tiếp một chưởng nữa, chưởng sau xô chưởng trước như hai lớp sóng nối nhau. Xích-lão kinh hãi, vội tung Mai-lục lên cao, rồi dùng cả hai tay phát chưởng, thân nhảy lùi lại ba bốn bước để tránh áp lực của hai chiêu chưởng khủng khiếp kia. Trịnh Can tiến tới bắt lấy Mai-Lục, tung nàng lên cao. Mai-Lục lộn một vòng, đáp xuống giữa trận Tống, nàng chuyển tay một cái đã đoạt được hai thanh đao của quân Tống. Đao lại vung lên, mỗi cái vung là một thân hình đổ xuống.

Về phía trái, Thanh-lão cùng mười đệ tử tung mình đến chặn ngay trước mặt mũi tấn công của Lý Lục. Lão đáp xuống giữa lúc tay phải Lý Lục đang thúc một chiêu kiếm xuyên qua ngực một viên sư trưởng, rồi tay trái đẩy xác y bay tung sang bên cạnh. Lão chuyển động tay phải một cái, đã đoạt được kiếm của Lý. Lý kinh hãi nhảy lùi liền ba bước, bốn Thiên-tử binh xả đao vào người lão cứu chúa tướng. Nhưng lão như con cá trạch, chỉ cần lách mình hai cái, lão đã đuổi kịp Lý. Tay lão xuyên qua lưới vũ khí của bốn Thiên-tử binh, chụp cổ Lý rồi nhảy về trận Tống.

Lão điểm huyệt Lý Lục, rồi trao cho một đệ tử trói lại, còn lão thì lao vào trận tuyến Việt. Trước mặt lão, hai con hổ, một con beo nhảy xổ đến. Lão vung tay một cái, chưởng phong phát ra ào ào, hai con hổ bật tung lại phía sau, nhưng khi lực đạo sắp tới con báo, thì lão cảm thấy cánh tay như tê liệt. Một mùi thơm của hương sen thoang thoảng xông vào mũi lão. Biết bị trúng độc, lão cố hít hơi điều khí tống độc ra, thì một tiếng véo, rồi hương sen ngào ngạt bốc ra, toàn thân lão như mất hết kình lực. Trong khi đó đôi hổ, với con beo lại nhảy đến vồ lão, lão nghiến răng phát chiêu, mà chưởng không ra. Quá hãi hùng, lão nhảy lùi liền hai bước, thì lạ chưa, Lý Lục chuyển tay một cái tung ra hai chưởng đánh bay hai đệ tử của lão, rồi vọt người lên voi tiếp tục chỉ huy.

Biết có người tung thuốc cứu Lý Lục, tấn công mình, lão lên tiếng:

– Kẻ nào đánh trộm? Nếu là anh hùng, hảo hán thì hãy xuất hiện cùng ta đấu mấy nghìn chiêu.

Không có tiếng đáp lại. Lão vận khí điều tức, thấy chân khí lưu thông như thường, lão tung mình lên, tay rút kiếm xả một nhát như chớp giật vào người Lý Lục, kình lực cực kỳ trầm trọng. Binh tướng Việt kêu thét lên kinh khủng, vì chiêu kiếm đó xả xuống thì Lý Lục với con voi sẽ đứt làm đôi. Từ phía trận Tống, tên mã phu Vũ Uy lách mình một cái, đoạt thanh đao của một quân thiết đột rồi chĩa ngay vào lưng Thanh-lão, nếu lão không thu chiêu về tự cứu mình, thì người lão bị xẻ làm đôi trước. Lão vội quay tay đổi chiều, thanh kiếm vòng ra sau gạt kiếm của Vũ Uy. Choang một tiếng, cả hai thanh kiếm cùng gẫy. Cả hai người cùng lảo đảo lùi lại.

Thanh-lão quát:

– Người chẳng là tên mã phu đó ư? Tại sao người lại giúp giặc đánh người nhà?

Vũ Uy không nói không rằng, lão phóng chưởng tấn công Thanh-lão, chưởng không cực kỳ dũng mãnh. Thanh-lão nghiến răng đỡ. Rầm một tiếng, lão bật lui liền hai bước.

Quách Quỳ kêu lên:

– Thiên-vương chưởng! Chiêu Lôi-đả Ân-tặc! Người chẳng là người Tống ư? Tại sao người biết xử dụng võ công Sài-sơn?

Vũ Uy tiếp tục tấn công Thanh-lão. Hai người cùng dùng hết khả năng đấu với nhau.

Quách Quỳ hỏi viên tá lĩnh hầu cận:

– Có phải hai tên mã phu này là Trịnh Can, Vũ Uy không? Tại sao chúng lại giao chiến với Thanh, Xích lão?

– Thưa nguyên soái đúng. Đây là hai tên mã phu già Trịnh Can, Vũ Uy. Không hiểu sao võ công chúng lại cao thâm đến như vậy? Dường như chúng là gian tế của Giao-chỉ.

Đến đây, vòng vây của quân Tống đã thắt lại, hiệu Long-dực chỉ còn hơn nửa, nhưng người nào cũng quật cường chiến đấu. Thình lình Dương Minh bị trúng một mũi tên vào bụng dưới. Quá kinh hoàng, sợ quân sĩ nhìn thấy sẽ mất tinh thần, hầu rút kiếm đưa một nhát cắt tên, rồi lấy dây lưng băng bụng lại, tiếp tục chỉ huy.

Về phía Phương-Cúc, phu nhân vẫn đứng trên bành voi chỉ huy. Đội nữ cận vệ quyết tử đứng vảo vệ xung quanh. Ôn Cảo thấy vậy chỉ cho đội cao thủ Hoa-sơn:

– Cần thanh toán ngay con nhỏ kia!

Mười cao thủ Hoa-sơn cùng xả kiếm đánh thẳng vào trận nữ binh. Hơn mười nữ binh bị hạ, trận bị hở một khoảng. Hai cao thủ khác tung mình lên, dùng kiếm đánh vào hai bên Phương-Cúc. Phương-Cúc vọt người lên cao, nhưng hơi chậm, một kiếm đả xả rách bụng bà.

Mã phu Trịnh Can đang đấu với Xích-lão, thấy Phương-Cúc lâm nguy, lão quát lên một tiếng, rồi đánh ra một chưởng như bài sơn đảo hải, khiến mười cao thủ Hoa-sơn bị bay tung ra sau, kẻ thì bị vỡ làm hai mảnh, kẻ thì vỡ đầu, kẻ thì vỡ ngực. Trịnh Can phẩy tay một cái, Phương-Cúc lại rơi xuống bành voi. Y hỏi bà:

– Con! Con có sao không?

Tuy đau thấu tâm can, nhưng Phương-Cúc vẫn gượng gạo:

– Thầy để mặc con!

Trong khi Trịnh Can cứu Phương-Cúc, thì Xích-lão tung chưởng giết đám nữ vệ sĩ; Can nổi giận đánh một chưởng mạnh đến nghiêng trời lậch đất. Xích-lão thấy nếu mình đỡ chưởng đó thì nát thây ra, mà chết. Lão vọt mình lên cao tránh. Trịnh Can không buông tha, ông hướng chưởng lên trời, binh một tiếng, Xích-lão bay ra xa rơi xuống đất. Lão quằn quại mấy cái rồi nằm bất động. Đám đệ tử Hoa-sơn vội đến cứu lão, thì lão đã mê man.

Nhờ Trịnh Can cứu mệnh, nhưng vết kiếm làm cho ruột của Phương-Cúc lòi ra ngoài. Bà vội lấy dây lưng băng lại, rồi nghiến răng chịu đau, ngồi trên bành voi chỉ huy.

Trong suốt trời gian quân Tống, quân Việt giao chiến ở đệ tam doanh thì Lôi-tiễn vẫn bắn đều đều vào đệ nhất, đệ nhị doanh. Thình lình tiếng Lôi-tiễn im bặt, rồi từ phía chân núi Nham-biền, lửa bốc ngút trời, tiếng quân reo, tiếng ngựa hí vọng lại.

Quân báo với Quách Quỳ:

– Kị binh đang giao tranh với quân của Giao-chỉ ở chân núi Nham-biền.

Tên quân báo báo tin nói rất nhỏ, nhưng cũng lọt vào tai Trịnh Can. Ông nói với Vũ Uy:

– Sư đệ! Lúc này không thể nương tay được. Sư đệ mau giải quyết đi.

Vũ Uy nghe Trịnh Can nói như ra lệnh, ông hít một hơi, rồi phát ra ba chiêu liền, trong chưởng phong có mùi thơm thoang thoảng của hoa sen. Thanh-lão đỡ được hai chiêu đầu, đến chiêu thứ ba thì người lão bay tung ra xa. Cũng như sư huynh, lão quằn quải mấy cái, rồi mê man.

Thiên-tử binh trói hai lão lại.

Thấy Trịnh Can, Vũ Uy hạ Hoa-sơn nhị lão quá dễ dàng, Quách Quỳ nghĩ ra một điều, y quát lên:

– Mộc-tồn hòa thượng, Đại-từ Liên-hoa hòa thượng!

– Đúng thế!

Trịnh Can xoa mặt, vung tay xé rách áo ngoài, ông trở thành một vị tăng áo nâu. Vũ Uy cũng lột mũ, xé áo, trở lại thành một nhà sư.

Mộc-tồn Vọng-thê hoà thượng, Đại-từ Liên-hoa hòa thượng, danh trấn Hoa-Việt trên ba mươi năm qua, dù võ lâm, dù triều đình, dù binh tướng Tống, nghe tên hai ngài đều táng đởm kinh hồn.

Hai ngài đứng dàn ngang, cùng phát chiêu, bình, bình, hơn hai mươi quân thiết đột bị bay tung lên cao, rơi xuống chết đứ đừ. Hai ngài chỉ đánh có mười chiêu, khiến vòng vây Tống mở rộng.

Mộc-tồn hòa thượng đưa mắt nhìn trận đấu của Phụ-Quốc, Bảo-Dân với Bạch, Hắc-lão không phân thắng bại.

Vào thời Đại-Việt giúp Nùng Trí-Cao khởi binh, bản lĩnh ủa Côi-sơn tam anh vào tuổi khí huyết sung thịnh, từng giết chết thủ tọa La-Hán đường chùa Thiếu-lâm, với đệ nhất cao thủ bang Nhật-hồ. Nhưng nay, tuổi các ông đã đi qua cổ lai hi (70) từ lâu; trong khi tuổi của Hoa-sơn tứ lão đang hồi sung thịnh nhất. Vì vậy cuộc chiến vẫn bất phân thắng bại.

Thấy rằng muốn cứu sống đám Thiên-tử binh này, thì phải giết tướng giặc. Mộc-tồn hòa thượng đưa mắt cho Viên-Chiếu. Cả hai cùng quát lên, một tiếng rồi phát chưởng đánh vào những viên đô-thống, tá lĩnh đang chỉ huy quân. Chỉ thoáng một cái, hai vị đã thanh toán xong gần ba chục tướng lớn nhỏ của Tống. Trận Tống bị rối loạn liền.

Liếc nhìn thấy Quách Quỳ đang đứng điều binh, Mộc-tồn hòa thượng phát một chưởng như bài sơn đảo hải đánh vào người y. Quá kinh hãi, y phát chiêu đỡ. Ầm một tiếng, người y bật tung lại sau. Đám võ sĩ cùng phát chiêu cản Mộc-tồn hòa thượng cứu chúa. Nhưng ngài như thiên tướng giáng thế, tay vung lên, đám võ sĩ bay tung ra hai bên. Chỉ hai chiêu ngài đã tiến tới gần Quách Quỳ, miệng quát:

– Quách Quỳ, hôm nay Phật-gia phải khai sát giới.

Quách Quỳ tung mình bỏ chạy vào trận Tống. Mộc-tồn hòa thượng vung tay đánh dạt quân Thiết-đột tiến tới chỗ y đứng. Ngài chỉ đánh có ba chiêu, thì chỉ còn cách Quỳ có ba trượng (6m). Đội võ sĩ Hoa-sơn, Thiếu-lâm lăn xả ra vây lấy ngài cứu Quỳ. Ngài móc trong túi ra một nắm thuốc, tay bóp nát rồi vọt mình lên cao, ở trên cao ngài phóng xuống một chưởng. Chưởng mang theo thuốc chụp xuống đầu đội võ sĩ Hoa-sơn, khiến đội này lảo đảo ngã lăn ra. Nhưng khi nhìn lại, ngài không thấy tăm tích Quách Qùy đâu. Mộc-tồn hòa thượng đành quay trở lại mặt trận. Thấy Phụ-Quốc, Bảo-Dân chưa hạ được Hoa-sơn nhị lão, ngài móc trong túi ra hai viên thuốc, rồi hướng hai lão bắn tới. Một viên trúng huyệt Đại-trùy Bạch-lão, một viên trúng huyệt Phong-phủ Hắc-lão; giữa lúc chưởng của Phụ-Quốc, Bảo-Dân đánh tới. Hai lão bị mất kình lực, thân mình bay tung lại sau, rơi xuống đất. Cả hai quằn quại mầy cái rồi nằm bất động.

Thế là cả bốn lão bị Thiên-tử binh trói lại.

Quân Tống thấy Quách Quỳ bỏ chạy, Hoa-sơn tứ lão sống chết chưa rõ, các tướng chỉ huy sư, lữ đều bị giết thì kinh hoàng như rắn mất đầu. Vòng vây do vậy dãn ra.

Mộc-tồn hoà thượng vận nội lực nói lớn:

– Chư quân nghe đây! Bần tăng là người theo Phật, không muốn khai sát giới. Nhưng vì Hy-Ninh nghe theo lời Vương An-Thạch đem quân sang cướp nước Việt, hại con đỏ, vì vậy bần tăng chỉ giết tướng mà thôi. Còn chư quân vô tội, bần tăng không nỡ ra tay. Vậy chư quân hãy lùi lại, không nên đuổi theo. Bằng đuổi theo, thì bần tăng không thể dung tính mạng.

Nói rồi ông quát lên một tiếng, phát chiêu Thiên-vương trấn thiên vào xác con voi chết nằm đó, rầm một tiếng, con voi bị đánh bật tung lên cao, rồi vỡ thành hàng trăm mảnh rơi xuống đầu quân Tống. Quân Tống hét lên kinh hoàng, vòng vây mở thực rộng.

Thế là Phụ-Quốc, Bảo-Dân cùng với Dương Minh, Phương-Cúc dẫn đầu; Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Lý Lục, Mai-Lục đi đoạn hậu. Thiên-tử binh vác xác đồng đội, dìu thương binh thong thả rời khỏi doanh trại Tống. Vừa rời khỏi trại Tống, thì Dương Minh, Phương-Cúc cùng lảo đảo muốn ngã. Vệ sĩ vội đỡ hai người xuống, lấy cây làm cáng, cáng hai người đi.

Viên-Chiếu hỏi:

– Hai con có đau lắm không?

– Sư bá yên tâm, chúng con chịu đựng được mà.

Khi đã rời trại Tống hơn bốn dặm, Mộc-tồn hòa thượng, Viên-Chiếu cùng chư đệ tử mới ra lệnh dừng bước để băng bó, trị bệnh cho thương binh.

Nhắc để độc giả biết, Mộc-tồn, Viên-Chiếu từng nổi danh là thánh y đương thời, nên đoàn đệ tử của ngài cũng như Lý Lục, Mai-Lục đều là những thầy thuốc giỏi.

Viên-Chiếu móc trong bọc ra hai viên thuốc bỏ vào miệng Dương Minh, Phương-Cúc:

– Đây là thuốc cầm máu và trấn thống. Hai con nuốt đi cho máu bớt chảy, đợi lát nữa về trại, sư bá sẽ cho con uống ma-thang để ngủ mê đi rồi dùng dao mổ vết thương lấy máu bầm, rịt thuốc may lại thì không lo gì nữa.

Mộc-tồn hòa thượng xua tay:

– Đợi về đến trại thì lâu quá. Ta nên làm tại đây. Nhưng đau lắm, các con có chịu được không?

Phương-Cúc cười:

– Sư bá! Bọn con không sợ đau đâu.

Thế rồi Mộc-tồn hòa thượng trị cho Dương Minh; Viên-Chiếu trị cho Phương-Cúc. Hai ngài điểm vào mấy yếu huyệt khiến hai người tê đi, rồi dùng dao trủy thủ hơ vào ngọn đuốc khử độc. Hai ông ra tay thực nhanh, mổ vết thương, dùng vải thấm máu, dùng kim may vết thương, sau đó lấy cao dịt vết thương; cuối cùng dùng vải băng lại. Công việc không đầy một khắc là xong.

Bấy giờ hai ngài mới giải huyệt cho Dương Minh, Phương-Cúc.

Đoàn người tiếp tục rút về hướng Nham-biền. Đi được hơn nửa giờ, thì tiền quân thấy chân núi, nơi quân Việt đóng trại đèn đuốc như sao sa, rồi tiếng ngựa hí, tiếng người la hét, tiếng vũ khí vọng lại, vội báo cho Phụ-Quốc. Phụ-Quốc kinh hãi la lớn:

– Quân Tống đột kích trại ta!

Mộc-tồn, Viên-Chiếu bỏ hậu quân tiến lên hàng đầu. Mộc-tồn hòa thượng bảo Mai-Lục:

– Mắt con tinh nhất, con trèo lên cây quan sát xem cái gì đang xẩy ra tại chân núi Nham-biền?

– Tuân pháp chỉ sư phụ.

Mai-Lục thoăn thoắt leo lên chót vót ngọn cây gần đó, phóng mắt nhìn về phía trại Việt, rồi nói vọng xuống:

– Bạch sư phụ! Kị binh Tống đang đánh nhau với quân Việt. Dường như trại binh bị tràn ngập. Khu đóng quân của hiệu Vạn-tiệp, Hùng-lược chỉ thấy xác chết ngổn ngang. Khu đóng quân của hiệu Đằng-hải ở sườn núi vẫn còn giao tranh. Quân Việt rút lên núi cố thủ, còn kị binh Tống thì đang vây phía dưới.

Bàn về võ công thì Mộc-tồn, Viên-Chiếu cao hơn Phụ-Quốc, Bảo-Dân. Nhưng hai ngài lại không biết nhiều về binh sự; trong khi Phụ-Quốc từng là đô đốc Tương-giang hồ Động-đình, sau lên tới Phụ-quốc đại tướng quân, tổng lĩnh thị vệ thời vua Nhân-tông triều Tống. Vì vậy Viên-Chiếu hỏi ông:

– Nhị sư huynh! Ta phải làm gì?

Phụ-Quốc hỏi Lý Lục, Mai Lục:

– Ta còn bao nhiêu quân có thể lâm chiến được?

– Bạch sư bá, còn được năm nghìn hơn không thương tích.

– Liệu chư quân còn sức chiến đấu không?

Dương Minh đang nằm trên cáng, ông ngồi dậy:

– Trận vừa qua tuy kinh tâm động phách, nhưng chư quân chưa dùng hết lực, sức khoẻ vẫn còn nguyên. Vả chư quân đều luyện võ hơn mười năm. Bây giờ chỉ cần nửa khắc, họ điều tức, thì công lực lại phục hồi ngay.

Mai-Lục lại nói vọng xuống:

– Trận Tống chuyển động. Chúng đang rút lui ra xa, dàn trận. Ồ! Có một đội kị mã từ phía Nam mới tới. Ái chà! Đám kị mã mang rượu tới khao quân Tống.

Dương Minh lệnh cho quân dừng lại nghỉ ngơi, dưỡng thần.

Phụ-Quốc bàn:

– Đây là khu đồng bằng, chỉ có cỏ. Từ hôm sang đến giờ, kị binh Tống thường rong ruổi ở khu này, nên chúng rất quen với địa thế. Bây giờ chúng rút về hướng này, hiệu Long-dực của ta chỉ còn một nửa, lại phải mang theo thương binh tử sĩ; cung thì hết tên. Làm sao ta địch lại chúng? Chi bằng ta rút ra phía bờ sông, tránh chúng. Một mặt ta viết thư sai chim ưng cầu cứu với thủy quân, để thủy quân lên bờ cứu viện cho ta. Bằng không chúng sẽ dẵm nát chúng ta trong chốc lát.

Phương-Cúc ngồi nhỏm dậy, phu nhân đưa mắt cho chồng, trong ánh mắt đó dường như bà nói với hầu một điều gì. Dương Minh hiểu ý phu nhân, hầu gật đầu. Bà nói với Phụ-Quốc:

– Vậy xin nhị vị sư bá đem tử sĩ dấu vào rừng kia, rồi dẫn thương binh đi ngay cho.

– Nào, ta đi!

Nhưng Dương Minh xua tay:

– Sư bá đi đi, bọn cháu quyết không chịu lui. Dù quân số hao hụt một nửa, dù cung không còn tên, nhưng chúng cháu chỉ có thể chết chứ không thể lùi. Chúng cháu quyết dàn trận tại đây để đánh với quân Tống.

Phụ-Quốc chợt nhớ lại trong buổi triều hội, Linh-Nhân hoàng thái hậu, vua bà Bình-Dương, tiên nương Bảo-Hòa; từng khuyên bọn Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt nên uyển chuyển rút quân khi thấy trận thế mình yếu, mà 12 tướng đều từ chối. Bây giờ ông cũng chạm phải thái độ quyết tử đó. Chưa biết phải tính sao, ông tìm Mộc-tồn hòa thượng để thỉnh ý kiến.

Không đợi cho Phụ-Quốc trả lời, Phạm Dật xé vạt áo, rồi búng tay vào lưỡi dao chủy thủ, máu chảy ra. Hầu viết mấy chữ sai chim ưng đem ra hạm đội cầu cứu với đô đốc Trần An, Trần Hải, và báo cho đạo quân của Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương biết việc làm của mình.

Mộc-tồn hòa thượng đã đến bên Dương Minh, ngài nói:

– Bây giờ ta đem thương binh, tử sĩ vào khu rừng rậm kia dấu đi, còn binh tướng khoẻ ta dàn trận phục kích, đợi kị binh Tống trở về thì đổ ra đánh. Hay ta dàn trận chờ chúng?

Dương Minh thấy Mộc-tồn hòa thượng đồng ý với mình thì vui vẻ hỏi ông:

– Sư bá! Liệu kị binh Tống có rút về phía này không? Lỡ chúng đổi ý, rẽ sang đường khác thì sao?

Mộc-tồn hòa thượng móc trong bọc ra mấy cây pháo lệnh:

– Chúng rẽ sang đường khác thì ta gọi chúng đến. Trong những ngày ẩn ở trại Tống ta đã lấy cắp được những ống pháo lệnh của Quách Quỳ. Khi những hỏa pháo này tung lên tại đâu, thì tướng Tống được gọi, bất cứ giá nào phải tới nơi để tiếp cứu chúa tướng. Tướng kị binh của Tống đang đánh ta là Vương Mẫn, thì ta tung cây pháo thăng thiên, lúc nổ phát ra hình con ngựa phi. Vương Mãn thấy lệnh ắt bỏ trận, hướng về đây. Ta chỉ việc phục kích là diệt được đám kị binh này.

Các hiệu Thiên-tử binh đều được học phép lăn dưới đất, chăng dây chống kị binh trên cánh đồng, nên khi Lý Lục, Mai Lục ra lệnh, thì binh tướng hiểu liền. Cuộc mai phục chỉ trong vòng hơn nửa khắc là xong.

Phụ-Quốc phân chia bốn đại cao thủ, mỗi người trấn một khúc. Khi trận chiến bắt đầu, thì phải ra tay thần tốc giết hết các tướng, đô thống, tá lĩnh, tham lĩnh, sư trưởng, lữ trưởng để đám kị binh như rắn mất đầu, thì Thiên-tử binh mới có thể giết bọn kị mã: Mộc-tồn hòa thượng khúc đầu, Phụ-Quốc khúc thứ nhì, Viên-Chiếu khúc thứ ba, Bảo-Dân khúc thứ tư.

Mộc-tồn hòa thượng bảo Mai-Lục:

– Con leo lên cây, quan sát tình hình địch rồi báo xuống cho đại sư bá.

Nói dứt ngài rút chiếc pháo thăng thiên ra đốt rồi vận nội lực tung lên. Cây pháo bay vọt khỏi những lùm cây cao chót vót, phát ra tiếng nổ, toả thành hình con ngựa phi.

Mai-Lục nói vọng xuống:

– Kị binh Tống đang từ từ lui khỏi chân núi.

– Quân Việt thừa thế dùng tên bắn theo.

– Kị binh đổi đội hình chia làm hai. Một nửa dàn trận đánh cản hậu. Một nửa đang hướng về đây.

– Kị binh đốt đuốc, đi hàng một đang hướng về đây. Mỗi kị mã để một xác đồng đội nằm ngang trên lưng ngựa. Ồ, có kị mã mang hai ba xác theo.

Lý Lục hô quân:

– Chăng dây, dấu dây lẫn vào cỏ.

Quân sĩ răm rắp làm theo.

Mai-Lục nói vọng xuống:

– Tổng số ước hơn ba nghìn kị binh đamg đi tới.

Mộc-tồn hòa thượng nói nhỏ vào tai Lý Lục:

– Vương Mẫn có sáu nghìn kị binh. Như vậy trong trận chiến vừa rồi y bị hao một nửa. Chà! Ta có năm nghìn người mà phải đánh với ba nghìn kị binh thì cái kết quả đã thấy rồi. Tuy nhiên các con đã quyết tử thì sư phụ củng không biết phải nói sao!

Mai-Lục lại nói vọng xuống:

– Kị mã chỉ còn cách có hai dặm. Đuốc cháy hết. Cứ ba kị mã có một người cầm đuốc.

Đến đây kị binh bắt đầu đi vào trận địa phục kích.

Dương Minh cầm tù và chuẩn bị. Mộc-tồn hòa thượng chỉ vào viên tướng kị mã đi đầu nói nhỏ vào tai Lý Lục:

– Cái tên đi đầu kia là Vương Mẫn, y thống lĩnh đoàn kị mã này. Sư phụ sẽ giết chết y, để chúng không có người chỉ huy.

Khi thấy đoàn kị binh hoàn toàn lọt hoàn toàn vào trận địa phục kích, Dương Minh cầm tù và rúc lên: Tuu...u. Tú..u...u.

Thiên-tử binh cùng giật dây chăng ngang đường. Ngựa vướng dây ngã lăn ra, chúng hí lên inh ỏi, hắt kị mã xuống ngựa. Các cao thủ lao lên trước, mỗi chiêu phát ra, một viên chỉ huy kị binh bị đánh tan xác. Thiên-tử binh rời chỗ nấp, vũ khí vung lên phập, phập, phập... Bao nhiêu kĩ mã ngã ngựa bị giết. Phân nửa kị mã không bị ngã, chúng la hét vang dội, thúc ngựa lao vào hàng ngũ quân Việt. Quân Việt lăn xuống đất, dùng vũ khí chặt chân ngựa. Cuộc chiến diễn ra trong bóng đêm. Quân Việt cứ nằm sát mặt đất, hễ thấy người ngồi trên ngựa là vọt dậy chém ngã.

Dương Minh, Phương-Cúc tuy bị thương nặng, nhưng trách nhiệm của chúa tướng khiến hai người vẫn lên mình ngựa chỉ huy quân.

Đoàn kị mã đi sau thấy đoàn trước trúng phục binh thì đốt đuốc lên, rồi dàn trận xông vào. Từ chiều, Thiên-tử binh phải lặn lội, xung sát trong đêm, bây giờ phải chiến đấu trong địa thế bất lợi, khí thế giảm rất nhiều. Hơn nữa họ phải đối đầu với đoàn kị binh đông gấp hai mình, nên trong khoảnh khắc, trận Việt bị cắt làm ba làm bốn.

Môïc-tồn hoà thượng, Viên-Chiếu, Phụ-Quốc, Bảo-Dân ra sức xung sát, nhưng cũng không cản được thế như núi lở băng tan của kị binh.

Giữa lúc quân Việt lâm thế tuyệt vọng, thì từ phía bờ sông Cầu, một đội binh rất hùng tráng đang cầm đuốc tiến tới. Dương Minh nhận ra đó là thủy quân của hạm đội Bạch-đằng, Thần-phù. Hai đô đốc Trần An, Trần Hải dẫn đầu hai đội quân. Cạnh đó là Trần Trung-Đạo. Hai đạo quân dàn ra mau chóng bao vây lấy khu trận địa. Thủy quân vây tròn kị binh lại. Trận chiến thực kinh khủng: Ở trong cùng là hiệu Long-dực bị kị binh vây; vòng ngoài thủy quân vây kị binh. Trận chiến kéo dài hơn hai khắc, thì tất cả kị binh Tống đều bị hạ .

Chiến trường trở lại yên tĩnh.

Đô đốc Trần An nói với Trần Phụ-Quốc:

– Biết rằng quân nhà bị kị mã tấn công, nhưng trong đêm tối cháu không dám cho thủy quân lên bờ tiếp viện. Mới đây, U-bon vương cho người báo rằng, sau trận chiến, các hiệu Đằng-hải, Hùng-lược, Vạn-tiệp tổn thất không làm bao. Vậïy phụ thân cháu cho đổ bộ thủy quân đánh vào sau lưng địch cứu viện cho Dương Minh, Phương-Cúc. Chúng cháu lại nhận được thư cầu cứu của Dương Minh... Chúng cháu cho thủy quân tiến đến đây cứu viện. Cũng may vừa kịp.

Chiến trường được thu dọn mau chóng. Thủy quân giúp Thiên-tử binh mang thương binh, tử sĩ về doanh trại ở chân núi Nham-biền.

Sau cuộc xung sát, máu ở vết thương Dương Minh, Phương-Cúc lại ứa ra. Hai vị lảo đảo muốn ngã. Phương-Cúc vẫn còn tỉnh táo. Bà hỏi Mai-Lục:

– Sư tỷ, mình bắt được bao nhiêu ngựa?

– Hai nghìn rưởi con.

Dương Minh thở hổn hen nói với Phương-Cúc:

– Phương-Cúc ơi, em vui lòng chưa? Từ trước đến giờ em hằng lo lắng về đoàn kị mã Tống. Chúng có một vạn hai nghìn ngựa, thì trong trận Cổ-pháp, công chúa Thiên-Ninh dùng thuốc, bắt hơn năm nghìn của Trương Thế-Cự. Năm nghìn của Vương Mẫn thì trong khi đánh Nham-biền chết một phần. Còn lại bị ta giết, bắt hết. Như vậy Quách Quỳ chỉ còn hai nghìn ngựa thì ta không sợ y nữa.

Mộc-tồn hòa thượng vỗ vào vai Dương Minh:

– Con ơi! Quách Quỳ không còn kị binh đâu!

– Thưa sư bá, thế hai nghìn quân kị kia của chúng nay ở đâu?

– Ta ẩn trong trại Tống bấy lâu ta biết rõ: Lam chưởng làm chết mất hơn hai nghìn ngựa rồi.

Đoàn người ngựa tiếp tục lên đường hướng về núi Nham-biền.

Chợt Phương-Cúc nói với Dương Minh:

– Anh ơi! Sao em cảm thấy chân tay tê dại thế này?

– Anh cũng vậy.

Phương-Cúc thở hổn hển:

– Sao em thấy người buồn ngủ kỳ lạ. Kìa trên trời đầy chim bay, anh có thấy không? À, không phải, đó là chuồn chồn, châu chấu.

Dương Minh là thầy thuốc, nghe phu nhân nói hầu kinh hãi vì biết đó là triệu chứng của người kiệt lực sắp chết. Hầu bảo thân binh:

– Người... người mau ngừng lại, rồi thỉnh...hai vị đại sư... cho ta.

Mộc-tồn hòa thượng nghe quân báo tình hình bệnh trạng của Dương Minh, Phương-Cúc thì kinh hãi, ngài lạng người đến cầm mạch bà, thì chân tay bà lạnh ngắt, mắt trợn ngược. Dương Minh thấy nét mặt hoảng hốt của Mộc-tồn thì hỏi:

– Sư bá... Phương... Cúc sao rồi!

– Sau khi máu ra nhiều, ta buộc vết thương cho, đáng lẽ Phương-Cúc với cháu phải nằm nghỉ... thì các cháu lại xung sát, nên máu trong người ra hết. Phương-Cúc kiệt sức mà tuẫn quốc rồi.

Dương Minh thở dài, hầu nắm tay Mộc-tồn hòa thượng:

– Sư bá! Sư bá giảng rằng, sau khi chết 100 ngày thì người ta lại đi đầu thai. Nhưng sư bá ơi, trước đây có lần Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt đem truyện đó bàn với tiên nương Bảo-Hòa. Người dạy rằng muốn đầu thai hay không là tự mình. Vì vậy mười hai đứa chúng cháu cương quyết sau khi chết không đầu thai, hồn sẽ quy tụ các tướng sĩ thành lập đội âm binh bảo vệ xã tắc. Sư bá bảo... có nên không?

– Nên chứ. Hoặc giả con có thể tái đầu thai, rồi lại làm tướng giết giặc còn hơn là không đầu thai. Con hiểu không?

Hầu mỉm cười:

– Con lại tái đầu thai làm người Việt.

Không thấy Dương Minh trả lời, ngài hỏi lại:

– Sao con không trả lời sư bá?

Hầu vẫn im lặng. Ngài vội cầm tay hầu, thì hầu đã quá vãng. Đại sư Viên-chiếu đứng cạnh, ngài lẩm nhẫm đọc kinh vãng sinh.

Binh tướng hiệu Long-dực nghe tin chúa tướng cùng phu nhân tuẫn quốc thì bỏ cả hàng ngũ vây xung quanh thi thể hầu với phu nhân khóc lóc thảm thiết,

Ghi chú,

Trung-vũ đại tướng quân, Kính-tâm hầu Dương Minh tuẫn quốc năm 26 tuổi. Phu nhân Hoàng Phương-Cúc tuẫn quốc năm 25 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công tâu lên, Linh-Nhân hoàng thái hậu ban sắc phong cho ngài chức tước như sau: Cao-sơn, Thiên-y, Trung-vũ đại vương. Phu-nhân được phong Trang-hòa quận chúa. Truyền lập đền thờ.

Vì lời nói: Sẽ tái đầu thai làm người Việt, nên ngài là một vị tướng được dân chúng huyền thoại nhiều nhất. Nhiều đến nỗi những ai không tìm hiểu sâu xa sẽ tưởng có nhiều Cao-sơn đại vương khác nhau. Sau 918 năm thăng trầm lịch sử, cho đến nay (1995) tôi còn tìm được chín đền thờ ngài. Mà đáng buồn thay, thần tích chín đền thờ đều không hoàn toàn giống nhau. Đó là đền thờ:

1. Ở ba xã Ôn-cập (làng Gắp), Lạc-yên (làng Khốm), Hoàng-liên (làng Sen), tổng Hoàng-vân. Nay thuộc huyện Hiệp-hòa, tỉnh Hà-bắc.
2. Đền thờ ở xã Lương-nhàn, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-hưng.
3. Đền thờ ở phường Đông-tác, huyện Thọ-xương, nay thuộc quận Đống-đa, Hà-nội.
4. Đình thờ ở thôn Điền-niêm, huyện Vĩnh-bảo, nay thuộc Hải-phòng.
5. Đền thờ ở thôn Bất-lự, xã Đại-sơn, huyện Tiên-du nay là huyện Tiên-sơn tỉnh Hà-bắc.
6. Đình thờ ở làng Cung-bái huyện Lục-ngạn, nay là huyện Yên-thế, tỉnh Hà-Bắc.
7. Đình thờ ở làng Đông-lỗ, tổng Đông-lỗ, huyện Hiệp-hòa, tỉnh Hà-Bắc.
8. Đền thờ ở xã Quỳnh-giản, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-dương.
9. Đình thờ ở xã Đồng-áng, tổng Hoàng-vân, huyện Hiệp-hòa, tỉnh Hà-Bắc.
Độc giả muốn thâm cứu thêm về tiểu sử ngài, xin đọc bài tựa NQSH, quyển 1, phần 7.2.2.

Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
Dương Minh tuẫn quốc rồi, Lý Lục là phó thống lĩnh thay thế cầm quyền. Ông ra lệnh cho binh sĩ tiếp tục lên đường về căn cứ Nham-biền.

Mai-Lục thấy Mộc-tồn hòa thượng kẹp một người trong nách thì hỏi:

– Sư phụ! Sư phụ bắt giữ ai thế kia?

– Nó là Vương Mẫn, lĩnh chức Vũ-kị Vân-ma thượng tướng quân.

Nói rồi ngài ném y xuống đất cho quân trói lại.

Hơn khắc sau, đoàn người ngựa về đến trại Nham-biền. U-bon vương Lê Văn ra ngoài trại đón vào. Không thấy Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương cùng các tướng Trần Ninh, Ngô Ức, Tạ Duy đâu; Mộc-tồn hòa thượng hỏi U-bon vương:

– Sư đệ, nhị vương với ba đại tướng quân đâu rồi?

U-bon vương cắn chặt hai hàm răng vào nhau, rồi chỉ vào xác mười người đặt nằm dài trên mười cái cáng làm bằng tre:

– Đệ tiếp cứu trễ, nên họ đã tuẫn quốc cả rồi.

Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Phụ-Quốc, Bảo-Dân đều rúng động tâm can:

– Sao? Sao họ tuẫn quốc ra sao?

U-bon vương buồn rầu thuật lại...

Trong khi hiệu Long-dực tấn công vào trại Tống, tất cả Lôi-tiễn trực thuộc các hiệu Long-dực, Đằng-hải, Vạn-tiệp, Hùng-lược đều được tập trung vào bốn khu gần trại Tống rồi nã vào doanh đệ nhất, đệ nhị. Chính cuộc nã Lôi-tiễn này, đã làm ta rã hàng ngũ bốn đạo binh triều Tống.

Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương leo lên cây cao gần trại Tống quan sát chiến trường. Giữa lúc cuộc chiến sôi động nhất, thì nhị vương thấy có nhiều tiếng reo hò ở căn cứ Nham-biền vọng lại. Hai vương dương mắt nhìn về, thì một cảnh tượng kinh hồn táng đởm diễn ra: Chiến mã Tống hàng hàng lớp lớp tay cầm đuốc đang tấn công vào phía sau lưng doanh trại của hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp. Quân hai bên đã lẫn vào nhau. Thiên-tử binh đang hết sức chiến đấu với thiết kị. Còn doanh trại của hiệu Đằng-hải nằm trên sườn núi, nên thiết kị Tống chỉ vây ở bên dưới rồi dùng lao phóng lên.

Nhị vương vội tụt xuống, rồi lấy ngựa khẩn trở về trại. Tín-Nghĩa vương vào trại của hiệu Hùng-lược. Trung-Thành vương vào trại của hiệu Đằng-hải. Doanh trại của cả hai hiệu đều bị cắt làm ba, làm bốn khúc.

Tín-Nghĩa vương thấy vương phi Ngọc-Nam đang bị vây bởi năm sáu thiết kị. Cạnh đó, Phương-Dược ngồi dựa lưng vào một tảng đá, phu nhân bị trúng một mũi lao vào hông trái. Còn Ngô Ức tuy bị thương ở ngực trái, nhưng vẫn đứng đốc chiến. Vương rút kiếm lao vào vòng chiến. Chỉ bốn chiêu vương đã đánh dạt được đám thiết kị, rồi cùng vương phi đánh về phía Ngô Ức, bảo vệ cho Ngô điều quân.

Trung-Thành vương bỏ ngựa vọt lên núi, nơi đóng quân của hiệu Đằng-hải. Vương phi Trinh-Dung với Trần Ninh, Ngọc-Hương chia nhau đứng làm ba nơi đốc chiến. Hiệu Đằng-hải núp sau các tảng đá dùng tên bắn vào kị binh Tống. Dưới chân núi, xác kị binh nằm la liệt.

Vương hỏi vương phi:

– Tình hình ra sao?

– Chúng tới bất thình lình, rồi chia làm ba. Hai mũi tấn công hai hiệu Vạn-tiệp, Hùng-lược. Một mũi bao vây không cho hiệu Đằng-hải tiếp cứu đồng đội. Trần Ninh đã cho quân đổ đồi hai ba lần để tiếp cứu hai hiệu kia, mà không phá nổi vòng vây.

Nhìn trận chiến, vương nghĩ rất nhanh:

– Nếu cứ để như vầy thì hai hiệu Vạn-tiệp, Hùng-lược sẽ bị tiêu diệt. Ta phải cho hai hiệu ấy phá vòng vây tiến về đây mới xong.

Vương ra lệnh cho Trần Ninh, Ngọc-Hương:

– Các em truyền binh sĩ chuẩn bị, khi có lệnh thì chọc thủng vòng vây để đón hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp lên.

Nói rồi vương ra hiệu cho đội Lôi-tiễn duy nhất còn lại đóng trên sườn núi. Ba trái Lôi-tiễn xé không gian bay lên không, rồi nổ thành ba trái cầu lửa. Đó là lệnh cho hai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp đánh về phía chân núi; hiệu Đằng-hải đổ đồi.

Lập tức ba hiệu binh cùng đổi thế trận, đánh như vũ bão, đội ngũ kị binh bị dạt ra, chỉ hơn khắc sau, hai hiệu Hùng-lượcc, Vạn-tiệp đã tiến tới chân núi. Tín-Nghĩa vương, vương phi Ngọc-Nam, Tạ Duy, Phương-Quế đi đoạn hậu, vừa lùi vừa cản giặc. Hơn nửa khắc nữa cả ba hiệu quân đã dàn ra trấn tại sườn núi. Kị binh bị cung tên bắn ngã nhiều quá phải rút ra xa reo hò.

Quân hai bên gờm nhau, im lặng.

Lý Thất, Mai-Thất là học trò Mộc-tồn hòa thượng, rất giỏi y học. Hai người lại bên Ngô Ức, Phương-Dược xem xét thương thế hai người. Phương-Dược bị trúng một mũi lao vào hông trái, chỉ còn thoi thóp thở. Ngô Ức bị trúng một mũi tên vào ngực phải; tên xuyên trúng phổi. Mai-Thất điểm vào mấy yếu huyệt để cầm máu, trấn thống, rồi lấy ra hai viên thuốc bổ khí nhét vào miệng hai người.

Vương-phi Lê Ngọc-Nam hỏi:

– Còn hy vọng gì không?

-– Lao xuyên thủng dạ dày, tên ngập tới phổi thì dù sư phụ hiện diện cũng bó tay.

Ngô Ức tỉnh dậy trước, thấy vương phi Ngọc-Nam đang nắm tay mình, nước mắt dàn dụa, biết bà chị này vốn nhiều tình cảm, hầu an ủi bà:

– Chị ơi! Chị hãy can đảm lên, giặc dữ đang ở trước mặt. Chị quá thương cảm như vậy thì e mất hết ý chí chiến đấu. Trong trận đánh Nam-giới vương chẳng từng dạy chúng em rằng: « Yêu nhau không phải là ngồi nhìn nhau, mà cùng nhau nhìn về một hướng ». Nay chúng em được chết cho xã tắc thì chính xã tắc là cái hướng của bọn em rồi!

Nguyên Tín-Nghĩa vương nhận lời Khất hòa thượng, chiếu cố đến Tây-hồ thất kiệt. Vì vậy bề ngoài vương phi đối với Tây-hồ thất kiệt là chị em, chứ thực sự phi nuôi, dậy bẩy người như con. Bây giờ thấy hầu sắp chết nằm đó, hỏi sao phi không thương tâm?

Hầu hỏi Mai-Thất:

– Sư tỷ! Sư tỷ có thể vực Phương-Dược lại bên đệ không?

Mai-Thất sẽ bồng Phương-Dược đặt bên hầu. Trong cơn mơ mơ, tỉnh tỉnh, Phương-Dược cất tiếng hát một bài hát bình dân diễn tả tình yêu của đôi lứa thiếu niên. Hầu gượng ngồi dậy, dựa lưng vào Lý Thất; hai tay hầu nắm lấy hai tay phu nhân, rồi nói trong cơn mê loạn:

– Phương-Dược! Em là một tiểu thư ôn nhu, văn nhã, đàn ngọt, hát hay... Thế mà em chịu làm vợ anh, một đứa trẻ mồ côi, vô sở bất chí; một đứa võ phu thô lỗ cộc cằn... Chỉ vì chúng ta cùng một chí hướng. Hôm nay, chúng ta được chết cho xã tắc, thế là chúng ta toại nguyện.

Nói dứt, hầu vung tay rút cái lao trên người phu nhân, rồi rút mũi tên trên ngực mình. Ngọc-Nam, Mai-Thất định cản, nhưng không kịp. Máu từ vết thương vọt ra ngoài; hầu vẫn nắm tay phu nhân, mắt hai người từ từ nhắm lại. Trên môi hầu nở một nụ cười.

Ghi chú,

Định-viễn đại tướng quân, Huệ-tâm hầu Ngô Ức là cháu năm đời vua Ngô Quyền (Quyền sinh Văn, Văn đinh Đức, Đức sinh Tuệ, Tuệ sinh Ức) tuẫn quốc năm 24 tuổi. Phu nhân Quách Phương-Dược là tiểu thư con của đại thần Kiểm-hiệu thái phó, Đồng-bình chương sự, Chính-đức hầu Quách Sĩ-An; tuẫn quốc cũng năm 24 tuổi.

Sau khi hết giặc, triều đình nghị công tâu lên, Linh-Nhân hoàng thái hậu phong cho hầu tước Định-viễn Lôi-thần đại vương. Phu nhân được phong Trang-duệ, Ninh-tĩnh quận chúa. Lại truyền phối thờ ở đền Kê-lạc cùng với tiên vương Ngô tiều.

Trải qua 918 năm thăng trầm của lịch sử với biết bao lớp sóng phế hưng, cho đến nay (1995) đền Kê-lạc vẫn còn tại xã Nghĩa-chế, huyện Tiên-lữ, tỉnh Hưng-yên. Nay là huyện Phù-tiên, tỉnh Hải-hưng. Độc giả muốn thâm cứu thêm về tiểu sử của ngài xin xem bài tựa NQSH quyển 1, mục 7.2.6.

Đâu đó vang lên ba tiếng chiêng lệnh, kị binh Tống dạt ra. Từ phía sau, một đội võ sĩ hơn trăm người mặc y phục đen, dẫn đầu bởi ba trung niên nam tử. Ba người này, một người mặc y phục trắng, một người mặc y phục đen, một người mặc y phục xanh. Ba người vọt ngựa tiến lên lên hàng đầu. Thiên-tử binh dương cung nhắm ba người buông tên. Ba người chỉ vung tay một cái, tên bị bay dạt ra, rồi nhấp nhô mấy lần đã tới đầu hàng kị binh Tống.

Người áo trắng lên tiếng:

– Ta muốn gặp hai tên lỏi con Hoằng-Chân, Chiêu-Văn!

Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương, hai vương phi Trinh-Dung, Ngọc-Nam lách mình lên trước hàng quân. Trung-Thành vương cung tay:

– Hậu bối Hoằng-Chân xin tham kiến Liêu-Đông tam anh. Dường như ba vị có đại danh là Nhất-Sư, Nhị-Hổ, Tam-Báo thì phải. Từ hơn mười năm nay, anh em tiểu bối ở mãi vùng cực Nam này, mà cũng nghe danh ba vị như sấm động bên tai. Hôm nay anh em tiểu bối mới được diện kiến ba vị. Thực là tam sinh hữu hạnh.

Người mặc quần áo trắng vỗ ngực:

– Ta chính là Nhất-Sư vương.

Y chỉ người mặc quần áo xanh, đen:

– Còn đây là Nhị-Hổ vương, Tam-Báo vương.

Tam-Báo vương hất hàm:

– Phải chăng mi là cháu gọi Trần Tự-An bằng ông nội? Khi ở Trung-nguyên ta nghe võ lâm xưng tụng bốn cha con Trần Tự là Trần Tự-An, Trần Thông-Mai, Trần Thanh-Mai, Trần Tự-Mai quá đáng. Nào là bác học đa năng, nào là vô địch thiên hạ. Lại còn cái tên U-bon vương Lê Văn gì đó, được tôn là võ lâm chí tôn miền Tây. Nực cười nhất là hai tên thầy chùa nhóc con Minh-Không, Đạo-Hạnh, chỉ học được ba cái múa mà cũng dám nhận cái chức thánh tăng mới thối. Cho nên khi lên đường ta đã đóng năm cái cũi để bắt hai tên Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Minh-Không, Đạo-Hạnh và Lê Văn giam vào đó, rồi đem đi khắp chiên hạ cho dân chúng coi chơi. Bây giờ gặp bọn bay đây, ta không thèm chấp. Nhưng bọn bay phải ra lệnh cho quân sĩ bỏ vũ khí đầu hàng, bằng không ta sẽ bắt bỏ cũi.

Vân-ma thượng tướng quân Nhu-Tâm hầu Trần Ninh nghe Tam-Báo phách lối quá, không chịu được, hầu phất tay một cái. Đội Thần-tiễn Long-biên hướng đội cao thủ Liêu-Đông buông tên. Bị bất ngờ, hơn nữa đội Thần-tiễn bắn tên bằng thép, mỗi lần bắn ba, bốn mũi vào ba bốn mục tiêu khác nhau. Đám đệ tử Liêu-Đông hét lên kinh hoàng dùng vũ khí gạt. Nhưng hơn năm chục tên bị tương, bị chết.

Liêu-Đông tam ma thét lên hô đệ tử xung vào trận Việt. Đệ tử Liêu-Đông đều là những cao thủ, nên chúng tiến tới đâu, quân Việt dạt ra đến đó. Căm hận Trần Ninh, Tam-Báo vọt người lên cao như cá phi lên khỏi mặt nước. Chỉ năm sáu lần, y đã đến trước hầu. Thấy chủ tướng lâm nguy, đội Thiền-tiễn Long-biên hướng Tam-Báo buông tên. Tam-Báo phẩy tay mấy cái, kình lực phát ra như bài dơn đảo hải đẩy tên bay ra xa. Y vung tay chụp cổ Trần Ninh, Ngọc-Hương rồi nhảy lùi lại ném hai người vào bụi cây. Trần Ninh vòng tay ra sau rút dao chủy thủ đâm Tam-Báo, nhưng chân khí trên người hầu cuốn cuộn phát ra, khi dao tới lưng Tam-Báo, thì kình lực không còn, con dao rơi xuống đất.

Vương phi Trinh-Dung đứng điều quân, thấy Trần Ninh, Ngọc-Hương bị bắt như hai con gà thì kinh hãi rụng rời. Phi nhìn sang phải thì Tạ Duy, Phương-Dược cũng bị Nhị-Hổ bắt trong trường hợp tương tự. Nhất-Sư đang phá vòng vây tiến lại phía vương phi Ngọc-Nam. Y ra chiêu ưng trảo chụp phi. Kinh hãi, Tín-Nghĩa vương phát chiêu Đông-hải lưu phong, rồi Phong-ba hợp bích đánh vào lưng y để cứu vương phi. Y biến trảo thành chưởng gạt chiêu của vương. Bình, bình, vương cảm thấy như trời long đất lở, tai phát ra những tiếng vo vo không ngừng, chân khí cuồn cuộn tuôn ra khỏi người. Tuy vậy, thấy Nhất-Sư lại chụp vương phi, vương nghiến răng phát chiêu Phong đáo sơn đầu đánh vào lưng y để cứu phi. Nào ngờ Nhất-Sư cười nhạt, không đỡ chưởng của vương, tay y chụp được vương phi. Chưởng của vương vừa tới lưng y, thì kình lực biến mất, tay vương như vỗ vào lưng y vậy. Y cười nhạt, tung vương với vương phi rơi cạnh vợ chồng Trần Ninh, Tạ Duy, như đặt xuống vậy.

Nhị-Hổ bị Trung-Thành vương chỉ huy đội Thần-tiễn Long-biên bao vây chặt như nêm, nên y không tiến tới chỗ vương được.

Vương Mẫn hô kị binh bỏ ngựa, theo đám đệ tử Liêu-Đông truy kích quân Việt. Nhìn vợ chồng Tín Nghĩa vương, Trần Ninh, Tạ Duy bị bắt, Trung-Thành lệnh cho đội Thần-tiễn Long-biên bảo vệ quanh mình thực chắc, rồi vương rút lên đỉnh núi đứng điều quân. Thấy kị binh bỏ ngựa, vương cười thầm:

– Tên Vương Mẫn ngu thực. Nếu kị binh ngồi trên mình ngựa, thì một tên có thể đánh bại mười Thiên-tử binh của ta. Nay chúng bỏ ngựa, thì một Thiên-tử binh của ta đó thể đánh bại năm kị binh. Chúng chỉ có sáu nghìn kị binh, sao địch nổi ba hiệu Đằng-hải, Hùng-lược, Vạn-iệp của ta?

Vương phất cờ cho Thiên-tử binh vừa đánh vừa lùi lên cao. Kị binh « đi bộ » ra sức đuổi theo. Thấy dường như phân nửa kị binh đã leo lên đồi, vương phất cờ. Thiên-tử binh reo lên một tiếng, quay lại phản công. Không đầy một khắc, bao nhiêu kị binh leo núi bị giết sạch.

Liêu-Đông Nhất ma Sư-vương thấy Thiên-tử binh tiến thoái nhịp nhàng, y kinh ngạc vô cùng vì rõ ràng các chúa tướng của ba hiệu Đằng-hải, Vạn-tiệp, Hùng-lược người bị giết, kẻ bị bắt, mà sao trận tuyến vẫn không vỡ? Y đưa mắt nhìn, thì ra bọn Lý Ngũ, Thất, Cửu đã kịp thời thay thế. Ba hiệu vây lấy thầy trò Liêu-Đông tam ma. Võ công bọn này cực kỳ cao thâm, mỗi chiêu chúng đánh ra, là một Thiên-tử binh ngã.

Vì đám kị binh leo núi bị giết sạch, nên số kị binh ở dưới chân chỉ còn phân nửa. Vương Mẫn cho dàn ra bao vây chân núi, reo hò yểm trợ cho Liêu-Đông tam ma. Tam-ma với đám đệ tử bị bao vây bởi hơn mười lớp Thiên-tử binh, nhưng chúng vẫn không nao núng. Lợi dụng chúng bị vây, vương phi Trinh-Dung cho quân vực Tín-Nghĩa vương, vương phi với vợ chồng Trần Ninh, Tạ Duy đưa lên đỉnh núi.

Phi hỏi Ngọc-Nam:

– Sao? Trong người thấy thế nào?

– Sức lực mất hết, đến dơ tay lên cũng không nổi.

Tín-Nghĩa vương nói với Trinh-Dung:

– Anh chị phải cẩn thận, đừng để chúng chạm vào người, e bị hóa mất công lực như bọn em.

Giữa lúc đó, một đội kị mã khoảng trên ba chục người từ xa phi đến như bay. Trên tay mỗi người cầm một cây đuốc. Đi trước đội kị mã là hai thiếu nữ cầm hai cây cờ lớn. Cây thứ nhất thiêu hình bông sen cạnh bông phong lan. Cây thứ nhì có hàng chữ « U-bon vương Lê ». Cạnh lá cờ là đôi nam nữ, tuy tuổi đã cao, nhưng nam thì như cây ngọc trước gió, nữ thì yểu điệu sắc nước hương trời.

Vương Mẫn thấy U-bon vương với công chúa Nong-Nụt xuất hiện thì chột dạ. Y dàn kị binh ra, rồi tiến tới trước trận hỏi:

– Phải chăng đại vương hiện là Thái-sư, thượng-phụ, Trấn-quốc đại nguyên súy, tước phong Hoa-sen đại vương (U-bon) vương của Chiêm-quốc?

– Đúng vậy.

– Từ trước đến giờ, Thiên-triều luôn trọng đãi Chiêm-vương, hàng năm đều sai sứ sang phủ dụ. Hà cớ vương gia với công chúa lại tới đây trợ giúp Giao-chỉ đánh lại quân Thiên-triều?

– Ta đánh quân Thiên-triều bao giờ? Ớ đâu?

Công chúa Nong-Nụt chất vấn Vương Mẫn: Chúng ta tới đây có truyện với Liêu-Đông tam anh, chứ không liên hệ gì tới chiến cuộc Tống-Việt cả.

Vương mỉm cười ôn tồn:

– Cô gia đang ở U-bon, được tin nguyên soái Quách Quỳ đem quân đánh Đại-Việt. Trong quân của Quách nguyên soái có Liêu-Đông tam anh. Tam-anh đóng năm cái cũi để bắt giam bốn đại sư Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Minh-Không, Đạo-Hạnh với cô gia. Vì vậy cô gia phải tìm Tam-anh để hỏi cho ra lẽ mà thôi. Mong tướng quân cho cô gia gặp Tam-anh.

Vương Mẫn quát lên một tiếng, trận kị binh mở ra một lối, y chỉ lên núi:

– Kia! Tam-anh đang ở trên núi. Xin vương gia lên đó mà lý luận.

Đội kị mã của U-bon vương phi thẳng tới chân núi, rồi bỏ ngựa leo dốc. Tới chỗ Trung-Thành vương đang chỉ huy đội Thần-tiễn Long-biên chiến đấu với thầy trò Liêu-Đông tam ma. Vương hú lên một tiếng rung chuyển rừng núi, khiến mọi người ù tai, ngừng chiến lùi lại. Vương hô:

– Tất cả ngừng tay.

Trung-Thành vương hú lên một tiếng, Thiên-tử binh lùi lại. Vương với vương phi hướng U-bon vương, vương phi hành lễ:

– Tham kiến sư thúc, sư thẩm.

Liêu-Đông tam ma thấy U-bon vương thì cười ha hả. Tam-Báo nói:

– Thiên đường có nẻo mi không đến, địa ngục không đường dẫn xác vào. Tể tướng Vương An-Thạch thân lên núi đem chiếu chỉ của Hy-Ninh đế mời chúng ta hạ sơn, bắt cho bằng được năm tên khâm phạm. Nên ta có đóng năm cái cũi để bắt mi với bốn tên sư ăn thịt chó mang về. Nhưng rất tiếc chưa gặp đứa nào cả. Bây giờ mi tự đến đây nộp mạng thì thực là điều ta cầu mong.

Trung-Thành vương đứng cạnh vương nói nhỏ:

– Sư thúc! Chiêu-Văn, Ngọc-Nam, Trần Ninh, Ngọc-Hương, Tạ Duy, Phương-Dược bị trúng độc công của chúng, mất hết công lực. Sư thúc mau bắt chúng để lấy thuốc giải.

U-bon vương Lê Văn vẫn nhỏ nhẹ:

– Thì ra thế. Cô gia ở bên Xiêm, nghe Tam-anh đóng cũi tìm bắt, cho rằng mình đã làm gì để Tam-anh không bằng lòng, nên về đây để giải thích, để xin lỗi. Bây giờ cô gia mới biết tam anh tuân mật chỉ của Hy-Ninh. Vậy thì chúng ta không có gì để nói nữa. Tam-anh là người Hán, vì Hy-Ninh đế mà sang đây, còn cô gia là người Việt, cũng vì Anh-vũ Chiêu-thắng hoàng đế mà về đây. Không biết trong Tam-anh, vị nào chỉ giáo cho cô gia?

Tam-Báo vỗ ngực:

– Ta muốn bắt mi bỏ vào cũi. Nhưng ta muốn trong khi người đấu với chúng ta, thì đám binh Việt không được bắn lén. Người có dám hứa không?

Trung-Thành vương hừ một tiếng, rồi nói:

– Ta hứa.

Tam-Báo vận công phát chiêu. Chiêu số của y cực kỳ ảo diệu, chưởng phong như có, như không. U-bon vương chuyển mình tránh khỏi. Tam-Báo lại phát chiêu thứ nhì, vương vẫn tránh. Đến chiêu thứ ba, vương mới trả lại bằng chiêu Thiên-vương trấn thiên. Ầm một tiếng, người Tam-Báo lảo đảo lùi lại ba bước liền mới đứng vững. Y ọe một tiếng, mửa hai hai búng máu. Trong khi U-bon vương thấy công lực của mình bị thoát ra không ngừng. Là đại tôn sư võ học, là đại y sư, vương tìm ngay ra nguyên tắc của bọn Liêu-Đông: Chúng dùng một số độc tố, mở toàn bộ hai kinh thái dương của địch thủ. Do đó chân khí địch thủ phát ra hết, không còn sức chống bệnh, rồi độc tố nhập tạng phủ mà thành tàn tật. Vương vội hít một hơi, rồi bế kinh thủ thái dương tiểu trường kinh, túc thái dương bàng quang kinh lại, chân khí ngừng thoát ra ngoài. Vương nghĩ thầm:

– Bản lĩnh hóa công của bọn Liêu-Đông thực không tầm thường. Hèn gì cứ mỗi chiêu, chúng lại hạ một tướng của mình. Ta cần dùng phương pháp dồn thuốc vào kinh mạch, bắt sống chúng rồi uy hiếp chúng trị cho người của mình.

Nghĩ vậy, vương thọc tay vào túi lấy mấy viên thuốc bóp bẹp ra rồi vung chưởng tấn công Tam-Báo. Tam-Táo đỡ được mười chiêu thì thở hồng hộc, Nhị-Hổ thấy vậy phát một chiêu đánh vào sau lưng vương cứu em. Công chúa Nong-Nụt mắng:

– Đồ mặt dầy! Hai người đánh một ư?

Công chúa phát chiêu Thiên-vương chưởng đánh vào lưng Nhị-Hổ để cứu vương. Nhị-Hổ thấy phía sau lưng mình bị một áp lực đè xuống, biết có người đánh trộm, y chuyển chưởng đánh vào hông công chúa. Hai chưởng gặp nhau phát ra tiếng bùng. Cánh tay Nhị-Hổ tê rần, trong khi công chúa cũng cảm thấy khí huyết đảo lộn, rồi chân khí ra đi, không trở về. Công chúa vội vận Thiên-vương mật dụ cố cơ, giữ chân khí lại.

Nhất-Sư thấy Tam-Báo đấu không lại Lê Văn, thì nghĩ được một kế, y sai đệ tử khiêng năm cái cũi dàn ra trước trận. Y chỉ vào một cái cũi có tấm gỗ viết chữ «Giao-chỉ lão cẩu Lê Văn » (Con chó già Giao-chỉ):

– Lê Văn, người chống không lại tam đệ của ta đâu, mau chui vào đây ngồi, thì chúng ta sẽ không hóa giải công lực người. Bằng không, khi công lực bị hóa giải, người sẽ như đứa trẻ sơ sinh, đi không nổi, ngồi không được. Còn con vợ người, tuy già, nhưng ta thấy còn ngon lắm, ta sẽ đem về thưởng thức cái món con gái Thái xem có gì lạ không?

Nhất-Sư tưởng với lời nói đó sẽ làm Lê Văn tức giận, chân khí chảy hỗn lọan, nhưng y nào ngờ vương luyện võ công Sài-sơn đến chỗ cao siêu tuyệt đỉnh, thì cách chế chỉ tâm thần đến chỗ «tâm bất hoặc». Y nói mặc y nói, vương hít hơi phát liền ba chiêu rồi dồn thuốc ra. Bình, bình, bình, Tam-Báo thản nhiên đỡ. Trong lòng y nghĩ thầm:

– Cho mi đánh ba chiêu này, rồi công lực mất hết.

Nhưng thình lình y cảm thấy khắp người ngứa ngáy cực kỳ khó chịu, chân tay mất hết lực. Lê Văn đánh một chiêu nữa, người y bay bổng lại phía sau, chui tọt vào trong cái cũi có chữ đề « Giao-chỉ lão cẩu Lê Văn ».

Vương quay lại: Công chúa vừa đánh ra chiêu Thiên-vương hồi thể. Nhị-Hổ cười nhạt, vung tay đỡ, binh một tiếng, công chủa lảo đảo lùi lại. Y cười nhạt:

– Mi trúng chiêu hóa công của ta, từ nay trở thành người tàn tật rồi.

Vương kinh hãi xẹt tới đỡ công chúa, rồi phát chiêu Lôi-đả Ân-tặc bằng tất cả bình sinh công lực. Nhất-Sư đứng ngoài thấy rằng nếu Nhị-Hổ mà đỡ chiêu đó, thì sẽ nát thây ra mà chết. Y hít hơi rồi hay tay để vào lưng Nhị-Hổ truyền công lực sang. Giữa lúc đó, Nhị-Hổ phát chiêu đỡ. Ầm một tiếng, hai anh em Nhất-Sư, Nhọ-Hổ bật tung trở lại, trong khi Lê Văn cũng lảo đảo.

Thình lình Nhị-Hổ kêu lên:

– Sư huynh! Sao mắt đệ không nhìn thấy gì cả?

U-bon vương hô lên một tiếng:

– Ngừng tay.

Vương chỉ vào Nhị-Hổ, Tam-Báo:

– Này Nhất-Sư! Bên ta có tới sáu người bị trúng hóa công chưởng của các vị. Ngược lại hai vị bị ta dồn thuốc vào kinh mạch, Nhất-Sư cùng đám cao đồ bị vây, e khó thoát. Vậy bây giờ chúng ta cùng ngừng chiến. Nhất-Sư trao thuốc giải cho ta để hầu trị sáu người. Còn ta, thì ta cũng sẽ trị cho hai người của Nhất-Sư. Không biết Nhất-Sư nghĩ sao?

– Được.

Nhất-Sư móc trong bọc ra một hộp thuốc, lấy sáu viên trao cho U-bon vương:

– Đây là thuốc giải. Sau khi uống vào một giờ thì khỏi.

Vương bóp một viên thuốc ra ngửi, rồi nếm thử; thấy đây là thứ thuốc không có độc tố. Vương trao thuốc cho Trinh-Dung. Trinh-Dung đem thuốc bỏ vào miệng Tín-Nghĩa vương, vương phi Ngọc-Nam, vợ chồng Trần Ninh, Tạ Duy.

U-bon vương để công chúa xuống rồi hỏi:

– Công chúa có sao không?

– Em dùng Thiên-vương mật dụ cố cơ, nên chỉ mất một ít chân khí mà thôi, chưa kiệt quệ.

Câu nói của công chúa, khiến vương tìm ra được một chân lý: Nội công của Phù-đổng thiên vương khắc chế với Hoá-công nhuyễn cân của phái Liêu-Đông.

U-bon vương Lê Văn tiến đến bên Nhị-Hổ, Tam-Báo, vương xòe bàn tay để lên huyệt Bách-hội rồi vận công. Bao nhiêu thuốc vương đẩy vào kinh mạch hai người từ từ được trục ra. Vương nói:

– Thôi, xin Tam-anh lui về trận Tống. Từ nay, giữa chúng ta bao nhiêu oán hờn đều xóa bỏ.

Nhị-Hổ, Tam-Báo hít hơi, vận công, thấy chân khí lưu thông bình thường, cả hai cung tay:

– Hẹn ngày tái ngộ.

Ba người cùng đám đệ tử lững thững xuống núi. Khi qua chỗ Trung-Thành vương, với vương phi đứng, thình lình Nhị-Hổ, Tam-Báo cùng phát chiêu đánh vào vương với vương phi. Thấy kình lực của chúng không lấy gì làm mạnh cho lắm, hai vị vung tay đỡ. Bộp một tiếng nhẹ nhàng. Chưa ai hiểu tại sao, thì Tam-ma cùng đám đệ tử đã lao xuống núi.

Trung-Thành vương hỏi U-bon vương:

– Sư thúc! Tại sao chúng lại phát chiêu nhẹ nhàng như vậy? Hay chúng kiệt lực rồi.

Nói đến đây, vương với vương phi thấy chân khí tuôn ra khỏi cơ thể ào ạt. Cả hai cố van khi giữ lại, nhưng càng vận khí, khí càng ra nhiều hơn. Hai vị lảo đảo ngã xuống. Lý Bát, Mai-Bát vội đỡ lại. Vương run lẩy bẩy:

– Sư thúc, chúng phóng độc vào người cháu.

Lê Văn kinh hãi, vương bắt mạch Trung-Thành vương với vương phi: Nội lực bị mất hết, mạch nhảy rất yếu. Vương nổi giận, lạng mình đuổi theo Liêu-Đông tam ma, thì vừa lúc đó có một đoàn kị mã Tống khoảng trăm người, người nào cũng to lớn, hùng tráng. Đội kị mã theo hộ tống hai người, một nam trang phục theo tước vị thế tử, một nữ trang phục theo tước vị quận chúa của Tống. Dẫn đầu đoàn kị mã là cây cờ lớn, có hàng chữ :

« Thái-sư tả tướng quốc, Kinh-Nam vương, khâm sứ ».

Một đô thống chỉ đoàn kị mã nói với Vương Mẫn:

– Hai người kia là con của Kinh-Nam vương với thái công chúa Huệ-Nhu. Thiếu niên là thế tử Vị-Hoàng. Còn người con gái là quận chúa Minh-Thúy. Trong cuộc chiến này, một bên là cố quốc Đại-Việt, một bên là Đại-Tống, nên vương với công chúa đứng ngoài. Tuy vậy bất cứ Đại-Việt cầm tù tướng sĩ nào của Tống, vương cũng xin lĩnh ra, đem về Thiên-trường phủ dụ, đợi một mai hết chiến tranh sẽ đưa về triều. Chúng ta không thể khiếm lễ với thế tử, quận chúa.

Vương Mẫn hành lễ quân cách:

– Tiểu tướng là Vũ-kị đại tướng quân Vương Mẫn, xin tham nhị vị điện hạ. Kìa tiểu quận chúa, mới có ba năm mà quận chúa đã lớn lên, đã... đã xinh đẹp thế này ư? Không biết đêm khuya, nhị vị điện hạ giá lâm có việc gì?

Minh-Thúy gò ngựa ra trước hàng quân, rồi mỉm cười:

– Vương tướng quân! Dù ở Đại-Việt xa cách ngàn trùng tôi cũng không quên tướng quân đâu. Mỗi khi cỡi ngựa, tôi lại nhớ ra rằng tướng quân đã dạy tôi thuật kị mã. Hôm Tết vừa rồi, tôi xin phép phụ vương mang quà đến nơi đóng quân tặng thưởng quân. Nhưng... nhưng từ hôm đó đến giờ, hai bên đánh nhau ghê quá, tôi không còn đường đi. Đêm nay nhân phụ vương sai huynh trưởng đi sứ, biết tướng quân thế nào cũng có mặt, nên tôi xin đi theo để đem quà biếu tướng quân đó.

Nói rồi nàng vẫy tay, hai võ sĩ bưng ra hai cái mâm lớn, hai võ sĩ khác khiêng ra chiếc vò (lu). Binh tướng Việt, Tống cùng bật lên tiếng « ồ » vì cái vò quá lớn. Trong mâm thứ nhất để một con lợn (heo) quay cực lớn, trong tư thế nằm sấp. Hai bên có hai con gà trống, mười con gà mái quay vàng ngậy. Mâm thứ nhì đựng toàn giò, chả, nem chất cao ngất.

Minh-Thúy chỉ vào vò:

– Gọi là chút quà mọn tặng Vương tướng quân. Trong này chứa đến nghìn cân rượu đậu nành, vừa thơm, vừa bổ.

Vương Mẫn cảm động:

– Đa tạ quận chúa.

Minh-Thúy phất tay một cái, nắp vò mở tung ra, mùi thơm tỏa một vùng rộng. Từ vương Mẫn tới đám kị binh Tống đều nuốt nước miếng ừng ực. Minh-Thúy chĩa tay phóng chỉ vào vò rượu, rượu vọt lên thành tia cao đến ba trượng. Nàng phát nhẹ một chưởng, tia rượu tan ra thành đám mưa bụi... thơm ngát. Nàng nói:

– Tôi quên mất không đem theo chung! Vậy phiền chư vị tướng quân mở bình nước ra để đựng rượu vậy!

Các tướng Tống cùng mở nắp bầu nước ra. Minh-Thúy lại phóng chỉ, rượu lại vọt thành vòi rót trúng vào bầu của Mẫn. Bầu vừa đầy, thì vòi rượu co lại, rồi tái vọt tới bầu của tướng khác. Binh tướng Tống vỗ tay hoan hô cách dùng chỉ lực rót rượu của Minh-Thúy. Họ chuyển bầu cho nhau, mỗi người « ực » một hơi.

Nhất-Sư vương la lớn lên:

– Coi chừng rượu có thuốc độc.

Một đô thống lắc đầu:

– Sư vương sao lại đem dạ tiểu nhân mà đo lòng người quân tử nhỉ. Kinh-Nam vương, thế tử, quận chúa muốn anh em tại hạ chết, thì người chỉ cần truyền một lệnh, anh em tại hạ sẽ tự tử ngay. Việc gì người phải đầu độc nhỉ?

Đám kị binh Tống vỗ tay hoan hô lời của viên đô thống. Anh em Tam-ma bị khinh khi, bị đem ra làm trò cười... cả ba sạm mặt lại.

Trong khi Minh-Thúy rót rượu, thì Vị-Hòang rút kiếm ra, ánh thép lóe lên như những tia chớp; con heo được chặt thành những miếng nhỏ bằng bàn tay; những con gà được chặt làm tám; những cây giò, cây nem được cắt nhỏ. Cắt thịt xong, Vị-Hoàng vung tay một cái, tất cả những miếng thịt, nem, giò đều bay tung lên cao rồi từ từ rơi xuống bàn tay tướng sĩ Tống, giống như cầm bỏ vào vậy.

Minh-Thúy thân bưng một bầu rượu, một mâm nhỏ đựng chim câu quay, cá chiên (rán), nem (chả giò) đến trước Liêu-Đông tam-ma:

– Xin mời Tam-vương xơi chút thổ sản Đại-Việt, gọi là lấy thảo!

Tam-Báo hỏi:

– Người nhân danh cha, hay nhân danh mẹ đến đây mời chúng ta?

Câu hỏi thô lỗ của Tam-Báo không làm Minh-Thúy giận, trái lại nàng cười:

– Tam-vương ơi! Tôi đến đây không do cha, cũng chẳng do mẹ, mà vì lòng tưởng nhớ đến chư vị tướng sĩ kị binh đã từng cùng cha mẹ tôi sống chết bên nhau ở Bắc-thùy, Tây-thùy; trước đây tôi từng quen biết họ.

Nàng chỉ Vương Mẫn:

– Nhất là Vương tướng quân, người là sư phụ dạy tôi khoa kị mã. Tôi nhớ nhung người, nên đến để tương kiến, thế thôi. Trong khi đến đây, tôi thấy Tam-vương là khách, tôi là chủ, nên mời Tam-vương cùng uống cho vui mà!

– Ta không thèm ăn uống những thứ này của cha con mi. Chỉ nay mai, chúng ta chiếm Thăng-long, thì tất cả những gì trên đất Giao-chỉ ta hưởng hết.

Nói rồi y phất tay, cái mâm nhỏ trên tay Minh-Thúy bay tung lên cao. Nhấp nhô một cái, Minh-Thúy đã bắt được cái mâm, nàng xuyên bên Đông, lách bên Tây, nào chim câu, nào giò, nào lại được hứng vào mâm, ngay ngắn như cũ.

Binh tướng Tống lại vỗ tay hoan hô.

Phó tướng của Vương Mẫn là Gia Quốc quát lên:

– Xin Tam-vương lịch sự một chút với quận chúa. Người không kể gì thân thể vàng ngọc mà mời Tam-vương. Tam-vương không nhận thì thôi, tại sao lại bất kính như thế?

– Ta cứ bất kính đấy! Người muốn giết ta chăng?

Thế tử Vị-Hoàng xua tay:

– Phụ-vương, vương mẫu nghe Liêu-Đông tam vương cùng chư đệ tử hiện diện tại đây. Người sợ rằng Tam-vương với sư thúc U-bon vương; đệ tử phái Sài-sơn với phái Liêu-Đông chém giết nhau, thì thù oán Hoa-Việt càng thêm chồng chất. Vì vậy người sai chúng tôi đến đây xin Lê sư thúc cho lĩnh Tứ-vương cùng chư đệ tử đem về Thiên-trường. Người cũng sai chúng tôi mang thuốc điều trị cho nhưng tướng sĩ Việt bị trúng Hóa-công nhuyễn cân. Không ngờ... không ngờ Tam-vương vẫn vô sự, thực là may mắn.

Nhất-Sư vương cười nhạt:

– May mắn cái gì? Thằng lỏi kia! Mi tưởng tên Lê Văn địch lại chúng ta ư? Chúng ta chỉ đánh có mấy chiêu, đã khiến cho con vợ của y với các tướng Nam-man trở thành tàn tật rồi.

Nhị-Hổ lắc đầu:

– Chúng ta sang đây là do lời mời của Hy-Ninh hoàng đế để bắt bốn tên thầy chùa ăn thịt chó với tên Lê Văn đóng cũi mang về cho ngài. Còn Kinh-Nam vương ư? Y là tên mọi Nam-man đã bị triều đình cách hết chức tước đuổi khỏi Trung-nguyên. Vợ y trước đây được phong là thái công chúa, đã phản lại Thiên-triều, phản họ Triệu, nên cũng bị xóa tên trong sổ Ngọc-điệp rồi. Thế mà vợ chồng y không tự biết thân phận, còn sai con trương cờ đến đây làm oai ư?

Suốt hơn bốn mươi năm, Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu gắn liền cuộc đời trên lưng ngựa trấn ngự biên cương, khi thì bình Tây-hạ, khi thì đuổi Liêu, giữ vững giang sơn Đại-Tống. Tất cả chư tướng Tống đều do vương đào tạo. Trong thời gian đó, vương với công chúa coi tướng sĩ như chân tay, coi binh lính như con cái. Cho nên đối với binh tướng Tống, họ kính trọng vương với công chúa như cha như mẹ. Bây giờ thình lình nghe Nhị-Hổ nhục mạ vương với công chúa, bất giác họ cùng quát lên:

– Câm cái mồm!

– Láo! Cắt lưỡi đi!

– Đồ vô luân.

Tam-Báo gầm lên:

– Các người cấm ta nói ư? Ta gọi Kinh-Nam vương là tên mọi Giao-chỉ, con Triệu Thuận-Tường (Nhũ danh công chúa Huệ-Nhu) là con điếm già đấy! Đứa nào có bản lĩnh, thì cứ bước ra đây, đa sẽ đập cho nát thây. Đã vậy ta rời khỏi đây, để mặc bọn bay cho bọn Giao-chỉ băm vằm ra.

Binh tướng đều lăm lăm vũ khí trong cái căm hận cùng cực. Vương Mẫn sẽ gật đầu một cái, kị binh Tống bao vây lấy Liêu-Đông tam ma với đám đệ tử.

Thế tử Vị-Hoàng xua tay:

– Không nên! Dù sao Liêu-Đông tam vương cũng vâng chỉ hoàng thượng tới đây trợ chiến với chúng ta. Tam vương muốn ở lại hay đi là tùy ý. Vạn vạn lần ta không thể để mất hòa khí với Tam-vương.

Binh tướng Tống, Liêu-Đông tam ma nghe lời Vị-Hoàng nói đều kinh ngạc không ít. Bởi chính tai họ nghe Tam-Hổ nhục mạ vương với công chúa, đến nỗi họ nổi nóng phải ra tay. Thế mà anh em Vị-Hoàng không có phản ứng gì, còn xin tha cho chúng.

Kị binh mở vòng vây ra, thầy trò Tam-ma nghênh ngang lên ngựa, đi về hướng Nam. Gia Quốc nói nhỏ với Vương Mẫn:

– Vị thế tử này tài đến đâu thì không biết, nhưng minh mẫn thì e hơn cả vương gia!

– ?!?!?!

– Nếu như vừa rồi thế tử nổi nóng, khiến chúng ta băm vằm Liêu-Đông tam ma ra thì ít nhất ta cũng thiệt hại khá nhiều nhân mạng. Trong khi miệng thế gian, bọn mặt dơi tai chuột lại dèm pha rằng vương sai con giết Tam-ma là khâm sứ của triều đình.

Giữa lúc đó thì có « pháo lệnh của Quách Quỳ » gọi Vương Mẫn về. Mẫn cùng chư tướng bái biệt thế tử Vị-Hoàng với quận chúa Minh-Thúy, rồi cho rút quân.

Tuy Trung-Thành, Tín-Nghĩa nhị vương, nhị vương phi, hai tướng Trần Ninh, Tạ Duy, hai phu nhân bị trúng Hóa-công nhuyễn cân nằm mê man; tuy Ngô Ức với phu nhân Phương Dược tuẫn quốc.. nhưng sau cuộc chiến chủ lực ba hiệu Đằng-hải, Vạn-tiệp, Hùng-lược vẫn còn nguyên. Ba cặp vợ chồng Lý Ngũ, Thất, Cửu thay thế cầm quân, trận thế Việt không hề bị rối loạn. Lý Ngũ cầm cờ phất lên, ba hiệu binh Đại-Việt cùng thúc trống đổ đồi truy kích.

Vương Mẫn vội cho dàn kị mã ra nghênh chiến, mà trong lòng y phát run:

– Đoàn kị binh vô địch của ta lúc đi có sáu nghìn, do xuất kỳ bất ý mà đoạt thắng lợi lúc đầu. Nay quân số chỉ còn một nửa, mà thế của địch còn nguyên. Làm sao bây giờ?

Minh-Thúy thúc ngựa vào giữa hai hàng quân, rồi nàng lên tiếng:

– Thôi! Thôi! Khổ quá! Ngừng đi thôi!

Nước mắt đầm đìa, nàng chỉ vào các thương binh Việt, Tống, xác tử sĩ nói với Vương Mẫn:

– Chết nhiều quá rồi! Chết tức tưởi, chết vô lý như thế này chưa đủ sao?

Vương Mẫn cung tay:

– Chính bên Đại-Việt định truy kích đấy chứ!

Minh-Thúy chắp tay xá Lý Ngũ:

– Sư huynh! Sư huynh nể mặt muội mà dừng quân lại được không?

Lý Ngũ đáp lễ:

– Dĩ nhiên là được.

Minh-Thúy bảo Vương Mẫn:

– Tướng quân cho thu nhặt hết xác tử sĩ đem về một thể.

Mai-Ngũ ra lệnh cho hiệu Long-đực giúp quân Tống thu nhặt tử thi đồng đội. Hơn khắc sau, kị binh Tống đã rút khỏi chân núi Nham-biền.

Bấy giờ anh em Vị-Hoàng mới lên đồi bái kiến U-bon vương. Cả hai thất kinh, khi thấy vương ngồi bên công chúa Nong-Nụt mặt mày ủ rũ. Cạnh vương, xác của Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương với hai vương phi. Xa hơn chút nữa là xác của Trần Ninh, Ngọc-Hương, Tạ Duy, Phương-Quế. Thế tử hỏi Lý Ngũ:

– Sự thể ra sao? Tại sao đến mười đại tướng đều tuẫn quốc thế này?

Ghi chú,

Vân-ma thượng tướng quân, Nhu-tâm hầu Trần Ninh tuẫn quốc năm 26 tuổi. Thiên-hương, Thuần-mẫn quận chúa Trần Ngọc-Hương tuẫn quốc năm 25 tuổi. Hết giặc, triều đình nghị công tâu lên, Linh-Nhân hoàng thái hậu truy phong cho ngài là Anh-duệ, Chiêu-thắng, Trung-liệt, Nguyệt-đức Long-vương, phu nhân được truy phong Trang-duệ, Thuần-mẫn, Thiên-hương công chúa. Truyền lập đền thờ. Trải qua 918 năm dài của lịch sử với biết bao nhiêu lớp sóng phế hưng, cho đến nay (1995) đền thờ của ngài vẫn còn tại hai xã Chân-hộ, Hộ-trung, huyện Yên-phong, tỉnh Bắc-ninh, nay là tỉnh Hà-Bắc.

Sinh thời, ngài là tướng trẻ nhất trong Long-biên ngũ hùng, có tài trị quân cực nghiêm, đánh đâu thắng đó, nên tiểu sử của ngài bị huyền thoại hóa đi rất nhiều. Độc giả muốn thâm cứu tiểu sử ngài, xin đọc thêm các tài liệu ghi trong phần 7.1.5 phần tựa NQSH quyển 1.

Ninh-viễn đại tướng quân, Dũng-tâm hầu Tạ Duy tuẫn quốc năm 24 tuổi. Phu nhân là Lý Phương-Quế, con gái của nhân vật danh tiếng bậc nhì triều vua Lý Nhân-tông, chỉ sau có Lý Thường-Kiệt, đó là Thái-phó, Thượng-trụ quốc, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên, tước Nam-quốc công; tuẫn quốc năm 24 tuổi. Hết giặc, triều đình nghị công tâu lên, Linh-Nhân hoàng thái hậu phong cho ngài là Ninh-viễn, Trung-chính đại vương. Phu nhân được phong Trang-hòa, Ninh-tĩnh công chúa. Truyền lập đền thờ. Trải bao thỏ lặn ác tà của 918 năm dài lịch sử, hiện nay (1995) đền thờ ngài vẫn còn tại xã Lưu-xá, huyện Hưng-nhân, nay là huyện Hưng-hà, tỉnh Thái-bình. Độc giả muốn thâm cứu thêm về tiểu sử ngài, xin đọc các tài liệu trong mục 7.2.7 bài tựa, NQSH quyển 1.

Trung-Thành vương Lý Hoằng-Chân tuẫn quốc năm 37 tuổi, vương phi Nguyễn-thị Trinh-Dung tuẫn quốc năm 32 tuổi. Tín-Nghĩa vương tuẫn quốc năm 35 tuổi, vương phi Lê Ngọc-Nam tuẫn quốc năm 31 tuổi. Trước khi tuẫn quốc, chức tước của chức tước nhị vương, nhị vương phi như sau:

Trung-Thành vương: Kiểm hiệu thái sư, Thượngtrụ quốc, Thượng-thư lệnh kiêm Trung-thư lệnh, Thăng-long tiết độ sứ, Tả kim-ngô đại tướng quân, quản Khu-mật viện.

Tín-Nghĩa vương: Kiểm-hiệu thái phó, Khai phủ nghị đồng tam tư, Võ-minh quân Tiết-độ sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Phụ-quốc đại tướng quân, Khu-mật viện sứ.

Còn sau khi tuẫn quốc, tôi đã tìm trong tất cả thư tịch, mộ chí, bia đá, gia phả Hoa-Việt cũng không biết nhị vương được truy phong những gì? Thực đáng tiếc.

Riêng hai vương phi, được truy phong như sau:

Vương phi Trung-Thành nhũ danh Nguyễn-thị Trinh-Dung được phong Minh-đức, Thạc-hòa, Chí-nhu công chúa.

Vương phi Tín-Nghĩa nhũ danh Lê Ngọc-Nam được phong Ninh-đức, Trang-duệ, Hiếu-khang công chúa.

Cả bốn vị đều được phối thờ ở thái miếu triều Lý, nên không có đền thờ riêng. Mãi sau này, niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 9 đời vua Lý Nhân-tông (DL. 1118, Mậu-Tuất) nhân nhị vương rất linh thiêng, thường hiển linh giúp dân; vua sai lập đền thờ ở trại Thủ-lệ phía Tây Thăng-long, nay là Linh-lang đại vương từ tức đền Voi-phục. Đền nằm trong quận Ba-đình, Hà-nội (gần công viên Thủ-lệ). Đây là một di tích lịch sử rất quan trọng, nhưng tiếc rằng lưu truyền bị tam sao thất bản. Ngoài ra dân chúng còn lập nhiều đền thớ khác nữa, cho đến nay, tôi còn tìm được đền Bồng-lai ở huyện Từ-liêm, Hà-nội và ở hai xã Đại-quan, Thuần-lễ.

Hẳn lúc dựng đền, vua có sai chép tiểu sử nhị vương đầy đủ. Nhưng trong các cuộc thăng trầm của lịch sử, phổ bị mất đến năm lần. Sau mỗi lần bị mất, dân chúng theo trí nhớ lưu truyền, chép lại, nên bị sai lạc quá nhiều. Lần mất thứ nhất tướng Mông-cổ Ngột-lương Hợp-thai chiếm Thăng-long đã thu cuốn phổ đem đốt (1257). Sau đó phổ được chép lại, rồi bị quân Mông-cổ của Thoát-Hoan thu đốt hai lần nữa (1283-1285). Lần thứ tư (1385) Chế Bồng-Nga đem quân đốt phá Thăng-long, y cho đốt phá đền để trả thù trước đây (1069) nhị vương đem quân đánh Đồ-bàn. Cuối cùng, năm 1407, Trương Phụ, Mộc Thạch sang đánh giặc Hồ Quý-Ly đã đem tất cả sử sách đốt đi, hoặc chở về Kim-lăng. Sau khi vua Lê Thái-tổ dành được độc lập, dân chúng theo trí nhớ chép lại lần nữa. Tính chung cuốn phổ tại đền Voi-phục phải viết lại năm lần, nên gần như sai hoàn toàn.

Thần tích Linh-Lang đại vương từ (tức đền Voi-phục) chép rằng thần là con thứ tư vua Lý Thánh-tông. Tương truyền bà phi họ Nguyễn đang tắm ở hồ Tây bỗng có con rồng thần hiện ra phun nước thơm vào mình, về nhà mang thai, 14 tháng sinh ra Linh-Lang. Khi Triệu Tiết sang đánh nước ta, Linh-Lang ứng ngĩa tòng quân giết giặc, sau đó về hóa ra con giao long lặn xuống hồ. Nhân đó vua sai lập đền thờ.

Điều vô lý là đền được xây vào niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ 7 (1065) đời vua Lý Thánh-tông, trong khi bên dưới chép rằng vương đánh nhau với Triệu Tiết (1077).

Ba tài liệu Việt chép về sự tích này là :

– Hoàn-long huyện chí,
– Bắc-kỳ giang sơn danh thắng cổ tích bị khảo,
– ĐNNTC ,

rất mơ hồ. Trong khi QTNC, TTCTGCK, TTCTBK, TS lại chép rất chi tiết.

Khi Linh-Nhân hoàng thái hậu băng hà. Nhiều nơi nhớ công đức của ngài, lập đền thờ như đã trình bầy trong NQSH quyển 1, mục 3. Tại các đền thờ ấy đều phối thờ sáu vị đương thời là phụ tá của ngài (Đã thuật trong NQSH quyển 4 hồi 39).

Nếu con dân Đại-Việt nào đọc những giòng này, mà còn tưởng nhớ đến huân công của hai vị công chúa, đi hành hương đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu, sẽ thấy: Tượng của sáu công chúa đều mặc áo mầu đỏ sẫm, áo choàng giống nhau, thêu hoa văn giống nhau, nẹp áo giống nhau, duy mầu áo choàng với khăn khác nhau mà thôi. Tượng của công chúa Trinh-Dung áo choàng, khăn mầu xanh. Tượng của công chúa Ngọc-Nam áo choàng, khăn mầu tía.

Lý Ngũ thuật sơ lược cuộc chiến kinh hồn táng đởm xẩy ra từ chiều đến giờ, rồi kết luận:

– Không ngờ bọn Liêu-Đông xảo trá, thay vì chúng trao thuốc giải, chúng lại trao thuốc độc. Nên tất cả... đều qua đời!

Vị-Hoàng xua tay:

– Sư huynh lầm rồi! Phàm người trúng Hóa-công nhuyễn cân, thì công lực mất hết, người mềm xèo như trẻ sơ sinh. Từ đấy mỗi ngày lên cơn ngứa ngáy đến nổi muốn sống không nổi, mà chết cũng không xong; không thuốc nào trị được.

Mai-Ngũ hỏi:

– Trường hợp người của phái Liêu-Đông bị trúng Hóa-công nhuyễn cân thì sao? Không lẽ họ cũng chịu chết?

Minh-Thúy tiếp lời anh:

– Đúng vậy. Cho nên họ mới chế ra loại thuốc mà người bình thường uống vào thì không sao, còn người bị trúng Hóa-công nhuyễn cân thì sau khi uống sẽ cảm thấy khoan khoái vô cùng, rồi chết như ngủ vậy. Họ đặt tên đó là thuốc giải thoát. Ban nãy Tam-ma đã trao thuốc này cho ta. Vì vậy... vì vậy...

Đến đây, Minh-Thúy phải ngừng kể, bởi từ phía trước, một đoàn người ngựa rầm rập tiến tới. Ngao-binh báo với Lý Ngũ:

– Có một đoàn ngựa, không người điều khiển đang tiến về đây. Xin Đô-thống định liệu.

Lý Ngũ ra lệnh cho một tá lĩnh đem mười viên võ sĩ ra xem xét sự thể. Chưa đầy một khắc, viên tá lĩnh dẫn đoàn ngựa đến báo cáo:

– Thưa Đô-thống, trên mỗi con ngựa có một đệ tử của Liêu-Đông đặt nằm ngang. Trên lưng ba con khác có ba cái cũi, mỗi cũi giam một trong Liêu-Đông tam ma.

Lê Văn, Vị-Hoàng, Minh-Thúy với vợ chồng Lý Ngũ cùng xuống núi quan sát: Rõ ràng ai đó dùng Hoá-công nhuyễn cân đánh bọn đệ tử Liêu-Đông khiến chúng mất hết công lực, người trở thành mềm xèo. Còn Liêu-Đông tam ma thì bị trói bằng xích sắt, giam trong cũi, miệng mỗi người ngậm một cái đùi chó luộc. Binh tướng Việt thấy vậy, đều bật lên tiếng reo:

– Mộc-tồn vọng thê bồ tát.

Lê Văn chỉ đám Liêu-Đông nói với Vị-Hoàng:

– Cháu mau đem đám này về cho bố cháu, để bố cháu phát lạc.

Vị-Hoàng, Minh-Thúy cùng đội võ sĩ lên ngựa giải đám tù Liêu-Đông đi.

Sau khi nghe Lê Văn kể, Mộc-tồn hòa thượng dở khóc, dở cười, ngài phân trần:

– Hà! Từ chiều đến giờ ta luôn ở cạnh hiệu Long-dực, đánh nhau với Tống mệt muốn bở hơi tai. Ta đâu có bắt bọn Liêu-Đông! Không biết ai đã ra tay rồi mạo tên ta?

Trần Bảo-Dân mỉm cười:

– Ai bảo chú mày oai quá Ngọc-hoàng thượng đế, dữ hơn Diêm-vương lão tử, nên « người » mới mượn danh, chứ có ai mượn danh ta đâu? Kể ra những « người » có bản lĩnh làm việc này cũng không nhiều. Cao nhất phải kể sư cụ Huệ-Sinh chưởng môn phái Tiêu-sơn. Nhưng cụ thành bồ tát rồi, chắc không thể đánh gần hai trăm người thành tật như vậy. Thứ đến con nhí Bình-Dương, cu lợn Thiệu-Thái, tiên bà Bảo-Hòa, nhưng ba đứa này đang đục nhau với Tống ở Như-nguyệt, Phú-lương... đâu có thời giờ làm việc này?

Công-chúa Nong-Nụt cau mày suy nghĩ:

– Hay hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh? À mà hai ngài cũng đang đại chiến ở Như-nguyệt. Khó quá !

Mai-Cửu là nữ đệ tử trẻ nhất của Mộc-tồn hòa thượng, cũng là đệ tử được ngài yêu thương nhất, thỏ thẻ:

– Sư phụ! Trong thế gian, người lớn gan bằng trời cũng không dám mượn danh sư phụ. Người mượn danh này, bản lĩnh thực phi thường, vì ông ta đã bắt sống được Liêu-Đông tam ma. Bắt sống Liêu-Đông tam ma đã khó, lại còn dùng Hoá-công nhuyễn cân bắt hết đám đệ tử của chúng thì e phải có nhiều người. Như vậy con nghĩ chỉ có... chỉ có...

Mộc-tồn hòa thượng tát yêu đệ tử:

– Thầy biết rồi! Thầy biết rồi! Con thực thông minh, thông minh hơn cả Quốc-mẫu Thanh-Mai, vua bà Bình-Dương.

U-bon vương là người có tài cầm quân nhất hiện diện. Vương ra lệnh:

– Bây giờ đã sang giờ Dần. Ta cho hai hiệu Vạn-tiệp, Hùng-lược xuống hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng ăn cơm, nghỉ dưỡng sức. Giờ Ngọ thì khởi hành tiến về Như-nguyệt để trợ cho đạo quân của tiên nương Bảo-Hòa, công chúa Thiên-Ninh. Việc tổng chỉ huy này, phi sư huynh Trung-Đạo không ai làm nổi.

Vương ra lệnh cho vợ chồng Lý Ngũ:

– Sau khi tiên nương Bảo-Hòa tái chiếm Như-nguyệt, vua bà Bình-Dương tái chiếm Phú-lương, ta đánh trận Nham-biền, thì Quách Quỳ không còn khả năng tiến công ta nữa. Vậy hai con đem hiệu Đằng-hải đóng đồn tại Bắc ngạn chiến lũy Phú-xuân làm thế ỷ dốc cho hiệu cho hiệu Thần-điện của vợ chồng Lý Bát.

Vương nói với Phu-Quốc, Bảo-Dân:

– Hai sư huynh lại về Phú-xuân với đệ chứ?

Bảo-Dân cười, vỗ vai Lê Văn:

– Tuân chỉ đại vương.

Vương hỏi Mộc-tồn, Viên-Chiếu:

– Nhị vị bồ tát chắc lại về ẩn ở trong quân Tống?

– Đúng thế.

Thấp thoáng một cái, hai ngài đã biến vào đêm tối.

Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ NĂM MƯƠI

Nghìn năm Yên-Dũng khí hạo nhiên



Tại chiến lũy Yên-dũng, Đại-Việt

Ngày 19 tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông nước Đại-Việt; bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Sau cuộc đổ bộ ngày 19 tháng giêng, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện, Qui-đức đại tướng quân Trần Di với phu nhân Phương-Lý tuẫn quốc. Toàn bộ hiệu Vũ-thắng hy sinh. Hai cặp vợ chồng Hùng Trí, Âu Lam; Hùng Tín, Âu Hồng tuân chỉ công chúa Động-Thiên phá vòng vây chạy về chiến lũy Yên-dũng báo hung tin cho Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan với phu nhân là Liên-hương Nhu-mẫn quận chúa Trần Ngọc-Liên vào buổi trưa ngày hôm đó.

Hầu kinh hãi, bàn với quận chúa và Lý Tứ, Mai-Tứ:

– Theo tin của tế tác gửi về, khi Quách Quỳ nghị kế, thì chỉ mặt Như-nguyệt là thực, còn hai mặt Phú-lương, Vạn-xuân là hư. Không ngờ giờ phút cuối cùng y đổi kế, lại nữa ta bị bất ngờ vì bọn thú binh hàng giặc, thành ra mặt Phú-lương ta bị thiệt hại nặng. Bây giờ Yên Đạt, Khúc Chẩn, đang đem đại binh vượt sông, chỉ nội ngày mai chúng sẽ đánh chiến lũy này. Vậy sư huynh, sư tỷ với phu nhân tính sao?

Lý Tứ bàn:

– Yên Đạt, Khúc Chẩn đã chiếm được chiến lũy Phú-lương, nhưng bị mất ba tướng Lôi Tự-Văn, Tống Đạo, Lữ Chân với hai hàng tướng Nùng Thịnh-Đức, Sầm Khánh-Tân. Tuy vậy tin mới nhất của Khu-mật viện cho biết bọn Trường-bạch song hùng với hơn trăm võ sĩ phái này hiện ở trong quân Tống. Về quân, vừa rồi chúng bị tổn thất năm vạn, nhưng vẫn còn ba vạn quân triều, năm vạn bảo binh, với sáu mươi chỉ huy tân-đằng-hải, cộng lại mười một vạn người. Chúng thừa sức tràn ngập chiến lũy này. Theo thuộc hạ nghĩ, mình phải gửi tấu chương về triều xin viện binh.

Hầu vội viết biểu gửi đi ngay.

Hơn giờ sau, chim ưng mang lệnh của Khu-mật viện, do nguyên soái Lý Thường-Kiệt ký báo cho biết:

« ... Đã khẩn cho hai hiệu binh Thiên-trường, Trường-yên lên đường. Hãy cố cầm cự. Sẽ có kế phá giặc ».

Được thư, Lý Đoan họp chư tướng loan báo. Mai-Tứ đề nghị:

– Viện binh có lên đường ngay, thì ít ra cũng phải ba ngày nữa mới tới. Vậy ta phải cố thủ trong chiến lũy hơn là giao chiến. Hiện Yên Đạt, Khúc Chẩn đang lo chôn cất, băng bó cho thương binh. Bây giờ trời đã về chiều chắc y chưa thể đánh ta ngay hôm nay (19-1). Lợi dụng chúng không phòng bị, đêm nay ta dùng Lôi-tiễn, thú binh đánh y một trận phủ đầu. Có như vậy, trong hai ngày y chưa thể đánh ta được. Trong thời gian đó, thì viện binh đã tới rồi.

– Được ta cứ đợi.

Hầu quyết định: Nếu như tối y không đánh ta, thì đêm nay ta đánh y.

Hầu nói với phu nhân:

– Yên Đạt nghĩ rằng phía sau y, ta không còn quân. Y đem hết binh hùng tướng mạnh vượt sông. Giả như ta có một đạo binh nhỏ đánh vào hậu cứ y, thì có thể đốt hết lương thảo của y. Như vậy y phải ngừng tiến quân, để chiếm lại hậu cứ.

Phu nhân mừng vô hạn:

– Ta viết thư cho vua bà Thiên-Thành, để người làm việc đó. Chỉ cần nghìn cảm tử quân với một đội thú binh là đủ rồi.

Hầu ngồi viết thư rồi sai chim ưng mang đi liền.

Trời chập choạng tối, thì chim ưng mang thư của công chúa Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long tới:

« ... Ta được lệnh của Khu-mật viện, đem một đại lực lượng đánh chiếm hậu cứ Yên Đạt cùng một lúc với thư cầu cứu của đệ. Yên tâm, ta sẽ cho quân lên đường vào sáng mai (20-1); sẽ đánh cướp hậu cứ chúng vào chiều mai, hay sáng ngày kia (21-1) ».

Đến đó, tế tác vào báo:

– Thưa quân hầu, Tống cũng có Ưng-binh tuần thám, thành ra tế tác ta không biết rõ tình hình ra sao?

Lý Đoan nhảy lên than:

– Nguy thực, cũng may ta chưa xuất quân cướp trại chúng, bằng không Ưng-binh, Ngao-binh của chúng báo động thì nguy thay!

Hầu với phu nhân tập hợp tướng sĩ giảng giải cho họ biết rõ tình hình, rồi kết luận:

– Dù biết sáng mai, hay có thể vài ngày nữa Tống mới đánh ta. Nhưng ta vẫn phải canh phòng cho thực cẩn thận.

Hầu ra lệnh:

– Chiến lũy của ta có ba mặt Tây, Bắc và Đông tiếp giáp với ruộng lúa. Địch sẽ tấn công bằng ba mặt này. Cả ba mặt ta đều có lũy tre dầy tới hai trượng bao bọc, chúng không thể phá mà vào được. Vì vậy chúng sẽ cố đánh chiếm ba cổng lớn. Ta cần trấn ba cửa này cho chắc là được.

Hầu đưa mắt nhìn Hùng Tín, Âu Hồng:

– Sư huynh, sư tỷ trấn mặt Tây. Mặt này đồng sâu, bùn nhiều, hào lại sâu, rộng. Chắc chúng sẽ cố tấn công bằng con đường vào lũy mà thôi.

Hầu nói với Hùng Trí, Âu Lam:

– Mặt Đông có con đường rộng chạy vào chiến lũy, ắt chúng sẽ cố đánh mặt này. Sư huynh, sư tỷ phải lợi dụng Lôi-tiễn, nỏ thần mà cản chúng.

Hầu nói với phu nhân:

– Mặt Bắc thông với bên ngoài bằng cả bãi đất rộng, chắc chắn chúng sẽ dồn hết nỗ lực tấn công. Vậy em với sư tỷ Mai-Tứ trấn tại đây. Còn anh với sư huynh Lý Tứ trấn tại trung ương, tiếp viện các nơi.

Hầu ghé miệng vào tai vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín:

– Nghe nói sư bà Mộc-tồn học được thuật bắn liên châu của Cao Cảnh-hầu thời Âu-lạc, người dốc túi truyền cho Thần-vũ thập anh. Có đúng thế không?

Âu Hồng lắc đầu:

– Sư phụ có truyền cho mười chúng tôi thực, nhưng ngộ tính của tám chúng tôi quá tối tăm, nên chỉ bắn mỗi lần được hai mũi tên. Duy sư huynh Hùng Trí, Hùng Tín là học được trọn vẹn, có thể bắn một lúc từ hai tới tám mũi vào những vị trí khác nhau.

– Hay lắm.

Hầu khen: Vậy lát nữa hai sư huynh sẽ làm như thế, như thế. Biết đâu chẳng giết được Yên Đạt, Khúc Chẩn.

Hùng Trí cực kỳ cao hứng:

– Tuân lệnh tướng quân.

Đêm đó hoàn toàn yên tĩnh.

Sang ngày 20 tháng giêng cho đến giờ Thìn vẫn không thấy Tống tấn công. Tin tế tác báo cho hầu biết:

« ...Yên Đạt, Khúc-Chẩn cho binh sĩ đẵn tre, bện cỏ làm lá chắn, loại lá chắn lớn đến tám người khiêng. Chúng dùng lá chắn kết thành xe, rồi cho trâu đi phía sau lá chắn đẩy xe. Quân thiết đột nấp sau xe mà tiến lên... »

Hầu nhảy phắt lên:

– Cái thằng Yên Đạt này khôn thực. Chúng biết rằng ta có nỏ thần lợi hại, chúng làm lá chắn để che phủ cho quân tiến lên. Như vậy ta chỉ có thể đánh cận chiến với chúng mà thôi.

Chợt nghĩ ra một kế, hầu nói với quận chúa:

– Từ đây về Siêu-loại không xa. Em mau lấy ngựa về làng bảo lý trưởng rằng có lệnh của anh, tập họp tất cả nam nữ mục đồng (trẻ chăn trâu) tuổi từ mười hai trở lên, tuyển lấy ba chục người, rồi đem đến đây. Nhớ dặn chúng mang theo ống sáo, tù và.

Quận chúa Trần Ngọc-Liên không biết chồng tuyển mục đồng làm gì, nhưng thấy dáng điệu vội vã khẩn cấp của hầu, bà không dám hỏi lại. Quận chúa tuyển năm nữ binh theo hầu, rồi lấy ngựa lên đường.

Đến giờ Mùi, hầu đang ngồi bàn luận với chư tướng, thì có tiếng trống ngũ liên báo động vọng vào. Hầu cùng chư tướng vội ra vị trí chiến đấu. Hướng mắt quan sát ba mặt Tây, Bắc, Đông, bất giác hầu nổi da gà lên: Quân Tống dàn trận thành ba lớp đang từ từ tiến sau một bức thành kết bằng lá chắn để trên các xe do trâu đẩy.

Lý Đoan chỉ vào hai người đứng trên mình trâu phía sau đội hình quân Tống, nói với Lý Tứ:

– Sư huynh nhìn xem kìa. Tên cỡi trâu bên trái là Yên Đạt, tên cỡi trâu bên phải là Khúc Chẩn. Hôm nay chúng ta phải một mất một còn với chúng đấy.

Lý Tứ hỏi Lý Đoan:

– Tướng quân! Tại sao quân của Yên Đạt tới mười một vạn, mà thuộc hạ thấy dường như chúng chỉ dùng chưa tới ba vạn tấn công ta?

– Sư huynh nên biết Yên Đạt là một tướng cầm quân kinh nghiệm. Sau trận Phú-lương, chỉ một hiệu Thiên-tử binh của ta, mà y phải hy sinh tới năm vạn người. Vì vậy lần này y tính toán cẩn thận. Với ba lớp quân thế kia, nếu đánh thực sự thì chỉ phá được hai lớp rào là đã chết hết rồi. Đây chắc là y thử hệ thống phóng thủ của ta đấy.

Hầu ra lệnh:

– Tuyệt đối không dùng Lôi-tiễn bắn vào đội hình lá chắn. Đợi chúng tới gần, rời bỏ lá chắn sẽ có biện pháp đánh chúng. Cần kiên nhẫn, không nên xuất hiện.

Quân Tống vẫn từ từ tiến theo sau đội hình xe trâu đẩy lá chắn. Trong chiến lũy im lặng, không một tiếng người, một tiếng thú. Trên trời đoàn Thần-ưng bay lượn thực đẹp, trong tư thế chờ đợi đánh xuống.

Bên ngoài, Yên Đạt nói với Khúc Chẩn:

– Vợ chồng thằng Lý Đoan chết hết rồi hay sao mà trong chiến lũy không một tiếng động, không một bóng người. Cả cờ xí cũng không?

Khúc Chẩn tỏ vẻ ngần ngại:

– Tôi nghe nói, trong Giao-chỉ ngũ kiêu, thì tên Đinh Hoàng-Nghi lắm mưu nhiều mẹo nhất. Tên Lý Đoan dùng binh hay nhất. Ta phải cẩn thận mới được.

– Tôi không sợ nó. Bởi nó chỉ có một hiệu binh, trong khi ta còn tới mười một vạn người ngựa.

Quân Tống vẫn tiến từ từ. Còn năm mươi trượng, rồi ba mươi, rồi hai mươi trượng. Trong chiến lũy vẫn im lìm. Từ đâu đó có tiếng kèn âm ỷ như tiếng ma quỷ gọi hồn vọng lại.

Khúc Chẩn càng lo lắng:

– Chẳng lẽ Lý Đoan dùng kế không thành? Y chưa phản ứng gì cả!

Trong chiến lũy vẫn im lìm.

Khúc Chẩn đánh ba tiếng lệnh. Quân Tống cùng hô lên một tiếng rồi tung mình ra khỏi lá chắn nhào xuống hào, xung phong. Nhưng hào sâu, lại đầy chông, lớp đầu tiên xuống hào dẵm phải chông kêu thét lên; lớp thứ hai cũng đã rời lá chắn, xung phong; lớp thứ ba vừa rời lá chắn. Cả ba đội hình quân Tống đồng reo hò tiến lên.

Trong chiến lũy vẫn im lìm.

Đến lượt Yên Đạt phập phồng lo sợ:

– Hay chúng bỏ chạy hết rồi? Không lẽ. Bọn Thiên-tử binh chỉ biết chết mà không biết lui kia mà?

Lớp đầu của quân Tống dẵm phải chông đã được lớp thứ ba lôi lên khỏi hào. Tiếng rên, tiếng la, tiếng gọi nhau ơi ới ngoài chiến lũy. Mà... trong chiến lũy vẫn im lìm.

Khúc Chẩn chửi tục:

– Tổ bà nó! Giả như trong chiến lũy không có quân Việt, mà quân mình bị thương đến mấy nghìn thế kia thì tức đến chết đi được!

Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan đứng trên một đài cao, hầu mở to mắt quan sát rất kỹ tình hình quân Tống, trên tay hầu cầm năm lá cờ năm mầu để ra lệnh. Cạnh hầu là đô thống Lý Tứ ứng trực trợ giúp. Vì chưa quen chiến trận, Lý Tứ thấy quân Tống lớp thì bị chông đang được đồng đội cấp cứu, lớp thì đang vượt hào, lớp thì bắt đầu chặt rào; thế mà Lý Đoan vẫn chưa phát lệnh phản công, khiến ông chịu không được, miệng nghiến răng ken két, tay bật lên như muốn phát chiêu. Nhưng vì giữa tình thế cực kỳ căng thẳng này, Lý Tứ không dám lên tiếng.

Lý Đoan chỉ cho Lý Tứ:

– Sư huynh xem kìa, chúng dùng toàn bảo binh với tân đằng hải. Chắc đây chỉ là cuộc tấn công thám thính. Đã vậy ta cũng không cần tiếp chiến. Ta để cho chông với đội Thần-long (rắn lục) làm thịt đám binh này là được rồi.

Hầu gọi quân chấp pháp tới ra lệnh:

– Truyền cho các đội Thần-long dàn rắn chuẩn bị cho rắn nằm sẵn trên các cành tre, cùng bờ ngoài lũy tre chờ lệnh.

Quân chấp pháp đi liền.

Ba lớp quân Tống lội lõm bõm hơn hai khắc (30 phút) mới đem hết thương binh ra ngoài. Số còn lại đã vượt qua hào, đang dùng đao chặt lũy tre.

Lý Đoan cầm cờ đen phất lên ba lần. Lập tức nỏ binh châm lửa, bắn lên trời ba trái Lôi-tiễn. Lôi-tiễn xé không gian vọt tới mây rồi phát nổ. Ba trái cầu lửa tỏa ra như ba cái nấm khổng lồ. Đó là lệnh cho Thần-long phản công. Nhưng cờ xí, chiến lũy vẫn chưa thấy dựng lên.

Quân Tống đang chặt lũy, thì từ trên những cành tre, trên những ngọn tre, trong những bụi tre, không biết bao nhiêu rắn rơi xuống đầu, cổ, mặt, chân tay. Những con rắn lục nhỏ như cái đũa rất nhanh nhẹn, sau khi đợp người này, lại phóng sang đợp người khác. Quân Tống vội buông đao bắt rắn, phủi rắn khỏi người, nhưng không ai bắt được con nào cả.

Yên Đạt, Khúc Chẩn thấy quân mình đang phá chiến lũy thình lình bỏ đao nhảy nhót, la hét, phủi phủi, đập đập... thì kinh ngạc không biết cái gì đã xẩy ra. Hai người thúc trâu tiến vào sát bờ hào hỏi:

– Cái gì vậy?

– Rắn! Quân sĩ bị rắn cắn,

Đâu đó trong chiến lũy có tiếng loa gọi ra:

– Cùng binh tướng Tống. Các người vừa bị những con rắn độc cắn. Nếu không có thuốc giải của ta thì trong hai giờ sẽ chết. Vậy các người mau bỏ vũ khí lùi lại, không được dùng sức. Nếu các người dùng sức, nọc độc sẽ chạy vào tim, chỉ trong hai khắc là chết. Nếu các người tuân lời ta, nội trong một giờ ta sẽ sai y sĩ đem thuốc giải cho các người. Ta, Hoài-hoá thượng tướng quân, Trực-tâm hầu Lý Đoan không bao giờ nói dối các người.

Trước đây, quân Tống đã chứng kiến tận mắt mấy nghìn đồng đội vì truy kích quân Việt trong lần quân Việt đột kích ở Bắc cương, rồi bị rắn cắn, lúc trở về trại chết rất thê thảm. Nghe tiếng loa gọi, như tìm được đường sống, chúng hò nhau quẳng vũ khí lùi lại.

Yên Đạt quát lên:

– Ai lùi một bước thì chém!

Y hô đội cận vệ chém mấy người để ngăn cản. Không ngờ đám binh tướng này hóa liều, chúng hò nhau đánh lại. Thoáng một cái đội cận vệ bị giết hết.

Trước sau, trong chiến lũy vẫn không thấy một bóng người.

Yên Đạt chưa biết giải quyết sao, thì bỗng con trâu của y hí lên inh ỏi rồi ngã lăn ra. Y tung người lên cao, đáp xuống lưng trâu của một cận vệ. Quay đầu nhìn lại: Bất giác y rùng mình, vì con trâu bị bốn con trăn quấn bốn chân. Giận cành hông, y rút kiếm nhảy xuống chém trăn; nhưng kiếm vừa vung lên, thì cả bốn con trăn đã vọt tới tấn công y. Kinh hãi, y nhảy lùi lại ba bước, rồi đáp lên lưng con trâu khác của viên cận vệ.

Thình lình, véo, véo, véo, ba mũi tên từ trong chiến lũy hướng người y. Kình lực tên quá mạnh, y không dám dùng tay bắt, mà rút kiếm gạt. Choang, choang, choang, ba mũi tên bị đổi chiều. Nghe tiếng kêu, Yên Đạt mới biết tên bằng thép. Y vừa thu kiếm về thì lại sáu mũi nữa hướng người y. Kinh hoảng, y tung mình lên cao, chín mũi khác lại bay tới. Đang chới với trên không, bị tới chín mũi tên một lúc; y hét lên be be cầm chắc cái chết trong tay, thì một người quần áo đen vọt tới như con đại bàng. Người này phất tay một cái làm thân Yên Đạt đổi chiều bay ra xa đến hai trượng. Y lộn một vòng rồi đáp xuống. Các mũi tên không trúng Yên Đạt, dư lực bay ra xa tới hai mươi trượng mới rơi xuống ruộng.

Thoát chết, Yên Đạt nhìn kẻ cứu mình xem là ai? Thì ra Trường-bạch nhất hùng. Y đưa mắt nhìn sang bên cạnh, Khúc Chẩn cũng gặp nguy như y và cũng được Trường-bạch nhị hùng cứu thoát.

Yên Đạt ra lệnh cho binh tướng lùi ra khỏi tầm tên. Y cung tay nói với Trường-bạch song hùng:

– Đa tạ nhị vị tiên sinh đã cứu mạng.

Trường-bạch nhị hùng cười nhạt:

– Từ khi anh em tại hạ ứng lời mời của Thiên-tử hạ sơn theo quân Nam chinh đến giờ, Quách nguyên soái bắt anh em tại hạ ẩn thân. Hôm nay là lần đầu tiên được xuất trận, được trổ một chút bản sự cứu nhị vị tướng quân.

Y nói trống không:

– Nghe nói cách đây nghìn năm, vào thời Âu-lạc bên Giao-chỉ, có một tướng tên Cao Nỗ đã chế ra Thần-nỏ bắn liên châu cùng phương pháp dùng nội lực bắn liên châu. Thần-nỏ thì quân Giao vẫn còn xử dụng. Nhưng phương pháp dùng nội lực bắn liên châu thì thất truyền. Không ngờ trong chiến lũy lại có tới hai cao thủ biết xử dụng thuật này. Phải cẩn thận lắm mới được.

Nhị hùng bàn:

– Anh em tại hạ thấy dường như trong chiến lũy không có quân đóng thì phải, bởi ban nãy binh tướng đã phá lũy, mà sao vẫn không thấy một tên quân Việt xuất hiện? Hay là anh em tại hạ thử cho mấy đệ tử vào thám thính xem sao?

Yên Đạt xua tay:

– Xin các vị đừng nóng nảy. Bởi trong chiến lũy này ẩn núp một hiệu Thiên-tử binh thiện chiến, gan dạ vô cùng tận. Chúng được chỉ huy bởi một tướng có tài dùng binh bậc nhất Đại-Việt. Sở dĩ y không cho quân xuất hiện là vì y muốn giữ sức người, mà trong binh pháp gọi là «Dĩ tật đãi lao» (Lấy khỏe đợi mệt). Vả cuộc tiến quân ban nãy của ta mới là cuộc thử sức phòng vệ của chúng mà thôi.

Yên Đạt cho triệu tập tất cả các tướng từ cấp chỉ huy sư trở lên, cùng Trường-bạch song hùng với hơn trăm đệ tử vào trong trướng để truyền lệnh. Y nói với chư tướng:

– Qua cuộc tiến quân thử sức phòng bị vừa rồi, chúng ta đã biết rất rõ hào sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu, lũy tre dầy mỏng thế nào. Ngày mai (21-1) ta tiến đánh.

Các tướng cùng im lặng chờ đợi. Yên Đạt khích lệ:

– Hoàng thượng đã ban chỉ rằng, trong bốn cánh quân Vạn-xuân, Như-nguyệt, Phú-lương và thủy quân; cánh nào tới Thăng-long trước, thì tất cả tướng sĩ đều được thăng lên bốn trật. Nay tôi nghe tin cánh Phú-lương thất bại. Cánh Như-nguyệt đã phá được phòng tuyến, nhưng Miêu Lý, Trương Thế-Cự thất bại ở Cổ-pháp, cánh thủy quân không có tin tức gì. Vậy ta phải mau chóng nhổ cái gai Yên Dũng, rồi tiến về Thăng-long.

Mặc dù mấy nghìn quân mới bị rắn cắn, chưa biết sống chết ra sao, nhưng chư tướng nghe lời Yên Đạt khích lệ, đều hồ hởi vô cùng tận. Yên Đạt tiếp:

– Hôm qua tôi cùng Khúc tướng quân đã nghị kế đánh Yên Dũng bằng ba đợt. Đợt đầu để dò sức phòng thủ. Nhưng không ngờ tên Lý Đoan quá giỏi thuật dụng binh, y không cho khai chiến, mà dùng chông, dùng hàng rào, dùng rắn làm bị thương hơn năm nghìn người. Trận này coi như ta thất bại.

Y trầm tư một lúc rồi tiếp:

– Ngay mai ta tấn công đợt hai.

Y cười tự đắc:

– Tên Lý Đoan thông minh, nhưng vẫn còn có chỗ ngu. Cái ngu đó là y ỷ vào hào sâu, lũy tre dầy mà quên mất rằng bây giờ là đầu Xuân, tre chưa mọc lá, lá khô dày đặc lẫn với những tre chết khô. Ta dùng hỏa công đốt lũy.

Chư tướng hoan hô.

Yên Đạt tiếp:

– Hôm qua tôi ra lệnh cho chư tướng sai quân vào các xã thu hết rơm rạ, bó thành bó lớn, lại bắt hết trâu của các vùng xung quanh, tổng cộng được gần hai nghìn con. Chư tướng có đặt câu hỏi rằng dùng rơm rạ , với trâu để làm gì? Tôi lắc đầu không trả lời. Hôm nay tôi xin nói rõ rằng ta dùng lá chắn che cho trâu; dùng trâu chở rơm rạ tiến trước, quân núp phía sau tiến tới hào. Tới nơi, quân nhảy ra dùng rơm lấp hào. Hào lấp rồi, châm lửa vào xe rơm, thúc trâu vượt qua hào. Như vậy hàng rào chiến lũy sẽ bị cháy. Khi hàng rào bốc lửa, ta cho quân lùi ra xa núp sau các lá chắn cỏ tươi. Hễ thấy quân Việt xuất hiện chữa cháy là bắn gục ngay. Như vậy ta chỉ cần vạn cung thủ ứng trực thức suốt đêm nay, còn quân thì cho nghỉ. Sáng mai trong khi quân Việt mệt nhừ, hào bị lấp, lũy bị cháy. Bấy giờ ta mới thực sự đánh vào.

Y nói với Khúc Chẩn:

– Trận đốt lũy này nhờ Khúc huynh tổng chỉ huy cho.

Khúc Chẩn đứng dậy nhận lệnh.

Yên Đạt cung tay nói với Trường-bạch song hùng:

– Trận đánh thứ nhì mới chỉ là trận lấp hào, đốt lũy, tiểu tướng chưa dám nhọc đến sức Hạng-vương của nhị vị tiên sinh. Nhưng trận ngày mai, nhất định tiểu tướng phải nhờ đến đại giá hai tiên sinh với chư vị đại hiệp.

Sáng hôm sau (21-1) giờ Thìn, Khúc Chẩn cho dàn ba mặt chiến lũy, mỗi mặt hai mươi chỉ huy tân đằng hải. Vì không phải là trận chiến, nên y dùng toàn quân tân đằng hải, mà không dùng chính binh; mục đích dưỡng sức chính binh cho trận then chốt hôm sau. Chẩn gọi ba đô thống chỉ huy ba mặt tiến công ra lệnh:

– Các người dàn quân làm ba lớp. Lớp thứ nhất có nhiệm vụ lấp hào. Mỗi mặt chiến lũy có năm trăm con trâu được che bởi những lá chắn, trên lưng chất đầy rơm rạ; phía sau mỗi trâu lại có hàng trăm quân vác rơm đi theo. Tới nơi, quân rời khỏi chỗ núp nhanh chóng lấy rơm rạ trên mình trâu ném xuống hào. Sau khi ném hết, thì khẩn trở lại núp sau lá chắn, bằng không sẽ bị tên bắn ra.

Y ngừng lại cho thuộc hạ theo dõi kịp, rồi tiếp:

– Lớp thứ nhì có nhiệm vụ đốt lũy tre. Lớp này đông người hơn. Mỗi binh phải mang theo hai bó rơm-rạ. Khi lớp thứ nhất lấp hào rồi, thì lớp thứ nhì phóng nhanh qua hào, chất rơm vào chân các lũy tre. Chất xong, châm lửa vào các bó cỏ trên xe, rồi thúc trâu vượt qua hào.

Y ra lệnh cho ba tá lãnh coi ba đội tiễn thủ:

– Lớp thứ ba là các tiễn thủ. Tiễn thủ đi sau hai lớp đầu. Khi thấy hai lớp đầu lấp hào, ném rơm-rạ xong; thì để bó rơm trên lưng xuống làm ụ che thân, rồi dùng tên châm lửa bắn vào đốt lũy tre. Nếu thấy quân Man chữa cháy, thì nhắm bắn, mục đích không cho chúng hành động.

Các đô thống, tá lãnh trở về họp quân ban lệnh. Hai khắc sau, quân Tống rầm rộ tiến về chiến lũy Yên Dũng. Nào trâu, nào quân dàn ra, rồi trống thúc rung động trời đất. Ba lớp quân từ từ tiến vào ba mặt chiến lũy.

Trong khi Yên Đạt hội chư tướng ở ngoài, thì trong chiến lũy Hoài-hóa thượng tướng quân, Trực-Tâm hầu Lý Đoan cũng hội chư tướng lại. Vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín, Lý Tứ hết sức khâm phục hầu. Hùng Trí chắp tay:

– Về vai vế, sư thúc Viên-Chiếu là bản sư của hầu; sáu chúng tôi là đệ tử của Mộc-tồn hòa thượng, cho nên hầu gọi chúng tôi là sư huynh sư tỷ. Nhưng trong quân ngũ, hầu là chúa tướng, chúng tôi là bộ thuộc. Qua trận đánh vừa rồi, quả thực chúng tôi sống cạnh hầu bấy lâu nay mà cũng không thể ngờ đến đường lối hành động mà hầu đưa ra. Rút cuộc ta chỉ bắn có ba mũi Lôi-tiễn, thổi mấy điệu sáo sai Thần-long, mà làm cho mấy nghìn binh Tống phải bỏ hàng ngũ, không biết bây giờ chúng sống chết ra sao?

Hầu nói mấy câu khiêm tốn rồi giảng giải:

– Yên Đạt, Khúc Chẩn là hai tướng thương yêu quân, nên chúng không dùng số đông người tràn ngập như Quách Qùy, Triệu Tiết. Vì tràn ngập như đã dùng ở Như-nguyệt, Phú-lương quân sẽ chết nhiều lắm, nên chi y dùng mưu. Y tung ra cuộc tấn công dò thám vừa rồi, nhưng bị thất bại. Chiều nay chắc chắn y sẽ tấn công nữa.

Nghe hầu luận, chư tướng kinh ngạc tự hỏi:

– Đã thất bại, sao Yên, Khúc lại tấn công nữa?

Nhưng họ biết kiến thức hầu bao la nên không dám lên tiếng. Hầu tiếp:

– Hôm qua tế tác báo cho biết quân Tống vào các xã Bắc ngạn, cũng như Nam ngạn Phú-lương bắt tất cả trâu, thu tất cả rơm rạ. Như vậy ắt chúng dùng trâu mang lá chắn như sáng nay, rồi cho quân núp sau để lấp hào, rồi đốt lũy. Lần này ta cho chúng thất bại nữa. Nhưng có điều sau lần này, Yên Đạt nóng lòng quá, ắt y dùng số đông tràn ngập. Bấy giờ viện binh của ta tới, phía sau chúng bị công chúa Thiên-Thành chặn đường về. Hà! Khi Quan-âm tới với ba hiệu binh Thiên-trường, Trường-yên, Phù-Đổng thì ta dư sức phá Yên Đạt.

Hầu nói nhỏ với chư tướng:

– Ta làm như vậy, như vậy.

Chư tướng cùng chắp tay bái phục hầu.

Đúng lúc đó quận chúa Trần Ngọc-Liên dẫn ba mươi mục đồng làng Siêu-loại về tới. Trong ba mươi đứa, có chín đứa là gái, còn hai mươi mốt đứa là trai. Trông đám trẻ đầu để trái đào, da đen bóng, mắt sáng long lanh, dáng dấp khỏe mạnh; hầu tưởng nhớ lại mười tám năm trước mình cùng với bốn người bạn Phạm Dật, Vũ Quang, Hoàng-Nghi, Trần Ninh sống với nhau ở chùa Báo-ân (Từ-quang), phá phách nổi tiếng. Bây giờ chúng còn nhỏ thể này, nào ai biết sau chúng cũng sẽ là đại tướng không chừng? Hầu truyền gọi chúng vào, cho ngồi, rồi hỏi:

– Các em có biết ta là ai không?

Một đứa có vẻ hiểu biết trả lời:

– Bẩm quân hầu, trong xã ai cũng biết năm vị quân hầu cả. Hầu được mang họ vua là họ Lý. Còn tên thì là Đoan; có phải không ạ?

Hầu xoa đầu nó:

– Em tên gì?

– Em là Hổ-đói.

Chư tướng đều bật cười.

– Em bao nhiêu tuổi?

– Dạ em tuổi Thìn.

Chư tướng lại một lần nữa bật cười.

Hầu tính đốt ngón tay rồi nói:

– Như vậy em mười ba tuổi phải không?

– Em không biết nữa. Mẹ em bảo em tuổi Giáp-Thìn, mệnh hỏa là con rồng lửa.

– Ta hỏi em nhé, ngày xưa trong làng mình có ba giáp, trong mỗi giáp mục đồng thường kết thành phe, thường gọi là Phe-nhất, Phe-nhì, Phe-ba. Không biết bây giờ những cái tên này có còn không?

– Bẩm không còn ạ. Năm trước quan đại đô đốc Lý Kế-Nguyên về làng chơi, ngài thấy bọn em tập trận lau như vua Đinh ngày xưa, nên đặt cho Phe-nhất cái tên Phe-hổ; Phe-nhì cái tên Phe-báo; Phe-ba cái tên Phe-gấu. Em là chủ tướng Phe-hổ.

Nó chỉ vào thiếu niên béo tròn béo trục:

– Còn cái thúng này là tướng Phe-báo. Nó có tên là Báo-mập.

Nó lại chỉ vào một đứa lùn tịt:

– Cái thằng lùn này là tướng Phe-gấu. Nó có tên là Gấu-lùn.

Hầu mỉm cười vui vẻ:

– Mười tám năm trước, chúng ta từng chăn trâu, tắm truồng, phá phách như các em, cho nên ta biết các em lắm. Hôm nay giặc Tống tới cướp nước, chúng đông quá, ta không địch nổi chúng. Thế nhưng, mấy vạn quân Tống đó mà các em ra tay thì chúng thua ngay!

Gấu-lùn kinh ngạc:

– Giỏi như quân hầu mà không đánh lại chúng. Trong khi bọn em lại ra tay mà thắng chúng ư? Chúng em đâu có tài thánh Gióng?

– Thế mới lạ chứ. Mỗi người có một tài riêng. Em có biết con mèo với con voi không? Theo em, thì con nào to, con nào khỏe?

– Dĩ nhiên là con voi to hơn, khỏe hơn.

– Thế khi bắt chuột thì voi giỏi hay mèo giỏi?

Gấu-lùn hiểu liền:

– À, em hiểu rồi, chắc có gì mà quân hầu không làm được, trong khi chúng em làm được phải không? Ví như chui vào trại giặc đốt lương chứ gì?

– Gần như thế!

Hầu gọi chúng lại gần giảng giải chi tiết những gì chúng sắp được trao cho. Giảng giải xong hầu hỏi phu nhân:

– Em cho chúng ăn chưa?

– Khi rời làng, cụ lý trưởng đã cho chúng ăn no rồi. Không cần ăn nữa đâu.

Hầu phì cười:

– Em ơi! Phàm con trai ở cái tuổi 12 đến mười bẩy, đứa nào cũng như đứa nào là ăn không bao giờ biết no. Em sai dọn cơm cho chúng ăn đi.

Phu nhân sai dọn cơm, thịt, cá cho đám trẻ ăn. Đám trẻ không ngượng ngập, chúng xới cơm, gắp thịt. Mỗi bát cơm, chúng chỉ và ba cái là hết. Thoáng một cái mỗi đứa ăn hết bẩy bát cơm. Phu nhân mở to đôi mắt ra chưa hết ngạc nhiên, thì hầu nói:

– Em đem xôi chè ra cho chúng ăn.

Phu nhân lại đem cho mỗi đứa một đĩa xôi, một bát chè. Hầu lắc đầu:

– Không đủ đâu em.

Phu nhân vừa lắc đấu vừa cười:

– Bộ các em là con thánh Gióng sao mà ăn hoài không biết no?

Sau khi mỗi đứa ăn hết hai đĩa xôi, hai bát chè, phu nhân mang chuối ra. Chúng vỗ bụng:

– No rồi! No rồi!

Nhưng mỗi đứa cũng bẻ hai ba quả chuối tiêu ăn rất ngon lành.

Hầu trao chúng cho phu nhân huấn luyện sơ sài cách núp, cách quan sát địch, rồi giảng giải nhiệm vụ của chúng:

– Tống bắt hết trâu của ta ở Bắc Phú-lương được nghìn rưởi con. Chúng làm phên che cho trâu, dùng trâu đẩy xe chất rơm rạ. Lát nữa đây quân Tống cho xe trâu đẩy xe rơm tới đốt chiến lũy của ta. Vậy các em có mưu gì đánh lại chúng không?

Báo-mập dơ tay lên nói:

– Nghĩa là giặc Tầu dùng trâu của mình đánh mình phải không?

– Đúng vậy!

Quận chúa Ngọc-Liên đáp: Cho nên chúng ta mới nhờ các đem giúp một tay, vì các em là tướng của trâu.

Gấu-lùn nhảy phắt lên:

– Bọn em biết tiếng trâu, có thể ra lệnh cho trâu. Liệu bọn Tàu có biết tiếng trâu không?

Hổ-đói cốc tay vào đầu Gấu-lùn:

– Mẹ kiếp, mày ngu bỏ bu đi í! Đến tiếng mình, bọn Tầu cũng đếch biết nữa là tiếng trâu.

Nó nói với Ngọc-Liên:

– Thế này, chị cho chúng em ra bờ chiến lũy, khi thấy trâu tới gần, bọn em lệnh cho trâu quay đầu lại húc chết con mẹ nó tụi Tầu cho bõ ghét.

– Các em có thể làm như thế được ư?

Quận chúa Ngọc-Liên hỏi: Ví thử khi trâu đẩy xe rơm tiến đến đốt chiến lũy, thì các em có thể bảo chúng quay ngược lại, đẩy xe lửa vào trận Tống được không?

Gấu-lùn đáp:

– Dễ ợt!

Lý Đoan gọi ba tá lãnh còn trẻ đến ra lệnh:

– Vậy thế này, ba đội của chúng ta chia trấn ba mặt. Mỗi đội được đặt dưới quyền chỉ huy của ba anh này, để tùy theo lệnh của ta mà chống giặc.

Mọi việc vừa hoàn tất, thì trống báo động thúc vang dội. Ba phe Hổ, Báo, Gấu được trao cho tá lãnh trấn ba mặt Tây, Bắc, Đông.

Phía ngoài chiến lũy, quân Tống chia làm ba lớp, thúc trống dàn hàng ngang tiến vào chiến lũy. Lớp đầu núp sau xe trâu, trên xe chất đầy rơm-rạ. Lớp thứ nhì khiêng lá chắn kết bằng cỏ tươi, lưng dắt đoản đao, vai vác rơm-rạ. Lớp thứ ba là các đội tiễn thủ, mỗi người đeo trên lưng một bó rơm-rạ.

Trống thúc, quân reo, xe trâu từ từ vượt qua cánh đồng lầy lội tiến đến hàng rào chiến lũy. Hai lớp sau cách lớp trước một tầm tên (30m) reo hò trợ oai.

Trong khi quân Tống reo hò, thúc trống rung động trời đất, các xe trâu chỉ còn cách hàng rào trăm trượng, mà trong chiến lũy vẫn im lìm.

Rồi hai mươi trượng... mười trượng.

Trong chiến lũy vẫn im lìm, không một bóng người, một tiếng thú.

Khúc Chẩn đánh ba tiếng lệnh. Xe trâu dừng lại. Quân Tống lớp đầu rời chỗ núp sau xe trâu vọt người lên ném các bó rơm-rạ xuống hào. Hào bị lấp mau chóng. Lớp thứ nhất lấp hào xong, lùi lại giữ các lá chẳn cho lớp thứ nhì. Lớp thứ nhì rời lá chắn, vác rơm-rạ vượt qua hào, ném vào chân chiến lũy, rồi lùi lại nấp sau xe trâu. Chúng đồng loạt đánh lửa châm vào những bó rơm-rạ chất trên xe. Lửa trên xe trâu bắt đầu bốc cháy.

Trong chiến lũy vẫn im lìm.

Đứng trên mình trâu quan sát quân mình hành sự, thành công quá dễ dàng, Khúc Chẩn sinh hoài nghi. Y nghĩ thầm:

– Không lẽ tên Lý Đoan đã dẫn quân trốn hết rồi hay sao mà y chưa có hành động gì?

Lửa trên các xe trâu bốc cháy to. Khúc Chẩn đích thân cầm dùi đánh ba tiếng chiêng. Đó là lệnh cho quân thúc trâu vượt qua hào.

Thình lình trong chiến lũy cùng vang lên tiếng tù và, rồi tiếng trẻ con gọi trâu nghé ọ! Nghé ô!... Toàn những ngôn ngữ mục đồng ra lệnh cho trâu. Đoàn trâu đang tiến vào chiến lũy, nghe tiếng tù và, tiếng gọi thì ngừng lại, chúng cùng nghểnh cổ lên lắng nghe; mặc cho quân Tống thúc dục, cầm roi quất lên lưng.

Trong chiến lũy lại vang ba hồi tù và kéo dài, âm thanh thực thê lương. Đoàn trâu nghe tiếng tù và, chúng rống lên, rồi hai chân trước giữ nguyên vị trí, hai chân sau bước ngang. Sau sáu bước chúng đã đẩy các xe đổi chiều: Trước thì quay đầu vào chiến lũy, bây giờ lại quay đầu trở ra. Quân Tống kinh hoảng, không dám thúc trâu nữa, vì nếu thúc, trâu sẽ xung vào trận mình, đốt quân mình. Trước phản ứng kỳ lạ của đoàn trâu, vô tình lưng chúng quay vào chiến lũy. Tên trong chiến lũy bắn ra vun vút, quân Tống bị trúng tên ngã lăn xuống mình trâu. Thoáng một cái đám quân núp sau phên trâu bị giết gần hết. Đám còn lại kinh hoảng nhảy khỏi xe, bỏ chạy về trận tuyến mình.

Lửa bốc cao trên các bó cỏ. Lại có tiếng tù và, tiếng trẻ gọi trâu. Một tiếng pháo nổ lớn, từ trong chiến lũy, ba đội Phe-hổ, Phe-báo, Phe-gấu được Thiên-tử binh hộ tống, chui ra khỏi chiến lũy. Chúng lội ruộng cực kỳ nhanh, thoát một cái, chúng đã cỡi trên lưng trâu, rồi thổi tù và, cất tiếng ra lệnh cho trâu. Đám Thiên-tử binh cũng nhảy lên lưng những con trâu còn lại. Đoàn trâu rống lên đẩy xe tiến về trận tuyến Tống. Hai lớp quân Tống núp sau những tấm phên bằng cỏ tươi thấy đoàn trâu hóa điên đẩy ra lửa quay ngược về trận mình thì kinh hoảng. Chúng bỏ phên tháo chạy. Nhưng sức người chạy dưới bùn sao bằng sức trâu? Chúng bị trâu đẩy xe chứa rơm-rạ cháy ngùn ngụt cán lên người, bị Thiên-tử binh bắn ngã la liệt trên cánh đồng đầy nước.

Thế là trận Tống bị vỡ.

Ghi chú,

Trận chiến này sau được chép trong gia phả họ Khúc như sau:

« ...Yên Đạt sai bắt trâu đẩy xe chất rơm-rạ kết thành trận đốt ải Yên-dũng, nhưng Yên không dám chỉ huy, mà giao cho tổ (Khúc Chẩn). Trong khi quan quân đang đốt ải, thì tướng Man là Lý Đoan dùng mục đồng sai trâu quay ngược lại đánh Thiên-binh. Trận bị vỡ. Tổ can đảm cùng đội võ sĩ cản hậu, chống với bầy trâu. Nhờ vậy, quân Thiên-binh mới không bị tan ».

TTCTGCK chép:

« Yên Đạt, Khúc Chẩn giết được phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên của Giao-chỉ ở Phú-lương, rồi đem quân vượt sông. Quân tới Yên-dũng thì bị tướng giặc là Lý Đoan với vợ là Trần Ngọc-Liên tử chiến chặn lại. Đạt lập ngưu-hỏa trận, sai Khúc Chẩn đốt ải Yên-dũng, nhưng bị tướng Giao Lý Đoan sai mục đồng ra lệnh cho trâu quay đầu lại, quân triều bị chết nhiều... »

Lý Đoan thấy trâu đuổi quân Tống rời khỏi chiến lũy đến hơn hai dặm, hầu đánh ba tiếng thanh la. Đội Thiên-tử binh vung đao lên cắt hết dây, trâu thoát khỏi ràng buộc vào xe. Ba đội Phe-hổ, Phe-báo, Phe-gấu lững thững đánh trâu quay về chiến lũy, chúng rút ống tiêu trong bọc ra, tấu khúc nhạc dân dã, âm điệu dìu dặt, đầm ấm.

Lý Đoan cùng phu nhân thân ra cổng đón ba đội Phe-bổ, Phe-báo, Phe-gấu cùng đội Thiên-tử binh dẫn gần hai nghìn con trâu chiến thắng trở về. Đúng là điếc không sợ sấm, bọn trẻ con lần đầu tiên ra trận đã chiến thắng ngay; chúng nào có biết những luật lệ trong quân? Miệng chúng bô bô kể cho nhau nghe chiến công của mình, rồi cãi nhau. Biết rằng không thể dùng uy quyền bắt chúng im lặng, quận chúa Trần Ngọc-Liên hỏi chúng:

– Các em đã đói chưa?

– Thưa chị đói lè lưỡi ra rồi!

Các em hãy ngừng tranh luận! Ăn đã. Có thực mới vực được đạo.

Đám trẻ rời trâu, bỏ kể truyện, chúng ăn như hổ, như báo. Đợi cho chúng ăn xong, Lý Đoan triệu tập tướng sĩ để bàn kế hoạch giữ chiến lũy. Hầu nói:

– Trận đầu, bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn dò dẫm thực lực, chướng ngại vật của ta. Trận thứ nhì, chúng định đốt chiến lũy, nhưng ta đã tương kế tựu kế, dùng đám mục đồng phá được. Nhưng thời gian không cho Yên Đạt chờ đợi lâu nữa, chắc chắn y sẽ đánh ta ngay chiều nay. Trong khi viện quân chưa tới. Vậy chư tướng có ý kiến gì?

Lý Tứ đề nghị:

– Thuộc hạ nghe Hổ-đói nói, chúng có thể sai trâu làm tới 36 việc khác nhau. Vậy ngay bây giờ ta cho trưng dụng tất cả trâu quanh vùng này, với gần hai nghìn con trâu bắt được rồi buộc dao vào sừng, buộc dáo vào vai. Đợi khi quân Tống tiến đánh chiến lũy, đang băng qua đồng lầy thì tung trâu ra đánh một trận. Như vậy may ra cản được bước tiến của chúng trong vòng một ngày. Bấy giờ thì viện binh tới rồi.

Hầu không đồng ý:

– Không được. Khi đệ cho Ngọc-Liên về Siêu-loại mượn đám trẻ này, đã hứa rằng chỉ nhờ chúng trợ giúp một trận rồi trả về. Ta không thể dùng chúng như binh lính được. Ta phải giữ chữ tín.

Một đứa nữ mục đồng tuổi khoảng mười ba, mười bốn xua tay:

– Bọn em không về đâu! Bọn em ở lại giúp quân hầu đánh giặc.

Bọn trẻ nhao nhao lên. Hổ-đói nói lớn:

– Nhất định không về. Cọn em xin ở lại đánh giặc.

Hầu ra lệnh cho bọn trẻ im lặng:

– Nhưng ta đã hứa với làng rồi, ta không thể nuốt lời.

Một đứa con gái khác thỏ thẻ, nói như nũng nịu với cha, mẹ, tay nắm lấy vai phu nhân:

– Chị Ngọc-Liên, chị có thương bọn em không? Nếu chị thương bọn em, thì cho bọn em ở lại đánh nhau với Tống « cho vui ». Nếu cần chết để giữ nước, thì cả làng ta có chết cũng cứ được đi huống hồ bọn em. Bọn em không về đâu.

Hầu vẫn lắc đầu.

Gấu-lùn hỏi các bạn:

– Có đứa nào muốn về không?

Lập tức cả bọn nhao nhao lên:

– Không về! Không về!

– Ở lại đánh giặc!

– Giết cũng không về!

Quận chúa Trần Ngọc-Liên đề nghị:

– Các em nó đã quyết chiến, ta chẳng nên làm phụ lòng chúng. Hầu có nhớ hồi đánh trận Đồ-bàn không? Chúng ta chả từng bướng với Trung-Tàhnh vương, xin tử chiến đó sao? Tuổi trẻ yêu nước nhiệt thành, đó là lẽ thường của con cháu thánh Gióng.

Lý Đoan đành chấp thuận. Nhưng đi trưng dụng trâu các làng xung quanh e không kịp. Hầu trao ba đội mục đồng cho ba tá lãnh để buộc dao vào sừng, cột dáo vào cổ, rồi luyện tập. Không ngờ bọn trẻ dùng trâu bầy trận đã quen, nên khi khởi sự, chúng dàn trâu cho xung phong, đánh sang phải, đánh sang trái rất nhịp nhàng.

Mọi sự cụ bị, thì đã sang giờ Mùi. Ưng binh vào trình cho hầu một phong thư. Hầu mở ra coi, thì ta lệnh của vua bà Bình-Dương:

« Công chúa Thiên-Thành, phò mã Thân Cảnh-Long đã đi đường thượng đạo đánh úp lại được ải Đâu-đỉnh. Đêm nay sẽ tràn xuống Phú-lương đánh chiếm hậu cứ của Yên-Đạt. Ta với phò mã đem hiệu Trường-yên tiếp viện cho Yên-dũng. Còn hiệu Thiên-trường đánh vào ngang hông phải Yên Đạt. Hà Mai-Việt đem kị binh đánh vào hông trái chúng. Khi thấy ba đạo viện binh tấn công, giặc bỏ chạy thì mở cửa chiến lũy truy kích chúng ».

Hầu đọc đem lệnh đó đọc cho chư tướng nghe. Lệnh vừa đọc xong, thì trống ngũ liên đánh rung động chiến lũy. Quân thám sát báo:

– Giặc tổng tấn công.

Hầu cùng chư tướng ra vị trí chiến đấu. Leo lên đài chỉ huy, hầu phát rùng mình, vì quân Tống hàng hàng lớp lớp đang núp sau các phên cỏ tươi dàn trận tiến tới chiến lũy. Lý Tứ ớn da gà:

– Chúng dùng toàn lực đánh xả láng đây.

Lý Đoan cầm dùi đánh ba tiếng lệnh. Nỏ binh bắn lên trời ba trái Lôi-tiễn. Lôi tiễn nổ ba tiếng như sấm động trên không, lập tức trong chiến lũy cờ xí đồng loạt dựng lên, rồi trống thúc, quân reo, thú gầm. Hầu nói với Lý Tứ:

– Hai lần trước ta giữ im lặng để gây hoang mang cho giặc. Trái lại lần này ta lại ra mặt, khiến chúng hoang mang nữa. Đó là phép dùng binh của công chúa Thánh-Thiên, ta luôn chủ động trên chiến trường.

Quân Tống đã vào sát chiến lũy, chúng rời lá chắn lao mình qua hào, ném rơm vào chân các lũy tre. Quân Việt chỉ chờ có thế, lập tức buông tên. Lớp xung phong đầu tiên của quân Tống bị thất bại, có người chết ngay cạnh lá chắn, có người chết bên hào, có người chết ngay ở chân bụi tre.

Khúc Chẩn lại đánh ba tiếng lệnh, quân Tống từ lớp thứ nhì ôm rơm-rạ xung phong, lần này phân nửa những bó rơm-rạ được ném vào chân lũy tre, nhưng quân Tống lại bị tên bắn chết hết.

Quân chết mặc quân chết. Khúc Chẩn cho lớp thứ ba xung phong, lớp này vừa rời khỏi lá chắn, ném rơm-rạ vào chân lũy tre, thì phía sau, tiễn thủ Tống đốt lửa châm vào đầu mũi tên tẩm dầu bắn tới. Những bó rơm-rạ bốc cháy ngùn ngụt. Đội tiễn thủ Tống dàn hàng núp sau các bó rơm, tay ghìm cung tên sẵn, hễ thấy quân Việt nhô ra cứu hỏa là bắn.

Trong chiến lũy phát ba tiếng pháo. Cổng chiến lũy mở rộng.

Ngay mặt tiền chiến lũy là bãi đất rộng, đội hổ xông ra bên trái, đội báo xông ra bên phải, đội voi đông ra chính giữa, phía sau là các xe chở nỏ thần. Hổ, báo, voi vừa ra khỏi chiến lũy đã chọc thủng phòng tuyến Tống. Quân Tống can đảm đứng lại dàn trận chống với hổ, báo, voi, thì phía sau nỏ liên châu bắn tới từng loạt, từng loạt. Quân Tống ngã lổng chổng.

Mặt này đích thân Yên Đạt chỉ huy. Y thấy tiền quân bị vỡ thì cho đội thiết đột tiến lên. Đội thiết đột tay cầm thuẫn che thân, tay cầm đoản đao lao vào trận chống với thú binh. Cuộc chiến đang diễn ra kốc liệt, thì tế tác hơ hải báo với y:

– Thưa tướng quân, quân Giao từ Bắc cương âm thầm tiến về đánh úp mất ải Đâu-đỉnh. Thế là ta tuyệt đường tải lương, đường rút quân.

Yên Đạt kinh hoàng hỏi:

– Quân Giao đánh Đâu-đỉnh là đạo quân nào?

– Thưa của Thân Cảnh-Long với Thiên-Thành.

Mặc dầu hung tin đến, nhưng thế không lùi được, Yên Đạt vẫn bình tĩnh nói với chư tướng:

– Phía trước là chiến lũy kiên cố, phía sau hậu cứ bị chiếm, không có đường lui. Ta lâm thế tiền hậu thọ địch mất rồi. Nếu ta rút về chiếm lại hậu cứ, ắt bị tên Lý Đoan truy kích khó mà vượt sông được. Vậy thì bằng mọi giá, ta phải diệt tên Lý Đoan, rồi mới có thể lui quân.

Y ra lệnh cho Khúc Chẩn:

– Khúc huynh đem mấy đạo binh thiện chiến khẩn trở về chiếm lấy đầu cầu Bắc ngạn, bảo vệ phù kiều. Tôi sẽ phá chiến lũy Yên-dũng rồi chúng ta cùng đánh chiếm lại con đường rút về Lạng-châu.

Y nói với Trường-bạch song hùng:

– Xin nhị vị tiên sinh với quý cao đồ thanh toán dùm đám tướng giặc chỉ huy nỏ thần với thú binh. Sau đó đột nhập chiến lũy giết chết bọn tướng Giao-chỉ mở đường cho thiết đột đánh vào. Sau khi diệt Yên-dũng ta mới rút lui an toàn.

Trường-bạch song hùng lùi lại dặn dò đám đệ tử mấy câu, rồi chia trên hai trăm người làm bốn đội, tiến lên hàng đầu. Sau một tiếng quát của Nhất– hùng, bốn đội cao thủ tay múa đao gạt tên tiến lên. Thoáng một cái đám này đã nhập vào trận Việt. Mỗi đao vung lên là một hổ, một báo hay một voi bị giết.

Đứng trên voi chỉ huy, quận chúa Trần Ngọc-Liên thấy ngay cái nguy cơ của quân mình, bà ra lệnh cho đội tiễn thủ tiến lên nhắm vào đám cao thủ buông tên. Bị bất ngờ, hơn hai mươi cao thủ Trường-bạch bị bắn ngã. Trường-bạch song hùng quát lên một tiếng lớn, hai người nhấp nhô mấy cái đã vượt qua đội thú binh, đội nỏ binh tiến tới trước voi của quận chúa. Đội cận vệ chùa Báo-ân bao vây lấy hai người bảo vệ chúa tướng. Nhất hùng chỉ đánh hai chiêu, khiến Mai-Tứ phun máu miệng. Y tung mình lên dùng một thế ưng trảo chụp Ngọc-Liên. Bà kinh hãi đưa kiếm chặt tay y. Y búng tay một cái, kiếm củ bà gẫy làm năm sáu mảnh, tiếp theo y dánh xuống người bà một chưởng. Bà nghiến răng đỡ, bình một tiếng người bà bay tung xuống khỏi mình voi. Đám nữ võ sĩ cận vệ ôm lấy bà chạy về chiến lũy. Nhị hùng quay lại cùng các đệ tử thanh toán đám hổ tướng, báo tướng, nỏ tướng.

Trong chiến lũy, Lý Đoan đã thấy cái nguy của tiền quân mình, hầu cho phát hai tiếng pháo. Đội nỏ thần bắn hai loạt liền rồi tiền đội đổi làm hậu đội, vừa bắn yểm trợ cho đội thú vừa rút lui. Hai đội tiễn thủ hơn ba mươi người cùng dương cung hướng Trường-bạch song hùng buông tên. Hai người vọt mình lên cao tránh tên. Lập tức đội tiễn thủ khác hướng lên trời bắn theo. Tuy chới với trên không, nhưng Song-hùng không coi đám tên này ra gì, hai người phất tay một cái, khiến bao nhiêu tên bay dạt ra xung quanh. Nhưng khi hai người rơi xuống, thì vệ sĩ đã vực quận chúa Ngọc-Liên lùi đến cổng chiến lũy. Thú, nỏ thần từ từ vào trong chiến lũy. Cổng đóng lại.

Trên bãi đất bên ngoài chiến lũy, xác quân Tống lẫn xác thú trải trên một vùng dài.

Yên Đạt hô quân đuổi theo. Quân Tống hàng hàng, lớp lớp reo hò tiến vào chiến lũy. Thiên-tử binh từ trong bắn ra ào ạt.

Trường-bạch song hùng cùng đám đệ tử xung lên hàng đầu. Chỉ nhấp nhô mấy cái, thầy trò đã tới hàng rào rồi tung mình lên cao, đáp trên cổng. Tên trong chiến lũy bắn mặc tên bắn, hai người vung tay gạt tên, rồi nhảy vào trong. Còn ở trên cao, hai người phóng chưởng đánh vào đội tiễn thủ. Sáu Thiên-tử binh bị bay tung lên cao, tan xương nát thịt chết tại chỗ. Hai người đánh liền mười chưởng, đội tiễn thủ trấn ở cổng Bắc hoàn toàn bị tan rã. Đám đệ tử Trường-bạch nhảy xuống chém then mở cổng. Quân Tống reo hò ào tràn vào như nước vỡ bờ.

Trong chiến lũy vang lên những tiếng « nghé ọ, nghé ọ! » rồi tiếng tù và. Một đoàn trâu sừng buộc dao nhọn, lưng buộc dáo dài hùng hổ húc vào đội hình quân Tống. Đám quân này kinh hoảng, vừa chống trả vừa lui. Sau hơn mười bước, quân Tống bị đẩy bật ra khỏi chiến lũy.

Đám Trường-bạch đã tiến sâu vào trong chiến lũy, khi nhìn lại thì phía sau họ quân Tống bị đánh bật ra ngoài, còn họ thì bị vây bởi bầy trâu. Đám trâu rống lên xung vào húc túi bụi. Bị bất ngờ, hơn mười cao thủ Trường-bạch bị trâu húc trọng thương.

Trường-bạch song hùng quay trở lại phía sau mở vòng vây cho quân Tống vào chiến lũy. Song hùng vung chưởng lên, mỗi chiêu một trâu bị hạ. Nhưng đám trâu lì như « trâu », ngu như « trâu », con này chết, con khác lăn vào. Song hùng đảo mắt tìm tướng chỉ huy trâu, mà tuyệt không thấy. Đâu đó vang lên tiếng « nghé ọ! nghé ơ!» cùng tiếng tù và.

Trường-bạch song hùng là những cao thủ bậc nhất Trung-nguyên, nhưng bây giờ bị vây bởi bầy trâu điên, giết chết con này, con khác lao tới. Hai người cố công tìm, chưởng tung ra, mỗi chiêu một trâu ngã, mà không thấy người chỉ huy. Chợt để ý thấy tiếng tù và phát ra từ ngọn cây soan gần đó. Hai người nhìn lên, thì chỉ thấy một đứa con gái tuổi khoảng mười hai mười ba đang đứng chỉ huy.

Trong lòng Song-hùng nảy ra một niềm khâm phục, hai người than thầm:

– Khi khởi hành mình cứ chê triều đình rằng với cái xứ thấp nhiệt nhỏ bé này, việc gì phải sai Quách Quỳ mang quân nghiêng nước sang chi cho vô ích? Bây giờ mình mới hiểu. Với đứa con gái tuổi còn để trái đào thế kia, mà từ nãy đếm giờ nào anh em mình, nào trên hai trăm cao thủ, nào thiết đột, mà bị nó sai trâu cản lại đến nỗi chân tay như bị bó lại vậy. Ta hãy bắt con bé, nhưng không thể giết nó.

Nhất-hùng ra lệnh cho một đệ tử. Tên này lao tới vung chưởng đánh vào cây soan. Cây soan từ từ đổ xuống, đứa con gái trên cành cây cười lên một tiếng rồi nhảy ùm xuống cái ao gần đó lặn mất.

Tưởng rằng bé gái lặn mất thì bầy trâu không người chỉ huy ắt trận thế vỡ. Không ngờ từ hai hông, hai bầy trâu khác lại lao tới. Tiếng tù và vẫn rúc lên đều đều. Trận chiến giữa người với trâu lại tiếp tục. Hơn khắc sau bầy trâu chỉ còn hơn mười con.

Vòng vây được mở ra, quân thiết đột ào ào tràn vào. Hai đội đánh quặt sang hai bên phải, trái. Một đội tràn vào giữa chiến lũy.

Đội hổ, báo, voi, sói cùng Thiên-tử binh dàn hàng ra cản lại. Trận chiến lại diễn ra khốc liệt.

Yên Đạt quay lại quan sát trận tuyến hai bên hông chiến lũy. Chiến lũy bị đốt cháy, nhiều đoạn rào bị phá. Quân Tống reo hò tràn vào. Thiên-tử binh chặn lại. Trận chiến diễn ra cực kỳ khốc liệt. Quân Tống tuy tinh nhuệ đông gấp bội quân Việt, nhưng phải lội dưới sình, di chuyển khó khăn. Ngược lại bên Việt quân ít, nhưng nhờ quen lội sình, lại được đoàn trâu hung dữ yểm trợ, vì vậy cuộc chiến dằng co chưa quyết định.

Tại trung ương, Trường-bạch song hùng để mặc quân Tống quần thảo với Thiên-tử binh, thú binh. Hai người dẫn đệ tử hướng đài chỉ huy của Lý Đoan. Thoáng một cái hai người đã tiến sát tới đài. Lý Tứ thấy nguy, vội cầm cờ đen phất, đâu đó tiếng sáo tỉ tê cất lên. Một bầy ong bầu từ trên trời đáp xuống đốt thầy trò Trường-bạch. Bị bất ngờ, thầy trò Trường-bạch bị ong đốt nhức thấu tâm cam. Người người vung chưởng đánh dạt ong ra, thì lại bị đội tiễn thủ bắn tới. Đám đệ tử Trường-bạch phần bị ong đốt, phần bị trúng tên, kẻ chết, người bị nọc ong hành; chúng la hét bỏ chạy ra xa.

Song-hùng quát lên một tiếng, đám đệ tử khác múa tít đao xông tới thoáng một cái năm thiếu nữ chỉ huy ong bị giết chết. Bầy ong không người điều khiển bay lên cao. Thầy trò Trường-bạch tới chân đài chỉ huy, Lý Tứ cùng đội đệ tử chùa Báo-ân cản lại. Nhất-hùng đánh một chưởng, Lý Tứ bị bắn tung lại sau. Hơn nửa khắc sau, đội đệ tử chùa Báo-ân bị đánh ngã hết.

Song-hùng hô đệ tử dùng đao chặt đài, thì có tiếng « nghé ọ! Nghé ô!» tiếng tù và vang lên. Một đứa trẻ béo chùn béo chụt đứng trên ngọn cây đa đang rúc tù và. Bầy trâu hơn năm mươi con, sừng buộc dao nhọn, lưng buộc dáo dài hùng hổ lăn xả vào húc đám cao thủ đang vây đài chỉ huy.

Thầy trò Trường-bạch phải ngừng chặt chân đài, đánh nhau với bầy trâu. Nhất-hùng muốn giết đứa trẻ, đích thân y bám rễ đa, chỉ nhấp nhô mấy cái, y đã leo lên ngọn cây. Thằng bé cười ha hả:

– Lão già kia, lên đây chơi với tớ.

Nó nói tếng Việt, thành ra Nhất-hùng không hiểu gì cả. Khi y lên tới gần đứa trẻ, thì nó lại truyền sang cành khác, rồi đáp xuống lưng một con trâu. Nhất-hùng nhảy theo, thì nó luồn xuống bụng trâu lủi mất.

Sau hơn hai khắc giao chiến, bầy trâu đã bị hạ gần hết. Đám đệ tử Trường-bạch lại dùng đao chặt đài. Ba chân đài bị đẵn gẫy, đài lắc lư, nhưng chưa đổ. Song-hùng quát lên một tiếng cùng phóng chưởng vào chân đài còn lại. Rầm một tiếng, đài nghiêng đi, rồi từ từ đổ xuống.

Trên đài, Lý Đoan thấy quân Tống đã tràn ngập chiến lũy, quân Việt đang chiến đấu tuyệt vọng, đài bị đánh ngã; hầu bình tĩnh hú lên một tiếng. Bầy trâu trừ bị cuối cùng của Hổ-đói xông đến cứu chúa tướng. Để mặc cho đám đệ tử quần thảo với bầy trâu. Nhất-hùng tung mình đến đài vừa đổ xuống phóng một chưởng như trời nghiêng đất lệch hướng Lý Đoan. Lý Đoan biết rằng nếu mình đỡ chưởn đó, ắt nát thây ra mà chết. Hầu tung mình khỏi đài, lẫn vào bầy trâu. Nhất-hùng nhấp nhô một cái đã đuổi kịp, y phóng liền hai chưởng, hai con trâu với Lý Đoan bị bật tung ra xa đến hơn trượng. Một con bị vỡ làm ba mảnh, ruột gan, máu thịt tung toé. Một con chổng vó lên trời mà rống. Còn Lý Đoan thì đang ôm ngực quằn quại.

Trận Việt không người điều khiển bắt đầu rối loạn.

Nhất-hùng tung mình tới quyết giết Lý Đoan. Y nghiến răng phát một chưởng bằng tất cả bình sinh công lực định đánh cho đối thủ nát thân. Chưởng của y chưa ra hết mà đã khiến cho mấy võ sĩ Việt lảo đảo muốn ngã. Thấp thoáng một bóng người xẹt tới, nhanh không thể tưởng tượng được, người này ra chiêu cầm long trảo, phẩy tay một cái, khiến Lý Đoan bật tung lên cao, rồi rơi trên lưng một con trâu; giống như người ta vực để lên vậy. Chưởng của Nhất-hùng đánh xuống đất, ầm một tiếng, đất lủng thành một hố sâu như cái thúng.

Nhất-hùng chưa kịp nhìn xem ai đã cứu Lý Đoan, thì người ấy đã phóng chưởng hướng người y. Chưởng chưa ra hết, mà y đã cảm thấy như có như không, rõ ràng chính đại quang minh, mà sát thủ cực kỳ khủng khiếp. Y cười nhạt một tiếng, phát một chiêu Huyền-âm chưởng đỡ. Ầm một tiếng, y lảo đảo lùi lại tai phát ra tếng vo vo không ngừng, khí huyết trong người y đảo lộn, hồn phách bay phơi phới. Y định thần nhìn đối thủ: Đó là một người thân thể hùng vĩ, tuổi tuy cao, nhưng tư thái phong lưu, tiêu sái như cây ngọc trước gió.

Y quay lại, Nhị-hùng đang đấu kiếm với một lão ni, chưa phân thắng bại. Xung quanh y, một đội nữ cao thủ dùng kiếm đang giao chiến với đệ tử của y. Lý Đoan đang đứng trên mình trâu cầm cờ chỉ huy. Một đội binh Đại-Việt mới tới, dàn ra thực nhanh lao vào vòng chiến cùng hiệu Bổng-nhật đánh với quân Tống. Tuy gặp kình địch, đang đứng trước trận, nhưng không hổ là đại tôn sư võ học Trung-nguyên, Nhất-hùng chắp tay hướng đối thủ:

– Trường-bạch nhất hùng nước Đại-Tống xin được biết cao danh quý tính tiền bối?

– Thì ra tiên sinh là Nhất-hùng trong Trường-bạch song hùng danh trấn Trung-nguyên về Huyền-âm chưởng đấy! Tại hạ họ Thân, tên Thiệu-Thái, hân hạnh được tham kiến tiên sinh.

Nhất-hùng kinh hãi nghĩ thầm:

– Mình đáng chết thực! Thì ra kẻ đả bại Nhật-Hồ lão nhân bốn mươi năm trước, nay vẫn còn tại thế. Hèn chi chiêu Huyền-âm chưởng của mình vừa rồi không làm cho y tổn thương. Y vỗ hai tay vào nhau:

– Thì ra đại giá Lạc-long giáo chủ, Thân phò mã đấy. Tại hạ lớn gan, muốn lĩnh mấy chiêu Mục-ngưu thiền chưởng của giáo chủ.

– Xin mời.

Nhất-hùng vận công, phát Huyền-âm chưởng. Chưởng chưa ra hết mà mọi người đã cảm thấy lạnh buốt tới xương. Thiệu-Thái phát chiêu Sơn-trung tầm ngưu trả đòn. Vì Mục-ngưu thiền chưởng là chưởng dương cương nên kình cực cực mạnh. Hai chưởng gặp nhau phát ra tiếng ầm lớn. Thiệu-Thái kinh ngạc nghĩ thầm:

– Công lực thằng cha này thực không tầm thường, có lẽ hơn Nhật-Hồ lão nhân khi xưa. Nếu hồi đại hội Lộc-hà mà ta gặp y, thì e không chịu nổi của y quá mười chiêu. Võ công Trung-nguyên tiến mau thực.

Nghĩ vậy, ông phát chiêu Kiến tích dã ngưu đẩy vào hông đối thủ. Nhất-hùng lại phát Huyền-âm chưởng đỡ. Hai người đại cao thủy quấn lấy nhau giao đấu, khiến đám cao thủ Mê-linh, Trường-bạch phải ngừng chém giết, đứng ngây người ra mà xem.

Quân Tống đã tràn vào trong chiến lũy. Về phía quân Việt, tuy có thêm hiệu Trường-yên tiếp viện, nhưng cả hai hiệu cộng lại chưa quá hai vạn người, trong khi quân Tống đông đến bốn, năm vạn. Cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt. Quân Việt tuy ít, mà nhờ có thú binh, nỏ thần, bầy trâu yểm trợ, nên cuộc chiến vẫn chưa nghiêng về bên nào.

Yên Đạt đứng trên mình ngựa đốc chiến. Bao nhiêu hy vọng y đổ cả vào Trường-bạch song hùng, với ước mong hai người này giết hết tướng địch, thì hàng ngũ quân Việt phải rối loạn. Từ lúc thấy phò mã Thân Thiệu-Thái xuất hiện thì y tuyệt vọng. Nhưng y đã đạt được thắng lợi: Quân Tống đã vào trong chiến lũy, quân số đông gấp mười quân Việt. Chỉ cần trong vòng nửa giờ nữa y sẽ thanh toán hết hiệu Bổng-nhật rồi tiến về Thăng-long. Y ra lệnh dồn quân vào trong chiến lũy, chỉ để ở ngoài một số bảo binh, tân đằng hải mà thôi.

Cuộc chiến mỗi lúc một khốc liệt. Quân Tống đã vây quân Việt vào làm ba khu. Khu trung ương, khu Tây, khu Đông. Quân Việt đang lâm thế tuyệt vọng. Bỗng quân thám mã báo:

– Có hiệu binh Thiên-trường đang tiến về phía trái của ta định chặn đường về Phú-lương.

– Quân Thiên-trường là quân địa phương, không thiện chiến, không tinh nhuệ. Cả hiệu binh chưa quá một vạn. Hãy cho hai vạn tân đằng hải chặn lại.

Tuy vậy Yên Đạt cũng hơi lo lắng. Y đưa mắt nhìn: Quận-chúa Trần Ngọc-Liên đang ngồi trên bành voi chỉ huy, y phục đẫm máu. Lý Đoan đứng trên lưng một con trâu điều quân. Khu Đông, khu Tây vợ chồng Hùng Trí-Âu Lam, Hùng Tín-Âu Hồng võ công cực cao, đang đứng trên mình voi cầm cờ chỉ huy. Hai tướng Tống mặt này đã bị giết, hiện do các đô thống chỉ huy.

Y nói với Nhị-hùng:

– Tiên sinh! Đánh giặc thì không kể gì đến lề luật võ lâm. Mong tiên sinh nhập cuộc hạ tên Thiệu-Thái, thì mới mong giết hết bọn tướng giặc.

Nhị-hùng hú lên một tiếng, rồi xuất chưởng đánh vào hông Thiệu-Thái. Thiệu-Thái đang đấu với Nhất-hùng, thình lình bị Nhị-hùng tấn công, phản ứng tự nhiên ông dẩy chưởng của Nhất-hùng vào chưởng của Nhị-hùng. Vô tình ông vận Hồng-thiết công của Hồng-thiết giáo. Ầm một tiếng, anh em song hùng cùng cảm thấy choáng váng, mùi hôi tanh nồng nặc bốc ra cả một vùng. Nhất-hùng la:

– Nhị đệ cẩn thận! Y dùng võ công Hồng-thiết giáo bằng thiền công.

Nhưng ỷ vào Huyền-âm chưởng vô địch thiên hạ, cả hai cùng tái xuất chiêu tấn công. Có tiếng quát thanh thoát:

– Hai người đánh một ư?

Rồi một bóng trắng xẹt tới nhanh không thể tưởng tượng được đưa kiếm vào cổ Nhị-hùng. Thất kinh, y lộn liền hai vòng ra sau tránh đòn, nhưng mũi kiếm theo y như bóng với hình. Hoảng hốt y thụp người xuống, rồi lăn liền hai vòng, sau đó uốn cong người vọt dậy. Nhưng y cảm thấy đau nhói ở cổ, thì ra mũi kiếm vẫn theo sát y. Lòng y nguội như tro tàn, y chửi tục:

– Mẹ cha nó! Mi đánh trộm, ta không phục.

Bóng trắng thu kiếm về, rồi nói bằng giọng ngọt ngào:

– Tiên sinh nói đúng. Vì ta ra tay trước nên chiếm được tiên cơ. Nhị tiên sinh, người rút kiếm ra đi.

Báy giờ Nhị-hùng mới nhìn rõ đối thủ, đó là một thiếu phụ đẹp như Quan-thế-âm. Chợt nhớ ra một điều, y than:

– Thì ra vua bà Bình-Dương, hèn chi kiếm thuật thần thông. Tại hạ muốn lĩnh mấy cao chiêu của Long-biên kiếm pháp.

Đến đây y cảm thấy trong lồng ngực đau nhói như bị một nhát dao đâm vào, rồi hai nhát, rồi ba nhát. Không tự chủ được, y hét lên:

– Ái! Đau quá.

Y quay lại, thì thấy Nhầt-hùng cũng ở vào trường hợp tương tự. Y nghiến răng nói:

– Giáo chủ! Tại hạ nghe giáo chủ là đệ tử của Bố-Đại hòa thượng, thuộc danh môn chính phái, mà sao lại dùng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng để đánh người?

Thiệu-Thái chắp tay tạ lỗi:

– Thời thơ ấu tại hạ quả có luyện Hồng-thiết tâm pháp. Ban nãy tại hạ đang dùng hết sức để chống với Nhất-hùng, thì bị Nhị-hùng tấn công. Trong lúc nguy nan, tòng tâm xử dụng, tại hạ đã xuất chiêu bằng Hồng-thiết tâm pháp, nên làm cho nhị vị tổn thương. Tại hạ muôn vàn hối tiếc.

Vua Bà tiến lên nói:

– Trước khi ra trận, cô em dâu tôi là công chúa Huệ-Nhu có nhắn rằng: Hồi chư vương bên Đại-Việt làm loạn, Nhị-hùng nghe theo tiếng gọi của công chúa đã sang trợ giúp triều Lý nhà tôi. Vì vậy bất cứ giá nào chúng tôi cũng không được phạm đến thân thể nhị hùng. Kinh-Nam vương có nhắn chúng tôi mời nhị hùng về Thiên-trường chơi, chẳng nên lăn mình vào chỗ chết cho cái mộng điên rồ của Vương An-Thạch. Không biết nhị vị nghĩ sao?

Nhị-hùng biết rằng đây là điều kiện vua bà đưa ra. Nếu hai người chấp thuận thì sẽ được Thiệu-Thái giải độc cho. Bằng không thì mỗi ngày lên cơn một lần, sau 49 ngày thì chết. Nhất-hùng đưa mắt nhìn em, rồi cung tay:

– Đa tạ giáo chủ, đa tạ vua Bà.

Thiệu-Thái móc trong túi ra hai viên thuốc trao cho song hùng:

– Đây là hai viên thuốc tạm giải cái độc cho nhị vị. Tôi xin cử người đưa nhị vị về Thiên-trường. Khi tới Thiên-trường, Kinh-Nam vương sẽ dùng thần công trị vĩnh viễn độc tố cho nhị vị.

Vua Bà hướng vào trận của đám đệ tử Mê-linh, Trường-bạch hô lớn:

– Ngừng tay!

Đám đệ tử Mê-linh, Trường-bạch cũng lùi lại phía sau.

Vua Bà chỉ tay vào Trường-bạch song hùng:

– Chúng ta ngừng tay thôi. Nhị vị tiên sinh đây nhận lời mời của Kinh-Nam vương về chơi Thiên-trường. Mà Kinh-Nam vương là sư đệ của ta. Thì ra chúng ta là người nhà cả. Đại-Việt có câu tục ngữ: Đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ. Hai phái Trường-bạch với Mê-linh bây giờ là bạn. Chúng ta thân thiện với nhau đi.

Thiệu-Thái cử năm đệ tử Tây-vu dẫn Trường-bạch song hùng với chư đệ tử hướng về phía Nam mà đi.

Trong khi vua Bà với Trường-bạch song hùng đối đáp, thì trận chiến vẫn diễn ra cực kỳ khốc liệt. Cả hai bên đều thiệt hại lớn lao: Kìa khu quân Tống vây đội sói, đội sói chỉ còn đâu mươi con, đang chiến đấu tuyệt vọng. Cạnh đó xác quân Tống ngổn ngang, thương binh đang rên la. Kìa, khu quân Tống vây đội hổ, đội hổ còn hơn hai chục con đang quay lưng lại với đội báo chống nhau với quân Tống. Khu này quân Tống chết quá nhiều, xác chết trải la liệt trên một bãi rộng. Nhưng khu voi với trâu thì quân Tống chưa làm chủ được. Trâu tuy không hung dữ, thiện chiến như voi, nhưng nhờ bọn Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn là những đứa trẻ điếc không sợ sấm, khi thì leo lên cây chỉ huy, khi thì bám hai tay vào hông trâu, mà ẩn thân dưới bụng trâu, thành ra quân Tống không hạ được một đứa nào cả. Khu này quân Việt Việt đang thắng thế.

Quân Tống quá đông, ào ạt vào trong chiến lũy, tràn ngập khắp nơi, chúng phóng hỏa đốt doanh trại, nhà cửa. Cả một vùng. lửa bốc cháy, khói đen ngập bầu trời trong tiếng thú gầm, tiếng trâu rống, tiếng trống thúc, tiếng lệnh kêu đến độ không ai có thể nghe được tiếng người bên cạnh nữa.

Quân Việt chiến đấu trong tuyệt vọng.

Bỗng quân Tống ở phía ngoài chiến lũy la hoảng lên, làm Yên Đạt phải quay lại nhìn. Bất giác y nổi gai ốc: Kị binh Đại-Việt xuất hiện thế như thác đổ, dàn thành một tuyến dài đánh từ Tây sang Đông, cắt đứt trận tuyến phía ngoài chiến lũy của Tống. Quân Tống chưa kịp phản ứng, thì kị binh lại từ Đông đánh quặt về Tây. Thế là quân Tống bị cắt làm ba đoạn, một đoạn trong chiến lũy, một đoạn bị đánh tan, và một đoạn về phía Phú-lương. Hiệu binh Thiên-trường đang đuổi theo cánh quân này. Yên Đạt nghiến răng tức giận:

– Tổ bà nó, cả hiệu Thiên-trường chưa quá vạn người, trong khi bên mình có tới ba vạn mà bỏ chạy như vịt thế kia thì nhục thực!

Nhưng Yên Đạt quên rằng trong ba vạn quân bỏ chạy đó, thì đa số thuộc các chỉ huy tân đằng hải từng tham chiến cuộc tấn công dò dẩm, cuộc đốt chiến lũy. Trong mỗi chỉ huy năm trăm người, phân nữa chết, một phần bị thương, nên nay chúng thấy quân mình bị cắt làm ba bởi đội kị binh mạnh như hùm như hổ, thì ba hồn bẩy vía thăng thiên, chúng bỏ chạy lấy thân.

Đúng theo binh pháp của Tống, khi bị đánh khúc giữa thì khúc đầu ở trong chiến lũy với khúc sau phải đánh kẹp lại, bao vây kị binh lại. Khốn nhưng quân Tống trong chiến lũy đang phải đối đầu với hai hiệu binh, trong đó hiệu Bổng-nhật cực kỳ thiện chiến tinh nhuệ. Còn khúc sau, thì lại hè nhau bỏ chạy về phía Phú-lương mất.

Kị binh Việt bỏ không đuổi khúc sau, mà đổi thế trận đánh bịt hậu tiền quân đang ở trong chiến lũy. Quân Tống kinh hoàng, hàng ngũ rối loạn, nhưng Yên Đạt là tướng tài. Y chia quân làm hai quay lưng lại với nhau mà chiến đấu trong tuyệt vọng. Y ra lệnh cho các tướng:

– Dù gì, ta cũng đông gấp ba chúng. Ta chỉ dơ tay là chiếm được chiến lũy. Tiến lên!

Trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra.

Vua bà Bình-Dương nghĩ rất nhanh:

– Nếu để hai bên chém giết nhau, mình có diệt hết được mấy vạn quân Tống này thì cũng phải hy sinh cả vạn quân. Chi bằng ta tha cho chúng về Bắc ngạn Phú-lương, rồi trấn ở Nam ngạn. Với số binh tướng còn lại, Yên Đạt không thể vượt sông được nữa.

Bà ra lệnh đánh chiêng thu quân. Quân sĩ hai bên cùng ngừng chiến rồi lùi lại. Vua Bà thủng thẳng tiến lên xá Yên Đạt một xá:

– Yên tướng quân vẫn mạnh giỏi a! Nghĩ lại cuộc đời thực ngắn ngủi. Mới hôm nào chúng ta gặp nhau ở Biện-kinh, thế mà thoáng một cái đã mấy chục năm.

Lòng Yên Đạt rối như tơ vò:

– Giữa chúng ta là tướng của hai đội quân thù nghịch nhau, ý vua Bà muốn gì đây?

Vua Bà mỉm cười, ngài vận nội lực nói lớn:

– Tướng quân là một anh tài tinh hoa của Tống. Chư quân đều là những người có lòng son với xã tắc. Nhưng, tất cả bị đem sang xứ muỗi độc, nước độc này chỉ vì cái tham vọng điên rồ của Vương An-Thạch. Bàn cho thực phải, với Tân-pháp của y, nếu cứ thong thả thi hành, thì chỉ năm năm nữa nước sẽ giầu, binh sẽ mạnh vô cùng. Tống thiên tử chỉ việc ngồi trùm Hoa-hạ, ban phúc, ban lộc cho dân, thì giang sơn Đại-Tống trở thành giang sơn Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Các nước nhỏ như Đại-Việt phải khuất thân quy phục. Thế mà vì ngu tối, y xúi Hy-Ninh đế đem trăm vạn hùng binh sang đây. Nay trăm vạn không còn quá hai chục vạn, mà chư vị vẫn chỉ luẩn quẩn ở giải sông Cầu này. Nói đâu xa, tướng quân có mười lăm vạn binh, vượt sông xong mất bốn vạn, mà Đại-Việt chỉ mất có một vạn.

Bà chỉ vào Lý Đoan, Ngọc-Liên:

– Với cái chiến lũy nhỏ bé này, mà sau hai trận thăm dò, đốt chiến lũy; bên Đại-Việt không một người chết, chẳng ai bị thương mà tướng quân phải hy sinh đến hai vạn quân. Tướng quân sai Khúc Chẩn mang hai vạn binh triều về tái chiếm hậu cứ Phú-lương. Y bị con với dâu ta là Thiên-Thành, Cảnh-Long đánh tan. Bây giờ phía ngoài, trên vạn bị kị binh giết, ba vạn bỏ chạy về Phú-lương. Trong chiến lũy có ba vạn, nhưng chết hơn vạn rồi, phía sau bị kị binh đánh, phía trước bị hiệu Bổng-nhật, Trường-yên cản. Trường-bạch song hùng với chư đệ tử bỏ đi. Tướng quân nghĩ xem, liệu tướng quân có thể tiến về Thăng-long không? Huống hồ...

Vua Bà vẫy tay một cái, nỏ binh bắn lên trời một Lôi-tiễn. Lập tức xa xa tiếng trống thúc rộn ràng, tiếng trâu rống, tiếng quân reo vang dội. Bà mỉm cười:

– Tôi đã điều thêm hai hiệu binh Thanh-hóa, Nghệ-an về tiếp viện.

Bà ngừng lại cho Yên Đạt suy nghĩ:

– Tướng quân nổi tiếng là người thương yêu binh sĩ. Đằng nào thì cái mộng đánh Thăng-long của tướng quân cũng hóa ra hư ảo rồi. Tiến lên chỉ làm cho binh tướng chết vô ích mà thôi. Vậy tốt hơn hết là bảo vệ lấy chủ lực. Vậy nếu tướng quân muốn, tôi sẽ mở vòng vây cho tướng quân, để tướng quân rút về Phú-lương an toàn. Không biết tướng quân nghĩ sao?

– Thế còn quân của Thân Cảnh-Long chặn đường về Tống?

Yên Đạt đặt vấn đề: Liệu vua Bà có hứa rằng mở vòng vây, cung cấp lương thảo cho chúng tôi trên đường rút quân không?

– Tôi hứa!

Vua Bà vẫy tay, một nữ binh chạy lại gần, ngài trao cho nữ binh này một binh phù:

– Người đem ra ngoài trao cho Vũ-kị đại tướng quân nói rằng có lệnh của ta, mở đường cho quân Thiên-triều lui về.

Yên Đạt nghe vua bà Bình-Dương nói mà muốn nổi đóa. Bởi bà sai mở đường cho y rút quân, thì rõ ràng y bị thua, bị nhục rồi, mà bà lại dùng chữ « Quân Thiên-triều » thì là điều diễu cợt. Nhưng y phải nuốt giận.

Nữ binh cầm binh phù hiên ngang đi qua trận của quân « Thiên-triều », ra ngoài chiến lũy trao cho Hà Mai-Việt. Lập tức kị binh lùi lại dàn thành hàng dài thăm thẳm dọc con đường đi Phú-lương. Yên Đạt phất tay. Quân Tống vác xác đồng đội, vác thương binh, từ từ rời khỏi chiến lũy. Còn y, tay y cầm kiếm cùng đội thân binh đứng cản hậu.

Trong khi quân Tống rời khỏi chiến lũy, thì hai hiệu Bổng-nhật, Trường-yên cũng tập trung lại. Lý Đoan nói với tướng chỉ huy hiệu Trường-yên:

– Bọn Tống xảo quyệt không chừng, tôi phải đem hiệu Bổng-nhật chiếm lại chiến lũy Phú-lương, củng cố lại hệ thống phòng thủ. Vậy huynh trấn tại đây thay tôi.

Hầu phất cờ ra lệnh. Sau trận chiến, hiệu Bổng-nhật tuy có bị tổn thất, nhưng đây là đạo quân tinh nhuệ, thiện chiến bậc nhất, nên tinh thần vẫn hùng tráng. Duy các đội thú binh thì gần như tan rã hết. Mặc dù có kị binh dàn hai bên đường, hiệu Thiên-trường dàn ra ba khu đất trống; nhưng hầu ra lệnh cho hiệu Bổng-nhật đi sau đội trâu dàn trận bám sát quân Tống. Đội của Báo-mập đi bên trái với sư một, đoàn này đo Hùng Trí, Âu Lam chỉ huy. Đội của Gấu-lùn đi bên phải với sư hai, đoàn này do Hùng Tín, Âu Hồng chỉ huy. Đội của Hổ-đói đi trên đường với sư ba, đoàn này do quận chúa Ngọc-Liên chỉ huy. Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái cùng các cao thủ phái Mê-linh theo sau đoàn này.

Lý Đoan hỏi vua bà Bình-Dương:

– Tấu điện hạ. Ban nãy điện hạ nói với Yên Đạt rằng ta có hai hiệu Thanh-hóa, Nghệ-an tiếp viện. Vậy hai hiệu đó đâu?

Vua Bà nói nhỏ vào tai hầu:

– Làm gì mà điều được hai hiệu đó đến đây mau thế? Trước khi đến đây, ta ban lệnh cho các xã tụ tập hoàng nam, trâu bò, trống chiêng lại; đợi khi có lệnh thì cho hoàng nam reo, trống chiêng thúc, rúc tù và cho trâu bò rống để làm kế hư binh.

Khoảng hơn nửa giờ thì tên quân Tống cuối cùng đã vượt phù kiều sang Bắc ngạn Phú-lương. Yên Đạt sợ quân Việt đuổi theo, y sai cắt phù kiều. Trong khi hiệu Bổng-nhật dàn ra đóng dọc chiến lũy thì vua Bà truyền hiệu Thiên-trường vào các làng cùng với hoàng nam, hoàng nữ đẵn tre củng cố lại các hàng rào.

Chợt Vũ-kị đại tướng quân la lớn:

– Đoan đệ, Liên muội, sao rồi?

Lý Đoan, Ngọc-Liên đang nằm gục trên lưng voi. Ông tung mình lên bành voi Lý Đoan đỡ hầu đem xuống. Trong khi vua bà Bình-Dương đỡ Ngọc-Liên. Máu trong miệng hai người chảy dài trên môi, trên cổ. Cả hai người chỉ còn thoi thóp thở.

Phò mã Thân Thiệu-Thái nắm ấy tay Lý Đoan, vua bà Bình-Dương nắm lấy tay Ngọc-Liên. Cả hai dồn chân khí ra để trị thương.

Hà Mai-Việt với Long-biên ngũ hùng thân với nhau như chân tay, ông hỏi viên tướng cận vệ của Lý Đoan:

– Quân hầu với quận chúa bị thương lúc nào vậy?

– Quận chúa bị Trường-bạch song hùng đánh trúng một chưởng bay tung đi đến hơn hai trượng. Nữ binh cứu được đem vào chiến lũy để dưỡng thương. Nhưng nằm nghe tiếng trống thúc, tiếng quân reo, quận chúa lấy khăn lau máu trên người, rồi gượng lên voi chỉ huy quân chống với giặc. Còn quân hầu thì bị trúng một Huyền-âm chưởng, nhưng may nhờ có hai con trâu đứng trước, nên chỉ bị nội thương nặng. Hầu giả vớ như không bị thương, gượng lên mình trâu điều quân.

Một lát sau, Lý Đoan tỉnh dậy trước, hầu ọe một tiếng, mửa ra hai bụm máu rồi hỏi trong cơn mơ mơ tỉnh tỉnh:

– Hà đại ca! Ngọc-Liên đâu rồi?

Quận chúa thở phều phào:

– Em đây. Anh có sao không?

– Anh hỏng mất rồi! Tạng phủ nát hết thì sống sao được? Còn em, em ra sao?

– Đau đớn khắp người, sức lực mất hết.

Hầu gượng ngồi dậy, rút trong bọc ra một tấm lụa, đó là tờ biểu hầu cùng quận chúa viết để dâng lên Linh-Nhân hoàng thái hậu, nhưng chưa kịp gửi đi. Bây giờ trong lúc âm dương cách trở, hầu trao mảnh lụa cho Hà Mai-Việt:

– Đại ca! Hai đứa chúng em đã cầm chắc cái chết trong tay, nên viết tờ biểu này dâng lên Thái-hậu. Vậy khi chúng em chết rồi, đại ca sai người đem về triều và tâu thêm rằng :

« Đứa em bất nghĩa, giữa đường nằm xuống, không tiếp tục cùng người chị bảo vệ đất nước. Mong được chị tha thứ cho ».

Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái muốn nói mấy câu, nhưng hai vị đang dồn hết chân khí để giữ tính mệnh vợ chồng Lý Đoan, nên không thể mở miệng. Vì mở miệng ra, chân khí yếu đi, e tính mệnh hai người lâm nguy.

Hầu quơ tay nắm lấy vai quận chúa:

– Ngọc-Liên, trong tám năm chúng mình làm vợ chồng, tâm đầu, ý hiệp. Chưa bao giờ chúng mình nhăn mặt, nói nặng với nhau một câu.

– Nhưng tiếc quá!

– Em tiếc gì? Mình đã có với nhau hai mặt con, như vậy không đủ ư?

– Anh có nhớ không? Chúng mình thường mơ rằng sau khi hết giặc, chúng mình xin Thái-hậu cho phép, rồi ruổi ngựa đi thăm tất cả thắng cảnh của đất nước. Ngồi trên núi, bên suối, ven sông, em sẽ hát cho anh nghe.

Nói rồi quận chúa cất tếng hát. Đó là bài hát của vùng Kinh-Bắc mà quận chúa mới học được. Lúc đầu tiếng hát rất cao, rất trong, nhưng được ba câu thì tiếng hát rời rạc, rồi từ từ im hẳn. Hầu kinh hoảng gọi lớn:

– Ngọc-Liên! Em ra sao?

Hẫu gượng ngồi dậy nghiến răng bế bổng quận chúa vào lòng rồi nói trong hơi thở:

– Sống chúng ta... yêu nhau..., giữ nước... như chim liền cánh. Chết chúng ta chết bên...

Chữ « nhau » chưa ra khỏi miệng thì hầu ngã xuống.

Đám trẻ mục đồng hét lên:

– Quân hầu! Quân hầu là anh bọn em. Chị Ngọc-Liên, chị là tiên nữ, chị không thể chết được!

Bọn trẻ khóc rống lên thảm thiết. Để cho chúng khóc một lúc vơi nước mắt rồi, vua bà Bình-Dương an ủi chúng:

– Anh, chị của các con không chết đâu!

– Tâu bà, rõ ràng anh chị ấy chết rồi đây này!

– Anh chị ấy xuất hồn rời khỏi xác, rồi về với vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng. Các con không nên khóc. Khóc là hèn nhát, không phải con cháu thánh Gióng, vua Đinh.

Bọn trẻ nín khóc liền.

Ghi chú,

Hoài-hóa thượng tướng quân Trực-tâm hầu Lý Đoan tuẫn quốc năm 26 tuổi. Thiên-y, Đại-từ, Liên-hoa nhu mẫn quận chúa Trần Ngọc-Liên tuẫn quốc năm 25 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công truy phong cho ngài chức tước như sau: Thiên-y, Ưu-dũng, Chí-nhân đại vương. Quận chúa được phong Nam-thiên, Liên-hoa, Đoan-nhu công chúa. Truyền lập đền thờ. Trải qua 918 năm, đến nay (1095) đền thờ của ngài vẫn còn tại làng Cẩm-chàng, xã Bồng-lai, huyện Quế-võ, tỉnh Hà-Bắc. Độc giả muốn thâm cứu thêm về cuộc đời anh hùng của ngài, xin xem bài tựa NQSH quyển 1, phần 7.1.4.


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI KẾT

Nam-quốc sơn hà, nam Đế cư



Tại điện Uy-viễn Thăng-long, Đại-Việt

Ngày hai mươi chín tháng giêng, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng năm thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt; bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Triều đình họp tinh-triều. Vì tầm quan trọng của xã-tắc, nên Linh-Nhân hoàng thái hậu còn mời thêm các đại tôn sư võ phái tham dự.

Lễ nghi tất.

Quan Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt tường trình về tình hình chiến cuộc Tống, Việt: Từ sau ba trận đánh ngày 22 tháng giêng đến giờ thì vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái trấn tại chiến lũy Phú-lương. Công-chúa Bảo-Hòa, đô đốc Trần An, Trần Hải trấn tại chiến lũy Như-nguyệt. U-bon vương Lê Văn với công chúa Nong-Nụt trấn tại chiến lũy Vạn-xuân. Suốt bẩy ngày, không thấy Tống có một hoạt động nào đáng kể. Ngược lại, Đại-Việt đã lấy quân ở các hiệu địa phương tổ chức, bổ xung cho mười một hiệu Thiên-tử binh bị tổn thất.

Ông kết luận:

– Tính chung từ khi quân Tống phạm cảnh đến giờ tổn thất về tướng của ta quá nặng nề. Tổng cộng 36 vị. Nhưng về quân thì mất chưa quá năm vạn.

Ông hướng vào cử tọa:

– Để duyệt xét tình hình, Thái-hậu tuyên chỉ thiết tinh triều, hầu đưa ra phương lược hợp thời. Xin chư vị tôn trưởng đừng tiếc công chỉ dạy.

Quốc-trượng Trần Tự-An đưa mắt nhìn quốc mẫu Thanh-Mai ngồi đối diện với ông, rồi nói:

– Khi một cuộc chiến diễn ra, thì đôi bên đều phải chấp nhận tổn thất. Đối với vấn đề tổn thất, có hai điều quan trọng. Một là tổn thất của ta với Tống, bên nào nặng hơn? Hai là dù ta tổn thất nặng, Tống tổn thất nhẹ cũng không đáng quan tâm. Điều đáng quan tâm là giữa ta với Tống, bên nào đạt được mục đích? Bên nào còn tiềm lực chiến đấu?

Nguyên-soái Thường-Kiệt chắp tay xá Tự-An:

– Thưa thái sư phụ, đệ tử xin so sánh tổn thất ta với Tống. Về tướng, ta mất ba tướng ở cấp bộ tối cao là Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương với phò mã Hoàng-Kiện; mất năm tướng ở cấp bộ cao là công chúa Động-Thiên, Thiên-Ninh, Dư Phi, Nguyễn Căn, Bùi Hoàng-Quan; mất hai mươi tám tướng ở cấp bộ trung là nhị vị vương phi Trung-Thành, Tín-Nghĩa, công chúa Ngọc-Huệ, Thanh-Thảo, Long-biên ngũ hùng với năm vị phu nhân, Tây-hồ thất kiệt với bẩy vị phu nhân. So với Tống thì năm tướng ở cấp bộ tối cao bị bắt, hoặc được ân xá, hoặc được trao cho Kinh-Nam vương; mười tám tướng ở cấp bộ cao bị giết, hoặc bị bắt rồi được ân xá hay trao cho Kinh-Nam vương. Bẩy mươi hai tướng ở cấp bộ trung bị giết, bị bắt rồi trao cho Kinh-Nam vương.

– Bây giờ ta xét về khả năng tham chiến của tướng đôi bên.

Vua bà Bình-Dương tiếp lời Thường-Kiệt:

– Tất cả tôn sư võ học, cao thủ, tướng Tống bị ta bắt, rồi thả ra, đều bị nghi ngờ, không được nắm binh quyền nữa. Hiện các tướng tối cao của Tống chỉ còn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Khúc Chẩn, Ôn Cảo. Ngược lại các tướng tối cao của ta hiện còn rất nhiều: Côi-sơn tam anh; đại đô đốc Lý Kế-Nguyên, bốn đô đốc thủy quân; U-bon vương, công chúa Nong-Nụt; tiên nương Bảo-Hòa; Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên; Cảnh-Long, Thiên-Thành; phò mã Thiệu-Thái với tôi; trong triều còn Hoàng-thái hậu, Thường-Kiệt. Các tướng bậc trung thì có Thần-vũ thập anh, Kim-cương thập bát. Tóm lại về tướng, ta vẫn còn một lực lượng hùng hậu gấp bội Tống. Về tôn sư võ học, ta chưa bị tổn thất lấy một người. Trong khi bên Tống thì Thập-đại thần tăng Thiếu-lâm, Trường-bạch song hùng không tham dự vào cuộc chiến nữa. Hoa-sơn tứ lão bị hai hòa thượng Mộc-tồn, Viên-Chiếu dồn thuốc vào người, bị bắt mê man chưa tỉnh. Liêu-Đông tam ma bị hòa thượng Mộc-tồn bắt trao cho Kinh-Nam vương. Về phương diện cao thủ, ta còn đầy đủ tinh lực, hơn hẳn Tống.

– Đa tạ sư phụ.

Linh-Nhân hoàng thái hậu hướng vua bà Bình-Dương xá một xá: Còn về quân, ta bị mất hoàn toàn ba hiệu Thiên-tử binh ở Như-nguyệt, Phú-lương, đã được tái lập. Bốn hiệu bị tổn thất nặng, đã được trang bị, bổ xung. Nay quân khí, quân thế lại như xưa. Thủy quân ta còn toàn vẹn. Kị binh ta không bị tổn thất, mà lại tăng thêm, nhờ bắt được ngựa Tống ở Cổ-pháp, ở trận Nham-biền. Trong khi thủy quân Tống không còn; kị binh gần như chỉ còn một sư, mà ngựa thì gầy ốm, binh tướng thì mất hế ý chí chiến đấu. Duy bộ binh thì phải đợi tin tức của sư bá Mộc-tồn với sư phụ mới biết chắc được.

Đến đó, viên tá lĩnh chỉ huy Ưng-binh của Khu-mật viện bước vào trao cho nguyên soái Thường-Kiệt một ống đựng mật thư. Ông mở thư ra đọc rồi hướng Linh-Nhân hoàng thái hậu:

– Tâu Thái-hậu, tin của Mộc-tồn hòa thượng.

Ông đọc lớn:

« ...Từ sau trận đánh ngày 22, binh Tống thiệt hại quá nặng nề. Thứ nhất mặt Phú-lương, chỉ còn ba vạn quân triều, năm vạn tân-đằng-hải. Yên Đạt, Khúc Chẩn không đủ sức đánh Đâu-đỉnh, khai thông con đường tiếp tế lương thảo từ Bắc-biên xuống. Tại Bắc Như-nguyệt, mười đạo binh mang số 10 tới 19 trực thuộc Triệu Tiết bị tan rã hoàn toàn, các tướng chỉ huy, các sư trưởng, lữ trưởng hầu hết tử thương; Tiết gom đám tàn quân lại tái lập được ba đạo. Y sai quân đắp chiến lũy phòng quân Việt đổ bộ. Tại tổng hành doanh, sau trận đột kích, bắn Lôi-tiễn đêm 22, đạo quân Tả Đệ-nhất, Tả Đệ-nhị bị tử thương một nửa, đạo quân Tả Đệ-tam chỉ còn hơn trăm người; kị binh còn đâu một sư. Cộng chung tân-đằng-hải còn hơn mười lăm vạn, quân triều mười vạn. Quách Qùy ra lệnh cho binh tướng củng cố hàng rào thực chắc cố thủ, vì sợ ta tấn công. Có tin tức gì sẽ báo sau... »

Linh-Nhân hoàng thái hậu đứng dậy, trong thái độ cực kỳ nghiêm trang, rồi cung tay:

– Kính Quốc-trượng, kính sư phụ, kính Quốc-mẫu, kính chư vị tôn trưởng, chư vị đại thần, tướng lĩnh.

Trong điện Uy-viễn có đến hơn trăm người, mà im phăng phắc.

– Yên Đạt, Triệu Tiết đắp lũy vì sợ ta đổ quân lên đánh. Quách Quỳ củng cố doanh trại vì sợ ta tiến quân từ Vạn-xuân, Nham-biền về. Như vậy trong thâm tâm chúng, chúng tự biết chúng yếu, ta mạnh; chúng không thể vượt sông tấn công ta. Trong khi ta dư khả năng vượt sông đánh chúng.

Cử tọa đều đồng ý với Thái-hậu. Ngài tiếp:

– Trước tình hình ta, tình hình địch như vậy, xin Nguyên-soái cho biết mình phải đối phó ra sao?

Thường-Kiệt tâu:

– Tâu thái-hậu, thần xin đưa ra ba phương lược, xin Thái-hậu chọn lấy một.

– Nguyên-soái cứ tâu.

– Phương lược thứ nhất là dùng sức mạnh quét sạch bọn Tống khỏi Đại-Việt trong vòng ba ngày. Phương-lược thứ nhì là đuổi bọn Tống rời khỏi Đại-Việt trong vòng ba tháng. Phương-lược thứ ba là không cần đuổi, để chúng tự rút khỏi Đại-Việt trong vòng một năm.

– Nguyên soái cho bết chi tiết phương lựợc thứ nhất?

– Hiện tại Phú-lương, Như-nguyệt, Tống đóng ở Bắc ngạn, ta đóng ở Nam ngạn. Duy tại Vạn-xuân, Nham-biền thì ta đóng cả hai bên bờ, đây là mũi dùi ta uy hiếp tổng hành doanh Quách Quỳ. Ta cần điều thêm hạm đội Động-đình từ biển Đông về Phú-lương. Ta tấn công Tống bằng ba mũi. Tại Nham-biền, U-bon vương tiến về đánh Tổng hành dinh Quách Quỳ. Tại Phú-lương, vua bà Binh-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái dùng hạm đội Động-đình chở quân vượt sông đánh trước mặt Yên Đạt; công chúa Thiên Thành, phò mã Thân Cảnh-Long từ Đâu-đỉnh đánh vào sau lưng y. Tại Như-nguyệt, sư phụ thần dùng hai hạm đội Bạch-đằng, Thần-phù chở quân vượt sông tấn công Triệu Tiết; lại sai chim ưng chuyển thư cho công chúa Côi-sơn Thanh-Nguyên, phò mã Tôn-Mạnh, đô thống Lý Tam, phu nhân Mai-Tam, đem hiệu Quảng-vũ, Kinh-Bắc tiến chiếm Chi-lăng đánh vào sau lưng tổng hành doanh Quách Quỳ. Như vậy chỉ cần tấn công liên tiếp ba ngày, ta diệt gọn đám binh tướng Tống. Phương lược này mau chóng, sẽ làm rúng động Trung-nguyên, nhưng phải chấp nhận hy sinh khá nhiều tướng sĩ.

Chư tướng suýt xoa, tỏ vẻ hoan nghênh phương lược này.

– Phương-lược thứ nhì là: Cứ năm ngày, một tuần, ta đổ bộ từng toán nhỏ lên tấn công quân Tống trong mấy giờ rồi lại rút đi, làm cho Tống ăn không ngon, ngủ không yên, mệt mỏi. Một mặt thư cho công chúa Côi-sơn tiến chiếm Quyết-lý; đô thống Lý Tam phục binh chặn đánh các đoàn tiếp tến, chiếm Chi-lăng rồi đóng chặn đường tiếp tế lương thảo. Thế bắt buộc Quách Quỳ phải dùng quân nhổ hai nút chặn này, khiến y hao binh tổn tướng rất nhiều. Sau đó ta mới rút vào rừng, mở đường cho chúng rút lui. Sang tháng ba, khí hậu nóng nực, binh tướng, lừa ngựa Tống vốn sống ở miền Bắc đã quen, nay sang ta không hợp thủy thổ sinh bệnh. Bấy giờ ta lại tấn công như phương lược một, ắt chúng phải bỏ chạy. Một mặt ta truy kích, một mặt ta thư cho công chúa Côi-sơn, đô thống Lý Tam phục binh đánh cắt tàn quân chúng. Phương lược này tuy hơi lâu, nhưng đỡ phải hy sinh nhân mạng.

Các văn quan, võ tướng cùng gật đầu, có vẻ tán thành.

– Phương lược thứ ba là: Một mặt ta cứ đồn trú như hiện tại, ngày ngày thao luyện sĩ tốt, trong khi đó ta truyền báo cho dân chúng biết giặc đã yên, đâu về đó, yên ổn làm ăn. Một mặt thư cho công chúa Thiên-Thành, phò mã Cảnh-Long tái chiếm tất cả các trang động Bắc-biên; công chúa Côi-sơn, đô thống Lý Tam thay phiên nhau đánh cướp các đoàn tiếp tế lương bổng. Quân Tống trải qua mùa hè, mùa thu, lam khí giết đi ít nhất một nửa. Bấy giờ ta sai sứ sang Biện-kinh, lời lẽ nhún nhường xin « tạ tội » về việc ta đem quân đánh Ung, Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch châu; lại xin tiến cống thần phục như xưa. Hy-Ninh cũng như Tống triều được vuốt ve tự ái, sẽ ban lệnh cho Quỳ rút binh. Phương lược này tuy kéo dài, nhưng không phải dùng đến gươm đao nhiều.

Các văn quan hân hoan, tỏ vẻ đồng ý. Trong khi các võ tướng lại lắc đầu, biểu lộ bất phục.

Ghi chú,

Trong suốt năm nghìn năm lịch sử, các nhà chỉ đạo quân sự Việt luôn luôn xử dụng khí hậu, phong thổ làm vũ khí chống lại cuộc xâm lăng của Trung-quốc. Quân Trung-quốc sang đánh Đại-Việt đa số là người phương Bắc, sống ở vùng khí hậu lạnh, khi sang đất Việt thuộc vùng nhiệt đới, họ không chịu nổi cái thấp nhiệt. Do đó sinh một số bệnh vùng nhiệt đới như như cảm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu chảy, dịch tả, sốt rét ngã nước. Trong các bệnh trên, thì ba chứng sốt rét ngã nước, dịch tả và tiêu chảy là ba vũ khí làm cho địch quân kinh hồn táng đởm nhất.

Hồi nhỏ đọc sử Hoa-Việt, tôi chỉ có một ý niệm sơ sài về vấn đề này. Nay, sau hai mươi lăm năm hành nghề thầy thuốc ở Pháp, tôi mới biết rõ cái khủng khiếp về ba chứng bệnh trên. Hầu hết thân chủ của tôi trước khi du lịch VN, đều được tôi chích ngừa dịch tả (Vaccin cholérique), cúm (Vaccin grippal), lại bắt uống thuốc ngừa sốt rét ngã nước. Ấy vậy mà tới 85% vẫn bị đau bụng tiêu chảy. Cho nên khi thân chủ lên đường, tôi còn bắt mang theo thuốc đau bụng do vi trùng gây ra như Immodium (lopéramide), ercéfuryl (nifuroxazide). Còn những thân chủ bướng bỉnh, cho rằng cơ thể mình da bằng thép, thân bằng đồng, không chịu chích ngừa, mang thuốc theo... thì khỏi nói; trong khi du lịch bị Tào Tháo đuổi dài dài, lúc về bị sốt rét ngã nước da vàng ủng, bụng chướng, phải đi nghỉ ít ngày tại bệnh viện.

Muỗi VN khác muỗi những nơi khác là chúng ham của lạ. Trong chuyến công tác cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP), chúng tôi gồm giáo-sư J.Fr. Hadzam (Hoa-kỳ), Tarentino (Ý), Laurence Martinet (Pháp). Hadzam phát biểu ý kiến : « Muỗi ở nước mày thân hình nó nhỏ mà khi đốt thì đau như ong châm. Nó ham của lạ, dữ hơn bò cạp. Hơn nữa muỗi Mỹ thường nó đậu lên da, ngửi ngửi rồi mới đốt. Còn muỗi Việt, thì nó lao đến như hỏa tiễn SAM 3... Không hiểu sao, rõ ràng tao ngồi bên ba người bạn Việt, mà nó cứ nhè tao nó đốt, còn ba người Việt thì nó lại bỏ rơi ». Giáo sư Martinet cũng đồng ý : « Muỗi Việt thích đốt người ngoại quốc thì phải ». Tôi trêu : « Không phải nó ham của lạ đâu, mà nó chống Mỹ, chống thực dân cứu nước đó ». Giáo sư Tarentino nổi cáu : « Tao là người Ý, tao đâu có liên hệ gì tới Mỹ, tới Pháp, mà nó cũng làm thịt tao rất kỹ ». Qua câu truyện trên khiến tôi chú ý: Muỗi Việt thích đốt người lạ. Tôi đã hỏi trên 200 Việt kiều về thăm nhà, họ đều cho biết, khi họ ngồi bên người thân, thì muỗi thích xơi thịt Việt kiều hơn là thịt người trong nước.

Một tài liệu của cục Quân-y Cộng-hòa Nhân-dân Trung-quốc cho biết, trong cuộc hành quân « dạy VN bài học » của Đặng Tiểu-Bình (1978), có tới 9875 Hồng-quân bị bệnh sốt rét do muỗi đốt, và 34.548 người bị đau bụng, tiêu chảy.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Xin các vị cho biết tôn ý?

Các văn quan, võ tướng bàn luận phân vân tới hơn giờ, mà chưa ngã ngũ. Anh-vũ Chiêu-thắng hoàng đế tuy tuổi mới mười hai, vì ở vào vị thế bất đắc dĩ phải dự bàn quốc sự, nên đã khôn trước tuổi rất nhiều. Nhà vua tuyên chỉ:

– Trẫm thấy phương lựợc thứ nhất tỏ ra được sức mạnh của ta. Từ nay trở đi, vĩnh viễn Tống ê càng, không dám bàn đến việc đem quân đánh ta nữa. Ta cũng chẳng phải tiến cống, nhận sắc phong nữa. Nhưng ta giết được mười lăm vạn tân-đằng-hải, mười vạn quân triều của Tống, ít ra ta cũng phải thiệt hại ba vạn người. Trẫm thấy ghê quá, không nỡ!

Cử tọa đều nghĩ thầm:

– Ông vua con này quả là đấng nhân từ.

Nhà vua tiếp:

– Phương-lược thứ nhì tương đối thoả được tự ái. Nhưng khi ta đuổi Quỳ về bên kia biên giới rồi có ở yên với y được không? Y hiện lĩnh chức Tuyên-huy Nam-viện sự, quản lĩnh hết các châu quận Nam thùy. Y có thể vét hết binh tướng vùng Nam Trường-giang sang phục thù. Ta lại phải chống lại, vừa hao tiền tốn của, vừa mất nhiều người hy sinh.

Nhà vua đứng dậy nhìn cử tọa:

– Phương lược thứa ba, thì ta phải nhún mình một chút. Nhưng biết đâu Tống chẳng cho rằng ta còn sợ chúng, rồi lại hoạnh họe lôi thôi? Phương lược này muôn nghìn lần không dùng được.

Nhà vua hướng Lý Kế-Nguyên:

– Hôm qua, thầy của trẫm từ biển đông về Thăng-long có vào hoàng thành dạy dỗ trẫm; nhân đó trẫm đã hội ý với thầy, rồi đưa ra một phương lược. Phương lược này bao gồm tinh hoa của ba phương lược mà nguyên soái vừa tâu. Xin thầy trình cho cử tọa nghe xem có gì cần sửa đổi không?

Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên đứng dậy cung tay:

– Tâu thái hậu, tâu bệ hạ, thần xin đưa ra phương lược bao gồm tinh hoa của ba phương lược mà nguyên soái đã tâu. Phương lược này gồm năm bước.

Ông đưa mắt nhìn nguyên soái Thường-Kiệt:

– Bước thứ nhất là: Giết tinh thần của tướng sĩ Tống. Bước này ta dùng binh lực năm mũi. Mũi thứ nhất, U-bon vương Lê Văn đem quân từ Vạn-xuân tiến tới gần tống hành doanh Quách Qùy đóng quân, để đe dọa y. Mũi thứ nhì, lệnh cho công chúa Côi-sơn chiếm Quyết-lý, đô thống Lý Tam chiếm Chi-lăng, công chúa Thiên-Thành chiếm Lạng-châu. Mũi thứ ba, Đợi Quỳ sai Yên Đạt, Khúc Chẩn tiến quân tái chiếm ải Quyết lý, Chi-lăng, Lạng châu để bảo vệ đường tiếp tế, bấy giờ ta cho hạm đội Động-đình tốc đến Phú-lương. Vua bà Bình-Dương dùng hạm đội Động-đình chở quân quân vượt sông chiếm Đâu đỉnh, ép bên trái tổng hành doanh Tống. Mũi thứ tư, tiên nương Bảo-Hòa ép Quách Quỳ ở phía Như-nguyệt. Mũi thứ năm, ta dùng thủy quân tái chiếm Ngọc-sơn, Đông-triều. Bước này ước khoảng 20 ngày.

Các võ tướng đều vỗ tay hoan hô.

– Bước thứ nhì: Sát nhất nhân vạn nhân cu (Giết một người vạn người sợ). Ta đem những tên tù binh nguyên là tướng, binh Tống ác độc, từng cướp bóc, giết người, hoặc những tên phản quốc Việt... ra xử tử trên sàn chiến hạm. Trước khi xử, ta bắc loa báo cho binh tướng Tống biết trước địa điểm. Rồi tới giờ hành quyết, ta cho chiến hạm ra giữa sông, để binh tướng Tống nhìn rõ. Bước này có thể thi hành cùng một lúc với bước thứ nhất, nhưng kéo dài một tháng thay vì hai mươi ngày.

Nghe đến đây, Linh-Nhân hoàng thái hậu đưa mắt nhìn Côi-sơn tam với nhà vua rồi mỉm cười. Tam-anh, nhà vua cười theo. Trong nụ cười đó năm vị ngụ ý:

– Đây là ý kiến của nhà vua, chứ một Nho sĩ như Lý Kế-Nguyên không bao giờ nghĩ ra lối trừng phạt như vậy. Mà ý kiến này của nhà vua thì lại do sư phụ là Côi-sơn tam anh truyền cho.

Quan Thái-phó Quách Sĩ-An xoa tay vao nhau khen ngợi:

– Lối trừng phạt này vừa cò ý nhắn nhủ với người Tống: Chúng ta bắt được tù binh thì nuôi nấng, đối xử tử tế, sau đó đem trả về. Nhưng bọn ác bá thì bị trừng trị. Khi quân Tống hồi hương, chúng thuật lại với bạn bè, họ hàng, từ nay bọn người Hoa thù nghịch với người Việt phải ngừng lại. Hơn nữa, khi ta xử tử binh tướng Tống, ắt quân Tống xót tình đồng đội muốn vượt sông trả thù, mà Quách Quỳ không cho, thì chúng cảm thấy nhục nhã tự ty; cuối cùng đưa đến không còn tinh thần chiến đấu.

Lý Kế-Nguyên tiếp:

-Bước thứ ba là:Mật ngọt chết ruồi.Cử sứ sang Biện-kinh, dùng lời lẽ khiêm nhượng đổ lỗi cho bọn đại thần Nam biên gây sự, nên Đại-Việt phải đánh Ung, Khâm, Liêm để tự vệ. Nay trăm vạn quân Thiên-triều sang bị lam chưởng mà chết mất hai phần ba rồi; nếu để lâu, e chết hết. Vậy xin Thiên-triều cho rút binh, Đại-Việt sẽ sai sứ sang tiến cống hàng năm như cũ. Những khê động nào theo Tống thì vẫn để thuộc Tống. Như vậy tự ái bọn chủ chiến triều Hy-Ninh được xoa dịu, bọn chủ hòa được toại ý, ắt chúng sẽ tâu xin cho rút binh. Bước này ước khoảng hai tháng.

Đô-thống Hùng Nhân nhăn mặt:

– Thưa quan Thái-phó, mình... mình chịu mất đất cho Tống ư?

Kế-Nguyên phì cười:

– Đâu có! Khi Quách Quỳ rút quân, thì ta cho quân theo bén gót. Đợi đại quân y về tới Ung-châu, lập tức ta tiến quân chiếm lại những trang động bị Tống lấn. Bấy giờ Quỳ không còn quân, không còn lương để trở lại đánh ta nữa. Ví dù y muốn tiến quân sang, lại phải tâu về triều, thời gian của sứ giả di về mất ít nhất bốn tháng. Trong bốn tháng đó, ta đã tổ chức lại các trang động rồi, dễ gì y dám lao đầu vào?

Nhà vua tuyên chỉ:

– Phương lược ba bước này vừa đỡ tốn xương máu, vừa giữ được hoà khí với triều đình Tống, vừa giữ được uy thế của ta, lại làm cho Tống kinh sợ. Từ nay và mãi mãi họ không dám bàn chuyện đánh ta nữa.

Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Để có thể chuyển đại quân sang đánh Đại-Việt, Hy-Ninh với An-Thạch phải cắt đất cho Hạ, cho Liêu, cầu hòa hầu dồn hết binh hùng, tướng mạnh của Tây-thùy, Bắc-thùy sang đánh ta. Hy-Ninh hy vọng bọn Quách Quỳ chiếm được nước ta trong một tháng, rồi lại đem quân về giữ Bắc-thùy, Tây-thùy, mang theo mấy chục tù hàng binh của ta. Nay bao nhiêu tướng giỏi, binh tinh nhuệ bị giết hết, chắc chắn Liêu, Hạ lại gây sự. Mà than ôi! Tống không còn tinh lực phòng vệ nữa. Từ nay, ta không sợ Tống nữa; trái lại Tống phải sợ ta. Theo ước tính của cô phụ này, e không bao lâu nữa Tống sẽ bị Liêu chiếm. Bấy giờ có khi ta phải giúp Tống giữ nước trong thế yếu, hơn là diệt Tống rồi phải chống với Liêu hùng mạnh.

Ghi chú,

Kiến giải của Linh-Nhân hoàng thái hậu thực chính xác. Niên hiệu Tĩnh-Khang nguyên niên đời vua Khâm-tông nhà Tống, bên Đại-Việt là niên hiệu Thiên-phù Duệ-vũ thứ bẩy đời vua Lý Nhân-tông (Bính-Ngọ, DL.1126) tức 49 năm sau; quân Kim đánh vào Biện-kinh bắt hai vua Tống là Huy-tông và Khâm-tông đem về Bắc. Con của Khâm-tông là Triệu Cấu chạy xuống Nam, tái lập triều Tống, tức Nam Tống, ở ngôi được 36 năm, sau khi băng được tôn miếu hiệu là Cao-tông.

Tại tổng hành doanh « An-Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quảm chiêu thảo sứ kiêm tuyên phủ sứ chư lộ Kinh-châu, Hồ-Nam, Quảng-Đông, Quảng Tây »

Ngày 5 tháng hai, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).

Quách Quỳ triệu tập chư tướng bàn phương lược đối phó với tình hình. Các tướng Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Khúc Chẩn, Đào Bật, Trương Thế-Cự... đều hiện diện.

Ôn Cảo tường trình:

– Ngày mùng một tháng hai vừa qua, Lý Càn-Đức sai sứ sang Biện-kinh tạ tội, xin Thiên-triều rút quân; từ nay lại thần phục tiến cống như cũ. Để tỏ lòng hối lỗi, Giao-chỉ đem bẩy vạn tù binh bao gồm tướng tá, cao thủ võ lâm do hạm đội Âu-Cơ chở đến Quảng-châu trao cho quan trấn thủ. Chiến thuyền sẽ cập bến chậm nhất là ngày rằm tháng hai này. Nguyên soái đã cử người tiếp dẫn sứ Giao. Sứ Giao với viên tiếp dẫn dùng ngựa phi bất kể ngày đêm, nên hôm qua đã đến Biện-kinh dâng biểu. Hoàng-thượng cùng chư đại thần hội ở Thiên-chương các. Quan giám sát ngự sử Thái Thừa-Hi dâng sớ tâu rằng: Mục đích ra quân để trừng phạt Giao-chỉ, thế mà nay nó đã đến cửa trời nép mình nhận tội thì cũng nên tha cho nó để tỏ lượng bao dung. Tể tướng Ngô Sung cùng các đại thần đều tâu xin hoàng thượng nghe lời Thái ngự sử, tuyên chỉ rút quân..

Khúc Chẩn hỏi:

– Hôm qua sứ Giao mới dâng sớ, mà sao nay tin đã đến đây được?

Quách Quỳ trả lời:

– Tiếp dẫn sứ có mang theo Ưng-binh của Giao-chỉ. Y dùng chim ưng gửi tin về, nên sáng nay ta đã biết.

Ôn Cảo tiếp:

– Ngày mùng một tháng hai vừa qua Thiên-Thành, Cảnh-Long từ trong rừng đổ ra tái chiếm Lạng-châu; Trần Thanh-Nguyên, Tôn Mạnh tái chiếm Quyết-lý; Lý Tam tái chiếm Chi-lăng. Nguyên soái đã lệnh cho đô tổng quản Yên Đạt đem quân vượt thượng đạo tái chiếm Lạng-châu; phó đô tổng quản Khúc Chẩn tái chiếm Quyết-lý; tướng quân Miêu Lý tái chiếm Chi-lăng. Quan quân phải khó nhọc lắm mới đánh được ba ải. Quân Giao bỏ ba ải rút vào rừng. Nguyên soái truyền ba tướng đóng đồn bảo vệ đường tiếp tế. Giữa lúc quân ta đang giao chiến khốc liệt với quân Giao, thì thình lình hạm đội Động-đình từ biển Đông tiến vào Phú-lương. Thân Thiệu-Thái dùng hạm đội này chở hiệu Bổng-nhật, Vũ-thắng, Phù-đổng, Hoa-lư vượt sông rồi đóng đồn lập phòng tuyến. Phía Vạn-xuân, Lê Văn đem hiệu Thần-điện, Long-dực tới chân núi Nham-biền đóng trại. Với lực lượng của ta hiện giờ, không đủ quân số đuổi Thiệu-Thái, Lê Văn về Nam ngạn. Ta bị ép ba phía.

Miêu Lý hỏi:

– Hiệu binh Hoa-lư là hiệu binh nào, tôi chưa từng nghe qua!

Ôn Cảo chỉ Yên Đạt, Khúc Chẩn:

– Nguyên khi Yên, Khúc tướng quân vượt sông đánh Yên-dũng. Hai huynh sai bắt hơn hai nghìn trâu, làm lá chắn cho xe trâu đẩy để tấn công. Không ngờ tên Lý Đoan xuất thân là mục đồng, y từng dùng trâu tập trận nhái theo phương pháp của vua Đinh Tiên-hoàng. Lý tập trung hơn ba chục trẻ chăn trâu, rồi dùng đám trẻ này nói tiếng nói loài trâu, sai trâu dàn trận quay lại đánh ta. Sau trận đó đám trẻ chăn trâu không chịu trở về, chúng quyết xin ra trận. Linh-Nhân hoàng thái hậu trước đây cũng từng chăn trâu. Bà ta mới tập hợp hơn ba trăm trẻ chăn trâu với hai nghìn trâu lại, rồi lập thành hiệu binh Hoa-lư. Hiệu binh này lợi hại hơn hổ, báo nhiều. Chúng buộc dao vào sừng, buộc giáo vào lưng trâu, rồi dàn trận, tiến lui uyển chuyển vô cùng.

Yên Đạt chửi thề:

– Tổ bà bọn Giao-chỉ thực xảo quyệt. Một mặt chúng sai sứ sang tạ tội, một mặt chúng vẫn tiến binh. Thì ra cái việc sai sứ sang tạ tội chỉ là một đòn khiến hoàng thượng không gửi viện quân cho ta. Làm sao bây giờ?

Ôn Cảo tiếp:

– Chưa hết đâu! Ngày mùng ba tháng hai, triều đình được tin tổng đàn phái Liêu-Đông bị một bọn lạ mặt đánh phá hôm rằm tháng giêng. Chúng thiêu rụi năm trăm nóc gia, đốt bài vị một trăm linh bẩy liệt tổ phái này, giết hết những đệ tử hiện diện. Chúng còn tàn nhẫn giết hết bố mẹ, vợ con, anh em, tôi tớ, trâu bò, chó mèo, gà vịt của Liêu-Đông tam ma. Nếu chúng ta hiện diện thì biết ngay bọn Giao-chỉ ra tay. Nhưng quan quân địa phương vốn thù ghét đệ tử phái này, nên khi thấy phái này bị tuyệt diệt, thì mừng hớn hở, rồi dâng biểu về triều tâu rằng chúng bị cướp giết chết. Triều đình tin là thực.

Tu Kỷ cười nhạt:

– Giết tàn nhẫn như vậy, trên thế gian e chỉ có mình Mộc-tồn hòa thượng mà thôi. Điều này cũng tại Liêu-Đông tam ma huênh hoang đóng cũi hăm bắt Minh-Không, Đạo-Hạnh, Lê Văn, Mộc-tồn, Viên-Chiếu đóng cũi giải về kinh mà ra. Nghe nói trận đánh đêm 21 tháng giêng, Tam-ma bị Mộc-tồn bắt đóng cũi giải giao cho Kinh-Nam vương. Hơn trăm đệ tử cũng bị bắt một lúc. Không biết hiện giờ tình trạng chúng ra sao?

Y hỏi Triệu Tiết:

– Nghe nói, trận đánh đêm 21 sang ngày 22 vừa qua, Hoa-sơn tứ lão bị Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Phụ-Quốc, Bảo-Dân đánh trọng thương, mê man, rồi bắt sống. Nay không biết tình trạng ra sao ?

Kể về vai vế trong phái Hoa-sơn thì Triệu Tiết, Khúc-Chẩn, công chúa Huệ-Nhu đều ngang vai với Hoa-sơn tứ lão. Y đáp:

– Bốn vị sư đệ đều bị Mộc-tồn, Viên-Chiếu dồn thuốc nhuyễn cân vào Tam-tiêu kinh, cho nên vẫn còn mê man. Tôi đã sai người báo với công chúa Huệ-Nhu, để người vận động với Kinh-Nam vương xin thuốc giải của Mộc-tồn hòa thượng. Không ngờ gã thầy chùa ăn thịt chó này không coi Kinh-Nam vương ra gì cả. Y nói, đợi sau khi hết chiến tranh, y sẽ cho thuốc giải.

Ôn Cảo tiếp:

– Hôm qua, bọn Giao-chỉ từ bên kia sông bắc loa gọi sang, báo cho ta biết, lát nữa chúng sẽ xử tử bọn Việt theo ta bị bắt và xử một số tướng sĩ ta giết hại dân của chúng. Vì vậy Nguyên-soái cho mời chư vị đến hội để cho biết ý kiến.

Khúc Chẩn đề nghị:

– Bọn Việt xử bọn Việt là việc của chúng với nhau, ta chẳng nên quan tâm. Tuy nhiên chúng xử tướng sĩ của ta, thì ta không thể ngồi yên.

Trương Thế-Cự xua tay:

– Chúng xử những người của ta, nhưng những người đó vốn tàn ác, vô pháp, vô thiên. Ta nên ngồi khoanh tay để cho chúng giết dùm, ta khỏi phải giết.

Đến đó, quân vào báo:

– Trình Nguyên-soái, một con thuyền của Giao-chỉ dương buồm không người chèo lái cập bến. Trên thuyền có nhiều tù binh. Xin Nguyên-soái định liệu.

Quách Quỳ vội cùng chư tướng ra bờ sông xem xét tình hình: Trên con thuyền lớn có ba cái cũi, trong mỗi cũi giam một trong Liêu-Đông tam ma. Ngoài ra, còn hơn trăm đệ tử phái này ngồi xếp hàng dưới thuyền, cổ mỗi người đều đeo một cái xương đầu chó. Bất giác Triệu Tiết kêu lên:

– Mộc-tồn hòa thượng!

Quách Quỳ sai y sĩ xuống thuyền quan sát xem sao bọn này lại ngồi im như vậy? Y sĩ nhảy xuống kiểm điểm từng người, rồi nói vọng lên:

– Trình nguyên soái, tất cả đều bị trúng Hoá-công độc chưởng của chính phái Liêu-Đông. Còn Liêu-Đông tam ma thì bị dồn thuốc độc vào kinh mạch khiến mắt mù, lưỡi cứng, chân tay tê liệt.

Tại phía Bắc chiến lũy Như-nguyệt, thuộc Đại-Việt

Ngày 27 tháng hai, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Kỷ Tỵ, DL.1077).

Hôm qua Quách Quỳ họp chư tướng, ban lệnh hôm sau vào lúc nửa đêm sẽ rút quân. Chư tướng được lệnh thì mừng chi diết kể. Sáng nay chư tướng cùng Quỳ vừa định xong kế sách lui quân, thì một chiến thuyền của Đại-Việt, trên có cây cờ lớn với hàng chữ :

« Kinh-Nam vương khâm sứ »,

Đang từ từ cập bến Bắc-ngạn. Quân Tống vội báo cho Quách Quỳ, Triệu Tiết biết. Hai người cùng chư tướng kéo nhau ra bờ sông đón.

Bốn sứ giả là ba thế tử Vị-Hoàng, Thiên-Trường, Linh-Cơ và quận chúa Minh-Thúy.

Lễ nghi tất.

Thế tử Vị-Hoàng cung tay:

– Thưa Nguyên-soái, không hiểu sao Đại-Việt biết rằng đêm nay nguyên soái cùng chư tướng rút quân về, nên họ chuẩn bị truy kích, cùng phục binh đánh tiêu diệt toàn quân.

Quách Quỳ kinh hãi đến lạnh người, vì lệnh rút quân y mới chỉ báo cho các tướng. Đợi đêm đến mới truyền cho quân âm thầm lên đường, thế mà sao Đại-Việt lại biết được?

Vị-Hoàng tiếp:

– Nguyên-soái Lý Thường-Kiệt đã chuẩn bị sẵn: Đúng giờ Tý đêm nay, khi quân ta bắt đầu rút, thì cũng là lúc U-bon vương Lê Văn mang hiệu Thần-điện, Long-dực tiến về đây đánh ép bên trái. Phò mã Thân Thiệu-Thái, vua bà Bình-Dương mang hiệu Phù-đổng, Hoa-lư tiến về đánh vào phía phải. Trong trường hợp đó, quân ta tất ùn ùn bỏ chạy. Khi ta chạy về đến Chi-lăng, thì đô thống Lý Tam, Mai Tam sẽ đổ phục binh ra đánh cắt vào khúc giữa. Khúc đầu chạy về tới Quyết-lý lại bị cộng chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên với phò mã Tôn Mạnh phục binh đánh cắt nửa sau. Rút cuộc chỉ còn tiền quân. Tiền quân về đến biên giới lại bị công chúa Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long bao vây tiêu diệt.

Quách Quỳ với chư tướng phát run.

Vị-Hoàng tiếp:

– Vương mẫu thương cho chư tướng, chư quân, ra đi trăm vạn, mà bây giờ về không còn quá mười vạn, lại sắp bị giết hết. Người năn nỉ xin phụ vương ra tay tế độ cứu chư tướng với đoàn quân sống sót này. Phụ vương đã yết kiến Linh-Nhân hoàng thái hậu, điều đình việc này. Thái-hậu đồng ý không cho truy kích, phục binh đánh chư tướng nữa. Phụ vương sợ rằng trong khi chư tướng rút quân, có thể gặp quân Việt, rồi ngộ nhận chăng. Nên người sai anh em chúng tôi đến đây dẫn chư tướng rút quân.

Vị-Hoàng chỉ Linh-Cơ với Minh-Thúy:

– Hai em tôi đi với tiền quân. Còn tôi với Thiên-Trường đi với hậu quân. Thôi, bây giờ chư vị có thể ban lệnh cho chư quân nhổ trại rút quân thư thả, mà không sợ truy binh.

Quách Quỳ mừng chi siết kể, y ra lệnh cho Đào Bật, Khúc Chẩn đi đoạn hậu; Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn đầu. Còn lại y với chư tướng đi theo trung quân.

Quân sĩ ồn ào nhổ trại, xe, ngựa nối đuôi nhau lên đường. Đoàn quân của Tu Kỷ, Yên Đạt vượt qua Chi-lăng yên tĩnh. Khi vừa tới Quyết-lý thì có ba tiếng Lôi-tiễn nổ trên không, rồi trống thúc vang dội, quân reo, ngựa hí, cờ xí dựng lên rợp trời. Quân Việt gươm giáo sáng ngời dàn dài theo sườn núi. Tu Kỷ, Yên Đạt thấy mình lọt vào trận phục binh thì kinh hãi đến rụng rời chân tay. Tuy vậy y cũng ra lệnh cho quân chuẩn bị chiến đấu.

Ba tiếng Lôi-tiễn nữa nổ trên trời. Tiếng quân reo, tiếng tống thúc im bặt, rồi từ trong sườn núi đôi nam nữ cỡi ngựa tiến ra. Tu Kỷ nhận được nữ là Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên với chồng là phò mã Tôn Mạnh. Côi-sơn công chúa quát lớn:

– Tu Kỷ, Yên Đạt, mau xuống ngựa đầu hàng. Bằng không ta ra lệnh buông tên, thì các người sẽ bị tên ghim vào mình như con nhím ngay.

Đội quân Tống đi đầu này toàn là bệnh binh đang bị sốt rét hành, người hết lực, chân bước không nổi, bây giờ bị trúng phục binh, họ chỉ còn có nước quỳ gối xin hàng. Người người nhìn nhau, chân tay run rẩy.

Thế tử Linh-Cơ, với quận chúa Minh-Thúy vội vọt ngựa lên. Hai người cung tay:

– Điệt nhi xin tham kiến cô mẫu.

Công chúa Côi-sơn hỏi:

– Linh-Cơ, Minh-Thúy! Hai con đi đâu đây?

Minh-Thúy đáp:

– Linh-Nhân hoàng thái hậu ban chỉ rằng, Tống-Việt đã hòa, Việt phải mở đường cho Tống rút quân. Vì vậy phụ vương sai chúng cháu dẫn đầu đoàn quân này, để thưa rõ với cô.

– Thế thì được!

Công chúa cầm cờ phất một cái, quân Việt rẽ ra làm hai, mở đường cho bọn Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn quân đi.

Đấy là tiền quân, còn đội hậu quân, trại vừa nhổ xong, sắp lên đường thì trống thúc vang đội, quân reo, ngựa hí, trâu rống rung chuyển trời đất từ xa vọng lại. Thám mã báo với Đào Bật, Khúc-Chẩn:

– Có một đoàn kị mã đông đến năm nghìn ngựa, hai nghìn trâu, thế mạnh nghiêng trời lệch đất đang tiến về đây.

Quân Tống kinh hoàng định bỏ chạy. Đào Bật cầm gươm quát:

– Ai rời hàng ngũ ta chém liền.

Lát sau Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt dẫn đầu một đoàn kị mã, phía sau là Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn dẫn đầu đạo binh Hoa-lư rầm rập tiến tới. Ba người không mặc giáp trụ, mà mặc quần áo nâu chít khăn như nông dân.

Đào Bật hỏi:

– Linh-Nhân hoàng thái hậu đã hứa không truy kích bọn ta, hà cớ các người lại đem kị binh, kị ngưu đuổi theo. Đạo lý ở chỗ nào?

Hổ-đói xòe hai tay ra, tỏ rằng mình không mang vũ khí:

– Đào tướng quân lầm rồi! Thái-hậu đã ban chỉ, thì dù cho chúng tôi có nghìn cái đầu cũng không dám vi phạm. Chúng tôi nghĩ trước đây vì cái ngu của Vương An-Thạch, mà các vị với chúng tôi phải chém giết nhau. Nay Tống Thiên-tử đã hiểu ra, ban chỉ cho các vị rút lui, chúng tôi tới đây mời các vị uống chung rượu tạm biệt cùng kết thân đấy chứ!

Nói rồi nó gân cổ lên kêu mấy tiếng « Nghée..ée ơi! » . Năm con trâu kéo xe, rời hàng ngũ từ từ tiến tới. Trên xe chở nào trâu thui, lợn quay, gà luộc, giò chả với mấy chục hũ rượu. Hà Mai-Việt sai bầy thực phẩm, rượu ra, rồi cùng bọn Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn thân rót rượu, cắt thịt mời Đào Bật, Khúc Chẩn binh tướng hậu đội ăn uống.

Ăn no uống say xong, Đào, Khúc cho quân lên đường. Hà Mai-Việt, với bọn tướng trâu cỡi ngựa, cỡi trâu cùng tiến bước. Người không hiểu sự việc, cứ tưởng đoàn quân của Đào, Khúc với hiệu Phù-đổng, Hoa-lư là một !

Trong khi đi, Đào bật chửi thầm:

– Bọn Giao-chỉ thực là xỏ lá. Rõ ràng chúng đem kị mã, kị ngưu dọa ta, theo sát ta làm cho quân ta phát run, mà chúng lại làm ra vẻ tử tế! Đểu thực, mà cũng đáng nể thực.

Lại nói trung quân của Quách Quỳ với chư tướng đã rút về tới Chi-lăng. Quân đang nối đuôi nhau đi vào khúc đường hẹp. Thình lình ba tiếng vi vu rít trên không, chư tướng Tống bết rằng đó là tiếng rít của Lôi-tiễn, bất giác người người nhìn nhau, như cùng nói với nhau:

– Bọn Việt phục binh ở đây, thì e chúng ta khó mà toàn thây!

Đến đó ba tiếng nổ rung chuyển trời đất, rồi trống thúc vang lừng, quân reo dậy đất. Từ hai bên rừng cờ xí kéo lên bay phất phới, quân Việt dàn khắp các hốc đá, gươm đao sáng ngời. Quách Quỳ ra lệnh cho quân chuẩn bị giao chiến, thì từ trong rừng, một đôi trai gái cỡi ngựa tiến ra. Hai người tuổi khoảng trên dưới hai mươi. Trai thì phong lưu tiêu sái, gái thì đẹp sắc nước, hương trời. Phía sau đôi trai gái có đội hơn trăm nam nữ tấu đủ thứ âm nhạc, mà lại là nhạc chiến thắng của Hán Cao-tổ xưa. Sau đội nhạc tới mười xe do trâu kéo, trên chở trâu thui, lợn quay, gà luộc, giò chả.

Nam cung tay nói lớn:

– Có Quách đại nguyên soái của Thiên-triều đó chăng?

Quách Quỳ vọt ngựa tới trước:

– Ta là Quách nguyên soái đây? Người là ai?

Cặp trai gái vội xuống ngựa chắp tay hành lễ:

– Tiểu nhân là đô thống Lý Tam cùng vợ là Mai Tam thống lĩnh hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ, tuân chỉ Linh-Nhân hoàng thái hậu đem rượu thịt chờ tiễn Nguyên-soái cùng chư vị tướng quân đăc thắng hồi triều. Thái-hậu tuyên chỉ rằng: Giữa chư tướng, chư quân Tống-Việt không hề thù oán nhau. Chẳng qua vì Tống Thiên-tử nghe tên hủ nho Vương An-Thạch, mà cả hai bên cùng có kẻ chết, người bị thương. Nay Nguyên-soái hồi triều, chúng tôi phải đem rượu thịt tiễn đưa để kết thâm tình.

Quách Quỳ biết đây là đòn hù dọa của Đại-Việt với y: Nếu ta phục binh ở chỗ này, thì các người không cò một mạng. Mặt khác, lại vuốt mặt cho việc tút quân.

Quỳ với chư tướng, quân uống rượu, ăn thịt rồi lên đường. Lý Tam, Mai-Tam cúi đầu chào, đội nhạc lại đánh bản chiến thắng đời Hán Cao-tổ.

Rời Chi-lăng, ra khỏi vùng phục binh của hiệu Quảng-vũ, Quách Quỳ với chư tướng thở phào một cái, người người tự nói với mình: Thoát chết!

Quỳ đi một quãng nữa, thì gặp mấy viên đô thống có nhiệm vụ trấn đóng ở các trang động mới chiếm được; mặt tên nào cũng hơ hải tỏ ra kinh sợ cùng cực. Quách Quỳ hỏi:

– Việc gì đã xẩy ra?

Một viên đô thống đáp:

– Trình nguyên soái, Thân Cảnh-Long với vợ là Thiên-Thành đem quân đánh chiếm lại tất cả các trang động của Đại-Việt, kể cả trang động của ta, mà bọn động chủ dâng cho triều đình.

Triệu Tiết chửi tục:

– Tổ bà nó! Bề ngoài nó tổ chức tiễn đưa để dọa mình, làm như là lễ phép với Thiên-triều, sự thực chúng lại dùng sức mạnh tái chiếm đất. Bây giờ ta như cá nằm trên thớt thì mong gì giữ nổi mấy trang động?

Đâu đó từ trong rừng tiếng loa hướng vào quân Tống đọc Thiên-thư:

Nam-quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư?



*****

Khởi thảo ngày 10 tháng ba năm Mậu-Thân (1968). Viết xong tiết Xuân-phân năm Ất-Mão (1975).

Từ năm 1977, sau mỗi lần Hoa du lại thêm chi tiết, sửa bản thảo.

Sửa xong lần cuối lúc 22 giờ 15 ngày 13 tháng chạp, năm Ất-Hợi (1-2-96) tại căn nhà lụp xụp mang tên Vọng-quốc ở Pontault Combault, ngoại ô Paris.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ


Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0
NuHiepDeThuong ui!
Hôm nay đã là 30 Tết rồi, mình ráng post cho xong bộ NQSH để nghỉ Tết cho thỏai mái. NHDT bê đi dùm nha. Ra Tết mình sẽ làm tiếp bộ cuối là "Anh hùng Đông a dựng cờ bình Mông". còn ba bộ nữa của YTCS TĐS nhưng chưa xuất bản thì mình đành chờ vậy.
Chúc NHDT ăn Tết vui vẻ nhé.
Chán đời đi lang thang !
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: CDDLT

NuHiepDeThuong ui!
Hôm nay đã là 30 Tết rồi, mình ráng post cho xong bộ NQSH để nghỉ Tết cho thỏai mái. NHDT bê đi dùm nha. Ra Tết mình sẽ làm tiếp bộ cuối là "Anh hùng Đông a dựng cờ bình Mông". còn ba bộ nữa của YTCS TĐS nhưng chưa xuất bản thì mình đành chờ vậy.
Chúc NHDT ăn Tết vui vẻ nhé.


Chào CDDLT,

Cảm ơn CDDLT đã gửi đến NH lời chúc Tết.

NH đoan chắc CDDLT ăn Tết chắc cũng vui lắm ha. Nhân dịp nầy, chúc CDDLT 1 năm Ất Dậu an lành, hạnh phúc nhen.

Bữa nay mới đem hết bộ NQSH vào thư viện được. Mấy lúc trước không hiểu sao... làm được khoảng 5, 6 chương là máy PC tắt cái rụp... rồi bị cúp vậy chừng 3 lần... NH nản lòng chiến sĩ quá nên cứ đem từ từ vào... mãi đến hôm nay mới xong hết đấy ! Hú hồn ! [sm=3.gif]

Rất cảm ơn CDDLT đã góp sức với thư quán.[sm=----------------.gif][sm=----.gif]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0