THEO CHÂN NGƯỜI TU PHẬT
Trong căn nhà cấp 4 ở khu Xáng Múc thị xã Rạch Giá, ông Hai Ðức, nguyên là lính Tiểu đoàn 307 rồi khi tập kết ra Bắc ở Sư đoàn miền Ðông 330 kể : "Sau vụ lính đá banh bị gẫy giò, tôi với ổng nhận đồng hương rồi nhận cha nuôi con nuôi, ông kể với tôi chuyện ổng đi tu Phật. Thấy chuyện của ổng vui vui thì nghe, lúc đó không có ý thức tìm hiểu gì nên tôi không có hỏi sâu. Chuyện ổng kể không phải một lần mà qua nhiều thời gian khác nhau, tôi chắp nối lại thì như vầy :
Ông nội tôi người Quảng Ðông sang Việt Nam từ nhỏ, ở Cần Thơ, làm đầu bếp nấu ăn cho các thợ xáng múc người Việt và người Pháp. Ổng gặp bà nội người Ô Môn. Ba tôi sanh ở Cần Thơ, ông nội đặt tên là Lưu Tấn Thành mong cho sau này nên người. Khi lớn thì ba theo nội sống trên xáng. Sau nội gởi ba sang chiếc xáng khác để làm việc vặt và học nghề. Do siêng năng chịu khó nên ổng được người thợ cả thương, cho làm việc luồn rừng cắm mốc cho xáng đào kinh Rạch Giá - Hà Tiên, dần dần làm thợ coi máy rồi tiến tới làm thợ cả. Người thợ đó gả em gái mình cho ba. Vì làm thợ cả nên ba má được chủ xáng cho phép quây một phòng riêng trên xáng làm chỗ ở. Giáp tết năm 1900 má sinh tôi trên con xáng này trong khi ba đang theo con xáng đào kinh Xà No. Thời đó tôm cá nhiều, đời sống trên xáng dễ dàng nên má được ăn uống đầy đủ, tôi sanh ra khá lớn con, được hơn 4 ký lận. Tôi lớn lên trên con xáng nầy rồi ông già cho học nghề xáng tiếp. Khi đào con kinh Rạch Giá - Hà Tiên, ông già phát hiện ra vùng đất kinh Mốp Giăng thuộc xã Mỹ Hiệp Sơn huyện Châu Thành đất nước ngọt rất tốt nên trong khi vẫn làm xáng, ông bỏ công sức khai khẩn được hơn 300 công đất. Khi đất thuộc thì má nghỉ không làm trên xáng nữa mà ở nhà cai quản mấy chục mẫu điền. Sau đó cả ba cả tôi cũng nghỉ làm xáng luôn. Ba lập đình thờ thành hoàng và miễu Bà Chúa xứ ở hai bên kinh Mốp Giăng. Do kinh tế khá giả lại có công lập đình thờ thành hoàng nên ba được làng bầu làm hương cả, gọi là Hương cả Thành. Vào khoảng những năm 1930 - 1933 ở vùng mình nảy sanh nạn địa chủ cướp điền của dân. Chúng cho tay chân dùng dáo mác gậy gộc tới đánh đuổi dân, cướp đất rồi bán cho chúng. Nông dân nhiều nơi nổi lên đánh lại. Trong một trận đánh cướp ở Mốp Giăng, do tôi bày mưu tính kế, khiến cho một thằng cướp bỏ mạng. Biết thế nào dân cũng bị chúng trả thù, tôi bàn với bà con là tự đứng nhận vụ này. Ngay trong đêm gia đình đưa tôi đi trốn. Hôm sau, tin con trai Cả Thành đánh chết tên cướp lan ra. Tôi lên Long Xuyên rồi qua Châu Ðốc. Tôi nghĩ, là thằng trốn tránh mà túi không tiền lại không có ‘nghề’ là không được nên vô Núi Cấm xin học võ. Học xong tôi theo đám mãi võ Sơn Ðông đi diễn, kiếm ăn, khi nghề cứng lên, tôi nhập bọn anh chị bảo kê đứng bến ở bến xe khách Lạc Hồng chợ Rạch Giá. Làm ít lâu, nghĩ lại thấy quá nguy hiểm vì dân đứng bến thường oánh lộn, nếu chẳng may có chuyện gì, án mới chồng lên án cũ thì hết cách. Lại nữa, dân đứng bến dễ có thù oán, lỡ đứa nào biết tung tích mình mà vì thù hằn báo với cảnh sát thì nguy. Nghĩ vậy, tôi thấy không gì hơn là bỏ xứ, theo anh em sang Miên làm ăn.
Tôi theo bạn bè lên Nam Vang rồi dần dà dạt tới Batđomboong. Ðang ngơ ngác bước trên bến cảng thì có người kêu :
- Anh làm phu khuân vác được không ?
Ðang đói khát, có người cho việc làm, tôi mừng húm, nói :
- Tôi làm được!
Người chủ thâu nhận tôi, cho vác lúa gạo từ kho xuống ghe chài. Tôi có sức nên làm khoẻ và nhanh hơn những người khác. Ðến cuối ngày, tôi được trả hai hào, cao hơn công của những người khác. Biết ở xứ người cuộc sống chẳng dễ dàng nên tôi cần mẫn chăm chỉ làm việc, sống biết điều với mọi người. Nhờ vậy nhiều người nể. Một bữa có ông chủ người Ấn đi kiếm người biết tiếng Việt để mướn làm thông ngôn. Ông này làm ăn ở Nam Vang và xuống đây xin mở cúp khai thác cây. Ông cần người biết tiếng Việt để giao dịch với kiểm lâm người Việt. Nghe nói có tôi là người Việt đang làm phu khuân vác, ông ta tìm đến hỏi thăm ông chủ của tôi rồi mướn. Ông chủ Ấn Ðộ giao cho tôi trông coi anh em thợ cắt cây, giao thiệp với kiểm lâm, hàng tháng lãnh tiền phát lương cho thợ. Mọi việc tôi đều làm dứt dạt đàng hoàng nên ổng tin và quý, thường thưởng cho, khi thì bộ quần áo, khi năm ba đồng. Tôi học nói tiếng Ấn, dần dần nói chuyện được với ông chủ, nên quan hệ với ông gần gũi hơn.
Một bữa, ông chủ xuống phát lương xong, quày về Nam Vang, tôi tiễn ông ra đến cổng rồi làm mấy việc vặt. Đến khi ăn cơm xong chuẩn bị đi ngủ mới thấy chiếc va ly ông chủ để quên ở góc nhà. Va ly không khoá, tôi mở coi thử thì là một va ly tiền mới cứng, trong đó có những xếp bạc Bộ lư 100 đồng của Ngân hàng Ðông Dương.
- Mầy biết lúc đó tao thế nào không ? Tao ngẩn người ra, nín thở dường muốn hụt hơi. Cả một đống tiền, nằm mơ cũng chưa bao giờ nghĩ tới. Một gia tài có thể đủ sống một đời ! Lấy rồi trốn đi, một tiếng nói tự nhiên thì thầm vào tai. Nhưng rồi tôi tỉnh lại. Lấy rồi trốn đi đâu ? Về xứ thì không được. Mang tội giết người giờ lại thêm tội ăn cắp thì sống sao nổi với nhục nhã ? Mà lấy của ai chớ của ông chủ hiền lành tốt bụng vầy được sao ? Phân vân mãi, suốt đêm ấy tôi trằn trọc không ngủ được.
Gần sáng, nghe tiếng xe hơi thắng lại trên sân, biết là xe ông chủ, tôi vội vàng trở dậy bước ra. Ông chủ hối hả chạy lên cầu thang. Tôi nói trước để ông yên tâm :
- Ông chủ để quên cái va ly.
Ông chủ bình tĩnh trở lại, nhìn tôi lặng lẽ. Tôi lôi chiếc valy từ trong mùng ra, đặt trước mặt ông, nói :
- Tiền của ông còn nguyên đó, ông đếm lại đi.
Không nói không rằng, ông mở va ly, tay ông run run, khuôn mặt xúc động. Ông rút trong va ly ra xấp tiền đưa cho tôi. Tôi không nhận, đỡ tay ông, nói :
- Ông chủ cho tôi nhiều rồi. Lần khác ông chủ cho, tôi xin nhận. Lần này tôi không thể nhận được. Ông chủ đi đường mạnh giỏi !
Tháng sau xuống phát lương, ông chủ đưa tôi về Nam Vang làm việc với ông. Ông có hai cửa hàng vải lớn, phải mướn hơn hai mươi người Ấn làm việc. Ông ở cùng người vợ và cô con gái. Nhưng hai người không tham gia vô việc kinh doanh mà chỉ trông coi nhà cửa. Ðược một thời gian, không hiểu sao ông chủ Ibrahim giao cho tôi quản lý một cửa hàng. Lúc đó tôi thiệt bối rối nhưng làm sao mà từ chối, đành cũng liều mạng làm. Tôi ráng học cho thành thạo tiếng Miên và tranh thủ học tiếng Ấn để nói chuyện với ông chủ và giao tiếp với những người Ấn Ðộ làm công. Rồi một bữa, ông kêu tôi vô phòng làm việc của ông, nói :
- Tôi thấy anh là người tốt, thiệt thà, hiền lành, siêng năng. Vợ chồng tôi muốn gả con Mary cho anh. Ý anh thế nào ? Ông chủ nhìn tôi hỏi.
Mày biết tâm trạng tao lúc đó sao không ? Như người nằm mơ. Mơ cũng không dám mơ vậy. Nhưng tôi cũng hiểu, phải thận trọng kẻo mang tiếng hồ đồ không ra gì. Tôi đành dùng kế hoãn binh, xin ông cho suy nghĩ thêm. Sau ba ngày đêm suy nghĩ căng thẳng, tôi thấy nên nói thật với ông chủ : mình là người nghèo, tứ cô vô thân, được ông chủ giúp cho nên người từng bước một, chưa bao giờ nghĩ tới vinh dự lớn như vậy. Ông bà chủ thương thì rất cảm ơn, chỉ sợ cô Mary không chấp nhận, khinh rẻ. Ông chủ động viên :
- Tôi rất hiểu tâm trạng của anh, nhưng anh yên tâm, vợ chồng tôi sẽ thuyết phục được con gái tôi, hơn nữa, theo phong tục Ấn, khi lấy Mary anh sẽ được tặng của hồi môn nên không còn nghèo nữa.
Sau đó ông Ibrahim đặt tên Ấn Ðộ là Hăcxacôp Chanđra rồi nhập quốc tịch Ấn cho tôi. Ngày đám cưới, tôi được tặng cửa tiệm vải đang trông coi, ông bà Ibrahim còn mua tặng vợ chồng tôi căn nhà riêng.
Mầy hẳn nghĩ, ở hoàn cảnh vậy chắc tao vui lắm chớ gì ? Vui thì vui nhưng lại lo, nỗi lo khắc khoải, phấp phỏng : không hiểu cô gái đối với mình ra sao ? Sống gần gũi khá lâu nhưng phải tới ngày lên chùa làm lễ cưới tôi mới nhìn rõ mặt. Một cô gái 19 tuổi cao ráo, nước da nâu, khuôn mặt phúc hậu như Phật bà.
Dù đã dự liệu nhiều tình huống nhưng thực tế với tôi lại đơn giản và nghiệt ngã hơn nhiều. Ðêm tân hôn, khi người thân ra về hết, ông bà Ibrahim chúc phúc hai vợ chồng tôi rồi từ biệt. Chỉ còn hai đứa trong căn nhà rộng mênh mông, Mary lẳng lặng bỏ về phòng mình. Ngồi suy nghĩ mãi rồi tôi đi về phía phòng của nàng, nhẹ nhàng xoay nắm cửa thì nhận ra cửa khóa từ bên trong. Tôi khe khẽ gõ cửa. Chỉ có im lặng thăm thẳm đáp lại ! Buồn ngao ngán, tôi trở về phòng, cũng đóng trái cửa, mở chai cônhắc ra uống. Tôi hiểu, số phận mình đã được định đoạt. Sống giữa những người xa lạ, tôi càng bẽ bàng hơn trong vai trò thằng chồng hờ ! Làm sao đây ? Công bằng mà nói, Anna Mary không có tội. Nàng là cô gái xinh xắn, dễ thương, hiền dịu, hiếu thảo. Tội duy nhất của nàng là không yêu tôi. Nhưng đó đâu phải tội lỗi ? Bởi lấy tôi nàng quá thiệt thòi ! Nghĩ vậy rồi tôi lại nghĩ, mình có thể làm được gì đây ? Mầy hiểu thế nào là chó chui gầm chạn chưa ? Liệu tao có thể làm như thằng vũ phu là phá cửa cưỡng bức nàng không ? Sau này tôi biết, nhiều đàn ông Ấn Ðộ từng làm thế, luật pháp cho phép họ. Nhưng tao không thể. Chẳng những tôi đang là chó chui gầm chạn mà thực ra tôi không đang tâm, không muốn ép buộc nàng ! Vậy thì nói thật với ông bà Ibrahim chăng ? Cùng lắm là ly dị, lúc đó tôi có toàn quyền hưởng phần hồi môn. Nhưng không thể làm thế. Nó bộc lộ sự bất tài bất lực của mình, một thằng đàn ông, không chinh phục nổi một cô gái ! Hơn nữa, điều đó cũng dáng xuống ông bà Ibrahim cú đòn nặng nề, mình thành kẻ hàm ơn nên oán ! Nghĩ hết nước, tôi thấy, nếu nàng tiếp tục như đêm nay, chỉ còn cách chơi trò diễn tuồng với nàng : im lặng chịu trận, làm như vợ chồng vui vẻ ! Ðể xem rồi tới đâu ? Nghĩ thế, tôi yên tâm ngủ.
Sáng hôm sau, tôi chủ động dậy mở cửa hàng bán vải. Lúc này vai trò của tôi đã thay đổi nên khách đến mua hàng đông hơn, công việc bận mải cuốn mình đi. Mỗi khi về nhà, cơm ngon canh nóng có sẵn. Mary chăm sóc, nói cho ngay là hầu hạ tôi chu tất nhưng không bao giờ ngồi ăn cùng mâm. Nàng như cái bóng trong nhà, khi có tôi thì cái bóng biến mất. Mầy biết không, những ngày đó là những ngày tao nén nhịn. Tuy vợ bên cạnh mà đêm nằm không nó tạo nên sự bức bối khó chịu nổi nhưng tôi thấy là phải giữ gìn, không thể buông thả đĩ điếm. Những lúc buồn quá, tôi chỉ ra tiệm uống vài ly cônhắc giải sầu. Bề ngoài chúng tôi vẫn vui vẻ : khi đến thăm ông bà nhạc, khi đi viếng cảnh chùa. Chúng tôi diễn tuồng khéo tới mức ông bà Ibrahim không biết gì, cứ tưởng hai đứa êm thấm lắm nên lâu lâu lại bóng gió mong có cháu ngoại để bồng!
Một bữa cha vợ biểu tôi :
- Ba mẹ muốn đưa con về Ấn Ðộ thăm gia đình và cầu trời Phật ban phước lành cho hai con.
Miệng tôi nói "dạ" nhưng nét mặt không bộc lộ tình cảm gì. Ông mướn người trông coi hai cửa hàng vải rồi dùng kim xăm trên mặt tôi những vết màu tối cho thiệt giống người Ấn. Nước da vốn đen, sau khi được xăm, lại nói tiếng Hin đu trôi chảy nên tôi chẳng khác một thương nhân Ấn thứ thiệt.
Từ Nam Vang gia đình sang Sài Gòn, đáp chuyến tàu khách tới Bombay rồi đi xe hơi về Tân-đề-li. Tới đây tôi mới biết dòng họ của ông Ibrahim là dòng họ lớn và giàu có. Họ nhường cho gia đình tôi cả ngôi biệt thự sang trọng. Ông bà nhạc đưa vợ chồng tôi đi thăm hỏi thân nhân gia tộc, đi du ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh rồi tới chùa cầu phước cho hai vợ chồng. Những lúc ngồi sát bên nhau chắp tay cầu Phật, tôi thấy mắt nàng tuy thành kính nhưng lạnh tanh vô cảm. Tôi biết nàng không những không có tình cảm gì với mình mà ngay niềm tin ở thần thánh cũng không. Nàng chỉ làm mọi điều để vui lòng cha mẹ. Tuy giận cháy lòng nhưng tôi cũng thương nàng. Nàng cũng khổ kém gì mình ? Không thể sống thế này mãi, tôi nghĩ nhưng thực khó biết phải làm gì vì giờ đây càng khó hơn khi còn ở Miên. Nhưng sẽ có đường thoát, tôi chắc vậy.
Trong khi thăm viếng các ngôi chùa, tôi nghe nói : nhà chùa đang tuyển người đi Tây Phương tu Phật, đã có hai người, chỉ cần một người nữa là đủ. Hay là mình đi tu ? Tôi nghĩ và thấy đi tu cũng hay, cũng là một cách giải thoát khỏi cái cảnh khốn khổ này. Tôi còn được biết, đi tu là vinh dự cao nhất cho gia đình. Vậy thì mình sẽ đi, không chỉ là việc giải thoát mà còn trả ơn với gia đình ông Ibrahim. Nghĩ vậy, tôi nói với vị sãi cả là tôi muốn đi tu. Lúc đầu cũng nghĩ, đi tu là chuyện bình thường, cạo đầu, mặc áo cà sa. Nhưng không ngờ ngay sau khi vừa ngỏ lời, một hồi chiêng trống vang lên tưng bừng rộn rã. Người ta ùa đến vây lấy tôi, kính cẩn cúi chào, có người còn quỳ xuống lạy rồi hôn chân khiến tôi ngây người ra ngỡ ngàng. Càng lạ hơn khi thấy ông Ibrahim dắt tay Mary lách đám đông tiến về phía tôi. Bước tới gần, quỳ xuống, Mary xá tôi như lạy một bậc thánh. Tôi thật bất ngờ vì mặt nàng nhìn tôi thành kính biểu lộ mối xúc động nồng nàn. Theo quy định, tôi phải ở lại chùa bảy ngày để làm lễ, xông hương, sau đó trở lại từ giã gia đình. Tôi được tắm nước thơm, thay bộ áo cà sa, ngồi thiền trước bàn thờ Phật. Suốt thời gian đó ngày nào cha mẹ vợ cùng Mary cũng tới chùa quỳ sau lưng. Còn tôi, suốt bảy ngày đêm ngồi thiền định không nhúc nhích, ngủ cũng trong tư thế thiền định.
Sau những ngày ngồi thiền ở chùa, cả họ hàng nhà ông Ibrahim kéo đến cổng chùa hoan hỷ rước tôi về nhà. Toà biệt thự gia đình ở chật ních người. Họ đặt tôi ngồi thiền ở đại sảnh còn già trẻ lớn bé quỳ xung quanh. Tất cả đều lặng lẽ, thành kính trong hương trầm ngan ngát. Tôi cũng ngồi yên trong tư thế nhập thiền, đôi mi khép hờ, một tay duỗi thẳng trước ngực một tay đặt trên tấm áo cà sa bằng lụa vàng. Về khuya, mọi người dần dần tản đi nghỉ, chỉ còn Mary vẫn quỳ trước mặt tôi, đầu hơi cúi, hai tay thành kính chắp trước ngực, đôi mắt nhìn tôi chờ đợi. Tôi lặng lẽ đứng dậy đi về phòng của mình. Mấy ngày ngồi thiền người khá mệt, tôi nằm thư giãn, suy nghĩ mông lung. Chợt tôi thấy Mary tới quỳ xuống bên giường, vẫn trong tư thế thành kính lúc nãy. Tôi vẫn nằm im lặng một lúc rồi ngồi dậy nhìn nàng. Hai người cứ im lặng như thế khá lâu. Rồi đưa tay nâng nàng dậy, tôi quàng tay ôm nhẹ hông nàng qua lớp xà rông dầy. Im lặng, nàng cúi đầu đi giật lùi ra ngoài. Lát sau Mary quay lại trong bộ đồ ngủ mỏng, mùi nước hoa dìu dịu. Tôi run rẩy mở nút tấm áo ngủ làm bằng sương khói của nàng rồi ngắm đến no nê thân thể nàng tròn trặn đẹp lộng lẫy như pho tượng apsara bằng đồng hun. Hai tay nàng vẫn chắp trước ngực bỗng run rẩy choàng riết lấy vai rồi nàng nép vào người tôi, và rồi dù có cố kiềm chế, nước mắt cũng trào ra, nàng nấc lên khóc tức tưởi. Lúc bấy giờ tôi vô cùng bối rối nhưng sau này nghĩ lại, hiểu rằng nàng khóc vì hối hận cho những ngày tháng vô vị trôi qua đến khi nhận ra được hạnh phúc thì cũng là lúc sắp chia xa.
Thoáng cái đã đến ngày tôi phải lên đường. Bữa đó, từ sớm người ta đã vây lấy cổng nhà tôi ở rồi sau đó chia làm hai hàng quỳ dọc theo lối đi. Khoảng 7 giờ, một đoàn người rước kiệu cùng cờ quạt chiêng trống thì thùng tiến vô sân. Vị sãi cả cúi đầu mời tôi lên kiệu. Tôi quay lại xá mọi người trong nhà rồi lên kiệu. Ông sãi cả chậm rãi lần tràng hạt bước phía trước, người đi đường nối theo thành đám rước dài. Tới chùa, tôi được dẫn tới trước bàn thờ Phật tổ, một lễ cầu nguyện diễn ra, vị sãi cả làm lễ chúc phúc cho tôi. Tôi ở lại chùa ít ngày vừa học kinh vừa nghe hướng dẫn về con đường đến Tây Phương. Ngày lên đường, các vị tăng đưa tôi ra cổng. Tại cổng chùa, hai hàng người quỳ lạy, trong tiếng chiêng trống rộn ràng tiễn tôi đi. Vị sãi cả đưa tôi đi một quãng xa thì dừng lại. Chiếc xe hơi quen thuộc của gia đình đón sẵn. Ông Ibrahim mời tôi lên xe ngồi ghế trên, còn bà Ibrahim ngồi sau với Mary. Ông Ibrahim lên xe sau cùng, ngồi sau tay lái. Theo con đường quốc lộ, xe đi về phía tây. Ðến chiều, khi không còn đường đi nữa, tôi xuống xe, chia tay gia đình. Cả ba người quỳ xuống trước mặt tôi. Tôi bước lùi lại. Mary tay vẫn để trước ngực, mắt nhìn tôi đăm đắm như người mất hồn. Cầm lòng không đặng, tôi quay người lại, bước vội. Một nhà sư đã chờ sẵn, dắt tới con ngựa màu lông hung hung rồi tôi cùng nhà sư lên ngựa đi vào rừng. Ngoái lại tôi thấy vợ tôi cùng cha mẹ vợ vẫn quỳ, nhìn hướng về tôi…
Phải qua nhiều đèo suối, nửa đêm tôi mới tới một cảnh chùa nằm trong hang núi.
Sáng ra vị sãi cả trong chùa nói rằng tôi phải ở lại chùa một thời gian vừa học kinh vừa học thuốc và luyện tập, khi nào thành thục mọi thứ sẽ lên đường đi Tây Phương. Ðầu tiên tôi được cho ngồi thiền và nhìn mặt trời buổi sáng. Vừa cầu kinh, tôi vừa lần bấm ngón tay, từ ngón trỏ tới ngón út. Lúc đầu nhìn mặt trời mới lên còn êm nhưng sau đó thì chói quá, muốn nổ tung con mắt. Ðúng lúc đó người ta kêu vô. Tôi được dạy kinh Phật, không có quyển sách nào, chỉ học truyền miệng. Buổi chiều một vị hoà thượng cao niên dạy các môn thuốc toàn bằng cây cỏ : lá nào trị cảm cúm, nhức đầu, lá nào trị đau bụng tháo dạ, rồi dần dần những thuốc trị rắn cắn, gẫy xương. Do biết chữ Hin-đu, tôi ghi chép những lời thầy giảng để học lại nên mau thuộc. Chiều xế lại được hướng dẫn ra ngồi thiền cầu kinh nhìn mặt trời lặn. Ban đêm tôi được cho nằm trên phiến đá rất lạnh. Không hiểu sao lại có phiến đá lạnh đến vậy, lạnh hơn mọi vật chung quanh, như có ai ướp nước đá. Ban đầu lạnh quá không ngủ được nhưng về sau mệt ngủ thiếp đi. Cứ đêm đêm nằm thế riết rồi quen. Tôi còn được tập luyện Yôga, mà nhìn mặt trời cũng là một môn luyện Yôga. Tiếp đó học khí công, luyện cách điều hoà nhịp tim. Trong cái hang tôi ở còn có phiến đá nữa, nóng hơn bình thường, dường như được người ta nung lên vậy. Sau thời gian ngủ trên đá lạnh, tôi được chỉ cho ngủ trên tảng đá nóng. Lúc đầu nóng quá không ngủ được nhưng mãi rồi quen. Nhờ vậy quen dần với nóng với lạnh. Thời gian trong ngôi chùa hang trôi đi chậm chạp, không có việc gì phải gấp gáp. Học không thuộc thì học lại, học nữa, chỉ khi nào thật thuộc thật nhuyễn mới thôi. Khi thấy tôi đã học đủ có thể lên đường được rồi, vị sãi cả cho người đưa tôi đi bộ trở lại con đường mấy tháng trước, đến bịnh viện gần nhất. Ở đấy tôi nằm lại một tuần cho người ta cắt ruột dư. Trong những ngày đó, tôi càng nhận ra người ta chuẩn bị cho người đi tu Phật thật chu đáo. Cắt ruột dư xong, tôi trở về chùa. Ngày lên đường, vị sãi cả đưa cho một ít thuốc, một ít trái cây làm thức ăn rồi tất cả cùng quỳ xuống đọc kinh tiễn tôi lên đường. Trước khi đi, tôi được dặn kỹ đường đi cách sao cho khỏi lạc và cần phải làm gì khi đến nơi tiếp.
Ba người đi tu Phật bọn tôi ra khỏi chùa, quay lại xá mọi người rồi chân trần bước trên sỏi đá. Mỗi người là một thế giới riêng câm lặng nên chỉ mấy ngày sau mỗi người một ngả. Sau này tôi không bao giờ gặp lại những bạn tu đó nữa. Tôi đi theo những con đường mòn ngoằn ngoèo khi lên đèo khi băng suối trong ánh sáng u u minh minh ban ngày và mịt mùng tối trong đêm. Không hề có bóng người nhưng lâu lâu lại bắt gặp cái am nhỏ, có nhang đèn có trái cây cúng. Của ai ? Tôi tự hỏi rồi đoán chừng, phải chăng có người của nhà Phật vẫn theo dõi và giúp mình trong những ngày đầu tiên? Nghĩ thế, tôi yên tâm, thắp nhang, khấn vái rồi ăn một mớ, còn lại cho hết vô bọc mang theo. Quả thật, nếu không có những trái cây đó, không biết tôi có qua được không ? Mình to con, làm khoẻ nhưng cũng mau đói nên lúc đầu ăn lá cây chịu sao thấu, nhiều khi đói muốn ngất xỉu, mắt đổ hào quang. Những trái cây ngon lành từ các am đó trợ sức nhiều lắm. Buổi đầu tập ăn lá cây cũng cả là một chuyện khổ ải. Ðói khát thì phải ăn nhưng ăn rồi bụng đau cồn cào, ói ra mật xanh mật vàng. Nhưng không ăn thì chịu chết sao? Những bận gặp tổ ong thì mừng thiệt lớn. Ăn một mớ rồi lấy mật, lấy sáp mang theo. Tôi cũng chú ý kiếm củ sâm rừng, mang theo ăn dần.
- Vậy trong rừng không khi nào ba gặp tổ chim rồi sóc hay thỏ sao? Ba có bắt nó ăn thịt không ?
- Thằng nầy hỏi coi bộ gắt ta ! Ăn chớ sao không ? Biết là giới răn cấm sát sanh nhưng đói quá chịu sao thấu. Một lần gặp tổ chim gì đó trong bộng cây, tôi mò tay vô thấy bốn cái trứng bằng trứng gà con so. Mút vô, thấy tỉnh táo hẳn. Có bận gặp con nhái bên bờ suối, mình bắt, lột da rồi ăn sống từ từ từng chút một, vừa ăn vừa coi chừng xem bụng dạ có sao không. Cũng nghĩ là mình làm bậy, phạm điều răn. Nhưng lại nghĩ, mình mới đi tu mà, đã thành Phật được đâu, cũng phải từ từ. Càng đi lâu càng quen với trái với lá cây rừng không còn bị cái đói hành hạ nữa, lúc đó tôi thấy tổ chim, hay sanh vật ngay trước mắt cũng dửng dưng không còn thèm khát ! Tôi tự hỏi : phải chăng như thế mình đã thành Phật ? Từ đó tôi không còn bao giờ sát sanh nữa.
Sống lâu trong rừng tức là sống trong đêm và hoàng hôn, mắt người thường sẽ nhìn kém đi nhưng tôi nhờ tập nhìn mặt trời nên mắt vẫn tinh, có thể nhìn khá xa trong bóng tối. Tuy vậy nhưng mắt không ngon bằng tai. Trong rừng tai thành giác quan chủ yếu. Nhờ nghe tiếng rừng, mình biết nơi có thác nước là có vực sâu, phải thận trọng tránh xa, nếu không sa xuống vực thì bỏ mạng. Nhưng cái chính là nhờ tai mà kiếm được thức ăn. Trong rừng chủ yếu ăn trái cây mà chim rừng là loại thày dạy kiếm trái cây thần sầu. Do theo dõi hoạt động của chim, mình biết, nếu có con nào phát hiện ra trái chín, chúng gọi nhau, báo cho nhau nên lũ chim lần lượt bay về một hướng, vừa bay vừa kêu. Mình đi theo hướng đó. Khi thấy bầy chim vừa ăn vừa hót huyên náo là đã đến gần cây có trái chín. Lúc đó chỉ còn việc leo cây hái trái, còn nếu cây cao quá thì mót lại những trái mà bầy chim làm rớt, nhưng thường thì tôi ráng leo cây vì gặp những bữa liên hoan như vậy chẳng dễ dàng gì. Những trái cây chim ăn vừa ngon ngọt lại không độc.
Ði mãi lâu, chừng khoảng nửa năm, mới tới cảnh chùa thứ hai. Mầy có biết tao mừng cỡ sao không ? Mừng vì nhìn thấy con người, mừng vì được nghe tiếng người. Khi đi trong rừng, tôi chỉ lầm rầm đọc kinh, nói một mình, nghe cũng một mình. Giờ được nghe tiếng người, tôi hiểu mình không cô độc. Ðâu đâu trong rừng tối mênh mông vẫn có đồng loại đồng đạo của mình. Thấy người thấy cảnh chùa là vui nhưng cũng không phải là chuyện nghỉ ngơi. Lại học những bài kinh mới do vị sãi cả truyền cho, lại ngồi thiền, lại tập Yôga. Các vị hoà thượng dạy thêm cho những môn thuốc quý cùng những biện pháp chống thú dữ, rắn độc. Những gì học được khi ở ngôi chùa đầu tiên cộng với kinh nghiệm trên đường đi, lại được nâng lên một chút. Khi kiểm tra những bài kinh đã dạy, thấy tôi thuộc rồi, vị sãi cả hướng dẫn đường đi đến ngôi chùa tiếp. Sau đó cho tôi ít thuốc cùng trái cây, họ cầu kinh chúc phước tiễn lên đường.
- Vậy có khi nào ba gặp thú dữ không ba, nghe nói rừng Ấn Ðộ dễ sợ lắm mà ba ?
- Dễ sợ là với cái khác, còn thú dữ tôi không gặp gấu, chỉ một lần gặp cọp. Bữa ấy tôi đang đi thì thấy bầy khỉ nháo nhác chuyền cành chạy trối chết. Tôi đoán chừng có cọp nên chuẩn bị đề phòng. Lát sau thì mùi hôi xốc lên và con cọp lớn bước tới. Trước khi vô rừng, tôi được dạy, nếu gặp thú dữ thì ngồi xuống tụng kinh, Phật sẽ độ. Tôi nghĩ ngồi tụng kinh hổng chắc ăn nên vội ngồi thụp xuống, lấy cái cây vẫn mang bên mình chõi ngược lên. Chúa sơn lâm dừng lại nhìn trừng mình, mình nhìn lại. Hai bên đang đấu trí nhau như vậy, mình lấy hết hơi sức bất ngờ thét lớn, vang như tiếng sấm. Cọp giật mình dông tuốt vô rừng.
- Ði trong rừng hoài vậy, ba có nhớ nhà không ?
- Thằng nầy hỏi kỳ, nhớ chớ sao không ? Nhớ ba má ở Mốp Giăng, nhớ vợ con không biết sống ra sao. Từ ngày ra đi nào có tin tức gì đâu. Tôi cũng nhớ ông bà Ibrahim và Mary. Thương Mary muốn thắt ruột. Tôi không trách nàng. Lúc đầu nàng không thương mình cũng có lý của nàng bởi mình có ra gì đâu. Khi hiểu và thương tôi thì nàng thương hết lòng. Nhưng tới lúc đó mọi thứ đã rồi, không thể hồi được nữa. Càng thương họ, tôi càng muốn sống để về gặp lại. Mà tôi mang máng tin là sắp có con với Mary.
Công việc của tôi trong rừng chỉ là đi. Muốn mau tới đích, tôi tận dụng mọi thời gian, lần hồi rồi đi được ngay cả khi ngủ, việc kiếm thức ăn cũng ít mất thời gian hơn vì nhu cầu của cơ thể giảm đi, mà cũng làm quen với lá rừng, củ rừng nên không phải tìm kiếm mất công như trước nữa. Khi bị bịnh, tôi tự chữa bằng những vị thuốc mang theo hoặc ngắt những lá cây chung quanh. Có bận tôi bị hòn đá chuồi lăn trúng bàn chân trái, đau quá, ngất đi. Ðêm xuống tỉnh lại thấy bàn chân còn bị đá đè, tôi lấy cái cây luôn mang theo bên mình bẩy hòn đá rút chân ra rồi lấy thuốc trong bọc bôi, lấy lá rừng bọc lại. Hai bữa sau chân khỏi, lại đi tiếp.
Ðến một cảnh chùa khác, tôi lại được học kinh, ngồi thiền. Nhưng ở đây nhung nhúc những rắn nên mọi người phải học cách sống chung với rắn. Họ dạy tôi cách dùng một loại lá rừng thoa khắp cơ thể, lúc đó rắn không cắn nữa. Lúc đầu cũng hoảng nhưng rồi thấy ai sao mình vậy, quen dần. Có bữa ngủ dậy thấy chú hổ mang cuộn tròn ngủ ngon lành trong áo cà sa. Thấy động, chú ác xà dương cái đầu ba cạnh bành mang nhìn rồi lặng lẽ bò đi.
Cứ thế, tôi đi qua nhiều cảnh chùa. Có ngôi chùa làm trong hang núi. Tận dụng cái hang, người ta đục đá làm thành bệ thờ, tu sửa những ngách hang thành tăng phòng. Kỳ công hơn là những ngôi chùa do con người tự tạo. Ở đây ngoài xã hội loài người, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, hầu như không có chút gì của thế giới văn minh. Chỉ bằng bàn tay, họ xếp đá thành những bức tường, lấy cây làm cột, làm mái che mưa chắn gió. Các tăng sĩ sống lặng lẽ nhưng tự giác. Họ là những con người của thế giới thoát trần với những khuôn mặt ưu nhã, những vầng trán thanh cao không chút vẩn đục vì dục vọng. Trong số họ có những người cũng đi tu Phật như mình nhưng không thể đi tiếp mà ở lại đây. Họ không ghen tỵ mà hết sức giúp những người đi xa hơn họ. Có những người vì muốn được ghi nhớ, muốn được người sau thờ nên kỳ công khoét núi làm thành cái am nhỏ rồi cũng lập ban thờ, nhang đèn thờ Phật. Khi người đó viên tịch, đồng đạo đem thiêu rồi đặt xá lỵ trong am. Những người đến sau thừa hưởng cái am nên thờ họ. Cùng nén nhang cúng Phật có nén nhang thắp cho vị bồ tát quá cố. Nhìn những cảnh ấy, nghe những câu chuyện ấy, tôi thật cảm động, thấy kính trọng họ. Không biết việc tu hành của họ có thành chánh quả không nhưng họ là những con người đáng trọng.
- Ðường xa như vậy, gian nan vậy, có khi nào ba muốn bỏ về ngang xương không ba ?
- Làm sao bỏ ? Có ai bắt mình đi tu đâu, tình nguyện cơ mà. Dù cực chẳng đã mới đi nhưng mình hiểu, nếu không thành Phật thì ít nhất cũng là đền được ơn ông bà Ibrahim và cả Mary nữa. Tôi không có đường trở về. Tôi không sợ chết vì biết rằng người đi tu Phật mà bỏ trốn sẽ bị phỉ nhổ thậm chí bị giết chết vì bị cho là ma quỷ, thần phật không cho phép đi tu nên đuổi về. Cái chính là nếu bỏ trốn sẽ không còn mặt mũi nào nhìn mọi người nữa. Chính việc không có đường lui càng khiến tôi thêm nghị lực đi đến cùng để được trở về với người thân. Nói thực lúc đó tôi chả biết là Phật rồi thì sẽ làm gì mà chỉ nghĩ đi cho tới nơi để được trở về với mọi người.
Suốt những năm đi trong rừng, quá nhiều hiểm nguy nhưng có lẽ thử thách gay go nhất với tôi là hai lần vượt sông. Mùa mưa, con sông cuồn cuộn chảy như thác, nước lao ầm ầm. Sông rộng chỉ khoảng nửa cây số nhưng việc vượt qua là quá sức người. Hàng tuần dừng lại bên bờ sông, vừa ngồi thiền vừa suy tính. Tôi thử cho cành cây xuống nước, dòng nước hung dữ cuốn mất tăm. Tôi thử đẩy cả một cây lớn xuống. Cây cũng bị cuốn đi nhưng trôi chậm hơn, ngụp lặn trong xoáy nước. Mừng thầm, tôi nghĩ là có cách rồi. Tôi lấy dây rừng kết lại thành một cái dây thiệt dài. Cột một đầu dây vô gốc cây trên bờ, mình ngồi lên cái cây lớn làm bè, chất đống dây lên đó rồi thả từ từ. Nước dữ quá, cuốn cây đi băng băng tưởng chết. Ðành bỏ cây, bám vô dây lội vào bờ. Lần sau tìm cái cây lớn hơn, tôi lên cây, rị dây cho cây từ từ trôi qua phần sông bên kia. Thả riết cho tới khi cây cách bờ bên không bao xa. Nhưng nước vẫn xiết nên phải ngồi rình cả buổi tới một giây phút dòng nước có vẻ bớt hung hãn hơn, tôi nhảy đại xuống nước lội sang bờ bên. Lần sau có kinh nghiệm, tôi vượt sông nhanh hơn nhưng cũng thuộc về may mắn. Biết bao bất trắc có thể xảy ra : dây đứt hoặc bất thần có một cái cây lớn trôi ngang qua, cuốn luôn mình đi. Cũng thiệt phiêu lưu khi nhảy xuống nước, biết đâu lúc đang lội, dòng nước tưởng là yên ổn bỗng nổi hứng bất tử chảy mạnh nhấn chìm mình luôn...
- Tôi đi riết trong rừng không biết bao nhiêu năm nữa, có chừng ngót cả chục năm thì đến cảnh chùa thứ chín. Cũng như ở các chùa trước, vị sãi cả cùng chư tăng đón mình không vồ vập nhưng chân tình. Còn mình thì mừng hết lớn vì biết không lạc đường, lại được gặp người, được nói tiếng người. Vị sãi cả dạy những bài kinh mới. Khi nghe tôi đọc lại, biết rằng tôi đã thuộc, vị đó bảo có thể lên đường đến cảnh chùa cuối cùng là Tây Phương. Vị đó nói, đường tới chùa sẽ gặp thử thách lớn nhất là phải đi qua cây cầu độc mộc bắc ngang một khe núi nước chảy xiết. Khi đi ngang qua không được mở mắt. Một buổi chiều, các vị bồ tát trong chùa tụng kinh chúc phước cho tôi, sau đó tôi lại tiếp bước vô rừng.
Ði miết, tôi thấy trời ngày một lạnh thêm, khí trời hình như cũng loãng hơn, phải thở nhiều hơn. Lúc này, bàn chân đã dạn dày, không còn ngán sỏi đá gai góc, cái bao tử cũng teo lại, hầu như không thấy đói nữa, một ngày chỉ ăn mấy trái cây, thậm chí nhấm mấy hạt mè cũng xong. Nhìn phương hướng, tôi biết mình đang đi lên phía Bắc. Gặp một khe núi sâu, nước chảy sôi sục, tôi men theo khe đi ngược dòng nước chảy để tìm lối sang bờ bên kia. Ði mãi thì đúng như vị sãi cả ở ngôi chùa thứ chín nói, gặp một cái cây đổ vắt ngang khe, làm thành cây cầu độc mộc dài hun hút mà phía dưới nước chảy cuồn cuộn sôi sục gầm réo như thác đổ. Làm cách nào để qua cầu ? Tôi tự hỏi trong khi ngồi thiền vừa lần tràng hạt vừa tụng niệm. Tôi phân vân, tại sao vị sãi lại nói qua cầu không được mở mắt ? Cố nhiên vị bồ tát không nói dỡn, lại càng không lừa mình. Nhưng nhắm mắt làm sao qua cầu ? Tuy ngủ trong khi đi đường đã quen nhưng đó là trên đất. Làm sao có thể nhắm mắt khi qua cây cầu như vầy ? Suy nghĩ mãi, rồi nhìn dòng nước tôi chợt hiểu, vị sãi cả nói đúng : mở mắt nhìn dòng nước sẽ bị chóng mặt rớt xuống liền ! Hiểu ra vậy, tôi nghĩ : mở mắt nhìn dòng nước sẽ bị chóng mặt té. Nhưng nhắm mắt thì còn dễ té hơn vì làm sao mà bước đi ? Như vậy phải mở mắt mà không nhìn dòng nước và giữ sao cho không bị chóng mặt. Nghĩ vậy, tôi bước lên gốc cây trên bờ vực, giữ nhịp tim đập chậm, đồng thời he hé mắt nhìn thẳng phía trước, tai quên tiếng nước gầm, tìm những chỗ sẽ đặt chân mà không nhìn xuống vực. Và tôi lần từng bước qua cầu. Sang tới bờ bên, tôi quỵ xuống, người xỉu đi.
Qua cầu, đi không bao lâu nữa theo hướng vị sãi cả ngôi chùa thứ chín kể thì tới chùa Tây Phương, ngôi chùa lớn nhất trong tất cả những cảnh chùa tôi đã đi qua. Chùa cũng khá đông người. Vị sãi cả vẻ người phương phi quắc thước rất già nhưng không biết là bao nhiêu tuổi, dường như biết trước là tôi sẽ đến nên đã chuẩn bị những thứ cần thiết. Khi tôi bước tới, một người dẫn tôi đi tắm bằng nước thơm, thay bộ cà sa mới vì áo của tôi đã rách bươm. Sau đó tôi lại tiếp tục ngồi thiền học kinh, học theo những câu kinh vị sãi cả truyền dạy. Ðến khi tôi đọc lại cho ông toàn bộ bản kinh ông đã dạy thì sãi cả nói : Học vậy là đủ, không còn kinh để dạy nữa. Cần ôn lại những kinh đã học trong những ngày qua. Tôi lại ngồi thiền, tự mình nhẩm đọc lại toàn bộ những bài kinh học được từ ngày vô chùa, mấy tháng trời cần mẫn ngày nào cũng như ngày nào. Một bữa tôi đang đọc như mọi ngày thì vị sãi cả đến nói : đã đắc đạo trở thành Phật rồi, không đọc nữa mà trở về giúp ích cho đời. Nói xong ông đưa cho tôi hai viên ngọc đựng trong hai cái túi, không nói rõ là ngọc gì và tác dụng ra sao, chỉ nói vắn tắt : viên trong túi đỏ lâu lâu phải cho nó uống sữa người đẻ con so. Viên trong túi vàng, lâu lâu cho nó bò trên bề mặt bằng phẳng, giữ nó sẽ thoát mọi tai ương. Sẵn sợi dây từ hai cái túi, tôi đeo hai viên ngọc vào cổ rồi chia tay các vị sãi. Như tập quán từ lâu, các vị vẫn ngồi thiền đọc kinh, không đứng dậy đưa tiễn. Tôi quỳ trước mặt từng người đọc kinh chúc phước họ rồi lẳng lặng ra khỏi chùa. Lúc đó trời đã xẩm tối nhưng với tôi là chuyện bình thường, từ lâu đã học được thói quen đi trong đêm, có thể vừa đi vừa ngủ, chỉ khi mệt quá mới ngả người cho lại sức.
Rời chùa, theo lệ ở đây, tôi tới ngồi đưới gốc cây bồ đề cổ thụ để tĩnh tọa, đọc kinh và dưỡng sức. Mỗi ngày tôi chỉ uống nước suối và nhấm nháp một chục hạt mè. Sau một tháng tĩnh tọa dưới gốc bồ đề, tôi lên đường đi tiếp.
Tôi biết rằng, từ khi rời gốc bồ đề này là đã trở lại cuộc đời. Ðể lại ngôi chùa Tây Phương phía sau với những năm tháng tu hành trong rừng già là tôi đã để lại một phần cuộc đời quá đặc biệt mà lúc này tôi chưa hiểu hết. Tôi không còn nhớ tới những gian nan khó nhọc, những vất vả sinh tử đã qua mà nhớ khuôn mặt những bị bồ tát, những con người sống như lặn vô cõi tinh thần, từ bi, thoát tục không mang một chút bụi trần. Tôi cũng nung nấu lời nói của vị hoà thượng chủ trì chùa Tây Phương : trở về giúp đời ! Quả thật lúc đầu tôi không hiểu mình có thể làm gì giúp đời nhưng nghĩ xa nghĩ gần, tôi thấy điều đơn giản tôi có thể dùng những môn thuốc học được qua những năm tu luyện trong rừng, trị bịnh giúp mọi người cũng là việc giúp đời. Vì vậy tôi yên tâm và tin ở mình.
Lần này tôi trở về theo hướng đông, không biết là qua những đâu, chỉ láng máng đoán ra có lẽ mình vuợt qua cả biên giới Ấn Ðộ sang Miến Ðiện vì rừng chỗ nào chả như chỗ nào. Tôi không hiểu có đoạn nào trùng với con đường xưa thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh không. Ði miết mấy tháng thì ra khỏi rừng già nhưng vẫn phải men theo triền núi. Ðã có những con đường rẽ xuống đồng bằng, nhìn xa xa thoáng thấy bóng dáng những làng xóm. Tôi không ghé xuống xóm làng đó vì biết đường về còn xa. Bây giờ nhu cầu của tôi giảm tới mức thấp nhất, đói thì ăn lá rừng, trái cây rừng, chỉ nhúm lá hay vài trái cây là đủ, còn khát uống nước khe. Thỉnh thoảng lại gặp những tấm biển chỉ đường bằng chữ Phạn và theo đó tôi đi miết. Một hôm có một đám dân thiểu số đóng khố, mặt bôi xanh bôi đỏ, tay cầm dáo mác reo hò vẻ hung dữ vây lấy tôi, lăm lăm dáo mác như muốn đâm. Không biết đối phó ra sao, nhớ lời dạy lúc vô rừng, tôi ngồi xuống nhắm mắt đọc kinh, tay lần tràng hạt, mặc sự đời tới đâu thì tới. Tới gần trưa họ bỏ đi, còn tôi cũng căng thẳng quá nên đuối sức, nằm lăn ra ngủ. Khi tỉnh dậy, thấy bên cạnh một mâm trái đào lớn, chín mọng, một bình rượu bằng trái bầu. Ðào thiệt ngọt mà thơm, còn rượu là loại rượu nhẹ, có mùi nhân sâm mà trong các cảnh chùa vẫn thấy người ta làm để uống cho khoẻ người. Tôi ăn đào, phần còn lại bỏ hết vào bọc mang đi. Gian nan tưởng đã qua, nhưng thử thách sau còn tởn hơn. Một buổi chiều, đang đi men theo chân núi thì một đám người hung dữ xông đến trói chặt tôi lại, đưa lên giàn hỏa có sẵn tự bao giờ. Họ ngồi xung quanh đọc kinh rồi nổi lửa đốt. Lần này thì tôi hoảng thật sự. Nhưng muốn hay không cũng vậy. Tôi nghĩ miên man, vậy là không gặp lại gia đình rồi, nhưng chết vầy có thành bồ tát không ? Tôi luôn miệng cầu kinh. Không hiểu sao lửa vừa nóng lưng thì tắt. Họ khiêng tôi xuống, mở trói. Tôi lại ngồi lần tràng hạt và đọc kinh. Ðám người thiểu số cả đàn ông đàn bà phục xuống vừa xá tôi vừa lầm rầm đọc kinh bằng tiếng của họ. Sau đó họ đội tới mấy mâm trái cây, ra hiệu mời tôi. Tôi nhận một số đủ dùng còn lại ra hiệu đem phân phát cho mọi người. Họ cúi đầu vái rồi bỏ đi. Bằng vào việc làm của họ, tôi cho rằng họ thử thách xem tôi có phải là chân tu không.
- Vậy vì sao lửa lại tắt, ba ?
- Không hiểu nổi. Tôi chỉ nhớ lúc đó trời khô, đám củi họ chất dưới giàn hoả dễ bén lửa. Muốn dập lửa phải tưới nhiều nước hoặc rút củi. Nhưng tôi không thấy nước cũng chẳng có ai rút củi vì ngoài số cây bị cháy đen, đống củi còn nguyên.
- Có lẽ do hai viên ngọc ?
- Vị chủ trì chùa Tây Phương nói đeo hai viên ngọc đó sẽ tai qua nạn khỏi, không biết có phải vậy không ?
Tôi lại lặng lẽ đi tiếp và tưởng như khổ tận cam lai, mọi gian nan đã qua nhưng rồi không ngờ một thử thách ghê gớm nhất lại tới. Ghê gớm do chỗ mình bị động, bị cuốn vô mà không hay. Tìm đường đi, tôi men theo vách đá tới một hẻm trống, đi hoài theo hẻm cho tới khi cùng đường thì nhận ra không thể thoái lui được nữa mà phía trước là vách cao, dưới là vực thẳm, chẳng khác gì đi men tường vậy. Phải bám vô vách núi rồi lựa từng chỗ đặt chân, không có chỗ nào để ngồi, lâu lắm may mắn gặp được cái hốc chui vô nghỉ tạm. Khi mệt quá hay trời tối không tìm được nơi đặt chân, phải tựa vô vách đá, đứng chợp mắt, chỉ sa xẩy một bước là tan xương. Trời sáng thì tiếp tục đi. Ðói nhấm lá cây trên vách đá, khát lấy lưỡi liếm những giọt nước từ trong đá rịn ra. Mấy tháng trời đánh đu trên miệng vực như vậy, đến khi nhìn thấy ánh sáng trước mặt, mừng muốn run người vì biết rằng đã thoát khỏi con hẻm hãi hùng.
- Hàng mấy tháng trong đó có khi nào ba mệt mỏi muốn buông xuôi không ?
- Mệt mỏi thì có, còn buông xuôi thì không. Tuy biết rằng chỉ cần buông tay, chỉ cần giả vờ bất cẩn, là được giải thoát khỏi mọi nguy nan, khỏi mọi đau khổ. Nhưng mình không bao giờ nghĩ đến buông xuôi mà luôn luôn tin sẽ chiến thắng trở về. Nếu bất cẩn té ngã ở đây thì công lao bao nhiêu năm sẽ thành tro bụi uổng phí.
Ra khỏi miệng con hẻm, soi mặt vô nước thì thấy mình như một gã người rừng, râu tóc dài hàng gang tay, bù xù như tổ quạ, chiếc cà sa tơi tả chỉ còn mấy mảnh trên người. Nhưng đáng mừng là nhìn phía trước mặt đã thấy con đường dẫn xuống đồng bằng. Tôi không đi vội mà nghỉ lại ít bữa, đập mấy hòn đá lấy mảnh sắc cạo râu cắt tóc cho gọn lại, vá lại áo cà sa, kiếm mật ong và sâm rừng làm thức ăn bồi bổ sức khoẻ và mang theo dự trữ. Rồi tôi xuống núi.
Tôi cứ đi, không biết được điều gì đang xảy ra ở ngoài kia, không biết rằng tiếng đồn về ông Phật sống đã lan truyền đi trước cả bước chân mình nên khi tới Tân Cương, thấy từng đoàn người mang cờ phướn đứng bên đường, tôi cứ tưởng họ làm lễ hội gì. Nhưng khi thấy họ quỳ xuống lạy thì hiểu rằng họ đến đón rước mình. Có những người quỳ xuống hôn chân, có những người cầm tay tôi đặt lên đầu con cái họ. Lúc đó, tôi nhận ra, họ đón rước Phật sống và cũng muốn nhận được phước lành từ Phật. Một bữa tôi đang đi trong đám rước như vậy thì ba chiếc xe hơi đón đường. Bằng tiếng Anh tôi hiểu được thì họ là người của Lãnh sự quán Anh tới mời tôi về Thượng Hải. Họ để tôi ngồi một mình trên chiếc xe sang nhất đi giữa. Tôi được đưa về lãnh sự quán Anh. Thày thuốc người Anh tới coi sức khoẻ, nói nội tạng bình thường nhưng ốm nên phải bồi dưỡng. Họ đưa thức ăn của họ tới nhưng tôi không ăn mà chỉ ăn trái cây và uống nước suối. Tiếp đó người ta đưa tôi sang Hồng Kông rồi đưa tiếp sang Luân Ðôn. Tại sao người Anh lại o bế mình đến vậy, tại sao họ đưa sang Luân Ðôn ? Tôi tự hỏi rồi tự trả lời rằng, phải chăng người Anh đô hộ Ấn Ðộ mà dân Ấn đang đấu tranh giành độc lập nên người Anh muốn dùng mình là ông Phật sống để lấy lòng dân Ấn ? Dù sao đi nữa cũng phải cảnh giác. Tôi không dùng những thức ăn họ mang đến. Họ đưa tới một bộ cà sa may bằng lụa nhẹ vàng rực, tôi không nhận mà vẫn giữ bộ cà sa cũ của mình.
Kể tới đây, anh Hai Ðức nói :
- Không hiểu sao lúc kể cho tôi nghe, ông già không hề nói tới cà sa bằng lá cây mà chỉ nói vá lại tấm cà sa cũ. Nhờ đọc của ông Phạm Tường Hạnh tôi mới biết đến cà sa bằng 72 chiếc lá cây, có khả năng phòng bịnh…
- Có gì khó hiểu, chắc nhiều chuyện quá nên cụ quên, vả lại cụ cũng coi cà sa bằng lá là chuyện thường, không đáng kể, tôi nói.
Tới Luân Ðôn, người ta đưa tôi vào ở trong ngôi chùa nhỏ nhưng sang trọng. Suốt ngày tôi không nói một lời, chỉ ngồi tụng kinh, lần tràng hạt trước bàn thờ Phật. Tôi nhận ra những ngày đó người ta tới chùa thật đông, đến vãn cảnh lễ chùa một phần nhưng phần lớn muốn xem ông Phật sống Ấn Ðộ mà báo chí đưa tin như sự kiện lớn. Một số người muốn xin tôi ban phước nhưng tôi từ chối nói rằng tôi là khách, việc đó là của vị sư trụ trì chùa.
Có lẽ qua báo chí Anh, gia đình vợ tôi được tin tôi tu đắc đạo rồi được đưa sang Luân Ðôn nên cha vợ tôi là ông Ibrahim làm đơn gửi viên Toàn quyền Anh tại Ấn Ðộ xin cho tôi trở về Ấn Ðộ với gia đình.
Trở lại Ấn Ðộ, người ta rước tôi về ngôi chùa mà trước đây tôi xin tu Phật. Một đám rước linh đình kéo dài dường như vô tận. Dân chúng quỳ dài suốt hai bên đường tôi sẽ đi qua, chắp tay vái lạy. Tôi nhận ra Mary vợ tôi dắt con trai Xô Chim của mình cũng quỳ trong những hàng người vô tận đó.
Từ khi tôi vào chùa, người ta hứng lấy nước tôi tắm đem về chia nhau làm thuốc trị bịnh, người bệnh vừa uống vừa thoa bóp. Người ta cũng chọn những cô gái đẹp con nhà quyền quý cho đến ở với tôi để lấy giống Phật. Trong vòng sáu tháng, nếu cô nào có thai đẻ con trai thì đứa nhỏ được đi tu Phật. Nếu không có thai hoặc đẻ con gái là trời Phật không nhận, cô gái trở lại cuộc sống bình thường. Nhờ có quy định này mà Mary được đến ở cùng tôi nên tôi có thêm đứa con trai tên Talep.
Gần hai năm sau khi tôi trở về, một bữa ông Ibrahim bảo :
- Anh có biết luật tu Phật là sau khi thành chính quả, Phật sống có hai năm để ban phước cho chúng sanh sau đó lên giàn hoả về trời không ?
Tôi nói tôi có biết. Ông lại nói :
- Vậy anh có muốn về trời thiệt không ?
Tôi nói với ông rằng :
- Tôi người trần mắt thịt do cha mẹ sanh ra. Tôi còn có cha mẹ anh em. Những năm trong rừng tôi cố sống là để về với họ. Nay chưa được gặp họ, tôi về trời sao được ?
- Vậy chỉ còn một cách, tôi bố trí cho anh trốn. Có điều anh phải tuyệt đối tuân theo mọi chỉ dẫn của tôi.
Ông Ibrahim bí mật đưa tôi xuống cảng Bombay. Ông xuất một lô trái chà là và bom (táo) sang Việt Nam. Tôi được cho vô thùng táo rỗng có sẵn thức ăn, nước uống, phương tiện vệ sinh bằng cao su rồi được cẩu chuyển xuống tàu. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, tàu cập cảng Sài Gòn. Tôi được cẩu lên bờ cùng lô hàng, được chở ra khỏi cảng, tới một nhà kho. Người tâm phúc của ông Ibrahim đón tôi đưa về khách sạn, thuê phòng dưới tên Hăcxacôp Chandra thương gia Ấn Độ. Ngày hôm sau có xe đưa tôi về nhà ở Nam Vang. Ở nhà được ít ngày, do liên hệ của gia đình cha vợ tôi nên vua Cao Miên là Nôrôđôm mời tôi vào Hoàng cung. Nhà vua tiếp tôi trân trọng nhưng tôi biết trong đó có ý thử thách tôi vì chưa tin. Sau khi thử thách, biết tôi là Phật sống thiệt, nhà vua rất mừng vì đất nước đạo Phật là quốc giáo lại có được một vị Phật sống để thờ. Gia đình tôi xin với nhà vua đứng ra xây một ngôi chùa cho tôi tu hành ở Prệp Pra. Hoàng gia rất hoan nghênh, đề nghị góp số tiền lớn và cử người chủ trì việc xây cất sao cho đúng kiểu dáng và phong tục Miên. Cha vợ tôi chỉ phải góp một phần chi phí. Chùa xây xong, người ta làm lễ đón tôi vô chùa thật long trọng. Ðám rước dài từ Hoàng cung đến chùa với kiệu, trống, kèn, cờ quạt rợp trời, người hai bên đường xếp lớp quỳ lạy. Giống như ở Ấn Ðộ trước đây, người ta cũng đến lấy nước tắm của tôi làm thuốc trị bịnh và họ cũng tuyển con gái nhà quyền quý vào chùa lấy giống Phật.
Ngắt mạch văn kể chuyện, anh Hai Ðức cười, nói giỡn:
- Nhờ vậy ổng có thêm hai bà vợ người hoàng tộc Campuchia, một bà có con, ông già ngon quá ta !
Rồi vui chuyện anh kể: vào khoảng năm 1978 có một người Campuchia chạy loạn Pôlpôt sang Việt Nam thường tới thăm ông già, gọi bằng dượng, còn ông già gọi ông ta là bá tước, ông là cháu của bà vợ người hoàng tộc đó. Năm 1997 sau cơn bão số 5, trong đoàn đại biểu thị trấn Kep tỉnh Kampôt sang Kiên Giang cứu trợ, có người đàn bà tới thăm ổng và nhận là con gái. Ông già còn kể, lúc ở trong Hoàng cung, vua Nôrôđôm chọn người kế vị, có hỏi ông thấy hoàng tử Sihanuc thế nào? Ổng nói : “Được đó, nhưng phải cái hơi bị lùn, nếu cao hơn thì ngon.” Sau đó hoàng gia đúc tượng ông bằng bạc thờ trong Chùa Bạc.
Hai Ðức kể tiếp bằng giọng ông già:
- Ở chùa Prệp Pra dân cúng dường rất nhiều tiền, tôi xây bịnh viện, mướn bác sĩ đến chăm sóc miễn phí cho người nghèo. Làm như vậy là tôi thực hiện lời dặn của vị sãi cả chùa Tây Phương khi đưa tôi trở lại cuộc đời.
Ở Miên 5 năm, tới năm 1945 nghe tin nước nhà đuổi hết giặc Tây, giành được độc lập, tôi mừng quá nên quyết định trở về thăm gia đình. Hôm đó tôi mang theo một va ly bạc Ðông Dương, lái chiếc xe Renault màu đen của nhà chùa, nói là đi thăm ngôi chùa ở ngoại thành rồi lái xe qua biên giới về Châu Ðốc. Lúc đó Pháp bắt đầu chiếm lại Nam Kỳ, cuộc Nam Bộ kháng chiến nổ ra, Rạch Giá đã bị chiếm, tôi không về quê nữa mà ở lại tham gia kháng chiến tại Hồng Ngự, Long Châu Sa, làm trưởng ban trừ gian diệt tề rồi Giám đốc Ðề lao binh Khu 8. Sau đó làm Giám đốc phân Liên khu miền Tây. Trong những ngày chuẩn bị tập kết ở vàm Chắc Băng, bà Huỳnh Thị Tòng đưa con đến thăm. Bà Mary nhờ bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Miên đưa tới chỗ tập kết thăm tôi. Hai bà vợ tôi gặp nhau cùng tổ chức ăn uống vui vẻ. Ở lại với tôi một đêm rồi bà Mary theo ghe về Tân Hiệp lên xe nhà trở lại Nam Vang.
Kể đến đây, anh Hai Ðức nhìn tôi nói:
- Tôi thấy hình như có gì đó khó hiểu trong chuyện này. Khi kể với nhà văn Phạm Tường Hạnh, ông già không nói việc về Ấn Ðộ. Trong Hồi ký cô Thanh Xuân ghi cũng không viết. Nhưng sao ông già lại kể với tôi ?
Tôi nói với anh :
- Ðọc bài viết của ông Phạm Tường Hạnh, tôi thấy có chỗ không hiểu nổi là vì sao sau khi thành Phật sống, ông cụ về Campuchia mà không về Ấn. Tu thành Phật sống là chuyện lớn, là vinh dự cho nước Ấn, cho đạo Phật Ấn. Ðó là cái quả phúc lớn lắm, sao người Ấn lại không mang về xiển dương Phật giáo, ban phúc cho dân. Ông Nêru có quan hệ họ hàng với gia đình Ibrahim sao lại không biết lợi dụng Phật sống để khuếch trương thanh thế gia tộc, làm tăng uy tín cá nhân trong việc đoàn kết người Ấn chống xâm lăng ? Người Anh còn biết làm điều này nên muốn tranh thủ Phật sống nữa là ? Thắc mắc ấy tôi không biết hỏi ai. Ðến khi được anh Tư Thạch nói, trước đây, cụ có kể việc trở về Ấn rồi sau đó ông già vợ bố trí cho trốn qua Campuchia trong thùng đựng táo, giống như anh vừa kể, tôi hiểu là mình thắc mắc đúng và chuyện đã xảy ra như nó phải thế !
- Nhưng tại sao trong Hồi ký ông già không kể lại? Anh Hai Ðức vẫn băn khoăn.
- Có lẽ vầy, cụ không kể việc này vì cụ không muốn lý lịch vốn đã phức tạp của mình càng phức tạp hơn. Phải chăng ông Phật sống chân thành yêu nước hồn nhiên theo cách mạng, mặc áo cà sa đi vận động Tuần lễ vàng, tham gia Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Hồng Ngự rồi Trưởng ban trừ gian diệt tề tỉnh Long Châu Sa, làm Giám đốc Đề lao binh... đã phần nào thấm thía cái không đơn giản của việc hoạt động cách mạng, nhất là trong phong trào chỉnh quân chỉnh cán năm 1953 ? Ngay cả việc bà Huỳnh Thị Tòng tới với cụ, cụ nhận là vợ chính thức rồi cũng kể với nhà văn Phạm Tường Hạnh như vậy. Chỉ sau này, do sự việc rõ ràng và cũng để tạ lỗi với bà Lê Thị Ngân nên trong Hồi ký cụ nói lại ? Tôi cũng có suy nghĩ thế này: cuộc đời cụ dài hơn trăm năm. Nhiều chuyện trước đây cụ không nhớ nữa nên những điều ông Phạm Tường Hạnh viết ra, cụ coi như bổn chánh. Hồi ký sau này cũng chủ yếu dựa vào bổn chánh đó? Trầm ngâm một lúc rồi tôi cười: phải chăng cụ cũng chơi trò khai man lý lịch ?
Tôi hỏi anh Hai Ðức :
- Cụ có nói với anh chuyện quy thành phần của cụ không ? Anh Tư Thạch nói là cụ kể như vầy : năm 1955, cụ ra Thanh Hoá một thời gian thì học cải cách ruộng đất trong quân đội. Lúc đó đơn vị thuộc quyền của đội cải cách. Một bữa toàn đại đội ngồi trong căn nhà năm gian của địa chủ bị tịch thu để dự cuộc bình xét thành phần. Anh em ngồi trên chiếu trải dưới đất. Cán bộ đội cải cách ngồi trên bàn nhòm xuống. Trung uý Lưu Công Danh ngồi phía trước, đối diện với anh em. Do lý lịch đã được nhà văn Phạm Tường Hạnh viết từ trước nên bữa đó không cần tự khai mà đội cử người đọc bản lý lịch dài của ông. Ðọc xong, mọi người phát biểu. Cuối cùng, đội trưởng nhận xét bằng giọng nặng chịch của dân miền biển xứ Nghệ :
- Về anh Lưu Công Danh (trong thời gian cải cách, mọi đội viên đều được gọi bằng anh, không dùng đồng chí), trước hết chúng ta thấy trong cuộc họp hôm nay, anh Danh đã có thái độ thiếu nghiêm chỉnh. Khi nghe đọc lý lịch của mình, đáng lẽ phải thật chăm chú để thấy được cái tội lỗi của thành phần mình nhưng anh ta lại mất tập trung, phân tán tư tưởng, ngồi lúc để chân bên này lúc để chân bên khác. Nhân danh đội cải cách, tôi chính thức phê bình thái độ đó. Còn về thành phần của anh Danh, như các anh đã nghe đó, ba má anh ta là thợ làm thuê cho thực dân đế quốc, tức cộng tác với đế quốc. Hơn nữa lại có ruộng đất. Các anh có biết đất nhà anh Danh rộng thế nào không ? Gần 40 héc ta tức là hơn 100 mẫu Bắc Bộ. Ở miền Bắc cũng ít có địa chủ ruộng nhiều đến thế. Nhưng do hoàn cảnh Nam Bộ nên thành phần gia đình anh chỉ là phú nông. Như vậy là cách mạng đã khoan hồng nhiều lắm. Anh phải biết điều đó để cảm ơn cách mạng. Còn về bản thân, anh ta rất phức tạp, khó xếp vào loại thành phần nào : từ khi rời khỏi nhà, lúc mãi võ Sơn Ðông, lúc làm dân anh chị đứng bến xe, làm thông ngôn rồi làm quản lý cho chủ tư sản mại bản người nước ngoài, cuối cùng là hành nghề mê tín dị đoan. Vì vậy sau khi nghiên cứu và xin ý kiến của Ðoàn, chúng tôi nhất trí xác định thành phần giai cấp của anh Lưu Công Danh là thành phần vô sản lưu manh, hành nghề mê tín dị đoan !
- Có, ổng có kể với tôi chuyện đó, nhưng mãi sau này.
Anh Hai Đức xác nhận.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
★
★
★
★
★
0