📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Đọc Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh

9 trả lời, 538 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 22:38:59zhang>
Đề từ cho chủ đề: Vừa rồi trong thư quán của chúng ta đã có tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh và rất nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Hai nhà văn này, người viết tiểu thuyết, người viết truyện ngắn nhưng đều đạt đến đỉnh cao văn chương Việt Nam cuối TK 20, sau một thời gian dài nền văn học này "ngủ yên".

Xin mọi người, nếu chưa đọc thì tìm trong kho sách đọc, nếu đã đọc thì hãy cùng nhau thử khám phá cái hay cái đẹp và cả những điều còn dang dở của Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh.
Đăng nhập để trả lời
0
Tìm hiểu Nguyễn Huy Thiệp từ 'Phẩm tiết'
Trần Nhật Lý

Tôi xin được trích vài ý kiến có tính chất tổng kết trong sách "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" (NXB Văn hóa–Thông tin, 2001. Những đoạn trích dẫn xin được đánh số trang). "Tác phẩm của anh Thiệp gây nên sự đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược về mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật, về tâm và tài, cách đọc và cách hiểu... Các ý kiến không thống nhất, giới phê bình lúng túng, quay ra tranh luận và báng bổ nhau, ai cũng cho là mình đúng hơn cả" (456). "Người ta tranh cãi về một hiện tượng văn học rồi lại quay ra chế giễu nhau. Có người đòi bỏ tù Nguyễn Huy Thiệp; người lại bảo anh đáng nhận giải Nobel" (525). Con đường đi tìm Nguyễn Huy Thiệp xem ra còn lắm thác ghềnh. Xung đột nổ ra quyết liệt với chùm truyện liên quan đến lịch sử, đặc biệt là "Phẩm tiết". Tôi muốn tìm kiếm "con chiên lạc" bắt đầu từ cái "mắt bão" ấy.

Phe phê phán lên án Nguyễn Huy Thiệp xuyên tạc lịch sử, phe bênh vực đáp lại: Nguyễn Huy Thiệp chỉ viết truyện lịch sử giả. Vậy là cả hai phe đều cùng có một "thừa số chung" là lịch sử, phần trong ngoặc chỉ còn xuyên tạc - truyện giả. Thì ra, cả người chê lẫn người khen đều xuất phát từ một điểm, quay lưng lại với nhau, vừa đi cãi cọ, nhưng vì nhìn Nguyễn Huy Thiệp từ cùng một hệ quy chiếu lịch sử, các vị cứ đi trên một đường tròn khép kín, tần suất gặp nhau phụ thuộc vào sự nóng giận của mỗi bên, nhưng không bao giờ đến được điểm đỏ của cái đường xoắn trôn ốc mơ ước vẽ ở ngoài bìa.

Tôi xin vào cuộc với lời phát biểu của Nguyễn Huy Thiệp trong cuộc Hội thảo khoa học tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I: "Không ai đi đánh nhau với các xác chết. Người ta chỉ khai thác các xác chết sao cho có lợi mà thôi". (543). Khai thác xác chết, nghe rờn rợn, đau xót nữa, phải không? Nhưng đó là điều Nguyễn Huy Thiệp muốn làm và nếu người nào thích, hãy cùng anh gỡ mối. Mở đầu truyện "Phẩm tiết" là một xác chết, ngờ rằng xác của bà Ngô Thị Vinh Hoa sống cách đây gần hai trăm năm. Lúc mới bật nắp quan tài, xác ướp rất đẹp. Thoắt cái, một làn sương mờ trên quan tài ùn lên phủ kín xung quanh. Mười phút sau, làn sương tan hết, trong quan tài chỉ còn một bộ xương đen như mun. Dưới ba tấc đất hai trăm năm, cái xác ướp đẹp là thế, vậy mà chỉ có mười phút, những người khai quật đã làm nó hỏng rồi. Được con gái ông Quách Ngọc Minh là Quách Thị Trình hỏi có biết gì về người phụ nữ nằm trong ngôi mộ hay không? Người kể chuyện không trả lời mà độc thoại: "Tôi băn khoăn quá, phải là người mơ mộng và nghiêm khắc mới hiểu rằng biết hoặc không biết, đều chỉ là những ước lệ mơ hồ, có tính lịch sử và hạn chế". Nhà Thiền học D.T. Suzuki đã có kiến giải rất hay về cặp phạm trù đối lập biết-không biết: "Trong Vô minh, cái biết tách rời sự biết; và người biết tách rời cái được biết; trong Vô minh, ngoại giới biệt lập với nội tâm, nghĩa là luôn luôn có những cặp mâu thuẫn đối lập nhau. Đó là cốt cách tự nhiên của tri thức vậy, nên hễ có biết là có Vô minh gắn liền theo hành vi biết. Khi ta tưởng biết một việc gì thì vẫn có một việc gì khác mà ta không biết. Cái không biết luôn luôn nằm sau cái biết, và không bao giờ ta nắm được người "chủ" vô danh của cái biết, mặc dầu ông ta luôn luôn là người bạn đồng hành, không tránh đâu được, có mặt trong mỗi hành vi biết" (Thiền luận - Quyển thượng - trang 148. NXB ****). Khi cái biết khả biến, sự biết vô thường thì nhận thức ắt phải sai lạc bởi những ước lệ mơ hồ, có tính lịch sử và hạn chế. Người mơ mộng và nghiêm khắc sẽ biết khắc phục thế kẹt nhị biên biết - không biết mà nhìn về quá khứ hai trăm năm, ở đó, những kẻ "vang bóng một thời" đã trở thành người thiên cổ, trở thành xác chết. Hiểu họ đúng chẳng làm cho họ vinh quang hơn hay ô nhục hơn mà chỉ có lợi cho cuộc sống hiện tại của chúng ta. Khác đi, ta sẽ như ông Quách Ngọc Minh, rất tôn kính, rất thành tâm, nhưng lại làm hỏng di hài của tổ mẫu. Đó là cách Nguyễn Huy Thiệp "khai thác các xác chết sao cho có lợi mà thôi". Rõ ràng, xác chết ở đây là một ước lệ nghệ thuật.
Người kể chuyện "băn khoăn quá", một mình anh ta không thể trả lời được câu hỏi của cô Quách Thị Trình: biết hay không biết? Đó cũng là câu hỏi lớn đặt ra cho những ai có tâm huyết với lịch sử dân tộc. Vậy là tính đa thanh của truyện cũng đã được thông báo. Phần văn bản còn lại là sự hình tượng hoá lời độc thoại của người kể chuyện. "Phẩm tiết" là một truyện luận đề.

Nhiều người khen Vinh Hoa đẹp. Cô đẹp đến mức Nguyễn Huy Thiệp cũng phải sững sờ: "Lúc bình thường câu văn vốn tỉnh táo, sắc gọn nhưng đụng đến Vinh Hoa là trở nên hoa mỹ, rỡ ràng khác thường. (365) "Vinh Hoa là hiện thân lý tưởng nhân văn của tác giả. Vinh Hoa là hiện thân của thiên tính nữ". (363) Vậy, người khen - và cả người chê, đều xem Vinh Hoa là nhân vật tính cách? Không đúng rồi: Vinh Hoa là nhân vật chức năng. Là truyện luận đề, Nguyễn Huy Thiệp muốn hướng người đọc tư duy lôgíc hơn là tư duy hình tượng, do đó, thay vì tích hợp cả hai một cách hài hoà, hữu cơ, anh hậu khái quát, bạc cá biệt trong phương pháp điển hình hoá. Vinh Hoa không có cá tính. Cô sinh ra khác người, nói năng khác người, đọc sấm ngôn rất linh nghiệm lại càng khác người. Cô hay quên nữa. Khi cha gặp hoạ lớn, cô biết quỳ trước bộ tướng của Nguyễn Huệ là Đặng Tiến Đông để xin tha tội chết, nhưng khi vào cung gặp đích thân Nguyễn Hụê, cô lại quên không quỳ, còn quên luôn mục đích của chuyến đi mà "nói năng rành rẽ, đâu vào đấy... nhà vua hỏi gì, nàng đều trả lời điều ấy, nói thông cả buổi, kim cổ đông tây đủ cả". Ở nhà, cha cô đã thắt cổ chết tự bao giờ! Tính "quên", hành động không nhất quán của nhân vật thuộc thi pháp truyện cổ dân gian, chỉ có điều tác giả truyện cổ dân gian quên hồn nhiên, còn Nguyễn Huy Thiệp, quên thủ đoạn. Cô chẳng ghét ai, cũng chẳng yêu ai. Được tin cha chết, cô không hề thương cảm: "Bệ hạ khỏi bận lòng. Phận nào phận ấy. Trời chỉ nhờ cửa sinh, có ai giữ được bố mẹ sống một nghìn năm". Cô ra tay với kẻ nào đụng đến hầu bao của cô. Dân Kẻ Chợ sợ cô:

Biết điều thì tránh Vinh Hoa
Quịt năm cắc bạc mất nhà như chơi

Cho dù Vinh Hoa có đẹp thế nào, nếu không biết yêu thì Vinh Hoa cũng chỉ là cái hình nhân trong quầy hàng may mặc. Nguyễn Huy Thiệp lại mượn màu son phấn để "đánh lừa" chúng ta. Người con gái đẹp được tuyển vào cung để làm gì nếu không phải là để hầu hạ chăn gối nhà vua. Được vua yêu dấu nuông chiều là một ân sủng lớn. Vậy mà cả hai ông vua đều say mê cô, nhưng cô lại không chịu thành thân với ai. Chẳng có gì lạ: Vinh Hoa là nhân vật chức năng. Cái mặt nạ của Vinh Hoa là cô hàng tấm Kẻ Chợ sành sỏi. Hai ông vua không hiểu hoặc không dám hiểu điều đó, nên một ông "trọng tinh thần bỉ thể xác", lồng kính Vinh Hoa, một ông ngược lại, chắc là "bỉ tinh thần trọng thể xác", muốn sở hữu Vinh Hoa như "con gà con vịt trong nhà". Vì thế, hai ông đều thất bại.

Bữa tiệc Nguyễn Huệ mời các nhà danh gia thế phiệt không thành, mặc dầu ông đã có lời phủ dụ: "Xin các ông vì ta mà mở mang công nghệ, bán buôn, làm cho nước giàu dân mạnh". Nguyễn Huệ nói "các ông hãy vì ta" nhưng Ngô Khải không nghĩ thế. Khải là kẻ cơ hội, "vừa ăn lộc nhà Lê vừa không bỏ lộc nhà Trịnh". Khải "không sợ trời, tính ích kỷ, giàu có mà đóng cửa ăn một mình, không biết giúp ai, không biết làm điều phúc, điều thiện, không biết chia lộc cho thiên hạ, trông thấy người hiền ngoảnh mặt đi". Vậy, Ngô Khải là chân dung tầng lớp phú thương thời tích luỹ tư bản sơ khai. Ta đã biết loại chân dung này qua nhân vật Grandet của Balzac. Lời phủ dụ của Nguyễn Huệ thực chất cũng chỉ là cách nói, cách nghĩ thường tình mà các triều đại trước đã nghĩ, đã làm, và còn làm tốt nữa kia, nhưng vẫn không tránh khỏi sụp đổ. Trước Nguyễn Hụê, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đã cho thương nhân nước ngoài mở cửa hàng bán len dạ, đồ pha lê, mua tơ tằm, trầm hương, ngà voi... Ở thế kỷ XVII, XVIII nước ta xuất hiện nhiều làng thủ công (dệt, gốm, rèn sắt, đúc đồng, làm chiếu, khắc bản in...) cả Đằng Ngoài lẫn Đằng Trong. Về thương nghiệp, hầu hết các huyện vùng đồng bằng và ven biển đều có thị tứ, chợ phiên, buôn bán khá sầm uất. Một số thành thị xuất hiện thêm. Đằng Ngoài, ngoài Thăng Long có Phố Hiến; Đằng Trong có Thanh Hà, Hội An. Điểm nổi bật của nhiều thành thị thời bấy giờ là ngoại thương phát triển mạnh. Thương nhân châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ) châu Âu (Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp) đến Phố Hiến, Hội An buôn bán tấp nập.
"Phương thức sản xuất phương Đông" mà nền tảng là kinh tế tiểu nông lạc hậu thực sự đã lỗi thời. Một phương thức sản xuất mới, dù còn rất mờ nhạt, yếu ớt, đã bắt đầu manh nha. Lịch sử đang đứng ở ngã ba đường. Nguyễn Huệ đã đánh bại quân Xiêm ở Đằng Trong, đánh bại quân Thanh ở đằng Ngoài, lật đổ ba tập đoàn quân chủ thống trị nước ta nhiều thế kỷ. Mười tám năm ông tung hoành trên yên ngựa thớt voi, mỗi cuộc hành quân là một bản khải ca hùng tráng. Thời đó qua rồi. Bây giờ ông đang đứng ở cái ngã ba buộc ông phải lựa chọn. Ông nổi dóa trong bữa tiệc. Ông bức tử Ngô Khải. Ông thích Vinh Hoa ở cái phần đàn bà của cô chứ không phải ở cái tài bán buôn của cô hàng tấm. Vậy là ông đã chọn con đường, ở đó in vết xe đổ của các triều đại trước. Vì thế, Vinh Hoa biết vận Tây Sơn tính được từng ngày. Nguyễn Huệ bị ám ảnh khôn nguôi bởi tiếng đàn có khí lạnh và lời tiên tri của Vinh Hoa. Ông không hiểu được tại sao triều đại ông lại ngắn ngủi thế. Nghi án lịch sử đó cần được đánh dấu lưu giữ cho hậu thế. Nguyễn Huệ giao trách nhiệm này cho Vinh Hoa. Hiểu đúng vì sao tiếng đàn có khí lạnh, vì sao vận Tây Sơn tính được từng ngày, chúng ta sẽ hóa giải được vết chàm trên ngón tay Vinh Hoa. Nguyễn Huy Thiệp vẫn giữ thói "khôn nhà dại chợ". Nếu cái vết trên ngón tay Vinh Hoa có màu vàng, xanh, đỏ, tía thì cơ sự đâu ra nông nỗi. Đằng này lại vết chàm đen. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp thích màu tương phản mạnh. Lịch sử vốn công bằng trên giấy trắng mực đen.

Cơn giận của Nguyễn Huệ rất đáng chú ý. Với ông, tất cả mọi người đều là con dân. Ngô Khải được vua ban cho dự tiệc, đã không bái mạng Thiên Ân, lại còn chê "có vị lợm". Vậy là bất kính quân lệnh, phải trị. Ông chỉ biết bọn giàu có ở Bắc Hà là do "cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ" hoặc "có ít của chìm, tháng ba ngày tám mang ra gặm" như cánh thổ hào ở Đằng Trong mà hồi còn ở ấp Tây Sơn ông rất căm ghét. Tầng lớp thương nhân đâu phải cướp không hoặc có ít của chìm như ông nghĩ. Dinh Vua Lê nghèo khó, không nói làm gì. Nhưng "nhà Khải kho đụn không khác gì Phủ Chúa". Họ thực sự đã là một lực lượng kinh tế. Nhưng ông không thấy. Nguyễn Huệ mắng, không cho Khải nói, xử nặng đòn rồi lại hối hận, một động thái tiêu biểu của tinh thần gia trưởng. Qua cơn giận, Nguyễn Huệ đã tự bộc lộ mình là một ông vua Việt truyền thống.

Nguyễn Ánh thì lại khác. Ông không xem đế vương là mục đích tự thân, mà chỉ là trò chơi. Cuộc chạy đua chiếm đoạt vương quyền là một canh bạc lớn. Ai khôn ngoan, táo bạo, và may mắn nữa, sẽ thắng. Trong ông, tồn tại hai con người: một con người ngự trên ngai vàng quyền lực và một con người ít nhiều thị dân hóa. Ông nói với Trần Văn Thành: "Bậc đế vương giữ nước là ở tinh thần, còn giữ mình là ở thể xác". Ông thích con người thứ hai hơn, nhưng ông lại cần con người thứ nhất hơn. Ông nói với Vinh Hoa: "Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện". Ông biết triều đại của ông đã lỗi thời, nhưng lại không dám buông bỏ. Nguyễn Ánh thấy được cái mặt nạ của Vinh Hoa. Cô đẹp và quyến rũ. Nguyễn Ánh rất thích, nhưng lại không dám thực hiện cuộc phiêu lưu tình ái đầy hiểm nguy với cô hàng tấm. Đi theo cô là đi theo con đường thương mại hóa để cứu vãn nền kinh tế tiểu nông đang lâm vào ngõ cụt. Nhưng chẳng cần Bá-Đa-Lộc mách bảo về số phận của vợ chồng Louis XVI, ông cũng hiểu mở đường cho kinh tế tư bản phát triển đồng nghĩa với tự sát. Ông bị sốc: "Nhà vua thở dài, ngã quay ra đất, ngất lịm". Tỉnh trí lại, ông đã lựa chọn vương quyền. Nguyễn Ánh không vượt qua được chính mình để cứu đất nước thoát khỏi sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây như người Nhật Bản và người Thái Lan đã làm được.

Nguyễn Ánh xây xẩm mặt mày vì mùi hoa sữa của Vinh Hoa, cái mùi ước lệ của một hình tượng ước lệ. Chẳng có gì nghiêm trọng, phải không? Nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại "khôn nhà dại chợ" nữa. Giá như cái mùi hoa sữa thoát ra từ mái tóc hoặc hơi thở của cô thì anh bớt "tai tiếng" đi nhiều. Đằng này nó lại thoát ra từ chỗ kín của Vinh Hoa. Nguyễn Huy Thiệp đã làm nhọc lòng cả người chê lẫn người khen. Người chê phải vận dụng đến cả kiến thức Phân tâm học để chứng minh rằng "Vinh Hoa đang bị trói, nghĩa là lúc tâm thể của cô đang sợ hãi đến khủng khiếp" (242) thì cô không thể tiết niêm dịch tình dục được. Người khen lúng túng, tìm lối thoát cho mình hơn là "chạy tội" cho Nguyễn Huy Thiệp: "Chi tiết này là nỗ lực cuối cùng của Thiệp để lý tưởng hoá nhân vật Vinh Hoa, một nỗ lực nghệ sỹ vụng về, gần như rồ dại, và hết sức đáng thương" (365).
Nhưng Nguyễn Huy Thiệp không rồ dại nên cũng chẳng đáng thương. Anh đã lựa chọn và chấp nhận búa rìu dư luận. Cũng như Đặng Anh Đào, anh hiểu "lối viết đa thanh đụng phải lối đọc thánh thư" (541). Nhưng anh cần sự đụng độ đó. Thay vì khua chiêng gõ trống để lay động lối đọc thánh thư, anh đặt mùi hoa sữa vào chỗ kín của Vinh Hoa. Nguyễn Huy Thiệp tự trói, một mình chịu trận.

Khác với Nguyễn Huệ, cơn giận của Nguyễn Ánh có nhiều nét "mới". Ông xử Vũ Văn Toàn rất tàn bạo. Đối với ông đế vương là trò chơi. Đã là trò chơi thì phải diễn trò thật khéo. Trên sân khấu, mọi người phải thấy quân ra quân, thần ra thần. Vậy mà Toàn đã phạm luật chơi, dám "mượn danh" ông để "đi ăn cướp với chơi gái". Giá việc xấu đó xảy ra với một tên vô lại tầm thường, hẳn đã không phải xử nặng. Danh ông không bị thương tổn. Nhưng là bậc công khanh của Thiên Tử thì quyết không thể tha. Trong cơn giận, ông nói năng bỗ bã, dung tục kiểu ngôn ngữ thị dân. Nếu Nguyễn Huệ mắng vùi, không cho Khải trần tình, thì Nguyễn Ánh lại đối thoại bình đẳng với Toàn. Nguyễn Ánh là một người say mê quyền lực và để có nó, ông phải làm một ông vua bất đắc dĩ. Ông tỏ ra thực dụng, lạnh lùng, tàn nhẫn và tiềm ẩn đâu đó ý thức dân chủ tự phát. Tiếp xúc với phương Tây, Nguyễn Ánh có một nhân sinh quan khác với tất cả các ông vua trước.

Vinh Hoa hát hai bài cho hai ông vua nghe. Nhưng cả hai ông vua đều đã chết trong ngoài hai trăm năm. Vinh Hoa lại không phải là nhân vật lịch sử, cũng không phải là nhân vật tính cách được điển hình hóa giống như thật để ta có thể nhầm tưởng cô là người tình trong mộng của hai vị hoàng đế. Vinh Hoa là nhân vật chức năng do một người cùng thời với chúng ta bịa ra. Vậy, hai bài hát của Vinh Hoa không phải dành cho hai ông vua mà dành cho nhân vật đa thanh ngoài tác phẩm - dành cho chúng ta. Tôi xin "diễn nôm" hai bài hát đó.

Bài thứ nhất:
Tầng lớp thương nhân xuất hiện như một lực lượng sản xuất mới. Đó là mây ngũ sắc báo điềm lành. Nhưng nhà vua không thấy, chỉ tin vào Thiên mệnh (Con Tạo xoay vần), nên vận hội buột khỏi tầm tay (Ai biết gặp nhau ở đâu). Ông có tham vọng lớn. Ông muốn thu phục vùng Lưỡng Quảng của Trung Quốc và xem Nguyễn Ánh "chỉ thây ma, sẽ bị đánh tan dễ như bẻ cành khô, củi mục". Ông xuất thân áo vải. Từ nhỏ đã chơi những trò chơi dân dã: đuổi bắt đom đóm ở góc vườn. Ông dựng cờ khởi nghĩa vì tiếng kêu cứu của trăm họ lầm than. Nhưng khi thành đạt, ông lại ngồi trên ngai cao như các vua chúa trước đó. ông là ông vua đáng kính, biết lo việc nước. Nhưng những người khôn ngoan sẽ không biện bạch siêu hình (có quỷ thần hay không có quỷ thần) mà thấy tất yếu triều đại ông sẽ sụp đổ nhanh chóng (nhìn từng giọt đồng hồ rơi mà run sợ).

Bài thứ hai:
Nguyễn Ánh đã biết trước mối quốc họa: nước không mạnh, nước khó còn. Là một chính khách sáng suốt, ông thấy, ông thấy gió mây có biến hoá, thời thế đã đổi thay. Là môt vị vua, ông không muốn từ bỏ vương quyền. Để giữ vương quyền, ông phải vào vai một đấng Thiên Tử mẫu mực như là cái gốc lớn của thiên hạ, như là cây cao bóng cả trùm lên muôn dân. Muốn thế, ông phải giữ chữ "thường" của Chính đạo thuần vương, mặc dù trong sáu đức thường của Chính đạo thuần vương ông khinh bốn. "... Dùng người lấy chữ hiệp, chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì". (Kiếm sắc).

Đánh giá nội dung hai bài hát là công việc không của riêng ai, nhưng trước hết, và nhiều người mong đợi, là của các nhà nghiên cứu lịch sử có tài năng, có bản lĩnh và tâm huyết.

Câu đối cuối truyện nghe thật buồn cười: Một cô gái đẹp sự nhị quân mà vẫn vĩnh thủ trinh tâm! Nếu Vinh Hoa là nhân vật tính cách thì rất phi lý. Nhưng Vinh Hoa là nhân vật chức năng thì điều phi lý trở thành nghịch lý, buộc ta phải phản tỉnh để thẩm định lại sự hiểu biết của mình.

Nguyễn Huy Thiệp không viết truyện lịch sử giả, không viết truyện lịch sử thật. Anh chỉ nêu lên một nghi án lịch sử từ góc nhìn nghệ thuật. Tôi biết Nguyễn Huy Thiệp không tính toán được mất hơn thua. Nhưng sau bao điều tiếng thị phi, cuối cùng cũng đã có người thấy: "Sự thật, Gia Long... cần được đánh giá lại cho khoa học hơn. Khách quan hơn" (171). Chừng ấy, liệu có bõ bèn cho công sức của anh?
Đăng nhập để trả lời
0
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, lŕ tác phẩm đầu tięn nói một cách khác biệt về cuộc chiến tranh vừa qua ở Việt Nam. Tất cả các tác phẩm về chiến tranh trước đó đều đứng từ góc độ số phận của dân tộc, cộng đồng dân tộc, mŕ nhěn cuộc chiến tranh. Bảo Ninh là người đầu tięn trong văn học hiện đại ở Việt Nam nhìn chiến tranh từ số phận của một cá nhân con người. Vậy nên anh đă cho thấy một cuộc chiến tranh khác, không ngược nghĩa, không “phủ định”, không chống lại cuộc chiến tranh được mô tả trong các tác phẩm trước đó (như người đă nói khi công kích, lên án tác phẩm của Bảo Ninh), nhưng là một cuộc chiến tranh khác. Tức, ngay từ đầu, Bảo Ninh đă chuyển sang một tư duy nghệ thuật khác, tư duy nghệ thật tiểu thuyết, tư duy hiểu rằng có thể có nhiều cách nhìn khác nhau đối với một sự vật, không cái nhìn nào có quyền hơn cái nhìn nào, không cái nhìn nào là chân lý duy nhất, tuyệt đối. Một sự vật có thể vừa là thế này vừa là thế kia. Thế giới, tự trong bản chất của nó, là đa nghĩa.
Tính đa nghĩa của thế giới, của chiến tranh, của ngay cuộc chiến tranh vừa qua vốn vẫn được coi là vô cùng thiêng liêng, thấm đẫm trong tiểu thuyết của Bảo Ninh. Đọc kỹ từng câu trong tác phẩm này mà xem: hầu như câu nào, thậm chí từ nào cũng mang ít nhất hai nghĩa khác nhau, đối chọi với nhau, tranh cãi nhau. Về cuộc chiến, anh viết: “Cuộc chiến tranh vừa được ghi nhớ vĩnh hằng vừa bị quên lăng từng ngày”; về nỗi buồn, anh bảo đó là “nỗi buồn được sống sót”; về tương lai của những người vừa đi ra khỏi chiến tranh, của chính anh, anh xác định: “Tương lai của tôi đă nằm lại ở phía sau xa kia rồi trong những cánh rừng nguyên thủy của chiến tranh”... Bảo Ninh là người đầu tiên vượt qua được một cách rő rệt hơn cả ngôn ngữ độc thoại của sử thi, đạt đến ngôn ngữ đối thoại của tiểu thuyết.

Trích "Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lô-gích quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng" - Nguyên Ngọc.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Zhang và mọi người.
Quả thật là khi đọc bài viết của Zhang, SPA không thể không cảm thấy shock thực sự. Mặc dù Zhang có trích dẫn những ý kiễn của giới phân tích, nhưng chứng tỏ Zhang có 1 vốn hiểu biết rộng kinh khủng và 1 niềm trăn trở với những gì mà Nguyễn Huy Thiệp đã gợi ra.
SPA chưa thể có được 1 cái nhìn tổng quát như bạn, nhưng đọc NHT từ khi thời còn chưa biết gì (SPA nói vậy vì tin rằng, để hiểu được NHT, ngoài khả năng cảm thụ văn học độc lập, còn cần 1 vốn sống nhất định và không phải ai cũng có được). Ngày đó, với SPA, NHT là 1 cái gì đó rất kì lạ, kì lạ mà lôi cuốn. Sức hấp dẫn của NHT là 1 sự mê hoặc mà ai đã vướng vào thì sẽ không thể thoát ra được. Sau này, khi lớn hơn 1 chút, SPA đọc lại và mỗi lần đọc lại thấy như lần đầu tiên với những cảm giác khác hẳn với lần trước.
Đầu tiên, SPA chỉ muốn nói đến cách NHT xây dựng câu chuyện. Nó rất khác với cách xây dựng chuyện thông thường trong văn học VN cũng như văn học cổ điển thế giới. Đọc những tác phẩm như "Nguyen Thi Lộ, "Không khóc ở California", "Sang song"…SPA nhận thấy rằng NHT không đi theo lối truyền thống là đặt nhân vật của mình (thường là 1 nhân vật chính) trong 1 bối cảnh xã hội bên ngoài và để từ đó làm nổi bật tính các nhân vâtj, cụ thể là để nhân vật trong 1 cộng đồng môi trường nhất định. Trong các truyện ngắn của mình, NHT để nhân vật với 1 cuộc sống nội tâm, nhưng cuộc sống nội tâm đó lại là 1 chiến trường khốc liệt mà nhân vật phải 1 mình đối chọi. Có lẽ nào, con người sẽ yếu đuối hơn đi nếu không bị kiểm soát bởi những giá trị truyền thống, và chính vì thế, cuộc đấu tranh này công bằng hơn?
SPA không có cơ hội nghiên cứu về văn học, nhưng qua những tác phẩm được coi là hiên đại của thế giới, hiểu được rằng cách xây dựng nhân vật trong cuộc đấu tranh riêng là phong cách phổ biến. Nhận định trên dựa trên nhưng tác phẩm gây xôn xao bây giờ như "Điên cuồng như Vệ Tuệ", "Balzac và cô bé thợ may" (có chính xác không nhỉ?) và nhất là "Cái trống thiếc" (xin lỗi vì không trích được tên tác giả).
Đó là những cảm nhận riêng của SPA về NHT. Thực sự là SPA không thể có được những khái niệm khái quát về các hiên tượng văn học được như Zhang, chỉ là luôn cứ phải tự đặt câu hỏi cho nhưng gì vẫn nghĩ về NHT, muốn chia sẻ cùng mọi người.
Thân mến và chúc những ngày đầu năm tốt lành
SPA

La vie est belle
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn SP mùa thu ơi, tất cả các dòng bình luận ở trên đều do tôi sao chép, đâu phải tôi viết đâu mà bạn khen tôi dữ dzậy?

Làm quản trị viên trong này cũng hơi buồn vì ít người "nói" quá. Nhưng nghĩ kỹ lại, ai đọc nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều mới ít nói. Có lẽ đó là điều khác nhau cơ bản nhất của diễn đàn vnthuquan với các diễn đàn Việt ngữ khác.

Chúc mọi người vui vẻ.
Đăng nhập để trả lời
0
Trích zhang
Làm quản trị viên trong này cũng hơi buồn vì ít người "nói" quá. Nhưng nghĩ kỹ lại, ai đọc nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều mới ít nói. Có lẽ đó là điều khác nhau cơ bản nhất của diễn đàn vnthuquan với các diễn đàn Việt ngữ khác.


Chào Zhang, SPautumn

Zhang nói rất đúng. Làm quản trị viên ở mục nầy hơi buồn... [:(] Có lẽ những đề mục được nêu ra... ít ai đọc qua.. cho nên không thể góp ý. Hoặc giả đọc nhiều nhưng chẳng hiểu chi (như NH chẳng hạn) thì làm sao dám góp ý ...[:(]

Vì vậy, đọc những bài phê bình của các bạn, hay của Zhang cũng là 1 điều đáng học hỏi mà. Cho nên, NH rất mong Zhang tiếp tục đăng lên những bài viết hay, có ý nghĩa... biết đâu sẽ có 1 tác phẩm nào đó mà bà con đã xem qua rồi, lúc ấy chúng ta tha hồ mà bàn luận... như chúng ta đã từng bàn luận về truyện tình của Mỵ Châu, Trọng Thủy.[;)]

Chúc SPautumn và Zhang vui vẻ, an lành.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
[;)] quả thật trong này hơi buồn nhỉ, chỉ có vài người độc thoại, không có kẻ tung người hứng, tranh luận với nhua sôi nổi !!!
Thế thì mic sẽ ráng lết vào đây phá phách tí ngen, tuy mic không đọc nhiều và càng không hiểu nhiều nhưng phá phách thì thừa tài, hihi [:D]
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Chào mọi người
Zhang thân mến, mặc dù biết là bạn không phải là tác giả của những phân tích trên, SPA vẫn có thể nhận định như thế về bạn chứ, vì Zhang đọc nhiều và biết nhiều, và khi post bài phân tích đó lên thư quán, chứng tỏ nó cũng chứa đựng những gì mà Zhang trăn trở, đúng không. Nếu mà Zhang có được bài phân tích đó thì thư quán nên là chỗ dành cho những nhà văn chứ không còn cho những kẻ dạo chơi thư quán như chúng ta, và SPA sẽ chỉ dám "tựa cột mà nghe" chứ đâu dám nói gì.
Mọi người ơi, lẽ nào đề mục này lại buồn đến vậy? SPA không nghĩ như thế, nó thực sự thú vị và mới mẻ mà. Nếu đến với những tác phẩm kinh điển mà giá trị của nó đã được công nhận rộng khắp thì chúng ta chỉ còn biết ngưỡng mộ thôi. Nhưng với những tác giả mà tác phẩm còn gây nhiều tranh cãi như NHT, mỗi chúng ta sẽ có 1 cách cảm nhận và cùng chia sẻ.
SPA bị hấp dẫn bởi những tác phẩm này bởi biết rằng mình không còn nhỏ để nghe theo những gì được dậy trong những giờ văn học nữa, nhưng cũng biết mình chưa đủ chín chắn để đủ hiểu hết cuộc đời hay văn học. Và mình tin là chúng ta đều giống nhau, chúng ta có thể cùng tìm đến những điều mới lạ mà văn học đã gợi ra.
Với SPA, nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, chỉ có giá trị "gợi", nó không phải là đồ ăn làm sẵn cho mọi người. Mỗi người sẽ tìm thấy chính mình trong đó. Và thực sự là SPA đã tìm thấy cái gì đó tự do hơn trong những tác phẩm của NHT. Dường như trong đó, nhân vật được sống là chính mình, sống như những gì mà mình nghĩ và muốn....liệu đó có phải là cái mà mỗi chúng ta thực sự mong muốn không. NHT tập trung vào những nhân vật đó, vì ông yêu thích hay vì ông biết được rằng, trong thời đại mới này, nơi con người yếu đuối nhất là khi đối diện với chính mình?
Có lẽ SPA đã hơi dài dòng trong những suy nghĩa của mình. Bởi tất cả những gì nhận được từ những tác phẩm đến bây giờ vẫn rất mơ hồ, nhưng SPA biết nó rất thật.
Vài lời gửi đến tất cả mọi người, theo như lời của Zhang thì đúng là SPA luyên thuyên nhất và chính tỏ là ít hiểu biết nhất. Nhưng dù sao, SPA vẫn muốn chia sẻ cùng mọi người.
Thân mến
SPA
La vie est belle
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-02-25 22:51:32mickey>
Đọc lại 'Sang sông' của Nguyễn Huy Thiệp





Tưởng sẽ có án mạng, nhưng mọi việc lại được giải quyết ổn thoả. Hậu quả sau cuộc xung đột chỉ là một cái bình sứ bị vỡ. Kết cục ấy chấp nhận được. Mọi người lên bờ an toàn, vui vẻ. Chỉ có hai tên buôn đồ cổ là bực bội: "Chúng làu bàu chửi rủa đến khi ngồi lên xe máy". Nhưng chẳng sao, "việc đã lỡ rồi, coi như vận xấu, đi buôn lỗ vốn". Rồi ra, chỉ còn lại những đối thoại rời rạc, nhạt nhẽo giữa những người khách vãng lai tình cờ gặp nhau trên một chuyến đò. Chuyện có vậy, cần gì phải huy động cả một dàn nhân vật gồm nhà sư, nhà giáo, nhà thơ, hai tên buôn đồ cổ, hai mẹ con, một cặp tình nhân, tên cướp và chị lái đò. Mười một con người, mười một gương mặt mờ nhạt. Theo tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực truyền thống, đó là những nhân vật không đạt yêu cầu cả khái quát hóa lẫn cá biệt hóa. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đâu có miêu tả nhân vật. Người trên đò là một tập hợp đủ các thành phần nam phụ lão ấu, quân tử tiểu nhân, thiện và ác... Rõ ràng chuyến đò là sự mã hóa chúng sinh hữu tình trôi lăn theo bánh xe sinh tử luân hồi. Có khác chăng so với chúng sinh trong kinh luận Phật giáo thì đó là chúng sinh có xe máy, có còng số 8, có lưỡi lê, có bọn buôn đồ cổ, có nhà thơ đại vọng ngữ, có nhà giáo nguyền rủa đạo lý... Nói tóm lại, đó là chúng sinh thời mở cửa, thời kinh tế thị trường.

Một mệnh đề phủ định

Những người trên đò khác nhau về danh phận, giới tính, tuổi tác, nhưng có một điểm chung: phủ nhận thực tại. Nhà sư mới bị nước sông bắn vào người đã vội cầu cứu Phật A-di-đà. Sự tích trao truyền tâm ấn đầy bi tráng có giáo hóa được ai không, chưa biết, nhưng ai cũng biết nhà sư đã xác định vị thế của mình: ta đứng ngoài vòng tục luỵ. Nhà giáo phủ nhận thực tại thật rõ ràng, triệt để. Ông nói: "Đâu đâu... cũng thấy toàn là súc vật. Mọi sự thảy súc vật hết. Cả sự chung tình cũng là súc vật. Ý thức hướng thiện cũng súc vật nốt". Ở một chỗ khác, ông khẳng định lại: "Đâu đâu cũng rặt những phường điêu trá". Việc ông nói dỗi đầy chua chát "Chữ à! văn tốt chữ tươi thì nghĩa lý gì?" và ngâm ngợi đoạn thơ thở than về thân phù thế trong Cung oán ngâm khúc cho thấy ông là người của chủ nghĩa yếm thế. Có thể ông còn là một nhà hiện sinh hạng tồi, vì bất lực trước một "thời đại mất Chúa", ông chỉ biết vơ đũa cả nắm để mạt sát, chửi rủa. Nhà thơ vui vẻ, cởi mở. Nhưng đó chỉ là cách thù tiếp xã giao của kẻ ý thức mình khác thiên hạ. Anh phủ nhận thực tại bằng một phán đoán toàn xưng xanh rờn: "Tiếc thật... tay nào hay thì đều toi cả... văn chương chết đoản hết". Tạo hóa sinh ra anh là để anh mơ mộng. Cá dưới sông anh ngỡ là cá thần tiên. Anh đỏng đảnh cả với mạng sống của mọi người: "Nhà thơ ngồi chênh vênh ở mạn đò. Anh khoả tay xuống nước làm đò chao nghiêng". Anh tự tách mình ra khỏi cộng đồng và xem đó như là nỗi bất hạnh ngọt ngào: "Chỉ có ta, cô đơn giữa bầy...". Thiếu phụ khác người trước hết bởi nàng xinh đẹp, đài các, sau nữa bởi nàng tỏ thái độ bực bội, khinh khi với những kẻ đồng hành. Đáp lại hành vi xin lỗi của tên buôn đồ cổ, "thiếu phụ hất tay hắn, quay mặt đi". Nàng xét nét theo dõi đôi trai gái và buông một lời rủa nặng nề: "Đồ đĩ!". Bọn buôn đồ cổ ấn dao vào cổ chú bé mà không cần đếm xỉa đến người trên đò, xem họ có cũng như không. Đôi tình nhân phủ nhận thực tại theo một cách khác. Họ ứng xử tình dục giữa ban ngày, bất chấp sự có mặt của những người xung quanh. Ngay cả chú bé 9 tuổi cũng không chịu thừa nhận con cá thực tại: "Cá thần tiên đấy".

Còn lại hai người. Chị lái đò bằng lòng với cuộc sống lao động bình dị, ngày ngày đưa khách sang sông. Tên cướp phải đối mặt với rủi ro, với sự khinh miệt, với sự truy đuổi, bắt bớ, tù tội và án tử hình. Cả hai con người của thực tại đều bị những người trên đò vô hiệu hoá.

Không chấp nhận thực tại, nhưng thực tại vẫn ở đó, lỳ lợm thách thức các bậc đạo cao đức cả. Quay lưng với thực tại, họ đã chối bỏ trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng, mà đó lại là điểm châu tuần về quan niệm đạo đức của tôn giáo. Rõ ràng họ là tập hợp những kẻ vô đạo, hèn nhát, ích kỷ. Ta mới hiểu tại sao Đấng Cứu thế phải ngã lòng đến vậy vì bầy chiên lạc, tại sao Đức Phật gọi họ là chúng sinh thời mạt pháp. Họ khuất phục trước sự ác là lý đương nhiên. Khi chú bé gặp nạn, nhà sư, nhà giáo, nhà thơ im lặng! Thiếu phụ khóc lóc rên rỉ. Hành động nghĩa cử cao nhất dừng lại ở chiếc nhẫn của chàng trai, và cũng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ lay động tâm hồn cô gái: "Cô biết, cô sẽ yêu anh mãi mãi".

Sau khi đập vỡ chiếc bình để cứu chú bé, tên cướp nhảy lên bờ, xoay chiếc côn nhị khúc trên tay và nói: "Vô ích!". Đó là lời thách thức hai tên buôn đồ cổ? Có thể lắm. Nhưng lời kể trực tiếp kế ngay liền: "Mà vô ích thật. Rõ ràng là thế.", thì sự thể lại khác. "Vô ích" không còn là lời thoại nữa. Nó thực sự trở thành vị ngữ của mệnh đề phủ định mà chủ ngữ là những gì hiện diện trên đò, kể cả chiếc bình gốm. Cái chứng tích lịch sử ấy cho dù có đẹp, có cổ kính đến mấy, cho dù người ta đắp trát lên nó rất nhiều giai thoại mượt mà, nhưng nó chỉ là đối tượng cho những bậc mũ cao áo dài huyền đàm diệu luận, khi đối mặt với cái ác, nó vô dụng, thậm chí còn đồng loã, thì nó cũng đáng bị đập vỡ để giải phóng con người.

Một bến bờ thế tục

Đến bờ bên kia, mọi người đi tiếp, trừ nhà sư. Tại sao thế nhỉ, điều gì đã cản trở nhà sư vân du?

Nhà sư, với khát vọng Bồ tát, muốn cứu độ chúng sinh từ bến đục sông mê qua bờ giác. Đó là bổn nguyện thật đáng trân trọng. Để thực hiện ý tưởng đó, vị Bồ tát của chúng ta sử dụng phương tiện thiện xảo. Ông kể về sự tích Nhị tổ Thiền tông Huệ Khả tự chặt tay mình để xin pháp ấn của Sơ tổ Bồ đề Đạt Ma. Nhưng ông đã thất bại. Những người trên đò không cần biết "tâm ấn Phật" đã được trao truyền như thế nào giữa sư và đệ, cho dù câu chuyện có lâm li đến mấy. Họ bận rộn với đời sống hiện tiền lấm bết bụi hồng, không hơi đâu mà bi luỵ với cái sự tích chặt tay, chặt chân từ muôn năm cũ. Nhà sư đã phạm sai lầm, vì ông quên chân lý cứu cánh không phải là cảnh giới của ngôn ngữ, ngôn thuyết không với tới được, không thể ghi dấu, không phải là đối tượng của lý luận và tư biện. Cũng như những bậc "thiện trí thức" đương đại, có thể ông thuộc nhiều kinh luận, nhưng lại không nắm được yếu chỉ thiền tông. Ông nói: "Khi ngài ngồi diện bích ở Tung Sơn, Huệ Khả đến...". Sao, đức Bồ đề Đạt Ma từ Tây sang khai sáng ngành Thiền Đông độ, suốt 9 năm chỉ ngồi ngó vách (diện bích) vô vị như thế ở chùa Thiếu Lâm? Bài "Luận về phép an tâm" được coi là của Bồ Đề Đạt Ma có câu:

"An tâm đó, đó là Bích quán"

và ý nghĩa thâm hậu của phép an tâm, đã đưa Bồ đề Đạt Ma lên địa vị Tổ sư của Đại thừa Bích quán nằm cả trong bài pháp sau đây:

Ngoại tức chư duyên
Nội tâm vô suyễn
Tâm như tường bích
Khả dĩ nhập đạo

(Ngoài bặt hết duyên
Trong không vọng động
Tâm như tường vách
Có thể nhập đạo)

Vậy, "ngó vách" chỉ là cách nói hình tượng rất phổ biến trong Thiền thư kiểu Cây bách trước sân, Ba cân gai, Nấu bánh...

Thế mới biết nhà sư của chúng ta tiếp thụ giáo nghĩa quá ư máy móc. Cũng phải, vì đó là nhà sư thời kinh tế thị trường. Chẳng thế mà khi nhìn thấy chiếc bình cổ giá một "cây" vàng, "Nhà sư ngước lên, trong ánh mắt loé một tia sáng thậm chí giống hệt dục vọng". Sự vô minh do cách hiểu biết kinh viện đã làm cho ông chưa có được Đạo nhãn. Chiếc đò không phải là chiếc bè pháp, bờ bên kia không phả là bờ giác. Nó vẫn đơn thuần là chiếc đò và bến bờ thế tục. Việc nhà sư quay trở lại cho thấy lý tưởng Bồ tát nơi ông sụp đổ. Có điều, ông vẫn chứa chan hy vọng, sẽ có lúc với phép thuật vô biên, ông sang sông trên một cọng cỏ như đức Bồ đề Đạt Ma.

Ông niệm thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh:

"Gate gate! Para gate! Parasam gate!"
(Đi qua đi qua! Qua bờ bên kia! Qua đến bờ bên kia!)

Ông đã cắt bỏ phần cuối, vốn là lời chúc lành của chân ngôn: "Bôdhi Svaha!". Ông biết ông không xứng với lời chúc đó. Nhà sư đã không thực hiện được công hạnh phổ độ chúng sinh thoát khổ. Nhà sư đáng thương, hay đáng kính, hay cả hai? Điều này còn tuỳ thuộc độc giả tiếp nhận giáo lý đạo Phật từ giác độ nào.

Sự phá vỡ mô hình

Không ai ưa tên cướp. "Mọi người trên đò lặng ngắt". Trông tướng mạo hắn dữ dằn, bất lương, nhà giáo xếp loại ngay: hắn là tướng cướp. Đã là tướng cướp thì dứt khoát không được làm việc thiện. Vậy mà hắn đã làm. Hắn cứu chú bé. Người trong truyện không chấp nhận hắn đã đành, người ngoài truyện tỉnh táo hơn, sáng suốt hơn cũng không chịu nhượng bộ: "Truyện Sang sông... gặp phản ứng không nhỏ của dư luận: giữa lúc những tệ nạn xã hội như nạn trấn lột, nạn trộm cắp đang đe dọa an toàn xã hội mà Sang sông lại có những tên cướp lương thiện thì không khỏi trở thành trạng sư cho cái ác". (Trần Thị Mai Nhị, sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hoá Thông tin 2001, tr. 507). Nhưng chẳng sao, tất cả sẽ được điều chỉnh. Tên cướp không được quyền cứu chú bé. Người trên đò bất lực. Vậy, cứu chú bé chỉ có thể là: "Một anh hùng! Một nhà cách mạng! Một nhà cải cách!" (như cách phân loại lại của anh nhà giáo). Tính hài ở đây nhuốm màu bi kịch. Nó cho thấy cách nhìn nhận con người sơ lược, một chiều kiểu nhân vật loại hình một thời thống trị văn đàn đã trở thành vấn nạn. Chị lái đò ít chữ nghĩa, không bị dính mắc bởi những vọng kiến nhị biên, nhìn nhận thế giới như nó vốn có, nên chị đúng. Chị chế nhạo anh nhà giáo bằng cách "giấu nụ cười thầm. Chị biết, vô phúc cho ai một mình gặp hắn trong đêm". Hắn vẫn là tên cướp.

Đã có một chướng ngại lẩn quất đâu đó, không thể vượt qua để mọi người có thể chấp nhận hắn. Giả dụ thêm một đoạn ngoài cốt truyện, rằng hắn bị công an bắt, bị tòa án hai cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, rồi được hưởng lệnh đặc xá của Chủ tịch nước nhân dịp Quốc khánh. Hắn ra trại với một tấm chứng chỉ cải tạo tốt của Ban quản giáo. Tóm lại, hắn được các cơ quan có thẩm quyền cho phép hoàn lương. Lúc ấy hắn mới bước lên đò. Nếu vậy, Sang sông khỏi phải "gặp phản ứng không nhỏ của dư luận", bởi đoạn ngoài cốt truyện ấy là trật tự mô hình. Cái cộng đồng tạo ra sự phản ứng không nhỏ vốn đã quá quen thuộc với các loại mô hình đúc sẵn. Người viết chỉ cần thêm vào chút đỉnh màu mè, ví như hoặc nói lắp, hoặc cái nốt ruồi đâu đó, hoặc bắt chước Vũ Trọng Phụng "biết rồi, khổ lắm, nói mãi"... là đã có được nhân vật vừa cá biệt, vừa khái quát, đủ cho ra lò những tác phẩm xôm trò gồm ba tính chất dân tộc - khoa học - đại chúng. Ấy vậy mà Nguyễn Huy Thiệp lại dám phá vỡ mô hình, ném vào giữa thế gian một "tên cướp lương thiện" hoang dã, chưa qua một lò đúc sẵn nào.

Ta đã biết người trên đò là sự mã hoá chúng sinh thời hiện đại. Vậy, chừng nào ta còn phân tích nhân vật một cách kinh viện theo định nghĩa của Engels về chủ nghĩa hiện thực, thì chừng ấy ta còn chệch hướng. Nguyễn Huy Thiệp chỉ đưa ra những mảnh vụn về thế giới nhân sinh. Người đọc mặc tình sắp xếp, lựa chọn, suy ngẫm. Tên cướp là một mảnh vụn đó. Cho dù hắn là kẻ xấu, ta sẽ chẳng thể có căn cơ nào để đào thải hắn ra khỏi thế giới loài người, cái thế giới mà Nho giáo đã dứt khoát khẳng định Nhân chi sơ tính bản thiện. Cơ đốc giáo còn đi xa hơn về cội nguồn tâm linh, đặt giáo lý trên cơ bản đức tin và ý chí hướng thiện. Đây đó trong Tân ước vẫn rền vang những dụ ngôn xao xuyến lòng người về Người đi tìm con chiên lạc, về Người tìm đồng bạc bị đánh mất, về Người cha nhân hậu nhận lại đứa con sau bao năm lưu lạc... Minh triết trong Huệ nhãn, kinh luận Phật giáo luôn nhấn mạnh Bản lai diện mục tồn tại trong mọi chúng sinh. "Con chó Triệu Châu" là công án lừng danh trong văn học Thiền. Con chó còn có Phật tính, huống hồ con người, dù người đó là tướng cướp. Tâm lý học hiện đại quan niệm con người là một tổng thể bao gồm các đặc trưng của nhân tính và thú tính. Nó tiềm ẩn trong vô thức. Tuỳ thuộc cơ duyên mà nó tạo thành các xung năng tâm lý thiện hay ác. Vậy, thiết nghĩ mọi người cũng nên cho tên cướp cơ hội một lần bùng phát xung năng nhân tính để hắn cứu chú bé.

Sự lãnh đạm, thờ ơ của những người trên đò lại đẩy hắn vào con đường tội lỗi. Hãy đón nhận hắn như đón nhận người anh em, làm cho tâm sở thiện trong hắn và trong ta luôn luôn được thức gọi, chắc chắn cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn. Mà có gì đáng xấu hổ khi phải nhận hắn làm người anh em, bởi nếu ngoái đầu nhìn lại căn nhà cũ, nơi con người đã rời bỏ để dấn thân vào kiếp đi hoang trong cõi vô minh bất định, ta sẽ thấy ta và hắn cùng chung một uyên nguyên cội nguồn.

Sang sông là truyện ngắn dự thi nhưng không được giải.

Theo Evan, số ngày 24/01/05

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: zhang

Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, lŕ tác phẩm đầu tięn nói một cách khác biệt về cuộc chiến tranh vừa qua ở Việt Nam. Tất cả các tác phẩm về chiến tranh trước đó đều đứng từ góc độ số phận của dân tộc, cộng đồng dân tộc, mŕ nhěn cuộc chiến tranh. Bảo Ninh là người đầu tięn trong văn học hiện đại ở Việt Nam nhìn chiến tranh từ số phận của một cá nhân con người. Vậy nên anh đă cho thấy một cuộc chiến tranh khác, không ngược nghĩa, không “phủ định”, không chống lại cuộc chiến tranh được mô tả trong các tác phẩm trước đó (như người đă nói khi công kích, lên án tác phẩm của Bảo Ninh), nhưng là một cuộc chiến tranh khác. Tức, ngay từ đầu, Bảo Ninh đă chuyển sang một tư duy nghệ thuật khác, tư duy nghệ thật tiểu thuyết, tư duy hiểu rằng có thể có nhiều cách nhìn khác nhau đối với một sự vật, không cái nhìn nào có quyền hơn cái nhìn nào, không cái nhìn nào là chân lý duy nhất, tuyệt đối. Một sự vật có thể vừa là thế này vừa là thế kia. Thế giới, tự trong bản chất của nó, là đa nghĩa.
Tính đa nghĩa của thế giới, của chiến tranh, của ngay cuộc chiến tranh vừa qua vốn vẫn được coi là vô cùng thiêng liêng, thấm đẫm trong tiểu thuyết của Bảo Ninh. Đọc kỹ từng câu trong tác phẩm này mà xem: hầu như câu nào, thậm chí từ nào cũng mang ít nhất hai nghĩa khác nhau, đối chọi với nhau, tranh cãi nhau. Về cuộc chiến, anh viết: “Cuộc chiến tranh vừa được ghi nhớ vĩnh hằng vừa bị quên lăng từng ngày”; về nỗi buồn, anh bảo đó là “nỗi buồn được sống sót”; về tương lai của những người vừa đi ra khỏi chiến tranh, của chính anh, anh xác định: “Tương lai của tôi đă nằm lại ở phía sau xa kia rồi trong những cánh rừng nguyên thủy của chiến tranh”... Bảo Ninh là người đầu tiên vượt qua được một cách rő rệt hơn cả ngôn ngữ độc thoại của sử thi, đạt đến ngôn ngữ đối thoại của tiểu thuyết.

Trích "Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lô-gích quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng" - Nguyên Ngọc.



Nỗi Buồn Chiến Tranh
thuykhue.free.fr


Nỗi Buồn Chiến Tranh hay Thân Phận Tình Yêu, hai tựa đề, một tác phẩm. Dường như tác giả đã lưỡng lự lâu lắm giữa Nỗi Buồn Chiến Tranh(1) và Thân Phận Tình Yêu. Sau cùng, tuy lựa Nỗi Buồn Chiến Tranh nhưng vẫn lưu lại Thân Phận Tình Yêu nơi bìa sau. Một sự phân vân dễ hiểu và hợp lý, vì trong nỗi buồn chiến tranh nổi trôi thân phận tình yêu. Vả qua bao gian nan, khốc liệt, tình yêu vẫn sống, vẫn tiếp tục là nguồn sống trước chiến tranh, trong chiến tranh và ngoài chiến tranh. Trong khi chiến tranh đã kết thúc, đã chết mà tàn tích - tức nỗi buồn - vẫn còn tiếp tục hủy diệt tâm hồn và thể xác con người.

*

Nỗi Buồn Chiến Tranh viết về cuộc đời một chiến binh với những hồi khứ đứt đoạn hay liên tục, là ánh hồi quang chiếu xuống những đoản đời. Là khúc thương ca, tâm ca, tình ca thơ mộng, tuyệt diệu và tuyệt vọng, hãi hùng và bi thảm; quyến luyện thực tại và ảo giác, cuộc sống và cõi chết, quá khứ và vị lai. Trong những tiểu thuyết viết về cuộc chiến 20 năm, phát xuất từ những nhân chứng phía Nam hay phía Bắc, đây là tác phẩm xâu sa, đớn đau, tàn khốc, bi quan và cũng lạc quan hơn cả.
Truyện viết về đời Kiên, người bộ đội thuộc cánh quân trinh sát, trong mười năm chiến tranh và mười năm hòa bình. Kiên xuất thân từ một gia đình trí thức tiểu tư sản miền Bắc. Cha là họa sĩ, một họa sĩ phạm "tội đồ", bị chối bỏ, người ta phê phán tranh ông thể hiện những chân dung ma quỷ. Người họa sĩ đó, lạc loài giữa xã hội người, đành hội nhập vào xã hội không người, xã hội yêu ma "siêu thực" của những nhân vật bi thảm trong tranh, đắm chìm trong thế giới ảo giác và sau cùng, đã tiêu hủy toàn bộ sáng tác trước khi từ giã cõi đời, để được cùng những đứa con tinh thần của mình bước sang cõi khác.

Mẹ Kiên, một đảng viên, bỏ cha từ lúc Kiên còn nhỏ. Những kỷ niệm về mẹ rất mơ hồ, trừ vài lời mẹ dặn: "Bây giờ con đã là đội viên thiếu niên, nay mai là vào đoàn [...] nên cứng rắn dần lên con ạ." (trang 135)

Kiên biết rất ít về người chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến về già. Ông có những quan niệm độc đáo về cuộc đời, người cha dượng ấy đã từng khuyên Kiên: "Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ [...], mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy." (trang 61)

Kiên là sự hòa hợp hoàn hảo giữa mẹ và cha: xung phong đi bộ đội ở tuổi mười bảy, khăng khăng chiến đấu, bỏ lại người yêu, cứng rắn theo nghĩa mẹ. Và Kiên đã xả thân làm người hùng, tiêu phí cuộc đời trong nghĩa vụ, trong tàn sát, trong chiến thắng, trong sống sót trở về; để rồi không bao giờ thoát khỏi nỗi cô đơn, lạc loài, yếu đuối, ra khỏi nỗi buồn của cha, nỗi buồn gia truyền, nỗi buồn truyền kiếp mà cha đã lưu lại cho anh như một báu vật, như một tài sản duy nhất trước khi ông mất.

Kiên hành động nhưng không mấy khi chủ động: trong tình yêu, chủ động là Phương. Trên chiến trường, chủ động là bạo lực. Kiên bị lôi vào dòng cuồng lưu của cuộc đời, Kiên đi chiến đấu như một người mụ mẫm trí óc được các "hào quang" dẫn đường, rồi cố gắng vượt qua những cửa tử, nhờ Phương chỉ lối. Kiên tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên lớn lên, ngoan ngoãn tuân theo chỉ thị, theo "tiếng gọi non sông", không đặt vấn đề, không có vấn đề, không đòi hỏi vấn đề.





*






Phương, người Kiên yêu trọn kiếp, vai phụ mà có chỗ đứng chính trong truyện. Phương xuất hiện không nhiều nhưng thao túng đời Kiên, thao túng mãnh liệt hơn chiến tranh. Từ những ngày thơ ấu, Kiên đã yêu Phương với mối tình thứ nhất. Xa Phương trong mười năm chiến tranh. Khi hòa bình trở lại: gặp Phương một thời rồi vĩnh viễn xa Phương. Trong gặp và xa: Kiên yêu Phương với mối tình thứ nhì.

Phương là một hiện tượng kỳ ảo: chinh phục con người bằng tình yêu và sống bằng tình yêu. Phương là biểu tượng của tự do, thiết tha, duy cảm, sống hết mình, phung phí sinh lực, rộng chi cảm giác. Phương miệt mài yêu đương, đau thương và nhục cảm. Từ tuổi mười ba, Phương đã tìm hạnh phúc trong tự do tuyệt đối, tự giải phóng mình khỏi mọi thành kiến, mọi lo âu, mọi ràng buộc, mọi quy luật của xã hội loài người. Là kệ, là mặc kệ. Do đó, phần hồn Phương gần gũi với cha Kiên, Phương nghệ sĩ, Phương mang ảo giác của cuộc đời.

Trong sáng tạo, cha Kiên đã hoài thai khai nhụy -cũng trong tự do tuyệt đối- những tác phẩm nghệ thuật. Nhưng những đứa con đó sớm bị hành quyết. Tuy cha Kiên không tham dự cuộc chiến giết người, nhưng những đứa con tinh thần của ông cũng bị sự ngu muội càn quét, hủy diệt. Phương là người duy nhất hiểu được nỗi buồn chiến tranh của cha Kiên. Và họ yêu nhau, mối tình ngang trái hiện hữu nhưng không thể hiện hình trong cõi đời thường mà đi vào cõi mộng.

Cha Kiên mất đi, bao nhiêu tình yêu còn lại Phương dồn ép, lồng ấp cho Kiên. Trong những giây phút khắt khe nhất của định mệnh, Phương sẵn sàng liều lĩnh đem sinh mệnh mình để đổi trao lấy một vài khắc giây cuồng điên hạnh phúc với người yêu. Vẫn kệ, vẫn mặc kệ đời, kệ, mặc kệ đạn bom và khói lửa. Nhưng thảm cảnh đêm chia ly cùng với những hẹp hòi u muội của Kiên sau đó đã gạt Phương ra khỏi quỹ đạo đời Kiên. Từ đấy, Phương đem tình yêu của mình chia chác cho những kẻ may mắn khác. Trong lối sống buông thả và phóng đãng, Phương hủy diệt đời mình, tự hủy để được nẩy sinh: Phương là sự vĩnh cửu duy nhất còn sót lại, sau chiến tranh.





*






Ngoài tình yêu, Nỗi Buồn Chiến Tranh còn là cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh và chống chiến tranh. Nhận diện chiến tranh dưới những góc cạnh bi quan, tàn nhẫn nhất: qua kinh nghiệm mười năm tàn sát, con người học được những gì về lòng nhân ái? về tình người? về nhân tính? Những xa xỉ phẩm ấy, hầu hết đều đã vắng mặt trên thị trường xương máu. Khi phải trực diện với cái chết, chỉ có một chân lý đáng giá và đáng kể: "Miễn là không ngỏm trong mùa khô." (trang 21). Bảo Ninh đã tìm được một định nghĩa hoang mang và khốc liệt về chiến tranh: "Chiến tranh là cõi không nhà không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người." (trang 32)

Còn hòa bình, hòa bình là gì? Dưới ngòi bút của Bảo Ninh, hòa bình cũng không vinh dự lắm:

" - Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại có chút xương. Mà những người được phân công nằm lại góc rừng le là những người đáng sống nhất." (trang 44)
Nguyên Ngọc kể lại: "Bảo Ninh có lần tâm sự với tôi rằng anh viết vì câu hỏi: Vì sao anh lại còn sống sót đến hôm nay trong khi hàng trăm, hàng vạn bạn bè của anh cũng trẻ trung, cũng phơi phới, rất nhiều người còn đẹp đẽ hơn anh, tài năng hơn anh bội phần... lại đã mất đi? Câu hỏi dày vò anh đến trọn đời như một niềm ân hận vừa vô lý, vừa có thật không nguôi. Và câu hỏi thứ hai: Tại sao tất cả những điều ghê gớm ấy, bây giờ lại như thế này?"(2)
Tại sao tất cả những điều ghê gớm ấy chỉ đem lại một thực tại như thế này? Câu hỏi kinh hoàng về bản chất chiến tranh và cuộc đời, khó giải đáp cho thế hệ Bảo Ninh và cả những thế hệ không có Bảo Ninh, không còn Bảo Ninh. Tiên tri của nhận thức, Phương đã có những hoài nghi rất sớm về bản chất cuộc đời: "Chiến tranh, hòa bình, vào đại học, đi bộ đội khác nhau lắm hay sao? Và thế nào là cuộc đời tốt, cuộc đời xấu? Tình nguyện đi vào bộ đội ở tuổi mười bảy thì cao thượng hơn vào đại học ở tuổi mười bảy hay sao?" (trang150)

Nhưng "Phương lý" sáng suốt ấy, mấy ai chia sẻ? Người ta cuống cuồng xông vào chiến tranh, xông vào lý tưởng, xông vào những đỉnh cao cuộc đời như những con thiêu thân thèm khát máu đèn, loá mắt, loạn thần vì "cao cả", mà quên đi những nhỏ nhặt, tầm thường, những viên gạch, hòn sỏi, hạt cát âm thầm nhào nên cuộc sống!

Như bao nhiêu người khác, Kiên đã ra đi, đã tiêu tán cuộc đời cho chiến tranh, cho lý tưởng, để rồi trong một phút định thần ngoảnh lại, Kiên "đứng lặng ngắm toàn cảnh đời mình đang mất đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình." (trang 128). Ðộc thoại trên đây nói lên một thực tại rớm máu: những nhỏ nhặt, tầm thường như ăn, ngủ, chơi, vui, buồn, đau, sầu, nhớ... của cuộc sống hàng ngày, một khi đã được những vinh hạnh to lớn như tổ quốc, lý tưởng... giẫm lên, dày xéo lâu lắt mà không thương tiếc thì không còn cách nào hồi sinh được nữa: con người đã tuyệt tự với cuộc đời.





*






Chiến tranh đọa đày, chết chóc, thế giới hãi hùng hầu như là độc quyền của đàn ông: đàn ông gây nên chiến tranh và đàn ông hành động. Hành động nhưng không chủ động. Ðàn bà, xuất hiện không nhiều, nhưng nắm vai chủ động: họ là biểu tượng của tha nhân, của tình yêu và độ lượng. Từ Hạnh, người đã cho Kiên những rối loạn cảm giác đầu đời, đến Hòa, người giao liên đã hy sinh trên chiến trường để đồng đội được sống sót, rồi Hiền, người chiến binh tàn tật, đã sống vội vã với Kiên một đêm cuối cùng, dư âm muộn màng của những ngày giã từ cuộc chiến, đến người đàn bà câm, là hầm trú ẩn của Kiên trong những giây phút hoang mang, cô độc nhất của tâm hồn, thời hậu chiến.
Và sau cùng và trên hết là Phương, người đàn bà hữu hình hay vô hình, đã vượt lên những chết chóc, tàn sát, đã tiếp máu, tiếp thở cho Kiên, đã lôi Kiên ra khỏi bàn tay thần chết và đã trói buộc Kiên mãi mãi với tình yêu. Những người phụ nữ đó không nắm vận mệnh một ai, họ là vận mệnh, họ là định mệnh.

Kiên tin vào định mệnh. Cuộc đời Kiên và Phương, nếu không có đêm tiễn đưa trước khi Kiên lên đường, nếu Phương không dứt khoát, chủ động đưa Kiên một quãng thì có thể tất cả đã khác: Kiên đã không phải nhúng máu người quá sớm và những dã man của đời lính sau này cũng không thể hiện một cách lạnh lùng và nhẫn tâm đến thế. Từ đêm chia ly định mệnh ấy, Kiên mê lạc trong một lộ trình vạch sẵn, sáng suốt và khiếp đảm của chiến tranh: trong sự vắng mặt của nhân tính, chiến tranh có nghĩa là được phép giết người vì lý tưởng, giết người trong vinh quang, giết người để được vinh dự bảo vệ một cái gì cao cả.





*






Một trong những khía cạnh bi quan và lạc quan nhất của Nỗi Buồn Chiến Tranh là đối lập bản chất tự tôn, anh hùng của người nam với tiềm năng tự tại, nhẫn nhục nơi người nữ, Bảo Ninh đã đạt tới những mâu thuẫn cao độ trong cùng một tác phẩm.

Tình yêu là nguồn của cuộc đời: phụ nữ -qua khả năng yêu đương và sinh nở- gây ra sự sống. Nhưng họ không có khí giới, sức lực để bảo vệ sự sống. Ngược lại, người nam, có khả năng yêu đương nhưng không có khả năng sinh nở, dùng sức mạnh như một quyền lực tối cao để tận hưởng và phung phí sinh mạng, như để trả đũa cho sự bất lực của mình trước nghĩa vụ cấu tạo cuộc đời: Ðó là mâu thuẫn sâu xa và bi thảm nhất của con người, trực diện với tình yêu, sự sống và sự chết.
Sự mâu thuẫn này còn xẩy ra trong sáng tạo: Nghệ sĩ và tác phẩm có thể tồn tại được trong một môi trường bảo thủ, lấy khủng bố làm khí giới đương đầu với nghệ thuật, ưa khai tử cái mới, thích hành quyết cái lạ, không ưng thám hiểm những vùng chưa biết mà chỉ thèm thuồng nhai lại những ợ chua trong thực quản của chính mình, ròng rã hơn nửa thế kỷ rồi mà chưa thấy chán?





*






Nỗi Buồn Chiến Tranh hay Thân Phận Tình Yêu còn đối chất tình yêu với chiến tranh, hai kỳ phùng địch thủ:
- Một bên thiêng liêng, tha thiết, bắt nguồn cho sự sống.
- Một bên hung tàn, vô độ và hủy diệt sự sống.
Trong cuộc tranh đấu không ngừng giữa hai phạm trù đối lập ấy: Chiến tranh với sức công phá mãnh liệt, đã tàn sát và hủy diệt tất cả: từ cỏ cây, hoa lá, xác người và đến cả hồn người. Nhưng chiến tranh không tiêu diệt được tình yêu: thái độ lạc quan đến tuyệt diệu ấy của tác phẩm, mấy ai đạt được?

Tết Nhâm Thân, 1992.
Chú thích
(1) Bài này được viết vào dịp tết Nhâm Thân 1992, tôi chưa biết gì về Bảo Ninh. Sau này, được biết, Nỗi Buồn Chiến Tranh viết xong năm 89. Hội Nhà Văn in thành sách tháng 12-1990, với tựa Thân Phận Tình Yêu, do nhà xuất bản "đề nghị", nhiều đoạn bị cắt bỏ. Thân Phận Tình Yêu là một trong ba tác phẩm được giải văn xuôi vào tháng 9 năm 1991. Ít lâu sau, tác phẩm được tái bản và lấy lại tên cũ là Nỗi Buồn Chiến Tranh.
(2) Trích bài Trường Viết Văn Nguyễn Du, Một Sự Nghiệp Ðáng Say Mê, Nguyên Ngọc, báo Văn Nghệ, số 47, ra ngày 25-11-1989.
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0