Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Tìm lại cội nguồn

10 trả lời, 499 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 20:04:33Ct.Ly>
HÀ VĂN THUỲ
 



TÌM LẠI  
CỘI NGUỒN VĂN HOÁ
CỦA NGƯỜI VIỆT
 

  NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-18 03:22:58Tư Tứ>
 
 
LỜI NHÀ XUẤT BẢN


  Không riêng gì dân tộc Việt Nam ta, mà hầu như ở khắp nơi trên cõi nhân gian này, vấn đề cội nguồn tổ tông, cội nguồn dân tộc, khởi thủy nền văn hóa dân tộc… luôn luôn là một thôi thúc vô cùng bức xúc để tìm hiểu, khám phá. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, chúng ta lo lập thân, lập nghiệp và không quên canh cánh bên lòng nỗi khắc khoải về nguồn gốc dòng họ, tổ tông, dân tộc, tổ quốc. Trong cuốn sách này, câu chuyện vô cùng nhạy cảm về nguồn gốc dân tộc và cội nguồn văn hóa, được giãi bày với biết bao tình cảm, nhiệt huyết cũng như những bằng chứng khoa học mà tác giả cho rằng mình đã cập được chân lý! Nhân loại vượt qua được hết thảy thử thách, chông gai, kể cả những cuộc chiến tranh tàn khốc để tồn tại được là do tình yêu và sự hồn nhiên. Nếu không có tình yêu thì mọi sự chấm hết. Nhưng nếu không có sự hồn nhiên – đức tin trong sáng nhất, khôi nguyên nhất, thì con người biết vịn vào cái gì để trụ vững và tiếp thêm sức mạnh ? Pascal nói Con người là cây sậy yếu ớt nhất thiên hạ nhưng là cây sậy biết suy nghĩ. Chính là ở cái sự biết tư duy ấy mà các ngành cổ sinh học, khảo cổ học, sử học, văn học, nghệ thuật cùng tất tần tật các khoa học về con người, nay gộp chung là khoa học xã hội và nhân văn đã không ngừng tìm kiếm về cội nguồn của mình. Lý thú vô cùng, nhưng cũng rắc rối vô cùng ! Ai dám vỗ ngực cho mình là chân lý ?! Không ai cả. Trên lộ trình trở về cội rễ của giống nòi, chúng ta có quá nhiều thử thách. Một trong những thử thách gay cấn nhất, quyết liệt nhất chính là tư duy của chúng ta nhằm làm sao cho cái mà chúng ta tin tưởng, cái mà chúng ta coi là chân lý phải được chứng minh bằng khoa học chứ không thể chỉ bằng sự hồn nhiên, đức tin cảm tính !
 
 Tác phẩm Tìm lại cội nguồn và văn hóa của người Việt của Hà Văn Thùy là một cuốn sách công phu, tốn hao không ít tâm trí và tình cảm, nhiệt huyết nhằm làm sáng rõ nguồn gốc của dân tộc và văn hóa Việt Nam. Đây là vấn đề vô cùng nhạy cảm. Đã và sẽ có rất nhiều tác phẩm về đề tài này! Anh Hà Văn Thùy đã thu thập, biên soạn, tổng hợp và phân tích rất nhiều dữ liệu của những người đi trước từng nghiên cứu về đề tài này, từ đó rút ra những kết luận theo chính kiến của anh, nhằm xác tín nguồn gốc dân tộc và văn hóa Việt. Khi làm công việc này, anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa mãnh liệt về tình yêu quê hương đất nước, yêu giống nòi, yêu dân tộc. Nhà xuất bản Văn học trân trọng tấm lòng của tác giả. Đất nước ta vừa gia nhập WTO, bước hẳn vào cuộc chơi với toàn cầu. Làm sao để con người Việt Nam hôm nay có đủ bản lĩnh, có tri thức khoa học, và giàu lòng nhân ái khi bước vào cuộc chơi với toàn nhân loại? Làm sao để dân tộc Việt Nam ta sớm chấm dứt thời kỳ tụt hậu, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng mong ước.
 
  Biết rằng khi tác phẩm này được công bố, có thể gây ra nhiều phản ứng, tranh biện khoa học từ nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học về vấn đề cội nguồn dân tộc. Nếu quả được như vậy thì chúng tôi đã thực hiện được một trong những tiêu chí của mình là : Xuất bản những tác phẩm đánh động được tư duy của đông đảo những người thiết tha với văn học, văn hóa dân tộc. Những tác phẩm ra đời mà tròn vo, không ai để ý, chìm vào quên lãng thì đáng buồn lắm thay !
 
Tìm lại cội nguồn và văn hóa của người Việt là một đề tài lớn, đòi hỏi sự phối hợp nghiên cứu công phu và tâm huyết của nhiều nhà khoa học, mới mong tìm ra những xác tín có sức thuyết phục. Đây là cuốn sách do một người thể hiện, bằng tấm lòng nhiệt thành nên có ý tứ riêng, thẳng thắn, thậm chí trái ngược với nếp nghĩ xưa nay. Vì thế nó dễ gây phản ứng cho một số người… Nhà xuất bản Văn học không mong gì hơn là dóng lên một tiếng chuông để thu hút mọi trí tuệ uyên bác trong và ngoài nước cùng nghiên cứu, rút ra những điều cần bổ sung vào sử sách nước nhà những điều lâu nay còn để ngỏ ! Chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến góp ý trao đổi cũng như những phản biện khoa học nhằm đạt tới chân lý, tri thức khoa học, những kết luận hoàn thiện về vấn đề cội nguồn và văn hóa của dân tộc Việt Nam.
                        
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-18 03:27:34Tư Tứ>
Tưởng nhớ Cha tôi.
H.V.T

 
TỰA

 
Con người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ  Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.
Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam trích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều “hoang đường diệu vợi” vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1)  Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca :

       Công cha như núi thái sơn
        Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !

Thái sơn là gì ? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn ! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi : nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo ! Yên chí ! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn : Sao cha ông ta vong bản đến vậy ? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu ?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó !

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì ! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt !

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản :

       1)  Dân tộc Việt Nam là ai ?
Và 
       2)  Văn hóa Việt Nam là gì ?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là người quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời cảm ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài : Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu
Hà Văn Thùy
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:12:23Tư Tứ>
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
THEO CÁCH NHÌN TRUYỀN THỐNG

 
  Trước hết xin kiểm lại xem từ xa xưa cha ông ta đã nhìn về cội nguồn dân tộc ra sao ?
 
 
   1. ÐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ.
 
  Không phải ngẫu nhiên mà sau 1000 năm Bắc thuộc, đến khi giành được độc lập, dòng thứ nhất trong cuốn sử đầu tiên của mình, người Việt đã ghi nhận về nguồn cội. Tác giả Ðại Việt sử ký toàn thư, Triều liệt đại phu, Quốc tử giám tư nghiệp kiêm sử quan tu soạn, Ngô Sĩ Liên viết :
 
  Xét : thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành vương nhà Chu (1063-1026 TCN) mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.
 
        Kỷ Hồng Bàng thị
        Kinh Dương Vương
 
 Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
 
Nhâm Tuất năm thứ nhất. Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi, sau Ðế Minh đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra vua. Vua là bậc thánh trí thông minh. Ðế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Ðế Minh mới lập Ðế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
 
    Vua lấy con gái Ðộng Ðình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân.
    
 Lạc Long Quân

   Tên húy là Sùng Lãm. Con của Kinh Dương Vương.
 
   Vua lấy con gái của Ðế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền là trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó." Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải) phong cho con trưởng là Hùng Vương nối ngôi vua.
 
  Hùng Vương
 
   Con Lạc Long Quân, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)
 
   Hùng vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (Nước này Ðông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Ðộng Ðình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức Chiêm Thành, nay là Quảng Nam.) Chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Ðịnh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Ðức đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô.
 
  Bấy giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, đến thưa vua, vua nói: "Người Man ở núi khắc với các loài thủy tộc, các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không ăn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy."
 
   Ðời Thành vương nhà Chu nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu, xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu công nói: "Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình." Rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước.(3) 
 
  Ðể viết những dòng trên, sử gia Ngô Sĩ Liên đã lấy tài liệu từ hai nguồn là thư tịch Trung Hoa và huyền sử. Do phải dựa trên sách vở Tàu nên ông mang vào sử ta cái nhìn thiên lệch của người Hán: Hoàng Đế dựng muôn nước (!) Vô hình trung, ông thừa nhận Hoàng Đế là ông vua tạo lập nước Việt. Sự thực thì không hề có cái gọi là Hoàng Đế dựng muôn nước bởi lẽ trước khi Hoàng Đế ra đời, người Việt đã sống khắp lưu vực sông Hoàng Hà cùng Dương Tử, đã làm chủ Trung Nguyên. Bằng huyền thoại chia tay nhau giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ, giống Tiên và giống Rồng, người xưa giấu đi cuộc chiến ác liệt giữa Hoàng Đế với Ðế Lai mà sử sách Trung Hoa ghi rất rõ. Tuy vậy sử gia thiên tài này đã vạch ra một sơ đồ về cương vực cũng như nguồn gốc người Việt: Giao Chỉ ở về phía Tây Nam, bên ngoài đất Bách Việt. Do linh cảm đặc biệt, ông đã xác định lịch sử của tộc người Việt từ Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến Lạc Long Quân rồi Hùng Vương. Nhiều người cho đó là hoang đường vô sở cứ không thể tin được nhưng thời gian cho thấy, Ngô Sĩ Liên đã đúng. Chính nhờ ông mà người Việt dù trong mặc cảm hoài nghi đã có cái nhìn xa hơn về cội nguồn dân tộc. Nó giúp chúng ta trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của số phận vẫn trì chí vươn tới tương lai. Thực tế lịch sử (như sẽ chứng minh sau này) cho thấy Ngô Sĩ Liên đã đúng khi đưa truyền thuyết họ Hồng Bàng vào chính sử.
 
 
   2. VIỆT SỬ TIÊU ÁN
 
    Cuốn sử thứ hai có nhắc đến nguồn gốc dân tộc Việt là Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ viết năm 1775 :
 
  "Xét theo thiên Vũ cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên quan, từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ là tinh kỷ. Kể về sao thì về ngôi Sửu, cùng một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi Nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là miền đất phía nam nước Việt, nay là quốc hiệu thường gọi."(4)
 
   Bằng sự tra cứu kỹ càng, sử gia vạch rõ phận dã của nước Việt thời thái cổ: Từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ. Tiếc rằng các sử gia sau này không ai căn cứ vào đó để xác định địa vực của nước Việt ta, dù chỉ trên mặt lý thuyết.
 
 
  3. VIỆT NAM SỬ LƯỢC
 
  Trong Việt Nam sử lược ấn hành đầu thập niên 40 thế kỷ trước, sử gia Trần Trọng Kim viết:
 "Theo ý kiến của nhà kê cứu nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt theo sông Hồng Hà lần xuống phía Ðông Nam, lập ra nước ta bây giờ, còn người Thái thì theo sông Mê kông xuống, lập ra nước Tiêm La và các nước Lào, Mên.
   Lại có nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng, nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán tộc (tức người Tàu bây giờ) ở Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía Nam. Người Tam Miêu phải lẩn núp trong rừng hay xuống miền Việt Nam ta bây giờ.
  Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra thôi, chứ cũng chưa có gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ, mà xem các loại khác, không có loài nào như vậy, thì tất là một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.
  Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm Nhâm Tuất (2879) đến Quý Mão (257 TCN) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa thì cũng khó lòng có nhiều người sống được lâu vậy. Xem thế thì đủ biết truyện Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.(5)
 
   Ðây là lần đầu tiên ý tưởng: “Người Việt từ cao nguyên Tây Tạng di chuyển xuống phía đông nam” được đưa vào lịch sử Việt Nam. Giả thuyết của học giả người Pháp E. Aymonier do vậy trở thành quan điểm chính thống về lịch sử Việt Nam tồn tại suốt thế kỷ XX. Nhưng đáng tiếc quan điểm này lại là sự lầm lẫn lớn.
 
   Tuy có nhắc đến những ý kiến về người Tam Miêu sống khắp Trung Quốc bị Hán tộc xua duổi chạy xuống phía nam nhưng do không có thái độ khoa học đúng mực, lại tận tín thư (sách Tàu và sách Tây) nên khi chưa có sự nghiên cứu cẩn trọng, sử gia Trần Trọng Kim đã vội bác bỏ ý kiến này, và hồn nhiên tin vào ý tưởng sai lầm người Giao Chỉ là giống người có hai ngón chân cái giao nhau. Ông cũng là người có tinh thần duy sử, tỏ ra hoài nghi giai đoạn họ Hồng Bàng. Như vậy sử gia Trần Trọng Kim không góp được gì soi tỏ cội nguồn dân tộc nếu không muốn nói ông đã dẫn hậu thế lạc đường.
 
 
 4. VIỆT SỬ TOÀN THƯ
 
 Trong cuốn sách đồ sộ của mình, sử gia Phạm Văn Sơn viết :
 
"Nhiều nhà khoa học Pháp cho rằng, người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người Thái, qua các triều đại di cư đến xứ Bắc Việt, lần xuống phía đông nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay, còn người Thái lần theo sông Cửu Long tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc. Ðồng thời một vài dân tộc khác ở các quần đảo Ðông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam, Chiêm Thành cùng tập họp trên bán đảo Ðông Dương.
   Có thuyết cho rằng, người Việt thuộc giống Anh-đô-nê-diêng (Indonésien) bị giống A-ri-ăng (Aryens) đánh bật ra khỏi Ấn Ðộ, phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây chia ra làm hai ngành, một tụ lại bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mê-la-nê-diêng (Mélanésien), một thiên xuống Nam Dương quần đảo. Ðám ở miền bắc hòa giống với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Ở miền nam, giống Anh-đô-nê-diêng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành chịu văn hóa Ấn Ðộ. Ngay ngành ở miền bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung châu sông Nhị Hà và các miền duyên hải, nhờ có đất cát phì nhiêu, lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà xúc tiếp được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lên các vùng cao nguyên sống với rừng núi chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của chi phái này.
 
 Ông Léonard Aurousseau căn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người Việt thời Xuân Thu tức là thuộc quyền quốc vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ VI TCN), đóng kinh đô ở thành Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 TCN nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền nam chia ra làm 4 phái :
 
1)      Ðông Âu hay Việt Ðông thuộc miều Ôn Châu phía nam tỉnh Chiết Giang.
2)      Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu, Phúc Kiến.
3)      Nam Việt thuộc Quảng Ðông và phía bắc Quảng Tây.
4)      Lạc Việt hay Tây Âu Lạc ở phía nam Quảng Tây và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.
 
 
 
 
GIAO CHỈ VÀ VIỆT THƯỜNG
 
Theo sự khảo cứu của ông Ðào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đang quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì miền nam trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người phương bắc. Trong thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man di, sống bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài lưới, săn bắt. Họ có tục đặc biệt là xăm mình và cắt tóc ngắn. Ðể giải thích phong tục đó, người ta nói rằng người Man di hàng ngày lặn lội dưới sông biển thường bị Giao Long làm hại nên xăm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là vật cùng giống mà không giết hại.
 
  Từ đời Nghiêu, Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán tộc. Ðem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở vào miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Ðộng Ðình và núi Nam Lĩnh. Người Hán tộc gọi nhóm Man di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xăm mình để thành hình trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của Giao Long. Quan niệm "tô tem" bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ Giao Long làm tổ nên gọi là Giao Chỉ, tức là miền đất của giống người Giao Long.
    Một thuyết khác, cho rằng người Giao Chỉ có tên này là do hai ngón chân cái giao nhau. Theo hai bác sĩ P. Huard và Bigot (Bulletin de la Société Medico-chirurgical de l’Indochine quyển XV số 5 tháng 5 1937 trang 489-506), dưới tiêu đề: "Les Giao Chi" thì việc người Giao Chỉ có hai ngón chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Ðông cũng có hình tích này (Chữ Giao Chỉ được chép trước nhất vào đời Thần Nông).
 
... Ngoài nghề đánh cá là nghề căn bản, người Giao Chỉ ở nơi đầm lầy hay đất bồi đã biết trồng trọt và làm ruộng. Trong lúc này, ở khoảng giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương tới đời Nghiêu Thuấn đã có giống người Tam Miêu biết nghề canh nông rồi và người Giao Chỉ đã ở trên một phần đất của người Tam Miêu. Căn cứ vào nghề đánh cá, nghề nông cùng chế độ vật tổ là đặc tính xã hội thị tộc, người ta cho rằng người Giao Chỉ bấy giờ ít nhất cũng là ở cuối đời đá cũ và đầu đá mới (đá đẽo với đá mài) tuy chưa tìm được di tích sinh hoạt gì của họ ở dưới đất. Còn về thời Nghiêu Thuấn đã làm ruộng toàn bằng đá cũ, xét vào các di vật đào được ở Ngưỡng Thiều tỉnh Hà Nam và lưu vực sông Hoàng Hà. Họ làm nhà bằng cây, tre hay nứa như nhà sàn của người thượng du ngày nay trên các đầm hồ hay khe núi (Theo thiên Vũ cống, ở đất châu Kinh có nhiều tre).
 
   Sách xưa chép, phía nam đất Giao Chỉ, cuối đời Chu nước Việt Thường đã có phen thông sứ với Chu Thành vương và cống một con bạch trĩ. Nước Việt Thường xuất hiện có lẽ đã lâu lắm từ đầu đời nhà Chu trên địa bàn cũ của nước Tam Miêu (giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương), trung tâm điểm của nước ấy là xứ Việt Chương. Vua Sở Hùng Cừ (thế kỷ IX TCN) phong cho con út là Chấp Tỳ ở đây. Nước Việt Thường bắt đầu suy từ khi có Sở thành lập ở miền Hồ Nam, Hồ Bắc sau những cuộc lấn đất về phía Tây (của Việt Thường qua đến đời Hùng Cừ. Ðất Việt Chương ở miền hồ Phiên Dương). Người Việt Thường cũng sinh hoạt bằng nghề đánh cá như người Giao Chỉ, có lẽ cũng có tục xâm mình nhưng họ thông thạo nghề nông hơn. Theo thiên Vũ cống thì miền châu Kinh và châu Dương có những sản vật như vàng, bạc, gỗ quý để làm nhà, các thứ trúc để làm nỏ, lông chim, da bò, ngà voi, da tê ngưu, vải gai v.v... Dân Việt Thường còn biết cách chế đồ đồng đỏ. Trình độ kỹ thuật đã tới trình độ đá mới. Họ cũng sống theo chế độ thị tộc và cũng có tín ngưỡng "tô tem" như người Giao Chỉ. Mọi quan hệ giữa người Giao Chỉ và Việt Thường thế nào cho đến nay vẫn chưa được rõ rệt chỉ biết trong khi Việt Thường xuất thì tên Giao Chỉ không còn nữa và địa bàn ức đoán của Việt Thường choán một phần đông nam của địa bàn ức đoán của người Giao Chỉ. Ngoài ra Việt Thường với người Giao Chỉ đều là người Man di thuộc về Việt tộc là giống người đã sinh tụ ở khắp lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn huyện (đời Chu là nước Quý Việt) tỉnh Tứ Xuyên ra tới biển, nghĩa là suốt châu Kinh, châu Dương trong Vũ cống. Có những điều chúng ta biết về đặc tính văn hóa thì Việt tộc vào thời đó có lẽ không thuộc ảnh hưởng tộc Mông Gô Lich một phần nào như người Hán, tuy chưa thể nói thấy tục xăm mình là tục đặc biệt của các dân tộc thuộc giống Anh-đô-nê-diêng miền Nam và Tây Nam Á Châu (tộc người Miêu Từ, Lô Lô, Mán, Lái, Lê, Dao, Xá... cho đến người Dayak ở đảo Bornéo đều là di duệ của người Man di). Ðám người này theo các nhà nhân chủng học chia ra hai giống Tạng Miến (Tibéto-Birman) và Anh-đô-nê-diêng. Nhưng họ không khác biệt nhau mấy, ngay cả về đặc tính kỹ thuật. Theo các nhà bác học Leroy, Gourhan về nhân loại học, người Anh-đô-nê-diêng và giống Tạng Miến gần nhau quá, nếu có khác thì sự khác biệt đó cũng hết sức mong manh có lẽ vì pha trộn tức là lai giống. Hai đám dân tộc này phải chăng đã sống gần gũi nhau nên đã có sự trạng này hay là đã cùng thoát thai ở một gốc và chúng tôi nghĩ rằng cái gốc người ta đã đề cập đó có lẽ là Việt tộc. Các nhà tiền sử học và ngôn ngữ học phát biểu rằng, suốt từ miền A-Xam phía bắc Ấn Ðộ trải qua nam bộ Trung Hoa xuống tới Nam Dương quần đảo có một thứ văn hóa hiện nay còn di tích trong các dân tộc Anh-đô-nê-diêng. Chúng ta có thể nghĩ rằng, người Việt tộc xưa có lẽ là một nhánh của chủng tộc Anh-đô-nê-diêng. Chủng tộc này trong thời thái cổ đã có mặt hầu khắp miền Ðông Nam Á châu.
 
 
BÁCH VIỆT
 
Căn cứ vào các sách của Tàu trong đời nhà Chu ta thấy Bách Việt có mặt từ lưu vực sông Dương Tử rồi sau này tản mác khắp miền nam bộ Trung Hoa. Nói là Bách Việt, người ta căn cứ vào thuyết truyền kỳ về Lạc Long Quân kết duyên cùng bà Âu Cơ sinh ra trăm con trai. Sự thực về thời Thương có giống Bách Việt có nhiều nhóm nhiều bộ lạc sinh sống rải rác như các dân tộc thiểu số ngày nay tại miền thượng du. Ðến đời nhà Chu, các bộ lạc này đi dần đến chỗ thống nhất do những biến thiên của lịch sử. Các bộ lạc nhỏ dần bị các bộ lạc lớn kiêm tính và hợp lại thành năm nhóm sau đây đã đạt tới hình thức quốc gia là Ðông Việt hay Ðông Âu, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Sau này ba nhóm trên bị đồng hóa theo Hán tộc, còn lại trên lịch sử ngày nay là nhóm Tây Âu và Lạc Việt."(6)
 
Tác giả Phạm Văn Sơn viết Việt sử toàn thư vào năm 1960. Nhờ thành quả của khoa khảo cổ học, nhân chủng học và những tư liệu của lịch sử thế giới, ông đưa vào sách của mình nhiều tài liệu liên quan đến nguồn gốc người Việt. Tuy vậy, do hạn chế của sử liệu cũng như khả năng phân tích tư liệu nên sử của ông mang tính "xôi đỗ" cái sai xen lẫn với cái đúng. Thêm vào đó, việc đưa vào một cuốn sử quá nhiều giả thuyết có khi trái ngược mâu thuẫn nhau khiến người đọc bị rối, không biết lấy đâu làm sở cứ. Ðiều này phản ánh sự khủng khoảng trong nhận thức về nguồn gốc dân tộc Việt của giới sử học Việt Nam và thế giới.
 
 
5. VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN
 
  Một sử gia khác, Giáo sư Lương Kim Ðịnh, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu cho rằng tiền sử người Việt chia làm ba thời kỳ :
 
a. Thời kỳ Thái Sơn
 
 Thời kỳ này người Việt quần tụ ở vùng Thái Sơn thuộc dãy Thân Lĩnh tỉnh Sơn Ðông. Ðây là giai đoạn Tam hoàng gồm: Toại Nhân là vị vua phát minh ra lửa, gọi là Thiên Hoàng. Phục Hy hay Nhân Hoàng dạy cách chăn nuôi và làm ra bát quái cùng vợ là Nữ Oa coi về thời tiết. Vua cuối cùng là Thần Nông dạy dân trồng lúa nên gọi là Ðịa Hoàng.
 
   Sử Tàu ghi Thần Nông truyền được 8 đời, kéo dài 530 năm. Thời kỳ này luôn xảy ra chiến tranh với Hán tộc của Hoàng Đế. Trong cuốn Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu hát “Tích nhật Hoàng Đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu” (ngày xưa Hoàng Đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt). Sử Tàu ghi trận Trác Lộc nổ ra vào khoảng năm 2800 TCN. Si Vưu là tên xấu người Hán đặt cho Ðế Lai. Trong trận này Ðế Lai bị giết, Hiên Viên thắng, được tôn làm Hoàng Đế.
 
b. Thời kỳ Ngũ Lĩnh
 
 Ðời Viêm Đế thứ ba, vì sức bành trướng của Hoa tộc, Ðế Minh truyền ngôi cho con là Ðế Nghi rồi đem một số bộ lạc Miêu và Thái đi xuống vùng năm hồ năm núi. Ðấy là cuộc Nam tiến thứ nhất lập ra nước Xích Quỷ gồm ba hệ:
    Hệ Âu Việt (Thái) ở Tứ Xuyên, Quý Châu,  Vân Nam, Miến Ðiện.
    Hệ Miêu Việt: ở giữa thuộc các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây.
    Hệ Lạc Việt ở Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Việt, Trung Việt.
 
c. Thời đại Phong châu lập ra nước Văn Lang.(7)
 
    Trong Cơ cấu Việt nho, tác giả Kim Ðịnh dẫn sử gia Tàu là Vương Ðồng Linh trong cuốn Trung Quốc dân tộc học:
  "Sau bốn lần băng tuyết, những người sống sót trú trên rặng núi Thiên Sơn. Sau đó nhóm người này tỏa ra phía Tây làm dân da trắng, nhóm người tỏa ra phía Ðông làm dân da vàng. Nhóm người này chia làm hai ngả: Thiên Sơn bắc lộ gồm Mãn, Mông, Hồi. Một theo Thiên Sơn nam lộ gồm Miêu, Hoa, Tạng. Trong đó Tạng là Anhđônê, Mã Lai Á, Nam Dương, Cao Mên, Chàm. Hoa là Hán tộc sau này. Miêu là Tam Miêu, Bách Việt trong đó có Âu Việt (Miên, Thái, Lào), Miêu Việt (Mèo, Mán), Lạc Việt (Việt Nam, Mường).
 
 Cuốn thứ hai là Trung Quốc thông sử của Chu Cốc Thành cho thấy Viêm Việt đã vào nước Tàu trước theo ngọn sông Dương Tử. Thoạt kỳ thủy chiếm 7 tỉnh Trường Giang rồi tỏa lên Bắc chiếm 6 tỉnh Hoàng Hà, cũng như tỏa xuống mạn nam chiếm 5 tỉnh Việt Giang, vị chi là 18 tỉnh. Vì thế khi người Hoa vào thì Viêm Việt đã cư ngụ rải rác khắp nước Tàu, là vì Hoa tộc tuy cũng theo Thiên Sơn Nam lộ nhưng nấn ná ở lại vùng Tân Cương thuộc Thanh Hải lúc bấy giờ còn là phúc địa, mãi sau mới theo ngọn sông Hoàng Hà vào chiếm 6 tỉnh miền bắc rồi dần dần lan tỏa xuống miền nam đẩy lui Viêm Việt.
 
 
 
 

 
Bản đồ Cửu Châu thời vua Vũ (theo Kim Định)
 
 Ông cũng dẫn tư liệu của các học giả Âu Mỹ như Eberhard và Eickstedt trong cuốn Han chinese expansion in South China của Gs Harold Wiens Ðại học Yale Hoa Kỳ cho rằng Viêm Việt đã vào nước Tàu trước, theo ngọn sông Dương Tử miền nước Ba và Thục.(8)
 
   Tuy vẫn theo quan điểm chính thống là người Việt phát tích từ Tây Tạng nhưng đồng thời Kim Ðịnh không loại bỏ những truyền thuyết cùng huyền sử. Ông có công giải mã truyền thuyết cùng huyền sử cho ta thấy từng bước rõ hơn về cội nguồn dân tộc. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng công trình của Kim Ðịnh đưa ta tới gần nguồn cội hơn.
 
 
 
 
 
6. NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
 
  Năm 1971, nhà văn Bình Nguyên Lộc cho ra cuốn "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam" do Lá Bối ấn hành. Ðây là công trình khảo cứu công phu, tập hợp nhiều bằng chứng gần gũi về nhân chủng và ngôn ngữ giữa người Mã Lai và người Việt. Trên cơ sở đó tác giả cho rằng tổ tiên người Việt là người Mã Lai từ ngoài khơi Ðông Nam Á di cư lên. Giả thuyết của Bình Nguyên Lộc bên cạnh những chứng lý khá thuyết phục về sự tương đồng giữa hình thái người cùng ngôn ngữ nhưng lại không giải thích được những vấn đề mấu chốt khác như nghề đúc đồng ở Việt Nam vì sao lại sớm và tinh xảo hơn ở Mã Lai cùng nhiều di tích khảo cổ ở Việt Nam có tuổi sớm hơn ở "chính gốc". Mặt khác, dù có đưa ra nhiều bằng chứng về sự tương đồng thì thuyết của Bình Nguyên Lộc không thuyết phục được đông đảo trí thức cùng dân chúng. Có một lẽ sâu xa trong tâm thức, người Việt thấy mình xa lạ với Mã Lai và khó lòng chấp nhận một ông tổ da ngăm tóc quăn từ phương Nam lên.
 
    Như sẽ chứng minh sau rằng, thuyết của Bình Nguyên Lộc là sự giải thích ngược, lấy ngọn làm gốc. Tuy vậy, sự tìm tòi của ông cung cấp những bằng chứng về người Mã Lai và người Việt gần gũi nhau giúp cho người đọc dễ nhận ra nguồn gốc chung giữa hai dân tộc.
 
     Nhìn một cách khái quát, cho đến cuối thế kỷ XX, tuy đã tích lũy được nhiều tư liệu về khảo cổ, nhân chủng, xã hội, ngôn ngữ, lịch sử học... nhưng việc tìm hiểu cội nguồn người Á Ðông hầu như dẫm chân tại chỗ trong sự thống trị của thuyết do E. Aymonier đề xuất: người Á Ðông hiện đại trong đó có người Việt là từ Trung Ðông di cư tới theo ngả Tây Tạng. Nhiều đại học danh tiếng nước Mỹ cũng ăn theo quan niệm này. Thuyết của Aymonier nghe chừng hợp lý vì có thể giải thích được nhiều vấn đề của tiền sử Ðông Á nhưng trong đó cũng bộc lộ không ít mâu thuẫn và bất cập, nhất là khi Văn hóa Hòa Bình được phát hiện, cho thấy tuổi khảo cổ của người Hòa Bình già hơn những di chỉ sớm nhất ở phương Bắc, đồng thời đấy cũng là trung tâm nông nghiệp sớm vào bậc nhất thế giới.
 
   Nay nhìn lại những cuốn sử đã có, ta có thể nhận ra rằng, những bằng chứng tích tụ được đã đủ để đi tới một kết luận chính xác khoa học về tiền sử Á Ðông. Tuy nhiên một kết luận như vậy chưa xuất hiện chính vì việc giải mã những chứng cứ đã có không được chính xác đẫn tới mâu thuẫn rồi triệt tiêu lẫn nhau. Ðiều này nói lên sự khủng hoảng của khoa học nhân văn: những phương pháp, những công cụ hiện có trở nên bất lực trước việc giải quyết rốt ráo vấn đề mấu chốt nhất của lịch sử. Một cách hình tượng, ta có thể ví những thành quả của khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học... như những mạt sắt nằm tản mạn lẫn cùng vô vàn cát sỏi, cần một cây đũa thần chọn lọc sắp xếp chúng lại theo một trật tự hợp lý. Trong khoa học tự nhiên, cây đũa thần ấy là thanh nam châm. Còn trong khoa học nhân văn, cây đũa thần ở đây chính là công nghệ gene, một phát minh quan trọng được áp dụng vào lĩnh vực nhân chủng học ở những năm cuối của thế kỷ trước.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:16:37Tư Tứ>
CHƯƠNG II
 
NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT THEO
QUAN ÐIỂM HIỆN ÐẠI
 

    
     Về mặt địa lý, Việt Nam nằm trong vùng Ðông Nam Á vì vậy có chung vận mệnh lịch sử với các dân tộc trong khu vực. Hệ quả tự nhiên, nguồn gốc của người Việt không thể không liên quan tới các tộc người láng giềng. Vì vậy, ta chỉ có thể tìm ra cội nguồn người Việt trên con đường tìm kiếm cội nguồn những chủng người cộng cư trên địa bàn Ðông Nam Á. Giải quyết vấn đề này, khoa học đã đi theo hai giai đoạn khác nhau.
 
   A. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NHÂN CHỦNG HỌC CỔ ÐIỂN
 
     Nhân chủng học được khai sinh từ giữa thế kỷ XVII với những tên tuổi như học giả người Pháp Francois Bernier, tiếp đó là nhà phân loại học bậc thầy K.Linne người Thụy Ðiển rồi Buffon, Blumenbac... Cho đến cuối thế kỷ XX, hệ thống phương pháp nghiên cứu của nhân chủng học thế giới là so sánh hình thái đường vân trên bàn tay, hình thái bộ răng và phức hệ kháng nguyên trên hồng cầu ở người hiện đại và so sánh hình thái học sọ người cổ. Trong hai thế kỷ rưỡi rị mọ làm việc với những dụng cụ đơn giản là cái rìu cái cuốc cùng những thước đo, các nhà nhân chủng học cổ điển đã làm được khối lượng công việc khổng lồ: tìm kiếm nguồn gốc con người rồi phân chia thành những loại hình và chỉ ra sự chuyển hóa của chúng. Những tri thức nhân chủng học đã giúp cho con người bước đầu hiểu được mình là ai, từ đâu đến, góp phần nâng cao vị trí con người trong tự nhiên huyền bí.
 
   Với các dân tộc Ðông Nam Á, nhân chủng học cổ điển giúp giải quyết những vấn đề rất cơ bản mà nếu thiếu những tri thức đó, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng mông muội.
 
   Ðể xác định cội nguồn tổ tiên người Việt, chúng tôi không có cách nào khác là tìm hiểu cội nguồn các tộc người Ðông Nam Á khác. Trong công việc này, công trình Nhân chủng học Ðông Nam Á của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa có những đóng góp quan trọng.
 
   Ở đây chúng tôi xin giới thiệu những ý tưởng chủ yếu của người đi trước đồng thời ở những chỗ thích hợp, đưa ra ý kiến thảo luận.  
 
  Khảo sát những sọ người Homo sapiens cổ tìm được khắp Ðông Nam Á như sọ người Hang Nia ở Bắc Kalimantan, Vadjak ở Giava (Indonesia), ở Tam Hang, Tam Pông (Lào), ở Xamrôngxen, Long Prao tỉnh Kômpuông Chnăng (Camphuchia), 38 bộ xương người cổ ở Bản Kao (Thái Lan) và 38 sọ tìm thấy tại nhiều di chỉ ở Việt Nam, các nhà nhân chủng học đưa ra nhận định :
 
    Thời đại đá mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và cả Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.(9)
   Nhận định này dựa trên việc khảo sát một số nhóm dân cư cụ thể :   
 
 
1/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÔN-KHMER
 
Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer hiện nay tập trung chủ yếu trên bán đảo Ðông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ở Campuchia (4 triệu), Việt Nam (2 triệu gồm người Khmer Nam Bộ, Bana, Xơ Ðăng, K’ho, H’rê, S’tiêng, Bru, Vân Kiều, Kh’mú, Kháng...), Thái Lan (trên dưới 2 triệu) và các nước khác như Lào, Mã Lai... gần 1 triệu.
 
  Về nguồn gốc cư dân ngôn ngữ Môn-Khmer có nhiều ý kiến khác nhau. Giả thuyết được nhiều người tán thành là của E. Aymonier công bố năm 1904 cho rằng: Tổ tiên những tộc người ngôn ngữ Môn-Khmer thuộc về chủng tộc Negritoid, bắt nguồn từ những sườn núi phía Nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo hai hướng - hướng Tây Nam sinh ra người Munda ở Ấn Ðộ, hướng Ðông Nam sinh ra tộc người Môn-Khmer ở Ðông Dương. (Aymonier E - Le Cambodge T.3 Paris 1904. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á, tr. 118)
 
  S.I. Bruk, nhà nhân chủng học Liên Xô cho rằng, từ cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, đại bộ phận Ðông Dương đã có mặt người Môn-Khmer từ phía Tây Nam Trung Quốc tràn xuống (Bruk S.I. Thành phần tộc người và sự phân bố cư dân ở các nước Ðông Dương.  Dân tộc học Xô Viết, số 1.1950. Dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
 
  Các nhà nhân chủng học kết luận: "Phần lớn người nói ngôn ngữ Môn-Khmer đều là dân bản địa Ðông Nam Á lâu đời. Cội nguồn của họ là từ những dạng chuyển tiếp Austro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét "đặc trưng phương Nam", từ đó sinh ra các loại Vedoid và Indonesien nguyên thủy - những chủ nhân của bán đảo Ðông Dương cổ đại, về sau phân bố rộng khắp Ðông Nam Á."
 
 Như vậy có thể kết luận khái quát : Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer ở Ðông Dương và Ðông Nam Á hiện nay là những cư dân bản địa.
 
 
2/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ VIỆT- MƯỜNG
 
 Ðại diện cho cộng đồng nói ngôn ngữ Việt-Mường là người Việt và người Mường. Người Việt có hơn 50 triệu sống tập trung ở đồng bằng châu thổ. Tộc Mường trên 600.000 người, cư trú khá tập trung ở miền thượng du và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
 
     Người Việt và người Mường đều có những đặc trưng tiêu biểu của nhóm loại hình Ðông Nam Á trong chủng người Mongoloid phương Nam. Người Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách ra thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết khoảng thế kỷ XI trở về sau này, khi nhà Lý giành được độc lập, đánh tan quân xâm lược nhà Tống.
 
   Một nhận định khác: Ngôn ngữ Việt-Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình nhân chủng Indonesien và Nam Á.
 
  Tới đây, một vấn đề nảy sinh: rõ ràng, thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (vào thời đồ đồng) trong khi thành phần Indonesien hình thành sớm (thời đại đá mới). Như vậy, ngôn ngữ Việt-Mường cũng có cội nguồn cổ xưa như những người Indonesien nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt-Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người, có thể khác nhau về tiếng nói và nguồn gốc? Các tác giả như Hà Văn Tấn, Phạm Ðức Dương, Nguyễn Ðình Khoa cho rằng: xuất phát từ ngôn ngữ cổ Indonesien chuyển sang trung gian Việt-Mường chung và cuối cùng thành ngôn ngữ Ðông Nam Á Việt Mường.
 
  Về bước chuyển hóa này, Nguyễn Ðình Khoa viết: "Người Indonesien vốn là thành phần chủ thể của bán đảo Ðông Dương từ thời đá mới, kéo dài mãi tới sau này, và từ thời đại đồ đồng tương ứng với xã hội các vua Hùng thì xuất hiện một hình thái nhân chủng mới - người Nam Á cổ là tổ tiên cùng của các tộc người thuộc loại hình Nam Á hiện nay, trong đó có người Việt-Mường." (Con người thời Hùng Vương. Khảo cổ học số 9-10 tháng 6-1971)
 
 
3/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ  H’MÔNG - DAO.
 
  Cội nguồn các dân tộc H’mông-Dao vốn từ phía Nam Trung Quốc, sau này di chuyển dần xuống bắc bán đảo Ðông Dương. Ở Trung Quốc hiện nay, người H’mông tập trung đông nhất tại Quý Châu và các tỉnh giáp ranh như Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Tây... Người Dao phân bố dịch về phía Ðông Nam so với vùng phân bố của người H’mông, tập trung chủ yếu tại Quảng Ðông, Quảng Tây... Người H’mông, Dao có mặt ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện. Ở Việt Nam đông hơn cả, khoảng trên 600.000 người.
 
   Về thành phần nhân chủng, người H’mông-Dao thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
 
   Theo Nguyễn Ðình Khoa, từ những thư tịch cũ cùng tài liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người H’mông và Dao có chung cội nguồn tổ tiên xác định khoảng ngót 3000 năm trước (cuối thiên niên kỷ thứ II TCN) mà địa bàn cư trú là vùng hồ Ðộng Ðình. Ðó là những bộ tộc Tam Miêu hay Miêu dân. Về sau do sự bành trướng của người Hán nên con cháu người Tam Miêu ly tán dần về Nam. Vào đầu Công nguyên, họ còn chiếm lĩnh một vùng rộng lớn từ bờ nam sông Dương Tử tới giáp giới hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Bằng chứng về sự tồn tại của họ, là nhiều tài liệu khảo cổ học: văn hóa đồng đã phát triển ở Tứ Xuyên và vùng lân cận chứng tỏ chủ nhân chúng là dân cư nông nghiệp dùng cuốc, đánh cá, ở nhà sàn. Trong hiện vật tìm thấy rìu có vai, loại công cụ không có ở Hà Nam, Cam Túc... Nền văn hóa này khác hẳn văn hóa Ngưỡng Thiều, nghĩa là không phải Hán, cũng không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán (Theo Its R.F Người Mèo. Tập thông báo về các dân tộc Ðông Nam Á. Viện Dân tộc học Liên Xô, M.1960. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á.)
 
   Vào thời Nam Bắc triều (265-583) sử sách còn ghi: người H’mông-Dao tập trung đông đảo quanh Ngũ Lĩnh, tỏa ra đồng bằng Hồ Nam. Nhưng sau đó, từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VIII, tộc Hán thôn tính miền này, các tộc người không phải Hán hoặc trở thành phụ thuộc người Hán hoặc di cư đến nơi khác.
 
    Trong quá trình ly tán xuống phương Nam lánh nạn, để tránh khỏi diệt vong hoặc bị đồng hóa bởi Hán tộc, họ di cư theo hai con đường khác nhau. Khối H’mông (Man Miêu) di tản theo hướng Quý Châu, tương đối tập trung trong khi người Man Dao theo hướng Tây Nam đi về Nam Lĩnh Sơn, đường hiểm trở nên phân chia thành nhiều nhóm. Thời gian này ở vào khoảng thế kỷ IX.
  Từ những phân tích trên, giới nhân chủng học nhận định :
 
a. Khối H’mông-Dao cũng như ngôn ngữ H’mông-Dao bắt nguồn từ một vùng phía nam sông Dương Tử rồi thiên di xuống phương Nam và chia thành hai tộc người H’mông và Dao từ thế kỷ VI và tách hẳn vào thế kỷ IX.
 
b. Người Dao đến Bắc Ðông Dương đã khoảng gần 1000 năm và còn nhiều đợt tiếp theo sau này.
 
 
  4/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ THÁI.
 
 Các tộc ngôn ngữ Thái-Tày tập trung chủ yếu ở Ðông Dương, ngoài ra còn sống tản mác tại Đông Bắc Ấn Ðộ (Assam), Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam), bán đảo Malacca. Tổng số dân khoảng trên 50 triệu, trong đó trên 30 triệu ở Thái Lan.
 
   Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quê hương xưa của người Thái ở khu vực tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tiếp giáp với Ðông Dương. Họ chính là một trong cộng đồng khối Bách Việt vào nhiều thời kỳ trong thiên niên kỷ I TCN, do sự chèn ép của người Hán, đã thiên cư theo hai hướng Ðông và Nam. Dòng người sang Ðông đi tới Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Bộ Việt Nam, một số tới đảo Hải Nam. Dòng theo hướng Nam men theo các thung lũng và triền sông, tỏa ra các nước Ðông Dương. Người Thái Lan hiện nay là con cháu những nhóm Thái đi xa nhất về phía nam. Các nhóm tỏa sang đông là tổ tiên người Lào và các tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Các nhóm tỏa sang tây là người Shan (Miến Ðiện), sau này có một nhánh sang Assam (Ðông Bắc Ấn Ðộ). Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, do người Thái làm nông nghiệp lúa nước nên phải phát sinh từ miền đất thấp gần duyên hải, có thể chính là hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, Trung Quốc. Nhà nhân chủng học người Mỹ W.G. Solheim II cho rằng: "Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đồ đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay." Nói cách khác, tổ tiên dân tộc Thái ở Thái Lan đã có mặt trên đất nước cách nay 3000-4000 năm.
 
 
5/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ TẠNG - MIANMA.
 
 Ngôn ngữ Tạng-Mianma là một nhóm trong dòng ngôn ngữ Hán. Ở Ðông Nam Á có người Mianma đông nhất (trên 20 triệu), ngoài ra còn các sắc dân Karen, Katchin, Tchin, Kaya, Lôlô, Hà Nhì, La Hủ...Về nhân chủng học, người Mianma cũng là một loại hình trong nhóm Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
 
  Có thuyết cho rằng, người Mianma vốn nguồn gốc từ một cư dân du mục gọi là Ch’iang, xưa cư trú ở Tây Bắc nước Trung Hoa cổ đại, giữa sa mạc Gôbi và miền Ðông Bắc Tây Tạng. Như vậy ít nhiều có thể kế cận với vùng sinh tụ phía tây của người Bách Việt. Sử sách từng nói tới đồ đá mới của họ từ 3000 năm TCN. Sau đó, do sự lấn chiếm của người Hán nên họ rời quê hương tiến dần xuống phía nam tiếp xúc với người Tây Tạng rồi tới cương vực của người Bách Việt. Tại đây, do quan hệ một thời gian dài với các tộc người ngôn ngữ Thái, họ tiếp thu văn hóa mới vào khoảng thiên niên kỷ I TCN. Họ có mặt ở Thượng Mianma vào những thế kỷ sau Công nguyên. Hình thái nhân chủng của người Mianma hiện nay là hệ quả trực tiếp của quá trình hỗn chủng lâu dài với nhiều nhóm người thuộc chủng Nam Mongoloid (Tây Tạng, Thái,  bản địa Ðông Dương). Chắc là loại hình nhân chủng tổ tiên người Mianma không đồng nhất với con cháu họ bây giờ. Rất có thể trước đây, đó là những người có đặc điểm ít nhiều gần với người Mongoloid phương Bắc như tầm vóc cao lớn, hộp sọ dài trung bình, mặt dài... Nay ở người Mianma đã hình thành những đặc trưng phương Nam như người Thái và được đặt vào loại hình Ðông Nam Á.
 
 
 
6/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÃ LAI - POLYNESIA
 
    Vùng phân bố hiện nay của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia tập trung tại các nước Indonesia, Philippine, một phần Malaysia. Phần còn lại tản mác ở một số nước trên bán đảo Ðông Dương như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan...
 
   Người nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cấu thành khối dân tộc đa số ở Indonesia, (Giava, Sunda, Madura), Philippine (Vixai, Tagal) và ở Mã Lai. Ở các nước khác, họ thuộc thành phần các dân tộc ít người như dân tộc Chăm ở Việt Nam, Campuchia. Về chủng tộc, họ cũng không đồng nhất. Ðại bộ phận thuộc nhóm loại hình Nam Á. Ðó là các dân tộc đa số ở Indonesia, Philippine, Malaysia và một số thành phần dân tộc ít người ở các nước nói trên hay trên bán đảo Ðông Dương (Chăm). Còn lại là những biểu hiện đa dạng của nhóm loại hình Indonesien và Vedoid. Ðặc điểm nổi bật của cư dân ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia là sự hỗn chủng cao giữa những chủng người không cùng nguồn gốc ban đầu.
 
   Có hai giả thuyết về nguồn gốc các dân tộc ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia :
 
   1/ Khu vực hình thành đầu tiên là miền Nam Trung Quốc, từ đó lan truyền xuống Ðông Nam Á và châu Ðại Dương.
 
   2/ Là vùng đảo Ðông Nam Á, mà trung tâm là từ miền Ðông Indonesia tới Nam Philippine rồi lan ra xung quanh tới Nhật Bản, Polynesia, vịnh Băng Gan, Madagascar.
 Những tác giả theo giả thuyết 1 cho rằng : "Vùng phân bố cổ xưa nhất của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia xác định là khoảng giữa sông Thanh Giang và sông Dương Tử, thuộc về những bộ lạc nông nghiệp định cư của người Việt trong khối Bách Việt, có mặt ở đây từ những thiên niên kỷ III-II TCN. Ðiều kiện lịch sử xã hội vào cuối thiên niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II TCN đã kích thích sự di cư của nhiều nhóm Bách Việt. Tổ tiên các cộng đồng Mã Lai-Polynesia đã từ lục địa tới Ðài Loan và để lại di duệ (người Cao Sơn). Hiện nay ở phía Nam Trung Quốc không còn tộc người nào nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia nhưng dấu tích ngôn ngữ này đã phát hiện trong ngôn ngữ Thái và một số tộc người ở Bắc Việt Nam.
 
      Giả thuyết thứ hai do G.W. Solheim II đề xuất (Solheim W.G.II- Reflections on the new data of Southeast Asian Prehistory: Austronesian origin and consequence- Paper presented at the First International conference on comparative Austronesian Linguistics, January 1974; Honolulu- Hawaii) :
 
  Cái nôi ban đầu của ngôn ngữ Nam Ðảo không thể ở phía Ðông Nam Trung Quốc mà ở Ðông Nam Á, và trung tâm của nó là khu vực từ các đảo phía Đông Indonesia tới Nam Philippine. Thời kỳ hình thành của ngôn ngữ này vào khoảng 4000 năm TCN. Giai đoạn ngôn ngữ Nam Ðảo lan rộng ra xung quanh vào khoảng thiên niên kỷ II TCN, bắc tới Nam Trung Quốc, đông tới Polynesia. Cũng vào giai đoạn này tổ tiên người Chăm đến duyên hải Việt Nam và để lại dấu tích trong phức hệ gốm Sa Huỳnh.
 
   Theo chúng tôi, có lẽ thực tế lịch sử là sự kết hợp cả hai giả thuyết: Tổ tiên người Chăm xuất hiện từ khoảng 60.000 năm trước, ở miền Trung Việt Nam, thuộc nhánh Australoid. Từ đây họ hòa huyết với người Mogoloid rồi thiên di theo hai hướng: hướng nam xuống các đảo như Indonesia, Philippine còn phía bắc tới Nam Trung Quốc (và có thể đi xa hơn trong những người chinh phục châu Mỹ). Những người tụ ở Nam Trung Quốc nhập vào đại gia đình Bách Việt và được Ðông Nam Á hóa. Cùng chịu chung số phận lịch sử với người Bách Việt, vào thiên niên kỷ II TCN, người Chăm thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á cư trú tại lưu vực Trường Giang trở về nơi xuất phát là miền Trung Việt Nam cùng các đảo ngoài khơi. Trong khi đó, những người trụ lại miền Trung Việt Nam làm nên văn hóa Sa Huỳnh.
 
 Từ bức tranh toàn cảnh nhân chủng Ðông Nam Á trên, các nhà nhân chủng học rút ra 2 kết luận :
 
       a- Vào thời Ðá mới, cư dân Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonésien và Melanésien là hai thành phần chủ yếu.
 
      b- Sang thời Ðồng-sắt, trên toàn Ðông Nam Á diễn ra việc chuyển hóa mạnh từ loại hình Indonésien sang loại hình Nam Á (Mongoloid phương Nam). Thành phần Australoid thu hẹp đến tối đa trong khu vực.
 
 Hai kết luận trên là đóng góp quan trọng cho nhận thức về nhân chủng học Ðông Nam Á.
 
   Tuy vậy công trình của Nguyễn Ðình Khoa cũng còn những hạn chế :
 
    Thứ nhất : Vẫn theo thuyết cho rằng tổ tiên người Ðông Nam Á từ Tây Tạng xuống.
 
   Thứ hai : Không cho thấy nguyên nhân của sự chuyển hóa mạnh và đồng loạt từ loại hình Indonesien sang Ðông Nam Á vào thời đồ Ðồng.
 
    Thứ ba : Không giải thích vì sao, các tộc người như Mon-Khmer, Thái Tày... có sự di chuyển từ phía Nam Trung Quốc xuống thì người Việt lại không có sự di cư này, trong khi các tài liệu lịch sử cho thấy người Lạc Việt là nòng cốt trong dòng Bách Việt từng sinh sống ở Trung Quốc.
 
   Đó không chỉ là hạn chế của tác giả mà cũng là giới hạn của nhân chủng học cổ điển. Nhân chủng học cổ điển với công cụ thô sơ và phương tiện Các-bon đánh dấu C14 không thể cho những kết quả đủ để có thể đưa tới những kết luận thỏa đáng.
 
               

 
 
Bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại
(Chú thích từ trên xuống: Nam Á, Indonesien,Vedoid, Negritoid)
(Nguồn: Nhân chủng học Ðông Nam Á)
 
 
   B. ÐÓNG GÓP CỦA NHÂN CHỦNG HỌC HIỆN ÐẠI
 
   Nhân chủng học cổ điển đóng góp vô cùng lớn giúp con người tự nhận thức về mình. Nhưng với phương pháp cùng công cụ hạn chế, nhân chủng học cổ điển đành bất lực trước những câu hỏi bức xúc nhất về tổ tiên loài người và mối quan hệ giữa các tộc người.
 
   Cuối thế kỷ XX, tại nơi mà nhân chủng học cổ điển dừng lại thì một khoa học nhân chủng mới ra đời, dùng công nghệ gene khảo sát sự hình thành và biến đổi của loài người.
 
   Ðây là ngành khoa học thực nghiệm đòi hỏi phương tiện nghiên cứu hiện đại và đưa đến kết quả có độ chính xác cao. Khoa học nhân chủng hiện đại dựa trên hai nguyên lý :
 
   a/ Gene là nhân tố bền vững giúp cho nhận diện sự có mặt của từng loài hay từng chủng sinh vật theo địa bàn phân bố của chúng. Như vậy, nhân tố gene cho ta nhận biết sự phân bố của từng loài, từng chủng sinh vật theo không gian.
 
   b/ Trong một loài, một chủng, gene tuy bền vững ổn định nhưng lại có những nhân tố biến đổi qua từng thế hệ theo xu hướng càng xa tổ gốc, càng giảm dần. Dựa vào đặc điểm này, dùng thuật toán thống kê, người ta định ra chỉ số biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) hay chỉ số đa dạng sinh học (F-value) để nhận biết sự phân bố của sinh vật theo thời gian.
 
    Dựa vào công nghệ gene, nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá chính xác mối quan hệ nhân chủng trong các cộng đồng dân cư và phát hiện gene di truyền những nhân tố gây bệnh.
 
   Vào thập niên 90 thế kỷ trước, trong khi các nhà khoa học phương Tây đang đi tới hoàn tất việc khám phá bản đổ gene người thì người Trung Quốc cũng rất nhạy bén với thành tựu khoa học mới này. Bằng nguồn kinh phí của Quỹ phát triển khoa học tự nhiên, họ đầu tư cho Dự án Ða dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) với mục đích tìm hiểu nguồn gốc của người Hán và cách chữa trị một vài bệnh di truyền. Nhiều nhà khoa học ở Ðại học Bắc Kinh và Thanh Hoa Thượng Hải hợp tác với đồng bào, đồng nghiệp của họ tại Ðại học Texas bang Huston và Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ tham gia Dự án này.
 
   Ngày 29/9/1998 nhóm nghiên cứu đã công bố bản báo cáo gây chấn động giới khoa học nước Mỹ.
 
 Những nét chính của báo cáo như sau :
 
 
  1/ Gs Chu cùng đồng nghiệp thuộc Ðại học Texas phân tích từ 15-30 mẫu microsatellites (mt DNA) để khảo sát sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm người Hoa, 4 nhóm người Ðông Nam Á, 2 nhóm thổ dân Mỹ, 1 nhóm thổ dân Úc, 1 nhóm thuộc New Guinea và 4 nhóm da trắng Caucase.
 
   Kết quả phân tích cho thấy :
 
   a. Các sắc dân Ðông Nam Á tập hợp thành một nhóm di truyền.
  b.  Nhóm dân có đặc tính di truyền gần gũi với dân Ðông Nam Á là thổ dân Mỹ sau đó là thổ dân Úc và New Guinea.
 
   c. Ðặc diểm di truyền của người Hán miền Bắc không giống người Hán phương Nam.
 
   Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình: Các dân tộc Bắc Á được tiến hóa từ Ðông Nam Á và kết luận: Tổ tiên các nhóm dân Ðông Á ngày nay có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. Kết luận này cũng cho rằng, tổ tiên của những người nói tiếng Altaic ở phía Bắc Trung Quốc cũng từ Ðông Nam Á lên chứ không phải từ ngả Trung Á sang như từ trước vẫn hiểu. (10)
 
  Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm giáo sư Chu có điểm yếu là chỉ dựa vào mtDNA, một nhân tố di truyền rất mẫn cảm nên không bền vững, dễ bị đột biến, có thể dẫn tới kết quả sai lạc.
 
  2/ Khắc phục nhược điểm trên, một nhóm nghiên cứu khác dựa trên nhiễm sắc thể Y (Y-chromosome) để khảo sát những đại diện người Hoa ở 22 tỉnh Trung Quốc, 3 nhóm dân Ðông Bắc Á, 5 nhóm Ðông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Batak, Java) và một số nhóm dân ngoài châu Á.
 
    Kết quả nghiên cứu ghi nhận : Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong nhóm Ðông Nam Á cao hơn nhóm Ðông Bắc Á.
 
   Khi phân tích di truyền quần thể (population genetics) đã đưa đến kết luận: Con người di cư từ châu Phi sang Ðông Nam Á khoảng 60.000 năm trước và sau đó di chuyển lên Bắc Á, Siberia. Các nhóm dân Polynesian (Ða Ðảo) cũng có nguồn gốc từ Ðông Nam Á.(11)
 
   3/  Một nghiên cứu của nhóm khoa học Hàn Quốc: Kim&đồng nghiệp dùng 5 genes trong nhiễm sắc thể Y để khảo sát 2 nhóm dân Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ) và Nam Á (Indonesia, Philippine, Thái Lan, Việt Nam) cho thấy người Việt gần với nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á. (12).
 
  4/ Trong một nghiên cứu khảo sát tần số biến thiên mtDNA của 153 mẫu vật độc lập từ 7 quần thể châu Á, Ballinger S.W nhận thấy sự đa dạng lớn nhất cũng như tần số cao nhất của mtDNA HpaI/HincII dạng 1 ở người Việt Nam, chứng tỏ nguồn gốc Mông Cổ phương Nam của người châu Á. Ðiều này cũng có nghĩa là Người Việt Nam cổ hơn cả trong các sắc dân Ðông Nam Á (13)
  5/ Nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Lý Huỳnh (Jin Li) cùng nhóm của ông ở Ðại học Tổng hợp Texas qua công trình khảo sát nhân tố microsatellites lặp lại liên tục trong chuỗi xoắn DNA của 43 nhóm người Hoa phân bố khắp châu Á đưa ra kết luận:
 
   Homo Sapiens (người khôn ngoan) từ châu Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ Trung Ðông, một nhóm rẽ sang phía Ðông đi qua Pakistan, Ấn Ðộ rồi men theo bờ biển Nam Á. Nhóm người này đến Ðông Nam Á vào khoảng 60-70.000 năm trước. Họ nghỉ ngơi ở đây khoảng 10.000 năm rồi chia tay nhau: 50.000 năm trước đặt chân tới châu Úc, 40.000 năm trước tới New Guinea... Một bộ phận đi tiếp lên phía Bắc, tới Trung Hoa. Từ đây, họ đi xa hơn nữa tới Siberia, băng qua eo biển Bering tới Alasca vào châu Mỹ, thành người thổ dân châu Mỹ.(14)
 
 
  6/ Hai công trình của Peter Savolainen và Jenifer A. Leonard cùng đồng nghiệp phân tích xương chó cổ tìm được ở Mexico, Perou, Bolivia... thấy rằng các loài chó được đưa vào châu Mỹ trước thời Columbus đều bắt nguồn từ giống chó Âu-Á. Khi nghiên cứu kỹ, thấy tổ tiên chó nhà là chó sói Ðông Nam Á bởi phân tích DNA cho thấy đa dạng di truyền của các loài chó Ðông Nam Á cao hơn nhiều so với loài chó châu Âu. Ðó có thể là từ con chó sói duy nhất được thuần hóa cách nay ít nhất 15.000 năm (15).
 
   Kết luận này cũng phù hợp với phát hiện từ giữa thế kỷ XIX của C. Darwin trong cuốn Về nguồn gốc các loài (The Origin of the Species ): tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Ðông Nam Á. Ðiều này cũng phù hợp với thông báo chúng tôi vừa nhận được từ Gs Nguyễn Văn Tuấn (Garvan Institute of Medical research nước Úc): giống gà chọi nổi tiếng Shumo của Nhật cũng có nguồn gốc Ðông Nam Á.
 
  7/  Cũng trong thời gian những thông tin trên công bố thì một cuốn sách gây xôn xao dư luận được phát hành. Ðó là cuốn Ðịa đàng ở phương Ðông của Stephen Oppenheimer. Ông là tiến sĩ khoa Nhi người Anh, từng sống 20 năm ở vùng đảo Ðông Nam Á. Từ nghiên cứu lịch sử, truyền thuyết, ngôn ngữ, xã hội và di truyền ở nhiều nước Ðông Nam Á, ông đưa ra nhiều thông tin mới về vùng đất huyền bí này.
 
    S. Oppenheimer chứng minh rằng, 60.000 năm trước, khi người tiền sử đặt chân tới Ðông Nam Á thì Trái đất đang trong thời biển thoái: mặt nước biển thấp hơn ngày nay 130 met. Khi đó, đồng bằng sông Hồng lan ra tới tận đảo Hải Nam và được đặt tên là lục địa Nanhailand. Cũng thế, vùng Bắc Indonesia lan tới nam đảo Ðài Loan là đồng bằng Sunda, được gọi là lục địa Sundaland. Người tiền sử tới sống ở vùng đất thấp nhiều sông hồ, cây cối rậm rạp kiếm ăn dễ dàng này. Chính từ đây các chủng người gặp nhau, hòa huyết làm nên tổ tiên người Ðông Nam Á. Cũng chính tại đây, công cụ đá, đồ gốm được chế tác, cây lúa và khoai sọ ra đời cùng với những con gà con chó đầu tiên được thuần hóa. Vào khoảng 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm. Một số nhóm người di cư lên khu vực cao hơn ở phía Tây và làm nên Văn hóa Hòa Bình. Khoảng 8000 năm trước, do nước dâng thật cao, lên tới Việt Trì, lục địa Nanhailand và Sundaland chìm trong nước, đẩy một bộ phận lớn dân Ðông Nam Á di chuyển lên lục địa Trung Hoa tạo nên đồ đá mới ở Trung Quốc.(16)
  
     Tổng hợp những nghiên cứu trên đưa tới nhận định sau:
 
    1/ Con người từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh rẽ hướng đông qua ngả Pakistan, Ấn Ðộ rồi men theo bờ biển Nam Á đến lục địa Ðông Nam Á khoảng 70 đến 60.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm sau đó hậu duệ của họ đi lên phía Bắc, tới Trung Quốc, đến Siberia rồi vượt eo Bering đặt chân sang châu Mỹ khoảng 30.000 năm trước. Cũng từ Ðông Nam Á, một nhánh đến Úc vào 50.000 năm trước và đến New Guinea 40.000 năm trước.
 
   2/ Hiện tượng người Việt gần người Bắc Á, nhất là Hàn Quốc (nghiên cứu 3) là lẽ tự nhiên vì cộng đồng Bách Việt sau khi khai phá lục địa Trung Hoa đã bị người Hán chiếm đất, buộc phải tràn ra biển, sang Nhật, Hàn Quốc. Người Nhật, người Hàn hiện đại là hậu duệ của người U Việt trong dòng Bách Việt. Với người Hàn còn có yếu tố lịch sử nữa: vào cuối thời nhà Lý, thế kỷ XIII nhiều nhóm thuyền nhân nhà Lý tỵ nạn vượt biển đến Hàn Quốc trong đó có hoàng thân Lý Long Tường dẫn một đoàn di dân hoàng tộc khoảng 500 người sang cả Bắc và Nam Hàn. Qua hơn 700 năm, những thuyền nhân này bổ sung nguồn gene Việt vào dòng máu Hàn.
 
   3/ Kết luận người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phía Nam của Ballinger là có cơ sở: Người tiền sử đến Ðông Nam Á gồm hai đại chủng Mongoloid da vàng và Australoid da đen. Trong thời gian dừng chân tại miền đất này, hai đại chủng đã hòa huyết tạo nên chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng trung gian giữa chúng (Nguyễn Ðình Khoa Sđd). Ðấy là kịch bản chung theo kết luận của các nhà nhân chủng học. Tuy nhiên rất có thể xảy ra khả năng sau: một nhóm Mongoloid vì lý do nào đó không hòa huyết với chủng Australoid, đi theo con mồi lên phía tây bắc Ðông Nam Á và sống biệt lập. Khi băng hà vừa tan, đoàn người này vội vàng đi lên theo con đường Ba Thục rồi định cư ở Tây bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc. Người Hán phương Bắc là một nhánh của chủng tộc Mông Cổ này. Giả thuyết trên được củng cố nhờ công bố của Gs. Ranjan Deka Ðại học Cincinnati, một trong những người tham gia Dự án Ða dạng di truyền người Hán: "Những quần thể từ Ðông Á tới luôn luôn bắt nguồn từ một dòng riêng rẽ, điều này tạo nên nguồn gốc riêng biệt của những quần thể đó." (Populations from East Asia always derived from a single lineage, indicating the single origins of those populations. Los Angeles Times, September. 29.1998). Do một sự ngẫu nhiên nào đó, một dòng riêng rẽ thuần Mongoloid đi lên phương bắc rồi định cư ở tây bắc Trung Hoa đã làm nên chủng Mongoloid phương Bắc. Có thể tìm thấy dẫn chứng trong khảo cổ học: " Ðiều khó khăn nhất là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi 30.000 năm trước (17). Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: người Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên tây bắc Trung Quốc. Việc nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid phương Bắc.
 
 Như vậy, cho dù được gọi là nhóm Mông Cổ phía Bắc thì thực chất họ cũng từ Ðông Nam Á đi lên. Ðề xuất của Ballinger S.W hoàn toàn có cơ sở. Rất có thể tổ tiên người Altaic cũng từ Ðông Nam Á đi lên theo cách này?
 
     Cùng thời gian đó, người Bách Việt thuộc chủng Indonesien, Melanesien-sản phẩm hòa huyết giữa hai đại chủng Mongoloid, Australoid và là chủ nhân của văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình đi lên khai phá lục địa Trung Hoa, sống tản mác khắp Hoa lục, từ lưu vực sông Dương Tử tới lưu vực sông Hoàng Hà. Khoảng 2800 năm TCN người Mông Cổ tràn qua sông Hoàng Hà xâm lấn, dồn người Bách Việt xuống phía Nam. Trong khoảng thời gian nhiều ngàn năm tiếp xúc Hán-Bách Việt đã xảy ra sự hòa huyết giữa hai chủng người khiến yếu tố Mongoloid trong người Bách Việt tăng lên. Trong quá trình này, dân Bách Việt chuyển dần từ Indonesien, Melanesien sang loại hình Ðông Nam Á. Do người Bách Việt đông mà người Mông Cổ phương Bắc ít nên trong thực tế, cuộc hòa huyết với Bách Việt khiến cho người Mông Cổ phương Bắc bị đồng hóa thành người Mông Cổ phương Nam. Người thời Ðường Ngu, rồi sau đó là nhà Hạ, mà Hạ Vũ là người Miêu Việt. Tiếp theo là nhà Thương. Thành Thang, ông vua đầu tiên của Trung Quốc là người mang gene châu Phi đen từ Ðông Nam Á đi lên, cả đến Lão tử cũng vậy.  (The Shang, for example, China’s first dynasts are described as having "black and oily skin". The famous Chinese sage Lao-Tze was "black in complexim". (Los Angeles Times, September. 29. 1998) (Thang, ông vua đầu tiên của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen.) Nhóm chủng tộc thuộc loại hình Ðông Nam Á này theo thời gian trở nên thành phần chủ thể của dân cư Ðông Á. Ðó là lý do dẫn đến Người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phương Nam và gene người Hán phương Bắc không giống người Hán phương Nam.
 
  4/ Kết luận của nghiên cứu số 2 : Biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) của người Nam Á cao hơn Bắc Á  và nghiên cứu số 4 : Chỉ số đa dạng sinh học (F-value) của người Việt cao nhất trong nhóm dân Ðông Nam Á. Hai kết luận này cho thấy Người Việt là cư dân lâu đời nhất Ðông Nam Á, cũng có nghĩa là lâu đời nhất ở Ðông Á.
 
 5/ Nghiên cứu 6 nói về chó cũng là nói về người bởi những vật nuôi đó không thể tự làm những cuộc hành trình vạn dặm. Chúng là tài sản của con người trong bước thiên di. Ðiều này thêm bằng chứng cho việc người Ðông Nam Á nông nghiệp thuần dưỡng chó và đã tới châu Mỹ ít nhất là 15.000 năm trước.
 
 Như vậy là nhờ cây đũa thần công nghệ gene, khoa học đã giúp giải được bài toán vẫn là mối bận tâm của nhân loại hàng trăm năm nay. Trái ngược với những lý thuyết được cho là kinh điển trước đây, người Ðông Á không phải từ cao nguyên Tây Tạng đi xuống mà từ Ðông Nam Á đi lên. Cũng không phải nước Tàu là trung tâm của thế giới, người Trung Quốc không phải là con trời mà là cộng đồng được sinh ra muộn hơn trong những sắc dân Á Ðông. Văn minh Trung Hoa dù rực rỡ đến mấy cũng là kế thừa của nền văn minh lúa nước Việt tộc huy hoàng trong quá khứ... Cái gì của Cesar phải được trả lại Cesar ! Cuốn lịch sử thời tiền sử Ðông Á phải viết lại từ đầu.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:33:15Tư Tứ>
CHƯƠNG III
VỀ CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT


 
  Từ những dữ kiện nêu trên, có thể nhận định về cội nguồn người Việt như sau :
 
   Sau khi từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông, người Homo Sapiens rời Trung Ðông vượt qua Pakistan, Ấn Ðộ rồi theo bờ biển Nam Á đặt chân đến miền Trung và miền Bắc Việt Nam khoảng 60 đến 70.000 năm trước. Trong khoảng 10.000 năm dừng chân tại đây, hai đại chủng người tiền sử là Mongoloid và Australoid đã hòa huyết tạo thành hai nhóm loại hình Indonesien và Melanesien cùng một số loại hình chuyển tiếp giữa chúng đồng thời mở rộng địa bàn cư trú ra khắp lục địa Ðông Nam Á.
   50.000 năm trước, một số nhóm người di chuyển xuống châu Ðại Dương thành thổ dân Úc hiện nay.
   40.000 năm trước, một số nhóm di cư đến New Guinea.
  Khoảng 30.000 năm trước, người từ lục địa đã tới khắp các đảo lớn ngoài khơi Ðông Nam Á.
  Khoảng 40.000 năm trước, khi băng hà tan, nhiều nhóm người Inđonesien, Melanesien di chuyển lên phía Bắc theo con đường duyên hải. Dần dần họ lan tỏa ra khắp lục địa Trung Hoa và một bộ phận lên tới Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Cuộc Bắc tiến diễn ra mạnh mẽ nhất vào khoảng 8000 năm TCN khi nước biển dâng cao.
Cùng thời gian đó (hay muộn hơn), một nhóm người Mongoloid sống biệt lập tại phía Tây Bắc Ðông Nam Á, không có sự hòa huyết với người Australoid, di cư theo con đường qua đất Ba, đất Thục lên sống ở miền Tây Bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc.
 
 Có thể hình dung kịch bản sau: Người Ðông Nam Á di cư lên phía bắc làm nhiều đợt trong suốt thời gian dài. Những người đi sau thường tìm đến với những người đi trước thuộc dòng tộc gần gũi với mình qua tiếng nói. Họ được người tới trước giúp nơi ăn chốn ở lúc ban đầu cùng những kinh nghiệm sống nơi đất mới. Người mới đến cũng chia sẻ với đồng bào của mình những tiến bộ kỹ thuật mà họ mang theo, như công cụ, các giống cây trồng, vật nuôi từ trung tâm nông nghiệp Hòa Bình... Có một mối liên hệ chặt chẽ như vậy vẫn nối giữa hai vùng.
  Tại lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử, người di cư chuyển dần từ săn bắt hái lượm lúc đầu sang trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc. Những nhóm người gốc Ðông Nam Á này tạo thành một cộng đồng mà sử sách gọi là Miêu Việt hay Bách Việt. Trong hàng vạn năm sống ở đây, người Bách Việt sáng tạo nên nền nông nghiệp lúa nước, chế tác công cụ đá, đồ gốm rồi đồ đồng, sắt. Người Lạc Việt, nhóm chủ đạo trong dòng Bách Việt, lấy vùng Thái Sơn tỉnh Sơn Ðông làm trung tâm. Người Bách Việt bắt đầu hình thành quốc gia lỏng lẻo và tôn Thần Nông là ông vua dạy họ trồng ngũ cốc. Tiếp đó con cháu Thần Nông như Ðế Minh, Ðế Nghi dẫn dắt họ tổ chức cuộc sống, lập nước Xich Quỷ, chuẩn bị đối đầu với dân du mục phương Bắc.
    Cũng thời gian này, những người ở lại Ðông Nam Á sáng tạo tại quê hương mình nền nông nghiệp lúa nước phát triển, kỹ thuật chế tác gốm và đồ đá sau đó là đồ đồng, sắt.
  Vào khoảng năm 2800 TCN, người Mông Cổ phương Bắc vượt sông Hoàng Hà xâm chiếm lãnh thổ của người Bách Việt. Trong trận quyết chiến Trác Lộc trên sông Hoàng Hà, lãnh tụ người Bách Việt Ðế Lai hy sinh. Một bộ phận người Việt chạy về Nam, tới nương náu tại nước Xích Quỷ phía nam Trường Giang, quanh dải Ngũ Lĩnh.
Trong thời gian hàng ngàn năm tiếp xúc, người Bách Việt Indonesien, Melanesien có sự hòa huyết với người  Mông cổ tạo ra người Bách Việt mới mà khoa học gọi là nhóm loại hình Ðông Nam Á hay Mông Cổ phương Nam.
  Khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do sự truy đuổi dữ dội của người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt Mông Cổ phương nam di cư ồ ạt trở lại lục địa cũng như vùng hải đảo Ðông Nam Á. Người H’mông-Dao, người Thái-Tày, người Tạng-Mianma... đã trở về như vậy. Người Lạc Việt cũng không ngoài số phận này. Do mối liên hệ sẵn có, nhất là qua tiếng nói mà con cháu của những người di cư hàng vạn năm trước lại tìm về đúng nơi tổ tiên họ đã ra đi. Người Thái tìm về đất Thái gặp lại bà con xa xưa của mình. Người Việt trở về đất Việt với dòng tộc... Những người Mông Cổ phương Nam trở về tạo nên cuộc hòa huyết làm loại hình Indonesien, Melanesien bản địa chuyển nhanh sang loại hình Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa đó diễn ra tập trung trên toàn bộ Ðông Nam Á. Chính điều này là nguyên nhân chủ yếu tạo nên bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm ra nhiều địa điểm chứng tỏ có sự cộng cư như vậy mà tiêu biểu là di chỉ mộ táng Mán Bạc Ninh Bình. Tiến sĩ Marc Oxenham của Ðại học Quốc gia Úc, người tham gia khai quật di chỉ ghi nhận: "Người Việt từ trước thời Ðá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu (Nam Ðảo) hay Ða đảo Melanesian, nhưng người Việt từ thời Ðồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt Nam hiện thời, vốn đã từng ổn định khoảng 2000 năm TCN."(18)
 
    Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao suốt trong hàng vạn năm trước đó, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh mạn bắc sông Hoàng Hà?
      Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu-thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:
    1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.
    2/  Phương thức sống du mục nên người Mongoloid phương Bắc sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn nam sông Hoàng.
   3/  Người Mông Cổ phương Bắc mang gene từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên theo con đường biệt lập không hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Ðiều này còn thấy trong sắc dân Mongoloid phương Bắc hiện đại.
     Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người  Mongoloid phương Bắc, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại. 
Nghiên cứu của Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp cho thấy: Trong khoảng 2000 năm trở lại đây, người Hán có 3 đợt tràn xuống phía Nam và trở thành sắc dân đông nhất thế giới, đến 1,2 tỷ người vào năm 2000.(19)
  
 

       
Ba làn sóng di cư của người Hán
xuống phía Nam
Từ 1 đến 14: Bắc Hán; 15 đến 28: Nam Hán.
Mũi tên đậm dài: đợt 1, vào thời Tây Tấn (265-316) với khoảng 900.000 người
Mũi tên ngắn: đợt 2, vào thời Ðường ( 618-907) lớn hơn đợt 1.
Mũi tên chấm: đợt 3, đời Nam Tống (1127- 1279), khoảng 5 triệu người.
(hình của Jin Li)
 
   Trên đây là bức tranh khái quát tiền sử Ðông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn.
  Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó… đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Giai đoạn này bị chìm trong bụi thời gian, không được sử sách biết đến, chỉ còn lại ít nhiều dư âm trong truyền thuyết và huyền sử.
  Giai đoạn hai, mà sách sử gọi lầm là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Ðông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lấn xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình.
  Tuy là cuộc thua chạy nhưng lớp người Ðông Nam Á mới đã đem về vốn gene làm chuyển hóa nòi giống cùng với những kinh nghiệm và tri thức mới để xây dựng quê hương.
 
  Ðối với người Việt, tình hình như sau:
  Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Ðông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm Đế. Kế tục Thần Nông là Ðế Minh, Ðế Nghi, Ðế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân ở phía nam. Thời kỳ này người Mông Cổ liên tục xâm lấn, thường xuyên xảy ra tranh chấp.
   Khoảng năm 2600 TCN, trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ thắng, tôn Hoàng Đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận, theo Âu Cơ con gái Ðế Lai chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam. Phải chăng, những cuộc kịch chiến trên lưu vực Hoàng Hà đã được lưu lại trong truyền thuyết Thánh Gióng? Ðọc truyện này, có một điều không sao giải thích nổi là chi tiết giặc Ân. Trên đất của các vua Hùng, cả chính sử cả huyền sử chưa bao giờ biết tới thứ giặc đó. Vậy giặc Ân là ai mà xuất hiện vào đời Hùng Vương thứ 6? Không sao giải thích nổi! Phải chăng cũng như tục xăm mình, tục ăn trầu được nói là do vua Hùng dạy cho dân, sự tích thiên vương, thiên tướng cũng xuất hiện từ trước, bên bờ sông Hoàng Hà? Phải chăng là, vào thời Bàn Canh (1401-1373 TCN) nhà Thương dời đô từ đất Cảnh lầy lội sang đất Ân, lập nên nhà Ân. Nhà Ân mở rộng thêm địa bàn, lấn chiếm đất của Bách Việt với nhiều cuộc kịch chiến, huyền thoại thiên vương ra đời. Khi trở về đất châu Phong, người Việt quên đi nhiều thứ nhưng chuyện đứa trẻ vươn vai thành dũng sĩ lên ngựa đánh giặc cùng kẻ thù là giặc Ân thì hằn sâu trong tâm khảm? Ðể giữ gìn câu chuyện nhiều ý nghĩa này, huyền thoại được bản địa hóa bằng những địa danh như  Phù Ðổng, những ao đầm xứ Vũ Ninh? Có lẽ ban đầu, câu chuyện chỉ như ghi trong Toàn thư: đứa trẻ xin vua cho gươm và ngựa. Nhưng sau đó, khi công cụ sắt được phát minh, nhận ra công dụng thần kỳ của sắt, người đương thời đã thêm roi sắt, ngựa sắt vào huyền thoại? Ðấy chỉ là giả thuyết nhưng thiết nghĩ không phải hoàn toàn không có cơ sở!
 
  Ðến nửa cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, trước sức tấn công mạnh mẽ của người Hán chủng Mongoloid phương Nam, nhiều nhóm Bách Việt đồng loạt chạy về nam.
 Theo truyền thuyết, hậu duệ của Lạc Long Quân đưa người Lạc Việt đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh, tôn người con trưởng lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở vùng Ngàn Hống, Rào Rum (sông Lam núi Hồng) sau đó chuyển lên vùng Ao Việt, lập nhà nước Văn Lang.
  Trở về đất Việt lập nhà nước Văn Lang là các vua Hùng trở về cội nguồn của mình. Do tiếp xúc với người phương Bắc nên có sự hòa huyết với người Hán, người Việt từ nhóm loại hình Indonesien chuyển hóa nhanh thành loại hình Ðông Nam Á. Do phải liên tục chiến đấu chống quân xâm lấn nên người Việt của các vua Hùng trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn, làm nòng cột xây dựng nhà nước, tuy còn lỏng lẻo nhưng bước đầu xác lập mối quan hệ quốc gia, vượt qua tình trạng bộ lạc.
   Trong thời kỳ này nhiều quốc gia khác ở Ðông Nam Á cũng hình thành.
 
Tới đây có lẽ chúng ta cũng cần giải quyết vấn đề vẫn băn khoăn trong tâm trí không ít người: Người Việt có bị Hán hóa không?
 
   Không biết từ bao giờ nhiều người nghĩ và nói rằng người Việt Nam là dân tộc bị Hán hóa. Ðiều này không chỉ là niềm tin âm thầm trong lòng người dân ít học mà còn trong tín điều của các nhà khoa bảng. Xin đơn cử, trong trả lời phỏng vấn Ðài BBC vào năm 2003 và được phát lại vào tháng 7 năm 2005, nhà sử học hàng đầu của Việt Nam, Trần Quốc Vượng nói: "Tôi đã nói với ông Phạm Văn Ðồng rằng, nước ta bị một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm... Trong thời gian ấy, quan lại sang này, rồi lính tráng, vậy thì dân ta bị Hán hóa đứt đuôi!"
 
Tại sao vậy? Có thể vì thấy người Việt giống người Hán nên từ xa xưa ông bà ta cho rằng, mình là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm bởi một nước lớn dân đông vậy hẳn là bị Hán hóa... Không gì bằng thói quen, các thế hệ Việt cứ hồn nhiên truyền nhau thế. Ðiều mê tín đó sang thế kỷ khoa học còn được một số học giả thực dân bồi đắp. Nhưng đó là quan niệm sai lầm do chưa hiểu quá trình hình thành dân tộc Việt. Một sự ngộ nhận kéo dài không chỉ của người Việt mà cả của giới sử học nước ngoài.
    Nói một cách chính xác, khoa học thì người Việt đã trải qua quá trình Ðông Nam Á hóa. Nhà nhân chủng học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa tổng kết: "Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu... Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa." (Nhân chủng học Ðông Nam Á, sđd)
   Như vậy là, vào thời đại vua Hùng, dân cư nước ta có sự chuyển hóa mạnh từ hai loại hình Indonesien và Melanesien sang loại hình Mongoloid phương Nam hay còn gọi là loại hình Ðông Nam Á. Thời đại vua Hùng kết thúc vào năm 257 TCN nên chí ít thì quá trình Ðông Nam Á hóa hoàn tất trước thời An Dương Vương. Khoa nhân chủng học dựa vào so sánh hình thái sọ người Việt cổ, đã xác nhận, việc chuyển hóa sang nhóm loại hình Ðông Nam Á diễn ra vào thời Ðồng-sắt và rộng khắp Ðông Nam Á, từ lục địa tới hải đảo. Sau cuộc chuyển hóa, nhóm loại hình Ðông Nam Á trở nên thành phần chủ đạo trong dân cư Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa này diễn ra khắp Ðông Nam Á, cả những nước chẳng hề hị người Hán chiếm đóng dù chỉ một ngày, là bằng chứng hùng hồn phủ nhận việc người Việt bị "Hán hóa". 
   Tuy nhiên cho đến những năm 80 thế kỷ trước, nhân chủng học chưa xác định được nguyên nhân sự chuyển hóa này: không hiểu là do di dân hay do đồng hóa? (Nguyễn Ðình Khoa sđd) Ðấy chính là câu hỏi thách đố khoa nhân chủng học không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới.
     Tới năm 1998 thì điều này được sáng tỏ nhờ công trình của J.Y Chu và đồng nghiệp: Genetic relation of population in China cùng công trình của Bing Su, Jin Li và nhiều người
 
 
    
 
 






Mongoloid phương Bắc


[/align]





Mongoloid phương Nam


[/align]





Bách Việt Indonesien,
Melanesien, Vedoid…


[/align]





Bách Việt
Mongoloid


[/align]





Hán
Mongoloid


[/align]





Indonesien,
Melanesien,
Vedoid…


[/align]





Việt Australoid


[/align]





Việt Mongoloid


[/align]





Trung Hoa -40.000 năm


[/align]





Trung Hoa 2500 TCN


[/align] 
 
 
 
 
 
 

                                                              x   






Mongoloid X Austrloid


[/align]





Mongo-
loid


[/align] 
 
 

                                                            NgườiViệt hiện đại
                                                                                             Mongoloid phương Nam
                                                                                     (Nhóm loại hình Đông Nam Á) (Dân cư Đông Nam Á 60.000 năm trước)
        
                     Sơ đồ hình thành dân cư Đông Á
 
 
 
 
 
khác dựa trên công nghệ gene phát hiện ra nguồn gốc người Việt. Từ những nghiên cứu này cho ta cơ sở tìm lại sự chuyển hóa về mặt nhân chủng của người Việt diễn ra như sau:
Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người  Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc vượt Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt. Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương nam, còn phần lớn ở lại chung sống với quân xâm lấn. Tại đây có sự hòa huyết giữa người Mongoloid phương Bắc và những người Indonesien, Melanesien bản địa, tạo ra chủng người mới thuộc loại hình Ðông Nam Á, gọi là Mongoloid phương Nam. Trải nhiều thế kỷ, sau khi bình định xong lưu vực Hoàng Hà, người Mongoloid phương Nam vượt Dương Tử lấn tiếp đất của người Việt. Quá trình tranh chấp dài này cũng dẫn đến việc lai giống giữa người Mongoloid phương Nam với người Việt và chuyển hóa dần người Việt sang loại hình Ðông Nam Á. Ðến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Trung Hoa, một bộ phận người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành chủng Mongoloid phương Nam) tràn xuống lục địa cũng như hải đảo Ðông Nam Á. Những người này do số đông, đã lai giống với người Indonesien, Melanesien tại chỗ làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Ðông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam. Sự kiện này đưa tới kết quả là vào thời đại Ðồng-sắt, người Mongoloid phương Nam (thuộc loại hình Ðông Nam Á) chiếm vị trí chủ đạo trong thành phần dân cư phía Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Ðông Nam Á. Chứng cứ của quá trình hóa Ðông Nam Á này ta từng bắt gặp trong những hang động thời Phùng Nguyên có xương người Indonesien, Melanesien lẫn với xương người Mongoloid phương Nam. Di chỉ Mán Bạc phát hiện mới đây ở Ninh Bình với khoảng 30 bộ xương cổ chôn trong một nghĩa địa là chứng cứ rõ ràng nhất: người Việt chủng Ðông Nam Á từ phương Bắc trở về sống cộng cư với người Việt thuộc chủng Indonesien, mở đầu cho việc lai giống.
    Như vậy, có thể kết luận: việc chuyển hóa đại bộ phận dân cư nước ta sang loại hình Ðông Nam Á là do khối người Việt từ Trung Quốc di cư trở về lai giống với người Việt tại chỗ
     Di truyền học cho thấy, từ trước thời Bắc thuộc, người Hán ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Ðến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta-chủ yếu là người Việt Ðông, Việt Tây và Nam Việt trước-thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt. Vì vậy không hề có chuyện người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc. Nói người Việt bị "Hán hóa" là sự ngộ nhận vì không khoa học và không đúng với sự thực lịch sử. Trong lịch sử chỉ có quá trình Ðông Nam Á hóa chung cho cả người Hán và người Việt, diễn ra từ giữa thiên niên kỷ thứ III đến cuối thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên.  
 
   Thiết tưởng từ những phân tích trên, chúng ta có một khái niệm chính xác hơn về người Hán. Các sách sử trước đây cho rằng Hiên Viên là thủ lĩnh người Hán đã vượt Hoàng Hà chiến thắng thủ lĩch Bách Việt Si Vưu. Đây chính là lầm lẫn lớn. Thời điểm này chưa hề có “người Hán”. Bởi lẽ nhà Hán chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ I TCN. Những người đánh chiếm đất đai của Bách Việt là tộc Mông Cổ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc. Kịch bản diễn ra như sau: đội quân của họ Hiên Viên tuy có mạnh nhưng không đông. Khi xuống đất của Bách Việt, họ bị những người Indonesien, Melanesien đông đảo bao vây và xảy ra cuộc hoà huyết tạo thành chủng người mới Mongoloid phương Nam. Chủng người này nhận được những phẩm chất di truyền cùng văn hóa từ gốc du mục và cả gốc nông nghiệp nên phát triển mạnh, tràn lan khắp Trung Nguyên, lấn chiếm tiếp đất đai của người bản địa đồng thời tăng cường việc lai giống, khiến cho đại bộ phận dân cư trên địa bàn Trung Quốc trở thành chủng Mongoloid phương Nam. Những người này tập hợp trong những quốc gia lỏng lẻo do Hoàng Đế, rồi Nghiêu, Thuấn, Vũ… làm thủ lĩnh sau đó hình thành các quốc gia Thương, Chu… Những vương triều tự nhận mình là trung tâm rồi coi những người Mông Cổ nguồn cội phía Bắc là Địch, cội nguồn phía Nam là Man. Nhưng rồi do cuộc lấn đất mở rộng, đa số những người Man, Di cũng được hoà huyết trở nên đồng chủng với những người sống ở Cửu Châu. Cho đến khoảng 2000 năm TCN, người Hán cũng như đại bộ phận dân cư Á Đông đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Mông Cổ ở phía Bắc trở thành dị chủng.  Ngày nay những người này vẫn được gọi là người Hán nhưng có bộ mã di truyền khác với người Hán sống ở trung tâm. Từ nhận thức như vậy, ta nhìn lịch sử Á Đông một cách chuẩn mực hơn.
 
  Tóm lại, chúng tôi đã trình bày một phần về CỘI NGUỒN TỔ TIÊN. Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời : NHÀ TRIỆU CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT?
   Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế (Ðại Việt sử ký toàn thư.) Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng." Sử gia Lê Văn Hưu nói: "Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy." Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít."(20) Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.
   Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết trong Việt sử tiêu án: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng."(21) Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, chúng tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.
      Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc." "Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu." (22)
     Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm. 
     Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: "Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba."(23)
    Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía nam sông Dương Tử và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía nam, nước Âu Lạc của An Dương Vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!
     Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là hậu duệ của dòng họ Khai Minh, làm vua nhiều đời ở đất Ba Thục, trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây thành Cổ Loa bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Ðà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính.  Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43 khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung, miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng, trong khi Vân Nam không có động tĩnh gì... Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Ðại Sĩ thống kê được 200 địa điểm có đền thờ Hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.
    Ngày nay, theo công pháp quốc tế, Triệu Ðà tuy là người gốc Hán nhưng đã lấy vợ Việt, sống theo phong tục Việt, cai trị nước Việt thời gian dài ngót trăm năm: cai trị bằng tập tục, bằng luật pháp Việt Nam, bằng các quan lại người Việt trong một quốc gia độc lập không hề phụ thuộc phương Bắc. Ðiều này càng chứng tỏ ông là vị vua hợp pháp của một quốc gia độc lập. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như  những dòng Việt anh em khác!
     Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi  đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: "Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả" đã tỏ ra bất cập. So với quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu, lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê. Thêm nữa, nói đầy túi tham của Lục Giả rất có thể là suy luận võ đoán. Là sứ giả của Hán Vũ đế nhưng Lục sinh là trí thức lớn, một nhân cách lớn. Không chỉ lớn trong cách ứng xử với Triệu Ðà mà sách sử còn truyền câu nói nổi tiếng của ông: "Vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên."(Vua lấy dân làm trời, dân lấy ăn làm trời). Con người như vậy hoàn toàn không phải là Mã Viện với những xe "ý dĩ" tiếng để đời.  Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần tự tôn dân tộc, ông không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Ðà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình thị người Ðường Thâm bộ Giao Chỉ (nay là Ðồng Xâm, Thái Bình) nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ cũng mang dòng máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!
   Chúng tôi, thế hệ sinh cùng Cách mạng tháng Tám, những ngày sau hòa bình lập lại 1954, học sử Việt Nam, được dạy Triệu Ðà là ông vua khai sáng nước Việt. Nhưng ít năm sau, Triệu Ðà trở thành tên xâm lược, bị lên án trong sách sử. Ðường phố mang tên ông bị đổi tên, đền thờ ông ở Ðồng Xâm, ngôi đền lớn và đẹp vào loại nhất ở Bắc Bộ bị trưng dụng làm kho chứa thóc, hư hại cùng năm tháng. Gần đây lễ hội đền Ðồng Xâm được mở lại nhưng đó là lễ hội ông tổ nghề chạm bạc! Có một nỗi bất bình âm thầm trong lòng người chưa được giải tỏa.
   Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược!  Vậy ông là ai?!
   Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ... Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người khai sáng quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau, nỗi nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà-Trọng Thủy phải được tính lại.
 
 
Thục Phán là ai?
 
 Sách Toàn thư chỉ nói: "Vua họ Thục, húy là Phán, người Ba Thục." Do quá vắn tắt  nên gây thắc mắc trong hậu thế. Vì vậy khi dịch sách, người dịch Toàn thư có chú thích ở cuối trang 6 như sau: "Sách Cương mục tân biên nhận xét: "Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thuận Tĩnh vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc... cách nhau hàng hai ba ngàn dặm có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh Văn Lang?... Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác mà sử cũ (Toàn thư) nhận là Thục vương chăng? (CMTB tr.9) Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục Phán, trong đó có thuyết coi vua Thục là thủ lĩnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phía Bắc nước Văn Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng."
  Như vậy, nhân thân của Thục Phán vẫn mù mờ. Ðể phần nào soi tỏ vấn đề này, xin dẫn ra ở đây khảo cứu của học giả Nguyễn Ðăng Thục:
  Theo "Hoa dương Quốc chí" q.3 Thục chí: "Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Ðất Thục phía Ðông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía Bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Nga và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên phủ. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Ðiền (Vân nam), và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ xuyên với Bắc Việt chắc chắn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc, dân mà người Hán gọi là Man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên-Bắc Việt, và Tây nam di ở Ðiền, Kiềm (Vân nam, Quý châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Ðiền (Vân nam) nước Tần chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý châu. Theo Hoa dương Quốc chí q.1, Ba chí viết: "Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.T.c) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tần cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi. Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam, đi vào Bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nước Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần.
  Hoa dương Quốc chí q.3, mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Ðô úy Mặc cùng theo đường Thạch ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ dương bị quân Tần giết hại. Tướng phó cùng thái tử rút lui về Bàng hương chết ở dưới núi Bạch lộc, họ Khai minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời. Lã Sĩ Bằng trong "Bắc thuộc thời kỳ đích Việt nam" suy diễn sự kiện trên đây như sau:
"Xét việc vua Thục bị ở đất Vũ dương, ngày nay là Bái sơn, vị trí ở phía Nam Thành đô, trên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch lộc ngày nay ở đâu thì không thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía Nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía Bắc xuống miền Nam, tập đoàn  người Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoái lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị hại ở Vũ dương, quan tướng, phó, thái tử đều chết ở núi Bạch lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Quý châu và Vân nam thuộc phạm vi thế lực người Sở.
Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý châu (Kiềm) và Vân nam (Ðiền) thời Hán là Trường kha là đất thủy lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, vả lại thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương nam tiến vào đất bình Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo vương 518 (257 Tr. C.N) mới chinh phục được Văn lang"(24)
 Những chứng cứ vừa dẫn khiến ta hiểu đúng ý của sách Toàn thư: Thục Phán chính là người nước Thục. Việc coi ông là thủ lĩnh bộ lạc người Việt cát cứ ở vùng Cao Bằng là suy đoán không sở cứ. Nhưng điều này cũng không phải không có nguyên cớ: người Thục đã tiến xuống Văn Lang từ mạn Cao Bằng. Ta hãy ghé nhìn vào lịch sử của đất nước từng oanh liệt một thời này:
 Theo sử Trung Quốc thì nước Thục được thành lập vào năm 1122  tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở gò Ba Sao (Sanxingdui) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương 1000 năm. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá, ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình. Có nhiều khả năng họ là nhóm Tây Âu hay Âu Việt trong cộng đồng Indonesien Bách Việt, sau này chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á.
 Trong 59 năm sau trận Vũ Dương thì Thục Phán là đời thứ 3, là cháu đích tôn của ông vua được quần thần dựng lên trong những ngày gian nan trốn chạy quân Tần. Cha của Thục Phán là Thục Chế nhiều phen đem quân đánh vua Hùng nhưng thất bại. Ở tuổi 20, chàng trai trẻ Âu Việt đã hoàn thành sự nghiệp của ông cha mình. Ðó quả là người anh hùng làm rạng danh tổ tiên.
   Về pho tượng nàng Mỵ Châu cụt đầu
 
  Nghe nói trong khu di tích Cổ Loa có pho tượng người đàn bà cụt đầu mà người ta bảo là tượng nàng Mỵ Châu, chúng tôi không tin vì những lý do sau:
   1/ Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy ghi : Khi nghe thần nói giặc ở sau lưng, nhà vua quay lại thì hiểu ra tất cả, ngài rút gươm chém chết con gái. Máu nàng Mỵ Châu tan vào biển, những con sò... (Ðại Việt sử ký toàn thư). Như vậy là truyện chỉ ghi nhà vua chém chết con gái mà không có nhân chứng vật chứng nào xác quyết chém đứt đầu. Vì vậy người ta không thể xuyên tạc truyền thuyết để làm ra bức tượng!
   2/ Chúng tôi không tin là An Dương Vương lúc đó ở tuổi ngoài 70 lại làm một việc bất nhân là chặt đứt đầu con gái vì theo đạo lý, dù phải tội chết đến trăm lần đi nữa thì với trái tim người cha nhân từ, cũng phải cho con được chết toàn thây!
  3/ Giả như việc chém đầu là có thật thì chúng tôi cũng không tin là ông cha ta vốn xưng con dân một nước văn hiến, nhân bản lại chọn một hình ảnh bi thảm, ghê rợn nhất trong câu chuyện dựng thành tượng!
     Nhưng mới đây xem báo Văn nghệ số 35-36 ra tháng 9 năm 2004 thấy bức ảnh Nhà thơ Rumani Ana đến thăm đền thờ Mỵ Châu tại di tích Cổ Loa trong đó có tượng nàng Mỵ Châu bị cụt đầu tôi bỗng rùng mình kinh hãi! Sau cơn choáng váng, tĩnh trí lại chúng tôi tự hỏi: Tượng Mỵ Châu cụt đầu thể hiện những ý nghĩa gì? Bức tượng cho thấy:
   1/ An Dương Vương là ông vua bất nhân bất trí. Họa mất nước chính ông gây nên nhưng lại đổ lỗi cho con gái. Cha giết con đã là vô đạo. Nhưng giết bằng cách chặt đầu thì quả là quá bất nhân!
   2/ Người phương Tây có câu nói Không được đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa! Trong khi ở ta cha chặt đầu con gái, một việc đại ác lại được tạc thành tượng thờ! Hành động tàn bạo trên đời không kể xiết nhưng chắc chắn không thể tìm thấy trên thế giới này có bức tượng thứ hai kinh dị thế! Thật buồn khi chúng ta khoe điều không tốt đẹp ấy với khách, một nữ sĩ nước ngoài! Thử hỏi khách sẽ nghĩ gì về dân tộc ta?
  3/ Tượng không chỉ để thờ mà tượng còn là tác phẩm nghệ thuật. Ðặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là đẹp và thiện. Bức tượng này không thể hiện cái đẹp, cái thiện nhưng là vật thờ linh thiêng.
   Bức tượng chứng tỏ sự kém cỏi về óc thẩm mỹ cùng đức thiện của cha ông ta-những người tạc tượng và chúng ta-những người ngày nay tôn thờ chiêm ngưỡng tượng!
   Ðấy là suy nghĩ ban đầu của chúng tôi. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn thì thấy sự việc có khác: Cái được gọi là tượng Mỵ Châu thực ra chỉ là khối đá lớn, hình thù kỳ dị như người cụt đầu. Truyện kể rằng: "Mỵ Châu chết hóa thành hòn đá trôi ngược sông về thành Cổ Loa, báo mộng cho dân ra rước về. Rước đến gốc đa thì đá rơi xuống, dân lập am thờ ở đó." Thật may là đã không có ai tạc pho tượng này. Người ta biến một hòn đá ngẫu nhiên thành vật thờ. Lại một môtip kiểu thần Man Nương chùa Pháp Vân! Một sự việc hoàn toàn mang tính tự phát. Việc làm này trái ngược với truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy. Truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy đem Mỵ Châu về chôn ở Cổ Loa. Và  thực tế xác nhận: hiện ở Cổ Loa có mộ Mỵ Châu. Một người chết đã có mồ yên mả đẹp thì việc biến thành hòn đá trôi ngược sông về Cổ Loa là vô lý, bịa đặt không thuyết phục. Như vậy tượng cụt đầu được tạo ra không do một cơ sở vững chắc nào mà xuất phát từ lòng tin dị đoan vận vào một vật xuất hiện ngẫu nhiên. Có thể những người biến hòn đá thành tượng Mỵ Châu hiểu ý nghĩa của truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy như một lời răn cảnh giác trước họa mất nước... Suy nghĩ đó tuy đúng nhưng chỉ là một mặt của truyền thuyết. Truyền thuyết có ý nghĩa rộng lớn hơn, sâu sắc, minh triết hơn. Ngay cả cái ý Trái tim lầm chỗ để trên đầu nói về Mỵ Châu theo chúng tôi cũng chưa phải thấu nhân tình! Trái tim yêu muôn đời chỉ đập trong ngực. Với cái chết oan nghiệt của mình, đôi trẻ đã trả xong món nợ! Thông điệp của truyền thuyết nói rõ: Các con sò ăn phải máu Mỵ Châu hóa ngọc. Ngọc được rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì sáng ra! Minh triết dân tộc đã tha thứ cho đôi trẻ, đã trả lại chất ngọc sáng trong tinh khiết của tình yêu! Ðấy mới chính là bản sắc văn hóa Âu Lạc! Do trình độ còn hạn chế, những người dựng tượng cụt đầu không hiểu được ý nghĩa nhân bản sâu xa, minh triết của truyền thuyết nên đã dựng một pho tượng không phản ánh đúng bản chất của truyền thuyết cũng có nghĩa là không phản ánh đúng bản chất dân tộc! Mỵ Châu có thể có tội trong việc làm mất ngôi vua của cha mình nhưng là người có công lớn với dân với nước Việt! Dựng một bức tượng như thế khác nào giết oan nàng thêm lần nữa! Khách đến thăm không ít người thấy bất ổn trước pho tượng nhưng vì sợ cái bóng tâm linh nên đành nhắm mắt cho qua! Phải chăng người Việt chúng ta sính tượng nên cái gì cũng muốn cụ thể hóa, vật chất hóa, tượng hóa? Nhưng rồi do bất tài lại ít tiền nên không ít bức tượng trở thành trò cuời, thành nỗi đau! Những bức tượng thô thiển làm nghèo đi, làm tầm thường đi trí tưởng tượng phong phú của con người! Tượng đàn bà cụt đầu là một trong số đó. Bức tượng tồn tại hơn trăm năm nhưng lẽ nào khi kiểm kê hiện vật trong khu di tích người ta không nhận ra? Ðiều này không lạ, vì như một bài viết trên báo Văn nghệ cách đây mấy năm, phát hiện ngay tại Ðền Ngọc Sơn giữa Thủ đô văn vật có nhiều câu đối bị viết sai hoặc đặt trái vế nhưng không được sửa!     
     Ðể thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi xin đề nghị: Ðưa pho tượng người đàn bà cụt đầu ra khỏi đền thờ Mỵ Châu! Bức tượng xa lạ với bản chất dân tộc, phản giáo dục về thẩm mỹ và đạo đức, làm méo mó hình ảnh dân tộc trước bạn bè. Việc này không dễ vì đụng đến thói quen hàng trăm năm. Khi chưa làm được, xin rằng đừng ai đem khoe bức tượng, nhất là với bạn bè quốc tế!
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:34:29Tư Tứ>
PHẦN HAI
CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM

 
 Tìm nguồn gốc tổ tiên là việc vô cùng khó khăn vì thế 2000 năm nay chúng ta không làm nổi. Nhưng suy cho cùng, đó cũng chỉ là công việc của khoa học tự nhiên. Khi khoa học tiến bộ, sáng tạo những phương pháp và công cụ thích hợp, chúng ta cũng hoàn thành công việc mà hàng nghìn năm đành bất lực.
  Nhưng tìm cội nguồn văn hóa của dân tộc lại là chuyện khác. Ðó không phải là sản phẩm của tự nhiên nên không thể có "công nghệ gene" thần kỳ nào giúp ta cả. Thêm vào đó, yêu cái đẹp, cái tiện ích là thuộc tính chung của con người. Trong quá trình sống gần hay xa nhau, con người luôn mượn của nhau những cái hay, cái đẹp, cái tiện ích mà mình chưa có. Vì vậy văn hóa các dân tộc hòa vào nhau như nước sông hòa vào nước biển... Tuy nhiên, chỉ duy nhất văn hóa còn lại như một dấu ấn cuối cùng xác nhận sự có mặt của một dân tộc giữa cộng đồng nhân loại. Vì vậy, dù khó đến mấy cũng phải tìm ra cội nguồn văn hóa của dân tộc. Với dân tộc Việt, do số phận nghiệt ngã của mình, hơn một nghìn năm bị ngoại thuộc, không chỉ văn hóa vật chất bị phá, bị cướp mang đi mà văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể cũng bị hủy hoại hoặc bị đánh tráo... Giờ chính là lúc, từ trong gia tài bề bộn ấy cần tìm ra cái nào thực sự của mình, cái nào bị đánh cắp, cái nào người ta gán cho mình. Ðiều đó đánh dấu sự trưởng thành về văn hóa. Chỉ khi nào biết mình là ai, chúng ta mới biết mình cần đi tới đâu!
   Ðó là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi tấm lòng, trí tuệ và công sức của nhiều thế hệ.
Rất may là, lúc này đây, việc tìm ra cội nguồn của tổ tiên giúp chúng ta những chỉ dẫn cần thiết để tìm ra cội nguồn văn hóa dân tộc.
*
*      *
   Cho đến nay do bài học từ những học giả Pháp và Trung Hoa, người Việt vẫn đinh ninh rằng, cha ông ta là một đám Tàu lai, bị chính người Tàu xua đuổi từ phía Nam Trung Quốc chạy xuống xâm chiếm đất này, chèn ép thậm chí tiêu diệt người bản địa, lập nên nhà nước Văn Lang... Mặc nhiên, trong tâm tưởng người Việt, nhất là trí thức, mang mặc cảm nặng nề: chúng ta là đám thực dân chiếm đoạt của người bản địa từ lãnh thổ đến lịch sử. Khi giới khảo cổ tìm thấy dưới lòng đất những nền văn hóa xưa rực rỡ, chúng ta cũng vui mừng cũng tự hào nhưng thế giới cũng như chúng ta biết rằng đó là niềm tự hào vay mượn...
    Nay ta biết rằng, tổ tiên ta chính là những người đặt chân trước hết lên Ðông Nam Á, sau đó cùng các tộc Việt anh em khác tiến lên mở mang miền đất mênh mông của nước Trung Hoa, có những người sang chinh phục châu Mỹ. Sau đó, do sự biến chuyển của lịch sử, tổ tiên ta lại trở về mái nhà xưa cùng những người anh em bà con đồng tộc của mình xây dựng nhà nước đầu tiên trên đất nước này. Sự hiểu biết đó cho phép chúng ta tự tin và tự hào chính đáng về tổ tiên về đất nước của mình.
  
 
 
[/align]
CHƯƠNG IV
 
VĂN HÓA TIỀN SỬ CỦA NGƯỜI VIỆT
 
    Từ những cuộc khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng khoảng 300.000 năm về trước, người cổ đã có mặt trên đất nước ta. Khí hậu nóng và ẩm nhiệt đới không giữ được hài cốt họ nhưng những di vật để lại trong hang Núi Ðọ cho biết trình độ Người vuợn Việt Nam ở vào sơ kỳ đồ Ðá cũ. Sau đó là thời kỳ dài tăm tối. Phải chăng nơi đây, trong lịch sử đầy gian nan của mình, giống Người đứng thẳng Homo Erectus được sinh ra nhưng không thích ứng nổi với điều kiện sống đã biến mất như nhiều nhánh cụt khác của Người vượn?
      Rồi trên đất cổ Phú Thọ chúng ta phát hiện văn hóa Sơn Vi với công cụ sơ kỳ Ðá mới là những hòn cuội được ghè đẽo. Di chỉ Thẩm Khuyên có tuổi 32.000 năm thuộc nền văn hóa này. Khảo cổ học Việt Nam nhận định đó là văn hóa đá cuội sớm nhất ở Việt Nam.
 Tiếp đó là văn hóa Hòa Bình xuất hiện khoảng 18.000 năm trước.
 Trong những nền văn hóa từng có mặt trên đất Việt Nam, văn hóa Hòa Bình có vị trí đặc biệt, được khoa học khảo cổ thế giới xác nhận là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá cổ nhất thế giới. Trước đây thế giới cho rằng trung tâm nông nghiệp cổ nhất là ở Lưỡng Hà có tuổi C14 là 7000 năm. Nhưng khi phát hiện ra 10.000 năm tuổi của động thực vật được thuần dưỡng tại Hòa Bình thì thế giới chấn động và tâm phục khẩu phục thừa nhận vai trò mở đầu của văn hóa Hòa Bình. Tháng Giêng năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học Quốc tế về tiền sử Viễn Ðông họp tại Hà Nội xác nhận: "Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm."(Encyclopédia d’Archeologie)
     Một phẩm chất nổi trội của văn hóa Hòa Bình là kỹ thuật chế tác đá cuội. Ðá cuội là loại đá cực rắn, nên việc ghè mài chúng rất khó khăn nhưng lại cần thiết cho việc chế tạo những dụng cụ khác như cầy, cuốc, thuổng... bằng đá, những thứ "máy cái" như thường nói sau này. Người Hòa Bình là cư dân dẫn đầu thế giới phát minh ra kỹ thuật này và sản phẩm của Hòa Bình được xuất khẩu đi nhiều nơi. Hòa Bình còn là nơi sớm nhất trên thế giới biết thuần dưỡng cây trồng và vật nuôi. Từ đây, lần đầu tiên trên thế giới cây lúa nước và khoai sọ ra đời.
  Học giả Hoa Kỳ W.G. Solheim II,  Jorhman, Trương Quang Trực (Trung Quốc)  và học giả Nga N. Vavilow thừa nhận: "Ðông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới."(25)
 
       Học giả Hoa Kỳ C. Sauer viết trong cuốn Ðồng quê: "Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ."(26)
   Dường như thấy chưa đủ, ông viết tiếp trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán: Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật."(27)
Và đây là ý kiến của ông W.G. Solheim II viết năm 1967:
   "Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN..."
  "Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn."
  "Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh..."
  "Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN."(28)
  Bốn năm sau, tháng 3/1971 vị giáo sư Ðại học Hawaii này từ những khảo sát ở Thái Lan lại cho in một công trình quan trọng dưới nhan đề Ánh sáng mới dọi vào quá khứ bị lãng quên:
 
"Trong mục đích tìm về thời tiền sử ở Ðông Nam Á, chúng tôi cho rằng văn minh Ðông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên hệ. Từ ngữ tiền sử Ðông Nam Á mà tôi sử dụng chứa đựng hai phần. Phần thứ nhất hay là phần đất chính Ðông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần Lĩnh phía bắc sông Hoàng Hà của Trung Hoa cho tới Singapore và từ miền Ðông Hải tiến về phía tây tới Miến Ðiện, vào tận Assam của Ấn Ðộ. Phần khác được gọi là quần đảo Ðông Nam Á đánh một vòng cung từ quần đảo Andaman ở nam Miến Ðiện tới Ðài Loan bao gồm Indonesia và Philippine."
 
"Những chứng cứ từ những địa điểm khảo cổ trong vùng Ðông bắc và Tây bắc Thái Lan, với những phụ họa từ những khai quật ở Ðài Loan, Bắc và Nam Việt Nam, Mã Lai, Philippine và ngay cả từ bắc Australia cho thấy những di tích của những dân tộc đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc sống ở vùng Cận Ðông, Ấn Ðộ và Trung Quốc."
 
"Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 đến hơn 3000 năm TCN. Ðó là những chứng cứ cụ thể cho thấy việc đúc đồng ở đây đã có trước cả Trung Hoa hay Ấn Ðộ cũng như vùng Cận Ðông mà tới bây giờ các chuyên gia vẫn còn tin là nơi luyện đồng đầu tiên trên thế giới."
 
"Có người hỏi rằng, nếu sự việc này quá quan trọng đến như vậy tại sao vai trò vùng Ðông Nam Á chưa từng được biết đến? Lý do rất đơn giản là rất ít cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trước năm 1950. Các viên chức thuộc địa ít chú ý tới chuyện này. Thêm nữa, những kết quả khảo cổ tìm được đã bị diễn dịch theo giả thuyết văn hóa được phát triển theo chiều hướng đông tiến hoặc nam tiến. Những học giả này cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu từ vùng Cận Ðông lan ra Nhĩ Hà, Ai Cập, tiếp theo là Hy Lạp và La Mã. Nền văn minh cũng đông tiến tới Ấn Ðộ và Trung Hoa. Ðông Nam Á vì quá xa nên chỉ tiếp nhận văn minh sau các vùng trên. Khi phát hiện rằng văn hóa của các nước Ðông Nam Á giống với Trung Hoa và Ấn Ðộ, người châu Âu cho rằng văn hóa hai nước này đã ảnh hưởng đến vùng Ðông Nam Á."
 
Wilhem Solheim II viết tiếp:
 
  "Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Úc 20.000 năm TCN có nguồn gốc thuộc Hòa Bình."
  "Tôi đồng ý với Sauer là những người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Ðông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15.000 năm trước Công nguyên."
 "Thuyết cho rằng tiền sử Ðông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy rằng văn hóa Sơ kỳ Ðá mới (Proto-Neolithic) phía Bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yangshao (Ngưỡng Thiều) đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền Bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay V  TCN."
"Tôi cho rằng, văn hóa sau này được gọi là Lungshan (Long Sơn) mà người ta xưa nay vẫn cho là nó xuất phát ở Yangshao phía Bắc Trung Hoa rồi mới bành trướng sang phía Ðông và Ðông Nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình."
 "Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Ðông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V TCN. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài biển bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, tình cờ đã đi đến Ðài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác."
"Dân tộc Ðông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm TCN. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần dưỡng cho nền kinh tế miền Ðông châu Phi."
 "Vào khoảng thời gian ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Ðịa Trung Hải có lẽ qua đường biển. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc Ðịa Trung Hải cũng đã tìm thấy ở địa điểm Ðông Sơn."(29)
 
Ðể giúp bạn đọc một chút thư giãn, chúng tôi xin chép lại đây đoạn văn mô tả việc làm thuyền độc mộc của người xưa:
 "Thoạt tiên người thợ làm thuyền chọn cây sao có kích thước lý tưởng, đường kính từ 80-100cm. Phải là cây đứng trên đất bằng vì tán lá cân đối, cấu trúc gỗ đẹp. Hạ cây đổ, người thợ cả quyết định chặt ngọn, lột vỏ. Từ hai đầu phẳng, chừa ra 50 cm mỗi đầu, đẽo hai mũi thuyền xẻ theo hình lá mây hay đuôi cá. Tiếp đó chặt và tách bỏ 4/10 đường kính thân cây, giữ lại phần sẽ làm khoang thuyền bằng cách chặt vát và tách bằng nêm. Người xưa có lẽ đã dùng loại đục nêm giống những chiếc đục đá ở Bảo tàng Côn Ðảo, giống cách tách gỗ của người da đỏ châu Mỹ.
    Lăn nghiêng cây qua, úp lại, kê rồi đẽo phần mạn, phần đáy cho cân đối. Sau đó trở lại kê bằng để đẽo lòng thuyền.
    Người thợ cả dùng một cây đinh mồi là cật tre già nướng qua lửa cho thật cứng, dài bằng bề ngang hai ngón tay trỏ và giữa, đóng cách đều khoảng nửa gang tay (10 cm) theo những đường ngang. Mỗi hàng đinh như vậy lại cách nhau khoảng 60-80 cm. Lưu ý là mọi mũi đinh đều hướng vào tâm thân cây. Ðóng rồi thì rút đinh ra. Sau đó đóng những chốt như đinh bằng chính gỗ sao vừa moi ra, thui qua lửa, có đường kính và chiều dài bằng nhau. Những đinh này để làm cỡ khi đẽo bên trong thuyền cho được mỏng đều. Thực chất đó là cách đo ngầm bên trong lòng thuyền.
    Việc lấy gỗ từ lòng thân cây thường không dùng rìu mà dùng một công cụ giống như xẻng đào lỗ, máng hơi cong, mặt phẳng, cán tròn dài khoảng 1,2 m để đục chọt ngang và đào tung gỗ bằng loại cuốc đặc biệt giống chiếc cuốc đá Khánh Hòa, cho phép gọt từng lát mỏng đều.
   Bí quyết thứ hai của người Mạ và J’ro là nong rộng lòng thuyền. Ðây là kinh nghiệm truyền thống tích lũy từ lâu đời. Những cây đường kính 1 met, người ta có thể căng rộng ra đến 1,5 m.
  Công việc này đồng bào Mạ gọi là đố thuyền. Lúc này gỗ còn tươi, chứa nhiều nước nên cũng có thể hiểu như việc hấp hay luộc gỗ cho mềm để dễ kéo căng ra. Họ nâng thuyền lên dàn cao khoảng 1 met, đốt lửa bên dưới, cử hai người trông coi lửa và quan sát thuyền. Người thợ cả chịu trách nhiệm về sự cân xứng của con thuyền. Thuyền được úp xuống, từ đầu tới đuôi được chia làm 4 đoạn, đặt 3 miếng sáp ong rú lớn cỡ 4 ngón tay ở 3 vị trí trên bụng thuyền. Người giữ lửa chú ý quan sát độ nóng chảy của sáp để điều chỉnh nhiệt độ cho nóng đều và tránh ngọn lửa bắt lên cháy thuyền.
   Những người khác dùng cây chuẩn bị sẵn để găng, để uốn mạn thuyền. Họ cột hai cây vào phía trong và phía ngoài mạn rồi dùng lực kéo cho mạn thuyền dãn dần ra. Người thợ cả ngắm để chỉnh mức kéo cho đều. Khi đạt yêu cầu thì dùng cây găng lại.
Khi thuyền hoàn thành, người ta giữ từ 4 đến 6 cây găng vừa làm xương cho thuyền vững vừa dùng để ngồi. Bằng cách này, người ta làm được những con thuyền độc mộc dài 7-8 m rộng 1,3-1,5 m. Cũng có những chiếc rộng đến 2,5 m. Thuyền độc mộc có thể chở được 2 trâu cày, người chăn trâu và cày bừa, khối lượng tới 3 tấn qua sông. (30)"
 
    Trước đây giới khảo cổ vẫn quan niệm là văn hóa Hòa Bình không có đồ gốm, trong khi đồ gốm nổi tiếng Lapita tìm thấy ở nhiều đảo ngoài khơi Ðông Nam Á, có 3500 tuổi. Nhưng  mới đây đã chứng minh được, gốm cổ nhất tìm được ở Việt Nam là gốm Hang Ðắng, tiếp đó là gốm tìm được ở bờ biển Hạ Long, Cái Bèo, Ða Bút, Quỳnh Văn, đến Bàu Tró, Sa Huỳnh... Gốm Lapita có nguồn gốc từ gốm trong hang động ở Thường Xuân, Thanh Hóa, Quỳ Châu (Nghệ An)... là con đẻ của gốm Ða Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró.(31)
  Tiếp theo văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn mà chủ nhân thuộc về nhóm Indonesien và Melanesoid có tuổi từ 8000 đến 6000 năm TCN.
    Sau đó là thời đại Đồ đồng bắt đầu từ Phùng Nguyên 4000 năm TCN, trải qua Ðồng Ðậu, Gò Mun... làm nên văn hóa Ðông Sơn vào khoảng 800 đến năm 111 TCN. Ðây là thời kỳ phát triển rực rỡ của đồ đồng mà tiêu biểu là linh khí của người Việt: trống đồng. Trống đồng tìm thấy trên địa bàn rộng lớn gồm lục địa Ðông Nam Á, từ Tứ Xuyên cho đến Malacca. Niên đại đồ đồng sớm nhất tìm được ở Phùng Nguyên là năm 1850 TCN. Còn đồ đồng tìm được ở Hải Môn Khẩu ở miền Nam Trung Hoa có tuổi 1130 TCN. Ðiều này có thể giải thích là nghề đúc đồng đã từ Ðông Sơn đi lên.
   Một đặc điểm là đồ đồng Ðông Sơn rất giống với những đồ bằng đá bằng gốm của Phùng Nguyên cả về hình dáng lẫn hoa văn: rìu đá hình chữ nhật của Phùng Nguyên trông tương tự những lưỡi rìu bằng đồng thau của văn hóa Ðông Sơn. Những mũi tên đồng Cổ Loa không khác tên bằng đá thời Phùng Nguyên. Kết cấu và hoa văn của thạp đồng Ðào Thịnh hay Hợp Minh tìm được tại vùng đất Phong Châu tuy tinh tế hơn nhưng cũng cùng kiểu dáng và hoa văn trên các thạp gốm thời kỳ Phùng Nguyên.
     Khi phân tích thành phần hợp kim trên đồ đồng Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ  học Việt Nam cho thấy: mẫu vật cổ nhất tìm được ở Gò Bông có niên đại 1850 TCN là đồng thau, tức đồng có pha thiếc. Tại Việt Nam cũng như di chỉ Hải Môn khẩu bên sông Dương Tử đều không tìm thấy những vật dụng bằng đồng nguyên chất, tức đồng đỏ. Ðến văn hóa Ðồng Ðậu ở di chỉ Vườn Chuối, kỹ thuật đồng, ngoài thiếc có thêm antimoine. Từ Ðông Sơn về sau, chì được pha thêm làm cho đồ đồng trở nên dai bền hơn. Văn hóa đồng thau đến giai đoạn Ðông Sơn muộn phát triển tới đỉnh cao, làm ra những vật dụng có độ thẩm mỹ tinh tế. Ngày nay, dù nhiều cố gắng nhưng những thợ lành nghề nhất cũng không làm nổi những chiếc trống tinh xảo như thế.
  Giáo sư Lân Thuần Thanh người Trung Quốc xác nhận: "Bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa Trung là địa khu từ xa xưa của dân Bách Việt. Trống đồng nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên, còn ở bán đảo Ðông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở miền Bắc và miền Trung là có tiếng hơn cả. F. Heger gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất." (Nguyễn Ðăng Thục bđd). Theo học giả này thì khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt. Ðiều đó chỉ đúng một nửa: Trống đồng ở Trung Nguyên do người Việt đúc. Nhưng khởi đúc thì phải từ Ðông Sơn. Trống Ðông Sơn có trước trống Hưng Văn mà phẩm chất vượt trội.
  Không phải ngẫu nhiên mà thời Ðông Sơn trùng với thời lập nước Văn Lang. Nhiều tài liệu nói rằng, vào cuối thiên niên kỷ thứ II tức khoảng sau 1500 năm TCN do sự dồn ép của người Hán, nhiều tộc người trong cư dân Bách Việt sống ở lưu vực sông Dương Tử rời bỏ vùng cư trú, trở lại Ðông Nam Á. Người Mianma tìm về đất Mianma, người Thái trở về đất Thái và người Việt về với đất Việt... Từ những kinh nghiệm thu lượm được ở phía Bắc, những người trở về nói với đồng bào mình rằng: Thời thế đã thay đổi. Bên cạnh chúng ta đang hình thành những nhà nước hùng mạnh và thiện chiến. Không chỉ xua đuổi chúng tôi mà được thể, họ sẽ tràn xuống chiếm đất của chúng ta. Ðể sống còn, chúng ta không thể duy trì tình trạng bộ lạc mà phải liên kết các bộ lạc lại xây dựng thành nhà nước thống nhất, phải có quân đội, phải rèn vũ khí... Có lẽ các nước Miến, Thái, Việt, Lào, Miên cổ đã được hình thành như thế. Có thể ông W.G Solheim II đúng phần nào khi nói: "Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN." Nhưng sự thực là, trong khi Trung Quốc chiếm thế thượng phong tạo dựng nền văn hóa mới thì không phải văn hóa Ðông Nam Á lụi tàn. Khi xây dựng được quốc gia trên đất hương hỏa của mình, kết hợp kinh nghiệm tại chỗ cùng với sự khôn ngoan của những người trở về, các tộc người Ðông Nam Á đã đẩy văn minh Ðông Nam Á lên giai đoạn rực rỡ mới, đó là văn hóa đồng thau thời Ðông Sơn. Trống đồng Ðông Sơn lan tỏa ra các hòn đảo ngoài khơi, sang đất Thái Lan. Người Thái Lan cũng làm nên văn hóa đồng đặc sắc của mình. Tại nước Thục phương Bắc cũng có văn hóa đồng thau tinh xảo và sớm hơn cả đồng nhà Thương của người Hán.
  Trong 3 cái mốc tạo nên văn minh nhân loại: phát minh ra lúa nước, kỹ thuật hàng hải và xây dựng đô thị thì tổ tiên người Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta đã là người đầu tiên sáng tạo ra lúa nước. Tổ tiên ta cũng rất sớm chế ra thuyền vượt biển đi lại trong vùng và giao thương với thế giới.
   Vào cuối thời Ðông Sơn, trong sự phát triển chung của khu vực, người Âu Lạc xây dựng thành quách đầu tiên tại bộ Vũ Ninh, sau gọi là thành Cổ Loa. Thành này do tướng quân Cao Lỗ theo sự chỉ đạo của An Dương Vương xây dựng. Ta biết rằng năm 257 TCN, Thục Phán được nước của vua Hùng Duệ vương. Chỉ năm sau ông chủ trương dời đô về Vũ Ninh. Phải nói đây là tư tưởng cách tân rất táo bạo của Thục Phán. Ðiều này chứng tỏ ông có tầm nhìn chiến lược rất xa. Tầm nhìn này phải chăng có được một phần nhờ ông là dòng dõi của nước Thục, một quốc gia mạnh, có nền văn hóa cao lại có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chống chọi với nhà Tần? Vì vậy ngay khi lên nắm quyền, chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi nhận ra kinh đô Văn Lang của các vua Hùng là sản phẩm của cuộc sống bộ lạc nông nghiệp ổn định, thanh bình, giống như một cái làng, một chạ cả vừa không đủ khả năng lãnh đạo đất nước lúc này đã rộng lớn vừa không thể chống chọi trước sức tấn công của kẻ thù. Chàng nhận ra rằng dời đô là công việc đầu tiên phải làm. Vũ Ninh lúc đó là trung tâm của Âu Lạc mà vùng đông dân hơn, đô hội hơn là Kẻ Dâu nhưng không thể chọn nơi đó đóng đô vì đất hẹp, sông nhỏ không thích hợp cho một kinh đô lớn. Việc chọn Kẻ Lũ (Cổ Loa) là hoàn toàn chính xác.
   Trong việc đắp thành, điều khiến ta quan tâm là chọn kiểu thức xây thành. Ở phương Bắc, người thời Chiến Quốc đã xây rất nhiều thành. Các thành của họ đều hình vuông hay hình chữ nhật. Dùng lao động đông đảo và nhiều vật liệu, họ bạt đồi lấp hồ ao để đắp những tòa thành vuông. Trong khi đó, Thục vương dựa trên thực tế mặt bằng của vị trí xây thành đã cho nối những quả đồi thấp ở gần nhau lại, không theo hình dạng nhất định, tạo ra hai vòng thành hình trái lê gần khép nhau ở phía nam. Vòng thành ngoài có chu vi 8000 m, chiều cao trung bình 3-4 m, chân thành rộng 10-12 m. Vòng thành trong chu vi 6500m, cao từ 6-12 m, mặt thành rộng 10 m, chân thành rộng 20m. Cả hai vòng thành chung một cửa Nam. Cách làm này tận dụng tối ưu địa hình nên đạt hiệu quả cao về thời gian, nhân lực cùng vật liệu. Mỗi vòng thành đều có hào sâu ở ngoài, tiếp đó là bãi cắm chông và trồng tre gai, bên trong là lũy cao. Do lũy rất cao nên người Hán gọi là thành Côn Lôn. Tận dụng lợi thế của thiên nhiên là Ðầm Cả và những nhánh của sông Hoàng, trong và ngoài thành còn có đường thủy giúp giao thông thuận tiện và thủy binh tiến lui linh hoạt. Do phải đắp thành qua những đầm hồ nên xử lý móng là vấn đề kỹ thuật quan trọng bậc nhất. Lúc đầu vì chưa đủ kinh nghiệm nên nhiều đoạn thành bị đổ, sau đó học được kỹ thuật cắm kè, dùng gạch ngói vỡ và đá làm móng nên việc xây thành được thuận lợi.
   Thực tế cho thấy công hiệu của thành Cổ Loa: Ðồ Thư rồi Nhâm Ngao nhiều lần tấn công phá thành nhưng đều thất bại. Như vậy là trong việc xây thành lũy đầu tiên của mình, người Việt đã tỏ ra sáng tạo độc đáo. Do vị trí như vậy mà một nghìn năm sau, khi chiến thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền chọn Cổ Loa làm nơi đóng đô đầu tiên của nhà nước tự chủ.
  Nhân đây xin bàn đôi lời về tòa thành này.
     Hồi nhỏ chúng tôi được học: "Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa." Rồi quá nhiều lần đọc đâu đó: "Loa Thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!" Nghe vậy thì biết vậy nào dám cãi, tuy cũng hơi ớn cái giọng vỗ ngực tự phụ kiểu phường tuồng!
   Nhưng rồi một lúc nào đó chúng tôi giật mình tự hỏi: Người ta đánh nhau thế nào trong cái thành hình xoắn ốc như vậy? Và nhận ra, chẳng cần hiểu biết lắm về quân sự, cũng thấy được là, chỉ cần tạo một cửa mở, quân địch sẽ như nước lũ ào theo đường xoắn ốc vào chém tướng bắt vua, vì không còn vật gì ngăn giặc! Tường thành lúc này lại trở nên vật cản không cho quân từ ngoài vào cứu! Như vậy, thành hình ốc chẳng phải sáng kiến hay ho gì về khoa học quân sự mà kỳ thực là một cái bẫy tai họa!
   Nghi ngờ ưu thế quân sự của Loa Thành dẫn chúng tôi tới nghi ngờ sự tồn tại của một tòa thành hình xoắn ốc. Ðiều này buộc chúng tôi tìm hiểu về cấu trúc của Loa Thành.
     Ðược biết, vào những năm 60 thế kỷ trước, Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát di tích thành Cổ Loa và công bố những số liệu sau:
  Trên hiện trạng di tích, thành có 3 vòng:
   - Vòng ngoài hình dạng không cố định, chu vi 8000 m
   - Vòng giữa hình dạng không cố định, khuôn theo vòng ngoài, chu vi 6500 m
   - Vòng trong hình chữ nhật, chu vi 1650m.
Mỗi vòng thành đều có 3 lớp: hào sâu ở ngoài, lớp rào gai hay chông ở giữa và bên trong là thành đất. Vòng thành ngoài và vòng thành giữa không có hình dạng nhất định, phình to mạn bắc, thu hẹp dần về phía nam rồi nối liền nhau, chừa một khoảng trống làm cửa Nam. Vòng thành trong hình chữ nhật, trên mặt thành có 12 ụ lửa (hỏa hồi).
Căn cứ đặc điểm các vòng thành, các nhà khảo cổ kết  luận:
  - Vòng thành ngoài và giữa do An Dương Vương đắp.
  - Vòng thành trong (Thành Nội) được gọi là Kiển Thành do Mã Viện xây sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
    Như vậy là trong vòng 300 năm từ khi xây dựng cho đến khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, thành Cổ Loa do An Dương Vương đắp chỉ có hai vòng, mỗi vòng gồm ba lớp. Hai vòng thành này cách biệt. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc.
   Sau năm 43, Mã Viện cho đắp thành nội hình chữ nhật ở vị trí trung tâm vòng thành giữa, gọi là Kiển thành (thành hình tổ kén). Thành nội cũng có 3 lớp và cũng cách biệt với hai vòng thành bên ngoài. Như vậy, thành Cổ Loa thời Mã Viện có 3 vòng thành cách biệt, thuộc loại hình thành lũy cổ điển, về nguyên lý kiến trúc không có gì khác so với những thành lũy có trước nó.
  Từ phân tích trên cho thấy thành Cổ Loa thời An Dương Vương là một thành lũy bình thường không hề có hình xoắn ốc! Vì vậy không thể nói thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa! Và lẽ đương nhiên, nếu nhìn ra vẻ có hình xoắn ốc thì chính là do Mã Viện xây Thành Nội mà có chứ không phải sáng tạo của An Dương Vương!
   Vậy tên Thành Cổ Loa từ đâu ra?
   Cuốn sách đầu tiên nói đến thành của An Dương Vương là Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn thế kỷ thứ 5. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác, đoạn sau do sách Cựu Ðường thư dẫn lại : "An Dương Vương cai trị Giao Chỉ. Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm."
   Tùy thư ghi: "Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành."
   An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: "Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ."
   Tới thế kỷ XV, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: "Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa thành."  "Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc."
   Phân tích những lời dẫn trên ta thấy:
  1- Nam Việt chí viết không chính xác, đã gộp cả Kiển Thành của Mã Viện vào thành cũ của An Dương Vương. Từ đấy các sách khác viết sai theo.
  2- An Nam chí nguyên nói: có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc.  Nếu dựa vào hình dạng bên ngoài của thành thì sự ví von của An Nam chí nguyên có thể chấp nhận. Nhưng cách ví von này không có nghĩa An Nam chí nguyên bảo rằng thành có hình xoắn ốc. Cách giải thích "thành có hình xoắn ốc nên gọi là Loa Thành" là sự hiểu lầm ý của sách An Nam chí nguyên.
   Thử giải thích tên Loa Thành:
  Chúng tôi đoán rằng cái chạ mà An Dương Vương chọn định đô vốn có tên Việt là Kẻ Lũ (có nghĩa là Người Ốc), vì đấy là vùng nhiều ao đầm có lắm ốc. Trong thời Âu Lạc được thay bằng Thành Chủ nhưng Kẻ Lũ vẫn sống trong ký ức người dân. Khi Mã Viện tới, lấy lại tên gọi thời Tần là Thành Côn Lôn. Mỗi khi một thế lực cai trị đến đóng, thành lại được đặt tên cho phù hợp. Ðến thế kỷ XIV, vào thời Lý Phật Tử, thành được lấy theo tên nôm Kẻ Lũ nhưng chuyển sang tên chữ là Khả Lũ. Thời Lý Phật Tử quá ngắn, sau đó thành bị bỏ hoang phế, người dân lại gọi theo tên cũ Kẻ Lũ. Sang thế kỷ XV, Kẻ Lũ được chuyển sang âm Việt Hán là Cổ Loa. Những người làm sách đến thăm thành cũ, theo tên địa phương gọi là Thành Cổ Loa, rồi từ đó chuyển sang Loa Thành.
   Tác giả An Nam chí lược, cũng như các tác giả trước đó thấy tòa thành cổ có 3 vòng gồm 9 lớp nhưng không biết vòng Kiển thành do Mã Viện đắp nên gộp tất cả vào cho An Dương Vương. Nhìn hình dạng bề ngoài tòa thành và nghe tên thành là Cổ Loa rồi vì từ tố loa-ốc đã suy đoán là thành quanh co như con ốc nên gọi là Loa Thành.
   Kết quả là từ cuốn sách này làm cho người sau lầm tưởng thành được kiến trúc hình xoắn ốc. Rồi nhân đó những người hoang tưởng cho là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!  
   Họ không biết rằng, thành của An Dương Vương chỉ có 2 vòng, 6 lớp nên không có hình xoáy ốc. Hình xoáy ốc nếu có lại là kết quả việc làm vô tình của Mã Viện!
*
*       *
   Ðến thời Hùng Vương, xã hội Việt Nam tổ chức nhà nước dưới hình thức liên bộ lạc. Cả nước chia ra 15 bộ lạc do các lạc hầu, lạc tướng dẫn dắt mà vua Hùng ở vị thế đứng đầu liên minh các bộ lạc. Liên minh các bộ lạc của vua Hùng có luật pháp thống nhất. Tuy nay không còn văn bản nào ghi chép các điều luật đó, chỉ biết, sau khi chiếm lại được Giao Chỉ từ Hai Bà Trưng, Mã Viện tâu với vua Hán là luật Giao Chỉ có 10 điều khác luật nhà Hán, cần phải bãi bỏ. Ngoài luật pháp, nhà nước của vua Hùng còn thống nhất ở tâm linh đó là tục thờ vị tổ chung là Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Chính vị tổ chung này đã góp phần quan trọng gắn kết các bộ lạc người Việt với nhau.
   Ở dưới bộ lạc là đơn vị dân cư cuối cùng: làng chạ. Làng chạ gồm những người gần gũi về huyết tộc sống quần tụ với nhau. Trong cộng đồng làng chạ dần hình thành khế ước cộng đồng, hoàn chỉnh dần và trở thành hương ước sau này. Làng chạ là một cộng đồng nông nghiệp tương đối khép kín. Ðiều này làm cho xã hội có xu hương bảo thủ kiểu dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn nhưng mặt khác, nó lại giúp cho việc bảo tồn những sắc thái văn hóa dân tộc trước sự đô hộ lâu dài của ngoại bang. Nhờ vậy, sau nghìn năm mất nước, dân tộc Việt vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình.
     Trong văn hóa phi vật thể của người Việt có những tục lệ sau:
  Tục xăm mình. Ðại Việt sử ký toàn thư viết: dân xuống sông hồ đánh cá, thường bị thuồng luồng làm hại, tâu với vua. Hùng Vương bảo: thuồng luồng là giống ưa vật giống mình, ghét vật khác mình, vậy hãy lấy mực vẽ vào người cho giống hình nó, thuồng luồng tưởng là họ hàng nên không làm hại. Tục xăm mình có từ đó.
   Ðúng là người Việt có tục xăm mình nhưng quy công cho vua Hùng có lẽ không thỏa đáng. Tục này là của những người đánh cá, do sự ngẫu nhiên nào đó thấy những người có vết chàm vết bớt trên người ít bị cá sấu hại (?), người ta bắt chước vẽ hình cá sấu lên người. Dần dần cá sấu trở thành vật tổ, tôn giáo thờ "tô tem" ra đời và giao long, con cá sấu trong các sông rạch đầm lầy trở thành vật tổ của người đánh cá rồi được hình tượng hóa thành con rồng.
   Tục xăm mình vì vậy không chỉ của người Việt mà là của cộng đồng cư dân Ðông Nam Á cộng cư với nhau trên vùng đất nhiều sông hồ Hainanland, Sundaland sống bằng nghề đánh cá. Khi chia tay nhau để lên Bắc hay xuống Nam, những tộc người Ðông Nam Á này mang theo đến vùng đất mới khiến cho tục xăm mình phổ biến từ lưu vực sông Hoàng Hà tới tận những hòn đảo xa ngoài khơi Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương.
 
   Tục ăn trầu cũng hình thành từ rất sớm. Trầu cay, cau chát, vôi nồng tạo sức ấm nóng cho những người mò tôm bắt cá hay cày cấy ngoài đồng xa. Cùng với tục ăn trầu là tục nhuộm răng đen, giữ cho bộ răng chắc khỏe và cũng làm nên cái đẹp của phụ nữ trong quan niệm thẩm mỹ thời đó. Cùng với tục ăn trầu, Truyện Trầu cau cũng không phải là sản phẩm riêng của người Việt mà của chung Ðông Nam Á. Tích Sơn Tinh, Thủy Tinh và Trầu Cau của ta nói về hai người cùng yêu một cô gái với nhiều khúc mắc éo le tương tự như tích Kulabob và Manup của các bộ lạc Nam Ðảo. S. Oppenheimer kể rằng, chuyện tích này rất dài, người ta kể cả ngày, thỉnh thoảng người kể phải ngừng lại để ăn trầu.
   Trong cổ tích của người New Guinea, Kulabob được xem là thủy tổ của người nói tiếng Nam Ðảo. Manup là anh, còn em là Kulabob đôn hậu tài ba đã chế ra thuật xăm mình, biết đóng tàu đi biển, lái thuyền đánh cá rất giỏi giang. Một hôm đi săn, Kulabob bắn lạc một mũi tên chạm khắc tinh vi. Lúc đi tìm mũi tên, Kulabob bị chị dâu (vợ Manup) dụ. Cô này giấu mũi tên và nằn nì Kulabob xăm một hình đẹp trên chỗ kín của mình. Kulabob lúc đầu không muốn nhưng rồi cũng phải nghe theo. Hai người ân ái với nhau. Khi người anh khám phá chuyện ngoại tình, đi tìm giết em mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng mọi cách kể cả pháp thuật nhưng không phân thắng bại. Cuối cùng để tránh huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc thuyền to bỏ đi về hướng biển cả, chở theo người, cây cối, thú vật và đồ đạc, lập thành các nhóm dân hải đảo Thái Bình Dương. Kulabob là cổ tích gốc của các sắc dân Ðông Nam Á có liên hệ huyết thống. Ði xa nữa, S. Oppenheimer cho rằng cơn đại hồng thủy 8000 năm trước đã đưa người Ðông Nam Á sang tận Trung Ðông và con thuyền Kulabob biến thành thuyền Noe trong kinh Thánh đạo Thiên chúa.
   Như vậy là, vào những thế kỷ trước Công nguyên, xã hội Việt Nam đang ở trong một nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhiều sách cổ Trung Quốc ghi lại điều này.      
Các sách như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng... đều ghi chép: "Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống."... "Họ biết uống nước bằng lỗ mũi..."; "Nuôi tằm mà dệt vải..."; "Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ..."; "Dùng đá màu làm men gốm..."; "Dùng mu rùa mà bói việc tương lai..."; "Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm..."; "Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh." Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói: "Người Bách Việt miền nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng..."; "dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà." Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết "Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt..." Sách Cổ kim đồ thư chép: "Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy nước rồi làm đường phèn." "Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát."(Nguyễn Thị Thanh. bđd)
  Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.
    Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD), người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên... Bùi Thị Hí bút (niên hiệu Lê Nhân tông, năm 1450) người Tàu bèn nói: "Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi"(!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các "thầy" đành chào... thua một người đàn bà Việt Nam!
 
 
               Lều Mông Cổ         Nhà người Việt           
 
Bình men lam Chu Ðậu
(Hình của Ts Nguyễn Thị Thanh)
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:41:42Tư Tứ>
CHƯƠNG V
VĂN HÓA VIỆT TRÊN LƯU VỰC   HOÀNG HÀ, DƯƠNG TỬ


 
 “Ban đầu Viêm tộc theo sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang là các tỉnh:  Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang rồi lần theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng sáu tỉnh của Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phía Nam thì tới Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Theo Chu Cốc Thành trong "Trung Quốc dân tộc sử" và một số sử gia khác thì "Bách Việt đã có mặt ở khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào."(32) Những dòng trên là bức tranh quen thuộc mà các sử gia mô tả con đường người Việt vào mở mang vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Con đường đó do sử gia E. Aymonier vạch ra vào những năm đầu của thế kỷ trước. Và rất nhanh chóng, trở thành kinh điển trong các sách sử không những của ta mà của cả những sử gia Trung Quốc và các đại học danh tiếng ở Mỹ chép theo. Nhưng thời gian cho thấy sự thật lịch sử đã không diễn ra như vậy bởi lẽ người Bách Việt không phải từ ngọn nguồn sông Dương Tử đi xuống mà ngược lại, từ Ðông Nam Á đi lên.
   Con đường người Bách Việt lên phương Bắc có lẽ diễn ra như sau:
   Ðặt chân trước tiên lên miền Trung và miền Bắc Việt Nam 60.000-70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid dừng lại kiếm ăn rồi chung đụng hòa huyết với nhau sinh ra những chủng người là tổ tiên các sắc dân Ðông Nam Á sau này. Khi nhân số tăng lên, những đoàn người chia tay nhau xuống phía Nam tới châu Úc và những hòn đảo ngoài khơi. Có đoàn sang phía Tây tới vùng đất của người Thái, người Mianma ngày nay. Những người lên phía Bắc vượt qua địa giới Ðông Nam Á, tới Nam Trung Quốc. Không thể đi xa hơn vì trước mặt họ là bức thành băng hà đóng chặt. Một thời gian đợi chờ đằng đẵng. Phải tới 40.000 năm trước, khi băng tan, khí hậu mùa xuân trở lại, những đoàn người chờ đợi từ lâu đồng hành tiến lên. Từ phía bắc Ðông Nam Á, người tiền sử cùng một lúc theo khả năng của mình tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Có lẽ do địa hình khá bằng phẳng và môi trường sống thuận lợi nên số người đi theo phía duyên hải đông hơn và tỏa ra miền Việt Giang ngũ tỉnh:  Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Trong khi đó những đoàn khác từ phía Tây Bắc lần ngược lên ngọn nguồn tới Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang. Một bộ phận nhanh chân hơn thì lên tiếp miền lục tỉnh Hoàng Hà : Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phần đông dừng lại trên lục địa mênh mông này. Nhưng một số người không bằng lòng như vậy. Theo bản năng kiếm tìm điều mới mẻ, bản năng khám phá thiên nhiên và cũng có thể một cái gì đó như sứ mạng sai khiến, có những lớp người đi tiếp lên phía Bắc, vượt qua Siberia, qua eo biển Bering lúc này là đất liền để khám phá cho nhân loại một châu lục mới. Với thời gian, họ trở thành người da đỏ Indien, người Maya... Khác ta về màu da nhưng từ khi chưa được công nghệ gene soi tỏ, ta cũng nhận ra họ gần gũi mình qua những trang sách của Lévi Strauss: "Những quan sát xã hội học ở sắc dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau... Cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (33). Người Trung Hoa cổ đại, dân mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Bách Việt? Như vậy, người Bách Việt đã mang theo văn minh văn hóa Việt đến châu Mỹ!
   Khi đã nhìn nhận hành trình như vậy của người Bách Việt hay người Ðông Nam Á cổ, một câu hỏi sẽ đến: Người Bách Việt đã làm được những gì trong thời gian đằng đẵng sống ở phương Bắc?
 
 Rõ ràng là những đoàn người đầu tiên ra đi là những cư dân sống bằng săn bắt hái lượm. Họ du cư trên những con đường vạn dặm: sống trong những hang động gặp trên đường, săn bắt thú, tát cá, gặp gỡ, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái. Khi cái ăn khó kiếm, họ lại ra đi. Nhờ trời khi đó rừng còn hoang sơ, sản vật tự nhiên còn nhiều nên con người sống được. Suốt ngày lo kiếm ăn trong cuộc đời vô định, sự sáng tạo lớn nhất của họ chỉ có thể là làm ra những cái rìu bằng đá. Rồi từ rìu làm ra cung nỏ. Một bước nữa là biết lấy dây rừng bện lại để làm lưới đánh cá... Có lẽ 30.000 năm con người đã đi từ Nam lên Bắc trong cuộc sống đơn điệu và chậm chạp như vậy. Chỉ đến khoảng 15.000 năm về trước, khi từ trung tâm Hòa Bình kỹ thuật trồng lúa nước cùng thuần dưỡng những loài gia súc như gà, chó, lợn được truyền tới. Cây lúa nước làm cuộc cách mạng vĩ đại đối với cuộc sống người tiền sử. Lần đầu tiên con người không phải tuốt lúa hoang, lúa ma đem về nghiền rồi nấu chín trong những ống tre. Lần đầu tiên con người không còn phải ngửa tay lượm những quà tặng của thiên nhiên mà tự nuôi sống bằng hạt gạo do chính tay mình trồng cấy. Lần đầu tiên con người nhận ra: hạt lúa gieo xuống đất, chỉ cần chăm sóc thì đến tháng đến ngày nó sẽ cho bông vàng hạt mẩy! Có cấy có trông, có trồng có ăn... cuộc sống ấm no thực sự trong tay mình, không phải trông chờ thiên nhiên bố thí! Con người thấy sức mạnh của mình và giác ngộ: Ta đứng cao hơn tự nhiên! Cây lúa nước, hạt gạo mang đến sự đổi đời! Do phải bỏ công chặt cây, chuyển đá, đắp bờ tạo ra những khoảnh ruộng, con người không dễ dàng bỏ đất mà đi. Cuộc sống định cư bắt đầu. Do sống định cư mà con người rời khỏi hang đá, làm những căn nhà ngày một tiện nghi hơn để ở. Cũng do rảnh rỗi hơn nên con người có thời gian, có tâm trí để mơ mộng để hát ca. Nhạc rồi thơ ca nảy sinh từ đấy. Từ khi gieo hạt giống xuống đất là lúc con người bắt đầu trông trời trông đất trông mây! Chính từ cái việc trông này của văn minh nông nghiệp mà nảy sinh những kinh nghiệm về dự báo thời tiết, về quy luật vận hành của mặt Trời, mặt Trăng cùng các ngôi sao. Những tri thức về thiên văn được tích tụ, từ đó lịch pháp ra đời. Lương thực dồi dào, gà, chó, lợn, trâu bò được nuôi, cuộc sống sung túc hơn. Phú quý sinh lễ nghĩa: con người đối xử với nhau và với thiên nhiên thân ái hơn tốt đẹp hơn!
  Nói có sách, mách có chứng, xin bạn đọc vui lòng thưởng thức một đoạn văn của tác giả Nguyễn Quang Trọng, một người Việt sống ở nước ngoài nhưng rất tâm huyết với cội nguồn dân tộc:
"Số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương Tử không những nhiều hơn mà còn rất xưa. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới cách nay 13000 năm được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Ðiều này được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hóa thạch, tồn tại nhờ giầu chất silic) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytolith này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân ở vùng này đã ăn nhiều lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đây trong mấy nghìn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích thứ hai, 9000 năm trước là Pentou, gần hồ Ðộng Ðình. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở nam Trường Giang. Di tích văn hóa Hemudu cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước (sớm hơn cả di tích làng trồng kê Bán Pha (Banpo) xưa nhất của tộc Hán phương Bắc.) Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Ðường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày. Văn hóa Hemudu xưa 7000 năm,  có nhiều điểm gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên-Ðông Sơn vốn là văn hóa trẻ hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hóa hơn dân cư Bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongolic tức là chủng của người Việt Nam từ thời Ðông Sơn về sau. Sau Văn hóa Hemudu, hàng loạt văn hóa lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. (34)
  Thật lạ kỳ, những cọng rơm, những vỏ trấu, những hạt thóc thành than người xưa vô tình để lại đã nói với ta biết bao điều. Nhờ đó mà thời gian xa xôi những nghìn những vạn năm không còn là khoảng tối mênh mông thẳm sâu câm lặng vô hồn mà trở nên gần gũi ấm áp.
 Sau lúa nước, người Bách Việt mang theo văn minh đồ đồng tới vùng đất mới.
 Luật sư Cung Ðình Thanh trong một chuyên khảo công phu đăng trên tập san Tư tưởng (Australia) viết:
   Khảo sát văn hóa đồng cổ trên khắp đất Trung Hoa, các nhà khoa học thấy có 4 vùng khác nhau: vùng Hoa Nam, vùng Ðông Nam, vùng Tây Nam và vùng phía Bắc.
  Ðồ đồng Hoa Nam tìm được ở di chỉ Hải Môn Khẩu có tuổi 1130 năm TCN, cùng thời với đồ đồng Gò Bông Việt Nam, ở Vạn Gia Bá khoảng 760 +/- 130 năm TCN. Người Trung Quốc gọi là đồ đồng cuối thời nhà Thương. Trong thành phần đồng ở đây cũng có chì nên rất gần với đồ đồng Bắc Việt Nam. Căn cứ vào nguồn gốc chủ nhân và lịch sử, chúng ta thấy chúng thuộc cùng một văn hóa Ðông Sơn.
 
Vùng thứ nhì thuộc trung tâm của nước Trung Quốc ngày nay ra đến bờ biển phía Ðông của các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, phía tây tỉnh Tứ Xuyên đến Giang Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang thuộc vùng các nước Việt, Ngô, Sở thời trước. Nước Sở là nước lớn thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Sở không công nhận nhà Chu, lập quốc gia độc lập, có cương vực rất rộng, phía tây ăn vào tỉnh Tứ Xuyên, phía bắc chiếm phần lớn tỉnh Hồ Bắc, phía Nam chiếm trọn tỉnh Hồ Nam. Là một trong số các nước Bách Việt, Sở thôn tính nhiều tộc Bách Việt nhỏ khác nên khi bị nhà Tần chiếm, Sở đã kéo theo nhiều tộc Bách Việt vào lãnh thổ của Tần. Văn hóa đồ đồng của nước Sở rất rực rỡ. Tiêu biểu là cái đỉnh bằng đồng nặng đến 400 kg, chứng tỏ nghề đúc đồng rất tiến bộ. Năm 1963 các nhà khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc rồi bên hồ Ðộng Ðình thuộc Hồ Nam nhiều hiện vật đồng gọi là thuộc đời nhà Thương. Thực ra đó là đồ đồng nước Sở thuộc dân Bách Việt. Trong một ngôi mộ ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam năm 1974 đã đào được chiếc dao găm đồng hình người, tay chống nạnh, đeo vòng, đầu đội mũ. Loại dao này được giới khảo cổ xếp vào loại hình đồ đồng Ðông Sơn (Trịnh Sinh. Khảo cổ học 1997). Tại Chiết Giang là địa bàn nước Việt thời Câu Tiễn, người ta cũng đào được những rìu xéo mang phong cách Ðông Sơn, là loại rìu có đôi giao long quấn vào nhau, trên cán có bốn người đang chèo thuyền. Nhờ những phát hiện này, giới khảo cổ đã có thể đi đến khẳng định những dao găm tìm được ở Bắc Kinh, Hồ Nam là cùng nguồn gốc với những dao đào được ở Sơn Tây Việt Nam. Năm 1996 người ta đào được chiếc trống đồng ở khu mộ cổ Thượng Mã Sơn huyện An Cát tỉnh Chiết Giang, chiếc trống giống với trống Lãng Ngâm khai quật năm 1973 tại Gia Lương tỉnh Bắc Ninh hay nhiều trống nhỏ hơn tìm được ở Gia Lâm và các nơi khác bên sông Hồng, sông Mã.
 
Vùng văn hóa đồng thứ ba là khu vực Tứ Xuyên, thời Tam Quốc gọi là Ích Châu, Ba Thục. Nước Thục nằm trên ngã ba đường nối với Bắc Trung Quốc, một nhánh rẽ sang phía Tây để tiếp xúc với phương Tây, phía Nam dẫn về cái nôi Văn hóa Hòa Bình (Có thể từ con đường này người Mongoloid cổ đã làm cuộc thiên cư lên phương bắc thành người Mông Cổ phương Bắc. HVT). Nhưng rõ ràng, từ đây người Hòa Bình mở nhiều đợt lên phía bắc, vượt núi Ngũ Lĩnh vào lưu vực sông Hoài góp phần tạo dựng nên Văn hóa Ngưỡng Thiều. Theo sử sách thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui (gò Ba Sao?) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương nhiều. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của Văn hóa Hòa Bình.(Có nhiều khả năng họ là tộc người Thái Tày, thuộc nhóm loại hình Indonesien sau này hòa huyết với người Hán phương Nam để chuyển hóa thành sắc dân Ðông Nam Á. HVT)
 
Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.
    Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được. Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.
   Một điều kiện làm cho văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ tại Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam là do ở đây có nhiều mỏ đồng, chì, thiếc. Trên phần đất của Việt Nam là các mỏ vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Sơn La, Cao Bằng và Thanh Hóa. Thiếc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, chì ở Thái Nguyên. Mỏ đồng lớn nhất là mỏ Na Ngọ ở Tụ Long mỗi năm sản xuất khoảng 225 tấn. Phía nam Trung Hoa có nhiều mỏ ở Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam (35).
 
  Có một điều khiến ta không thể không suy nghĩ: văn minh sắt đến ngay sau văn minh đồng. Vậy mà trong những di chỉ Bách Việt, từ Ðông Nam Á đến Trung Quốc số lượng đồ sắt lại quá ít, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngay cả ở thời Hùng Vương, khi mà kỹ thuật đồng được đẩy đến độ tuyệt vời tinh xảo thì đồ sắt cũng không được coi trọng, trong khi ai cũng biết được ưu thế hơn hẳn của đồ sắt. Khác với dân Bách Việt, người Hoa Hán phát triển mạnh loại vật liệu mới này để đến thời Triệu Ðà, trở thành vũ khi cấm vận của Lữ hậu chống lại nước Việt. Phải chăng đó là biểu hiện của tính cách Việt, sự hạn chế của văn minh nông nghiệp coi trọng tinh thần coi nhẹ vật chất, sau thời kỳ năng động sáng tạo đã chuyển sang tự mãn bảo thủ? Trong khi dụng công đưa nghệ thuật đồng lên đến tuyệt mỹ của văn hóa tinh thần, của vật thờ thì lại coi nhẹ công dụng hơn hẳn của sắt? Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy văn minh nông nghiệp để mất vị trí tiên phong của mình?
 
   Trong khi người Bách Việt hình như tỏ ra thỏa mãn với nền văn minh nông nghiệp, ung dung tự tại với cuộc sống điền viên tự cấp tự túc no đủ thì biến cố lớn xảy đến: từ phía Bắc sông Hoàng, những người Mông Cổ du mục tràn xuống. Với sức mạnh vũ bão của đoàn quân được tổ chức chặt chẽ, vũ khí tốt, tinh thần chiến đấu cao và rất quen trận mạc, trận quyết chiến Trác Lộc nổ ra. Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng đã nhanh chóng chiếm sáu tỉnh phía Nam sông Hà. Họ Hiên Viên phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức đất nước: chia sáu tỉnh Hoàng Hà thành 9 châu, chọn 4 bộ lạc hùng mạnh là Tứ nhạc để làm chỗ dựa. Viêm tộc một phần bị giết, một phần làm nô lệ, phần còn lại thì sống dưới sự giám sát của Mông tộc. Người bản địa có nước da ngăm đen trong khi người Mông Cổ vốn da sáng hơn, lại sống trong xứ lạnh nên da càng trắng. Để phân biệt, kẻ xâm lăng gọi người bản địa là dân đen (lê dân). Từ này lúc đầu chỉ có ý phân biệt về màu da nhưng sau chuyển sang nghĩa kẻ dưới, thấp kém.
  Sau khoảng 1- 200 năm, biến cố lịch sử lớn đã chín muồi:  người Mông Cổ biến mất khỏi vũ đài, nhường chỗ cho hậu duệ là những con cháu lai, mang bộ gene Mogoloid phương Nam. Những nhóm được lai giống đầu tiên- con cháu trực hệ của kẻ xâm lăng- thay cha ông mình thống trị đất nước. Người bị trị chính là những đồng chủng và một phần dân đen (Việt) bản địa. Dân Viêm tộc không cam tâm chịu sự đô hộ, lâu lâu lại nổi lên như vào cuối đời Thiếu Hạo, mãi tới Chuyên Húc mới dẹp yên được. Cuối đời Ðế Cốc, dân Miêu Việt lại vùng lên khiến Ðế Chí mất 9 năm không thu phục nổi phải nhờ vua Nghiêu mới thắng trận ở Ðan Thủy. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn nhiều dân Hán tộc không phục vì Thuấn người Nam Man, Viêm tộc lại thừa cơ nổi lên trong đó ông Cổn là một trong những lãnh tụ. Vua Thuấn phải dùng giải pháp mạnh đày số lớn Viêm Việt ra phía tây huyện Ðôn Hoàng, miền địa đầu của Trung Hoa với Tân Cương. Phần bị phân tán thành nhiều bộ lạc nhỏ, phần bị đồng hóa, từ đấy Viêm tộc không còn nổi dậy nữa. Điều này cũng có nghĩa là quá trình Mongoloid phương Nam hoá đã hoàn thành về cơ bản.
   Sau chiến thắng Viêm Việt, Hiên Viên được tôn làm vua, gọi là Hoàng Đế. Hậu duệ của Hoàng Đế là dân lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, đến bây giờ có thể gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Hán tộc. Hán tộc nhận tất cả các phát minh của Viêm tộc làm của mình. Sử Trung Hoa gọi Hoàng Đế là người phát minh ra thiên văn, âm nhạc, quần áo, nhà cửa, giao thông, hôn sự, y thuật, nuôi tằm, võ bị, chính trị..
   Hoàng Đế truyền 7 đời tới vua Thuấn 2697-2205 TCN
   Nhà Hạ vua Ðại Vũ truyền 17 đời tới vua Kiệt 2205- 1783 TCN
   Nhà Thương: Vua Thành Thang truyền 28 đời tới vua Trụ 1783-1134 TCN
   Nhà Chu: truyền 37 đời tới Ðông Chu 1134-247 TCN.
 
Từ ngày lục tỉnh mạn nam Hoàng Hà bị chiếm, số phận các nước bị gọi là tứ hung bên ngoài luôn bị đe dọa. Sau này Ðông Di (Sơn Ðông) bị nước Tề đồng hóa. Bắc Ðịch (Sơn Tây, Hà Bắc) bị các nước Tấn, Yên kiêm tính. Riêng Tây Nhung trở lại sống du mục. Do sự tranh chấp trong khu vực, Tây Nhung đã chiếm được đất Quan Trung dựng lên nước Tần, gốc nông nghiệp Viêm tộc nhưng theo đời sống du mục đã trở nên hung hãn.  Còn Nam Man ở mạn Trường Giang bị người Hoa chèn ép nên di cư lần xuống phía nam. Sang đầu công nguyên chia làm 6 bộ lạc là Lang Khung, Thi Lăng, Ðàng Ðạm, Việt Tích, Mông Tuấn, Mông Xá. Những khi Trung Hoa có biến, họ thường vào quấy phá như hồi Hán Mạt, Ngũ Hồ, Tàn Ðường... Vua Ðường Huyền Tôn phải cắt đất để mua lòng họ. Năm Khai Nguyên thứ 26 (738) phong cho Bì Lai Cap làm Vân Nam vương đóng đô ở Côn Minh. Từ đấy họ dọc ngang 5 tỉnh Việt Giang, nước ta cũng chịu một phần cướp phá cho đến năm 866 Cao Biền mới dẹp yên.
   Viêm tộc ở các tỉnh lưu vực sông Trường Giang mà người Hán gọi chung là Ðông Nam man thì khai thác vùng hồ Ðộng Ðình, Bành Lãi. Khoảng năm 2897 TCN tù trưởng các bộ lạc Bách Việt ở đây xưng là Kinh Dương Vương, lấy Thần Nông làm tổ. Họ Mễ là họ rất lớn của nước Việt cũng như nước Sở sau này gọi là Hùng Vương. Ở khu vực này dân Bách Việt lập ra ba nước Sở, Ngô, Việt cùng một nguồn gốc tổ tiên xưa nhưng vì ý thức quốc gia chưa đủ mạnh nên ba nước đánh nhau liên miên và tiêu diệt lẫn nhau. Vào lúc Ngô phá Sở diệt họ Hùng Vương thì một chi nhánh của họ này chạy xuống Bắc Việt Nam, cùng với dân Viêm tộc lập ra nhà nước Văn Lang truyền 18 đời (36).
      Qua biến động lịch sử kể trên, có thể rút ra nguyên nhân thất bại của Bách Việt:
   - Sống rải rác khắp 18 tỉnh, dân cư thưa thớt không thể chống đoàn quân du mục tập trung hùng mạnh.
   - Bách Việt còn trong tình trạng bộ lạc hay thị tộc, chưa có ý thức quốc gia nên thường xung đột nhau.
   - Viêm tộc làm nông nghiệp định cư sớm nên khả năng võ bị kém.
Từ những nguyên nhân dẫn đến thất bại của người Bách Việt, ta có thể nói rằng, thời thế đã đổi thay: từ phương thức sống từng bộ lạc phân tán hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, nhân loại bước vào giai đoạn mới, hình thành những quốc gia. Nhiều thế lực nổi lên tranh giành nhằm thâu tóm đất đai, nhân số dựng nên những quốc gia làm tăng quyền lực của giai cấp lãnh đạo đồng thời cũng đưa lại cho dân chúng điều kiện sống mới, văn minh hơn. Trong cuộc tranh đấu này, văn minh nông nghiệp đã thua sức mạnh của văn minh du mục. Và khi thâu tóm được tiềm năng dồi dào của văn minh nông nghiệp về nhân lực, về kinh tế và văn hóa, nền văn minh du mục vốn năng động và được tổ chức tốt đã đẩy lịch sử tiến lên một bước mới. Trung Quốc trở thành động lực mới thúc đẩy nền văn minh trong vùng vào thời gian giữa thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên.
 
   Hôm nay, vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ III, nhìn về hàng vạn năm trước, ta thử xem ngoài những chiếc rìu bằng đá cuội, cây lúa nước và văn minh đồng, người Bách Việt để lại những gì cho văn hóa nhân loại?
  
  Cùng với những văn hóa vật thể kể trên, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Bách Việt cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú.
   - Người Việt ưa hát múa, sáng tác nhiều ca dao, dân ca sau này được sưu tập cho vào kinh Thi.
   - Âm nhạc phát triển với bát âm, ngũ cung. Có nhiều loại đàn độc đáo như sáo, đàn đá, khèn bầu, đàn bầu. Sau này được tập hợp thành kinh Nhạc.
   - Nhiều tục thờ cúng và lễ hội dân gian: thờ trời đất, ông bà tổ tiên, thờ thần lúa, hội mùa, hội xuân.
   - Người già được tôn trọng, là vốn quý tích lũy nhiều kinh nghiệm, là sự minh triết của cộng đồng.
    - Tích lũy nhiều kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), dùng mu rùa bói toán....
    Có lẽ dấu ấn văn hóa sâu sắc nhất mà cộng đồng Bách Việt để lại trên nước Trung Hoa cổ cũng như toàn bộ Ðông Á là nếp sống hài hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Người Việt cổ quan niệm thiên nhiên là vật thể sống, có linh hồn nên cần được tôn trọng: địa linh nhân kiệt. Cuộc sống là sự hài hòa, quân bình giữa những nguyên lý khác nhau: giữa sáng và tối, nóng và lạnh, giữa lý và tình vì thế những biểu hiện cực đoan bị tiết chế: không ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng! Không ai giầu ba họ không ai khó ba đời! Trí khôn của cộng đồng là trí khôn tập thể: khôn độc không bằng ngốc đàn. Tuy vậy vai trò cá nhân cũng được đánh giá cao: một người lo bằng kho người làm. Trong cộng đồng, vai trò quan trọng của người cha, người đàn ông được khẳng định đồng thời vai trò người đàn bà, người mẹ được coi trọng: của chồng công vợ! Mối quan hệ tuyệt đẹp: người đàn bà nhu thuận tỏ ra nhún nhường giữ vị trí thứ nhì trong khi đó thì đàn ông biết điều trân trọng đóng góp của người vợ, người đàn bà cho gia đình và xã hội. Không chỉ thế, trong xã hội nông nghiệp Việt cổ thì vai trò đàn bà còn được đề cao hơn: lệnh ông không bằng cồng bà. Từ những quan hệ cụ thể trong gia đình thôn xóm mở ra tình đồng bào: bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Bản sắc của văn hóa này, học giả Kim Ðịnh gọi rất chính xác là Việt nho. Việt nho là một tinh chất văn hóa đã làm nên bản sắc văn hóa Á Ðông. Sau này thời thế đổi thay nhưng người ta vẫn tìm được dấu tích của văn hóa đó khắp Ðông Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Ðiều thú vị là nhiều nhà xã hội học cũng tìm ra vết tích của Việt nho ở những sắc dân bản địa châu Mỹ như trong tài liệu của Lévi Strauss mà Kim Ðịnh đã dẫn.
Những đặc trưng văn hóa tinh thần của người tiền sử Ðông Nam Á được khái quát trong những điểm sau: 
  - Quan niệm nhân chủ: con người tồn tại trong mối tương quan giữa Thiên-Ðịa-Nhân. Trong đó Nhân là trung tâm, là chủ. Cái gì vừa lòng người cũng vừa lòng Trời. Trong quan hệ nhân chủ đó, người đàn bà được tôn trọng. Một trong những vị vua huyền thoại có nhiều công tích là Nữ Oa. Sau này còn có tục thờ đạo Mẫu.
  - Quan niệm thái hòa: cuộc sống do nhiều nhân tố nhiều nguyên lý tạo nên, và chỉ tồn tại trong sự hài hòa giữa các nguyên lý đó vì vậy cuộc sống là sự thái hòa.
  -  Coi trọng tâm linh: Người Việt cổ cho rằng con người có linh hồn. Do sống gắn bó với thiên nhiên, nên cũng coi thiên nhiên như vật thể sống, có linh hồn. Từ đó người Việt sống cùng cuộc sống hiện thực còn có thế giới tâm linh. Tục thờ phổ biến là thờ tổ tiên ông bà cha mẹ. Người Việt có tín ngưỡng đa thần: thờ bất cứ vật gì có thể tác họa cũng như tạo phúc cho mình.
 - Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Mông Cổ du mục bắt gặp một cuộc sống mới cùng nền văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số, còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu được viết với bộ Mễ (lúa gạo-chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ Việt với bộ Tẩu (vượt-chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người Việt ở lại sống chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Mông Cổ đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa lâu dài, người du mục Mông Cổ  giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Những thủ lĩnh Mông Cổ từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam Hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng Đế mà cả Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Người Mông Cổ và sau này hậu duệ của họ, đã kế thừa hầu hết nền văn hóa phi vật thể của Việt tộc.
  
  Trước hết là tiếp thu ngôn ngữ Việt.
    Trong cuốn sách Vịnh Bắc Việt, tác giả Vũ Hữu San dẫn tài liệu của nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập Dymaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, người ra suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 15-20% nhân số thế giới (37). Trong cộng đồng Ðông Á, người Việt là cư dân có nhân số lớn nhất, giữ vai trò lãnh đạo về văn hoá và ngôn ngữ.
 
    Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy:
  - Năm 1999, khai quật 24 ngôi mộ làng Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, di chỉ có tuổi 6.600 đến 6200 năm TCN, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy, Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”,  số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm.
 
Trong một vài vỏ rùa người ta cũng tìm thấy những hòn sỏi nhỏ. Nhóm nghiên cứu Giả Hồ cho rằng những vỏ rùa chứa đá cuội được dùng làm nhạc cụ phát tiếng kêu lách cách trong nghi lễ Shaman..
Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Antiquity (38).
 

Vỏ rùa tại Giả Hồ  (BBC News)
 

Chữ “Mục” ?(BBC News)
 
- Cũng tại di chỉ trên, nhóm của Tiến sĩ Garman Harbottle phát hiện những ống sáo làm bằng xương chim hạc. Những ống sáo 9000 tuổi làm bằng xương chim được khoét từ 5 đến 8 lỗ, chiếc dài nhất đo được 24 cm. Đáng chú ý là một trong những ống sáo đó vẫn còn thổi được. Giả Hồ là di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ được phát hiện, trong đó có nhiều đồ tuỳ táng. Sưu tập sáo Giả Hồ là những ống sáo sớm nhất của người hiện đại được phát hiện, tuy người ta đã biết đến những ống sáo 45.000 tuổi của người Neanderthal tại Slovenia năm 1995 (39).

Ống sáo xương chim Giả Hồ(BBC News)
 
 
 - Chúng ta biết nhiều về làng Bán Pha (Bon fo) tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc nơi phát hiện mộ Tần Thuỷ Hoàng với hàng nghìn tượng lính đất nung cùng nhiều hiện vật bằng đồng. Năm 2003, ngay dưới làng Bán Pha 3,5 m, di chỉ Bán Pha 2 niên đại 12.000 năm được phát hiện. Tại đây, người ta tìm được một bình gốm dính ở đáy một chất giống như cặn chè. Đặc biệt là bề mặt bình có một văn bản khắc chữ tượng hình giống chữ Trung Hoa cổ, mang tính biểu tượng cao nhưng không giống với tự dạng chữ Hán hiện đại. Nhóm của tiến sĩ Jeff Schonberg Đại học Angelo bang Texas Hoa Kỳ cố gắng tìm mối liên hệ với tiếng Trung Quốc để giải mã câu chuyện. Một câu chuyện đạo đức như là nghi lễ chữa bệnh. Để hiểu hiệu lực của câu chuyện cần tìm hiểu cảnh quan tinh thần vùng Tây An. Miền quê này có nhiều gò đất thiêng mang tinh thần bái vật giáo, được coi như những ông thầy dạy cách canh tác cũng như phép ứng xử… Câu chuyện trên cái bình liên quan đến “hành vi xấu” mà ngôn ngữ ngày nay gọi là “sự kiêu ngạo”. Sự kiêu ngạo này không phải do con người đối xử với nhau mà với thần linh, thể hiện ở chỗ phớt lờ hay không tôn trọng sự khôn ngoan của các vị thần. Câu chuyện trên cho thấy: hành vi xấu làm sa đoạ tinh thần cùng sự cứu rỗi.
1.      Có một thời đen tối
2.      Thế giới bị đảo lộn.
3.      Thời kỳ ảm đạm xảy ra do con người ứng xử tồi tàn và xúc phạm Thuỷ thần.
4.      Do vậy con người bị bệnh tật.
5.      Quan hệ giữa người và người trở nên rối loạn.
Phương thức cứu chữa:
1.      Con người đến thưa với Sơn thần.
2.      Sơn thần biết lý do khiến Thuỷ thần giận dữ.
3.      Thần khuyên con người phải làm cuộc hành hương cứu rỗi.
4.      Trên dải núi xa sẽ thấy một loại cây, hãy mang về chế thành chè uống.
5.      Sự tha thứ xảy ra, bệnh sẽ khỏi và bóng tối biến thành ánh sáng.
 
Dân địa phương cho biết: câu chuyện trên vẫn được truyền miệng trong vùng Tây An. Tiến triển lịch sử cùa Trung Quốc hầu như thúc ép con người hiện nay sống với tâm trạng giận dữ. Có nhiều nguyên nhân nhưng lý do thuyết phục nhất là trẻ con ở đây thường được đưa tới trường rất sớm. Nhà trường giáo dục một lề thói chống lại truyền thống gia đình. Hầu như những đứa trẻ này không trở về làng nữa (40).
  
  Giáo sư David Keightley của Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ nhấn mạnh đến mối liên hệ của chúng với những nguyên bản đời Thương. Ông nói: “Một khoảng cách 5000 năm mà giữa chúng vẫn có sự liên hệ, thật là điều đáng ngạc nhiên.” “Tuy vậy mối liên hệ cần được chứng minh kỹ lưỡng hơn.”
   Nhưng Gs Harbottle nhấn mạnh đến sự liên tục của những ký hiệu xuất hiện tại những vị trí khác nhau dọc theo sông Hoàng Hà suốt từ thời kỳ Đồ đá mới đến đời Thương, khi một hệ thống chữ viết phức tạp được phát hiện. Ông không cho là những ký hiệu thời Đá mới có cùng ý nghĩa với những ký hiệu giống với nó ở đời Thương.
 G.s Keightley nói thêm: “Điều này thật khó hiểu và không bình thường; nó có sớm đến mức kinh ngạc. Chúng ta không thể coi đó là chữ viết khi chưa có bằng chứng thuyết phục hơn.”
Ông nhấn mạnh, những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết. Nhưng ông cho rằng những ký hiệu đó mang tính biểu tượng hoặc được cách điệu hoá cao. Nó là một dạng đặc biệt của chữ viết Trung Quốc. Chữ “mục” là mắt tương tự với những chữ khắc mới tìm thấy gần đây.
 W. Boltz, giáo sư tiếng Hoa cổ Đại học Washington, Seattle: “Cách quãng hơn 5000 năm… Sao quá trình phát triển chữ viết của Trung Quốc diễn ra lâu thế? Suy diễn dựa trên tương quan hình thể đơn độc, dọc khoảng thời gian dài như vậy, gần như vô nghĩa. Bằng cách nào người ta biết rằng hình nọ trong thực tế là hình con mắt?” Theo ông, nó có thể giống ‘con mắt’ với người này, mà cũng có thể là cái khác với người kia. “Không có một văn cảnh, bao gồm cả sự am hiểu về ngôn ngữ liên quan, không thể nói những dấu hiệu này là chữ viết.”
Trong khi đó, Giáo sư Trương Cư Trung - người đứng đầu nhóm nghiên cứu về phía Trung Quốc- khẳng định: cách nay 12000 năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết. Chỉ chắc chắn rằng chiếc bình trà nọ có niên đại từ 5000 năm trở lên.”(41)
  Chúng tôi cho rằng sự thận trọng thái quá của các nhà khoa học Mỹ ở đây mang yếu tố mâu thuẫn và nguỵ biện. Nói rằng “những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết” là không thuyết phục. Một di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ, tại đó phát hiện nhiều ống sáo bằng xương chim, có những vỏ rùa khắc chữ. Vỏ rùa không chỉ khắc chữ mà còn là dụng cụ bói toán. Những hòn sỏi trong đó có khả năng là những vật dùng trong bói dịch… Chứng tỏ một xã hội phát triển cao, chữ viết là nhu cầu tất yếu.
 Chúng tôi không hiểu vì sao, khi phân tích những mai rùa Giả Hồ, nhóm nghiên cứu không hề liên hệ tới văn bản trên bình Bán Pha 2. Văn bản Bán Pha 2 sẽ soi sáng rất nhiều cho việc giải mã những ký hiệu trên mai rùa Giả Hồ. Không những chỉ sớm hơn 3000 năm, văn bản Bán Pha 2 là tập hợp những ký tự được tổ chức theo quy luật nhất định khiến người ta đọc được. So với văn bản Bán Pha 2, những gì trên mai rùa Giả Hồ không còn “quá sớm”.
   Không hiểu vì sao các tác giả không cho biết chủ nhân của những vỏ rùa hay bình cổ? Khi xác dịnh họ là ai, thì việc giải mã những đồ tuỳ táng sẽ có cơ sở hơn. Chúng tôi nghi rằng đó là những người Indonesien, Melanesien từ Đông Nam Á đi lên. Nếu đúng vậy thì việc phát hiện ra ống sáo và chữ viết không đáng ngạc nhiên. Chúng tôi nhận thấy câu trả lời của Giáo sư Trương không thuyết phục. Một bình gốm tìm thấy trong di chỉ 12.000 tuổi mà ông lại bảo là có niên đại “từ 5000 năm trở lên” thì tính trung thực khoa học phải hiểu thế nào đây? Tuổi của đồ gốm phụ thuộc tuổi di chỉ kháo cổ. Trong trường hợp bình gốm này, nếu trung thực khoa học thì phải nói: “có tuổi từ 12.000 năm trở lên.” Bởi lẽ ai biết bình được làm từ bao giờ, nó theo con người bao lâu? Chỉ vì được chôn xuống cùng con người nên bị định theo tuổi con người?
  Chúng tôi biết, việc hạ thấp tuổi bình Bán Pha 2 và phủ định chữ viết 12000 năm không đáng ngạc nhiên. Tại sao Giáo sư Trương lại đưa ra con số 5000 năm mà không phải con số khác? Phải chăng cần bỏ đi 7000 năm để cho chiếc bình nằm trong phạm vi văn minh Trung Hoa? Phải chăng đó là tiếp nối truyền thống của những Sanxingdui?(42)
 
   Việc phát hiện ra chữ trên mai rùa 9.000 năm ở Giả Hồ, bản văn trên bình gốm 12.000 năm ở Bán Pha là điều hợp quy luật. Từ bản văn Bán Pha, từ kí hiệu trên vỏ rùa Giả Hồ, ta có thể rút ra 2 kết luân:
  1/ Đấy chính là chữ viết của người Việt cổ, những người đã sống 40.000 năm trên đất Trung Hoa. Ở thời điểm 12.000 năm đã có văn bản Bán Pha thì khởi đầu chữ viết của người Việt phải có từ sớm hơn.
  2/Chữ của người Bách Việt là tiền đề cho chữ viết đời Thương.
      Truyện cổ Bán Pha là thông điệp xưa nhất mà tổ tiên gửi tới con cháu lời cảnh báo về mối hiểm nguy do thái độ kiêu ngạo trong ứng xử với thiên nhiên. Bằng lương tri của mình, chúng ta cần có hành động cứu rỗi để hoá giải tai ương. Chắc chắn đấy là con đường trở về với truyền thống nhân bản của người Việt. Thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà vào năm tháng này chúng ta nhận được từ tổ tiên thông điệp giầu ý nghĩa như vậy.
 
Đấy là những điều diễn ra trong quá khứ xa xôi, gần hơn, ta thấy:
 
  Giả thuyết của B. Fuller đã ủng hộ cho công trình khảo cứu Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ của luật sư Cung Ðình Thanh. Tác giả dẫn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra kết luận mới nhất của giới ngôn ngữ học: vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông và Ðông Nam Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ.(43)
 Trong khi đó, ngôn ngữ học thế giới cho thấy, ở thời điểm trên, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong số ít người sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. 
   Khi thấy được toàn cảnh phân bố dân cư và ngôn ngữ Ðông Á như trên, trong trí ta tự nhiên hình thành hai câu hỏi:
 1/ Tại sao tiếng Việt là ngôn ngữ lớn từng giữ vai trò thống trị trên đất Trung Hoa lại tự nhiên biến mất? 2/ Vì lẽ gì trên lục địa Trung Hoa ngôn ngữ Sino-Tibétan của một nhóm thiểu số lại bành trướng trở thành ngôn ngữ lớn nhất trong vùng?
   Chỉ có thể giải thích như sau: một là, những cư dân nói tiếng Môn-Khmer sống trên Hoa lục vì lý do nào đó bị tuyệt chủng. Ðiều này không hề xảy ra. Lịch sử cho thấy người Việt không bị diệt chủng mà có sự chung sống khá hòa thuận với người Mông Cổ chiếm đóng. Vì vậy chỉ có thể là nguyên nhân thứ hai.
  Suốt thế kỷ XX, do thiếu tư liệu và do bị chi phối bởi quan niệm Hoa tâm (lấy Trung Hoa làm trung tâm) nên giới học thuật cho rằng tổ tiên dân tộc Việt là nhóm người thiểu số từ cao nguyên Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống vùng Hoa Nam, sau bị người Hán săn đuổi đã tràn vào đất Việt, tiêu diệt người bản địa, lập nhà nuớc Văn Lang. Lịch sử dân tộc Việt là một cuộc Nam tiến. Do bị phương Bắc đô hộ suốt một thiên niên kỷ, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, cả về huyết thống cả về văn hoá. Giới ngôn ngữ học lịch sử do chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á nên khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hơn trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước, vì thế bất cứ tiếng Việt nào cũng có trong ngôn ngữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!
     Theo quan niệm trên, nhiều nhà ngữ học quốc tế cũng như Việt Nam (Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim…) cho rằng, tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán.
   Những người không tán thành cùng lắm cũng chỉ có thể ấp úng nói rằng: tuy có mượn nhưng không mượn tới mức như vậy! Họ cố tìm những từ thuần Việt. Qua nhiều cuộc tranh luận chứng tỏ đó là những cố gắng vô vọng. Những người ít vốn cổ văn thường bị đánh gục bởi những học giả chữ nghĩa cùng mình, viện dẫn hàng núi sách Tây Tàu. Và cho đến nay, con em chúng ta vẫn bị nhồi nhét giáo điều đó!
  
  Ở đây chúng tôi muốn chứng minh sự thật ngược lại: tiếng Việt đã góp phần lớn để tạo thành ngôn ngữ Trung Hoa.
 
       Quy luật phổ quát của nhân loại là những bộ lạc du mục thường mạnh về vũ trang nhưng văn hoá kém phát triển. Trong khi đó dân nông nghiệp có nền văn hoá cao nhưng lại kém trong chiến trận. Là tộc người giữ vị trí lãnh đạo cộng đồng Bách Việt nông nghiệp về xã hội và ngôn ngữ, người Lạc Việt có vốn ngôn ngữ phong phú vượt trội so với người thiểu số Mông Cổ. Ngôn ngữ học thế giới cho thấy, vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông  Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ. Trong khi đó, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong số ít người sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Sự vượt trội còn thể hiện ở chỗ số lượng từ vựng của người Lạc Việt  nhiều, có khả năng biểu cảm cao đồng thời có nhiều từ thể hiện những khái niệm trừu tượng, đủ sức làm nên kinh Thi, kinh Dịch... 
   Khi sống trong cộng đồng cư dân mới, người gốc Bách Việt-mà kẻ xâm lăng gọi là lê dân, tức dân có nước da đen-vẫn dùng tiếng nói và cách nói của mình. Cùng với thời gian, họ học thêm những từ mới của người láng giềng Mông Cổ. Cũng như vậy, người Mông Cổ bổ sung từ ngữ của lê dân vào tiếng nói của mình. Dần dần toàn bộ từ vựng trở thành của chung. Điều này cũng giống như ngôn ngữ Việt hiện đại: sau năm 1975 trong giao tiếp cũng như viết lách có việc dùng trộn trạo tiếng Bắc lẫn tiếng Nam.
Từ vựng hoà đồng khá dễ dàng nhưng người gốc Mông và gốc Việt vẫn giữ cách nói hay ngữ pháp riêng của mình. Ngữ pháp là yếu tố khá bền vững của ngôn ngữ và làm nên sự phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Cách nói của người Mông có những nét khác biệt người Việt. Do sống dưới sự thống trị của người Mông nên người Việt phải tuân theo cách nói của kẻ cầm quyền. Quá trình này là lâu dài và được chi phối bởi quy luật: Các vùng đất trong một quốc gia thường học theo cách nói của trung tâm, của kinh đô. Người Mông thống trị tập trung ở các đô thị, ra mệnh lệnh, giấy tờ theo cách nói cách viết của mình. Lê dân, dù ngày thường nói và viết theo thói quen của người Việt nhưng khi lên thủ đô, khi viết những văn bản hành chính buộc phải theo cách nói cách viết của chính quyền. Rồi  trường học được mở, học trò phải nói và viết theo “chuẩn”. Cứ như vậy dần dần cách nói cách viết của người Hán trở thành thống lĩnh. Ban đầu tiếng nói được ký tự bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng chuyển sang viết bằng chữ vuông: tiếng Việt biến thành tiếng Hán cả về từ vựng cả về ngữ pháp.
    Ở trên là một phác hoạ lịch sử đồng thời là giả thuyết mang tính nguyên lý về quá trình hình thành của ngôn ngữ Trung Hoa hay quá trình hội nhập của tiếng Việt vào ngôn ngữ Hán. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là suy đoán mang tính tư biện. Vấn đề là phải chứng minh bằng chứng cứ thuyết phục.
 
 Dấu vết ngữ pháp Việt trong thư tịch cổ Trung Hoa.
  
 Nếu tiếng Việt là bộ phận cấu thành ngôn ngữ Trung Hoa, thì theo luật biện chứng, tất phải có những vết tích của ngôn ngữ Việt trong thư tịch Trung Hoa.
   Ngôn ngữ gồm hai bộ phận hợp thành là từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng là sinh ngữ nên chịu biến đổi theo thời gian và sự giao lưu giữa các tộc người trong không gian. Vì vậy việc truy tìm nguồn gốc của một từ là không dễ dàng. Với ngôn ngữ nói chung đã vậy mà riêng trong quan hệ ngôn ngữ Hán-Việt lại càng phức tạp hơn. Đi theo hướng này, chúng ta gặp những từ như Thần Nông, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế cốc, Đế Chí… Không thể chối cãi được đó là những tên Việt. Nhưng  vì lý do nào những danh từ riêng đó tồn tại trong ngôn ngữ Trung Hoa là điều bí ẩn. Tham vọng tìm ra những từ thuần Việt thường vấp phải sức phản kháng rất lớn. Ít năm trước, có tác giả cho rằng một số địa danh vùng đất Phú Thọ như Kẻ, Mơ… là những từ gốc Việt. Nhưng giả thuyết vừa ra đời liền bị phản bác. Người ta đưa ra những cuốn sách vĩ đại như Từ Hải, Khang Hy tự điển, Tứ khố toàn thư… để chứng minh rằng “kẻ” cũng là từ gốc Hán, là những từ “cái”, “giới”, “giái” của Hán ngữ được người Việt muợn. Khi nhập tịch Việt Nam, nó được Việt hoá thành “kẻ”. Tương tự  như vậy, “mơ” cũng là con đẻ của “mai” tiếng Tàu! Một vài từ xem chừng có vẻ Việt nhất thì cũng “Trăm phần trăm Hán, đều Made in China!” Trong con mắt những học giả này, dân Việt chỉ là đám Hán lai, văn hoá Việt nghèo nàn, chỉ là sự học mót người Hán chưa đến đầu đến đũa! Bất cứ những gì cả Hán lẫn Việt cùng có thì chỉ là Việt học Hán! Đáng buồn là giới khoa bảng Việt chưa ai cãi nổi họ.
   Không đủ tài trí để tìm những từ thuần Việt, chúng tôi đi theo hướng khác:  tìm dấu vết ngữ pháp Việt trong Hán ngữ. Tới đây một câu hỏi nảy sinh: cái gì là đặc trưng nhất cho ngữ pháp tiếng Việt? Dựa vào luật “chính trước phụ sau” của nhà ngữ học người Pháp Léopold Cadiere với nội dung: “Trong một câu đơn, các từ ngữ nối tiếp nhau theo một trật tự  như thế nào mà mỗi từ đi sau làm rõ ý nghĩa của từ đi trước hay của một trong những từ đi trước », Giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra nhận định: «Nhìn chung, tiếng Việt rất nhất quán trong cách xử lý trật tự từ ngữ (chính trước, phụ sau, nhất là khi so với tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán, trong đó không thể có một nhận định tổng quát nào về trật tự từ ngữ.) Trong tiếng Việt, những từ ngữ Hán-Việt làm thành một trường hợp lệ ngoại nổi bật đến mức người không có học bao nhiêu cũng biết đó là một trật tự “ngược”, nếu không kể những trường hợp lệ ngoại như những tổ hợp [vị từ tình thái+ ngữ vị từ] như các kết cấu mở đầu bằng bất hay vô vốn được xử lý như mọi tổ hợp [vị từ+ bổ ngữ] khác (chính trước phụ sau). Tuy vậy cũng không hiếm những kết cấu sai ngữ pháp Hán nhưng đã trở thành vốn văn học dân gian như cách nhại tiếng kêu của con đa đa (gà gô) là Bất thực cốc Chu gia (không thèm ăn lúa nhà Chu) được gán cho Bá Di và Thúc Tề (lẽ ra phải là Bất thực Chu gia cốc mới đúng ngữ pháp tiếng Hán).”(44)
 
   Từ luật “chính trước phụ sau” nêu trên, soi vào những thư tịch Hán văn, ta dễ dàng bắt gặp cấu trúc ngữ pháp dạng Trung + danh từ  như “trung tâm” (trong lòng), “trung đình” (trong sân): Trung tâm rạng rạng, Trung tâm dao dao, Trung cấu chi ngôn (kinh Thi); thứ nhị, thứ tam (kinh Thư); bệ thăng thiên, thần thọ (thần cây) ở Lục độ tập kinh… Trong những kết cấu trên, đúng là trật tự chính trước phụ sau được tuân thủ. Rõ ràng đó không phải là cấu trúc cú pháp Hán mà là cấu trúc cú pháp Việt. Nếu chỉ có một vài trường hợp trong một cuốn sách nào đó thì là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng sự việc trở thành không bình thường khi phát hiện hàng loạt trường hợp tương tự trong nhiều thư tịch:
 
Kinh Thi:
  - Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm (Thỏ ta: trong rừng)
  - Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu (Chung phong: trong lòng áy náy)
  - Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)
  - Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy )
  - Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)
  - Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)
  - Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)
  - Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)
  - Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín )
     Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải Thi vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều này. Vì sao qua hàng nghìn năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những đại nho Hán tộc không sửa chữa, không lượm đi những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời Hán thời Ðường. Nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa: Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người Việt sang cách nói của người Hán.
 
Không chỉ ở Thi mà chúng tôi gặp trong kinh Thư :
1. Thiên Vũ Cống câu 31: Hàm tắc tam nhưỡng, thành phú trung bang. (thuế ruộng chỉ lập thành ở trong nước - tại chính nước của thiên tử mà thôi)
 
 2. Thiên Hồng Phạm câu 4:  Sơ nhất viết ngũ hành. Thứ nhị viết: kính dụng ngũ sự. Thứ tam viết: nông dụng bát chính. Thứ tứ viết: hiệp dụng ngũ kỷ. Thứ ngũ viết: kiến dụng hoàng cực. Thứ lục viết: nghệ dụng tam đức. Thứ thất viết: minh dụng kê nghi. Thứ bát viết: niệm dụng thứ trưng. Thứ cửu viết hướng dụng ngũ phúc.
 (Trù thứ nhất gọi là ngũ hành. Trù thứ hai gọi là kinh dùng năm việc. Trù thứ ba là, trù thứ tư là…)
 Đây là lần duy nhất trong kinh Thư có cấu trúc “thứ nhị, thứ tam” theo cách nói của người Việt. Ở các thiên sau được viết “nhất viết, nhị viết” theo cách nói của người Hán.
 
3. Thiên Tử Tài câu 6: hoàng thiên ký phó trung quốc dân, việt quyết cương thổ vu tiên vương. (vì rằng trời đã trao cho đấng tiên vương nhân dân bờ cõi đất đai trong nước)
 
4. Thiên Thiệu Cáo câu 14: Kỳ tự thời trung nghệ. Vương quyết hữu thành mệnh  (Có thể ở giữa nước cai trị nhân dân. Như thế nhà vua sẽ trọn vẹn được mệnh trời, nay được tốt đẹp cả.)
 
5. Thiên Lạc Cáo câu 23: kỳ tự thời trung nghệ, vạn bang hàm hưu  (nhà vua ở trung tâm cả nước trị dân, muôn nước nhỏ đều được tốt đẹp)
 
6. Thiên Vô Dật câu 11: Văn Vương thụ mệnh duy trung thân, quyết hưởng quốc ngũ thập niên (Vua Văn Vương chịu mệnh làm vua chư hầu suốt đời, cả thảy 50 năm)
 
Kinh Dịch (45):
1/  Khổng Tử có câu: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân” (Thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người trong nước như người thân của mình.) Trang 64.
2/ Đắc thượng vu trung hàng (vào trong hàng ngũ có nghĩa theo đúng đạo.) Trang 216.
3/  Tượng viết, phiên phiên bất phú, giai thất thực dã, bất giới dĩ phú, trung tâm nguyện dã (trong lòng đã muốn sẵn vậy) Trang 221.
4/ Tượng viết, trung hành độc phục (đi giữa bầy ác mà một mình theo đạo thiện nhân.) Trang 376
5/ Tượng viết, trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã (đi giữa bầy ác mà một mình vẫn theo đạo.) Trang 377
6/ Lục nhị, vô duy tuỵ, tại trung quỵ, trinh cát (con dâu con gái không trách nhiệm, lo việc trong nhà, tốt.) Trang 539.
7/ Tương việt, kỳ tử hoạ chi, trung tâm nguyện dã (nghe tiếng gáy mà hoạ ngay tại trong lòng muốn vậy) trang 825
8/ Trung tâm nghi giả, kỳ từ chi (trong lòng nghi ngờ, lời nói không chắc chắn) Trang 929
     Rất may mắn, trong cuộc truy tìm của mình, chúng tôi được sự trợ lực quý báu của học giả Lê Mạnh Thát:              
   “Ngoài kinh Thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”. Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ 12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của kinh Thi: (Mao thi chính nghĩa 15/2 tờ 7a12). 
Tâm hồ ái hỉ 
Hà bất vị hỉ 
Trung tâm tạng chi 
Hà nhật vong chi. 
 Ba lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”, “trung tâm thảm đát” và “trung tâm an nhân giả, thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”. Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa  tờ 9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn Vương thế tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1, Trịnh Huyền đã viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối với các danh từ và đại từ được tuân thủ. 
Thực vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi chính nghĩaLễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm “trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế kỷ thứ I -III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm “trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diễn (k.1-65) do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diễn ở Hậu Hán thư 58 hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung tâm chi sở hảo tại!” Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86) trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”. Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng 2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung tâm quí dịch”. 
Hà Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang: 
Trung tâm tạng chi 
Hà nhã vong chi 
để trả lời. Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan Nhạc về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi. 
Đến thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352 - 404), sau khi người bạn đạo của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất, nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6. 
Qua các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc: 
Huyên phong bạch vân thượng 
Quải nguyệt thanh sơn hạ 
Trung tâm dục hữu ngôn  
 Vị đắc vong ngôn giả. 
Như vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng Tử san định kinh Thi, ThưLễ trở về trước, đang còn được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm, nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay nhái theo thơ của kinh Thi, nên không cần kể ra ở đây.”
    Điều thú vị là hiện tượng cấu trúc ngữ pháp Việt tồn tại trong bản văn chữ Hán còn gặp trong 3 bản kinh Phật bằng chữ Hán tồn tại từ thế kỷ II, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, Tạp thí dụ kinh và Lục độ tập kinh. Theo học giả Lê Mạnh Thát, đó là những bản kinh do thiền sư Mâu tử và Khương Tăng Hội dịch từ những bản kinh tiếng Việt sang chữ Hán. Quá trình này như sau: Khương Tăng Hội mà trong nhiều thư tịch Trung Hoa viết là người Hồi Hồi (Pakistan) thì chính là con một người lái buôn Tây Trúc. Người này sang Giao Châu làm ăn, lấy vợ người Việt, đẻ ra Khương Tăng Hội. Hội thông thạo tiếng Việt, theo đạo Bụt rồi học chữ Hán và dịch kinh Phật ra Hán ngữ. Ban đầu do chưa thành thạo chữ Hán nên ông đã chuyển nguyên xi một số cú pháp Việt từ bản tiếng Việt sang bản chữ Hán. Cũng theo Lê Mạnh Thát:
  “Lục độ tập kinh hiện nay có cả thảy 91 truyện. Kiểm tra 91 truyện này ta thấy xuất hiện một hiện tượng ngôn ngữ khá bất bình thường, đó là những kết cấu ngôn ngữ học không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngược lại, những cấu trúc được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt:
      1.      Truyện 13 ĐTK (Địa Tạng kinh-HVT) 152 tờ 7c 13: “Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc,  trung cung chính điện thượng toạ, như tiền bất dị…”
      2.      Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5: “…Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vi lạc, trưởng ư trung cung…”  Tờ 9b27: “…lưỡng nhi đồ chi, trung tâm đảm cụ…”
      3.      Truyện 26 ĐTK 152 tờ 16b2: “… thủ thám tầm chi. tức hoạch đắc hĩ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi…”
      4.      Truyện 39 ĐTK 152 tờ 21b27: “…trung tâm hoan hỉ”
      5.      Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c12: “… Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ.”
      6.       Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b21: “…trung tâm chúng uế…”
      7.      truyện 44 ĐTK 152 tờ 25ầ; “… trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân.”
      8.      Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38b25: “ Thần sổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai trung đình, thiếp kim cung sự.”
      9.      Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã. ĐTK 152 tờ 40b5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ.”
     10.  Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc, dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên.” ĐTK 152 tờ 45a19: “ Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên.”
     11.  Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47b26: “… trung tâm gia yên.”
Trong những trường hợp nêu trên, rõ ràng ngữ pháp tiếng Hán Trung Quốc đã không được tuân thủ. Muốn nói "trong lòng" mà nói "trung tâm" theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là không thể chấp nhận. Như thế, những trường hợp "trung tâm" vừa dẫn phải được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp "thần thọ" để diễn tả ý niệm "thần cây" và "bệ thăng thiên" để diễn tả "bệ thăng thiên" cũng thế. Chúng đã được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp ngôn ngữ khá bất bình thường này chỉ cho ta điều gì? Làm sao lý giải sự có mặt của những cấu trúc ấy?”(46) Một câu hỏi thú vị.
 Phải chăng việc làm của Khương Tăng Hội vô hình trung lặp lại quá trình chữ Việt chuyển hóa thành chữ Hán hơn ngàn năm trước?
  Vết tích ngữ pháp Việt trong những thư tịch trên nói lên điều gì? Nó cho thấy, tới thế kỷ VI TCN, trong xã hội Trung Hoa còn tồn tại song song cả cách nói Việt lẫn cách nói Hán. Cách nói Việt không chỉ lưu hành trong tầng lớp bình dân sáng tác ca dao làm ra kinh Thi mà còn được trí thức quý tộc sử dụng. Trong bài viết trước (Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt-talawas.org) chúng tôi có nói đại ý trong khi san định kinh Thi, Khổng Tử có ý đồ ém đi những cấu trúc ngữ pháp Việt. Nay xét kỹ, thấy không phải vậy. Sự thực là Khổng Tử không chỉ dùng nhiều cấu trúc Việt để viết kinh mà còn sử dụng ngay cả trong câu nói thường: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân.” Hiện tượng này chứng tỏ, vào thời của ông, cả hai cách nói Hán Việt cùng tồn tại. Ta có thể ngờ rằng do mang trong mình gene Việt nên cách nói Việt đã sâu đậm trong máu huyết vì vậy khi viết, một cách vô thức Khổng Tử dùng cách nói Việt?
  Những điều trình bày ở trên là bằng chứng không thể bác bỏ về sự có mặt của tiếng Việt trong quá trình hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngay cái câu “Bất thực cốc Chu gia” biết đâu cũng là cách người Việt nhại tiếng kêu chim đa đa từ thời Xuân Thu vọng tới hôm nay?
   Đến đây, tất nảy sinh câu hỏi: Nếu sự có mặt của tiếng Việt trong ngôn ngữ Hán là có thật thì về định lượng, đóng góp đó bao nhiêu? Nhà ngôn ngữ học lịch sử phải trả lời câu hỏi này. Chúng tôi chỉ có thể đoán rằng: Người Lạc Việt là nhân tố lãnh đạo cộng đồng Bách Việt về xã hội và ngôn ngữ thì tiếng Việt phải là phần chủ thể tạo thành ngôn ngữ của cộng đồng dân cư mới. Làm cuộc phiêu lưu ngược thời gian trở về 4600 năm trước, ta sẽ thấy nhóm người Mông Cổ da sáng lọt thỏm trong biển dân đen bản địa. Đám quan quân du mục với tiếng nói nghèo nàn thật vất vả, khổ sở giữa rừng từ vựng quá đa dạng, quá phong phú của dân nông nghiệp lúa nước. Kẻ xâm lăng phải học tiếng nói, văn hoá bản địa. Người bản địa cũng học văn hoá, tiếng nói của kẻ xâm lăng… Cùng với thời gian, tất cả hoà trong một cộng đồng về máu huyết, văn hoá, tiếng nói. Cố nhiên, chủ thể ngôn ngữ của cộng đồng không ở nơi kẻ nắm quyền mà phải là của số đông có văn hoá cao. Quy luật tất yếu của lịch sử là thế. Kịch bản này được diễn lại vào thời nhà Thanh. Tộc Mãn thống trị Trung Hoa chỉ bảo lưu được bản sắc văn hoá duy nhất là cái đuôi sam. Sau vài trăm năm, triều Thanh đổ, đuôi sam bị cắt… tất cả đã trở thành Hán! Sau bốn ngàn năm trăm năm, với một đại Hán tộc có đến 1 tỷ người, khó ai hình dung nổi một cội nguồn máu huyết cũng như tiếng nói đã bắt đầu như vậy!
 Ðến thế kỷ XX, giới ngôn ngữ học lịch sử khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hơn trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước và vì thế bất cứ tiếng/chữ nào giống với tiếng/chữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!
   Sai lầm như vậy cũng dễ hiểu bởi khi đó còn chưa biết đích xác nguồn gốc của người Việt. Giới sử học còn bị chi phối bởi quan điểm của Aymonier cho người Việt là một nhánh của người Hán di cư từ cao nguyên Tây Tạng xuống. Giới ngôn ngữ học còn chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á.
    Chỉ đến hôm nay, nhờ những phát hiện về gốc gác người Việt, về văn hóa và ngôn ngữ Việt, chúng ta mới bắt đầu có cái nhìn khác đi. Sự thật lịch sử cho thấy: ngôn ngữ của cộng đồng Việt trên Hoa lục không biến mất mà cùng với con người chuyển hóa thành người Hán thì tiếng nói cũng thành ngôn ngữ Hán.
Trong khi đó, trên đất Việt, cùng với người Lạc Việt, ngôn ngữ Việt vẫn được bảo tồn. Cố nhiên, với thời gian, ngôn ngữ Việt cổ Môn-Khmer có sự chuyển hóa thành ngôn ngữ Việt-Mường nhưng trong đó nhiều yếu tố của ngôn ngữ xưa xẫn được duy trì. Khi so sánh với chữ Hán, các nhà phục nguyên học phát hiện ra trong tiếng Việt 70% từ Hán thì, vì những nguyên nhân kể trên, cho là Việt mượn của Hán mà không ngờ rằng, sự việc trái lại: đấy chính là cái vốn từ mà người Việt xưa góp vào để làm nên tiếng Hán, chữ Hán! G.s Vũ Thế Ngọc trong bài viết rất thuyết phục Ý nghĩa quốc hiệu Lạc Việt (Website VietNamgiapha 20/01/2005) cho biết, khi tra từ điển tiếng Hán cổ của Karlgren, ông gặp cả ba chữ Lạc (bộ Mã, bộ Truy, bộ Thủy) đều được đọc là lak (nay người Bắc Kinh đọc là Lo), chính là ký âm của từ "lạc" tiếng Việt. Tương tự vậy, “mơ” của Việt chuyển thành “mai” của Tàu. Bao tiếng khác cũng được chuyển hóa như vậy làm phong phú vốn từ vựng Trung Hoa.
    Khi viết những dòng này, không phải chúng tôi quên kiến thức cơ bản là luôn có sự vay mượn về ngôn ngữ giữa các tộc người. Nhưng đó là chuyện khác. Ở đây phải khẳng định, không phải là Việt mượn của Hán mà là người Việt đã góp vào cho ngôn ngữ Hán! Cái phần 70% từ và ngữ vẫn ngộ nhận là vay của Hán thì phần lớn trong đó chính là của Việt mà người Lạc Việt còn giữ được trên mảnh đất dung thân cuối cùng của Bách Việt.
  Bị người Hán đuổi tiếp, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Việt Nam góp phần xây dựng nước Văn Lang. Chính những người Việt trở lại mái nhà xưa này đã mang về những yếu tố ngôn ngữ từng để lại bên sông Hoàng Hà: cả từ vựng, cả những địa danh. Ðiều này cắt nghĩa vì sao bên ta có nhiều địa danh giống bên Tàu. Chính là do ông bà ta đặt cho vùng đất mình mới khai phá những cái tên thân thuộc phải bỏ lại ở phía Bắc. Ðó cũng là điều trả lời cho thắc mắc: vì sao có sự phiên âm thống nhất một số địa danh trên địa bàn rộng.
          Chúng ta được dạy rằng: Người Việt là đám Tàu lai bị người Tàu xua đuổi trôi dạt xuống, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Việt. Văn hóa Việt là thứ văn hóa Tàu dần dần được bản địa hóa!  Chúng ta cứ hồn nhiên tin thế cho tới 30 năm trước mới có một người Việt là học giả Kim Ðịnh dám nghi ngờ tín điều trên, đòi lại kinh Thi, kinh Dịch, kinh Thư... cho người Việt. Tiếp đó là nhiều học giả khác như  Gs Lê Văn Sửu với "Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương" và "Học thuyết âm dương ngũ hành", Gs Bùi Văn Nguyên "Kinh Dịch Phục Hy" rồi Nguyễn Tiến Lãng "Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của người Việt"... cùng chung ý hướng trên.
Từ ngôn ngữ cũng như sức sống mới nảy sinh do kết hợp Mông Việt, những trí thức Mông tộc cùng trí thức Miêu Việt tiến hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng Việt tộc cũng như Mông tộc để chế tác kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ, Khổng Tử nói: "Ngô thuật nhi bất tác." (ta chỉ ghi lại mà không trước tác). Ðó là lời trung thực, nói lên đúng thực chất những gì ngài đã làm. Trong Ngũ kinh làm nên cơ sở của văn hóa Trung Quốc thì Khổng Tử đã san định kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc và làm ra kinh Xuân Thu. Thử xem Việt tộc đóng góp được gì trong những kinh điển này?
 
 Kinh Thi (47):
 
Kinh Thi là tuyển tập những bài dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VI TCN trở về trước trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo Tư Mã Thiên viết trong Sử ký thì ban đầu có tới 3000 bài, Khổng Tử san định đã bỏ đi 9 phần 10, chỉ giữ lại có 311 bài. Ðấy là tác phẩm văn học cổ điển có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn và trí tuệ phương Ðông, quan trọng đến mức Khổng Tử nói bất học thi vô dĩ ngôn! (Không học kinh Thi biết gì mà nói). Thời nhà Tần nó cũng bị đốt nhưng sau đó được khôi phục và xếp vào Ngũ kinh.
 Hàng nghìn năm nay, kinh Thi mặc nhiên được coi như sản phẩm đặc hữu của Hán tộc, không có ai nghi ngờ hay bàn cãi. Vì vậy, ba chục năm trước, khi học giả Kim Ðịnh cho rằng kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc (VLTN tr. 125) đã gây nên sự phản ứng của không ít người. Dễ hiểu thôi, thay đổi một thói quen từng hằn vào cân não người ta hàng nghìn năm đâu phải là việc một sớm một chiều!   
  Ba nghìn bài thơ, rút lại còn 300, tồn tại ngót 3000 năm, qua lửa thiêu và qua nhuận sắc chú sớ của bao lớp Hán nho, Tống nho... cái còn lại đến với chúng ta hẳn đã thay đổi không ít.
    Ðiều dễ nhận ra là kinh Thi đã bị đánh tráo: những sáng tác dân gian sinh ra nơi ruộng lúa nương dâu bị biến thành sản phẩm cung đình, một thứ văn chương xu phụ chuyên ca tụng ông vua này ông vua khác cùng bà hậu phi nào đó! Chính ở đây, tầng lớp Hán nho đã ăn cắp tác quyền của dân gian trao cho vương triều. Ðiều này dễ thấy. Còn cách đánh tráo, ăn cắp tác quyền khác tinh vi hơn thì khó nhận ra. Khó về học thuật và càng khó hơn trong tâm lý: đứng trước nền văn hóa khổng lồ của người láng giềng phương bắc, chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé đi, đến mức chỉ còn là cậu học trò ngu ngơ trước ông thầy vĩ đại! Tâm lý ấy khiến chúng ta hèn đi, không dám nghĩ đến cái điều bị coi là hoang tưởng thậm chí phạm thượng: kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc.
  Ðể tìm hiểu điều này, ta phải xét từ cội nguồn: kinh Thi được hình thành như thế nào? Có lẽ là từ thời vua Vũ nhà Hạ (2205-1783 TCN), các nước chư hầu dâng cống phẩm cho thiên tử thì trong phương vật, có cả những câu ca của dân quê nơi thôn dã. Thiên tử xem những câu ca ấy để hiểu thuần phong mỹ tục trong thiên hạ, để đánh giá sự cai trị của vua chư hầu. Cái lễ cống tồn tại dài dài mãi sau này nhưng việc cống những câu ca nơi thôn cùng xóm vắng chỉ tồn tại đến thời nhà Chu (1134-247 TCN). Nhưng thử hỏi thiên hạ Trung Hoa thời đó là ai? Lịch sử cho thấy, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Trung Hoa thời đó là lê dân, là dân đen tức những người Tam Miêu. Một đặc điểm nổi bật của dân Miêu Việt là sống hồn nhiên vui vẻ, ưa ca múa, khá thoải mái trong chuyện luyến ái gái trai. Kinh Thư ghi nhận, khi vì bất bình mà người Miêu Việt nổi dậy, dẹp không được, vua Thuấn phải sai ông Quỳ dùng ca múa phủ dụ mới yên. Từ kinh nghiệm trên, các ông vua hiền thời cổ ở Trung Quốc đã phần nào dựa vào những lời ca cất lên nơi thôn cùng xóm vắng mà biết nguyện vọng của dân để kịp thời điều chỉnh chính sách của mình. Chính những lời ca dân dã ấy được thu thập lưu giữ trong tàng thư của nhà vua. Và từ những thư tịch trong cung vua nhà Chu, Khổng Tử (551- 479 TCN) đã đem ra san định thành kinh Thi.
   Không phải bỗng dưng mà ta thấy tinh thần nông nghiệp Việt tộc bàng bạc trong kinh Thi ngay từ bài đầu tiên và quan trọng nhất: Quan thư.
            Quan quan thư cưu
            Tại hà tri châu
             Yểu điệu thục nữ
             Quân tử hảo cầu.
Bài ca là hình ảnh một bãi nổi trên sông với những loài chim nước cặp đôi cùng người trai, người gái tình tự phản ánh cuộc sống hồn nhiên của dân cư nông nghiệp miền sông nước. Hảo cầu là từ đa nghĩa. Tản Ðà dịch là tốt đôi vợ chồng nhưng theo Kim Ðịnh, một bản Latinh lại dịch là giao cấu (copulary). Dịch như vậy mới phản ánh đúng cái thần câu ca: quan hệ tính giao tự nhiên như vậy chỉ có ở văn hóa phồn thực của Viêm Việt nông nghiệp. Dịch như Tản Ðà là dịch theo quan điểm thanh giáo mà Hán nho rồi Tống nho áp đặt để xuyên tạc kinh Thi.
     Một bài khác cũng mang cái phong vị trữ tình như vậy, bài Hán Quảng :
         Trên bờ sông Hán ai ơi,
          Có cô con gái khó ai mơ màng
          Mênh mông sông Hán sông Giang
           Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng.
Sông Hán là chi lưu của sông Dương Tử, miền đất châu Kinh, châu Dương, châu Hoài... địa bàn cư trú lâu đời của người Bách Việt, một bằng chứng cho thấy người Việt là chủ nhân những câu ca trên. Một bài khác Thảo trùng: người con gái lên núi hái rau, nhìn thấy châu chấu theo nhau bay nhảy liền mong tưởng đến chồng trở về: Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu chỉ, ngã tâm đắc di.
 Tản Ðà dịch: Bao giờ cho thấy mặt chàng,
                      Cho ta vui vẻ nở nang tấm lòng.
 Dịch vậy là quá khéo, bởi chữ cấu có nghĩa là giao hoan. Nở nang tấm lòng vừa có nghĩa vui mừng lại có nghĩa thai nghén sinh nở!
       Bài Dã hữu tử huân (con nai chết trên đồng) có câu:
       Có cô con gái xuân tình,
       Cậu giai tốt đẹp dỗ dành muốn ve
cũng là bằng chứng của lối sống phồn thực Viêm Việt. Cuộc sống phồn thực luyến ái tự nhiên là đặc điểm của văn hóa Việt tộc. Ta thấy điều này trong sinh hoạt hội mùa xuân: đến hội xuân, tất cả trai gái làng này đến hát đối với trai gái làng bên cạnh (là hai bộ lạc). Trai chưa vợ, gái chưa chồng xem mặt nhau rồi chọn lựa trong lúc hát hò. Tan đám hát, họ chia nhau từng đôi, tặng nhau kỷ vật rồi dẫn nhau vào những lùm cây, bãi cỏ giao hoan, gọi là dã hợp. Không ai chê bai, ngăn cản việc này. Những đứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn phối tự nhiên ấy là điềm may. Chỉ khi các thánh hiền phương Bắc xuất hiện mới coi là xướng ca vô loại, chê là dâm bôn, ra sức cấm đoán rồi vỗ ngực ca ngợi công việc ấy của mình là cải hóa phong tục của man di! Nếu trong cuộc đời thực, Hán nho, Tống nho tiếp tay cho vương triều phong kiến xóa bỏ văn hóa Việt tộc thì trên phương diện chữ nghĩa, họ cũng một mặt ăn cắp tác quyền những dân ca và ca dao Việt trao cho vua chúa, mặt khác chú giải Thi theo hướng có lợi cho vương triều, cổ xúy chủ nghĩa thanh giáo. Việc làm này của Hán nho là có ý thức. Tuy nhiên, cái việc vụng trộm ấy cũng không hoàn toàn vô tang mà đã để lại dấu vết. Không những không thể xóa hết tinh thần Viêm Việt bàng bạc trong khắp tập kinh mà ở nhiều bài còn lộ rõ dấu vết trong cách đặt câu, trong cú pháp như đã trình bày ở trên.
 
 Kinh Dịch
 
Kinh Dịch là cuốn sách đầu tiên, cổ nhất của văn hóa phương Ðông. Trải hàng nghìn năm tìm cách ghi chép tư tưởng của mình, có lẽ sau lối thắt nút dây làm ký hiệu cùng chữ hình ngọn lửa, chữ hình nòng nọc, con người đã tìm ra cách dùng những vạch đứt và vạch liền để ghi lại nhận thức của mình về nhân sinh và vũ trụ. Có lẽ đó là cuốn sách đơn giản nhất trong lịch sử loài người vì toàn bộ cuốn sách chỉ gồm hai ký hiệu nên là cuốn sách dễ nhất: chữ dịch cũng có nghĩa là dị (dễ dàng). Nhưng rồi hậu thế nhận ra, đó cũng là một trong những cuốn sách khó đọc nhất của nhân loại, được viết bằng hệ ký hiệu nhị phân, theo tư tưởng toán học hiện đại nhất...
    Về nguồn gốc của kinh Dịch, Hệ từ truyện viết: "Ðồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo." (Hà xuất Ðồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi.) Hà đồ, Lạc thư chính là nền tảng của vũ trụ quan phương Ðông. Từ Ðồ, Thư các bậc thánh nhân làm ra Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái rồi làm ra Dịch.
   Nhưng tới đời Hán, không biết căn cứ vào đâu, Khổng An Quốc viết: "Ðời vua Phục Hy có con long mã xuất hiện trên sông Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch ra bát quái, gọi là Hà đồ. Ðời vua Vũ có con thần quy xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua nhân đó mà xếp đặt thứ tự làm thành chín loại, gọi là Lạc thư"(48)
   Sau Khổng An Quốc, nguồn gốc của kinh Dịch bị cuốn vào rừng rậm những thuyết dị đoan huyền bí:
   Sách Tống thư phù thụy chi kể: "Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thủy, thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói: Ta là Hà tinh đây! Nói xong trao Hà đồ cho vua Vũ, bàn việc trị thủy xong, bèn lui xuống vực sâu"(49)  Sách Vĩ thư phần Xuân thu, thiên Nguyên mệnh bào viết: "Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà, Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện."
   Sách Thượng thư trung hậu nói:  Vua Thuấn đến Hạ tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện.
    Sách Luận ngữ sấm ngôn bảo: Khi cả vua Nghiêu và vua Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con long mã ngậm tấm đồ xuất hiện.
    Sách Hà đồ, thiên Ðĩnh tá phụ cho rằng không phải Nghiêu Thuấn mà là Hoàng Đế: "Thiên lão (một ông quan) tâu với Hoàng Đế sông Hà có Long đồ, sông Lạc có Quy thư. Nhà vua nghe lời, ra chơi sông Quỳ thủy thấy một con cá lớn xuất hiện. Khi cá lặn thì tấm đồ hiện ra." (50)
    Ðến Sơn hải kinh của Quách Phác thì sự việc được đẩy tới cao trào. Sách này cho rằng cả ba đời Phục Hy, Hoàng Đế và Thần Nông (Liệt Sơn) đều có Hà đồ xuất hiện. Ðiều này dẫn đến việc Lý Quá trong sách Tây Khê dịch thuyết viết rằng, cứ mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện, chứ không riêng đời Phục Hy: "Căn cứ theo Sơn hải kinh, ta thấy Phục Hy được Hà đồ thì người nhà Hạ nhân đó nói Thần Nông; Hoàng Đế được Hà đồ thì người Chu nhân đó nói Quy tàng (Quy Tàng là họ của Hoàng đế); Thần Nông được Hà đồ thì người Chu nhân đó nói Chu dịch. Như vậy Hà đồ không phải đặc xuất thời Phục Hy." Bởi thế nên Phục Hy, Hoàng Đế, Thần Nông thị đều được Hà đồ mà làm Dịch."(51) Quả là đa thư đã dẫn tới loạn mục! Thật rối như canh hẹ, chẳng ai biết đâu mà lần!
 Nhìn vào bức tranh loạn thuyết trên, ta không khỏi tức cười cho mấy vị Hán nho. Khổng Tử chỉ viết: "Hà xuất Ðồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi." Vậy mà cháu ông, Khổng An Quốc bịa ra chuyện thần quy, long mã rồi kéo cả Ðại Vũ vào chia việc với Phục Hy. Phục Hy làm ra bát quái - tức 8 quẻ rồi dừng lại ở đó. Phải hơn hai nghìn năm sau (từ 4480 đến 2205) Hạ Vũ mới biết cách làm một việc đơn giản chồng 8 quẻ lên nhau thành 64 quẻ Dịch!
    Không phải không thấy An Quốc vô sở cứ, có điều các Hán nho khác cứ cố tin cách lý giải có lợi ấy mà theo đà tô vẽ mãi. Nhưng con ễnh ương không bao giờ trở thành con bò được! Như Cao Biền dậy non, các phù thủy Hán nho không điều hành nổi đội quân ma nên chúng làm loạn, đến mức quá hoang đường không ai tin nổi! Ðiều này tất dẫn tới cuộc tranh cãi không thôi hàng ngàn năm.
    Du Diễm đời Tống căn cứ vào lời của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng, đã nói: "Phục Hy bắt chước theo Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái. Thế mà Khổng An Quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà đồ, còn Ðại Vũ bày Cửu trù phải bắt chước theo Lạc thư. Vì sao họ Khổng chia làm hai như vậy? Sách Cửu kinh biện nghi của họ Trần xét theo Ngọc Xuyên văn tập có nói: "Nếu bảo Phục Hy hoạch quái, gốc ở Hà đồ thì Khổng Tử chỉ cần nói Ðồ xuất hiện ở sông Hà, đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi, hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Ðã nói: bắt chước theo Ðồ, Thư để làm Dịch thì như thế Ðồ thư đều phải có từ thời Phục Hy, chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo: Thời Phục Hy có con long mã mang Ðồ xuất hiện ở sông Hà, nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái, gọi là Hà đồ, và thời Ðại Vũ có con thần quy mang Thư xuất hiện ở sông Lạc, nhà vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặc điểm số để lập thành Cửu trù, gọi là Lạc thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?" (Du Diễm sđd q.3 tr.11). Ông còn nói: "Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những nét chấm của Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, chứ chẳng phải Ðồ Thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Hệ từ nói: Ngửa trông tượng ở trên trời, cúi xem phép ở dưới đất, quan sát hình nét ở chim muông cùng với sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở mình, xa thì lấy ở vật, do đó mới vạch Bát quái; vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ và Lạc thư thôi sao?" (Du Diễm sđd tr 11)
   Tới đời Nguyên, Tiền Nghĩa Phương cũng đả kích Hán nho. Ông chê cả Chu Hy vì họ Chu đã nghe theo bọn Khổng An Quốc, Lưu Hâm đời Hán: "Hiền tài như Chu tử mà cũng không thoát khỏi lời nói quanh co bất minh, cuối cùng cũng chẳng thông hiểu vấn đề" (Tiền Nghĩa Phương: Châu Dịch đồ thuyết q thượng tr 19). Ông còn nói thêm: "Ðức Khổng Tử nói: Bào hy ngửa trông cúi xét, để vạch Bát quái, thế mà An Quốc dám bảo Bào Hy bắt chước Hà đồ để vạch Bát quái! Lưu Hâm tin thuyết của An Quốc nên nối gót lý luận. Thực ra An Quốc lầm ở trước, Lưu Hâm lầm ở sau; hậu thế tin theo, ngàn thu nhất luật! An Quốc chính là người có tội đối với Dịch!" (Khổng An Quốc thành Dịch chi tội nhân!) (Sđd tr 11)
     Như vậy là đã rõ, chính các học giả Trung Hoa đời Tống đời Nguyên đã bác tà thuyết của Hán nho để trả lại tác quyền của Phục Hy với kinh Dịch.
 
Tại sao Hán nho lại tự mua dây trói mình như thế? Khổng Tử nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Ông nói vậy cũng như từng nói ngô thuật nhi bất tác là ông vô tư chính nhân quân tử. Nhưng cháu chắt ông lúc này nhiễm nặng tư tưởng đại Hán tộc bỗng nhận ra: nếu Phục Hy làm ra Dịch thì chẳng phải Dịch là sản phẩm của người Bách Việt, người Tam Miêu sao? Và với vai trò của con cháu thánh nhân lại nắm giữ cổ thư, ông ta đã bịa ra chuyện long mã, thần quy rồi đặt cái việc trùng quái vào tay Hạ Vũ để chia phần. Rất có thể đây nằm trong ý đồ gắn công làm ra Dịch với Hán tộc!
 
 Sách sử cũng cho biết, Phục Hy làm dịch là nhờ ở óc quan sát, từ những hiện tượng trong tự nhiên của trời đất của chim muông... đã phát minh ra tám quẻ rồi chồng lên thành 64 quả kép. Ngoài công việc góp phần vào văn minh cho Ðông Á, Bát quái cùng các Trùng quái còn bước sang nhiều lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội... Hệ từ truyện ghi: "Ngài thắt dây lại mà làm ra cái vó cái lưới để đi săn, đánh cá, đó là ngài đã lấy tượng ở quẻ Ly." Rồi "Họ Bào Hy mất. Họ Thần Nông lên thay, đẽo gỗ làm lưỡi cày, đem cái lợi về sự cày bừa dạy cho thiên hạ; đó là ngài lấy tượng của quẻ Ích." Họ Thần Nông lại còn dạy dân họp chợ, giao thương: "Mặt trời đứng bóng thì họp chợ, đưa dân trong thiên hạ đến, tụ góp hàng hóa của thiên hạ lại, giao dịch xong rồi trở về, ai cũng được như ý; đó là ngài lấy tượng ở quẻ Phệ hạp."
    Hai nghìn năm trăm năm nay người ta vẫn tin thế nhưng chúng tôi xin được phép nghi ngờ!
   Phải chăng chính Phục Hy là người suy ngẫm từ tượng quẻ Ly rồi làm ra tấm lưới đầu tiên? Hoàn toàn không phải vậy! Làm ra tấm lưới đầu tiên phải là người đánh cá. Tát cá ở ao đầm, dùng gậy đập chết cá ở chỗ suối cạn hay dùng mồi câu... là công việc từ rất xưa của người tiền sử. Tới một lúc, người đánh cá tình cờ nhìn thấy con cá bị dắt lại trong đám rễ cây. Theo bản năng, người đó vui mừng tóm lấy tặng vật trời cho. Nhưng rồi khi tĩnh trí lại, anh ta tự hỏi tại sao con cá lại bị dắt ở chỗ đó mà không ở chỗ khác? Tới một lúc, ánh sáng trí tuệ bừng lên trong đầu: nếu mình dùng những sợi dây như rễ cây kia kết lại với nhau tạo thành một màng "rễ cây" đem chắn ngang dòng nước? Ðúng là thế: văn hóa kết thừng xuất hiện, lưới đánh cá đã được phát minh như vậy, và hẳn là có trước Bát quái nhiều! Cũng có thể là thế này: thoạt kỳ thủy con người kiếm ăn bằng săn bắt hái lượm. Một hôm kia trong rừng, anh ta gặp con thú bị dắt lại trong đám bùng những dây leo gai góc. Cố nhiên anh ta bắt lấy con thú nhưng rồi từ đó anh ta tìm được cách kết những sợi dây lại thành tấm lưới. Lưới săn thú được chuyển xuống nước... Tấm lưới được làm ra như thế, hẳn trước Phục Hy nhiều! Và chắc rằng chiếc cày cũng xuất hiện như vậy: người trồng lúa nước nhận ra, nếu đất được xới lên rồi cấy trồng thì mùa sau lúa sẽ tốt hơn. Bắt đầu đất được xới bằng những que gỗ. Que gỗ chóng mòn và không thể xới được ở những nơi đất cứng. Từ đấy mà làm ra những chiếc cuốc bằng đá. Rồi một hôm họ xúm nhau kéo một vật cứng và nhọn trên đất. Vô tình, trên con đường vật đó đi qua  một luống đất được cày lên. Tia sáng bừng lên trong những mái đầu thông thái: nếu làm cho vệt kéo đó sát liền nhau thì cả thửa ruộng được xới lên, nhanh hơn từng nhát cuốc nhiều! Và con người nghĩ ra cái dụng cụ dùng người kéo để xới đất... Chiếc cày ra đời! Có thể Phục Hy hay Thần Nông vốn là người đánh cá hay cuốc đất đã làm ra tấm lưới, chiếc cày. Nhưng có điều chắc là các vị không phải người đầu tiên làm ra chiếc cày tấm lưới:  hàng vạn năm trước đó, tấm lưới đã xuất hiện trên con đường thiên di kiếm sống của những đoàn người hái lượm săn bắt lang thang trong rừng già châu Phi rồi Ðông Nam Á. Và ít nhất 5000 năm trước thời Phục Hy, con người đã thuần hóa được cây lúa và làm ra chiếc cày... Có một thời, các học trò của cụ Cao Xuân Huy trong lớp Hán học chuyền tay nhau đọc cuốn sách hiếm của Sử Thiếu Vi trong đó nói: Thần Nông nếm lá cây, một ngày chết đi sống lại đến năm lần rồi tìm ra thuốc chữa bệnh bằng cây cỏ. Hiên Viên do "Kiến chuyển bồng nhi chế thừa xa" có nghĩa là nhìn cỏ bồng xoay theo gió mà chế ra xe. Toại Nhân thì dùi cây tìm ra lửa. Ðấy là cách nhìn khoa học, khách quan về quá trình sáng tạo vật dụng của người xưa. Rõ ràng là, không thể chỉ từ suy ngẫm về tượng quẻ Ly quẻ Ích mà làm ra lưới ra cày! Ngược lại, phải từ thực tế quan sát việc kết lưới đẽo cày và hàng trăm công việc khác, người tiền sử mới đúc kết ra Ðồ, Thư, Bát quái! Marx nói chí lý: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đạt đến trực quan sinh động ở mức cao hơn! Nói từ quẻ Ly quẻ Ích mà nghĩ ra tấm lưới chiếc cày là Khổng Tử theo lối tư duy lộn ngược, đã làm cái việc mà người ta gọi là đặt cái cày trước con trâu! Trên thực tế đã diễn ra tiến trình ngược lại: từ quan sát thiên nhiên và con người với việc cấy cày, đánh cá, trí tuệ tập thể của dân gian làm ra Ðồ, Thư. Thánh nhân tiếp thu trí tuệ dân gian khái quát hóa thành Bát quái, Trùng quái để đưa tư duy lên mức cao hơn: khám phá vũ trụ và con người. Dịch không thể giúp làm cày, làm lưới mà giúp con người biết thiên, địa, nhân để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
    Như vậy, không phải Phục Hy là người trực tiếp làm ra Dịch, đúng như Khổng Tử viết: "Ðồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo." Ðúng là thánh nhân bắt chước theo. Nhưng bắt chước cái gì đây? Như ta thấy, hoàn toàn không phải bức Ðồ trời cho trên mình long mã, Thư trên mai rùa thần mà là bắt chước những Ðồ, Thư từng tồn tại trong dân gian bên bờ sông Hoàng Hà và Lạc Thủy. Có thể hàng ngàn năm trước, những tư tưởng về âm dương, ngũ hành đã xuất hiện trong cộng đồng Bách Việt nông nghiệp rồi dân gian đúc kết thành Ðồ, Thư... Tài năng và công lao của Phục Hy là việc ông phát hiện ra Ðồ, Thư của dân gian rồi chuyển hóa nâng cao thành Bát quái, Trùng quái... chúng tôi chắc rằng sự thật đã diễn ra như vậy!
    Tới đây một câu hỏi nảy sinh: Vì sao Khổng Tử lại tước bỏ đóng góp của dân gian rồi quy công cho Phục Hy? Ðiều này không lạ vì chính người cũng từng quy cho Hoàng Đế những công lao mà đến thánh thần cũng không làm nổi! Ðấy chẳng những là thói quen công quy vu trưởng của người xưa nói chung mà trong trường hợp này còn có lý do riêng. Nếu công bằng ghi công cho dân gian thì cũng có nghĩa là ghi công cho Viêm Việt, cũng tức là loại Hán tộc khỏi vũ đài văn hóa! Bởi lẽ thời Phục Hy, dân bên sông Hà sông Lạc là người Bách Việt còn người Hán thì chưa có. Dù có là thánh nhân nhưng Khổng Tử cũng không chấp nhận cái công lớn ấy lại thuộc về lê dân, về Di, Ðịch! Một lối thoát danh dự: quy công cho Phục Hy vì lúc này ông vua Viêm Việt đã biến thành vua của Hán tộc! Ðiều đó không phải không có lý: 2000 năm sau trận Trác Lộc, con cháu của Hoàng Đế đã hòa huyết tới mức hòa đồng với chắt chít của Phục Hy nên chẳng còn phân biệt đâu là Hán đâu là Việt mà tất cả cùng là hậu duệ của cụ viễn tổ Phục Hy. Khổng Tử nhận kế thừa di sản của họ Bào Hy cũng là hợp pháp!
     Kinh điển ghi Hà xuất đồ, Lạc xuất thư và tuyệt nhiên không phải của trời cho trên thân long mã hay thần quy. Ðồ và Thư chính là sản phẩm của trí tuệ Bách Việt nông nghiệp, của những người rời bỏ cuộc sống hái lượm du cư để định cư bên thửa ruộng của mình. Khi cắm cây lúa xuống, họ phải trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng... Từ đấy những quy luật vận hành của thiên nhiên được phát hiện và lịch pháp ra đời. Tới một lúc từ trực quan sinh động, tư duy trừu tượng nảy sinh và Ðồ, Thư ra đời như cuốn sách đầu tiên ghi lại những khái quát về nhân sinh và vũ trụ. Có thể đoán chừng thế này: tạo ra Ðồ, Thư là công của dân gian. Khái quát thành Bát quái, Trùng quái là cống hiến siêu việt của những bậc thánh. Thánh ở đây không có nghĩa thần thánh mà là những người có thiên tài kiệt xuất. Người đó hẳn phải là con người cụ thể nào đó nhưng được truyền thuyết hóa thành họ Bào Hy. Sau Nhân hoàng thì Bào Hy là dòng vua thứ hai của người Bách Việt.
   Kinh điển cũng ghi rằng, Phục Hy làm ra Bát quái, Trùng quái. Ðó là một cuốn sách quá đơn giản chỉ gồm hai ký tự. Cuốn sách đơn giản đó tàng chứa hàm lượng trí tuệ vô cùng lớn lao. Nhưng đáng tiếc, sự giải mã nó quá khó đến mức trở nên gần như không thể hiểu với đại bộ phận trí thức. Phải hơn 3000 năm, nhờ trí tuệ cùng lao động của nhiều bậc thánh nhân như Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử chúng ta mới có được cuốn Dịch hôm nay!
   Người đầu tiên đặt vấn đề kinh Dịch là của người Việt một cách hệ thống và công khai là giáo sư Lương Kim Ðịnh trong bộ Triết lý An vi của ông xuất bản những năm 70 thế kỷ trước. Tiếp đó là nhiều học giả khác như  Gs Lê Văn Sửu với "Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương" và "Học thuyết âm dương ngũ hành", Gs Bùi Văn Nguyên "Kinh Dịch Phục Hy" rồi Nguyễn Tiến Lãng "Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của người Việt"   Thực tế lịch sử này từ lâu bị khuất lấp, và Ðoàn Nam Sinh trong công trình khảo cứu về thời Ðông Sơn cho rằng người Việt cổ đã khắc hình Hà đồ trên mặt trống đồng:
   "Hà đồ thời Tống là sự sắp xếp các "số" từ 1 đến 9 theo các phương vị nhất định, trong đó "số" 5 được phân bố hai vị trí và "số" 1 (vòng) có 6 vị trí. Tất cả các chi tiết về các "số" ấy thể hiện đầy đủ trên mặt trống Ngọc Lũ 1.
   Hình Hà đồ có 15 vị trí, 5 ở trung tâm, 3 ở phía trên, 3 ở phía dưới của hướng ngang, 2 ở phía phải và 2 ở phía trái của hướng dọc.
   So với các phù điêu hay nhóm phù điêu trên mặt trống thì có 11 vị trí đúng hướng, 9 vị trí vừa đúng hướng vừa đúng sơ đồ phân bố của Hà đồ thời Tống. Còn lại các vị trí 6 và 7 vòng ("tượng" của số 6 và 7) xoay đi một góc vuông. Tượng số 8 và 9 trên mặt trống được thấy ở trục 1&2- ngược hẳn hình đồ 1, chúng tôi cho rằng người xưa xoay đi một góc vuông ngược chiều kim đồng hồ, tức là chiều của đàn chim bay, người và thú đi. Toàn bộ các chi tiết đều linh động ấy đã nói lên tính không dừng của dịch lý.
   Các "tượng" số 1, 2, 6, 7, 8, 9 đều "đọc" được trên vành phù điêu trong, tức vành phù điêu thứ nhất.

(Hình của Đoàn Nam Sinh)
 
 
 
 

 
(Hình của Đoàn Nam Sinh)
 
Các "tượng" số có phảng phất sự trung gian giữa Hà đồ và Lạc thư ở các chuyển vị 6, 7, 8, 9 nhưng phân biệt âm dương rõ ràng hơn các đồ khác, cho thấy các tổng 4+6, 7+3, 8+2, 9+1 và 5+5 dễ dàng. Hình "Hà đồ" trên trống Ngọc Lũ I cho thấy các tổng bằng 15 rất giống với cách định vị Lạc thư.
  Hình đồ 2, sắp xếp theo trống Ngọc Lũ I, thì "tượng" số 1, 2 ở trong, "tượng số 3, 4 ở ngoài có vẻ hợp với tự nhiên hơn. Song 6, 7, 8, 9 cũng ở trong mà 3, 4, 5 ở ngoài lại không giống với lề thói tư duy logic. Trong khi đó, theo Hà đồ Tống thì hai hàng 5 ở trong mà 1, 2 ở ngoài cũng hơi trái với tuần tự của dãy số (?)
   Qua "Hà đồ" trên trống Ngọc Lũ này, Dịch học sẽ có cơ sở giải thích tại sao Hà đồ phân bố trên hình tròn (tượng trời) còn Lạc thư phân bố trên hình vuông (tượng đất). Ðó là lời giải thích thỏa đáng câu hỏi từ bao đời nay.
    Hơn nữa, "Hà đồ" trên mặt trống hẳn đã giúp tiền nhân tính toán phát triển nghề nông, hái thuốc, chữa bệnh, vượt sông biển, phát triển lịch pháp, thiên văn, binh pháp... để đạt tới đỉnh cao tri thức lúc bấy giờ."(52)
    Có một điều canh cánh bên lòng là chúng ta vẫn nghĩ, với hoa văn trên trống phong phú và tinh xảo đến vậy hẳn ông bà ta phải ký thác trong đó những gì rất quan trọng, trong đó không thể thiếu cái quan trọng nhất của trí tuệ Việt là Hà đồ, Bát quái. Phát hiện của Ðoàn Nam Sinh là mới mẻ, đáng trân trọng, chúng ta cần bỏ tâm sức nghiên cứu sâu thêm.
 
Cũng về vấn đề này, các nhà phong thủy Việt Nam có những đề xuất đáng chú ý:
   Trong các bản văn kinh Dịch trước thời Hán không có đồ hình Hậu thiên bát quái và Tiên thiên bát quái, kể cả đồ hình Hà Lạc. Dấu ấn của những đồ hình này chỉ được nhắc tới một cách mơ hồ trong Hệ từ: "Hà xuất đồ, lạc xuất thư; thánh nhân tắc chi". Từ thời Tây Hán nó được Khổng An Quốc, Kinh Phòng nhắc tới. Cho đến đời Tống, các đồ hình này mới được các Ðạo gia công bố mà chính họ cũng thừa nhận truyền thuyết có từ đời Hán. Vì tính mơ hồ của lý thuyết nên nhiều người bỏ công giải thích. Nhưng các sách như Sơn Hải kinh, Thủy Kinh chú, Tinh lịch khảo nguyên... giải thích đều chưa thỏa đáng nên đến nay các nhà nghiên cứu vẫn lúng túng.
       Trong cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng: "Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn/Khôn và liên hệ với Hà đồ chính là nguyên lý của vũ trụ quan phương Ðông: 4 quái chính Khảm, Chấn, Ly, Ðoài hoàn toàn nằm đúng về hành và phương vị cũng như độ số trên Hà đồ. Lạc thư không thể hiện điều này. Bản chất của Hà đồ là độ số thể hiện sự vận động có quy luật tương hợp của ngũ tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) với Âm, Dương (mặt Trời, mặt Trăng). Bởi vậy, sự phi tinh trong phong thủy chính là sự tính toán hiệu ứng của các sao gần gũi với Trái Ðất trong sự vận động thể hiện độ số của Hà đồ. Còn Lạc thư chính là biểu thị sự cô đọng của Lạc thư cửu tinh đồ. Vị trí các sao trong Lạc thư Cửu tinh đồ ổn định trên bầu trời. Vì vậy không thể lấy độ số ổn định để tính phi cung trong phong thủy vốn là sự vận động của ngũ tinh.
   Từ cơ sở Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà đồ tạo ra khả năng phục hồi và lý giải tất cả các trường hợp bí ẩn của văn hóa Ðông phương liên hệ tới thuyết Âm dương ngũ hành và khả năng không giới hạn cho việc phát triển một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Ngược lại, Hậu thiên bát quái liên hệ với Lạc thư trong cổ thư chữ Hán không nói lên điều gì, ngoài sự giải thích mơ hồ như đã nói trên. Không có cơ sở nào khẳng định sự phi cung trên Lạc thư là đúng, ngoại trừ việc nó vẫn đang được ứng dụng hàng ngàn năm nay mà người ta chẳng hiểu làm sao lại ứng dụng như vậy. Do không có tính kế thừa cùng những sai lệch có tính nguyên lý rất căn bản nên có cơ sở khẳng định âm dương ngũ hành cùng kinh Dịch không thể là sản phẩm của Hoa Hạ. Và thật kỳ lạ, nguyên lý căn bản của học thuật phương Ðông này đã được ghi nhận trong một di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng của Lạc Việt là bức tranh Ngũ hổ phường Hàng Trống Hà Nội với dòng chữ "pháp đại uy nỗ." Chính nền văn hóa Lạc Việt với những di sản phi vật thể sẽ là chiếc chìa khóa mở bức màn bí ẩn của văn hóa phương Ðông." (53)
    Như vậy, nếu như dân gian Việt tộc làm ra Ðồ, Thư rồi Bát quái, Trùng quái thì trí thức Hán Việt góp công lớn giải mã Dịch khiến nó trở thành cuốn sách hữu dụng trong cuộc sống.
    Cũng như kinh Thi, kinh Dịch là sản phẩm của cuộc hôn phối tốt đẹp giữa hai nền văn hóa Việt Hán, trong đó Việt tộc mở ra những trang đầu tiên và quan trọng nhất. Vì vậy, người Việt chúng ta, kẻ nối dõi cuối cùng của dòng Bách Việt xứng đáng nhận về mình quyền kế thừa tổ tiên xưa.
 
   Kinh Thư
 
Ðây là tập sách do Khổng Tử san định khi đọc Tam Phần và Ngũ Ðiển trong văn khố nhà Chu. Ông bỏ đi sách Tam Phần viết về các đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân, chỉ giữ lại từ đời Ðường Ngu trở xuống. "Ngài bớt những chỗ phiến loạn đi, nêu những điều đại cương để làm khuôn mẫu cho đời sau."
    Tuy là cuốn sách cho ta biết chút ít sử liệu thời thượng cổ nhưng Thượng Thư không phải là cuốn sử mà là cuốn sách đạo đức, dạy cách làm vua làm quan. Ở đây Khổng Tử mượn những nhân vật và sự kiện lịch sử để chuyển tải ý tưởng của mình nhằm chống đỡ cho bức tường đạo đức của thời hoàng kim đã xiêu lệch.
     Ngày nay khi đọc Thư, ta có lý do để ngờ rằng, Khổng Tử bỏ đi Tam Phần không chỉ vì sử liệu thời đó không xác thực, phong tục chưa thuần hậu mà còn vì nguyên nhân khác: đấy là thời của Miêu Việt và của cuộc chiến khốc liệt chiếm đất của người Việt. Không thể đặt những sự kiện như vậy lên đầu cuốn sách giáo khoa mang ý nghĩa lịch sử văn hóa hàng đầu của Hán tộc, nhất là sau đó chép những chuyện rợ Tam Miêu nổi loạn, đày rợ Tam Miêu đi xa.
   Nhưng do tính độc lập khách quan của sử liệu, ta vẫn thấy trong đó hiện lên tinh thần Việt tộc:
  "Bèn sai ông Hy và ông Hòa kính theo định luật của trời, xem xét độ số mặt Trời, mặt Trăng, các ngôi sao và truyền bá rất kính cẩn trong dân gian biết những thời hậu cấy gặt sớm, muộn thế nào." (54) Việc sai Hy, Hòa làm lịch rồi quan sát thời tiết để cày cấy chứng tỏ đây là xã hội nông nghiệp. Thiên hạ lúc này là thiên hạ Miêu Việt. Theo truyền thuyết, Hoàng Đế lấy nước của họ Thần Nông, truyền được 7 đời đến vua Nghiêu trị vì năm 2679 TCN. Tuy người Hán thống trị nhưng xã hội lúc này vẫn sâu đậm tính chất Việt.
   Kinh Thư cũng cho thấy cuộc đấu tranh không kém phần gay gắt của dân Tam Miêu chống lại kẻ thống trị: "Cấm cố rợ Tam Miêu ra đất Tam Nguy."(Nghiêu điển, câu12).  Câu 21 trong thiên Ðại Vũ mô là bức tranh sinh động mô tả xã hội Trung Hoa trong buổi đầu cuộc hôn phối Hán Việt: "Trong 3 tuần, rợ Hữu Miêu vẫn còn phản nghịch. Ông Ích bàn với vua Vũ rằng: chỉ có đức trạch cảm động đến trời dù xa cũng tới. Ai hay tự mãn thì tổn thương; khiêm tốn thì được ích lợi, ấy là đạo trời. Xưa vua Thuấn ở núi Lịch Sơn, khi ra ngoài đồng ruộng, ngày thường kêu khóc với trời vì chưa được lòng cha mẹ. Tự mình nhận lấy tội lỗi, phụng sự ông Cổ Tẩu rất cung kính sợ hãi, ông Cổ Tẩu cũng nguôi lòng. Bụng thành kính cảm thông cả đến thần minh, huống chi rợ Hữu Miêu. Vua Vũ nghe lời nói phải, lạy rồi nói rằng: Phải lắm! Rồi đem quân về, chấn chỉnh quân lữ. Vua bèn ban các văn hóa và đức giáo khắp mọi nơi. Sai múa cái mộc và quạt lông ở hai bên thềm trước sân rồng. Bảy tuần sau, rợ Hữu Miêu xin đến qui phục."
   Cố nhiên, tranh chấp Miêu-Hán là tranh chấp kinh tế, chủng tộc... nhưng gay gắt hơn cả là tranh chấp văn hóa. Dù đày ra vùng hoang vu, dù dùng vũ lực cũng không dập tắt được sự đối kháng. Sách lược cuối cùng là dùng nhạc, dùng văn: Không khuất phục trước sức mạnh đàn áp nhưng biết nghe lẽ phải, biết sống trong hòa hiếu. Ðấy là bản sắc văn hóa Việt. 
   Có thể nói cả kinh Thư là tinh thần nhân bản của Viêm Việt. Tinh thần này thể hiện trong đức độ, trong công tích của những thánh nhân như Nghiêu:
  “Xét đời xưa, vua Ðế Nghiêu đáng khen là phóng huân, nghĩa là công nghiệp rất to tát. Nói về đức tính thì cung kính thông minh, văn chương rõ rệt, ý tứ sâu xa, tự nhiên mà không miễn cưỡng. Lại hay kính cẩn khiêm nhường..." (Nghiêu điển, câu 1)
  “Hay tỏ đức tốt để thân với người trong họ chín đời. Các người trong họ chín đời hòa mục rồi, ngài tỏ đức tốt cho cả dân trăm họ. Trăm họ sáng tỏ rồi, ngài hòa hợp cả đến muôn nước chư hầu, bấy giờ nhân dân trong thiên hạ đều hòa vui, bỏ điều ác mà làm điều thiện."(Nghiêu điển, câu 2)
   Những điều dẫn trên cho thấy, là nhà giáo dục lớn, Khổng Tử đã đem những tư tưởng khởi nguyên tốt đẹp của Việt nho làm tấm gương sáng dạy cho muôn đời sau.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:47:07Tư Tứ>
CHƯƠNG VI
NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA VĂN HÓA VIỆT

 
 
I/ TÌNH TRẠNG CỦA VIỆT NHO TRÊN ÐẤT TRUNG HOA
 
  Như vậy là, trong lịch sử của mình, nền văn hóa Bách Việt từng có thời phát triển rực rỡ. Ðịa bàn của văn hóa Bách Việt trải khắp Ðông Nam Á, bao trùm lên Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Theo nhà địa lý Buckminster Fuller thì vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Người Lạc Việt có thể chiếm 15-20% dân số thế giới vào thời đó (sđd).
      Văn hóa Bách Việt là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước với những đặc điểm sau:
   -    Kỹ thuật trồng lúa nước, thuần dưỡng gia  súc ở mức tiên tiến của nhân loại,
-           Kỹ nghệ đồng thau phát triển cao.
-          Chữ viết kết thừng, chữ con nòng nọc, chữ hỏa tự được dùng.
-          Thiên văn học phát triển, lịch pháp ra đời.
-           Kinh Dịch trở thành công cụ bói toán và tìm hiểu con người cùng vũ trụ.
-          Ca dao dân ca phong phú diễn tả với nghệ thuật cao cuộc sống của người dân.
-          Âm nhạc với nhạc ngũ cung, bát âm, đàn đá, đàn bầu, các loại khèn.
-          Con người sống cuộc sống tâm linh, hài hòa với thiên nhiên, dung hợp những nguyên lý khác nhau của vũ trụ.
-          Con người sống hòa thuận với nhau, đàn bà được coi trọng và có vai trò đáng kể trong xã hội.
-          Nhà cầm quyền thân dân, xã hội xây dựng trên đức trị.
 
Người Mông Cổ vượt sông Hoàng Hà tràn xuống làm nên cuộc hôn phối toàn diện giữa chủng Bách Việt và chủng Mông Cổ; giữa văn minh du mục Mông Cổ và văn minh nông nghiệp Việt tộc.       
    Về hình thức thì đây là cuộc xâm lăng của Mông tộc đối với Việt tộc, của văn hóa du mục với văn hóa nông nghiệp nhưng trên thực tế lại nảy sinh tình trạng trái ngược:
-          Về huyết thống: tuy danh nghĩa thì tộc Mông đồng hóa tộc Việt nhưng thực tế thì do người Việt quá đông, có người lượng định rằng khoảng 70% người Việt ở lại trong vùng chiếm đóng của người Mông nên dòng máu Việt đông đảo đã đồng hóa dòng máu Mông, biến một phần quan trọng người Mongoloid phương Bắc thành cộng đồng chủng tộc Mongoloid phương Nam.
-          Về mặt văn hóa: Văn hóa nông nghiệp Việt tộc cao hơn nên đã thu nhận những yếu tố tích cực của văn minh du mục để làm nên nền văn hóa mới, được gọi là văn hóa Trung Hoa với những kinh điển mà bản chất của nó là văn hóa Việt, gọi là Việt nho.
 
  Chính tinh thần Việt nho là nhân tố chủ đạo của văn hóa Trung Hoa từ thời Ðế Nghiêu đến cuối đời Chu, được gọi là thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa. Những nét chính của thời đại này là:
Tinh thần dân chủ được đề cao, các ông vua đều thân dân, dựa trên đức trị, luật pháp ít hà khắc, thiên hạ thái bình. Các triều đại đã thể hiện được tinh thần văn hiến, ghi chép điển chương, sưu tập những lời nói, câu ca, những bản nhạc hay trong dân gian, lễ được tôn trọng.
 
  Cuối đời nhà Chu, cái đạo của thánh nhân suy vi, cái đức của thánh nhân không được noi theo nên bậc thiên tử mất thực quyền, các chư hầu đánh lẫn nhau đẩy dân chúng vào vòng cơ khổ. Là nguời yêu dân, lo cho đời, Khổng Tử muốn được dùng tài để cứu nhân độ thế nhưng cũng do đạo suy vi không có minh quân nên không ai dùng nổi tài của ông. Khổng Tử tuy người Hán nhưng quê Khúc Phụ của ông ở trung tâm Trung Quốc, địa bàn cư trú lâu đời của Bách Việt, nên ông không phải nguyên chất Mông Cổ phương Bắc mà là Hán đã có hòa huyết với Bách Việt. Mặt khác, do sống với lê dân Viêm Việt nên ông thấm nhuần văn hóa Việt. Sau khi đi tìm minh quân khắp nhiều nước không kết quả, ông trở lại quê hương nước Lỗ dạy học và làm sách. Dựa trên những thư tịch trong thư khố của thiên tử nhà Chu, Khổng Tử đã san định ra các kinh: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu. Sáu bộ kinh cùng Tứ thư là tập đại thành của văn hóa Việt nho. Trong việc xây dựng nền văn hóa Trung Hoa cũng như bảo tồn văn hóa Việt tộc, công lao của Khổng Tử thật to lớn.
   Tuy nhiên, như ta biết, ở thời của mình, Khổng Tử là người Hán chính hiệu, sống giữa cộng đồng người Hán với những vua chúa Hán tộc nên ông càng xa với gốc Việt của mình. Ðiều này ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc san định kinh điển của ông.
    Như trên đã nói, khi biên tập kinh Thi, ông bỏ đi 2700 bài, hẳn trong đó chắc là có nhiều bài thuộc văn hóa Việt nói đến tình yêu tự nhiên của trai gái hay việc múa hát mà trong con mắt thanh giáo của mình, ông cho là dâm bôn, xướng ca vô loại hoặc câu nói nổi tiếng: đàn bà và tiểu nhân là khó dạy! Cũng như vậy, khi san định Thượng Thư, ông bỏ bộ phận khởi thủy rất quan yếu là Tam phần chép những việc của đời Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Có lẽ do sách của thời quá xa xôi, văn chương lại rườm rà nhưng rất có thể là do quan niệm của Khổng. Một là những điều viết trong Tam phần không hợp với mục đích của ông làm cuốn sách mang tính giáo huấn và hai nữa chính vì Phục Hy và Thần nông là hai vị vua người Việt. Không khác những trí thức người Hán trước đã phế bỏ bà Nữ Oa vừa là phái nữ vừa Việt tộc, Khổng Tử bỏ luôn Phục Hy cùng Thần Nông?  Dù lý do nào chăng nữa thì những kinh điển đầu tiên của người Việt đã bị đánh mất. Ðó là khởi đầu cho sự băng hoại của văn hóa Việt tộc sau này.
   Bước băng hoại tiếp theo của Việt nho là khi nhà Tần đốt sách chôn nho. Cùng với văn khố ở Hàm Dương bị đốt cháy, các kinh thư bị thiêu hủy, gia tài văn học từ thượng cổ trở thành tay trắng.
   Khi bình ổn được đất nước, nhà Hán làm lại được kinh Thi, kinh Dịch nhưng để mất kinh Nhạc do không cố công sưu tầm, cũng một phần quan trọng vì nội dung của nó là nhạc của người Miêu man di. Còn kinh Thư, vì vị trí quá quan trọng nên triều đình phải nhờ đến Phục Thắng, ông già 90 tuổi kể lại để viết thành 28 thiên bằng chữ Lệ và được gọi là Kim văn Thượng thư. Không chỉ vì Phục Thắng quá già nói không rõ mà còn do cháu gái ông thông dịch rồi các học quan ghi lại theo quan điểm của mình nên Kim thư bị tước bỏ nhiều yếu tố nguyên sơ của văn hóa Việt, bổ sung tư tưởng đương thời, trở thành cuốn sách phục vụ triều đình phong kiến thống trị.
   Ðến đời Cảnh đế, khi sửa nhà cũ của Khổng Tử, phát hiện sách Thượng thư viết bằng chữ Khoa đẩu giấu trong vách. Cháu nội Khổng Tử là Khổng An Quốc dịch thành 30 thiên, gọi là Cổ văn Thượng thư. Nhưng Cổ thư vì mang nhiều yếu tố nhân chủ Viêm Việt không phù hợp với thiết chế của vương triều nên không được dùng.
    Ở đời Hán, nhiều kinh, thư được làm lại và được các Hán nho giải thích chú sớ theo quan điểm của vương triều. Việt nho với tinh thần dân chủ nhân chủ thời Khổng Tử bị các nhà chú sớ làm cho biến tướng thành Hán nho với nội dung thượng tôn thiên tử, đề cao vai trò của gia trưởng, coi nhẹ vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội, triệt tiêu tinh thần dân chủ đạt được trong các thời trước, thay đức trị bằng pháp trị, đề cao hình luật... Và như dòng chảy không ngừng, theo cái đà phong kiến tập quyền quan liêu, Hán nho rồi tiếp đó là Tống nho mất dần tố chất nhân văn ban đầu, trở thành công cụ của vương triều thống trị, đàn áp nhân dân cả về tinh thần cả trong kỷ cương xã hội.
     Tập đoàn thống trị ngày một xa rời cái đạo của thời Nghiêu, Thuấn và trở thành lực lượng phản động. Bên trong thì sống cực kỳ xa hoa, đàn áp dã man những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của nông dân, bên ngoài liên tục mở những cuộc chiến tranh xâm lược gây bao nỗi đau khổ cho nhân dân.
 
II.  NHO HỌC VÀO VIỆT NAM.
 
     Trong cuộc hôn phối Mông-Việt, ai mất ai được? Một câu hỏi cần được trả lời thỏa đáng.
   Nhiều người nghĩ, tộc Mông là người thắng cuộc vì từ số ít người sống trong vùng giá lạnh hoang vu họ bỗng có một giang sơn mênh mông, đất đai màu mỡ, kinh tế trù phú. Từ một chủng người khả năng sinh sản thấp, do cuộc hòa huyết với người  Bách Việt, hậu duệ của người Mông là người Hán mới có khả năng sinh sản cao, trở thành tộc người có số lượng lớn nhất hành tinh hiện nay. Từ văn hóa du mục nghèo nàn trở thành tộc người có nền văn hóa phát triển cao vào bậc nhất thế giới cổ đại, giữ vai trò xung lực cho sự phát triển tiến bộ của châu Á và thế giới.
   Trong khi đó với người Bách Việt là sự mất mát : mất đất đai tổ tiên khai phá hàng nghìn đời, mất tên tuổi, mất văn hóa... Những mất mát trên là có thực nhưng chỉ trên ý nghĩa hình thức. Nếu lời Mạnh tử dân vi quý là đúng thì trong sự mất mát đó, 70% người Bách Việt ở lại trên địa bàn Trung Hoa là được lợi ! Họ vẫn giữ được tổ Toại Nhân, Thần Nông, họ vẫn sống trên phần đất tổ tiên xưa khai phá. Tuy cuộc xâm lược nào cũng gây nên đau khổ nhưng thực tế lịch sử cho thấy, người Miêu Việt tuy có bị áp bức nhưng không bị biến thành nô lệ, không bị diệt chủng và chỉ vài đời sau đại bộ phận họ đã là công dân của đất nước Trung Hoa thống nhất với nền văn minh rực rỡ ! Có sự thực là trong tâm thức của những người này, tuy biết mình là người gốc Việt, họ cũng không mặn mà với gốc gác và tuy người Trung Quốc có xấu xí thì họ vẫn tự hào mình là người Trung Quốc, là người Ðại Hán! Nhiều sách báo vẫn ghi câu chuyện sau: Trong thời kỳ sang Nhật vận động cách mạng, nhà cách mạng Trung Hoa, Tôn Dật Tiên có gặp chính khách Nhật Ki Tsuyoshi (Khuyển Dưỡng Nghị, một mạnh thường quân của cách mạng Việt Nam ). "Ngài nghĩ gì về người An Nam ?" Một bận Tsuyoshi hỏi. "Dân An Nam là một dân tộc nô lệ. Trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp. Họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được?" Tsuyoshi cắt lời Tôn Dật Tiên: "Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây. Ngài đã có nhận xét không đúng về dân tộc đó. Bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp. Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của người Trung Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm." Tôn Dật Tiên ngượng ngùng bỏ đi vì ông là người gốc Mân Việt sống ở Phúc Kiến.
    Có lẽ trên thực tế, mất mát nhiều hơn cả là tộc Lạc Việt, dân tộc mà như lời nhà ngôn ngữ học Edwin George Pulleyblank: "Thực sự lãnh đạo văn hóa cũng như tiếng nói vùng Ðông Á và Ðông Nam Á" (Cung Ðình Thanh bđd). Ðấy là tộc người chống chọi đến cùng quân xâm lăng để rồi trước sức mạnh cường địch, trở về mái nhà xưa cùng bà con dòng giống của mình.
    Ðấy là cuộc tháo chạy trắng tay: mất đất đai, gia sản và mất luôn văn hóa. Từ nghìn năm trước, người Hán nghiêng mình trước người Việt với bộ Mễ như những vị thần của cây lúa nước thì nay kẻ xâm lược chiến thắng cười vang đằng sau đoàn người chạy dài bởi chữ Việt đã mang bộ Tẩu! Không những thế, kẻ xâm lăng vô độ tham lam còn săn đuổi họ tới mảnh đất dung thân cuối cùng !
    
    Tại sao tạo hóa lại đặt lên vai người Lạc Việt số phận nghiệt ngã đến vậy ? Nếu lịch sử khác đi... Có nghĩa là nếu đội quân của Ðồ Thư thắng lợi, nếu Triệu Ðà dâng Nam Việt cho nhà Hán, nếu không có Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi... mảnh đất hình chữ S này đã thành cái dải áo của nước lớn phương Bắc! Nếu tình huống như vậy xảy ra, chắc hẳn bản đồ châu Á sẽ khác đi nhiều lắm! Và chắc rằng không còn ai ngồi viết những dòng này...
   Nhưng lịch sử cứ vô tư đi con đường của nó!
   Sự nghiệt ngã của lịch sử là sau hàng nghìn năm chạy trốn kẻ xâm lấn phương Bắc, trở về mảnh đất tổ tiên xây dựng nhà nước của mình, người Lạc Việt cũng không giữ nổi mảnh đất nương thân cuối cùng của dòng giống. Vào thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên, đất Việt lọt vào tay người Hán.
   Và tại đây, sự trớ trêu của lịch sử lại xảy đến.
    Hai nghìn năm qua đi, từ khi người Lạc Việt trở về quê hương dựng nên thời đại các vua Hùng, do không có văn tự (nói đúng hơn là những ghi chép bị thất lạc, bị hủy hoại) nên người Việt không hề được học được đọc những trang sử của tổ tiên xưa mà chỉ nhớ về cội nguồn qua những truyền thuyết Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông... (mà lúc này người Trung Hoa đã nhận là của họ!), qua những câu ca về núi Thái sông Nguồn...
    Rồi khi theo sau vó ngựa xâm lăng, các quan lại phương Bắc đến áp đặt nền cai trị, người Việt mới biết đến Nho giáo! Một tình huống trớ trêu bi hài: lớp người ưu tú nước Việt học như nuốt lấy từng lời từng chữ những Thi, Thư của các bậc thánh nhân Bắc quốc mà không hề biết rằng đó chính là văn hóa gốc của tổ tiên mình!
   Lịch sử ghi nhận rằng tiếp xúc với Nho giáo là bước chuyển quan trọng của văn hóa Việt. Nhờ chữ Hán cùng những kinh điển Nho giáo mà tầng lớp trí thức Việt ra đời. Có sự thực là người Việt tiếp thu Nho giáo và học chữ Hán khá nhanh bởi trong chữ Hán có khá nhiều chữ Việt. Họ cảm nhận rằng, trong những Thi, Thư đức thánh dạy phần nhiều gần gũi với tâm hồn với tình cảm Việt như ngũ luân nói về quan hệ vua tôi, cha con, anh em, bạn bè mà nội dung là vua sáng, tôi trung, phụ từ tử hiếu... như cái đạo nguyên sơ của thời Nghiêu, Thuấn. Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín dạy về đạo của người quân tử. Nhờ có chữ Hán cùng những kinh điển Nho giáo mà văn minh của người Việt tiến bộ rõ rệt, bắt kịp đà phát triển của khu vực, hòa nhập với khối văn hóa Nho giáo phương Ðông. Ngay trong thời ngoại thuộc, một số người đã học, thi đỗ Hiếu liêm, Mậu tài (tương đương cử nhân sau này) sang làm quan bên Bắc quốc. Lý Tiến, người Cao Hưng, do tài học được giữ chức Thái sử niên hiệu Trung Bình đời Hán Linh đế (183-189). Lý Cầm làm Túc vệ (205-219) sau giữ chức Tư lệ hiệu úy. Trương Trọng người Hợp phố làm hầu cận vua Hán sau làm Thái thú Kim Thành. Những người này giữ được thể diện quốc gia khi ứng xử với vua Hán, đấu tranh để người Việt được trọng dụng ngang với người Hán. Tinh Thiều trí thức đời Lương (505-543) không nhận chức Quảng dương môn lang do Thượng thư Sài Tiến đề nghị, lui về quê sau giúp Lý Bôn. Khương Công Phụ đậu tiến sĩ đời Ðường Ðức tông (789-804) làm đến chức Bình Chương. Cũng nhờ chữ Hán và Nho học, chúng ta mới có những nhà sư học rộng tài cao của thời Lý-Trần, mới có nhà nho bậc thầy là Chu Văn An rồi những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp sau này. Ðấy là tầng lớp sĩ phu làm nên tinh hoa về trí tuệ và nhân cách cho người Việt, là giá trị vững bền của những tấm gương sáng cho muôn đời. Nhờ kiến thức học được từ Kinh, Thư, chúng ta xây dựng nhà nước tự chủ có bài bản, xứng đáng là nước văn hiến.
   Ðến nửa sau thế kỷ XVIII, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước: mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, những cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra biểu dương sức mạnh của lớp người bị trị hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền, đồng thời cũng do sự tích lũy lâu dài trong thời gian, chữ Nôm nghệ thuật hình thành, nền văn chương Việt Nam bùng phát, đạt được những thành tựu chưa từng có. Nhiều tác giả và tác phẩm lớn ra đời: Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Ðặng Trần Côn, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du... Ðấy là những thành tựu cao nhất mà nền văn hóa Nho giáo đạt được, tạo nên thời kỳ phục hưng trong văn hóa dân tộc.
  
     Tuy nhiên, do tác động của Hán nho mà ngay khi giành được tự chủ, các vương triều Việt Nam học lấy những thói xấu của triều đình phong kiến phương Bắc: độc tôn uy quyền vô hạn của vua chúa, bên trong ra sức bóc lột và dùng hình luật nghiêm khắc đàn áp dân chúng, bên ngoài làm những cuộc xâm lăng lấn đất gây tội ác với các nước láng giềng. Ngay như Lê Thánh tông được coi là ông vua sáng cũng không thoát khỏi những việc làm như vậy. Ðọc sử Trung Hoa ta từng ghê sợ về những vụ chém giết đẫm máu tranh giành ngôi vị thì cũng gặp những bài học đau đớn ấy ở các vương triều Việt Nam mà việc giết cha con Ðinh Bộ Lĩnh cùng các công thần nhà Ðinh là màn mở đầu. Tiếp đó là hành động của nhà Lý đối với nhà Lê, Nhà Trần với nhà Lý, nhà Hồ với nhà Trần... Trong khi vua chúa tranh giành như vậy thì ngoài xã hội, tinh thần gia trưởng được đề cao, người dân, nhất là phụ nữ bị tước mất nhiều quyền mà trước đây họ được hưởng.
    Ðiều đáng buồn là hàng nghìn năm trí thức Việt không biết được rằng, đạo Nho do người Hán, người Ðường mang sang đã suy đồi, đã bị đánh tráo, đã mất đi những nhân tố tốt đẹp nhất của nó. Nói chính xác hơn là hòa vào cái tốt nguyên sơ lại có nhiều yếu tố tiêu cực, và đều được đề cao dưới tên tuổi của những thánh nhân. Vì vậy, như những học trò nhỏ, trí thức Việt nao nức học tất cả thượng vàng hạ cám những gì được các thầy Tàu rao giảng qua những chú sớ. Chính vì thế, rất sớm, trí thức Việt nhiễm tư tưởng Hán nho rồi Tống nho thượng tôn vương quyền, đề cao gia trưởng, đàn áp dân chủ cùng phụ nữ, coi rẻ một số truyền thống văn hóa dân tộc như coi múa hát là xướng ca vô loại, xóa bỏ một số phong tục tập quán đặc hữu... Kết quả là không ít trí thức Việt xa rời nguồn gốc dân tộc, tự nguyện làm tôi trung cho ngoại bang mà người như Lê Tắc là tiêu biểu. Kết quả là tinh thần nệ ngoại, phục ngoại trở nên quá quắt mà điển hình là triều Nguyễn suy đồi đến độ bỏ bộ Luật Hồng Ðức đậm đà tinh thần dân tộc dân chủ để sao chép y nguyên luật nhà Thanh thành Luật Gia Long, mọi quan chế đều nhất nhất theo phương Bắc. Cũng trong hướng suy đồi này là tình trạng hư học lên đến mức còn tệ hại hơn cả người thầy Tàu! Tất cả những sự sa đọa về văn hóa ấy dẫn đến nghèo nàn lạc hậu và họa mất nước.
    Nhiều học giả nhận định rằng, sự thất bại của Việt Nam trước thực dân Pháp là thất bại của văn hóa. Ðiều này hoàn toàn chính xác. Ðến nửa đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa Hán nho, Tống nho phương Bắc áp đặt vào Việt Nam đã bộc lộ đến tận cùng sự suy đồi. Nó như tấm lưới dầy trùm lên xã hội, trói buộc con người tới nghẹt thở. Nó làm cho cả dân tộc chìm vào cõi tối tăm lạc hậu, mất hết sức lực trước đội quân xâm lược không mấy hùng hậu.
    
III. VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI THUỘC PHÁP
 
 Sử sách đã nói nhiều về tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc ta:
        Chúng cướp hết non cao biển rộng
        Cướp cả tên nòi giống tổ tiên...
  Ðấy là cách nói của thơ, cách nói hình tượng nhưng đi vào thực tế mới thấy hết mức độ tham lam tàn bạo của lũ thực dân. Trong 80 năm chiếm  nước ta, người Pháp nắm toàn bộ nền kinh tế với những cơ quan và công ty như: Ðông Dương ngân hàng phát hành giấy bạc, Công ty rượu Fontaine, Công ty Thủy điện, Sở Ximăng Hải Phòng, Công ty chế tạo rượu bia, nước ngọt Hommel, Công ty Nông nghiệp An Nam, Công ty Rừng và các xưởng cưa Biên Hòa, Công ty Tàu điện Ðông Dương, Công ty xây dựng cầu cống, Công ty các đồn điền cao su đất đỏ, Công ty Hỏa xa Vân Nam, Công ty Cao su Cửu Long Giang, Công ty Dệt sợi Nam Ðịnh, Công ty Ðường Ðông Dương, Công ty Vận tải hàng hải Nam Kỳ và Ðông Dương, Công ty Khai thác thiếc và Wolframs Bắc kỳ, Công ty Than Hòn Gay, Công ty Khai thác khoáng chất Ðông Dương... Có thời một số nhà tư sản dân tộc như Bạch Thái Bưởi mở công ty vận tải khá có tiếng tăm nhưng khi thành mối cạnh tranh với ngành vận tải của tư bản Pháp liền bị dẹp tiệm. Trong thời khủng hoảng kinh tế 1929-1932 Ngân hàng Ðông Dương thẳng tay bóp  chết các doanh nghiệp bản xứ.
  Trên lĩnh vực nông nghiệp, thực dân cũng chiếm số lượng không nhỏ ruộng đất của dân ta: Năm 1890 chiếm 11.390 ha. Năm 1939 chiếm hơn 1 triệu ha toàn Ðông Dương, riêng Nam Kỳ 610.000 ha. Người Pháp độc quyền xuất cảng lúa gạo, một nguồn lợi lớn của Việt Nam. Một cách bóc lột tàn bạo nữa là nhiều thứ thuế khiến nhân dân ta lâm vào cảnh bần cùng...  (Phạm Văn Sơn, sđd)
   Chính sự bóc lột tàn bạo ấy đã buộc người dân Việt Nam phải vùng lên đấu tranh. Những cuộc tranh đấu bị dìm trong máu lửa.
 
   Ðấy là sự thực không ai chối cãi nổi. Tuy nhiên cũng còn sự thực khác, đó là trong thời thuộc Pháp, văn hóa Việt Nam có bước tiến đáng kể.
   Trước hết đó là việc sáng chế ra chữ quốc ngữ. Ban đầu chỉ là thứ chữ của những nhà truyền giáo sau đó được truyền bá rộng rãi. Tiếp đó là báo chí chữ quốc ngữ ra đời đưa thông tin đến dân chúng. Cũng nhờ có chữ quốc ngữ mà việc học tập được mở rộng trong cả nước, số người biết đọc biết viết tăng lên, tạo ra lớp công chúng độc giả của báo chí, văn học. Văn chương, triết học cùng khoa học phương Tây được truyền bá vào trong nước, tạo ra lớp trí thức mới. Nhiều loại hình nghệ thuật như tân nhạc, kịch nghệ du nhập vào trong nước. Trường Mỹ thuật Ðông Dương ra đời kết hợp được kỹ thuật hiện đại của phương Tây cùng nghệ thuật truyền thống của dân tộc, đào tạo nhiều họa sĩ tài danh như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... Trên lĩnh vực văn chương, nhiều nhà thơ, nhà văn tài năng xuất hiện đưa giai đoạn 1930-1945 thành thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Việt Nam. Người Pháp cũng du nhập khoa học khảo cổ vào nước ta và phát hiện ra những nền văn hóa tiền sử như Sơn Vi, Hòa Bình, Ðông Sơn, Oc eo... đưa nước ta trở thành nổi tiếng trên bản đồ khảo cổ thế giới. Cũng giai đoạn này, một lớp trí thức khoa bảng Việt Nam được đào tạo trong nước hay tại nước Pháp trở thành lực lượng quan trọng trong kháng chiến chống Pháp cũng như xây dựng sau này. Nhận định về lớp người này, một trong những lãnh tụ của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhà thơ Tố Hữu nói: "Ðến bây giờ, tôi có đầy đủ căn cứ thực tế để khẳng định: Hầu hết các nhà trí thức Nho học và Tây học tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc đều vô cùng chân thành, vô cùng yêu nước, luôn luôn vững như bàn thạch trong bất kỳ hoàn cảnh bão táp nào của cách mạng, luôn luôn say mê phấn đấu vì cái thật, cái tốt và cái đẹp (chân, thiện, mỹ) và luôn luôn vượt qua tất cả những khó khăn quá lớn, quá kéo dài về vật chất và cả về tinh thần để sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo. Ðến bây giờ, tôi đã đủ căn cứ thực tế để khẳng định: Trần Ðại Nghĩa, Văn Cao, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Ðào Duy Anh, Ðặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Ðình Thi, Ðỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát... xứng đáng được truy tặng hoặc tặng Huân chương Sao vàng vì những đóng góp to lớn của các anh cho nền khoa học kỹ thuật, nền khoa học xã hội và nền văn học nghệ thuật dân tộc..." (55) Chúng tôi thiết nghĩ, nhận định như thế là công bằng. Và không chỉ thế, thời thuộc Pháp còn cho ta những lãnh tụ tài năng của dân tộc và cách mạng mà đứng đầu là Hồ Chí Minh rồi Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp... cùng nhiều trí thức nổi tiếng khác như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Nguyễn Văn Tường, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Hãn...
   Có thể nói rằng, sau những lớp sĩ phu thời Lý,Trần, Lê, Nguyễn thì những vị kể trên xứng đáng là lớp kẻ sĩ kế tục mang lại vinh quang cho văn hóa Việt Nam.
  Một câu hỏi nảy sinh: nguyên nhân nào làm cho văn hóa Việt Nam có bước phát triển như vậy? Rõ ràng đấy không phải là chủ trương hay ý muốn của người Pháp. Với chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, thực dân Pháp muốn kìm hãm nước ta và cả Ðông Dương mãi mãi trong vòng tăm tối để dễ bề cai trị. Nhưng như phép biện chứng phương Ðông từng chỉ ra: trong dương có âm, trong âm có dương! Ðó chính là sự phát triển khách quan ngoài ý muốn của thực dân. Có thể kể ra nhiều nguyên nhân cụ thể, nhưng theo chúng tôi, nguyên do chủ yếu là người Pháp hôm nay không thể là những kẻ như Mã Viện, Trương Phụ ngày xưa nung chảy trống đồng, thiêu hủy sách vở. Không thể như Tôn Sĩ Nghị theo lệnh Càn Long: "Sang An Nam không được để bất cứ viên gạch trong đình chùa miếu mạo nào không bị vỡ đôi!" Người Pháp không thể áp đặt chính sách hủy diệt văn hóa thuộc địa mà trong chừng mực nào đó buộc phải để cho văn hóa Việt Nam được sống theo bản năng tự nhiên của mình. Trong thời kỳ cai trị, thực dân tuy có chế độ kiểm duyệt gắt gao cùng sự đàn áp khốc liệt tư tưởng yêu nước và cách mạng nhưng vẫn để cho những hoạt động văn hóa dân tộc và nhân bản (có thời được gọi là nhân đạo chung chung) một khoảng không gian khá rộng rãi để hít thở khí trời. Mặt khác, do bản sắc nhân chủ, thái hòa và tâm linh thấm đẫm trong máu huyết nên người Việt mềm dẻo, uyển chuyển thu nhận, đồng hóa những yếu tố tốt đẹp của nền văn hóa phương Tây. Ðấy là trên những nét tổng quan, đại thể, còn trong cuộc sống không phải không nảy sinh những chống đối: Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy/ mả tổ tôi không táng bút chì! (Tú Xương) Rồi : Chữ của bọn Tây dương đặt ra ngoằn ngoèo như giun như dế! Nhưng khi nhận chân vấn đề, trí thức Việt đã vận động đồng bào làm cuộc duy tân: cắt tóc ngắn, để răng trắng, học chữ quốc ngữ... Chính hai yếu tố đó đã tạo điều kiện cho bước thăng hoa của văn hóa Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
 

IV. TÌM  LẠi VĂN HÓA VIỆT
 
 Có cảm nhận là không ít người Việt thấy bơ vơ lạc lõng ngay trên quê hương mình và cay đắng thấy mình bất hạnh phải là người Việt! Sống trong nước người ta cảm thấy không an toàn, không được đảm bảo. Mỗi khi đến các cơ quan công quyền thì bị hành là chính với 1001 cách nhũng nhiễu từ tinh vi đến trắng trợn. Khi có dịp ra ngoài, nếu có sơ sẩy điều gì thì chẳng biết kêu ai! Những người Việt bị trấn lột bị giết hại ở Nga, bị đánh đập bị hãm hiếp ở Ðài Loan cũng im lìm như mọi nỗi im lặng đáng sợ... Tại sao khi nhân loại tiến đến mái nhà chung thì người Việt lại bơ vơ lưu lạc ngay trên đất nước mình? Chính bởi lẽ, đa số người Việt không có quyền gì cũng không được có trách nhiệm gì với đất nước. Yêu nước cũng là một thứ độc quyền! Cái quyền lớn nhất là quyền công dân thì cũng chỉ là hình thức. Với không ít người, Tổ quốc từ lâu mất ý nghĩa thiêng liêng mà chỉ như chuyến tầu chợ, như căn nhà trọ nơi anh ta ở đậu qua ngày. Ðáng sợ là chưa có gì gắn kết mỗi con người Việt Nam lại thành sức mạnh!
    
  Sẽ có người tranh biện với tôi rằng, chả lẽ lại chỉ một màu xám xịt vậy sao? Chúng ta đã làm được biết bao việc!
   Xin thưa, chúng tôi không muốn làm kẻ bới bèo ra bọ, hay đeo kính đen nhìn xã hội. Chúng tôi cũng không chê trách, hay quy tội cho ai. Công bằng mà nói, mấy chục năm làm nhà báo viết theo nghị quyết, chúng tôi không phải không có tội trong việc này. Nhưng bây giờ chưa phải lúc luận tội mà chính là lúc tìm con đường đưa dân tộc thoát khỏi bước hiểm nghèo.
   Vâng, chúng tôi hoàn toàn không phủ định hay coi nhẹ những gì chúng ta làm được cho đất nước. Những thành tựu về văn hóa là rất đáng kể. Từ 95% số dân thất học, chúng ta đưa dân tộc trở thành có trình độ học vấn vào loại cao của khu vực. Bên cạnh đó là hoạt động văn học nghệ thuật xôm tụ chưa từng có cùng những thành tựu về kỹ thuật...
   Nhưng nói một cách nghiêm túc, nếu hoạt động kinh tế đi dần vào bài bản thì  hoạt động văn hóa mới ở bề ngọn, còn thiếu căn cơ. Người tinh ý sẽ nhận ra hầu hết các hoạt động văn hóa của ta là chắp vá, chưa có một chiến lược xuyên suốt nên chưa bền vững, không ngăn nổi đà băng hoại của văn hóa dân tộc.
   Tại sao vậy? Chính vì chúng ta chưa hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Khi nào còn chưa nhận thức được thực chất của văn hóa Việt Nam, chúng ta chưa thể có giải pháp thỏa đáng để phục hưng dân tộc.
 
       Ðáng tiếc là đến nay, nhiều bậc khoa bảng người Việt trong khi tìm nguyên nhân cho sự lạc hậu của đất nước vẫn đổ mọi tội lỗi vào một cái bị là văn hóa Nho giáo, Khổng giáo! Việc làm không khoa học đó không những không thuyết phục mà nguy hại hơn, không giúp tìm ra con đường canh tân đất nước!
    Một câu hỏi đặt ra: văn hóa Nho giáo hư hỏng đến vậy thì phải chăng là nên thay văn hóa?Nếu thay thì thay bằng gì đây? Không ai trả lời được và vì thế, trong lĩnh vực đổi mới văn hóa, nhiều năm nay không tiến triển, như lạc vào mê cung...
    Ðể giải quyết căn cơ việc này thiết tưởng phải có cái nhìn căn cơ khác. Ðó là đánh giá thực chất cái mà lâu nay ta quen gọi là Nho giáo.
    Trước hết, cách gọi như trên là không thỏa đáng,  không khoa học. Không hề có cái gọi là Nho giáo đồng nhất bởi lẽ Nho giáo như ta thấy hiện nay không thuần nhất mà là hậu quả của sự trộn lẫn giữa Việt nho, Hán nho, Tống nho, Minh, Thanh nho... Thuật ngữ Việt nho được học giả Kim Ðịnh đề xuất 30 năm trước trong bộ Triết lý An vi của ông. Ðáng tiếc là ít người nhận ra ý nghĩa phát hiện này.
   Nay, nhờ những thành tựu mới nhất của khoa Di truyền học, chúng ta tìm ra tổ tiên loài người, tổ tiên người Việt, người Hán, chúng ta cũng tìm được lịch sử xa xưa của mình và nhận ra Văn hóa tận nguồn mà tổ tiên ta để lại trên đất Trung Hoa cũng như văn hóa Việt thời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương trên đất Việt chính là VIỆT NHO. Việt nho là văn hóa mở đầu cho nền Nho giáo Trung Hoa rồi theo dòng lịch sử nó chuyển hóa thành Hán nho, Tống nho... Khi đến Việt Nam, Hán nho, Tống nho đàn áp Việt nho, triệt tiêu nhân tố dân chủ nhân bản cùng những yếu tố Việt đặc sắc rồi áp đặt tư tưởng Hán nho, Tống nho tạo ra thứ Nho giáo hỗn tạp cái tốt lẫn cái xấu, cái tích cực lộn trong cái tiêu cực. Trải nhiều thế hệ, theo định hướng của nhà cầm quyền qua thi cử, sử dụng quan lại, trí thức Việt đã học lấy rồi coi nó là văn hóa của mình. Một sự ngộ nhận tệ hại kéo dài.
    Nay muốn phục hưng dân tộc, tất yếu chúng ta phải phục hưng văn hóa. Nội dung cuộc phục hưng này là tìm lại văn hóa cội nguồn của dân tộc. Ðấy là việc tách Việt nho ra khỏi cái mớ hỗn tạp Hán nho và Tống nho để trả lại cho dân tộc ta văn hóa gốc của mình.
    Khi kiến nghị điều này, chúng tôi đã nghĩ tới việc phải trả lời hai câu hỏi sau:
 1/ Văn hóa gốc của người Việt là gì?
 2/ Nó giúp gì cho phục hưng dân tộc?
 
  Ðây là một chương trình quá lớn đòi hỏi sự đóng góp trí tuệ của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước. Với kiến văn hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ xin nêu một vài gợi ý từ những điều học được trong sách vở cổ kim cũng như chiêm nghiệm của bản thân:
      
    Trong cốt lõi, văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa của ba yếu tố nhân chủ, thái hòa và tâm linh. Trong quan hệ Thiên - Ðịa - Nhân thì con người là trung tâm, là chủ. Kinh Thư viết: "Thiên thông minh tự ngã dân thông minh. Thiên minh úy tự ngã dân minh úy." (Trời thông minh là do dân ta thông minh. Trời gieo họa phúc theo sự yêu ghét của dân ta. Cao Dao mô câu 7). Vị trí con người đứng trước cả trời. Trời tuy lớn cũng theo lòng người mà hành đạo. Với đất, con người là chủ địa chủ. Các bậc vua vừa là chủ đất vừa là chủ các vị thần. Như vậy là trong mối quan hệ hữu cơ thiên địa nhân thì con người được tôn trọng được đề cao. Ðó chính là tiền đề cho nền dân chủ mà tiêu biểu là câu nói của Mạnh tử: dân vi qúy hay lời nói của Lục sinh với Hán Cao tổ vương giả dĩ dân vi thiên! (vua lấy dân làm trời). Nhân chủ dân chủ là nguyên lý là lẽ sống còn của người Việt. Khi có nhân chủ, dân chủ thì trị. Khi mất nhân chủ dân, chủ thì suy loạn.
   Thái hòa  là đặc trưng quan trọng thứ hai trong văn hóa Việt. Ðó là mối quan hệ hài hòa giữa các nguyên lý khác nhau của cuộc sống. Trong quan niệm của người Việt, không có yếu tố nào độc tôn lấn át hay phủ định các yếu tố khác. Dương là tích cực nhưng cuộc sống không chỉ có dương mà là sự hài hòa: trong dương có âm, trong âm có dương. Ngũ hành có tương sinh lại có tương khắc, không yếu tố nào thống trị tuyệt đối, không yếu tố nào không cần cho vũ trụ cho nhân sinh. Chỉ có tổng hòa các nhân tố đó làm nên trị. Trái lại là loạn. Con người sống trong mối thái hòa với nhau và với vũ trụ, thiên nhiên. Thiên nhiên nuôi sống con người nên con người phải bảo vệ thiên nhiên để cùng tồn tại. Trong đạo làm người thì trung dung là cách ứng xử được coi trọng, quán xuyến trong mọi quan hệ. Ta thấy, như đã dẫn, yếu tố nhân chủ cũng như thái hòa của người Việt cổ được lưu giữ trong các cộng đồng người bản địa châu Mỹ.
   Tâm linh là nhân tố quan trọng thứ ba trong văn hóa của người Việt. Người Việt xưa tin rằng trong tự nhiên có quỷ thần còn con người có linh hồn. Con người sống trong sự trông coi giữ gìn của thần cũng như của quỷ. Cả quỷ cả thần đều ủng hộ những người nhân nghĩa và trừng phạt những kẻ làm điều ác. Dù thần dù quỷ thì cũng không thể làm phương hại đến những người nhân đức chân thành. Ðức chân thành cảm động được quỷ thần. Ðời sống tâm linh khiến con người biết sợ làm điều ác, không chỉ vì cuộc đời hiện tại mà còn cả khi sang thế gới bên kia. Do thiên về tâm linh nên người Việt ưa thi ca, nhạc vũ. Do thiên về tâm linh nên người Việt chú ý giữ tâm hồn mình để tránh làm điều ác.
    Ba đặc điểm trên liên hệ hữu cơ với nhau tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt đó là tinh thần dân chủ, ưa sự hài hòa, trung dung, mềm dẻo, dễ thích ứng. Chính vì thế mà người Việt chấp nhận cả Nho, Phật và Lão. Sở dĩ Nho, Phật, Lão tam giáo đồng nguyên được chính là nhờ vào khả năng dung hợp của văn hóa Việt.
  
     Với câu hỏi thứ hai có lẽ bây giờ đã có câu trả lời thuyết phục. Từ giữa thế kỷ XIX văn hóa phương Ðông dường như bị đè bẹp trước văn minh phương Tây. Suy ngẫm về sự lạc hậu của mình, trí thức phương Ðông đổ tội cho văn hóa Nho giáo. Người Trung Hoa đổ tội cho chữ Hán nên muốn La tinh hóa chữ Hán để dễ học hơn. Trí thức phương Ðông cũng đua nhau học tập những triết học hiện đại phương Tây, coi đó là phương tiện cho tiến bộ... Hơn thế kỷ qua đi, phương Ðông học được nhiều ở phương Tây không chỉ khoa học kỹ nghệ mà cả triết học tư tưởng. Nhờ vậy mà phương Ðông tiến bộ. Ðến nay, khi làm quen với tất cả những triết thuyết phương Tây, những bậc thức giả phương Ðông nhận chân ra rằng, các triết thuyết duy lý phương Tây chỉ mang tính cấp thời mang tính giai đoạn, không có triết thuyết nào bền vững theo thời gian. Triết thuyết duy lý có thể đem đến sức mạnh vật chất nhất định cho con người nhưng lại làm nghèo nàn con người về tâm hồn và góp phần tàn phá thế giới. Nhận ra điều đó, nhiều trí giả đã trở lại với văn hóa với triết học cội nguồn phương Ðông mà những quan niệm nhân chủ, thái hòa, tâm linh có thể là phương cách tốt nhất cứu thế giới. Với phát triển công nghiệp một cách mù quáng, sự tàn phá thiên nhiên đến cạn kiệt, khí thải nhà kính, tăng nhiệt độ Trái đất, sự sống trên hành tinh bị đe dọa. Trước mối đe dọa tới vận mệnh nhân loại, nhiều người lo lắng. Nhưng mọi triết thuyết hiện đại phương Tây đều tỏ ra bất lực. Nhiều người nhận ra chỉ có tư tưởng nhân văn phương Ðông mới cứu nổi thế giới.
  Việt Nam chúng ta lạc hậu, chậm phát triển nhưng nếu biết phát huy văn hóa triết học phương Ðông tìm ra con đường độc đáo của mình, rất nhiều khả năng chúng ta tiến nhanh vượt bậc. Nếu cứ lẽo đẽo theo chân các nước phương Tây có lẽ chẳng bao giờ chúng ta đuổi kịp họ. Nhưng nếu phát huy được nhân chủ, dân chủ, nhận được năng lượng từ văn hóa cội nguồn rất có thể chúng ta đưa đất nước đi lên một cách nhàn nhã mà kết quả lớn!
   Chính vì thế việc tìm về văn hóa cội nguồn, xây dựng xã hội nhân chủ, thái hòa, tâm linh là phương cách phục hưng dân tộc.
 
   Văn hóa cội nguồn của dân tộc Việt đã được Khổng Tử đúc kết trong Kinh, Thư.  Vì vậy, trước hết chúng ta phải Loại bỏ khỏi đầu óc quan niệm sai lầm cũ cho đó là văn hóa Tàu. Khẳng định rằng đó là tài sản văn hóa, tinh thần của tổ tiên mà ta có quyền thừa kế, ít ra là bình đẳng với người Trung Quốc.
 
  Tiếp đó chúng ta phải đọc lại, học lại bằng chính con mắt và trí tuệ chúng ta các kinh điển để không bị nhiễu vì những chú sớ của Hán nho, Tống nho, để tinh lọc từ đó những yếu tố tiêu biểu nhất của văn hóa Việt.
  
   Tuy nhiên, có sự thật là, mấy chục năm qua cũng như hàng trăm năm trước, nhắc tới kinh điển Nho giáo, chúng ta thường mang nặng mặc cảm của kẻ đọc nhờ học mướn từ văn hóa phương Bắc. Người trí thức có lập trường dân tộc thường bối rối: liệu mình hiểu thế này, nghĩ thế này có Tầu quá không? Và bâng khuâng giữa hai ngả: đâu là ngoại lai? Ðâu là dân tộc? Và do không có được sự minh triết nên lắm khi chính của mình thì lại cho là Tàu còn của Tàu lại nâng niu nhận là của mình để rơi vào bi kịch mồ cha không khóc lại khóc đống mối!
   Hôm nay, nhờ tìm lại được cội nguồn văn hóa dân tộc, chúng ta có thể và phải tính lại nhiều điều.
    Về nhận thức, chúng ta thấy vua Nghiêu vua Thuấn là ông vua Việt. Không theo chủ nghĩa chủng tộc nhưng chúng ta biết rằng, trong genome - trong bộ gene các vị có một phần máu Việt còn về linh hồn, tư tưởng các vị thì Việt đến 90%. Tương tự thế, Khổng Tử cũng là bậc thánh nhân mang dòng máu cùng tâm hồn tư tưởng Việt. Và vì thế, Tứ thư, Ngũ kinh cũng là hồn Việt là văn hóa Việt. Ðã là của ta thì ta tự do thấm mình trong đó không sợ ai gọi là vay mượn, không cho là vọng ngoại.
    Ðể khai thác được gia sản văn hóa của tổ tiên, chúng ta phải làm gì? Chúng tôi nghĩ rằng, người trí thức Việt bây giờ cần học lại Kinh, Thư một cách nghiêm túc để hiểu để thấu được hồn dân tộc, rồi từ đó sống và ứng xử theo văn hóa của tổ tiên. Làm vậy phải chăng là phục cổ? Phục cổ phải đâu là xấu? Nếu cổ mà hay thì sao không phục? Nhưng thực tế cho thấy có những điều xa xưa nhưng không bao giờ cổ lỗ!
   Phải cho lớp trẻ cùng những tiếng Anh tiếng Pháp và điện toán được học chữ Nho. Chỉ biết chữ Nho mới hiểu được ngôn ngữ Việt và văn hóa Việt. Riêng những nhà văn, nhà báo phải là người thông thạo chữ Nho và cũng phải học thông kinh sử.
   Thiết nghĩ, cũng tới lúc phải dạy kinh Dịch cho học sinh. Dạy kinh Dịch là dạy cách tư duy, điều rất cần cho con người trong thời buổi kinh tế tri thức. Dịch chỗ cao siêu thì tìm hiểu suy ngẫm về vũ trụ nhưng chỗ gần gũi thì lại rất gắn bó với con người. Sách Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người của nhà văn Xuân Cang là một thí dụ. Ðó là môn khoa học dự báo. Từ tám chữ Hà Lạc ông tìm ra quỹ đạo đời người giúp con người thấy một cách chung nhất quỹ đạo mình sẽ đi trong cuộc đời để rồi từ đó có cách sống hợp tự nhiên. Khoa học này người nông nổi võ đoán sẽ gọi là mê tín dị đoan nhưng thử hỏi thế nào đây mới không là dị đoan mê tín?
  Nhưng trùm lên trên tất cả, cần thiết hơn tất cả, theo tinh thần văn hóa Việt là phải xây dựng một xã hội nhân chủ trong đó con người được coi trọng hơn tất cả, dù đó là xã tắc hay quân vương chứ chưa kể đến những chủ thuyết trừu tượng. Mọi chủ thuyết chỉ là phương tiện. Con người mới là cứu cánh. Một xã hội như thế phải là xã hội dân chủ cao. Người ta thường lo rằng, nước ta nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp nên chưa thể sử dụng được quyền dân chủ! Lầm to. Thời thượng cổ người Bách Việt đã từng sống dân chủ vào bậc nhất nhân loại. Chính vì thế chúng ta góp cho nhân loại văn minh lúa nước rực rỡ. Sử gia người Việt Lê Thành Khôi, một nhà thông thái từ sử liệu thế giới cho hay: cho đến thế kỷ XX, người đàn bà Việt có địa vị cao hơn người đàn bà Pháp trong xã hội! (Lê Thành Khôi đọc cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam). Thời chống Mỹ có câu: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong! Dân chủ chính là chìa khóa vạn năng, là cuốn sách thần giải được mọi khó khăn trên đường đi của dân tộc. Nếu dân tộc này mở mày mở mặt lên được cũng chỉ có phương cách duy nhất là dân chủ!
   Sức cản lớn nhất với dân tộc Việt hiện nay là thiếu dân chủ mà trước hết là dân chủ về tư tưởng. Trong những chỗ trà dư tửu hậu, người ta đàm tiếu: Cả nước hơn 600 tờ báo nhưng chỉ có duy nhất một tổng biên tập là ông Trưởng ban Tư tưởng văn hóa Trung ương! Một nỗi sợ mơ hồ nhưng ghê gớm trói buộc tất cả những ông tổng biên tập được nhà nước tấn phong, biến họ thành những người bị triệt tiêu những sáng kiến quan trọng nhất của cá nhân và không dám chịu trách nhiệm với vai trò mình gánh vác. Khi do tình cờ may mắn, chúng tôi m nTìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. Viết xong, chúng tôi gửi cho bạn bè văn chương. Nhà văn Thái Vũ gọi dây nói cho chúng tôi: "Thùy ơi, mày ác lắm! Mày làm tao mất ngủ vì bài viết của mày. Nhưng cũng đáng để mất ngủ Thùy ạ!" Sau nhiều năm gặp lại, tặng chúng tôi cuốn Tám chữ Hà lạc và quỹ đạo đời người, nhà văn Xuân Cang ghi: "Tặng Hà Văn Thùy tác giả "Cội nguồn tổ tiên Cội nguồn văn hóa" sẽ làm nhiều người mất ngủ như tôi. Giáo sư Cao Xuân Hạo gửi điện thư: "Tôi không có được tri thức lịch sử như anh, nhưng tôi tin là anh đúng!"... Nhà thơ Nguyễn Duy bảo: "Ðọc thích lắm, nhưng vẫn cái tật của anh, hay cà khịa! Anh đừng cho lên mạng vội, để tôi đem đến anh bạn tổng biên tập tờ báo lớn xem sao." Nửa tháng sau, anh gọi lại: "Tôi thử rồi, ai đọc cũng thích nhưng chẳng cha nào dám in." Sáng 27 tết Ất Dậu, nhà thơ người Chăm Inrasara gọi cho chúng tôi, trách : "Talawas cho lên mạng bài của anh rồi đó! Nhưng sao anh không để cho báo chí trong nước in trước?" (!) Một bài viết không phản động và dứt khoát cũng không kích động bạo lực hay khiêu dâm, đọc thì thích mà không ai dám in! Vậy thì người dân mong chờ gì đây ở đệ tứ quyền? Vậy thì báo chí làm sao mà dẫn dắt đất nước đi lên? Làm sao mà dự báo? Ðáng thương biết bao báo chí nước nhà! Quản lý đất nước ra sao không biết nhưng nếu làm cho con người hèn đi vì lo sợ, bị tê liệt mà mất hết sáng kiến cá nhân thì đó là một thảm họa cho đất nước!
   Trong nước ta có tình trạng là cả xã hội tâng tiu động viên nhóm thợ khoan đến mét thứ 3561 vào vỉa thăm dò dầu khí nhưng lại thờ ơ thậm chí hoài nghi với những mũi-kim-cương-trí-tuệ cần mẫn và dũng cảm khoan từng micronmet vào tầng sâu tầng cao của những - điều - chưa - biết, mà chính đây mới hứa hẹn những khám phá thực sự lớn lao!
   Có một điều không bình thường từng tồn tại nhiều thập kỷ: mỗi năm mấy lần khoảng 150 ủy viên trung ương Ðảng họp rồi ra nghị quyết. Tiếp đó là toàn đảng toàn dân học và làm theo nghị quyết và hoàn toàn chỉ có quyền nói và làm theo nghị quyết! Chúng tôi đã từng học nhưng không đủ liều lĩnh để tin rằng tất cả những nghị quyết đó đều hay đều đúng! Nhưng giả thử hay và đúng nữa cũng cần có sự bàn bạc đồng thuận! Chúng tôi không tin 150 con người trần mắt thịt kia là những thánh sống phán ra thánh chỉ để cho 80 triệu dân chỉ có việc duy nhất là học rồi làm theo! Nó hoàn toàn duy tâm duy ý chí, khác hẳn quan điểm biện chứng mà chúng ta từng nhận về mình! Nếu chúng tôi không lầm thì hình như đó là việc ứng xử kiểu bầy đàn mang màu sắc tôn giáo! Cách làm đó quá xưa cũ, không phát huy được năng lực sáng tạo của dân tộc. Rõ ràng nó không làm tăng danh dự của Ðảng Cộng sản và của cả dân tộc trong con mắt đồng loại! Vào những năm 70 thế kỷ trước, một lần trong chỗ riêng tư, Tổng Bí thư Lê Duẩn có câu nói nổi tiếng: "Thanh niên bây giờ sướng thật. Họ không phải tìm đường đi như lớp chúng tôi!" Câu nói phản ánh xu thế lúc đó: những lãnh tụ sáng suốt của Ðảng đã vạch sẵn con đường tiến cho dân tộc, lớp trẻ chỉ việc noi theo! Nhưng rồi nhìn lại, thấy trong đó biết bao chủ quan nông nổi! Rõ ràng cách nhìn như vậy là đánh giá thấp thanh niên, coi họ mãi mãi là con nít và tước đi của họ vai trò vô cùng lớn lao phải có với đất nước! 
  Dân tộc ta từng có quá khứ vĩ đại. Hiện trong lòng dân tộc còn bảo tồn một năng lượng vô cùng lớn. Khối năng lượng này sẽ tỏa sức mạnh khi trí tuệ dân Việt được thực sự giải phóng. Vấn đề là làm sao giải phóng được khối năng lượng vĩ đại này?
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-19 12:49:55Tư Tứ>
CHƯƠNG VII
MỘT CÁCH ỨNG XỬ VĂN HÓA MỚI


 
   Sau hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc, có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng, thuyết phục. Với nhận thức mới về nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn hóa mới :
 
   1/ Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất khai phá đất nước Trung Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất mênh mông này. Người Việt có chủ quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.
 
   2/ Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy mình cùng nguồn gene, cùng một gốc gác với các tộc người thiểu số anh em. Không chỉ cùng gốc gác với người Kinh mà các tộc người anh em còn là hậu duệ của ngành bám trụ lâu dài trên đất nước và sáng tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào. Ðối với các tộc người thiểu số anh em, chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Ðối với người Hán trên lục địa Trung Hoa, ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.
 
3/ Hàng ngàn năm nay người Việt giữ cái nhìn kỳ thị dị chủng, dị văn với những nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan và nhất là những nước hải đảo Ðông Nam Á. Ðấy là sai lầm mang tính lịch sử vì chúng ta chưa nhận ra được cội nguồn gốc gác của mình. Nay, với những phát hiện mới của khoa học, chúng ta nhận lại các dân tộc Ðông Nam Á là anh em bà con cùng nguồn cội với mình. Việc Việt Nam gia nhập gia đình Ðông Nam Á là bước đi đúng hướng để sửa chữa sai lầm trong quá khứ. Từ nay chúng ta có thêm nhận thức mới: Ðông Nam Á với chúng ta không chỉ là khối liên minh chính trị, kinh tế mà còn là cộng đồng có chung nguồn cội sâu xa về di truyền và văn hóa. Việt Nam sẽ phát triển và ổn định trong mối quan hệ bền vững với các nước anh em trong khu vực. Không những thế, người Việt ta cũng đồng bào với người New Guinea, thổ dân châu Úc cùng các tộc người bản địa châu Mỹ. Phải chăng câu tứ hải giai huynh đệ từ xa xưa đã bao hàm nội dung nhân bản này?
   4/ Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng lồ với nền văn hóa vĩ đại, cha ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu, một dân tộc không có văn hóa gốc. Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục sự nghiệp của một cha ông vĩ đại. Chính cha ông ta là người chủ đạo khơi nguồn nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận thức mới về cội nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh cội nguồn Trung Hoa là của mình. Ðấy là của chung mà cha ông ta ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư cách chủ nhân có tác quyền hợp pháp.
 
 5/ Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa, chúng ta xác định bản sắc văn hóa Việt nam: Nhân chủ, thái hòa, tâm linh. Ðó là truyền thống sống hòa đồng với thiên nhiên, tương thân tương ái với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Có nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo - phần tinh hoa của văn hóa Việt tộc được đúc kết trong những kinh điển Nho giáo thời kỳ đầu. Học giả Kim Ðịnh gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Chúng tôi cho rằng đó là tên gọi xác đáng cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị Hán tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho và Tống nho - công cụ đàn áp nhân dân, thủ tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Ðáng tiếc là do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ nhận cho tất cả đều là của Tàu nên chối bỏ, thậm chí dùng Hán nho, Tống nho làm chính thống đàn áp văn hóa gốc của mình. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu của người Việt và lấy làm tiêu chí để gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị xảm vào văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ xâm lược phương Bắc.
 
   6/ Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất nhưng từ cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng dân tộc ta sẽ có một tương lai sáng lạn. Dự báo về thế kỷ XXI người ta nhắc tới lời sấm Trạng Trình Nhân đào đáo hoàn, xã tắc an lạc. Do đất nước đổi mới, dân chủ hơn nên nhiều kiều bào trở về, hoặc thăm quê, hoặc đầu tư xây dựng đất nước. Về là để đất nước an lạc chứ không phải gây loạn lạc! Và cũng tháng năm này, nhờ thành tựu khoa học thế giới, ta tìm lại cội nguồn tổ tiên và văn hóa dân tộc. Ðó phải chăng là những điềm triệu báo tin về cuộc phục hưng? Việc của chúng ta là mỗi người trong khả năng của mình ngay từ bây giờ góp sức cho cuộc phục hưng đó!
        Chúng tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta chính là thời Nghiêu Thuấn: con người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Phải chăng chính đó là lý tưởng phương Ðông mà phương Tây đương tìm đến?
   Ðấy không phải dự cảm mơ hồ mà là nhận thức rút ra từ kinh nghiệm lịch sử. Trong quá khứ, đã có lúc minh triết phương Ðông từng cứu phương Tây. Ðó là vào thế kỷ XVII, dưới ách thống trị của chính quyền quân chủ chuyên chế, giai cấp quý tộc thế tập và tăng lữ, dân chủ tự do của Tây Âu bị bóp nghẹt dẫn đến khủng hoảng sâu sắc về chính trị, kinh tế, xã hội. Nạn nghèo đói tràn lan, dân số suy giảm đến mức báo động. Năm 1650, nước Pháp trụ cột của châu Âu có 19 triệu người, Anh cùng Irlande chỉ có 6 triệu, Tây Ban Nha 5 triệu, Ðức và Ý chưa thành quốc gia, mỗi nước có đến 350 tiểu bang (Sédillot trong cuốn Survol de l’histoire tr.240. Dẫn theo Kim Ðịnh: Cửa Khổng tr.235 CaDao Sai Gon 1974). Trong khi đó, nhìn sang phương Ðông, thấy lừng lững một đế chế Trung Hoa 200 triệu dân sống sung túc, quân đội hùng mạnh với những ông vua tài năng như Khang Hy, Ung Chính, Càn Long… phương Tây nghiêng mình bái phục. Ðiều khiến phương Tây ngưỡng vọng nhất là cơ chế thi cử đảm bảo cơ hội bình đẳng cho mọi tài năng và triều đình có quan gián nghị giúp điều chỉnh những việc làm thái quá của vua, những biểu hiện của nền dân chủ mà phương Tây nằm mơ cũng không thấy! Trí thức phương Tây hiểu đấy là kết quả của nền triết học và đạo đức Nho giáo.
   Voltaire từng ca ngợi: "Nếu bao giờ có một thời kỳ hạnh phúc nhất và đáng kính nhất trên trái đất này thì đó là thời kỳ người ta theo luật cai trị của Khổng Tử." Và "Hiến pháp của Trung Hoa thật ra là hoàn hảo nhất trên thế giới... là một nước duy nhất khi mà quan cai trị tỉnh phải thuyên chuyển (quy chế luân quan-HVT), nếu không được dân hoan hô thì bị phạt... Ngay tự bốn ngàn năm trước đây khi chúng ta chưa biết đọc biết viết thì họ đã biết mọi điều căn bản hữu ích về những cái mà ngày nay chúng ta lấy làm tự hào." (Dict. Philosophique tr. 108- KÐ Cửa Khổng tr.245)
  Voltaire cũng cho rằng, sự khám phá ra nền văn hóa Viễn Ðông đã đưa mắt người Âu châu nhìn lên một thế giới mới lạ, khác hẳn cả về tinh thần lẫn vật chất, theo 3 nguyên tắc sau:
1.           Nguyên tắc đầu tiên là xã hội Viễn Ðông đặt nền trên sự theo đuổi hạnh phúc trần gian, trái với xã hội Tây Âu Trung cổ coi hạnh phúc trần gian là không đáng mong ước và cũng chẳng thể tìm trong cái " thung lũng đầy nước mắt."
2.            Nguyên tắc thứ hai trái ngược hẳn với nguyên tắc phục tùng tuyệt đối bên Tây Âu lúc đó, bên Trung Hoa dân có quyền làm loạn chống nhà vua khi vua đi sai đạo. Ðiều này mặc nhiên có trong Luận ngữ và rõ hơn trong Mạnh tử.
3.            Nguyên tắc thứ ba được các triết gia chú trọng hơn cả là nền luân lý độc lập, không dựa vào tôn giáo mà dựa trên nhân bản. (Dẫn theo Kim Ðịnh. Cửa Khổng tr.256).
 
 Từ trung tâm châu Âu là nước Pháp, ảnh hưởng của Khổng giáo lan sang Anh, Ðức. Ở Mỹ, người tiếp thu trước hết là Franklin khi ông sang vận động sự ủng hộ của người Pháp. Từ Voltaire, Jefferson cũng học được tư tưởng bình quyền của Khổng. Chính tư tưởng dân chủ nhân văn Nho giáo trở thành ngọn đuốc soi đường cho những cuộc cách mạng xã hội bên Âu Mỹ thế kỷ XVIII.
 Người ta có thể thấy tinh thần minh triết phương Ðông trong bản Tuyên ngôn nhân quyền nước Pháp năm 1789 mà dòng đầu tiên là: "Con người sinh ra tự do và tiếp tục là tự do, bình đẳng trong quyền lợi..." Tư tưởng nhân văn đó ta cũng gặp trong Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Mỹ. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa dòng đầu tiên của Tuyên ngôn độc lập nuớc Mỹ vào giấy khai sinh nước Việt Nam mới cũng là lúc Người đem tư tưởng nhân bản của tổ tiên trở lại đất nước mình.
   Ngày nay lịch sử lặp lại. Chủ nghĩa tư bản đang thống trị thế giới. Và nói như M. Gorki, cả thế giới là thành phố con quỷ vàng khổng lổ với những bánh xe quay điên cuồng biến mọi thứ thành vàng. Sự phát triển công nghiệp mù quáng, sự tiêu hao quá mức nguồn năng lượng hữu hạn của Trái đất, sự tàn phá môi sinh không kìm hãm nổi, sự tha hóa của con người... khiến ta có cảm giác, con người khôn ngoan Homo Sapiens mất trí đang trong điệu vũ cuồng loạn cuốn vào xoáy lốc hủy diệt!
   Ðiều gì có thể cứu loài người khỏi thảm họa này? Không phải các nhà khai sáng kiểu Voltaire, Rousseau, Montesquieu. Cũng không phải những triết gia như Kant, Nietzsche, và ngay cả Tư bản luận của Carl Marx! Có lẽ, cái có thể cứu thế giới khỏi thảm họa là nền minh triết phương Ðông. Ðó chính là cửa tam quan rộng mở với nhân chủ, thái hòa, tâm linh. Qua cửa đó con người đến cuộc sống nhân bản, tốt đẹp hơn nên bền vững hơn! 
 
*
*      *
 
      Khi bắt tay vào viết tiểu thuyết Triệu Vũ Đế, chúng tôi cũng như hầu hết người Việt Nam khác rất mù mờ về nguồn cội. Dù đã đọc đã nghe hết thuyết này đến thuyết khác về cội nguồn dân tộc, nhưng không hiểu sao, chúng tôi không tin vì không muốn tin vào những điều khiến mình đau lòng. Chúng tôi hy vọng một cái gì hơn thế!
   Nhưng khi vì tìm chất liệu cho tiểu thuyết mà phải lạc vào thế giới của những nhà Việt học, chúng tôi bỗng buồn rầu nhận ra: những tư liệu về tiền sử người Việt thật mênh mông bể sở lại tản mạn và mâu thuẫn. Còn các nhà Việt học của chúng ta thì không khác gì những ông thày bói xem voi trong ngụ ngôn xưa. Mỗi người vừa sờ được cái tai, cái vòi con voi đã vội vã lập ngôn, dựng thuyết. Và dù không thiếu tâm, không thiếu trí đã tự biến mình thành dân Babel: càng nhiều giả thuyết thì càng xa cái mục tiêu ban đầu là tìm lại cội nguồn! Biết bao thời gian, tâm huyết cùng trí tuệ uổng hoài!
   Rồi một lúc nào đó tình cờ may mắn chúng tôi đọc được những dòng này từ báo Đại Chúng xuất bản bên Mỹ: "Khoảng 200.000 năm trước, người tiền sử từ Trung Ðông theo con đường Nam Á, qua Pakixtan, Ấn Ðộ rồi men bờ biển Ấn Ðộ Dương tới Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm, lai giống với nhau, tới khoảng 50.000 năm trước họ chia tay ..." Những dòng chữ ngắn ngủi của bài báo nhỏ làm đầu óc chúng tôi bừng sáng. Một điều gì cực kỳ quan trọng vừa xuất hiện. Nếu đúng vậy thì đây là chiếc chìa khóa thần mở cửa đi vào tiền sử dân tộc... Tiếc rằng bài báo không hề cho biết xuất xứ của những thông tin trên. Dù vậy, bằng trực quan, chúng tôi hoàn toàn tin những gì bài báo nói. Quả thật, cảm giác chúng tôi lúc đó rất lạ, lâng lâng như người say, tim đập nhanh, run rẩy như người bắt được báu vật... Và chúng tôi bỏ công sức truy tìm bằng chứng những gì vừa nhận được. Nhiều thông tin đã đến với chúng tôi, từ tác giả của bài báo trên, từ bạn bè, từ chính Giáo sư Najan Ranka, người được nhắc đến trong bài báo... Và may mắn, chúng tôi được đọc bài của Gíao sư Nguyễn Văn Tuấn từ nước Úc, một bài viết giới thiệu khá đầy đủ về cội nguồn dân tộc qua di truyền học.
 Chúng tôi đành tạm chia tay với Triệu Vũ đế, mạo muội viết tiểu luận Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. Trong đó, kết nối những kiến thức khảo cổ học, nhân chủng học, sử học, xã hội học lĩnh hội được từ người đi trước, chúng tôi hình dung ra tiến trình lịch sử của người Việt với hai giai đoạn bắt đầu khoảng 4 vạn năm trước, người Việt từ sông Mã sông Hồng đi lên mở mang khai phá đất nước Trung Hoa với hai trung tâm Thái Sơn và Ngũ Lĩnh. Giai đoạn thứ hai là bước trở về: Từ 2800 TCN, do bị người Hán chiếm đất, người Việt rời bỏ vùng Thái Sơn xuống quần tụ tại Lĩnh Nam. Cũng lúc này, một bộ phận đi xa hơn, trở về Việt Nam để cùng với người Việt tại chỗ dựng nhà nước Văn Lang....
      Sở dĩ trước đây chưa ai nghĩ tới điều này vì khoa học chưa biết tới con đường phương Nam của người tiền sử mà chỉ đoán định về con đường Bắc tiến từ Trung Ðông lên cao nguyên Thiên Sơn. Vì thế giả thuyết của E. Aymonier:  người Việt từ Tây Tạng xuống theo ngọn sông Dương Tử tỏ ra thuyết phục. Tuy nhiên, giả thuyết đó cũng có những bất cập: nó phủ định nguồn gốc bản địa của người Việt đồng thời về mặt lịch sử, nó vu cho người Việt cái "tội tổ tông" không hề có là chiếm đất, diệt chủng những tộc người bản địa. Mặt khác, nó không giải thích được nguồn gốc của những văn hóa cổ rực rỡ ở Việt Nam...
  Như vậy, với tiến trình như trên cho ta thấy người Việt có một lịch sử lâu dài và nhất quán: từ Việt Nam ra đi, tổ tiên chúng ta lại trở về Việt Nam cùng với đồng bào của mình xây dựng đất nước. Một tiến trình như vậy là rõ ràng và thuyết phục.
   Nếu việc nghiên cứu tiền sử đạt được thành tựu cơ bản thì trước mắt chúng ta còn nhiệm vụ nặng nề khác: Tìm lại văn hóa cội nguồn của người Việt.
   Trước đây chúng ta bị cầm tù bởi nếp nghĩ quen thuộc: người Việt không có văn hóa gốc mà tất cả hay hầu hết là học của Tàu. Nhưng vào những năm 70 thế kỷ trước, lần đầu tiên học giả Kim Ðịnh đưa ra ý kiến kinh Dịch, kinh Thi, Thư... là của người Việt và cũng của người Việt nhiều yếu tố văn hóa phi vật thể khác mà trước đây vẫn cho là của người Trung Quốc. Ý kiến táo bạo đó bị nhiều người phản đối nhưng cũng không phải không có người đồng tình. Nay chúng tôi thấy rằng phần nhiều trong đề xuất của ông là hữu lý. Có cái chứng minh được và nhiều điều chưa thể chứng minh nhưng đó là những dự cảm sáng suốt. Do thời của ông chưa biết có con đường di dân phương Nam của người tiền sử nên một số chứng cứ ông đưa ra chưa thuyết phục. Nhưng nay nhờ phát hiện được cội nguồn cùng tiến trình lịch sử của người Việt, nhiều ý kiến đề xuất của ông trở thành hiển nhiên. Ông cũng có công sáng tạo ra thuật ngữ Việt Nho để chỉ văn hóa cội nguồn của người Việt từng phổ biến bên bờ Hoàng Hà, Dương Tử cũng như sông Mã sông Hồng. Văn hóa ấy người Việt đã góp vào với văn hóa du mục của Mông tộc để làm nên thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa. Chúng ta cần tiếp thu thuật ngữ này để làm rõ, định danh phần văn hóa cội nguồn của tổ tiên ta.
    Từ 2800 năm trước Công nguyên đến nay, cả ở Trung Hoa, cả trên đất Việt, Việt Nho đã bị biến đổi. Phần bị biến thành Hán nho, Tống, Minh, Thanh nho trở nên bác tạp, phần rơi rụng mất mát... Ngày nay tìm lại văn hóa cội nguồn của dân tộc là việc cực kỳ khó khăn không khác gì giải câu đố Êdôp: tách nước sông ra khỏi nước biển. Tuy nhiên đó là việc quan trọng sống còn với dân tộc nên không thể không ráng tìm. Bởi lẽ chính văn hóa quyết định vận mệnh của dân tộc. Chúng tôi thiển nghĩ, người Nhật, Hàn Quốc tỏ ra đúng hướng trong khi đó người Trung Hoa đang liều lĩnh thực thi chiến lược nguy hiểm: bán được hàng hóa với bất kỳ giá nào! Con đường người Trung Hoa đang đi không khác con đường Liên xô từng thất bại: tiêu tốn quá nhiều tài nguyên và đẩy nhanh ô nhiễm môi trường. Việt Nam phải khôn khéo tìm ra con đường riêng của mình đồng thời cảnh giác trước tình huống bất lợi từ phương Bắc. Con đường Trung Hoa đang đi hiện nay là sản phẩm của văn hóa Hán nho, Tống nho. Việt Nam phải đi theo con đường Việt Nho. Nhưng tìm ra con đường này không dễ. Người Việt phải chung lưng đấu cật tìm lại văn hóa tận nguồn của dân tộc để từ đó định hướng con đường tới tương lai.
    Chúng tôi xin đề nghị, nên lập một diễn đàn để người Việt trong, ngoài nước cùng bạn bè thế giới bàn thảo về vấn đề này. Chủ trì diễn đàn là một số vị có uy tín về học thuật để có thể điều hành hữu hiệu. Khoảng 2 năm một lần nên tổ chức hội thảo ở một địa điểm nào đó để cùng nhau gặp gỡ trao đổi. Sau hội thảo nên in kỷ yếu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa để công bố rộng với cộng đồng thế giới. Khoảng 5 năm sẽ tổ chức hội nghị khoa học thảo luận và giải quyết những vấn đề còn tranh cãi. Theo thiển ý, cách làm việc dân chủ và cẩn trọng như vậy sẽ hiệu quả hơn. Rất mong các bậc cao minh chỉ giáo.
 
  
            TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    1.Ðại Việt sử ký toàn thư Nxb KHXH. Tr 20 (bản điện tử Lê Bắc).
   2. Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn, Paris 2000.
   3.Ðại Việt sử ký toàn thư tr.5
   4. Việt sử tiêu án tr.3. Bản điện tử Lê Bắc 2001
   5. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản, tr.  9, Bản đt Lê Bắc
  6. Phạm Văn Sơn. Việt sử toàn thư. Nam nghệ xã Nhật Bản tái bản năm 1983.
  7. Kim Ðịnh. Việt lý tố nguyên An tiêm. Sài Gòn 1970 tr 62-63
  8. Kim Ðịnh. Cơ cấu Việt Nho. Nguồn Sáng S.1972 Tr 244-245
  9. Nguyễn Ðình Khoa. Nhân chủng học Ðông Nam Á. ÐH&THCN. H.1983
 10. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad.    Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.
 11. Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome evidence for a northward migration of modern human into Eastern Asia during the last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics 1999; 65; 1718-1724. Nhiễm sắc thể Y chỉ có ở con đực, bền vững và chứa nhiều thông tin di truyền hơn mtDNA. Qua Y-chromosome có thể truy tìm "dấu vết di cư" của nhóm dân, từ đó ước đoán được tuổi của tổ tiên. Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) là chỉ tiêu di truyền quan trọng đánh giá độ đa dạng sinh học của nhóm dân: tổ tiên có mức đa dạng sinh học lớn hơn con cháu. (Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn:  Tìm về nguồn gốc dân tộc Việt Nam qua di truyền học. Giaodiem.com)
12. W. Kim & đồng nghiệp : Y-chromosomal DNA variation in East Asia populations and its potential for inferring the peopling of Korea. Jurnal of Human Genetic.2000. số 45 Tr. 76-83.
13. S.W. Ballinger&đồng nghiệp: Human mitochondrial DNAs (mtDNAs) from 153 independent samples encompassing seven Asian populations were surveyed for sequence variation. The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNAs with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians. (Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45)
14. Jin Li: Ngày 29.9.1998 Li Jin thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washington: "Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ⠄ương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." ["Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas"(Los Angeles Times  29.9.1998)].
15 Peter Savolainen, Ya ping Zhang... Genetic Evidence for an East Asia origin of Dometic Dogs. Science Nov 22 2002;
     -   Jenifer A. leonard, Robert k. Wayne... Ancient DNA Eviden for old world origin of new world Dogs. Science Nov 22 2002.(Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn: Năm Mùi nói chuyện dê. Giao Ðiểm Xuân 2003)
16. Stephen Oppenheimer: Eden in the East : the Drowned Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998.(Dẫn theo Nguyễn Quang Trọng: Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Ðịa đàng phương Ðông.Giaodiem.com)
17.  Nguyễn Quang Trọng. Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam-trả lời nhóm Tư tưởng. Giaodiem.com, dẫn Etler D.A: Gallery sọ tìm được ở Trung Hoa: www. Cheneseprehistory.org/pics6.htm.
18. The Canberra Times, 10 Feb. 2005, by Rosslyn Beeby Research, Conservation and Science Reporter:
http://www.iol.co.za/index.php?set_id=1&click_id=588&art_id=qw1108019521878B213 
19. Bowen, Hui li: Genetic evidence supports demic diffusion of Han culture. Nature /vol 431/16 September 2004.
20. An Nam chí lược. Lê Tắc. Bản diện tử Lê Bắc.
21. Ngô Thì Sỹ. Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năm 1991. Bản điện tử Lê Bắc tr.10.
22. Sử ký Tư Mã Thiên Nxb Văn học H.1988 tr.743.
23. Phủ Biên tạp lục Nxb KHXH. H. 1977 tr. 31
24. Nguyễn Ðăng Thục: 4000 năm văn hiến. Hoadam.net
25, 26. Nguyễn Thị Thanh- Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới- VietCatholic 30.9.2001
27. C. Sauer: Agricultural Origins and Dispersals. Newyork 1952.     
28. W.G. Solheim II: Southeast Asia and the West-Ðông Nam Á và phương Tây- Science 157- dẫn theo Nguyễn Thị Thanh bđd)
29. W. G. Solheim II. Ph. D: New light on Forgotten Past. National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971.  Theo bản dịch của Hoàng Hoa Nhân Kiệt. Giaodiem.com.
30. Ðoàn Nam Sinh. Về Ðông Sơn-Hùng Vương. NXB Thành phố HCM 2002 tr 55
31. Cung Ðình Thanh "Gốm cổ tại Việt Nam và vai trò của nó trong văn hóa tiền sử." Tập san Tư tưởng số 12 tháng 2/2001.
32. Kim Ðịnh. Việt lý tố nguyên tr.53
33. Lévi Strauss -Tristes tropicques tr. 196 và 267. Dẫn theo Kim Ðịnh - Cơ cấu Việt Nho SG 1972 tr. 22.
34. Nguyễn Quang Trọng. http://www.nhanvan.com/magazines/hopluu/64nguyenquangtrongvenguongoc.htm
35. Cung Ðình Thanh http://tutuong.hypermart.net/htmlfiles/vanhoadongson.htm
36. Dẫn theo Việt lý tố nguyên, tr. 58-59
37. Vũ Hữu San Vịnh Bắc Việt tái bản 2004. Tripod.com.
38.’Earliest writing’found in China. News.bbc.co.uk/1/hi/sci/tech/454594.stm
39.’The bone age flute’. News.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/2956925.stm
40 Archaeology of Writing .www.geocities.com/cvas.geo/china.html
41 Trương Thái Du: Những con chữ khởi thuỷ và một áng văn rất sớm của loài người. vannghesongcuulong.org ngày 3.5.06
42. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn nhà Thương 1000 năm, chỉ bị nhà Tần diệt vào thế kỷ III TCN. Đấy chính là sản phẩm của Bách Việt.
43.Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trong The Origins 1983 - Dẫn theo Cung   Ðình Thanh: Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ. Dactrung. Net.
 44.Cadière R. P. Leopold (1877-1948). Souvenirs d’un vieil annamitisant, Indochine, Hanoi, No 143, 8 Juillet 1943. Theo Cao Xuân Hạo: Sự tích bốn chữ “CHÍNH TRƯỚC PHỤ SAU” trong Việt ngữ học (tài liệu riêng)
45.Kinh Dịch. Phan Bội Châu, NXB Văn hoá Thông tin 1996
46.Lê Mạnh Thát. Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam tập I. Quangduc.com47
47. Kinh Thi. NXB thành phố Hồ Chí Minh. 1992
48. Du Diễm: Ðộc Dịch cử yếu. Tứ khố toàn thư trân bản. Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải, Quyển III, trang 11. Dẫn theo Kinh Dịch với vũ trụ quan phương Ðông. Nguyễn Hữu Lương. Sài Gòn 1971.
49. Từ nguyên chính tục biên hợp đính bản- Thương vụ ấn thư quán, Thượng Hải, 1939 tập Tị trang 24- Dẫn theo NHL.
50. Du Diễm: Ðộc Dịch cử yếu; Tứ khố toàn thư trân bản. Thượng Hải Q.3 tr 13-14. Theo NHL.
51. Nguyễn Hữu Lương, sđd
52. Ðoàn Nam Sinh, sđd tr. 152-153
53. Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tìm về cội nguồn kinh Dịch. tuvilyso.com
54.  Kinh Thư. Nghiêu điển, câu 3
55. Nhật Hoa Khanh- Phỏng vấn Tố Hữu. talawas.com.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
Vì tôi không thể đăng bài này với đầy đủ chi tiết thuyết minh, cho nên bạn nào muốn có hồ sơ đầy đủ hình ãnh xin cho biết email, tôi dẽ gởi cho đầy đủ để tham khảo
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0