📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn O.Henry 🔒

15 trả lời, 2.807 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-12 15:27:21banhsukem>
O.Henry

Bạn hữu ở San Rosario (Friends in San Rosario)


Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 

Chiếc tàu xuôi miền Tây đến San Rosario về đúng giờ, lúc 8 giờ 20 sáng. Một người đàn ông mang một túi da dầy bước xuống tàu và đi nhanh về khu phố chính của thị trấn. Có vài hành khách cũng xuống tàu ở San Rosario, nhưng họ lừ đừ đi đến nhà ăn của công ty hỏa xa hoặc quán San Rosario, hoặc nhập bọn với những người nhà rỗi đứng quanh sân ga.
Người đàn ông với chiếc túi da bước đi với điệu bộ cả quyết. Ông có dáng người thấp nhưng mạnh mẽ, với mái tóc nhẹ và cắt gọn, gương mặt cương nghị và nhẵn nhụi, và đôi kính gọng vàng trông xông xáo. Ông ăn mặc lịch sự theo thời trang miền Đông lúc bấy giờ. Tư thái của ông lộ một sức mạnh điềm đạm nhưng có ý thức dè dặt, nếu không nói là tư cách của một người có thẩm quyền thật sự.


Sau khi đã đi qua ba dãy phố, ông đến giữa khu thương mại của thị trấn. Nơi đây, một con đường quan trọng cắt ngang con đường chính, tạo nên khu trung tâm sinh hoạt và thương mại của San Rosario. Nhà bưu điện nằm ở một góc phố. Hiệu thời trang Rubensky’s nằm ở một góc kia. Người khách lạ bước vào tòa nhà ngân hàng mang tên First National Bank of San Rosario, vẫn không chậm bước cho đến khi ông đứng đằng trước quầy thủ quỹ. Ngân hàng mở cửa lúc chín giờ, và nhân viên đã đến, mỗi người đang chuẩn bị cho công việc của mình.Người thủ quỹ đang xem qua thư tín khi nhận thấy người khách lạ đứng trước quầy.


Anh nói gọn:
-Ngân hàng mở cửa lúc chín giờ.
Anh không tỏ ý gì trong giọng nói, vì anh đã thường phải nói như thế với những người đến sớm kể từ khi San Rosario quy định giờ làm việc của ngân hàng trong thị trấn.
Người kia nói trong giọng lạnh lùng, nghiêm nghị:
-Tôi biết rõ việc ấy. Anh có thể vui lòng nhận danh thiếp của tôi không?
Người thủ quỹ kéo khung cửa sạch bong phía trong cánh song qua một bên, và đọc:


J.F.C Nettlewick
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước

-Ồ…à…xin mời ông vào trong, ông…à…Nettlewick. Ông đến lần đầu…không biết mục đích của ông, dĩ nhiên. Xin ông đi vòng qua đây.
Nhà thanh tra nhanh nhẹn bước vào khu thánh địa của ngân hàng, và ông Edlinger, thủ quỹ - một người trung niên cương nghị, kín đáo và có kỷ cương, tuần tự giới thiệu ông với các nhân viên.
Ông Edlinger nói:
-Tôi đang chuẩn bị tiếp Sam Turner sắp trở lại. Sam là người thanh tra chúng tôi trong bốn năm qua. Tuy vậy, tôi nghĩ ông sẽ thấy chúng tôi làm ăn đàng hoàng, xét theo quy định chặt chẽ của ngành ngân hàng. Không có trong tay nhiều tiền mặt, nhưng có thể vượt qua cơn sóng gió, thưa ông, qua cơn sóng gió.
Với giọng cả quyết, trang trọng, nhà thanh tra nói:
-Ông Turner và tôi được ông Chánh thanh tra chỉ thị thay đổi nhiệm vụ cho nhau. Ông ấy đang thanh tra khu vực cũ của tôi ở Illinois và Indiana. Xin vui lòng cho tôi xem qua tiền mặt trước.
Perry Dorsey, nhân viên giao dịch, đã xếp tiền mặt trên mặt quầy cho nhà thanh tra xem xét.
Anh biết số tiền chính xác theo từng cent, và anh không có gì phải sợ hãi, nhưng vẫn hồi hộp và bối rối. Mọi nhân viên của nhà băng cũng thế. Tư thái của nhà thanh tra có vẻ gì đấy lạnh lùng và nhanh nhẹn, kém thân thiện và cả quyết, đến nỗi sự hiện diện của ông dường như là một lời kết án. Ông có vẻ là người không bao giờ nhầm lẫn hoặc bỏ qua sai phạm.


Ông Nettlewick cầm lấy những xấp tiền và đếm với cử động thoăn thoắt, gần như là tung hứng. Rồi ông xoay tròn cốc đựng bọt nước về phía mình và đếm từng tờ giấy bạc. Những ngón tay trắng, thon của ông múa lượn như nhà nhạc sĩ tài ba trên những phím đàn dương cầm. Từ những đầu ngón tay nhanh nhẹn, ông đổ những đồng tiền vàng trên cái quầy với một tiếng choang, và kêu lanh canh khi lướt trên mặt đá hoa cương. Không khí tràn đầy những số lẻ của tiền tệ khi ông làm việc với những đồng năm mươi và hai mươi cent. Ông cho người mang đến cái cân, và ông cân từng bao đựng bạc từ cái tủ sắt. Ông tra hỏi Dorsey về các mẫu chứng từ - vài ngân phiếu, phiếu thu, từ này giao dịch trước – với sự lễ độ không thể trách cứ đước, nhưng với vẻ gì đấy trọng yếu một cách kỳ bí trong tư thái cứng nhắc của ông, đến nỗi mặt người thủ quỹ đỏ bừng và giọng nói trở nên lắp bắp.


Nhà thanh tra mới nhập cư khác hẳn Sam Turner. Sam luôn đi vào ngân hàng với tiếng thét, phân phối những điếu xì gà, và kể cho mọi người nghe những mẩu chuyện ông vừa mới biết được khi đi công tác. Cách ông chào hỏi Dorsey luôn luôn là “Này Perry! Vẫn chưa từ bỏ quỹ đen, tôi thấy mà!”. Cách Turner đếm tiền mặt cũng khác. Ông mân mê các gói tiền với vẻ mệt mỏi, rồi đi vào tủ sắt và đá qua các túi đựng bạc. Thế là xong. Còn mấy đồng 50, 25 và 10 cent? Ông không để ý đến. Khi người ta mang đến cho ông những đồng tiền này, ông bảo: “Chuyện nhỏ không phải dành cho tôi”. Nhưng đấy chỉ vì Turner là dân Texas, là bạn chí thân của ông chủ tịch ngân hàng, và quen biết Dorsey từ thuở anh này còn là em bé.


Khi nhà thanh tra đang đếm tiền mặt, Thiếu rá Thomas D. Kingman – mà mọi người gọi là “Thiếu tá Tom”, đánh chiếc xe của ông do một con ngựa nâu xám già kéo đến cửa hông, và đi vào bên trong. Ông thấy nhà thanh tra đang bận rộn với tiền bạc và, đi vào “chuồng ngựa nhỏ”, theo cách ông gọi, nơi bàn làm việc của ông được rào chung quanh, ông bắt đầu xem qua thư từ gửi tới cho ông.


Trước đấy, một tình tiết nhỏ đã xảy ra khiến ngay cả đôi mắt sắc bén của nhà thanh tra cũng không nhận ra. Khi bắt đầu công việc ở quầy tiền mặt, ông Edlinger đã nháy mắt đầy ngụ ý với Roy Wilson, anh tống thư văn trẻ, và khẽ gật đầu về hướng cửa chính. Roy hiểu, nhấc lấy chiếc mũ và nhàn nhã bước ra, với quyển sổ thu tiền kẹp trong cánh tay. Khi đã ra đến bên ngoài, anh đi thẳng đến ngân hàng Stockmen’s National. Ngân hàng này đang chuẩn bị mở cửa. Chưa có thân chủ nào xuất hiện.


Nhà thanh tra sẵng giọng:
-Mọi tiền mặt đều đúng.
Ông vọt đến người kế toán trương mục cá nhân và, sau vài phút lật qua những trang sổ cái và những bảng cân đối tài chính, thình lình ông nói:
-Anh cân đối sổ sách của anh bao lâu một lần?
Người kế toán trương mục cá nhân lập cập, tự hỏi mình sẽ đi tù mấy năm:
-À…mỗi tháng một lần.
-Được.


Nhà thanh tra quay sang anh kế toán trương mục cơ quan, đã chuẩn bị mọi bảng kê khai của các ngân hàng nước ngoài và bảng điều chỉnh. Mọi thứ đều đúng cách. Rồi đến phần cuống của các chứng chỉ ký gửi. Soạt – soạt – tốt! Được rồi. Xin cho xem chứng từ chi vượt trội. Cảm ơn. Những hối phiếu ngân hàng không ký tên, cho xem kế tiếp. Được rồi.


Rồi đến phiên người thu ngân, và ông Edlinger, bình thường thong dong, giờ xoa cánh mũi và lau đôi tròng kính đầy lo lắng trước hàng loạt câu hỏi tới tấp về việc lưu hành, lợi nhuận trước khi chia, bất động sản của ngân hàng, và thành phần chủ nhân các cổ phiếu.
Bây giờ Nettlewick cảm thấy có một người cao lớn đứng nghễu nghệ trên anh – một người đàn ông sáu mươi tuổi, thô kệch và còn tráng kiện, với bộ râu xù xì hoa râm, một mảng tóc xám, và một đôi mắt xanh chăm chăm trực diện với đôi tròng kính khủng khiếp của nhà thanh tra.


Anh thủ quỹ giới thiệu:
-À…đây là thiếu tá Kingman, chủ tịch của chúng tôi…, đây là…à…ông Nettlewick.


Hai người đàn ông của hai tư cách hoàn toàn khác hẳn bắt tay nhau. Một người là sản phẩm của cung cách thẳng thắn, phương pháp chuẩn mực và công việc nghiêm túc. Người kia là một phong thái gì đấy phóng khoáng hơn, cao rộng hơn, và gần với thiên nhiên hơn. Tom Kingman không bao giờ rập theo khuôn mẫu nào. Ông đã từng kinh qua các nghề đánh lừa, chăn bò, kiểm lâm, vào quân ngũ, làm cảnh sát, đãi vàng, và làm chủ trại bò. Bây giờ, khi ông là chủ tịch ngân hàng, các bạn hữu của ông từ các đồng cỏ, trên các yên ngựa, trong lều và dọc đường mòn thấy ông vẫn không có gì thay đổi. Ông đã tạo dựng sản nghiệp khi bò Texas có giá cao, và thành lập nên First National Bank of San Rosario. Dù với con tim phóng khoáng và tính rộng lượng thiếu cẩn trọng đối với bạn hữu cũ, ngân hàng của ông vẫn phát triển, vì thiếu tá Tom hiểu nhân viên của ông cũng rõ như ông hiểu biết về bò. Trong những năm gần đây, nghề nuôi bò bị suy thoái, nhưng ngân hàng của ông thiếu tá là một trong số ít cơ sở không bị lỗ lã nhiều.
Nhà thanh tra rút ra chiếc đông hồ, nói nhanh:
-Và bây giờ, phần cuối cùng là những khoản cho vay. Xinh vui lòng cho xem.
Ông đã xem xét qua First National với tốc độ gần như là kỷ lục – nhưng vẫn theo cách chu đáo, như trong mọi việc ông làm. Ngân hàng có hệ thống điều hành thông suốt và trong sạch, nên đã giúp nhiều cho công việc của ông. Chỉ có một ngân hàng khác trong thị trấn. Chính phủ trả ông 25 đô la cho mỗi ngân hàng ông kiểm tra. Ông có thể xem xong các khoản cho vay và thanh toán trước thời hạn trong vòng nửa giờ đồng hồ. Nếu thế, sau đấy ông có thể thanh tra ngay ngân hàng kia, rồi bắt kịp chuyến tàu lúc 11 giờ 45, chuyến duy nhất trong ngày cho chặng đường về. Nếu không, ông phải qua đêm và ngày Chủ nhật trong cái thị trấn miền Tây không có gì là vui thú này. Vì thế mà ông Nettlewick đang vội vã.


Trong âm giọng trầm, kết hợp tiếng lè nhè của miền Nam với giọng mũi đầy âm điệu miền Tây, Thiếu tá Kingman nói:
-Xin mời ông theo tôi. Chúng ta cùng xem qua các sổ sách đó. Không ai trong ngân hàng này rành về mấy giấy tờ này như tôi. Một vài tài khoản có phần chập choạng, một vài thứ thiếu tổ chức mà không có chứng từ, nhưng họ đều thanh toán đủ khi tới hạn.
Hai người ngồi xuống bên bàn làm việc của chủ tịch. Trước nhất, nhà thanh tra xem qua như chớp các chứng từ, cộng các con số, thấy ăn khớp với các khoản vay ghi trong sổ cân đối hàng ngày. Nhà thanh tra có vẻ như lùng sục đây đó giống một con chó săn đang chạy tìm lối mòn. Cuối cùng, ông gạt qua một bên đống tài liệu trừ một ít giấy tờ mà ông xếp thành một chồng thẳng thớm trước mặt, và bắt đầu bài diễn từ khô khan, trịnh trọng:
-Thưa ông, tôi thấy rằng tình trạng tài chính của ngân hàng ông là rất tốt, xét qua vụ mùa thất bát và cơn suy thoái của ngành nuôi bò trong bang ông. Việc ghi chép sổ sách dường như được thực hiện một cách chính xác và đúng thời biểu. Khoản nợ của ông chỉ ở mức khiêm tốn, và có khả năng chỉ tạo một mức thâm hụt nhỏ. Tôi muốn đề xuất ông thu về những khoản cho vay lớn, và chỉ cho vay với hạn kỳ sáu mươi hoặc chín mươi ngày cho đến khi tình hình được hồi phục. Và bây giờ, có một việc nữa, rồi tôi sẽ chấm dứt việc thanh tra ngân hàng ông. Đây là 6 hồ sơ cho vay gộp lại lên đến khoảng 40.000 đô la. Các khoản vay này được thế chấp, theo mệnh giá, bởi một số công trái, phiếu nợ, cổ phiếu, vân vân, với trị giá 70.000 đô la. Những hồ sơ này không có chứng từ thế chấp đi kèm. Tôi đoán ông lưu những chứng từ ấy trong két sắt hoặc hầm lưu trữ. Xin ông cho phép tôi được xem qua.


Đôi mắt xanh nhạt của Thiếu tá Tom quay nhìn viên thanh tra không chớp. Ông trả lời với giọng nhỏ nhẹ nhưng rõ rang:
-Thưa ông, trong két sắt hoặc hầm lưu trữ không có các chứng từ này. Tôi đã lấy đi tất cả. Ông có thể quy trách nhiệm cho chính cá nhân tôi về việc này.
Nettlewick cảm thấy kích động một chút. Ông đã không nghĩ sẽ có việc này. Ông đã tìm ra một lối về thênh thang khi chuyến đi săn đang gần hồi kết thúc. Ông thốt lên: “À!”, ngưng một chút, rồi tiếp tục:
-Xin ông giải thích tường tận hơn được không?
Ông thiếu tá lặp lại:
-Tôi đã lấy đi tất cả chứng từ thế chấp. Không phải cho tôi sử dụng riêng, nhưng để giúp một người bạn cũ trong cơn nguy hiểm. Xin ông hãy đến đây, rồi chúng ta sẽ trao đổi thêm.
Ông dẫn nhà thanh tra đi vào căn phòng riêng ở phía sau, và đóng cánh cửa lại. Có một bàn làm việc, một bàn nhỏ, và nửa tá ghế bọc da. Trên tường là đầu một con bò đực với cắp sừng dài. Bên đối diện treo thanh gươm kỵ binh cũ mà ông mang ở Shiloh và đồn Pillow.
Kéo một chiếc ghế cho Nettlewick, thiếu tá ngồi bên cánh cửa sổ, nơi ông có thể thấy nhà bưu điện của ngân hàng Stockmen’ s National. Ông không nói ngay, và Nettlewick cảm thấy cần có lời cảnh báo chính thức để phá tan bầy im lặng.
Nettlewick bắt đầu:
-Ông nên biết rằng, lời tuyên bố của ông, vì ông đã không cải chính gì, biểu hiện một vấn đề hệ trọng. Và ông hẳn cũng hiểu rằng nhiệm vụ của tôi bắt buộc tôi phải làm gì. Tôi sẽ trình diện Cao ủy Hợp Chủng Quốc và…
Thiếu tá Tom khoát tay:
-Tôi biết, tôi biết. Ông không nên nghĩ tôi làm chủ một ngân hàng mà lại không biết gì về những bộ luật và tu chính án của Nhà nước về nghiệp vụ ngân hàng! Ông cứ làm nhiệm vụ của ông. Tôi không xin ân huệ gì cả. Nhưng, tôi đã nhắc đến một người bạn của tôi. Tôi rất muốn ông nghe tôi kể về Bob.


Nettlewick ngồi thoải mái trong chiếc ghế của ông. Sẽ không có chuyện ông rời San Rosario ngày hôm nay. Ông sẽ đánh điện cho Chánh Thanh tra Tiền tệ, ông sẽ tuyên thệ trên tờ trát do Cao ủy Hợp Chủng Quốc ký để bắt giữ Tom Kingman, có lẽ ông sẽ được lệnh đóng cửa ngân hàng vì lý do làm thất lạc thế chấp. Đây không phải là cái tội đầu tiên nhà thanh tra tìm ra. Một đôi lần việc thanh tra của ông đã gây ra những cảm xúc khuấy động kinh khủng khiến bầu không khí yên tĩnh của văn phòng ông bị nổi sóng. Ông đã từng nhìn những chủ ngân hàng quỳ xuống mà van xin như phụ nữ để có một cơ hội – khoảng thời gian một giờ đồng hồ - để bỏ qua một lỗi lầm duy nhất. Ông đã mục kích một người thủ quỹ tự bắn vào mình ở bàn làm việc ngay trước mặt ông. Không ai trong bọn họ có thái độ điềm tĩnh và tự trọng như ông già miền Tây cứng cỏi này. Nettlewick nghĩ ít nhất nên lắng nghe nếu ông ta muốn nói. Với khuỷu tay chống lên thành ghế, nhà thanh tra ngân hàng chờ đợi nghe lời tự thú của ông chủ tịch First National Bank of San Rosario.


Thiếu tá Tom bắt đầu, với giọng có phần kể cả:
-Khi một người là bạn hữu của ông trong bốn mươi năm, và đã kinh qua đất, lửa, nước và bão tố, khi ông có thể cho anh ấy một ít ân huệ, ông sẽ muốn cho.
(Nhà thanh tra thầm nghĩ: “Biển thủ cho hắn 70.000 đô trị giá thế chấp”)
Ông thiếu tá tiếp tục, nói chậm rãi và rõ ràng, và cũng trầm ngâm, như thể mọi ý nghĩ của ông là về quá khứ thay vì hiện tại khẩn trương.


***

Chúng tôi là dân chăn bò với nhau, Bob và tôi, và chúng tôi cùng di khai thác vàng và bạc ở Arizona, New Mexico và phần lớn California. Cả hai chúng tôi đều trải qua cuộc chiến năm 611, nhưng dưới quyền chỉ huy khác nhau. Chúng tôi cùng chiến đấu bên nhau chống lại bọn da đỏ và bọn ăn trộm ngựa, chúng tôi cùng chịu đói khát trong nhiều tuần ở một căn chòi trên vùng núi Arizona lúc ấy ngập dưới lớp tuyết dày nhiều thước, chúng tôi cùng chăn dắt gia súc với nhau khi gió thổi mạnh đến nỗi sét không đánh xuống được. Thế đấy, Bob và tôi đã cùng trải qua thời kỳ gian khổ kể từ khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tại lán trại của ông già Anchor-Bar. Và trong thời gian này, chúng tôi thấy hơn cả cần thiết nên giúp đỡ nhau thoát ra khỏi cảnh khốn khó. Trong thời kỳ đó, người ta cần gắn bó với bạn hữu của mình mà không đòi hỏi đáp trả gì cả. Có lẽ ngày kế đến, ông sẽ cần hắn để tự vực mình lên và giúp chống chọi một đám da đỏ Apaches, hoặc buộc ga-rô phía trên vết cắn của một con rắn chuông và phi ngựa đi mua whisky. Vì thế, nghĩ cho cùng, đó là có qua có lại, và nếu ông không hết lòng với bạn hữu của mình, ông sẽ cảm thấy xấu hổ khi cần đến anh ấy. Nhưng Bob là một người sẵn lòng làm quá sức minh. Anh không bao giờ dừng ở giới hạn.


Hai mươi năm trước, tôi là cảnh sát trưởng vùng này, và tôi cử Bob làm phụ tá cho tôi. Đó là trước khi phong trào chăn nuôi bò rộ lên mà chúng tôi tham gia vào. Tôi là cảnh sát trưởng và nhân viên thu thuế. Tôi đã kết hôn, vợ chồng tôi có một trai một gái – lên bốn và sáu tuổi. Chúng tôi có một ngôi nhà tiện nghi gần tòa án, nội thất do chính quyền hạt trang bị, không phải trả tiền thuê, và tôi đang tiết kiệm được tiền. Bob làm hầu hết công việc hành chính. Cả hai chúng tôi đã qua những lúc gay cấn, đầy những chuyên án trộm đạo và nguy hiểm, và kể cho ông biết, kể cũng tuyệt vời trong những đêm được nghe mưa gió đập vào cửa kính, cảm thấy ấm cúng, an toàn và tiện nghi, và biết rằng mình có thể thức dậy buổi sáng, được cạo râu, có người gọi mình bằng “ông”. Thế là, tôi có người vợ và những đứa con tuyệt vời, và anh bạn thâm giao của tôi cùng tôi vui hưởng những thành quả đầu đời và áo sơ mi trắng, và tôi nghĩ tôi đang có hạnh phúc. Đúng vậy, trong thời gian này tôi được hạnh phúc.
***
Ông thiếu tá thở dài, bất chợt nhìn ra cửa sổ. Nhà thanh tra ngân hàng thay đổi thế ngồi, và kê cằm của ông ta lên bàn tay kia. Ông thiếu tá tiếp tục.

***

Một mùa đông, tiền thu thuế của hạt chuyển về quá nhanh đến nỗi trong cả tuần tôi không có thời gian để mang tiền thuế nộp cho ngân hàng. Tôi chỉ dồn các ngân phiếu vào một cái hộp xì-gà và tiền mặt vào một cái bao, rồi cho vào một két sắt của văn phòng cảnh sát trưởng.
Tôi làm việc quá sức trong tuần lễ đó, và gần như bị ngã bệnh. Thần kinh tôi bị căng thẳng, và giấc ngủ của tôi thường không giúp cho tôi khỏe hơn. Ông bác sĩ định bệnh theo một tên khoa học nào đó, và tôi phải dùng thuốc. Và vì thế, thêm vào những việc khác, tôi đi ngủ mà đầu óc còn nghĩ đến số tiền đó. Không phải có lý do để lo lắng, vì cái két sắt thuộc loại tốt, và chỉ có tôi và Bob biết con số kết hợp của ổ khóa. Vào buổi sáng thứ Bảy, tôi đến cơ quan như thường lệ. Cái két sắt còn được khóa, và số tiền đã biến mất. Tôi gọi Bob, và kêu mọi người đến tòa án để thông báo việc mất trộm. Tôi chợt nhận thấy Bob có vẻ khá điềm tĩnh, dù việc này liên quan đến cả hắn và tôi.


Hai ngày trôi qua mà chúng tôi không có manh mối gì. Đây không thể là vụ trộm, vì cái két sắt đã được mở theo đúng con số kết hợp. Thiên hạ hẳn đã bắt đầu bàn tansm vì có một buổi tối, Alice – vợ tôi – chạy vào cùng đứa con trai và con gái, dậm chân, quắc mắt lên và kêu gào “Mấy đứa độc ác vu cáo, Tom…Tom” rồi ngất xỉu, tôi lay tỉnh cô, dần dà cô hồi tỉnh, và cô gục đầu xuống, khóc và khóc lần đầu tiên kể từ khi cô tiếp nhận cái tên và vật chất Tom Kingman. Rồi Jack và Zilla – hai đứa nhỏ - tụi nó luôn luôn như là hai con cọp con chạy đến Bob và leo trèo lên cả người anh ta mỗi khi được phép đi đến tòa án. Tụi nó đứng lấy chân đá giày của tụi nó, và rúc lại với nhau như gà gô bị khiếp đảm. Lần đầu tiên tụi nó bị xô xuống bóng tối của cuộc đời. Bob đang ngồi làm việc ở bàn giấy, rồi anh đứng dậy và đi ra ngoài mà không nói một lời. Lúc ấy bồi thẩm đoàn đang trong thời gian hội họp, và sáng hôm sau Bob đến trình diện họ, tự thú là anh đã trộm số tiền. Anh bảo là anh đã nướng nó ở sòng bài phé. Trong vòng 15 phút, họ đã ký trát và phái tôi đi bắt người mà tôi đã thân thiết hơn là ngàn anh em ruột thịt trong cả ngàn năm.
Tôi thi hành trát bắt, rồi tôi nói với Bob, chỉ trỏ:
-Đây là nhà tôi, đây là văn phòng tôi, trên kia là Maine, xa nữa là California, và phía kia là Florida – và đó là tầm di chuyển của anh cho đến khi toàn án họp xét xử. Anh ở dưới quyền tôi tạm giữ, và tôi nhận trách nhiệm. Anh cứ ở đây khi anh muốn.
Anh có vẻ lơ đãng:
-Cảm ơn Tom. Tôi đã có ý nghĩ hy vọng anh sẽ không giam tôi lại. Tòa án sẽ họp ngày thứ Hai, nên nếu anh không nề hà, tôi sẽ thơ thẩn quanh văn phòng cho đến ngày đó. Tôi muốn xin anh một ân huệ, nếu không phải là quá đáng. Nếu thỉnh thoảng anh cho hai đứa nhỏ ra sân vườn chơi đùa thì tôi sẽ rất vui.
Tôi trả lời:
-Sao lại không được? Tôi sẵn lòng cho phép tụi nó, kể cả anh nữa. Và cứ đến nhà tôi, như từ bấy lâu nay.
Ông Nettlewick, ông thấy đó, ông không thể có bạn hữu là kẻ trộm đạo, nhưng ông cũng không thể biến một người bạn thân thành một tội nhân, cả hai việc trong một lúc.

***

Nhà thanh tra không trả lời. Lúc ấy, tiếng còi tàu rú lên khi đầu máy chạy vào ga. Đấy là con tàu chạy trên khổ đường hẹp dẫn vào San Rosario từ hướng Nam. Ông thiếu tá dỏng tai lắng nghe một khoản khắc, và nhìn vào mặt đồng hồ của ông. Con tàu trên khổ đường hẹp đã đến đúng giờ - 10 giờ 35. Ông thiếu tá tiếp tục.

***

Thế là Bob nương náu trong văn phòng, đọc báo và hụt thuốc. Tôi cử một anh phụ tá khác thế chỗ anh, và sau một thời gian, sự kích động ban đầu của vụ việc đã dần hạ xuống.
Một ngày, khi chỉ có hai chúng tôi trong văn phòng, Bob tiến đến chỗ tôi đang ngồi. Anh có vẻ nghiêm nghị và buồn buồn – cùng một vẻ khi anh thức cả đêm trông chừng bọn da đỏ hoặc lùa gia súc.
Anh nói:
-Tom, còn khó hơn cả việc xua đuổi dân da đỏ, khó hơn cả việc nằm trên sa mạc đá núi lửa cách nguồn nước bốn mươi dặm, nhưng tôi sẽ cố trụ đến cùng. Anh đã biết đó là cung cách của tôi. Nhưng nếu anh chỉ cần ra hiệu cho tôi một cái: “bob, tôi hiểu”, thì tôi sẽ cảm thấy dễ chịu nhiều.
Tôi lấy làm ngạc nhiên:
-Bob à, tôi không hiểu anh muốn nói gì. Dĩ nhiên, anh biết là tôi sẽ làm bất cứ việc gì có thể làm được dưới ánh mặt trời này để giúp anh. Nhưng anh khiến tôi phải thắc mắc.
Bob chỉ trả lời:
-Được rồi, Tom.
Và anh trở lại với tờ báo anh đang đọc và hút một điếu xì-gà khác.


Vào cái đêm trước ngày tòa án nghị sự, tôi hiểu ra anh muốn nói gì. Tôi đi ngủ với cùng cảm giác đó trở lại, đầu nhẹ tênh, bồn chồn. Tôi thiếp đi vào khoảng nửa đêm, Khi tôi bừng tỉnh, quần áo xốc xếch, trong một hành lang của tòa án. Bob đang nắm lấy một cánh tay tôi, bác sĩ gia đình của tôi nắm lấy tay bên kia, và Alice đang lay người tôi, khóc rấm rứt. Cô đã đi gọi bác sĩ nhà tôi tới mà tôi không biết, và khi ông tới họ thấy chiếc giường trống không và tôi đã đi đâu mất, nên bắt đầu đi tìm.
Ông bác sĩ nói:
-Mộng du.
Tất cả chúng tôi quay trở về căn nhà, và ông bác sĩ kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện ly kỳ về những việc lạ lùng người bệnh đã làm trong tình trạng như thế. Tôi cảm thấy lạnh sau chuyến đi ra ngoài, nên khi vợ tôi đi ra khỏi phòng được một lúc, tôi mở cánh cửa tủ quần áo trong phòng và lôi ra một tấm dạ. Theo sau là cái túi tiền, tang vật của vụ trộm mà theo đó Bob sẽ bị xét xử và kết án vào buổi sáng hôm sau.
Tôi thét lên và mọi người hiện diện đều thấy tôi ngạc nhiên quá đỗi:
-Làm thế nào mà mấy con rắn chuông mang được nó vào đấy?
Bob biết ngay. Anh nói, với vẻ mặt cố hữu:
-Tôi thấy anh mang nó vào đây. Tôi đã nhìn anh mở cái két sắt và lấy nó ra, rồi tôi lén theo dõi anh. Tôi nhìn qua cửa sổ và thấy anh giấu nó trong cái tủ quần áo.
-Vậy thì, cái thằng chó sói bị trùm mền, cắt tai, đầu ngu như cừu, tại sao anh lại nhận tội?
Bob trả lời đơn giản:
-Bởi vì tôi không biết lúc ấy anh đang mê ngủ.
Tôi thấy anh liếc nhìn qua cửa phòng của Jack và Zilla, và lúc đó tôi hiểu ra giá trị của bạn hữu theo cách nhìn của Bob.

***

Thiếu tá Tom ngừng nói, và lại ngoài nhìn qua cửa sổ. Ông trông thấy một nhân viên nào đấy của Ngân hàng Stockmen’s National tiến đến và kéo tấm màn màu vàng xuống cả chiều dài khung cửa sổ lớn, mặc dù với vị trí của mặt trời việc này không cần thiết.
Nettlewick ngồi thẳng dậy. Ông đã lắng nghe một cách kiên nhẫn câu chuyện của ông thiếu tá, nhưng không chú ý lắm. Ông nghĩ dân miền Tây này có tình cảm quá cường điệu. Họ không có vẻ gì là dân làm ăn chính hiệu. Họ cần được bảo vệ chống lại ảnh hưởng xấu của bạn hữu. Hiển nhiên là ông thiếu tá đã đi đến kết cục của câu chuyện. Và những điều ông kể chẳng đi đến đâu cả.
Nhà thanh tra nói:
-Tôi xin hỏi, ông có gì thêm để đề cập trực tiếp đến vấn đề những thế chấp trừu tượng ấy không?
Thiếu tá Tom thình lình quay lại, đôi mắt xanh của ông lóe sáng đến nhà thanh tra:
-Những thế chấp trừu tượng hở ông? Thưa ông, ông có ý gì?
Ông móc từ trong túi áo choàng một xấp giấy gấp lại, được cột bằng một sợi dây cao su, ném vào tay của Nettlewick, và đứng dậy:
-Ông sẽ thấy đây là những thế chấp, thưa ông, mọi công trái, phiếu nợ, cổ phiếu. Tôi đã lục ra từ những hồ sơ trong khi ông đang đếm tiền mặt. Ông hãy tự mình xem xét và so sánh.


Ông thiếu tá dẫn đường trở lại vào phòng ngân hàng. Nhà thanh tra đi theo sau, kinh ngạc và hoang mang, tức tối. Ông cảm thấy ông đã bị biến thành nạn nhân của cái trò gì đấy không hẳn là chơi khăm, nhưng đã đặt ông vào hoàn cảnh của người bị đùa cợt, bị khai thác, rồi bị vứt bỏ, mà ông không hề biết cái trò này là như thế nào. Cũng có lẽ vị thế quan cách của ông đã bị tung hứng một cách bất kính. Nhưng ông không có gì làm bằng chứng. Viết một báo cáo chính thức về vụ việc sẽ là chuyện lố bịch. Và, qua cách nào đấy, ông có cảm tưởng ông sẽ không bao giờ được biết thêm về vụ việc hơn là những gì ông được biết bây giờ.
Lạnh lùng và máy móc, Nettlewick kiểm tra các văn tự thế chấp, thấy phù hợp với giấy tờ, cấm lấy chiếc túi đen, và đứng lên để từ giã.


Ông hướng tia nhìn khinh khỉnh qua đôi tròng kính đến thiếu tá Kingman:
-Tôi có thể nói rằng những lời tuyên bố của ông – những lời tuyên bố sai lạc của ông mà ông đã không hạ mình giải thích – xem ra không đi vào vấn đề, dù là việc làm ăn hoặc là chuyện đùa cợt. Tôi không hiểu nổi những động lực hoặc hành động như thế.
Thiếu tá Tom nhìn qua ông nghiêm trọng và không phải là thiếu thiện cảm.
-Anh con trai à, có rất nhiều chuyện trong vùng đồng nội, trên đồng cỏ, trên những vực núi, mà anh không thể hiểu được. Nhưng tôi muốn cám ơn anh đã lắng nghe câu chuyện chán ngắt của một ông già lắm lời. Dân già Texas tụi tôi khoái kể lể mấy cuộc phiêu lưu và các bạn hữu, và người nhà của tụi tôi đã từ lâu biết cách bỏ chạy khi tụi tôi bắt đầu với câu “Ngày xửa ngày xưa”, nên tụi tôi đành phải tóm lấy người lạ đi đến gần cổng nhà mình.


Ông thiếu tá mỉm cười, nhưng nhà thanh tra chỉ lạnh nhạt cúi đầu, và nhanh chóng đi ra khỏi tòa nhà ngân hàng. Họ nhìn thấy ông đi chéo qua phố theo một đường thẳng và bước vào ngân hàng Stockmen’s National.

Thiếu tá Tom ngồi xuống bàn làm việc của ông, và từ trong túi áo vét rút ra lá thư Roy đã trao cho ông. Ông đã đọc qua một lần, nhưng trong hấp tấp, và bây giờ, với vẻ gì đấy như lấp lánh trong đôi mắt, ông đọc lại lần nữa:

Tom thân mến,
Tôi nghe có một con chó săn của chú Sam tìm đến bạn, như vậy có nghĩa là ta sẽ bắt giữ hắn trong ít giờ, có thể vậy. Bây giờ, tôi muốn nhờ bạn giúp vài việc cho tôi. Bọn này chỉ có 2.200 đô trong nhà băng, và luật quy định phải có 20.000. Chiều hôm qua tôi đưa Ross và Fisher 18.000 để mua đám bò Gibson đó. Không đầy 30 ngày, họ sẽ thu được 40.000, nhưng như vậy sẽ không làm số tiền mặt đẹp hơn dưới mắt tên thanh tra. Bây giờ, tôi không thể trình cho hắn mấy tờ giấy cầm cố đó, vì chỉ toàn là giấy lộn mà không có bất cứ bóng dáng cầm cố nào, nhưng bạn biết rõ là Pink Ross và Jim Fisher là hai đứa da trắng ngon lành nhứt mà Thượng đế đã tạo ra, và tụi nó sẽ chơi đàng hoàng. Bạn còn nhớ Jim Fisher – hắn là người đã bắn tên chia bài ở El Paso đó. Tôi đã điện cho ngân hàng của Sam Bradshaw xin gửi cho tôi 20.000, và số tiền sẽ đến trên chuyến tàu lúc 10:35. Bạn không thể để tên thanh tra đến được 2.200 và đóng cửa bạn. Tom, bạn phải giữ hắn lại. Giữ hắn. Giữ hắn nếu cần phải trói hắn lại và ngồi trên đầu hắn. Trông chừng cái cửa sổ sau khi tàu đã đến, và khi bọn tôi nhận được tiền, bọn tôi sẽ kéo tấm màn cửa xuống để báo hiệu. Đừng cho hắn thoát trước. Tôi tin cậy nơi bạn, Tom ạ.
Bạn già – Bob Buckly. Chủ tịch Stockmen’s National.

Ông thiếu tá bắt đầu xé bức thư làm nhiều mảnh vụn và ném vào cái sọt rác. Ông cười khúc khích một cách hài lòng.
Ông lẩm bẩm, mãn nguyện:
-Cái thằng già chăn bò lộn xộn liều lĩnh! Vậy là đã trả ơn cho bạn phần nào đối với cái việc bạn đã làm cho mình trong văn phòng cảnh sát trưởng hai mươi năm trước.
 
Chú thích
1.    Cuộc nội chiến Nam-Bắc của Mý, bắt đầu năm 1861.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-12 14:14:51banhsukem>
O.Henry
 
Cú sốc trưởng giả (The shocks of dooms)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Vẫn có tầng lớp quý tộc trong số các khu công viên và những người vô gia cư vô nghề nghiệp sử dụng các công viên này làm nơi ăn chốn ở riêng tư. Vallance chỉ cảm nhận như thế chứ không biết rõ, nhưng khi anh bước ra ngoài khỏi thế giới của anh đi xuống dòng đời bát nháo, hai chân anh đưa anh thẳng đến quảng trường Madison.


Non nớt và khắc khổ như con gái học trò – đấy là nói đến học trò lớp cao – ngọn gió đầu tháng Năm đang thổi một cách dè xẻn qua cây cối đang đâm chồi nảy lộc. Vallance cài lại cúc áo choàng, đốt điếu xì-gà cuối cùng của anh, ngồi xuống một băng ghế. Trong vòng ba phút, anh cảm thấy có phần tiếc rẻ. Rồi thì anh lần mò tất cả túi trong túi ngoài mà không tìm ra một xu teng nào cả. Anh đã trả lại căn phòng mà anh đang thuê. Các món nội thất bị dùng để xiết một vài món nợ nào đấy. Quần áo của anh, ngoại trừ bộ mà anh đang mặc, đã bị anh giúp việc tịch thu để trừ vào tiền lương chưa trả. Khi anh ngồi như thế, cả thành phố không hề có một chiếc giường cho anh đặt mình xuống ngủ, hoặc một con tôm hùm luộc hoặc một khoản tiền taxi hoặc là một đóa hoa cẩm chướng để cài lên ve áo, trừ phi anh ăn chực bạn bè của anh hoặc là có trò giả vờ dối trá nào đấy. Thế là anh phải chọn giải pháp công viên.


Tất cả những việc này là do một ông chú đã từ chối quyền thừa kế của anh, giảm chu cấp tiền túi của anh từ mức độ rộng rãi xuống con số không. Và tất cả đấy là do dứa cháu trai của ông đã cãi lời ông về việc liên quan đến một cô gái. Cô này không đi vào câu chuyện kể ở đây – vì thế, vị độc giả nào đang hăm hở trông chờ thì được cảnh báo là không nên đọc tiếp. Có một người cháu khác, thuộc một nhánh khác trong gia tộc, người đã có thời được xem như có triển vọng kế thừa, được xem như là sáng giá và được sủng ái. Rồi thì, vì không thấy có hy vọng gì, anh ta đã biến mất từ lâu. Giờ người ta đang săn lùng anh ta, để phục hồi và đưa anh vào cương vị cũ. Thế là Vallance cảm thấy mình vĩ đại như ma vương ở vực thẳm sâu nhất, cuối cùng rồi gia nhập đám quỷ rách rưới tả tơi trong khu công viên nhỏ.


Ngồi ở đấy, anh dựa ngửa ra sau, cười ra một luồng khói thuốc bay lên những nhánh cây la đà. Việc anh bị thình lình cắt đứt mọi sợi dây của đời sống đã mang lại cho anh sự phấn chấn không tốn kém, hồi hộp, gần như sảng khoái. Anh thấy đúng như là cảm giác của người lái khinh khí cầu khi cắt rời cái dây và để cho quả cầu bay đi.


Đã gần đến mười giờ. Không còn mấy người nán lại ở các băng ghế. Những người ngụ cư ở công viên, dù đã chiến đấu can trường với khí trời se lạnh mùa thu, lại quá chậm chạp chống lại tiền đạo lạnh lẽo mùa đông.

Rồi có một người ngồi gần vòi phun nước đứng dậy, đi đến ngồi kế bên Vallance. Anh ta không trẻ và cũng không già, những phòng cho thuê đã ướp anh mùi ẩm mốc, dao cạo và lược đã bỏ rơi anh, trong anh rượu đã được vô chai và đóng nút. Anh xin một que diêm, đấy là nghi thức của những người ngồi trong công viên giới thiệu về mình, rồi anh bắt đầu chuyện trò.

Anh bảo Vallance:
-Anh không phải là người thường xuyên ở đây. Khi tôi nhìn quần áo đặt may là tôi biết ngay. Anh chỉ ghé qua đây trên đường đi qua công viên. Anh không phiền hà cho tôi trò chuyện với anh một chút chứ? Tôi cần có ai đấy. Tôi sợ, tôi sợ lắm. Tôi đã nói như thế với hai, ba kẻ vô công rồi nghề đằng kia. Họ bảo tôi điên. Này, để tôi nói anh nghe, cả ngày hôm nay tôi chỉ ăn có một ít mẩu bánh và một quả táo. Sáng ngày mai, tôi sẽ được kế thừa ba triệu, và cái nhà hàng anh nhìn thấy đàng kia sẽ trở nên quá nghèo hèn không đáng cho tôi bước vào. Có lẽ anh không tin tôi phải không?

Vallance cười:
-Không hề gì cả. Hôm qua tôi ăn trưa ở đấy. Tối nay tôi không thể mua nổi một cốc cà phê đáng giá 5 cent.
-Anh trông không giống bọn tôi ở công viên này. À, tôi đoán sự đời là như thế. Chính tôi đã từng có thời phong lưu – đấy là năm năm về trước. ĐIều gì đã khiến anh đến nông nỗi này?
-Tôi…à, tôi bị mất việc.
-Địa ngục trần gian, cái thành phố này! Một ngày anh ăn uống ở bên Tàu, ngày kế anh ăn uống với đồ sứ Tàu – mấy món đồ sứ nứt nẻ. Tôi đã qua mọi cảnh khốn cùng. Trong năm năm qua, tôi chỉ khá hơn bọn hành khất một chút. Tôi được nuôi lớn lên trong cảnh xa hoa, không cần làm gì cả. Này anh…tôi không nề hà gì mà không kể cho anh nghe…tôi cần thổ lộ cho ai đấy, anh thấy chứ, vì tôi, tôi sợ lắm. Tên tôi là Ide. Chắc anh không ngờ ông già Paulding, một trong mấy triệu phú ngụ tại Riverside Drive, là ông chú của tôi, phải không? Ông đúng là chú tôi đấy. Có thời gian tôi ở với ông ấy, lúc ấy tôi muốn có bao nhiêu tiền cũng được. À này, anh có đủ tiền trả ít rượu không anh…à, tên anh là gì?
-Dawson. Không, rất tiếc phải nói là tôi đã cạn túi.
-Cả tuần nay tôi sống trong một tầng hầm chứa than ở phố Divison, với một tên lừa đảo tên Morris, biệt danh “Blinky”. Tôi không biết đi đâu khác. Hôm nay khi tôi đi ra ngoài, một ông cầm mấy thứ giấy tờ gì đấy đến tìm tôi. Tôi cứ nghĩ đấy là cớm, nên đến tối tôi mới dám mò về. Ông ấy để lại một bức thư cho tôi. Đấy là từ một luật sư nổi tiếng ở trung tâm thành phố tên là Mead. Tôi đã thấy biển hiệu văn phòng ông ở phố Ann. Paulding muốn tôi lại là đứa cháu hoang tàn của ông – muốn tôi trở về để lại làm người thừa kế của ông và đốt tiền của ông. Tôi sẽ đến văn phòng luật sư lúc mười giờ sáng ngày mai để trở về với cương vị của tôi – người kế thừa ba triệu, anh Dawson ạ, với 10.000 tiền túi mỗi năm. Và…tôi sợ, tôi sợ lắm.

Anh vô gia cư nhảy đổng lên, đưa hai tay run rẩy ôm lấy đầu. Anh ôm lấy đầu và rên rỉ cuồng loạn.

Vallance nắm lấy cánh tay anh ta, kéo anh ngồi xuống băng ghế. Anh ra lệnh với vẻ gì đấy như là khinh miệt:
-Anh im đi. Người ta có thể ngỡ là anh đã đánh mất một gia tài, thay vì được thừa hưởng một gia tài. Anh sợ gì thế?

Ide co rúm lại và run lẩy bẩy trên băng ghế. Anh níu lấy tay áo Vallance, và ngay cả trong ánh sáng lờ mờ của Broadway, anh chàng bị truất quyền thừa kế vẫn thấy trên long mày của người kia những giọt mồ hôi lóng lánh do nỗi kinh hãi lạ lùng nào đấy đã chắt ra.
-Tại sao à? Tôi sợ sẽ có chuyện gì đấy xảy ra cho tôi trước giờ sáng mai. Tôi không rõ là chuyện gì đấy ngăn cản tôi nhận số tiền thừa kế. Tôi sợ một cây to sẽ đổ xuống người tôi…tôi sợ một chiếc ô tô sẽ cán lên người tôi, hoặc là một tảng đá từ trên một tòa nhà rơi xuống đầu tôi, hoặc là sự cố gì đấy. Trước đây tôi chưa từng sợ như thế này bao giờ. Cả trăm buổi tối tôi đã từng ngồi trong công viên vững như thạch bàn mà không rõ bữa điểm tâm kế tiếp sẽ từ đâu đến. Nhưng bây giờ lại khác hẳn. Tôi yêu tiền, anh Dawson ạ, tôi cảm thấy hạnh phúc tuyệt trần khi tiền chảy qua giữa mấy ngón tay tôi, thiên hạ đang cúi gập người trước mặt tôi, với âm nhạc và hoa và quần áo sang trọng đầy rẫy chung quanh. Nếu tôi biết tôi không có gì cả, tôi không màng. Tôi cảm thấy hạnh phúc ngay cả khi ngồi đây với áo quần rách rưới và dạ dày lép kẹp, nghe tiếng nước róc rách từ cái vòi phun nước và ngắm nhìn mấy chiếc xe ngựa sang trọng chạy trên đại lộ. Nhưng bây giờ tiền của lại ở trong tay tôi – gần như thế - và tôi không thể chịu được thời gian chờ đợi trong mười hai giờ đồng hồ, anh Dawson ạ, tôi không thể chịu được. Có cả năm mươi chuyện có thể xảy đến với tôi...tôi có thể trở thành đui mù…tôi có thể lên cơn đau tim…ngày tận thế xảy ra trước khi tôi có thể…

Ide đứng bật dậy, hét lên một tiếng inh ỏi. Thiên hạ ngồi quanh đấy xao động, bắt đầu nhìn anh. Vallance nắm lấy cánh tay anh, dỗ dành:
-Anh đi dạo một vòng, cố trấn tĩnh lại. Không có gì phải phấn khích hoặc sợ hãi. Sẽ không có gì xảy đến với anh cả. Đêm nay cũng giống như mọi đêm khác.
-Được rồi. Anh Dawson, anh ở đây với tôi – anh là người bạn tốt của tôi. Anh đi dạo với tôi một chút. Trước đây tôi chưa bao giờ hoảng loạn như thế này, mà đấy là tôi đã từng chịu nhiều cú kinh hoàng. Anh bạn già, anh có thể xoay sở được ít thứ gì để ăn không? Tôi nghĩ rằng thần kinh tôi quá yếu nên không thể làm hành khất được.

Vallance dẫn người đồng hành của anh lên gần đến Đại lộ Số Năm, rồi đi về hướng Tây dọc theo các đường Ba Mươi về phía Broadway. Anh bảo: “Chờ tôi ở đây trong vài phút”, rồi để Ide đứng chờ trong bóng tối ở một nơi yên tĩnh.

Anh bảo người đứng ở quầy:
-Jimmy, có một tên khốn khổ đang đứng bên ngoài, bảo là hắn đói, mà có vẻ đúng thế. Bạn biết họ sẽ làm gì nếu bạn cho tiền họ. Làm cho anh ta một ít bánh mì dồn thịt, rồi tôi đảm bảo hắn sẽ phải ăn.
-Được, ông Vallance. Chắc họ không giả vờ đâu. Không thích thấy ai bị đói kém.

Anh gói phần thức ăn hào phóng vào một tấm giấy lau miệng. Vallance mang ra cho người đồng hành của anh. Ide ăn ngấu nghiến. Anh ta nói:
-Cả năm nay tôi chưa có bữa ăn nào ngon đến thế này. Dawson, anh không ăn một tí à?
-Cảm ơn, tôi không đói.
-Chúng ta sẽ trở về công viên Square. Ở đấy mấy tên cớm sẽ không phiền nhiễu ta. Tôi sẽ để dành phần bánh và thịt nguội này cho bữa ăn sáng. Tôi không ăn nữa, tôi sợ tôi sẽ bị bệnh. Giả sử đếm nay tôi bị vọp bẻ hoặc chuyện gì đấy, rồi sẽ chẳng bao giờ được sờ đến món tiền ấy nữa. Còn đến mười một giờ đồng hồ mới đến lúc gặp ông luật sư ấy. Dawson, anh sẽ không bỏ tôi mà đi chứ? Tôi sợ có gì đấy xảy ra. Anh không phải đi đâu hết, phải không?
-Không, tôi không đi đâu cả đêm nay. Tôi sẽ bên anh ở băng ghế công viên.
-Anh có vẻ điềm tĩnh quá, nếu đúng như anh nói với tôi. Tôi nghĩ một người vừa bị mất một việc làm trả lương khá thì phải vò đầu bứt tóc.

Vallance cười:
-Tôi đã kể cho anh nghe rồi. Tôi vẫn nghĩ là một người đang chờ đón một gia tài ngày hôm sau đáng lẽ phải cảm thấy thoải mái và trầm lặng.

Ide triết lý:
-Dù sao cách con người đón nhận sự việc kể cũng kỳ khôi. Băng ghế của anh ở đây, Dawson, sát bên cái băng của tôi. Ở đây anh không bị ánh sáng chiếu vào mắt. Này, Dawson, khi tôi về nhà, tôi sẽ xin ông già viết thư giới thiệu anh với ai đấy để nhận anh vào làm. Tối nay anh đã giúp tôi rất nhiều. Tôi không nghĩ tôi sẽ qua khỏi đêm nay nếu không có anh.
-Cảm ơn. Ở đây anh ngủ ngồi hay là nằm?

Trong nhiều giờ, Vallance nhìn xuyên qua các cành lá, hầy như không nháy mắt, trông lên các vì sao, lắng nghe tiếng vó ngựa gõ sắc lẻm trên mặt biển tráng nhựa về phía nam. Đầu óc anh vẫn linh hoạt nhưng mọi cảm giác của anh đã im lìm. Mọi cảm xúc dường như đã bị xóa tan. Anh cảm thấy không hối tiếc, không sợ hãi, không đau đớn hoặc khó chịu. Ngay cả khi anh nghĩ về cô gái, đấy như thể là một cư dân ngụ trên một trong những vì sao xa tắp anh đang ngắm nhìn. Anh nhớ đến những trò hề phi lý của người bạn đồng hành và cười nhẹ, tuy thế vẫn có ý cợt đùa. Chẳng bao lâu sau, đội quân những xe goòng giao sữa hàng ngày đã biến cả thành phố thành một mặt trống mà theo đấy họ đều nhịp bước. Vallance thiếp ngủ trên băng ghế công viên không có chút tiện nghi nào.

Vào mười giờ sáng hôm sau, cả hai đứng trước cánh cửa văn phòng Luật sư Mead trên phố Ann.
Khi sắp đến giờ hẹn, thần kinh của Ide chưa bao giờ bị giao động đến thế, và Vallance không đành bỏ mặc anh ta làm mồi cho những mối nguy hiểm mà anh ta kinh sợ.

Khi cả hai bước vào văn phòng, Luật sư Mead ngỡ ngàng nhìn họ. Ông và Vallance là bạn cũ. Sau câu chào hỏi, ông quay sang Ide, lúc ấy mặt đang tái nhợt, chân run lẩy bẩy trước cơn khủng hoảng sắp xảy ra. Ông nói:
-Anh Ide, tôi qua tôi đã gửi lá thư đến địa chỉ của anh. Sáng nay tôi nghe nói là anh không có mặt ở đấy để tiếp nhận lá thư. Đấy là để báo tin cho anh rõ rằng ông Paulding đã xét lại ý định của ông về việc cho anh hưởng quyền thừa kế. Ông ấy đã quyết định không làm như thế, và muốn anh hiểu rằng sẽ không có sự thay đổi nào trong mối liên hệ giữa ông ấy và anh.

Ide thình lình không còn run rẩy nữa. Gương mặt anh trở lại hồng hào, anh đứng thẳng người lên. Cằm anh vươn ra phía trước một tí, mắt anh rạng sáng lên. Một tay anh chỉnh lại chiếc mũ đã nhầu nát, tay kia vươn ra về phía ông luật sư. Anh thở một hơi dài, rồi cười phá lên một cách nhạo bang. Anh nói lớn, rõ ràng:
-Bảo ông già Paulding là ông có thể chơi với quỷ sứ.
Rồi anh quay người đi ra khỏi văn phòng với bước chân vững chãi và nhanh nhẹn.

Luật sư Mead mỉm cười. Ông từ tốn:
-Tôi rất vui anh đã đến đây. Ông chú của anh muốn anh trở về nhà lập tức. Ông ấy nhìn nhận là ông đã có quyết định quá hấp tấp, và muốn nói là mọi việc sẽ như là…

Luật sư ngưng bặt, và lớn tiếng kêu người thư ký:
-Adams! Mang cho một cốc nước. Ông Vallance đã bất tỉnh.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-03 21:46:37Thanh Vân>
O.Henry

Mật bánh cay đắng (The Pimienta pancakes)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem

Đã mang vào thư viện rồi
 

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvnvn0n0n31n343tq83a3q3m3237nvn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-03 21:47:33Thanh Vân>
O.Henry
 
Thợ cắt tóc phiêu lưu (Barber shop adventure)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem

 
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvnvn0nvn31n343tq83a3q3m3237nvn
0
[sm=welcome.gif] Banhsukem đến với gia đình VNthuquan

Thành thật cảm ơn BSK đã góp sức cho thư viện

Chúc Banhsukem một năm mới Kỷ Sửu vạn sự như ý, hạnh phúc và an lành

Chúc banhsukem luôn vuì mỗi khi online

Thân ái




📎 xuân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-14 08:16:19banhsukem>
 
O.Henry

Khách ở sa mạc lên (The buyer from Cactus city)

Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 


Quả thật hai chứng dị ứng và sổ mũi không thể hiện diện một cách khỏe khoắn ở Cactus city – “Thành phố của những cây xương rồng” – của bang Texas, vì lẽ không ai khịt mũi với những món hàng thời trang của trung tâm bách hóa “Navarro & Platt” ở đây.


Hai mươi nghìn dân tại Cactus city sẵn sàng vung tiền ra mua thứ họ thích. Phần lớn số tiền này đổ vào Navarro & Platt. Tòa nhà gạch vĩ đại của nó đủ rộng để trồng cỏ nuôi vài chục đàn cừu. Bạn có thể mua ở đây cà vạt da rắn chuông, ô tô,hoặc áo choàng giá tám mươi lăm đô la, kiểu mới nhất, màu da phụ nữ với hai mươi sắc đậm nhạt khác nhau. Navarro & Platt là dân chăn nuôi với đầu óc kinh doanh. Họ thấy rằng thế giới không nhất thiết phải ngừng quay sau khi không còn cỏ miễn phí để nuôi gia súc.


Vào mỗi mùa xuân, người hùn vốn chính, năm mươi lăm tuổi, pha nửa máu Tây Ban Nha, có năng lực, thanh lịch, “đi lên” New York để mua hàng. Nhưng năm nay, ông ngại đi xa. Hiển nhiên là ông đã già thêm, và mỗi sáng ông cứ nhìn đồng hồ nhiều lần mong đến giờ nghỉ trưa. Nên ông bảo người hùn vốn phụ:
-Tim, năm nay anh phải đi mua hàng.
Tim Platt có vẻ mệt mỏi. Anh trả lời:
-Tôi nghe nói New York là thành phố chán ngắt, nhưng tôi sẽ đi. Giữa đường tôi có thể lượn qua San Antonio vài ngày để đi chơi.


Hai tuần sau, một thanh niên trong bộ veston Texas – áo vét đen, mũ trắng mềm rộng vành – bước vào trung tâm bán sỉ quần áo “Zizzbaum & Son” ở cuối phố Broadway. Ông già Zizzbaum có con mắt của ó biển, trí nhớ của voi, và đầu óc có thể trải ra trong ông qua ba động tác như là cây thước gấp của thợ mộc. Ông lượn ra cánh cửa như một con gấu Bắc cực lông nâu và bắt tay Platt.
-Ông bạn hiền Navarro của tôi lúc này ra sao? Năm nay chuyến đi đối với ông là quá nặng nhọc, phải không? Cửa hàng chúng tôi hân hạnh được đón anh Platt thay cho ông ấy.
-Trúng hồng tâm, và tôi sẽ tặng một thửa đất khô hạn ở Hạt Pecos để biết ông làm thế nào được như thế này.
Zizzbaum cười:
-Tôi biết cách làm ăn, cũng như tôi biết là lượng mưa ở El Paso năm nay tăng gần gấp đôi, nên vì thế hãng Navarro & Platt sẽ mua 15.000 đô veston, thay vì 10.000 đô trong năm hạn hán. Nhưng đấy là việc của ngày mai. Trước tiên, trong phòng làm việc riêng của tôi có xì-gà để tống khứ mùi của loại thuốc anh mang lậu trong miệng qua sông Rio Grande.

Trời đã về chiều, công việc làm ăn trong ngày đã ngưng. Zizzbaum để Platt ngồi một mình thưởng thức điếu xì-gà, đi ra ngoài tìm con trai ông, lúc này chuẩn bị ra về, đang nắn nót lại kim thắt khăn choàng trước một tấm gương.
-Abey, con đưa anh Platt đi một vòng tối nay. Họ là khách hàng của mình từ mười năm rồi. Ông Navarro và cha chơi cờ vua với nhau trong giờ rảnh rỗi khi ông ấy lên đây. Như thế là tốt, nhưng anh Platt còn trẻ và đây là lần đầu tiên anh lên New York. Anh ấy sẽ dễ vui thú với thành phố hơn.
-Được rồi. Con sẽ đưa anh ấy đi. Sau khi con đưa anh qua khu Flatiron rồi đến khách sạn Astor và nghe nhạc thì là quá mười giờ, lúc ấy cái anh người Texas đã sẵn sàng lên giường ngủ. Phần con thì có hẹn đi ăn tối lúc 11 giờ.

Mười giờ sáng hôm sau, Platt đi vào cửa hàng để bàn việc làm ăn. Anh ta gắn cả chùm lục bình lên ve áo. Ông Zizzbaum đích thân tiếp anh. Hãng Navarro & Platt là khách sộp của ông, và luôn luôn dùng khoản giảm giá để mua thêm hàng.
Ông Zizzbaum hỏi, với nụ cười ngây thơ của dân Manhattan:
-Anh nghĩ thế nào về thành phố nhỏ của chúng tôi?
-Tôi không khoái sống trong thành phố này. Anh ấy và tôi đi một vòng đến khá khuya tối hôm qua. Ông có nước uống tốt hơn, nhưng ở Cactus city đèn đóm sáng sủa hơn.
-Anh Platt, anh không nghĩ chúng tôi có ít ánh sáng trên phố Broadway hay sao?
-Cũng tốt như trong mấy bóng tối. Tôi nghĩ tôi mê nhứt mấy con ngựa của ông. Từ khi tôi lên đây, tôi chưa thấy con nào ra hồn.
Zizzbaum dẫn anh lên tầng trên để xem các bộ mẫu veston. Ông gọi một thư ký: “Bảo cô Asher đến đây.”

Cô Asher đến, và Platt cảm thấy lần đầu tiên ánh sáng chói ngời của ái tình và vinh quang chiếu xuống anh. Anh đứng sững như là vách đá cẩm thạch vùng vực núi Colorado, đôi mắt mở to chăm chăm nhìn cô. Cô cảm nhận tia nhìn của anh, và má cô ửng hồng một chút, trái với thói quen của cô.

Cô Asher là người mẫu sáng giá của Zizzbaum & Son. Cô có mái tóc bạch kim và khổ người được xem là “vừa tầm”, và các số đo của cô còn đẹp hơn cả tiêu chuẩn đòi hỏi. Cô làm người mẫu cho Zizzbaum đã được hai năm, và biết rành công việc của cô. Mắt cô sáng nhưng vô cảm, và nếu cô có muốn thi gan cùng cặp mắt của một con khủng long thì hẳn con quái vật sẽ nao núng và mềm nhũn ra. Nhân tiện kể luôn là cô hiểu quá rõ về khách hàng.

Zizzbaum nói:
-Bây giờ, anh Platt, tôi muốn cho anh xem các mẫu áo ma-xi công nương trong các màu nhạt. Đấy sẽ là thời trang cho khí hậu của anh. Đây là mẫu đầu tiên. Cô Asher, xin mời cô.

Cô người mẫu sáng giá nhanh nhẹn lượn ra lượn vào phòng thay áo, mỗi lần mặc một kiểu áo mới, càng thêm mê hồn với mỗi thay đổi. Cô trình diễn với vẻ tự tin tuyệt đối trước anh khách hàng đã bị hớp hồn, đớ lưỡi, trong khi miệng ông Zizzbaum thuyết giảng trơn tru như bôi mỡ về các mẫu thời trang. Trên gương mặt cô người mẫu là một nụ cười chuyên nghiệp uể oải, vô hồn, có vẻ để che giấu điều gì đấy như là nỗi chán ngán hoặc khinh thường.

Khi màn trình diễn kết thúc, Platt có vẻ do dự. Ông Zizzbaum có phần lo âu, nghĩ rằng anh khách hàng từ sa mạc lên có thể đi xem thử nơi khác. Nhưng thật ra Platt chỉ xem qua trong đầu anh những lô đất tốt nhất ở Cactus city để xây nhà, cố chọn lô thích hợp nhất để xây lên nơi đấy căn nhà cho cô vợ tương lai của anh – lúc này ở trong phòng thay áo, đang thay ra chiếc áo ma-xi bằng vải tuyn màu xanh tím.

Zizzbaum nói:
-Anh cứ thư thả. Tối nay anh suy nghĩ đi. Anh sẽ thấy không ai khác cho giá phải chăng như chúng tôi với các món hàng như thế này. Tôi e anh thấy buồn chán ở đây, anh Platt ạ. Một thanh niên trẻ như anh, dĩ nhiên là anh còn trẻ, anh thiếu giao du với nữ giới. Anh có muốn đi ăn tối với một phụ nữ đàng hoàng không? Cô Asher là một phụ nữ rất đàng hoàng, cô sẽ làm anh vui.
-Sao cơ? Cô ấy chưa quen tôi. Cô chưa biết tí gì về tôi. Liệu cô có đồng ý không? Tôi chưa quen cô.
Zizzbaum lặp lại, với đôi lông mày vểnh ngược:
-Liệu cô có đồng ý không à? Chắc chắn cô sẽ đồng ý. Tôi sẽ giới thiệu anh. Chắc chắn cô sẽ đồng ý.
Ông ầm ĩ kêu cô Asher.
Cô đến, trầm tĩnh và có chút khinh thường, trong áo sơ mi trắng và juýp màu đen trơn.
Zizzbaum vừa nói vừa quay đi:
-Anh Platt muốn có hân hạnh mời cô đi ăn tối nay.
Cô Asher trả lời, mắt nhìn lên trần nhà:
-Được ạ. Em rất vui lòng. Số nhà 911, Đường số 12 Tây. Mấy giờ?
-Bảy giờ có được không?
-Được, nhưng anh đừng đến sớm quá. Em ở trọ với một cô giáo, và cô không muốn đàn ông nào vào phòng. Không có phòng tiếp khách, nên anh sẽ phải chờ ở hành lang. Em sẽ sẵn sàng.

Lúc bảy giờ rưỡi, anh Platt và cô Asher ngồi trong một hiệu ăn phố Broadway. Cô ăn mặc màu đen trơn. Platt không biết rằng bữa ăn này cũng là một phần công việc trong ngày của cô.
Qua đề nghị khéo léo của anh bồi bàn, Platt gọi một số món khá sang, trừ mấy món ăn chơi của Broadway.
Cô Asher nở một nụ cười lóng lánh:
-Em có thể gọi thức uống gì đấy được không?
-Được, tùy ý em.
Cô gọi Martini séc.
Khi ly rượu được mang ra đặt trước mặt cô, Platt đưa tay thu lấy.
-Thức uống gì vậy?
-Một loại cốc-tai.
-Anh nghe “tini” mà tưởng em gọi thứ “trà” gì đó. Đây là rượu. Em không nên uống. Tên em là gì?
Cô Asher lạnh nhạt:
-Với bạn bè thân thiết, tên là Helen.
Platt nghiêng người đến gần cô hơn:
-Em nghe anh này, Helen. Mỗi năm khi hoa xuân nở trên các đồng cỏ, anh thường nghĩ đến một người nào đó mà anh chưa từng gặp hoặc nghe nói tới. Khi anh mới gặp em phút đầu tiên, anh biết người đó chính là em. Anh sẽ trở về ngày mai, và em đi với anh. Anh biết như vậy, vì anh đã thấy rõ trong mắt em khi em mới nhìn anh. Em không cần lồng lộn, mà nên thuần thục1. Đây là chút tiểu xảo anh lựa cho em trước khi anh tới đón em.

Anh đặt một chiếc nhẫn kim cương hai cara lên mặt bàn. Cô Asher dùng nĩa hất nó lại bên anh. Cô gay gắt:
-Anh không nên sỗ sàng.
-Anh có cả trăm ngàn đô la. Anh sẽ xây cho em một căn nhà đẹp nhứt vùng Texas.
-Này anh Khách Hàng, đừng tưởng anh có thể mua được em. Dù anh có cả trăm triệu, em không nghĩ em sẽ khinh khi anh. Ban đầu anh không có vẻ gì giống như những người khác, nhưng giờ em thấy tất cả đều như nhau.
-Tất cả ai?
-Tất cả khách hàng các anh. Anh nghĩ rằng bọn con gái chúng em phải đi ăn với anh nếu không sẽ mất việc nên anh có quyền muốn nói gì thì nói. Này, quên chuyện ấy đi. Em đã nghĩ anh khác những kẻ kia, nhưng em đã nhầm.

Platt gõ các ngón tay trên mặt bàn với niềm thỏa mãn bất chợt, ngời sáng. Anh bật lên, gần như là sảng khoái:
-Anh thấy rồi! Cuộc đất Nicholson, ở phía bắc. Có một khu rừng sồi và một hồ nước thiên nhiên. Có thể phá căn nhà cũ đi để cất căn nhà mới ẩn vô bên trong.
-Dẹp chuyện mộng mơ của anh đi. Xin lỗi đã đánh thức anh, nhưng từ rày đàn ông các anh nên thông minh hơn mà hiểu rõ mình đang đứng ở đâu. Em có nhiệm vụ đi ăn với anh và làm anh vui để anh chấp nhận làm ăn với ông già Zizzy, nhưng đừng mong em sẽ đi theo anh trong mấy bộ quần áo anh mua.
-Có phải ý em muốn nói là em đi ăn như thế này với khách hàng, và tất cả bọn họ…họ đều nói với em y như anh đã nói à?
-Họ đều đóng kịch. Nhưng em phải nhìn nhận là anh khá hơn họ một điều. Họ nói chuyện kim cương, còn anh thật sự đưa kim cương ra nhử.
-Em đi làm được bao lâu rồi hả Helen?
-Em đã tự lập được tám năm nay. Lúc đầu em giữ chân thu ngân, rồi gói hàng, rồi bán hàng cho đến tuổi thành niên, rồi được làm người mẫu. Này anh Người Texas, anh có nghĩ là một tí rượu vang sẽ làm bữa ăn này đỡ khô khan không?
-Từ giờ em không nên uống rượu vang nữa, em yêu ơi. Nghĩ mà thấy sợ cho…Ngày mai anh sẽ đến cửa hàng để đón em. Anh muốn lựa cho em một chiếc xe hơi trước khi đi. Ở đây chỉ cần mua có vậy.
-Bỏ cái trò này đi. Em đã quá chán nghe những cách nói năng như thế.

Sau bữa ăn, họ bước dọc theo phố Broadway và đi đến khu công viên nhỏ Diana. Anh bị cây cối ở đây thu hút lập twcsscm và anh phải rẽ qua đường đi dạo dưới hàng cây. Ánh sáng soi trên hai giọt lệ long lanh trong đôi mắt cô người mẫu.
Platt nói:
-Anh không thích thế chút nào hết. Có chuyện gì vậy em?
-Anh không phải lo. À, đấy là vì…à, tôi không nghĩ anh là con người như thế khi tôi mới gặp anh lần đầu tiên. Nhưng các anh đều giống nhau. Bây giờ anh đưa tôi về, hay là tôi phải gọi cảnh sát?

Platt đưa cô về nhà trọ của cô. Họ đứng với nhau một phút ở tiền sảnh. Cô nhìn anh với vẻ trách móc khiên trái tim anh bắt đầu chao đảo. Cánh tay anh chỉ vừa vòng qua nửa eo cô thì cô đưa tay tát vào má anh một phát rát buốt.

Khi anh thối lui, một chiếc nhẫn rơi xuống, lăn lóc trên mặt sàn. Platt mò mẫm tìm, và nhặt được nó. Cô nói:
-Bây giờ, xin anh khách hàng mang chiếc nhẫn kim cương vô dụng đi về đi.
Anh chàng người Texas nói:
-Đây là chiếc nhẫn khác…Một nhẫn cưới.
Đôi mắt cô Asher long lanh nhìn anh trong tranh sáng tranh tối:
-Đấy là…anh định…
Có ai đấy mở cánh cửa từ bên trong tòa nhà.
Platt nói:
-Chào cô. Xin gặp lại cô ngày mai ở cửa hàng.

Cô Asher chạy lên phòng mình, lay người cô giáo đang ngủ trên giường cho đến khi cô này ngồi bật dậy, chuẩn bị hô “Cháy!”.
Cô giáo hốt hoảng hỏi:
-Ở đâu thế?
-Em cũng muốn biết. Emma, chị có học địa lý, chắc chị phải biết. Cái thành phố tên là Cac…Cac…Carac…Caracas, em nghĩ họ gọi như thế, nó ở đâu?
-Tại sao em dám dựng chị dậy chỉ để hỏi câu đấy? Caracas dĩ nhiên là ở Venezuela.
-Thành phố ấy ra sao?
-Sao hở? Nó có động đất với dân da đen với khỉ với sốt rét với núi lửa.
Cô Asher hớn hở:
-Em không màng. Ngày mai em sẽ đi đến đấy.


Chú thích
Platt nói theo cách nuôi ngựa
I dress to kill, and cook the same way.
0
[sm=7.gif]Rất cám ơn Ct.Ly[sm=----.gif]
 
Banhsukem cũng chúc Ct.Ly và tất cả thành viên của vnthuquan:
 
Cung chúc tân niên
Vạn sự bình yên
Vui vẻ triền miên
Tiền vào như điên[sm=14.gif]
Sung sướng như tiên[sm=13.gif]
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry
 
Đồng bệnh tương thân (Make the whole world kin)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Tên trộm bước nhanh qua khung cửa sổ, rồi dừng lại để lấy hơi. Trộm đạo nào khi đã biết kính trọng nghệ thuật của mình cũng đều dừng lại lấy hơi trước khi lấy món gì khác.
 
Căn nhà thuộc về một khu gia cư tư nhân. Qua khung cửa chính có dấu hiệu tiếp nhận thức ăn và giàn dây thường xuân Boston không được tỉa cắt, tên trộm biết là bà chủ nhà đang ngồi trong một quán pizza dựa bờ biển đâu đấy, kể lể với một ông hay thương cảm đội chiếc mũ đi biển là không có ai hiểu gì về một con tim đa cảm, cô đơn. Qua ánh sáng tỏa ra từ các khung cửa sổ trên tầng ba, và qua mùa đã muộn này trong năm, tên trộm biết là ông chủ nhà đã trở về, chẳng bao lâu nữa sẽ tắt các ngọn đèn và đi ngủ. Vì đây là tháng Chính của năm và của linh hồn, trong cái mùa mà một người đàn ông đàng hoàng của gia đinh biết xem các vườn cây cảnh trên nóc nhà và các cô tốc ký là những gì phù phiếm, biết mong mỏi người bạn đời của ông trở về, mong mỏi những ân sủng lâu dài hơn dưới dạng trang trí nội thất và những xuất sắc về đạo đức.
 
Tên trộm đốt một điếu thuốc. Ánh lửa được che chắn nhưng vẫn soi rọi một vài nét chính của hắn trong một khoảnh khắc. Hắn thuộc về hạng trộm đạo thứ ba.
 
Hạng thứ ba này chưa được công nhận. Cảnh sát chỉ giới thiệu cho ta biết về hạng trộm đạo thứ nhất và thứ hai. Sự phân loại của họ thì đơn giản. Cái cổ áo là dấu hiệu để phân biệt.
Khi một tên trộm bị bắt mà không mang cổ áo, hắn được xem là kẻ thoái hóa thuộc hạng thấp nhất, đặc biệt dữ tợn và suy đồi, bị nghi là tên tội phạm đã trộm chiếc còng của Cảnh sát Tuần tra Hennessy trong năm 1878 rồi bỏ trốn. Hạng được biết tiếng thứ hai là kẻ trộm đạo mang  cổ áo. Anh ta luôn luôn được nhắc đến như là trang công tử trong đời thật. Luôn luôn, anh ta là người phong nhã ban ngày, làm thiên hạ bị hớp hồn với bộ quần áo bảnh bao, nhưng khi đêm về lại làm nghề đạo chích. Bà mẹ anh ta là một người rất giàu, được trọng vọng ở Ocean Grove, và khi anh ta bị điệu vào xà lim anh ta yêu cầu ngay một cái dũa và tờ Tạp chí Cảnh sát. Anh luôn luôn có một cô vợ ở mỗi bang và những cô hôn thê trong mỗi lãnh địa1. Các nhật báo đăng tin tức đời sống gia đinh anh lấy từ kho bài báo về mấy cô nàng vốn đã được chữa khỏi bênh chỉ bằng một chai sau khi năm bác sĩ đã bó tay.
 
Tên trộm mặc một áo len dài tay màu lam. Anh ta không phải là một trang công tử mà cũng không phải là một trong mấy tay đầu bếp của Hell’s kitchen – Bếp của Địa ngục. Cảnh sát hẳn phải lúng túng nếu họ cố phân loại anh. Họ chưa từng nghe đến một tên trộm khả kính, không màu mè, mà cũng không ở trên hoặc dưới cái bót. Tên trộm thuộc hạng thứ ba bắt đầu lần mò. Hắn không mang mặt nạ, đèn đi đêm hoặc giày kếp. Hắn mang khẩu súng nòng .38 trong túi quần, trầm ngâm nhai kẹo cao su bạc hà.
 
Đồ trang bị nội thất của căn nhà đều được phủ vải che bụi mùa hè. Các món bằng bạc ở xa hơn, trong cái két sắt. Tên trộm không mong được “quả” khá. Hắn nhắm đến căn phòng thắp đèn mờ mờ, nơi ông chủ đang ngủ mê mệt sau sự an ủi bất kỳ nào đấy mà ông đã tìm để làm nhẹ gánh nặng cho nỗi cô đơn của ông. Hắn có thể “chôm” được món nào đó ở đấy để có được mức lời hợp pháp, khá chuyên môn – tiền bạc bỏ vương vãi, một cái đồng hồ, cây kim cài có đính đá quý. Hắn trông thấy cánh cửa sổ mở và đã đánh liều.
 
Tên trộm nhẹ nhàng mở cửa của căn phòng có đèn. Ga đốt đang được mở thấp. Một người đàn ông đang nằm ngủ trên giường. Trên chiếc đèn ban đêm là nhiều món bừa bãi – một nắm tiền nhàu nát, một cái đồng hồ, mấy chìa khóa, ba đồng chíp sòng bạc, mấy mẩu xì gà đã dụi tắt, một chiếc nơ tóc lụa màu hồng, và một chai thuốc Bromo Seltzer chưa mở nắp để dùng sáng hôm sau.
 
Tên trộm đi ba bước về phía chiếc đèn bàn đêm. Người đàn ông trên giường thình linh rên lên một tiếng the thé, mở mắt ra. Tay phải của ông luồn vào chiếc gối, nhưng giữ ở đấy. Tên trộm nói với ông, giọng như là đang đối thoại:
-Nằm im.
Mấy tên trộm đạo thuộc hạng này không rít giọng. Người công dân trên giường nhìn vào cái đầu tròn của nòng súng và nằm im. Tên trộm ra lệnh:
-Giơ hai tay lên.
Người công dân có một bộ râu nhỏ, nhọn, nâu-và-đen, như thể râu của một nha sĩ không đau. Ông có vẻ vững chãi, cao ngạo, khó chịu, khinh bỉ. Ông ngồi lên trên giường, giơ bàn tay phải lên khỏi đầu. Tên trộm ra lệnh tiếp:
-Giơ tay kia lên. Anh có thể là lưỡng cư2 và bắn được với tay trái. Anh có thể đếm đến hai, phải không? Nhanh lên, ngay lập tức.
Người công dân nhăn nhó:
-Không thể giơ tay kia lên được.
-Tại sao?
-Bị phong thấp ở vai.
-Có bị viêm không?
-Lúc trước. Giờ bớt viêm rồi.
 
Tên trộm đứng đấy trong một, hai khoảnh khắc, chĩa súng vào người bệnh. Hắn liếc mắt nhìn qua các món trên chiếc bàn đèn đêm và rồi, với một vẻ nửa bối rối, nhìn lại người đàn ông trên giường. Rồi hắn thình lình cũng nhăn nhó.
Người công dân sang giọng bực bội:
-Đừng đứng đấy mà làm mày làm mặt. Nếu anh vào đây để ăn trộm thì tại sao không làm đi? Có vài món đâu đấy trong này.
Tên trộm nhăn nhở:
-Xin lỗi ông, nhưng nó cũng vừa hành tôi. Cũng hay cho ông là phong thấp và tôi là bạn cũ. Tôi cũng bị nó, trên cánh tay trái. Đa số kẻ khác ngoại trừ tôi đã cho ông một phát rồi khi ông không chịu giơ lên móng vuốt tay trái của ông.
Người công dân hỏi:
-Anh bị bao lâu rồi?
-Bốn năm. Tôi đoán không phải chỉ có thế. Khi ta đã bị phong thấp là xem như phải mang nó cả đời – đấy là tôi phán xử thế.
Người công dân hỏi với vẻ chú tâm:
-Đã dùng thử mỡ rắn chuông chưa?
-Dùng cả chục lít. Nếu mọi con rắn tôi đã dùng được nối nhau kéo dài, chúng có thể dài đến sao Thổ, và tiếng chuông đuôi có thể vang đến Indiana rồi vọng về.
-Có người dùng thuốc viên của Chiselum.
-Vô dụng! Đã dùng năm tháng rồi. Không kết quả. Tôi thấy đỡ cái năm tôi dùng dầu Finkelham, thuốc cao Gilead và thuốc nghiền Pott. Nhưng tôi nghĩ dẻ ngựa là có công hiệu khá nhất.
-Anh bị đau nhất vào buổi sáng hay ban đêm?
-Ban đêm, khi tôi phải bận rộn nhất. Này, ông hạ cánh tay ấy xuống đi. Tôi nghĩ ông sẽ không…Này, ông anh đã dùng thử thuốc bổ máu Blikerstaff chưa?
-Chưa bao giờ. Chưa bao giờ. Chứng của anh đến từng cơn hay là đau liên tục?
-Nó đột xuất. Nó hạ tôi vào lúc tôi không ngờ. Tôi phải bỏ một việc làm trên tầng hai vì đôi lúc tôi bị kẹt khi lên giữa chừng. Nói ông  nghe…tôi không tin là mấy ông bác sĩ đang lên biết cách chữa chạy ra sao.
-Tôi cũng nghĩ thế. Đã chi cả nghìn đô mà vẫn không thấy khá hơn. Anh có bị sưng không?
-Vào buổi sáng. Và khi trời sắp mưa – mẹ kiếp!
-Tôi cũng thế. Tôi có thể đoán trước khi một màn hơi ẩm rộng bằng tấm khăn trải bàn bay từ Florida trên đường đến New York.
-Nó không thể loãng đi được – đồ địa ngục!
-Anh nói đúng lắm.
 
Tên trộm nhìn xuống khẩu súng của hắn, rồi nhét vào trong túi quần với cử động vụng về. Anh ta dè dặt:
-Này, ông già, đã từng thử thuốc xoa bóp phong thấp chưa?
Người công dân giận dữ:
-Cứ như là nước lã! Chỉ đáng dùng để phết lên bơ nhà hàng.
Tên trộm đồng ý:
-Đúng thế. Chỉ đáng dùng cho con bé Minnie khi bị mèo quào trên ngón tay. Nói cho ông nghe, chúng ta phải chống lại nó. Tôi chỉ thấy có một thứ làm bớt được. Cái gì hở. Đừng quên bạn giải sầu của lưu linh. Này ông…phi vụ này xem như bỏ…xin lỗi…thay quần áo rồi đi với tôi ra ngoài kiếm chút gì uống. Xin lỗi tôi đã tự tiện, nhưng…ối! Nó lại hành tôi nữa!
-Cả tuần nay tôi không thể mặc quần áo mà không có người giúp. Tôi e là Thomas đang ngủ, và…
-Trèo ra. Tôi sẽ giúp ông tròng vào.
 
Quy ước đã trở lại như ngọn sóng triều và tràn ngập người công dân. Ông vuốt bộ râu:
-Kể ra cũng là rất bất thường…
-Áo sơ mi của ông đây. Tôi nghe một người nói thuốc mỡ Omberry đã chữa cho anh ta trong vòng hai tuần khiến anh có thể dùng cả hai tay để thắt và vạt.
Khi đã ra khỏi ngưỡng cửa, người công dân quay người, định bước trở lại. Ông giải thích:
-Có lẽ tôi quên mang theo tiền. Để trên cái bàn đèn tối hôm qua.
Tên trộm níu tay áo ông lại, chất phác:
-Đi thôi. Tôi kêu ông đi mà. Để nó đấy. Tôi có thủ sẵn. Đã dùng thử quả phỉ và dầu lộc đề chưa?
 
 
Chú thích
1.Vùng đất chưa thuộc về bang nào, mà được cai trị trực tiếp bởi chính quyền liên bang.
2.”Lưỡng cư” chỉ loài vật như ếch, nhái, có thể sống trên cạn hay dưới nước. Ý tên trộm muốn nói người đàn ông có thể thuận cả hai tay.
 
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry
 
Chuyến phà nhỡ nhàng (The ferry of unfulfillment)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
 
Chàng từ Nome1 đứng ở góc phố, vững như cẩm thạch, giữa cơn sóng triều nhân loại trong giờ tan tầm. Gió và mặt trời miền Bắc cực đã nhuộm anh đỏ-hồng. Mắt anh vẫn còn giữ ánh xanh biếc của những băng sơn.
 
Anh lanh lẹn như một con chồn, rắn chắc như miếng thịt nai rừng, to rộng như là ánh quang Bắc cực. Anh đứng đấy, tắm đẫm trong dòng thác của những âm thanh đổ ập vào anh – tiếng then thét của tàu vượt, xe cộ kêu lanh canh, tiếng lộp cộp của những bánh xe không có cao su, mọi loại phản âm thanh của mấy anh đánh xe ngựa và tài xế xe tải đang liến thoắng. Và như thế, với bụi vàng anh đãi đổi ra được con số vui nhộn một trăm nghìn, với những chiếc bánh và nước rượu cất trong một tuần ở Gotham khiến lưỡi anh trở nên đắng chat, Chàng từ Nome thở dài để đặt chân lần nữa đến Chilkoot, lối thoát khỏi vùng đất của những con đường ồn ào và bánh táo nướng Biển Chết.
 
Trên Đại lộ Số Sáu, cùng với dòng người nhập nhoạng, vội vã, nói cười, mắt sáng, tiến đến Nàng từ Sieber-Mason’s. Chàng từ Nome nhìn và thấy, đầu tiên, là cô đẹp một cách tối cao theo quan niệm của anh về cái đẹp, và kế tiếp, là cô di chuyển đúng y như một chiếc xe trượt do chó kéo lướt đều trên mặt tuyết bằng phẳng. Cảm giác thứ bà của anh là một khẳng định bất chợt rằng anh thật khát khao muốn cô là của riêng anh. Những anh chàng đến từ Nome đều có quyết định chóng vánh như thế. Hơn nữa, anh đang trên đường đi trở lên miền Bắc, nên quyết định nhanh không phải là kém cần thiết.
 
Có cả nghìn cô gái từ trung tâm bách hóa vĩ đại của Sieber-Mason trôi dọc trên hè đường, khiến cho việc lèo lái của đàn ông trở nên nguy hiểm. Nhưng Chàng từ Nome, chung thủy với cô, với quả tim nhức nhối đã được cô hồi sinh, lao vào dòng người phái đẹp, đi theo cô. Xuống đến Đường Số Hai Mươi Ba, cô lướt nhanh nhẹn, không nhìn qua bên nào. Mái tóc nâu mềm của cô được buộc chỉnh tề, cái eo lịch sự và cái juýp đen thẳng thớm nói lên hùng hồn đôi đức tính – khiếu thẩm mĩ và tính chi li. Chàng từ Nome, bị tiếng sét ái tình, đi theo sau cô vài chục bước.
 
Cô Claribel Colby, Nàng từ Sieber-Mason’s, thuộc về nhóm hải hành buồn, được biết đến như là những người đi đi về về Jersey. Cô bước vào phòng đợi của bến phà, lên các bậc thang, và với ít bước chạy nhanh nhẩu, bắt kịp chuyến phà vừa bắt đầu rời bến. Chàng từ Nome bắt kịp cô trong ba bước nhảy, và cũng kịp sát theo sau cô xuống chiếc phà. Cô Colby tìm một băng ghế khá cô đơn phía ngoài buồng hành khách tầng trên. Đêm không lạnh, và cô muốn tránh xa khỏi những cặp mắt tò mò cùng những ngôn từ dai dẳng của các hành khách. Hơn nữa, cô rất mệt mỏi, sật sừ vì thiếu ngủ. Đêm trước, cô đã tham dự buổi dạ hội hàng năm của Câu lạc bộ Số 2 của Bạn hàng Cá bán sỉ Khu Đông, vì thế cô chỉ ngủ có ba giờ đồng hồ.
 
Công việc ngày hôm nay đã quá chộn rộn. Các khách hàng đã quá khó tính, một ông khách còn rầy rà cô đến nơi đến chốn vì cô không còn hàng để bán, cô bạn thân nhất, Mamie Tuthill, làm lơ cô vì đã đi ăn trưa với cô Dockery ấy.
 
Nàng từ Sieber-Mason’s có thái độ thanh thản, dịu dàng, đặc tính thường thấy ở một cô tự lập đi làm ăn lương. Đấy là đặc tính rất hợp với người con trai định tán tỉnh cô. Rồi cô có những nỗi khát khao được ổn định trong một mái ấm và một con tim nào đấy, để được an ủi, và để nép vào cánh tay khỏe mạnh nào đấy, rồi nghỉ ngơi, nghỉ ngơi. Nhưng cô Claribel Colby cũng đang buồn ngủ hết mức.
 
Đi đến là một anh chàng khỏe mạnh, da nâu, ăn mặc cẩu thả với bộ quần áo tốt nhất anh có thể mua được, và chiếc mũ trong tay. Chàng từ Nome nói, giọng kính trọng:
-Cô ạ, xin lỗi tôi đã bắt chuyện với cô, nhưng tôi…tôi…nhìn thấy cô trên đường, và…và…
Nàng từ Sieber-Mason’s ngước lên nhìn  với vẻ lạnh lùng nhất:
-À, ra thế! Không hiểu có cách nào xua đuổi những kẻ quấy rầy như anh không? Tôi đã thử đủ mọi cách, từ việc ăn hành sống và dùng kim cài tóc. Đi chỗ khác chơi đi anh Hai!
Chàng từ Nome phân trần:
-Cô ạ, tôi không phải hạng người như thế - thật đấy, tôi không phải. Như tôi đã nói, tôi đã thấy cô trên đường, và tôi vì quá mong mỏi được quen biết cô đã không đặng đừng đi theo cô. Tôi sợ tôi sẽ không bao giờ thấy cô nữa trong cái thành phố lớn này trừ khi tôi được tiếp chuyện với cô, vì thế tôi đã làm như vậy.
 
Cô Colby nhìn anh một thoáng trong ngọn đèn mờ của chiếc phà. Không, anh ta không có cái cười gian giảo hoặc vẻ khoe khoang trơ trẽn của một tên chuyên hại đời con gái. Có thể cũng hay hay để nghe chút ít anh chàng muốn nói năng gì.
Cô nói, đưa một bàn tay che cái miệng ngáp với vẻ lịch sự phô trương:
-Anh có thể ngồi xuống và -  coi chừng – đừng lộn xộn, nếu không tôi sẽ kêu tiếp viên.
 
Chàng từ Nome ngồi xuống bên cô. Anh ngưỡng mộ cô hết mức. Hơn cả ngưỡng mộ. Cô có đúng những cử chỉ anh đã tìm kiếm vô vọng ở một phụ nữ. Liệu rồi cô sẽ mến anh không? À, để xem việc này. Anh phải cố làm mọi cách trong khả năng của anh để đạt được mục đich, bằng cách nào đấy.
Anh nói:
-Tên tôi là Blayden – Henry Blayden.
Cô gái hỏi, nghiêng qua anh, với vẻ trêu chọc nhẹ nhàng:
-Có chắc anh không phải là Smith2 đấy chứ?
Anh tiếp, với giọng nghiêm trang lo lắng:
-Tôi xuống từ miền Nome. Tôi thu vón được rất nhiều bụi trên ấy, và mang xuống đây.
Cô khúc khích, theo đuổi cách diễu cợt hờ hững:
-À, ra thế! Anh hẳn là thành viên trong đoàn diễn vở nhạc kịch White Wings. Tôi nghĩ là tôi đã trông thấy anh ở đâu đấy.
-Cô đã không thấy tôi khi tôi nhìn thấy cô.
-Tôi chưa từng nhìn đàn ông con trai trên đường phố.
-Tôi nhìn cô, và trước đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì khác đẹp dù chỉ bằng phân nửa.
-Tôi có thể giữ tiền thối được không?
-Vâng, tôi nghĩ được. Tôi nghĩ cô có thể giữ tất cả những gì tôi có. Tôi nghĩ tôi là loại đàn ông cô cho là thô kệch, nhưng tôi có thể rất tốt với bất kỳ ai tôi mến. Tôi đã trải qua một thời lùm bụi khổ sở, nhưng tôi đã vượt qua. Tôi đã quét được mấy nghìn lượng bụi khi tôi ở trên ấy.
Cô Colby thốt lên, ngụ ý thương cảm:
-Trời đất! Đấy hẳn phải là nơi bẩn thỉu lắm.
 
Và rồi hai mắt cô nhắm lại. Tiếng nói của Chàng từ Nome đều đều trầm trầm trong sự nghiêm chỉnh cao độ. Hơn nữa, có chuyện nào đáng chán hơn là về mấy câu chổi và việc quét bụi? Cô ngả đầu tựa lên bức tường.
Chàng từ Nome nói tiếp, càng thêm nghiêm trang, đều đều:
-Cô ạ, tôi chưa bao giờ nhìn thấy ai mà tôi mến như cô. Tôi biết cô chưa thể nghĩ về tôi như thế ngay lúc này, nhưng cô có thể cho tôi một cơ hội được không? Xin cô cho tôi quen biết cô được không, để liệu xem tôi có thể làm cho cô mến tôi không?
Mái đầu Nàng từ Sieber-Mason’s trượt nhẹ nhàng, rồi tựa trên vai anh. Giấc ngủ ngọt ngào đã trùm lấy cô, và cô đang chộn rộn mơ đến buổi dạ hội Trợ lý Bạn hàng Cá bán sỉ.
Anh chàng lịch sự từ Nome vẫn giữ hai tay trên người anh. Anh tin là cô đã ngủ, tuy thế anh đã quá khôn ngoan nên không cho động tác này là sự đầu hàng. Anh cảm thấy hứng khởi và sướng thỏa, nhưng anh xem mái đầu tựa lên vai anh như là tiên khởi khuyến khích, như là dấu hiệu khởi đầu cho thành công của anh, không nên bị lợi dụng.
 
Một mảnh hợp kim lẫn lộn vào khiến niềm thỏa mãn vàng của anh bị giảm sút giá trị. Liệu anh đã nói quá nhiều về tài sản của mình không? Anh muốn cô mến anh chỉ vì anh mà thôi.
-Cô ạ, tôi muốn nói là cô có thể tin tôi. Cả một vùng Klondite từ Juneau đến Thành phố Circle và xuống dọc chiều dài sông Yukon, người ta đều biết tôi. Có nhiều đêm nằm trong tuyết nơi tôi đã làm việc như một nô lệ trong ba năm, tôi tự hỏi bao giờ có thể có người mến tôi. Tôi không muốn dành riêng cho tôi tất cả bụi này. Tôi đã nghĩ một lúc nào đấy tôi sẽ gặp một người mà tôi mến, và tôi đã gặp hôm nay. Có tiền thì thật là hay đấy, nhưng có được tình yêu của một người mình mến nhất thì càng tốt nữa. Cô ạ, nếu cô kết hôn với một người, cô muốn anh ấy có gì?
-Tiền mặt!
Tiếng nói sắc và vang phát ra từ đôi môi cô Colby, chứng tỏ là trong giấc mơ, cô đang đứng sau cái quầy trong trung tâm bách hóa vĩ đại của Sieber-Mason’s.
 
Mái đầu của cô thình lình gục ngang xuống. Cô tỉnh dậy, ngồi thẳng lên, dụi hai mắt. Anh chàng đến từ Nome đã bỏ đi.
Cô Colby nói:
-Ra thế! Mình nghĩ rằng mình đã ngủ gục. Không rõ cái anh White Wings này giờ ra sao!
 
Chú thích
1.Thành phố của Bang Alaska, nhìn ra eo Biển Berring (bên kia bờ là Nga), thời ấy có rất nhiều vàng dưới dạng “bụi” trong các thung lũng và đáy song, hiện đã được khai thác hết.
2. Smith là tên rất thông thường của người Anh, Mỹ. Ý cô gái nói anh không phải bịa ra tên thông thường để dấu tên thực.
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry
 
Lạc giữa đám diễu hành (Lost on dress parade)
 
DỊch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Towers Chandler đang là bộ đồ vía của anh. Một cái bàn là đang được nung nóng trên bếp ga, cái kia đang đẩy tới đẩy lui mạnh mẽ để tạo một đường nếp thích hợp mà người ta sẽ thấy sau này khi nó chạy dọc thẳng tắp từ đôi giày da được đăng ký mẫu mã của anh Chandler cho đến vạt chiếc áo gi-lê.
 
Sau khi đã ăn mặc vô cùng tề chỉnh và đúng mốt, anh bước xuống từ tòa nhà ngăn phòng cho thuê để khánh thành những niềm vui của đêm tối. Anh điềm đạm, tự tin, bô trai, nhưng cảm thấy chút nhàm chán – hình ảnh bề ngoài thường thấy của một hội viên trẻ ở các câu lạc bộ New York.
 
Tiền lương của Chandler là 18 đô la một tuần. Anh làm việc cho một văn phòng kiến trúc. ANh gần đến hai mươi tuổi, anh xem kiến trúc thật sự là một nghệ thuật. Mỗi tuần Chandler để dành ra một đô la. Cứ mỗi mười tuần, với một số vốn tích lũy như thế, anh mua một buổi tối phong lưu công tử. Anh đều nhịp trong đám diễu hành các xiêm y mũ mãng của những triệu phú và những chủ tịch, anh trà trộn vào cuộc sống chói lòa nhất và phô trương nhất, ở đấy anh ăn tối với mọi cách sành điệu và xa xỉ. Với mười đô la, trong vài giờ một người có thể xuất sắc thủ vai một đấng nhàn nhã giàu có. Số tiền thừa thãi cho một bữa ăn biết tính toán, một chai rượu mang một nhãn hiệu đáng được trọng vọng, món tiền boa hậu hĩ, một điếu xì gà, một cuốc xe, thêm những thứ vân vân thông thường.
 
Đối với Chandler, một buổi tối được trích ra từ bay mươi ngày buồn chán là một niềm hạnh phúc vô biên và được tái sinh. Đối với một cô nàng mới vào đời đấy chỉ là một kinh nghiệm đầu đơi, nằm đơn độc trong ký ức của cô khi tóc cô đã bạc, nhưng đối với Chandler mỗi mười tuần mang đến một niềm vui đều sôi nổi và sắc sảo như là lần đầu tiên. Ngồi giữa đám người trưởng giả dưới tán những cây cọ trong tiếng nhạc dập dìu, nhìn lên những mỹ nữ của một thiên đường như thế và được họ nhìn lại – làm thế nào bản khiêu vũ đầu đời và áo tuyn ngắn tay đầu tiên của một cô gái có thể sánh bằng?
 
Chandler đi ngược lên phố Broadway trong đám diễu hành, vì buổi tối hôm nay anh vừa là trình diễn viên vừa là quan sát viên. VÌ lẽ, trong sáu mươi chín tối sau, anh sẽ ăn trong bộ quần áo len thô và lụa rẻ tiền tại một cao lâu đáng ngờ nào đấy, tại quầy ăn trưa chóng vánh, và sandwich cùng bia trong phòng ngủ của anh. Anh sẵn sàng chấp nhận như thế, vì anh là đứa con đich thật của nổi đình – nổi đám, và một buổi tối trong ánh hào quang đối với anh là đủ để bù đắp cho những đêm đen.
 
Chandler thả bộ dài dài cho đến khi các con đường Bốn Mươi cắt ngang một con đường hoan lạc vĩ đại và lấp lánh, vì buổi tối hãy còn dài, và khi người ta là một trong những kẻ chịu chơi dù chỉ một trong bảy mươi tối, người ta muốn kéo dài vui thú của họ. Những cặp mắt long lanh, đe dọa, tò mò, than phục, khiêu khích, quyến rũ soi vào anh, vì bộ quần áo và dáng vẻ của anh biểu hiện môn đồ của những giờ khuây khỏa và vui thú. Đến một góc đường nào đấy anh dừng lại, tự hỏi có nên quay lại đi về phía một nhà hàng phô trương và kiểu cách nơi anh vẫn thường đến ăn vào những tối xa xỉ đặc biệt như tối nay. Chính vào lúc ấy, một người con gái tung tăng quanh góc đường, trượt trên một mảng tuyết đóng băng rồi ngã huỵch xuống hè phố.
 
Chandler đến đỡ cô gái dậy với cử chỉ tử tế nhanh nhảu và lo lắng. Cô gái khập khiễng bước đến chân tường một ngôi nhà, đứng dựa vào đấy, và tỏ lời cảm ơn anh một cách đoan trang. Cô bảo:
-Tôi nghĩ tôi bị trặc cổ chân. Nó bị vặn khi tôi ngã.
-Cô có đau lắm không?
-Chỉ đau khi tôi đứng thẳng lên. Tôi nghĩ trong ít phút tôi có thể đi được.
-Nếu tôi có thể giúp cô thêm, tôi sẽ kêu xe cho cô, hay là…
Cô gái cắt ngang, giọng nhỏ nhẹ nhưng cảm kích:
-Cám ơn anh. Tôi tin chắc là anh không phải bận tâm đến tôi. Thật tôi vụng quá. Và hai gót giầy của tôi quả là vô dụng. Không thể trách thứ ấy được.
 
Chandler nhìn cô gái, cảm thấy cô nhanh chóng thu hút sự chú ý của anh. Cô xinh xắn trong vẻ tao nhã, đôi môi cô vừa tươi tắn vừa hiền hậu. Không rõ vì sao cô lại mặc bộ quần áo màu đen đơn giản như thế, dường như là loại quần áo các cô bán hàng thường mặc. Mái tóc bóng mượt nâu thẫm, với những lọn quăn dưới một chiếc mũ rơm rẻ tiền, chỉ có thêm chiếc băng và nơ bằng nhung. Cô có thể làm người mẫu đóng vai một cô công nhân tự trọng ở mức cao nhất.
 
Một ý tưởng đến nhanh trong đầu của nhà kiến trúc sư trẻ. Anh có thể mời cô ăn tối với anh. Đây là một mảng còn thiếu sót trong thành thích định kỳ hào hoa nhưng cô độc của anh. Thời vụ ngắn ngủi của lối sống xa xỉ sang trọng sẽ được vui thú thêm bội phần nếu anh có thể thêm vào đấy một phụ nữ đàng hoàng. Cô gái là một phụ nữ đàng hoàng, anh chắc như thế - cử chỉ và ngôn ngữ của cô đã chứng tỏ điều này. Cho dù y phục của cô quá đỗi đơn giản, anh nghĩ anh sẽ thấy vui được ngồi chung bàn với cô. Những tư tưởng này lướt nhanh qua đầu anh, và anh quyết định mời cô. Dĩ nhiên làm như vậy là không đúng cách xử thế, nhưng các cô công nhân thường gạt qua một bên mọi nghi thức trong những trường hợp như thế này. Họ thường có óc phán đoán tinh ranh về đàn ông, nhưng cũng thực tế với những quy ước vô dụng. Nếu chi tiêu có chừng mực, mười đô la của anh đủ cho cả hai một bữa ăn sang trọng. Bữa ăn chắc chắn sẽ là một kinh nghiệm tuyệt vời tô điểm cho cuộc sống thường nhật vô vị của cô gái, và việc cô vui thích một cách sống động sẽ góp thêm vào chiến thắng và vui thú của anh.
Anh nói với cô băng vẻ nghiêm trọng chân thật:
-Tôi nghĩ chân cô cần được nghỉ dưỡng trong thời gian dài hơn là cô đoán. Bây giờ, tôi đề nghị một cách để cho nó được nghỉ dưỡng, cùng lúc cô có thể cho tôi một đặc ân. Tôi đang trên đường đi ăn tối một mình khi cô đến và ngã xuống ở góc phố. Cô đi với tôi, chúng ta sẽ có một bữa ăn ấm cúng và buổi trò chuyện thoải mái với nhau, rồi sau đấy cổ chân can trường của cô sẽ mang cô về nhà yên ổn, tôi tin chắc như thế.
Cô gái nhìn nhanh lên khuôn mặt sáng sủa dễ chịu của Chandler. Đôi mắt cô nhấp nháy một tia thật sáng, rồi cô vô tư mỉm cười. Cô nói, hồ nghi:
-Nhưng chúng ta chưa quen biết nhau – như thế là không ổn, phải không?
Người trai trẻ nói một cách chân thật:
-Không sao cả. Tôi sẽ tự giới thiệu – xin phép cô – tôi là Towers Chandler. Sau bữa ăn, mà tôi sẽ tìm mọi cách cho cô được dễ chịu, tôi sẽ từ giã cô, hoặc đưa cô về đến nhà an toàn, tùy ý cô muốn.
Cô gái liếc nhìn bộ y phục chỉnh tề của Chandler, nói:
-Nhưng trông tôi đây, với áo và mũ cũ kỹ thế này!
Chandler nói vui vẻ:
-Cô đừng bận tâm gì cả. Tôi tin là cô trông quyến rũ hơn bất kỳ ai ta sẽ thấy trong bộ quần áo ăn tối cầu kỳ nhất.
Cô gái thử một bước khập khiễng, thú nhận:
-Cổ chân tôi vẫn còn đau. Tôi nghĩ tôi sẽ nhận lời mời của anh, anh Chandler. Anh có thể gọi tôi là …cô Marian.
Chàng kiến trúc sư nói vui vẻ, nhưng hoàn toàn lễ độ:
-Thế thì ta đi, cô Marian. Cô không phải đi xa. Có một nhà hàng đứng đắn và ngon ở khu phố trước mặt. Cô có thể tựa vào tay tôi … để… và đi chậm thôi. Đi ăn một mình thì thật cô đơn. Tôi thấy hơi vui vì cô đã ngã trên băng.
 
Khi cả hai ngồi vào một chiếc bàn lịch sự, với một anh hầu bàn đầy hứa hẹn lượn qua lượn lại để phục vụ, Chandler bắt đầu cảm thấy niềm vui thú thật sự mà mỗi lần xuất hành luôn luôn mang đến cho anh. Nhà hàng không quá phô trương hay kiêu kỳ như nơi anh thường ăn dưới phố Broadway, nhưng cũng gần đến mức như thế. Các bàn ăn đều đầy những thực khách trông khá giả, có một ban nhạc khá, chơi loại nhạc êm để chuyện trò được dễ chịu, lại thêm thức ăn và dịch vụ không chê trách được. Ngay cả với chiếc mũ và áo rẻ tiền, cô bạn đồng hành vẫn giữ một phong thái khiến vẻ đẹp tự nhiên của khuôn mặt và dáng người cô càng thêm đặc sắc. Và chắc chắn là cô nhìn Chandler, với cử chỉ linh hoạt nhưng tự tin cộng thêm đôi mắt xanh tỏa sáng và chân thành, bằng nét gì đấy trên gương mặt của cô không khác xa lòng ngưỡng mộ là mấy.
 
Rồi Chandler bị bao ngông cuồng của cuộc sống phồn hoa đô hội, bao chói chang của ánh đèn đô thị, bao xa hoa phù vân phủ lấy anh. Anh đang ở giữa phố Broadway, bị những phô trương và kiểu cách vây bọc, và có những con mắt nhìn anh. Trên sân khấu hài kịch này, trong một buổi tối anh đã thủ vai trò của một kẻ nhàn nhã chỉ sống cho phương tiện và vui thú. Anh đã hóa trang cho vai trò này, và tất cả mọi thiên thần trong anh đều không đủ phép quyền ngăn cản anh diễn nó.
 
Thế là anh bắt đầu huyên thuyên với cô Marian về các câu lạc bộ, các tiệc trà, về các môn đánh gôn và cưỡi ngựa và các cũi chó và các buổi khiêu vũ và những chuyến du lịch nước ngoài, rồi anh còn bốc phét xa gần về một chiếc du thuyền đang thả neo ở Larchmont. Anh có thể thấy là cô đang mang đầy ấn tượng với những gì anh ba hoa, nên anh lại tăng thêm sự thuyết phục bằng những ám chỉ xa gần về gia tài sự sản, và còn nhắc đến tên tuổi vài dòng họ thế gia khiến thế giới vô sản tôn sung. Chandler chỉ có một buổi tối ngắn ngủi, nên anh cố sức khai thác để có một buổi tối đẹp đẽ nhất theo như ý anh. Tuy thế, một đôi lần anh nhìn thấy ánh vàng kim tỏa từ cô xuyên qua làn sương mù do tính tự phụ của anh bốc ra. Cô nói:
-Cuộc sống anh kể như thế có vẻ phù phiếm và không có mục đích. Anh có làm việc gì để giúp anh thêm hứng thú không?
-Cô Marian thân, công việc ư? Cô nên nghĩ đến việc lo chưng diện mỗi ngày để chuẩn bị đi ăn tối, lái xe rảo vòng dăm mười nơi vào buổi chiều, với một cảnh sát ở mỗi ngã tư đường sẵn sàng nhảy vào ô tô và điệu về bót nếu ta chạy nhanh hơn xe lừa kéo một chút. Những người vô công rồi nghề như tôi thật ra là có bao nhiêu việc phải lo.
Bữa ăn chấm dứt, anh hầu bàn được boa hậu hĩ, và cả hai đi đến góc phố nơi họ đã gặp nhau. Cô Marian bây giờ bước đi khá vững, chỉ hơi chập choạng một chút. Cô nói thành thật:
-Cám ơn anh. Tôi phải chạy về nhà. Bữa ăn ngon lắm, anh Chandler ạ.
Anh bắt tay cô, mỉm một nụ cười thân ái, rồi nói gì đấy về ván bài bridge tại câu lạc bộ của anh. Anh nhìn cô một lúc, rồi đi nhanh về hướng đông, rồi vẫy một chiếc xe để trở về căn phòng của anh.
 
Trong căn phòng lạnh lẽo, Chandler trải bộ đồ vía ra cho nó nghỉ ngơi trong sáu mươi chín ngày kế tiếp. Anh suy nghĩ về cô. Anh nói thầm với anh: “Cô là người con gái thật thu hút. Lại trông đàng hoàng nữa. Có lẽ nếu mình nói sự thật với cô thay vì các chuyện nổi đình – nổi đám, chúng ta có thể…nhưng mà như thế lại làm cho rối reng! Mình cần thủ cho hết vai trò theo cách hóa trang của mình.”
 
Đấy là kết luận của một con người can đảm, vốn được sinh trưởng và lớn lên trong những túp lều da thú của bộ lạc khu Manhattan.
 
Còn cô gái, sau khi đã giã từ người làm cô vui một buổi tối, đi nhanh chóng xuyên qua khu phố đến khi cô dừng lại trước một biệt thự lịch sự và yên tĩnh. Cô đi nhanh qua cổng, lên một căn phòng. Một cô gái lịch sự trong bộ quần áo mặc trong nhà rất hoa mỹ đang nhìn ra cửa sổ một cách lo lắng. Cô rầy rà khi thấy cô kia đi vào:
-À, cái con nhỏ liều mạng. Chừng nào em mới bỏ cái tật làm gia đình hốt hoảng như thế? Em đã đi ra khỏi nhà cả hai giờ đồng hồ mà mặc cái áo cũ và mang mũ của Marie như thế. Mẹ lo lắng hết sức. Bà sai Louis đánh xe đi tìm em. Em thật vô tâm quá!
Cô chị nhấn một nút chuông, và một người hầu đi vào.
-Marie, báo cho bà hay là Marian đã về.
-Chị đừng la rầy em. Em chỉ định đi đến hiệu may bà Theo để dặn bà ấy là dùng màu kem thay vì màu hồng. Em chỉ cần mặc áo cũ của em và đội mũ của Marie. Em chắc ai cũng nghĩ em là con bé đứng bán hàng.
-Bữa ăn đã xong rồi cưng ơi, em về muộn quá.
-Em biết. Em trượt trên hè đường và bị trặc cổ chân. Em không thể đi được, nên phải cà nhắc vào một hiệu ăn và ngồi đấy đến khi đỡ đau. Vì thế mà em đi lâu.
 
Hai cô gái ngồi bên cửa sổ, nhìn ra những ánh đèn và dòng xe cộ tấp nập ngoài đường. Cô em chuồi xuống để đặt đầu mình lên lòng chị. Cô mơ màng:
-Một ngày nào đấy, chúng ta sẽ lấy chồng – cả hai chị em. Chị em ta có nhiều tiền đến nỗi không ai phải thất vọng. Chị muốn em nói cho chị nghe về mẫu người em có thể yêu không&gt;
-Cứ nói đi, cái con nhỏ vô tâm!
-Em có thể yêu một người có đôi mắt xanh và dịu dàng, tử tế, biết trọng những người con gái nghèo, một người đẹp trai và hiền, không tìm cách tán tỉnh. Nhưng em chỉ yêu anh ấy nếu anh có ước vọng, sống có mục đích, có công việc gì đấy để làm. Em không cần biết anh ấy nghèo đến thế nào nếu em có thể giúp gầy dựng cho anh ấy. Nhưng mà, chị ơi, hạng đàn ông chúng ta luôn gặp – hạng người chỉ sống cuộc đời nhàn rỗi giữa xã hội phù hoa và các câu lạc bộ của họ - em không thể yêu một người như thế, ngay cả nếu mắt anh ta có xanh và anh ta tử tế với những cô gái nghèo anh gặp ngoài đường.
I dress to kill, and cook the same way.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-16 05:31:04banhsukem>
O.Henry
 
Một cuộc đổi đời (A retrieved formation)
 
Dịch: Diệp Minh Tâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Một người cai tù đi đến xưởng đóng giầy của nhà tù, nơi Jimmy Valentine đang chăm chỉ may các phần trên thân các đôi giày, và kêu anh đi theo mình đến văn phòng. Người quản đốc trại giam nơi đây trao cho Jimmy lệnh ân xá Thống đốc Bang vừa ký ban sáng. Jimmy nhận lấy tờ giấy với dáng vẻ mệt mỏi. Anh đã bị giam gần mười tháng cho một bản án bốn năm tù. Anh nghĩ mình sẽ chỉ bị tù nhiều nhất là ba tháng. Với một người có nhiều bạn bè bên ngoài như trường hợp của Valentine, khi vào nhà đá là không cần bận tâm đến chuyện cắt tóc.
 
Người quản đốc trại giam nói:
-Này Valentine, anh được trả tự do sáng mai. Tu tỉnh lại đi để thành người tốt. Anh vẫn có một tâm hồn. Đừng đi phá két sắt nữa, sống cho đàng hoàng đi.
Valentine đáp trong vẻ ngạc nhiên:
-Tôi ấy à? Cả đời tôi chưa từng phá một két sắt nào cả!
Người quản đốc cười to:
-À không! Dĩ nhiên rồi. Xem nào. Làm thế nào mà anh lại bị kết án sau vụ làm ăn ở Springfield hở? Anh không thể chứng minh mình vô tội vì sợ liên lụy đến ai đấy trong giới giang hồ phải không? Hoặc là chỉ vì bồi thẩm đoàn có thù hằn gì với anh? Với những nạn nhân vô tội như anh thì thế nào cũng có cớ này cớ nọ.
-Tôi ấy à? Thưa ngài, cả đời tôi chưa bao giờ đặt chân đến Springfield!
Quản đốc trại giam mỉm cười, bảo thuộc hạ:
-Cronin, dẫn anh này trở vào, chuẩn bị quần áo để trả tự do. Bảy giờ sáng mai cho anh này về. Valentine, anh nên nghe lời khuyên của tôi.
 
7 giờ 15 sáng hôm sau, Jimmy đã chuẩn bị xong tại văn phòng quản đốc trại giam. Anh mặc một bộ quần áo loại may sẵn trông khá ngổ ngáo, mang một đôi giày cứng nhắc kêu cót két, tất cả đều do nhà nước cấp phát khi tiễn đưa những khách trọ bất đắc dĩ. Người thư ký trao cho anh một giấy xe lửa và một tờ năm đô la, xem như đây là cách luật pháp muốn giúp anh trở lại thành công dân lương thiện và khá giả. Quản đốc trại giam đưa cho anh một điếu xì gà, rồi bắt tay anh. Valentine, số tù 9762, được ghi vào sổ “Được Thống đốc tha bổng”, và ông James Valentine bước vào ánh nắng bên ngoài.
 
Không màng gì đến tiếng chim ríu rít, cây lá xanh đong đưa và hương hoa trong gió, Jimmy đi ngay đến một quán ăn. Anh ta tận hưởng hương vị đầu tiên của tự do bằng món gà hấp kèm một chai rượu vang trắng, tiếp theo là một điếu xì gà thơm ngon hơn là thứ quản đốc trại giam cho anh. Rồi anh đi bộ nhàn nhã đến nhà ga. Anh ném một đồng 25 cent vào chiếc mũ của một người mù ngồi gần cửa ra vào, và bước lên tàu. Sau ba giờ đồng hồ, anh xuống tàu tại một thị trấn nhỏ gần biên giới của bang. Anh đi đến quán ăn của Mike Dolan và bắt tay anh này đang đứng đơn độc sau quầy rượu. Mike nói:
-Jimmy à, mình tiếc không thể giúp cậu ra khỏi tù sớm hơn. Bọn mình phải đối phó với sự phản đối từ Springfield, và Thống đốc Bang gần như gây cản trở. Mạnh khỏe chứ?
-Khỏe, còn giữ chìa khóa của tôi không?
 
Jimmy nhận lấy chìa khóa, đi lên lầu, mở cửa căn phòng cuối hành lang. Mọi thứ vẫn còn y nguyên như khi anh đi. Trên sàn nhà vẫn còn chiếc cúc cổ áo của thanh tra Ben Price, sút ra khi vật lộn để bắt giữ anh. Jimmy kéo chiếc giường gấp ra khỏi bức tường, đẩy một tấm chắn trên tường thụt vào phía trong, rồi rút ra một chiếc túi xách phủ đầy bụi. Anh mở nó ra, ngắm nhìn trìu mến bộ đồ lề tinh xảo nhất trong toàn vùng miền Đông dành cho đạo chích. Đấy là một bộ đồ lề đầy đủ, chế bằng thứ thép tinh luyện đặc biệt, gồm các mũi dùi, đục, kẹp, kềm, cùng các món linh tinh khác mà Jimmy tự ra mẫu lấy theo kiểu mới nhất. Anh lấy đó mà hãnh diên. Anh đã tốn bảy trăm đô la để đặt làm bộ đồ lề tại…một cơ xưởng chuyên chế tạo những món như thế.
 
Trong vòng nửa giờ, Jimmy đi xuống. Bây giờ anh đã mặc một bộ vét đúng mốt và vừa vặn, mang trong tay chiếc túi xách đã lau chùi sạch bụi. Mike Dolan hỏi anh thân mật:
-Có chuyện làm ăn hở?
Jimmy đáp một cách ngạc nhiên:
-Tôi ấy à? Tôi không hiểu cậu nói gì. Tôi đang là đại diện thương mại cho hãng bánh kẹo York Almagated và công ty Bánh mỳ Frazzled1.
Câu nói khiến Mike thích thú đến nỗi Jimmy phải nhận uống ngay tại quầy một ly sữa pha nước khoáng. Anh không hề động đến các thức uống làm say xỉn.
 
Một tuần sau khi Valentine, số hiệu 9762, được trả tự do, có một vụ mở két sắt thật gọn gang ở Richmond, bang Indiana, mà không có chứng tích tác giả là ai. Chỉ có tám trăm đô bị phỗng mất. Hai tuần sau, một két sắt tại Logansport, loại hiện đại có bằng sáng chế, bị phá tung như là đồ chơi với một nghìn năm trăm đô không cánh mà bay, riêng mấy mẩu giấy chứng khoán và các món bằng bạc thì còn nguyên. Kế đến là một tủ sắt nhà băng kiểu cổ điển ở thành phố Jefferson bị kích hoạt, tuôn ra năm nghìn đô la tiền mặt. Đến lúc này thì tổng thiệt hại đã lên đến mức lớn lao để nhờ đến công sức của thanh tra Ben Price. So sánh các vụ làm ăn này với nhau có thể thấy ngay những điểm tương tự. Ben Price đến xem xét các hiện trường, và người ta nghe ông lẩm bẩm:
-Đúng là dấu ấn của cái anh ưu tú Jim Valentine rồi. Hắn đã quen đường cũ. Xem cái ổ khóa này – hắn rút ra như người ta nhổ củ cải sau cơn mưa. Chỉ hắn mới có đồ lề để làm ăn như thế. Và nhìn cái ổ khóa này. Jimmy bao giờ cũng chỉ khoan một lỗ duy nhất. Đúng rồi, mình sẽ tìm bắt hắn. Lần sau thì đừng hòng có việc khoan hồng ngu xuẩn.
 
Ben Price biết rõ thói quen của Jimmy. Ông đã nắm mọi mánh lới này từ vụ Springfield. Đi làm ăn thật xa, tẩu tán như chớp, không có đồng bọn, có gu sành điệu của giới thượng lưu – mấy mánh lới này giúp anh Jimmy nhà ta dễ trốn lánh. Thế là Ben Price bắt đầu lần dò theo dấu chân Jimmy, và thiên hạ có két sắt cảm thấy an tâm hơn.
 
***
 
Một buổi chiều, Jimmy và chiếc túi xách lần đến Elmore, một thị trấn ở bang Arkansas, nằm cách đường tàu không đến mười cây số. Jimmy, với dáng vẻ như là một sinh đại học khỏe mạnh vừa từ đại học về thăm nhà, đi dọc theo một hè phố rộng trên đường đến khách sạn của thị trấn.
 
Một cô gái trẻ băng ngang đường, đi qua gần anh, bước vào một cánh cửa với tấm biển ghi “Ngân hàng Elmore”. Jimmy nhìn vào mắt cô gái, quên bẵng mình là ai và trở thành một con người khác. Cô gái cúi mặt, má hơi ửng hồng. Thanh niên với thời trang và ngoại hình như Jimmy thì hiếm ở Elmore.
 
Jimmy làm quen với một cậu bé lảng vảng ngoài cửa nhà băng y như một cổ đông của ngân hang, lân la hỏi chuyện về cái thị trấn nhỏ, thỉnh thoảng lại bón cho thằng nhóc một đồng tiền mười xu. Mãi đến lúc cô gái kia bước ra, với dáng vẻ vương giả không thèm để ý gì đến chàng trai lạ mặt với chiếc túi xách, và đi thẳng.
Jimmy hỏi cậu bé một cách khéo léo đặc biệt:
-Có phải đấy là cô Polly Simpson không?
-Hổng phải. Đó là cô Annabel Adams. Ông già cổ làm chủ nhà băng. Ông đến Elmore làm chi vậy? Cái dây đồng hồ của ông bằng vàng phải hông? Cháu định mua một con chó. Ông có thêm đồng tiền nào nữa hông?
Jimmy đi đến khách sạn Planters, ghi vào sổ tên mình là Ralph D. Spencer để nhận phòng. Anh đứng tựa vào quầy lễ tân để khai báo phương án của mình. Anh bảo anh đến Elmore để tìm một vị trí cho cơ sở làm ăn. Nghề đóng giày thì thế nào? Tôi đang nghĩ đến việc mở một hiệu giày. Ở đây đã có ai mở chưa?
 
Anh lễ tân bị thu hút bởi thời trang và phong thái của Jimmy. Chính anh ta cũng chú ý đến thời trang theo kiểu hàng mã cuả bọn trẻ ở Elmore, và giờ anh cảm thấy mình còn thua xa ông khách. Anh sốt sắng cung cấp thông tin. Vâng, nếu mở một hiệu giày thì sẽ khá lắm. Không có hiệu nào chuyên bán giày ở đây, mà chỉ có các cửa hàng tạp nhạp bán thêm giày. Mọi công việc làm ăn ở đây đều khấm khá. Hy vọng ông Spencer sẽ định cư ở Elmore. Ông sẽ thấy đời sống ở thị trấn này dễ chịu lắm, và dân địa phương sống rất hòa đồng.
 
Ông Spencer nghĩ ông ta sẽ lưu lại đây ít ngày để xem qua tình hình địa phương. Không, không cần lễ tân mang hành lý cho ông. Ông muốn tự mang chiếc túi xách lên phòng vì nó khá nặng.
 
Ông Ralph D. Spencer, giờ như cá chép hóa long, hóa thân do tiếng sét ái tình bất ngờ, lưu lại Elmore, và phát tài. Ông mở một hiệu giày, được đảm bảo một vị trí ăn nên làm ra. Ông cũng thành công về mặt giao tiếp xã hội, có thêm nhiều bạn bè. Và con tim ông đã được toại nguyên. Ông đã làm quen với cô Annabel Adams, càng ngày càng bị cô hớp hồn. Đến cuối năm thì tình hình của ông Spencer là như thế này: ông được dân trong thị trấn trọng vọng, hiệu giày của ông phất lên thấy rõ, thêm nữa là ông và cô Annabel sẽ làm lễ đính hôn trong vòng hai tuần kế tiếp. Cha cô, dân nhà băng phố lẻ chính tông và cần cù, đã chấp thuận cuộc hôn nhân. Về phần Annabel, cô cảm thấy vừa hãnh diện về ông Spencer vừa trìu mến ông hết mực. Ông cảm thấy thoải mái trong gia đình của Annabel và gia đình bà chị của cô như thể ông đã là một thành viên thực thụ trong các gia đình này.
 
Một ngày kia Jimmy ngồi trong phòng khách sạn của mình để viết một bức thư gửi đến địa chỉ an toàn của một anh bạn cố tri ở St Louis như sau:
Anh bạn thâm giao, mình muốn cậu đến quán Sullivan ở Little Rock, tối thứ tư tới, lúc chin giờ. Mình muốn cậu lo ít việc cho mình. Và mình cũng muốn biếu cậu bộ đồ lề của mình. Mình biết cậu sẽ vui sướng lắm khi nhận bộ đồ lề này – dù cậu có chi cả nghìn đô cũng không thể cấp được một bộ như thế. Billy à, mình đã bỏ nghề cũ, từ một năm nay rồi. Mình có một cửa hiệu ăn nên làm ra. Mình đang sống đời lương thiện, trong hai tuần nữa mình sẽ cưới người con gái tuyệt vời nhất thế gian. Mình sẽ chỉ có một cách sống Billy à – sống chân chất. Mình sẽ không chôm chỉa của ai một đô nào nữa. Sau khi thành hôn, mình sẽ bán tất cả rồi đi về miền Tây, nơi mình sẽ không có nguy cơ bị đòi các món nợ ân oán giang hồ. Nói cho bạn biết, cô nàng là một thiên thần. Cô tin tưởng nơi mình, và mình sẽ không làm thêm một chuyện gì lôi thôi nữa. Cố gắng thu xếp đến quán Sullivan, vì mình cần gặp cậu. Mình sẽ mang theo bộ đồ lề.
Bạn thân thiết của cậu, Jimmy.
 
Vào buổi tối thứ Hai sau khi Jimmy đã gửi bức thư trên, thanh tra Ben Price đi trên một chiếc xe ngựa chạy đường hoàng vào Elmore. Ông đi rảo trên các phố theo cách êm thấm đến khi ông tìm ra được điều muốn tìm. Từ một hiệu thuốc bên kia đường đối diện hiệu giày của Spencer, ông quan sát kỹ người mang tên Ralph D. Spencer. Ông khẽ nói với chính mình:
-Sắp cưới cô con gái chủ nhà băng phải không Jimmy? Hừ, không chắc đâu đấy!
 
Sáng hôm sau, Jimmy đến ăn sáng ở gia đình ông nhạc gia tương lai Adams. Anh sẽ đi Little Rock ngày này để đặt may một bộ trang phục cho lễ cưới và mua món gì đấy hay hay cho Annabel. Đây sẽ là lần đầu tiên anh ra khỏi Elmore từ khi anh đến thị trấn này. Đã hơn một năm từ khi anh làm phi vụ cuối cùng, và anh nghĩ anh có thể ló đầu ra một cách an toàn. Sau bữa ăn sáng, cả bầu đoàn thê tử cùng nhau đi xuống phố - ông Adams, Annabel, Jimmy và chị gái của Annabel với hai đứa con nhỏ, năm và chin tuổi. Họ đi đến khách sạn nơi Jimmy ngụ, anh chạy lên lầu và mang xuống chiếc túi xách. Rồi họ cùng nhau đi đến ngân hàng. Nơi đây đã có sẵn chiếc xe ngựa và Dolp Gibson, người sẽ đánh xe đưa Jimm đến nhà ga. Tất cả đi qua bên trong hàng rào chắn cao bằng gỗ sồi chạm trổ để vào phía trong phòng ngân hàng – Jimmy cũng đi cùng, vì chàng rể của ông Adams được chấp nhận thân tình ở mọi nơi. Các nhân viên nhà băng cảm thấy vui vui khi chàng thanh niên trẻ đẹp trai, có tư cách, mà cũng là ý trung nhân của con gái ông chủ, chào hỏi họ. Annabel, lòng ngập hạnh phúc và tâm hồn tràn đầy sức tươi trẻ, lấy chiếc mũ của Jimmy đội lên đầu mình, và nhấc chiếc túi xách hộ anh.
-Trông em có giống như nhạc công đánh trống nhà nghề không? Ơ này, anh Jimmy, sao mà cái túi này nặng thế? Như là chứa đầy những thỏi vàng vậy!
Jimmy điềm tĩnh trả lời:
-Đấy là mấy cái móng ngựa mạ kền anh dùng để đóng giày. Anh định tự mang đem đi trả lại, để đỡ tiền cước gửi. Anh đang tiết kiệm chi tiêu tối đa đây.
 
Ngân hàng Elmore vừa đặt làm một cái tủ sắt mới. Ông Adams rất hãnh diện về cơ sở này, nhất quyết muốn mọi người đến xem. Cái tủ sắt tuy nhỏ, nhưng có một loại cửa khóa hiện đại được đăng ký bằng sáng chế. Có ba ống khóa bằng thép cứng, cả ba dập lại với nhau bằng một cái cần duy nhất, và có thêm một cái khóa đồng hồ. Ông Adams hớn hở giảng giải cách vận hành cho anh Spencer nghe, nhưng anh này chỉ tỏ vẻ chú ý theo cách lịch sự mà không mấy thông minh. Hai cô con gái nhỏ, Mary và Agatha, đều thích thú với nước kim loại sáng ngời cùng những khóa và chốt thật ngộ nghĩnh. Trong khi mọi người đang chú tâm như thế, Ben Price lẻn vào, lấy tay chống cằm và nhìn vào bên trong một cách xuề xòa. Ông nói với một nhân viên là ông không cần gì cả, ông chỉ đứng chờ một người quen của ông.
 
Thình lình có một hai tiếng rú của mấy người phụ nữ, và có sự nhốn nháo. Không có người lớn để ý trông chừng, Mary, cô chị lên chín, trong khi đùa nghịch đã nhốt cô em Agatha vào trong cái tủ sắt. Rồi cô bé khởi động cần khóa và vặn núm số theo cách cô đã thấy ông Adams làm. Ông chủ nhà băng nhào đến cái cần khóa kéo giật một hồi. Ông hổn hển:
-Cửa này không mở được, chưa ai vặn đồng hồ khóa, mà cũng chưa ai đặt số khóa!
Bà mẹ của Agatha lại kêu rú lên một cách điên dại.
Ông Adams run rẩy đưa tay lên:
-Suỵt. Tất cả giữ im lặng.
Ông cố hết sức nói thật to:
-Agatha! Nghe ông đây!
Trong phút im lặng kế tiếp, mọi người chỉ nghe rất khẽ tiếng cô bé la hét bên trong cái tủ sắt tối đen, trong nỗi hốt hoảng kinh khiếp. Bà mẹ rền rĩ:
-Con gái cưng của tôi! Nó sẽ quá khiếp đảm mà chết! Mở cửa ra, phá nó ra. Mấy người đàn ông không có cách gì hay sao?
Ông Adams trả lời trong tiếng run rẩy:
-Người gần đấy nhất có thể mở tủ sắt này thì ngụ tại Little Rock. Cơ khổ, anh Spencer, ta phải làm gì đây? Đứa nhỏ này – nó không thể chịu đựng được lâu trong đấy. Hơn nữa lại không có đủ không khí, rồi nó sẽ quá kinh hãi mà lên cơn động kinh mất!
Bà mẹ của Agatha, giờ trở nên hoảng loạn, đấm vào cánh cửa với cả hai nắm tay. Có ai đấy điên rồ đề nghị dùng chất nổ. Annabel quay sang Jimmy, đôi mắt to của cô đầy vẻ lo lắng, nhưng không có vẻ tuyệt vọng. Với người mà cô tôn thờ, hình như không có việc gì mà anh không làm được. Cô van nài:
-Ralph, anh có thể làm gì đấy được không? Anh cố thử, được không anh?
Anh nhìn cô với vẻ mặt rất kỳ lạ, với một nụ cười trên môi anh và trong cả đôi mắt anh.
-Annabel, em tặng anh cánh hồng em đang mang, được không?
Cô không tin mình nghe đúng lời anh nói, nhưng cô vẫn tách cánh hoa hồng khỏi ve áo của cô, đặt trong lòng bàn tay anh. Jimmy nhét nó vào túi áo vét, cởi áo choàng ra, xắn hai tay áo sơ mi lên. Với động tác này, Ralph Spencer đã ra đi, và Jimmy Valentine thế chỗ vào. Anh ra lệnh:
-Mọi người hãy dãn ra khỏi cánh cửa.
 
Anh đặt chiếc túi xách lên mặt bàn, mở toang nó ra. Từ lúc ấy, dường như anh không để ý đến sự hiện diện của ai nữa. Anh nhanh nhẹ bày ra các món đồ lề sáng bóng, hình thù kỳ dị, huýt sáo nho nhỏ theo thói quen khi anh làm việc. Trong bầu không khí im lặng tuyệt cùng và bất động, những người khác nhìn anh làm việc như chính họ bị thôi miên. Chỉ trong một phút, mũi khoan của Jimmy đã đi ngọt vào cánh cửa thép. Trong mười phút, phá mọi kỷ lục trộm đạo của chính mình, anh đã ném ra các cần khóa và mở toang chiếc cửa sắt. Agatha gần như bất tỉnh, nhưng an toàn, được bà mẹ ôm vào vòng tay.
 
Jimmy Valentine mặc áo choàng, rồi bước ra hướng cửa chính. Anh nghĩ anh đã nghe tiếng gọi tên anh từ khoảng xa, theo tên giả “Ralph”. Nhưng anh không hề chần chừ. Tại cánh cửa chính, một người đàn ông to lớn đứng ngáng một bên. Vẫn với nụ cười lạ lùng trên môi, Jimmy nói:
-Chào Ben. Cuối cùng rồi cũng đuổi kịp phải không? Thế thì đi nào. Bây giờ tôi thấy ra sao thì cũng thế thôi.
Nhưng rồi Ben phản ứng một cách kỳ lạ. Ông nói:
-Tôi nghĩ ông đã nhầm rồi, ông Spencer. Tôi không nghĩ là tôi quen biết ông. Xe ngựa ông đang chờ đấy, có phải thế không?
 
Và Ben Price quay đi, bước dọc theo hè phố.
 
Chú thích
1.    Jimmy bông đùa. “Almagated” nghĩa là dính lại thành một khối và “Frazzled” nghĩa là xơ xác.
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry
 
Qua cơn mê
 
Dịch giả: Diệp Minh Tâm
Nguyên tác Tiếng Anh: At arms with Morpheus
 
 
Tôi không thể hiểu nổi làm thế nào Tom Hopkins lại có thể nhầm lẫn tai hại đến thế, vì lẽ anh đã học nguyên một kỳ tại trường đại học y khoa – trước khi anh thừa hưởng gia tài của bà cô để lại – và lại được xem là giỏi về khoa trị liệu.
Chúng tôi đến thăm nhau buổi tối hôm ấy, rồi Tom lên phòng tôi để nhậu nhẹt và tán gẫu trước khi anh trở về căn hộ sang trọng anh đang thuê. Tôi vừa lẻn vào phòng bên thì nghe Tom hát ra:
-Billy này, mình muốn uống một chút kí-nin, nếu cậu không thấy phiền hà – Mình cảm thấy ngần ngật ớn lạnh. Có lẽ mình đang bị cảm.
Tôi đáp lại:
-Được. Chai thuốc ở trên ngăn kệ thứ hai. Uống một thìa dầu khuynh diệp ấy đi. Nó trừ khử hết mọi đau nhức.
Sai khi tôi trở lại, chúng tôi ngồi bên nhau gần lò sưởi rồi rút thuốc ra hút với nhau. KHoảng tám phút sau, Tom ngả người ra, dần dần khuỵu xuống. Tôi chạy ngay vào để xem xét cái tủ thuốc. Tôi gầm lên:
-Cái thằng cả đẫn hết mức! Thử xem tiền bạc giúp gì được cho cái đầu của mày!
Trong tủ thuốc là chai đựng nha phiến với cái nắp đã bật ra sau khi Tom mở nó. Tôi lùng ra được một anh bác sĩ y khoa trẻ ngụ ở tầng trên, rồi nhờ anh đi mời ông bác sĩ già Gales, ngụ cách đấy hai khu phố. Tom Hopkins quá giàu nên không thể để một mình bác sĩ trẻ tài năng còn đang lên chăm sóc cho anh được.
 
Khi ông Gales đến, chúng tôi chạy chữa cho Tom theo đủ phương án đắt tiền đến mức mọi phương tiện y khoa cho phép. Sau khi đã cho anh uống các loại thuốc mạnh, chúng tôi cho anh dùng liên tục mấy liều ci-trát caffeine, rồi cho anh uống cà phê, rồi hai đứa hai bên xốc anh đi qua đi lại. Ông già Gales ngắt véo anh, tát vào mặt anh, làm việc tận lực để xứng đáng với tấm ngân phiếu to lớn mà ông thấy không xa. Anh bác sĩ trẻ tống cho Tom một đá nên thân, rồi bào chữa với tôi:
-Không đừng được. Trong đời tôi chưa bao giờ được đá một nhà triệu phú. Tôi có thể không có cơ hội nào khác.
Sau một hai giờ, bác sĩ Gales bảo tôi:
-Anh ấy sẽ khỏi. Nhưng phải giữ anh ấy tỉnh trong vòng một giờ. Anh có thể chuyện trò với anh ấy, thỉnh thoảng lay người anh. Khi mạch và nhịp thở của anh ấy trở lại bình thường thì có thể cho anh ngủ. Giờ tôi để anh ấy cho anh chăm sóc.
Thế là còn lại có mình tôi với Tom, được để nằm trên ghế bành. Anh nằm không một chút động cựa, mắt nửa nhắm nửa mở. Tôi bắt đầu công việc giữ cho anh thức. Tôi nói:
-Này bạn già, bạn vừa qua một cơn hú hồn. Có giáo sư y khoa nào đã từng xởi lởi nhận xét là chữ n-h-a-p-h-i-ế-n không thể nào đánh vần như k-í-n-i-n không, nhất là với liều lượng nguyên một viên? Mình không muốn giũa bạn nhiều khi bạn chưa đứng dậy được. Nhưng đáng lẽ bạn nên làm dược sĩ, Tom à, bạn có đủ tiêu chuẩn tuyệt vời để ra toa bán thuốc.
Tom nhìn tôi với nụ cười mỉm dại khờ. Anh thì thầm:
-B’ly, mình cảm thấy như con chim sâu bay vòng quanh vô số bông hồng rực rỡ. Đừng quấy rầy. Muốn ngủ đây.
Rồi trong vòng hai giây đồng hồ anh thiếp ngủ. Tôi lắc vai anh, nghiêm khắc:
-Này, Tom, không ngủ được đâu! Bác sĩ bảo bạn phải thức trong ít nhất một giờ. Mở mắt ra! Bạn chưa hoàn toàn thoát khỏi nguy hiểm, bạn hiểu chứ? Thức dậy!
Tom Hopkins nặng gần chín chục kí lô. Anh nở thêm một nụ cười sật sừ, rồi lại chìm vào giấc ngủ say hơn trước. Đáng lẽ tôi phải dìu anh đi qua đi lại, nhưng làm như thế đối với tôi không khác nào sai khiến cây kim của nữ hoàng Cleopatra nhảy điệu luân vũ quanh phòng với mình. Hơi thở của Tom đã trở thành tiếng ngáy, trong ca ngộ độc nha phiến đấy là triệu chứng nguy hiểm.
 
Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi không thể dựng thân hình nặng nề của anh ta dậy được, tôi phải cố làm đầu óc anh được phấn khích để tỉnh ngủ. “Làm cho anh ta tức giận” là một ý trong hướng ấy. Tôi nghĩ: “Ý tưởng hay, nhưng làm cách nào?”. Cả bộ chiến bào của Tom không hề có một kẽ hở nào để tôi có thể tấn công vào. Thằng bạn của tôi thật đáng quý! Anh ta thật hiền hòa, lại còn là một trang thanh niên đối xử với thiên hạ đẹp hết mức, tế nhị, chân tình, trong sạch như ánh mặt trời. Anh ta đến từ nơi nào đấy ở miền Nam, vùng mà dân cư vẫn còn lý tưởng và biết cách xử thế. Thành phố New York đầy quyến rũ thế mà không làm anh hư hỏng. Anh ta vẫn còn bản chất tôn thờ phụ nữ theo kiểu cổ lỗ sĩ, việc ấy…Eureka! – tôi nghĩ ra rồi! Trong một hai phút tôi chuẩn bị dàn xếp việc này trong óc tưởng tượng của tôi. Tôi cười khúc khích một mình khi nghĩ đến chơi cái trò này với tên bạn già Tom Hopkins. Rồi tôi nắm lấy vai anh mà lắc thật mạnh đến khi cả hai tai anh cũng lắc lư. Tôi giả vờ chửi bới khinh miệt, chĩa ngón tay chỉ vào mũi anh ta chỉ cách mấy phân. Tôi sắc lẻm gằn từng tiếng một:
-Nghe tao đây này, Hopkins. Mày và tao đã từng là bạn thân thiết với nhau, nhưng tao cho mày biết từ nay về sau tao không muốn tiếp cái thằng nào đốn mạt như mày.
Tom không có vẻ gì chú ý cho lắm. Hắn tỉnh queo:
-Chuyện gì vậy, Billy? Quần áo của bạn mặc không vừa à?
Tôi tiếp tục:
-Nếu tao ở trong hoàn cảnh như mày, mà cảm ơn trời phật tao không như mày, tao nghĩ tao không còn dám nhắm mắt mà ngủ. Cô gái mà mày bắt chờ đợi võ vàng ở dưới miền Nam ấy – cô gái mà mày đã quên kể từ khi mày có tiền rủng rỉnh trong túi, giờ ra sao rồi? Mày biết tao muốn nói gì. Trong khi mày còn là tên sinh viên y khoa kết xác thì cô ấy còn xứng với mày. Nhưng bây giờ, mày đã là triệu phú, tình đời đổi thay! Tao không biết cô nghĩ sao về hạng người mà cô vẫn tôn thờ - mấy trang thanh niên miền Nam ấy. Hopkins, tao lấy làm tiếc phải nói ra mấy việc này, nhưng mày đã che đậy kỹ quá và đóng trò tài quá đến nỗi tao không dám tin là mày lại có thủ đoạn hèn hạ như thế.
Tội nghiệp cho Tom! Tôi cố gắng lắm mới nhịn được cười khi thấy anh cỗ vùng vẫy khỏi ảnh hưởng của nha phiến. Anh ta đang phẫn nộ rõ ràng, và tôi không trách anh. Tom có tính nóng nảy của dân miền Nam. Hai mắt anh giờ đã mở ra, sòng sọc một hai tia lửa. Nhưng nha phiến vẫn còn làm lú lẫn trí óc anh và cột lưỡi anh lại. Anh lắp bắp:
-L-l-lộn xộn…Tao s-sẽ băm thây mày…
Anh cố nhấc người lên khỏi chiếc ghế bành. Với trọng lượng thân hình của mình, bây giờ anh ta yếu ớt lắm. Tôi lấy một tay đẩy anh ngã vật xuống ghế. Anh ta nằm đấy, trợn trừng như con báo trong một cái bẫy.
Tôi thì thầm với chính mình: “ Thế là giữ hắn tỉnh được một chút, cái thằng khờ già!” Tôi đứng dậy, đốt cái ống điếu, vì tôi cảm thấy cần hút thuốc. Tôi đi vòng quanh một chút, tự khen ngợi mình về ý tưởng tuyệt diệu kia.
Tôi nghe tiếng ngáy. Tôi nhìn lại. Tom lại ngủ tiếp. Tôi tiến đến, nện một quả đấm vào cằm anh ta. Anh nhìn tôi, hiền lành và vô tư như một anh ngốc. Tai nhai cái ống điếu của mình để tiếp tục nặng lời với anh ta. Tôi lăng mạ:
- Tao muốn mày khỏi bệnh để cút khỏi đây càng sớm càng tốt. Tao đã nói cho mày biết tao nghĩ về mày như thế nào. Nếu mày còn chút liêm sỉ, mày nên suy nghĩ cho kỹ trước khi mày còn muốn thử giao du lần nữa với lớp người thanh lịch.
Tô khịt mũi:
-Cô ấy là một người con gái nghèo, phải không? Có phần quá vô vị, quá quên mùa đối với bọn mình kể từ khi mình có tiền phải không? Mày cảm thấy xấu hổ đi với cô ấy trên Đại lộ Sô Năm phải không? Hopkins, mày là thằng đốn mạt gấp bốn mươi lần cái thằng đốn mạt. Ai màng đến tiền bạc của mày chứ? Tao không màng. Tao biết chắc cô ấy không màng. Có lẽ nếu mày không có tiền, mày sẽ là một con người khá hơn. Với tiền bạc, mày là tên khốn khiếp, và – tôi nghĩ câu này mới là đòn đau – mày đã ruồng rẫy một con tim chung thủy. (Ai đời anh bạn cố tri Tom Hopkins lại ruồng rẫy một con tim chung thủy!) Tao muốn tống khứ mày ra khỏi đây càng sớm càng tốt.
Tôi quay lưng lại Tom, nháy mắt với tấm gương soi. Tôi nghe tiếng anh ta cử động, và tôi quay lại thật nhanh. Tôi không muốn cả thân hình gần chín mươi kí lô nhào lên tôi từ sau lưng. Nhưng Tom chỉ xoay người một ít, đưa một tay lên che mặt. Anh ta nói ít tiếng, rõ ràng hơn lúc trước:
-Tao không thể…nói với mày…theo cách ấy…Billy, ngay cả nếu tao nghe thiên hạ đặt…đặt điều về mày…Nhưng khi tao có thể…đứng dậy…tao sẽ bẻ cổ mày…đừng quên…
Tôi cảm thấy một chút xấu hổ lúc ấy. Nhưng làm thế là để cứu Tom. Sáng ngày hôm sau, khi tôi giải thích, hai chúng tôi sẽ cười xòa với nhau về chuyện này.
Trong khoảng hai mươi phút, Tom chìm xuống trong cơn ngủ mê mệt, êm đềm. Tôi bắt mạch anh, nghe ngóng nhịp hô hấp của anh, rồi để yên cho anh ngủ. Mọi việc đều trở lại bình thường, và Tom đã qua cơn hiểm nguy. Tôi đi vào phòng bên và ngã vật xuống giường.
***
Khi tôi tỉnh dậy sáng hôm sau, tôi thấy Tom đã thức dậy trước tôi, ăn mặc chỉnh tề. Anh ta trở lại hoàn toàn là con người của chính mình trừ các dây thần kinh có phần run rẩy và cái lưỡi còn cứng đờ.
Tom suy tư:
-Mình thật là ngu quá. Mình còn nhớ khi mình uống thuốc, mình nghĩ cái chai kí-nin ấy coi kỳ cục làm sao ấy. Bạn phải cực khổ lắm để cứu mình phải không?
Tôi bảo với anh ta là không. Trí nhớ anh ta dường như quá yếu với mọi sự việc. Tôi kết luận là anh không còn nhớ gì đến các nỗ lực của tôi nhằm giữ cho anh được tỉnh táo, nên quyết định không cần giải thích. Tôi nghĩ vào lúc nào khác, khi anh đã khỏi hẳn, hai chúng tôi có thể đùa cợt với nhau về việc này.
 
Khi Tom chuẩn bị ra đi, anh dừng lại ở cánh cửa đang mở, bắt tay tôi:
-Cảm ơn nhiều lắm, ông bạn tâm giao, đã cực nhọc nhiều vì mình, và cảm ơn về mấy điều bạn nói. Bây giờ mình đi xuống phố để đánh điện cho cô bé.
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry
 
Con người phóng đãng
 
Dịch giả: Diệp Minh Tâm
Nguyên tác tiếng Anh: The dissipated jeweler
 
Bạn sẽ không tìm thấy cái tên Thomas Keeling trong danh bạ thành phố Houston. Bây giờ có thể có, nếu ông Keeling đã không đóng cửa cơ sở làm ăn của ông khoảng một tháng trước và dời đi nơi khác. Ông Keeling dời đến Houston khoảng thời gian ấy và mở một văn phòng thám tử tư nhỏ. Ông cung ứng dịch vụ thám tử theo cung cách khiêm tốn. Ông không có tham vọng cạnh tranh với hang Pinkerton, nhưng thích làm việc trong những lĩnh vực ít rủi ro hơn.
 
Nếu một ông sếp muốn kiểm tra những thói quen của người thư ký, hoặc một bà vợ muốn nhòm ngó ông chồng quá trăng hoa, ông Keeling là người lĩnh nhiệm vụ. Ông là người trầm tĩnh, chăm chỉ với nhiều lý thuyết. Ông đọc các tác giả Gaboriau và Conan Doyle, và hy vọng một ngày ông sẽ có vị trí cao hơn trong nghề của mình. Ông giữ một chân thấp kém trong một văn phòng thám tử lớn ở miền Đông, nhưng vì chậm được đề bạt, ông quyết định dời đến miền Tây, nơi mà nghề nghiệp ông ít bị cạnh tranh hơn.
Trong vài năm ông đã dành dụm được 900 đô mà ông ký gửi trong két sắt của một thương gia do một người bạn ở Houston giới thiệu. Ông thuê một căn phòng nhỏ ở tầng lầu, trên một con đường hẻo lánh, treo một tấm biển cho biết loại dịch vụ, rồi vùi đầu vào trong mấy mẩu chuyện Sherlock Holmes của Doyle trong khi chờ thân chủ tìm đến.
 
Một thân chủ đến gặp ông sau ba ngày ông khai trương văn phòng vốn chỉ có một mình ông. Đấy là một phụ nữ trẻ, khoảng 26 tuổi. Cô người mảnh mai, khá cao, ăn mặc lịch sự. Cô mang một khăn che mặt mỏng, và vén lên trên chiếc mũ rơm sau khi đã ngồi xuống ghế. Cô có gương mặt thanh tú, tao nhã, với đôi mắt xám khá linh động, và cử chỉ có phần lo lắng.
Cô nói, với giọng ngọt ngào nhưng có phần buồn rầu:
-Thưa ông, tôi đến tìm ông vì ông là người tương đối xa lạ, và tôi không thể bàn chuyện riêng tư với những người bạn của tôi. Tôi muốn ông theo dõi những hành động của chồng tôi. Mặc dù nhục nhã phải khai sự thật, tôi e rằng anh ấy không còn yêu thương tôi nữa. Trước khi tôi kết hôn với anh ấy, anh say mê một cô gái trẻ có liên hệ với gia đình nơi anh ở trọ. Chúng tôi đã cưới nhau được năm năm và sống rất hạnh phúc, nhưng gần đây cô gái trẻ đã dời đến Houston, và tôi có lý do để tin rằng anh ấy đang chú ý đến cô. Tôi nhờ ông theo dõi sát sao theo cách có thể được những hành động của anh ấy và báo cáo với tôi. Tôi sẽ đến đây cách hai ngày một lần theo giờ định trước để biết những gì ông đã phát hiện ra. Tên tôi là bà R—, và chồng tôi là người có tiếng tăm. Ông ấy có một hiệu kim hoàn nhỏ ở đường – -- . Tôi sẽ chi trả xứng với dịch vụ của ông, và đây là 20 đô để bắt đầu.
Người phụ nữ trao cho ông tờ giấy bạc, và ông tiếp nhận một cách thờ ơ như thể những việc như thế này là chuyện bình thường, rất thường trong nghề nghiệp của ông. Ông cam đoan với bà rằng ông sẽ thực hiện ý muốn của bà một cách trung thành, và yêu cầu hai ngày sau bà trở lại lúc bốn giờ chiều để nghe báo cáo đầu tiên.
 
Ngày kế, ông Keeling dò hỏi về những điều liên quan đến công tác. Ông tìm ra hiệu kim hoàn, và đi vào giả vờ nhờ siết lại bộ phận thủy tinh trong chiếc đồng hồ đeo tay của ông. Chủ cửa hiệu, ông R—, khoảng 45 tuổi, có tư thái trầm tĩnh và cách thức làm việc rất chăm chỉ. Cửa hiệu nhỏ, nhưng bán hàng loại tốt và có nhiều chủng loại kim cương, nữ trang và đồng hồ. Hỏi han thêm thì được biết rằng ông R— là người có tư cách đứng đắn, không bao giờ uống rượu, và luôn luôn làm việc bên quầy nữ trang của ông.
Ngày hôm ấy, ông Keeling thơ thẩn trong vài giờ quanh cánh cửa của hiệu kim hoàn, và cuối cùng nỗ lực của ông được đền đáp khi ông thấy một phụ nữ trẻ, ăn mặc lòe loẹt với mái tóc đen, đôi mắt huyền, bước vào cửa hiệu. Ông Keeling nhàn nhã đi đến gần cánh cửa nơi ông có thể quan sát những gì xảy ra bên trong. Người phụ nữ bước một cách tự tin đến phía sau hiệu kim hoàn, dựa vào mặt quầy và trò chuyện thân mật với ông R—. Ông đứng dậy, và hai người trao đổi nho nhỏ với nhau trong vài phút. Cuối cùng, ông chủ kim hoàn trao cho cô ít tiền đồng, mà ông Keeling nghe tiếng leng keng khi cô đón nhận vào lòng bàn tay. Rồi người phụ nữ đi ra và bước nhanh về cuối phố
***
Thân chủ ông Keeling trở lại văn phòng ông theo đúng hẹn. Cô bồn chồn muốn biết liệu ông có thấy điều gì giúp minh chứng cho sự nghi ngờ của cô. Ông thám tử thuật cho cô nghe những gì ông đã thấy. Sauk hi nghe ông mô tả người phụ nữ trẻ đi vào hiệu kim hoàn, cô nói:
-Đúng là nó rồi. Cái đứa vô liêm sỉ, thật cả gan! Và như thế là Charles còn đưa tiền cho nó. Nghĩ mà xem, chuyện đã xảy ra đến thế này!
Người phụ nữ cầm chiếc khăn tay chấm đôi mắt theo cách bị xúc động.
Ông thám tử hỏi:
-Bà R—, bà muốn như thế nào trong việc này? Bà muốn tôi dò hỏi đến đâu?
-Tôi muốn tận mắt nhìn đủ bằng cớ để thuyết phục điều mà tôi nghi ngờ. Tôi cũng muốn có nhân chứng, để tôi có thể làm đơn xin ly dị. Tôi không muốn tiếp tục cuộc sống như thế này.
Rồi cô trao cho ông tờ giấy mười đô.
 
Hai ngày sau, khi cô trở lại văn phòng ông Keeling, ông báo cáo:
-Chiều nay tôi đến hiệu kim hoàn với lý do vụn vặt. Cô ấy đã đến đấy, nhưng không ở lại lâu. Trước khi đi, cô ấy nói: “Charles, chúng mình sẽ dùng bữa ăn nhẹ vui nhộn tối nay như anh đề nghị, rồi chúng mình sẽ trở về cửa hiệu mà trò chuyện trong khi anh làm xong cây kim gài đính kim cương mà không bị ai quấy rầy”. Bà R— ạ, tôi nghĩ tối nay sẽ là dịp tốt để bà chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa chồng bà và đối tượng khiến chồng bà điên đảo, và tâm tư bà sẽ mãn nguyện được biết vụ việc ra thế nào.
Người phụ nữ kêu lên với đôi mắt lấp lánh:
-Khốn khiếp! Anh ấy bảo tôi rằng anh ấy sẽ có việc quan trọng phải làm cho xong tối nay. Và đây là cách anh ấy sử dụng thì giờ mà không có tôi!
Ông thám tử nói:
-Tôi đề nghị bà ẩn mình trong cửa hiệu để bà có thể nghe những gì họ nói, và khi bà đã rõ chuyện bà có thể gọi nhân chứng vào cho họ đối diện với ông ấy.
Cô đáp:
-Ý kiến hay. Tôi nghĩ có một ông cảnh sát, mà gia đình chúng tôi quen biết, có nhiệm vụ tuần tra khu vực xung quanh cửa hiệu. Do nhiệm vụ, ông ấy sẽ có mặt trong khu vực này vào buổi tối. Tại sao ông không đến gặp ông ấy, giải thích về vụ việc và khi tôi đã nghe đủ bằng chứng, ông dẫn ông ấy đến để cả hai ông làm nhân chứng?
Ông thám tử nói:
-Tôi sẽ trình bày với ông ấy, và thuyết phục ông ấy giúp chúng ta. Xin bà trở lại đây trước khi trời tối, để chúng ta có thể dàn xếp đặt bẫy họ.
***
Ông thám tử đi săn lùng người cảnh sát và giải thích cho ông biết tình hình. Nhà bảo vệ pháp luật nói:
-Buồn cười thật. Tôi không hề biết ông R— là con người phóng đãng. Nhưng rồi, ta không bao giờ hiểu rõ về ai được. Thế là bà vợ ông muốn bắt quả tang ông tối nay. Xem nào, bà muốn ẩn mình trong cửa hiệu và nghe họ nói gì. Có một căn phòng nhỏ phía sau cửa hiệu, nơi ông R— chất than và bao bì cũ. Dĩ nhiên là cánh cửa giữa bị khóa, nhưng nếu ông có cách đưa bà qua cánh cửa này, bà có thể ẩn mình đâu đấy. Tôi không muốn dính dáng đến những chuyện như thế này, nhưng tôi thông cảm với bà. Tôi và bà quen nhau từ thuở còn bé nên tôi không nề hà gì mà không giúp bà làm điều bà muốn.
Vào khoảng chạng vạng tối hôm ấy, thân chủ của nhà thám tử đi vội vã đến văn phòng của ông. Cô ăn mặc giản dị trong màu đen và đội một chiếc mũ tròn màu sẫm và khuôn mặt được bao phủ bởi một tấm mạng. Cô giải thích:
-Nếu Charlie có trông thấy tôi, anh ấy sẽ không nhận ra tôi.
Ông Keeling và người phụ nữ đi bộ dọc con đường đối diện hiệu kim hoàn, và khoảng tám giờ tối cô gái trẻ mà họ đang quan sát bước vào cửa hiệu. Ngay sau đấy, cô đi ra cùng ông R—, ôm lấy cánh tay ông, và họ bước đi vội vã, hẳn là về phía nhà hàng để ăn tối.
Nhà thám tử cảm thấy cánh tay người phụ nữ kế bên ông run rẩy. Cô nói:
-Khốn khiếp! Anh ta nghĩ tôi đang vô tư trông chờ anh ta ở nhà trong khi anh ta đang lả lướt với con ranh điệu nghệ đầy mưu đồ ấy. Ôi, hạng đàn ông phản bội!
Ông Keeling đưa người phụ nữ đi qua một hành lang mở dẫn đến sân sau của hiệu kim hoàn. Cánh cửa của căn phòng sau không được khóa, và họ cùng bước vào.
Bà R— nói:
-Trong nhà kho, gần cái quầy làm việc của chồng tôi là một cái bàn rộng, với khăn trải bàn phủ xuống đến sàn nhà. Nếu tôi có thể chui xuống dưới cái bàn này, tôi có thể nghe mọi điều họ nói với nhau.
Ông Keeling lấy ra một chum chìa khóa vạn năng và trong vài phút đã tìm ra một chìa có thể mở cánh cửa đi vào hiệu kim hoàn. Một ngọn đèn khí đốt được vặn thật thấp.
Người phụ nữ bước vào bên trong và dặn dò:
-Tôi sẽ gài chốt cửa bên trong, và tôi muốn ông đi theo dõi chồng tôi và cô ấy. Nhìn xem họ có ăn tối với nhau không, và nếu có, khi họ bắt đầu trở về, ông trở về đây báo tin cho tôi hay bằng cách gõ cánh cửa ba lần. Sauk hi tôi đã nghe đủ câu chuyện họ nói với nhau, tôi sẽ mở chốt cửa, và chúng ta sẽ đối diện với cặp tội phạm. Tôi có thể cần ông bảo vệ tôi, vì tôi không biết họ có thể làm gì tôi.
***
Nhà thám tử nhẹ nhàng bước ra ngoài và đi theo ông chủ kim hoàn cùng cô gái. Chẳng bao lâu sau ông thấy họ đã chọn một phòng ăn riêng trong một nhà hàng và gọi thức ăn tối. Ông nán lại ở đấy cho đến khi họ trở ra, rồi vội vã quay trở về hiệu kim hoàn, bước vào căn phòng phía sau, và gõ cánh cửa ba lần.
Vài phút sau, ông chủ kim hoàn cùng cô gái bước vào, và nhà thám tử trông thấy ánh sáng soi rõ hơn qua một kẽ nứt trên cánh cửa. Ông có thể nghe hai người chuyện trò với nhau một cách thân mật và không ngừng nghỉ, nhưng không thể nghe ra họ đang nói những gì. Ông rón rén vòng ra ngoài con đường, nhìn qua khung cửa sổ, và có thể thấy ông R— đang làm việc ở cái quầy của ông, trong khi cô gái tóc đen ngồi kế bên và trò chuyện với ông.
 
Ông Keeling nghĩ ông sẽ cho họ thêm ít thời gian, rồi ông đi dọc theo con đường. Người cảnh sát đang đứng ở góc phố.
Nhà thám tử cho ông hay rằng bà R— đang ẩn mình trong hiệu kim hoàn, và mưu kế đang diễn tiến tốt đẹp. Ông nói:
-Bây giờ tôi lui về phía sau, để chuẩn bị sẵn sàng khi bà ấy cho họ sập bẫy.
Người cảnh sát bước trở lại cùng ông, và nhìn qua khung cửa sổ. Ông nói:
-Xem chừng họ đã dàn hòa với nhau tốt đẹp trở lại. Còn người phụ nữ kia đâu?
Nhà thám tử ngạc nhiên:
-Sao thế? Cô ta đang ngồi kế bên ông ấy.
Người cảnh sát thêm:
-Tôi đang nói đến cái cô mà ông R— dẫn đi ăn tối.
Nhà thám tử nói:
-Tôi cũng thế.
Người cảnh sát phân trần:
-Dường như anh đã nhầm lẫn. Anh có biết người ngồi cạnh ông R— là ai không?
-Đấy là người đi ăn tối với ông ấy.
-Đấy là bà vợ của ông R—. Tôi quen biết bà ấy đã mười lăm năm rồi.
Nhà thám tử há hốc:
-Thế thì, ai—? Chúa ơi, thế thì ai đang ẩn mình dưới cái bàn?
Ông Keeling bắt đầu đá cánh cửa của hiệu kim hoàn. Ông R— bước ra và mở cửa. Người cảnh sát và nhà thám tử bước vào.
Nhà thám tử hét lên:
-Khám xét dưới cái bàn, nhanh lên.
Người cảnh sát vén tấm khăn trải bàn lên và lôi ra một chiếc áo đen, một tấm mạng che mặt và một bộ tóc giả phụ nữ.
Ông Keeling chỉ đến người phụ nữ trẻ có đôi mắt đen đang nhìn họ với vẻ kinh ngạc tột độ, hỏi:
-Bà đây có phải là v-v-vợ của ông không?
Ông chủ kim hoàn đáp:
-Chắc chắn rồi. Bây giờ, làm ơn giải thích ông làm cái quái gì mà khám xét dưới mấy cái bàn của tôi và đá cánh cửa của tôi?
Người cảnh sát bắt đàu nhận định tình hình:
-Để xem xét giả chân
***
Các nhẫn kim cương và đồng hồ bị mất trị giá lên đến 800 đô, và ngày hôm sau ông Keeling thanh toán hóa đơn.
Tối hôm ấy, họ giải thích mọi việc cho ông chủ kim hoàn hiểu, và một giờ sau ông Keeling ngồi trong văn phòng của mình xem qua tập ảnh của những tên lừa đảo. Cuối cùng ông đã tìm ra một bức ảnh, ông dừng tay lật tìm mà vò đầu bứt tóc. Dưới tấm ảnh của một anh trai trẻ có gương mặt mịn màng với những đường nét thanh tú, là câu mô tả như sau:
“JAMES H. MIGGLES, bí danh Simon Lừa, bí danh Quả phụ khóc, bí danh Kate bịp, bí danh Jimmy Xoáy, kẻ lừa đảo và trộm cắp. Thường giả dạng phụ nữ. Ăn nói rất khéo và nguy hiểm. Bị truy nã ở Kansas City, Oshkosh, New Orleans và Milwaukee.”
 
Vì thế mà ông Thomas Keeling không tiếp tục dịch vụ thám tử tư ở Houston.
I dress to kill, and cook the same way.
0
O.Henry


Thái Tử, tình yêu và thời gian

Dịch giả:
Diệp Minh Tâm
Nguyên tác tiếng Anh: The Caliph, Cupid and the clock
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
 
Thái Tử Micheal của xứ Valleluna ngồi trên băng ghế ông ưa thích trong công viên. Không khí mát lạnh của đêm tháng Chín giục giã cuộc sống trong ông như một loại rượu vang quý hiếm, bổ dưỡng. Các băng ghế không đầy, vì những người thường thơ thẩn trong công viên, với dòng máu đặc quánh, đã nhanh nhảu bay về nhà để trốn tránh cái se lạnh của đầu thu. Tiếng phong cầm thở than và lao nhao ở đường bên. Trên những con đường chung quanh, xe cộ rì rầm, những con tàu thét rống như là hổ và báo. Vầng trăng vừa mới nhô lên khỏi những mái nhà phía đông. Trẻ em cười đùa nô giỡn quanh vòi nước. Phía trên các ngọn cây, cái tháp của một nhà công sở cũ kỹ mang một đồng hồ với cái mặt to, tròn, chiếu dạ quang.

Đôi giày của Thái Tử Micheal đã rách nát đến nỗi thợ sửa giày với tay nghề khéo nhất cũng không làm gì được. Mấy anh rách rưới cũng phải từ chối mọi thương thảo về quần áo của ông. Râu ria lổn nhổn đã mọc hai tuần mà không cạo, xám và nâu và đỏ và vang-lục – như thể mỗi người trong ban đồng ca của một vở hài kịch đã đóng góp râu của họ cho ông. Không một ai có chút tiền trên cõi đời này lại mang một chiếc mũ tồi tàn như mũ của ông.

Thái Tử Micheal ngồi trên băng ghế ông ưa thích và mỉm cười. Ý nghĩ tản mạn của ông là ông đủ giàu để mua tất cả mấy ngôi nhà kề sát nhau, to kềnh, với cửa sổ sáng đèn, nằm đối diện ông. Với mỗi trọc phú Manhattan, ông không hề kém họ về vàng bạc, ngựa xe, châu báu, những tuyệt tác mỹ thuật, bất động sản và hec-ta. Thế giới xã hội, thế giới nghệ thuật, giới chính trị, sự tung hô, bắt chước, sự nghiệp, vui thú, vinh quang – tất cả đang chờ đợi Thái Tử Micheal của xứ Valleluna bất kỳ khi nào ông muốn nhận. Nhưng ông chỉ nhận ngồi trong bộ đồ rách rưới và tồi tàn trên băng ghế công viên. Vì ông đã hưởng mọi quả ngon của cái cây cuộc đời và rồi, sau khi nếm được vị đắng trong miệng, đã bước ra khỏi Vườn Địa Đàng một thời gian để thay đổi  không khí cho gần với con tim của thế giới không cầu ký nhưng vãn đều nhịp đập.

Những tư tưởng này lan man trong đầu óc Thái Tử Micheal, khi ông mỉm cười dưới bộ râu đa sắc màu. Thoải mái nhàn nhã như thế, ăn mặc như kẻ nghèo nàn nhất trong số những người khất thực trong công viên, ông thích tìm hiểu nhân văn. Ông tìm thấy niềm vui thú trong lòng vị tha hơn là trong tài sản của ông, trong địa vị của ông, và trong tất cả những ngọt ngào đậm đà nhất của cuộc đời. Ông tìm thấy niềm an ủi và thỏa mãn để giúp xoa dịu những khổ đau của con người, để ban ân huệ cho những người xứng đáng và cần được cứu trợ, để làm những người bất hạnh lóa mắt vì những món quà bất ngờ và lạ lùng của vinh quang hoàng gia chân chính, tuy nhiên vẫn được ban bố theo cách khôn ngoan và đúng mức.
Và khi đôi mắt Thái Tử Micheal nhìn lên mặt đồng hồ vĩ đại tỏa sáng trên tòa tháp, nụ cười của ông, tuy vẫn có vẻ vị tha, pha chút ít nét khinh khi. Ông có những tư tưởng lớn, và luôn lắc đầu nghĩ đến sự nô lệ của thế giới đối với những mốc đo Thời Gian. Ông luôn buồn bã khi thấy con người đi đi lại lại trong vội vã và lo âu, chỉ vì bị hai thanh kim loại mỏng khống chế.
Rồi có một người trai trẻ đi đến, ngồi trên băng ghế thứ ba. Trong nửa giờ anh nóng ruột nhấp nhỏm hút xì-gà, rồi anh ngước nhìn cái mặt đồng hồ tỏa sáng trên hàng cây. Rõ ràng là anh đang lo lắng, và Thái Tử buồn rầu nhận thấy là việc này có liên quan sao đấy với hai chiếc kim thời gian đang nhích chầm chậm. Thái Tử đứng dậy và đi đến băng ghế của anh trai trẻ. Ông nói:
-Tôi mong anh thứ lỗi vì tôi bắt chuyện với anh, nhưng tôi nhận thấy anh đang bị xáo trộn trong tâm tư. Nếu có thể bào chữa một phần cho sự đường đột, cho tôi tự giới thiệu tôi là Thái Tử Micheal, người sẽ kế vị ngai vàng vương quốc Valleluna. Tôi muốn cải trang để không ai nhận ra, như anh thấy hiển nhiên từ bề ngoài của tôi. Tôi vẫn có lòng muốn ban bố trợ giúp cho những người tôi thấy đáng được trợ giúp. Có lẽ nếu anh và tôi cùng có những nỗ lực chung thì nguyên do gây khổ sở cho anh sẽ được khắc phục.

Anh trai trẻ rạng rỡ nhìn lên Thái Tử. Rạng rỡ, nhưng vẫn giữ nếp nhăn vì hoang mang giữa đôi lông mày. Anh cười, và ngay cả lúc ấy nếp nhăn vẫn còn. Nhưng anh chấp nhận việc đánh lạc hướng chú ý của anh trong khoảnh khắc. Anh nói vui vẻ:
-Hân hạnh được gặp ông, Thái Tử. Vâng, tôi có thể thấy ông đang cải trang để che giấu tung tích. Cảm ơn ông đã ngỏ ý giúp tôi, nhưng tôi không nghĩ ông có thể chen vào để giúp tôi được. Đây là chuyện riêng, xin ông hiểu cho, nhưng cũng xin cảm ơn ông.
Thái Tử Micheal ngồi xuống kế bên anh trai trẻ. Ông thường bị từ chối, nhưng không lấy làm phật ý. Cử chỉ và ngôn ngữ lịch sự của ông không cho phép. Ông nói:
-Đồng hồ là gông cùm của nhân loại. Tôi đã quan sát thấy anh cứ nhìn chăm chú cái đồng hồ ấy. Cái mặt nó là mặt của kẻ độc tài chuyên chế, các con số đều giả tạo như trên tấm vé số, hai kim là hai bàn tay của kẻ lừa đảo chỉ tổ làm anh phá sản. Tôi mong anh hãy dứt ra khỏi những trói buộc nhục nhã của nó và đừng để cho các món đồng và thép vô cảm ấy theo dõi những hoạt động của anh.
-Bình thường tôi không để như thế. Tôi mang một đồng hồ trừ khi tôi ăn mặc rách rưới chói lọi.
Thái Tử thiết tha:
-Tôi biết rõ bản chất con người như tôi biết về cây cỏ. Tôi là bậc thầy về triết lý học, là học giả nghệ thuật, và bụng tôi chứa cả một kho kiến thức. Không có mấy bất hạnh thế tục nào tôi không thể hóa giải. Tôi đã đọc gương mặt của anh, và thấy trên đấy tính lương thiện, cao cả cũng như là sầu khổ. Tôi xin anh hãy nhận nơi tôi lời khuyên hoặc sự giúp đỡ. Không nên lừa dối sự thông minh tôi nhìn thấy trên gương mặt của anh bằng cách phán đoán khả năng của tôi qua hình thức bên ngoài.

Anh trai trẻ lại liếc nhìn cái đồng hồ rồi nhíu mày. Anh lại chăm chú nhìn căn nhà gạch đỏ bốn tầng trong dãy nhà đối diện với anh. Những rèm cửa đã được kéo xuống, và ánh sáng từ nhiều căn phòng chiếu lờ mờ qua đấy.
-Chín giờ kém mười!
Anh trai trẻ than thở, với cử chỉ bồn chồn não nề. Anh quay lưng về ngôi nhà rồi bước đi.
-Dừng lại!
Thái Tử ra lệnh với giọng cứng cỏi đến nỗi con người buồn khổ phải xoay người lại với nụ cười nửa miệng. Anh lẩm bẩm:
-Tôi chờ cô ấy thêm mười phút rồi thì tôi sẽ đi.
Rồi anh nói lớn cho Thái Tử nghe:
-Tôi đồng ý với ông về mọi việc mọi đồng hồ đều gây rối reng, ông bạn à, và nên thêm cả phụ nữ vào đấy nữa.
Thái Tử trầm tĩnh:
-Ngồi xuống. Tôi không đồng ý thêm như thế. Phụ nữ là kẻ thù tự nhiên của đồng hồ, và do đấy họ là đồng minh của những ai muốn được giải phóng khỏi những con quái vật ấy – quái vật chỉ muốn đo những điên rồ của chúng ta và hạn chế những vui thú của chúng ta. Nếu cho đến giờ anh còn tin tôi, tôi mong anh kể cho tôi nghe câu chuyện của anh.
Anh trai trẻ ngả hẳn người trên băng ghế, cười ngặt ngẽo. Anh nói với giọng kính cẩn trong chế nhạo:
-Thưa Đức ông, tôi sẽ kể. Đức ông có nhìn thấy căn nhà kia không – căn có ba cửa sổ sáng đèn ấy? Việc là thế này, lúc sáu giờ tôi đứng trong căn nhà ấy với một người con gái mà tôi…tôi đã đính hôn. Tôi đã làm chuyện quấy, Thái Tử thân yêu ạ. Tôi đã là một tên không ra gì, và cô ấy đã nghe người ta nói về tôi. Dĩ nhiên là tôi muốn cô tha thứ. Đàn ông chúng ta luôn luôn muốn phụ nữ tha thứ cho mình, có phải thế không hở Thái Tử?
Cô ấy bảo tôi: “Em cần thời gian để suy nghĩ. Có một điều chắc chắn là: hoặc là em sẽ hoàn toàn tha thứ cho anh, hoặc em sẽ không bao giờ muốn trông thấy mặt anh nữa. Không có chuyện nửa vời”. Cô ấy bảo: “Đúng tám giờ rưỡi, anh có thể nhìn lên khung cửa sổ giữa của tầng trên cùng. Nếu em muốn tha thứ cho anh, em sẽ treo một khăn quàng lụa màu trắng nơi cửa sổ này. Anh sẽ biết là mọi chuyện sẽ như cũ, và anh có thể đến tìm em. Nếu anh không thấy chiếc khăn quàng tức là mọi chuyện giữa chúng ta sẽ chấm dứt mãi mãi”.
Anh trai trẻ kết luận một cách cay đắng:
-Đấy là lý do tại sao tôi cứ mãi nhìn cái đồng hồ. Thời gian để tín hiệu của cô ấy xuất hiện đã qua đi hai mươi ba phút trước. Bây giờ ông còn thắc mắc tại sao tôi có hơi buồn khổ không, hở Thái Tử Rách Rưới Râu Ria của tôi?
Thái Tử Micheal nói với giọng đều đều, từ tốn:
-Tôi cần nhắc lại cho anh là phụ nữ là kẻ thù tự nhiên của đồng hồ. Đồng hồ là quỷ dữ, phụ nữ là ân huệ. Có thể là tín hiệu ấy chưa xuất hiện.
Anh trai trẻ than thở, tuyệt vọng:
-Không bao giờ có chuyện như thế, trong vương quốc của ông. Ông không biết Marian, dĩ nhiên là ông không biết cô ấy đâu. Cô ấy luôn luôn đúng giờ, đúng từng phút. Đấy là nết tốt đầu tiên của cô đã thu hút tôi. Giờ tôi đã nhận được chiếc găng tay để hôn từ giã thay vì khăn quàng. Đáng lẽ lúc 8 giờ 31 phút tôi đã phải biết là vô vọng. Tôi sẽ đáp chuyến tàu lúc 11 giờ 45 đi về miền Tây. Tôi sẽ ở tại trang trại của Jack, thêm vào đấy là rượu giải sầu. Chào ông…à… Thái Tử.

Thái Tử nở một nụ cười bí ẩn, hiền từ, thông cảm và níu lấy tay áo chàng trai. Ánh sáng long lanh trong đôi mắt ông đang dịu lại thành một làn mây mỏng, mơ màng hơn. Ông trang trọng:
-Anh chờ ở đây cho đến lúc đồng hồ gõ. Tôi có tài sản, quyền lực và kiến thức hơn phần lớn nhiều người khác, nhưng khi đồng hồ gõ tôi lại thấy sợ. Anh ở đây với tôi cho đến lúc ấy. Cô ấy sẽ thuộc về anh. Lời phán của một Thái Tử kế vị ngai vàng vương quốc Valleluna bảo đảm cho anh. Vào ngày cưới của anh tôi sẽ tặng anh 100.000 đô la và một lâu đài bên bờ sông Hudson. Nhưng không được có cái đồng hồ nào trong ấy – chúng chỉ muốn đo những điên rồ của chúng ta và hạn chế những vui thú của chúng ta. Anh có đồng ý như thế không?
Anh trai trẻ vui tươi:
-Dĩ nhiên rồi, đồng hồ chỉ gây phiền toái thôi – luôn luôn tích tắc và ngân nga và khiến ta ăn tối muộn.
Anh liếc nhìn cái đồng hồ trên nóc tháp. Hai kim chỉ chín giờ kém ba. Thái Tử Micheal nói:
-Tôi nghĩ tôi cần ngủ một chút. Cả ngày đã làm tôi mệt mỏi rồi.
Ông xoải người trên băng ghế với cách như thể đã từng ngủ ở đấy. Ông nói với giọng sật sừ:
-Anh sẽ tìm thấy tôi tại công viên này mỗi buổi tối khi khí hậu thích hợp. Đến gặp tôi khi anh đã chuẩn bị xong hôn lễ, rồi tôi sẽ trao anh tấm ngân phiếu cho khoản tiền ấy làm quà cưới.
Anh trai trẻ nghiêm trang:
-Cảm ơn Đức ông. Không có vẻ gì là tôi sẽ cần tòa lâu đài bên bờ sông Hudson ấy, nhưng tôi cũng xin cảm ơn lòng tốt của Đức ông.

Thái Tử Micheal chìm vào giấc ngủ mê mệt. Chiếc mũ nhàu nát của ông lăn từ trên băng ghế xuống đất. Anh trai trẻ nhặt nó lên, đặt lên trên khuôn mặt nhem nhuốc, xếp đôi chân thư giãn thô kệch vào vị trí thoải mái hơn. Anh nói: “Tên quỷ sứ tội nghiệp!”, rồi kéo hai vạt áo tả tơi che kín ngực Thái Tử.

Tiếng ngân nga bắt đầu từ nóc tháp lúc hai kim chỉ đúng 9 giờ. Anh trai trẻ lại thở dài, quay nhìn lần cuối ngôi nhà, xem như để từ bỏ mọi hy vọng – và rồi anh ta reo lên những tiếng phạm thánh trong nỗi vui mừng thiêng liêng.
Từ khung cửa sổ giữa trên cao, tín hiệu của sự tha thứ và hạnh phúc sắp đến đang phất phơ, phần phật, la đà như tuyết, tuyệt vời.
Một công dân đang đi đến, phục phịch, thoải mái, vội rảo về nhà, không biết gì đến những khoái trá đến từ chiếc khăn quàng lụa phất phơ đối diện hàng rào của công viên đèn mù mờ. Anh trai trẻ hỏi:
-XIn ông làm ơn xem giờ cho tôi.
Người công dân, khôn ngoan xoay người để chiếc đồng hồ được an toàn, rút nó ra xem rồi tuyên bố:
-Tám giờ hai mươi chín phút rưỡi.
Vừa lúc, theo thói quen, ông nhìn lên cái đồng hồ trên nóc tháp, rồi tiếp:
-Ơ kìa! Cái đồng hồ ấy đi nhanh nửa giờ. Lần đầu trong sáu năm trời tôi thấy nó chạy sai. Đồng hồ của tôi chưa bao giờ sai lấy…

Người công dân đang nói vào khoảng không. Ông quay lại và thấy vị thính giả của ông trở thành một bóng đen mờ dần, bay về hướng căn nhà với ba khung cửa sổ còn sáng đèn.


***

Vào buổi sáng, hai người cảnh sát đi tuần trong công viên. Khung cảnh vắng lặng ngoại trừ một thân người rách rưới đang nằm xoải, ngủ mê mệt trên một băng ghế. Họ dừng lại nhìn. Một người nói:
-Đấy là Mike Nghiện. Hắn ngả bàn đèn mỗi đêm. Bạn thân của công viên trong hai mươi năm nay. Có thể là đến gần cuối cuộc đời rồi
Người cảnh sát kia nhìn vào vật gì đấy nhàu nát dồn cứng trong bàn tay của người say ngủ.
-Quái lạ! Hắn thở ra một tờ giấy năm mươi đô. Mình muốn biết nhãn hiệu hắn hút là gì.
Và rồi “Cộc, cộc, cộc!”. Cây dùi cui của thực tại gõ vào gót giày của Thái Tử Micheal xứ Valleluna.

I dress to kill, and cook the same way.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-25 14:01:10banhsukem>
O.Henry
 
Con người hai mặt
 
Dịch giả: Diệp Minh Tâm
Nguyên tác tiếng Anh: The marionettes
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Anh cảnh sát đang đứng tại ngã tư giữa Đường Số 24 và một con hẻm tối tăm,nơi tầu điện vượt trên đường ô tô.Đã là hai giờ sáng,thời khoảng của màn đen lạnh lẽo,lâm râm,không ai giao du với ai,kéo dài cho đến sáng.
 
Một người đàn ông,trong áo choàng dài,với chiếc mũ kéo sụp về đằng trước,mang vật gì đấy trong tay ,đi nhẹ nhàng nhưng nhanh nhẹn ra khỏi con hẻm.Anh cảnh sát bước đến ông với sự nghiêm túc,cùng vẻ tự tin của một quyền hạn có ý thức. Với giờ giấc này,con hẻm nổi tiếng với những chuyện khả nghi,dáng điệu hấp tấp của người bộ hành,cái món gì đấy ông đang mang-tất cả dễ gộp thành “những tình huống khả nghi” cần được công quyền làm sáng tỏ.
“Nghi can” dừng lại,kéo chiếc mũ về phía sau,để lộ ra trong ánh đèn điện nhấp nháy một gương mặt không cảm giác,trơn tru với một sống mũi khá dài và đôi mắt đen,đăm đăm.Ông thọc một tay mang găng vào áo choàng,rút ra một tấm danh thiếp trao cho anh cảnh sát.Anh đưa lên ánh đèn,đọc cái tên “Charles Spencer James,Bác sĩ Y khoa”.Địa chỉ thuộc về một khu đáng kính như thế trấn áp ngay cả tính tò mò. Anh cảnh sát liếc xuống vật người đàn ông mang trên tay – một chiếc hộp y khoa sang trọng bằng da,mầu đen,với đường viền bạc – và thấy nó phù hợp với nghề nghiệp ghi trên tấm thiệp. Anh cảnh sát bước qua một bên, với giọng thân mật bệ vệ:
-Được rồi, bác sỹ ạ. Tôi được lệnh phải cẩn thận hơn. Gần đầy có nhiều vụ trộm cướp. Khổ với đêm thế này khi ra đường. Không lạnh lắm, nhưng…ẩm ướt.

Khẽ gật đầu trang trọng và sau vài lời đồng ý với anh cảnh sát về thời tiết, bác sỹ James tiếp tục bước đi. Ba lần trong đêm ấy, cảnh sát tuần tra đã chấp nhận tấm danh thiếp và chiếc hộp y khoa như là bằng chứng cho con người và mục đích lương thiện. Nếu ngày hôm sau có anh cảnh sát nào muốn kiểm tra thêm – miễn là anh đừng đến sớm quá, vì bác sỹ James dậy muốn – anh sẽ thấy cũng tấm danh thiếp ấy được gắn trên một khung cửa sang trọng; cũng vị bác sỹ này, điềm đạm, ăn mặc chỉnh tề, trong phòng mạch trang bị đầy đủ; và sẽ nghe lời xác minh của những người xung quanh về một công dân lương thiện, một người gắn bó với gia đình, một sự thành công trong nghề nghiệp trong hai năm ông sống ở đấy.

Vì thế, nếu có một nhà bảo vệ sự an bình vì quá năng nổ muốn xem xét bên trong chiếc hộp y khoa này, anh sẽ vô cùng ngạc nhiên. Vì món đầu tiên mà anh thấy là một bộ đồ lề tinh xảo của một “anh chích”. Thêm những món này nọ được thiết kế và chế tạo đặc biệt – các chìa khóa, mũi khoan và dùi đục bằng thép tôi cứng nhất – đủ sức ăn sâu vào thép như con chuột gặm mẩu pho mát, và mấy cái kẹp có thể kéo cánh cửa một két sắt ra nhẹ nhàng như nha sỹ nhổ một cái răng. Trong một cái túi ở mặt trong chiếc hộp là một ống hóa chất nitroglycerine, chỉ còn phân nửa. Dưới bộ đồ lề là dăm tờ giấy bạc nhàu nát và vài đồng tiền vàng, tất cả gồm tám trăm ba mươi đô la.

Trong nhóm rất nhỏ bạn bè, bác sỹ James còn được biết đến với danh hiệu “The Swell Greek” – Người Hy Lạp xuất sắc. Phân nửa cái tên kỳ bí này là do phong thái trầm tĩnh và thượng lưu của ông, phân nửa kia chỉ một nhà lãnh đạo, nhà quy hoạch,người mà nhờ vào vị thế và địa chỉ uy tín, nắm đầy đủ thông tin theo đấy có thể định những kế hoạch và chuyến làm ăn táo bạo. Trong băng đảng nhỏ này, có hai thành viên khác là Skitsie Morgan và Gum Decker, đều là hai “anh chích” lành nghề, có thêm Leopold Pretzfelder, buôn bán nữ trang ở trung tâm thành phố, người giúp tiêu thụ “hang” do bộ ba thu được. Tất cả đều là bạn tốt và trung tín với nhau, không hề ba hoa, luôn luôn kiên định.

Chuyến làm ăn đêm ấy xem như không đáng công khó nhọc của băng đảng. Một cái két sắt kiểu cũ hai ngăn với khóa bên hông, ,trong một văn phòng tồi tàn của một công ty buôn bán quần áo rất giàu,đáng lẽ phải cung ứng nhiều hơn hai gnhien năm trăm đô la trong đêm thứ bảy này.Nhưng bọn ba người chỉ được có thế,và theo thói quen,họ chia đồng đều tại chỗ.Họ hi vọng có có được mười đến mười hai nghìn đô.Nhưng một trong những người chủ dã quá cổ hủ:ngay khi chiều xuống ông dã mang về nhà phần lớn số tiền trong hộp đựng áo sơ mi.
Bác sĩ James đi ngược lên Đường Số 24 lúc ấy đang vắng người. Ngay cả dân đi xem hát,vốn thường xem quân này như nơi trú ngụ, đã đi ngủ thừ lâu. Cơn mưa phùn đã tích tụ tên mặt đường; từng vũng nước đọng giữa các hòn đá nhận ánh đèn và phản chiếu lại,vỡ vụn thành hang trăm nghìn mảnh lỏng bỏng. Một ngọn gió ẩm ướt và giá lạnh hắt ra từ giữa các ngôi nhà.

Khi vị bác sĩ đều nhịp bước quanh góc một ngôi nhà gạch cao,cánh cửa trước mở toang,và một bà người da đen chạy rầm rập theo những bậc thang xuống đường.Bà lẩm bẩm những tiêng rối rít như không tự nói với mịnh,thói quen của dân da đen khi có một mình và đối đầu với quỷ dữ.Bà trông giống như lớp gia nhân người miền Nam – lắm lời, quen thuộc,trung thành cứng cỏi;vóc dáng bà biểu hiện điều đấy – to béo, tề chỉnh, mang tạp dề, mang khăn tay. Chạy nhanh ra khỏi ngôi nhà im lìm, bà xuống đến bậc thang cuối cùng vừa lúc bác sĩ James đi đến.Đầu óc của bà chuyển mọi năng lượng từ âm thanh qua hình ảnh, bà im bặt, dán tay lên chiếc hộp của ông bác sĩ:
-May phước quá! Ông có phải là bác sĩ không ạ?
Bác sĩ James dừng chân:
-Vâng, tôi là bác sĩ y khoa.
-Vậy mời ông bác sĩ làm ơn vô thăm bệnh cho ông Chandler. Ổng bị lên cơn đau tim hay là cái gì đó. Ổng nằm như chết. Cô Amy biểu tui đi tìm bác sĩ. Có Trời biết già Cindy này tìm ở đâu, nếu không có ông bác sĩ đi qua đây. Cô Amy, thiệt là tội nghiệp…
Bác sĩ James đặt chân lên bậc thềm:
-Dẫn đường cho tôi nếu muốn tôi làm nhiệm vụ bác sĩ.
Bà da đen dẫn ông vào ngôi nhà, lên một tầng cầu thang lầu trải thảm dầy. Lên hết tầng thứ hai, người dẫn đường hào hển đi đến một cánh cửa và mở ra.
-Cô amy, tui mời bác sĩ tới nè.

Bác sĩ James đi vào phòng, khẽ cú chào người phụ nữ đứng bên cạnh giường. Ông đặt chiếc hộp y khoa trên một chiếc ghế, cởi áo choàng ra, ,ném nó phủ lên chiếc hộp và thành ghế, rồi tiến đến thành giường với vẻ tự tin trầm tĩnh. Một người đàn ông đang nằm gần đấy, song soài sau khi ngã xuống – một người đàn ông mặc bộ quần áo giàu có theo thời trang bấy giờ, chỉ có đôi giày là được cởi ra, nằm im lìm như chết. Bác sĩ James toát ra một sức mạnh trầm lặng.Nhất là phụ nữ, luôn bị phong thái trong phòng mạch của ông hấp dẫn. Đấy không phải la thái độ mềm mỏng cua một pháp sư thời thượng,nhưng là phong thái từ tốn, chắc nịch, cung cách của năng lực đối đầu với số phận.Trong đội mắt nâu,đăm đăm và long lanh của ông có mãnh lực thu hút; dánh vẻ thảm quyền chuyên môn trong trầm tĩnh của khuôn mặt cạo chỉnh tề, hợp với vai trò của một người mà con bệnh có thể thổ lộ bí mật và nhận sự an ủi. Đôi lúc, khi đến thăm với tư cách nghề nghiệp thứ nhất của ông, phụ nữ có thể cho ông biết họ đã dấu kim cương ở đâu để phòng trộm đạo.

Với con mắt lành nghề, đôi mắt của bác si James không cần đảo qua lại nhưng cũng nhận ra vẻ lịch sự và chất lượng đồ đạc trong căn phòng. Các món đều đắt giá. Cùng với cái nhìn thoáng qua, ông cũng nhận ra ngoại hình của người phụ nữ. Cô nhỏ nhắn, không đến hai mươi. Gương mặt cô xinh xắn, tuy bị che phủ (bạn có thể nói như thế) bởi vẻ u uất lâu ngày hơn là chuyện buồn lo bất ngờ.Trên trán cô là một vết bầm mà mắt chuyên môn của ông bác si nhận ra là chi mới xảy ra trong vòng sáu giờ đồng hồ. Các ngón tay của Bác sĩ James sờ lên cổ tay người đàn ông. Đôi mắt ông có ý dò hỏi người phụ nữ. Cô trả lời, với âm giọng miền Nam:
-Tôi là bà Chandler. Chồng tôi thình lình bị bịnh chừng mười phút trước khi ông tới. Anh ấy bị mấy cơn đau tim lúc trước – có khi bị năng lắm.
Dường như bộ quần áo khuya sang trọng của người đàn ông và giờ giấc khuya khoắt khiến cô giải thích tiếp:
-Anh ấy đi…ăn tối về,tôi nghĩ vậy.
Bác sĩ James bây giờ hướng sự chú ý về người bệnh. Trong bất cứ nghề nào của ông, ông đều chú tâm hết mực vào cái “ca” hoặc “phi vụ” của ông.

Người bệnh tuổi khoảng ba mươi. Gương mặt anh mang vẻ táo bạo và phóng đãng, nhưng không thiếu nét cân đối cùng những dáng vẻ sành điệu và đam mê. Thoang thoảng mùi rượu vang đổ trên quần áo.
Vị bác sĩ mở áo vẹt tong ông ra, rồi với một con dao nhỏ rạch chiếc áo sơ mi một đường từ cổ áo xuống đến thắt lưng.Ông đặt tai lên vị trí quả tim, chăm chú lắng nghe. Khi ông đứng dậy, ông nói:
-Nhồi van tâm thất trái.
Câu nói chấm dứt với vẻ không chắc chắn.Ông lại cúi xuống nghe một hồi lâu, và lần này ông kết luận:
-Suy tâm thất trái.
Ông nói, với giọng trầm tĩnh vốn thường xoa dịu nỗi âu lo:
-Thưa chị, có khả năng là…
Khi ông từ từ quay lại nhìn người phụ nữ ông thấy cô ngã xuống, tái nhợt, bất tỉnh, trong vòng tay của bà quản gia người da đen.
-Khổ quá! Khổ quá! Bộ ông trời muốn hại cháu gái của Dì Cindy hay sao? Cầu trời tru đất diệt cái đứa nào muốn hại cổ, cái đứa làm cho cổ khổ, cái đứa –
Bác sĩ James ngắt ngang, đưa tay giúp đỡ hộ tấm thân đã mềm nhũn:
-Nâng hai chân cô lên.Phòng cô ở đâu? Cần đặt cô nghỉ trên giường.
Người đàn bà hất mặt về phía một cánh cửa:
-Đằng kia kìa, thưa ông bác sĩ. Đó là phòng cô Amy.
Họ mang cô đến đấy, đặt cô nằm trên giường.Mạch của cô yếu, nhưng đều đặn. Từ cơn bất tỉnh cô không tỉnh lại, mà chìm luôn vào giấc ngủ mê mệt.
Ông bác sĩ nói:
-Cô ấy chỉ mệt thôi. Ngủ là liều thuốc tốt. Khi cô tỉnh dậy, cho cô uống tí rượu ấm, thêm một quả trứng nếu cô dùng được. Làm thế nào mà cô ấy bị vết thương trên trán như thế?
-Cổ sơ ý,ông bác sĩ. Thiệt tội nghiệp, cổ té – mà không phải, ông bác sĩ.
Giọng điệu của bà thình lình trở nên khinh bỉ:
-Già Cindy này không muốn nói láo cái chuyện lôi thôi.Ảnh gây ra đó, ông à. Cầu Trời ra tay - nhưng mà không, Cindy hứa với cổ không nói. Cô Amy bị thương trên đầu đó, thưa bác sĩ.
Bác sĩ James bước đến cây trụ đèn với cái bong đang cháy sáng, vặn nhỏ xuống. Ông ra lệnh:
-Bà ở đây với cô ấy, giữ yên tĩnh cho cô ấy ngủ. Nếu cô ấy thức dậy, cho uống tí rượu. Nếu thấy cô yếu thêm thì cho tôi hay. Có điều gì đấy lạ lùng trong việc này.
-Còn có chuyện quái chiêu hơn trong nhà này.

Nhưng ông bác sĩ đã nhắc bà giữ yên tĩnh, với tính cương quyết ít thấy, với giọng tập trung mà ông vẫn thường xua đuổi cơn sợ hãi. Ông đi ra, nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại rồi đi trở vào phòng kia.Người đàn ông trên giường vẫn chưa cử động nhưng hai mắt đã mở.Môi anh mấp máy như muốn nói gì đấy. Bác sĩ James cúi xuống để lắng nghe. Người bệnh chỉ có thể thì thầm: “Số tiền! Số tiền!”
Ông bác sĩ hỏi nhỏ,nhưng rành rọt:
-Anh có nghe tôi nói không?
Cái gật đầu yếu ớt.
-Tôi là bác sĩ, chị gọi tôi đến. Tôi được nghe giới thiệu anh la Chandler. Người anh khá yếu. Anh không nên để bị phấn khích hoặc buồn khổ gì cả.
Đôi mắt người bệnh dường như muốn ra hiệu.Ông bác sĩ cúi xuống để cố bắt những tiếng rất nhỏ:
-Số tiền…Số tiền hai mươi ngàn đô…tiền của cô ấy…
-Số tiền ở đâu? Trong ngân hang phải không?
Đôi mắt tỏ dấu hiệu là không phải.Giọng nói càng trở nên yếu ớt thêm:
-Bảo cô ấy… hai mươi ngàn đô… của cô ấy…
Đôi mắt người bệnh đảo quanh căn phòng.
Giọng Bác sĩ James nghiêm nghị như thể muốn khai thác bí mật từ người đàn ông với trí óc đang suy sụp:
-Anh đã để tiền ở đâu đấy phải không? Trong phòng này phải không?

Ông bác sĩ nghĩ ông đã thấy ý công nhận trong đôi mắt đờ đẫn. Mạch của người bệnh dưới các ngón tay ông mỏng manh như sợi tơ. Đến đây, bản năng của ngón nghề kia trỗi dậy trong đầu óc và long dạ của ông. Ông quyết định nhanh chóng – trong cái nghè nào ông cũng nhanh chóng như thế - là phải tim ra nơi cất giữ món tiền, với giá một mạng người có tính toán.
Ông rút ra một tập giấy nhỏ, nguệch ngoạc ít chữ một công thức pha chế món thuốc nào đấy thích hợp nhất đối với người bệnh, theo khả năng nghề nghiệp cho phép. Ông đi đến cửa phòng kia, khe khẽ gọi bà quản gia, đưa toa thuốc cho bà, bảo bà đi đến một hiệu y dược để mua loại thuốc ghi trên toa. Khi bà đã đi, càu nhàu một mình, ông bác sĩ bước đến bên giường cô gái. Cô vẫn ngủ say, mạch có phần rõ hơn, vầng trán mát ngoại trừ nơi có vết bầm, có chút ẩm ướt. Nếu không bị quấy rầy, cô có thể ngủ hàng mấy giờ. Ông tìm thấy chiếc chìa khóa, ông dùng nó khóa cánh cửa lại sau khi ông bước ra.

Bác sĩ James nhìn đồng hồ của ông. Ông có thể có nửa giờ cho riêng mình, vì bà quản gia khó lòng về kịp trong thời gian ấy. Rồi ông đi lấy một cái vò, cho một ít nước vào đấy, và một chiếc cốc vại thủy tinh rỗng. Ông mở chiếc hộp y khoa, lấy ra cái ống nhỏ chứa nitroglycerine – chất “dầu” theo như mấy bạn giang hồ của ông gọi. Ông nhỏ chất lỏng hơi sánh, vàng nhạt vào cái lọ. Ông lấy ra một ống tiêm, gắn một kim tiêm vào đấy. Cẩn thận đo dung lượng từng ống theo những vạch đo bên ngoài, ông đang pha giọt kia với gần nửa cốc vại nước.
 
Hai giờ đồng hồ trước, bác sĩ James đã dùng cùng cái ống tiêm để bơm cùng loại hóa chất, nhưng không pha loãng, qua một lỗ khoan vào ổ khóa của cái két sắt. Với một tiếng nổ nhỏ, ông đã phá hủy cơ chế kiểm soát sự vận hành của cái ổ khóa. Bây giờ ông dùng cùng cách thức ấy với ý đồ phá tung bộ máy một cơ thể - để tiêu hủy con tim của nó, và mỗi cơn sốc là để đoạt được món tiền hiện ra tiếp theo sau đấy.Cùng một cách thức, nhưng với mục đích khác nhau. Trong khi cách kia là sức mạnh dữ dội, cách này êm thấm hơn, bằng bàn tay không kém chết chóc nhưng được nhung gấm che đậy. Vì giọt hóa chất trogn chiếc cốc vại và trong cái ống tiêm ông đã cẩn thận rút lên bây giờ trở thành dung dịch glonoine, một chất kích thích tim rất mạnh. Vài chục phân khối có thể mở toang một cánh cửa két sắt, chỉ bằng một lượng ít hơn năm mươi lần ông có thể làm ngưng hẳn cơ chế tinh vi vủa một mạng sống con người. Nhưng không phải làm ngưng lập tức. Ý đồ không phải là như thế. Trước hết là phải vực sự sống lên, gây hưng phấn mạnh mẽ cho mọi cơ quan và chức năng. Quả tim sẽ đáp ứng một cách dũng cảm theo cơn kích thích chết người; máu trong các tĩnh mạch sẽ nhanh chóng trở về cái nguồn của nó. Nhưng, bác sĩ James đã biết rõ, sự kích thích tột độ trong cơn bệnh tim như thế này chắc chắn đem lại một cái chết, cũng chắc chắn như cái chết do một phát súng trường. Khi các động mạch đã bị nghẽn, lại bị quả tim bơm mạnh thêm máu vào do ảnh hưởng từ thứ “dầu” của giới đạo chích, chúng sẽ trở thành “đường cấm”, và suối nguồn của sự sống sẽ ngừng chảy.
 
Ông bác sĩ vạch trần ngực bệnh nhân đã mê man. Với thao tác dễ dàng và khéo léo, ông tiêm dung dịch hóa chất vào những bắp cơ xung quanh vùng tim. Đúng theo thói quen của cả hai cái nghề, ông cẩn thận lau khô mũi kim, luồn vào đấy sợi dây kim loại mỏng để kim không bị nghẽn khi không dùng đến. Trong vòng ba phút, Chandler mở mắt ra và, với giọng yếu ớt nhưng rõ ràng, hỏi ai đã chăm sóc anh. Một lần nữa, bác sĩ James giải thích về sự hiện diện của ông. Người bệnh hỏi:
-Vợ tôi đâu?
-Chị ấy đang ngủ, vì mệt và lo âu. Anh muốn đánh thức chị không, ngoại trừ…
-Không…cần. Cô ấy sẽ không…, cảm ơn, đừng làm phiền cô ấy…vì tôi…
Tiếng nói của Chandler bị ngắt quãng bởi hơi thở quá gấp gáp, gấp gáp do bị một con quái vật nào đó thúc đẩy. Bác sĩ James kéo một chiếc ghế đến bên giường. Không nên để ai quấy rầy. Ông nói với giọng trầm trầm, chân thật của cái nghề kia:
-Ít phút trước, anh có đề cập đến món tiền gì đấy. Tôi không muốn chen vào chuyện riêng của anh, nhưng tôi có bổn phận khuyên anh là lo lắng khiến anh khó khỏi bệnh. Nếu anh có thể thổ lộ chuyện…để giúp tâm tư anh được thanh thản về chuyện…hai mươi nghìn đô la – tôi nghĩ đấy là con số anh nói – thì anh nên nói cho tôi nghe.
Chandler không thể lắc đầu được, nhưng có thể hướng đôi mắt về người nói:
-Tôi có nói…món tiền…ở đâu không?
-Không, anh nói tôi không nghe rõ, tôi chỉ đoán là anh lo lắng về món tiền. Nếu nó ở trong căn phòng này…
Bác sĩ James ngừng lại. Có phải ông đã thấy người bệnh chớp mắt rồi thoáng hiện ánh nghi ngờ trên nét mặt vì đã hiểu ra ý đồ của ông? Liệu ông có tỏ ra quá sốt sắng không? Liệu ông có nói quá nhiều không? Nhưng câu kế tiếp của Chandler đã vãn hồi sự tự tin của ông:
-Nó phải ở đàng kia…nhưng có phải ở trong…cái két…kia?
 
Với đôi mắt, anh chỉ đến một góc phòng. Bây giờ ông bác sĩ mới nhìn thấy một cái két sắt nhỏ ở đấy, bị tấm màn cửa sổ che đi một nửa. Ông đứng dậy, nắm lấy cổ tay người bệnh. Mạch nhảy dồn dập, nhưng với chút ít ngắt quãng ngắn – triệu chứng đe dọa. Ông bác sĩ nói:
-Giơ tay lên.
-Bác sĩ biết…tôi không cử động được.
Ông bác sĩ bước nhanh về cánh cửa hành lang, mở ra, nghe ngóng. Tất cả đều im lìm. Không chần chừ gì nữa, ông đi đến cái két sắt, xem xét. Kiểu cổ lỗ và đơn giản, chỉ tạo thêm chút ít an toàn đối với gia nhân ngứa tay. Với tài khéo léo của ông, đây chỉ là món đồ chơi. Xem như món tiền đã nằm sẵn trong tay ông. Với các món đồ lề, ông có thể mở cái két trong hai phút. Với cách khác, có lẽ chỉ một phút. Ông quỳ xuống sàn, ép tai vào cái ổ khóa kết hợp, xoay từ từ cái chốt. Đúng như ông đã đoán, chỉ có một số khóa. Cái tai thính của ông bắt được một tiếng “cách” nhỏ, rồi ông theo đấy mà xoay cái chốt lại. Ông mở toan cánh cửa.
 
Phía trong cái két trống rỗng, ngay cả một mẩu giấy cũng không có. Bác sĩ James đứng dậy, bước trở lại cái giường. Một màn sương mù dày đã bao phủ lông mi của người bệnh, nwhng có một nụ cười giễu cợt trên đôi môi và đôi mắt. Anh nói một cách mệt nhọc:
-Tôi chưa từng thấy…con người hai mặt…trộm đạo và y khoa. Cái kết hợp1 có đáng tiền không, hở bác sĩ thân yêu?
Tài năng của bác sĩ James chưa bao giờ bị thử thách đến thế. Tràn ngập trong hoàn cảnh khôi hài quỷ quái, nạn nhân rơi vào tình trạng cảm thấy vừa buồn cười lẫn mệt nhọc, mà vẫn cố duy trì tính tự tôn và đầu óc sáng suốt.
-Ông tỏ ra quá…lo lắng…đến tiền. Nhưng nó không bao giờ…bị ông đe dọa…bác sĩ thân yêu à…Nó được an toàn…tuyệt đối an toàn. Nó đều ở…trong tay…bọn tổ thức cá cược. Hai chục nghìn…tiền của Amy. Tôi nướng ở trường đua…thua tất. Tôi tệ hại, ông ăn trộm, xin lỗi, bác sĩ à, nhưng tôi chơi đàng hoàng. Tôi không ngờ…lại có ngày gặp…một tên đốn mạt mạ vàng như bác sĩ, xin lỗi, tên trộm này…Nếu ông cho nạn nhân, xin lỗi, bệnh nhân này một hớp nước, thì có vi phạm…đạo đức nghề nghiệp…của băng đảng ông không?
 
Bác sĩ James mang đến cho anh cốc nước. Anh uống không được bao nhiêu. Phản ứng của chất thuốc mạnh mẽ đã xảy đến từng đợt như sóng vỡ. Nhưng trí óc đang hấp hối của anh đang cố sức lần nữa:
-Cờ bạc…bét nhè…bủn xỉn…tôi làm hết, nhưng chưa bao giờ làm…bác sĩ kiêm trộm cắp!
Ông bác sĩ không muốn buông thả mình theo câu trả lời nào cho những châm chọc nhức nhối. Ông cúi xuống thấp để bắt lấy tia mắt của Chandler đang nhanh chóng sánh đặc, ông chỉ vào căn phòng của cô gái đang ngủ với cử chỉ nghiêm khắc khiến người bệnh phải cố gượng hết sức tàn nghiêng đầu nhìn. Anh không thấy gì, nhưng anh bắt được những tiếng sắc lạnh của ông bác sĩ, những âm thanh cuối cùng anh nghe trong đời:
-Tôi chưa bao giờ…đánh đập phụ nữ.
 
Hai người đối mặt nhau như thế - một kẻ sát nhân kiêm trộm đạo, đứng bên nạn nhân của hắn; kẻ kia còn hạ cấp hơn tuy phạm luật nhẹ hơn, nằm đấy, bị phỉ nhổ, trong căn nhà của cô vợ đã bị hắn hành hạ, bị tan nát cuộc đời, bị ruồng bỏ - một tên là con hổ, tên kia là chó sói; mỗi tên đều miệt thị sự độc ác của tên kia, và từ cặn bã bùn lầy mỗi tên đều cố tỏ ra mình đạt tiêu chuẩn cao quý – tiêu chuẩn theo cung cách hành động nếu không phải theo danh dự con người.
 
Câu trả đũa của bác sĩ James hẳn đã đánh trúng vào những gì còn sót lại của hối hận và nam tính; đấy là phát súng ân huệ. Một màu đỏ vì xấu hổ lan cả khuôn mặt, hơi thở nhẹ dần và, chỉ với chút xíu cử động, Chandler thoát trần. Theo sát sau hơi thở cuối cùng là bà quản gia người da đen, mang thuốc trở về. Với bàn tay nhẹ nhàng vuốt trên mi mắt đã khép kín, bác sĩ James báo cho bà tin buồn. Không phải với nỗi khổ đau mà chỉ do thói quen di truyền cận kề với cái chết khiến bà sụt sịt, rồi vẫn với giọng cố hữu:
-Vậy là bây giờ có bàn tay ông Trời sắp đặt. Ông Trời xét xử người có tội, phù hộ độ trì người khổ đau. Giờ ông Trời đã phù hộ ta. Cindy này đã tận tụy hết mức mà không có lợi lộc gì.
-Theo tôi hiểu, bà Chandler không có tiền phải không?
-Tiền hả, ông bác sĩ? Ông có biết tại sao cô Amy bị té và yếu ớt như vậy không? Bị bỏ đói đó, bác sĩ à. Trong nhà này hổm rày không có thứ gì ăn ngoại trừ ít miếng bánh vụn. Mấy tháng trước cổ đem nhẫn với đồng hồ của cổ đi bán. Căn nhà này, với thảm đỏ và bàn viết bóng láng, đều là đi thuê, mà cái tên đó cứ cằn nhằn hoài về tiền thuê. Quỷ thần, xin lỗi, ông Trời thật là có mắt.
 
Sự im lặng của ông bác sĩ khuyến khích người đàn bà tiếp tục. Qua những lời lẽ lộn xộn, ông dần dà hiểu ra. Câu chuyện xưa như trái đất, câu chuyện về ảo ảnh, ngang tang, đại họa, tàn nhẫn và tự trọng. Dần dần ông nhìn ra các hình ảnh – quang cảnh một ngôi nhà lý tưởng tận miền Nam xa xôi, một cuộc hôn nhân với hối tiếc nhanh chóng, một mùa trong năm trôi qua không hề có hạnh phúc mà chỉ đầy những bê tha và hành hạ, và, cuối cùng, khoản tiền do di chúc để lại nhưng bị tên chồng lòng lang dạ sói thu giữ và tiêu phí trong hai tháng vắng mặt khỏi nhà, rồi đến một đêm khuya hắn lết về say khướt. Chen vào đấy là tình thương giản đơn, nhẫn nhục, thuần khiết của bà quản gia người da đen, luôn luôn theo chân cô chủ không sờn bước để cùng nhau chịu đựng mọi nỗi niềm cho đến lúc cuối.
 
Khi cuối cùng bà ngưng lại, ông bác sĩ hỏi bà trong nhà có whisky hoặc thứ rượu gì khác không. Bà cho biết còn nửa chai cô-nhắc của tên chó sói uống dở dang. Ông bảo bà:
-Pha ít rượu như tôi đã nói. Đánh thức cô chủ dậy, cho cô ấy uống, rồi bá otin cho cô ấy biết.
Khoảng mười phút sau, bà Chandler bước vào, được nâng đỡ trong vòng tay của Cindy, trông khá hơn sau giấc ngủ và chút rượu ấm. Bác sĩ James đã lấy một tấm vải đậy cái thân người trên giường. Cô đảo đôi mắt tang tóc qua đấy một lần, tia nhìn nửa sợ hãi, nép mình thêm vào người che chở cho cô. Đôi mắt cô khô và sáng. Nỗi đau buồn dường như đã đến cùng cực. Không còn nước mắt, cảm giác tự nó đã tê liệt.
 
Bác sĩ James đứng gần cái bàn, ông đã mặc lại áo choàng, chiếc mũ và cái hộp y khoa trên tay. Gương mặt ông trầm lặng, không cảm giác – nghề nghiệp đã khiến ông không còn xúc cảm đối với đau khổ của con người. Chỉ có đôi mắt nâu của ông biểu lộ niềm thông cảm kín đáo theo nghề nghiệp. Ông nói từ tốn và ngắn gọn là, vì đã quá khuya và không còn có thể giúp gì được, ông sẽ gửi người đến lo những thủ tục cuối cùng. Ông chỉ vào cái két sắt với cánh cửa mở toang:
-Còn một việc để kết thúc, chị Chandler ạ. Chồng chị, trước khi qua đời đã biết mình không qua khỏi, nên cho tôi biết con số của khóa kết hợp, nhờ tôi mở cái két sắt này. Trong trường hợp chị cần dùng nó, chị nên nhớ con số bốn mươi mốt. Xoay ít vòng về phía tay phải, rồi xoay về tay trái một lần, dừng lại ở số bốn mươi mốt. Anh ấy không cho phép tôi đánh thức chị, dù phút cuối đã gần kề. Anh ấy bảo trong két sắt anh ấy có một món tiền, không lớn lắm, nhưng đủ để chị thực hiện lời yêu cầu cuối cùng của anh. Đấy là: chị nên trở về ngôi nhà cũ của chị, và sau đấy, khi thời gian đã giúp chị nguôi ngoai, chị hãy tha thứ cho những tội lỗi của anh ấy.
 
Ông chỉ về cái bàn, trên đấy là một xấp giấy bạc xếp thẳng thớm, với hai chồng đồng tiền vàng.
-Món tiền ở đây, tám trăm ba mươi đô. Tôi xin để lại danh thiếp, trong trường hợp chị cần tìm đến tôi sau này.
 
Thế là, cuối cùng anh đã nghĩ đến cô, một cách nhân hậu. Quá muộn! Tuy thế, lời nói dối đã nhóm lại trong cuộc đời cô một tia lửa dịu dàng cuối cùng khi cô nghĩ tất cả đã thành tro bụi. Cô khóc òa lên “Rob! Rob!”. Cô quay người, nép vào lòng bà quản gia trung hậu, với những dòng nước mắt pha loãng nỗi thảm sầu. Trong những năm về sau, lời dối trá của tên sát nhân tỏa sáng như một ngôi sao nhỏ trên nấm mồ của tình yêu, an ủi cô, nhận được sự tha thứ - như thế cũng tốt dù đã có xin tha thứ hay không.
 
Được an ủi vỗ về như một đứa trẻ, với niềm cảm thương lắp bắp từ bà quản gia, cuối cùng cô ngẩng đầu lên, nhưng ông bác sĩ đã ra đi.
 
 
I dress to kill, and cook the same way.
0
Đã mang vào thư viện

Cảm ơn banhxukem đã góp sức cho thư viện

Thân ái
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0