📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn GUY DE MAUPASSANT 🔒

13 trả lời, 2.408 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-18 06:35:26banhsukem>
Guy De Maupassant
 
Pi-e-rô
 
Dịch giả: Nguyễn Văn Quảng
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Bà Lơfevrơ là một bà góa sống ở nông thôn, thuộc loại các bà nửa tỉnh nửa quê hay diện áo đính ruybăng và mũ xếp nếp, thuộc số người thường nói ngọng, thường ra bộ ta đây trước bàn dân thiên hạ và che dấu một tâm địa thú vật kiêu kỳ dưới những vỏ bọc lòe loẹt và hài hước, chả khác gì việc giấu những bàn tay to tướng ửng đỏ trong những cái găng lụa thô.
 
Người hầu của bà là một bà nhà quê hết sức chất phác, tên Rôdơ.  Hai người sống trong một căn nhà nhỏ có những tấm đậy lỗ cửa màu xanh lá cây, dọc một con đường ở Noocmăngđơ giữa vùng Cô. Trước nhà có một rẻo vườn hẹp, hai bà bèn trồng một ít rau.
 
Và một đêm, kẻ gian đã lấy trộm chừng mươi cây hành. Vừa phát giác ra việc mất trộm, Rôdơ vội chạy lên báo và bà chủ bận váy len xuống ngay. Thật đau xót và hoảng hồn. Chúng đã ăn cắp của bà Lơfevrơ! Thế là chúng đã ăn cắp trong vùng và có thể lộn lại.
 
Hai bà già sợ hãi dò xét các dấu chân và trao đổi với nhau.
“Kìa, chúng vào lối ấy. Dấu chân còn trên tường đó thôi. Chúng nhảy xuống bồn hoa.”
“Chết thật, rồi sẽ thế nào? Còn bây giờ, làm sao mà yên đây?”
Tiếng đồn lan ra. Xóm giềng kéo đến, thừa nhận và bàn cãi. Hai bà già thấy bất kỳ ai đến cũng bộc bạch hết ý mình. Một bà hàng xóm khuyên: “Các bà phải nuôi chó đi”.
“Phải đấy! Các bà phải nuôi một con chó, chỉ để nó đánh thức thôi mà. Chẳng phải chó to đâu, lạy Chúa! Chó to mà làm gì! Nuôi chó to có mà sạt nghiệp! Chỉ cần một con bé thôi ( ở Noocmăngđơ, người ta gọi là con canh), một con canh vớ vẩn biết sủa là được”.
 
Mọi người vừa về hết, bà Lơfevrơ đã bàn mãi với Rôdơ chuyện nuôi chó. Bà nghiền ngẫm và tìm mọi cớ để bác chuyện đó, chỉ mường tượng đến một bát đầy thức ăn hổ lốn cho chó, bà đã phát khiếp lên rồi. Ấy là bà thuộc cái nòi phụ nữ thôn quê quen dè xẻn, lúc nào cũng trữ sẵn một ít xăngtim trong túi để công khai bố thí cho kẻ khó qua đường cũng như đóng góp cho các cuộc quyên tiền chủ nhật. Vốn yêu súc vật, Rôdơ khéo léo viện đủ lý lẽ và khăng khăng giữ ý. Vậy nên là bà chủ quyết định mua một con chó, nhưng nhỏ thôi.  Rôdơ bắt đầu đi tìm, nhưng toàn gặp chó to, toàn những chú ngốn xúp thùng bất chi thình đến phát sợ. Ông bán thực phẩm khô ở Rôlơvôn có một con rất nhỏ, nhưng ông đòi trả thêm hai frăng công nuôi. Bà Lơfevrơ tuyên bố bà rất muốn nuôi một con canh, nhưng bà chẳng mua đâu. Biết chuyện, một sáng, ông hàng bánh chở trong xe đến một con vật kỳ lạ bé xíu lông vàng, gần như không chân, mình thì hình cá sấu, đầu cáo, đuôi cong như kèn trôm-pét, một cái ngù thực sự, lớn bằng tất cả phần còn lại của con vật. Con chó trông ngứa mắt ấy, người khác thì muốn tống khứ đi ngay nhưng bà Lơfevrơ lại thấy đẹp, vì nó rẻ như bèo. Rôdơ bế nó lên hôn, rồi hỏi tên nó. Ông hàng bánh đáp “Pierô”.
 
Rôdơ cho nó vào một hòm đựng xà phòng củ, rồi cho nước uống. Nó uống. Tiếp theo, bà giơ cho một mẩu bánh mì. Nó ăn. Bà Lơfevrơ lo lo, chợt nghĩ: “Khi nó đã quen, mình cứ thả rông, nó sẽ tự kiếm ăn được”. Thực tế bà thả nó ra thật, nhưng chạy rông hoài, nó đói vẫn hoàn đói. Vả chăng, nó chỉ sủa ăng ẳng để đòi ăn, và sủa ra trò. Ai muốn cũng vào vườn được. Pierô đến cọ cọ vào bất kể người nào, và không hề sủa. Tuy thế, bà Lơfevrơ dần dà quen với nó và đâm thích, thỉnh thoảng lại tự tay cho nó vài miếng bánh đã nhúng món ăn nấu qua loa của mình.
 
Bà chẳng mảy may ngờ rằng phải nộp thuế. Khi được báo phải nộp tám frăng – tám frăng, thưa bà! – để nuôi cái con canh ranh có sủa siếc gì đâu, bà suýt ngất xỉu. Tức thì, bà dứt khoát phải thoát khỏi Pierô. Nào ai tha thiết gì nó! Dân cư lân cận cách đến mười dặm đều vậy. Không còn cách nào khác, bà đành cho nó “pickê đuy ma”. “Pickê đuy ma” nghĩa là “xơi đất xét vôi”. Người ta cho “pickê đuy ma” đối với mọi con chó cần rũ bỏ.
 
Giữa một cánh đồng rộng, có một cái lều nhỏ, hay nói cho đúng, một cái mái tranh nhỏ úp trên mấy cái cọc cao. Ấy là lối xuống “mỏ đất sét vôi”. Một cái lỗ lớn thành thẳng đứng như một cái giếng sâu thăm thẳm đến hai mươi mét, dẫn xuống nhiều hang mỏ dài. Mỗi năm người ta chỉ đẩy xuống đấy một lần vào mùa nông dân cần đất sét vôi để bón ruộng. Còn thì đó là nghĩa địa của những con chó bị kết án. Hễ qua lại gần miệng giếng, người ta nghe vọng lên những tiếng rú oán hờn, những tiếng sủa giận dữ hay tuyệt vọng, những tiếng kêu cứu thảm thương. Đến đấy, chó của thợ săn hay người chăn cừu liền luống cuống bỏ chạy. Khom người trên giếng, sẽ thấy ngay mùi thối rinh ghê rợn.  Những bi kịch khủng khiếp diễn ra dưới đáy sâu tối mò. Một con đang hấp hối từ mười đến mười hai ngày ở đó, chưa chết hẳn là nhờ mảnh thịt thối hoãng còn chưa rã hẳn của những con chết trước, thì đùng một cái, rớt xuống một con mới, dĩ nhiên béo khỏe hơn. Thế là chỉ có hai con với nhau, bụng đói mềm, mắt lóe sáng. Chúng rình nhau, quẩn theo nhau, chần chừ và khốn khổ. Nhưng cái đói thôi thúc chúng tấn công nhau, giằn xé nhau rất lâu và ác liệt. Con nào khỏe hơn sẽ ăn tươi nuốt sống con kia.
 
Quyết định cho Pierô “pickê đuy ma” rồi, hai bà tìm một người thực hiện. Bác thợ sửa đường đòi công mười xu. Bà Lơfevrơ thấy quá đắt. Lão hàng xóm đểu giả ưng nhận công năm xu thôi. Vẫn không chấp nhận được, Rôdơ bàn rằng nên đích thân đưa Pierô đi, vì nó không bị hành hạ dọc đường, lại biết trước được số phận của mình. Vậy nên hai bà dứt khoát là trước trời tối là đưa Pierô đi. Chiều muộn hôm ấy, bà Lơfevrơ chiêu đãi nó một bát súp ngon với một mẩu bơ bằng ngón tay. Nó chén sạch sành sanh. Nó đang vẫy đuôi mừng, thì Rôdơ ôm nó lên tạp dề. Hai bà tất tưởi đi qua đồng như đi cắt trộm rau. Loáng cái hai bà đã thấy mỏ đất và đến bên miệng giếng. Bà Lơfevrơ cúi xuống lắng nghe xem có con nào không. Không, không có con nào cả. Pierô sẽ chỉ có một mình dưới ấy thôi. Khóc nức lên, Rôdơ ôm hôn nó rồi thả nó xuống hố. Rồi hai bà cúi xuống lắng nghe. Thoạt đầu là một tiếng rơi đánh bịch, rồi một tiếng rú chói tai của một con vật bị thương nghe muốn vỡ tim, rồi từng chuỗi tiếng rên đau đớn, tiếp đó là những tiếng kêu xin tuyệt vọng, những tiếng cầu khẩn van nài tình thương.
Nó sủa, trời ơi, sủa ăng ẳng. Hai bà bỗng nhói lòng vì ân hận và kinh hoàng bỏ chạy. Rôdơ chạy nhanh hơn, bà Lơfevrơ phải gọi với: “Chờ tôi mấy, Rôdơ, chờ tôi mấy!”.
 
Đêm ấy, cả hai thấy toàn ác mộng hãi hùng. Bà Lơfevrơ mơ thấy khi ngồi vào cái bàn, mở liễn xúp ăn ra, Pierô ngồi bên trong. Nó nhảy lên, cắn vào mũi bà. Bà giật mình tỉnh dậy, tưởng còn nghe nó sủa. Bà lắng nghe. Rồi biết mình nhầm. Bà lại thiếp đi và thấy mình đang trên đường cái, một con đường vô tận. Bà đang đi, chợt thấy giữa đường một cái lẵng, kiểu lẵng trang chủ bị bỏ quên. Cái lẵng khiến bà sợ. Không nén nổi tò mò, bà mở lẵng ra. Ôi, Pierô đang nấp bên trong, liền đớp tay bà và không buông ra nữa. Bà hết hồn, chạy thục mạng, nhưng con chó vẫn ngoạm bàn tay. Pierô vẫn sủa ăng ẳng. Nó đã sủa suốt đêm. Bà bật khóc và vừa nấc, vừa gọi nó bằng đủ tên âu yếm. Nó đáp lại bằng đủ kiểu chuyển giọng trìu mến của loài chó. Lúc này, bà muốn được nhìn thấy nó, cứu nó lên, và tự hứa sẽ làm cho nó sung sướng cho đến khi chết. Bà tất tả lao đến nhà ông thợ giếng, vốn được giao việc khai thác đất sét vôi. Bà kể cho ông nghe chuyện Pierô. Ông thợ tim lặng lắng nghe. Khi bà kể hết ông mới thủng thẳng: “Bà muốn đưa chú canh của bà lên à? Xin cho bốn frăng!”.
Bà giật nảy người. Bao đau khổ bay đâu hết.
“Bốn frăng! Thế mà ông không sợ chết à? Bốn frăng!”.
Ông thợ đáp: “Bà tính, tôi phải đem dây chão và maniven đến, rồi mắc vào thành giếng, sau đó hai bố con tôi phải leo xuống, sẽ bị con canh khốn kiếp của bà tớp cho vài miếng nữa, tôi khốn khổ như vậy chỉ để cho bà vui được có lại nó, đúng không ạ? Đáng lẽ đừng quẳng nó đi!”.
Bà tếch thẳng, vẻ bất bình. Bốn frăng!
Vừa về đến nhà, bà đã gọi bà Rôdơ và kể lại yêu sách của ông thợ giếng. Vốn luôn luôn nhịn nhục, bà Rôdơ lắp bắp: “Bốn frăng! Thưa bà, tiền của bà đâu phải là vỏ hến ạ!”. Rồi bà nói thêm: “Có lẽ quẳng thức ăn xuống, nó sẽ không chết đâu, con canh tội nghiệp!”.
Bà Lơfevrơ thuận ngay, hí hửng ra mặt. Và bà lại ra đồng, với một tảng bánh mì phết bơ to bự. Hai bà xắt nhỏ ra từng miếng con, lần lượt ném xuống, thay nhau nựng Pierô. Vừa xơi xong một miếng, con vật đã sủa ăng ẳng để đòi miếng tiếp theo. Chiều hôm ấy, hai bà trở lại giếng. Rồi hôm sau, rồi ngày nào cũng vậy. Lâu dần, cứ như đi chơi. Thế nhưng một sáng, đúng lúc thả miếng bánh đầu tiên, các bà chợt nghe thấy một tiếng sủa ăng ẳng dữ tợn. Dưới ấy vậy là có hai con! Người ta đã quẳng thêm một con lớn xuống nữa! Bà Rôdơ thét lên: “Pierô!”. Pierô ăng ẳng đáp lại. Bà tiếp tế bánh cho nó. Nhưng mỗi lần ném xuống, hai bà lại nghe rõ tiếng hai con vật tranh nhau chí tử. Sau đó, chỉ còn nghe tiếng Pierô ư ử, vì nó yếu hơn, bị ăn chặn hết. Hai bà khẳng định: “Cho con đấy, Pierô!”, nhưng vô ích thôi. Tất nhiên, Pierô chẳng được miếng nào Họ nhìn nhau, thẫn thờ. Bà Lơfevrơ chua chát: “Tôi làm sao nuôi xuể mọi con chó ném xuống đây! Đành thôi vậy!”.
 
Uất lên vì nghĩ rằng con chó nào rơi xuống mỏ cũng sống bám vào mình, bà bỏ ra về, mang theo cả chỗ bánh còn lại, vừa đi vừa ăn. Bà Rôdơ vừa bước theo vừa kéo vạt tạp dề lên lau nước mắt.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Luyến tiếc
 
Dịch giả: Hồng Minh
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Savale, mà cả vùng Mante gọi sau lưng là ông lão Savale, vừa mới ngủ dậy. Hôm ấy là một ngày thu ảm đạm. Lá cây rụng lả tả. Lá chầm chậm rơi trong mưa, và ta tưởng như có hai trận mưa đồng thời, chỉ có điều trận mưa thứ hai to hạt hơn và thong thả hơn. Savale không vui. Ông đi đi lại lại từ lò sưởi ra mé cửa sổ, từ cửa sổ về phía lò sưởi. Trong cuộc đời ai cũng có những ngày đen tối. Đối với ông thì sẽ không có những ngày khác thế nữa, ông đã sáu mươi hai tuổi. Ông sống một mình, không vợ con, không người thân thích. Thật khổ tâm khi cứ như thế này mà chết đi, trong cô độc, không ai gắn bó, cũng chẳng ai quan tâm.
 
Savale ngẫm nghĩ về cuộc đời xiết bao nhạt nẽo và vô tích sự của ông. Ông nhớ lại thời quá khứ xa xưa: thời thơ ấu, ngôi nhà bố mẹ, hai cụ thân sinh của ông. Rồi trường trung học, những bước đi đầu tiên ra cuộc đời, khoa Luật ở Pari. Sau đó là bệnh tật và cái chết của bố ông. Ông quay về ở với mẹ. Hai mẹ con ông sống êm ả, và cả ông, khi đó còn trẻ, cả mẹ ông,  khi đó đã già, đều không cần gì hơn thế. Nhưng rồi mẹ ông cũng mất. Đến là buồn cái cuộc đời này!
 
Ông còn lại một mình. Chẳng bao lâu nữa sẽ đến lượt ông. Ông sẽ biến mất, và mọi chuyện sẽ kết thúc. Trên trái đất này sẽ không còn Paul Savale nữa. Thật khủng khiếp. Những người khác sẽ vẫn sống, yêu, cười đùa. Kỳ lạ quá đi thôi, làm sao người ta có thể cười đùa, vui vẻ, mừng rỡ, trong khi biết rằng rồi thể nào cũng chết? Giá như chỉ là xác suất, thì người ta còn có thể hy vọng gì đó, đằng này không phải thế - nó là tất yếu, cũng tất yếu như hết ngày lại đến đêm vậy.
 
Nếu trong cuộc đời ông có được dù chỉ là một cái gì- ông đạt được một điều gì đó chẳng hạn, hoặc ông có những chuyến phiêu lưu, hoặc ông được hưởng những niềm vui lớn, những thành công, những thích thú đủ kiểu, lại ra một lẽ!...Nhưng hoàn toàn không có chuyện ấy. Suốt đời ông chỉ có một việc: vào những giờ nhất định, ông dậy ăn, rồi lại đi ngủ. Và cứ như thế năm sáu mươi hai tuổi. Thậm chí ông không lấy vợ như những người khác. Tại sao vậy? Ừ, mà tại sao ông không lấy vợ nhỉ? Ông hoàn toàn có thể cho phép mình lấy một người phụ nữ chứ, vì ông có ít nhiều tài sản. Không có dịp chăng? Có thể như vậy. Nhưng dịp may đâu phải là cái để mà chờ đợi, để có dịp may, ta phải kiếm tìm. Không, chẳng qua tính ông quá thụ động. Thụ động là thiếu sót chủ yếu của ông, là thói xấu, là nỗi bất hạnh của ông. Nó đã làm hỏng cuộc đời bao nhiêu người! Có những bản tính làm việc gì cũng khó – dù là dậy khỏi giường, nhích khỏi chỗ, cất tiếng nói, hay là bắt tay vào làm một việc gì, tìm hiểu một điều gì.
 
Còn tình yêu? Ừ, cả tình yêu, ông cũng chưa bao giờ được nếm trải. Không một phụ nữ nào ngủ thiếp đi trong mê đắm tình yêu trên ngực ông. Ông chưa từng được cảm thấy nỗi xốn xang ngọt ngào của sự chờ đợi, cả sự hồi hộp thiên thần khi nắm lấy bàn tay đáng yêu, cả sự say sưa của niềm say mê đầy hứng khởi. Trái tim ta chắc hẳn tràn ngập một sự khoái lạc siêu đẳng khi đầu tiên cặp môi gặp cặp môi và vòng tay ôm hòa nhập hai con người cuồng nhiệt ham muốn nhau thành một niềm hạnh phúc vô biên!
 
Savale trong tấm áo choàng ngồi xuống bên lò sưởi và giơ chân về phía lửa. Rõ ràng là cuộc đời ông không ra sao, hoàn toàn chẳng ra sao cả. Vậy mà nghĩ cho kỹ, thì ông thấy mình cũng đã từng yêu. Ông đã yêu thầm lặng, đau khổ - và cũng như trong mọi việc, ông yêu một cách thụ động. Phải rồi, ông đã yêu bà Sandre, người bạn xưa kia của ông, vợ của ông Sandre, bạn cũ của ông. Thật tiếc, giá mà hai người quen biết nhau khi bà ấy còn là con gái. Nếu thế, nhất định ông sẽ cầu hôn bà. Nhưng họ lại gặp nhau quá muộn – bà ấy đã lấy chồng. Tuy nhiên, dù sao cũng có thể nói rằng ông đã mê luôn bà ấy ngay từ giây phút đầu tiên.
 
Savale hồi tưởng lại đã xúc động như thế nào khi gặp bà ấy, nhớ nhung ra sao khi chia tay và biết bao lần ông không ngủ vì hình ảnh bà ấy lúc nào cũng hiện rõ trong đầu ông. Nhưng buổi sáng, thức giấc, bao giờ ông cũng mê bà ít đi một chút so với tối hôm trước. Tại sao nhỉ? 
 
Cái cô gái đáng yêu, hay cười, có bộ tóc quăn vàng óng ấy, thật là xinh đẹp. Còn Sandre? Họ đâu có xứng đôi! Bây giờ cô gái ấy đã là một bà năm mươi tám tuổi và hình như hạnh phúc. Chà, nếu hồi đó nàng yêu ông, nếu nàng yêu! Tại sao nàng lại không yêu ông nhỉ? Ông yêu nàng đến thế cơ mà! Giá như nàng đoán ra dù chỉ chút ít…Chả lẽ nàng không nhận thấy gì, không trông thấy gì, không hiểu gì cả? Nàng nghĩ gì về ông? Và nàng sẽ trả lời sao, nếu ông tỏ tình? Savale tự đặt cho mình hết câu hỏi này đến câu hỏi khác. Một lần nữa ông bồi hồi nhớ lại những chi tiết nhỏ nhất. Ông nhớ lại những buổi tối dài dằng dặc ngồi chơi bài ở nhà Sandre, khi cô vợ của bạn ông hãy còn trẻ trung và duyên dáng. Ông nhớ lại đã cùng nàng nói những chuyện gì, nhớ lại giọng nói trầm bổng của nàng, nụ cười lặng lẽ, nhưng ngụ nhiều ý nghĩa của nàng.
 
Ông nhớ lại những cuộc đi dạo tay ba trên bờ sông Seine và những bữa sáng trên cỏ - tất nhiên là vào các ngày chủ nhật, vì Sandre làm việc ở quận. Và Savale bỗng hình dung rất rõ một hôm, lúc ấy đã quá trưa, ông đi dạo cùng nàng, chỉ có hai người, ở cánh rừng dọc theo con sông. Ba người rời nhà đi chơi từ sáng, đem theo các gói thức ăn. Hôm ấy là một ngày xuân tuyệt diệu – một trong những ngày khiến ai cũng phải ngây ngất. Xung quanh tất cả đều thơm ngát, đều toát lên niềm hạnh phúc. Ngay chim chóc hót líu lo cũng vui sướng hơn và bay lượn cũng nhanh hơn bình thường. Họ ngồi ăn sáng dưới mấy cây liễu, ngay sát mép làn nước như đang thiu thiu ngủ trong nắng. Không khí ấm áp ngào ngạt hương thơm cây cỏ, cảm giác khi hít thở sao mà nhẹ nhõm. Một ngày đẹp vô cùng, đẹp hết chỗ nói!
 
Ăn xong, Sandre ngả lưng xuống ngủ. “Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi ngủ ngon đến thế!”. Về sau, ông thú thật.
Vợ Sandre khoác tay Savale, và hai người đi dọc theo bờ sông. Nàng nép sát vào ông và vừa cười, vừa nói:
-Em đang say, anh ạ. Em đang say lắm lắm.
Ông nhìn nàng, rạo rực, cảm thấy mặt mình tái đi, ông sợ cái nhìn của ông sẽ trở nên quá táo tợn và cánh tay run run của ông sẽ để lộ nỗi niềm thầm kín trong lòng. Nàng bện cỏ và bông súng thành một tràng  hoa, đội lên đầu và hỏi:
-Anh có thích thế này không?
Ông im lặng, không biết trả lời thế nào, ông chỉ muốn quỳ xuống đất. Nàng cười, điệu cười pha chút hờn dỗi, rồi bực bội nói:
-Anh ngốc quá! Thì cũng phải nói một lời gì chứ!
Ông suýt bật khóc, nhưng rốt cuộc vẫn không mở miệng. Tất cả những cái đó bây giờ hiện len trong ký ức ông rõ ràng không kém gì lúc ấy. Tại sao nàng lại trách ông: “Anh ngốc quá! Thì cũng phải nói một lời gì chứ!”?
Savale nhớ lại nàng đã nép sát vào ông dịu dàng âu yếm đến mức nào. Lúc đi ngang qua một cái cây nghiêng mình xuống nước, ông cảm thấy tai nàng chạm vào má ông, ông vội né tránh: ông sợ nàng coi sự đụng chạm ấy là cố ý. Rồi nàng đưa mắt nhìn ông với vẻ kỳ lạ biết bao khi ông hỏi:
-Ta quay về chứ?
Đúng vậy, đúng vậy, cái nhìn của nàng trở nên rất đặc biệt. Lúc ấy ông không để ý, nhưng bây giờ ông nhớ lại rõ lắm.
-Tùy anh. Nếu anh đã mệt, thì chúng ta quay về.
Ông phản bác lại:
-Anh đâu có mệt, nhưng Sandre chắc là đã thức giấc.
Nàng nhún vai:
-À, nếu anh sợ chồng em thức giấc thì lại là chuyện khác. Ta về đi.
Suốt dọc đường, nàng im lặng và không lần nào tựa vào cánh tay ông. Tại sao nhỉ? Câu hỏi này, ông tự đặt ra cho mình lần đầu tiên. Ông có cảm giác ông đang loáng thoáng nắm bắt được một điều gì đó chưa bao giờ ông ngờ tới.
 
Chả lẽ lại thế?
 
Savale cảm thấy mình đỏ bừng mặt và trong cơn bối rối, ông bật dậy như thể ông trẻ lại ba mươi tuổi mà bỗng được nghe nàng nói: “Em yêu anh”. Liệu có thể như vậy không nhỉ? Điều phỏng đoán thoáng qua trong óc đã dầu độc tâm hồn ông. Chả lẽ ông đã không nhận thấy, đã không hiểu ra?
 
Ông đã bỏ lỡ hạnh phúc của ông?
 
Ông tự nhủ: “Ta phải biết chuyện này. Ta không muốn khổ sở vì hoài nghi. Ta phải biết!”. Không chậm trễ, ông vội vã mặc quần áo chỉnh tề. Ông nghĩ: “Mình đã sáu mươi hai, bà ấy đã năm mươi tám tuổi. Hoàn toàn có thể hỏi được rồi”. Thế là Savale bước ra khỏi nhà.  Gia đình Sandre ở ngay bên kia đường, gần như đối diện nhà ông. Ông sang đó. Nghe tiếng gõ cửa, cô gái giúp việc chạy ra. Sự xuất hiện của ông vào lúc quá sớm khiến cô ngạc nhiên.
-Ông đấy ạ, ông Savale? Có chuyện gì thế ạ?
Ông đáp:
-Không, không có chuyện gì cả, nhưng nhờ cô báo với bà chủ rằng tôi có chuyện cần nói ngay với bà ấy.
-Bà chủ đang bận nấu mứt lê dùng cho mùa đông. Bà ở dưới bếp, bà cũng chưa ăn mặc tề chỉnh.
-Nhờ cô cứ báo giúp. Việc rất quan trọng.
Cô gái giúp việc đi vào bên trong, còn Savale hồi hộp sải những bước dài đi đi lại lại trong phòng khách. Nhưng ông không cảm thấy ngượng nghịu. Ông sẽ hỏi bà chuyện đó cũng đơn giản như hỏi về một công thức nấu ăn vậy thôi. Ông đã sáu mươi hai tuổi rồi còn gì!
 
Cuối cùng, cánh cửa mở ra và bà Sandre xuất hiện. Bây giờ, đây đã là một phụ nữ to béo xồ xề, với hai má sệ xuống và tiếng cười oang oang. Bà vừa đi vừa vung rộng hai cánh tay để trần tới tận khuỷu và nhớp nháp mồ hôi.
-Anh làm sao thế? Anh bị ốm à? – bà lo lắng hỏi.
Ông đáp:
-Không, tôi vẫn khỏe, nhưng tôi cần hỏi chị một điều rất quan trọng với tôi và rất tế nhị. Nhưng chị hứa phải nói thật đấy nhé.
Bà mỉm cười:
-Bao giờ tôi chả nói thật. Anh hỏi đi.
-Thế này, tôi đã yêu chị ngay từ cái nhìn đầu tiên. Chị có biết không?
Bà cất tiếng cười vang, và giọng bà lại như giống hồi xưa:
-Anh ngốc quá! Tôi đã hiểu ngay như vậy mà.
Savale rùng mình lắp bắp:
-Chị có biết? Nhưng hồi ấy…
Và ông im lặng.
-Hồi ấy làm sao? – bà hỏi lại.
Ông nói tiếp:
-Hồi ấy…hồi ấy…Chị nghĩ thế nào? Nếu tôi hỏi, chị sẽ trả lời tôi ra sao?
Bà cười càng to hơn. Mấy giọt nước mứt lê chảy từ các ngón tay bà xuống đất.
-Tôi ấy à? Nhưng anh có hỏi tôi gì đâu. Mà tôi thì tỏ tình với anh sao được.
Ông nhảy lên một bước.
-Này…Chị hãy nói cho tôi biết: chị có nhớ cái hôm anh Sandre ăn sáng xong ngủ luôn trên cỏ, còn chúng ta…Hai chúng ta đi đến tận chỗ con đường rẽ ngoặt…
Ông chờ câu trả lời. Bà ngừng cười và nhìn thẳng vào mắt ông.
-Tất nhiên tôi nhớ.
Trong lòng hồi hộp, ông gặng hỏi tiếp:
-Thế…hôm ấy…chị sẽ xử sự ra sao, nếu tôi mạnh dạn hơn?
Bà mỉm cười như một người phụ nữ chẳng có điều gì phải luyến tiếc, rồi nói dằn từng tiếng bằng giọng hơi diễu cợt:
-Thì tôi sẽ chiều anh ngay.
Rồi bà quay gót luôn chạy vào nấu nốt nồi mứt.
 
Savale bước ra đường mà trong lòng bàng hoàng như vừa gặp một tai họa. Không nhìn xung quanh, không để ý đến đường đi, ông đội mưa sải những bước dài. Đến sông Seine, ông rẽ phải và đi dọc theo bờ sông. Ông đi mãi, như bị thôi thúc bởi một tình cảm gì đó rất bản năng. Quần áo ông ướt sũng, từ trên chiếc mũ đã rúm ró như giẻ rách của ông, nước mưa chảy xuống ròng ròng. Ông vẫn đi tiếp, đi tiếp, vẫn không để ý đến con đường dưới chân, và cuối cùng, ông đã đến chỗ họ ngồi ăn sáng trong cái ngày xa xưa mà bây giờ nhớ tới, trái tim ông tan nát.
 
Ông ngồi xuống gốc mấy cây liễu còn trụi hết lá và bật khóc.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant 
 
Trên biển
 
Dịch giả: Nguyễn Văn Quảng
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem 
 


Gần đây người ta đọc thấy trong các báo những dòng sau đây:
BULÔNHƠ-XUYAR-ME1, 22 tháng giêng – người ta viết cho chúng tôi.
“Một tai họa khủng khiếp vừa giáng lên đầu dân đi biển vốn đã đau khổ từ hai năm nay. Chiếc tàu đánh cá do ông chủ Javen chỉ huy đang đi vào cảng thì bị sóng hất sang phía Tây, húc vào để chắn sóng và vỡ tan.”
“Bất chấp những cố gắng của tàu cứu nạn và của súng phóng dây, bốn thủy thủ trên tàu và một thủy thủ tuổi thành niên đã bị thiệt mạng.”
Ông chủ Javen này là ai? Có phải là anh của một người cụt tay hay không?
Nếu con người đáng thương bị sóng nhấn chìm và có lẽ đã chết dưới vô số mảnh vụn của con tàu là người mà tôi đang nhớ tới, thì ông ta đã chứng kiến cách đây mười tám năm một tấn bi kịch khác cũng kinh khủng và giản dị như mọi thảm kịch nơi sóng cồn nước cuộn.
 
Bấy giờ, Javen là chủ của một tàu lưới rê. Tàu lưới rê là một tàu đánh cá tuyệt vời, chắc nịch đến không sợ bất kỳ thời tiết nào, bụng tròn, không ngớt bập bềnh trôi trên sóng như một chiếc phao câu, bao giờ cũng trưng ra giữa gió biển Măngsơ và bị quăng quật tơi bời, buồm luôn căng phồng. Nó hành hạ biển khơi không biết mệt mỏi với một cái lưới lớn kéo bên sườn, cái lưới chà suốt đáy đại dương, làm bật ra và thu lấy những sinh vật ngủ trên các khối đá, những con cá dẹt bám vào cát, những con cua lớn càng khoằm khoằm, những con tôm hùm râu nhọn hoắt. Khi sóng nhỏ, gió nhẹ và mát thì con tàu bắt đầu đánh cá. Lưới được luồn qua một cây sào lớn bằng gỗ cỏ nẹp sắt và được thả xuống biển nhờ dây cáp chạy trên hai trục lăn ở đầu và đuôi tàu. Đi theo gió và sóng, tàu kéo theo tấm lưới tàn phá đáy biển.
 
Trên tàu còn có em trai của Javen, bốn người nữa và một thủy thủ choai choai.
 
Gió nổi lên, một cơn lốc ập đến buộc con tàu lưới rê phải chạy. Nó định cập bờ biển nước Anh. Nhưng biển động dữ dội, sóng húc liên tục vào bờ đất sét, ngăn mất lối vào. Con tàu nhỏ lại ra khơi, trở về bở biển nước Pháp. Nhưng gió bão vẫn không cho nó vượt qua các đê chắn sóng, gần các đê này sừng sững bao lớp sóng gầm thét đầy hiểm họa. Con tàu lại trở ra khơi, cưỡi lên sóng mà đi, bị lắc liên tục, ướt đầm, thở đứt hơi, nhưng rất vui, bất chấp tất cả, quen dần với giông bão có khi giam nó năm sáu ngày trong cảnh lang thang giữa hai nước láng giềng mà không sao cập bến được vào một nước.
 
Cuối cùng bão lặng. Tuy sóng còn to, nhưng tàu vẫn ở ngoài khơi, ông chủ hạ lệnh thả lưới. Thế là, tấm lưới được đưa ra ngoài mạn tàu, rồi hai người đằng đầu, hai người đằng đuôi tàu, bắt đầu thả quây neo. Đột nhiên, lưới chạm đáy biển, nhưng con sóng cao ngất làm nghiêng tàu. Ở đầu tàu và điểu khiển việc buông lưới, Javen em lảo đảo, một cánh tay bị kẹp giữa dây neo và thanh gỗ buộc. Anh dùng tay kia, đem hết sức bình sinh cố nâng dây neo len, nhưng tấm lưới đã chùng nên dây neo vẫn căng hết cỡ. Co rúm lại vì đau, anh kêu cứu. Mọi người chạy lại. Ông anh rời tay lái. Chủ và thợ hợp sức nâng dây neo để lôi cánh tay bị kẹt ra. Nhưng vô hiệu. “Phải cắt thôi”, một thủy thủ đề nghị, và lôi trong túi ra một con dao lưỡi rộng, chỉ hai nhát là có thể giải thoát cánh tay cho Javen em.
 
Nhưng cắt dây neo, có nghĩa là một tấm lưới, có nghĩa là mất tiền, nhiều tiền lắm, một ngàn rưởi frăng. Mà tiền đó là của Javen anh, tài sản của ông ta. Ông ta kêu lên, lòng đau nhói: “Chớ, chớ cắt! Tôi sẽ lái ra hướng gió”. Và ông chạy về bánh lái, quay ngược hẳn lái lại. Con tàu hầu như chẳng nhúc nhích, một phần vì bị tấm lưới nặng giữ chặt, phần nữa do dức níu của gió và sóng. Javen em ngã ngồi, hai đầu gối quỳ xuống, hốt hoảng. Anh chẳng nói gì. Ông anh quay lại, vẫn sợ thủy thủ chặt dây: “khoan, khoan! Đừng cắt! Phải làm ướt neo”. Neo được tưới ướt, dây neo chùng đi thật, người ta đổi hướng về phía tời đứng, dể cho dây neo chùng hẳn ra, và cuối cùng gỡ được cánh tay tê cứng, dưới ống tay áo len đẫm máu.
 
Mặt Javen em đần ra như một thằng ngây. Bạn chài cởi áo varơi cho anh và kinh hoàng nhìn thấy một đám thịt bầy nhầy từ đó máu phọt ra như suối. Anh nhìn cánh tay mình, nói sẽ: “Rõ tệ!”.
 
Thấy máu đọng thành một vũng lớn trên cầu tàu, một thủy thủ kêu lên: “Ông ấy đến kiệt máu mất thôi. Phải nối mạch máu lại chứ ạ!”. Các bạn thuyền bèn vớ lấy một sợi dây, một sợi dây to màu nâu có phết nhựa đường, rồi quấn lấy cánh tay bên trên vết thương, rồi ra sức thít chặt. Máu chảy chậm lại và cuối cùng ngừng hẳn Javen em đứng lên, cánh tay bị thương thõng thượt bên sườn. Anh lấy tay kia nắm lấy nó, nâng lên, xoay xoay, lắc lắc. Nó như chết rồi, xương dường như gãy hết, chỉ cơ bắp là còn có vẻ sống được. Anh nhìn nó, mắt buồn thiu, nghĩ ngợi miên man. Rồi anh ngồi xuống một cánh buồm đã cuộn lại. Các bạn khuyên anh luôn luôn thấm ướt vết thương để nó khỏi tấy lên. Người ta đổ một xô nước bên anh. Gần như từng phút một, anh lấy cốc múc nước tưới lên vết thương ghê rợn, từ đó không ngừng chảy xuống một tia nước trong veo.
-Chú xuống dưới mà ngồi thì dễ chịu hơn – ông anh bảo.
Anh đi xuống, nhưng chừng một giờ sau lại leo lên vì ngồi một mình chán lắm. Mới lại, anh thích khí trời thoáng rộng, anh ngồi xuống cây buồm và tiếp tục rưới vết thương.
 
Mẻ lưới rất to, cá rất nhiều. Những chú cá mình rộng, bụng trắng nằm ườn bên anh, đang giẫy chết. Anh vừa ngắm chúng vừa tưới nước lên tay mình.
 
Đoàn đánh cá sắp trở về Bulônhơ thì gió lại nổi. con tàu nhỏ lại bắt đầu cuộc trôi nổi rồ dại, nhảy chồm chồm trên sóng, vật mình vật mẩy trong gió, tha hồ lắc người bị thương trong sầu muộn. Đêm xuống. Gió bão cho đến tận bình minh. Lúc mặt trời mọc, họ lại nhìn thấy nước Anh. Nhưng biển không dữ lắm nên họ cho thuyền đi ngoắt ngoéo để quay về nước Pháp.
 
Sang chiều, Javen em gọi bạn chài lại, chỉ cho thấy vết ến trên phần xương thịt không còn là của anh, ấy là dấu hiệu của sự thối rữa. Họ nhìn và bàn bạc. Người bảo:
-Cơ chừng hỏng mất rồi!
Kẻ khuyên:
-Phải cho nước mặ vào!
Họ mang nước muối đến và rưới lên vết thương. Javen em tím tái đi, nghiến răng ken két, hơi quằn quại nhưng không kêu la. Sau đó, khi vết thương dịu đau, anh bảo anh trai: “Cho em mượn con dao của anh”. Ông anh đưa dao cho anh.
“Giữ thẳng hộ cánh tay tôi, nắm chặt lấy bắp”.
Bạn chài làm theo ý anh. Anh bèn tự cắt tay mình. Anh làm nhẹ nhàng, cẩn trọng rồi chặt đứt những sợi gân cuối cùng với cái lưỡi dao sắc như dao cạo. Thoáng cái, anh chỉ còn một mẩu cánh tay. Anh trút một tiếng thở dài và dõng dạc nói: “Phải thế thôi. Tôi hỏng rồi!”. Anh như được an ủi và thở phì phò. Anh lại tưới nước lên cái tay cụt.
 
Đêm còn xấu trời hơn, tàu không thể vào bờ được.
Khi trời sáng, Javen em cầm lấy đoạn cánh tay bị cắt và quan sát hồi lâu. Thịt đã thối. Bạn thuyền quây đến, ngắm nghía rồi chuyền tay nhau, sờ nắn, xoay xoay và ngửi.
Ông anh bảo: “Quẳng nó xuống biển đi. Đã đến lúc rồi đấy”.
Nhưng Javen em nổi xung: “Không được, không được! Tôi không muốn thế. Nó là của tôi, chẳng thế là gì hả? Nó là một phần cánh tay tôi!”.
Anh giằng lấy và đặt vào giữa chân mình.
-Nó sẽ thối rữa ra thôi – người anh bảo.
Một ý kiến chợt nảy ra trong đầu người em. Để cá khỏi thiu thối khi phải ở lâu ngoài biển, người ngư dân thường xếp cá thành từng lớp trong thùng muối. Anh hỏi: “ Tôi có thể để nó vào nước muối được không?”
“Được chứ, được chứ” – bạn chài cùng đáp. Tức thì họ dốc cá trong một thùng ra, thùng nào cũng đầy cá sau mấy ngày đánh bắt vừa rồi. Rồi đặt mẩu cánh tay bị chặt rời ra xuống đấy. Đổ nước muối lên trên, sau đó lại một lớp cá một lớp muối. Một thủy thủ pha trò: “Tôi đến phải bán đấu giá nó thôi!”.
 
Mọi người cười ồ lên trừ hai anh em Javen.
 
Gió vẫn thổi mạnh. Đoàn đánh cá cho thuyền chạy ngoắt ngoéo cho mãi đến mười giờ ngày hôm sau. Javen em không ngớt tưới nước lên vết thương của mình. Thỉnh thoảng anh đứng lên và đi suốt từ đầu đến cuối con tàu. Người anh vừa cầm lái vừa đưa mắt theo dõi và lắc đầu.
 
Sau cùng, tàu cũng về đến cảng.
 
Thầy thuốc khám vết thương và bảo rất tốt. Ông băng bó cẩn thận và kê đơn cho Javen em nghỉ. Nhưng anh không muốn xa đoạn tay bị mất nên hối hả quay ra cảng tìm cái thùng cá, mà anh đã đánh dấu chữ thập. Người ta tháo cá ra trước mắt anh. Anh lấy lại phần xương thịt được giữ rất đẹp trong muối, răn reo và mát rượi. Anh gói nó trong một cái khăn mặt anh dụng ý đem theo rồi về nhà. Vợ con anh ngắm nghía hồi lâu đoạn tay của chồng và bố, sờ nắn mấy ngón, nhặt hết những hạt muối còn bám dưới móng, rồi mời bác thợ mộc đến đóng cho một chiếc quan tài tí hon.
 
Hôm sau, cả nhóm bạn thuyền tập hợp lại để đưa đám mẩu cánh tay bị lìa ra kia. Hai anh em Javen đi bên dẫn đầu. Người giữ đồ thánh của xứ đạo cắp cái quan tài dưới nách.
 
Javen em ngưng đi biển. Anh được nhận vào làm một việc hèn mọn trong cảng. Về sau, hễ nói đến tai nạn của mình, anh lại rỉ tai người nghe: “Nếu anh tôi chịu cắt lưới, nhất định tôi còn cánh tay. Nhưng anh ấy so đo, chỉ nghĩ đến tiền…”.
 
Chú thích
Nghĩa là báo “Bulônhơ trên biển”
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Đi ngựa
 
Dịch giả: Lê Hồng Sâm
Nguồn: banhsukem 
Đánh máy: banhsukem
 
 
Nhà nghèo sống chật vật nhờ vào đồng lương ít ỏi của người chồng. Từ khi họ lấy nhau đến giờ, hai đứa con ra đời, và sự túng bấn ban đầu đã trở thành một nỗi nghèo hèn âm thầm, che đậy, tủi hổ, một nỗi nghèo hèn của gia đình quý phái dù sao vẫn muốn giữ địa vị của mình.
 
Hécto đơ Gribơlanh được nuôi dạy ở tỉnh nhỏ, tại trang viên bên nội, do một vị mục sư già làm gia sư. Nhà chàng không giàu nhưng vẫn sống lần hồi và gìn giữ mẽ ngoài. Rồi năm chàng hai mươi tuổi, gia đình tìm công ăn việc làm cho chàng, và chàng vào làm nhân viên hưởng lương một ngàn năm trăm quan ở Bộ Hàng Hải. Chàng đã dạt vào tảng đá ngầm ấy như hết thảy những kẻ không sớm được chuẩn bị cho sự chiến đấu gay go với cuộc sống, tất cả những kẻ nhìn đời qua một áng mây mờ, không biết phương sách và lực đề kháng, những kẻ không được phát triển từ nhỏ những năng khiếu đặc thù, những khả năng riêng, một nghị lực gắt gao để đấu tranh, tất cả những kẻ không được giao cho một vũ khí hay một dụng cụ trong tay.
 
Ba năm đầu chàng làm việc ở sở thật kinh khủng. Chàng đã gặp lại được dăm người bạn của gia đình, những người già nua lận đận và cũng không giàu có gì, họ ở những khu phố quý phái, những khu phố buồn tẻ tại ngoại ô Xanh Giecmanh, và chàng đã tạo cho mình một nhóm giao du thân cận. Xa lạ với cuộc sống tân tiến, hèn mọn và kiêu hãnh, các vị quý tộc quẫn bách này ở những tần nhà cao trong các ngôi nhà thiếp chủ. Người ở các tòa nhà đó từ trên chí dưới đều có chức tước, nhưng tiền nong dường như khan hiếm, ở tầng một cũng như ở tầng sáu. Những thành kiến cố hữu muôn đời, những băn khoăn về địa vị, mối lo toan làm sao cho khỏi lụn bại luôn ám ảnh những gia đình xưa kia hào hoa rực rỡ và sa sút đi vì sự ăn không ngồi rồi của nam giới. Hécto đơ Gribơlanh gặp gỡ trong giới này một thiếu nữ quý phái mà nghèo giống chàng, và lấy nàng làm vợ.
 
Trong bốn năm trời họ sinh hai đứa con. Ròng rã bốn năm sau nữa, cái gia đình luôn túng thiếu nheo nhóc này không được hưởng niềm vui giải trí nào khác ngoài buổi dạo chơi ngày chủ nhật ở Săng Êlidơ và dăm tối xem hát, mỗi mùa đông được một, hai lần, nhờ có một bạn đồng nghiệp tặng vé mời. Nhưng vào mùa xuân năm nay, anh nhân viên được ông sếp giao cho việc làm thêm và được lĩnh món tiền thưởng kỳ lạ là ba trăm quan. Đem số tiền đó về, chàng bảo vợ:
-Em Henriette thân yêu, chúng ta phải hưởng một cái gì đó, một cuộc vui cho con chẳng hạn.
Và sau khi bàn cãi rất lâu, họ quyết định sẽ về dạo chơi và ăn trưa ở vùng quê.
-Thực đấy! – Hecto kêu lên – một lần chẳng thành lệ quen được, chúng ta sẽ thuê một cỗ xe cho các con, cho em và chị vú, anh sẽ lấy một con ngựa ở nơi tập ngựa. Đi như vậy có lợi cho anh.
Và suốt tuần, họ chỉ nói về cuộc du ngoạn sắp tới. Mỗi tối, ở sở về, Hecto lại ôm lấy đứa con lớn, đặt nó cưỡi lên chân mình, vừa dùng hết sức lực nhún cho nó nhảy lên nhảy xuống, vừa bảo nó:
-Chủ nhật tới, đi dạo chơi, bố sẽ phi ngựa như thế này này.
Và thằng bé, suốt ngày, cưỡi lên ghế, lôi ghế vòng quanh phòng mà kêu: “Đây là bố đi ngựa đấy!”.
Và cả chị vú cũng nhìn ông chủ bằng cặp mắt thán phục, mà nghĩ rằng ông sẽ cưỡi ngựa đi kèm bên xe, và trong bữa ăn, chị nghe ông nói về thuật cưỡi ngựa, nghe ông kể lại các thành tích xưa kia, khi còn ở nhà bố. Ồ! Ông đã được tập luyện chu đáo, và một khi đã cưỡi lên con vật, ông chẳng sợ gì hết.
Hecto vừa xoa xoa hai bàn tay vừa lặp lại với vợ:
-Nếu họ cho anh được một con hơi khó nết thì anh sẽ thấy rất thú vị. Rồi em xem anh cưỡi như thế nào, và nếu em muốn, khi ở rừng về, ta sẽ về lối Săng Êlidơ. Vì trông chúng mình tươm tất, anh sẽ lấy làm hài lòng nếu gặp ai đó ở Bộ. Muốn cấp trên nể mình, chỉ cần có vậy thôi.
 
Vào ngày đã định, xe và ngựa tới trước cửa cùng một lúc. Chàng xuống nhà ngay để xem xét con vật minh cưỡi. Chàng đã cho đính những miếng đệm vào quần, và sử dụng chiếc roi ngựa vừa, mua hôm trước. Chàng nhấc lên và sờ từng chân một, đủ cả bốn cẳng chân con vật, nắn cổ, sườn, kheo, lấy tay gõ thử dưới lưng, mở mõm xem răng, công bố tuổi của con vật, rồi thấy cả nhà đã xuống, chàng diễn giải một bài lý thuyết và thực hành nho nhỏ về ngựa nói chung và đặc biệt con này mà chàng công nhận là hảo hạng. Khi hết thảy mọi người đã yên vị trong xe, chàng kiểm tra lại đai yên rồi nhún bổng một bên bàn đạp, chàng rơi xuống mình ngựa, con vật nhảy lên dưới sức nặng và suýt hất người cưỡi. Hecto xúc động, cố vỗ về nó.
-Nào, ngoan nào, anh bạn, ngoan nào.
Rồi, khi kẻ bị cưỡi đã bình tĩnh lại được, và kẻ cưỡi đã vững chãi lại được, anh này nói: “Xong cả chưa?”. Ai nấy đều trả lời: “Rồi ạ”. Chàng bèn ra lệnh: “Lên đường!”. Và đoàn người ngựa ra đi.
Ai nấy đều nhìn chàng chăm chú. Chàng phi nước kiệu theo kiểu Anh, cường điệu những lúc nảy lên nảy xuống. Vừa rơi mình xuống yên, chàng đã bật dậy như muốn vút lên không trung. Chốc chốc chàng lại như sắp rạp xuống mình ngựa, và chàng nhìn đăm đăm về phía trước, mặt tái đi, co rúm lại. Vợ chàng bế một đứa trẻ trên lòng, và chị vú bế đứa kia, cứ luôn mồm nhắc đi nhắc lại: “Nhìn bố kìa, nhìn bố kìa!”.
Và hai thằng bé say sưa vì sự vận động, vì vui thích, vì khí trời tươi mát, kêu lên the thé. Con ngựa, hoảng sợ vì những tiếng hò la ấy, cuối cùng, phi nước đại và trong khi chàng kỵ mã cố kìm nó dừng lại thì cái mũ lăn xuống đất. Anh đánh xe phải nhảy xuống nhặt và khi Hecto nhận mũ anh ta đưa cho, chàng nói với lại từ xa bảo vợ:
-Đừng cho lũ trẻ kêu lên như thế, em làm anh bị cuốn đi đấy!
 
Họ ăn bữa trưa tren bãi cỏ, trong rừng Vêxinê, dùng lương thực mang theo trong hòm. Mặc dù anh lái xe đã chăm sóc ba con ngựa, Hecto cứ chốc chốc lại đứng dậy ra xem con của mình có đầy đủ mọi thứ không, và chàng vuốt ve cổ nó, cho nó ăn bánh mì, bánh ngọt, đường. Chàng tuyên bố:
-Con này phi khá lắm. Lúc đầu nó còn hơi lắc làm anh bị sóc nảy lên, nhưng em thấy anh tĩnh trí trở lại rất nhanh, nó đã nhận ra chủ nó rồi, bây giờ nó không cựa quậy nữa đâu.
Như đã quy định trước, họ trở về theo lối Săng Êlidơ. Đại lộ thênh thang nghìn nghịt những xe cộ. Và hai bên đường, người đi dạo đông đến nỗi tưởng như hai dải băng đen dài buông từ Khai Hoàn Môn đến tận quảng trường Côngcooc. Nắng dội xuống tất cả đám người đó, làm ánh ngời lên làn véc ni sơn đen, nước thép của yên cương, những quả nắm ở cửa xe. Một cơn mê cuồng vận động, một nỗi say đời dường như khuấy đảo đám đông người, vật, xe này. Và đằng kia, tháp Ôbêlixcơ vươn lên trong một áng sương vàng.
Con ngựa của Hecto, vừa vượt qua Khải Hoàn Môn, đột nhiên lại hăng lên, và nó phóng nước kiệu lớn qua các phố, về phía chuồng ngựa, mặc dù người cưỡi cố tìm cách làm nó dịu lại. Bây giờ cỗ xe đã ở xa, xa mãi đằng sau, và đến trước Nhà triển lãm công nghiệp, con vật thấy địa thế rộng, bèn rẽ sang phải và phi nước đại. Một bà già khoác tạp dề bình thản đi ngang qua đường, bà ta ở đúng vào lối Hecto đang vùn vụt tới. Bất lực không kìm nổi ngựa, chàng lấy hết hơi sức thét lên: “Này! Ấy! Này! Đằng kia này!”.
Hình như bà lão điếc, vì bà cứ thản nhiên đi tiếp cho đến lúc va vào ngực con ngựa đang lao đi như một đầu máy xe lửa, bà ngã lăn ra cách đó mươi bước, váy tốc lên, sau khi đã lăn ba vòng lộn nhào đầu xuống đất. Có tiếng kêu: “Bắt lấy hắn!”. Hecto, bàng hoàng hoảng hốt, bám chặt lấy bờm ngựa mà hét:
-Cứu tôi với!
Một cái sốc nảy lên kinh hoàng hất chàng bắn tung như quả bóng qua tai con tuấn mã của chàng và rơi vào tay một viên cảnh sát vừa lao đến đón đường. Chỉ trong giây phút, một đám người giận dữ, hoa chân múa tay, gào thét om sòm, đã tụ tập quanh chàng. Nhất là một vị già cả, một vị già cả mang huy chương lớn hình tròn và bộ ria lớn bạc trắng, có vẻ rất phẫn nộ. Ông ta nhắc đi nhắc lại:
-Quái quỷ, đã vụng dại như thế thì ở nhà cho xong! Không biết điều khiển một con ngựa thì đừng có ra phố mà giết người!
Nhưng bốn người đàn ông đã khiêng bà già đến. Bà ta trông như chết rồi, với bộ mặt vàng ệch và chiếc mũ trùm xộc xệch, lấm bụi bê bết.
-Đem người đàn bà này đến nhà một dược sĩ – vị già cả ra lệnh – còn ta đến sở cảnh sát.
 
Hecto lên đường, có hai cảnh binh đi kèm. Một cảnh binh thứ ba dắt con ngựa của chàng. Một đám đông theo sau, và bỗng nhiên, cỗ xe xuất hiện. Vợ chàng lao tới, chị vú mất tinh thần, lũ trẻ rú lên. Chàng giải thích rằng chàng sẽ về ngay, rằng chàng làm ngã một người đàn bà, rằng không sao cả. Và gia đình chàng ra về, hoảng hốt. Tại sở cảnh sát, sự trình bày cũng ngắn gọn. Chàng khai tên mình, Hécto đơ Gribơlanh, nhân viên Bộ Hàng hải, và họ chờ tin tức của người bị thương. Một cảnh binh được cử đi xem tình hình quay về. Bà đã tỉnh, nhưng đau ghê gớm ở bên trong, bà bảo thế. Đó là một bà già làm công, sáu mươi nhăm tuổi, tên là Ximông.
 
Khi biết bà ta không chết, Hecto lại hy vọng, và hứa sẽ chịu tiền phí tổn chữa chạy. Rồi chàng chạy đến nhà ông dược sĩ. Một đám đông nhốn nháo đứng đầy trước cửa, bà lão nằm lả trong ghế bành, rền rĩ, hai tay bất đồng, mặt ngây ra. Hai thầy thuốc vẫn đang khám nghiệm. Không chân tay nào bị gãy, nhưng họ ngại có sự tổn thương bên trong. Hecto nói với bà:
-Bà có đau lắm không?
-Ôi! Có!
-Ở đâu?
-Như thể trong bụng tôi có lửa đốt.
Một thầy thuốc tiến lại gần:
-Thưa ông, ông là người gây ra tai nạn phải không?
-Thưa ông, vâng.
-Phải gửi người đàn bà này đến nhà an dưỡng, tôi biết một nơi sẽ nhận bà ta với giá sáu quan một ngày. Ông có muốn tôi thu xếp dùm không?
Hecto phấn khởi cảm ơn và trở về nhà. Vợ chàng khóc lóc đợi chàng. Chàng an ủi vợ:
-Không sao cả. Cái nhà bà Ximông ấy đỡ rồi, chỉ vài ba ngày nữa là khỏi hẳn, anh đã gửi bà ta đến một nhà an dưỡng, không sao cả!
 
Không sao cả!
 
Ngày hôm sau, tan sở, chàng đến hỏi thăm bà Ximông. Chàng thấy bà đang ăn món cháo thịt một cách rất thỏa mãn
-Thế nào? – chàng hỏi.
Bà ta trả lời:
-Ôi, khốn khổ thưa ông, chả khác gì hết. Tôi gần như bại hoại. Không thấy đỡ.
Thầy thuốc tuyên bố là phải chờ đợi, e có thể xảy ra biến chứng. Chàng đợi ba ngày, rồi chàng trở lại. Bà già, khí sắc sáng sủa, mắt trong leo lẻo, vừa nhìn thấy chàng là rền rĩ:
-Khốn khổ thưa ông, tôi không cựa quậy được nữa. Tôi bị thế này đến hết đời thôi.
Hecto rùng mình thấu xương. Chàng hỏi thầy thuốc. Thầy thuốc giơ tay lên trời:
-Làm thế nào được, thưa ông, về phần tôi, tôi không biết. Bà ấy cứ hét lên khi người ta định nâng dậy. Ngay như xê dịch cái ghế bành bà ấy ngồi, bà ấy cũng kêu la thê thảm. Tôi đành phải tin điều bà ấy nói với tôi, thưa ông, tôi không ở bên trong. Chưa trông thấy bà ấy đi lại thì tôi không có quyền cho là bà ấy nói dối.
 
Bà lão im lặng nghe, mắt nhìn thâm hiểm.
 
Tám ngày trôi qua, rồi mười lăm ngày, rồi một tháng. Bà Ximông không rời cái ghế bành của bà. Bà ăn từ sáng đến tối, béo ra, trò chuyện vui vẻ với các bệnh nhân khác, có vẻ quen với sự im lìm bất động, dường như đó là sự nghỉ ngơi xứng đáng cho năm mươi năm trời lên thang xuống thang, lật đật, rũ đệm, vác than từ tầng gác này đến tầng gác khác, dọn dẹp quét tước.
 
Hecto bàng hoàng, ngày nào cũng đến, ngày nào cũng nhìn thấy bà bình tĩnh thanh thản và tuyên bố:
-Tôi không cựa quậy được, khốn khổ thưa ông, không được nữa.
Tối nào bà Gribơlanh cũng hỏi, đầy lo âu khắc khoải:
-Thế bà Ximông rao sao?
Và lần nào chàng cũng trả lời với nỗi rầu rĩ tuyệt vọng:
-Chẳng có thay đổi gì, chẳng có gì hết!
Họ cho chị vú thôi việc, vì tiền công của chị nay thành gánh nặng. Họ lại tằn tiện hơn nữa, toàn bộ món tiền thưởng hết sạch vào đó.
 
Hecto bèn mời bốn thầy thuốc lớn tập hợp xung quanh bà lão. Bà để cho họ khám xét, sờ nắn, rờ rẫm, và nhìn họ bằng con mắt láu lỉnh. Một thầy thuốc nói:
-Phải làm cho bà ta đi lại.
Bà ta kêu to:
-Tôi không đi được, các ngài ơi, không đi được!
Họ bèn tóm lấy bà, xốc bà lên, kéo bà đi vài bước, nhưng bà tuột ra khỏi tay họ và ngã lưng xuống sàn mà gào thét kinh khủng đến nỗi họ khiêng trả bà lại ghế ngồi một cách gượng nhẹ cực kỳ. Họ phát biểu một ý kiến dè dặt, tuy nhiên vẫn kết luận là mất khả năng lao động. Và, khi Hecto báo tin này cho vợ biết, nàng để rơi mình xuống ghế, lắp bắp:
-Mang bà ấy về đây còn hơn, đỡ tốn kém cho ta.
Chàng nhảy lên:
-Về đây, về nhà chúng ta ư em?
Nhưng nàng, giờ đây đành nhẫn nhục chịu đựng hết thảy, trả lời, nước mắt lưng tròng:
-Làm thế nào được hả anh, có phải lỗi tại em đâu!...
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Trong rừng
 
Dịch giả: Trần Thanh Ái
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem


 
Viên xã trưởng sắp ngồi vào bàn dùng bữa, thì có người đến bảo rằng lão gác rừng vừa bắt giữ hai người, và đang đợi ông ngoài văn phòng.
 
Ông vội vã đi ngay ra đó, và quả thật ông thấy lão Ô-sơ-đuya đang nghiêm khắc đứng canh chừng một đôi nam nữ, dáng dấp người thành thị, tuổi đã xế chiều.
 
Gã đàn ông, vẻ đẫy đà, mũi đỏ lừ, tóc bạc trắng, trông bơ phờ. Mụ đàn bà ăn mặc như đi trẩy hội, tròn lẳn trông phục phịch, đôi gò má bóng nhẫy, đứng nhìn với vẻ thách thức lão nhân viên công lực đã bắt giữ mình.
Viên xã trưởng hỏi:
-Chuyện gì thế kia, lão Ô-sơ-đuya?
Lão gác rừng kể lại.
Sáng sớm, vào giờ thường lệ, lão đánh một vòng bên khu rừng Săng-pi-u, đến tận ranh giới Ac-tăng-giơi. Lão không nhận ra điều gì khác lạ cả, ngoại trừ hôm ấy trời thật đẹp, và cánh đồng lúa trĩu hạt. Nhưng, đứa con trai nhà Brơ-đen đang xới đất trong vườn nho, gọi lão ơi ới:
-Bớ! Lão Ô-sơ-đuya! Hãy đến bìa rừng mà xem! Ở líp thứ nhất ấy! Lão sẽ thấy một cặp bồ câu, cả hai cũng phải đến trăm ba mươi tuổi ấy!
Lão bèn đi về phía đã chỉ. Lão luồn lách qua các bụi rậm, và nghe tiếng chuyện trò, tiếng thở hổn hển, khiến lão cho rằng đây là một vụ vi phạm thuần phong mỹ tục. Do đó, lão rạp người xuống đất mà bò tới, như thể rình bọn săn bắn trộm, và tóm gọn đôi uyên ương này ngay vào lúc họ thả mình theo thú tính.
 
Viên xã trưởng rất đỗi ngạc nhiên, chăm chú quan sát hai thủ phạm. Gã đàn ông phải đến sáu mươi tuổi, còn mụ đàn bà, chí ít cũng phải năm mươi lăm. Ông lập tức hỏi cung họ, và bắt đầu bằng người đàn ông. Gã trả lời yếu ớt đến nỗi khó lòng mà nghe được.
-Ông tên gì?
-Ni-cô-la Bô-ranh.
-Nghề nghiệp?
-Bán tạp hóa, phố Mac-tia, ở Pa-ri.
-Ông đã làm gì ở trong rừng?
Gã câm lặng, nhìn xuống chiếc bụng phệ của mình, hai tay úp xuống đùi. Viên xã trưởng hỏi tiếp:
-Ông có phủ nhận những gì mà nhân viên công lực vừa kể không?
-Thưa ông, không.
-Vậy là ông thú nhận?
-Vâng, thưa ông.
-Ông có muốn nói gì để biện hộ không?
-Không, thưa ông.
-Ông đã gặp tong phạm của ông ở đâu?
-Thưa ông, đó là vợ tôi.
-Vợ ông à?
-Vâng, thưa ông.
-Vậy là…vậy là…ông bà không sống chung với nhau?...ở Pari à?
-Thưa ông, chúng tôi đang sống chung với nhau.
-Nhưng…vậy thì…vậy thì…ông thật ngu xuẩn, hoàn toàn ngu xuẩn, ông bạn ạ, để bị tóm cổ như thế, ngay giữa đồng, lúc mười giờ sáng.
Gã bán tạp hóa chỉ chực khóc òa lên vì xấu hổ. Gã lí nhí:
-Chính vì bà ấy muốn thế! Tôi đã bảo bà ta rằng làm như thế là điên khùng. Nhưng một khi đàn bà đã nghĩ ra được điều gì trong đầu…ông biết đấy…thì họ không thể nào dứt ra được.
Viên xã trưởng là người dí dỏm, mỉm cười và vặn lại:
-Trong trường hợp này, lẽ ra phải xảy ra điều ngược lại. Giá mà bà ta chỉ có ý nghĩ ấy trong đầu mà thôi, thì ắt hẳn ông sẽ không ngồi ở đây.
Lập tức một cơn giận dữ xâm chiếm ông Bô-ranh, ông ta quay sang vợ nói:
-Bà thấy hậu quả của tính khí lãng mạn của bà chưa? Hừ, thấy chưa? Và sẽ phải ra trước tòa vào từng này tuổi, về tội vi phạm thuần phong mỹ tục. Đến phải đóng cửa tiệm mất, và dời nhà sang phố khác! Thấy chưa?
Bà Bô-ranh đứng dậy, và không nhìn chồng, bà diễn đạt không chút lúng túng, không chút sĩ diện hão, gần như không do dự:
-Lạy chúa, thưa ông xã trưởng, tôi biết chắc rằng chúng tôi thật buồn cười. Xin ông cho phép tôi tự biện hộ như một luật sư, hoặc tốt hơn, như một người đàn bà đáng thương, và tôi mong rằng ông sẽ vui lòng thả chúng tôi ra, và tha cho chúng tôi nỗi nhục bị truy tố trước pháp luật.
 
Ngày xưa, khi tôi còn trẻ, một hôm chủ nhật nọ, tôi làm quen với ông Bô-ranh ở vùng này. Lúc ấy, ông ta làm nhân viên trong một cửa hàng tạp hóa, còn tôi làm trong một hiệu may mặc. Bây giờ, tôi còn nhớ chuyện ấy như thể nó mới xảy ra ngày hôm qua vậy. Thỉnh thoảng, tôi về đây nghỉ nhân ngày chủ nhật, cùng với một người bạn gái, tên là Rô-dơ Lơ-vếch, tại phố Pi-gan. Rô-dơ có một người bạn trai kháu khỉnh, còn tôi thì không. Chính anh ta đã dẫn chúng tôi đến đây. Một ngày thứ bảy nọ, anh ta vừa cười vừa bảo cho tôi biết rằng hôm sau anh ta sẽ dẫn một anh bạn đến. Tôi hiểu ngay anh ta muốn gì, nhưng tôi trả lời rằng như thế chả ích lợi chi. Lúc ấy tôi nết na mà, thưa ông. Thế là ngày hôm sau, chúng tôi gặp ông Bô-ranh ở nhà g axe lửa. Lúc bấy giờ, ông ta trông rất chững chạc. Nhưng tôi nhất quyết không nhượng bộ, và tôi cũng đã không nhượng bộ.
Rồi chúng tôi tới Bơ-dông. Hôm ấy thời tiết thật tuyệt vời, một thứ thời tiết làm cho lòng ta náo nức. Còn tôi thì, bây giờ cũng như ngày xưa, mỗi khi tốt trời, tôi trở nên ngây dại; và khi ra đồng, tôi như người điên rồ. Màu xanh mơn mởn, chim chóc líu lo, những nhánh lúa đong đưa trước gió, bầy én liệng nhanh vun vút, mùi thơm cỏ dại, những đóa hoa mỹ nhân, hoa cúc, tất cả những thứ ấy làm tôi điên dại! Cũng giống như rượu sâm-panh với người không quen uống.
Rồi một hôm, trời thật tuyệt, êm ả và sáng sủa; nó xâm nhập vào cơ thể ta qua đôi mắt khi ta nhìn, qua miệng ta hít thở. Rô-dơ và Xi-mông chốc chốc lại hôn nhau từng phút một. Khi nhìn họ như thế, tôi cảm thấy như thế nào ấy. Ông Bô-ranh và tôi, chúng tôi bước đi sau lưng họ, không nói năng chi. Khi chưa quen nhau, người ta chẳng có gì để nói với nhau cả. Ông ấy có vẻ rụt rè, và tôi thích nhìn ông ấy lúng ta lúng túng. Rồi chúng tôi đến một khu rừng nhỏ. Ở đấy trời mát mẻ như trong bể tắm, và mọi người ngồi xuống thảm cỏ. Rô-dơ và bạn trai cô ta cứ cười cợt tôi mãi về việc tôi có vẻ nghiêm khắc quá; chắc ông đã hiểu rằng tôi không thể khác hơn được. Và họ lại tiếp tục hôn nhau, chẳng cảm thấy áy náy vì sự có mặt của hai chúng tôi, và họ thì thầm với nhau, rồi họ đứng lên và dắt nhau đi vào các bụi cây rậm rạp, chẳng nói một lời. Ông cứ tưởng tượng xem bộ mặt tôi lúc ấy trông ngốc nghếch đến dường nào, khi trước mặt mình là một gã thanh niên mới gặp lần đầu! Tôi cảm thấy vô cùng bối rối khi nhìn thấy bọn họ đi như thế, đến nỗi tôi đâm ra bạo dạn, và bèn lên tiếng. Tôi hỏi anh ra làm gì, anh ra nói rằng anh ta làm thư ký ở tiệm tạp hóa, như tôi đã nói với ông khi nãy. Rồi chúng tôi trò chuyện một lát, và như thế làm anh ta dạn dĩ hơn, thậm chí sau đó, anh ta còn muốn làm vài điều suồng sã, nhưng tôi vẫn còn cứng rắn được, bắt anh ta ngồi im tại chỗ. Có đúng thế không, ông Bô-ranh?
Ông Bô-ranh, mắt nhìn đăm đăm xuống đất với vẻ bối rối, không trả lời.
 
Bà ta tiếp tục: “Lúc ấy, anh ta hiểu rằng tôi là đứa con gái nết na, và bắt đầu lịch sự tán tỉnh tôi, như người lương thiện. Từ hôm ấy, chủ nhật nào anh ta cũng trở lại. Anh ta đã si mê tôi lắm rồi, thưa ông. Và tôi cũng vậy, tôi cũng yêu anh ấy lắm, cái gã thanh niên đẹp trai ngày xưa ấy!
Tóm lại, anh ta cưới tôi vào tháng chín, và chúng tôi mở cửa hiệu ở phố Mac-tia. Những năm sau đó thật là vất vả, thưa ông. Việc buôn bán không được thuận lợi, và chúng tôi mất hẳn thói quen ấy. Trong việc buôn bán có nhiều thứ khác phải lo toan hơn là nghĩ đến chuyện trăng hoa. Ngày qua tháng lại, chúng tôi đã già đi mà không hay, như những con người trầm lặng, không còn nghĩ đến chuyện yêu đương. Người ta sẽ không hối tiếc gì hết khi không nhận ra những gì còn thiếu thốn.
Và rồi, thưa ông, công việc làm ăn khấm khá lên, chúng tôi đã an tâm cho tương lai. Rồi thì, ông thấy đấy, tôi không còn biết nhiều lắm những gì đang xảy ra trong tôi, không, thật tình như thế, tôi không biết!
Rồi tôi đâm ra mơ mộng như cô bé ở trọ ngày nào. Khi nhìn thấy người ta kéo ngoài đường những chiếc xe chở hoa, tôi cũng khóc được. Mùi hoa violet bay vào tận quầy hàng chỗ tôi ngồi, cũng làm tim tôi rộn rã. Lúc ấy tôi vội đứng lên, ra tận cửa để ngắm nhìn bầu trời xanh ngắt, xuyên qua những mái nhà. Khi ta ở thành phố mà ngắm nhìn bầu trời xanh, thì đường xá như một dòng sông, một con sông dài quanh co uốn khúc rồi đổ ra Pari, và những cánh én chao lượn trên ấy giống như những chú cá. Tất cả những thứ ấy ở vào tuổi tôi thì thật là ngu ngốc. Nhưng làm sao bây giờ thưa ông, khi người ta đã lao động suốt đời, rồi có một lúc nào đó, ta cảm thấy lẽ ra cần phải làm một gì đó khác hơn, và thế là ta nuối tiếc! Ồ! Vâng, hối tiếc! Vậy thì xin ông hãy nghĩ rằng, trong hai mươi năm trời, lẽ ra tôi phải đi tìm những nụ hôn trong rừng, như mọi kẻ khác, như mọi phụ nữ khác.Tôi nghĩ rằng thật hay biết mấy khi được đặt nằm dưới lùm cây và yêu một ai đó. Tôi mơ cảnh sáng trăng trên sông nước đến nỗi thèm muốn được dìm mình xuống đó.
Ban đầu, tôi không dám nói điều đó với ông Bô-ranh. Tôi biết rằng ông ấy sẽ chế giễu tôi, và sẽ bắt tôi quay trở về cửa hiệu tạp hóa. Và kế đến, thật tình là ông Bô-ranh từ lâu đã không còn nói chuyện yêu đương với tôi nữa, nhưng khi nhìn mình trong gương, tôi cũng hiểu rằng mình không còn có thể nói chuyện đó với ai nữa. Vì vậy, tôi bèn quyết định, và đề nghị với ông ấy cùng về quê một chuyến để thăm lại nơi mà chúng tôi đã quen nhau. Ông ấy chấp nhận không chút nghi ngờ gì, và sáng nay, chúng tôi đến đây, khoảng chín giờ.
 
Khi bước chân đến cánh đồng, tôi hoàn toàn bị đảo lộn. Trái tim của phụ nữ không bao giờ bị già cỗi! Và thật vậy, tôi không còn thấy chồng tôi như hiện nay, mà như ngày xưa ấy! Tôi xin thề đúng như thế, thưa ông. Ngàn lần đúng, tôi choáng váng như người say. Tôi chợt ôm hôn ông ấy. Ông ấy rất ngạc nhiên về chuyện ấy còn hơn cả khi tôi có ý định giết ông ta. Ông nói với tôi luôn miệng: “Nhưng bà điên à? Sáng nay bà điên à? Cái gì ám bà thế?” Tôi không chịu nghe ông ấy, tôi chỉ nghe trái tim tôi, và tôi kéo ông ấy vào trong rừng…Thế đấy! Tôi đã nói hết sự thật, thưa ông xã trưởng, tất cả sự thật”.
 
Viên xã trưởng là người có đầu óc khôi hài. Ông vội đứng lên, mỉm cười và nói: “Thôi bà hãy đi đi, và nhớ đừng bao giờ phạm tội…dưới lùm cây nữa nhé!”.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Lễ rửa tội
 
Dịch giả: Nguyễn Văn Quảng
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
-Nào, làm chút cô-nhắc, bác sỹ!
-Sẵn sàng.
Viên bác sỹ hải quân già giơ cái ly nhỏ của mình ra, nhìn ngắm chất nước sóng sánh vàng trào lên tận miệng.
Rồi ông nâng nó lên ngang mắt, cho ánh đèn rọi vào. Ngửi ngửi, hít lấy mấy giọt rồi lưu lại rất lâu trên lưỡi và trong vòm miệng ẩm ướt và rất sành, rồi nói:
-Chà, món uống tuyệt diệu! Hay nói cho phải, tên giết người có sức quyến rũ, gã phá hủy các dân tộc! Các bạn ấy mà, các bạn chưa biết nó đâu. Quả các bạn đã đọc cuốn sách đáng phục, gọi là “Quán rượu tồi”, nhưng các bạn chưa như tôi thấy rõ rượu đã hủy diệt một bộ tộc hoang dã, một vương quốc nhỏ của người da đen, chất rượu mà các thủy thủ người Anh râu đỏ hoe điềm nhiên nhập cảng hàng thùng, hàng thùng những cái thùng nhỏ trơn trình.
 
Xin chú ý, tôi đã chứng kiến tận mắt một thảm kịch rượu kỳ dị và đau lòng xảy ra rất gần đây, ở Brơ-ta-nhơ, trong một làng nhỏ ở ngoại vi Pông-l’ Abê.
 
Dạo đó, nhân được nghỉ một năm, tôi ở trong một ngôi nhà thôn dã được cha tôi để lại cho. Các bạn đã biết vùng bờ biển bằng phẳng ấy đấy, nơ ngày đêm gió rú rít trong các hàng cây kim tước, nơi từng quãng từng quãng có thể thấy những tảng đá khổng lồ đứng hay nằm, đấy là các vị thần lộ rõ sự lo âu trong hình hài, trong vẻ nằm dáng đứng. Tôi luôn luôn có cảm giác các vị sắp động đậy, sắp nặng nề và chậm rãi bước đi trên bãi biển những bước dài của các ông đá hoa khổng lồ, sắp cất bay lên bằng những đôi cánh mênh mông, những đôi cánh bằng đá, về thiên đường Đruy-đờ. Biển cả đóng và thống trị chân trời, biển luôn rung động, đầy đá ngầm đầu đen, luôn có bọt sóng bám xung quanh, cứ như một đàn chó đợi chờ dân đi biển. Còn con người, họ tỏa ra trên mặt biển khủng khiếp ấy, nó rung hất cái lưng xanh xanh để lật thuyền của họ và nuốt chửng họ như uống thuốc. Họ ra khơi trong những con tàu nhỏ của họ, suốt ngày lênh đênh trên biển, táo bạo, lo lắng và say. Say ư? Họ say luôn luôn mà! Họ thường bảo: “Chai rượu mà đầy, ta thấy đá ngầm. Chai rỗng không, chẳng thấy nữa đâu”.
 
Xin bước vào những ngôi nhà tranh ấy. Không bao giờ các bạn thấy người bố. Nếu bạn hỏi nữ chủ nhà rằng chồng bà đi đâu, bà sẽ giơ tay chỉ mặt biển ảm đạm đang càu nhàu và khạc vào khắp bờ cơ man nước miếng trắng xóa. Ông ta đã nằm lại mãi trong đó nhân một đêm quá chén. Người con trai đầu cũng vậy. Hiện bà còn bốn cậu nữa, bốn chàng trai hoe vàng to cao lực lưỡng, cũng sắp đến lượt chúng rồi.
Vâng, tôi ngụ trong một căn nhà thôn quê gần Pông-l’ Abê. Tôi ở đấy, một mình với người hầu trai là cựu thủy thủ, và một gia đình Brơ-ta-nhơ trông nom nhà cửa cho tôi khi tôi vắng mặt. Gia đình này có ba người, hai chị em gái và một người đàn ông lấy một trong hai cô và làm vườn cho tôi.
Khoảng lễ Nô-en năm ấy, vợ tay làm vườn sinh một thằng cu. Anh chồng đến xin tôi làm cha đỡ đầu. Tôi thật khó từ chối. Và anh ta vay tôi mười frăng, nói là trả lệ phí nàh thờ. Buổi lễ được ấn định vào mồng hai tháng giêng. Tám ngày rồi, tuyết phủ khắp nơi thành một tấm thảm cứng trắng nhờ như trải rộng đến vô bờ trên xứ sở thấp tè và bằng phẳng này. Biển như đen nhánh mãi xa sau cánh đồng tuyết trắng. Người ta thấy biển lồng lộn, chồm lên, cuộn dâng muôn vàn lớp sóng, như thể nó muốn nhảy xổ vào cái biển trắng xanh bên cạnh như đã chết rồi, vô cùng lạnh lẽo, buồn bã và câm lặng.
 
Chín giờ sáng, ông bố mới Kê-răng-đếch đến trước cửa nhà tôi với cô em vợ Keec-ma-găng cao ngỏng và cô bảo mẫu bế đứa trẻ sơ sinh quấn trong một tấm chăn. Tất cả chúng tôi đi đến nhà thờ. Trời lạnh lắm, lạnh đến toác đá, nứt thịt nẻ da. Tôi băn khoăn về đứa trẻ sơ sinh người ta đang bế phía trước, và tôi tự nhủ rằng giống người xứ Brơ-ta-nhơ này quả thật như đúc bằng thép, có vậy, con cái họ vừa lọt lòng mới có thể chịu đựng nổi những cuộc đi như thế này.
Chúng tôi đến trước nhà thờ, nhưng cửa đóng còn linh mục đến muộn. Ngồi xuống một cái trụ thấp gần ngưỡng cửa, cô đầy tớ trông nom đứa trẻ bắt đầu cởi quần áo và tã lót của cháu ra. Lúc đầu tôi tưởng cháu tè ướt quần áo và tã lót. Nhưng tôi thấy rõ cô hầu cởi hết, cởi hết, để cháu hoàn toàn trần truồng trong không khí giá lạnh, cậu bé đáng thương! Tôi tiến đến, sôi sục, nói liều:
-Cô điên rồi sao? Cô sắp giết đứa nhỏ!
Cô gái điềm tĩnh trả lời:
-Ồ không, thưa ông chủ, cháu phải chờ đón Chúa trong thân thể hoàn toàn lõa lồ!
Bố và dì cháu nhìn cháu với vẻ hết sức sung sướng. Đó là tục lệ. Nếu người nàh không theo, cháu bé sẽ khổ.
Tôi nổi khùng, tôi chửi đổng, tôi dọa bỏ đi, tôi muốn dùng vũ lực để đắp điếm cho sinh linh yếu ớt. Nhưng chẳng ăn thua. Cô trông trẻ vùng căng ngay trước mặt tôi, chạy băm băm trên tuyết, cả người em bé tím tái đi. Tôi toan rời những kẻ nhẫn tâm ấy thì thấy linh mục đang đi đến trên đồng, theo sau là người giữ đồ thờ và một thằng nhóc trong vùng. Tôi chạy đến và hùng hổ trình bày với linh mục sự phẫn nộ của mình. Ông không hề ngạc nhiên, cũng chẳng hề rảo bước, cử chỉ vẫn đĩnh đạc, chậm rãi. Ông đáp:
-Ông muốn sao cơ? Thành lệ rồi! Ai cũng làm thế. Chúng tôi không ngăn được.
-Ít ra ông cũng mau lên với! – tôi thét.
Linh mục dấm dẳn:
-Nào tôi có bước nhanh hơn nổi!
Ông ta vào kho đồ thờ, còn tất cả chúng tôi đứng đờ ra trên ngưỡng cửa, riêng tôi càng khổ tâm vì em nhỏ đang gào lên trong giá lạnh thấu xương.
Sau cùng cửa nhà thờ mở ra. Chúng tôi đi vào. Đứa bá sơ sinh vẫn phải ở truồng suốt buổi lễ. Buổi lễ kéo dài lê thê. Linh mục ấp úng buông ra những âm Latinh, dằn giọng từng âm một, nghe chẳng hiểu ra sao nữa. Ông ta lê từng bước, chậm còn hơn rùa thần. Chiếc áo lễ khoác ngoài trắng toát của ông ta cứa vào tim tôi, ông ta nom tựa một núi tuyết khác nhân danh một Chúa trời dã man và cay nghiệt đầy đọa thêm sinh linh bé bỏng vốn đang bị cái lạnh kinh khủng đày đọa tàn ác.
Rồi lễ rửa tội cũng kết thúc theo phong tục. Tôi thấy cô bảo mẫu lại quấn tấm chăn dài cho đứa bé lạnh cóng đang rên rỉ bằng một giọng chói tai đầy đau khổ. Linh mục bảo tôi:
-Ông lại ký vào sổ cho chứ?
Tôi quay lại anh thợ vườn:
-Giờ về mau lên và sưởi ấm ngay đứa bé cho tôi.
Tôi dặn anh ta mấy điều để nếu còn kịp thì tránh cho cháu bé bệnh sung huyết phổi. Anh làm vườn hứa y lời rồi cùng em vợ và cô trông trẻ bỏ đi. Tôi theo linh mục vào kho đồ thờ. Khi tôi ký, ông ta đòi năm frăng lệ phí. Vì đã đưa mười frăng cho bố em bé, tôi từ chối trả thêm. Linh mục dọa xé bỏ tờ giấy đã ghi và hủy bỏ buổi lễ. Tôi cũng lấy tư cách một Chưởng lý của nhà nước Cộng hòa dọa lại ông ta.
Cãi vã chán, tôi đành nhượng bộ.
 
Vừa về đến nhà, tôi đã muốn biết không có gì đáng bực xảy ra. Toi vọt đến chỗ ở của Kê-răng-đếch, nhưng bố em nhỏ, dì em và cô hầu đều chưa về. Sản phụ trở trọi trên giường đang run bần bật vì lạnh. Cô đói lắm, vì từ hôm qua đến giờ đã ăn gì đâu.
-Quỷ quái, họ đi đâu nhỉ? – tôi hỏi.
Sản phụ không sửng sốt, không bực tức:
-Chắc là đang uống rượu ăn mừng.
Lệ mà! Tức thì tôi nhớ đến mười frăng của tôi, mười frăng nói là để trả lệ phí nhà thờ, nhưng chắc chắn đã đem nướng cho con ma men. Tôi sai đem nước cháo cho người mẹ và đốt to lò sưởi trong phòng chị lên. Tôi vừa lo lắng vừa tức tối, khăng khăng tự nhủ sẽ tống cổ bọn người độc ác ấy đi, sợ hãi tự hỏi không hiểu đứa trẻ sơ sinh tội nghiệp giờ ra sao rồi.
 
Sáu giờ tối, họ vẫn chưa dẫn xác về. Tôi sai đầy tớ của tôi thức đợi, rồi đi nằm. Tôi thiếp đi ngay, vì vốn dễ ngủ và ngủ ngon như một thủy thủ thực sự. Trời vừa rạng, tôi đã bị đánh thức bởi gã đầy tớ đem nước nóng vào cho tôi cạo râu. Vừa mở mắt ra, tôi đã hỏi:
-Còn Kê-răng-đếch?
Gã do dự rồi ấp úng trả lời:
-Ồ thưa ông chủ, quá nửa đêm anh ấy mới về, say khướt đến không bước nổi, cô Keec-ma-găng thân sào cũng vậy, cô bảo mẫu cũng vậy! Con tin họ đã ngủ trong một cái hố, cho nên đứa nhỏ chết mà chẳng hay biết gì!
Tôi bật chồm dậy, la lớn:
-Em bé chết rồi?
-Thưa ông, vâng. Họ đã mang nó về cho mẹ Kê-răng-đếch. Thấy thế người mẹ khóc. Họ liền đổ rượu cho chị uống để chị khuây đi.
-Sao, chúng bắt sản phụ uống rượu à?
-Thưa ông chủ, vâng ạ. Nhưng chuyện này, sáng nay con mới rõ, cũng vừa lúc nãy thôi. Kê-răng-đếch không có rượu mà cũng chẳng có tiền, họ bèn lấy et-xăng thắp đèn mà ông chủ cho, cả bốn uống hết chỗ còn lại trong chai. Chị Kê-răng-đếch đang ốm cũng phải uống ạ!
 
Tôi tức tốc mặc quần áo, với lấy một cây gậy, chạy đến nhà Kê-răng-đếch, nhất quyết nện cho bọn thú mang mặt người ấy một trận. Sản phụ say xăng đang hấp hối bên cái xác tím ngắt của ocn mình. Kê-răng-đếch, cô trông trẻ và cô Keec-ma-găng cao ngỏng nằm ngáy ran trên đất.
 
Tôi phải chăm sóc người mẹ trẻ qua đời khoảng giữa trưa.
 
Viên bác sỹ già nín bặt. Ông cầm chai rượu mạnh, rót một ly nữa, và lại soi ly lên đèn cho ánh đèn tràn qua chất rượu vàng hoe, tưởng như đèn đang đổ vào ly một thức uống màu hoàng ngọc chói lọi, ông tu một hơi cạn sạch thứ chất lỏng phản trắc và nóng bỏng.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Cái thùng con
 
Dịch giả: Lê Hồng Sâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Chủ quán Si-cô, bán hàng ăn ở Ê-prơ-vin, dừng xe trước trại của mụ Magloarơ. Đó là  một gã cao lớn trạc bốn mươi tuổi, đỏ đắn, bụng phệ, nghe đồn là ranh ma. Gã buộc ngựa vào cọc hàng rào, rồi vào trong sân. Gã có chút tài sản giáp với mảnh đất của bà lão, mà gã thèm muốn từ lâu. Có đến hai chục lần gã dạm mua, nhưng mụ Magloarơ khăng khăng từ chối. Mụ bảo:
-Tôi sinh ra ở đây, tôi chết ở đây.
Gã thấy mụ đang gọt khoai trước cửa nhà. Bảy mươi tuổi, mụ khô đét, răn reo, lưng còng, nhưng làm lụng dẻo dai như con gái. Si-cô thân thiện vỗ vào lưng mụ, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh mụ.
-Thế nào? Bà lão, vẫn khỏe chứ?
-Không đến nỗi, còn bác, bác Prô-xpê?
-Ấy! Ấy! Đau nhì nhằng, không thì cũng khá.
-À, tốt đấy!
Rồi mụ chẳng nói gì nữa. SI-cô nhìn mụ làm. Những ngón tay khoằm khoằm, khẳng khiu, cứng tựa càng cua, nhặt như quắp lấy các củ màu xám nhờ trong giỏ, và xoay xoay rất nhanh, gọt ra từng khoanh vỏ dài bằng con dao cũ mụ cầm trong bàn tay kia. Rồi khi khoai đã vàng nõn, mụ liền ném vào xô nước. Ba con gà mái dạn người, từng con xán vào tận bên váy mụ nhặt vỏ, rồi cun cút chạy đi, mỏ ngậm mồi. Si-cô ra vẻ bứt rứt, ngần ngại, lo lắng, có cái gì ở cửa miệng mà không thốt ra được. Cuối cùng, gã quyết định:
-Này, mụ Magloarơ…
-Bác cần gì hử?
-Cái trại này ấy mà, mụ vẫn không muốn bán cho tôi hả?
-Chuyện ấy thì không. Không được đâu. Dứt khoát rồi, dứt khoát, bác đừng nói lại nữa.
-Chả là tôi tìm được cách thu xếp ổn thỏa cho cả hai đằng.
-Gì vậy?
-Thế này nhé. Mụ bán nó cho tôi, ấy rồi mà mụ vẫn cứ giữ lấy nó. Mụ không hiểu à? Mụ nghe tôi bảo đây.
Bà lão ngừng gọt khoai, cặp mắt tinh nhanh dưới đôi mi nhăn nheo nhìn gã chủ quán chằm chằm. Gã tiếp:
-Tôi nói rõ nhé. Tôi cho mụ, mỗi tháng trăm rưởi quan. Mụ nghe rành chứ? Mỗi tháng tôi đi xe ngựa, đem đến đây cho mụ ba chục đồng ê-quy loại năm quan. Và rồi chẳng có gì khác cả, chẳng có gì hết. Mụ vẫn ở nhà mụ, mụ không bận tâm gì về tôi, mụ chả nợ nần gì tôi sất. Mụ chỉ có việc lấy tiền của tôi thôi. Mụ thấy thế được không?
Gã nhìn mụ với bộ dạng tươi cười, với bộ dạng vui vẻ. Bà lão ngắm gã một cách nghi ngại, tìm xem cái bẫy ở chỗ nào. Mụ hỏi:
-Thế món ấy, là phần tôi; nhưng phần bác, cái trại này, món ấy không đem trại cho bác chứ?
Gã tiếp:
-Mụ đừng lo chuyện ấy. Trời cho mụ sống được chừng nào thì mụ vẫn ở đây. Đây là nhà mụ. Có điều mụ làm cho tôi cái giấy ở chỗ ông công chứng để rồi sau này tôi được hưởng. Mụ không con cái, chỉ có cháu họ mà mụ chả thiết mấy. Mụ thấy thế được không? Mụ còn sống thì mụ cứ giữ gìn lấy tài sản của mụ, còn tôi cho mụ mỗi tháng ba chục đồng năm quan. Phần mụ rất có lợi thôi.
Bà lão vẫn ngạc nhiên, lo ngại, nhưng bị hấp dẫn. Mụ đáp:
-Tôi chả bảo là không. Có điều, tôi muốn ngẫm xem thế nào đã. Tuần sau bác đến bàn lại. Ý tôi muốn sao tôi sẽ bảo bác.
 
Thế là chủ quan Si-cô ra về, hài lòng như ông vua vừa chinh phục được một vương quốc. Mụ Magloarơ đâm nghĩ ngợi. Đêm sau mụ không ngủ. Bốn ngày trời mụ như bị sốt vì băn khoăn do dự. Mụ cảm thấy rõ trong ấy có cái gì không hay cho mình, nhưng nghĩ đến ba chục ê-quy hàng tháng, đến những đồng bạc thật cứ dốc vào tạp dề của mình, từ trên trời rơi xuống cho mình như thế, chẳng phải làm gì, mụ bồn chồn thèm muốn.
Mụ bèn đến gặp ông công chứng và kể lại câu chuyện. Ông ta khuyên mụ nhận lời Si-cô, nhưng đòi năm mươi đồng ê-quy chứ không phải ba mươi, vì trại của mụ rẻ ra cũng đáng sáu ngàn quan. Viên công chứng bảo:
-Nếu bà sống mười lăm năm nữa, thì như thế gã cũng chỉ phải trả có bốn mươi lăm ngàn quan.
 
Bà lão run lên khi nghĩ đến năm chục đồng ê-quy hàng tháng, nhưng vẫn còn nghi ngại, sợ trăm ngàn điều bất ngờ, sợ những mưu ngầm, và mụ ngồi lại hỏi han đến tối, không dứt ra về được. Cuối cùng, mụ bảo viên công chứng thảo giấy tờ, rồi ra về bồi hồi rối loạn như thể vừa uống bốn bình rượu táo mới.
Khi Si-cô đến xem mụ trả lời ra sao, mụ để cho gã nài nỉ thật lâu, tuyên bố mình không ưng, song rất sợ gã không thuận đưa năm chục ê-quy. Cuối cùng, thấy gã nằn nì, mụ nói ra ý mụ. Gã giật nảy mình vì thất vọng và gã không chịu. Thế là, để thuyết phục gã, mụ bèn bàn luận về tuổi thọ của mình:
-Chắc là tôi chỉ dăm sáu năm nữa là cùng. Bảy mươi ba rồi, mà có khỏe khoắn gì cho cam. Tối hôm nọ, tôi đã tưởng mình đứt. Người cứ như rỗng ra, họ phải khiêng tôi vào giường đấy.
Nhưng Si-cô không mắc mưu.
-Thôi, thôi, bà lão, bà vững như gác chuông nhà thờ ấy. Xoàng ra bà cũng sống đến trăm linh mười tuổi. Bà sẽ đưa ma tôi, dám chắc như thế.
Mất cả một ngày bàn cãi. Song vì bà lão không nhượng bộ, gã chủ quán, cuối cùng thuận đưa năm mươi ê-quy.
Hôm sau họ lý giấy. Và mụ Magloarơ đòi mười ê-quy lót tay.
 
Ba năm trôi qua. Bà cụ khỏe mạnh như có bùa phép. Dường như mụ không già đi lấy một ngày, và Si-cô tuyệt vọng. Gã tưởng chừng gã đã trả món phụ cấp ấy từ nửa thế kỷ nay, gã đã bị lừa, bị bịp, bị phá sản. Thỉnh thoảng gã lại đến thăm mụ chủ trại, như người ta thăm đồng vào tháng bảy, xem lúa đã chín hay chưa cho lưỡi hái. Mụ tiếp gã với cái nhìn ranh mãnh. Cứ như thể mụ khoái chí vì đã chơi cho gã một vố, và gã leo ngay lên xe, mồm lẩm bẩm:
-Thế là mày chẳng ngoẻo đâu, của nợ!
Gã không biết làm thế nào. Nhìn mụ, gã những muốn bóp chết mụ. Gã ghét mụ với niềm căm ghét dữ tợn, nham hiểm, niềm căm ghét của anh nông dân bị mất cắp. Gã bèn tìm kế.
Thế rồi, một hôm, gã đến thăm mụ, xoa xoa hai bàn tay như cái lần đầu tiên, khi gã ướm chuyện mua bán với mụ. Và sau khi gã đã trò chuyện vài phút:
-Này, bà già, sao mụ không đến nhà tôi dùng bữa, khi mụ đi qua Ê-prơ-vin? Họ bàn tán đấy, họ bảo thế là mình không bạn bè với nhau, chuyện ấy làm tôi buồn lắm. Mụ biết đấy, ở nhà tôi, mụ không phải trả tiền đâu. Tôi chẳng so sẻn gì một bữa ăn. Mụ ưng thì mụ cứ đến tự nhiên, cho tôi vui lòng.
Mụ Magloarơ chẳng để phải được mời lại, và ngày hôm sau nữa, nhân đi chợ bằng xe ngựa do anh đầy tớ Xê-lê-xtanh cầm cương, mụ không nề hà gì, cho luôn ngựa vào chuồng nhà Si-cô, và đòi bữa ăn gã hứa. Tay chủ quán tươi roi rói, tiếp đãi mụ như bà lớn, thết mụ gà giò, đùi cừu quay, thịt mỡ nấu bắp cải. Nhưng mụ hầu như chẳng ăn gì, quen thanh đạm từ thuở bé, suốt đời chỉ dùng ít súp với một mẩu bánh mì phết bơ.
Si-cô nài nỉ, thất vọng. Mụ cũng chẳng uống gì. Mụ từ chối cà phê. Gã bảo:
-Thế bà dùng tí rượu nhé!
-À! Cái ấy thì được.
Thế là gã gọi váng lên, từ đầu này đến đầu kia quán:
-Rô-da-li, đem rượu đây, loại cực ngon, thượng hảo hạng ấy.
Và chị hầu gái bước ra, tay cầm cái chai thon dài có trang trí một lá nho bằng giấy. Gã rót đầy hai cốc.
-Bà lão, nếm thử này, loại trứ danh đấy.
Bà già uống từ từ, nhấm nháp, kéo dài niềm thích thú. Khi cốc đã cạn, mụ dốc cho hết rồi tuyên bố:
-Ừ phải, rượu ngon thật!
Mụ chưa nói xong, Si-cô đã rót luôn cho mụ đợt nữa. Mụ toan từ chối, nhưng không kịp, và mụ lại nếm náp rất lâu, như cốc trước. Thế là gã muốn mời cốc thứ ba, nhưng mụ không chịu. Gã nài nỉ:
-Cái này, như sữa ấy mà, mụ thấy đấy, tôi à, tôi uống mươi, mười hai cốc êm ru. Nó trôi tuột đi như đường. Bụng chả sao hết, đầu chả sao hết, như thể vào đến lưỡi là bốc hơi luôn. Lợi cho sức khỏe nhất hạng đấy!
Bởi muốn uống quá nên mụ nhận lời, nhưng chỉ nửa cốc thôi. Thế là Si-cô, trong cơn hào hiệp, reo lên:
-Này, vì mụ thích, tôi sẽ cho mụ một thùng con để mụ thấy rằng chúng ta bao giờ cũng là bạn bè với nhau.
 
Bà lão không từ chối và ra về, hơi chếnh choáng.
Hôm sau, gã chủ quán vào sân nhà mụ Magloarơ rồi lôi trong đáy xe ra một cái thùng con có đai sắt. Rồi gã muốn mụ nếm thử để chứng tỏ là đúng thứ rượu ấy, và sau khi mỗi người đã uống ba cốc, gã tuyên bố lúc ra về:
-Mụ biết đấy, khi nào không còn, thì lại có nữa. Mụ đừng ngại, tôi không so sẻn đâu. Càng hết mau tôi càng vui bụng.
Rồi gã trèo lên xe.
Bốn ngày sau gã trở lại. Bà già ngồi trước cửa đang cắt bánh để nấu súp. Gã đến gần, chào mụ, nói sát vào mặt mụ cốt để ngửi hơi thở mụ. Và gã thoảng thấy mùi rượu. Thế là mặt gã rạng lên. Gã bảo:
-Mụ mời tôi một cốc chứ?
Và họ chạm cốc hai ba lượt.
Nhưng chẳng bao lâu sau trong vùng có tiếng đồn là mụ Magloarơ nghiện ngập say sưa một mình. Người ta nhặt được mụ khi ở trong bếp, khi trong sân, khi trên những nẻo đường quanh đấy, và phải khiêng mụ về, sõng sượt như xác chết.
Si-cô không đến nhà mụ nữa, và khi người ta nói với gã về bà già, thì gã khẽ bảo với bộ mặt buồn rầu:
-Vào tuổi mụ mà mắc chứng ấy thì cũng gay đấy nhỉ? Già rồi thì vô phương cứu chữa. Rồi ra chẳng hay cho mụ đâu!
 
Quả là chẳng hay cho mụ thật. Mùa đông năm sau mụ chết, quãng gần lễ Nô-en, vì quá say, ngã trong tuyết
Còn Si-cô thừa hưởng trại, và bảo rằng:
-Cái nhà mụ này mà không rượu chè ấy à, còn là đậu được chục năm nữa.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Bà Ec-mê
 
Dịch giả: Lê Hồng Sâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Những người điên thường hấp dẫn tôi. Những kẻ do sống trong thế giới bí ẩn của những giấc mơ kỳ quặc, trong áng mây mù dày đặc của sự rồi dại, tại nơi đây, mọi thứ họ đã thấy trên đời, mọi cái họ đã yêu quý, mọi người họ đã làm tái diễn trong một cuộc sống tưởng tượng, vượt ra ngoài mọi quy luật điều khiển sự vật và chi phối tư duy con người.
 
Đối với họ, cái không thể có không tồn tại nữa, cái huyền hoặc khó tin biến mất, cái thần tiên huyền ảo trở thành thường xuyên và cái dị thường thành thân thuộc. Logic, tấm rào chắn cũ kỹ, lý trí, bức tường lương tri, hàng lan can cũ kỹ của tư tưởng đều tan tành, ngã gục, đổ sụp dưới trí tưởng tượng được buông thả phóng khoáng, thoát vào xứ sở vô cùng tận của sự tùy hứng, nhảy nhót những bước kỳ ảo chẳng có gì ngăn trở. Đối với họ, tất cả mọi điều đều xảy ra và có thể xảy ra. Họ chẳng hề gắng gỏi để chiến thắng các biến cố, để chế ngự những sự kháng cự, để san bằng các trở ngại. Chỉ cần một thích thú bất thường của ý chí gây ảo giác, là họ thành vua chúa hoặc thánh thần, là họ có mọi của cải trên thế gian, có mọi điều ngon ngọt trên đời, là họ được hưởng mọi thú vui, là họ mãi mãi khỏe, đẹp, trẻ, mãi mãi được yêu dấu! Chỉ riêng họ mới hạnh phúc được trên trái đất, vì đối với họ hiện thực không tồn tại nữa. Tôi ưa nghiêng mình xuống tâm trí lang thang vớ vẩn của họ, như người ta nghiêng mình xuống một vực thẳm, tận đáy vực sục sôi một dòng thác lạ, ở đâu đều không ai biết và chảy đi đâu không ai hay.
 
Nhưng nghiêng mình xuống những khe sâu ấy nào có ích gì, vì chẳng bao giờ ta biết được nước ấy ở đâu đến, nước ấy chảy đi đâu. Cho đến cùng, đó cũng chỉ là nước giống như nước chảy giữa thanh thiên bạch nhật, và nhìn nó cũng chẳng giúp cho ta hiểu thêm được mấy điều.
 
Nghiêng mình xuống tâm trí người điên cũng chẳng ích gì, vì những ý nghĩ kỳ quặc nhất của họ chẳng qua cũng là những ý nghĩ bình thường, chỉ lạ lùng bởi chúng không bị ràng buộc bởi lý trí. Cái ngọn nguồn khó hiểu bất thường của chúng khiến ta sững sờ kinh ngạc, bởi ta không nhìn thấy nó phun ra. Có lẽ chỉ cần một hòn đá nhỏ rơi vào dòng nước đang chảy của nó là đủ gây nên những xúc động sôi sục. Tuy nhiên, những người điên vẫn luôn hấp dẫn tôi, và tôi luôn quay về với họ, bị thu hút ngoài ý muốn của mình vì sự bí ẩn tầm thường của chứng rồ dại. Vậy, một hôm, khi tôi đến thăm một bệnh xá của người điên, viên thầy thuốc hướng dẫn tôi, bảo rằng:
-À, tôi sẽ đưa ông đi xem một trường hợp lý thú.
Và ông ta mở một ngăn, trong đó một người đàn bà trạc bốn mươi tuổi, hãy còn đẹp, ngồi trên ghế bành, cứ soi mãi mặt vào một tấm gương nhỏ cầm tay. Vừa nhìn thấy chúng tôi, bà đứng phắt dậy, chạy đến cuối phòng, tìm một tấm mạng vắt trên ghế, bịt mặt hết sức cẩn thận, rồi trở lại, gật đầu đáp lễ chúng tôi. Bác sĩ nói:
-Thế nào, sáng nay bà thấy trong người ra sao?
Bà ta thở dài não ruột:
-Ôi, khó chịu, khó chịu lắm, thưa ông, ngày nào các vết sẹo cũng tăng lên.
Bác sĩ trả lời một cách tin tưởng:
-Không, không! Tôi cam đoan với bà là bà lầm đấy.
Bà ta xích lại gần ông, thì thào:
-Không, tôi chắc chắn như vậy. Tôi đã đếm thêm được chín vết, ba vết ở má bên phải, bốn vết ở má bên trái và ba vét ở trên trán. Thật gớm ghiếc! Gớm ghiếc! Tôi không dám để ai nhìn thấy nữa, cả cho đến con tôi, không, cả đến con tôi nữa! Tôi bị nguy mất rồi, mặt mày tôi bị xấu xí suốt đời rồi!
Bà ta lại để mình rơi xuống ghế và khóc nức nở. Người thầy thuốc kéo ghế, ngồi cạnh bà ta, và bằng một giọng dịu dàng, an ủi:
-Nào, bà cho tôi xem nào, tôi cam đoan với bà là chẳng sao đâu. Chỉ xoa cứu chút ít là tôi làm biến đi tất cả.
Bà ta lắc đầu, không nói một lời. Người thầy thuốc muốn sờ vào tấm mạng, những bà ta tay nắm lấy nó chặt đến mức ngón tay xuyên cả vào trong mạng. Ông lại khuyến khích và dỗ dành cho bà yên lòng:
-Bà biết rõ là lần nào tôi cũng làm cho những vết sẹo xấu xí ấy biến đi mất hộ bà, và khi tôi điều trị chúng xong thì người ta không hề nhìn thấy chúng nữa. Nếu bà không cho tôi xem, thì tôi không thể chữa cho bà khỏi được.
Bà ta thì thào:
-Với ông thì còn được, nhưng tôi không quen ông khách đi cùng ông.
-Đây cũng là một thầy thuốc, ông ấy sẽ điều trị cho bà còn tốt hơn tôi nhiều.
Bấy giờ bà ta mới cho hở mặt ra, nhưng sự hoảng sợ, nỗi xúc động, niềm hổ thẹn vì bị mọi người nhìn thấy khiến cả da thịt ở cổ bà ta, nơi lút sâu trong áo, cũng đỏ ửng lên. Bà nhìn xuống, quay mặt đi, lúc sang phải, lúc sang trái, để tránh những cái nhìn của chúng tôi và ấp úng:
-Ôi! Để thấy mặt mình như thế này là tôi đau đớn ghê gớm. Kinh khủng lắm, phải không các ông? Kinh khủng lắm phải không?
Tôi hết sức kinh ngạc ngắm nhìn bà ta, bởi vì bà chẳng có cái gì trên mặt hết, không có một vết, không có một điểm, không có một dấu, cũng không có một cái sẹo nào. Bà ta quay sang tôi, mắt vẫn nhìn xuống và bảo tôi:
-Thưa ông, đó là do chăm nom con mà tôi bị lây cái bệnh ghê gớm này. Tôi đã cứu được cháu, nhưng mặt mày tôi bị xấu xí. Tôi đã cho cháu nhan sắc của tôi, cho đứa con tội nghiệp của tôi. Rốt cuộc, tôi đã làm phận sự của tôi, lương tâm tôi được yên ổn. Nếu tôi đau khổ, chỉ có Chúa biết.
Bác sĩ đã rút trong túi ra một cây bút vẽ nhỏ. Ông nói:
-Bà để tôi làm, tôi sẽ sửa cho bà tất cả những cái đó.
Bà ta chìa má bên phải ra, và ông bắt đầu lướt nhẹ vào má, như thể ông điểm những chấm màu nho nhỏ trên đó. Ông cũng làm như vậ bên má trái, rồi trên trán, rồi ông reo:
-Bà nhìn xem, không còn gì, không còn gì nữa nhé!
Bà ta cầm gương, ngắm bóng mình rất lâu, hết sức chăm chú, một sự chăm chú gay go căng thẳng, gắng gỏi cực kỳ toàn tâm trí để tìm ra một vết gì, rồi bà thở dài:
-Không, không nhìn thấy rõ lẵm nữa. Đa tạ ông vô cùng.
Người thầy thuốc đứng dậy. Ông chào bà ta, dẫn tôi ra rồi đi theo tôi, và, khi cánh cửa vừa đóng lại, ông nói:
-Đây là câu chuyện khốc liệt của người đàn bà bất hạnh ấy.
 
Bà ta tên là Ec-mê. Bà rất đẹp, rất làm dáng, rất được yêu chiều và lấy làm sung sướng được sống. Đó là một trong những người đàn bà mà trên đời chỉ có nhan sắc và niềm ham muốn làm duyên cho người ưa là nguồn nâng đỡ, chi phối hoặc an ủi trong cuộc sống. Mối quan tâm thường xuyên đến vẻ tươi tắn của mình, sự chăm sóc cho bột mặt, cho bàn tay, cho hàm răng, cho hết thảy các bộ phận nhỏ của cơ thể mà bà có thể phô bày ra thu hút toàn bộ thì giờ và toàn bộ sự chú ý của bà.
 
Bà góa chồng, có một con trai. Bà ta có nhìn thấy trước khủng hoảng định mệnh đang đến hay chăng, tôi không hề biết. Chẳng hiểu bà có như bao người đàn bà khác, mỗi sáng lại nhìn ngắm hàng giờ làn da xưa kia hết sức mịn màng, trong suốt và tươi sáng, giờ đây hơi nheo lại dưới đuôi mắt, hơi nhăn đi vì hàng ngàn vết hãy còn lờ mờ khó thấy, nhưng cứ sâu dần xuống, từng ngày, từng tháng? Chẳng hiểu bà có thấy lớn lên không ngừng, một cách chậm rãi và chắc chắn, những vết nhăn dài trên trán, những con rắn mỏng mảnh không gì ngăn lại được? Chẳng hiểu bà có bị giày vò day dứt, nỗi giày vò day dứt ác hại của tấm gương, tấm gương nhỏ có tay cầm bằng bạc mà người ta không thể quyết tâm đặt lên bàn, rồi người ta giận dữ hẩy đi và người ta lại cầm ngay lấy, để nhìn lại, thật gần hơn nữa, cái sự tàn phá khả ố và bình thản của tuổi già đang xích lại? Chẳng hiểu bà có náu mình ngày mươi, hai mươi lần, vô duyên cớ rời phòng khách nơi bạn bè đang trò chuyện, để lên phòng riêng và nhờ cửa đóng then cài che chở, lại ngắm nhìn công trình phá hoại của da thịt hết xuân đang tàn úa, để kiểm chứng một cách tuyệt vọng bước tiến triển nhẹ nhàng của căn bệnh dường như chưa ai nhìn thấy, nhưng bà thì hiểu rất rõ? Bà biết, đâu là chỗ bệnh tấn công mạnh nhất, đâu là những vết cắn xé sâu nhất của tuổi tác. Và tấm gương tròn nhỏ xoay trong cái khung bạc chạm, bảo với bà những điều tệ hại, bởi vì nó nói, nó như cười cợt, nó nhạo báng và báo cho bà tất cả những gì sắp đến, tất cả những nỗi khốn khổ của cơ thể, và cực hình tàn khốc của tư tưởng cho đến ngày bà chết đi, đó là ngày bà được giải thoát. Chẳng hiểu bà có bàng hoàng, khóc lóc, quỳ gối, đập đầu xuống đất, và cầu nguyện, cầu nguyện, cầu nguyện.
 
Đấng đã giết người ta như vậy và chỉ cho người ta sự trẻ trung để làm cho tuổi già thêm cay cực, và chỉ cho người ta mượn sắc đẹp để rồi lấy lại ngay tức khắc, bà có cầu xin, van nài Người hãy làm cho bà ta điều mà Người không bao giờ làm cho ai hết, hãy để lại cho bà, đến mãi ngày tận số, vẻ hấp dẫn, sự tươi thắm và duyên sắc mỹ lệ? Rồi hiểu là mình đã khẩn cầu vô hiệu Đấng vô danh khắc nghiệt cứ đẩy năm tháng qua, năm này kế tiếp năm khác, chẳng hiểu bà có vặn tay, lăn mình trên thảm trải phòng, có đập đầu vào đồ đạc và ghìm trong họng những tiếng la thét tuyệt vọng khủng khiếp?
 
Chắc hẳn bà đã chịu đựng những sự giày vò hành hạ ấy. Bởi vì đây là chuyện đã xảy ra.
 
Một hôm, bấy giờ bà ta ba mươi nhăm tuổi, cậu con trai mười lăm tuổi của bà bị ốm. Em nằm trên giường bệnh mà chưa xác định được em đau chứng gì. Một linh mục là gia sư của em, trông nom em và không mấy khi rời em, trong khi bà Ec-mê sớm, tối đến hỏi thăm tin tức.
Buổi sáng, bà vào, mặc áo choàng đen, tươi cười, người đã thơm phưng phức, và vừa đến cửa đã hỏi ngay:
-Thế nào, Giooc-giơ, có đỡ không con?
Đứa trẻ đã lớn, mặt đỏ, sưng mọng và hao mòn vì sốt, trả lời:
-Có, thưa mẹ, hơi đỡ.
Bà ở lại trong phòng chốc lát, nhìn các chai thuốc, chúm môi kêu khẽ: “Khiếp!”, rồi đột nhiên kêu lên: “À! Quên mất một việc rất cần” và bà chạy ra ngoài, để lại sau mùi phấn hương trang điểm thơm tho.
Buổi tối, bà xuất hiện, mặc áo dài hở cổ hở ngực, còn vỗi vã hơn nữa,  vì bao giờ bà cũng bị muộn, và bà chỉ vừa kịp đủ thì giờ để hỏi:
-Thế nào, thấy thuốc bảo sao?
Linh mục trả lời:
-Thưa bà, ông ấy còn chưa chắc là bệnh gì.
Thế rồi, một buổi tối, linh mục trả lời: “Thưa bà, cậu nhà mắc bệnh đậu mùa”.
Bà hét lên hoảng sợ và bỏ chạy. Sáng hôm sau, khi cô hầu phòng vào buồng bà, thoạt tiên cô ngửi thấy mùi đường cháy khét lẹt, và cô thấy bà chủ nằm trong giường, mắt mở, mặt xanh xao vì mất ngủ và run lẩy bẩy vì lo âu hoảng hốt. Khi các cánh cửa đã mở, bà Ec-mê hỏi:
-Giooc-giơ ra sao?
-Ồ, thưa bà, hôm nay sức khỏe cậu không khá tí nào.
Mãi tới trưa bà mới dậy, ăn hai quả trứng, uống một cốc nước chè, như thể chính bà bị ốm, rồi bà ra đi, đến một dược sĩ hỏi các biện pháp phòng lây bệnh đậu mùa. Mãi đến giờ ăn chiều bà mới về, mang theo nào chai nào lọ, và đóng cửa ở luôn trong phòng, tẩm đầy người các chất sát trùng tẩy uế.
Linh mục đợi bà ở phòng ăn. Vừa thấy ông, bà ta kêu lên, giọng rất xúc động: “Thế nào?”. Bà khóc, và không ăn uống được gì hết, vì băn khoăn dằn vặt. Ngày hôm sau, trời vừa rạng, bà đã cho hỏi tin tức, những tin tức này không hay gì hơn, và suốt ngày bà ở trong phòng riêng nghi ngút những lò than nhỏ tỏa mùi khét. Ngoài ra, cô gái ở còn quả quyết là nghe thấy bà rền rĩ suốt buổi tối. Cả một tuần trôi qua như vậy, bà không làm việc gì khác ngoài việc đi dạo một hoặc hai tiếng đồng hồ cho thoáng khí, vào khoảng giữa buổi chiều. Bây giờ thì bà cho hỏi tin tức từng giờ một, và khóc nức nở khi tin xấu đi.
 
Buổi sáng ngày thứ mười một, linh mục xin gặp, vào phòng bà, mặt nghiêm trang và xanh tái, ông nói mà không ngồi xuống chiếc ghế bà đưa mời:
-Thưa bà, cậu nhà mệt nặng, và cậu muốn gặp bà.
Bà ta quỳ sụp xuống mà kêu:
-Ôi! Lạy Chúa! Ôi! Lạy Chúa! Tôi không bao giờ dám đâu! Lạy Chúa! Hãy cứu vớt lấy con!
Ông linh mục nhắc lại:
-Thưa bà, bác sĩ còn í thy vọng. Giooc-giơ đang đợi bà.
Và ông bước ra. Hai giờ đồng hồ sau, cậu thiếu niên cảm thấy mình sắp chết, lại hỏi mẹ, linh mục bèn trở vào phòng bà ta và thấy bà vẫn quỳ, vẫn khóc và lặp đi lặp lại:
-Tôi không muốn…tôi không muốn…tôi sợ quá lắm…tôi không muốn…
Linh mục cố khuyên bà quyết định, động viên bà, lôi kéo bà. Ông chỉ làm cho bà lên một cơn thần kinh kéo dài và khiến bà la hét.
Buổi chiều, viên thầy thuốc trở lại, được biết sự hèn nhát đó, và tuyên bố rằng ông sẽ dẫn bà tới, hoặc tự ý, hoặc cưỡng ép. Nhưng sau khi đã dùng thử mọi lập luận, ông bèn nhấc bà ta lên để đem đến gần con, thì bà nắm lấy cánh cửa và bám chắc đến mức không sao lôi ra được. Rồi khi người ta buông bà ra, bà sụp xuống chân ông thầy thuốc mà xin lỗi, mà tự buộc tội mình là kẻ khốn nạn. Và bà kêu lên: “Ôi! Cháu không chết đâu, ông hãy bảo với cháu là tôi yêu cháu, tôi quý cháu…”
 
Cậu thiếu niên hấp hối. Biết mình sắp đến lúc lâm chùng, cậu khẩn khoản xin mọi người khuyên mẹ quyết định đến vĩnh biệt mình. Với thứ linh tính đôi khi có ở những người sắp qua đời, cậu đã hiểu, đoán được hết, và cậu nói: “Nếu mẹ tôi không dám vào, hãy xin mẹ tôi chỉ đi ngoài bao lơn đến cửa sổ phòng tôi để ít ra tôi được trông thấy mẹ, để tôi nhìn và vĩnh biệt mẹ vì không được ôm hôn mẹ”.
 
Viên thầy thuốc và vị linh mục lại trở vào gặp người đàn bà đó lần nữa. Họ cả quyết: “Bà không cần ngại điều gì cả vì có một tấm kính giữa bà và cậu ấy”. Bà ta nhận lời, choàng kín đầu, cầm một lọ thuốc ngửi, bước ba bước trên bao lơn, rồi đột nhiên ôm mặt, rền rĩ: “Không…không…tôi hổ thẹn quá…tôi sợ quá lắm…không…tôi không thể…”. Người ta muốn kéo bà đi, nhưng bà túm chặt lấy lan can và than vãn rên la đến nỗi khách đi đường bên dưới phải ngẩng lên xem.
 
Và người sắp chết vẫn chờ đợi, mắt hướng về khung cửa sổ ấy, chờ đợi, để chết đi còn được trông thấy lần cuối cùng khuôn mặt dịu hiền yêu dấu, khuôn mặt thiêng liêng của mẹ.
 
Cậu chờ đợi rất lâu, và đêm xuống. Cậu bèn quay mặt vào tường và không nói một lời nào nữa.
 
Khi trời sáng, cậu đã chết. Ngày hôm sau, bà ta phát điên.
 
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Cô Rô-za-li Pruy-đăng
 
Dịch giả: Trần Thanh Ái
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Trong vụ này, quả thật có một điều huyền bí mà các quan tòa, viên chánh án và viên biện lý của Nhà nước Cộng hòa không sao tìm hiểu được.
 
Cô Rô-za-li Pruy-đăng, người ở của vợ chồng Va-răng-bô ở Măng-tơ, có mang mà ông bà chủ không biết, đã hạ sinh một cháu bé ở trên gác, vào ban đêm, rồi giết con và đem chôn ngoài vườn.
 
Đó là chuyện giết con phổ biến thời bấy giờ, mà thủ phạm là những chị đầy tớ. Nhưng có một điều vẫn chưa giải thích được. Cuộc lục soát trong phòng chị Pruy-đăng đã dẫn đến việc khám phá ra một đống đầy đủ quần áo của bé sơ sinh, do chính Rô-xa-li thức đêm cắt, may ròng rã trong ba tháng trời. Tay chủ tiệm tạp hóa, nơi chị đã mua nến bằng đồng lương của mình, cũng đến để làm chứng. Hơn nữa, ông ta quả quyết rằng bà đỡ trong làng đã được cô ta cho biết tình trạng của mình, đã dẵn dò cô mọi điều thiết thực trong trường hợp mà tai nạn có thể xảy ra không ai hay biết. Ngoài ra, bà còn tìm ở Poa-xy một việc làm cho cô Pruy-đăng đề phòng khi cô bị đuổi việc, bởi vì ông bà Va-răng-bô không đùa về chuyện đạo đức bao giờ. Hai vợ chồng ấy, những người hưởng lợi tức thường niên ít ỏi ở tỉnh lẻ, cũng đến dự phiên tòa, họ phẫn nộ vì vết nhơ này đã làm ô uế gia đình họ. Có lẽ họ mong người ta đem chém cô ngay lập tức, không cần xét xử, và họ hành hạ cô bằng những lời khai hằng thù, chúng trở thành lời tố cáo cô nơi cửa miệng họ.
 
Thủ phạm, một cô gái cao lớn, xinh đẹp, người xứ Nooc-măng-đi, hiểu khá rõ tình cảnh của mình, cô khóc lóc không ngớt, và không chịu trả lời gì cả. Do đó, mọi người đành phải tin rằng cô ta phạm tội ác man rợ ấy trong giây phút tuyệt vọng và điên cuồng, bởi vì mọi bằng chứng cho thấy cô vẫn hy vọng gìn giữ và nuôi nấng đứa con. Viên chánh án còn cố gắng thêm một lần nữa để cho cô hé môi, để mong nghe được lời thú tội, và khi năn nỉ cô bằng một giọng hết sức ngọt ngào, cuối cùng ông cho cô biết rằng những người tụ tập tại đây để xét xử không hề muốn giết cô, thậm chí còn có thể khiếu nại cho cô.
 
Lúc ấy cô mới quyết định nói. Ông ta hỏi: “Xem nào, trước hết hãy nói cho chúng tôi biết, ai là cha đứa bé?”. Từ trước đến nay, cô khăng khăng giấu giếm điều này. Chợt cô trả lời và đưa mắt nhìn ông bà chủ, những người vừa mới vu cáo cô một cách điên cuồng.
“Ông Giô-dép, cháu ông Va-răng-bô”.
Hai vợ chồng ông chủ giật mình đánh thót, và đồng loạt kêu lên: “Sai! Nó nói láo! Thật là nhục nhã!”. Viên chánh án bảo họ im, và nói tiếp: “Xin cô cứ tiếp tục, và hãy nói cho chúng tôi biết sự việc đã xảy ra như thế nào?”
Rồi thình lình cô bắt đầu nói liên hồi, để xoa dịu con tim khép kín của cô, một con tim khốn khổ, đơn độc và bị giày vò, để trút hết nỗi muộn phiền của cô, trước mặt những con người nghiêm khắc mà cô đã coi như kẻ thù và những quan tòa ngoan cố.
-Vâng, chính ông Giô-dép Va-răng-bô, năm ngoái, khi ông về đây nghỉ.
-Ông Giô-dép làm nghề gì?
-Thưa ông, ông ấy làm hạ sĩ quan pháo binh. Ông ấy về nhà nghỉ hai tháng. Hai tháng hè. Còn tôi, tôi chẳng suy nghĩ chi cả, khi ông ấy bắt đầu để ý đến tôi, và tán tỉnh tôi, và vuốt ve tôi suốt ngày. Tôi đã để yên cho ông ấy. Ông ấy lặp đi lặp lại rằng tôi là một cô gái đẹp, tôi vui tính…rằng tôi hạp nhãn ông ấy…còn tôi, chắc chắn là ông ấy làm tôi hài lòng…Biết sao bây giờ?...Khi người ta cô độc, hoàn toàn cô độc như tôi, thì người ta sẽ tìm những chuyện ấy. Tôi cô độc trên thế gian này, thưa ông…tôi chẳng có ai để mà trò chuyện, để mà kể lể những muộn phiền…Tôi chẳng còn cha mẹ, anh em, chẳng còn ai cả! Khi ông ấy bắt chuyện với tôi, tôi có cảm giác ông như một người anh đi xa mới trở về. Và rồi, một buổi tối nọ, ông ấy rủ tôi đi xuống bờ sông, để tán gẫu mà không sợ gây ồn ào. Tôi đã đến đấy…Chuyện gì xảy ra sau đó?...Ông ấy ôm tôi…Không, không, tôi không muốn, chắc chắn như vậy…Tôi không thể…Tôi muốn òa lên khóc, nhưng không khí thật là êm ả…Hôm ấy có trăng sáng…Tôi không thể…không…tôi xin thề với các ông rằng…tôi không thể…Ông ấy đã làm tất cả những gì ông ấy muốn…và cảnh ấy còn kéo dài suốt ba tuần lễ sau đó, khi ông ta còn ở đấy…Lẽ ra tôi phải đi theo ông ấy đến tận cùng trời cuối đất…Ông ấy đã ra đi. Còn tôi thì không biết rằng mình đã có mang!...Tôi chỉ biết điều đó vào tháng sau.
 
Cô ta lại òa lên khóc to đến nỗi mọi người phải để cho cô có thời gian trấn tĩnh lại. Đoạn viên chánh án nói tiếp bằng giọng của một linh mục trong lễ thú tội: “Xem nào, cứ nói tiếp đi”.
Cô lại tiếp tục nói: “Khi biết rằng mình đã có mang, tôi liền báo cho bà đỡ Bu-đanh, bà đang ngồi kia kìa, để làm chứng điều ấy; và tôi hỏi bà cách thức xử lí trong trường hợp tôi trở dạ mà bà không đến được. Và tôi chuẩn bị tã lót quần áo cho đứa bé, đêm này qua đêm khác, đến tận một giờ sáng; và tôi tìm chỗ làm khác, vì tôi biết rằng mình sẽ bị đuổi việc, nhưng tôi muốn ở lại nhà này cho đến phút chót, để dè xẻn tiền nong, vì rằng tôi chẳng có tiền bạc là bao, trong khi tôi rất cần nó để lo cho cháu bé…
-Vậy là cô không muốn giết cháu?
-Ồ, chắc chắn là không, thưa ông.
-Vậy thì tại sao cô lại giết nó?
-Đấy là vấn đề. Tôi trở dạ sớm hơn tôi tưởng. Lúc ấy tôi đang ở trong bếp, khi vừa rửa chén bát xong.
Ông bà Va-răng-bô đã đi ngủ. Tôi leo lên gác một cách khó nhọc, hai tay bám lấy tay vịn cầu thang mà đu người lên, và tôi nằm xuống sàn nhà để không làm bẩn giường chiếu, cứ như thế suốt một giờ, hai giờ hoặc cũng có thế là ba giờ, tôi không hề biết, vì tôi đau quá; và tôi, tôi dùng hết sức để đẩy nó ra. Tôi cảm thấy nó vừa chui ra, và tôi nhặt nó lên. À! Vâng, tôi rất hài lòng, chắc chắn như vậy! Tôi đã làm tất cả những gì bà Bu-đanh khuyên tôi. Rồi tôi đặt nó lên giường. Rồi cơn quặn đau lại đến hành hạ tôi thêm nữa, một cơn đau muốn chết đi được! Nếu các vị biết được điều đó, các vị đàn ông ấy, thì các vị sẽ không gây ra đến độ như vậy, nhỉ? Tôi khuỵu người xuống, rồi nằm dài ra sàn nhà; rồi chuyện ban nãy lại lặp lại, thêm một hoặc hai giờ nữa, chỉ một mình tôi…và rồi một đứa bé khác chui ra. Hai đứa bé, vâng, hai đứa…thế đấy! Tôi bế cháu lên, như đã bế đứa đầu, và tôi đặt lên giường, cạnh đứa kia. Hai đứa, có thể được chăng? Hai đứa bé! Trong khi mỗi tháng tôi chỉ có thể kiếm được hai mươi quan! Các ngài xem, có thể được chăng? Một đứa, vâng, có thể được, bằng cách nhịn ăn nhịn mặc…Nhưng không thể hai đứa được! Điều ấy làm tôi quẫn trí! Biết làm gì bây giờ? Tôi không thể chọn lựa được!
 
Biết làm gì bây giờ? Tôi cảm thấy muốn chết đi được. Tôi lấy chiếc gối để lên trên mà không biết…Tôi không thể nuôi hai đứa được…Và tôi còn nằm lên trên đó nữa. Và tôi, tôi lăn lộn, gào khóc cho đến khi nhìn thấy ánh sáng ban ngày xuyên qua cửa sổ. Hai đứa đã chết dưới gối, chắc chắn rồi. Đoạn tôi bế chúng xuống cầu thang, tôi đi ra vườn, và chôn hai đứa xuống đất, sâu đến độ tôi không thể đào thêm được nữa, một đứa ở chỗ này, một đứa ở chỗ kia, không chôn chung nhau, để chúng không thể nói với nhau về mẹ chúng được, nếu chúng có thể nói. Biết làm sao bây giờ?
Và rồi tôi trở về phòng nằm, tôi đau đến độ không thể ngồi dậy nổi. Người ta đi mời bác sĩ lại. Ông ta hiểu ngay tất cả. Đó là sự thật, thưa quan tòa. Xin các ông cứ làm những gì các ông thích, tôi sẵn sàng chấp nhận.”
 
Phân nửa bồi thẩm đoàn khịt mũi liên hồi, để khỏi phải khóc. Các bà thì nức nở trong phòng xử. Viên chánh án hỏi thêm:
-Chị chôn đứa kia ở đâu?
Cô hỏi lại:
-Ông muốn đứa nào?
-Nhưng…đứa ở vườn rau…
-À, còn đứa kia ở vườn dâu, bên bờ giếng.
 
Và cô lại khóc nức nở, cô rên rỉ làm não lòng mọi người. Cô Rô-za-li Pruy-đăng được xử trắng án.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Lời nói của tình yêu
 
Dịch giả: Vũ Bình Định
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Con gà trống to lớn yêu quí của em.
Anh không viết thư cho em và cũng đã lâu lắm anh không đến với em. Lâu lắm rồi em chẳng được trông thấy anh. Có phải anh đã hết yêu em? Tại sao lại thế? Em có lỗi gì nào? Hãy nói cho em biết đi, tình yêu của em! Em thì em yêu anh rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều! Em muốn lúc nào cũng  luôn có anh bên cạnh, muốn ngày nào cũng được ôm hôn anh, muốn gọi anh bằng tất cả những cái tên trìu mến chợt nảy ra trong óc em, ôi trái tim của em, con mèo yêu quí của em. Em tôn thờ anh, em tôn thờ anh, em tôn thờ anh, ôi con gà trống đẹp đẽ của em.
Con gà mái nhỏ của anh,
 
SOPHIE
 
Cô bạn gái thân mến của anh,
Chắc chắn em sẽ không hiểu một chút gì đâu tất cả những điều anh sắp nói với em đây.  Nhưng không sao. Nếu tình cờ bức thư này của anh lọt vào tay một người đàn bà khác, có lẽ nó cũng sẽ bổ ích cho người ấy.
Nếu hồi đó em điếc và câm, chắc là anh vẫn yêu em rất lâu, rất lâu. Nhưng khốn nỗi em lại nói – có vậy thôi. Một nhà thơ từng viết:
“Chẳng bao giờ em đến với anh vào những giờ phút hiếm hoi.
Khi chỉ một cây đàn thôi thiển anh cũng làm nó vang lên được những âm thanh kỳ diệu.
Và làm ca lên giấc mơ của anh trong trái tim em”.
Trong tình yêu, em thấy đó, người ta luôn làm cho các giấc mơ ngân lên tiếng hát. Nhưng để các giấc mơ ca hát, người ta không được ngắt lời chúng. Cho nên khi ta nói giữa hai nụ hôn, là ta đã làm đứt quãng giấc mơ cuồng nhiệt của ta, dù đó là những lời tuyệt đẹp.
Em không hiểu gì cả phải không? Càng tốt. Anh viết tiếp nhé. Em chắc chắn là một trong những phụ nữ xinh đẹp nhất, một trong những phụ nữ đáng tôn thờ nhất anh từng gặp.
Trên trái đất này có đôi mắt nào chứa đựng nhiều mộng mơ, nhiều hứa hẹn mới lạ, nhiều vô tận tình yêu hơn mắt em? Anh không tin là có. Và khi miệng em mỉm cười với cặp môi mọng để lộ ra hàm răng trắng bong, anh tưởng như từ khuôn miệng xinh xắn ấy sắp vang ra một tiếng nhạc du dương khó tả, một cái gì đó ngọt ngào đến mức huyền hoặc, những âm thanh êm dịu đến mức làm người ta phải thổn thức.
Vậy mà lúc ấy em gọi anh một cách bình thản “Con thỏ to lớn yêu quí của em”. Đột nhiên anh thấy hình như anh vào trong đầu em, trông thấy hoạt động của tâm hồn em, tâm hồn bé bỏng của em, một phụ nữ bé bỏng xinh đẹp, xinh đẹp thật, nhưng…cái đó khiến anh ngượng nghịu, ngượng nghịu lắm. Giá mà anh không trông thấy thì hơn.
Em vẫn không hiểu gì hết phải không? Anh chắc là thế.
Em có nhớ lần đầu tiên em đến nhà anh không? Em bước vào bất thình lình, với mùi hương violette thoang thoảng từ váy áo em, hai chúng ta nhìn nhau hồi lâu không nói một lời rồi ôm chầm lấy nhau như hai kẻ điên rồ…rồi…rồi cho đến tận ngày hôm sau chúng ta vẫn không nói gì cả.
Nhưng, khi rời nhau ra, bàn tay chúng ta run rẩy và mắt chúng ta nói với nhau những điều, những điều…không thể diễn tả bằng bất cứ thứ ngôn ngữ nào. Ít nhất anh cũng nghĩ vậy. Và rất khẽ, khi chia tay nhau, em thì thầm: “Tạm biệt anh!” – Đó là tất cả những gì em nói, và sẽ không bao giờ em tưởng tượng được em đã bít kín cả giấc mơ, cả những gì tuyệt diệu anh vừa lờ mờ thấy, cả những gì anh cho là anh đoán biết được trong ý nghĩ của em.
Em thấy đấy, cô em bé bỏng tội nghiệp của anh, đối với những người đàn ông không ngu đần, lại tinh tế một chút, ở mức cao hơn bình thường một chút, tình yêu là một thức phức tạp đến nỗi chỉ một chuyện chẳng là gì cả cũng có thể làm hỏng nó. Phụ nữ các em, các em không bao giờ nhận thấy sự nực cười của một vài điều khi các em đang yêu, và các em không để ý tới nét kỳ cục của các biểu hiện.
Tại sao một lời đúng đắn ở miệng một người đàn bà bé nhỏ tóc nâu nghe lại hết sức giả dối và khôi hài ở miệng một người đàn bà to lớn tóc vàng? Tại sao cử chỉ dịu dàng mơn trớn của người phụ nữ này lại chẳng thích hợp chút nào nếu là của một người phụ nữ khác? Tại sao một vài vuốt ve thú vị của cô gái này lại sẽ gây cảm giác khó chịu nếu là của cô khác? Tại sao? Tại vì, trong tất cả mọi chuyện, nhưng nhất là trong tình yêu, cần có một sự hòa hợp tuyệt vời, một sự ăn khớp tuyệt đối của cử chỉ, giọng nói, lời lẽ, cách biểu lộ dịu dàng, với con người đang hành động, với lứa tuổi người đó, với độ lớn của thân hình người đó, với màu tóc và diện mạo, vẻ đẹp của người đó.
Một người đàn bà ba mươi lăm tuổi, tuổi của những đam mê lớn lao mãnh liệt, mà vẫn còn giữ lại dù chỉ một chút xíu cái màu mè mơn trớn của tình yêu tuổi hai mươi, mà không hiểu rằng cần biểu lộ mình theo một cách khác, nhìn một cách khác, ôm hôn một cách khác, không hiểu rằng mình phải là một Didon chứ không còn là một Juliette nữa, thì nếu có mười người yêu thể nào cũng làm chín người chán ngấy, cho dù họ hoàn toàn không hiểu tại sao họ chán.
 
Em có hiểu không? – Không – Anh rất hy vọng như thế.
 
Kể từ hôm em mở cái robinet những lời lẽ âu yếm, tất cả đã kết thúc với anh, cô em thân mến ạ.
Đôi lần chúng ta ôm hôn nhau suốt năm phút, một nụ hôn dài vô tận, say đắm, một trong những nụ hôn làm cho đôi mắt nhắm lại như là chúng có thể thất thoát ra mất qua cái nhìn, như là để giữ lại chúng trọn vẹn hơn trong tâm hồn tối sẫm mà chúng đang khuấy đảo. Rồi, khi chúng ta rời cặp môi ra khỏi nhau, em vừa nói với anh vừa cười một tiếng trong trẻo: “Tuyệt quá, con chó to lớn của em!”. Lúc ấy, anh chỉ muốn tát cho em một cái.
Bởi vì em đã lần lượt gọi anh bằng tất cả những cái tên của các con vật và các thứ rau quả mà có lẽ em tìm thấy ở cuốn Sách dạy nấu cho thị dân, cuốn Nghệ thuật làm vườn và cuốn Khảo luận về lịch sử tự nhiên dùng cho các lớp sơ học. Nhưng cái đó vẫn chưa là gì.
Sự vuốt ve yêu đương bao giờ cũng khó coi thế nào ấy, và thô thiển thế nào ấy, và còn hơn cả thế nữa, khi ta nghĩ đến nó. Nhà thơ Musset từng nói:
Tôi còn nhớ những cơn co thắt khủng khiếp ấy
Những cái hôn câm lặng, những bắp thịt khát khao ấy
Cái sinh vật mải mê, nhợt nhạt, nghiến răng kèn kẹt ấy
Nếu chúng không thần thánh, những cái ấy thật ghê sợ, hoặc lố bịch!...Ôi! Em bé bỏng tội nghiệp của anh, cái anh hề tài ba nào, cái vị thần tai ác nào lại gợi cho em những lời…hủy diệt ấy?
Anh đã sưu tập lại những lời ấy, nhưng vì tình yêu đối với em, anh sẽ không nói ra.
Và rồi quả thực là em làm rất nhiều điều không đúng nơi, không đúng lúc, em còn tìm được cách buông mấy tiếng “Em yêu anh!” đầy hứng khởi trong một số tình huống kỳ lạ đến mức anh phải cố nén cái ý muốn mãnh liệt là được cười phá lên. Có những thời điểm mà ba tiếng “Em yêu anh!” đó không thích hợp đến nỗi trở nên gần như là bất lịch sự, em cần biết như vậy.
 
Nhưng em không hiểu anh đâu.
 
Nhiều người phụ nữ cũng không hiểu anh chút nào, họ coi anh là ngốc! Nhưng anh không cần. Những người đói ăn ngấu ăn nghiến, nhưng những người tinh tế đều dễ bị ghê và trong nhiều trường hợp chỉ cần một chút thôi họ cũng đã cảm thấy ghê tởm không sao cưỡng lại được. Tình yêu nhiều khi cũng giống như món ăn vậy.
Điều anh không hiểu được là một số phụ nữ biết rất rõ sức quyến rũ ghê gớm của đôi tất bằng lụa thêu mỏng, vẻ đẹp tuyệt diệu của các sắc thái,, sức mê hoặc của những dải đăng ten quý ẩn sâu trong các đồ lót, cái vị khêu gợi của sự xa hoa ngấm ngầm, của những thứ quần áo trong cầu kỳ, tất cả những gì tinh tế của vẻ duyên dáng phụ nữ, lại không bao giờ hiểu sự kinh tởm đến lợm giọng do những lời không thích hợp hoặc âu yếm một cách ngớ ngẩn gây nên.
Một lời tàn nhẫn cũng có khi làm nên điều kỳ diệu, nó quất vào da thịt, nó làm cho trái tim nhảy dựng lên. Những lời ấy được phép trong giờ phút chiến đấu. Lời của Cambronne1 chẳng tuyệt vời lắm sao? Nhưng cũng phải biết im lặng và trong một số lúc, cũng nên tránh những câu theo kiểu Paul de Kock2.
Và anh ôm hôn em một cách cuồng nhiệt, với điều kiện em không nói gì cả
 
RENÉ
 
Chú thích
1.   Cambronne (1770-1842) Tường Pháp, khi bị địch bao vây ở Waterloo đã đáp lại bằng một từ đơn giản gồm 5 chữ cái, được gọi là “lời của Cambronne”
2.   Paul de Kock (1794-1871) – tiểu thuyết gia người Pháp, sinh ở Pari
I dress to kill, and cook the same way.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-22 14:25:26banhsukem>
Guy De Maupassant
 
Mơ-nuy-ê
 
Dịch giả: Lê Hồng Sâm
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Giăng Briden, một ông già độc thân mà người ta vẫn cho là kẻ hoài nghi, nói: Những nỗi bất hạnh lớn ít khi khiến tôi buồn. Tôi đã thấy tận mắt chiến tranh, tôi đã bước qua thây người, không thương cảm. Những sự tàn nhẫn thô bạo của tạo hóa hoặc của con người có thể làm chúng ta thốt kêu lên khủng khiếp hoặc công phẫn nhưng không hề khiến tim ta se lại, không hề gây cái rùng mình lướt qua lưng khi ta nhìn thấy vài điều não lòng nho nhỏ.
 Nỗi đau mãnh liệt nhất con người có thể cảm thấy, dĩ nhiên là khi người mẹ mất con, và khi người đàn ông mất mẹ. Điều ấy mãnh liệt, kinh khủng, điều ấy đảo lộn và cào xé, như người ta nguôi khây những tai họa đó như là lành những vết thương lớn đẫm máu. Vậy mà, vài cuộc gặp gỡ, vài điều thoáng thấy, phỏng đoán, vài nỗi thầm kín, vài sự lắt léo của số phận, lay động trong ta cả một thế giới xót xa những suy nghĩ, hé mở đột ngột trước ta cánh cửa bí ẩn những đau khổ tinh thần, phức tạp, không phương cứu chữa, càng sâu xa hơn bởi dường như êm nhẹ, càng nhức nhối hơn bởi dường như mơ hồ, càng dai dẳng hơn bởi dường như không thực, những điều ấy để lại trong tâm hồn ta cái gì như một giải u buồn, một vị chua chát, một cảm giác thất vọng và rất lâu ta mới xua tan được.
Tôi thường thấy luôn luôn trong mắt đôi ba điều mà người khác chắc hẳn không để ý, những điều ấy đã xuyên vào trong tôi như những vết kim châm dài, mảnh, không sao chữa khỏi. Có lẽ các bạn không hiểu niềm xúc động mà những ấn tượng thoáng qua đó để lại trong tôi. Tôi chỉ kể với các bạn một cách ấn tượng mà thôi, nó đã xưa cũ lắm, nhưng lại sinh động như vừa mới hôm qua đây. Có thể tôi mủi lòng chỉ là do tưởng tượng.
 
Giờ đây tôi năm mươi tuổi. Hồi ấy tôi còn trẻ và đang học luật. Hơi buồn, hơi mơ mộng, thấm nhuần một triết lý u hoài, tôi ít ưa những tiệm cà phê ồn ào, những anh bạn ầm ĩ, những ả ngu ngốc. Tôi hay dậy sớm, và một trong những lạc thú thân thiết nhất của tôi là đi dạo một mình, vào khoảng tám giờ sáng, ở khu vườn ươm của công viên Luxemburg.
Các bạn thì các bạn chẳng biết khu vườn ươm ấy đâu. Nó như thể một mảnh vườn từ thế kỷ trước để quên, mảnh vườn xinh như nụ cười hiền của bà già tuổi tác. Những hàng tào um tùm ngăn những lối đi hẹp và đều đặn, những lối đi êm ả giữa hai bức tường hoa lá xén cắt có phương pháp. Lưỡi kéo lớn của người coi vườn luôn sửa sang ngay ngắn những tấm vách bằng nhành cây ấy, và đây đó, từng chỗ, từng chỗ, ta bắt gặp những bồn hoa, những khoảnh đất trồng các cây nhỏ xếp thành hàng như học sinh đi dạo, những đám hồng lộng lẫy hoặc những đội ngũ cây ăn quả. Cả một góc khu vườn xinh đẹp tuyệt vời ấy là nơi ở của loài ong. Những nếp nhà rơm của chúng, xếp cách quãng khéo léo trên các tấm ván, mở ra trước ánh mặt trời những khuôn cửa lớn bằng chiếc đê khâu, và suốt dọc đường, ta gặp những con ong vàng óng vi vu, những chủ nhân thực sự của cái chốn thanh bình này, những khách dạo chơi thực sự tại những hành lang yên tĩnh này.
Hầu như sáng nào tôi cũng đến đó. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài và đọc sách. Đôi khi tôi bỏ sách rơi trên đầu gối để mơ màng, để nghe Pari đang sống quanh tôi, và để hưởng cái yên nghỉ mênh mông của những lùm cây cảnh theo kiểu xưa cũ này.
 
Nhưng tôi bỗng nhận ra rằng tôi không phải là người duy nhất lui tới nơi đây ngay từ lúc mở hàng rào chắn vườn, và đôi khi tôi chạm trán, ở góc một bồn cây, với một ông già kỳ quặc người bé nhỏ. Ông ta đi giày có nút bạc, mặc quần có mép lật, áo rơ-đanh-gốt màu thuốc sợi Tây Ban Nha, gài đăng ten thay ca-vát và đội một chiếc mũ lạ lùng không tưởng tượng nổi, màu xánh, vành rộng, tuyết dạ dài, gợi nhớ thời hồng thủy. Ông ta gầy, gầy lắm, xương xẩu, tươi cười và nhăn nhúm. Đôi mắt sắc của ông nhấp nháy, động đậy vì tai mắt luôn chớp dồn, và lúc nào ông cũng cầm trong tay một cây gậy chống tuyệt đẹp có nắm tay cầm bằng vàng chắc là một kỷ vật huy hoàng nào đó. Ông lão ấy thoạt tiên làm tôi bỡ ngỡ, rồi khiến tôi cực kỳ quan tâm. Và tôi rình ông ta qua các bức tường cây lá, tôi theo dõi ông từ xa, tôi dừng bước ở chỗ ngoặt các bụi cây để ông khỏi trông thấy.
Và thế là một buổi sáng, tưởng rằng chỉ có một mình, ông ta bèn làm những động tác lạ lùng: thoạt tiên vài bước nhảy khẽ, rồi cúi chào một cái, và đạp cẳng chân khẳng khiu nhảy một điệu Entrechat hãy còn lanh lẹn, rồi ông bắt đầu lịch thiệp xoay người, nhún nhảy, uốn éo một cách kỳ khôi, mỉm cười như trước công chúng khán giả, yểu điệu làm duyên, khuỳnh tay, vặn vẹo cái thân hình con rối tội nghiệp, gửi vào khoảng không những cái chào khẽ, cảm động và lố lăng. Ông ta khiêu vũ.
Tôi ngây người vì kinh ngạc, tự hỏi trong hai người thì ai điên, ông ta hay tôi.
Nhưng ông ta đột nhiên dừng lại, tiến lên như các diễn viên tiến trên sân khấu, rồi nghiêng mình lùi bước, mỉm cười duyên dáng và tay run run gửi những cái hôn như của đào hát cho hai hàng cây xén thẳng. Và ông ta lại trịnh trọng đi dạo tiếp.
 
Từ hôm đó, tôi không rời mắt khỏi ông ta, và mỗi sáng ông lại tái diễn cái trò kỳ lạ không tưởng tượng nổi ấy. Tôi thèm nói chuyện với ông ta đến phát điên len. Tôi đánh bạo, và sau khi cúi chào, tôi nói với ông ta:
-Thưa ông, trời hôm nay đẹp quá.
Ông ta nghiêng mình:
-Vâng, thưa ông, thật quả là tiết trời thuở xưa.
Tám ngày sau, chúng tôi thân nhau, và tôi biết chuyện ông ta. Ông là thầy dạy khiêu vũ ở rạp Opera, thời vua Louis mười lăm. Cây gậy đẹp của ông là tặng vật của bá tước De Clemont. Và hễ nói chuyện khiêu vũ với ông là ông bèn thao thao bât tuyệt. Thế rồi một hôm ông tâm sự với tôi:
-Tôi lấy đào Ca-xtơ-ri đấy ông ạ. Nếu ông muốn, tôi sẽ giới thiệu bà ấy với ông, nhưng chốc nữa bà ấy mới đến đây. Ông thấy đó, khu vườn này là niềm vui và cuộc sống của chúng tôi. Đấy là tất cả những gì của ngày xưa còn lại với chúng tôi. Dường như nếu không có nó, chúng tôi không thể tồn tại được nữa. Nó cũ kỹ và thanh nhã, có phải không ông? Tôi tưởng như được hít thở ở đây một không khí không hề thay đổi từ thuở tôi còn trai trẻ. Chiều nào nhà tôi và tôi cũng ở đây. Những tôi thì tôi đến từ sáng, vì tôi hay dậy sớm.
Ăn trưa xong, tôi quay lại vườn Luxemburg, và chẳng mấy chốc, tôi đã thấy ông bạn của tôi đang trịnh trọng kiểu cách khoác tay một bà lão bé nhỏ, mặc áo đen, và tôi được giới thiệu với bà cụ. Đó là đào Ca-xtơ-ri, vũ nữ trứ danh được các ông hoàng yêu dấu, được nhà vua yêu dấu, được cả cái thế kỷ hào hoa ăn chơi yêu dấu, cái thế kỷ dường như đã để lại trên đời một hương vị yêu đương.
Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài. Đó là vào tháng năm. Hương hoa thoang thoảng bay lượn trong những lối đi sạch sẽ tinh tươm, mặt trời ấm áp lướt qua kẽ lá, rắc xuống chúng tôi những giọt nắng lớn. Tà áo dài đen của đào Ca-xtơ-ri như đầm đia ánh sáng.
Khu vườn vắng vẻ không người. Xa xa nghe tiếng xe ngựa lăn bánh. Tôi nói với nhà khiêu vũ già:
-Xin ông giảng cho tôi thế nào là điệu Mơ-nuy-ê?
Ông giật mình.
-Điệu Mơ-nuy-ê, thưa ông, là bà hoàng của các điệu vũ và là điệu vũ của các bà hoàng, ông hiểu chứ? Từ khi không còn vua, không còn điệu Mơ-nuy-ê nữa.
Và ông bắt đầu, một cách văn hoa, một bài ca tụng tràng giang mà tôi chẳng hiểu gì hết. Tôi muốn được miêu tả những bước nhảy, mọi động tác, các dáng điệu. Ông ta lẫn lộn, bực dọc vì sự bất lực của mình, kích động và phiền muộn. Và đột nhiên ông quay sang bà vợ cổ kính của ông nãy giờ vẫn lặng lẽ và trang nghiêm.
-Ê-li-dơ này, mình có đồng ý không, này, mình chịu khó nhé, mình có đồng ý chúng ta chỉ cho ông đây biết nó như thế nào không?
Bà đưa mắt e ngại nhìn khắp chung quanh, rồi đứng dậy không nói một lời và đứng trước mặt ông.

Thế là tôi được thấy một điều không sao quên nổi.
Họ đi đi lại lại với những điệu bộ trẻ thơ, mỉm cười với nhau, lắc lư người, nghiêng mình, nhảy nhót như hai con búp bê cũ kỹ nhảy múa được nhờ một bộ máy cổ đã gãy hỏng đôi chút, xưa kia do một người thợ cực kì khéo léo chế tạo nên, theo kiểu cách thời ấy. Và tôi nhìn họ, lòng xôn xao vì những cảm giác lạ lùng, tâm hồn bồi hồi vì một nỗi u hoài khó tả. Tôi tưởng như trông thấy một hồn ma thảm hại và hài hước, bóng dáng lỗi thời của một thế kỷ. Tôi buồn cươi và muốn khóc.
Bỗng họ dừng lại, họ đã nhảy xong các hình của điệu vũ. Hai năm trôi qua, khi tôi trở lại Pari, người ta đã phá mất mảnh vườn ươm. Họ ra sao rồi khi không còn khu vườn thân thương ngày xưa, với những khoảnh vườn ngoắt ngoéo, với hương vị quá khứ và những lùm cây cảnh quanh co duyên dáng?
Hay là họ đã chết? Hay là họ lang thang ở những đường phố tân thời như những kẻ lưu đày vô vọng? Hay là họ đang khiêu vũ, những bóng ma hài hước tức cười, đang nhảy một điệu Mơ-nuy-ê kỳ ảo giữa những cây trắc bá trong nghĩa địa, dọc các lối nhỏ hai bên là những nấm mồ, dưới ánh trăng?
 
Kỷ niệm về họ ám ảnh tôi, quấy nhiễu tôi, giày vò tôi, canh cánh trong tôi như một vết thương. Vì sao? Tôi chẳng biết.
Các bạn cho như vậy là lố bịch, hẳn thế?
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Người đã khuất
 
Dịch giả: Nguyễn Văn Quảng
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem
 
Tôi đã yêu nàng đắm đuối! Vì sao người ta yêu? Có kỳ quặc chăng, khi trên đời ta chỉ nhìn thấy có một người, trong đầu óc chỉ có một ý nghĩ, trong lòng chỉ có một ao ước và trong miệng chỉ có một cái tên: cái tên cứ dâng lên không ngừng, dâng lên như nước nguồn, từ đáy sâu thẳm tâm hồn, dâng lên mãi mãi, và ta gọi, ta gọi đi gọi lại, ta thì thầm không dứt, nơi nơi, như một lời cầu nguyện.
 
Tôi sẽ không kể lại câu chuyện của tôi. Tình yêu chỉ có một chuyện, bao giờ cũng một chuyện ấy mà thôi. Tôi đã gặp nàng và yêu nàng. Chỉ có thế. Và tôi đã sống một năm trời trong tình âu yếm của nàng, trong tay nàng, trong sự vuốt ve của nàng, trong ánh mắt nàng, trong những tà áo của nàng, trong lời nàng nói; bị bao bọc, ràng buộc, giam cầm trong tất cả những gì từ nàng mà ra, một cách trọn vẹn đến nỗi tôi không còn biết đêm hay ngày, tôi sống hay chết, ở trên mặt đất cũ kỹ hay ở nơi nào khác nữa.
 
Và thế là nàng qua đời. Như thế nào nhỉ? Tôi không biết, tôi không biết nữa.
 
Một tối trời mưa, nàng về bị ướt và hôm sau, nàng ho, khoảng một tuần lễ thì ốm. Chuyện gì đã xảy ra? Tôi không biết nữa.
 
Các thầy thuốc đến, viết lách và ra đi. Người ta mang thuốc lại: một người đàn bà cho nàng uống thuốc. Tay nàng nóng, trán nàng rừng rực và ướt mồ hôi, mắt nàng long lanh và buồn bã. Tôi nói với nàng, nàng trả lời tôi. Chúng tôi đã nói gì với nhau nhỉ? Tôi không biết nữa. Tôi đã quên hết thảy, hết thảy, hết thảy! Nàng qua đời, tôi nhớ rất rõ tiếng thở dài nho nhỏ sao mà yếu ớt, hơi thở cuối cùng. Người hộ lý nói: “Ôi!”. Tôi hiểu, tôi hiểu.
 
Tôi không còn biết gì nữa. Không biết gì nữa. Tôi thấy một linh mục thốt lên lời này: “Người tình của ông”. Tôi có cảm giác như ông ta xúc phạm đến nàng. Vì nàng đã khuất, người ta không có quyền biết đến điều đó nữa. Tôi đuổi ông ta đi. Một linh mục khác đến. Ông ta rất tốt, rất hiền. Tôi khóc khi ông nói với tôi về nàng.
 
Người ta hỏi han tôi trăm nghìn điều về việc chôn cất. Tôi không biết nữa. Tuy thế tôi nhớ rất rõ cái quan tài, tiếng búa nện khi người ta đóng nàng vào trong đó. Ôi! Lạy Chúa! Nàng bị chôn đi! Chôn đi! Nàng! Trong cái hố ấy! Có vài người đến, những cô bạn gái. Tôi bỏ trốn. Tôi chạy. Tôi đi rất lâu qua các phố. Rồi tôi về nhà. Ngày hôm sau tôi đi du lịch. Hôm sau tôi trở về Pari.
Khi tôi thấy lại căn phòng của tôi, căn phòng của chúng tôi, đồ đạc của chúng tôi, toàn bộ ngôi nhà nơi lưu giữ tất cả những cái gì còn lại của đời một con người sau khi người đó đã chết đi, nỗi buồn của tôi tái phát dữ dội đến nỗi suýt nữa tôi mở cửa sổ, lao người xuống đường. Không thể ở lại được nữa giữa những đồ vật ấy, giữa những bức tường đã bao lấy nàng, và hẳn còn giữ lại trong những vết rạn li ti của chúng hàng ngàn nguyên tử của nàng, của da thịt nàng và hơi thở nàng, tôi cầm lấy mũ, bỏ ra đi. Thốt nhiên lúc ra tới cửa, tôi đi qua tấm gương lớn trong phòng đợimà nàng cho đặt ở đó để hàng ngày, mỗi khi ra đi nàng ngắm nhìn mình từ đầu đến chân, xem toàn bộ trang phục của mình có được hay không, có chỉnh tề và xinh đẹp hay không, từ đôi giày cho đến mái tóc.
 
Và tôi đứng phắt lại trước tấm gương đã bao lần phản chiếu bóng nàng. Đã bao lần, bao lần, đến mức hẳn nó cũng còn giữ lại hình ảnh nàng. Tôi đứng ở đó run rẩy, mắt đăm đăm nhìn vào mặt gương, mặt kính phẳng, sâu, trống rỗng, nhưng đã chứa đựng nàng toàn vẹn, đã chiếm lĩnh nàng cũng y như tôi, y như cái nhìn say đắm của tôi. Tôi thấy dường như tôi yêu tấm gương ấy. Tôi sờ vào nó, nó lạnh lẽo! Ôi! Hồi tưởng! Hồi tưởng! Tấm gương xót xa, tấm gương cháy bỏng, tấm gương sống, tấm gương khủng khiếp, làm đau mọi nỗi đau quằn quại! Sung sướng thay những con người có tấm lòng, y như một tấm gương, nơi đây mọi phản chiếu lướt qua và tan biến, tấm lòng ấy quên đi hết thảy những gì nó đã chứa đựng, tất cả những gì diễn qua trước nó, tất cả những gì đã ngắm nghía, soi mình trong tình thương mến của nó, trong tình yêu của nó! Tôi đau đớn biết bao nhiêu!
 
Tôi ra đi, và bất giác, không biết, không định, tôi đi về phía nghĩa địa. Tôi thấy ngôi mộ của nàng hết sức đơn sơ, một cây thập tự bằng đá trắng với mấy lời sau: “Nàng đã yêu, đã được yêu, và qua đời”. Nàng ở đó, ở dưới đó, tàn rữa! Kinh khủng bao nhiêu! Tôi đập đầu xuống đất, nức nở. Tôi ở đó rất lâu. Rồi tôi thấy trời sắp tối. Thế là một ước muốn kỳ quặc, điên rồ, một ước muốn của kẻ tình nhân tuyệt vọng choáng ngợp lấy tôi. Tôi muốn suốt đêm ở bên nàng, đêm cuối cùng, khóc trên mộ nàng. Nhưng họ sẽ nhìn thấy tôi, sẽ đuổi tôi. Làm thế nào? Tôi khôn khéo. Tôi đứng dậy, lang thang vơ vẩn trong thành phố của những người đã khuất này. Tôi đi, tôi đi. Sao thành phố này nhỏ bé như vậy bên cái thành phố kia, nơi người ta sống! Và tuy thế, những người chết này, sao họ lại đông đảo đến thế hơn những người sống. Chúng ta cần nhà cao, cần phố sá, cần bao nhiêu là chỗ cho bốn thế hệ cùng nhìn ánh sáng ban ngày một lúc, uống nước nguồn, uống rượu của cây nho và ăn bánh của đồng ruộng. Và với tất cả thế hệ người đã chết, với toàn bộ bậc thang nhân loại xuống đến tận chúng ta đây, hầu như không có gì cả, chỉ một cánh đồng, hầu như không có gì cả! Đất đòi lại họ, sự lãng quên xóa nhòa họ. Vĩnh biệt!
 
Ở cuối nghĩa địa có người lai vãng, tôi bỗng thấy khi nghĩa địa bỏ hoàng, nơi những người quá cố xa xưa đã hòa mình với đất, nơi chính những cây thập tự cũng rữa nát, nơi mai đây người ta sẽ chôn những người đến sau cùng. Khu nghĩa địa đầy những hoa hồng dại, những cây trắc bá cường tráng xanh đen, một khu vườn tráng lệ và u buồn, được nuôi dưỡng bằng thịt người.
 
Tôi chỉ có một mình, mỗi một mình. Tôi nép vào một gốc cây xanh. Tôi ẩn mình hoàn toàn trong đó, giữa những cành lá mỡ màng và âm u. Và tôi chờ đợi, bám chặt vào thân cây như một kẻ chết đuối bám lấy một vật trôi dạt.
 
Khi đêm đã tối đen, đen nghịt, tôi rời nơi ẩn náu và đi nhẹ nhàng, êm , chậm bước trên mảnh đất đầy người chết này. Tôi lang thang hồi lâu, hồi lâu, hồi lâu. Tôi không tìm lại được nàng. Hai tay giơ ra, mắt mở, vấp tay vấp chân, vấp đầu gối, vấp cả đầu nữa vào các ngôi mộ, tôi đi và không tìm thấy nàng. Tôi sờ soạng, tôi rờ rẫm như người mù tìm đường, tôi rờ rẫm những viên đá, những cây thập tự, những hàng rào sắt, những vòng hoa bằng thủy tinh, những vòng hoa thực tàn héo. Tôi dùng ngón tay sờ trên chữ để đọc các tên người. Đêm tối làm sao! Đêm tối làm sao! Tôi không tìm lại được nàng!
 
Không có trăng! Đêm tối làm sao! Tôi sợ, một nỗi sợ khủng khiếp trong những lối đi hẹp, giữa hai dãy mồ mả này! Những nấm mồ! Những nấm mồ! Vẫn những nấm mồ! Bên phải, bên trái, đằng trước tôi, xung quanh tôi, khắp nơi là những nấm mồ! Tôi ngồi lên một ngôi mộ, vì tôi không thể đi được nữa, đầu gối tôi khuỵu xuống. Tôi nghe thấy tim tôi đập. Và tôi còn nghe thấy một tiếng gì nữa. Gì nhỉ? Một tiếng động mơ hồ không biết gọi là cái gì. Phải chăng nó ở trong đầu óc hoảng loạn của tôi, trong đêm tối dày đặc, hay dưới lòng đất bí ẩn kia, dưới lòng đất gieo đầy thây người, cái tiếng động ấy? Tôi nhìn quanh tôi.
 
Tôi đã ở lại đó bao lâu? Tôi không biết. Tôi bị tê liệt vì kinh hoàng, bị say vì khiếp đảm, sắp la hét lên, sắp chết. Và bỗng nhiên tôi thấy dường như phiến đá trắng tôi đang ngồi rung động. Quả thật, nó rung động, như thể người ta nâng nó lên. Tôi nhảy phắt sang ngôi mộ bên cạnh, và tôi thấy, vâng, tôi thấy phiến đá tôi vừa rời bỏ đứng thẳng dậy, và người chết xuất hiện, một bộ xương trần trụi đang khom lưng hất đá đi. Tôi nhìn thấy, nhìn thấy rất rõ, dù đêm tối đen kịt. Tôi đọc được trên cây thập tự: “Nơi đây yên nghỉ Giắc Ô-li-văng, qua đời vào tuổi năm mươi mốt. Người quý yêu gia đình. Người nhân hậu và hiền lương, và người tạ thế trong sự bằng an của Chúa”.
 
Bây giờ người chết cũng đọc những điều viết trên mộ mình. Rồi y nhặt một viên đá ở lối đi, một viên đá nhỏ sắc, y cạo bỏ rất cẩn thận những điều đó. Y xóa hẳn những điều ấy, chậm rãi, đôi mắt trống rỗng nhìn vào chỗ vừa rồi chúng được khắc lên, và dùng đầu khúc xương xưa kia là ngón tay trỏ, y viết lên những chữ lấp lánh sáng giống như những dòng vạch lên tường bằng đầu diêm: “Nơi đây yên nghỉ Giắc Ô-li-văng, qua đời vào tuổi năm mươi mốt. Do tàn nhẫn, y đã làm bố y chóng chết, người bố mà y mong muốn thừa kế gia sản, y hành hạ vợ, giày vò con, lừa đảo láng giềng, hễ có dịp là ăn cắp và chết đi khốn nạn”. Khi đã viết xong, người chết im lặng ngắm nhìn công trình của y. Và quay lại, tôi thấy tất cả các ngôi mộ đều mở, tất cả các thây ma đều ra khỏi mộ, tất cả đều xóa bỏ những lời dối trá thân nhân họ gi trên mộ, để lặp lại sự thật.
 
Và tôi thấy tất cả đều đã từng là đao phủ hành hạ người thân cận, đều hằn thù, bất lương, giả dối, điêu toa, lừa đảo, hay nói xấu, hay ganh ghét, họ đã ăn cắp, đã bịp bợm, đã làm mọi việc đê nhục, mọi việc xấu xa, những ông bố nhân hậu ấy, những bà vợ thủy chung ấy, những cậu con trai tận tụy ấy, những cô thiếu nữ trong sạch ấy, những thương gia liêm khiết ấy, những người đàn bà được bảo là tốt đẹp không chê trách được ấy.
 
Tôi nghĩ rằng cả nàng chắc cũng phải ghi sự thật ấy lên mộ mình. Và giờ đây không còn sợ hãi, chạy giữa những quan tài hé mở, giữa những thây ma, giữa những bộ xương, tôi đi về phía nàng, tin chắc là tôi sẽ tìm được ngay nàng. Tôi nhận ra nàng từ xa, tuy không nhìn thấy gương mặt phủ vải liệm. Và trên cây thập tự bằng đá mà hồi nãy tôi đọc: “Nàng đã yêu, đã được yêu và qua đời”, tôi thấy: “Một hôm ra đi lừa dối người yêu, nàng bị mưa, cảm lạnh và qua đời”.
 
Hình như người ta nhặt được tôi, bất tỉnh nhân sự vào sáng sớm, bên một nấm mồ.
I dress to kill, and cook the same way.
0
Guy De Maupassant
 
Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ
 
Dịch giả: Nguyễn Văn Quảng
Nguồn: banhsukem
Đánh máy: banhsukem



Ở Ac-tăng-giơi, người ta gọi bà là nữ hoàng Ooc-tăng-xơ. Chẳng ai biết do đâu cả. Có lẽ do bà nói năng rắn rỏi như một sĩ quan chỉ huy? Có thể do bà cao to, quắc thước vẻ hách dịch? Có lẽ do bà thống lĩnh cả một bầy đông đúc gia súc, gồm gà mái, chó đực, bạch yến, vẹt mái, những con vật nuôi thân thiết với các cô gái già? Nhưng bà có nuông chúng đâu, chẳng nựng nịu cũng chẳng âu yếm như vẫn thường thấy phụ nữ thốt ra trên bộ lông óng mượt của chú mèo đang gừ gừ như xay lúa. Bà cai quản chúng đầy uy lực, bà thống trị chúng mà.
 
Thực tế, bà là một cô gái già, giọng oang oang đanh thép, cử chỉ khô khan, tâm hồn có vẻ chai sạn. Không bao giờ bà chấp nhận sự trái ý, chuyện thanh minh, sự chần chừ, tính uể oải, sự lười biếng, vẻ mệt mỏi. Không bao giờ nghe bà than thở, luyến tiếc bất cứ cái gì hay ganh ghét bất kỳ ai. Bà vẫn bảo: “Ai lo phận nấy”, với sự đinh ninh của người tin vào định mệnh. Bà không đi nhà thờ, không thích các thầy tu, ít tin vào Chúa, gọi mọi chuyện tín ngưỡng là “món hàng bán rao”. Từ ba mươi năm nay, vẫn ở ngôi nhà nhỏ của mình, phía trước có một nẻo vườn chạy dọc phố, bà vẫn không hề sửa đổi các thói quen, chỉ nhẫn tâm thay các cô hầu khi các cô đến tuổi hai mươi mốt. Khi chó, mèo, gia cầm của mình chết già hay chết nạn, bà chẳng rỏ một giọt nước mắt thương tiếc mà mua con khác thay liền. Bà dùng một cái mai nhỏ chôn những con vật chết trên một luống đất, rồi dửng dưng dẫm lên trên chỗ chôn vài cái.
 
Bà quen vài người trong thành phố, toàn thuộc các gia đình viên chức mà đàn ông ngày nào cũng đi Pari. Buổi chiều hay tối, thỉnh thoảng người ta lại mời bà đến uống chén trà. Trong những cuộc hội ngộ ấy, thế nào bà cũng ngủ thiếp đi, gia chủ phải đánh thức để bà ra về. Bà chẳng cho phép ai đưa bà về, dù ngày hay đêm. Bà có vẻ không thích trẻ em. Bà giết thời gian bằng đủ việc của đàn ông: làm mộc, làm vườn, chặt cây bằng rìu hay bằng cưa, sửa chữa căn nhà cũ kỹ của mình và nếu cần thì tự xây trát. Bà cũng có người thân mỗi năm về thăm hai lần. Đó là hai gia đình Xi-mơ và Cô-lông-ben, hai em gái đã có chồng, một lấy người bán cỏ thuốc, một lấy một người hưởng lợi tức đồng niên. Nhà Xi-mơ không có con. Nhà Cô-lông-ben có ba đứa, Henri, Pô-lin và Giô-dép. Henri hai mươi tuổi, Pô-lin mười bảy, còn Giô-dép mới lên ba – cậu này ra đời giữa lúc tưởng mẹ cậu không sinh nở được nữa. Cô gái già không mảy may quyến luyến với họ.
 
Mùa xuân năm 1882, nữ hoàng Ooc-tăng-xơ bỗng lăn ra ốm. Láng giềng chạy mời một thầy thuốc, nhưng bà đuổi ông đi. Một thầy tu dẫn xác đến, bà gần như trần truồng tụt xuống giường và đẩy ông ra ngoài. Cô đầy tớ rũ rượi vừa khóc lóc vừa kiếm thuốc nam sắc cho bà uống. Sau ba ngày liệt giường, bà lâm vào tình cảnh rất nguy kịch, đến nỗi bác thợ đóng thùng gỗ láng giềng theo lời khuyên của thầy thuốc oai vệ đi vào nhà bà, yêu cầu bà để ông gọi gia đình hai cô em đến.
 
Hai gia đình đáp cùng chuyến tàu khoảng mười giờ sáng, nhà Cô-lông-ben dẫn bé Giô-dép theo. Đến lối vào vườn, cả hai nhìn thấy cô đầy tớ đang ngồi khóc trên một chiếc ghế tựa dựa vào tường. Con chó mực nằm ngủ trên tấm thảm chùi chân ở cửa vào dưới ánh nắng tà nóng nực. Hai con mèo nằm ườn như chết trên bờ hai cửa sổ, mắt nhắm nghiền, chân và đuôi ngay đơ. Một con gà mái to tường lục tục dẫn một đàn con khá đông lông vàng và nhẹ bỗng như bông đi qua khu vườn. Trong một cái lồng phủ cây phiền lộ mắc trên tường, một ổ chim kêu chí chóe trong nắng xuân sớm mai ngột ngạt. Có hai chú không thể rời nhau, lẳng lặng đứng sát bên nhau trong một cái lồng con hình nhà nghỉ nông thôn mắc vào tường.
 
Ông Xi-mơ, một người đồ sộ, đến đâu cũng vào trước nhất, vừa thở như kéo bễ vừa gạt tất cả mọi người bất kể đàn ông hay đàn bà ra khi muốn, lên tiếng hỏi:
-Nào Xê-le-xtơ, không ổn hả?
Cô đầy tớ bé nhỏ rên rỉ qua nước mắt:
-Bà không nhận ra con nữa ạ. Thầy thuốc bảo thế là hết…
Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Tức thì bà Xi-mơ và bà Cô-lông-ben ôm chầm lấy nhau mà hôn, chẳng nói năng gì. Hai bà giống nhau ghê, bao giờ cũng bịt đầu bằng những băng vải phẳng lì, khoác khăn san đỏ tía, mặc vải lông Pháo kiểu ca-sơ-mia đỏ rực như than hồng. Xi-mơ quay về phía em rể, một người gày gò, xanh rớt, da vàng, hốc hác đi vì bệnh dạ dày, tập tễnh một cách ghê gớm, rồi ông thốt lên nghiêm trọng:
-Ông nội ơi, đến lúc rồi!
Nhưng không ai dám vào phòng người hấp hối ở tầng trệt. Ngay Xi-mơ cũng ngần ngại. Cô-lông-ben là người đầu tiên quả quyết bước vào, vừa đi vừa nghiêng ngả như cánh buồm, vừa gõ vang đầu can bịt sắt trên nền đá lát. Hai người đàn bà đánh bạo bám theo và Xi-mơ đi sau cùng. Bé Giô-dép ở lại bên ngoài vì mải nhìn con chó.
 
Một chum nắng cắt ngang giường, rọi sáng đúng hai bàn tay đang như lên cơn động kinh hết mở ra lại nắm vào không lúc nào yên. Các ngón động đậy như bị một tư tưởng điều khiển, như thể chúng giải thích các vật, chỉ ra các ý nghĩ, tuân theo một tư duy. Còn toàn thân nằm bất động dưới chăn. Khuôn mặt xương xương chẳng mảy may rung động. Đôi mắt nhắm nghiền.
 
Mấy người mới vào dàn thành một vòng cung, chăm chú nhìn, môi mím chặt, ngực đau nhói, hơi thở gấp lên. Cô hầu nhỏ theo gót họ, và vẫn nước mắt ngắn nước mắt dài. Sau hết, Xi-mơ hỏi:
-Chính ra thầy thuốc bảo sao?
Cô đầy tớ bập bẹ:
-Ông bảo hẵng để cho bà yên, không phải chạy vạy gì nữa đâu.
Nhưng bỗng nhiên đôi môi của cô gái già bắt đầu mấp máy. Hình như chúng đang phát ra những lời im lặng, những lời ẩn trong cái đầu đang hấp hối này, hai bàn tay mở ra nắm vào còn kịch liệt hơn nữa. Chợt bà thốt ra bằng một giọng thầm thì yếu ớt, tựa như một tiếng nói từ xa vọng lại, từ đáy trái tim luôn khép kín này chăng? Thấy thương tâm quá, Xi-mơ nhón chân đi ra. Cô-lông-ben, chân què, thì ngồi bệt xuống. Hai người phụ nữ vẫn đứng.
 
Bây giờ nữ hoàng Ooc-tăng-xơ huyên thuyên nhanh hơn, chả ai hiểu bà nói gì. Bà gọi tên người, nhiều người, toàn những người do bà tưởng tượng ra, bà gọi vô cùng âu yếm. “Lại đây, Phi-líp của mẹ, thơm mẹ đi. Con yêu mẹ chứ, con? Còn con, Rô-dơ ơi, mẹ ra ngoài một lát, con trông em nhé. Nhất là chớ để em một mình, nghe không? Không được nghịch diêm, nghe chưa?” Bà nín bặt mấy giây, rồi giọng cao hơn, như thể là gọi: “Hen-ri-ét!”. Bà chờ một phút rồi nói tiếp: “Con ra gọi bố vào đây mẹ bảo rồi hãy đến công sở”. Rồi bỗng: “Hôm nay em hơi đau, anh thân yêu ạ. Anh hãy hứa với em là không về muộn đi. Hãy thưa với phụ trách của anh rằng em ốm. Anh biết đấy, em mà nằm, để các con lêu lổng là nguy hiểm. Em sẽ làm cho anh một đĩa cơm đường. Các con rất thích món này. Thằng Cle sẽ khoái lắm”. Bà bật cười, tiếng cười giòn tan khúc khích như một thiếu nữ như suốt đời bà chưa hề cười: “Anh nhìn Giăng lìa! Đầu nó đến ngộ! Mặt toàn vết mứt kẹo, cái đồ ở bẩn! Nhìn kìa, anh yêu, con chúng mình có ngộ nghĩnh không!”
 
Đổi chỗ luôn luôn cái chân mỏi nhừ sau cuộc hành trình, Cô-lông-ben thì thầm:
-Cô ấy mơ có chồng con. Bắt đầu hấp hối!
Hai bà chị vẫn đứng im, lộ vẻ kinh ngạc. Cô hầu thưa:
-Hai bà phải bỏ mũ và khăn san ra chứ ạ? Mời hai bà ra phòng khách.
Hai bà nín thinh đi ra. Cô-lông-ben tập tễnh bước theo, để người hấp hối lại một mình. Cởi bỏ trang phục đi đường, hai người chị ngồi xuống. Một con mèo rời cửa sổ, vươn vai, nhảy vào phòng, tót lên đầu gối và Xi-mơ và bà liền vuốt ve nó. Họ nghe từ phòng bên tiếng nói của người hấp hối đang sống trong giờ phút cuối cùng cuộc đời mà chắc chắn bà đã từng mong đợi, đang dốc hết sức mơ ra khoảnh khắc mà đối với bà, tất cả sắp chấm dứt.
 
Xi-mơ chơi với bé Giô-dép và con chó trong vườn, ông rất vui vẻ, cái vui của một bác lực điền, không còn nhớ gì đến người đang chết nữa. Những bỗng ông trở vào bảo cô đầy tớ:
-Này, cho chúng tớ ăn trưa đi chứ! Các bà muốn xơi món gì đây?
Họ thỏa thuận dùng món chả trứng trộn rau thơm, thịt thăn kèm táo tươi, pho mát và cà phê. Bà Cô-lông-ben lục tục tìm ví, Xi-mơ giữ tay bà lại. Rồi ông quay sang cô hầu:
-Cô có tiền nhỉ?
Cô bé đáp:
-Thưa có.
-Bao nhiêu?
-Mười lăm frăng.
-Đủ đấy. Nhanh lên cô. Tôi đói rồi.
Bà Xi-mơ vừa ngắm những chùm hoa chan hòa ánh nắng và đôi bồ câu yêu nhau trên mái nhà trước mặt vừa buông lời ảo não:
-Thật đau khổ là đến đây trong tình cảnh buồn bã thế này. Hôm nay trời sẽ còn đẹp hơn và dễ chịu lắm.
Bà em chỉ thở dài không đáp. Ông Cô-lông-ben hẳn xúc động vì ông nghĩ đến một cuộc dạo chơi, rên rỉ:
-Cái chân làm khổ tôi quá thể.
Bé Giô-dép và con chó làm náo động cả lên, thằng bé la inh ỏi vì vui thích, con vật sủa như phát rồ. Chúng chơi trò trốn tìm xung quanh ba luống cây, người chạy thục mạng, chó quấn lấy chân.
 
Người hấp hối vẫn gọi các con, nói chuyện với từng đứa, tưởng tượng đang mặc quần áo cho chúng, đang vuốt ve chúng, đang dạy chúng đọc: “Nào. Xi-mông, nhắc lại: A B C D. Con phát âm chưa chuẩn, kìa, D D D, rõ chưa? Nhắc lại xem nào!...”.
Xi-mơ thốt lên:
-Những lúc như lúc này, nói gì cũng thấy lạ…
Bà Cô-lông-ben hỏi:
-Quay vào với cô ấy chẳng hơn ư?
Xi-mơ ngăn lại ngay:
-Để làm gì, bởi lẽ còn thay đổi tình cảnh của cô ấy sao được! Ở đây vẫn tốt chứ sao.
Không ai nhấn thêm. Bà Xi-mơ ngắm hai con chim màu xanh lá mạ, mà nãy chúng ta gọi là “không thể rời nhau”. Bà thốt ra mấy lời khen ngợi sự thủy chung phi thường của chúng và chê trách loài người không bắt chước loài vật. Xi-mơ phì cười, chằm chằm nhìn vợ, se sẽ ca một điệu nhạc diều: “Tra-la-la, tra-la-la” như để ám chỉ sự trung thành của bà đối với ông Xi-mơ. Cô-lông-ben lại bị bênh dạ dày hành hạ, gõ gõ can lên nền nhà. Con mèo trên cửa sổ thứ hai đi vào, đuôi cong lên.
 
Mãi một giờ, mọi người mới vào bàn ăn. Vừa nếm qua rượu, vốn được yêu cầu chỉ uống rượu Booc-đô hảo hạng, Cô-lông-ben nhắc cô đầy tớ:
-Con ơi, trong hầm không còn thứ nào ngon hơn ư?
-Thưa còn. Có thứ rượu ngon mời các ông các bà lúc các ông các bà mới đến đây ạ.
-Thế thì đi lấy về đây ba chai.
Mọi người thưởng thức thứ rượu tuyệt vời, không phải vì cách nấu đáng khen mà vì đã để hầm mười lăm năm. Xi-mơ tuyên bố:
-Đúng là rượu cho người ốm.
Háo hức muốn có thứ rượu này, Cô-lông-ben lại hỏi cô đầy tớ:
-Còn bao nhiêu thứ này, hả con?
-Ồ, gần như còn nguyên, thưa ông. Bà chủ chẳng uống bao giờ. Còn ối trong đáy hầm.
Ông quay sang người anh rể:
-Anh Xi-mơ này, nếu anh thuận, tôi đổi rượu này cho anh loại khác. Loại này vô cùng hợp với dạ dày tôi.
 
Đến lượt con gà mái kéo đàn con đi vào. Hai phụ nữ ném vụn bánh cho chúng để khuây khỏa đi. Người ta tống Giô-dép và con chó đã xơi đủ ra vườn. Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ vẫn lảm nhảm, nhưng giờ bé lắm, không nghe rõ lời. Dùng xong cà phê, mọi người sang xem tình hình người bệnh. Bà có vẻ dịu đi. Họ lại trở ra và ngồi quẩn trong vườn cho tiêu thức ăn. Đột nhiên con chó chạy nháo lên quanh mấy chiếc ghế tựa, mõm ngoạm vật gì. Thằng bé cuống cuồng đuổi theo. Cả hai mất hút trong nhà. Xi-mơ ngủ thiếp đi, bụng phơi trong nắng.
 
Người hấp hối bắt đầu nói to. Rồi bỗng thét lên. Hai phụ nữ và Cô-lông-ben hối hả vào xem có chuyện gì. Xi-mơ thức dậy, nhưng tỏ vẻ thản nhiên, không thích những chuyện như thế. Cô gái già ngồi dậy, mắt nhớn nhác. Để thoát khỏi sự săn đuổi của bé Giô-dép, con chó của cô đã nhảy tót lên giường rồi nhảy qua người bệnh. Nấp sau gối, nó nhìn cậu bé chằm chằm bằng đôi mắt rực sáng, trong tư thế sẵn sàng tót xuống chạy tiếp. Nó ngoạm một chiếc giày păng-túp của chủ đã bị cắn tả tơi sau một giờ nó nghịch. Hốt hoảng trước bà già bỗng ngồi bật dậy đằng trước, cậu bé đờ người ra trước giường. Con gà mái vừa vào đôi phút cũng phát khiếp vì tiếng kêu la vội nhảy lên một chiếc ghế tựa. Nó tuyệt vọng gọi đàn con đang kinh hồn bạt vía, chiêm chiếp loạn lên giữa bốn chân giường.
 
Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ thét lên một tiếng kêu xé ruột: “Không, không, tôi không muốn chết, tôi không muốn đâu! Tôi không muốn, tôi không muốn! Ai sẽ nuôi dạy con tôi? Ai sẽ chăm sóc con tôi? Ai sẽ yêu thương con tôi? Không, tôi không muốn chết! Tôi không…”
 
Bà ngã vật ra. Thế là hết.
 
Con chó nhảy chồm chồm quanh phòng. Cô-lông-ben chạy lại cửa sổ, gọi ông anh rể.
-Vào nhanh lên! Nhanh lên! Cô ấy đi rồi!
Xi-mơ đứng dậy, vừa đủng đỉnh đi vào vừa lẩm bẩm.
-Mình tưởng còn lâu cơ đấy!
I dress to kill, and cook the same way.
0
Đã mang vào thư viện những tác phẩm Truyện ngắn của tác giả: GUY DE MAUPASSANT

Chúc Banhsukem luôn vui

Thân ái
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0