Diễn Đàn » Lượm Lặt Đó Đây

Việt Nam Học

23 trả lời, 2.280 lượt xem — Trang 1 / 1
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất
 
Đang tìm
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-05 16:34:33Ct.Ly>
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhì






Nội lực và ngoại lực 
trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trần Văn Thọ 
Giáo sư kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo

 
(Bài phát biểu tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ hai tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ 14 đến 16/7/2004, và cũng là bài đóng góp cho Hội thảo mùa Hè do một nhóm trí thức VN ở nước ngoài tổ chức tại Đại học New York từ 22 đến 24/7/2004. ERCT đăng lại ở đây với sự đồng ý của tác giả ).
 
Mở đầu:
Từ những năm cuối thế kỷ 20, vấn đề phát huy nội lực được nói đến nhiều tại Việt Nam. Tôi cũng cho rằng trước trào lưu toàn cầu hoá ngày càng mạnh, đặt vấn đề tăng cường và phát huy nội lực để chủ động phát triển trong ổn định là cần thiết. Tuy nhiên cho đến nay vấn đề nầy mới được bàn chung chung, chưa được phân tích một cách khoa học nên chưa đưa ra được những kết luận có thể tham khảo cho việc đặt ra chính sách, chiến lược cần thiết. Một đỉểm quan trọng nữa cũng chưa được bàn đến một cách có hệ thống, chưa được phân tích, đánh giá là sự quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Có thể có nhiều truờng hợp ngoại lực góp phần làm mạnh nội lực. Do đó, sẽ là không khôn ngoan nếu không tận dụng ngoại lực để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Ngoại lực nên được kết hợp với nội lực như thế nào để phát triển nhanh và bền vững?
Bài viết nầy xoay quanh vấn đề vốn, công nghệ và tri thức quản lý, kinh doanh để phân tích chủ đề làm sao kết hợp có hiệu quả giữa nội lực và ngoại lực. Tri thức quản lý và năng lực kinh doanh có thể gọi chung là nguồn lực kinh doanh (managerial resources). Nguồn vốn (capital resources), công nghệ  và nguồn lực kinh doanh là những biểu hiện cụ thể của từ lực trong nội lực và ngoại lực. Các nguồn lực nầy được vận dụng qua hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, nội lực và ngoại lực vừa có thể được đánh giá trên bình diện vĩ mô (vị trí của hai nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân) vừa có thể được đánh giá qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài (dưới đây sẽ được gọi là doanh nghiệp FDI –foreign direct investment). Nhưng hai loại doanh nghiệp nầy không phải lúc nào cũng hoạt động độc lập mà bổ sung nhau trong nhiều truờng hợp, đặc biệt là nếu có chính sách, chiến lược đúng đắn sẽ phát sinh tác động tích cực từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp vốn trong nước.

Tại Việt Nam, dư luận xã hội và các nhà đặt chính sách chưa hiểu đúng vai trò của ngoại lực trong trường hợp nầy nên môi truờng FDI chậm được cải thiện và chưa có sự tác động tích cực từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp vốn trong nước.[1]  

Bài viết nầy sẽ đánh giá vai trò của FDI trên bình diện vĩ mô của kinh tế VN và sẽ phân tích, đánh giá vai trò của doanh nghiệp FDI tại VN trong sự quan hệ hỗ tương với các doanh nghiệp vốn trong nước. Bài viết sẽ giới hạn vấn đề trong ngành công nghiệp chế biến là ngành mà doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng, và cũng là ngành VN sẽ đẩy mạnh phát triển trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong phần dưới đây, Tiết I sẽ bàn về các khái niệm, các khung phân tích chính liên quan đế nội lưc và ngoại lực, trong đó đặc biệt đưa ra một phương pháp luận để phân tích sự liên quan giữa doanh nghiệp vốn trong nước và doanh nghiệp FDI, và đề khởi một sự liên kết (linkage) hiệu quả giữa hai loại hình doanh nghiệp. Tiết II đánh giá tổng quát về kết quả du nhập FDI của VN trong thời gian qua (1988-2003). Tiết III sẽ trình bày cái nhìn tổng quát về vị trí của doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân tại VN và phân tích hai trường hợp cụ thể (ngành may mặc và ngành xe máy) để xem chi tiết hơn về quan hệ giữa nội lực và ngoại lực  tại VN. Cuối cùng, phần kết luận sẽ đề xuất mấy ý kiến về mặt chính sách để VN tận dụng hiệu quả hơn nguồn lực nước ngoài
I. Mấy khái niệm để phân tích nội lực và ngoại lực:
1.      Nội lực và ngoại lực trong tầm nhìn vĩ mô:
Nói cụ thể, những yếu tố nào có thể bao gồm trong nội lực và ngoại lực?  Trên phương diện phân tích kinh tế, đất đai, lao động và tư bản là những yếu tố sản xuất chính, nhưng những nguồn lực (resources) khác như công nghệ, tri thức quản lý, khả năng kinh doanh, khả năng tổ chức, v.v. còn quan trọng hơn. Để phân tích được, ở đây ta cần giới hạn vào những nguồn lưc mà nội lực và ngoại lực có quan hệ mật thiết nhau, hoặc bổ sung hoặc thay thế. Những nguồn lực như vậy có thể gồm tư bản, công nghệ, năng lực quản lý, kinh doanh. Cùng với vốn và công nghệ, năng lực quản lý và khả năng kinh doanh là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và được gọi chung là nguồn lực kinh doanh (managerial resources). Như vậy, vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh là 3 yếu tố quan trọng để kinh tế phát triển và cũng là những yếu tố nhìn được cả hai mặt nội lực và ngoại lực.
Một nước ở trình độ phát triển còn thấp, khả năng tiết kiệm hạn chế không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư. Nếu hạn chế nhu cầu đầu tư ở mức tiết kiệm cho phép thì kinh tế tăng trưởng chậm. Để nhanh chóng cất cánh, phải bảo đảm một tỉ lệ đầu tư cao. Khoảng chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư (saving/investment gap) nầy được bù đắp bằng nguồn vốn nước ngoài. Ở đây phát sinh vấn đề nội lực và ngoại lực: Vốn nước ngoài nên được dùng như thế nào và đâu là mức độ có thể chấp nhận được? Vốn nước ngoài có thể được du nhập qua các kênh sau: (1) Vay theo hình thức vốn ưu đãi của  chính phủ  nước ngoài (ODA), (2) vay thương mại, (3) đầu tư trực tiếp từ doanh nghiệp nước ngoài (FDI) , (4) các kênh khác. Các kênh (1) và (2) phát sinh nợ phải trả trong tương lai nên phải dùng ngoại lực nầy một cách có hiệu quả và phải vay trong một giới hạn có thể trả được nợ trong tương lai.[2]  FDI là kênh du nhập tư bản không phát sinh nợ.

Công nghệ là nguồn lực phải được xây dựng lâu dài nên nếu chỉ dựa vào nội lực thì quá trình phát triển quá chậm. Trong lịch sử kinh tế, trừ Anh là nước công nghiệp hiện đại đầu tiên, hầu như nước nào cũng tìm cách du nhập công nghệ từ nước tiên tiến hơn mình để phát triển nhanh. Du nhập công nghệ nước ngoài có các kênh sau: (1) Hợp đồng mua công nghệ (licensing agreement), (2) FDI, (3) Các hình thái khác như  BOT (Build-Operation-Transfer), OEM (Original Equipment Manufacturing), uỷ thác sản xuất (contractual production). [3] Trong các kênh nầy, (1) và (2) phổ biến nhất.
Nguồn lực kinh doanh được du nhập chủ yếu qua kênh FDI. Trươc chiến tranh thế giới lần thứ hai FDI chưa phổ biến nên có thể nói nguồn lực kinh doanh chỉ được tích luỹ trong nội bộ mỗi nước.   

Như vậy FDI là hình thái du nhập cùng một lúc 3 nguồn lực: vốn, công nghệ và năng lực kinh doanh. Nói khác đi, trong trường hợp FDI, cả 3 nguồn lực được đưa vào trọn trong một gói (package). Kinh nghiệm các nước đã phát triển rất đa dạng. Nhật Bản là nước hầu như chỉ nhập khẩu công nghệ còn vốn và nguồn lực kinh doanh thì dựa vào nội lực. Hàn Quốc (thập niên 1980 trở về trước) thì du nhập nhiều vốn (bằng ODA và vay thương mại) và công nghệ (chủ yếu qua hình thức hợp đồng) nhưng năng lực kinh doanh bản xứ đóng vai trò chủ đạo (Trần Văn Thọ 1997, Chương 6 và 8).
FDI đưa vào cùng một lúc 3 nguồn lực nên hiệu quả phát triển lớn hơn các hình thái khác như hợp đồng công nghệ hay vay vốn thương mại. Du biết vậy, nhiều nước đang phát triển trong thập niên 1960 và 1970 đã lo ngại bị các công ty đa quốc gia (MNC, multinational corporations) chi phối kinh tế. Chủ nghĩa dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa vào thời đó rất mạnh nên MNCs bị phê phán nặng và FDI được chấp nhận nhưng thường xuyên bị cảnh giác và  bị hạn chế  bằng nhiều chính sách đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu của nước tiếp nhận. Trong sự cảnh giác MNCs, đã có ý kiến là nên chia lẻ (unpackage) các nguồn lực và du nhập theo nhiều kênh khác nhau (Oman 1984), giống như kinh nghiệm của Hàn Quốc.

Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1980, cùng với xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh, cạnh tranh giữa các nước trong chiến lược thu hút FDI ngày càng gay gắt vì FDI dần dần được xem là đầu máy của sự tăng truởng (engine of growth). Không kể Singapore hay Hong Kong là những nền kinh tế mở, qui mô nhỏ nên FDI có vai trò lớn, những nước lớn hơn như Thái Lan, Malaysia từ khoảng 1985 và Trung Quốc từ thập niên 1990 đã thành công trong chiến lược tích cực dùng FDI để tăng truởng cao.

Dù vậy, tại một số nước trong đó có VN vẫn còn có thái độ cảnh giác MNCs, xem việc du nhập FDI là chuyện bất đắc dĩ. Điều nầy phản ảnh trong các chính sách hạn chế hoạt động của MNC và áp dụng chính sách 2 giá, ép buộc người nước ngoài và doanh nghiệp FDI phải trả giá cao cho nhiều sản phẩm và dịch vụ như điện, nước, bưu chính viễn thông,.. Các nước nầy rơi vào trường hợp tiến thối lưỡng nan (dilemma) vừa muốn du nhập FDI nhưng lại sợ bị bóc lột.
Để giải quyết dilemma nầy tôi đã đề khởi chiến lược vừa tích cực du nhập FDI vừa nỗ lực tích luỹ nội lực để thay thế dần ngoại lực (vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh).[4] Nội dung chiến lược nầy có thể tóm tắt như sau: Tuỳ theo giai đoạn phát triển của một ngành công nghiệp, ta nên phân chia độ phụ thuộc vào ngoại lực thành nhiều mức độ khác nhau. Chiến lược thông minh là trong khi trình độ sản xuất còn non trẻ, ta phải biết tranh thủ đến mức cao nhất vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh của MNCs để tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế, nhưng sau đó, bằng cách tự mình tích luỹ các nguồn lực nầy tiến đến giảm dần mức độ dựa vào ngoại lực. Hình 1 minh hoạ điểm nầy.

Trong hình nầy, trục tung biểu thị mức độ dựa vào ngoại lực (đo bằng tỉ lệ góp vốn, tỉ lệ của số cán bộ kỹ thuật hoặc cán bộ quản lý nước ngoài trong tổng số,...). Trục hoành biểu thị thời gian, còn i1, i2, i3,...là các đường cong biểu hiện sự thay đổi về mức độ dựa vào ngoại lực. R là mức độ bình quân mà nước nầy có thể phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. Tuỳ theo từng nước, ý thức dân tộc và thái độ đối với ngoại lực có khác nhau nên R của từng nước cũng khác nhau. Điều quan trọng là trong bất cứ ngành công nghiệp nào, mức độ dựa vào ngoại lực không phải luôn giữ ở mức R như nhau., mà tuỳ từng giai đoạn phát triển, của từng ngành công nghiệp nó có thể cao hoặc thấp hơn R. Như vậy, việc kết hợp giữa sự khác nhau trong các giai đoạn phát triển của các ngành công nghiệp với sự khác nhau tương ứng của độ phụ thuộc vào ngoại lực, sẽ đem lại một con số trung bình của toàn nền kinh tế (R) về mức độ dựa vào ngoại lực. Ví dụ quan sát thời điểm tn ta có thể hiểu được điều đó dễ dàng. 

Làm sao để tích luỹ các nguồn lực trong nước để dần dần thay thế được ngoại lực? Đây là đề tài lớn không thể phân tích hết ở đây. Việc tích luỹ nội lực bao gồm tăng tiết kiệm trong nước, khơi dậy tinh thần doanh nghiệp của  người bản xứ, đẩy mạnh giáo dục đào tạo theo hướng cung cấp ngày càng nhiều người  có  năng lực quản  lý , kinh doanh, v.v... Nhưng trong các biện pháp, chính sách, chiến lược tích luỹ nội lực có vấn đề tận dụng ngoại lực để tích luỹ nội lực. Nghĩa là trong lúc du nhập FDI, làm sao đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh từ doanh nghiệp FDI sang  doanh 







 
nghiệp bản xứ. Việc liên kết (linkages) giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp gốc bản xứ càng hiệu quả, việc chuyển giao công nghệ và năng lục kinh doanh càng tích cực thì nội lực được tăng cường. Phần tiếp theo sẽ phân tích điểm này.


2. Chuyển giao công nghệ và nguồn lực kinh doanh: Liên kết giữa ngoại lực và nội lực.

   Vai trò quan trọng mà FDI mang lại cho nước đang phát triển là chuyển giao công nghệ và nguồn lực kinh doanh. Công nghệ và nguồn lực kinh doanh được chuyển giao không giới hạn trong ngành có FDI triển khai mà còn qua các sự liên kết hàng dọc (vertical linkages), các nguồn lực nầy có thể chuyển sang các ngành khác, làm cho các doanh nghiệp ở các ngành đó phát triển có hiệu suất hơn.

   Sự chuyển giao (transfer) có 3 loại: Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp (intra-firm transfer) là hình thái chuyển giao giữa công ty đa quốc gia (MNC) với công ty con tại nước ngoài tức doanh nghiệp FDI. Để hoạt động có hiệu quả tại nước ngoài, MNCs thường tích cực chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh cho xí nghiệp con (đào tạo lao động bản xứ để có thể sử dụng máy móc, cấp quản lý cũng được đào tạo và thay thế dần người nước ngoài để giảm phí tổn sản xuất). Đối với nước tiếp nhận FDI, để tăng hiệu quả nầy, tốt nhất là không ngừng cải thiện, tăng cường cung cấp ra thị trường các nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách cưỡng bách doanh nghiệp FDI dùng người bản xứ chỉ làm môi trường đầu tư xấu đi. Một vấn đề lý thú nữa là hình thái liên doanh hay 100% vốn nước ngoài có hiệu quả cao trong việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh? Chuyển giao công nghệ sản xuất thì không có sự khác biệt mấy giữa hai hình thái. Nhưng để đẩy mạnh chuyển giao năng lực kinh doanh, rõ ràng là hình thái liên doanh có hiệu quả hơn vì các nhà quản lý, lãnh  đạo doanh nghiệp bản xứ có cơ hội học hỏi trực tiếp kinh nghiệm từ đối tác nước ngoài.[5] 
 
Hình thái thứ hai là chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp bản xứ hoạt động trong cùng ngành. Người quản lý bản xứ làm việc trong doanh nghiệp FDI sau khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm có thể mở công ty riêng cạnh tranh lại với công ty FDI. Đối với doanh nghiệp FDI đây là một sự tổn thất nhưng đối với kinh tế của nước nhận FDI thì đây là hiện tượng tốt vì công nghệ được lan truyền sang toàn xã hội góp phần tăng cường nội lực. Một thí dụ khác của hình thái nầy là xí nghiệp bản xứ đã có sẳn và hoạt động cạnh tranh trong cùng lãnh vực với doanh nghiệp FDI có thể quan sát, nghiên cứu hoạt động của doanh nghiệp FDI từ đó cải thiện hoạt động của mình. Có thể gọi hình thái thứ hai liên quan đến chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh là sự chuyển giao hàng ngang giữa các doanh nghiệp (horizontal inter-firm transfer) vì là sự chuyển giao giữa các doanh nghiệp độc lập và ở trong cùng một ngành. Tuy nhiên hình thái nầy có thể hiểu được trên lý luận nhưng khó kiểm chứng vì không thể thu thập được số liệu khách quan.

Hình thái thứ ba là chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp (vertical inter-firm transfer) trong đó doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh sang các doanh nghiệp bản xứ sản xuất sản phẩm trung gian (điển hình là sản phẩm công nghiệp phụ trợ như phụ tùng, linh kiện xe máy) cung cấp cho doanh nghiệp FDI, hoặc trường hợp doanh nghiệp bản xứ dùng sản phẩm của doanh nghiệp FDI để sản xuất ra thành phẩm cuối cùng (chẳng hạn doanh nghiệp bản xứ dùng nguyên liệu chất dẻo –plastic- do doanh nghiệp FDI cung cấp để sản xuất các loại đồ dùng trong nhà. Trong cả hai trường hợp, công nghệ được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp bản xứ, và đây là hiệu quả lan toả (spill-over effect) lớn nhất, quan trọng nhất nên các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm và đưa ra các chính sách làm tăng hiệu quả nầy (Xem UNCTAD 2001).


II. Đánh giá tổng quát FDI tại Việt Nam:
 
Từ đầu thập niên 1990, kinh tế vĩ mô của VN được ổn định, tốc độ phát triển kinh tế cũng lên quỹ đạo và ở mức tương đối cao. Quan hệ với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực đã bình thường hoá. Nhật đã quyết định viện trợ trở lại (1992) và Hội nghị các nhà tài trợ giúp VN xây dựng cơ sở hạ tầng đã được quyết định sẽ tổ chức hằng năm (bắt đầu năm 1993). Sự chuyển biến thuận lợi nầy cùng với vị trí địa lý tốt, tình hình chính trị, xã hội ổn định và một nước có dân đông, có nguồn lao động phong phú đã làm cho VN trở thành môi trường đầu tư nhiều tiềm năng. Theo kết quả thăm dò hằng năm về kế hoạch đầu tư nước ngoài của vài ngàn doanh nghiệp lớn Nhật Bản do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thực hiện, VN đã sớm trở thành một trong những môi trường mà doanh nghiệp Nhật chú ý. VN xếp thứ 5 trong lần thăm dò năm 1992. Năm 1993 VN ở vị trí thứ 4 và trong 2 năm liên tiếp sau đó đã vươn lên vị trí thứ 2. Từ năm 1996 vị trí của VN giảm nhưng hầu như năm nào cũng nằm trong 5 nước được doanh nghiệp Nhật đánh giá cao về tiềm năng.
  VN tiếp tục được nước ngoài đánh giá cao về tiềm năng nhưng dòng chảy FDI vào VN từ nửa sau thập niên 1990 đã giảm nhanh và hiện nay cũng chưa hồi phục (Xem Hình 2). Tuy các yếu tố về kinh tế vĩ mô, về dân số, lao động, về vị trị địa lý vẫn thuận lợi nhưng chính sách liên quan đến FDI của VN chưa ổn định, thiếu  nhất quán, hay thay đổi và chưa có chiến lược phát triển công nghiệp lâu dài. Đến năm 2000, VN mới sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài theo hướng cạnh tranh được với các nước chung quanh. Hơn nữa, việc vận dụng luật vào việc quản lý thực tế vẫn chưa có hiệu quả.

Biểu 1 cho thấy vị trí của FDI trong các chỉ tiêu của kinh tế VN. So với kinh nghiệm các nước Á châu khác, vị trí nầy khá cao. Chẳng hạn tỉ trọng của FDI trong tổng đầu tư của VN xấp xỉ với Malaixia và cao hơn Thái Lan nhiều (trong giai đoạn 1988-93, xem Biểu 2).  So với Trung Quốc những năm gần đây thì con số của VN cũng cao hơn.

Tuy ở mức cao trong tổng đầu tư, FDI ở VN vẫn còn ít nếu xét trên một số chỉ tiêu khác. Biểu 3 so sánh VN với Trung Quốc nói chung và tỉnh Quảng  Đông (một tỉnh có nhiều điều kiện như dân số, vị trí địa lý giống VN) nói riêng. FDI tính trên đầu nguời ở VN chỉ bằng 60% của nước Trung Quốc rộng lớn với số dân 1,3 tỉ và chỉ bằng 13% của tỉnh Quảng Đông. Như Biểu 3 cho thấy, FDI có tương quan mật thiết với các chỉ tiêu về thành quả phát triển như GDP trên đầu người và kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Từ nhận xét nầy, có thể nói tỉ lệ của FDI trong tổng đầu tư ở VN cao là vì đầu tư vốn trong nước (nội lực) còn quá ít. VN cần huy động vốn trong dân, cải thiện môi trường đầu tư cho dân doanh hơn nữa để tăng nội lực.  Tóm lại, tỉ lệ khá cao của FDI không có nghĩa là VN không cần ngoại lực nhiều hơn mà vấn đề ở đây là cả nội lực và ngoại lực đều cần tăng cường.






 


Xét về chất, FDI tại VN cho đến nay có các đặc tính chưa mang lại hiệu quả tích cực cho phát triển kinh tế. Trước hết có thể thấy tỉ trọng của FDI trong sản xuất công nghiệp khá cao (gần 40% năm 2000) nhưng chỉ chiếm độ 10% trong lao động công nghiệp (Biểu 1). Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa là năng suất lao động của các doanh nghiệp FDI cao hơn các thành phần kinh tế khác. Nhưng FDI ít tạo ra công ăn việc làm không phải chỉ vì lý do đó mà chủ yếu vì cho đến nay FDI có khuynh hướng tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu và ít dùng lao động.  Như Biểu 1 cho thấy, vị trí của FDI trong tổng nhập khẩu cao hơn trong tổng xuất khẩu. Dĩ nhiên các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và máy móc để phục vụ cho cả các dự án đầu tư hướng về xuất khẩu nhưng nếu phần lớn FDI là hướng về xuất khẩu thì tỉ lệ của FDI trong nhập khẩu sẽ thấp hơn nhiều.
Để phân tích sâu hơn tính chất của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, ta thử chia khu vực công nghiệp chế biến (manufacturing sector) thành 23 ngành và tính thử tỉ lệ của tư bản dùng cho mỗi lao động (capital/labor ratio, viết tắt là K/L) và tỉ lệ xuất khẩu trong tổng doanh số bán ra (export/sales, viết tắt là E/S) trong từng ngành. Thống kê về tư bản được tính bằng cách cộng tất cả kim ngạch đầu tư đã thực hiện từ trước đến thời điểm cuối năm 2002. Thống kê về lao động lấy số liệu vào cuối năm 2002, kim ngạch xuất khẩu và doanh số bán ra là của năm 2002. Trong Hình 3, trục tung đo tỉ lệ E/S và trục hoành đo tỉ lệ K/L.  Ta thấy ngay rằng trừ một vài ngoại lệ, những ngành có hàm lượng lao động cao (tỉ lệ K/L thấp) là những ngành mà FDI hoạt động chủ yếu là phục vụ xuất khẩu (tỉ lệ E/S cao), điển hình là may mặc, giày dép, chế biến đồ gỗ,... Điều này hợp với lý luận cơ bản về kinh tế quốc tế vì VN là nước phong phú về lao động nên có lợi thế so sánh trong các ngành có hàm lượng lao động cao.



 
Nhưng cho đến nay những ngành mà kim ngạch FDI chiếm vị trí hàng đầu là những ngành thay thế nhập khẩu. Bốn ngành có kim ngạch FDI nhiều nhất (kim thuộc, thực phẩm và đồ uống, ô tô xe máy và hoá chất) chiếm tới 53% tổng kim ngạch FDI (luỹ kế từ 1988 đến 2002) đều là những ngành có tỉ lệ K/L cao và tỉ lệ E/S thấp. Những ngành thay thế nhập khẩu nầy thường là những ngành được bảo hộ bằng hàng rào quan thuế khá cao.[6] Do được bảo hộ và do kỳ vọng vào sự lớn mạnh của thị trường gần 80 triệu dân, doanh nghiệp nước ngoài có khuynh hướng muốn đầu tư vào các ngành thay thế nhập khẩu.


Dĩ nhiên không phải tất cả các dự án FDI có mục đích thay thế nhập khẩu đều đáng bị chỉ trích như ta thấy ở một số nghiên cứu khác.[7] Nếu các ngành đó dần dần không cần bảo hộ vẫn cạnh tranh được trên thị trường thế giới và do đó chuyển từ thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu trong tương lai thì vẫn đáng được đánh giá cao (xem như là những ngành non trẻ có thể được bảo hộ trong thời gian nhất định). Một điểm nữa là nếu các dự án FDI thay thế nhập khẩu đó có hiệu quả lan toả (spill over effects), tác động tích cực trong việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh, kích thích phát triển các doanh nghiệp bản xứ và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước thì những phí tổn bảo hộ cho toàn xã hội sẽ nhỏ đi và các dự án FDI đó cũng đáng được đánh giá tích cực. Nhưng lịch sử FDI của các ngành nầy còn ngắn chưa có cơ sở để đánh giá các ngành thay thế nhập khẩu hiện nay thoả mãn các điều kiện của những ngành công nghiệp non trẻ không. Do đó, ở đ ây ta sẽ chỉ phân tích hiệu quả lan toả của các dự  án FDI kể cả các dự án thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu (xem phần cuối của Tiết III).


III. Đánh giá sự liên kết giữa nội lực và ngoại lực tại Việt Nam:
Dựa trên khung các khái niệm nói ở phần 2 trong Tiết I, ta sẽ đánh giá sự chuyển giao công nghệ và năng lưc kinh doanh giữa MNCs với doanh nghiệp FDI (chuyển giao nội bộ doanh nghiệp) và giữa FDI với doanh nghiệp trong nước (chuyển giao hàng dọc giữa các loại hình doanh nghiệp). Khái niệm chuyển giao nầy chỉ một hiện tuợng gần như đồng nghĩa với khái niệm liên kết (linkages) mà Lall (1977) và UNCTAD (2001) dùng để phân tích quan hệ hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp bản xứ nên dưới đây ta sẽ dùng cả hai khái niệm nầy.  Nhưng truớc khi đi vào vấn đề nầy, cần có cái nhìn về cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động tại VN.

        1. Các loại hình doanh nghiệp trong nền công nghiệp VN:
 
  Trước đổi mới, kinh tế VN có 3 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp quốc doanh (SOEs), hợp tác xã và các hộ gia đình. Từ khi có đổi mới, các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân ra đời. FDI bắt đầu từ 1988 nhưng thực sự tăng đáng kể từ năm 1994. Doanh nghiệp tư nhân tăng đáng kể mới từ năm 2000.
Biểu 4 chia khu vực công nghiệp thành 23 ngành kèm theo thống kê về kim ngạch sản xuất năm 2000 và thị phần của 3 loại hình doanh nghiệp. Nhìn chung vị trí của FDI khá cao. Đặc biệt doanh nghiệp FDI có vị trí lớn trong các  ngành ô tô, xe máy, đồ điện gia dụng, máy móc dùng ở văn phòng. Trong một số ngành có hàm lượng lao động cao như may mặc, giày dép, FDI cũng có vai trò quan trọng. SOEs đặc biệt mạnh trong các ngành dùng nhiều tư bản như sản xuất thuốc lá, kim thuộc và hoá chất. Công ty tư nhân và các hộ cá thể thì tương đối mạnh trong các ngành có hàm lượng lao động cao và chủ yếu dùng nguyên liệu trong nước như chế biến đồ gỗ, thực phẩm. Biểu 4 cho thấy may mặc là ngành công nghiệp mà cả 3 loại hình doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng. Ngành nầy sẽ được chọn để khảo sát sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp khác. Ngành ô tô xe máy FDI có vị trí áp đảo nhưng đây là ngành liên quan mật thiết với công nghiệp phụ trợ, ta sẽ chọn để xét xem có sự liên kết giữa FDI với các loại hình doanh nghiệp khác không.


 
   2. Chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh từ MNC:
Vào tháng 8 và tháng 9 năm 2003 tôi có thực hiện một cuộc điều tra thực tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Biên Hoà về hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong các ngành dệt vải, may mặc, giày dép, ô tô và xe máy. Trong mùa hè các năm truớc đó, một số cuộc điều tra nhỏ hơn cũng đã được thực hiện. Tổng hợp kết quả các cuộc điều tra nầy cho thấy các doanh nghiệp FDI tích cực chuyển giao công nghệ cho lao động ở nhà máy và chuyển giao tri thức điều hành, quản lý cho kỹ sư, nhân viên quản lý các cấp người VN. Khi nguời VN không hoặc chưa thoả mãn các điều kiện về  chuyên môn, doanh nghiệp nước ngoài mới đưa người ở các nước khác đến. Người nước khác ở đây không nhất thiết là người nước gốc của MNCs mà kể cả người ở các nước thứ ba. Đặc biệt nhiều công ty FDI gốc Đài Loan hoặc Hong Kong thường thuê kỹ sư người ở Trung Quốc, công ty FDI Nhật thường thuê người Đài Loan, v.v... Sau 3-4 năm hoạt động, các doanh nghiệp FDI dần dần tìm người VN thay thế để giảm phí tổn sản xuất. Tiền lưong của một kỹ sư người VN bằng nửa người Trung Quốc và bằng 1/4 người cùng trình độ từ Đài Loan sang.
Để tăng hiệu quả chuyển giao công nghệ và tri thức kihn doanh, điều tiên quyết của VN là cần tăng cường giáo dục, đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách gần đây của VN (hạn chế doanh nghiệp FDI chỉ được dùng người nước ngoài trong giới hạn 3% tổng lao động trong công ty) [8] là không có cơ sở khoa học và chỉ làm môi trường FDI ở VN xấu hơn.


Về việc chuyển giao năng lực kinh doanh, chưa có số liệu đầy đủ để phân tích có hệ thống nhưng những thông tin liên quan tôi thu thập được trong mấy năm qua cho thấy là hiệu quả chuyển giao rất yếu vì các lý do sau: Thứ nhất, phần lớn đối tác phía VN trong các liên doanh FDI là doanh nghiệp quốc doanh (SOEs). Người quản lý, lãnh đạo kinh doanh được gửi tới các liên doanh thường là cán bộ ở SOEs hoặc ở các bộ chủ quản của SOEs liên quan. Trong số nầy cũng có nhiều người vốn có tinh thần doanh nghiệp, tinh thần trách nhiệm và  ham học hỏi nên đã làm việc hiệu quả trong các liên doanh, tích cực hấp thu tri thức và kinh nghiệm từ đồng nghiệp nước ngoài. Nhưng một phần khá lớn họ là những người hành động như các quan chức và dồn hết quan tâm về những vấn đề khác, thay vì làm cho liên doanh phát triển. Thứ hai, nguyên tắc nhất trí 100% thành viên hội đồng quản trị áp dụng vào việc quyết định các vấn đề kinh doanh trong liên doanh kéo dài quá lâu, cải thiện quá chậm gây ảnh hưởng hoạt động của doanh nghiệp FDI. Vì lý do nầy, MNCs đầu tư ở VN có khuynh hướng lập doanh nhgiệp 100% vốn nước ngoài thay vì liên doanh. Các liên doanh trong quá khứ cũng có khuynh hướng xin chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài.  Biểu 5 cho thấy tỉ lệ của các liên doanh trong tổng số các doanh nghiệp FDI giảm nhanh và liên tục trong thời gian qua. Như đã phân tích ở Tiết I, FDI với 100% vốn nước ngoài không đưa lại hiệu quả chuyển giao nguồn lực kinh doanh cao như truờng hợp liên doanh.



    3. Liên kết hàng dọc: Hiệu quả lan tỏa mạnh hay yếu?
   Như đã đề cập ở Tiết I, hiệu quả lan toả từ FDI đến các thành phần khác trong nền kinh tế càng cao thì nội lực càng được tăng cường. Qua sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước (SOEs, doanh nghiệp tư nhân, các đơn vị cá thể,...), công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI đến các thành phần khác của nền kinh tế. Để kiểm chứng hiệu quả nầy, cần xét từng ngành cụ thể. Dưới đây sẽ phân tích hai ngành may mặc và xe máy là những ngành có các quan hệ hàng dọc với các ngành khác. Ngoài ra, đây là hai trong những ngành có FDI nhiều, trong đó FDI ngành may mặc hướng vào thị truờng nước ngoài trong khi ngành xe máy chủ yếu là thay thế nhập khẩu (Xem Biểu 6).
       a/ Ngành may mặc:
Dệt vải và may mặc là những ngành công nghiệp quan trọng của VN. Năm 2001, hai ngành nầy chiếm độ 11% giá trị tính thêm trong toàn bộ ngành công nghiệp chế biến.Từ đầu thập niên 1990s, may mặc trở thành ngành xuất khâủ hàng đầu của VN. Vào giữa thập niên 1990, ngành nầy chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu và độ 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Với sự lớn mạnh của ngành da giày và một số ngành xuất khẩu khác, vị trí của ngành may mặc có giảm nhưng vẫn chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001.





   
  Truớc giai đoạn may mặc (apparel) là các giai đoạn kéo sợi (spinning), dệt (weaving) và dệt kim (knitting). Theo Biểu 7, số doanh nghiệp FDI hiện diện khá đông đảo trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt là khá tích cực trong giai đoạn may mặc. Trong hai ngành may mặc và dệt nầy, các nước, các nền kinh tế đầu tư tích cực nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hong Kong  (Biểu 6). Nhiều công ty Nhật cũng tích cực. Trừ Singapore, các dự án của các nước nầy có tỉ lệ xuất khẩu rất cao và tỉ lệ K/L thấp. Điều nầy cho thấy các nước công nghiệp mới ở Á châu và Nhật Bản đã tận dụng lao động VN để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điển hình có hàm lượng lao động cao.  
  Nhưng hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong ngành may mặc có tạo ra một sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước thuộc các giai đoạn kéo sợi và dệt không? Theo điều tra của Viện quản lý kinh tế Trung Ương, vào năm 2002, vẫn còn tới hơn 2/3 số doanh nghiệp FDI dùng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng may mặc.[9] Điều tra của tôi vào tháng 8 và tháng 9/2003 cho thấy các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài thường có khuynh hướng nhập khẩu hầu như toàn bộ bán thành phẩm và nguyên liệu cần thiết. Chẳng hạn truờng hợp công ty 100% vốn Nhật Bản sản xuất quần áo ở Khu chế xuất Tân Thuận, vào năm 2003, mặc dầu đã sau 7 năm hoật động tại VN, vẫn còn có tới 97% nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.




 
Những doanh nghiệp FDI có dùng (mặc dù số lượng chưa nhiều) nguyên liệu và bán thành phẩm sản xuất trong nước nằm trong 2 trường hợp sau: Một là các xí nghiệp liên doanh với các đối tác phía VN, các đối tác nầy thường là các công ty quốc doanh mà sản xuất chính của họ là các mặt hàng trung gian đó. Một trong những động cơ hoặc điều kiện để lập liên doanh với nước ngoài là tiêu thụ bán thành phẩm hay nguyên liệu họ có sản xuất. Hai là các doanh nghiệp FDI ngành may mặc mua bán chế phẩm hay nguyên liệu từ những liên doanh FDI khác. Từ giữa thập niên 1990, FDI vào VN để sản xuất các sản phẩm nầy bắt đầu tăng và vào đầu năm 2003 đã có trên dưới 50 doanh nghiệp vốn nước ngoài sản xuất sợi và vải tại VN (xem Biểu 7).

   Kết quả khảo sát nầy cho thấy sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp thuần tuý vốn trong nước là rất yếu. Doanh nghiệp FDI có khuynh hướng dùng nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu hoặc do các công ty FDI khác sản xuất. Nguyên nhân là vì doanh nghiệp nhà nước trong ngành không cung cấp các sản phẩm chất lượng cao và/hoặc không đảm các điều kiện về giao hàng. Doanh nghiệp tư nhân trong nước còn quá yếu
.
    b/ Trường hợp ngành xe máy:
Từ giữa thập niên 1990, thị truờng xe máy ở VN tăng nhanh. Trước năm 1997, nhiều công ty thương mại nhà nước nhập khẩu xe cũ từ Nhật Bản. Nhưng từ 1997 xe cũ không được phép nhập nữa và từ năm 1998 nhập khẩu xe mới cũng bị cấm. Chính sách nầy nhằm đẩy mạnh sản xuất thay thế nhập khẩu tại VN.

  Từ đầu thập niên 1990, một số công ty lắp ráp trong nước đã ra đời. Họ nhập khẩu linh kiện nguyên chiến (CKD) hoặc linh kiện rời (IKD) về lắp ráp bán tại thị trường trong nước. Công nghệ lắp ráp CKD đơn giản nên nhà nước chỉ dành cho một số các công ty quốc doanh. Các công ty ngoài quốc doanh phải theo hình thức IKD.  Trong tình hình đó, từ giữa thập niên 1990, số doanh nghiệp FDI  tham gia sản xuất tăng nhanh.  Đến tháng 6/2002 đã có 7 công ty FDI trong số 52 doanh nghiệp lắp ráp xe máy. Số doanh nghiệp FDI không nhiều nhưng quy mô lớn và có uy tín quốc tế nên chiếm thị phần không nhỏ. Đặc biệt nổi tiếng nhất là Honda. Nhờ thanh danh, nhãn hiệu nổi tiếng và thị phần lớn nên giá bán xe máy của Honda cao và công ty nầy đã có thể có lời từ năm 1999, chỉ 15 tháng tính từ ngày bắt đầu sản xuất. Nhưng khi thông tin về phí tổn sản xuất và giá bán của xe máy do Honda lắp ráp tại Thái Lan lan truyền tại VN, dư luận xã hội đã chỉ trích Honda về thành quả hoạt động kinh doanh tại VN. Cùng lúc đó, nhiều doanh nghiệp trong nước bắt đầu nhập linh kiện xe Trung Quốc và sản xuất với giá rẻ. Tuy chủ yếu bán cho giới tiêu thụ thu nhập thấp, nhất là tại thị truờng nông thôn, các loại xe máy nầy xâm lấn vào thị trường của Honda. Vào tháng 1/2002 Honda đối phó bằng chiến lược nhập linh kiện IKD từ Trung Quốc và sản xuất loại xe mới, giá rẻ, giành lại thị trường. [10] 
 
Xe máy giá rẻ đã nhanh chóng làm cho thị trường phát triển mạnh nhưng cũng làm tăng tai nạn giao thông. Năm 2002, chính phủ hạn chế số lượng xe máy mới lưu thông trên thị trường, chỉ cho phép đăng ký 1,5 triệu chiếc, bằng 75% năm 2001. Trong số 1,5 triệu chiếc, 900.000 chiếc là hạn ngạch dành cho doanh nghiệp trong nước và phần còn lại cho doanh nghiệp FDI. Mặc dù số lượng 600.000 chiếc dành cho doanh nghiệp FDI là khá lớn so với lượng sản xuất của họ năm 2001, nhưng vì các công ty FDI đã có kế hoạch đẩy mạnh sản xuất với số lượng cao hơn hạn ngạch được phân phối nên nhiều công ty đã phải điều chỉnh kế hoạch kinh doanh (Honda tạm ngừng sản xuất vào tháng 9 năm 2002, một sự kiện được các cơ quan truyền thông loan báo rộng rãi làm hình ảnh môi trường FDI ở VN xấu đi).

Chính sách của VN trong ngành xe máy cũng có một số cơ sở nhất định nhưng vấn đề là chính phủ không có kế hoạch lâu dài cho ngành nầy và chính sách thay đổi đột ngột làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường FDI xấu, sản xuất của doanh nghiệp FDI bất ổn định dĩ nhiên ảnh hưởng đến sự chuyển giao công nghệ và tri thức kinh doanh đến các doanh nghiệp trong nước vì kế hoạch sản xuất của xe máy không ổn định thì kế hoạch tạo sự liên kết với các doanh nghiệp cung cấp phụ kiện, bộ phận cũng bất ổn.

Về sự liên kết giữa FDI với các công ty trong nước, ít có











tư liệu để kiểm chứng. Sau đây ta xét hoạt động của Honda là truờng hợp tương đối tác giả thu thập được nhiều thông tin.

Như Biểu 8 cho thấy, tỉ lệ nội địa hoá của Honda khá cao ngay từ lúc mới bắt đầu sản xuất và tăng nhanh trong những năm sau đó. Tỉ lệ nầy cao hơn cả tỉ lệ quy định của chính phủ VN. Theo chính sách áp dụng cho ngành xe máy, doanh nghiệp FDI phải thực hiện tỉ lệ nội địa hoá ít nhất 10% vào lúc bắt đầu sản xuất và tăng tỉ lệ đó lên ít nhất 60% vào năm thứ sáu. Sự tích cực nội địa hoá của Honda có thể được giải thích bằng dự tưởng ban đầu của công ty nầy về khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai. Quy mô lắp ráp xe máy càng được mở rộng, thị trường cho các linh kiện và các sản phẩm trung gian khác càng lớn và trở thành điều kiện để sản xuất hiệu quả các sản phẩm trung gian đó. Tăng tỉ lệ nội địa trong truờng hợp như vậy sẽ làm cho giá thành sản xuất xe máy giảm, lợi nhuận của Honda sẽ tăng hơn.




Năng lực sản xuất của Honda Việt Nam đầu năm 2001 là 400.000 chiếc nhưng quy mô sản xuất thực tế của công ty nầy trong năm 2001 chỉ có  170.000 chiếc vì sức ép cạnh tranh từ xe máy Trung Quốc. Nhưng qua năm 2002, sau khi đưa loại xe mới (Wave Alpha) vào thị truờng, Honda chiếm lại thị phần đã mất và dự tưởng thị trường xe máy ở VN đương lớn mạnh nên đã tăng năng lực sản xuất lên 600.000 chiếc (Nhưng do chính sách hạn chế sản xuất và phân bổ hạn ngạch của chính phủ VN vào tháng 9/2002, Honda chỉ sản xuất được 390.000 vào năm 2002). Tỉ lệ nội địa hoá khá cao của Honda có thể được hiểu trong bối cảnh dự tưởng tăng năng lực sản xuất ấy.

Nhưng quan tâm của chúng ta là tỉ lệ nội địa hoá cao ấy có đi theo liền với sự liên kết hiệu quả với các doanh nghiệp trong nước không. Nội địa hoá là dùng linh kiện và các sản phẩm trung gian khác sản xuất tại VN theo 3 kênh: (1) Sản xuất trong nội bộ nhà máy lắp ráp (in-house production) của Honda, (2) mua từ các doanh nghiệp FDI khác, (3) mua từ các doanh nghiệp thuần tuý bản xứ. Dĩ nhiên sự liên kết giữa Honda với SOEs hoặc các doanh nghiệp tư nhân của VN sẽ càng mạnh nếu kênh thứ (3) càng quan trọng. Rất tiếc là kết quả điều tra của tôi không cho thấy như vậy: Cho đến nay, Honda chủ yếu dùng kênh (1) và kênh (2) mặc dù công ty nầy đã cố gắng tìm kiếm các khả năng để dùng kênh (3) nhiều hơn để giảm phí tổn sản xuất. Như Biểu 8 cho thấy, vào năm 2003, Honda đã mua linh kiện và các sản phẩm trung gian khác từ 42 doanh nghiệp hoạt động tại VN nhưng trong đó chỉ có 13 doanh nghiệp là của vốn trong nước. Được biết Honda mỗi năm khảo sát hơn 100 doanh nghiệp VN, kể cả SOEs và tư nhân, để tìm những công ty có tiềm năng qua đó sẽ chuyển giao công nghệ để các công ty đó có thể cung cấp linh kiện và các sản phẩm đầu nhập khác với phẩm chất và giá thành chấp nhận được. Nhưng lúc đầu chỉ có 5 công ty đáp ứng các điều kiện đó. Con số nầy cũng chỉ tăng đến 13 công ty năm 2003. [11]

Tóm lại, cũng như trong truờng hợp của ngành dệt may, sự liên kết hàng dọc giữa doanh nghiệp FDI và doanh nhgiệp bản xứ trong ngành xe máy cũng quá yếu. Cần có chính sách tăng cường nội lực bằng cách xây dựng công nghiệp phụ trợ (supporting industries), tái cấu trúc SOEs và đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa để ngày càng có nhiều công ty bản xứ có điều kiện liên kết đuợc với doanh nghiệp FDI.

Kết luận:
  Bài viết nầy xem vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh (managerial resources) là những biểu hiện cụ thể của từ lực trong nội lực và ngoại lực, và đưa các khái niệm đó cùng với các khái niệm thay thế nguồn lực nước ngoài (catching-up in foreign resources), liên kết (linkages), chuyển giao công nghệ (technology transfer) vào trong một khung phân tích. Phân tích về mặt lý luận cho thấy nội lực và ngoại lực liên quan mật thiết với nhau, ngoại lực có thể làm tăng cường nội lực, và để xử dụng hiệu quả ngoại lực cần có chính sách lành mạnh hoá nội lực.

  Đánh giá FDI tại VN trên bình diện vĩ mô và phân tích cụ thể hai ngành may mặc và lắp ráp xe máy cho thấy VN còn có khuynh hướng cảnh giác ngoại lực, chưa tận dụng ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá và chưa tạo sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân.  Hàm ý về chính sách ở đây là tạo môi trường thuận lợi để có thể tận dụng tối đa FDI mà không sợ kinh tế bị các công ty đa quốc gia chi phối, và việc lành mạnh hoá doanh nghiệp quốc doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển là những tiền đề cần thiết để dùng ngoại lực tăng cường nội lực. Các chính sách hạn chế hoạt động của doanh nghiệp FDI hiện nay đều làm giảm hiệu quả của ngoại lực trong quá trình tăng cường nội lực.
.................................

[4243] Tại VN, trong các văn kiện chính thức của chính phủ và của Đảng Cộng sản,  FDI đuợc xem là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân giống như các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, trên thực tế FDI vẫn còn bị xem là lực lượng đối lập với các thành phần khác. Báo chí và đài truyền hình thuờng giới thiệu các ý kiến trong dân chúng, đại loại như: Chất xám của Việt Nam đương chảy sang doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp FDI không mất một đồng vốn đầu tư xây dựng nguồn nhân lực nhưng lại thu hút hết người tài giỏi của Việt Nam. Chính phủ cũng có quy định là những lãnh vực nào doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư thì không cho doanh nghiệp FDI hoạt động, doanh nhgiệp FDI không được thuê lao động nước ngoài quá 3% tổng số lao động trong doanh nghiệp. Bài viết nầy sẽ cho thấy các ý kiến nêu trên đều không đúng.


[5152] Nội lực nếu hiểu theo nghĩa rộng có thể bao gồm khả năng của chính phủ trong việc hoạch định kế hoạch, chính sách phát triển và khả năng quản lý, xử dụng vốn nước ngoài. Nhưng ở đây ta không đi xa vào vấn đề nầy. 

[6566] BOT: Thông thường thấy trong trường hợp xây dựng các dự án hạ tầng như cầu, xa lộ,.. trong đó nước ngoài đưa vốn, công nghệ vào và hoàn toàn chịu trách nhiệm việc xây dựng và điều hành. Khi kết thúc thời gian hợp đồng thì chuyển giao lại cho nước sở tại. OEM: Doanh nghiệp nước ngoài đặt hàng và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp bản xứ, sau đó sẽ mua hết hàng sản xuất được và bán ra thị truờng thế giới bằng nhãn hiệu của công ty nước ngoài.

[63] Về chi tiết, xem Trần Văn Thọ (1997), tr. 153-157.

[68] Kojima (1977) là một trong những nhà kinh tế đầu tiên bàn vấn đề nầy về mặt lý luận. Tôi đã có dịp phân tích nỗ lực của Hàn Quốc trong việc tiếp thu công nghệ và tri thức kinh doanh qua hình thái liên doanh (Xem Trần Văn Thọ  1988). Dĩ nhiên FDI với 100% vốn nước  ngoài cũng có thể được khuyến khích nếu các mục đích khác như xúc tiến xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, v.v.. đang được nhấn mạnh.


[899091] Vào những năm cuối thập niên 1990, thuế nhập khẩu sản phẩm kim loại là 256%, sản phẩm chất dẻo (plastics) là 185% và sản phẩm giấy là 118%. Xem World Bank 2000, p. 25.


[8283] Chẳng hạn Sachs et. al. (1997) chỉ  trích FDI ở  VN chủ  yếu là  thay thế  nhập khẩu  nên không phát huy lợi  thế  so sánh và ít tạo công ăn việc làm.


[105106107] Theo Thời báo kinh tế Saigon, 1/7/2004.


[9495] Tư liệu tham khảo theo Đặng Thị Đông (2003). Xem thêm Goto (2003). 


[119120121] Theo tôi, so sánh với nuớc khác như Thái Lan chẳng hạn, giá xe máy Honda sản xuất ở VN cao vì 3 lý do: Phí tổn khấu hao (depreciation cost) cao (vì thời gian hoạt động của nhà máy ngắn hơn nhiều), quy mô sản xuất nhỏ, và điều kiện thị truờng (bảo hộ, có lợi cho công ty có khả năng chi phối bằng nhãn hiệu nổi tiếng như Honda). Dư luận ở VN phê phán Honda bán giá cao nhưng chỉ dựa trên cảm tính (bóc lột giới tiêu thụ để tăng lợi nhuận) chứ không dựa trên kết quả của các phân tích khoa học. Yếu tố thứ ba yếu đi khi công ty trong nước được phép nhập linh kiện rẻ từ Trung Quốc buộc Honda phải có hành động tương tự để sản xuất loại xe máy rẻ hơn (nhãn hiệu mới là Wave Alpha).  


[
107] Honda Thái Lan sản xuất mỗi năm độ 1 triệu xe máy, khoảng gấp đôi mức sản xuất của Honda Việt Nam, nhưng tại Thái Lan hiện nay hơn 100 doanh nghiệp bản xứ cung cấp linh kiện, phụ tùng cho Honda. Dĩ nhiên Honda Thái Lan có lịch sử dài hơn Honda VN nên không thể so sánh một cách máy móc. Nhưng dù có sự khác biệt đó, vẫn phải ghi nhận là số lượng doanh nghiệp bản xứ có thể tham gia vào kế hoạch nội địa hoá của Honda đương có một khoảng cách khá xa giữa hai nước.  


......

Tư liệu có trích dẫn:
Đặng Thị Đông (2003), Công nghiệp dệt may: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển, Chương 2 trong JICA và NEU (2003).

Goto, Kenta (2003), “Sen-i Hosei Sangyo: Ryutsu Mihattatsu no Kensho (Ngành công nghiệp dệt may: Kiểm chứng sự chậm phát triển trong lưu thông),” Ch. 5 trong Ohno and Kawabata, eds. (2003).
JICA and NEU (2003), Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Tập III, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
Lall, Sanjaya (1978), “Transnationals, Domestic Enterprises, and Industrial Structure in Host LDCs: A Survey,” Oxford Economic Paper, Vol 30, No. 2, July.
Kojima Kiyoshi (1977), “Transfer of Technology to Developing Countries: Japanese Type versus American Type,” Hitotsubashi Journal of Economics 17, No.2, pp. 1-14.
Ohno Ken-ichi and Nozomu Kawabata, eds. (2003), Betonamu no Kogyoka- Senryaku (Chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam), Nihon Hyoronsha, Tokyo.
Oman, Charles (1984), New Forms of International Investment in Developing Countries, Paris: OECD Development Center Studies
Sachs et. al. (1997), Development Strategy for Vietnam: Challenges to Prosperity, Harvard Institute for International Development (HIID), Harvard University, September.
Tran Van Tho (1988), “Foreign Capital and Technology in the Process of Catching-up by the Developing Countries: The Experience of the Synthetic Fiber Industry in the Republic of Korea,” The Developing Economies, Vol. XXVI No. 4, December, pp. 386-402.
Trần Văn Thọ (1997), Chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại châu Á Thái bình dương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, VAPEC Hồ Chí Minh và Thời báo kinh tế Saigon.
UNCTAD (2001), World Investment Report: Promoting Linkages, United Nations, New York and Geveva.
    World Bank (2000), Vietnam 2010: Entering the 21st Century (Vietnam
Development Report 2001), the World Bank, Asian Development Bank and United Nations Development Program.
 


http://www.erct.com/2-ThoVan/TranVTho/Noi_luc_va_Ngoai_luc-1.htm
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0










Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học xã hội Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với Chủ đề “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội.



Mục đích của cuộc Hội thảo nhằm tạo cơ hội cho các nhà Việt Nam học trên toàn thế giới trình bày những kết quả nghiên cứu của mình và giao lưu, trao đổi học thuật với các đồng nghiệp, qua đó góp phần nâng cao nhận thức khoa học  về các vấn đề liên quan đến Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình hội nhập và phát triển. Đồng thời, Hội thảo cũng là dịp để các nhà Việt Nam học của Việt Nam và quốc tế gặp gỡ, thảo luận nhằm tăng cường sự phối hợp nghiên cứu giữa các học giả trong và ngoài Việt Nam.
[/align]





Thông báo lần thứ 2  

HỘI THẢO QUỐC TẾ VỀ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA
Hà Nội, 4-7 tháng 12 năm 2008




(Thông báo lần thứ hai, ngày 7 tháng 4 năm 2008)




Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học xã hội Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với Chủ đề “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Nội dung Hội thảo được chia ra theo 18 Tiểu ban chuyên môn:





  1. Lịch sử Việt Nam truyền thống;[/align]

  2. Lịch sử Việt Nam hiện đại; [/align]

  3. Văn hoá Việt Nam; [/align]

  4. Giao lưu văn hoá; [/align]

  5. Kinh tế Việt Nam; [/align]

  6. Xã hội Việt Nam; [/align]

  7. Pháp luật Việt Nam; [/align]

  8. Nông thôn, nông nghiệp cổ truyền Việt Nam; [/align]

  9. Nông thôn, nông nghiệp Việt Nam hiện nay; [/align]

  10. Đô thị và đô thị hoá; [/align]

  11. Ngôn ngữ và Tiếng Việt; [/align]

  12. Văn học và Nghệ thuật Việt Nam; [/align]

  13. Các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu Việt Nam và phương pháp khai thác, xử lý thông tin; [/align]

  14. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; [/align]

  15. Những vấn đề về lý thuyết và phương pháp đào tạo Việt Nam học trên Thế giới và Việt Nam; [/align]

  16. Những nghiên cứu tổng hợp theo khu vực: Khu vực Thăng Long - Hà Nội, khu vực Nam Bộ và các khu vực khác của Việt Nam; [/align]

  17. Quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước và khu vực; [/align]

  18. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững. [/align]



Đây là cuộc Hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức trên quy mô lớn, Ban Tổ chức hy vọng sẽ nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các nhà Việt Nam học của Việt Nam và quốc tế. Kết quả từ các công trình nghiên cứu được công bố tại Hội thảo sẽ có những đóng góp quan trọng vào việc nâng cao nhận thức toàn diện về Việt Nam, góp phần thúc đẩy công cuộc hội nhập sâu rộng của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo về Việt Nam học.




Trên tinh thần đó, Ban Tổ chức Hội thảo trân trọng kính mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các trường đại học, các viện/ cơ quan/ tổ chức nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở trong nước và nước ngoài quan tâm đến các lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam nói chung và đặc biệt là các vấn đề gắn với quá trình  Hội nhập và Phát triển của Việt Nam viết bài tham gia Hội thảo.




Ngôn ngữ chính sử dụng trong Hội thảo là tiếng Việt và tiếng Anh. 





  • Thời gian nhận Đăng ký tham gia Hội thảo và gửi Tóm tắt báo cáo từ 20 tháng 2 đến ngày 30 tháng 5 năm 2008. [/align]

  • Báo cáo toàn văn viết không quá 10.000 chữ. Thời gian nhận Báo cáo toàn văn từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8 năm 2008. [/align]

  • Thời gian gửi Giấy mời chính thức tham gia Hội thảo từ ngày 1 tháng 9 đến 30 tháng 9 năm 2008. [/align]



Lệ phí Hội thảo là 100 đô la Mỹ/1 người tham gia Hội thảo. Tuy nhiên, trường hợp các học giả không có điều kiện đóng góp, sau khi đã chính thức đề nghị, Ban Tổ chức Hội thảo sẽ xem xét hình thức miễn giảm.




Tất cả mọi ý kiến đóng góp, các thông tin trao đổi, các thủ tục đăng ký, các báo cáo tóm tắt và báo cáo đầy đủ tham gia Hội thảo… xin được gửi đến địa chỉ:




Văn phòng Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba:





Phòng 202, nhà A, 336, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại: (04) 5572024/ (04) 5589073;  Fax: (04) 5589073;
Email: icvns2008@gmail.com; Website: www.icvns.org

Tải form đăng ký: Bấm vào đây
Tải mẫu quy cách văn bản: Bấm vào đây



icvns2008

Bản in









Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học xã hội Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với Chủ đề “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội.



Mục đích của cuộc Hội thảo nhằm tạo cơ hội cho các nhà Việt Nam học trên toàn thế giới trình bày những kết quả nghiên cứu của mình và giao lưu, trao đổi học thuật với các đồng nghiệp, qua đó góp phần nâng cao nhận thức khoa học  về các vấn đề liên quan đến Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình hội nhập và phát triển. Đồng thời, Hội thảo cũng là dịp để các nhà Việt Nam học của Việt Nam và quốc tế gặp gỡ, thảo luận nhằm tăng cường sự phối hợp nghiên cứu giữa các học giả trong và ngoài Việt Nam.
[/align]





Thông báo lần thứ 2  

HỘI THẢO QUỐC TẾ VỀ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA
Hà Nội, 4-7 tháng 12 năm 2008




(Thông báo lần thứ hai, ngày 7 tháng 4 năm 2008)




Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học xã hội Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với Chủ đề “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Nội dung Hội thảo được chia ra theo 18 Tiểu ban chuyên môn:





  1. Lịch sử Việt Nam truyền thống;[/align]

  2. Lịch sử Việt Nam hiện đại; [/align]

  3. Văn hoá Việt Nam; [/align]

  4. Giao lưu văn hoá; [/align]

  5. Kinh tế Việt Nam; [/align]

  6. Xã hội Việt Nam; [/align]

  7. Pháp luật Việt Nam; [/align]

  8. Nông thôn, nông nghiệp cổ truyền Việt Nam; [/align]

  9. Nông thôn, nông nghiệp Việt Nam hiện nay; [/align]

  10. Đô thị và đô thị hoá; [/align]

  11. Ngôn ngữ và Tiếng Việt; [/align]

  12. Văn học và Nghệ thuật Việt Nam; [/align]

  13. Các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu Việt Nam và phương pháp khai thác, xử lý thông tin; [/align]

  14. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; [/align]

  15. Những vấn đề về lý thuyết và phương pháp đào tạo Việt Nam học trên Thế giới và Việt Nam; [/align]

  16. Những nghiên cứu tổng hợp theo khu vực: Khu vực Thăng Long - Hà Nội, khu vực Nam Bộ và các khu vực khác của Việt Nam; [/align]

  17. Quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước và khu vực; [/align]

  18. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững. [/align]



Đây là cuộc Hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức trên quy mô lớn, Ban Tổ chức hy vọng sẽ nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các nhà Việt Nam học của Việt Nam và quốc tế. Kết quả từ các công trình nghiên cứu được công bố tại Hội thảo sẽ có những đóng góp quan trọng vào việc nâng cao nhận thức toàn diện về Việt Nam, góp phần thúc đẩy công cuộc hội nhập sâu rộng của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo về Việt Nam học.




Trên tinh thần đó, Ban Tổ chức Hội thảo trân trọng kính mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các trường đại học, các viện/ cơ quan/ tổ chức nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở trong nước và nước ngoài quan tâm đến các lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam nói chung và đặc biệt là các vấn đề gắn với quá trình  Hội nhập và Phát triển của Việt Nam viết bài tham gia Hội thảo.




Ngôn ngữ chính sử dụng trong Hội thảo là tiếng Việt và tiếng Anh. 





  • Thời gian nhận Đăng ký tham gia Hội thảo và gửi Tóm tắt báo cáo từ 20 tháng 2 đến ngày 30 tháng 5 năm 2008. [/align]

  • Báo cáo toàn văn viết không quá 10.000 chữ. Thời gian nhận Báo cáo toàn văn từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8 năm 2008. [/align]

  • Thời gian gửi Giấy mời chính thức tham gia Hội thảo từ ngày 1 tháng 9 đến 30 tháng 9 năm 2008. [/align]



Lệ phí Hội thảo là 100 đô la Mỹ/1 người tham gia Hội thảo. Tuy nhiên, trường hợp các học giả không có điều kiện đóng góp, sau khi đã chính thức đề nghị, Ban Tổ chức Hội thảo sẽ xem xét hình thức miễn giảm.




Tất cả mọi ý kiến đóng góp, các thông tin trao đổi, các thủ tục đăng ký, các báo cáo tóm tắt và báo cáo đầy đủ tham gia Hội thảo… xin được gửi đến địa chỉ:




Văn phòng Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba:





Phòng 202, nhà A, 336, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại: (04) 5572024/ (04) 5589073;  Fax: (04) 5589073;
Email: icvns2008@gmail.com; Website: www.icvns.org

Tải form đăng ký: Bấm vào đây
Tải mẫu quy cách văn bản: Bấm vào đây
 
http://hoithao.ivides.edu.vn/Main.aspx?MNU=1171&Style=1



icvns2008

Bản in
 
http://hoithao.ivides.edu.vn/Main.aspx
 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-14 19:23:27Như Ý P>
04 Tháng 12 2008 - Cập nhật 11h00 GMT
Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba 

Lê Hải
Viết từ Hà Nội




Giáo sư Hải nói công việc chuẩn bị cho hội nghị Việt Nam học
nhiều khi đòi hỏi làm thâu đêm

Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần ba (5-7 tháng 12) là bước nối tiếp sau hai lần trước, cách đây năm năm và 10 năm, nhưng cũng là sự kiện để xét hiệu quả công việc và năng lực khoa học của Viện Việt Nam học và Khoa Học Phát Triển.
[/align] 
[/align]Được thủ tướng ký quyết định thành lập năm 2004, sau hội thảo lần hai, cơ quan nghiên cứu ngang cấp một trường đại học có nhiệm vụ đưa Việt Nam học “đi đúng vào quỹ đạo của sự phát triển”, như nội dung một tham luận của lãnh đạo viện, GSTS Nguyễn Quang Ngọc.
Ông cũng là trưởng ban thư ký Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, sự kiện mà viện của ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị về nội dung, mà một số ý kiến đánh giá là “quy mô vượt xa cả hai lần hội thảo trước”.

Tiếp tôi tại khu vực ban tổ chức hội thảo, GSTS Trương Quang Hải giới thiệu tập sách nghiên cứu “20 năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành” cùng những nghiên cứu “chất lượng cao” của cơ sở khoa học được coi là đang định hướng cho ngành Việt Nam học ở Việt Nam.
 
Liên ngành
Chủ trương liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam được giải thích là từ nhu cầu “cần phải có tiếng nói chung, rà soát lại từ chương trình đào tạo, nội dung giáo trình, nguồn nhân lực, liên kết không chỉ Việt Nam mà có thể hợp tác quốc tế trong đào tạo Việt Nam học”.
Nếu nhìn số lượng học giả nước ngoài để đánh giá hiệu quả hợp tác quốc tế, có thể thấy Nhật Bản dẫn đầu số lượng bài tham gia, nhiều gấp đôi nước thứ nhì là Mỹ và gấp ba nước thứ ba là Nga; số báo cáo nước ngoài chiếm một phần ba tổng số báo cáo tham gia hội thảo lần này.
Nhưng chủ trương liên ngành lại không thấy thể hiện qua cơ cấu tổ chức, vì các tiểu ban vẫn chia theo phân ngành truyền thống như lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, pháp luật, ngôn ngữ, văn chương...


 Chủ trương liên ngành lại không thấy thể hiện qua cơ cấu tổ chức, vì các tiểu ban vẫn chia theo phân ngành truyền thống
[/align] 
[/align][/align][/align]
Vậy thì làm sao sử gia Việt Nam học có cơ hội lắng nghe và tranh luận với kinh tế gia Việt Nam học - có cùng điểm chung là nghiên cứu Việt Nam, nhưng lại khác hoàn toàn về phương pháp và chuyên môn - để tạo ra các sản phẩm khoa học theo tiêu chí “liên ngành”?
 
PR hội thảo
Tôi đến văn phòng ban tổ chức hội thảo để tìm những câu trả lời không phải trên bình diện khoa học khó hiểu mà trên bình diện báo chí phục vụ giới độc giả bình dân.
Thường thì người giúp phóng viên tìm câu trả lời kiểu như vậy sẽ là chuyên viên PR, hay cán bộ phụ trách báo chí và giúp đỡ phóng viên, theo như kinh nghiệm dự các hội thảo ở Anh và một số nước châu Âu.
PR sẽ mách cho phóng viên biết ai là ai, sơ lược tiểu sử khoa học, liệu có đúng người cần tìm hay không, thu xếp để phóng viên phỏng vấn, và nhiều khi cũng sẽ pha sẵn cà phê mời phóng viên cho tỉnh ngủ, tạo điều kiện làm việc tốt nhất.
Nhưng mặc dù hội thảo chỉ còn vài chục giờ nữa sẽ diễn ra, không thấy có ai như vậy xuất hiện, còn các nhà khoa học của viện dù rất sẵn lòng giúp nhưng họ chắc chắn không hiểu được nhu cầu của phóng viên, và ai cũng gấp rút hoàn tất những công đoạn cuối cùng của quá trình chuẩn bị.
Chỉ riêng 36 tập báo cáo dầy cộm mà họ đang làm đã quá đủ ấn tượng, mà theo GSTS Trương Quang Hải thì có nhiều hôm phải làm suốt đêm.

Trong quá trình “hội nhập và phát triển”, chắc chắn những tiêu chí để thể hiện tính “quốc tế” của hội thảo sẽ sớm được ban tổ chức khắc phục.

Và tôi hi vọng họ sẽ kịp khắc phục vào ngày mai.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081204_vietnam_study_blog.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Website: Việt Nam Học
 
http://hoithao.ivides.edu.vn/Main.aspx?MNU=1171&Style=1
 

NỘI DUNG HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ 3
(ĐƯỢC CHIA THEO 18 TIỂU BAN CHUYÊN MÔN)

  1. Lịch sử Việt Nam truyền thống;
  2. Lịch sử Việt Nam hiện đại;
  3. Văn hoá Việt Nam;
  4. Giao lưu văn hoá;
  5. Kinh tế Việt Nam;
  6. Xã hội Việt Nam;
  7. Pháp luật Việt Nam;
  8. Nông thôn, nông nghiệp cổ truyền Việt Nam;
  9. Nông thôn, nông nghiệp Việt Nam hiện nay;
  10. Đô thị và đô thị hoá;
  11. Ngôn ngữ và Tiếng Việt;
  12. Văn học và Nghệ thuật Việt Nam;
  13. Các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu Việt Nam và phương pháp khai thác, xử lý thông tin;
  14. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực;
  15. Những vấn đề về lý thuyết và phương pháp đào tạo Việt Nam học trên Thế giới và Việt Nam;
  16. Những nghiên cứu tổng hợp theo khu vực: Khu vực Thăng Long - Hà Nội, khu vực Nam Bộ và các khu vực khác của Việt Nam;
  17. Quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước và khu vực;
  18. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững.
[/align] 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-14 19:34:27Như Ý P>
30 Tháng 12 2006 - Cập nhật 09h42 GMT
'Lịch sử nội chiến' được in lại ở VN

Lê Quỳnh
BBC Việt ngữ



Các sử gia Mác-xít ở Việt Nam xem anh em nhà Tây Sơn
là những lãnh tụ cách mạng từ nông dân mà ra

Đó là cuốn sách từng bị tạp chí chính thức của Hội Sử học miền Bắc phê phán ngay sau khi Việt Nam thống nhất.
[/align]30 năm sau, lần đầu tiên Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771-1802) của Tạ Chí Đại Trường được in lại ở Việt Nam, cho thấy sự thay đổi trong cộng đồng học thuật và nhu cầu phát hiện lại một số giá trị đã từng bị xem là “nọc độc văn hóa.”
Sự ra mắt trở lại của cuốn sách khép lại một năm đáng chú ý cho những người quan tâm sử học, bởi vào đầu năm, Thần, Người và Đất Việt là tác phẩm đầu tiên của Tạ Chí Đại Trường được in và phát hành ở Việt Nam.
Tác phẩm chính trước 1975 của nhà nghiên cứu độc lập này là cuốn Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771-1802).
Theo tác giả, người ở lại và sau đó đi tập trung cải tạo, thì vì cuốn này mà sau 1975, ông chịu khốn đốn.
Trong hai số liền của tạp chí Nghiên cứu lịch sử năm 1976, hai ông Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Đức Nghinh muốn vạch ra “nọc độc” trong cuốn sách có chủ đề về cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.
Không đơn giản là “hạ thấp Quang Trung, đề cao Gia Long”, nhưng cuốn sách có những ý đi ngược lại quan điểm chính thống của miền Bắc lúc bấy giờ và cả sau này (xem phong trào Tây Sơn là cuộc cách mạng, là cuộc khởi nghĩa nông dân quét sạch cường hào, thực hiện chính sách người cày có ruộng…)
Vì lẽ đó, phải nói là một sự kiện, ít nhất trong cộng đồng nghiên cứu lịch sử, khi cuốn sách vừa được phát hành, mà nơi in là NXB Công an nhân dân. Đầu sách là lời giới thiệu của ông Đào Hùng, phó tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay. Ông Hùng xin phép tác giả cho sách mang tựa đề chính là Việt Nam thời Tây Sơn, rồi mới có dòng tiếp theo Lịch sử nội chiến ở Việt Nam.
Hồi đầu năm, cuốn đầu tiên của Tạ Chí Đại Trường được phép in chính thức ở Việt Nam là Thần, Người và Đất Việt. Tuy vậy, cuốn này đã từng được ông Trần Quốc Vượng chính thức trích dẫn trong bài trước đây, và nội dung sách tập trung về cuộc sống tâm linh của người Việt.
Chủ đề Tây Sơn nhạy cảm hơn, vì thế ngạc nhiên hơn khi cuốn sách cuối cùng đã được thừa nhận (dĩ nhiên với lời rào đón và khuyến nghị ‘đọc tham khảo’).
Nó biểu hiện có những cởi mở hơn, không còn có thể bó chặt cuộc sống tinh thần như trước vì thời thế đã thay đổi. Một cái mác mà nay không ai muốn nhận, đó là mang tiếng ‘bảo thủ’.
Tuy là sự kiểm duyệt vẫn còn đấy, nhưng tác phẩm của một số người viết ở miền Nam trước 1975 đã dần dần được ra mắt, mà Tạ Chí Đại Trường là trường hợp mới nhất.
Cuốn Lịch sử nội chiến, dù hay, nhưng từ gần hai thập niên qua, Tạ Chí Đại Trường đã vượt ra khỏi tầm vóc của cuốn sách này.
Ba tập sách – có thể xem là trilogy đầy đặn - lần lượt ấn hành ở Mỹ: Thần, Người và Đất Việt (1989), Những bài dã sử Việt (1996), và Sử Việt, đọc vài quyển (2004). Chứa đựng những bài buộc độc giả suy tư, và cả các bài sẽ làm cả hai phía ‘quốc – cộng’ không hài lòng, ba tập sách này sẽ còn xứng đáng được đọc lại nhiều lần.
Có những nhân vật còn chờ sự đánh giá sòng phẳng và công bằng hơn. Tạ Chí Đại Trường là một trong những người như vậy.
-------------------------------------------------------------------
Mai Ninh
Sự kiện lịch sử chỉ có một nhưng nhận định về một sự kiện thì có thể có nhiều ý kiến khác nhau, tuỳ theo điểm mà người ta đứng nhìn (quan điểm=vị trí quan sát). Đó là chuyện bình thường từ xưa tới nay.
Nhà Mạc nếu nhìn theo quan điểm thời xưa (phong kiến) thì đó là phi nghĩa (cướp ngôi vua), nhưng khi có chủ nghĩa Mác (chủ nghĩa phân chia giai cấp và muốn sử dụng bạo lực để "cướp" chính quyền) thì nhà Mạc lại có công với đất nước.
Quan điểm Macxit cho rằng nhà Lê đã suy tàn, trở thành lực cản xã hội. Ai "cướp ngôi" nhà Lê là có vai trò thúc đẩy tiến bộ xã hội. Ngày xưa, các thế lực phong kiến tranh giành ngôi thống trị thì khó biết ai "chính nghĩa" (ai cũng tự xưng "chính nghĩa" cả), đến khi một bên toàn thắng thì lên làm vua, gọi các bên kia là "giặc" như các cụ đã nói: "được làm vua, thua làm giặc". Phe thắng có quyền viết lịch sử tự ca ngợi mình và cấm đoán tất cả các quyển sử không có lợi cho mình.
Thời Tây Sơn, các đội quân đối lập đều là nông dân bị bắt vào lính, ắt có phe thua, phe được. Nhưng đảng ta gán cho Tây Sơn là nông dân khởi nghĩa vì phù hợp với quan điểm của đảng. Theo tôi, Tây Sơn cũng chỉ là một trong những đám "giặc" đang tranh giành địa vị thống trị mà thôi. Tuy nhiên, không thể chối cãi là Tây Sơn có công lớn trong chống sự xâm lược của nhà Thanh bên Tầu.
Việc nào nên đi việc ấy, thế mới khách quan và công bằng. Đọc lịch sử thích nhất là phát hiện các sự kiện bị che dấu để có cái nhìn khách quan, để không bị lừa bịp tới chết vẫn bị lừa bịp.
Minh Đức, Montreal
Vua Quang Trung đã được chế độ hiện nay đề cao vì gốc gác thường dân của nhà vua, để phù hợp với thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác.
Trước đây, tại miền Nam, vua Quang Trung được ca tụng vì chiến công đánh bại quân nhà Thanh, nghĩa là được đề cao vì tinh thần dân tộc, chứ không phải là vì gốc gác nông dân của vua Quang Trung.
Đề cao nhân vật lịch sử vì gốc gác thường dân hay nông dân là điều thường thấy trong các sách vở tại Trung Quốc và VN từ sau khi đảng CS lên cầm quyền.
Trong cuốn 100 Sự Kiện Lịch Sử Trung Quốc, do VN dịch từ sách Trung Quốc, các biến cố lịch sử nào mà người cầm đầu thuộc gốc gác nông dân thì được tác giả khen ngợi, xem là có tiến bộ, còn nếu người cầm đầu xuất thân là gia đình quan lại hay vua chúa thì tác giả lờ đi, không khen.
Theo tôi, cách khen như thế là máy móc. Không đếm xỉa gì đến người đó đóng góp điều gì thật sự là tiến bộ cho đất nước mà chỉ vì người đó xuất thân là nông dân thì gọi thế là một biến cố lịch sử có tiến bộ thì không còn trung thực nữa.
Vua Quang Trung thì cũng chỉ là một ông vua như mọi ông vua khác. Nhưng là một ông vua có tài quân sự, có khả năng lãnh đạo. Tuy vua Quang Trung có sử dụng chữ Nôm trong trong giấy tờ làm việc của triều đình thì đó cũng là một sáng kiến. Nhưng trong sử cũng có các vị vua cũng có sáng kiến mặc dù không có xuất thân từ nông dân.
Truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa không phải là lịch sử mà chỉ là tiểu thuyết. Trong truyện có nhiều đoạn dựa và sử thật và nhiều đoạn hư cấu. Tam Quốc Chí được viết theo thuyết Tôn Quân của Nho Giáo nên đề cao Lưu Bị, mạt sát Tào Tháo. Lưu Bị được đề cao vì Lưu Bị mang họ Lưu là họ của nhà vua lúc đó. Thuyết Tôn Quân (xem trọng vua) mang nặng tinh thần gia đình xem giòng họ nhà vua là tôn quí. Nếu vua chẳng may bị mất ngôi thì ai mang dòng họ của nhà vua được xem như là người chính thống, đáng được lên làm vua, còn ai mang họ khác thì không được quyền nối ngôi. Vì thế mà Lưu Bị được mô tả là người tốt, còn Tào Tháo, không mang dòng họ nhà vua mà lại nắm quá nhiều quyền trong tay bị xem là xấu.
Nhìn lịch sử dưới khía cạnh chỉ vì kẻ đó gốc gác nông dân mà khen, hoặc chỉ vì kẻ đó mang giòng họ nhà vua mà khen đều khó có thể đưa đến cái nhìn khách quan. Cái nhìn này đã được một chủ thuyết chi phối.
Phan Tiến
Xin cám ơn bạn Hieu, HCMC, đã đặt vấn đề, sở dĩ tôi cho rằng "nội chiến giữa Việt Nam và CS" là muốn nhấn mạnh nếu lịch sử VN không bị rơi vào giai đoạn ý thức hệ CS từ Liên Xô làm lây nhiễm hoang tưởng Thế Giới Đại Đồng, thì dân tộc Việt Nam đã không bị lạc hướng từ kháng chiến chống thực dân, thành giành quyền cho CS, kết cuộc đất nước vẫn bị các đại cường thao túng, chia cắt,dân tộc bị phân hóa, cùng là dân Việt nhưng đã bị cường quốc Nga, Mỹ dùng mọi thủ đoạn gây chia rẽ,viện trợ chiến cụ để xúi dục hai phe tàn sát lẫn nhau một mất một còn cho TB và CS. Tôi không muốn nói "nội chiến giữa hai miền nam-bắc" vì dân Việt Nam không hề chia rẽ đến độ phải cầu viện ngoại bang để sát hại lẫn nhau.
Tôi không muốn nói nội chiến giữa "CS và chính quyền miền nam" vì lúc ấy tham vọng của CS không chỉ là miền Nam, miền Bắc VN, Mên, Lào mà là Đông Nam Á, và cả thế giới. Ngày nay tham vọng CS trên thế giới đã bị chặn đứng, nhưng người CS vẫn muốn trường kỳ cai trị VN, ý nghĩa tự do dân chủ đã bị CS bóp méo, quyền sống giữa người CS và người dân VN càng ngày càng bất công, cho nên tôi mạnh dạn kết luận cho đến nay người Việt Nam và người CS vẫn là hai thế lực tranh chấp. Nếu không tách bạch được giữa Việt Nam và CS thì không thể tìm ra ngã rẽ để dân tộc VN thoát ra khỏi CS, để có thể hoà hợp, hoà giải và thống nhất tư tưởng trong tự do dân chủ.
Long, HCM
Nhiều người bàn cãi công tội của hai vị Hoàng Đế Quang Trung & Gia Long. Theo tôi thấy trong bất kỳ sách sữ nào, hai vị đó đã từng so tài với nhau nhiều lần, ai hơn ai kém mọi người đều hiểu rõ mà.
Đông Á
Ở Việt nam từ xưa lịch sử thường được viết để phục vụ chính thể cầm quyền, ví dụ như lịch sử thời Lê viết không chính xác về trần nguyên hãn, thời Lê Trịnh viết không chính xác về nhà Mạc, một số anh hùng cách mạng không có thật (Lê Văn Tám),.... và như vậy thì sự kiện lịch sử thường bị nhào nặn cho phù hợp với chính thể cầm quyền. hy vọng sẽ có nhiều tác phẩm lịch sử trong cũng như ngoài nước viết một cách khách quan để mỗi người dân Việt nam tự phán xét theo quan điểm của mỗi người.
Phạm Mai Hoa, Hưng Yên
Tôi rất thích cách ghi lại mọi sự kiện một cách vô tư như các truyện sử hoặc dã sử của người xưa. Ví như "Tam quốc chí diễn nghĩa", "Hoàng lê nhất thống chí"... Cách viết sử của VN trong những năm gần đây thấy rõ sự áp đặt quan điểm chính trị hiện thời vào những vấn đề của quá khứ, nên thường thiếu hẳn tính khách quan. Tốt nhất là hãy nghiên cứu và phản ánh trung thực những diễn biến của sự kiện. Sử là phải như vậy! Không thể để mấy ông làm chính trị can thiệp vào công việc của các nhà chuyên môn về lịch sử. Đồng thời các nhà chuyên môn cần trung thực và biết bảo vệ quan điểm của mình, đừng để để giới cầm quyền xỏ mũi.
Huynh
Những nhà viết sử ở VN sẽ còn phải sửa lại nhiều nhận định, nhiều quan điểm về những sự kiện lịch sử mà họ đã viết. Lý do là họ đã nhìn lịch sử qua lăng kính duy vật biện chứng, và thường khi lăng kính nầy làm cho cái nhìn của họ bị lệch, không đúng với bản chất của sự kiện đã từng xảy ra. Việc cho in lại cuốn sách của Tạ Chí Đại Trường là một tiến bộ. Lịch sử không thể nhìn một chiều!
Saigon by night
Lịch sử là lịch sử, đó là sự thật. Đối với lịch sử, chúng ta hãy tìm hiểu sự thật về các sự kiện, các nhân vật một cách trung lập, không thiên kiến. Như Hòang Lê nhất thống chí thì cho Tây Sơn là giặc, sử ngày nay thì cho Tây sơn là anh hùng.
Nhưng hai quan điểm này khác nhau, người viết Hòang Lê Nhất thống chí chỉ gọi TS là giăc nhưng các sự kiện được đưa ra vẫn không che dấu Nguyễn Huệ là một người tài giỏi, còn sử ngày nay thì cố tình coi ông như một anh hùng, phỉ báng Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh Gia Long như một kẻ bán nước mà không xét hòan cảnh lịch sử.
Giai đọan đó các triều đình thường nhờ vả nhau như vậy, thì gọi là "rước voi giày mộ tổ" hay "cõng rắn cắn gà nhà". Ngày nay chúng ta có "nhờ vả" như vậy không? Từ chiến thắng Điện Biên Phủ thần thánh, công cuộc "Đổi mới đất nước" có nhờ "triều đình" nào giúp không? Lịch sử sau này, con cháu chúng ta sẽ nói gì về Cha, Ông chúng?
Nguyen
Lịch Sử khó nói lắm! Tuỳ quan điểm mà người đời sau sẽ có cái nhìn về tổ tiên của mình đã làm trong lịch sử. Theo tôi thì Quang Trung là anh hùng thời loạn lạc "Thời thế tạo anh hùng" còn Nguyễn Ánh là "Tay Trắng làm nên"_"Nước lã mà vã nên hồ" sau khi mất hết tất cả quyền lực và địa vị.
Luận anh hùng như sử tàu Tam Quốc Diễn Nghĩa hoặc giữa nhà Minh và nhà Thanh, những bộ phim hoành tráng của họ giúp ta hiểu thêm hoàn cảnh lịch sử TQ. Đọc nhiều sách sử giúp người đời sau có những cảm thông và thấu hiểu đối với người xưa ví dụ như hoàn cảnh của nhân vật Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký.
Mong có nhiều sách sử Việt Nam do nhiều nhà nghiên cứu Sử của trong và ngoài nước viết về nước Việt với sự uyên bác và khách quan để "Dân ta phải biết sử ta" chứ hiện tại thì có tình trạng nhiều dân ta biết sử TQ nhiều hơn sử ta là không hay lắm.
Hieu, HCMC, Việt nam
Việc phát hành một cuốn sách lịch sử để mọi người có thể tham khảo cách nhìn của các nhà sử học thì tốt thôi.
Tôi chỉ tức cười với ý kiến của bạn Phan Tiến khi nói về cuộc nội chiến giữa VN và CS năm 45-75. Ngay cả các sử gia, chính trị gia Mỹ, Pháp cũng không nói như vậy. Có thể biện minh cho cuộc chiến vì những lý do khác nhau nhưng họ đều coi họ (Mỹ , Pháp) là một bên trong cuộc chiến 1945-1975.
Nếu có cực đoan lắm thì cũng chỉ có thể nói cuộc chiến 1954-1975 là nội chiến giữa 2 miền nam-bắc (hay CS và chính quyền miền nam)và Mỹ chỉ là lực lượng trợ giúp. Bạn nên học lại lịch sử VN đi, các sách lịch sử viết ở miền nam từ trước 1975 cũng không có suy nghĩ giống bạn. Đặc biệt là nên đọc hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia Pháp, Mỹ, Việt nam cộng hòa đã trực tiếp tham gia cuộc chiến Việt Nam để có cái nhìn khác đi về lịch sử dân tộc.
Mới chỉ mấy chục năm mà lịch sử đất nước đã bị bóp méo như vậy thì chuyện xẩy ra cách đây vài trăm năm thực khó phân định đúng sai.
Lê Minh, Sài gòn, Việt nam
Sự nhìn nhận về triều đại cuả vua Gia Long và vua Quang Trung giưã Miền Bắc và Miền Nam rất khác biệt, miền Nam đánh giá từng con người trong từng chế độ mà luận xét công trạng,chẳng hạn như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Lê Văn Duyệt..., còn miền Bắc có vẻ như đánh giá tổng thể để đưa ra nhận định chung (hay nói nôm na là "Cá mè một lứa" ) mà quy kết, như chúng ta đã biết (và đến cả bây giờ )hầu như ít có con đường nào ở miền Bắc được mang tên các danh sĩ triều đại Gia Long, còn ở miền Nam thì rất nhiều đường như:
Lê Văn Duyệt (bây giờ là Điện Biên Phủ), Võ Tánh (bây giờ là Nguyễn Trãi), Ngô Tùng Châu (bây giờ là Nguyễn Văn Đậu), cho đến những năm gần đây có sự cởi mở trong nhận thức cuả giới học giả miền Bắc mà nhìn nhận lại chế độ nhà Nguyễn-Gia Long và đưa ra những nhận định công bằng hơn.
Ông cưụ thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng lên tiếng về lòng yêu nước cuả Ông Phan Thanh Giản. Lịch sử vẫn là lịch sử, không thể đưa ra những ý kiến chủ quan mà đánh giá phiến diện, ngạn ngữ có câu "Nếu chúng ta bắn vào quá khứ một phát súng lục thì tương lai sẽ bắn vào chúng ta một phát đại bác".
Phan Tiến
Tôi vẫn lo là lịch sử VN bị những xu hướng chính trị độc đoán làm sai lạc, nhưng chưa có điều kiện để đọc cuốn sách của nhà nghiên cứu độc lập này, mà hình như bạn Meo Meo, Huế cũng chưa đọc, bạn chỉ biết cuốn sách từng bị nhà nước CS cấm đoán thì vội vàng kết luận "giá như bản thân tác giả có cái nhìn một cách khách quan hơn, có hướng tích cực xây dựng thì có thể cuốn sách này sẽ được "chấp nhận".
Bạn muốn người ta nhìn lịch sử khách quan mà lại đòi hỏi phải thêm vào lịch sử "hướng tích cực xây dựng" (XHCN chăng?), thì đúng là chỉ biết nói mò, bạn đã không đọc phần nhận định của BBC là "cuốn sách cuối cùng đã được thừa nhận", được in lại rồi.
"Nó biểu hiện có những cởi mở hơn, không còn có thể bó chặt cuộc sống tinh thần như trước vì thời thế đã thay đổi. Một cái mác mà nay không ai muốn nhận, đó là mang tiếng ‘bảo thủ’".
Xin lưu ý thêm với bạn sách này nói về nội chiến, thời phân tranh Trịnh Nguyễn(1771-1802) nên mới cần nghiên cứu, chứ nói đến nội chiến giữa Việt Nam và CS (1945-1975) thì không cần nghiên cứu khó khăn, vì tài liệu chính xác còn lưu trữ khắp nơi, và còn nhiều người dân VN là chứng nhân sống.
Pnguyen58, Hà nội, Việt nam
Mong rằng VN ta sẽ có nhiều anh hùng như Tây Sơn để tiến quân ra Bắc và dẹp lũ quân tham nhũng bất tài cho người dân chúng tôi bớt đau khổ.
Cao Cường, Hưng Yên, Việt nam
Dù thế nào đi nữa tôi có thể khẳng định rằng Quang Trung vẫn cứ được toàn dân tộc Việt Nam mãi mãi coi là anh hùng dân tộc, không riêng gì ĐCS việt nam.
Thanh Mai, HCMC, Việt nam
Xin loi Hoàng Trần Văn, HCMC. Nhưng tôi không đồng ý với cách phát biểu của bạn. "Chúng tôi nói riêng và người dân Việt Nam nói chung coi anh hùng Tây Sơn là người anh hùng dân tộc."
Xin hãy cho tôi biết bạn đã dựa vào đâu mà dám nói như vậy? Nói có sách, mách có chứng. Hãy chứng minh câu nói của bạn.
Meo Meo, Huế
Chẳng lẽ khi xét đến một vấn đề bằng một thái độ hằn học, căm thù dù trong đó nêu lên được vài dẫn chứng , vài quan điêm co thể cho là "đúng" đi ,thi vẫn được gọi là thẳng thắn, trung thực ư?? Tôi thấy giá như bản thân tác giả co cái nhìn một cách khách quan hơn, có hướng tich cực xây dựng thì có thể cuốn sách này sẽ được "chấp nhận".
Hoàng Trần Văn, HCMC
Kính gui ban biên tập báo đài BBC. Chúng tôi nói riêng và người dân Việt Nam nói chung coi anh hùng Tây Sơn là người anh hùng dân tộc.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culturesport/story/2006/12/061229_tachidaitruong_book.shtml

 [/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
14 Tháng 9 2007 - Cập nhật 11h35 GMT
Vai trò của người viết sử








Tiến sĩ John H Arnold
Giảng viên lịch sử ở Đại học East Anglia
 [/align]


 [/align]




[/align]

Hình vẽ một nghi lễ tôn giáo thời trung cổ
Ngày 14-11 năm 1534, John Hogsflesh có một ngày không may. Ông phải đi dọc những con đường của Chichester vào giờ chợ mở cửa, chỉ mặc một chiếc áo sơmi, giày, miếng vải quanh eo và tay mang bó củi.[/align]Khi đến chợ, ông phải leo lên một bậc thang và đọc một thông cáo rằng ông đã bị kết tội vì niềm tin dị giáo. Nay ông từ bỏ niềm tin này. Bài đọc – do giới chức giáo hội viết sẵn – kết luận:
“Hôm nay tôi ăn năn, cầu xin các quý vị đừng bắt chước những việc làm, hay lời nói sai trái của tôi.”
Hogsflesh phải lặp lại nghi thức này ngày 19-11 tại chợ Midhurst, và ngày 21-11 tại chợ Lewes. Cuối cùng, vào ngày 22-11, John Hogsflesh phải tham dự buổi lễ tôn giáo tại Nhà thờ Chichester, để hoàn tất sự ăn năn.
 
Vai trò của sử gia
Trên đây là một câu chuyện lịch sử. Chúng ta biết những điều John Hogsflesh phải làm vì viên công tố, Giám mục Sherburne, đã giữ lại hồ sơ.
Ở mức độ giản đơn nhất, vai trò của sử gia là đọc những hồ sơ như vậy, và rồi kể lại cho thế giới về quá khứ. Những hình thức căn bản nhất của lịch sử có thể dừng ở điểm này – tức là chỉ sắp xếp lại các sự kiện theo thứ tự thời gian, không có bình luận. Thường thì ta gọi đây là “sử ký” và mặc dù chúng rất phổ biến ở thời trung đại, ngày nay chúng không còn là loại lịch sử mà ta quen thuộc nữa.






[/align]

Herodotus, sống ở thế kỷ 5 trước CN, được xem là cha đẻ của khoa lịch sử
Thế thì sử gia còn làm gì? Họ đóng vai trò thế nào?
Có một số kỹ năng và phương pháp mà mọi sử gia đàng hoàng đều áp dụng. Ví dụ, họ xem nguồn tài liệu với sự trung thành (tức là, họ không bịa tạc những gì mà hồ sơ không nói, không cố tình bỏ qua những biên bàn trái ngược với luận cứ của sử gia).
Tuy nhiên, nhiệm vụ của một sử gia còn phức tạp hơn là đơn thuần viết lại nội dung của hồ sơ. Các hồ sơ còn sót lại từ đa số các giai đoạn lịch sử đều không đầy đủ và thường trái ngược nhau, vì thế người viết sử phải cố gắng giải thích những khoảng trống và mâu thuẫn đó. Họ phải hành động như một người phiên dịch.
 
Phiên dịch lịch sử
Chúng ta có thể muốn sử gia đem đến một ít diễn giải về trường hợp John Hogsflesh. Ở đây có nhiều lựa chọn, tùy ở mỗi người. Cách chúng ta hiểu về tội ác và ăn năn của Hogsflesh đầu tiên tùy thuộc vào từng văn cảnh của sự việc.
Một sử gia có thể chỉ ra rằng vào năm 1534, tại Anh đang bắt đầu giai đoạn Cải cách Tôn giáo, khi vua Herny VIII tách Giáo hội Anh khỏi Rome. Những tư tưởng của Hogsflesh – đặc biệt là sự không công nhận Mẹ Mary – đang bắt đầu được cả nước hưởng ứng, với sự ủng hộ của vua và các cố vấn.
Như thế sử gia có thể xem Hogsflesh là bằng chứng của sự xoay chuyển về niềm tin tôn giáo, và cho rằng ông đã không may bị bắt vì ông bày tỏ quan điểm sớm trước vài năm.
Một sử gia khác có thể đặt kinh nghiệm của Hogsflesh vào văn cảnh của các vụ xử tội dị giáo, và chỉ ra rằng phiên tòa và sự ăn năn của ông là một phần của cách thức kiểm soát tín ngưỡng đã có từ cuối thế kỷ 14.
 
Lựa chọn
Vì vậy John Hogsflesh có thể được dùng cho nhiều văn cảnh khác nhau. “Lịch sử” bao quanh ông sẽ khác nhau tùy thuộc cách diễn giải của sử gia.
Có sự khác nhau giữa “quá khứ” (những gì xảy ra trong thời trước) và “lịch sử” (một phần những sự kiện được trình bày, theo cách khác nhau, bởi sử gia). Mức độ khác nhau giữa các sách sử phụ thuộc vào vai trò của sử gia.
Cái mũ ban đầu mà một sử gia đội là mũ của một thám tử - phát hiện bằng cách tìm tài liệu lịch sử. Vai trò tiếp theo là người phiên dịch. Thực tế, biên giới của các vai này không rõ ràng.
Để hiểu Hogsflesh, hay bất kỳ sự kiện nào của quá khứ, ta cần tìm thêm tư liệu để cung cấp văn cảnh. Hướng đi của công việc tham tử một phần nào phụ thuộc vào cách diễn giải của người nghiên cứu.
Điều này lại bị ảnh hưởng bởi nhiều thứ, như sự tồn tại của các nguồn tư liệu, quan tâm của sử gia, nguồn kiến thức mà đã được các nhà nghiên cứu khác khám phá.
 
Đem lại ý nghĩa
Ví dụ, ta có thể tìm kiếm những tư liệu khác về John Hogsflesh. Nhưng vì đây là một người bình thường của thế kỷ 16, có lẽ ta không tìm ra cái gì. Nhưng nếu ta tìm những người khác cũng bị kết tội dị giáo trong cùng thời kỳ, ta có thể may mắn hơn.
Tương tự, nếu ta quyết định chủ đề nghiên cứu là giai đoạn Cải cách Tôn giáo ở Anh, ta có thể tìm nguồn khác – hồ sơ của chính quyền Hoàng gia – và sẽ thấy thật nhiều dữ kiện về vua Herny VIII, cố vấn của ông, họ nghĩ gì, làm gì. Nếu đi theo hướng này, thì sự chú ý không còn nhắm tới Hogsflesh nữa – ông ta có thể trở thành một chú thích nhỏ trong lịch sử.
Tuy nhiên trong mấy năm gần đây, nhiều sử gia chọn hướng đi ngược lại. Ví dụ, để hiểu giai đoạn Cải cách Tôn giáo ở Anh, họ tìm hiểu các hồ sơ địa phương về những người bình thường (như Hogsflesh) để xem vai trò của họ trong tiến trình thay đổi tôn giáo.
Ở đây, ta thấy sử gia có vai trò thứ ba. Nếu sử gia phải diễn giải hồ sơ lịch sử, điều này nhất định buộc họ phải có lựa chọn không chỉ về văn cảnh mà cả về ý nghĩa của các sự kiện lịch sử.
Có nhiều cách để mô ta vai trò này. Trung dung nhất, ta gọi đó là vai trò của phân tích gia – nhìn bằng chứng một cách khách quan và mô tả phát hiện. Hình ảnh “khoa học” của vai trò này đặc biệt phổ biến trong các sử gia đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, nhiều sử gia đã nghi ngờ là liệu có thực tồn tại một quan điểm trung dung và khách quan không.
 
Lịch sử chủ quan
Nếu sử gia được nhìn như một người phiên dịch chủ quan hơn – không phải là kẻ dối trá, nhưng vẫn là một người phiên dịch chịu ảnh hưởng của quan điểm cá nhân – thì vai trò của họ có thể được mô tả theo nhiều cách, phụ thuộc vào cách diễn giải của họ.
Ví dụ, sử gia có thể được xem là quan tòa, đưa ra đánh giá đúng sai về quá khứ. Điều này không có nghĩa loại sử gia này là xấu, nhưng họ là người có một quan điểm cụ thể.
Cũng vậy, sử gia có thể đóng vai trò của một nhà vận động chính trị. Ví dụ, quan điểm cánh tả của nhiều sử gia như Edward Thompson và Christopher Hill ở nửa sau của thế kỷ 20. Họ cảm thấy rằng bằng cách mô tả vị trí của người bình thường trong lịch sử, sử gia có thể đóng góp cho sự tranh luận chính trị về vị trí của người bình thường hôm nay.
Ngoài ra, sử gia lại có thể đóng vai trò của một triết gia, tập trung vào những câu hỏi về kiến thức và tư tưởng mà việc quan sát lịch sử tạo ra.
 
Vai trò kết hợp
Vai trò của nhà phân tích, quan tòa, vận động chính trị, và triết gia không nhất thiết loại trừ nhau. Toàn bộ những vai này lại liên quan đến hai vai khác mà mọi sử gia đều phải đóng.
Thứ nhất là vai trò của một nhà tổng hợp – tập hợp nhiều điều (bằng chứng, tư tưởng, tác phẩm của người khác) và góp thành một mô hình mới.
Thứ hai, một sử gia, phần nào đó, đều là nhà kể chuyện. Sách sử mà công chúng đọc là sản phẩm hoàn thiện và đó phải là một câu chuyện.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/magazine/story/2007/09/070914_historian_roles.shtml
 [/align]
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
20 Tháng 11 2008 - Cập nhật 17h26 GMT
Nghiên cứu Việt học 'không độc quyền'
 




Quốc Phương
BBCVietnamese.com
 [/align]


 [/align]





[/align]

Việt Nam có mục tiêu trở thành trung tâm Việt học hàng đầu của thế giới
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba dự kiến diễn ra từ ngày 4-7 tháng 12 năm 2008 với chủ đề "Việt Nam: Hội nhập và Phát triển."[/align]Sự kiện do Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đồng tổ chức.
Tính đến thời điểm này, Ban Tổ chức cho biết đã nhận được đăng ký tham gia và tham luận của hàng trăm đại biểu, học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam học trong nước và quốc tế, trong đó có trên dưới 300 đại biểu đến từ 23 quốc gia trên thế giới.
Hai cuộc Hội thảo Quốc tế Việt Nam học trước đó đã được tổ chức vào các năm 1988 và 2003 với sự chủ trì của Đại học Quốc gia Hà Nội với sự hậu thuẫn của Chính phủ Việt Nam.
Nhân dịp này, GS. TSKH. Vũ Minh Giang, Trưởng ban Tổ chức Hội thảo, đã dành cho BBC Việt ngữ một cuộc trao đổi về cuộc hội thảo này cũng như về một số vấn đề liên quan tới nghiên cứu Việt học.
GS. TSKH. Vũ Minh Giang: Hội thảo lần này không phải là nghiên cứu thuần túy hàn lâm, mà đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. Đây vừa là tiêu đề của Hội thảo nhưng cũng là định hướng các bài viết.
Với ý nghĩa đó, ưu tiên các bài viết liên quan tới các quá trình biến đổi và những vấn đề cần giải quyết đặt ra trong quá trình hội nhập. Đây là trọng tâm bao trùm vì đây là hội thảo lớn với sự tham gia của vài ba trăm học giả nước ngoài, ba bốn trăm học giả trong nước.

Nghe cuộc phỏng vấn GS. Vũ Minh Giang[/align]
Trở thành trung tâm
BBC:Vậy có điểm gì mới và khác so với trọng tâm của hai hội thảo trước đây, thưa Giáo sư?
GS. TSKH. Vũ Minh Giang: Trước đây, cách tiếp cận cũ là nhìn nghiên cứu Việt Nam theo hướng chuyên ngành. Còn hiện nay, xu hướng mới của Việt Nam mở ra là nhìn Việt Nam dưới con mắt khoa học liên ngành.







 Mục tiêu Việt Nam dần dần, từng bước phải trở thành trung tâm có vai trò chi phối tới các khuynh hướng nghiên cứu về Việt Nam trên thế giới[/align] [/align]Giáo sư Vũ Minh Giang[/align][/align]
Khoa học liên ngành khác khoa học chuyên ngành ở chỗ nếu các khoa học xã hội, nhân văn có thể chia cắt các lĩnh vực hoạt động của con người ra thành đối tượng của các chuyên ngành khoa học khác nhau (chẳng hạn như kinh tế học, luật học, chính trị học, xã hội học v.v...), thì nghiên cứu liên ngành xem xét vấn đề trong cả một tổng thể, trong một chỉnh thể ở một không gian cụ thể.
 
Cái mới của Hội thảo lần này là rất coi trọng chủ đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
 
Cái mới thứ hai là có sự chú ý hướng tới mục tiêu Việt Nam dần dần, từng bước phải trở thành trung tâm có vai trò chi phối tới các khuynh hướng nghiên cứu về Việt Nam trên thế giới. Trong hội thảo này, sẽ đặt ra vấn đề liên kết để Việt Nam có vai trò lớn hơn, mà thể hiện rõ nhất ở việc tham gia tích cực đào tạo các chuyên gia Việt học cho thế giới.
Cái mới thứ ba là lâu nay nghiên cứu Việt Nam có nhận thức chưa thật thống nhất. Gần đây xuất hiện tình trạng mạnh ai người nấy mở. Sau hai hội thảo đầu, đào tạo Việt Nam tương đối tràn lan trên quy mô cả nước. Rất nhiều trường đại học, mấy chục nơi đã mở ra ngành Việt Nam học để đào tạo. Nhưng sự hiểu biết đầy đủ thế nào là Việt Nam học và chương trình phải như thế nào, trong hội thảo này cũng sẽ đặt ra.
 
Đây là sự trưởng thành của Việt Nam học với tư cách một khoa học liên ngành, chứ không phải là nghiên cứu Việt Nam ở các chuyên ngành. Ví dụ, chuyên ngành lịch sử Việt Nam khác với lịch sử thế giới. Kinh tế Việt Nam khác với kinh tế thế giới.
 
Về quy mô, lại có sự phát triển trở lại. Hội thảo lần thứ nhất có sự tham gia của 400 học giả trong nước, 300 học giả nước ngoài đến từ 27 nước, hội thảo lần thứ hai số lượng tụt xuống chỉ còn phân nửa. Hội thảo lần này, số người nước ngoài tham gia có tham luận và không có tham luận cũng đã lên tới trên dưới 300 người, số nước tham gia đã lên tới 23 nước. Số lượng người quan tâm tham gia cũng đông lên.
 
BBC:Qua ba lần hội thảo, tính cả lần này, đều được tổ chức với Đại học Quốc gia Hà Nội, có ý kiến cho rằng có sự tập trung hoá Việt Nam học về Đại học Quốc gia Hà Nội, điều có thể làm "lu mờ" những nơi khác trong nước, bình luận của Giáo sư?
 
GS.TSKH Vũ Minh Giang: Chuyện lu mờ hay tập trung là do dư luận đánh giá. Nhưng thực chất, nơi khởi xướng xây dựng ngành Việt Nam học không đâu khác chính là Đại học Tổng hợp Hà Nội, khi cả nước còn chưa nhận rõ được vấn đề. Lúc đầu, thậm chí còn bị phản đối rằng "người Việt Nam làm gì có Việt Nam học".
 
Từ năm 1988, đã có một Trung tâm phối hợp nghiên cứu Việt Nam ở trường ĐHTH Hà Nội. Từ đó đến nay, thì các chuyên gia, giáo sư ở đây có lợi thế là đã tiếp xúc với các học giả, chuyên gia nước ngoài từ sớm, rộng và sâu. Do đó có nhiều chuyên gia hàng đầu nước ngoài nghiên cứu Việt Nam đã có quan hệ với Đại học Tổng hợp và các chuyên gia của đại học này.
 







 Ở đâu phát triển thì cứ phát triển, còn mờ hay nhạt là do tự mình.[/align] [/align][/align][/align]
Thứ hai, có một tổ chức mạnh, bắt đầu từ trung tâm đó, dần dần phát triển. Và đây là nòng cốt để tổ chức các hội thảo quốc tế không chỉ riêng Việt Nam học, mà còn các hội thảo lớn khác ở Việt Nam, như đô thị cổ Hội An. Và đây chính là nền tảng khoa học để sau này phát triển lên thành luận chứng khoa học, công nhận đây là di sản văn hoá thế giới.
Việc này đồng nghĩa với việc các chuyên gia nước ngoài tìm đến các trung tâm mạnh để hợp tác. Nhiều hợp tác nghiên cứu tầm cỡ thế giới như nghiên cứu Đồng bằng Sông Hồng, nghiên cứu một số làng xã, nghiên cứu Nam Bộ đều tập trung về đây. Đây là hiện tượng thực tế và việc đại học trở thành một trung tâm mạnh có vị trí hướng dẫn chủ đạo trong lĩnh vực nghiên cứu này không có gì lạ.
Ý kiến nhận xét đó như một ghi nhận thực tế thì không có gì phải bàn, nhưng còn việc cho đó là "pole" hoá, tập trung hoá, phải dàn ra có thể phản ánh một tâm lý rất đời thường của ta tức là phải chia ra. Việc này không ai cấm ai cả. Ở đâu phát triển thì cứ phát triển, còn mờ hay nhạt là do tự mình. Nói cách khác làm mờ người thì cũng không làm sáng được mình.
 
Biên giới lãnh thổ
BBC:Về vấn đề biên giới lãnh thổ của Việt Nam, như trường hợp đòi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa hay các vấn đề biên giới khác, các nhà Việt Nam học và Hội thảo lần này có bàn tới không, có sự 'né tránh' gì không?
 






[/align]

Ông Vũ Minh Giang nói không kiểm duyệt các đề tài như tranh chấp Trường Sa - Hoàng Sa
GS.TSKH Vũ Minh Giang: Không có sự né tránh gì. Chỉ có điều không có một tiểu ban rành rọt về chuyện này. Vì khi bàn về chủ đề Hoàng Sa - Trường Sa, bàn về khía cạnh pháp lý sẽ ở tiểu ban luật, còn bàn về khía cạnh lịch sử sẽ ở tiểu ban lịch sử. Còn về mặt khoa học, không có gì phải né tránh, sẽ trình bày và trong hội thảo cũng có một số bài viết về vấn đề đó.
 
BBC:Về lĩnh vực pháp luật Việt Nam, tháng 11 này cũng đánh dấu kỷ niệm ra đời bản Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam. Liệu có bàn thảo gì ở Hội thảo này về việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay cho phù hợp với tình hình mới?
 
GS.TSKH Vũ Minh Giang: Đây không phải là vấn đề được hay không được. Khoa học là câu chuyện của nhà khoa học, nhưng được vận động như thế nào vào trong thực tiễn là việc khác.
Song theo tôi biết, những vấn đề liên quan tới Hiến pháp 46 đã được thảo luận ở Hội thảo lần thứ hai. Các báo cáo này đều được gửi tới theo chủ đề, và qua những báo cáo nhận được, không báo cáo nào bàn tới các vấn đề đó.
BBC:Liên quan tới câu hỏi có nên sửa đổi hay không Điều 4 Hiến pháp hiện nay, liên quan tới vị trí và vai trò độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể trong Hội thảo lần này chưa đặt ra, nhưng các hướng nghiên cứu của Việt Nam học hiện nay và tới đây suy nghĩ thế nào và có đặt ra vấn
đề này hay không?







 Tôi thấy bây giờ có khuynh hướng hướng tới việc giải quyết các bài toán nảy sinh trong quá trình phát triển của Việt Nam về mặt kinh tế, xã hội, thay vì nghĩ nhiều đến việc thay này, thay kia về mặt chính trị.[/align] [/align][/align][/align]
 
GS.TSKH Vũ Minh Giang: Tôi cho rằng những vấn đề liên quan tới thiết chế, thể chế chính trị tuỳ thuộc vào định hướng hay ham muốn nghiên cứu của các nhà khoa học. Hiện nay, qua xu hướng chung của các nhà khoa học Việt Nam, thấy rằng cái cần của Việt Nam hiện nay lại là làm sao tạo ra được một sự ổn định, trong khi thế giới xảy ra các vụ khủng bố, sắc tộc, rất nhiều việc khác.
Người dân Việt Nam hiện nay hướng tới, thậm chí ước nguyện, sau một thời kỳ chiến tranh rất dài, một cuộc sống yên ổn, bình yên, cho nên trong quá trình phát triển, họ chú ý làm sao giữ được sự ổn định. Họ còn ước ao điều này hơn sự phát triển quá mạnh mà cuối cùng không giữ được sự ổn định.
Sự ổn định bây giờ dường như là tâm nguyện chung của số đông và các nhà khoa học, tất nhiên có nhiều suy nghĩ và cách tìm tòi, nhưng chắc là chịu sự tác động của mong muốn chung đó.
 
Tôi thấy bây giờ có khuynh hướng hướng tới việc giải quyết các bài toán nảy sinh trong quá trình phát triển của Việt Nam về mặt kinh tế, xã hội, thay vì nghĩ nhiều đến việc thay này, thay kia về mặt chính trị.
 
Nhìn lại lịch sử
BBC: Gần đây, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã mở một hội thảo nhìn lại lịch sử Việt Nam, xem xét lại vai trò lịch sử của Nhà Nguyễn. Liệu trong tương lai có thể có sự nhìn nhận lại lịch sử Việt Nam đương đại, như giai đoạn cuộc chiến tranh Việt Nam - Hoa Kỳ, và đặc biệt xem xét lại lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam?






[/align]

Tin tức giải mật mới nhất nói miền Bắc không hề tấn công USS Maddox
GS. TSKH Vũ Minh Giang: Trước hết, bắt đầu xuất phát từ Triều Nguyễn. Tôi không đồng ý với quan điểm đặt vấn đề của một số báo chí cho rằng Hội thảo đó để 'biện minh' hay 'kể công' cho Triều Nguyễn.
Triều Nguyễn, do nhận thức khoa học hạn chế, hay hạn chế về mặt lịch sử, có những thời kỳ được nhìn nhận chưa toàn diện và có những hạn chế, hội thảo vừa rồi là một hội thảo tương đối cởi mở để tất cả các suy nghĩ, các quan điểm khác nhau, trong đó không thiếu các quan điểm cực đoan.
Nhưng đó là một dịp nhìn nhận lại một triều đại từng tồn tại một thời gian dài ở Việt Nam, để có một cái nhìn nhiều chiều, hướng tới một nhận thức đầy đủ, khoa học hơn về một giai đoạn lịch sử đầy biến động với nhiều vấn đề còn chưa được khám phá.
Với ý nghĩa đó, tôi nghĩ vấn đề nào của lịch sử Việt Nam cũng đều được xem xét như thế cả. Có điều đối với khoa học lịch sử, thì càng lùi về xa, cái nhìn càng hoàn thiện hơn; Giống như một thực thể nhìn gần, nhìn phiến diện như là một hạn chế tự nhiên của loại hình khoa học này. Cho nên càng xa, có thể nhìn thiếu chi tiết, nhưng lại nhìn toàn diện hơn. Với những vấn đề xảy ra gần đây khi chưa có điều kiện đánh giá toàn diện, cần phải có thời gian.
 







 Có lẽ bất cứ một vấn đề hay giai đoạn lịch sử nào rồi cũng sẽ có những lúc phải nhìn nhận toàn diện hơn[/align] [/align][/align][/align]
Với cách đặt vấn đề như vậy, có lẽ bất cứ một vấn đề hay giai đoạn lịch sử nào rồi cũng sẽ có những lúc phải nhìn nhận toàn diện hơn.
 
Còn nó là vấn đề gì thì có rất nhiều vấn đề. Thí dụ như trường hợp cuộc chiến tranh Việt Nam, rõ ràng mỗi ngày càng thấy rõ hơn. Ví dụ trước đây, ngay trong nước và nước ngoài chưa biết hết, như là tại sao lại có cuộc chiến tranh ấy, hoặc mỗi người nhìn nhận theo một cách.
Nhưng bây giờ bắt đầu có nhiều tài liệu mới ra, như sự kiện Vịnh Bắc Bộ là sự kiện người ta tạo dựng ra để ném bom miền Bắc. Những loại tư liệu về một thời kỳ nào đó còn đang được lưu trữ có tính chất bí mật, cũng là hạn chế cho việc tiếp cận chân lý. Những vấn đề đại loại như vậy, tôi cho là rất nhiều.
Trở lại vấn đề có tính chất căn bản, nếu càng xa thì tài liệu có thể được cung cấp nhiều hơn, thu thập được phong phú hơn, cách nhìn nhận có thể được gần với sự thực hơn.
Giáo sư Vũ Minh Giang là Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội, từng là Chủ nhiệm Khoa Lịch sử. Bảo vệ luận án TSKH lịch sử tại ĐH Lomonosov năm 1986, ông có trên 100 bài báo khoa học, một trong số đó, bài "Tình hình nghiên cứu Việt Nam trên thế giới" được đăng mới đây, trong cuốn "Việt Nam học trên đường phát triển", do Viện Việt Nam học và KH Phát triển, ĐHQGVN và NXB Thế giới ấn hành năm 2008.





Conan, Sài Gòn
Ông Giang trả lời câu hỏi về điều 4 Hiến pháp một cách né tránh, mơ hồ, không thuyết phục và không logic. Thứ nhất, né tránh, ông không dám trả lời dứt khoát yes hay no. Thứ hai, ông dựa vào lý do Việt Nam ổn định, còn thế giới thì khủng bố, sắc tộc và rất nhiều chuyện khác(?). Có phải ý ông là chế độ độc đảng là ổn định còn tự do dân chủ thì khủng bố, sắc tộc và nhiều thứ khác? Chắc ông quen với cách nói với TV, báo đài của ĐCSVN, nên tuyên truyền như thế.
Thứ ba, ông nói sự ổn định là ước nguyện và hướng tới của nhân dân và các nhà khoa học, tôi đồng ý và chắc đa số đồng ý. Nhưng xin ông hãy chứng minh chế độ độc đảng là ổn định còn tự do dân chủ là loạn, còn nữa ổn định nhưng phải văn minh phát triển chứ không phải ổn định để nghèo đói (Bắc Hàn), ổn định để nhục nhã (tham nhũng, buôn lậu, xuất khẩu 'vợ' cho Đài Loan, Hàn Quốc, trai thì đi làm phu ở Malaysia).
Thứ tư, ông nói khuynh hướng là giải quyết vấn đề kinh tế, xã hội thay vì nghĩ nhiều đến việc 'thay này, thay kia về mặt chính trị'. Trả lời câu này chứng tỏ ông suy nghĩ quá nông cạn. Xin thưa với ông một người một người dân bình thường cũng phát hiện ra rằng đất nước bị tụt hậu, nghèo đói là do hệ thống chính trị đấy. Cơ chế sắp xếp nhân sự, quản lý yếu kém (hồng hơn chuyên), tham nhũng hối lộ là do chế độ để ra và nuôi dưỡng... Là giáo sư, tiến sĩ khoa học mà suy nghĩ mơ hồ như thế, chắc ông Giang cũng là một dạng "hồng hơn chuyên cao cấp" thôi, thử hỏi làm sao VN phát triển được.
 
Quốc Hùng, Hà Nội
Tôi thú vị với ý kiến của GS Vũ Minh Giang. Người hỏi đặt nhiều câu "chạm" vào chính trị song GS "thoát" được hết! Nhưng lịch sử mà không đứng trên 1 quan điểm chính trị nào đó thì "khó" nhỉ?
PPT
Trong hội thảo Việt Nam Học lần 2, năm 2003, không có gì nổi bật, với tư tưởng Mác Lê-Nin chủ đạo xuyên suốt các bài trình bày của các tác giả người Việt, và vấn đề Hoàng Sa Trường Sa cũng rất mơ hồ, chưa xứng tầm với vấn đề đã trở nên nóng bỏng từ sau 1988.
Vấn đề là không phải đơn ngành hay liên ngành, mà là ở nhận thức khoa học đúng nghĩa, dám phân tích, dám đặt vấn đề, dám đưa ra giải pháp, dám công nhận những sự thật lịch sử và định hướng tương lai cho một Việt Nam Vinh Quang chứ không phải cho một nền cai trị (vì không có nền cai trị nào bền vũng mãi mãi)
Mầm mống của sự mất ổn định là "Thể chế", việc này đã được các nhà lãnh đạo công nhận và thường được nhận diện dưới hai chữ "Cơ Chế".
Khi tránh né vấn đề này, các nhà khoa học Việt Nam chỉ cố lái sự kiện theo hướng tuyên truyền, thậm chí còn hoang tưởng cho đó là ý nguyện của toàn dân!
 
Cái khác nhau giữa danh hiệu nhà khoa học và nhà "khoa học xã hội chủ nghĩa" là ở chỗ đó. Có thể hội thảo không độc quyền, nhưng chỉ dành cho những ai có cùng hệ tư tưởng Cộng Sản.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/story/2008/11/081119_vu_minh_giang.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
03 Tháng 12 2008 - Cập nhật 11h07 GMT
Giai đoạn trăn trở và khai phá
 
Thực trạng kinh tế-xã hội Việt Nam một lần nữa được giới chuyên gia đưa ra thảo luận trong Hội nghị Quốc tế về Việt Nam học lần thứ ba tổ chức từ 4-7/12 tại Hà Nội. [/align] [/align]Giáo sư kinh tế Đặng Phong là người đã dày công nghiên cứu quá trình đổi mới kinh tế trong nước.
Ông vừa cho ra cuốn sách 'Tư duy Kinh tế Việt Nam' nói về những năm tháng bước ngoặt trong cuộc cải cách kinh tế dẫn tới đổi mới toàn diện ở Việt Nam.
Đài BBC đã có cuộc nói chuyện với GS Phong:

Bấm vào đây để nghe phỏng vấn[/align]
Giáo sư Đặng Phong: Theo dõi về kinh tế VN sau 1975, có thể thấy những bước chuyển biến và thăng trầm đáng kinh ngạc. Sau khi tìm hiểu kỹ các tài liệu và gặp các nhân chứng lịch sử thì tôi thấy rằng ở đây tư duy kinh tế đã quyết định chính sách kinh tế.
Mà chính sách kinh tế thì ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của VN. Rất nhiều thăng trầm của VN là lệ thuộc vào tư duy kinh tế. Do đó tôi quyết định chọn chuyên đề 'Tư duy Kinh tế VN'.
Không phải chỉ mình tôi làm chủ đề này, nhưng tôi có một cách tiếp cận khác.
 
Nói chung ở VN, khi viết về các chủ trương chính sách, các nhà chính trị và các ý tưởng của họ, người ta thường hay quá thận trọng. Thận trọng tới mức gần như không thấy sự thật nữa.
 
BBC: Thưa ông, khi viết về chủ đề Tư duy Kinh tế, ông có gặp khó khăn gì không ạ?
Giáo sư Đặng Phong: Không chỉ khi đề cập tới tư duy kinh tế, mà tư duy trong các lĩnh vực khác, đều gặp khó khăn như nhau.
Khó khăn nhất là tư liệu không đầy đủ vì các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước thì nói rất chung chung và lại hay nói nước đôi.







 Thường một văn kiện hàng trăm trang chỉ có một vài câu nói ra một ý tưởng mới.[/align] [/align][/align][/align]
Thí dụ, một mặt nói chống bảo thủ trì trệ, mặt khác lại nói chống chủ quan nóng vội, thì có Trời mới biết văn kiện đó định nói gì.
Thường một văn kiện hàng trăm trang chỉ có một vài câu nói ra một ý tưởng mới.
Một yêu cầu khác nữa là tôi phải gặp được các nhân vật quan trọng, những người đưa ra hoặc tham gia đưa ra những ý tưởng mới đó. Trong chỗ riêng tư thì các vị ấy có thể chia sẻ với tôi.
Rồi các cuốn hồi ký của các lãnh đạo và chuyên gia cũng là một nguồn tư liệu để tìm hiểu việc hình thành các ý tưởng.
 
Công cuộc "phá rào"
 
BBC: Thưa ông có thể đánh giá sự biến chuyển trong tư duy kinh tế VN thời gian mà cuốn sách bao trùm ạ?
 
Giáo sư Đặng Phong: Thời kỳ 1975 - 1989 là một quãng thời gian không dài nhưng vô cùng quan trọng, là giai đoạn bước ngoặt đối với sự hình thành một hệ thống chính sách.
Đó là 14 năm trăn trở, có những lúc lầm đường lạc lối, có những đoạn đầy chủ quan tin tưởng nhưng rồi vấp phải thực tế phũ phàng.
Trong thời gian đó đã hình thành nhiều hướng suy nghĩ khác nhau.
Duy trì mô hình cũ thì không được vì thực tế cưỡng lại, mà không duy trì thì lại gặp húy kỵ là như thế thì phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH. Đó là trở ngại rất lớn đối với tâm lý chính trị ở VN.
Nhưng chính cuộc sống nó mở ra những khả năng và chính những người trong cuộc ở địa phương, ở cơ sở đã tự phát tìm ra con đường cho mình, hiện tượng mà chúng tôi gọi là "phá rào".
Thoạt đầu nó chưa phải tư duy kinh tế gì lớn, mà chỉ là sự tìm tòi, khai phá. Và khi nó thành công thì người ta bừng tỉnh rằng, như thế này không phải chống CNXH mà vẫn giải quyết được những vấn đề cho đời sống.
Và từ đó, hình thành kinh tế hộ trong nông nghiệp, kinh tế tư nhân trong công nghiệp, cơ chế giá thị trường trong mua bán... những điều bây giờ là bình thường thì hồi đó đầy húy kỵ và phải qua bao day dứt, giằng co mới đến được.
Đặc tính Việt Nam
 
Giáo sư Đặng Phong: Trong chặng đường mà tôi nói ở trên, có người đi nhanh, có người đi chậm. Có người nhanh về mặt này nhưng lại chậm về mặt kia.







 Ở nước nào cũng vậy, chính sách luôn luôn cần phải điều chỉnh. Thực tế cuộc sống sẽ chỉ ra cái gì đúng, cái gì không.[/align] [/align][/align][/align]
Nhưng trên con đường đó, cả đất nước đã đến một bến bờ mới.
Chặng đường đó rất hay ở chỗ tất cả đều thắng lợi và không có ai thất bại vì tất cả phải chiến thắng chính mình để cùng nhau đi tới một sự đồng thuận.
 
Đó là một đặc điểm lớn của Việt Nam. Công cuộc đổi mới ở VN gian nan vô cùng nhưng không có thanh trừng, không có đấu đá nội bộ như ở Liên Xô, Trung Quốc.
Kể cả những người bảo thủ nhất, thí dụ như ông Trường Chinh đã từng kịch liệt chống lại cơ chế khoán ở Vĩnh Phúc thì sau mười năm lại chính ông tích cực ủng hộ khoán ở Hải Phòng.
Đó là bước mở đầu để Trường Chinh có những bước đột phá, chuẩn bị cho Đại hội Đảng VI mà ông là tác giả văn kiện có đổi mới kinh tế nhiều thành phần, có kinh tế mở...
Không ai khác ngoài ông Trường Chinh đã chiến thắng chính mình để trở thành một trong các tác giả của đổi mới ở VN.
 
BBC: Trong cuốn sách 'Tư duy Kinh tế Việt Nam', ông có nhắc tới nhiều nhân vật lịch sử và có nhiều ý kiến tạm gọi là chỉ trích. Khi viết về các nhân vật như vậy, ông có quan ngại gì không ạ?
 
Giáo sư Đặng Phong: Tất nhiên là có quan ngại, nhưng tôi có cách của tôi để vượt qua những húy kỵ đó.
Tôi đã gửi tặng cuốn sách cho nhiều nhà lãnh đạo, và chưa thấy phản ứng nào.
Mới vỡ lẽ ra rằng đó là các húy kỵ ảo, nhiều người nghiên cứu ở VN sợ không dám "chê" lãnh đạo, chỉ ca ngợi một chiều mà thôi. Thực ra giới nghiên cứu có thể nói tới các lãnh đạo và sai lầm của họ, với điều kiện phải công bằng và đầy đủ.
 
Hoàn cảnh lịch sử như thế nào thì dễ dẫn tới các quyết định như thế đó. Không có chính sách nào đúng 100%, có sai thì sửa, đó là điều cần rèn luyện cho cả xã hội.
 







 Công cuộc đổi mới ở VN gian nan vô cùng nhưng không có thanh trừng, không có đấu đá nội bộ như ở Liên Xô, Trung Quốc.[/align] [/align][/align][/align]
Ở nước nào cũng vậy, chính sách luôn luôn cần phải điều chỉnh. Thực tế cuộc sống sẽ chỉ ra cái gì đúng, cái gì không.
Kể về các sai lầm, nhưng không với một ác ý.
Thí dụ khi nói về ông Lê Duẩn và các chủ trương làm chủ tập thể, xây dựng cấp huyện... thì rõ ràng đó là các sai lầm gây thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế. Nhưng tôi vẫn kính trọng ông Duẩn là một nhà tư duy lớn, còn những gì sai thì sau đó phải sửa, có gì là xúc phạm đâu?
Tôi cũng phỏng vấn nhiều nhân vật rất có uy tín trong xã hội về đánh giá của họ. Khi ông Nguyễn Văn Trân, nguyên bí thư TW Đảng, một nhà kinh tế được kính trọng, nhận xét rằng cuộc cải tạo công thương nghiệp do ông Đỗ Mười tiến hành là hấp tấp, thì không ai nói gì.
Nếu riêng tôi nhận định như vậy, thì chắc là không được.
 
Yêu cầu mới
 
BBC: Thưa ông, như đánh giá trong cuốn sách của ông, thì các thay đổi tư duy kinh tế của VN đều là do thúc đẩy nội tại. Vậy trong thời kỳ mới này, liệu sẽ có những nhu cầu mới để chúng ta thay đổi kinh tế một lần nữa hay không ạ?
 
Giáo sư Đặng Phong: Tôi tin là có. Nước Việt Nam ngày nay đã thay đổi với giai đoạn trước.
Chúng ta đã một lần khốn khổ vì các húy kỵ rồi nên người VN nay đã thực dụng hơn. Không phải đợi 15-20 năm mà chỉ cần một năm thôi, nếu thấy có vấn đề nảy sinh người VN có thể tìm cách giải quyết được.
Không đến nỗi phải chờ đợi, đắn đo qua nhiều lần Đại hội mới có thể đưa ra quyết sách.
Con đường từ Đại hội IV đến Đại hội VI mà xảy ra ngày nay ở VN thì chắc chỉ mất từ một đến hai năm.





Duy Hạnh
Cái chủ đề chủ nghĩa Max này hóa ra còn thú vị ra phết thảo nào dân mình bàn tán xôn xao. Đáng ra chủ đề này nên dừng lại được rồi nhưng thấy ý kiến của bạn Spider man tôi có nhắc bạn là cái đất nước này đã tập đi trên con đường XHCN này 30 năm nay rồi mà vẫn là đứa trẻ con.
Dân tộc này không phải là bãi thử cho CS. Hãy nhìn xem từng đó thời gian tập đi nhưng Nam Hàn, Sing, Đài Loan đã là chàng trai lực lưỡng rồi đó.
 
Spiderman
Tai sao mọi người cứ cho là CNTB tốt mặt này, tốt mặt kia! Mỗi chế độ chỉ phục vụ cho một giai cấp. Mà Giai cấp CNTB phục vụ là giai cấp TB, và đương nhiên những phần tử phản động, hay giàu có sẽ ủng hộ nó rùi.
Còn CNXH là phục vụ cho tầng lớp NDLĐ! Tôi hoàn toàn ủng hộ chế độ này tuy thực tế trước mắt ta thấy sự thối nát, cũng như yếu kém trong ĐCS VN.
Thiết nghĩ CNXH còn non kém, có đứa trẻ nào tập đi mà không bị té. Đây có thể coi như là một bước ngoặc hoặc Đảng có thể chỉnh đốn hoàn thành tốt hơn con đường CNXH, cho dân nghèo cuộc sống tốt hơn hoặc bị tiêu diệt hoàn toàn vì còn quá non kém dễ bị các tư tưởng phản động thừa nước đục thả câu.
 
Duy Hạnh
Đại Việt làm tôi nhớ đến câu trong cuốn Thế Giới phẳng là có một chủ nghĩa là cho con người có công bằng, mà cái công bằng ở đây là ai cũng nghèo như nhau. Chủ nghĩa đó chính là chủ nghĩa CS đích thực như Cuba, Bắc Hàn. Chủ nghĩa CS ở VN hiện nay nó bị pha trộn như miếng thịt ba chỉ nên có người giàu (Quan chức) và kẻ nghèo (Người dân).
 
Đại Việt
Có điều đáng đau lòng nhất của VN hiện nay là vẫn còn nhiều người cuồng tín cái chủ nghĩa Marx-Lenin.
Thời sinh viên, tôi đã từ chối mấy lần ko đi học lớp cảm tình Đảng là vì thế. Có một điều đau lòng cho một bộ phận của tầng lớp trí thức VN hiện nay là: Họ không hề muốn gia nhập ĐCS, nhưng khổ nỗi, nếu họ không gia nhập Đảng thì lại không thể "phát triển" được.
 
Batman
Tư duy Kinh tế Việt nam từ 1975-1989 hoặc đến nay là một chuỗi của những kiểu tư duy ngớ ngẫn có lúc biểu hiện bệnh lý thần kinh đó là bệnh tâm thần.
Tự mình trói lấy mình, sau đó bị nghẹt thở quá thì lại mở ra. Và sau mỗi lần hành động như vậy thì lại có câu "Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng ..." thối không chịu
Ví dụ: ở Miền nam trước 75, nông dân trồng lúa tự do, gạo ăn không hết phải xuất khẩu, sau 75 đưa vào HT xã nên thiếu đói. Sau đó lại thả ra thì gạo thừa, và được kể công là của Đảng.
Lý Cùn
Tư duy kinh tế với kinh tế thị trường tuy hai nhưng mà một. Kinh tế thị trường với kinh tế TBCN tuy khác nhau về cách gọi ngôn từ nhưng điểm đến cũng bằng con đường WTO.
Vậy thì đâu cần lí luận dài giòng mần chi cho mệt. Điều quan trọng trong nền kinh tế thị trường hay TBCN phát triển là phải dưa trên đội ngũ chất xám (tri thức) bởi chính đội ngũ này sinh đẻ ra khoa học kỹ thuật rồi mới tạo ra công ăm việc làm cho mọi thành phần trong XH.
 
Mr Bem
Giai đoạn 1975 - 1989 là thảm hoạ lớn nhất của đất nước. Sản xuất đình đốn, lưu thông ngừng trệ. Cuộc cải tạo công thương ở miền nam thực chất là một sự tàn phá nhân tài vật lực của xã hội.
Một thời kỳ mà cả xã hội xếp hàng để mua hàng rởm, một thời kỳ xã hội mua như cướp bán như cho để lại hậu quả nặng nề về cả của cải vật chất và tâm lý cho xã hội. Không thể gọi đó là "giai đoạn trăn trở khai phá" được, mà phải gọi là "giai đoạn tồi tệ nhất" của đất nước.
 
Trung Minh
Có lẽ bạn Dân GL nên tìm hiểu kỹ hơn một chút về lịch sử. Thứ nhất, không phải nước nào giành được độc lập cũng phải nhờ tới cộng sản, Marx Lenin gì cả.
Thứ hai, quá trình phát triển của dân chủ, cũng như các cuộc cách mạng khoa học công nghệ đều bắt nguồn từ các nước tư bản. Trong khi đó các nước cộng sản thì lo thanh trừng chính dân của mình vì những cái lý tưởng mơ hồ của Marx, Lenin.
CNTB cũng phải tự thay đổi. Điều này không có gì phải bàn cãi, vì nó là quy luật. CNTB ưu việt ở chỗ nó cho phép sự thay đổi đó.
Còn cncs thì sao? Khi mà nhất nhất mọi thứ đều phải đúng theo cái ý thức hệ được tạo ra bởi một vài cá nhân để rồi hàng triệu người khác, sống nhiều thế hệ sau đó phải tuân theo. Cncs thoi thóp vì nó không cho phép sự thay đổi.
Một ví dụ rõ ràng nhất là về cái gọi là 'tư duy kinh tế' ở vn. Thật ra có phải là cái gì ghê gớm do người việt tự nghĩ ra đâu. Chỉ là những điều cũ rích thế giới đã xài từ lâu, mà trầy trật mãi mới học theo được.
Chỉ vì người ta cần thời gian để 'chỉnh sửa' cái 'lí luận' lại cho nó 'vừa giày'. Vậy thì thử hỏi làm sao có thể trông đợi những thay đổi theo hướng đột phá?
 
Ngọc Freedom
Cảm ơn thầy, cảm ơn GS Đặng Phong, ấn tượng nhất của em về thầy qua những giờ học và những bài viết của thầy là người tâm huyết, thẳng thắn, khôn ngoan, và xây dựng.
Đây mới là những phương thức để thay đổi chứ ko phải cách bất mãn, hay bảo thu theo ý của riêng mình như một số người tự gọi là lãnh đạo hay của những người Việt Nam còn lưu vong ở đất người. Cảm ơn thầy.
 
Việt Tú
CNTB thực hiện tại mỗi nước khác nhau. Hãy suy nghĩ một xã hội như vầy: Tất cả mọi người được làm ăn tự do.
Những người đi làm bất cứ viêc gì đều có luật bảo vệ lao động. Những cá nhân và công ty có lợi tức phải khai thuế và đóng thuế theo luật định. Những ai có lợi tức thấp hoăc không có lợi tức kể cả người già thì đăng ký với CP và CP sẽ bỏ tiền vào nhà bank cho xài mỗi 2 tuần và tiền này cũng tính là lợi tức theo luật định.
Tất cả những trẻ em đều được trợ cấp bằng tiền theo luật định. Bộ luật an sinh xã hội đã có từ 1947, hai năm sau đệ nhi thế chiến và lúc đó nước này chỉ là một nước nông nghiệp nghèo (nghe quen quen phải không?).
CP phải do dân bầu ra một cách tự do. Thủ tướng và bộ trưởng phải do dân bầu ra. QH phải ! có đối lập theo luật định. Báo chí TV của CP có bổn phận phê bình báo chí TV tư nhân.
Xã hội như vậy chắc 7 điều của Marx và Engels trở thành chuyện cũ và đây mới là một xã hội XHCN thực sự. Nước này là Úc Đại Lợi.
 
Vân Hà, TP. HCM
Cảm ơn GS kinh tế Đặng Phong đã có cuộc phỏng vấn hay, thẳng thắng và cởi mở. Nhân đây tôi xin có vài ý nhỏ cùng tác giả.
Đúng là khi chánh quyền Việt nam có những quyết sách sai lầm thì dân đen không được tự do phê phán như ở Châu âu hay ở Mỹ, nên có một cách nói khéo là dùng chính những nhân vật có tên tuổi để phê phán họ.
Bởi vì chế độ XHCN trong khẩu hiệu tuyên truyền là tốt là hay là đẹp, nếu mình nói chính sách sai là nói xấu chế độ rồi. Tôi tin rằng qua cuốn sách của GS thì người Việt nam sẽ có cái nhìn khác về cách phản ứng của mình với chế độ, có thể họ sẽ mạnh dạn, thẳng thắn hơn khi có một quyết định sai lầm trong phát triển đất nước, mà cụ thể là dự luật về vòng đo cơ thể để cho phép người dân tham gia giao thông mà Bộ Y tế đưa ra đã gặp phản ứng mạnh từ người dân, khiến cho nó không trở thành hiện thực (ở đây nhờ công lao của báo chí rất lớn).
Và tôi nghĩ trong tương lai không xa khi mà nhà nước có những quyết sách sai lầm thì người dân họ có thể biểu tình một cách dân chủ cũng nên, theo đúng quy luật tất yếu của cuộc sống (Cái gì tốt và hay thì sẽ tồn tại).
Và tôi hy vọng rằng mổi người Việt nam với bản chất cần cù thông minh sẽ cùng với chánh phủ xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn.
 
Hoai Nam, VN
Bạn Duy Hanh BBK kính mến, người trong đảng hay ngoài đảng không quan trọng bằng người đã sống chết, luôn đi cùng sự thật, hiện tại với đất nước mình, dân tộc mình dù vẫn biết rằng có rất nhiều kẻ thù ( lộ mặt và không lộ mặt, đồng minh mà không phải đồng minh ) đó mới là góp ý và góp phần thúc đẩy phát triển VN.
VN Son, TP HCM
Tôi thuộc thế hệ 7x, năm tiến hành Đại hội 6 tôi là học sinh cấp 3. Ấn tượng nhất là thời gian chuẩn bị Đai hội từ tháng 6-tháng 11/1986.
Có thể nói là một không khi phấn khởi, tin tưởng tràn ngập trong xã hội. Sự đồng thuận đổi mới là rất cao. Cụ Trường Chinh là nhân vật uy tín nhất dẫn đắt đổi mới lúc đó, cùng với tên tuổi Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt được nghe nhiều.
 
Dân GL
Qua thông tin từ nhiều phía tôi xin góp một nhận xét nhỏ như sau: Không phải chỉ những người CS mới cần đến sự đổi mới, mà chính CNTB ngày nay cũng đã tự đổi mới rất nhiều, mà tác nhân tạo ra những đổi mới căn bản trong lòng CNTB lại chính là Học thuyết Marx - Lenin.
Thử hỏi nếu không có sự ra đời của CN Marx và theo đó là Nhà nước CSLX liệu thế giới loài người có được như ngày nay không? Thực tế lịch sử phát triển của thế giới đã chứng minh là không.
Đó là việc ngày nay trên TG không còn tồn tại chủ nghĩa thực dân, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập, nền dân chủ trên toàn cầu đã được lên ngôi, khoa học Kỹ thuật và cùng với nó là nền kinh tế thế giới đã phát triển vượt bậc..., những điều mà với hàng trăm năm tồn tại CNTB trước đó đã không tạo ra được. Rõ ràng đây là công lao không thể phủ nhận của Học thuyết Marx.
Nhưng học thuyết về quy luật phát triển XH không phải là một định luật trong khoa học tự nhiên, mặc dù các định luật cũng không phải là bất biến trong phạm vi toàn vũ trụ. Đến nay nhiều phạm trù trong Học thuyết của Marx đã và đang còn đúng với thực tế, tuy nhiên nhiều phạm trù đã không còn phù hợp, thích ứng với thực tế xã hội ngày nay, khi mà chính CNTB cũng đã tự nó thay đổi.
Do vậy nhu cầu tự đổi mới (thậm chí là cả học hỏi tiếp thu những mặt tiến bộ của CNTB) đối với những người CS đương nhiên là cần thiết, nếu không muốn tự mình làm mất vai trò là động lực cho sự phát triển chung của XH loài người.
 
Ẩn danh
VN là ngoại lệ về chuyện thanh trừng, nhưng phê phán kết tội nhau cũng kinh lắm. Đổi mới ở vô số nước khác: Nhật (thời xưa và sau đại chiến 2), Hàn, Đài Loan, Singapore... không cần đổ máu.
Duy Hanh BKK
Với sự lãnh đạo "tài tình" của Đảng quang vinh giai đoạn 75-89 Việt Nam đói nghèo liên miên, trẻ con suy dinh dưỡng, thất học, hàng nghìn người dân bỏ tổ quốc gây ra nạn thuyền nhân mà sau đó hàng trăm ngàn đồng bào đã bị chết trên những chuyến thuyền đi tìm tự do. Tôi thuộc thế hệ 8X, ký ức về thời tiền đổi mới tuy không nhiều nhưng nghĩ đến tôi vẫn còn hãi hùng.
Giờ dân mình đã đủ ăn đủ mặc rồi nhưng vẫn còn thua các nước bạn bè nhiều quá. Khi nào dân tộc này có một ông Nguyễn Văn Linh thứ hai để đem lại tự do dân chủ, và đưa đất nước ra đói nghèo thực sự chứ không phải hứa hão? Theo thiển ý của tôi đó sẽ là một người ngoài Đảng cộng sản VN
 
PPT, VN
Cái tư duy quan trọng nhất cho Việt Nam và vì Việt Nam là học hỏi. Người cộng sản có thể không đến nỗi quá kém về trình độ nhưng không có khả năng tiếp nhận cái hay của người khác. Cũng như cách trình bày của GS Đặng Phong trong "Tư duy Kinh tế VN", tất cả đều bắt đầu bằng một mớ "lí luận" chỉ để cố chạm sự thật chứ không dám công nhận sự thật.
Phải nhìn nhận sự thực "đổi mới" là con đường sống còn của lí thuyết Cộng Sản, và sự "đổi mới" mặc nhiên nói rằng Đảng CSVN đã sai đường lạc lối, không đơn thuần là vấn đề kinh tế mà cả toàn cục như đã trình bày trong báo cáo của UVBCT Trần Xuân Bách theo sau CS Đông Âu sụp đổ.
Với một đội ngũ tự xưng là "tiến bộ nhất nhân loại" như thế mà phải mất 14 năm trăn trở thì còn gì để nói. 14 năm đó đủ cho nền kinh tế TL vượt lên, từ thua VNCH 10 năm đến hơn CHXHCNVN 20 năm!. Ngày nay thay vì học hỏi, các trí thức của Đảng vẫn tiếp tục "tư duy". Chẳng thế mà mỗi lần QH họp đều đặt câu hỏi "phải trồng cây gì, nuôi con gì", thay vì đặt vấn đề "phải phát triển nông nghiệp" ra sao như các nước đã làm thành công mà VN có thể đến đó để học.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081203_dangphong_tuduykinhte.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
25 Tháng 8 2005 - Cập nhật 13h59 GMT
Duy Tân và Đổi Mới có gì giống và khác nhau?
 




Đặng Phong
Giáo sư Kinh tế, Hà Nội


 [/align]






Khi đó, các nhà cải cách Việt Nam, như Ngoại Kỳ Hầu Cường Để, đã hướng sang Nhật Bản để tìm cảm hứng canh tân[/align][/align]
Trong kinh tế, sửa đổi hay cải cách là công việc thường xuyên. Nhưng nếu nói đến phong trào có quy mô xã hội rộng lớn, như một sự bùng nổ sau một thời gian dài dồn nén, thì trong thế kỷ thứ XX, Việt Nam có hai lần như thế. [/align]Lần trước vào phần tư đầu thế kỷ, với phong trào Duy tân. Lần sau vào phần tư cuối thế kỷ , với công cuộc Ðổi mới.
Xét về ngữ nghĩa, Duy tân là Ðổi mới. Ðổi mới cũng là Duy tân. Nhưng nếu xét về hoàn cảnh lịch sử, về lộ trình, về nội dung, về ý nghĩa và kết quả, thì duy tân và đổi mới có nhiều chỗ khác nhau.
 
Duy Tân và Đổi Mới vì thế, có nhiều chỗ giống nhau và khác nhau.

 [/align]Đọc toàn văn bài viết[/align]
Duy tân là việc của phần tư đầu thế kỷ XX. Ðổi mới là việc của phần tư cuối thế kỷ XX. Khoảng cách thời gian xa nhau, hoàn cảnh khác nhau, con người khác nhau, đối tượng khác nhau và kết quả cũng khác nhau.
Cả hai phong trào đều lựa chọn cái mới, cái tiến bộ như giải pháp cơ bản của phát triển. Cả hai đều có nội dung cơ bản là khắc phục những định kiến và lề thói cũ, kể cả những cái từng được ngộ nhận là 'khuôn vàng, thước ngọc' đã lỗi thời.
 
Nhưng cả hai đều có chung những 'khuôn vàng, thước ngọc' muôn thuở là: dân giầu, nước mạnh, công bằng, hữu ái, văn minh.
 
Thiển nghĩ: nếu hôm nay chúng ta tụ hội tại đây để tôn vinh những nhà duy tân, thì có nên chăng cũng đáng có một dịp nữa để tôn vinh những người đã có công đột phá và đổi mới, tức các nhà 'tân duy tân'?

Trang đặc biệt về Đông Du[/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/08/050817_dongduvadoimoi.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
25 Tháng 8 2005 - Cập nhật 13h51 GMT





Bài viết so sánh Duy Tân với Đổi Mới[/align] [/align]








Giáo sư Đặng Phong (bên phải) trong một chuyến đến Scotland, Anh Quốc[/align][/align]
Dưới đây là toàn văn bài viết của Giáo sư kinh tế Đặng Phong từ Hà Nội mang tựa đề: 'Thử so sánh Duy tân với đổi mới, nhìn từ góc độ kinh tế'. Bài đã đăng tại ở Việt Nam thời gian trước đây.[/align] [/align]Trong kinh tế, sửa đổi hay cải cách là công việc thường xuyên. Nhưng nếu nói đến phong trào có quy mô xã hội rộng lớn, như một sự bùng nổ sau một thời gian dài dồn nén, thì trong thế kỷ thứ XX, Việt Nam có hai lần như thế.
Lần trước vào phần tư đầu thế kỷ, với phong trào Duy tân. Lần sau vào phần tư cuối thế kỷ , với công cuộc Ðổi mới.
Xét về ngữ nghĩa, Duy tân là Ðổi mới. Ðổi mới cũng là Duy tân. Nhưng nếu xét về hoàn cảnh lịch sử, về lộ trình, về nội dung, về ý nghĩa và kết quả, thì duy tân và đổi mới có nhiều chỗ khác nhau.
Dưới đây, xin thử nêu lên 10 điều so sánh những chỗ giống nhau và khác nhau của hai phong trào kể trên:
 
Duy Tân-Ðổi Mới
 
1. Hoàn cảnh lịch sử
Duy Tân: Việt Nam đang bị Pháp đô hộ. - ách đô hộ Pháp là trở ngại chính của sự phát triển. -Phong trào Cần Vương đã thất bại. Mô hình phong kiến, với tiết tháo của những nho gia, không giải được ách nô lệ cho dân tộc. Vấn đề đặt ra là phải tìm con đường khác, không chỉ dựa vào tiết tháo, mà dựa vào sự cường thịnh.
- Nhật trở thành một tấm gương đầy thuyết phục rằng nếu duy tân (chữ duy tân cũng lấy từ chữ Minh trị duy tân), thì người Châu Á có thể tiến lên phú cường.
Đổi Mới: Việt Nam được độc lập. - Cái đang kìm hãm sự phát triển là mô hình kinh tế do chính Việt Nam lựa chọn. Chiến tranh kết thúc, Mỹ thì vẫn duy trì cấm vận kinh tế với Việt Nam, nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa thì giảm sút đột ngột. Mô hình kinh tế cũ vốn không thể tự nuôi dưỡng được nó, đến lúc này hội chứng của một nền 'kinh tế thiếu hụt' càng trở nên trầm trọng.
- Do những huý kỵ về nguyên lý, ban đầu không ai dám quy nguyên nhân của những ách tắc cho mô hình kinh tế. Tư duy kinh tế đến lượt nó cũng bị ách tắc.
- Bài toán mà lịch sử đặt ra lúc này là phải sóng bằng cái do mình làm ra. Mô hình kinh tế cũ không giải được bài toán đó. Phải tìm một cách giải khác.
- Trong khu vực đã xuất hiện nhiều con rồng càng ngày càng có sức thuyết phục.
 
2. Mục đích:
Duy Tân: - Chính trị là mục đích: độc lập. Kinh tế là biện pháp: Phú quốc cường binh, thực sản hưng nghiệp. Có hưng nghiệp mới có phú quốc, có phú quốc mới có cường binh, có cường binh thì mới có độc lập. Hay nói như nhà duy tân Trung Quốc Vương Thao: 'tiên phú hậu cường'.
Sự phát hiện này đã được một người Việt Nam nói lên ngay từ giữa thế kỷ thứ 19: Ðó là Phạm Phú Thứ, sau khi di sứ ở Pháp về (1864), đã viết hai câu thơ như sau: Tảo giao Ðông thổ kiêm trường kỹ Pha lý, Long đơn vị túc tiền Nghĩa là: Giá như Phương Ðông sớm giỏi công nghệ Paris, London chắc gì hơn ta.
-Còn sau khi có độc lập rồi, sẽ đưa đất nước đi theo mô hình nào, thì các nhà duy tân còn khá mơ hồ. Ðó cũng là theo tư tưởng của Tôn Văn tiên hành hậu tri, tức cứ làm trước rồi sẽ biết sau. Tuy nhiên, xem trong ý tứ của các vị, thì hầu hết đều ít nhiều có xu hướng xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh, đoàn kết cộng đồng dân tộc.
- Kinh tế là mục đích: dân giàu, nước mạnh (mô hình kinh tế cũ cũng đặt ra mục đích này, nhưng không đạt được như ý muốn. Ðổi mới không phải là sự thay đổi về mục đích, mà là thay đổi về phương pháp.
-Trong đổi mới, mục đích là kinh tế, nhưng đồng thời phải đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
 
3. Cú hích ban đầu
Duy Tân:- Tấm gương Nhật Bản. tấm gương đó lại đến qua con đường gián tiếp, qua phong trào Duy tân của Trung Quốc, qua những tác phẩm các nhà duy tân Trung Quốc (Tân thư). - Duy tân là một sự bừng tỉnh. Nó không những chống Pháp xâm lược, mà còn là sự phủ định những phương thức chống Pháp cũ. Ðó là một sự lột xác gian nan . Sau những thất bại liên tiếp của phong trào Cần Vương, những người yêu nước đã bừng tỉnh thấy rằng sách Tứ thư ngũ kinh của thánh hiền, phép vua tôi cùng những chữ Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa, 'hay những chén thuốc độc, những sợi dây tuẫn tiết, không cứu được dân được nước. Nói như Ðặng Huy Trứ: 'Làm ra của cải, đạo lớn ấy không thể xem khinh'.
Hoặc như một câu đối tại một trường học mà các nhà duy tân mở tại Hoà An (Quảng Nam) ghi: Chữ Sĩ Nhiếp sắp về già, chép để nghìn thu mong bạn trẻ. Siêng năng theo kịp bạn, bắc thang tiến bộ bước dần lên. Bừng tỉnh trong Duy tân là: phải tìm sức mạnh không chỉ ở sự trung nghĩa, mà chủ yếu là ở những sức mạnh vật chất, lấy từ kinh tế, từ sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp.
Nói cách khác phải học kẻ thù để lấy sức mạnh chống lại kẻ thù, khác hẳn với cách phủ nhận kẻ thù đơn giản, chỉ bằng cách gọi nó là bạch quỷ, hồng mao.
Đổi Mới: -Cú hích trực tiếp là sự bức xúc bên trong: những khó khăn về kinh tế buộc các cơ sở phải bươn trải, bung ra để tự cứu. Không có cú hích ban đầu từ bên ngoài.
-Ðổi mới cũng là một sự bừng tỉnh. Trong mô hình cũ, mục tiêu dân giàu nước mạnh không thực hiện được. Sau nhiều cố gắng để cải thiện mô hình cũ như ba xây, ba chống, cải tạo công thương nghiệp, xoá bỏ thị trường tự do, ngăn sông cấm chợ, giương lên nhiều lá cờ và phát động nhiều phong trào , nhiều chiến dịch trong kinh tế và trong văn hoá tư tưởng vẫn không đạt được kết quả, thậm chí tình hình ngày càng bế tắc. Chính từ sự bế tắc đó, những bộ óc thực tế nhất đã bừng tỉnh thấy ra rằng không thể đốt cháy giai đoạn bằng ý chí được, phải tìm ra những giải pháp thích hợp với cuộc sống để tháo gỡ cho cuộc sống.
Cũng như phong trào Duy tân, sự đổi mới này không chống lại những người đi trước, nhưng làm khác những người đi trước, coi cách nghĩ của những ngừời đi trước là rất khả kính nhưng bất khả thi. Bây giờ phải tìm cách khác để thực hiện chính những mục tiêu của những người đi trước. Không coi kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường là đối lập với chủ nghĩa xã hội, là phản động, là xét lại, mà là những cái có thể điều tiết và sử dụng để đi tới xã hội chủ nghĩa. Ðó cũng là sự lột xác về tư duy và giải pháp.
 
4. Nội dung
Duy Tân:-Về mặt kinh tế là phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dân tộc: người Việt Nam phải kinh doanh nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, lập các hội buôn để làm giàu. Ðó là tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí. Nói theo các nhà Duy tân Trung Quốc: trọng thương chấn công (Hồng Nhân Can), phú nhân (Mã Kiến Trung), dưỡng dân (Lý Hồng Chương) - ít nói tới tư bản ngoại quốc. Sự thống trị của Pháp đang là một sự răn đe. Cũng không thấy nói tới đầu tư của nước ngoài. Riêng Phan Chu Trinh có đưa ra chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ', mà nội dung chính là vận động, đấu tranh đòi nhà nước Pháp nới rộng ách đô hộ, giúp đỡ mở mang dân trí, khuyếch trương kinh tế'.
Đổi Mới: - Nội dung cơ bản không khác Duy tân: Một trong những tư tưởng lớn của đổi mới là kinh tế nhiều thành phần. Trong nhiều thành phần này có một số thành phần đã có trong mô hình cũ như kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể. Cái mới trong đổi mới thì chính là thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản chủ nghĩa.
-Vì đã có độc lập, có chủ quyền, nên khác với các nhà duy tân: Một trong những chủ trương rất quan trọng trong đổi mới ở Việt Nam là thu hút dầu tư nước ngoài, chấp nhận các nhà tư bản nước ngoài vào kinh doanh.
 
5. Bài bản
Duy tân:-Tân thư, đó là các sách khảo cứu của các học giả Duy tân Trung Quốc. Các vị đó vừa trước tác, vừa biên dịch các sách của Nhật và của phương Tây. Những tư tưởng của phương Tây được các nhà Duy tân Việt Nam biết đến bằng tiếng Trung Quốc và qua sách báo Trung Quốc. - Ngoài việc tiếp thu Tân thư, các nhà Duy tân của Việt Nam còn dựa vào những tinh thần của Tân thư để biên soạn, phỏng dịch, lược dịch những tư tưởng chính của tân thư cho thích hợp với người đọc Việt Nam, bằng tiếng quốc ngữ.
Trong việc này, Ðông Kinh nghĩa thục có vai trò rất quan trọng. Như trong Chiêu hồn nước đã nói: Sách Châu Mỹ, sách China Chữ kia chữ nọ dịch ra tinh tường 'Một người học muôn người đều biết Chí ta thông trăm việc phải hay'
Đổi Mới:- Ban đầu, không có bài bản. Nói như vật tưởng như vô lý. Thực ra thì thế mới là có lý. Như đã nói, trở ngại chính của đổi mới là những huý kỵ. Ðể khắc phục những huý kỵ thì không thể dùng bài bản được, mà phải dùng những giải pháp thực tiễn, chứng minh từ thực tiễn. - Nói không có bài bản từ ban đầu là nói về tổng lộ tuyến của đổi mới. Còn trong từng vụ việc, trong từng mũi đột phá, thì lại rất có bài bản.
Khoán ở Vĩnh Phú và ở Ðồ Sơn, cơ chế một giá ở Long An, cấp đất và trả máy cày cho tư nhân ở An Giang, tháo gỡ của công ty lương thực Bà Ba Thi, dệt Thành Công, tơ lụa Nam Ðịnh, thuốc lá Bông sen ở Thanh Hoá, đều là những bài bản rất có tính toán, để làm sao vừa đột phá và tháo gỡ thành công, vừa tránh phạm huý kỵ để khỏi bị “thổi còi”. - Chỉ sau một số năm (từ 1979 đến 1986) và qua một loạt vụ việc phá rào, thử thách, thấy thực tiễn chứng minh là cần, và có thể đổi mới toàn diện, thì mới hình thành những bài bản, bắt đầu với Văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ VI (1986).
 
6. Chủ xướng
Duy Tân:- Khi phong trào Duy tân xuất hiện, thì giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam chưa ra đời. Do đó, việc đề xướng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại không thể là các nhà tư sản, mà là icác sĩ phu theo hệ tư tưởng tư sản. Ðó là theo lý thuyết thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách của Cố Viêm Võ. Nhưng các vị sĩ phu lại là những người không giỏi kinh doanh mà chỉ giỏi dạy học và viết sách. Ðó là một đặc điểm của phong trào duy tân (về mặt kinh tế).
Đổi Mới:- Bắt đầu quá trình chưa thể có người chủ xướng trên tầm quốc gia. Chủ xướng là các cán bộ lãnh đạo có uy tín ở cấp tỉnh, cấp giám đốc xí nghiệp hay công ty. Về mặt lịch sử, rất đáng tôn vinh họ là những người anh hùng của công cuộc đổi mới. Nhưng khi đột phá, các vị đó chưa thể và cũng chưa dám nghĩ đến cái lộ trình chuyển cả nước sang kinh tế nhiều thành phần, sang kinh tế hàng hoá, sang cơ chế htị trường. Khi phong trào phá rào và tháo gỡ đã phát triển đến một mức độ nhất định, kết quả tích cực đã được ghi nhận, thì ngày càng có nhiều vị lãnh đạo cấp cao đồng tình, ủng hộ và tạo ra sự chuyển đổi ở tầm quốc gia.
 
7. Người đỡ đầu
Duy Tân: - Người đỡ đầu là Nhật Bản và một số nhà duy tân Trung Quốc. Khôngbao lâu, những người đỡ đàu này đã lần lượt bỏ rơi những tín đồ” Duy tân Việt Nam.
Đổi Mới: -Tranh thủ sự đồng tình của từng vị lãnh đạo cấp cao nhất ở trung ương.
 
8. Trở ngại, trở lực
Duy Tân: - Trở lực chính là chủ nghĩa thực dân Pháp. Ðối với trở lực này không thể có sự đồng thuận, vì mâu thuẫn là mâu thuẫn đối kháng giữa kẻ xâm lược và người bị xâm lược. Khác với quan hệ trong nội bộ dân tộc: ở đây không óc chuyện phép vua thua lệ làng, mà là cả hai cái đó đều bị chủ nghĩa thực dân dồnvào chân tường. Cả vua, nếu chống lại cũng bị đầy biệt xứ. - Một trở lực nữa, trở lực bên trong, chính là cách nghĩ, cách làm, cách sống theo nho giáo cũ. Từ phương pháp đấu tranh giành độc lập tới cách suy nghĩ về xã tắc, cách ăn mặc, sinh hoạt đều cần phải sửa đổi 'Trống tân học đuổi ma cổ hủ'.
- Nếu giả định vẫn được phát triển bình thường, thì rất có thể phong trào còn gặp một trở ngại nữa: đó là sự hạn chế của bản thân những người chủ trương duy tân. Họ không phải là các nàh kinh doanh mà chỉ là các sĩ phu. Họ không biết kinh doanh theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ muốn hô hào phát triển kinh doanh. Nếu các nhà sĩ phu yêu nước được tiếp tục tổ chức các hoạt động kinh tế, khó tránh khỏi sự vấp váp ngay trên thương trường (thực tế là ngay lúc đó đã có một số cơ sở kinhdoanh do các vị sáng lập đã bị thua lỗ, phá sản).
Đổi Mới:- Trở lực thứ nhất là những huý kỵ. Ðó là những nguyên tắc cơ bản của mô hình kinh tế cũ như: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, lao động tập thể, kinh tế kế hoạch hoá tập trung, độc quyền của nhà nước về ngoại thương, quan niệm rằng tư bản là bóc lột, là đối lập với chủ nghĩa xã hội, rằng kinh tế tiểu nông và thị trường tự do từng giờ từng phút đẻ ra chủ nghĩa tư bản, thương nghiệp và giá cả phải do nhà nước chỉ đạo.
-Trở lực thứ hai là những thói quen bao cấp: quen mua giá cung cấp, quen sống bằng tem phiếu, quen trông chờ nhà nước cấp phát vốn, vật tư.
-Trở ngại thứ ba là những do dự của cấp trên. Với tinh thần trách nhiệm trước Ðảng, trước đất nước, trước nhân dân, nhiều vị bănkhoăn rằng có thể sẽ đi chệch hướng của chủ nghĩa Mác-Lênin, mất chủ nghĩa xã hội, mất Ðảng, mất chế độ, gây rối loạn trong đời sống, mà trước hết sẽ ảnh hhưởng đến cuộc sống của nhân dân lao động.
 
9. Ðường đi nước bước
Duy Tân: -Dùng hình thức công khai và hợp pháp để tổ chức các trường học, các hiệp hội, các cơ sở kinh doanh.
-Tuyên truyền tư tưởng duy tân dưới nhiều hình thức: phổ biến các sách báo Tân thư dưới hình thức mở các cửa hiệu sách, ra báo. Ðông kinh nghĩa thục còn lập ra ban Tu thư và đặc biệt là những buổi diễn thuyết 'người đông như hội, kỳ bình văn khách tới như mưa'.
-Tổ chức các hội buôn. Ngoài thương nghiệp và công nghiệp , còn phát triển các đồn điền… - Những hoạt động kinh doanh đó trước mắt chưa nhằm chấn hưng cả một nền kinh tế quốc gia, mà chỉ nhằm khuyến khích phong trào. Lợi nhuận chưa nhằm làm giầu, mà phần lớn được sử dụng để khuyến học, giúp đỡ phong trào Ðông du.
-Tư tưởng duy tân có trước, đi trước, thực tiễn duy tân diễn ra sau.
Đổi Mới:- Nguyên tắc cơ bản của các hoạt động đột phá là phải kính nhi viễn chi đối với những điều huý kỵ. Làm sao phá rào mà vẫn giữ được sự đồng thuận. Ðó là điều rất ngoạn mục và đặc sắc của đổi mới ở Việt Nam. - Nói theo ngôn ngữ của những người phá rào, thì có nhiều cách phá rào mà vẫn không bị 'thổi còi': có khi lợi dụng 'đèn vàng' mà vượt nhanh, có khi lợi dụng lúc 'đèn đỏ' trục trặc hay khi người cầm còi 'thông cảm, cho qua', có khi bí quá thì 'rú còi cấp cứu' (bất kể cứu thương hay cứu hoả) để xin vượt 'đèn đỏ'. Khi đó 'phép vua thua lệ làng'!
- Một trong những nhà cải cách đã nhận xét về đường đi nước bước của phá rào: 'Phá rào hay tháo gỡ thực ra cũng giống như việc xuyên một lỗ nhỏ qua một hàng rào, qua một bức tường. Khi đã được phép xuyên một lỗ nhỏ cho dễ thở, thì người ta mở nó ra thành một chiếc cửa sổ. Ðến khi được chấp nhận mở chiếc cửa sổ thì người ta phá nó ra thành một chiếc cửa ra vào. Ðó là lộ trình cải cách ở Việt Nam'. - Thực tiễn của phá rào và đổi mới đi trước trên từng bộ phận. Từ kết quả của thực tiễn mà hình thành tư duy đổi mới trên toàn cục.
 
10. Kết quả
Duy TânL:-Bị trấn áp, nhưng dư hưởng còn tồn tại lâu dài. Như đã nói, phong trào làm giàu, chấn hưng kinh tế để chấn hưng dân tộc vẫn tiếp tục: Bước sang đầu thập kỷ 20, phong trào duy tân nhường sứ mệnh của mình cho giai cấp tư sản dân tộc mới nảy sinh với những Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà - Trong phong trào duy tân, không có sự tham gia hoặc hưởng ứng của các quan chức nhà nước.
Một vài vị trong phong trào cũng đã có ý định đó. Như Phan Bội Châu, vào giai đoạn đầu còn muốn dựa vào những người cứng cáp trong quan trường, như nhờ ông Phủ Doãn Thừa thiên, ông Tổng đốc Nghệ An góp bàn kế hoạch duy tân. Khi viết Lưu cầu huyết, Lệ tân thư (1903) lại trình ông thượng thư bộ binh để xem và phê. Nhưng con đường đó không mấy thành công. Ðó là điều hoàn toàn khác với công cuộc đổi mới sau này.
Giai cấp tư sản dân tộc đó vẫn tiếp tục con đường phát triển sản nghiệp để chấn hưng quốc gia. Do đó, từ cách mạng Tháng Tám, một bộ phận rất lớn của giai cấp này đã hội nhập với trào lưu của lịch sử, cũng đóng góp đáng kể cho cách mạng và kháng chiến.
Đổi Mới:-Thay vì xử lý kẻ phá rào, các hàng rào đã được xử lý. Kết quả của hầu hết các cuộc phá rào (trừ trường hợp Vĩnh Phúc, quá sớm và không được sự đồng thuận từ trước) là đạt tới sự đồng thuận trên dưới, trong ngoài.
Ðó chính là con đường biện chứng và ngoạn mục đi từ phá rào tới đổi mới, từ đổi mới tới những khởi sắc kinh tế.
Tiếp theo những tháo gỡ trong bản thân nền kinh tế và bộ máy quản lý kinh tế là một bước tháo gỡ lớn về tư duy kinh tế.
Những húy kỵ về kinh tế như thị trường tự do, tư thương, tư bản, tư sản, ngoại bang, bóc lột đã được nhìn nhận lại bằng con mắt thực tế và tự tin hơn.
Trong đổi mới và qua đổi mới, Việt Nam không chỉ đi nhờ vả một chiều ở phương Tây, mà phương Tây đã tìm đến với Việt Nam để làm ăn. Giữ vững chủ quyền quốc gia là một trong những kết quả lớn nhất của đổi mới.
Một đặc điểm rất quan trọng của đổi mới là sau khi đột phá, rất nhiều cán bộ lãnh đạo ở cơ sở như bí thư, chủ tịch tỉnh và thành phố, giám đốc xí nghiệp đã được điều về trung ương. Thế là những đối tượng của thổi còi nay lại được cầm còi.
Nói cách khác có một bộ phận ‘lệ làng’ được ghi nhận và phổ biến thành ‘phép vua’.
 
Kết luận:
Duy tân là việc của phần tư đầu thế kỷ XX. Ðổi mới là việc của phần tư cuối thế kỷ XX. Khoảng cách thời gian xa nhau, hoàn cảnh khác nhau, con người khác nhau, đối tượng khác nhau và kết quả cũng khác nhau.
Nhưng cả hai phong trào đều lựa chọn cái mới, cái tiến bộ như giải pháp cơ bản của phát triển. Cả hai đều có nội dung cơ bản là khắc phục những định kiến và lề thói cũ, kể cả những cái từng được ngộ nhận là khuôn vàng, thước ngọc đã lỗi thời. Cả hai đều có chung những khuôn vàng, thước ngọc muôn thuở là: dân giầu, nước mạnh, công bằng, hữu ái, văn minh.
Thiển nghĩ: nếu hôm nay chúng ta tụ hội tại đây để tôn vinh những nhà duy tân, thì có nên chăng cũng đáng có một dịp nữa để tôn vinh những người đã có công đột phá và đổi mới, tức các nhà tân duy tân?
Đặng Phong
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/08/050825_sosanhdongdudoimoi.shtml

 
 
 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-14 22:15:57Như Ý P>
06 Tháng 12 2008 - Cập nhật 12h59 GMT





Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài [/align] [/align]






Lê Hải
Tường thuật từ Hà Nội
 

Chi tiết đáng nhớ nhất trong ngày khai mạc Hội thảo quốc tế Việt Nam học là phát biểu khiến khán phòng cười sảng khoái, trước câu kết thúc của nguyên thủ quốc gia Việt Nam.[/align]Mệt mỏi tìm phương tiện di chuyển từ Mỹ Đình về Ba Đình, tranh thủ ăn trưa trong lúc cắt và gửi các đoạn âm thanh buổi sáng về London, tôi ngao ngán đi bộ từ cổng Hoàng Hoa Thám vào phủ chủ tịch.
 
Mệt và nghe diễn thuyết
Con đường này đi dạo chơi thì đẹp, nhưng nếu bạn vừa đi vừa phải chống cơn buồn ngủ và tính toán xem sẽ dùng máy gì, đứng ở chỗ nào, liệu có được ghi âm chụp ảnh hay không, thực là một chuyện chẳng dễ dàng gì.
 
Cộng thêm 45 phút lắng nghe ý kiến của các đại biểu, rồi lại tính xem sẽ chụp từ góc nào, chút nữa sẽ dùng đoạn ghi âm nào, không còn gì có thể mô tả nổi tâm trạng mệt mỏi của tôi khi chủ tịch nước Việt Nam bắt đầu đứng dậy, tưởng chừng như sẽ giống như đọc diễn văn trên TV.
 
Thế nhưng lời chia sẻ và áy náy với cánh tay băng bó của giáo sư Carlyle Thayer không chỉ thu hút sự chú ý của các đại biểu mà luôn cả gã phóng viên đứng ở vị trí xa nhất là tôi.
 
Dẫn dắt và so sánh niềm đam mê học thuật của những người – mà ông Triết gọi là – bạn, với tình yêu trai gái không chỉ là phương pháp metaphor trong lập luận, mà còn được diễn giả khéo léo tạo ra tiếng cười thoải mái từ hết thảy người nghe.
 
Tất nhiên khi đó người ta dễ dàng chấp nhận các bước suy diễn logic tiếp theo, mà theo như tôi hiểu, thì chủ tịch nước Việt Nam muốn các nhà khoa học nước ngoài đóng góp nhiều hơn nữa cho quốc gia của ông, đặc biệt là cho ngành Việt Nam học.
 
Scriptwriter
Những lời kêu gọi mang tính tuyên truyền với nội dung tương tự rất thường gặp ở nhiều nơi, không chỉ Việt Nam.
 
Nhưng vị nguyên thủ quốc gia đang đứng đó không chỉ biết giơ hai tay ủng hộ các đề xuất mà ông cho là hợp lý, mà còn nhận lỗi về chuyện chưa tạo đủ điều kiện cho các nhà khoa học nước ngoài, với nội dung được giới PR coi là biết cách chuyển tin xấu thành tin tốt.
 






[/align]

Học giả nước ngoài phát biểu
Nếu dùng phương pháp chấm điểm âm dương để đánh giá 15 phút phát biểu của ông chủ tịch nước Việt Nam, chắc không ít vị học giả nước ngoài đang ngồi đây - mà có người không chỉ hiểu tiếng Việt mà còn dám thay đổi quan điểm về nguồn gốc chữ Quốc ngữ – sẽ cho nhiều điểm cộng hơn dấu trừ một ít
Bản thân người ngoài cuộc và vốn rất cảnh giác với các chiêu PR như tôi cũng bị dẫn dắt, ít nhất là đi theo cái logic mà vị diễn giả đang trình bày, chặt chẽ như một bài essay khoa học được nói thay vì đọc.
 
Nếu như theo kiểu phương Tây, tức là có thư ký viết diễn văn và chính trị gia nhìn vào tấm kính nói trước đám đông, thì có nhiều khả năng người chuẩn bị bài diễn thuyết này sẽ được đánh giá rất cao, và người trình bày cũng được số điểm nhiều tương tự.
 
Tiếng cười trong cuộc họp
Nhưng ít nhất là bằng mắt thường tôi không nhìn thấy tấm kính nào như vậy, và trong lúc nói ông Triết dùng rất nhiều điểm mà trước đó đã lắng nghe chăm chú và ghi chép từ những trình bày của các vị học giả nước ngoài.
 
Chắc chắn người đánh giá bài nói chuyện này công bằng hơn ai hết sẽ là quí vị thính giả của BBC, cho nên tôi đang cố gắng chia nhỏ file âm thanh để tải qua đường truyền tốc độ thấp về London, để quí vị nghe toàn bộ qua Internet.
 
Trong lúc làm các thao tác đó trên máy tính, tôi chợt nhớ lại cái khoảnh khắc mà cả gian phòng, kể luôn tôi, cười sảng khoái khi chủ tịch Nguyễn Minh Triết giơ hai tay minh họa cho câu nói “ủng hộ cả hai tay” cho các đề xuất của giáo sư Phan Huy Lê.
 






[/align]

Ông Triết sửa micro cho ông Phan Huy Lê
Trước đó ông cũng từng nhanh chóng đứng dậy sửa micro cho vị học giả lão thành để nghe rõ hơn phần phát biểu nọ.
 
Trên thế giới có những trường hợp tổng thống được đại học phong tặng tiến sĩ danh dự do có công giúp sức cho một ngành học mang tính bứt phá, cũng có học giả bảo vệ học vị tiến sĩ bằng luận văn chính là hồi ký phân tích cuộc đời mình.
 
Hội đồng chấm thi
Nhưng trong chuyện này tôi cũng chỉ là người ngoài cuộc, và chuyện trao tặng bằng tiến sĩ danh dự cho một người có đóng góp trong khoa học ít nhất cần phải qua một hội đ̀ồng khoa học gắt gao không kém gì bảo vệ theo lối thường.
 
Nếu coi hôm nay là buổi đánh giá bài phát biểu – essay – cam kết ủng hộ cho sự phát triển của ngành Việt Nam học, thì sự đóng góp của các học giả có mặt ở đây trong tương lai sẽ chính là phiếu bầu của hội đồng chấm thi.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081206_lehai_vietstudies.shtml

 

 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
14 Tháng 12 2008 - Cập nhật 14h48 GMT
Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam

Một chuyên gia Hàn Quốc đã mạnh dạn đụng đến một chủ đề nhạy cảm khi ông nói hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là "chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược".
 
[/align]Giáo sư Song Jung Nam, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, đặt vấn đề này tại Hội thảo Việt Nam học 2008, khi phân tích tính chất mở rộng lãnh thổ trong thời Hậu Lê, giai đoạn mở mang được cho là mạnh nhất trong lịch sử.
Mở rộng lãnh thổ
Công cuộc Nam tiến bắt đầu từ năm 1069 khi nhà Lý buộc Chiêm Thành nhường ba châu, đưa cương vực tiến tới tỉnh Quảng Trị ngày nay.
Tiến sĩ Song Jung Nam lưu ý thời nhà Trần "không nhận được một tấc đất nào từ Champa", mà còn "vài lần phải lâm vào thế tự vệ".
Năm 1402, nhà Hồ đánh Chiêm Thành, mở rộng ra đến Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Đến khi quân Minh xâm lược và chiếm Việt Nam, khu vực này bị Chiêm Thành lấy lại.

Theo chuyên gia Hàn Quốc, triều Hậu Lê, bắt đầu từ Lê Lợi, là triều đại "có được nhiều lãnh thổ nhất".
Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 26 vạn quân chiếm Chiêm Thành, lấy lại bốn châu bị mất trong thời gian quân Minh cai trị.

Qua cuộc viễn chinh này, Việt Nam cũng mở rộng lãnh thổ tới Bình Định ngày nay.

Ngoài lãnh thổ chiếm được, nhà Lê chia Chiêm Thành thành ba khu vực để "có thể dễ dàng hợp nhất vùng này vào bất kỳ lúc nào".



Đến thời Lý, lãnh thổ chỉ mới kéo đến Quảng Trị

Tác giả ghi nhận Chiêm Thành, trong thế kỷ 15, còn "ở vùng đệm nên có thể duy trì quan hệ đối ngoại giữa Thái Lan, Campuchia với Việt Nam."

"Nhưng thời kỳ sau, đối tượng mở rộng lãnh thổ đến cả Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam - Campuchia hay Việt Nam - Thái Lan trở thành mối quan hệ đối lập sâu sắc, thậm chí Campuchia là trục chiến lược trong sự cạnh tranh của Việt Nam và Thái Lan."

Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh
Việc mở rộng lãnh thổ diễn ra "sôi động, nhanh và rộng nhất là vào thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh".

Theo tác giả: "Việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia đã kéo theo sự căng thẳng sâu sắc trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia và dĩ nhiên ảnh hưởng tới cả quan hệ Campuchia và Thái Lan."

"Kết quả là ngày nay, đối ngoại giữa 3 nước, đặc biệt Việt Nam - Campuchia hay Thái Lan - Campuchia vẫn còn chịu ảnh hưởng không nhỏ".
Khác với thời kỳ trước, đặc trưng giai đoạn trong thế kỷ 17, khi chúa Nguyễn đi xuống phía Nam, là "chiếm lĩnh đồng thời sát nhập và hợp nhất lãnh thổ". 

 Việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia
[/align] 
[/align]TS. Song Jung Nam
[/align][/align]
Tháng Tám năm 1692, chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Chu, chiếm Chiêm Thành và đến năm sau đổi tên thành Thuận Thành, xóa bỏ sự tồn tại của Chiêm Thành với tư cách một quốc gia.

Kể từ lúc đó, Chiêm Thành đã "trở thành một dân tộc thiểu số của Việt Nam".

Việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành năm 1697 thể hiện "sự vững vàng của một quốc gia thống trị nhưng cũng cho thấy đây là một mắt xích trong việc thực hiện dư định hợp nhất Campuchia có chung đường biên giới".

Tác giả Song Jung Nam nhắc lại năm 1621, chúa Nguyễn đã "yêu cầu vua Campuchia cho người Việt Nam di trú tự nhiên, di trú Thủy Chân Lạp với những hình thức miễn thuế, thương mại, phát triển. Kết quả là việc di trú đến Campuchia của người Việt được bắt đầu từ tỉnh Đồng Nai và Mũi Xoài thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu bây giờ".

Lúc này, Campuchia muốn thoát khỏi ảnh hưởng của vương quốc Ayuthaya của Thái Lan, nên đã "mượn sức mạnh của Việt Nam để thoát khỏi sự cai trị của Thái, Việt Nam đã có được cơ hội tiến vào Campuchia một cách hợp pháp và đồng thời trên cơ sở đó, đã có được cơ hội tuyệt vời để có thể cản trở sự tiến vào Campuchia của Thái và xâm chiếm lãnh thổ Campuchia".

Năm 1658, lần đầu tiên Việt Nam "có cơ hội gửi quân đội theo yêu cầu của Campuchia để giải quyết phân tranh vương vị và kết quả là nhận được sự cư trú hợp pháp ở Mũi Xoài, Đồng Nai và nộp cống, thần phục từ Campuchia".

Năm 1679, Việt Nam "đem 50 chiến thuyền với hơn ba ngàn quân, lợi dụng những người quản lý của nước Minh Trung Quốc đầu hàng như Dương Ngan Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình … tiến hành thực hiện việc phát triển Mỹ Tho và Biên Hòa".

'Hỗ trợ và vũ lực'
Tác giả nhận xét việc hợp nhất ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên diễn ra khác phương pháp hợp nhất Chiêm Thành.
"Khi hợp nhất lãnh thổ của Chiêm Thành, đa số dùng phương pháp chiếm bằng vũ lực nhưng khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác, rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên."
"Không những thế, ở đây còn cho thấy sự ưu tiên phương pháp nhận lãnh thổ bằng cách hỗ trợ giải quyết nội chiến của Campuchia hơn là dùng vũ lực trực tiếp." 


 Khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác, rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên
[/align] 
[/align]TS. Song Jung Nam
[/align][/align]
Riêng đến khi hợp nhất Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, chúa Nguyễn chuyển sang dùng vũ lực bằng ba lần thu phục năm 1732, 1753 và 1757.
Công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía Nam vẫn tiếp tục dưới triều đại cuối cùng, nhà Nguyễn.
Năm 1835, dưới thời vua Minh Mạng, danh tướng Trương Minh Giảng tiến quân sang Campuchia, đổi tên Chân Lạp thành Trấn Tây Thành, sát nhập vào Đại Nam.
Tuy vậy, "cuộc xung đột dành quyền cai trị Campuchia giữa Việt Nam và Thái kéo dài, cộng với việc phản đối sự cai trị của Việt Nam trên toàn Campuchia và các cuộc phản loạn trong nước nên đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi".

Năm 1847, nhà Nguyễn ký hiệp định với Thái và rút quân.
Tác giả cho rằng: "Mở rộng lãnh thổ của Việt Nam bị kiềm chế bởi Thái và Pháp. Nếu giả định trường hợp Pháp không tiến hành xâm lược hay không có mâu thuẫn với Thái thì Việt Nam đã có được một vùng rộng lớn trong lãnh thổ của Lào và Campuchia".

TS. Song Jung Nam kết luận: "Việc mở rộng lănh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé. Việt Nam đă không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn." 


 Việc mở rộng lănh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé
[/align] 
[/align]TS. Song Jung Nam
[/align][/align]
"Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược."
"Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ."
Ông nói thêm việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng minh chứng cho quy luật lịch sử "giữa các láng giềng không có quan hệ tốt".
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc tái lập năm 1991, trong khi quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia cũng không mặn mà từ sự kiện Việt Nam đem quân vào Phnompenh cuối thập niên 1970.
Sang thập niên 1980, quan hệ giữa Hà Nội và Bangkok cũng căng thẳng xung quanh vấn đề Campuchia.

Như trong một hội thảo mới đây về Vương triều Nguyễn, quan điểm chính thống hiện nay là các chúa Nguyễn đã "có công mở rộng lãnh thổ về phía nam đến tận đồng bằng sông Cửu Long và xác lập chủ quyền vững chắc trên vùng đất mới" (GS. Phan Huy Lê trong hội thảo tháng 10 ở Thanh Hóa).
Diễn giải về quá trình "xâm lược" của Việt Nam trong lịch sử chắc khó lòng nhận được tán đồng từ người Việt Nam.
Dẫu sao, nó cho thấy người bên ngoài có những cái nhìn khác mà bên trong có thể không (muốn) thấy.

Việc bài của GS. Song Jung Nam được đưa vào Hội thảo Việt Nam tháng 12 tại Hà Nội, cũng như một số nhận định trái chính thống về Hồ Chí Minh, là dấu hiệu không khí học thuật trong nước đã thoải mái và thoáng hơn so với những năm trước đây.





Pinochio
Tôi không là người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan cho nên tôi không thấy có gì khó chịu hay sai trong việc TS Song Jung Nam nói VN xâm lược hay mở rộng lãnh thổ, đó là việc tự nhiên và thường xảy ra giữa các quốc gia ở mọi thời kỳ.
Vấn đề nhạy cảm vẫn còn đến ngày hôm nay khi VN nhân danh giúp đỡ Nhân Dân Campuchia để đưa quân vào hạ bệ Khơ-me đỏ và chiếm đóng một thời gian dài trên đất nước đó.

Là người dân đồng bằng sông Cửu Long-nơi chứng kiến sự tàn ác của Khơ-me đỏ với dân vô tội cả 2 nước ở vùng biên giới-tôi ủng hộ việc đưa quân tấn công qua Campuchia để giữ yên nền độc lập của nước tôi và bảo vệ dân tôi được quyền sống hòa bình hơn là để xảy ra một cuộc chiến biên giới dai dẳng.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081214_viet_expansion_history.shtml
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-14 22:33:19Như Ý P>
14 Tháng 12 2008 - Cập nhật 12h25 GMT
Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ

Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com

Một chuyên gia người Nhật đã thu hút chú ý của người tham dự Hội thảo Việt Nam học ở Hà Nội, với bài thuyết trình nhận định ông Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng hòa chứ không phải cộng sản.
 
[/align]
Tại hội thảo quy tụ hàng trăm nhà nghiên cứu trong ngoài nước vừa kết thúc cuối tuần qua, GS. Yoshiharu Tsuboi , Đại học Waseda, giới thiệu bài viết "Khảo cứu lại về Hồ Chí Minh".
Nhà nghiên cứu này giải thích ông muốn thoát khỏi quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà thay vào là xem xét tư tưởng ông Hồ "trên một lập trường giá trị tự do hơn".
Nghiên cứu Việt Nam từ năm 1973, GS. Tsuboi đã đi thăm những nơi ông Hồ Chí Minh từng đặt chân đến, từ tỉnh Nghệ An, đến Hong Kong, Quảng Đông, Moscow, Paris, London.
Ông viết trong bài tiểu luận rằng "có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền cộng hòa" và cơ sở lý luận của ông là "Tự do, Bình đẳng, Bác ái".
Tinh thần cộng hòa Pháp
Tác giả giải thích tiếp: "Tinh thần nền cộng hòa Pháp mang tính lý tưởng cao...Lấy ví dụ, nó không quan tâm tới người đó là người Nhật hay người Việt Nam, sinh ra ở tỉnh nào, xuất thân trong gia đình hay dòng họ nào, bao nhiêu tuổi, là nam hay nữ."
"Vấn đề quan trọng là con người đó với tư cách là một cá nhân có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không. Nền cộng hòa được xây dựng bởi những cá nhân là nhân dân Pháp, bất kể giai cấp, màu da hay người đó có sinh ra ở Pháp hay không."
Tinh thần này khác hẳn với quan niệm sống của thế giới Đông Á, trong đó có Việt Nam.
Ông Tsuboi kể rằng ông rất lúng túng mỗi khi gặp người Việt và được hỏi những câu hỏi liên quan cá nhân (học ở đâu, vùng nào, gia đình ra sao).
"Để xây dựng được quan hệ tốt đẹp cho hai bên và ứng xử đúng với những qui tắc xã hội vô hình, trước tiên người Việt phải tìm hiểu những thuộc tính của đối phương. Đây không chỉ là truyền thống của riêng Việt Nam mà là truyền thống của cả khu vực theo văn hóa Nho giáo."
"Người ta đã không đạt tới được nhận thức rằng: điều kiện tiền đề của nền cộng hòa là những "cá nhân" theo quan điểm giá trị mới về con người."
Học giả người Nhật cho rằng Hồ Chí Minh là "lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền cộng hòa và ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam.


 Tôi xin hứa với anh một lời hứa đặc biệt: trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam
[/align] 
[/align]Hồ Chí Minh, dẫn theo Furuta Motoo
[/align][/align]
Để chứng minh, tác giả nhắc lại việc khi là thành viên Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn cho rằng cần ưu tiên "đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho Việt Nam chứ không phải là vấn đề giai cấp. Về mặt này, Hồ Chí Minh không phải là một người cộng sản 'chính thống' theo chủ nghĩa Marx-Lenin".

Trong bài, ông Tsuboi nhắc lại một câu chuyện từng được một chuyên gia khác người Nhật Furuta Motoo công bố năm 1996.
Tháng Tám 1944, khi được Quốc dân đảng thả và chuẩn bị quay về Việt Nam, ông Hồ nói với Tướng Trương Phát Khuê của Quốc dân đảng:
"Tuy tôi là một người cộng sản nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa cộng sản mà là độc lập tự do của Việt Nam. Tôi xin hứa với anh một lời hứa đặc biệt: trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam".

Ước mơ Độc lập
Tác giả biện luận: "Độc lập mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là một nước độc lập, một nhà nước chủ quyền theo kiểu Cận đại. Từ Độc lập của ông bao hàm ý nghĩa xây dựng một quốc gia chủ quyền có lực lượng sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Ý tưởng của ông là không chỉ xây dựng một chế độ Dân chủ cộng hòa mà còn xây dựng nên hình ảnh những Con người mới đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập."

Khái niệm Tự do, với Hồ Chí Minh, là "không chỉ đơn thuần là đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền và có quyền tự do phát ngôn, hoạt động trên trường quốc tế, mà phải là thứ tự do được từng người dân ca ngợi."
"Nó cũng yêu cầu mỗi người dân ca ngợi quyền tự do đó phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa, yêu cầu từng cá nhân phải có khả năng suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao".

Hạnh phúc của Hồ Chí Minh là "mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc đó".
Tác giả cho rằng từ mấy chục năm qua, "thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn".



 Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một con người bình thường
[/align] 
[/align]Yoshiharu Tsuboi
[/align][/align]
"Người ta đã coi ông như một người lãnh đạo của phong trào cộng sản quốc tế, một người theo chủ nghĩa Marx-Lenin... Ai cũng lấy ý thức hệ làm chủ thể để lý giải ông Hồ, và ngay bản thân ông Hồ, để nhận được viện trợ tiếp tục công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát ngôn và hành động như một thành viên của liên minh những người cộng sản."
"Thế hệ kém ông Hồ 10 tuổi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp hay ông Trần Văn Giàu, do chịu sự giám thị gay gắt của nhà đương cục Thực dân, đã phải hoạt động tại nước ngoài một thời gian."
"Chính vì vậy, họ đã hiểu được tình hình bên ngoài và lý giải được một phần tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh. Sự lý giải của họ là nhờ vào kinh nghiệm sống ở các nước Âu Mỹ, chủ yếu là nước Pháp."
Trong khi đó, GS. Tsuboi nói, thế hệ cách mạng sau này không mấy người từng sống ở nước ngoài.
"Họ thiếu đi nền tảng tư tưởng để có thể lý giải được đầy đủ "Tinh thần nền cộng hòa" mà Hồ Chí Minh đã đúc kết được sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại."
"Càng đến những thế hệ trẻ hơn, người ta càng có xu hướng lý giải Hồ Chí Minh chỉ theo góc độ là nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản. Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một con người bình thường."
Thời gian gần đây vẫn có các sách nghiên cứu, thậm chí tiểu thuyết về Hồ Chí Minh ở Phương Tây và châu Á, gần nhất là ở Đài Loan, đưa ra các quan điểm, thậm chí các giả thuyết khác nhau về thân nhân và suy tư của ông Hồ.
Nhà văn Dương Thu Hương vừa cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Đỉnh Cao Chói Lọi ở Pháp với nhân vật Chủ tịch gợi lại nhiều nét về ông Hồ.
Riêng tại Việt Nam, các quan điểm chính thống về ông có vẻ như vẫn bị đóng khung trong cách nhìn giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đời tư của Hồ Chí Minh hiện vẫn là đề tài cấm kỵ tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu và phát biểu của GS Tsuboi có cơ hội mở ra một cuộc tranh luận mới.

[/align][/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081209_hochiminh_rethinking.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
14 Tháng 12 2008 - Cập nhật 12h25 GMT
Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ
Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com
....
 
Thang, Hà Nội
Bác Hồ là con người có tư tưởng riêng, tư tưởng ấy đại diện cho tất cả người dân Việt Nam, nhưng không phải là cho bộ máy lãnh đạo của Việt Nam.
Theo các ngài nói thì không có Bác thì không có chiến tranh? Các ngài học lịch sử chưa? Người VN đã chiến đấu như thế nào trước khi có bác, đó là vì người VN không muốn sống kiếp nô lệ.
GS Tsuboi đã đúng và đã cả gan nói điều mà chưa một người nước ngoài nào dám nói ở VN. Bởi vì ngày nay VN có một Đảng là Đảng CS. Cái đảng mà Bác Hồ chỉ muốn thuận lơi hơn để giải phóng dân tộc ấy thế mà được con người như Trần Phú (là một người quốc tế CS rặt) được Bác Hồ buộc phải nhận ông vào hàng ngũ của Bác để làm vừa lòng quốc tế 3.
Trần Phú đã truyền bá và cả sau này đã đưa VN đến một con đường không phải của Bác Hồ để đất nước bế tắc như ngày nay. Vậy mà những con người sau này vẫn cứ khu khư đi theo đễ được thuận lợi cho chiếc ghế của mình. Không dám nhìn vào thực tế.
 
Nothing Hà Nội
Đúng là không ai có thể phủ nhận Hồ Chí Minh là người lãnh đạo vĩ đại và có tài. Mọi người chỉ thích đổ lối cho người khác trong khi chính bản thân mình lại chẳng làm được gì nhiều cho đất nước và dân tộc như ông.
Từ xưa tới nay, dân tộc ta tồn tại với biết bao cuộc chiến tranh (không chỉ xảy ra dưới thời của Bác).
Đấu tranh để tồn tại, tự do - đó luôn là chân ly chính đáng mà hàng ngày mọi người đều phải đối mặt (cuộc sống, cơm ăn, áo mặc).
Chiến tranh vũ khí chẳng qua cũng chỉ la 1 hình thức tương tự. Trong thời khắc khó khăn, khổ cực đó, là một người bình thường, nhưng ông là người duy nhất dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh cả cuộc đời mình cho nhân dân được tự do, độc lập, hạnh phúc.
Và dù có bao nhiêu mất mát đau thương, Việt Nam đã được đền đáp xứng đáng. Chỉ tiếc rằng những người tiếp nối ông không còn ý trí như ông nữa.
 
Ẩn Danh
Vấn đề tôi muốn nói đến đây là tư cách, và quan trọng hơn nữa đó là tính chính xác của những giả thuyết của chúng ta, hay của những nhà nghiên cứu.
Họ cũng như chúng ta, những người của thế hệ sau, và đặc biệt họ càng không hiểu gì về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam. Chúng ta tự hiểu rõ về chúng ta hơn cả, nên đừng nói gì cả.
 
Long Mazda, Hà Nội
Thiết nghĩ các bạn nên tự hỏi mình đã làm được gì cho Tổ Quốc, không nên có những ý nghĩ độc đoán của riêng mình, xét soi về Lịch sử dân tộc - Tư tưởng HCM theo chủ nghĩa cực đoan.
Đất nước Việt Nam bao nhiêu năm chiến tranh, hàng vạn người phải hy sinh để dành độc lập tự do, dân chủ cho đất nước.
Các bạn là người Việt Nam ruột thịt thì hãy chung sức, chung lòng, hãy làm điều gì đó có ích hơn cho riêng mình cho mọi người và hơn hết cho Tổ Quốc Việt Nam.
 
Hào Quang, TP HCM
Thiết tưởng ông Ngô Đình Diệm và sau này là các ông Dương Văn Minh , Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Thiệu là những người theo chủ nghĩa quốc gia (nationalism) vì thế trong cuộc nội chiến giữa 2 miền Việt Nam trước đây ta hay nghe 2 chữ phe quốc gia và phe cộng sản.
Các ông vừa nhắc tới chỉ dựa vào Mỹ để có điều kiện chống Cộng bảo vệ Độc lập QG mà thôi ! Và khi cần các ông ấy cũng cố gắng tách rời cái lưng ông Mỹ! Nhưng tiếc là người Mỹ quá coi thường chính quyền và tinh thần dân chủ của dân miền nam VN.
Từ đó có cuộc chiến đấu ý thức hệ giữa 2 miền và huynh đệ tương tàn làm chết hàng triệu người lính và người dân vô tội của cả 2 miền.
Những người lãnh đạo của cả 2 miền đều có tội với bao lầm than chết chóc của bao người và gia đình vô tội ấy và ngay người Mỹ, người Nga, Tàu, Hàn quốc, Nhật ...đều cũng có tội lớn với VN .
 
Hùng Vương Hà Nội
Trước 1945 cả châu Á là thuộc địa của phát xít và thực dân, nhưng đến nay tất cả đều đã độc lập.
Đó là xu hướng tất yếu phải đến nhưng cái giá của độc lập lại không giống nhau. Việt Nam đã được Hồ chủ tịch chọn con đường đấu tranh để giành độc lập và hàng triệu con người phải bỏ mạng, đất nước kiệt quệ phải sống dựa vào nước ngoài.
Trong khi đó các nước trong khu vực đã chọn cho mình cách giành độc lập ít đổ máu và tốn ít tiền bạc hơn chúng ta nhiều.
Vấn đề không dừng ở đó, sau độc lập VN theo thể chế cộng sản độc đảng trong khi xu thế loài người là dân chủ đa đảng, một lần nữa chúng ta lại tụt lại phía sau và phải chờ đến đấu tranh mới theo kịp xu thế chung.
Trong khi các quốc gia trong khu vực do lựa chon đường lối phù hợp và tuân theo quy luật từ đầu lên họ có nhiều lợi thế trong phát triển.
Trung Quốc là một ngoại lệ từ xưa chúng ta không thể theo họ được, nhưng tất yếu rồi họ phải theo quy luật phát triển chung.
Quan điểm mỗi người một khác nhưng lịch sử sẽ cho con cháu chúng ta thấy sự đúng sai dù chính phủ ngày nay không cho dân bàn luận những vấn đề nhậy cảm thế này.
 
Dee, Melbourne
Thật sự tôi có đọc vài nghiên cứu về Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ thì ông theo chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa cộng sản. Ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng tam dân của Ngài Tôn Dật Tiên. Nhưng vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên ông Hồ đã phải chọn con đường Cộng Sản để giải phóng Việt Nam khỏi sự cai quản của Pháp.
Nhưng những gì chúng ta thấy được khi ông Hồ Chí Minh còn nắm thực quyền thì ông Hồ đã nâng cao vai trò giải phóng dân tộc trên giải phóng giai cấp, chỉ tiếc là giai đoạn nắm thực quyền của ông quá ngắn.
 
Lam Sơn
Chúng ta không thần thánh Bác, vì Bác cũng chỉ là một con người, dù là một trong những con người kiệt xuất của dân tộc chúng ta.
Hầu hết nhân dân Việt Nam sẽ không chấp nhận mọi sự xuyên tạc, bôi nhọ, thóa mạ đời tư của Bác một cách thô thiển, lố bịch và vô căn cứ như một số kẻ đố kỵ, tay sai cho đế quốc, thực dân, khoác áo những người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam đang làm.
Còn những người thực sự muốn đấu tranh cho dân chủ của VN có thể không chấp nhận CNCS, nhưng không thể dùng phương pháp này để đấu tranh được đâu. Nếu dùng nó như một vũ khí đấu tranh chắc chắn họ sẽ thất bại.
 
Minh, Sydney
Compatriot ngây thơ quá. Thử hỏi không ai đánh Pháp thì Pháp có chịu trả độc lập cho bất cứ ai không? Châu Phi có theo CNCS đây mà 500 năm phải chịu ách Pháp đô hộ.
 
Compatriot
Phần lớn các nước ở châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh trước 1945 đều là thuộc địa của các nươc thực dân, đế quốc cả, các nước Đông nam á láng giềng của ta cũng vậy. Thế mà , từ 1950-1960 các nước đã được đôc lập, không có chiến tranh tàn phá, ly tán, chết hàng triệu người chocả 2 miền.
Không có HCM du nhập Chủ nghĩa CS ngoại lai, hà khắc, xa lạ với nền văn hoá Á đông ở nước ta, giải phóng miền nam, thì nước ta vẫn độc lập, tự do như các nước khác trên thế giới, thậm chí giàu mạnh hơn cả các nước Đông nam á từ lâu rồi.
Sở dỉ Pháp không trao trả độc lập cho nước ta như hàng chục nước thuộc địa của Pháp trên thế giới vì Pháp chống CNCS.
 
Leo
Thật là thiển cận khi cho rằng Việt Nam sẽ tốt hơn khi không có HCM, các ngài những người theo quan điểm này, các ngài hiểu về lịch sử Việt Nam trong hơn 2000 năm trở lại đây?
Các ngài đã từng nghe câu nói "Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam chống Pháp", hay các ngài nghĩ rằng cứ làm dân thuộc địa thì sướng hơn?
 
Nguyễn Quang
Trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ghi lại một câu chuyện của Hồ Chủ tịch. Bác đã kể với Đại tướng rằng ban đầu không hề biết chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa nào, cứ chủ nghĩa nào giúp nhân dân VN giải phóng thì theo.
Năm đó Bác đọc được trong luận cương chính trị của Lê Nin có câu: “Các dân tộc muốn tự giải phóng mình thì phải theo chủ nghĩa cộng sản” thế là Bác đến với Liên Xô.
Quyết định của Bác là đúng. Nếu không “tụng kinh” CSCN thì làm sao có vũ khí XHCN để đánh thực dân, đế quốc?
Thế hệ trẻ Việt Nam mãi mãi kính trọng và tôn thờ Người vì bản sắc lãnh tụ anh hùng mà Người mang lại cho nhân dân Việt Nam. Dưới ánh sáng soi đường của vị lãnh tụ lỗi lạc, nhân dân Việt Nam đã sống ngẩng cao đầu và bách chiến bách thắng.
 
TDH
Bây giờ toàn nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh toàn là sai. Thực ra tìm hiểu tư tưởng Hồ chí Minh Phải nghiên cứu về bản hiến pháp 1946, tuyên ngôn dộc lập.
Tiếc thay cụ Hồ chỉ thực sự nắm quyền từ 1941-1951. Tôi mong muốn sau này ta sẽ khôi phục lại nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với Đảng lao động Việt Nam - Đảng đại diện cho toàn dân Việt Nam lãnh đạo, đồng thời khôi phục lại tinh thần bản hiến pháp năm 1946.
 
Trọng Hiếu
Tôi cũng luôn tâm niệm rằng Bác theo chủ nghĩa dân tộc tức là làm thế nào cho dân ta được độc lập và tự do, CNCS chỉ là con đường bắt buộc tại thời điểm đó phải theo để dành độc lập.
Thực tế cho thấy Bác đã đặt tên nước là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chứ không phải là CHXHCN VN và tên Đảng là Đảng Lao Động, rất tiếc những đường lối đúng đắn của Bác chỉ còn là điếu văn được đặt trên bàn thờ Bác, Trần Phú hay Trường Chinh đã khiến những tư tưởng của Bác về dân chủ, về một nền cộng hoà đã không trở thành hiện thực.
Tôi vẫn mãi tôn thờ Bác như một người lãnh tụ thiên tài. Sau này khi Việt Nam không còn theo CNCS, chắc chắn những giá trị của Bác mới được hiện hữu!
 
Minh Sydney
Bạn Cali, Đúng là không có ông Hồ thì không có chiến tranh VN. Nhưng không có ông Hồ thì cũng có thể bạn đang ngồi ở VN nói tiếng Pháp thay tiếng mẹ đẻ, chấp nhận thân phận công dân hạng 2 ở ngay mảnh đất quê hương.
 
Spiderman Hà Nội
Tôi không hiểu việc Ông Duy Hạnh viết ra dựa trên cơ sở nào. Thực ra Ông có bao giờ tìm hiểu về lịch sử Việt Nam hay không?
Ông nói rằng "không có Hồ chí Minh thì nước Việt Nam sẽ tốt hơn sao?" Ông phải biết rằng ai là người tìm ra và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc, ai là người mang lại sự tự do, độc lập cho đất nước, chẳng lẽ sự khai hóa của Thực dân pháp mang lại cho đồng bào ông những thứ đó hay sao?
Bằng rượu, thuốc phiện và mại dâm à? Bằng sự đàn áp, bóc lột nhân dân bằng sưu cao thuế nặng. Chẳng lẽ ông lại muốn dân tộc mình sống như thế chứ? Còn nữa ông nói rằng không nên dùng bạo lực cách mạng sao?
Ông có bao giờ tự từ bỏ quyền lợi của mình đang có để cho kẻ mà mình đang thống trị không? Nếu như không dùng bạo lực cách mạng thì ông lấy cái gì để lật đổ chế độ thống trị đó chứ. Ông xem các cuộc cách mạng diễn ra trên thế giới có bao giờ thành công được nếu không dùng bạo lực không? Tôi nghĩ ông nên đọc lịch sử đi nhé.
 
Vô Danh
Nhớ chuyện xưa CIA từng hợp tác với Hồ Chủ Tịch bàn về người theo cộng hòa hay cộng sản, theo ngu ý của tôi, Cụ đi theo con đường giải phóng, độc lập dân tộc, nếu như CIA và Mỹ hợp tác với Hồ Chí Minh, có thể chúng ta đã có 1 đất nước Việt Nam rất khác.
 
Nguyên
Tôi không cần biết Bác theo chủ nghĩa gì nhưng cả dân tộc biết Người đã làm gì cho dân tộc cho nhân dân mình.
Muốn đánh giá gì cũng phải dựa trê lịch sử và tinh thần Việt. Hồ Chí Minh là người vĩ đại của dân tộc, mang lại tự do, độc lập cho dân tộc. Nếu không có những người như Hồ Chí Minh thì thế giớ này, chủ nghĩa tư bản sẽ không thay đổi như hiện tại đâu.
 
Trần Thanh
Ông Hồ đã dùng chủ nghĩa Mác để giải phóng dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng. Tuy nhiên, sau 1954, phương thức lãnh đạo tập thể của chủ nghĩa công sản đã làm cho ông Hồ không lèo lái con thuyền theo ý mình nữa.
Có thời gian ông Hồ bị Tổng Bí thư Trần Phú cho ngồi chơi xơi nước. Việc rước chiến tranh của 2 phe Cộng sản và Tư Bản vào Việt Nam đã làm cho hàng triệu người Việt Nam thiệt mạng, huynh đệ chém giết lẫn nhau, lịch sử phải công bằng, không thể đổ lỗi cho một mình ông Hồ.
 
BGM
Ông Hồ chẳng theo cái gì chỉ theo cái cực quyền và cái sạch sẽ sau khi mọi việc đã lật bài - nói và làm trở thành giấy trắng mực đen.
 
Nam Hà Nội
Tư tưỏng Hồ Chí Minh Việt nam Dân chủ Cộng hòa Độc lâp Tự do Hạnh phúc. Chủ tịch Hồ chí Minh Vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của Việt Nam.
 
Thế Dung Hà Nội
Mấy cái góp ý kiểu này đa số các ông Việt kiều, xin lỗi tôi chỉ nói "đa số", mất gốc vào nói linh tinh. Không hiểu ông nghĩ gì mà cho rằng: "Tuy nhiên tôi cho rằng dân tộc VN không có ông sẽ tốt đẹp hơn."
Xin lỗi cho hỏi ông ra nước ngoài từ năm bao nhiêu tuổi, ông có về VN lần nào không? Nếu tôi không lầm thì sau khi nước VN giành độc lập ông là 1 trong số những người đầu tiên trốn khỏi đất nước đấy.
 
Vô Danh
Bài viết được, nhưng phải cảnh giác với những bài xuất xứ từ người Tàu. Đừng bao giờ dính dáng với dân Tàu.
 
Vô Danh
Tôi không nói đến vấn đề trích dẫn đúng hay sai. Nếu đúng như vậy, thì thì tôi thấy Hồ Chí Minh càng thiên tài.
Thứ nhất, trong giai đoạn ấy, độc lập dân tộc là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Việt Nam không thể xây dựng CNXH khi vẫn còn là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.
Về lời hứa: "Trong vòng 50 năm tới không thực hiện chủ nghĩa xã hội của Việt Nam" điều này cho thấy tầm nhìn, thiên tài của Người. Sau đó là 31 năm Việt Nam phải tiếp tục đánh Pháp, Mỹ để dành lấy tự do, độc lập cho Tổ quốc mình. Sau khi dành được độc lập tự do, nhân dân tôi còn phải khắc phục hậu quả của chiếu tranh, đến bây giờ vẫn chưa thể khắc phục xong. Và thực tế, sau 65 chúng ta vẫn chưa thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Như vậy thì sự nhìn nhận của Hồ chí Minh có đúng không. Theo tôi hoàn toàn đúng, không có gì phải bàn cãi. Ở đây tôi không bàn đến nguyên nhân.
 
Trung Dung Hà Nội
Thực ra đây không phải là một kết luận mới, hầu hết những người hiểu về Bác đều có nhận định chung như vậy.
Bác là người theo chủ nghĩa dân tộc và Cộng hòa; đối với giới quan chức thì họ biết cả, nhưng không ai dám nói ra vì ngại động chạm đến quyền lợi và thăng tiến. Đó là lý do tại sao trong họ hiện nay đang tồn tại 2 con người: thực và giả và tại sao ở Việt Nam lại có nhiều người yêu Bác như thế.
 
Hoàng Mai VN
Ở VN bây giờ trong giới trí thức lúc trà dư tửu hậu người ta vẫn nói ông Hồ Chí Minh không theo đường lối cộng sản mà chỉ mong xây dựng đất nước theo lý tưởng như Tôn Trung Sơn và Ghandi.
Còn việc tại sao VN lại theo con đường cộng sản sau này thì nhiều yếu tố của thời cuộc đã tác động nên mà trong đó chủ yếu là điều kiện quốc tế thời bấy giờ chứ không hẳn hoàn toàn do ý thức bản thân của ông.
Hậu thế luận Anh Hùng không phải dễ nhưng bản thân ông Hồ vẫn là anh hùng dân tộc đối với đại đa số dân VN.
Một điều sai lầm của chính sách tuyên truyền CS là đã thần thánh hóa một con người bình thường để mượn lời thánh giáo hóa cho dân đen. Điều đó không phải dân VN ai cũng thích và lẽ đương nhiên một con người bình dị như ông Hồ lại càng không thích mình trở nên như thế. Hãy đọc lời di chúc của ông thì thấy điều này.
 
Sakura Nhật Bản
Thiết nghĩ, ông làm Đồ Nho thôi, sẽ không làm cho VN rơi vào cả một thế kỷ chiến tranh tàn khốc vì quyền lực của ông ,và cái mớ lí thuyết hổ lốn của ông đưa ra - đến lúc ông ‘đi’ rồi, mà thuộc cấp còn tiếp tục núp bóng, làm chậm tiến đất nước. Ông Hồ ơi là ông Hồ!
 
thanhnd1987 TPHCM
Sao không có ai ở đây đọc "Tư tưởng HCM" rồi hãy bình luận nhỉ?
 
Ai Quoc HCMC
Tôi xin góp chút ý kiến. Theo một số tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thì cũng có ý kiến cho rằng Hồ Chủ tịch cũng học theo tinh thần Tam Dân của Tôn Trung Sơn, vốn được xem là phù hợp với điều kiện và nhân sinh quan của xã hội Đông Á, là: Dân tộc độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh hạnh phúc; từ đó mà suy rộng ra nền tảng tư tưởng chủ đạo của Cụ là QUỐC DÂN chứ không phải thuần CỘNG SẢN.
Tiếc rằng trong hàng ngũ lãnh đạo lúc đó không có mấy người có tầm như Cụ Hồ, nên đã giáo điều rập khuôn hoàn toàn CNCS và dần ngả theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông (Maoism) - là chủ trương mạnh tay xóa sạch cái cũ để làm lại từ đầu.
Mọi sai lầm sau này của Đảng như Cải cách ruộng đất,đấu tố 1945-1975, cưỡng bức lao động sau 1975,..đều là hiện thân của chủ nghĩa Mao mà đứng đầu là những người như Trần Phú, Trường Chinh,..Thiển nghĩ những người là từng là nạn nhân của Maoism nên tìm hiểu thật kĩ để nói đúng về Cụ Hồ. Cảm ơn ông Tsuboi.
 
Lê Văn Thịnh tp Hồ Chí Minh
Tôi thật sự bất ngờ nhưng vui mừng vì có 1 bài viết về Hồ Chí Minh như bài này.Tôi thật sự mong muốn đất nước chúng tôi được mang tên là Việt nam Dân chủ Cộng hòa và đảng của Người dân Việt Nam là Đảng Lao động Việt Nam.
 
Chi Việt Nam
Không có HCM thì không có chiến tranh VN kéo dài 20 năm.
 
NAQ Paris
Công trình của của GS.Tsuboi là 1 quan điểm tuy mới mà không mới. Vì những ai khách quan đều có thể hiểu ít nhiều về mối liên quan giữa HCM và Quốc tế CS.
Thực lòng thì ai cũng ghi nhận những đóng góp của HCM vào việc giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, lập nên một nhà nước VN Dân chủ Cộng Hòa. HCM là người học theo chủ nghĩa CS, học theo Mác-Lê.
Nhưng HCM là 1 người CS biết tự lượng sức mình, tự hiểu rõ dân tộc mình, nên ông không vội vã đưa đất nước theo mô hình XHCN hay CSCN. Chỉ có những người CS kém tài khác (cùng và sau thời HCM) đã cố tình lèo lái đất nước theo tư duy "CS muôn năm-XHCN muôn năm". Rồi quy chụp đó chính là Tư tưởng HCM. Thật tai hại. Tiếc cho 1 người tài như HCM lại bị dìm pha vì hiểu lầm những kẻ bất tài.
 
Tư BMT
Lý giải rất logic! Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu.
 
Vô Danh
Tôi nghĩ rằng là người lãnh đạo đất nước mà để xảy ra chiến tranh thì đều có lỗi với dân với nước. Năm 1954 đã độc lập rồi, lãnh đạo cả 2 miền như ông Hồ, ông Diệm, ông Thiệu... đều có lỗi vì đã gây ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Nếu mang ý tưởng cộng hòa, "Tự do, Bình đẳng, Bác ái", thì sao ông Hồ lại để bao nhiêu triệu người phải ngã xuống như vậy. Kiến giải của ông Yoshiharu Tsuboi xem ra không thuyết phục.
 
Yêu dân tộc Việt Nam
Bạn đã có đóng góp gì cho đất nước hiện tại hay chỉ là những lời nói phét. Các bạn hãy nghiên cứu lịch sử VN từ 2000 trước đến nay thì mới thấy được tương quan của sự phát triển và độc lập dân tộc, đừng nhìn vào một vài hình ảnh không đẹp của VN hiện tại ( mà trên thế giới chỗ nào cũng có, kể cả dưới tượng nữ thần tự do) để rồi có cái nhìn cực đoan.
Trước 1945 thì sao (có bao gia đình có nhà xây tô), từ 1946-1975 thì sao (đặc biệt là sau vụ tết Mậu Thân-CSVN muốn hòa hợp thì CH không chịu, 1973 CH yếu và muốn hòa hợp thì CS không chịu), từ 1976-1987 thì sao (giai đoạn bị cấm vận), từ 1988 đến nay thì sao (giai đoạn bỏ cấm vận). Nếu bạn hiểu hết lịch sử VN thì bạn sẽ thấy rằng VN còn phải lo nhiều thứ, trong đó có "độc lập dân tộc" là phải lo nhất, thì bạn mới cảm nhận và cảm thông.
Chúc các bạn sớm nhận ra sự thật và không có sự bi quan (khi chẳng giúp được gì cho đất nước) và hãy sống với thực tại, lịch sử vẫn là lịch sử, không lặp lại được (kể cả khi có biến động xã hội-vì nó cũng sẽ phải theo hướng hiện tại và tương lai).
 
Tưởng Bình Dương
Theo tôi con đường giải phóng DTVN, là do đảng lãnh đạo do đó những đường nối cách mạng là do đảng quyết định chứ không phải HCM, HCM là người chuyền bá CN Mác-Lênin vào CMVN chứ HCM đâu có quyết định một mình đâu. với mục đích đưa CMVN đi đến thắng lợi. Người dân được tự do, mọi người trên lãnh thổ VN đề có quyền bình đẳng như nhau.
Với tinh thần đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết để người dân VN có tiếng và sánh vai với các cường quốc năm châu.
Vậy thì tư tưởng HCM không nhầm vào đâu được là cộng sản, vì thời thế đó các cường quốc có khuynh hướng bài cộng sản do đó CMVN mà trong đó VN là nước đi đầu trong phong trào này do đó các mũi nhọn bài trừ cộng sản nhằm vào VN. Cách mạng VN muốn giải phóng được thì trước hết phải tự giúp chính mình.
 
Ẩn Danh
Nói thí dễ, nhưng làm mới khó, các vị thử suy nghĩ đi, mình đã làm được gì cho VN đau khổ đáng thương này trong thời gian qua? CS hay CH cũng được, miễn là Công nào đem lại yên bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân, tòan vẹn lãnh thổ là được, mèo trắng mèo đen gì cũng được, miễn bắt được chuột là tốt.
 
Andy
Tôi mong muốn có một nghiên cứu đúng tầm và trung thực để giải mã "Tư tưởng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua từng thời kỳ cụ thể và những tác động xung quanh trong nội bộ Đảng và thế giới đến đường lối lãnh đạo của Người.
 
VTT Hà Nội
Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ Bác Hồ đã gần như chỉ còn là lãnh tụ tinh thần (may mà người có uy tín vô cùng lớn trong lòng người dân Việt Nam chứ không cũng bị các đồng chí Trường Chinh và Lê Duẩn xử lâu rồi). Dù sao Bác Hồ vẫn mãi là lãnh tụ mà tôi kính trọng nhất.
 
Kevin, HCM City
Đừng trách móc Bác Hồ trong việc đất nước Việt Nam kém cỏi như bây giờ, Ông đã chọn đúng con đường để giải phóng dân tộc trước,tuy nhiên Ông đã không thể đi hết con đường đã chọn, những người sau ông đã vô tình hay cố tình đi theo một con đường khác. Ông là một nhà lãnh đạo đại tài.
 
super tramp, Hà Nội
Một con người đã sống bôn ba qua nhiều quốc gia, được tận mắt chứng kiến thế nào là dân chủ, thế nào là văn minh thì không thể đi xây dựng một quê hương mình thiếu dân chủ và thiếu văn minh như thế này được.
Rõ ràng tư tưởng của HCM là hoàn toàn khác so với những gì ta nhìn thấy và được người ta nhồi vào đầu.
 
tran thanh long, Hà Nội
Đây là đề tài đã từng gây tranh cãi trong giới Luật học. Theo tôi Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc và thiên về Cộng hoà hơn Công sản. Người lấy đường lối của chủ nghĩa Mac-Lê có sang tạo để làm cách mạng giaỉ phóng dân tộc. Tại Việt nam làm cách mạng giảp phóng là của toàn dân, trong đó g/c "công nhân" là tầng lớp lãnh đạo. Chính vì vậy Người đã lập ra mặt trận Việt Minh để kháng Nhật. Năm 45, sau khi thành lập chính phủ lâm thời Người đã xoá bỏ Đảng Cộng sản Việt nam và chấp nhận đi theo con đường Cộng hoà. Năm 46 thành lập Chính phủ mới là chính phủ liên hiệp. Trong Chính phủ mới thành lập có cả người của Quốc dân đảng và Cách mạng đảng.
Nhưng cuối cùng Người vẫn phải chọn con đường Cộng sản cho Việt nam. Chính vì bọn thực dân, không cho Người có điều kiện chọn con đường mà dân tộc VN muốn. Nếu năm 46, thực dân Pháp công nhân Việt nam là nước tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp theo như hiệp định sơ bộ, thì Đảng Cộng sản Việt nam có lẽ sẽ không có cơ hội đê thành lập trở lại với cái tên mới Đảng Lao động VN.
Nhưng vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, buộc Người phải chọn một con đường có lợi nhất cho nhân dân Việt nam giành thắng lợi, đó là con đường mà người Cộng sản ở Trung quốc vừa giành được thắng lợi.
 
Jumong
Kiến giải của ông giáo sư này rất có lý. Có thể nói rằng Tư tưởng Tự do dân chủ nhân quyền của Pháp, Mỹ; Tinh thần dân tộc; Chủ nghĩa Mác Lê nin là những cái tác động mạnh nhất đến suy nghĩ và hành động của ông Hồ.
Vì hiểu rất rõ về chủ nghĩa Mác nên ông ấy biết rằng muốn đến được CNXH thì trước hết phải xây dựng quốc gia, dân tộc theo mô hình tự do dân chủ nhân quyền của Âu, Mỹ. Và muốn làm được thế thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và muốn có độc lập dân tộc. Trong tình hình hồi ấy thì buộc phải theo chủ nghĩa Lênin (thực tế chứng minh các lực lượng khác ở VN đi theo những cách khác đã thất bại).
Tiếc rằng, các chính phủ Pháp, Mỹ hồi đó đã không hiểu được ông Hồ, không hiểu được người Việt Nam nên có những hành động sai lầm.
 
MrNeo
Tại sao năm 1945 Bác Hồ không khai sinh ra nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà là Việt Nam Dân Chủ - Cộng Hòa?
Là chính vì chủ trương của Người là xây dựng một nước Việt Nam như vậy. Nhưng Chủ nghĩa cộng sản có thể tập hợp được đa số tầng lớp nhân dân kém trí thức và nghèo ở Việt Nam, và tuyên truyền của Chủ Nghĩa Cộng Sản khá mạnh, chính vì thế Người đã lèo lái chính trị Việt Nam đi theo đường lối đó với mục đích mượn tạm để giúp Việt Nam thoát chiến tranh và giành độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một Quốc gia khác so với chính quyền thân Mỹ của Diệm hoặc Chính quyền thân Pháp của Bảo Đại.
Nhưng một vài bộ phận thành viên trong Đảng có lẽ đã quá "thấm nhuần" tư tưởng Cộng Sản và đã lật ngược lại thế cờ. Lúc này Hồ Chủ Tịch chỉ còn là biểu tượng tinh thần, mất dần uy thế quyền lực, và cũng có lẽ chính vì mong đất nước thoát khỏi chiến tranh mà Người đã phải nén lòng cho chuyện này.
Tôi đã từng ở trong hàng ngũ Đảng, đã từng mạnh miệng bảo vệ chủ trương và chính sách của Đảng, nhưng rồi giờ tôi cũng phải buộc mà thốt lên rằng: tôi không thích và không hề muốn sống trong một đất nước dối trá và lừa gạt nhau.
 
Zerovn
Hẳn các bạn đã học Lịch Sử VN trong đó có nói về việc hình thành CS Đảng. Tôi nhắc lại LS ở đây ý muốn nói về những gì bài báo này đã viết.
Có thể tư tưởng Dân Tộc của cụ Hồ là một Chủ Nghĩa Cộng Hòa, điều đó giải thích tại sao đường lối của Ông Năm 1930 gởi cho Quốc Tế Cộng Sản bị từ chối và bị Quốc Tế cộng sản chỉ trích và thay đường lối của Ông bằng đường lối của Trần Phú. Và Trần Phú nhanh chóng được phong làm Bí Thư thứ I CS Đảng VN.
Nếu chúng ta sử dụng đường lối của Cụ Hồ thì có thể đất nước ta sẽ khác hơn bay giờ. Vì từ trước cho đến bây giờ Đảng CS vẫn đi theo con đường mà QTCS đã vạch ra mà thay mặt là Tổng Bí Thư Trần Phú.
Có lẽ cái đầu tiên mà Bác nghĩ trong đầu là Giải Phóng dân tộc. Nhưng Người đã không thể đi hết con đường, và kết cục đất nước bị theo con đường Vô Sản.
 
New
Đúng là "chuyện bây giờ mới được nói"! Những năm đầu sau giải phóng, những người có tư tưởng "hết sức phản động" như GS Tsuboi Nhật không bao giờ được đến gần biên giới VN chớ nói gì được mời đến ngay tại thủ đô Hà Nội.
Người ta thắc mắc nếu Bác Hồ không phải là người theo chủ nghĩa Mác-Lê (Marxism-Leninism), thì ai là người VN mang chủ nghĩa CS truyền bá đầu tiên tại nước nhà?
Và không lẽ hàng triệu đảng viên đảng CS VN hiện nay đang tôn thờ vị lãnh tụ vĩ đại của mình lại mang tư tưởng chủ nghĩa "cộng hòa thuần túy" của phe thuộc TBCN (capitalism) chớ không phải tư tưởng "cộng hòa XHCN" của phe CSCN?
Thật ra, GS Tsuboi có lẽ muốn gây sốc mọi người với một đề tài gây nhiều tranh luận như vậy.
Tuy nhiên, với uy thế của một GS đại học của Nhật - quốc gia đã và đang giúp đỡ nhiều nhất cho VN- ông Tsuboi mới có thể bình an phát biểu khá ngược đời như thế mà không bị hỏi thăm sức khỏe.
Có điều ông nên biết chắc chắn không đảng viên VN nào dám bàn luận đến hay dám chấp nhận tư tưởng đầy sáng tạo của ông!
 
Duy Hạnh
Bạn Thoa hiểu nhầm bài viết của tôi. Tôi khẳng định là Hồ chí Minh có vai trò tích cực với lịch sử VN cho đến tận năm 1954.
Sau 1954 bằng cách này hay cách khác, giải thể Đảng để dân tộc tránh đổ máu, xây dựng chiến lược với Mỹ mà không chống Mỹ thì dân tộc VN đã khác.
 
Thoa
Ông Duy Hạnh nói bừa thật. Ai la người nói những câu nói bất hủ: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới..."
 
PPT
Cần phân biệt nhân vật Hồ Chí Minh theo hai giai đoạn: Trong giai đoạn đầu, HCM là hiện thân của tinh thần yêu nước, thiên về đường hướng cộng hòa với sự hòa hợp của các thành phần chính kiến ngay trong Quốc Hội và Chính Phủ Lâm Thời.
Đặc trưng yêu nước và "bản chất" cộng hòa làm cho CPLT quy tụ sức đại đoàn kết, đó cũng là nguyên nhân chiến thắng thực dân, và đó cũng là lí do Chủ tịch HCM cho đến ngày nay được kính trọng như một lãnh tụ cách mạng.
Sang giai đoạn hai, tập đoàn cộng sản cực đoan đã xóa đi mọi dấu vết cộng hòa và bắt lãnh tụ HCM ngồi lên bàn thờ, biến thành vị thần thay vì được cho làm người, nhờ đó mà họ tự tung tự tác.
Và quá trình cộng sản hóa một định hướng cộng hòa đã diễn ra như vậy. Ngày nay trước những thử thách cơ hồ sụp đổ chế độ CS, các nhà lí luận quay qua phát triển "tư tưởng Hồ Chí Minh", thực chất là một hệ tư tưởng của tập đoàn cai trị mới dựa trên bóc lột bằng đặc quyền đặc lợi kinh tế bao gồm tham nhũng nên ngăn cản mọi chiều hướng cộng hòa cũng như phương châm "Tự do, Bình đẳng, Bác ái".
 
Cali
Không có Hồ Chí Minh thì không có chiến tranh Việt nam! Nhân dân miền Nam đang sống trong thanh bình kinh tế phát triển, lúa gạo phì nhiêu thì Hồ Chí Minh cho khai trương cái "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam" nên mới gây ra chiến tranh sau đó!
 
Mạc
Ông Duy Hạnh này nói bừa. Đến ngay cả người Mỹ cũng thừa nhận lẽ ra nên hợp tác với Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa cộng sản đã không một thời bành trướng như vậy.
Hồ Chí Minh là người chủ hòa chứ không phải chủ chiến. Lẽ ra Việt Nam đã có thể khác hơn rất nhiều nếu không chỉ có người Mỹ, người Pháp chịu hợp tác với chính phủ của Hồ Chí Minh và ngay bản thân những tầng lớp lãnh đạo cách mạng sau đó hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
Duy Hạnh
Chuyện ông Hồ lãnh đạo thành công công cuộc giải phóng dân tộc VN rõ ràng là một điều đáng ghi nhận tuy nhiên tôi cho rằng dân tộc VN không có ông sẽ tốt đẹp hơn.
Thứ nhất ông là cha đẻ của thể chế CS của VN, thứ 2 đường lối đấu tranh của ông quá cứng rắn theo phương thức bạo lực cách mạng y chang những người CS khác cho nên chiến tranh VN chết quá nhiều người.
Hơn nữa bản thân ông đã chọn lầm đối tác chiến lược nên chủ quyền cha ông bị mất, dân tộc chỉ toàn đói và nghèo.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081209_hochiminh_rethinking.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-18 22:21:37Như Ý P>
 



  





Lê Quỳnh, Biên tập viên, BBCVietnamese.com

Hội thảo Việt Nam học lần thứ Ba với chủ đề “Việt Nam - Hội nhập và Phát triển”, đã kết thúc tại Hà Nội, nhưng nhiều ý tưởng đem ra tranh luận sẽ tiếp tục còn được bàn đến, không chỉ trong giới khoa bảng.

Được đánh giá là sự kiện khoa học lớn nhất trong nước năm nay, hội thảo đã giới thiệu hàng trăm tham luận - chỉ riêng tập tóm tắt nội dung các bài đã lên đến gần 600 trang.

Những ngày trước và trong hội thảo, trang web và radio BBC đã dành nhiều thời lượng cho việc tường thuật.

Và trang đặc biệt này được soạn ra để giới thiệu sự kiện một cách sâu sắc và tổng quát hơn.

Từ hàng ngàn trang viết, chúng tôi chọn lọc một số chủ đề tiêu biểu. Hy vọng trang chuyên đề thể hiện được nhiều mặt của sự phát triển ngành Việt Nam học trong và ngoài nước hôm nay.

Nhiều tham luận mang tính mổ sẻ các vấn đề cả trong quá khứ và hiện tại của Việt Nam, và chắc chắn sẽ nhận được phản hồi của độc giả BBC.

Liệu những tranh luận quanh bàn hội thảo có bước ra ngoài đời sống? Chúng có thúc đẩy chuyển biến tích cực về chính trị - xã hội? Đó là những câu hỏi có thể đặt ra từ hội thảo này.

Nhà báo Lê Hải của BBC Việt ngữ đã có mặt tại Hà Nội với tư cách khách mời chính thức, và quý vị có thể đọc các tường thuật thể hiện cái nhìn riêng của anh.

Cần nói thêm rằng từ mấy năm qua, BBC đã thiết lập mối quan hệ cộng tác ngày một rộng hơn với giới nghiên cứu trong ngoài nước.

Nhiều bài bình luận thời sự, giới thiệu công trình đã và sẽ còn xuất hiện trên BBCVietnamese.com.

Phần "Chuyên gia viết cho BBC", như một 'sản phẩm mẫu', chọn lại vài bài viết từng đăng trên BBC. Quý vị có thể vào thăm chuyên trang này để đọc thêm (hoặc xem bản cũ hơn).




^^ Quay lại đầu trang
Quay lại đề mục chính  


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/index.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-19 01:33:13Như Ý P>


Lời ngỏ
[/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align][/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-19 01:46:17Như Ý P>
Nhìn lại Hồ Chí Minh
 



Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ

[/align]
Post #: 14


[/align] 

[/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page2.shtml

[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Quan hệ quốc tế

 

Chuyến thăm Bắc Kinh 2008 của ông Nông Đức Mạnh nâng tầm mức quan hệ

 [/align]
 
Quan hệ Việt - Trung trong mắt các chuyên gia[/align]
 
 [/align]
 
Hội thảo Việt Nam học 2008 tại Hà Nội đã giới thiệu các tham luận, mang quan điểm khá khác nhau, về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay.

Một chuyên gia Trung Quốc, dự phóng đến 2020, cho rằng quan hệ song phương "đang phát triển ổn định và có hiệu quả thiết thực".

Một người khác từ Úc lại phân tích đối sách đương đầu của Việt Nam để thấy Việt Nam "không đứng về phía kẻ mạnh" mà kết hợp đối sách ngoại giao hữu hảo, đánh nhiều mặt và tranh thủ lối kéo để đối phương hội nhập.

Láng giềng hữu nghị

Tiến sĩ Cố Tiểu Tùng, chuyên gia nổi tiếng về Việt Nam tại Quảng Tây, ghi nhận từ năm 1991 khi hai nước giao hảo trở lại, hầu như năm nào lãnh đạo cấp cao đều sang thăm lẫn nhau.

Lãnh đạo hai bên cho rằng " không nên vì có tranh chấp mà ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của mối quan hệ hai nước. Nếu xảy ra vấn đề gì, hai nước nên lấy đại cục làm chủ chốt, giải quyết vấn đề kịp thời với thái độ bình tĩnh, không để cho tình hình xấu đi".

Năm 1999 hai nước đã ký kết hiệp ước về biên giới đất liền trong khi năm 2000 đã giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, để "xây dựng biên giới chung thành một biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định".






Nếu xảy ra vấn đề gì, hai nước nên lấy đại cục làm chủ chốt [/align]Cố Tiểu Tùng[/align]


 [/align]
GS. Cố Tiểu Tùng cho biết Trung Quốc đã trở thành một trong những nước có người Việt Nam sang du học nhiều nhất, xếp hàng thứ tư, chỉ đứng sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ.

Ông dự báo quan hệ song phương sẽ phát triển "tốt lành".

Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới Bắc Kinh năm 2008 đã dẫn tới tuyên bố chung về quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.

Theo GS. Cố Tiểu Tùng, trong chuyến thăm, hai nước "lần đầu tiên nêu ra đề nghị phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam".

"Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc đặt mối quan hệ này với nước ngoài, qua điều đó có thể nhìn thấy rằng sự phát triển của mối quan hệ hai nước lại tiến tới một độ cao mới."

Chuyên gia từ Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây dự báo "láng giềng hữu nghị, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, hợp tác tích cực, và hai bên cùng thắng là điều lựa chọn tốt nhất trong sự phát triển mối quan hệ hai nước".

Đối sách đương đầu

Trong khi đó, chuyên gia lâu năm về Việt Nam người Úc, Carlyle Thayer, đem đến hội thảo bài nhận định quan hệ từ 1991 đến 2008.

Theo ông, các nước tại châu Á Thái Bình Dương có năm đối sách trước sự vươn dậy của Trung Quốc: đối kháng, đánh nhiều mặt, đứng về phía kẻ mạnh, ngoại giao hữu hảo, và cuối cùng là tranh thủ lối kéo để đối phương hội nhập.

GS. Thayer, Đại học New South Wales, giải thích đối kháng có hai hình thức ngoại và nội: hoặc liên minh với các nước để cùng đối phó kẻ thù, hoặc phát huy nội lực để tự vệ.

Đánh nhiều mặt là để ngỏ nhiều lựa chọn, vừa ngoại giao mềm dẻo vừa cứng rắn.

Đứng về phía kẻ mạnh là liên minh với đối phương để giảm áp lực, hoặc tăng cường quan hệ để mua lợi ích kinh tế.

Ngoại giao hữu hảo là mở rộng quan hệ nhiều mặt với nước láng giềng, với hy vọng tình trạng hiện nay sẽ giữ nguyên.

Sau cùng, chiến lược tranh thủ lôi kéo là nhằm ràng buộc đối phương vào luật lệ quốc tế.

GS. Thayer nói căng thẳng chính trong hai năm 2007-8 là vấn đề Biển Đông, khi mà Trung Quốc tiếp tục "gây áp lực ngoại giao và quân sự để Việt Nam phải ưng thuận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc".

Vậy Việt Nam đang theo đuổi đối sách gì? GS. Thayer cho rằng Việt Nam không dùng chiến lược đối kháng cũng như không đứng về phía kẻ mạnh.

Thay vào đó, Việt Nam dường như đang kết hợp ba chiến lược:

Thứ nhất là ngoại giao hữu hảo dựa trên cơ sở hợp tác từ năm 2000, và thông qua những thỏa thuận có được nhờ những chuyến thăm viếng lẫn nhau.

Việt Nam cũng theo đuổi chiến lược tranh thủ lôi kéo thông qua việc làm thành viên của Asean và Tiểu vùng Mekong Mở rộng (GMS).

Bài này đã lên mạng BBC hôm 11.12.[/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page5.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0

Khi Stalin qua đời năm 1953, Tố Hữu làm thơ có câu
'Thương mình thương một thương Ông thương mười'

 [/align]

Bài học từ quan hệ Việt - Xô[/align]

Lê Quỳnh, BBCVietnamese.com

Trong nhiều năm, kéo đến cả hôm nay, truyền thông chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nhắc đến tình cảm khăng khít trong quan hệ giữa Bắc Việt (và sau 1975, Việt Nam thống nhất) với Liên Xô.

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường được trích dẫn: "Đối với Lênin, đối với Cách mạng Tháng Mười, đối với Đảng Cộng sản, Chính phủ Liên Xô và nhân dân Xô Viết, chúng ta 'Uống nước phải nhớ nguồn'".

Người giữ chức Tổng Bí thư Đảng gần 30 năm, Lê Duẩn, cũng nói: "Nhân dân Việt Nam hiểu sâu sắc rằng mỗi bước đi lên, mỗi chặng đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với những sự kiện trọng đại diễn ra trên đất nước Liên Xô”.

Nhưng gần 20 năm sau khi Liên Xô sụp đổ, nay ít nhất trong giới nghiên cứu học thuật trong nước, mảng "xám" của mối quan hệ bắt đầu được nói ra.

Tại hội thảo Việt Nam học 2008 vừa kết thúc ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Hồng Dung, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, nói phần nào đó, từ 1950 đến giữa thập niên 1970, Liên Xô đã "hạn chế Việt Nam hòa nhập".

Đánh giá Hồ Chí Minh giai đoạn 1920 - 1945, tiến sĩ Vũ Quang Hiển, Đại học Quốc gia Hà Nội, lại nhận định Hồ Chí Minh lúc này có nhiều quan điểm khác Quốc tế Cộng sản, và vì thế đã "bị lên án bằng những lời lẽ rất nặng nề từ những chiến sĩ cận vệ của Quốc tế Cộng sản".

Bị Quốc tế Cộng sản 'bỏ rơi'

TS. Vũ Quang Hiển nói "tuy hoạt động tích cực trong Đảng cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, nhưng quan điểm của Hồ Chí Minh có nhiều điểm không trùng hợp với quan điểm của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, chẳng hạn như vấn đề dân tộc ở thuộc địa, quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa."






Quan điểm của Hồ Chí Minh có nhiều điểm không trùng hợp với quan điểm của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản [/align]TS. Vũ Quang Hiển[/align]


 [/align]
"Trong khi Quốc tế Cộng sản cho rằng chủ nghĩa dân tộc chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, 'chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước'".

Theo TS. Hiển, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề "xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông...vượt lên những quan niệm phổ biến trong Quốc tế Cộng sản, các Đảng Cộng sản ở các nước tư bản và nhiều nhà cách mạng thuộc địa lúc bấy giờ".

Các nhà nghiên cứu nước ngoài từ lâu đã cho biết Hồ Chí Minh (hay Nguyễn Ái Quốc, tên được dùng từ 1919), thời trước 1945, không được Liên Xô trọng dụng.

Giờ đây, TS. Hiển cũng thừa nhận lần đầu tiên khi tới Moscow, ông Hồ "không nhận được sự quan tâm chu đáo".

Ông Hồ viết trong một lá thư tháng Ba 1924: "Đã hơn một tháng nay, tôi xin đồng chí vui lòng tiếp để có thể thảo luận với đồng chí về tình cảnh thuộc địa của Pháp. Cho tới nay, tôi vẫn chưa được trả lời. Hôm nay, tôi xin mạn phép nhắc lại sự thỉnh cầu đó, và xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em."

Lý thuyết cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh bị chính những người cộng sản Việt Nam khi đó phê phán.

TS. Vũ Quang Hiển tiết lộ chính Hà Huy Tập, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1936 đến 1938, đã gọi Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1925) và Tân Việt cách mạng đảng "có những sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin", "mắc chủ nghĩa cơ hội trong lý luận và trong thực tiễn, tư tưởng biệt phái, đóng kín".

Cuốn Đường Kách mệnh được Hồ Chí Minh viết năm 1927, bị phê phán là "những điều ngu ngốc về lý luận".

Theo TS. Hiển, năm 1930 Hồ Chí Minh cho rằng phải thành lập đảng cộng sản riêng rẽ ở ba nước Đông Dương, nhưng Quốc tế Cộng sản chủ trương chỉ thành lập ở Đông Dương một đảng duy nhất.

Kết quả hội nghị ở Hong Kong tháng 10.1930, do Trần Phú chủ trì, quyết định bỏ tên Việt Nam cộng sản Đảng mà lấy tên Đông Dương cộng sản Đảng.

Ba năm sau, viết trên tạp chí lý luận của Đảng Cộng sản Pháp, Hà Huy Tập phê phán Nguyễn Ái Quốc "phạm một loạt sai lầm cơ hội chủ nghĩa" và rằng lúc mới thống nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam "chưa có đường lối chính trị đúng đắn".

Chiến lược đấu tranh dân tộc của Nguyễn Ái Quốc bị các đồng chí "Bônsêvich" Nga Xô như Trần Phú và Hà Huy Tập bác bỏ, thay bằng chiến lược đấu tranh giai cấp.

TS. Hiển thừa nhận quan điểm giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc đã không được đồng ý trong những năm 1930-1935.

Cũng trong thập niên 1930, một người nổi tiếng khác, Lê Hồng Phong, đã phê Nguyễn Ái Quốc là "tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung".

Mãi cho tới tháng Sáu 1938, sau tám năm "trong tình trạng không hoạt động", bị Quốc tế Cộng sản thờ ơ, Hồ Chí Minh mới rời Liên Xô sang Trung Quốc, rồi về nước năm 1941.

Lúc này, trong Đảng đặt ra câu hỏi tiếp tục đấu tranh giai cấp như luận cương chính trị năm 1930 hay ngả theo đấu tranh dân tộc?

Một hội nghị tháng Năm 1941, do Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định thay đổi chiến lược, ngả sang "cách mạng dân tộc giải phóng", tạm gác khẩu hiệu "cách mạng ruộng đất" và hứa để ba dân tộc Đông Dương có quyền tự quyết "tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý".

Như TS. Vũ Quang Hiển kết luận, từ năm 1920 đến 1945, cách mạng Việt Nam "chịu sự chi phối chặt chẽ của Quốc tế Cộng sản, nên phạm sai lầm giáo điều, tả khuynh".

Trong những năm 1923-1924, 1927-1928, 1934-1938, Hồ Chí Minh "không được Quốc tế Cộng sản đồng tình, nên bị kiềm chế, bị phê phán, thậm chí có lúc bị 'bỏ rơi'".

Trong vòng tay Liên Xô

Một tham luận khác của Nguyễn Hồng Dung, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, cũng có thể xem là đánh giá nối tiếp về mối quan hệ với Liên Xô sau khi Việt Nam độc lập.

Đặt vấn đề ở góc cạnh hòa nhập với thế giới bên ngoài, tác giả ca ngợi Nguyễn Ái Quốc, trước khi đến Moscow lần đầu, đã "nhận thức được sự cần thiết phải 'hòa nhập'", nhưng vì Quốc tế Cộng sản (QTCS) mà ông bị "hạn chế việc giao lưu".






Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chính phủ Việt Nam cũng khó có thể chính thức cho rằng Liên Xô cản trở Việt Nam hoà nhập [/align]Nguyễn Hồng Dung[/align]


 [/align]
"Năm 1925, khi Nguyễn Ái Quốc trở về châu Á, QTCS đã không cấp cho Nguyễn Ái Quốc giấy giới thiệu với ĐCS Trung Quốc, với Quốc dân Đảng của Tôn Dật Tiên, không cung cấp tài chính đi đường."

"Năm 1930, với 'Chính cương, điều lệ Đảng tóm tắt', dù đã tế nhị vừa làm vừa lòng QTCS, vừa giữ vững chủ kiến của mình cho cả một đường lối cách mạng của dân tộc, nhưng vẫn bị QTCS và Stalin nghi ngại."

Sau 1945 vẫn không có cuộc hội kiến chính thức nào với Liên Xô, cả sau khi Hồ Chí Minh có điện gửi Stalin (mãi đến 1950, sau khi Trung Quốc đã công nhận Việt Nam, Moscow khi đó mới thiết lập quan hệ).

Năm 1948, Nam Tư đề nghị đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "'giữ ý' với Liên Xô - thực chất cũng vẫn bị o ép, nên đã không mở được cửa sang phía Tây".

Cho đến năm 1954, Việt Nam dân chủ cộng hoà "cũng chưa làm gì được nhiều để hoà nhập".

Tác giả thừa nhận trong diễn ngôn chính thức, "không tìm thấy một văn bản, một dòng chữ, một câu nói về việc Liên Xô hạn chế Việt Nam 'hoà nhập'... Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chính phủ Việt Nam cũng khó có thể chính thức cho rằng Liên Xô cản trở Việt Nam hòa nhập".

Bài học lịch sử

Nhìn lại lịch sử Việt Nam hơn 60 năm qua, những sai lầm của Đảng Cộng sản xảy ra khi họ "sao chép những quan điểm chỉ đạo đường lối từ một 'nơi khác' về áp dụng trong thực tiễn Việt Nam một cách máy móc".

Đó là nhận định trong tham luận của Ngô Vương Anh, báo Nhân Dân.

Tác giả phân kỳ các sai lầm theo từng giai đoạn:

"Trong giai đọan đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự sao chép rập khuôn những chỉ thị của QTCS khi thực tiễn cách mạng ở những nước thuộc địa phương Đông (như Việt Nam) hoàn toàn khác so với tình hình cách mạng ở những nước tư bản công nghiệp châu Âu."

"Trong cải cách ruộng đất là sự sao chép công thức, cách làm từ các 'nước bạn' và áp dụng một cách cực đoan trên diện rộng."

"Sau tháng 4.1975 là công cuộc xây dựng mô hình CNXH dựa trên sự sao chép một mô hình có sẵn, duy ý chí để đạt mục đích."

Ngô Vương Anh kết luận: "Bài học thực tiễn trong lịch sử xây dựng và điều chỉnh để đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn hơn vẫn cần được xem xét."

Những tư liệu và lý giải lịch sử như thế có thể đã được nhiều người bên ngoài nói đến trước đây, nhưng đặt trong một hội thảo chính thống, chúng vẫn có giá trị khá mới.

Quý vị đọc ý kiến thảo luận về bài này ở đây.[/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page3.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Quý vị đọc ý kiến thảo luận về bài này ở đây.

 





Bài học từ quan hệ Việt - Xô [/align] [/align]





Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com
11 Tháng 12 2008 - Cập nhật 13h43 GMT
 
FM
Từ trước tới nay trên thế giới, trong lịch sử quan hệ giữa nước nhỏ và nước lớn, thì nước nhỏ bao giờ cũng chịu phần thiệt thòi, phải trả một giá nào đó trong quan hệ với nước lớn.
Chẳng nước lớn nào cho không cái gì cả, họ cho và muốn nhận lại cái theo ý của họ. Nếu cần, họ sẵn sàng bỏ rơi, hi sinh bạn. Vì bạn không cần thiết cho họ nữa.
Đó không chỉ là những nước được nêu ra trong bài này, mà ngay cả Mỹ, khi họ không thể thằng được cuộc chiến, họ cũng đã bỏ rơi những người Việt cộng hòa đã đi theo họ, để bây giờ bên kia đại dương xa xôi, họ nhìn về cố quốc.
 
Song Nghi
Từ khi thể chế Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, đảng Cộng sản Việt Nam đã tiên liệu sẽ đến ngày tàn của họ.
Vì thế, họ đã tiến hành một sách lược cởi áo Cộng sản nhưng vẫn giữ nguyên được quyền lực thống trị.
Trước tiên, họ nâng cao hình tượng Hồ Chí Minh, tạo thành hệ thống tư tưởng HCM dần thay cho hệ thống tư tưởng Cộng sản. Bằng nhiều phương thức, họ chuẩn bị dư luận khi cho những tay giả tạo phản chạy ra nước ngoài.
Những người này tuy chống đối đảng CS nhưng vẫn suy tôn và đánh bóng cho Hồ Chí Minh, đưa ra hình tượng cao cả của vị cha già dân tộc vì muốn dành độc lập dân tộc phải mượn phương tiện Cộng sản và sau đó bị bọn cực đoan khống chế quyền lực.
Tiếp đến, họ chuẩn bị nguồn thông tin chính thố! ng nhằm biện minh cho việc đảng của Hồ Chí Minh bị cản trở trong hệ thống CS quốc tế như thế nào, nhằm hướng dư luận vào tinh thần dân tộc.
Đến đây, họ đã sẳn sàng trút bỏ chiếc áo Cộng sản và cho mọi người thấy chiếc áo dân tộc với hình tượng Hồ Chí Minh đính kèm bấy lâu họ vẫn mặc bên trong vì cứu cánh độc lập dân tộc nên phải chịu nhẫn nại.
Hoàn chỉnh quá, nhưng những người lãnh đạo đảng có hiểu được: dân chúng chỉ cần một thực tế xã hội công bằng, không bị tước đoạt các quyền dân chủ, hơn là phải xưng tụng các hình tượng bấy lâu nay họ phải tung hô theo, dù trong lòng không muốn.
 
ZeroVN
Chúng ta không thể phủ nhận những công lao của họ đối với đất nước. Nhưng chúng ta không thể tha thứ cho những đường lối mà họ đưa ra để đấy đất nước và nhân dân vào "Máu và nước mắt".
Những người dân Việt Nam hôm nay đã khác xưa nhiều rồi. Họ không cần biết đến Đảng phái nào lảnh đạo họ, mà họ chỉ cần quan tâm đến tài sản của họ mà thôi.
Giả sử nếu có một đảng phải nào được thành lập mà có thể giải quyết được "Đầu ra cho người nông dân" thì chắc chắn rằng người nông dân sẽ theo đảng đó.
 
Revisionist
VN đã không đến mức lạc hậu nếu như không có các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ theo đường lối CS "diều hâu" của TQ.
Ông Hồ và ông Giáp theo đường lối xét lại của Liên Xô, đó là phát triển KT. TQ thì thích dùng vũ lực để đem lại một "mùa xuân vĩnh hằng" cho nhân loại, y hệt những gì chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác đề ra, đó là phải đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh giai cấp là một luận điểm hết sức sai lầm của chủ nghĩa Mác vì nó thủ tiêu động lực phấn đấu của con người. Nhà nước nên là một cơ quan điều tiết sự công bằng trong xã hội, chứ không phải là thay mặt một giai cấp này để "trấn lột" giai cấp khác.
Ông Hồ thực sự là một người yêu nước và thương dân, và theo tôi có con đường đi đúng đắn hơn cả, tiếc rằng đã bị một số cái đầu ngu dốt trong Đảng kìm hãm.
Và ngay cả trong những tác phẩm mà VN cho là "phản động" của ông Bùi Tín, thì ông Hồ vẫn là một người được đánh giá cao. Đối với cải cách ruộng đất, do VN phải dựa quá nhiều vào TQ nên đành phải nghe theo "quan thầy", chứ đó không phải những gì Hồ Chí Minh muốn.
Những gì ông Hồ làm là muốn đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, chứ không phải như phe diều hâu trong ĐCS chỉ muốn "đấu tranh giai cấp".
Cái từ "đấu tranh giai cấp" nghe sao mà hằn học quá. Cùng con người với nhau, tại sao họ lại cứ nghĩ ra hằn thù để đánh giết lẫn nhau làm gì nhỉ?
 
Rocket
Bạn Kindman nói như vậy cũng không phải. Chẳng nhẽ cứ đối thủ của HCM thì không tôn thờ họ sao? Phải nói chính xác là tất cả họ là những người trí thức tâm huyết với dân tộc, dù sao họ cũng hy sinh cả cuộc đời họ cho tổ quốc.
Ngay cả người ngoài Đảng như lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng được tôn vinh vì đóng góp của họ cơ mà.
Ở VN có nhiều thứ bị bóp méo và đến nay chúng ta bị hiểu sai khá nhiều thứ. Những đồng chí như Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai Trần PHú...không phải là học trò của HCM mà là đồng chí của HCM. Bạn không thấy họ còn chê cuốn sách của HCM là gì? Bản thân HCM cũng không được làm TBT đầu tiên. Tuy nhiên những đồng chí của HCM chết trước nên công trạng rồn của cho HCM và giờ chủ nghĩa CS bộc lộ nhiều điểm yếu họ mới nói ra điều này để vớt vát danh dự cho HCM mà thôi.
 
Song Nghi
Chiếc áo đã lỗi thời, những người mặc nó muốn đổi dạng nên lần mò gỡ từng đường chỉ, nếp gấp để mong có sự khác biệt.
Thế nhưng manh áo cũ chất liệu vải đã rệu bã, mờ phai màu sắc, liệu có thể tạo thành chiếc áo mới không? Chiếc áo có thể hình thành, nhưng đường chỉ, nếp gấp vẫn còn đấy trên nền chất liệu vải cũ chẳng tạo nên hình dạng mới được.
 
Kindman
TBT đảng CS Hà Huy Tập, Trần Phú, Lê Hồng Phong là những người chống đối quyết liệt tư tưởng Bác Hồ trong việc chọn lựa con đường giải phóng dân tộc. Phê phán Bác Hồ nặng nề nhất có lẽ là TBT Hà Huy Tập (tập "Đường Kách Mệnh" của Bác Hồ viết năm 1927 bị TBT Hà huy Tập chê là ngu ngốc về lý luận!).
Những tiết lộ này chắc chắn đã làm ngạc nhiên tất cả người dân VN trong và ngoài đảng. Không ngạc nhiên sao được khi mọi người cứ ngỡ rằng các TBT đó là "học trò giỏi" (hay ít ra là đồng chí khắng khít của Bác Hồ!), vậy mà không ngờ! Lịch sử về đảng CS VN đang được viết lại chăng?
Một câu hỏi đặt ra: nếu sự thật các TBT kể trên là những người "xem như địch thủ" của Bác Hồ trong đường lối giải phóng đất nước thì tại sao chúng ta lại tôn vinh "quá đáng" họ bằng các tên đường, trường học...như hiện nay?
 
Mai Nam
Ông tôi bảo những điều nói trong bài đều cũ rích. Nay được phép nói ra công khai là để tiếp tục duy trì thần tượng HCM mà thôi.
Cần chứng minh tư tưởng HCM là độc đáo, là "tư duy độc lập" phù hợp với hoàn cảnh VN mà thôi. Chủ nghĩa Mác-Lê sai lầm khiến Liên Xô và phe XHCN sụp đổ, quốc tế CS tan vỡ, hàng loạt ĐCS đổi tên và tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa.
Niềm tin vào nó cũng suy sụp trong dân. Do vậy cần đề cao tư tưởng HCM. Triệu chứng ĐCS muốn đổi tên.
 
PPT
Trong 7 tham luận đề cập đến HCM chỉ có bài của GS Tsuboi là căn cơ, những bài còn lại nặng tính sao chép đáp ứng thời sự "Xét lại HCM".
Vì vấn đề đã được giới sử học mổ xẻ nhiều rồi, nên những cố gắng tiếp cận con người HCM tỏ ra ngập ngừng.
Nếu nói về con người này, trước hết phải xét đến tính bất mãn thời cuộc, chấp nhận ra đi, nhờ vậy nung nấu lòng yêu nước.
Thứ hai, HCM là một người thông minh, có khả năng lèo lái, sẵn sàng mặc cả áo cà sa lẫn áo giấy để đạt được mục đính cuối cùng.
Và mục đích cuối cùng là quyền bính dù dưới thể chế nào cũng được. Chả thế mà năm 1947 HCM, dưới bút hiệu khác, đã tự phong mình là "cha già dân tộc" và gọi là "Người". Đây là một thủ thuật đúng hướng: Đặt ý đồ chính trị vào vỏ đạo đức.
Cuối cùng, cũng vì biết rõ đồng chí mình, Lê Duẩn chủ trương biến "Bác" thành thần để dân tôn sùng trong khi tước hết mọi quyền bính. Hai năm cuối đời cũng là hai năm ray rứt, thể hiện nơi câu chuyện "chiếc gậy Trường Sơn" mà người tinh ý mới biết HCM muốn tìm cách thoát khỏi giam lỏng, và câu chuyện lâm chung khi "Bác muốn nghe câu hò" Nghệ Tĩnh chứng tỏ HCM đã bị cách li đến ai oán. Điều này thì hội thảo không dám nói tới!.
 
Rocket
Vậy thực sự còn bao nhiêu sự thật bị CS giấu nhẹm đi nữa, còn bao nhiêu thứ bị hiểu sai ở VN mà CS đang nhồi sọ nhân dân?
Quyền được tiếp cận thông tin trong tuyên ngôn nhân quyền ở VN bị đàn áp đến cỡ nào? Tại sao CS lại cứ phải giấu, bóp méo thông tin như vậy. Tôi có đọc báo nước ngoài thấy nói ông Hồ có vợ người Tàu, ông không là danh nhân văn hóa thế giới, Nhật ký trong tù không của ông, vậy thực hư là sao đây?
 
Độc giả
CSVN lại đang tìm cách đánh bóng mình bắng cách sửa sai, nhìn nhận các sai lầm. Thực chất vẫn là phương thức cũ, không có gì mới.
 
Khanh
Thật hết biết! Đảng lại sửa lịch sử cho phù hợp với thời hội nhập hiện tại!
 
Quang Thiện
Lại giả mù sa mưa. Khi dư luận trong nước đang chống lại TQ và cảnh báo về hiểm họa ông láng giềng khổng lồ với tham vọng xâm lược ngàn đời, thì lại có ý kiến về ông Hồ với Liên Xô. Điều này mới với trong Đảng chứ các nghiên cứu bên ngòai đã nói tới từ lâu rồi.
 [/align] 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081211_viet_ussr_revaluation.shtml

.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0



Nghiên cứu nước ngoài về Hồ Chí Minh[/align]

PGS.TS Trịnh Đình Tùng & PGS.TS Nguyễn Đình Lễ, Đại học Sư phạm Hà Nội

Trong nghiên cứu lịch sử nói chung, lịch sử Đảng nói riêng các nhà khoa học Việt Nam công khai nói rõ tính đảng cộng sản của mình.

Cần khẳng định rằng, thể hiện tính đảng cộng sản, đứng vững trên các nguyên tắc phương pháp luận mácxít- lêninnít và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tiếp cận chân lí lịch sử khách quan; tuy trong công tác khoa học còn có những thiếu sót về tư liệu, phương pháp … Đó là những thiếu sót do chưa có sự thống nhất tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu.

Song không vì vậy mà quy kết một cách thiếu thiện chí rằng, những tài liệu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh của những nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam là tài liệu “bịa đặt”, “sai lạc”, “cục bộ”, “có dụng ý tuyên truyền, không chuyên nghiệp, ít trung thực và nhất là thiếu lương thiện, tri thức”.

Với nhận thức như vậy, chúng tôi điểm qua đôi nét về tinh hình nghiên cứu ở một số nước để từ đó rút ra những đóng góp của các nhà khoa học nước ngoài đối với việc tìm hiểu về Hồ Chí Minh.

Chúng tôi dùng “nghiên cứu ở nước ngoài” mà không dùng “các nhà nghiên cứu nước ngoài”; bởi vì trong số những người nghiên cứu Hồ Chí Minh ở nước ngoài có cả những nhà nghiên cứu các nước và không ít những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.

Nếu kể cả những ý kiến, câu nói hồi kí của các nhà chính trị và hoạt động xã hội trên thế giới, theo GS. Phan Ngọc Liên, có thể thấy rõ có các loại tác giả sau đây viết vê Hồ Chí Minh:

Thứ nhất- Những đồng chí, bạn bè của nhân dân Việt Nam và Hồ Chí Minh, đã có những đóng góp nhiều tài liệu quý báu, những nhận định đúng đắn về Hồ Chí Minh, ghi lại những mối quan hệ, trong hoạt động cách mạng, quen biết, gặp gỡ Hồ Chí Minh. Phần lớn các công trình này là những hồi ký, hồi ức. Loại tài liệu này thể hiện sự chân thực, tình cảm sâu đậm của bạn bè, đồng chí nên rất hấp dẫn, đáng tin cậy, không chỉ có giá trị khoa học (tuy có thể có sự nhầm lẫn, sai sót vì trí nhớ, vì thời gian quá lâu) mà có ý nghĩa tư tưởng, tình cảm cao đẹp.

Trong loại tài liệu này, chúng ta có thể kể tới những trang hồi ký đầy xúc động về Hồ Chí Minh của những người bạn quốc tế của Người, như Giắc Duyclô, Phrăngxoa Bi-u, Giannét Vecmêt Tôrê (Pháp), Tiêu Tam (Trung Quốc), Akimôva (Liên Xô)…

Thứ hai, những nhà nghiên cứu lịch sử, chính trị, văn hóa…khá đông, rất đa dạng và phức tạp về quan điểm, khi viết về Việt Nam và Hồ Chí Minh. Trước hết chúng ta phải kể đến “Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) về kỉ niệm 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vị anh hùng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn (1990)”. Đây là sự tôn vinh của thế giới đối với Hồ Chí Minh, hơn nữa đối với một người Cộng sản đầu tiên được tổ chức quốc tế này công nhận.

X. Aphônin và E. Côbêlép (Liên Xô) trong quyển “Đồng chí Hồ Chí Minh ”, một tiểu sử chính trị, đã xem Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng kiệt xuất “trước hết là người con của dân tộc mình, người anh hùng dân tộc của đất nước mình. Bởi vì ý nghĩa quốc tế của những con người như vậy trong bất cứ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội nào cũng là thành tựu vô giá đối với phong trào cách mạng thế giới. Trong một mức độ đầy đủ, điều này rất đúng với Hồ Chí Minh”

X. Aphônin và E. Côbêlép sau khi trình bày cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Aí Quốc-Hồ Chí Minh, đã rút ra một số kết luận khái quát mà chúng tôi xem là những gợi ý để tiếp tục đi sâu hơn trong việc nghiên cứu Hồ Chí Minh. Đó là:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh nhận thức về vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản trong đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, về việc vận dụng một cách sáng tạo chủ ngiã Mác- Lênin vào Việt Nam cũng như các nước khác cùng hoàn cảnh để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với đặc điểm mỗi nước. Luận điểm này vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay, nếu các nước được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc tiến tới xây dựng một xã hội giàu mạnh, văn minh và tiến bộ.

Thứ hai, trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế tạo nên sức mạnh chiến thắng. Hồ Chí Minh đã cống hiến cho dân tộc và nhân dân bị áp bức những kinh nghiệm quý về chiến lược đại đoàn kết, về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng thời kỳ lịch sử mà không chệnh mục tiêu chiến lược.

Thứ ba, Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh thần cách mạng triệt để, song lại là biểu tượng về chủ nghĩa nhân văn cách mạng – sự kết hợp giữa lòng thương người truyền thống của dân tộc với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa.

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã tiếp tục và phát huy mọi giá trị truyền thống của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại, mà lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ bản, đã góp phần xây dựng nền văn hóa mới, CON NGƯỜI chân chính, được viết bằng chữ in hoa.

Hoàng Tranh (Trung Quốc) trong Hồ Chí Minh với Trung Quốc thông qua tài liệu về mối quan hệ của Hồ Chí Minh với nhân dân và những nhà cách mạng Trung Quốc nói lên sự đóng góp của Người đối với việc xây dựng tình hữu nghị giữa hai dân tộc Trung Quốc, Việt Nam, đối với thắng lợi của cách mạng hai nước.

Giáo sư Nhật Bản Singô Sibata đã mạnh mẽ bác bỏ những quan điểm, luận điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là một nhà cách mạng thực tiễn, một người thực dụng lấy chủ nghĩa cộng sản làm phương tiện để “nắm quyền cai trị độc tài”. Ông chứng minh rằng, Hồ Chí Minh là nhà lý luận tài giỏi trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng … Lý luận của Người được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, song là sự phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại ngày nay. Ví như, Singô Sibata đã đánh giá cao Đảng và Hồ Chí Minh đã “khai phá”, tìm kiếm con đường đi đến chủ nghĩa xã hội đích thực: “Một trong những cống hiến quan trọng của cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, chứ không phải như lâu nay nhiều người vẫn quan niệm là phải xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi chiến tranh chấm dứt”.

Singô Sibata đã nêu một số luận điểm mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Đó là: “Trước hết chúng ta phải thấy rằng những cống hiến của Hồ Chí Minh đã góp phần đào sâu và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa”.

Tác giả Nhật Bản đã khẳng định “Những cống hiến của Hồ Chí Minh đã thực sự mở ra một giai đoạn mới trong những lý luận về dân tộc và thuộc địa”. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trong quá khứ, mà vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Bởi vì, sau khi thoát khỏi ách đô hộ của bọn thực dân, tư bản, đế quốc, trong xây dựng và phát triển đất nước các dân tộc phát triển luôn đứng trước nguy cơ chủ nghĩa thực dân mới tìm mọi cách, với nhiều hình thức khác nhau, như thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, mượn danh nghĩa những vấn đề về “nhân quyền” để xâm phạm chủ quyền dân tộc các nước, tăng cường sức ép về kinh tế, chính trị, quân sự, thậm chí khoác áo “chống khủng bố quốc tế” để tiến hành chiến tranh xâm lược.

Furuta Motoo (Nhật Bản) trong cuốn “Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới” do Nhà xuất bản I Wanami ấn hành tháng 2-1996, đã thông qua việc trình bày hoạt động của Hồ Chí Minh để làm nổi bật chân dung của Người trong đấu tranh giải phóng dân tộc và đặt cơ sở cho quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Furuta Motoo qua tác phẩm của mình đã nêu một vấn đề mà ngày nay là nhiệm vụ trọng tâm của nước ta. Đó là: đấu tranh giải phóng dân tộc để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ bằng công cuộc đổi mới đất nước. Tác giả Nhật Bản này gợi cho chúng ta một chủ đề đi sâu nghiên cứu là giải phóng dân tộc và đổi mới đất nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội đối với Hồ Chí Minh không phải là hai giai đoạn nối tiếp nhau, khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc mới tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội mà những nhiệm vụ và dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội phải đan xen nhau và ở mỗi giai đoạn mà có vị trí trọng tâm trong nhiệm vụ cách mạng. Đây là điều xuyên suốt trong hoạt động của Hồ Chí Minh, khi thống nhất về mục tiêu, phương hướng đấu tranh từ cách mạng giải phóng dân tộc lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn và kí luận này không chỉ có ý nghĩa với Việt Nam mà cả đối với các nước đang phát triển hiện nay.

Việc tìm hiểu về Hồ Chí Minh ở phương Tây đã có từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 nhằm tìm đáp số cho câu hỏi được đặt ra lúc bấy giờ “Hồ Chí Minh là ai?” đặc biệt từ năm 1970, sau khi Người qua đời việc nghiên cứu phát triển nhiều. Chúng ta đã làm quen với các tác giả và công trình về Hồ Chí Minh ở Pháp, Mỹ…; nổi bật là Jean Lacouture – Ho Chi Minh (Ed Seuil, Paris, 1967), C,P. Ragiơ - “Ho Chi Minh” (Ed. Presses universitaires, Paris, 1970), David Hamberstam – Ho (Randoom House, New York, 1971), Daniel Hémery – Ho Chi Minh de l’ Indochine au Vietnam (Decouvertes Gallimard, Histoire, 1990), Hypersion, New York, 2000; Sophie Quinn – Judge – Ho Chi Minh, The Missing Years (Horizon Books, Singapore, 2003)…

Nhìn chung, những nhà nghiên cứu này đều muốn tìm hiểu sự thật về cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh và theo họ, cố gắng tránh việc nhận thức lịch sử bị khúc xạ thông qua một lăng kính chính trị làm mất tính khách quan khoa học.

[/align]




Một vài tài liệu được các nhà nghiên cứu nước ngoài phát hiện có giá trị khoa học chúng ta đã tiếp nhận, song cũng có những tài liệu “giả, rởm” luận điểm sai trái, cần bác bỏ những cách lí giải không đúng, thậm chí cố tình xuyên tạc [/align]Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Đình Lễ[/align]


 [/align][/align]
Chúng ta hoan ngênh ý kiến này và sẽ hợp tác để nghiên cứu, nhất là việc trao đổi tài liệu. Một vài tài liệu được các nhà nghiên cứu nước ngoài phát hiện có giá trị khoa học chúng ta đã tiếp nhận, song cũng có những tài liệu “giả, rởm” luận điểm sai trái, cần bác bỏ những cách lí giải không đúng, thậm chí cố tình xuyên tạc. Xin dẫn một vài dẫn chứng: J. Duiker, nhà nghiên cứu Mỹ, đã thực hiện chủ đích của mình trong việc “thể hiện đặc điểm đầy kịch tính về cuộc đời Hồ Chí Minh và tầm quan trọng của những kịch tính đó trong việc hình thành lịch sử Việt Nam và của thế kỉ XX”. [/align] [/align]Sophie Quinn Judge đã bỏ nhiều công sức trong việc sưu tập tài liệu, đặc biệt ở kho Lưu trữ của Quốc tế Cộng sản. Công trình của bà tập trung vào những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) “từ 1919, khi anh lần đầu nổi lên ở Paris với bí danh Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn – người yêu nước) cho đến năm 1941 và chiến tranh thế giới thứ hai, khi mối quan hệ với Quốc tế Cộng sản thực tế đã chấm dứt”. Những tài liệu mà Sophie Quinn Judge sưu tầm được nó rất quý với chúng ta và cần trân trọng là vì “mục đích của việc nghiên cứu này không phải là phá hỏng uy tín của Hồ mà xác định càng thực tế càng tốt những gì anh đã làm trong những năm ở Quốc tế Cộng sản. Đây là những năm phải ngụy trang và bí mật; vì vậy cũng dễ hiểu khi họ tăng thêm phần huyền thoại về Hồ như kiểu Fhăng- tô- mát”.

Song không phải tài liệu nào cũng phản ánh đúng sự kiện, bởi vì giữa hiện thực khách quan với tài liệu bao giờ cũng có con người phản ánh hiện thực thông qua chủ quan của mình. Một số sự kiện được nêu có vẻ khách quan, nhưng khi giải thích, khái quát, kết luận lại bộc lộ tính chủ quan, phiến diện không phản ánh đúng sự thật.

Ví như, W. J. Duiker căn cứ vào một số tài liệu không xác thực, thậm chí bị xuyên tac để đưa ra những kết luận, nhận định không đúng về “quyền lực và uy tín ngày càng giảm sút của Hồ Chí Minh”, về “việc chia rẽ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam …”, về thái độ “quả lắc” của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam giữa hai thế lực mâu thuẫn, xung đột nhau Liên Xô- Trung Quốc”… Từ những nhận định sai lệch, ông đã dự báo rằng: “Rất khó duy trì sự sùng bái ông Hồ trong tương lai. Có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy, dù hầu hết thanh nien Việt Nam tôn trọng Hồ Chí Minh vì những đóng góp của ông cho sự nghiệp giành độc lập và thống nhất đất nước, nhiều người không còn coi ông là nhân vật trong tâm hồn đời sống của họ”. Những lý giải như vậy đã đi ngược lại sự thực buộc chúng ta phải làm sáng tỏ bằng những tài liệu- sự kiện chân thực.

Có nhiều vấn đề cần thảo luận, trao đổi để nhận thức đúng về Hồ Chí Minh mà các tác giả phương Tây đã đề cập đến, ở đây chúng ta chỉ dẫn ra một số chủ đề lớn sau đây, cần tiếp tục nghiên cứu đúng đắn.

Một là, động cơ Hồ Chí Minh sang phương Tây; Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa hay người cộng sản. Không ít tác giả phương Tây không phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà yêu nước lớn, chiến đấu cho độc lập dân tộc, song lại cho rằng, Hồ Chí Minh sang phương Tây làm cách mạng vì “bất mãn” với việc Pháp cách chức cụ Nguyễn Sinh Sắc, vì “muốn làm quan”… Daniel Hémery khẳng định rằng: “Việc người cha bị cách chức, bị loại khỏi xã hội, chịu nhục nhã, phải tự nguyện lưu lạc vào Nam Kỳ đã thúc đẩy Nguyễn Tất Thành rời bỏ Tổ quốc ra đi năm 1911”(18). Về vấn đề này một số nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã trình bày và phân tích những nhận định không chính xác này.

Một số tác giả khẳng định Hồ Chí Minh dùng chủ nghĩa cộng sản làm phương tiện để nắm quyền lực, “tranh giành ảnh hưởng, thế lực với những nhà dân tộc chủ nghĩa”. Về vấn đề này nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã vạch rõ nhận định sai lầm này, có ý tưởng không tốt, song cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để bác bỏ các luận điệu phi khoa học này.

Cũng có người tiếc rằng Hồ Chí Minh đã chọn chủ nghiã cộng sản để làm phương tiện hành động.., nếu không “ông vẫn tập hợp được đông đảo nhân dân chống Pháp”.

Hai là, quan hệ của Nguyễn Ái Quốc đối với Quốc tế Cộng sản. Vấn đề này được nhiều tác giả phương Tây đề cập, tập trung nhất trong quyển “Hô Chi Minh – The Mising years” (Hồ Chí Minh – Những năm tháng lưu lạc) của Sophie Quinn Judge đặc biệt ở chương 2 “Sự tuyển dụng của Quốc tế Cộng sản (1923-1924)” và chương 3 “Chết ở Hồng Kông, chôn ở Mátxcơva? (1931-1938)”. Tác giả nêu trên đã diễn tả quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Quốc tế Cộng sản rất căng thẳng, đặc biệt những năm 1934-1938, “khó có thể tưởng tượng được việc người cộng sản lâu năm, như Hồ Chí Minh, có thể giữ được hoạt động của mình thế nào trong suốt thời kỳ điên loạn đó”. Như đã nói, chúng ta sử dụng có chọn lọc những tài liệu mà Sophie Quinn Judge sưu tầm và cung cấp để nghiên cứu, phải phân tích kỹ đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác nhau để tránh sự suy diễn chủ quan, nên ngộ nhận sai sự thật. Thời kỳ Hồ Chí Minh ở Liên Xô (1934-1938) vẫn còn là vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ để nhận thức đúng quan điểm…, vững chắc, ý thức kỷ luật, tinh thần tổ chức cao.

Ba là, quan hệ giữa Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Vấn đề này, các tác giả phương Tây thường đi tìm tài liệu để suy đoán về “quyền lực và uy tín ngày càng giảm sút của Hồ Chí Minh”, về “cuộc xung đột giữa những người muốn giải phóng ngay miền Nam và những người chủ trương tập trung xây dựng mièn Bắc”… Đối với nhân dân Việt Nam thì điều này đã quá rõ ràng: Hồ Chí Minh là người thầy, người đồng chí thân yêu của tất cả các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Bốn là, Hồ Chí Minh là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc. Nhiều người thừa nhận Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, có công to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, song lại “lên án” Hồ Chí Minh là “tay sai” của Quốc tế Cộng sản, của Mátxcơva, đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, làm “lệnh hướng phát triển của lịch sử Việt Nam”.

Tiêu biểu cho luận điệu này là ý kiến của Trương Vĩnh Kính trong quyển “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc” (Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả), nguyên tác tiếng Trung Quốc (Đài Bắc, Truyện kí văn học xuất bản, 1972), bản dịch tiếng Việt của Thượng Huyền (Văn nghệ xuất bản, California- USA, 1999). Trương Vĩnh Kính không thể phủ nhận công lao của Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến đánh thắng thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975) song lại kết luận rằng: “Hồ Chí Minh đã dùng số nhân dân và vật lực có hạn của ông để trước sau tiến hành cuộc chiến tranh trường kỳ với hai quốc gia đại công nghiệp, coi thường tính mạng của nhân dân. Đó là ông đã chiến đấu cho nền độc lập chân chính của Việt Nam ư? Hay là ông đã chiến đấu cho bản thân chính quyền cộng sản ?. Câu hỏi này tự nó đã bộc lộ suy nghĩ sai lệch của Trương Vĩnh Kính mà nhiều tác giả chống cộng đã nêu lên từ lâu: “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dùng chủ nghĩa cộng sản làm phương tiện nắm giữ chính quyền”.

W. J. Duiker cũng lúng túng trong việc giải thích mối quan hệ về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản trong con người Hồ Chí Minh, dù phải khẳng định rằng: “người ta không thể phủ nhận điều này, sự nghiệp mà ông Hồ thúc đẩy và lãnh đạo đã tạo nên những thời điểm chưa hề có trong thế kỷ XX, thể hiện đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba và lần đầu tiên Mỹ phải công nhận sự hạn chế trong chính sách ngăn chặn cộng sản của mình. Sau Việt Nam, thế giới không bao giờ như cũ nữa”.

Về mối quan hệ chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản ở Hồ Chí Minh, về vấn đề Hồ Chí Minh vừa là anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, vừa là chiến sĩ lỗi lạc quốc tế đã được nhiều nhà cách mạng, nhà khoa học, hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nước Việt Nam đã chứng minh rõ. Song dù sao đây là vấn đề quan trọng, phức tạp trong tình hình hiện nay, khi chủ nghĩa tư bản dường như “thắng thế”, chủ nghĩa xã hội đang “khủng hoảng”, “suy yếu”. Chỉ nghiên cứu sâu sắc, đúng đắn về Hồ Chí Minh mới có thể lý giải xu thế “khuynh tả” đang diễn ra sôi nổi ở khu vực Mỹ Latinh hiện nay, về một số nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản ở các nước nắm chính quyền…

Năm là, sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam với các nhà khoa học nước ngoài để sưu tầm tài liệu về Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh hoạt động ở nhiều nước trong điều kiện bí mật, bất hợp pháp, viết nhiều tài liệu bằng các thứ tiếng khác nhau, hiện đang thất lạc. Sự hợp tác của các nhà khoa học với tinh thần vô tư, chân thực, thiện chí mới có thể tiếp tục phát hiện nhiều tài liệu của Hồ Chí Minh chưa được biết đến. [/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page4.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0

Hai nước nói tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết hợp tác nhiều mặt


Việt - Mỹ vừa hợp tác vừa đấu tranh[/align]

Trong số các tham luận về quan hệ Việt - Mỹ tại hội thảo Việt Nam học 2008, bài của tiến sĩ Hà Mỹ Hương, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, được xem là thẳng thắn, phản ánh khá rõ suy nghĩ hiện nay của nhiều người trong chính giới Việt Nam.

Chuyến thăm Washington của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng tháng Sáu 2008 đã đưa "quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi".

Nhưng tác giả nói trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao vẫn "tiềm ẩn những nhân tố gây căng thẳng, chủ yếu do sự khác biệt chế độ chính trị và do phía Mỹ thường sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo làm nguyên cớ và phương tiện để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam nhằm 'chuyển hoá' Việt Nam".

Bà nhận xét: "Trong sâu xa mặt đấu tranh với Mỹ của Việt Nam trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao lớn hơn mặt hợp tác."

Không lạ khi kinh tế - thương mại là lĩnh vực mà hai nước thoải mái nhất. Từ hơn 10 năm nay (1997 - 2008), Việt Nam luôn xuất siêu sang Mỹ với kim ngạch ngày càng tăng, nhất là từ sau khi BTA có hiệu lực (10/12/2001).

Kể từ khi BTA được ký kết đến nay, quan hệ thương mại hai nước đã tăng 8 lần.

Tuy vậy, ngay cả trong kinh tế, quan hệ Việt - Mỹ cũng gặp "khó khăn, trở ngại chủ quan và khách quan nhất định".

Mỹ chỉ “đang xem xét tích cực”, chứ chưa công nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Mỹ có vốn tài trợ ODA lớn nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ nằm trong số 10 nhà tài trợ ODA lớn nhất ở Việt Nam.

Quan hệ đặc biệt

Trong mắt Việt Nam, mối giao hảo với Mỹ có "khá nhiều nét đặc thù so với các quan hệ song phương khác".

Cuộc chiến 30 năm trước dù đã lùi vào quá khứ, nhưng "hậu quả và những di chứng mà cuộc chiến tranh này để lại không thể không ít nhiều ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Mỹ".

Tác giả nhấn mạnh: "Tính chất vừa hợp tác, vừa đấu tranh (của Việt Nam) hay kiềm chế (của Mỹ) trong quan hệ Việt - Mỹ nổi rõ hơn so với các quan hệ song phương của Việt Nam với các nước lớn khác."

"Về chính trị - tư tưởng, đây là quan hệ giữa hai nhà nước dân tộc có mục tiêu chiến lược đối kháng nhau: Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, còn mục tiêu chiến lược của Mỹ là chuyển hoá các nước còn khác biệt về thể chế chính trị với Mỹ vào quỹ đạo của Mỹ, đi theo hệ giá trị của Mỹ nói riêng, hệ giá trị, hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa nói chung."






Về chính trị - tư tưởng, đây là quan hệ giữa hai nhà nước dân tộc có mục tiêu chiến lược đối kháng nhau [/align]TS. Hà Mỹ Hương[/align]


 [/align]
Trong danh sách và thứ bậc quan hệ của Việt Nam với các nước lớn, quan hệ với Mỹ là "mối quan tâm lớn nhất và quan trọng nhất xét theo cả hai mặt: thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ".

Dự báo triển vọng

Bà Hà Mỹ Hương dự đoán quan hệ hai nước sẽ vận động theo hướng là "đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi”.

Nhưng bà nói tính chất trên chỉ mới là "cam kết hay quyết tâm của lãnh đạo hai nước Việt - Mỹ hiện nay, chứ chưa phải là hiện thực".

"Đối với Việt Nam, Mỹ sẽ tiếp tục vừa là đối tượng mà Việt Nam phải đấu tranh, trước hết trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, vừa là đối tác hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trước hết là kinh tế - thương mại."

"Song có thể dự báo về tổng thể, xu hướng vận động của quan hệ Việt - Mỹ trong vài thập niên tới là hướng tới xây dựng một khung quan hệ ổn định dựa trên cơ sở những lợi ích song trùng, vì điều này đáp ứng mong muốn của cả hai bên, có lợi cho cả hai bên."

Tác giả khuyến nghị chính phủ "xem việc thúc đẩy tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi với Mỹ và các nước lớn khác là một trong những định hướng chiến lược đối ngoại hàng đầu của đất nước".

"Tuy nhiên, cũng cần hết sức tỉnh táo rằng quá đề cao những lợi ích mà Việt Nam có được từ quan hệ với Mỹ, ngay cả trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, là một sai lầm và ảo tưởng."

"Do vậy, Việt Nam vừa phải coi trọng việc thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện với Mỹ, vừa phải tăng cường hơn nữa ngoại giao đa phương, đồng thời cố gắng tìm mọi cách tạo lập, củng cố và nâng cao vai trò, vị thế của mình trong các quan hệ song phương khác, trong các tổ chức hợp tác, liên kết quốc tế lớn nhỏ, trước hết là trong ASEAN."

Tác giả kêu gọi giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ trong bối cảnh quan hệ giữa các nước lớn thường "không ổn định, thường diễn biến phức tạp, khó dự báo".

Quý vị có thể tham gia thảo luận ý kiến ở đây.[/align] [/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page6.shtml[/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Việt - Mỹ vừa hợp tác vừa đấu tranh
11 Tháng 12 2008 - Cập nhật 15h13 GMT
 
Trần Cường
Thật sự thì VN chưa bao giờ coi nước Mỹ là kẻ thù mà do chính phủ Mỹ không hiểu và ủng hộ VN thôi. Nhưng nhà ngoại giao Mỹ luôn gắn liền quyền lợi của nước mình cùng với việc giúp đỡ sự phát triển của VN để ép VN phải chấp nhận những giá trị của Mỹ. Hãy chân thành đi. Người VN chúng tôi là nhưng người biết điều mà.
Thăng
Hiện nay, nhà cầm quyền Vn đang đứng giữa ngã ba đường. Nếu bắt tay với phương Tây với các giá trị về tự do và nhân quyền là một sức ép lớn có nguy cơ mất chính quyền cái này ĐCS không muốn do bất đồng về chính trị.
Còn bắt tay với phương bắc ĐCS sẽ mất lòng dân do sức ép của quần chúng trước những gì thời gian qua giặc phương bắc đã đang và sẽ làm với VN dẫn tới mất đất mất đảo, mất chủ quyền.
Mong rằng nhà cầm quyền lựa chọn con đường đi vì dân tộc vì đất nước và vì muôn đời con cháu sau này đừng vì chút quyền lợi của một số kẻ nhân danh đồng chí.
Bông Hồng
Bài viết này nói đúng tim đen của lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, người Mỹ dẫn đầu về giải thưởng Nobel mà. Họ thông minh hơn những gì chúng ta biết.
Vì vậy, kiểu quan hệ này chỉ áp dụng được với người thấp kém hơn mình mà thôi. Theo tôi không nên dùng biện pháp "gió thổi hướng nào, rào hướng đó" mà là: cái nào cần trống thì cho trống, cái nào cần rào thì cứ rào.
PPT
Tôi chưa đọc xong tham luận của TS Mỹ Hương, nhưng tôi e rằng ở đó có mấy chỗ sai: Trước hết, việc hợp tác với Mỹ là quyền lợi của VN, do ta chủ xướng, và những tiêu chí đấu tranh cũng là do ta đặt ra.
Người Mỹ rất thực tế đến độ họ không đặt thành vấn đề thể chế chính trị chúng ta là gì, nhưng họ đòi hỏi ở đó phải có nhân quyền, có dân chủ, người dân không bị đàn áp. Nghĩa là họ quan tâm đến những quyền căn bản để mọi công dân có thể làm người.
Hơn nữa hai nước cũng quá "xa nhau" để nói đến dấu tranh chính trị. Về quyền lợi của người Mỹ, của nước Mỹ, họ luôn lựa chọn giữa ta và các đối tác khác.
Vì vậy chính sách ngoại giao của ta là "khôn sống mống chết" không đơn thuần theo lời khuyên chung chung của các học giả được.
Theo tôi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang đi đúng hướng, hảy ủng hộ ông, và đừng đặt thêm rào cản cho ông nữa.
Độc giả
Theo tôi, quan điểm của TS. Hương là hoàn toàn đúng. Nó không những đúng cho Việt Nam mà cả những nước lớn nhỏ khác (những nước mong muốn giữ vững tính dân tộc, độc lập trong mọi vấn đề liên quan tới bản thân).
Chiến tranh tuy đã lùi xa nhưng những tàn dư của nó đã và sẽ vẫn tồn tại trong mỗi nước (VN và Mỹ). Chính vì vậy, "tàn dư" đó đã và sẽ vẫn là một trong các "lý do" đặt ra trước mọi quyết định liên quan tới quan hệ của hai nước trên cả chính trị và kinh tế.
Tuy nhiên, trong tương lai gần khi mà nhận thức "lý trí" về tầm quan trọng của hợp tác sẽ thắng mọi trở ngại do các mâu thuẫn nảy sinh trên con đường phát triển.
HT
Mục tiêu của nước Mỹ là do nhân dân Mỹ chọn. Còn theo bà Hương thì "Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội" do ĐCS chọn. Xin hỏi bà Hương CNXH là như thế nào vậy? XH XHCN nó ra làm sao?
Mục tiêu này chắc không phải là do nhân dân VN chọn. Người dân bây giờ nghe nói tới bốn chữ XHCN là nhớ tới thời bao cấp & lạnh cả xương sống rồi.
ĐCS VN hãy để nhân dân VN chọn con đường đi cho đất nước VN. Đừng dùng "quyền lực trên nòng súng" để ép buộc nhân dân nữa. XD chế độ XHCN hơn 60 năm ở MB & hơn 30 năm ở MN để XH VN hôm nay nghèo nàn lạc hậu như thế này là quá đủ rồi.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081211_viet_usa_relations.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0