Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện của nữ nhà văn CLARICE LISPECTOR

1 trả lời, 1.722 lượt xem — Trang 1 / 1
Clarice Lispector, nhà văn chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết, là một trong những khuôn mặt quan trọng nhất trong văn chương Ba-tây thế kỷ 20. Ngược lại với đa số nhà văn Ba-tây đương thời, nhãn quan nghệ thuật của bà vượt qua những giới hạn thời gian và địa lý; các trạng huống và nhân vật trong truyện của bà không phản ảnh hiện thực đời sống Ba-tây, mà mang tính hoàn vũ: đó là những gì mà con người ở mọi thời và mọi nơi trên trái đất có thể bắt gặp và cảm nhận — những gì ở đâu đó bên trong mỗi chúng ta.[/align] [/align]Tiểu thuyết đầu tay của bà, Perto do Coração Selvagem (“Bên trái tim man dại”, 1944) được xuất bản lúc bà mới 19 tuổi, và được giới phê bình khen ngợi về tài diễn đạt tinh tế những khía cạnh đời sống phức tạp của tuổi dậy thì. Những tác phẩm sau đó, như A Maçã no Escuro (Trái táo trong bóng tối”, 1961), A Paixão Segundo G.H. (“Niềm đam mê qua nhãn giới của G.H.”, 1964), Água Viva (“Dòng nước sinh động”, 1973), đều đào xới tâm cảm của những con người lạc lõng, tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, rồi gặp lại chính mình và chấp nhận tồn tại trong một thế giới mãi mãi lạ lùng.[/align] [/align]Văn tài của Lispector biểu lộ rõ nét nhất qua những truyện ngắn. Những tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của bà là Laços de Família (“Những ràng buộc gia đình”, 1960), A Legião Estrangeira (“Đạo quân xa lạ”, 1964), A Via Crucis do Corpo (“Những trạm thể xác”, 1974) và Onde Estivestes de Noite (“Nơi có anh trong đêm tối”, 1974).[/align] [/align]Dưới đây là một tuỳ bút trong cuốn A Descoberta do Mundo (“Khám phá thế giới”, 1984; bản Anh ngữ mang nhan đề Selected Crônicas, do Giovanni Pontiero dịch, nhà xuất bản A New Directions Book ấn hành tại New York năm 1996) qua bản dịch của Hoàng Ngọc Tuấn [/align] 
___________________
 
DIES IRAE
 
Tôi thức giấc trong một cơn giận dữ. Tôi hoàn toàn bất mãn với thế giới này. Hầu hết mọi người chết đi mà không biết mình chết, hoặc họ sống như những kẻ giả dối. Và thay vì trao tặng, thì tình yêu lại đòi hỏi. Những người bày tỏ lòng yêu mến với chúng ta thì ít nhất lại mong đợi chúng ta làm cho họ thoả mãn một số nhu cầu nào đó. Nói dối thì mang đến sự ân hận. Và không nói dối thì lại là một món quà mà thế giới này không đáng hưởng. Và tôi thậm chí không có khả năng đập nát những đồ sành sứ như cô bé bị bán thân bất toại khi cô ấy muốn trả thù. Tôi không bị bán thân bất toại. Mặc dù một điều gì trong tận thâm tâm cho tôi biết rằng tất cả chúng ta đều bị bán thân bất toại. Và chúng ta chết đi mà không nhận được một lời giải thích nào cả. Và tệ hại hơn cả — chúng ta sống mà không nhận được một lời giải thích nào cả. Và thuê người giúp việc, những kẻ mà chúng ta cũng có thể gọi là những người đầy tớ, là một hành vi xúc phạm nhân tính. Và sự bị bắt buộc phải xuất hiện như một người tươm tất đẹp đẽ khiến tôi bực dọc. Tại sao tôi không thể đi ra ngoài với áo quần rách rưới như những người đàn ông thỉnh thoảng tôi thấy trên đường phố với những bộ râu dài đến ngực và một cuốn thánh kinh trong bàn tay, những ông thánh sống ấy, những kẻ đã chuyển hoá sự điên rồ thành một phương tiện của tri thức ấy? Và chỉ vì tôi đã viết lách chút ít, tại sao người ta giả định rằng tôi phải tiếp tục làm một nhà văn? Tôi cảnh cáo các con tôi rằng tôi đã thức giấc trong một cơn giận dữ và đã khuyên chúng cứ để mặc tôi. Nhưng tôi lại không ở trong tâm trạng để mặc cho mọi thứ ra sao cũng được. Tôi muốn làm một điều gì đó một lần cuối cùng để phá đứt cái dây gân căng thẳng đang mang chở trái tim tôi. Và còn những kẻ bỏ cuộc thì sao? Tôi biết một người đàn bà, kẻ đã bỏ cuộc. Và bà ấy có vẻ hài lòng: cách bà ấy đương đầu với cuộc sống là giữ cho mình luôn bận rộn với công việc. Nhưng không công việc nào khiến bà ấy thoả mãn. Và chưa từng có công việc nào tôi thực hiện khiến tôi cảm thấy thoả mãn. Bất cứ điều gì tôi thực hiện với lòng yêu thương đều kết thúc bằng những đổ vỡ. Tôi thậm chí không biết cách yêu thương, ngay cả không biết yêu thương là thế nào. Và bây giờ họ dành riêng một Ngày cho Những Người Mù Chữ. Tôi chỉ đọc cái nhan đề và từ chối đọc bản tin. Tôi từ chối đọc bản tin thời sự thế giới, vì chỉ những cái nhan đề thôi cũng đủ làm tôi sôi máu. Lúc nào cũng có một cuộc tưởng niệm nào đó, cứ mỗi năm phút lại có một trận đánh nhau vì một cuộc chiến tranh nào đó. Cả một thế giới của những con người bán thân bất toại. Và mọi người đều chờ đợi trong vô vọng để thấy một phép lạ xảy ra. Và những kẻ không chờ đợi phép lạ thì thậm chí đang lâm vào một trạng huống tệ hại hơn và đành phải bắt đầu đập nát các đồ sành sứ. Và các giáo đường thì chứa đầy những kẻ sợ cơn thịnh nộ của Thượng Đế. Và chứa đầy những kẻ cầu xin ơn phước, tức là cầu xin điều ngược lại của cơn thịnh nộ.
Không, không, tôi không thương cảm cho những người chết đói. Điều tôi cảm thấy là một sự giận dữ. Và tôi chẳng thấy có gì nguy hại khi người ta trộm cắp vì miếng ăn. — Bài viết của tôi vừa bị gián đoạn vì một cú điện thoại từ một cô gái tên là Teresa, cô ấy lấy làm khoái trá khi tôi nhớ chính xác cô ấy là ai. Tôi nhớ cô ấy là một người lạ mặt vẫn thường đến thăm tôi trong bệnh viện nơi tôi nằm gần ba tháng vì bị phỏng trong một cuộc hoả hoạn. Cô thường ngồi bên cạnh giường tôi, nói vài ba câu, hay chẳng nói năng gì cả. Rồi thình lình ra về. Và bây giờ cô vừa gọi điện thoại để thẳng thắn góp ý với tôi: rằng tôi không nên viết những cột báo hay bất cứ thứ gì cho các tờ nhật báo. Rằng chẳng phải một mình cô đang hy vọng tôi sẽ từ bỏ cột báo hàng tuần dù tôi được trả tiền nhiều đến thế nào chăng nữa. Rằng có nhiều người đang mua những cuốn sách của tôi với hy vọng tìm thấy những đề tài tương tự như tôi đã viết trên nhật báo. Tôi cứ luôn miệng nói “vâng” vì tôi thích câu trả lời là “vâng”, và cũng vì một phần tôi muốn chứng tỏ với Teresa rằng tôi không bị bán thân bất toại mà vẫn còn có khả năng nói “vâng”.
Vâng, lạy Chúa. Có khả năng nói “vâng”. Tuy nhiên ngay khoảnh khắc ấy có một điều gì lạ lùng xảy ra. Tôi đang viết trong buổi sáng thì thình lình bầu trời tối sầm đến nỗi tôi phải bật đèn lên. Rồi điện thoại reng thêm một lần nữa: một cú gọi từ một người bạn đang hoảng hốt muốn biết bầu trời nơi tôi ở có phải cũng tối sầm hay không. Vâng, tối như đêm đen vào lúc mười giờ sáng. Đây là cơn thịnh nộ của Thượng Đế. Và nếu sự tối tăm này chuyển thành mưa, thì xin trận hồng thuỷ hãy trở lại mà không có con tàu của Noah. Bởi vì chúng ta đã thất bại, không xây dựng được một thế giới xứng đáng để sống, và vì chúng ta đã nhuốm chứng bệnh tê liệt, chúng ta không biết làm sao để sống. Bởi vì nếu trận hồng thuỷ không trở lại, thì Sodom và Gomorrah sẽ trở lại để giải quyết vấn đề. Tại sao lại cho phép mỗi loài sinh vật được một cặp trống mái bước lên con tàu của Noah? Tối thiểu thì những cặp con người đã chẳng sản xuất gì cả ngoài trẻ con, chứ không phải sản xuất cái cuộc sống phi-hiện-hữu kia, cái cuộc sống đã làm tôi thức giấc trong một cơn giận dữ.
Teresa, khi cô đến thăm tôi trong bệnh viện, cô đã thấy tôi bị quấn băng khắp thân thể và phải nằm bất động. Hôm nay nếu cô đến đây cô sẽ thấy tôi còn bất động hơn nữa. Hôm nay tôi bị bại liệt và câm. Và nếu tôi cố gắng nói, thì tất cả những gì thốt ra chỉ là một tiếng gầm gừ đau đớn. Vậy đó không phải chỉ là sự giận dữ? Không, trong đó còn có một nỗi buồn.
 
 
-----------------[/align]Dịch theo bản Anh văn: “Dies Irae”, trong Clarice Lispector, Selected Crônicas, trans. Giovanni Pontiero, (New York: New Directions Books, 1996) 7-8..[/align]Nguồn:tienve.org/
Đăng nhập để trả lời
0
2:THEO DÕI THẾ GIỚI
 
Tôi là một người vô cùng bận bịu. Tôi theo dõi thế giới. Mỗi sáng, từ hàng hiên tôi nhìn xuống dải bờ cát với mặt biển nhấp nhô đàng sau nó. Đôi khi bọt sóng dường như trắng hơn và tôi có thể nói những dòng nước không ngơi nghỉ ấy đã dâng lên vào ban đêm, để lại dấu vết của chúng trên cát. Tôi nhìn ngắm những cây hạnh nhân trên đường phố dưới kia. Trước khi tôi ngủ thiếp đi và theo dõi thế giới trong những giấc chiêm bao của tôi, tôi quan sát bầu trời đêm để thấy có phải những ngôi sao đang lấp lánh trên một nền xanh hay không, bởi có những đêm bầu trời không đen mà xanh thẫm màu nước biển. Thế giới khiến tôi lúc nào cũng bận bịu theo dõi, vì tôi nhận ra rằng Thượng Đế chính là vũ trụ, và đó là một trách nhiệm mà tôi luôn sẵn sàng thi hành.
Tôi thấy một cậu bé chưa đến mười tuổi, áo quần rách rưới và gầy ốm ngoài sức tưởng tượng. Một trường hợp lao phổi trong tương lai, nếu bây giờ cậu chưa mắc bệnh.
Khi tôi viếng Vườn Bách Thảo, chẳng mấy chốc tôi đã mệt nhoài. Ở đó tôi phải theo dõi hàng nghìn giống thảo mộc, đặc biệt những cây bông súng khổng lồ.
Xin lưu ý rằng tôi chưa nói điều gì về những phản ứng tình cảm của tôi: tôi chỉ mới nói về vài điều trong hàng nghìn sự vật và con người mà tôi theo dõi. Cũng chẳng có ai trả tiền cho tôi làm công việc này. Tôi chỉ biết chăm chú giữ cho thế giới luôn luôn được coi ngó.
Theo dõi thế giới có phải là công việc khó khăn không? Chắc là vậy. Tôi còn nhớ vẻ mặt đáng sợ của một người đàn bà tôi thấy trên đường phố, một vẻ mặt trống vắng mọi cảm xúc. Tôi cũng theo dõi cả những người vô gia cư nằm trên những ghềnh đá gần nhà tôi. Tôi quan sát những biến chuyển tứ thời trong chính tôi: tôi không thể tránh khỏi những đổi thay theo từng mùa.
Bạn hẳn phải thắc mắc tại sao tôi theo dõi thế giới. Tôi đã được sinh ra cho sứ mệnh này. Và tôi chịu trách nhiệm về mọi điều trong cõi tồn sinh, ngay cả về những cuộc chiến tranh và những tội ác gây nên bao đau đớn cho thể xác và tinh thần con người. Tôi chịu trách nhiệm cả về Thượng Đế — một đấng mà chẳng ai biết là ai — một đấng mãi mãi nằm trong trạng thái chuyển hoá của vũ trụ để mỗi lúc một hoàn thiện hơn.
Từ thuở ấu thơ tôi đã theo dõi một bầy kiến: chúng bò thành hàng ngoằn ngoèo, mỗi con mang một mẩu lá bé xíu và tuỳ tiện dừng lại để chuyện trò vớ vẩn bất cứ khi nào chúng gặp một bầy kiến khác di chuyển ngược chiều.
Có lần tôi đọc một cuốn sách giáo khoa tiêu chuẩn về loài ong và tôi đã bắt đầu quan sát chúng từ lúc đó, đặc biệt con ong chúa. Loài ong bay và tự nuôi sống trên những đoá hoa: tôi đã học được chừng ấy.
Nhưng loài kiến có cái eo thật là gọn gàng. Tuy chúng nhỏ bé như thế, chúng ôm choàng cả thế giới, và thật khó nhận ra điều này nếu tôi không quan sát kỹ lưỡng: chúng có một thứ tri giác bẩm sinh trong việc tổ chức xã hội, một thứ ngôn ngữ vượt quá tầng siêu âm đối với lỗ tai của chúng ta và có lẽ thích ứng với những cảm nhận bản năng trong đó tình-và-cảm là một, bởi loài kiến biết nói. Tôi đã luôn luôn theo dõi loài côn trùng này từ lúc tôi còn bé và bây giờ tôi thiết tha muốn nhìn thấy chúng một lần nữa, nhưng tôi không thể tìm ra một con kiến nào cả. Tôi biết chúng chưa tuyệt chủng, vì nếu điều ấy có xảy ra thì người ta đã cho tôi biết. Theo dõi thế giới cũng cần nhiều kiên nhẫn: tôi phải chờ đợi loài kiến tái xuất hiện. Kiên nhẫn. Trong lúc nhìn ngắm những đoá hoa đang mở ra vô cùng chậm rãi và vi tế.
Nhưng tôi vẫn chưa tìm được con người mà tôi có nhiệm vụ phải trình báo về những điều tôi đã phát hiện.
 
 
-----------------[/align]Dịch theo bản Anh văn: "Keeping an eye on the world", trong Clarice Lispector, Selected Crônicas, trans. Giovanni Pontiero, (New York: New Directions Books, 1996) 132-134.[/align] [/align]3:ĐÓ LÀ NƠI TÔI ĐANG TỚI
 
Bên ngoài tầm tai nghe là một âm thanh, tại điểm tận cùng của nhãn giới là một hình dáng, ở đầu ngón tay là một vật thể – và đó là nơi tôi đang tới.
Ở đầu cây bút chì là một đường kẻ.
Nơi một ý nghĩ tan biến là một tư tưởng, sau hơi thở cuối cùng của niềm vui là niềm vui khác, trên đầu lưỡi gươm là ảo thuật – đó là nơi tôi đang tới.
Ở đầu những ngón chân là cú nhảy.
Như câu chuyện một người đã ra đi và không trở lại – đó là nơi tôi đang tới.
Hay là tôi sẽ không đi? Đi chứ, tôi sẽ đi. Và tôi sẽ trở lại để xem mọi sự ra thế nào. Phải chăng chúng vẫn còn kỳ diệu. Hiện thực ư? Tôi mong đợi. Đó là nơi tôi đang tới.
Trên đỉnh của một chữ là một chữ. Tôi muốn dùng chữ “hội tụ”, nhưng tôi không biết dùng nó khi nào và ở đâu. Trên trên mép rìa của hội tụ là gia đình. Trên trên mép rìa của gia đình là tôi. Trên trên mép rìa của riêng tôi là tôi. Tôi chính là nơi tôi đang tới. Và tôi rời bỏ chính tôi để nhìn thấy. Để nhìn thấy gì? Để nhìn thấy có gì ở đó. Sau cái chết thì hiện thực chính là nơi tôi sẽ đi tới. Ngay lúc này nó là một giấc chiêm bao. Một giấc chiêm bao định mệnh. Nhưng sau đó – sau đó mọi sự đều có thực. Và cái linh hồn tự do tìm một góc để cư ngụ. Tôi là một cái tôi mà tôi xướng lên. Tôi không biết tôi đang nói về điều gì. Tôi chẳng đang nói về điều gì cả. Tôi không là gì cả. Sau cái chết tôi sẽ mọc lên và gieo rải chính tôi khắp nơi, và người nào đó sẽ gọi tên tôi với tình yêu.
Cái tên tội nghiệp của tôi chính là nơi tôi đang tới.
Và từ đó tôi sẽ trở lại để gọi tên của người tôi yêu và các con tôi. Họ sẽ trả lời tôi. Cuối cùng tôi sẽ có một câu trả lời. Câu trả lời nào? Về tình yêu. Tình yêu: tôi yêu người quá đỗi. Tôi yêu tình yêu. Tình yêu thì màu đỏ. Ghen tuông màu lá cây. Đôi mắt tôi màu lá cây. Nhưng màu lá cây của chúng quá đậm nên trong một bức ảnh chúng trở thành đen. Bí mật của tôi là tôi có đôi mắt màu lá cây mà không ai biết.
Bên ngoài tầm tay của tôi vẫn là tôi. Tôi đang năn nỉ, tôi, kẻ đang cần, kẻ đang cầu xin, kẻ đang khóc lóc, kẻ đang thở than. Nhưng tôi cũng là kẻ đang hát. Kẻ đang nói những chữ. Những chữ tan vào gió? Không hề gì, những cơn gió sẽ mang chúng trở về, và tôi sẽ giành chúng lại cho tôi.
Tôi ở trên mép rìa của cơn gió. Những đỉnh cao lộng gió gọi tôi. Tôi đi, tôi là phù thuỷ. Và tôi hoán chuyển chính tôi.
Ôi chó, linh hồn ngươi đi đâu? Có phải nó ở trên mép rìa của thân xác ngươi? Ta đang ở trên mép rìa của thân xác ta. Và ta đang dần dần tan biến.
Tôi đang nói gì? Tôi đang nói tình yêu. Và trên mép rìa của tình yêu – chúng ta đứng đó.
 
 
--------------------------[/align]Dịch theo bản Anh văn: “That’s Where I’m Going”, trong Clarice Lispector, Soulstorm, trans. Alexis Levitin, intr. Grace Paley (New York: New Directions Books, 1989) 146-147.[/align] 
Đăng nhập để trả lời
0