Phần 5
Chương 1
Hôm nay là một trong những ngày tuyệt vời của hòn đảo, như lời của cụ Bek – Erik Lange vừa nói vừa mở cửa sổ - phải chăng đây là ngày đầu tiên của thế giới?
Ellen đang cúi xuống nôi của đứa bé, ngước mắt lên nhưng nhắm lại vì choáng ánh mặt trời.
Bầu trời và mặt đất hoà chung vào một ánh lấp lánh. Con đê chắn sóng của bến cảng và những cột buồm các tàu biến mất như bị thiêu huỷ. Những con mòng biển và chóp sóng chỉ còn là những điểm sáng lấp lánh.
Không khí lạnh làm buốt vai và ngực Ellen. Những bàn tay to trắng của cô làm động tác chống lại gió lùa.
- Và em là anadyomène – Erik nói tiếp, vừa mỉm cười với mớ tóc đỏ rực, khuôn mặt ửng hồng, hơi thở nhanh, những cánh tay dang ra của cô. Vải xanh của chiếc áo buổi sáng bó khuôn thân người phụ nữ trẻ.
- Thật thế ư? Erik?
Anh áp đầu vào cô, hít hơi thở của cô, lặn vào cô như lặn vào một làn sóng.
- Ừ, Ellen ạ - anh thì thầm – em đã từ biển xuất hiện ra cho anh.
Anh quỳ xuống vuốt ve đôi vú chắc nịch.
- Anh thở không khí này lần đầu tiên. Đây là lần đầu tiên anh trông thấy em, anh trông thấy bầu trời và mặt biển. Em là người, đối với anh, được sinh ra từ biển.
Cô đặt cằm vào vai Erik và nhìn vòng quanh gian phòng rực nắng.
- Lần đầu tiên à, Erik?
- Ừ, Ellen, lần đầu tiên, bây giờ anh đã sống hai ngày mà cụ Bek nói đến, ngày của bóng tối và ngày của ánh sáng!
- Nhưng Erik, thằng bé thì sao? Nó phân biệt ngày ánh sáng và ngày bóng tối như thế nào?
Erik cẩn thận đưa bé từ trong chăn ra. Hơi ẩm dịu dàng của thân thể bé xíu tỏa ra, như hơi thở hoa hồng trong không khí đậm, và đứa bé thức dậy cúi ra phía trước trong chiếc áo trắng dài thê.
Bàn tay của thầy thuốc vuốt nhẹ cái gáy đầy lông tơ trong khi anh nâng đầu bé ra ngoài nắng.
Hai mắt xanh mở ra trên khuôn mặt bé tí và những bàn tay hồng mở ra giống như những cánh hoa. Đứa bé cười reo khe khẽ và giơ ra ánh sáng những ngón tay sờ soạng để lấy ánh sáng.
- Em thấy không, thằng bé? – Erik nói với vợ và cô cúi xuống đôi môi của chồng qua phía trên đứa bé – chúng ta mở một bệnh viện, một nhà an dưỡng cho người bệnh tâm thần…Mặt trời, biển, đứa bé, có phải tất cả không?
Mái đầu vàng hoe vẫn áp vào vai Erik.
- Anh đã để thì giờ để nhận thấy điều đó.
- Đúng thế.
Anh quàng một cánh tay vào cô, tay kia vẫn giữ đứa bé.
- Anh đã đau vì bệnh mù thực sự, thói cho mình là trung tâm.
- Và anh nghĩ rằng thằng bé cũng sẽ phải chịu đựng cái ngày bóng tối?
- Em không gần nó sao, Ellen?
- Em sẽ không sống mãi được, và chân trời của nó sẽ thu hẹp lại hơn là của cụ Bek.
- Nhưng anh, Ellen ạ, anh đã có tất cả các chân trời của thế giới làm quà sinh nhật và anh đã phải giam mình ở đây để sở hữu trái đất.
- Erik – cô thì thầm – mùa xuân em thấy hình như rất gần hôm nay.
Anh lắc đầu:
- Chúng ta đang ở cuối tháng giêng mà anh không dám hứa gì cả.
Cô ngồi im, mắt nhìn xa xăm ra bầu trời xanh.
- Em tự nhủ rằng nếu đứa bé không lấy lại được thị giác, thì sẽ không có nơi nào em có thể dạy cho nó trông thấy tốt hơn ở đây. Ở đây nó sẽ nhận ra mọi tiếng nói, mọi lối đi, ở đây không ai bị mù.
Bầu trời lác đác mây hồng khi Erik và Ellen mở cửa nhà bác sĩ để qua bên kia đầm lầy đến nhà cụ Bek. Họ sắp được nghe nói về những buổi chiều như chiều nay nhưng lại nhìn bằng những con mắt khác báo cho những vong linh khác sự thanh bình của vĩnh hằng.
Ở chân trời kéo lên làn khói của một chiếc tàu hơi nước, và một chiếc thuyền con đi giữa những đê chắn sóng trắng của bến cảng, với những nhát chèo đều đặn và chắc chắn.
- Không phải một chiếc tàu của chúng ta, ai mà chẳng bảo chắc chắn là nó đến từ chiếc tàu hoi nước ngoài kia – Erik nói, vừa chỉ ngón tay đến chỗ cái chấm đen nhỏ - Nhưng ai sắp cập bến vào chúng ta, đến từ một chiếc tàu chạy trên biển khơi.
- Erik, anh có nhớ cụ Bek đã kể cho chúng ta về hai người đàn bà ở nhà Jacobus Uz, họ nhìn các con sóng, mỗi bà ngồi ở cửa sổ riêng của mình không? Giá mà đây là một trong những người họ chờ nhỉ?
- Không thể là một trong những người họ chờ được! – Erik trả lời và buồn bã mỉm cười – Chính bản thân các bà ấy phải đi chuyến cuối cùng để tìm lại họ…
Và không có ai trên đảo này chờ đợi một trong số thân nhân của họ lúc này.
- Có hai cái hòm lớn ở mũi tàu – Ellen nói tiếp, mắt không rời cái chấm độc nhất động đậy trên bầu trời xanh hồng.
- Vậy là chiếc thuyền đến từ chiếc tàu (Erik đã cầm ống nhòm) và do đó nó cố ý đến đây!
- Erik ạ, dù sao đó vẫn là một người mà hai phụ nữ ở nhà Uz chờ đợi, nếu họ đang ngồi ở cửa sổ của họ trong lúc này! Khác nào khi chúng ta mơ cuộc sống của chúng ta và nếu chúng ta cần phải đợi lâu hơn nữa để sống thực tế? anh có thấy không bầu trời mặt biển đẹp thế! Người ta bảo rằng giờ phút này là xưa cổ hàng bao năm trường rồi ư?
Erik mỉm cười:
- Anh thấy hình như em đã thành một người mơ mộng ở đây.
- Anh hãy nhớ rằng không có giờ phút nào dừng lại và không có giờ phút nào trở lại – Anh có thể thấy cái pháo đài cướp biển của Jacobus Uz, ngôi nhà của nhân viên thuế quan với những công chúa bị bắt, hay là những kho hàng vắng vẻ trên những cột chống ư? Không, chính con người đang chèo thuyền ở kia đang về tới một bến cảng lớn có những con đê bằng đá. Và dưới chân những vách đá dựng đứng anh ta trông thấy những kho chứa hàng mới, ngôi nhà mới của nhân viên thuế quan, nhà của trưởng cảng…Anh ta nhìn thấy hai chúng ta trên cao này là những người anh ta không quen biết. Anh hãy tin em, anh ta không lẫn lộn chiều hôm nay với buổi chiều anh ta ra đi khỏi đảo mà anh ta sắp tìm thấy lại.
Ở cảng người ta cũng bắt đầu ngạc nhiên về việc cập bến của người khách lạ.
Ông thương gia mặc áo vét len bước ra khỏi ngưỡng cửa nhà mình. Nhân viên thuế quan xuất hiện trên bậc tam cấp, tay cầm ống nhòm, và ông trưởng cảng đang lội bì bõm giữa các thùng chứa, cũng tiến ra cảng. một vài ngư dân ngồi trên thuyền ngẩng đầu lên.
Một con mòng biển lượn vòng quanh chiếc thuyền đang đi men đê chắn sóng rẽ qua con lạch đèn pha để vào cảng. Trưởng cảng đi đến tận chỗ đậu thuyền, và chiếc thuyền cập bến.
Tiếng rì rầm của những giọng nói cất lên trong không khí im lìm. Erik và Ellen nghe thốt ra những câu tiếng Đan Mạch ấp úng với một cách phát âm ngoại quốc. Người trưởng cảng chào người mới đến và đi vào trong đất, người kia đi theo, mỗi tay xách một cái vali nặng. Anh dừng lại một lát, nhìn xung quanh mình có vẻ như một người xa lạ, rồi anh quay lại đặt một câu hỏi. Ông cảng trưởng hất đầu chỉ ngọn núi sonderbjaerg. Người kia làm một động tác đi về phía nhà ông thương gia và Hội quán thuỷ thủ. Thương gia chạy ra đón và xách các vali cho anh ta.
- Erik, theo anh thì lý do đến đây của anh ta là gì?
- Em có nhìn thấy điệu bộ của anh ta khi quay về phía núi Sonderbgjaerg không? Người ta nói làm sao được rằng toàn thế giới đối với anh ta là ngập vào trong các con sóng trừ ra cái vách đá cuối cùng này. Đó là một thuỷ thủ và chắc anh ta đã hơn hai lần trông thấy miền đất của chúng ta mà chính anh cũng chưa thấy hết. Anh ấy độ bao nhiêu tuổi?
- Ồ, trong vòng năm mươi, nhưng anh ta có vẻ già hơn.
- Anh ta không đến đảo tay không, nhưng nếu anh ta là người ở đây thì Clemens Bek khắc biết. chẳng có ai cụ không biết trong nửa thế kỷ này.
- Erik này, anh ta nhìn lên Sonderbjaerg liệu anh ta có đến chỗ cụ Clemens Bek không?
- Đến nhà cụ Bek ư? Ellen, nhưng tại sao?
Cô nhìn vào đôi mắt chồng.
- Để đưa cụ ấy, gk phải vào trong thế giới này, mà…
- Mà đi đây vậy?
- Erik! Là vì như thế thần Chết phải đến trình diện với cụ trên một chiếc thuyền đến từ những khoảng trời xa xôi trong một buổi chiều hồng.
Khi cúi đầu dưới lanh tô cửa, họ trổng thấy bầu trời đỏ ở trên cánh đồng cát âm u, và ở đàng xa là cây cột đèn pha màu trắng.
Mamzelle Camrath ra hiệu cho họ im lặng.
- Suỵt, cụ ấy đang ngủ - bà thì thào.
Lần này bà không rời khỏi ghế ngồi của mình để nhường chỗ cho khách, mà lại cúi gần xuống phía ông già với một cử chỉ chiến hữu. hình như bỗng dựng cụ thuộc về bà ấy hơn là về họ.
Mục sư Honorius ở phía góc giá sách bước ra, lặng lẽ cúi đầu.
Erik và Ellen vẫn đứng ở ngưỡng cửa, nín thở…
Người đàn ông mà họ đã thấy đến từ biển cả!
Rồi Erik chạy đến bên giường.
- Mamzelle Camrath, có chuyện gì vậy? Cụ ấy mệt hơn à?
Bà bẽn lẽn nhìn.
- Không, tôi không biết, nhưng cụ ấy ngủ từ rất lâu. Cụ ấy đã ngủ cả đêm, cả ngày cho tới bây giờ.
Thầy thuốc ngắm nhìn cụ già, khuôn mặt với nụ cười thanh thản, hai mắt nhắm lại. Nhịp thở đều, trán ấm áp, ngực nâng lên dễ dàng dưới chiếc sơ mi trắng và những bàn tay nổi gân xanh chắp lại thư giãn dưới chăn.
Erik Lange thấy lại trong trí chiếc thuyền chèo từng nhát đều trên mặt biển im lìm, tiếng chiếc đồng hồ vang bên tai anh, và mạch của ông già đập dưới ngón tay anh thấy hình như là nhịp đập của thời gian.
- Chưa đâu, Mamzelle Camrath – anh nói, vừa lắc đầu – cụ ấy còn có thể sống nhiều năm nữa, không như cụ ấy tin đâu. Tôi không dám cãi cụ. Cụ ấy luôn luôn gần với tiếng nói bên trong hơn là tôi.
Mamzelle Camrath đáp lại với cái nhìn cảm ơn, thắt thêm khăn san trước ngực và lặng lẽ rời khỏi ghế ngồi, với vẻ phản bác chỉ trong chốc lát để chiếm lấy người bệnh – để đưa về cuộc sống – trong chốc lát!
Họ ngồi xuống không nói gì. honorius vẫn ở trong góc tối, cái mũ to đen cầm ở tay, Erik ngồi trên ghế rơm cạnh giường còn Ellen ngồi bên cạnh anh, để tay trong tay anh. Mamzellle Camrath ra khỏi phòng.
Ba người trẻ tuổi lắng tai nghe những hoà âm muôn thuở, tiếng thở của họ và tiếng đồng hồ tích tắc trước bầu trời hồng, đường lượn xanh xanh của các cồn cát và màu trắng cây đèn pha.
Tiếng chuông nhà thờ báo tin, trong buổi chiều thanh bình này, rằng mặt trời sắp đi gặp đàng sau chân trời, muôn vàn mặt trời đã khuất. Một lúc sau, thong thả và rụt rè vang lên ba lần tiếng gọi cầu kinh lan ra trong yên lặng.
Chưa bao giờ mặt đất có vẻ như tối tăm một cách bí mật đối với những người khách của cụ Clemens Bek, bầu trời cũng không hề sáng tuyệt trần thế này. Nhưng cũng chưa bao giờ bầu trời, và mặt đất hình như gần nhau đến vậy. phải chăng chính chúng đang lắng tai nghe bên bờ mặt biển pha lê?
Bỗng nhiên cụ Bek cựa mình, cụ quay nửa người, mở mắt nhìn xung quanh mình, cái nhìn của cụ xanh thẳm và xa xôi.
- Nhưng tôi thấy gì? Các bạn thân mến của tôi ở đây mà mamzelle Camrath không đánh thức tôi dậy! Chắc là bà ấy thẹn! phải nói rằng tôi cũng thất lễ!
Cụ tìm cái dây cua roa để ngồi dậy trên giường.
- Cụ đừng giận, cụ Clemens Bek – Erik nhẹ nhàng bắt cụ nằm xuống – Cụ đã ngủ yên đến nỗi…
- Đến rồi sao? – người bệnh hỏi lại, mỉm cười.
- Dến nỗi chúng tôi không cảm thấy sợ gì nữa, không sợ cho cụ, không sợ cho chúng tôi
Ông già nhìn ra cửa sổ, nơi hiện lên cây cột đèn pha màu trắng.
- Ồ, bác sĩ, ông lại sắp giải thích cho tôi lý do. Ông có biết thường vừa mơ thấy gì lạ không ?
Cả ba người nghển cổ để nghe cụ. Mắt quay về phía chân trời hồng, cụ nói khẽ như đang còn mơ, vừa chắp tay lên đầu gối :
- Tôi mơ giấc mơ hồi tuổi trẻ, cái giấc mơ muôn thuở đã chứng tỏ cho tôi rằng hòn đảo không đủ cho tôi ấy mà, cái giấc mơ đã đeo đuổi tôi rất lâu sau khi tâm hồn tôi đã tìm thấy yên tĩnh, và khi tôi đã không nghĩ trong suốt cả ngày đến một bến bờ nào khác ngoài bến bờ này. Giấc mơ của cuộc ra đi. Ngày xưa giấc mơ đó làm tôi đau rất ác và sau này nó gây cho tôi những hối hận. Đối với tôi nó là dấu hiệu của sự bạc bẽo của tôi đôi với Chúa. Nhưng bây giờ tôi tin rằng ý nghĩa đã khác rồi, rằng chính Chúa không gửi giấc mơ đó đến cho tôi.
Một hôm tôi ở trên đỉnh Sonderbjaerg. Cũng tuyệt vời như hôm nay, nhưng lúc đó là mùa hè. Lúc bây’ giờ tôi mới ngoài ba mươi tuổi một tí. Một chiếc tàu hiện ra ở chân trời. Những cánh buồm của nó căng gió của buổi hoàng hôn.
Nó đung đưa trong màu xnh của trời và sóng như tắm trong không gian. Và tôi đã hoàn toàn quên đi rằng trong quá khứ tôi đã dạo trên những bến bờ khác, nó định sẵn cho đời tôi một mục đích khác với cái nghề làm giáo viên trên đảo này, tôi bột phát thức tỉnh khỏi sự thanh thản của tôi, đắm chìm trong nỗi nhớ miên man về thế giới, về không gian. Tôi muốn tìm lại sự hứng khởi ngày xưa, muốn tìm thấy lại nàng !
Tôi đã có sự đoan chắc là chiếc thuyền hạnh phúc kia đã đến với tôi do hơi thở phới hồng của cô ấy. Xúc động quá tôi nằm lăn ra cỏ khô vì gió thổi, giữa đám phân cừu và những bụi thạch thảo và tôi giăng cánh tay như Robinson Crusoe, như Salas y Gomez.
Giấc mơ kéo dài suốt nửa giờ, tôi trông thấy những cánh buồm bé dần ở chân trời.
Và tôi hiểu rằng đó là con thuyền hạnh phúc, nhưng nó đã đi qua bên cạnh đảo để không bao giờ vào đảo.
Mấy tuần về sau tôi tin lại một lần nữa đã tìm ra được sự nghỉ ngơi và đã bam rễ vào trong cát này như bao nhiêu cây cối, khốn khổ dù sao vẫn tìm được cách tự nuôi sống và thích nghi được giữa biển cằn cỗi. Nhưng trong một giấc mơ ban đêm của tôi, chiếc thuyền đã xuất hiện lại để lạii mất đi sau khi làm tim tôi đập trong vài phút một niêm hy vọng kinh hoàng.
Từ đấy những cánh buồm đã hiện ra lần nữa rồi lần nữa, có khi trong khoảng cách mấy năm, có khi chỉ trong giấc mơ, nhưng cũng có khi dưới hình dáng những bộ buồm xám và sần sùi của tàu Coquillage trở lại vào mùa xuân đầu tiên sau sự cầm tù của chúng tôi trong băng giá và đêm đông.
Một năm chúng tôi cách xa thế giới trong năm tháng ròng và từ trên đỉnh núi Sonderhbjaerg chúng tôi chỉ thấy một chân trời lấp lánh của băng, của những tảng băng dựng bên cạnh nhau như những người lính trang bị bằng những mũi lao.
Tuyết và đêm hợp sức để xóa đi khỏi trí chúng tôi mọi kỉ niệm về mùa hè hay về mảnh đất con người. Chúng tôi ở miết trong những căn phòng giá lạnh, chỉ có hồi quang xanh nhạt của những bức tường chiếu sáng khuôn mặt và bàn tay của chúng tôi. Chúng tôi chỉ muốn sống bằng những con thỏ liều mạng đến tận cửa nhà chúng tôi, bằng thịt hải cẩu leo lên bờ biển của chúng tôi , và bằng những con chim biển mà chúng tôi bắt được bằng tay không.
Và một buổi sáng đầu thang ba chiếc tàu đã ở đấy, màu gỉ sắt và vỏ cây. Tiếng trống đánh thức chúng tôi vào lúc giữa đêm, báo rằng từ chỗ đèn pha người ta đã nhìn thấy đèn của tàu Coquillage và chúng tôi chạy ập tới tất cả, lớn bé già trẻ, ai còn có thể đi, lê, bò đều đến cả.
Bấy giờ tôi thực sự tin rằng con thuyền hạnh phúc đã buông neo cách chúng tôi mấy sải tay soi mình vào trong nước mùa xuân, trong lúc ở đàng xa một lớp băng nứt toác, một tảng băng cuối cùng rình rập chúng tôi, nhưng cuối cùng con gấu trắng của thần Chết đó cũng bị tống khứ khỏi các bờ biển của chúng tôi.
Mỗi người đều như tôi. Tôi nghe trong đám đông vây quanh tôi, nhịp đập của những trái tim, những hơi thở hổn hển đồng loạt nhịp bài ca tri ân.
Khi tàu Coquillage dỡ xong hàng, rời bến và tôi ở lại một mình trên bờ biển trong lúc như thường lệ đám người khác nuối đuôi nhau đi qua hoang mạc lên làng để nhóm họp lại xung quanh các bó thư và bưu kiện, tôi không hối tiếc là đã không lên tàu và không đi xa khỏi nơi này.
Tôi chỉ tự nhủ rằng chiếc thuyền hạnh phúc đã đến thăm chúng tôi nhưng không người nào có thể hy vọng đi theo nó, ngay cả trong mơ.
Tôi gửi đến nó một ý nghĩ cảm ơn và chạy vào làng qua những cồn cát và đá để chia sẻ cùng với những người khác niềm vui đón nhận thư từ ở cửa hiệu của Gravemand. Tuy nhiên tôi thừa biết rằng không có một bức thư cá nhân nào chờ đợi tôi. không sao, con thuyền hạnh phúc đã đến thăm bờ biển của chúng tôi.
Vâng, đấy là thời điểm tôi tìm được bình yên trên đảo của tôi trong thời gian đó. Từ lúc đó tôi không thấy lại chiếc tàu nữa.
Nhưng chiều hôm nay bất thình lình nó lại trở về, tuy không phải hệt như ngày xưa. Nó không hướng về đảo nữa, không hướng đến tôi nữa, những cánh buồm hồng căng lên vì gió hoàng hôn. Nhưng nó lượn rất cao phía trên tôi trong bầu trời xanh với những cánh trắng lớn vạch ra những vòng rộng trên tầng không như những con thiên nga ca hát khi chúng hạ xuống mang cho chúng ta mùa xuân.
Chiếc tàu đáng lẽ phải giống như một trong những chiếc máy bay mà tôi đã đọc, được mô tả trong những năm gần đây, đó là một con tàu lớn của bầu trời trắng như tuyết.
Trong khi tôi ngắm nhìn nó, vui mừng, quên hết tất cả như ngày này năm xưa, khi tôi còn trẻ trên núi Sonderbjaerg, tôi hiểu rằng ước muốn nó trở về không phải chỉ do đòi hỏi khôn nguôi trng thời trai trẻ của tôi. Ước muốn này cũng là khát vọng lệch mục tiêu của nó tới những vì sao khác, những mặt trời khác mà Eberhard và bố của Dorete đã nói đến, ở đấy cả hai người đã tìm thấy tổ quốc của họ.
Tôi hiểu họ gửi đến cho tôi hôm nay, con thuyền hạnh phúc đích thực, con thuyền mà mọi người chết đều có quyền lên đó. Tôi hiểu rằng nó phải đến rất nhanh mà không phải nhờ vào lực của những cánh buồm, của bầu trời và không phải của mặt biển. Con thuyền hạnh phúc không còn là một giấc mơ mà chính là thực tại.
Thế là cái gai cuối cùng biến mất khỏi tim tôi, tôi đã hình dung trong khi đọc lúc tuổi già những chuyện kể về các máy bay, một trong con chim bay đó sẽ đến phía trên các ngọn sóng để giải thoát tôi.
Cái gai biến mất như đã biến đi nỗi đau và niềm vui bộc lộ ra ở trên mảnh đất bé nhỏ này. Tất cả đã biến mất trước những cái cánh của con tàu thiên nga. Nhưng bỗng nhiên tôi nghe tiếng của các bạn, và tôi biết rằng con tàu của tôi chưa đến gần. con tàu của các bạn còn xa lắm, các bạn còn trẻ.
Cụ nhìn họ với nụ cười rạng rỡ và họ cười đáp lại. Họ ngạc nhiên hiểu rằng nếu mặt đất âm u là số phận của họ thì bầu trời chói sáng là của cụ.
Erik và Ellen lại nghĩ tới người lạ đến đảo, trên mặt biển màu hồng và xanh thanh thiên như anh ta chèo thuyền giữa bầu trời. Nhưng họ không nói về anh ta, bị xâm chiếm bởi một cảm giác rụt rè trầm tư.
Ngoài ra, cụ Bek còn tập hợp lại tất cả các giấy tờ của họ. màu xanh sáng của bầu trời đã bỗng nhiên thay cho màu đen mực. Mục sư Honorius đốt cây đèn và đặt nó ở đầu giường. Ellen và Erik nắm tay nhau. Ông mục sư ôm đầu trong hai bàn tay và tất cả nín thở như trước một bài học mới khó hiểu.
- Vâng, tôi đã nghe tiếng nói của các bạn – cụ Bek nói – và tôi thấy hình như tôi còn cái gì đó cần làm trong căn phòng này, nơi tôi đang nằm và các bạn đang vây quanh.
Chính tại đây tôi thực sự đã tường thuật lại tất cả cái gì tôi sắp tin cho các bạn biết về những thiếu sót, những sự không trung thành, sự phục tùng, tiền lương của tôi.
Bây giờ tôi kể đến chuyện mamzelle Camrath, người làm chứng duy nhất cho thời gian đầu tiên.
Người ta có thể tin rằng cái chết biết là không có người đàn ông nào có thể bỏ qua một người đàn bà.
Ồ vâng, bà ấy là người đàn bà được gửi đến cho tôi để thành người thân của tôi. Các bạn thấy đấy, bà ấy không ở đây, bà ấy không dám nghe nói về cái hạnh phúc trong trắng lạ lùng của chúng tôi.
Một buổi chiều tôi ngồi cùng với những người khác trên bờ biển. Ở đấy, suốt hàng trăm năm nay, người ta cũng tập hợp lại như chúng tôi, chờ đợi thức ăn cho tinh thần và thể chất từ những miền xa xôi đến. Chiếc tàu chỉ đưa đến một hành khách nữ.
Tôi đến gặp cô bởi vì tôi được sai đi đón, cô Lucie Camrath, cháu gái của mục sư Schwarzflugel.
Khi cô ấy bước xuống đất, mảnh dẻ và trẻ măng trong chiếc áo choàng đen du lịch, va li cầm tay, và mắt rụt rè nhìn bãi biển lộng gió và đám người đang vội vã ở đó, tôi hầu như tưởng là nàng, tình yêu của tôi, xuất hiện từ mặt biển cằn cỗi.
Phải chăng là cô ấy không đến từ bên ngoài, mà chính là cô ấy mới hôm qua lướt chạm vào người yêu qua chiếc váy của mình?
Nhưng tôi nhớ đến hãng buôn của bố cô Camrath ở Christianshavn, tôi trông thấy chiếc khăn lông thú đắt tiền, cái va li sang trọng và lo lắng tự hỏi không biết có phải cô gái này có ý định ở lại đây không.
Ôi, cô ấy mặc quần áo tang, cô ấy có một mình trên đời này, bố cô ấy với mới theo về nghĩa địa với mẹ cô đã chết từ lâu.
Tôi bỏ mũ cầm tay, kính cẩn chào cô mới đến đảo. Tôi cảm thấy đầy lòng trắc ẩn với cô và cảm ơn bản thân tôi. Ôi, phụ nữ, hãy nói là em đã đến!
Trong những tuần lễ tiếp theo, cuộc sống mà chúng tôi sống chất đầy lòng cô sự ngạc nhiên và bối rối. cô ấy lúng túng trước vẻ mặt lố lăng của mục sư Schwarzflugel, không giống chút nào với khuôn mặt mà trong khi bị côi cút trên đời này cô đã mong ước được nhìn thấy ở người anh cả của mẹ cô. Và Malene, bé Albisag của ông già David! Thái độ của ông ấy trái ngược với ý nghĩ mà cô thiếu nữ hình dung về tình yêu.
Về phần tôi, còn có an ủi nào tốt hơn là tuổi thanh xuân của tôi, lòng kính trọng trong trắng của tôi để đáp lại món quà mà cô ấy tặng tôi từ đôi má như hoa, từ khối tròn êm ái của đôi vú, từ đôi mắt xanh, từ tiếng sột soạt của những chiếc váy của cô?
Một hôm tôi muốn trốn khỏi đảo, đó là một buổi sáng rực rỡ mùa hè. Tôi đang tắm biển và ra khỏi nước, leo lên khối đá ngầm ở ngoài xa nhất. Bỗng nhiên tôi nhận thấy mình trẻ trung và trần truồng…
Từ xưa tôi không khi nào đẹp trai và tráng kiện, nhưng tôi có nước da mịn màng phớt hồng. Cái lạnh của biển và sức nóng của mặt trời làm hoạt bát và vững chắc chân tay tôi. Tôi cảm thấy mình hoà nhập được với trời xanh và nước biếc. Và khi tôi thấy lại trên bờ biển đống quần áo đen sẫm và sờn nát, dấu ấn của kiếp nô lệ, tôi đã nổi loạn trong sự trần truồng của tôi. Tôi không chịu để mình héo tàn vì đói, vì khổ - và trong cơn giận dữ, tôi nhảy xuống nước để cứu tuổi trẻ, cứu sự trần truồng của tôi khỏi những quần áo tù và khỏi cái nhà tù của đảo.
Tôi thả mình cho các ngọn sóng như cho những cánh tay người anh em. Nhưng chẳng hơn gì đất, biển cũng không chịu nhận quyền tuổi trẻ của tôi. Cả hai chỉ cho tôi quyền của nhà mồ, tôi đã nhận ra điều đó dưới sâu của cái vực đang lôi tôi xuống.
Bản năng bảo tồn của động vật đã đẩy tôi về phía bờ biển. Chỉ một tí nữa là tôi đã chết trong sóng nhưng cuối cùng tôi đã đứng dậy được, rồi lại ngã bất tỉnh trên cát.
Một lát sau, ướt sũng và nhợt nhạt như một người chết, tôi mặc lại quần áo, giấc mơ cuối cùng về quyền của tôi được hưởng niềm vui của tuổi trẻ đã trượt thẳng. Cái lạnh chết người đã làm đông cứng thịt da tôi đến mức nó không dám mạo hiểm với một tiếng gọi mới.
Nhưng tiếng kêu của xác thịt im đi trước khi tuổi già khoan dung làm cho tôi giống như quần áo của tôi, cũng xám xịt cũng phai tàn như thế, thì đó là tôi mắc nợ mamzelle Lucie. Cô ấy đối với tôi cũng như tia nắng cuối cùng trong năm đối với những cây sắp chết, nụ hôn êm ái của cái chết đã giải hoà chúng tôi với số phận của chúng.
Mamzelle Lucie ngồi ở giường chết của xác thịt tôi, cái xác thịt đã được bàn tay cô giúp đỡ đã thực hiện cuộc chiến cuối cùng.
Sự cứu giúp của tôi đưa đến cho mamzelle Lucie nếu đem so sánh thì thật nhỏ bé. Tôi đã ủng hộ cô thiếu nữ dịu hiền đó trên lối đi sỏi đá của thế giới này.
Bị rơi xuống hàng con ở sau khi đã là con gái một người giàu có, cô ấy trông thấy sau sự giúp đỡ này tâm hồn trinh bạch của cô héo tàn đi. Cô ấy không bừng nở trong một đêm như tôi, cô aakg biết hạnh phúc và tội lỗi của tuổi trẻ và cô ấy đỡ héo tàn đến tận rễ.
Trong khi những cái rễ giao phó mình cho mảnh đất tiếp nhận chúng thì chúng đã kéo theo chúng tất cả hoa lá cành đầy nhựa, những thứ kia trong tương lai không ai trông thấy được chỉ trừ có một người. Khi hơi thở của Chúa đến sưởi nóng, chúng sẽ lại nở hoa với một tuổi trẻ tưng bừng mà tất cả các gái đồng trinh của trời sẽ tái nhợt đi trước tuổi thanh xuân đó.
Chúng tôi đã cầm tay nhau đi bộ trên đảo giống như hai cái bóng, an ủi nhau.
Chúng tôi sẽ cùng nhau quỳ xuống cầu xin tình yêu vĩnh cửu trả lại cho chúng tôi bông hoa của tuổi trẻ mà chúng tôi đã để mất trong trận bão ở đảo.
Nhưng tôi trở lại những năm dầu sao vẫn là tuổi trẻ của tôi . Tôi đã cam chịu với cuộc đời của tôi giữa Lucie Camrath, Jacobus Uz, bà Éléonore và mục sư Schwarzflugel. Tôi chăm lo trường học của tôi, tôi thường đi dạo một mình rất lâu trong hoang mạc và trên những bờ biển sóng bao bọc xung quanh. Ngày nối ngày giống như những bụi guốc bê mà cát nối lại với nhau và tôi ở lỳ trong cái vũ trụ nhỏ bé của tôi. rồi bỗng nhiên tôi cảm thấy rìu đập vào rễ của tôi và tôi hiểu rằng cát là máu của tôi.
Mục sư Schwarzflugel chết, Malene trở thành một bà goá giàu có, và một mục sư mới khác đến đảo.
Ông già từng chịu trách nhiệm trong hơn sáu mươi năm đã chết trong cánh tay của người phụ nữ mà ông mua trong một ngày nóng thiêu tháng bảy, nhưng ông không tìm được nhiệt độ mà thân thể ông đã đòi hỏi từ bao năm.
Khuôn mặt xanh xao và quắt lại giống như một cục tuyết, ông lạnh đi ngay khi Malene không giữ ông vào ngực của cô như cô vẫn làm từ bảy năm rồi để giữ cho ông sống.
Khi với một tiếng thở dài khuây khỏa cô quay lại, hai tay giăng ra về phía mặt trời mà ánh sáng rực rỡ xuyên vào qua cửa sổ mở ra phía hoang mạc, tôi thấy hình như bàn tay người chết mà tôi đưa tay tôi lại gần, đã đưa tôi vào mùa đông vĩnh cửu của quạnh hiu…
Ba tháng sau người ta bổ nhiệm người kế tiếp Schwarzflugel. Người ta không tìm được sớm hơn người nào sẵn sàng nhận nhiệm vụ này. Tất cả những gì người ta biết được về người mới là ông ta tên là Tang, và đấy là một người trẻ tuổi.
Hôm trước ngày đón ông, tôi ngồi ở chiếc bàn gấp, mắt nhìn vào kính cửa đen, ở đấy chỉ phản chiếu lại một mình ánh sáng ngọn đèn và vết trắng của mặt tôi. Tôi thấy lại mình đang ở trên tàu Coquillage giữa muôn trùng sóng và con chó Vombat giận dữ chỉ chực lao vào tôi.
Con người lạ đã tiến ra biển này, tôi ở trong tay ông ta chứ đâu phải trong bàn tay của Chúa. Chúng tôi thuộc về ông ấy, bản thân tôi, công việc làm của tôi, những đứa con mà tôi đã mua bằng những gì của tôi, cho chúng bao giờ ròng rã dành cho với dạy dỗ chúng, những đứa con mà tôi biết từng thói quen nhỏ, từng nét đặc điểm và tất cả những lời hứa, ông ấy có thể tách rời tôi khỏi tất cả. Công việc của tôi chẳng có gì quan trọng.
Và hòn đảo này, mái ấm mà tôi đã tạo ra trong biển vắng, mái ấm xây nên bởi nỗi lo sợ, nỗi cô đơn, nỗi khổ sở của tôi, nó là phần cấu thành của chính tôi cũng như tinh thần và thể xác của tôi, ông ấy có thể đuổi tôi đi khỏi đấy cũng như tôi đã bị đuổi khỏi đất liền. Có phải chính phủ biết tôi không? Ôi lạy Chúa! Không! Do cam kết của một mục sư, tôi có thể bị thải hồi bởi một mục sư khác.
Và khi ấy thì ở đâu sẽ mở ra cho tôi một bến bờ mới? Há chăng phải tôi đã hiến dâng tất cả những gì của tôi để tạo lập ra quê hương này sao? Chúa đã cho tôi sinh ra, và sẽ lấy lại tôi trong một ngày kia, nhưng từ giờ đến lúc đó thì Người lại bỏ tôi cho đồng bào của tôi và cho bản thân tôi! Tôi chỉ là một sợi rơm mà người ta sắp vứt xuống biển. cuộc đời tôi chẳng có gì quan trọng.
Nỗi lo lắng ngự trị trong tôi hồi tôi hai mươi sáu tuổi đó tôi lại cảm thấy mỗi khi người ta báo tin có một mục sư mới đến. Cuộc sống của tôi lệ thuộc vào sự tình cờ. Do số phận tôi sinh ra, vốn đã nhận được cái đạo lý chính đáng của con người là lòng biết ơn, biết ơn vì cái không đáng, vì miếng ăn hàng ngày, vì mái nhà che nắng che mưa, vì mảnh đất mà ở đó tôi được cảm thấy là ở nhà. Lòng biết ơn đã dạy cho tôi niềm vui sống, niềm vui lại sức mỗi lần tôi tái sinh.
Nhưng lần đó cả lòng biết ơn, cả lòng tin, cả niềm vui đều đổ vỡ, chỉ còn lại ở tôi lòng thù hận như khi Adam chiếm mất phần thưởng của tôi. Khi hắn chiếm mất Dorete. Liệu hắn có còn ltđi của tôi cuộc sống khốn khổ mà hắn đã để cho tôi ở đây.
Tôi thât vọng đến nỗi chỉ muốn mình lòng thù hận có thể ngăn tôi tự sát. Tôi bám vào đó như vào cái còn lại cuối cùng của cái tôi.
Chính là để đề phòng tôi nên Chúa đã để cho lòng thù hận chiếm lĩnh tâm hồn tôi và thậm chí còn khiêu khích nó cũng như đã cho phép tôi làm điều sai trái để một ngày kia sau khi trong sạch rồi tôi có thể xuất hiện trước Người.
Sáng hôm sau tôi ra bờ biển và trông thấy một cái bóng đen tuột thang dây xuống chiếc thuyền, ôi, giá mà tôi có thể nhảy xuống nước tự vẫn ngay trước mắt ông ta, trước mắt mọi người, trước mắt Chúa.
Chẳng phải tôi đã chỉ mơ có một mình, bị tất cả ruồng bỏ đó sao? Vậy thì đâu có phải là tôi tự tử, mà họ giết tôi đấy chứ.
Tôi đã mơ thành một người trong số họ, mơ được sống với họ một cuộc sống chung. Bây giờ tôi thấy tôi là ai, họ là ai.
Họ đều đến đấy tò mò chờ đợi người thuyết giáo mới của họ, người bạn đường mới của họ, một cuộc phiêu lưu mới đến nơi hoang dã của họ. Còn tôi thì chờ đợi người phán xử của tôi.
Con người ở kia là Chúa của tôi. Ai sẽ là người bảo vệ tôi trước ông ta đây? Jacobus Uz, bà Éléonore, hoàng thân ư? Họ chỉ nhìn ông ta.
Ngay từ khi tôi thấy ông ta đặt chân lên bờ biển mà tôi từng chạy vòng từ bảy năm qua, từng tựa xuống từng khối đá, từng nhảy vào trong mỗi con sóng, là tôi đã biết số phận của tôi.
Tôi sắp bị nhổ ra khỏ mặt đất này, vứt ra biển. Tôi sẽ mang đến cho Chúa, tôi biết thế, một trái tim đầy lòng biết ơn với Người và đối với con người. Tôi đã chiến thắng mọi phiền muộn, mọi đắng cay. Nhưng cuối cùng tôi chỉ chiến thắng cái cảm giác của tôi thể hiện lúc đó trên bờ biển: run sợ trước mục sư mới như con cừu ở lò mổ. tôi nói toạc ra trước ông ta, người có sức mạnh và quyền lực.
Tôi xưng tên, nói làm gì ở đây, và không cần để ý đến cai nhìn ngạc nhiên và lạnh lùng để biết rằng gió đã cuốn đi những lời nói vô ích của tôi.
- A! Ra thế! – ông ta nói rồi không chìa tay ra với tôi, quay sang những người khác đang cười nói.
Tôi có một phút chóng mặt ở đấy, trên bờ biển, rồi tôi cúi đầu rời xa thật nhanh những thứ tôi vừa mới tự thuyết phục, tôi không tham dự vào. Tôi chạy như một kẻ mất trí qua những cồn cát đến tận hoang mạc để thoát khỏi ông ấy, thoát khỏi bản thân tôi, thoát khỏi Chúa.
Lúc ấy đã khá muộn rồi khi tôi run rẩy vì lo lắng vì lạnh, vì đói, bước lên cái cầu thang mà trong bảy năm đã dẫn tôi đến cái phần ăn đạm bạc, đến giường ngủ, đến những nơi tôi đã quen nghĩ là của tôi.
Khi nghe qua cánh cửa hé mở những giọng nói của mục sư và của Lucie Camrath, tôi đã đi qua không dừng lại để giấu mình vào trong phòng của tôi.
Phòng của tôi. tôi ngắm nhìn bốn bức tường của tôi trong xúc động. Mỗi góc nhỏ của căn phòng này là của ông ấy, những suy nghĩ, những giọt nước mắt của tôi nhỏ xuống ở đây là của ông ấy. bất kỳ lúc nào ông ấy cũng có thể mở cửa đuổi tôi ra ngoài. Tâm hồn tôi, những ước mơ của tôi là của ông ấy, ông ấy là chủ của những ý định của tôi. bởi vì tất cả tôi chính là hòn đảo. tôi đã sinh ra ở đây, tôi cũng phải chết ở đây. Tôi đã bao giờ sống ở nơi khác chưa? Tôi không còn nhớ điều đó.
Tôi đã gặp Dorete trong kiếp trước, tôi sẽ tìm thấy lại cô ấy trong kiếp sau.
Nhưng chính cuộc sống, con đường dẫn từ kiếp này sang kiếp khác, nó là ở đây. Chính đây là sự nghiệp và là miếng ăn hàng ngày của tôi.
Tôi nghe tiếng mục sư phía trên tôi và tôi run lên cứ như thể ông ta tì bàn chân lên gáy tôi. Bàn chân của ông chúa sở hữu từng tấc đất nhỏ mà ông ta giẫm lên.
Nhắm mắt lại, tôi nghe tiếng chân bước đi đi lại lại của ông ta. Bỗng tôi rùng mình, một bước chân khác kéo lê trên cầu thang. Đó là Gedsken, mụ đầy tớ già lo việc nội trợ trong khi Malene ở Grena để thu xếp công việc của chồng. Các gia đình ở lục địa đã thừa nhận quyền thừa kế của cô.
Gedsken sờ soạng tìm cửa phòng tôi rồi gõ. Tôi không mở.
Nhưng chốt được nâng lên và khuôn mặt nhăn nheo hiện ra ở ngưỡng cửa:
- Ông vẫn có ở đây. Ông phải xuống chỗ mục sư, ông ấy muốn nói chuyện với ông.
Cánh cửa khép lại. tôi còn nằm một lúc rồi mới đứng lên. Vì sao? Vì tôi đói, vì tôi muốn ăn no nê và để cho người ta bảo tôi rằng đó là lần cuối cùng – lần cuối cùng tôi nhận phần ăn từ tay ông ta trước khi chân ông ta thực ra đã chà đạp tôi, bởi vì Chúa đã trao tôi vào bàn tay ông.
Đầu cúi xuống, tôi bước vào trong gian phòng mà tôi đã sống và mơ, không chỉ cuộc sống của chính tôi mà còn cả cuộc sống của những người đã ở đó nhưng chết từ lâu rồi. Lần đầu tiên những bức tường tối om và cái trần thấp bao phủ lấy gian nhà và che chở cho nó.
Và tôi nghe giọng nói cứng rắn của ông ấy:
- Ông sinh viên Bek, ông đã tự giới thiệu với tôi ở ngoài bãi biển là thầy giáo ở trường trên đảo này. Tôi đã tìm hiểu và được biết ông được gọi đến giúp cho người tiền nhiệm của tôi, ông mục sư Schwarzflugel. Nhưng đó là việc cá nhân giữa ông và ông ấy. trong hợp đồng của tôi không có tên ông. Tôi không có việc gì làm cho ông ở đây, cũng không có tiền để trả lương cho ông. Dĩ nhiên là tôi có ý định tự tôi lên lớp lấy. Tôi nói với ông như thế bởi vì theo ông lãnh sự Uz và một vài người khác thì người ta coi việc ông ở lại đều là hợp pháp.
Ông ngừng lại một lúc và mắt ông nhìn trừng trừng vào tôi như muốn nuốt chửng lấy tôi;
- Hừ, nhưng tôi nghĩ rằng ông hoàn toàn biết rõ tình hình đó và ông đã kiếm một chỗ khác.
Tôi im lặng, đành ngước mắt nhìn ông. Cái nhìn của đôi mắt đó dưới cái trán trắng hếu nâng cao chỉ rõ cho tôi thấy rằng có cầu xin lòng khoan dung của ông ta cũng vô ích. Đó là một mục sư đã học thuộc Kinh Thánh, chứ không phải ông tự hương được thế nào là lòng khoan dung. Mà tôi lại đang ở nhà ông.
Lúc đó tôi nhìn thấy Lucie Camrath. Cô ấy ngồi trên ghế dài đóng vào tường, giữ hai bàn tay vào ghế, đầu áp vào tường.
Tôi cảm thấy đầy hận thù đối với cô. tại sao cô ấy lại ở đây, hình như bám vào nhà này hay hình như dựa đầu vào nhà này khác nào vào một chỗ dựa duy nhất của cô?
Cô ấy ở đây không phải ăn bám như tôi, cô ấy là người khách trọ giàu có, trả tiền hậu, cô ấy là người được đón tiếp niềm nở, trong khi đó tôi chỉ là người đến thiếu tư cách.
Và lòng hận thù của tôi còn đi xa hơn dâng lên đến tận Eberhard Sebastien Bader, ân nhân đã dạy tôi biết coi khinh những chiếc chìa khoá vàng mà ông nội tôi muốn cho tôi để mở các cửa và các lòng người.
Nhưng khi tôi bắt gặp cái nhìn của Lucie Camrath, tôi bối rối, đó là cái nhìn của người chết đuối, có thể nói là cô ấy đang gọi tôi đến giúp. Tôi đến giúp trong thời điểm đó ư?
- Này! – ông mục sư vẫn không rời mắt nhìn tôi, áp bàn tay vào ve áo và ưỡn ngực ra làm bộ làm tịch theo một cử chỉ thói quen – Ông có vẻ tán thành ý kiến của dân ở đây là tất cả các mục sư tương lai đều bắt buộc phải nhận nghĩa vụ giữ ông lại như ông Schwarzflugel đã làm. Ông còn trẻ để có thể đòi hỏi cứu tế công cộng giúp đỡ. Tuy vậy, tôi không thấy ông có thể đòi hỏi cái gì khác được.
Ông không ngừng nói với một giọng the thé nhưng bình tĩnh, vừa đu đưa thân hình đồ sộ của ông trên những gót chân. Nhưng tôi hết sức ngạc nhiên nhận thấy cái nhìn của ông đi từ Lucie sang tôi.
- Ông mục sư Schwarzflugel đã trả công cho ông khá sòng phẳng, chắc hẳn ông chưa tiêu hết tiền lương đó, như vậy ông còn khá dư dật để về đất liền. Tàu Coquillage sẽ lại nhổ neo trong ngày mai và tôi thấy tốt nhấg là ông nên đi theo ngay, bởi vì theo tôi được biết nó đến lần này là lần cuối cùng trong năm nay. Tôi không biết ông có thể sống qua mùa đông như thế nào ở đây.
Ông ta im lặng một lát rồi nói tiếp, giọng bé hơn:
- Hơn nữa, nếu ngay như tôi có ý định sử dụng ông trong những ngày đầu mà tôi sẽ rất bận này, cho đến khi chuyến tàu mùa xuân tới, thì cách thức làm việc của ông cũng khá phiền phức cho tôi.
Tôi nhìn ông ta, kinh ngạc.
- Vâng thưa ông, ngay từ hôm nay tôi đã đến trường. Bọn trẻ đã có mặt ở đấy và chờ đợi. Nhưng thầy giáo của chúng không có ở đấy.
Tôi nhắm mắt. Đúng là tôi đã không có mặt ở đấy. Tôi đã quên nhiệm vụ của tôi.
- Ông đã ở đâu, đó là điều tôi không cần biết bởi vì tương lai của trường nằm trong tay tôi chứ không phải ở trong tay ông. Tuy nhiên ông hãy là khách trọ của tôi trong tối nay, và muốn làm gì thì tuỳ ông. Bây giờ tôi chẳng còn gì để nói với ông nữa.
Cái đầu nặng nề của ông ta cắm lởm chởm những sợi tóc đen, hất lên với tôi một dấu hiệu nghiêm khắc, rồi ông thong thả đi về phía Lucie mà tôi không nhìn thấy rõ khuôn mặt che khuất bởi cái bóng đen của mục sư. Nhưng tôi vẫn nhận thấy vẻ sợ hãi, tiếng kêu giúp đỡ thể hiện trên nét mặt của cô.
Nhưng bị đè nặng bởi nỗi đau, tôi chỉ nghĩ đến tôi, với lại tôi đang đói. Tôi đã cảm thấy chân của người kia ở trên gáy tôi, nhưng tôi không trông thấy cái nồi của bà ấy. "Hãy cứ là khách của tôi" ông ấy đã nói thế cơ mà. Vậy tôi cứ van nài ông ấy cho tôi ăn chăng? Không, thà chết còn hơn.
Về đến phòng mình, tôi lao xuống giường, chôn mặt vào chăn, và rơi vào giấc ngủ nửa thức.
Tôi thấy Eberhard và Dorete giơ cánh tay cho tôi từ dưới đáy vĩnh hằng. Ngày hôm đó tôi đau khổ nhiều đến nỗi tôi thấy gần cái ngưỡng cửa mà tôi sắp vượt qua giờ đây sau năm mươi năm.
Bỗng một bàn tay chạm làm tôi thức tỉnh và tôi hiểu ra rằng không thể ra đi với cái giá ít ỏi như thế. Trước mặt tôi là một khuôn mặt sẽ đi cùng tôi trong tất cả các năm đó.
Tôi vùng dậy thét to:
- Cô muốn gì ở đây, cô đã có Chúa và mọi người bên cạnh. cô hãy xuống bên ông ấy đi, ông ấy sẽ không đuổi cô đâu.
- Ông Bek, - cô thì thầm, vừa cầm tay tôi – đừng để ông ấy nghe thấy tôi ở đây. Nhưng, ông nói, ôi, lạy Chúa, đúng là thế…
Và cô che đầu bằng cánh tay.
- Thế, cô muốn nói gì? – tôi thốt lên, vừa đứng hẳn lên. Lucie Camrath đã bưng lên một khay sữa và bánh mì đặt xuống chiếc ghế bên cạnh giường tôi. Cô đã tự tay làm bữa ăn này vụng về và vội vã. Ôi! Từ đó co6 hiểu học khá thạo cách làm bếp, cô đã trải qua cuộc đời ở trong bếp.
- Ăn đi, ông Bek, tôi đã ăn cắp một ít bánh cho ông, ông đã nhịn cả ngày rồi.
Đúng là tôi nhịn và không phải là lần cuối cùng nhưng tôi nói tiếp:
- Vậy cô làm sao thế?
Mặt quay về phía tôi dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn pha chiếu lên tường, cô vẫn để lộ ra nỗi sợ hãi như cũ:
- Ông Bek, - cô vẫn thì thầm, vừa móc vào tay tôi – ông ấy muốn có tôi cùng với của cải của tôi.
- Cái gì? – tôi kêu lên.
Nỗi ưu phiền của cô làm tôi quên mất những buồn khổ của tôi. Cô nói trong hơi thở:
- Đúng thế - rồi cô quay đầu.
Tôi đẩy cái đĩa ra.
- Do đâu cô biết điều đó? Ông ấy muốn tiền của cô? Không phải ông ấy muốn chính bản thân cô?
- Bản thân tôi ?
Cô càng run lên trong sự trong trắng trinh bạch.
- Không, đội ơn Chúa. Ông ấy chỉ muốn tiền của tôi. Ông ấy đã nhìn tôi với con mắt đã nhìn ông. Ông ấy đã muốn đuổi tôi ra khỏi nhà ông ấy khi Gedsken cho ông ấy biết rằng tôi không phải được nhận miễn phí vào đây vi lòng từ thiện. Vậy là, bỗng nhiên ông ấy đã nhìn tôi. Ôi, ông Bek, cái nhìn đó! Vậy có nơi nào trên đảo này tôi có thể trốn khỏi ông ấy? Hãy đưa tôi đi, đưa tôi đi với ông.
Tôi ngã xuống chân cô như quỳ xuống chân Chúa cầu xin cô ấy tha thứ cho tôi. Tôi bị vò xé vì hối hận.
Vậy là không phải chỉ mình tôi là người bị đầy biệt xứ, tôi chỉ là một trong số những người mà người ta sẽ theo đuổi khi dưới vòm trời vẫn c òn những con thỏ và những con chó.
- Nhưng mà – tôi ấp úng – ông ấy không thể, ngay bây giờ..
- Không ngay bây giờ, nhưng sau này, nếu tôi ở lại, đi đâu, đi đâu?
Tôi nhìn cô. Chúng tôi phải đi đâu?
Đèn pha chiếu sáng chúng tôi bằng ngọn lửa di động.
- Ông Bek! – cô nói giọng rất nhỏ.
Tôi cúi xuống để nghe. Cô giấu mặt vào đống chăn của tôi.
- Thứ lỗi cho tôi, tôi chắc vì lỗi của tôi mà ông phải đi khỏi đây!
- Lỗi của cô?
- Vâng!
Tôi nghe không rõ lời cô nói.
- Lúc đầu ông ấy nghĩ là cho ông ở đây cho tới khi tàu đến vào mùa xuân, nhưng khi nghe nói về tiền của tôi ông ấy đã đổi ý…
- Vì sao?
Tôi nghiêng tai về phía cô để nghe cô nói.
- Ông ấy tin rằng..hai chúng ta có những… quan hệ…
Cô đã che mặt kín hơn, kinh hãi như một con chim trước tiếng hót của chính nó.
Bàn tay tôi ướt nước mắt chảy trên má cô. Ông mục sư có lý khi tin rằng chúng tôi là của nhau, nhưng phải là trong sự trinh bạch và trong cái chết chúng tôi thuộc về nhau. Tôi đã ôm hôn đó là cái hôn đầu tiên và là cái hôn cuối cùng của tôi.
Trong chốc lát đó lòng chúng tôi run run nhiệt tình cảm ơn Chúa. Nếu Người để chúng tôi một mình trong các phòng tu của chúng tôi, Người cũng làm loé lên ở đấy một tia sáng bẽn lẽn tình yêu, nhục dục.
Chúng tôi chào nhau không một lời. Cô ấy lặng lẽ xuống nhà trong khi tôi lên giường để ngủ. Hầu như tôi không nghĩ rằng đó là đêm cuối cùng của tôi trong phòng của tôi, và lại càng không nghĩ đến chuyện phải đóng gói đồ đạc vào trong chiếc hòm của Eberhard để chuẩn bị lên tàu Coquillage sáng hôm sau lúc sáu giờ trước khi tàu rời bến.
Trong đêm tôi mơ là tôi ở trên tàu, và tôi chạy đứt cả hơi để thoát khỏi con chó Vombat, từ boong tàu vào ca bin và từ tay lái đến mũi tàu. Đến đó tôi cảm thấy những chiếc răng của kẻ truy hại tôi trong thịt tôi, và khi trong đau đớn tôi cúi nhìn xuống là để nhìn thấy vẻ mặt của mục sư Tang. Nhưng ngay sau đó là khuôn mặt của người mà Eberhard đã đuổi khỏi gian áp mái của chúng tôi và là người đã vứt nắm đất lên quan tài của Eberhard.
Một chiếc áo cổ xếp của mục sư quấn xung quanh cổ của ông ta, nhưng thân thể là của con Vombat, bẩn thỉu và đầy lông.
Tôi gọi to Eberhard, vơ vội quần áo nhảy nhanh qua phía kia tàu, trogn lu[c những tiếng sủa của con chó lắng lại ở bên này…
Tôi thức tỉnh, mồ hôi đầm đìa và ngồi dậy trên giường, mệt rã rời. Nhưng khi nhìn thấy bầu trời buổi sáng có những rạch mây phớt hồng giống như san hô thì thực tại đã tàn ác hiện ra trong ý thức tôi. sáng hôm đó là buổi sáng cuối cùng tôi phải trải qua trên đảo.
Tôi nhảy ra khỏi giường, thu xếp các thứ và quần áo vào trong cái hòm của tôi, để trốn thật nhanh khỏi cái nhà đó, để không bị người ta tóm cổ áo lôi lên tàu. Tôi sẽ đi nấp ở hoang mạc ngay trong lòng đảo để khẳng định như Lavrus Potter rằng tôi là người con của đảo.
Không ai sẽ tranh với tôi cái hoang mạc, không ai sẽ đòi nhận nó là của mình. Tôi sẽ đến hoang mạc để ở đấy mặt đối mặt với Chúa và yêu cầu Người trả lời tôi.
Dưới ánh sáng mờ ảo của những áng mây ửng hồng, tôi vội vã đi vào trong đêm của hoang mạc, đến cái mồ đóng băng bởi cái lạnh của biển.
Nhưng hôm đó tôi không tìm thấy Chúa. Trong lúc nhìn khoảng không phủ đá quạnh hiu, tôi thấy tất cả các tạo vật của Người đều có một cái tổ, một chỗ trú. Tôi trông thấy dấu những con thỏ trên cát, tôi nghe tiếng kêu của những con mòng trong không trung. Thỏ thì gặm rễ cây guốc bê, mòng thì bắt cá trên sóng. Nhưng không có lấy một chiếc lán tồi tàn, không có lấy một mẩu bánh cứng nào dành cho tôi.
Nếu Chúa mở bàn tay với những sinh vật bé nhỏ nhất và đóng lại với con người nghĩa là Chúa đã cho trước chúng ta tất cả. Cho chúng ta ư? Vâng, nhưng không cho tôi.
Suốt buổi sáng, ẩn mình trong các bụi cây, tôi trông thấy tàu Coquillage căng hết buồm, khuất đi ở chân trời. nó sẽ không xuất hiện lại trước sáu tháng…
Trên mũi cuối cùng xa nhất của hòn đảo, với biển sâu thẳm có một mẩu nhỏ của tôi, tôi hiểu, lần đầu tiên tôi hiểu như thế nghĩa là sống trên hòn đảo của sự sống.
Bị nghiền nát, chà đạp, đập vỡ bởi con người cũng như bởi Chúa, tôi quay bước lại. Tôi đi qua trước ngọn đèn pha và đi qua hoang mạc để đến nhận những gì mà bàn tay mục sư Tang sẽ đồng ý cho tôi.
Tôi đã được cứu, ít nhất là cho những tháng đầu tiên. Lúc hoàng hôn, khi đến gần nhà mục sư, tôi trông thấy cái hòm của Eberhard, nắp đậy hờ các đồ đạc của tôi, đặt ở chân cầu thang trên cỏ.
Nhưng tôi bình tĩnh nắm lấy quai hòm, xách nó lên trước cái cửa sổ mà tôi đã gọi là của tôi, rồi tôi ngã người xuống đất, đầu cúi tựa vào chiếc hòm, chờ đợi những gì Chúa định đoạt cho tôi.
Bỗng một cánh cửa mở. Lucie lẻn ra ngoài, men dọc theo tường, vòng ở góc hồi nhà và đi về phía tôi.
Tôi nghe tiếng thở hổn hển của cô, nhưng đôi mắt cô long lanh và đôi má ửng hồng. tất cả ở cô toát lên niềm vui.
- Ông Bek! – cô nói như hết hơi khi đến gần tôi – ông Bek, tôi được cứu thoát rồi, Chúa tốt quá.
Cô nắm bàn tay tôi chìa ra với cô, ngồi xuống bên cạnh tôi trên cỏ và khóc nức nở.
- Ông có biết hôm qua có một bức thư đến cùng một lúc với ông mục sư. Nói đúng ra là chính ông ấy mang lá thư mà không biết nội dung! Vì tôi chẳng bao giờ hỏi đến thư từ, nào có ai ở kia có thể viết cho tôi đâu, nên mãi sáng nay Greavemand mới đưa phong bì cho tôi. Ông Bek ạ, người giám hộ của tôi đã bỏ trốn sau khi phung phí hết tất cả gia tài của tôi, hết sạch không còn một xu…
Tôi vùng dậy và nhìn cô hết sức kinh ngạc. Cô siết bàn tay tôi vào ngực cô, đôi mắt loé sáng lòng biết ơn hướng lên bầu trời.
Còn tôi thì run lên như đang bị ảnh hưởng của một cơn bão lớn. kia, cô ấy cảm ơn Chúa vì mất đi cái tôi gọi với mọi ước mong của tôi, sự bảo đảm miếng ăn hàng ngày. Kia, cô ấy tìm thấy sự cứu thoát ở nơi mà tôi trông thấy sự mất mát của tôi!
Trong khi nghe cô ấy nói, tôi đã ý thức lại được chính mình. Eberhard chẳng đã từng dạy tôi rằng một ngày kia Chúa sẽ đòi hỏi chúng ta trả về cho Người tâm hồn chúng ta trong trắng như khi Người giao nó cho chúng ta. Chỉ vì thế mà Người cứu trợ cho chúng ta.
Tôi không có một mái nhà che đầu và trời đã bắt đầu sang thu, nhưng chắc chắn tôi đã hành động theo đúng ý nguyện của Chúa là ở lại đây. Chính Người đã gửi tôi đến đây cho tôi trở nên trong suốt như một chiếc gương lớn trước con mắt Người.
Khi Lucie hỏi tôi cô có phải lấy cắp cho tôi cái gì để ăn và tôi sẽ đi đâu đêm đó, đi đâu các tháng sau và đi đâu mãi mãi, tôi đã mỉm cười với cô.
Hôm trước, tôi đã đói sua chỉ có một ngày nhịn, nhưng bây giờ tôi không cảm thấy muốn ăn nữa. tôi không còn sợ đêm tối, không sợ năm tháng mùa đông, không sợ tương lai.
Tôi hỏi Lucie định làm gì, bây giờ cô cũng nghèo như tôi. Cô hất đầu. Tang đã thay đổi thái độ đối với cô, ông ta coi cô như con ở và cô sẽ ở lại nhà mục sư để giúp và thay thế bà già Gedsken. Người ta còn tìm đâu được một người lấp chỗ trống khác?
Lucie mỉm cười với tôi một nụ cười giải thoát. Cô qùy trước bầu trời tối om, trên mảnh đất đen kịt này sao mà tế nhị, bé bỏng thế…
Tôi cúi đầu, số phận cô ấy đã được định rồi, còn số phận của tôi thì không\/
Lúc bấy giờ cô cầm tay tôi, mắt cô rụt rè tìm mắt tôi và cô thì thầm với tôi rằng đêm lạnh đã rủ xuống toàn đảo, tôi cần phải ẩn ở nhà cô, trong phòng của cô.
Thiếu nữ này đã run lên vì sợ khi nghĩ đến Tang và đã đỏ mặt thú với tôi về sự ngờ vực của mục sư, đã không xấu hổ tiếp nhận tôi đêm đó trong căn phòng nhỏ của cô.
Tôi đã trông thấy chúng tôi nằm ngủ má kề má trên một chiếc giường hẹp. chưa từng có đôi trai gái nào trải qua một đêm tân hôn kỳ lạ thế…Nhưng bỗng dưng tôi nhớ đến Tang, tôi nhớ đến ông ta như những người hạnh phúc nhớ đến có lẽ là một cái bóng đen trên đời này, và tôi vuốt nhẹ tóc của Lucie, tôi bảo cô:
- Lucie Camrath thân yêu, nếu tôi nhận lời thì cô sẽ cũng như tôi, bị đuổi ngay khỏi mái nhà của ông ấy. cô hãy nhanh trở về đi và tiếp tục nhiệm vụ của cô (Tôi dùng từ nhiệm vụ, nhưng tôi muốn nói là hạnh phúc của cô), cô đừng lo cho tôi, tôi biết tôi sắp sửa làm gì.
- Ông đến nhà Jacobus Uz à?
- Vâng, tôi đến nhà Jacobus Uz.
Tôi nói dối, nhưng điều đó là cần cho cô quyết định để tôi một mình trong bàn tay Chúa mà tôi những tưởng rằng đã khép lại.
Cô ấy nhìn tôi một lúc lâu, khẩn khoản nằn nì, rồi cô khẽ chạm tay vào tay tôi và lại đi xuống dốc trong bóng tối, trẻ trung và sống động như một con cim.. cô ấy đã đi tới nhiệm vụ của cô ấy.
Tôi ngồi lại không nhúc nhích, hai cánh tay ôm vòng lấy cái hòm của Eberhard. Cả trái đất đã biến mất, chỉ một mình ngọn đèn pha gửi ánh sáng đến cho tôi, con mắt của Chúa chiếu lên đống đá ngổn ngang mà ở trên đó, giống như con người đầu tiên, tôi đợi cái quyền duy nhất tôi có thể đòi hỏi: quyền làm theo ý nguyện của Chúa.
Những ánh sáng bé nhỏ leo lét trong làng lần lượt tắt hết. Mọi người đi nghỉ, ai ở nhà nấy. Hơi đêm biến thành giá trắng trên cỏ, nhưng đông lại thành hạt sương trên mặt tôi. tôi nghe thấy tiếng thì thầm của không gian bao la. Tôi chỉ có một mình cùng với Chúa.
Một ánh sáng chói đánh thức tôi, khi nhìn thấy nét mặt của một ông già, tôi tưởng đó là Eberhard lôi tôi ra khỏi giấc ngủ để cầu kinh buổi sáng trên gian áp mái ở phố Pistolet. Rồi hình như Chúa cúi xuống phía tôi. bây giờ tất cả các cánh cửa của thế giới này đã đóng lại với tôi. Người mở cho tôi những cánh cửa của thiên đường.
- Nhưng.. Trời ơi! Đây là Bek! – bác sĩ Orebro kêu lên, cặp mắt màu xám nhìn tôi kinh ngạc – Trời ơi!
Ông không nói gì nữa. Ông đặt chiếc đèn chiếu xuống khiến khuôn mặt và cả người ông biến mất trong bóng tối, ông xốc nách ngang lưng ôm tôi lên.
Tôi chưa khi nào trao đổi một câu gì với bác sĩ Orebro. Ông cũng không đi lại với Jacobus, chẳng với bà Éléonore, chẳng với Schwarzflugel hay Malene, lại càng ít tham dự các buổi tiếp khách của hoàng thân. Ông cũng sống tách biệt như người gác đèn pha, ở kia trong tháp của mình. chỉ có cô con gái của ông ở cạnh ông khi cô ấy có nhà.
Con người lỗi lạc và cô độc đã luôn luôn làm tôi sợ, nhưng bây giờ tôi phó mặc cho ấy ấy với tất cả lòng tin. Quả là tôi chẳng thấy gì hết ngoài hai cánh tay ông ôm lấy tôi và đưa tôi vào nhà ông, giống như những cánh tay của Chúa.
Suốt trong thời kỳ sau đó, tức là trong sáu tháng trời, tôi được điều trị tại nhà bác sĩ. Chúa phó thác ông cứu chữa cho tôi với tất cả trách nhiệm và cố gắng.
Tôi đã bị xung huyết ở phổi trong đêm ở Kirkebjaerg và sốt cao trong suốt nhiều tuần. Người ta bảo nếu bác sĩ Orebro không tình cờ đi qua đó nhìn thấy thì tôi đã chết rồi. Ai mà có việc gì phải đi qua đó giữa đêm khuya?
Tôi thì mỉm cười, tôi đã biết sự thật. việc mài giũa cho gương bóng liệu còn tiếp tục nữa không? Chúa đã thấy sự kiệt sức của tôi và đã cho tôi sáu tháng nghỉ. Người trả lại cho tôi cái tuổi ấu thơ được bàn tay mạnh mẽ của Eberhard bảo vệ, và đưa đến cho tôi tương lai được bàn tay Người bảo vệ. Người sẽ chỉ đánh thức tôi từ từ, từ từ, để nhắc nhở tôi rằng tôi không còn là một đứa trẻ và tôi còn ở quá xa chốn hoan hỉ vĩnh hằng.
Cuối cùng khi Người để tôi một mình với chính mình, Người đã cho tôi kỷ niệm về những ngày thiếu suy xét, và những ngày đó là thời thơ ấu thứ hai của tôi và là sự thanh thản đầu tiên của tôi ngay chính giữa những đau đớn và trừng phạt của cuộc đời.
Người dỡ bỏ cho tôi một phần gánh nặng, một phần sự đau khổ nảy sinh từ một sức sống quá mạnh bằng cách lấy đi một lá phổi của tôi và Người cho tôi sự yếu ớt và sự bình yên đối với người biết bằng lòng với cái tối thiểu.
Một hôm, tôi đã ra khỏi tình trạng nửa mê nửa ngủ nửa thức trong phòng của bác sĩ, dưới ánh sáng mặt trời chan hoà. Qua cửa sổ tôi nhìn thấy hoang mạc. trong hoang tưởng tôi thấy mình bị đuổi khỏi đảo, ném trở lại trên những đường phố lạnh giá của Copenhague, hay là trên một bờ biển xa lạ. Nhưng khi nhìn thấy hoang mạc, tôi đã cười vì biết rằng nó không ở đâu khác ngoài hòn đảo này.
Dần dần tôi nhớ lại những gì đã xảy ra với tôi và tôi nhìn xung quanh không chút lo âu. Tương lai của tôi được đảm bảo.
Nó được đảm bảo, đúng thế. Bác sĩ Orebro xác nhận cho tôi điều đó. Ông ấy chuyển cho tôi những trách móc nặng nề của Jacobus và ngay cả của hoàng thân, họ không thể hiểu được tại sao tôi lại không tìm chỗ nấp ở nhà họ, và ông ấy kể cho tôi rằng mục sư Tang đã gây ra phẫn nộ của cả đảo vì những hành động của ông ta. Không phải là xứ đạo chỉ ra cho ông ta (có bao giờ xứ đạo phơi bày cho một người nước ngoài biết đáy lòng của họ?) mà ông ta mỗi ngày nhận ra điều đó. Ông ta sẽ không ở lại đây lâu. Dù cho ông có khoẻ đến mấy, thì trận bão ông gâyra đã đập vỡ hết mọi trở ngại các địch thủ của ông gặp phải.
Tôi khiêm tốn lắng nghe lời quở trách và cho rằng những ân nhân của tôi có lý. Tôi đã xếp tất cả đồng loại của tôi đều như Tang hết, và tôi buộc vào họ mọi trách nhiệm về mọi bất hạnh của tôi và tôi đã từ chối mọi sự giúp đỡ của họ, tôi chỉ chạy đến với Chúa. Lương của tôi đã được trả trước, tôi không còn gì phải đòi hỏi ở Chúa, cũng không ở mọi người. Nhưng tuy thế Chúa vẫn gửi họ đến giúp đỡ tôi, và qua họ, chúa đã gửi đến tôi sự tha thứ và sự nâng đỡ của Người.
Jacobus đến hàng ngày khi được Orebro cho phép. Ông ngồi bên cạnh tôi, đọc cho tôi, chuyện trò với tôi.
Ông mang cho tôi một số sách. Những cuốn sách này đã làm tôi nhớ lai sách là gì đối với tôi trong tuổi hoa niên ngắn ngủi của tôi, rồi tôi còn nghe ông ấy nói nữa. Tôi lại hít thở mùi hương của bông hoa lam và tôi hiểu ra rằng chỉ có nơi nào không còn có hoa lam nữa con người mới có thể hoàn toàn bất hạnh. Tôi nghĩ đến Eberhard, đến bà Éleonore, đến Jacobus Uz và đến tôi. Chúng tôi đã vẫn còn sống với màu thanh thiên của hoa đã không bao giờ biến mất trước mắt chúng tôi và mùi hương của nó luôn luôn quyến rũ chúng tôi đến miền đất hứa, như một tiếng gọi ở bên kia.
Trong khi còn rất yếu sức, nằm tựa trên gối, tôi ngắm nhìn trời xuân bên ngoài và nghĩ rằng chẳng nơi đâu có tràng hoa tai chuột giăng trên đầu người. Những nhịp đập của trái tim tôi nói với tôi rằng những năm và những chục năm dưới vòng hoa này đã trôi qua như những giờ và những ngày.
Chưa bao giờ tôi nhìn hoang mạc và mặt biển sau nó như tôi đã nhìn từ trên giường bệnh của tôi trong nhà bác sĩ. Cuộc đời của tôi hiện ra cũng bé nhỏ giữa vĩnh hằng như hòn đảo giữa biển sóng. Nó đã xuất hiện hầu như không thấy được, và nó mất đi ở đấy cũng như thế. Tôi đã đi vòng đời tôi như đi vòng hòn đảo. đời tôi và hòn đảo, tôi biết chúng lắm, tôi biết chúng sẽ không thay đổi nữa, cả đời lẫn đảo. Đảo không thể rời khỏi chỗ của nó trên thế giới, tôi cũng không thể rời chỗ của tôi.
Sau khi nhận thức được tôi đã cắm rễ mãi mãi vào trong đất này, tôi cần phải hiểu rằng mọi người khác coi tôi là gắn vào hòn đảo một cách không hoà tan. Tôi thấy điều đó ở sự tử tế của họ, ở sự tức giận của họ. Thái độ của họ là do sự nghèo khổ hay sự giàu có của tôi? Hay là ở chỗ không còn một bến bờ nào khác cho tôi và mỗi một hòn đá của đảo này đã nhuộm màu vì máu tôi? Tôi bóp trán suy nghĩ, tôi không đòi làm chủ số phận của tôi nữa, tôi không còn xấu hổ là một người ăn xin nữa. Nhất là tôi biết tôi là một con người.
Niềm tự kiêu của tôi đã phẫn nộ vì tôi là gánh nặng cho bác sĩ Orebro cuối cùng cũng đã chịu khuất phục khi tôi biết rằng trường học đã đóng lại với tôi cũng như thế giới bên ngoài cũng đóng lại với tôi, vì trong lúc cố đứng lên tôi đã bị chóng mặt. Sự ốm yếu của tôi sẽ không rời tôi nữa, tôi đoán thế, mà sẽ làm cho tôi trở thành một kẻ ăn nhờ vào lòng từ thiện của người khác. Tôi khóc trong tay Chúa và những giọt nước mắt của tôi đã cuốn đi những gì còn lại ở ý chí của tôi.
Tôi nóng lòng chờ đợi người ta nói đã quyết định gì cho tôi và khi bác sĩ Orebro thấy tôi khá bình phục đã cho tôi biết rằng ngay sau khi tôi khỏi bệnh hiểu tôi sẽ được dọn đến ở trong ngôi nhà nhỏ dưới chân núi Sonderbjaerg mà tôi đang ở hiện nay. Nhà ấy bỏ trống, đợi hoài đôi nam nữ mà tôi trông thấy hôm tôi đến đang xây tổ ấm của họ, và biển cả đã từng ru tuổi thơ của họ bằng tiếng hát rì rào, cũng lại ru cho đêm cưới của họ. Vì bệnh tật của mục sư Schwarzflugel hai vợ chồng buộc phải cầu phúc tân hôn ở Jutland.
Tôi phải ăn bữa khi thì ở nhà Orebro, nơi tôi dạy tiếng Pháp và tiếng Đức cho cô con gái đang phải chờ chuyến tàu mùa xuân, khi thì ở nhà nhân viên thuế quan Vendelin cũng là nơi tôi dạy học cho bọn trẻ. Vả lại, người ta sẽ còn xem mục sư làm nhiệm vụ được bao lâu nữa. Tôi đã đọc được trong mắt nhìn của các bạn tôi rằng họ biết tôi sẽ không rời khỏi đảo nữa và tôi sẽ trông thấy ở đó còn diễu qua nhiều mục sư.
Tôi đưa mắt nhìn sang hoang mạc một lúc. Tôi không quên là cô Barbara Orebro biết tiếng Pháp và tiếng Đức hơn tôi và cho tới bấy giờ bà Léonore tự đảm nhiệm lấy việc dạy các con bà. Nếu bà để tôi thay thế bà tức là tiền của Jacobus đã có tác dụng vào đấy. tôi đoán ra tất cả cái đó, cũng như tôi biết rằng ngôi nhà của hoàng thân được cho tôi, đơn giản chỉ để ngăn chặn tôi chết.
Nhưng Chúa đã cho phép tôi sống sót trong đêm trên núi Kirhebjaerg khi tôi bị bỏ cho ý chí của Người, và tôi phải châp nhận cuộc sống Người cho tôi. Quay sang phía các bạn thân của tôi, tôi mỉm cười với họ và cảm ơn họ.
Một ngày xuân tôi đến ở trong túp lều này, và từ năm mươi năm nay nó đã là chỗ trú và chốn nương thân của tôi, khi hoàng thân còn sống thì được ở miễn phí, rồi phải trả một món tiền thuê rất thấp cho những người thừa kế của ông.
Tôi được sở hữu căn nhà dành cho cặp vợ chồng trẻ này. Một mình tôi thở trong gian nhà mà lẽ ra ở đó họ phải thì thầm với nhau những lời êm ái, vừa trao đổi những nụ hôn. Những bước chân cô đơn của tôi giẫm trên sàn nhà, noi lẽ ra những bước chân của họ vui vẻ khiêu vũ. Tôi ở đây tách biệt, mái tóc bạc dần, ở đây, lẽ ra là nơi có bọn trẻ con nô đùa. Đàng sau các cửa kính người ta chỉ nhận ra một mình khuôn mặt của tôi chứ không phải những khuôn mặt trẻ trung nở hoa!
Đêm đầu tiên, khi ở trước món của hồi môn lớn mà gia đình cặp vợ chồng trẻ để lại cho tôi với đầy đủ những đồ đạc cần thiết, nhờ có bảo lãnh của Jacobus Uz, tôi cảm thấy hơn bao giờ hết mình là một kẻ ăn mày, trước cái giường lộng lẫy này, tôi rùng mình khi nghĩ đến mình nằm ở đấy. Xung quanh tôi, tôi nhìn thấy những bức tường của căn phòng với cái trần thấp và những cái bóng mờ ảo của những đồ gỗ. Thế nào chúng chẳng hỏi tôi "Mày làm gì trong nhà chúng tao thế, người ngoại quốc, chúng tao đâu có phải được làm ra cho mày?"
Cái phòng tân hôn này đã là một nỗi đau khổ dai dẳng của tôi, tôi đã học thì thầm ở đấy trong một tiếng thở dài cuối cùng "Mong sao ý nguyện của mày được thành".
Tôi bắt đầu cuộc đời cô đơn, một mình với những đồ đạc lâu ngày đã trở thành của tôi. một mình với cái nhìn thanh bình ra đầm lầy dưới chân núi Sonderbjaerg, nơi không một sinh vật nào xuất hiện suốt trong ngày chỉ trừ một con mòng biển bé nhỏ lặn ngụp trong mặt nước im lìm của cái ao. Một mình với những còn cát có lớp lá đỏ lung lay trước gió, một mình với hoang mạc im lìm, một mình với những làn mây trôivà mặt trời thay đổi, một mình với tiếng hát của mưa và của biển cả, một mình với bản thân, một mình với Chúa, một mình với những đồ dùng nội trợ của cuộc sống hàng này. Một mình dưới bầu trời.
Tuy nhiên tôi không khi nào biết đến sự cô lập, bởi vì người làm bạn với ván sàn, với những chiếc kim đồng hồ, với tay nắm cửa, với đất nẻ xung quanh các cây duyên sẽ không bao giờ biết nỗi buồn bị ruồng bỏ. Trái tim người đó sẽ đập cạnh những trái tim bè bạn và không chút lo lắng, anh ta ngoảnh nhìn về phía vĩnh hằng. Đã không là một kẻ xa lạ trên mảnh đất này, anh ta sẽ không xa lạ trên trời.
Trong những giờ lo sợ, anh ta đưa mắt nhìn vào lưng chiếc ghế cũ nào đó và bình yên sẽ được cho anh ta như là lời đáp của Chúa Trời. Mỗi buổi tối anh ta có lòng Chúa làm gối và anh ta ngủ đi vì ơ/ đấy giấc ngủ thật vô tư.
Định cư trên đảo này, tôi trông thấy khắp nơi cảnh quạnh hiu bao quanh chúng ta, nhưng cho tới nay, nó vẫn còn bị giấu đi đối với tôi và với những người khác sống cùng với tôi. cánh cửa của tôi không mở vào những gian nhà khác, mà vào hoang mạc. Tôi ra khỏi nhà tôi để vào nhà Chúa. Cuối cùng tôi đã ở trong sự thật.
Cũng như cả đảo buộc phải tự cung cấp được thực phẩm trong suốt cả mùa đông, tôi đã tự hạn chế được mọi thứ. Và cũng như vậy trong sự im lặng của đảo và trong túp lều của tôi, tôi đã có thể nghe được cả tiếng động khẽ của gió, thấy được cả ánh lửa yếu ớt nhất, thì tôi cũng nhận ra trong tôi những sợi cảm xúc tinh tế nhất của đời tôi.
Ban đầu tôi ăn bữa xen kẽ ở nhà bác sĩ Orebro hay ở nhà bà Léonore. Nhưng về sau tôi chỉ ở nhà ăn cơm và ở nhà một mình với tất cả mọi việc khác.
Tôi đã học nấu ăn. Tôi muốn như thế. Không phải vì tôi trông thấy trong số những người khác đều là kẻ thù hay người xa lạ, trái lại tôi rất yêu những người đồng loại của tôi, và mặc dù nhút nhát, tôi đã không thể không đến với họ khi vừa thoáng thấy họ, như là dòng suối phải chảy ra biển.
Tôi tin là đã không bao giờ nói dối. Lưỡi của tôi từ chối nói dối như tránh thuốc độc, và tôi thích những điều kiện bên ngoài cuộc sống của tôi đáp ứng được những điều kiện bên trong, cũng như chiếc găng tay phải với với bàn tay. Tôi đã từ chối mọi hoạt động sáng tạo, nhưng trong cuộc sống eo hẹp của mình, tôi lại cần có sự hài hoà của nghệ sĩ.
Tôi chỉ có một mình ,vì thế những bữa ăn của tôi cũng phải đơn độc. đã rút bớt mọi thứ, tôi muốn tự nấu lấy những thức ăn cần thiết cho cơ thể tôi. Làm như thế, tôi đã vâng theo một tiếng gọi thiêng liêng.
Và tôi đã không nhầm khi nghĩ rằng đó là một việc làm giảm nhẹ cho cả bác sĩ Orebro cũng như cho bà Léonore khi tôi yêu cầu chỉ góp cho tôi một món tiền nhỏ. Tôi phải tập khả năng soạn lấy bữa ăn như Chúa đã muốn cho tất cả chúng ta ngay từ hồi nguyên thuỷ.
Các bạn tôi tất nhiên đều phản đối dự kiến của tôi, nhưng dù sao tôi cũng biết rằng sự có mặt của tôi là một gánh nặng cho họ, không phải vì giảm được ít chi phí mà vì những bữa ăn theo kiểu đó tôi đã làm trở ngại cho họ khi tham dự vào các buổi cầu nguyện của họ. Con người ai cũng muốn ở một mình trong hai việc làm hàng đầu đó. tôi đã ở một mình để ăn uống và cầu nguyện.
Điều lạ lùng là chính cô Lucie Camrath bé bỏng đã dạy tôi trong nghệ thuật nấu ăn, cái nghệ thuật đầu tiên của mọi thứ. Cô ấy vừa mất học được việc đó từ bà già Gedsken, và trong sáu tháng cô ấy đã thay thế được bà. Gedsken còn có nhiều việc bận rộn ở nhà người anh là Trenne Pilots, goá vợ, nặng gánh với cả một đàn con.
Lucie may mắn được ở lại làm người hầu trong nhà mà trước kia cô được đón nhận như một khách quý và đáng lẽ cô phải là chủ.
Cô còn dạy tôi nhiều việc khác ngoài chuyện làm những bữa ăn bằng sữa, yến mạch và bánh mì mà đảo và túi tiền của tôi có thể kham nổi, và các bữa ăn đó đã giữ sức khoẻ của tôi cho đến ngày nay. Lucie đã làm cho tôi hiểu được rằng tâm hồn là tất cả.
Tôi hầu như không nhận ra cô lúc gặp lại cô sau khi tôi khỏi bệnh, vả lại cô đã trở thành một con ở. Lúc bấy giờ cô ấy vừa bước vào tuổi hai mươi hai. Chiến thắng của cô ấy thật là nhanh.
Đầu tiên tôi hoảng sợ vì sự thay đổi ấy, nhưng những chốc lát ngắn ngủi mà cô có thể thoát ra khỏi bếp nhà mục sư để đến gặp tôi cho tôi biết là nếu cô đã vui vẻ nhận sự mất mát tài sản của cô thì cô cũng đã sung sướng vì sự biến mất tuổi trẻ và sắc đẹp.
Tôi đã thấy một nàng trinh nữ tỉnh giấc khi chết đi một tiểu thư. Đấng cứu thế cũng chẳng đã sinh ra từ Đức Mẹ Vô Nhiễm và cũng mặc quần áo nghèo khổ đó sao?
Trong khi cùng nhau ở trong bếp của đôi vợ chồng trẻ, tôi có cảm tưởng như là chúng tôi nấu món ăn duy nhất có thể làm no bụng con người.
Trong lúc cúi xuống hôn bàn tay vẫn còn bé nhỏ mặc dù lao động đã làm chai cứng của cô, tôi đã ôm hôn chính cuộc sống ngập đầy trong tôi bằng thứ bánh duy nhất thiết yếu sau này.
Thế là tôi bắt đầu chỉ đi đều đặn từ nhà bác sĩ đến nhà nhân viên thuế quan rồi quay về lại nhà tô. Sau khi dạy cho người khác tôi cắm cúi vào tự học cho mình. Và cũng như từ xưa tới nay, phần cuối của chương trình khó thực hiện hơn là phần đầu.
Ôi, kiến thức của tôi ít ỏi quá, khiến tôi nắm hiểu mọi thứ rất chật vật. Sao mà tôi vụng về và khờ dại thế!
Cũng như ngày xưa ở nhà trường, chỉ trừ cái gì là thuộc cá nhân, lịch sử, các ngôn ngữ, còn tất cả cái gì là sinh động và hoà với nhịp điệu của lời nói thì đều phù hợp với các sắc thái của nó. Nhưng còn ngữ pháp! Chưa nói đến các phép tính và toán học, cái lĩnh vực trừu tượng của trí óc. Tôi chỉ thấm nhuần được cái gì đó có những màu sắc cuộc sống. Chiếc đèn con của tôi cháy sáng trên bàn rất sớm trong đêm như để chào hội vui của những vợ chồng tân hôn. Nhưng nó chỉ chiếu sáng cho những cuộc vật lộn ban đêm của tôi với những biến cách, những con số và những phân số.
Sáng hôm sau, khi tôi lên đường, tay cắp những cuốn sách người ta cho mượn, đi dọc núi sonderbjaerg và qua đầm lầy ướt sương hay trắng giá, lòng tôi vui lên vì tôi đã biết chuẩn bị cho công việc của mình, hình như đêm hôm đó tôi đã phục vụ cuộc sống chung thuỷ như cặp vợ chồng trẻ đáng lẽ có thể làm. Tôi hít thở không khí ban mai với sự sảng khoái hơn bao giờ hết.
Công việc của tôi trong nhà nhân viên thuế quan không phải khi nào cũng dễ dàng. Không phải vì bọn trẻ không đáng yêu và chăm chỉ. Nhưng chúng sống hơn cả tôi trong cái thế giới ma quái của cuồng tưởng và đã phật lòng với tất cả những cây ngấy của thực tế. tôi gắn bó nhẹ nhàng với tất cả những đứa bé đó. Ở chúng, những cặp mắt đen lạ lùng dưới cái trán trắng bệch và những lọn tóc xoăn đen, sáng chói lên trong bóng tối tang tóc của căn phòng. Giọng nói réo rắt như tiếng sáo, chân tay ẻo lả yếu ớt của chúng làm cho chúng giống như những thần linh thông tuệ mệt mỏi vì đã chiến thắng tất cả mọi thứ, hơn là những đứa trẻ được sinh ra để học tập và để sống.
Chúi đầu vào các công việc khâu vá muôn thuở, bà Léonore có vẻ như một Norne ở trong bóng tối của căn phòng và của những khăn trùm đen.
Nhưng sao mà chúng tôi rét thế! Chúng tôi bị giá cóng lại trong cái mùa đông dã man này của đảo. Nếu bóng tối mà trong đấy chúng tôi gần như bị mù vẫ mò mẫm đục từng chữ trong những cuốn sách rách nát, không trắng ra vì hơi thở của chúng tôi, thì chúng tôi đã tưởng rằng chúng tôi đang ở dưới đất đen.
Hàng tháng tôi nhận tiền lương từ bàn tay của bà Léonore và tôi cầm lương trong bàn tay với cái nhiệt tâm trân trọng như khi cần tập bài phân số, cuốn sách ngữ pháp hay những bằng chứng của đời sống thực tại mà tôi muốn trốn tránh bởi vì tôi rất sợ nó. Việc Jacobus Uz trả công gia sư cho tôi không đủ làm yên lòng Vendelin, Jacobus Uz đã phải hứa với Vendelin là trong các buổi học người ta sẽ không lãng phí một tia sáng hay một chút hơi ấm mà ông ta đã phải vất vả đi kiếm. Vì thế chúng tôi rét cóng và mò mẫm trong bóng tối. Cái làm cho chúng tôi giá rét hơn nữa là bỗng đột nhiên thấy Vendelin đi qua gian nhà, mình lao đổ về phía trước trong khi chạy và mang theo tất cả khí lạnh của biển. Tuy nhiên, trong mắt ông chói lên một ngọn lửa làm cháy chúng tôi.
Bọn trẻ con chen vào nhau như những người chết bị kéo ra khỏi giấc ngủ bởi một linh hồn đau khổ, và bà Léonore liếc cái nhìn buồn bã và sợ hãi ra cái cửa mà từ sau đó tức thì vọng ra tiếng két của nắp đậy hầm rượu hoặc những tiếng kêu xé tai của đàn piano.
Về mùa hè chúng tôi được đền bù, chúng tôi hoàn toàn hấp thụ sức nóng của mặt trời và của cát. Lớp học diễn ra ở phía nam ngôi nhà torng chỗ trũng của cồn cát cột xemaphore, giữa bầu trời xanh thẳm.
Những học trò nhỏ nhất của tôi, trừ Steffen và Agnete, đều cởi trần nằm vùi trong cát, còn hai đứa kia thì mặc quần áo rất mỏng, cũng như bà Léonore, và cả tôi nữa. chúng tôi có cảm tưởng như chúng tôi đang ở trong lòng mặt TRỜi.
Khi nhìn những khuôn mặt non trẻ tinh tế ấy, những cánh tay hồng như những cánh hoa, thân hình dong dỏng cao của Steffen, mớ tóc bay của Agnete, cái bóng cao và nụ cười của bà Léonore, tôi cảm thấy chúng tôi đang bay lượn trên bờ biển trắng, như linh hồn các thần tiên trên sương sớm. Một bóng người bé xíu màu đen chạy ở đàng xa, dọc theo bờ biển để tìm những cái chúng tôi đã có, mà không nhích khỏi chỗ.
Ở nhà bác sĩ Orebro thì không thiếu ánh sáng, cũng chẳng thiếu sức nóng. Nhưng trái lại ở đây lại có cô Barbara. Và những bài học đó đã trở thành một nỗi khổ cho tôi.
Mặc cảm về sự dốt nát của tôi trong thư viện của bác sĩ, mặc cảm về sự nghèo khổ của tôi trong ngôi nhà ấm cúng và đầy đủ tiện nghi của ông ấy, mặc cảm về sự vụng về của tôi trước mặt ông ta, đã dận chìm tôi. tôi dám mạnh dạn cám ơn ông ấy đã giúp đỡ tôi trước khi ông ấy bối rối quay lưng lại với tôi. Nhưng trước mặt cô Barbara thì tôi đau khổ vì sự kém cỏi của thằng đàn ông.
Tôi trần trụi trước cô ấy trogn sự yếu đuối với cái ngực lép và thân hình gầy guộc. Cái nhìn lạnh lùng và xanh biếc của cô đã cởi trần tôi ra và sau một cuộc xem xét điềm tĩnh đã loại tôi ra ngoài ranh giới của người trưởng thành và thậm chí của tuổi già, liệt vào lãnh vực của trẻ thơ, rồi quay ngoắt khỏi tôi một cách dửng dưng.
Tôi thở phào nhẹ nhõm nhưng tủi thân như một người tự xét mình không hợp với chiến tranh.
Hôm sau, khi kéo ghế ngồi bên cạnh cô trước cái bàn để nghiên cứu các tác giả Pháp hay Đức mà chúng tôi chọn được khá nhiều trong số sách của bác sĩ, tôi lại một lần nữa cảm thấy sợ hãi. Bàn tay và đầu gối tôi run lên khi tôi nhìn thấy đôi vú căng phồng, cánh tay tròn và đôi mắt của cô. Cái nhìn của cô lạnh lùng sau những cuộc tắm biển liên tục và nóng rực sau những giấc ngủ dài trên các cồn cát, nơi cô vươn tấm thân Aphrodite tuyệt mĩ của cô. Cái nhìn có một sự khích động mà tôi không thể đáp ứng. Nó chà đạp tôi, làm tôi muốn độn thổ và tôi đã khóc khi nó quay đi khỏi tôi.
Tôi còn đau khổ hơn vì những quan hệ xảy ra giữa bố và con gái. Ông cầu xin sự dịu dàng của đứa con độc nhất và tai cô vẫn như điếc trước lời thỉnh cầu đó.
Bà vợ của bác sĩ đã chết trong một nhà an dưỡng, nơi bà chỉ sống để mà ăn. Và tôi nghĩ rằng trong những căn phòng đầy hấp dẫn về hoa và sách, nơi gặp gỡ của hai sự im lặng của biển và hoang mạc, nơi bác sĩ tìm sự yên bình và sự trinh trắng, tôi đã tham dự vào bi kịch thứ hai diễn ra giữa tinh thần và xác thịt.
Tôi đã học để yêu con người mà tính dè dặt câm lặng của ông đã làm tôi bé nhỏ lại và làm cho đảo lớn ra, cũng như một ngôi sao làm ta đo sự bé nhỏ của ta và bầu trời bao la làm cho ta sâu hơn.
Đứng trong tháp trên núi Kirkebjaerg, ống nhòm cầm tay, im lặng nhìn đường chân trời hàng mấy giờ liền, ông đã gây cho tôi ấn tượng ông là người tuần canh, người gác vĩnh hằng của trí tuệ.
Với lại, tôi thấy ông nài nì ở dưới chân người cô con gái này, nài nì cái xác thịt mà ông đã chối từ lại một lần nữa là của ông. Tôi thấy ông bị đẩy ra, không đến nỗi quá mạnh làm cho ông có thể phẫn nộ kêu lên là ông bị đuổi khỏi chính nhà mình, mà một cách thờ ơ uể oải như khi một cánh cửa khép lại trước một ai đó muốn vào nhưng người ta không biết ý định.
Tôi trông thấy ông đứng ở ngưỡng cửa, nghẹn ngào vì nước mắt câm lặng của hổ thẹn.
Mọi người đều biết rằng cánh cửa này luôn luôn đóng lại trước sự dịu dàng của người cha, nhưng lại mở toang cho tất cả những ai muốn nó. Điều bí mật mà Malene đã thổ lộ với tôi lúc tôi mới đến đảo và mọi người biết hoặc đoán đã được phát hiện ra với bác sĩ…
Tôi là thầy giáo của cô gái này. Tôi đã làm một nhà sư phạm thật khốn khổ! Hồi tháng chín cô ấy đã rời khỏi đảo để đi chuyến du lịch mùa đông hàng năm. Cô ấy đã khiến được bố cho phép khi mới lên tuổi mười bốn, theo gương của mẹ cô – để trả thù những ngày phải sống ở nơi hoang vắng này. Lần này hẳn là cô không trở về được nữa.
Trong lúc đó người ta nhận được tin là cô Barbara Oerbro đã bị giết trong một nhà chứa ở Copenhague, nơi cô thường trú từ hồi cô mười bốn tuổi, và cô là một hoa khôi của nhà chứa.
Người ta tìm thấy cái thân hình tuyệt mỹ của cô chỉ được phủ bằng tóc của cô, một sợi thừng đẫm máu xung quanh cổ. Nhưng nét mặt cô vẫn giữ vẻ yên bình của một sinh vật đã từng thu hút bao nhiêu tâm hồn lo lắng – cho đến khi một bàn tay báo thù đã báo thù chúng.
Chúng tôi thấy bác sĩ Orebro, người cả tin vào bao nhiêu điều dối trá, bị ngã lăn ra, lá thư vẫn cầm trong tay. Sự cầu xin của ông đã được chấp thuận. không bao giờ ông còn luyến tiếc xác thịt.
Hoặc là, đến lúc cuối cùng, tim ông bị bắn bởi một mũi tên của tư tưởng cho rằng vợ và con gái ông sẽ không bị giam hãm như thế trong sự phản ứng đối với ông và với tư tưởng của ông nếu như ông không một mình đi tìm cách cứu vớt tinh thần trong cái tháp canh của ông, quên đi những sự những dịu dàng của xác thịt.
Mắt tôi hãi hùng nhắm lại, nhưng tôi mở ra để cười với Lucie Camrath, với Agnete, với tình yêu mới của tôi, tôi biết rõ ràng ai muốn sống đều phải chết.
Tôi phải kiếm tiền ở nơi khác bù vào món mất đi do cái chết của Barbara và của bác sĩ. Tôi không thể bỏ qua một xu nhỏ. Và tôi tìm được một nguồn thu nhập mới hay nói đúng hơn là tôi không tự tìm được nó, nếu không có một hỗ trợ tình cờ.
Một hôm, theo thói quen tôi đi dạo dọc theo bờ biển và trông thấy Vendelin, lúc đó không chạy nữa mà đứng im như thể ông ấy đợi tôi. Ông ấy làm gì ở đây thế? Tôi bước chậm lại, gần như vì sợ. Chỉ có một mình chúng tôi, tôi chẳng nhìn thấy ai ở xa như thế. Rồi tôi mỉm cười, ông ấy chẳng tìm thấy ở tôi một chút một xíu vàng nào hết!
- Ông Bek này – ông nói bằng giọng khàn đi vì gió biển – ông hãy nhìn cát xem – và ông ấy thọc cây gậy của ông xuống cát – Người ta dùng nó rất nhiều ở lục địa để thấm khô chữ viết. Tại sao ta không nhặt nó lại và gửi cho thuyền trưởng Timesson mang đi?
Rồi chào tôi theo một cử chỉ máy móc, ông lại lên đường, cái gậy dưới nách như ông đang muộn giờ, hay ông đang chạy trốn?
Tôi quỳ xuống, ngạc nhiên và nhận thấy cát đen dưới cát trắng. Quả thật đã có cái gì kiếm được ít tiền rồi đây. Chính hòn đảo đã cho tôi cơ hội này trong lòng khô cằn của nó và do Vendelin làm trung gian. Nhưng tại sao ông ấy lại không nắm lấy cơ hội đó cho mình?
Tôi đã tìm thấy điểm sáng trong tâm hồn tăm tối của ông. Về sau khi hốt đầy cát vào những túi nhỏ của tôi giữa cảnh quạnh hiu lông gió ở vịnh Kho hàng, tôi mơ rằng cát của tôi biết đâu lại chẳng thấm khô mực cho một công thức toán học quan trọng nào đó.
Nhưng hơn cả những trước tác bất hủ, hành động của Vendelin bỏ lại cho tôi khám phá của ông đã chỉ cho tôi thấy một dấu hiệu của cuộc sống vĩnh cửu, một chứng cớ của quan hệ họ hàng giữa chúng ta với Chúa, một chứng cớ rằng chúng tôi là con của Người.
Có lần bất ngờ Vendelin đi qua trong khi tôi đang chọn lấy cát, ông đã quay đầu đi và chạy nhanh hơn. ở đây cát trắng lẫn với cát đen, ở trong tâm hồn cũng thế.
Ngày nay người ta không dùng cát để viết nữa, nhưng nếu những dấu vết sẫm của Vendelin cần phải khắc giữ lại trên bãi biển của hòn đảo thì tôi sẽ mang đến tận ngai của Chúa áh sáng hành động của ông ta.
Con gái Agnete của ông ấy bây giờ đã hai mươi tuổi là hình mẫu của thiếu nữ. Cô ấy không giống như Lucie, bị quắt lại vì phải làm việc hầu hạ vất vả. Dáng người thon thả, ngây thơ, trong trắng, cô nở ra như một bông hoa huệ dưới ánh mặt trời.
Khi cô đi qua, người ta tưởng như nhìn thấy cảnh thanh bình và tinh tế của một ngày lễ nở ra giữa đám quần áo rách rưới và mùi cá tanh hôi trong đời sống hàng ngày. Khi cô hiện ra, tế nhị và mảnh dẻ, ở chân trời mù sương, chúng tôi thấy hình như giấc mơ của chúng tôi đang về với những làn mây, x' sở của mọi ước mơ.
Và sau đó vài giờ cô trở về theo núi Norbjyaerg, người dân chài đang nhặt đá và vợ anh ta lùa bò xuống đồi để vắt sữa trong lúc bọn trẻ con chơi ở chân tường nghĩa trang, tất cả mỉm cười với cô, biết ơn vì cô đã không ở lại nơi mặt trời đi đến.
Và khi nhìn thấy cô ở trên ngưỡng cửa nhà ông nhân viên thuế quan, bàn tay úp che mắt cho khỏi chói sua khi đi ra từ bóng tối bên trong, chúng tôi lại tưởng là hình bóng của cha cô, cái bóng mà tất cả chúng tôi theo dõi chạy trên bờ biển buồn tẻ.
Trên miền đất băng giá của chúng tôi, đó là một bông hồng run rẩy của đêm Noel. Cho đến một ngày, một gót chân độc ác đến chà đạp lên hoa và cây thánh giá đen tang thương dựng lên ở trên kia, ở trên đảo…
Mục sư Tang, theo như Jacobus Uz kể lại cho tôi, đã là mục tiêu sự hung hăng của đảo vì cách cư xử đối với tôi. Nhưng, với ông ấy thì còn cần phải có cả một cuộc biến loạn để đánh đổ mới đáng.
Ông ấy đi với bước chân nặng nề, gót đặt chắc chắn xuống đất và với vẻ tự tin, ông ấy tiến lên, đầu ngả về phía trước, tay cắp sau lưng.
Dưới bóng rộng của vành mũ, cái nhìn từ đôi mắt xanh xám của ông ấy đâm vào người ta như một mũi thép nhọn. Môi trên đỏ tươi và rớm máu, mím chặt xuống môi dưới.
Hình như ông cho thái độ của ông đối với tôi là bình thường và ông cũng không tìm cách xin lỗi cô Lucie về sự thay đổi chó má trong cách cư xử đối với cô ấy. Cũng như ông tỏ ra luôn luôn mang huy hiệu chức trách của mình, những suy nghĩ của ông đều mang dấu vết của công giáo.
Lòng tin là tất cả và cho phép tất cả.
Về phần tôi, không bao giờ tôi đi nhà thờ. Mối hận thù của tôi không có chỗ ở đấy. Nhưng người ta nói những lời thuyết giáo của Tang rất đáng giá, cả về hình thức lẫn sức mạnh. Cư dân của đảo vẫn theo thói quen ngồi trên những chiếc ghế chạm khắc và không rời mắt khỏi mục sư, hình như ông ấy chính là Chúa vẽ trên bức tranh ở bàn thờ. Chúa đi trên nước và chìa tay cứu vớt họ, để lôi họ lên khỏi vực và cho họ sống trên bờ vực mà ở đấy mỗi gia đình đều có một người mất tích.
Nhưng không ai đến thăm ông ở ngoài nhà thờ, khi người ta gặp ông trên đường, bệ vệ và đen thui, với những con mắt thép trên khuôn mặt đen thâm, người ta chào ông mà không cười.
Do ảnh hưởng của nỗi khiếp sợ và những ngờ vực, làm nảy sinh ra ở họ cái vực thẳm luôn luôn há miệng xung quanh đảo của chúng tôi, người ta đã tìm hội giao du với Jacobus Uz, giống như hồi những năm cuối đời của Schwarzflugel.
Người ta nói cuối cùng ai cũng biết, như Jacobus Uz đã mơ thấy, rằng khi tội lỗi của thời trẻ tuổi của ông và lòng can đảm của con người sắp sửa đẩy ông vào cõi mênh mông không đáy đó, thì bàn tay kéo những người chết đuối lên bờ đã giống với bàn tay của Chúa trên bàn thờ hơn là bàn tay của mục sư Tang. Ông mục sư đã giáng Lucie Camrath xuống hàng con ở và đã vứt tôi ra cửa để làm cho tôi chết trên các cồn cát.
Nhưng các mục sư chẳng phải đã để tang Chúa với bộ áo đen, và bằng lời nói, họ chẳng phải là những kẻ kế tục sự nghiệp của Người đó sao?
Với bộ áo thày tu mặc trên người và giấy bổ nhiệm cầm tay, Tang cảm thấy được Chúa xếp đặt. Khi bỏ chiếc áo ra, ông bỏ luôn cả bổn phận nhưng không bỏ quyền của mình.
Ông giảng Thánh Kinh ngày chủ nhật, còn sáu ngày khác ông ở nhà, cửa đóng lại với bất kỳ ai muốn chuyện trò với ông.
Không một người nào, ngay cả với Lucie, biết được ông làm gì trong bốn bức tường của ông. Vả lại, cũng chẳng ai để ý theo dõi vào đấy.
Ngoài ngày chủ nhật ra, ông ấy đã chết đối với mọi người cũng như Gia Tô giáo hội của ông.
Jacobus Uz với thân hình dị dạng đã thực hiện sứ mệnh của mục sư và tôn giáo. Ông đến thăm người bệnh, người khổ, người nghèo. Cửa của những túp lều tranh giờ đây mở ra với ông.
Một hôm cái tin không thể ngờ được lan ra trong chúng tôi. Agnete Vendelin sắp kết hôn với Tang – và ngay trong tháng tới.
Vậy là bỗng nhiên ông mục sư đã ở chính giữa chúng tôi như nhà thờ ở trên cao kia, và chúng tôi hiểu rằng không ai có thể đuổi ông ấy đi khỏi chỗ của ông ấy.
Tôi đã chạy đến nhà ông nhân viên thuế quan ngay sau khi nghe Lucia với thì thầm tin đó vào tai tôi vừa run lên như thể cô ấy đang sống lại nỗi kinh hãi cũ hoặc là cô ấy trông thấy một người khác xin hiến thân chuộc tội để cứu cô ấy.
Khi vào trong ngôi nhà tối tăm vẫn toát ra mùi tảo dạt, mùi iốt và ván mục, tôi không dám hỏi gì cả. Nhưng khi Agnete đi qua căn phòng với dáng đi bay lướt thì thôi không còn phải hỏi gì nữa. Trên khuôn mặt của cô, ở bước chân chỉ hơi chạm đất của cô tôi thấy rõ cô sắp rời chúng tôi nay mai để bay về những đám mây của cô. Đôi mắt cô sáng lên, lấp lánh như mắt những người tuẫn đạo.
Bà Léonore ngẩng đầu phía trên mớ đồ khâu vá quần áo trẻ con của bà. Khi con gái biến mất, thẳng người và lặng lẽ dưới vành tóc đen nặng nề của cô, bà mẹ giống như một xẻng đất cuối cùng ném lên đầu người chết, đã oà lên tiếng khóc
- Ông ấy muốn thế - bà thì thầm, trong lúc bối rối bà đặt bàn tay vào tay tôi – Chồng tôi muốn thế. Ông ấy bảo như thế chúng tôi sẽ có được những món tiết kiệm. Ông biết tại sao… - và bà mỉm cười xin lỗi.
- À, vâng, chúng tôi biết, tất cả chúng tôi đều biết rằng Vendelin hy sinh con gái để thoả mãn dục vọng của mình. Cô ấy sắp chết vì chuyện đó. Cha bán cô, vị hôn phu mua cô..
Hòn đảo đã đè chặt lên con người khép kín trong chức vị của mình, cái chức vị mà lẽ ra ông phải chiếm được từ trong mơ ước của chúng tôi.
Cũng như người tiền nhiệm của ông đã lấy mất ngọn lửa của chúng tôi, chính ông đã rắp tâm ăn cắp tài sản của Lucie, bây giờ phải tự hạ mình bỏ tiền ra để chiếm hữu một cô vợ. không ai còn nghi ngờ rằng Vendelin không những đã tiết kiệm được những đồng xu của mình mà còn kiếm thêm được nữa.
Còng Agnete? Ai biết hơn cô ấy là cha cô đã đói và khát đến mức nào? cô có ước mơ đốt lên được ở trong ngôi nhà tối tăm một chút ánh sáng cho mẹ và các em cô không? Cô đã học tập tự sưởi ấm theo gương của bà Léonore bằng lửa của trái tim mình chứ? Ngày hôm đó khi cô đi qua căn pòng, tôi trông thấy trong mắt cô ánh sáng của sự điên cuồng đốt lên bởi những băng giá của vịnh Saint Patrick và biển đêm với những ngọn sóng sủi bọt, nở ra trong bóng tối của ngôi nhà thành một nguồn sáng rực rỡ, nguồn sáng của người tuẫn đạo.
Chúng tôi vẫn luôn luôn chờ đợi đến một buổi chiều, cô cháy lên vì mộng, biến mất vào mặt trời lặn.
Nhưng ngày mà mục sư đưa vợ về sau đám lễ ở Grenaa và được dắt bởi ông ta, cô ấy đặt chân lên tảo dạt đóng băng trên bờ, chúng tôi cũng hiểu rằng đối với cô ấy, đám cưới này chỉ là sự tiếp tục của trò cô diễn ở nhà mẹ cô. bây giờ cô ấy sắp thức dậy.
Cô ấy trắng hơn bọt sóng sau co6 và hơn sương giá ở chân cô. Và cũng như tuyết bao quanh hòn đảo, bông callas trắng – hoa của người chết – đội trên đầu Agnete như đầu một người chết đuối.
Trong mắt cô chỉ chói lên một ham muốn, ham muốn cái chết. Tất cả chúng tôi nghiêng mình trước cô ấy đang tiến lên đứng thẳng và hoá đá.
Bộ mặt của mục sư đỏ au dưới những sợi lông xanh nhạt, đôi môi mấp máy điên cuồng và ông siết chặt cánh tay vợ.
Mặc dù cái lạnh đâm buốt, chúng tôi nhận thấy những ngọn lửa ham muốn của họ, của cô ấy và của ông ấy, và chúng tôi đoán rằng bờ biển của chúng tôi đã đốt cháy cả hai người bọn họ.
Đêm đó nằm trên giường của đôi vợ chồng trở về sau lễ ban phước hôn lễ, tôi cảm thấy ánh sáng của căn phòng Dorete cạnh giấc ngủ của tôi và tôi đã ngủ ở đây trong sự bình yên hạnh phúc.
Ngọn lửa đốt cháy hai má của mục sư, ngọn lửa loé trong mắt của Agnete, ngọn lửa hoà sáng trong ngọn đèn dựng thẳng lên trời của tôi và tôi cảm ơn Chúa đã cho tôi ngọn lửa hồng của cuộc đời và ánh sáng trắng của cái chết.
Song, tận đáy lòng, tôi khóc cho Agnete, trinh nữ hy sinh trong giờ phút đó. Tôi thấy hình như trông rõ những bàn tay to lớn đen thui tóm lấy Dorete, ánhsáng đã tắt đi trong đêm…Dầu sao, tôi cũng biết rằng tôi có thể giơ cho cô ấy ngọn lửa không tắt mà tôi mang từ phòng của cô ấy và ngọn nến đó trong khi cháy sáng ngày đêm sẽ không bao giờ bị thiêu huỷ.
Trong ngọn lửa này chúng ta sẽ tìm thấy nhau trong vĩnh hằng sau cuộc chạy rước đuốc trong dông tố của cuộc sống trần gian, tôi sè đưa nó nguyên vẹn lên trên kia.
Bỗng dưng tôi thức tỉnh, còn mỉm cười với kỷ niệm mối tình của tôi. một tiếng kêu, tiếng kêu của trái đất cất lên ở đàng xa…nhưng lại rất gần..ngay phía bên kia cửa sổ phòng tôi.
Tôi vội đứng lên ngay và thoáng thấy một hình trắng trên tuyết phát lân quang.
Một hồn ma? Rồi đến một hình tối và đồ sộ chạy đàng sau. Và lại lần nữa tiếng kêu xa và rất gần đó.
Tôi có một mình ở cái nơi mà đôi vợ chồng trẻ đã tìm chỗ thanh vắng, và trong chốc lát tôi nghĩ, như là tôi đã nghĩ khi nhìn thấy Agnete và mục sư rời bến, đến gia đình mới cặp bến trên đảo và đến cuộc giết người vợ mới trước bàn thờ. Nhưng cuối cùng tôi tỉnh giấc hoàn toàn và chạy ra cửa.
Khi mở cửa ra cái đêm đông khắc nghiệt đó tôi thấy tận trên cao sườn núi Sonderbjaerg tuyết phủ, Agnete trong chiếc áo ngủ dài thướt đang chạy trốn, cánh tay giăng ra, mớ tóc bay tung.
Cô ấy đi chân không, và mục sư chạy theo sau, làm cho bay cả cái đuôi áo bộ đồ đen của ông ấy.
Mặt trăng tròn đã gần chạm đỉnh đồi cụt và Agnete bay tới hành tinh sáng đó, người kia đang đuổi theo.
Tôi không động đậy và từ ngưỡng cửa đang đứng tôi chỉ hơi ngước mắt về phía cánh đồng tuyết, đành phải câu nguyện, cầu nguyện…
Tuy nhiên tôi thấy những bàn tay của cô ấy trong ánh trăng, một đám bụi tuyết bốc lên xung quanh những bàn chân cô rời khỏi mặt đất, và cô lao vào trong màu trắng lấp lánh.
Cái bóng đen của mục sư co rúm lại như thể bánh xe của mặt trăng đã chạy lên ông ấy. Nhưng ông ấy quay ngược ra đàng sau túm áo của Agnete, kéo cô về phía ông ở trên bờ cuối cùng của hòn đảo, rồi ông thụt lại cùng với cô trong một chiếc giường tuyết.
Nhảy một phát, ông lại đứng lên và ôm cô vào hai cánh tay, ông lao xuống dưới sườn đồi. Chiếc áo ngủ dài lê thê của Agnete và tóc dài của cô bay phía sau họ, tuyết sáng lên…Hay đấy là những linh hồn hạnh phúc tìm cách giật lấy cô em của họ từ những bàn tay của thế gian này?
Ông đi qua rất gần chỗ tôi với con mồi khiến luồng gió đẩy tôi về phía khung cửa và tôi có thể thấy được những giọt mồ hôi sợ hãi toát ra trên trán ông, trong lúc mắt ông đỏ ngầu hầu như lồi ra khỏi tròng.
Khuôn mặt tái mét của Agnete ngoảnh về phía tôi. Cô đã bất tỉnh, mồm há hốc, tóc xoà ra, có vẻ như người chết đuối.
Họ biến đi như một đám mây về phía làng, trong tuyết và ánh trăng.
Và tôi ở lại một mình, trán áp vào băng giá của lanhtô cửa.
Bây giờ tôi biết tôi đã xin gì trong lời cầu nguyện của tôi khi bóng trắng của cô đổ vào trong ánh sáng trăng và bụi bạc xoáy tròn ở chân cô. Nhưng đất đã chiến thắng co6 và chiến thắng những lời thỉnh cầu của tôi.
Mắt tôi ngẩng lên chiếc đĩa tròn mặt trăng, nó lượn, lấp lánh phía trên đỉnh núi phủ tuyết. nhưng ước mơ của chúng tôi không tìm được giải thoát trong cái vực thẳm phát sáng, nó bị giam hãm trong chiếc quan tài chật hẹp của nhà mục sư mà tôi nhìn thấy những đường viền tối om giữa tuyết trắng của Kirkebjaerg.
Chỉ mình tôi trong số dân đảo dự vào cuộc trốn chạy của Agnete khỏi cái giường tân hôn và khỏi chồng cô. Nhưng tất cả chúng tôi đã thấy Agnete ở nhà mục sư. Chúng tôi đã thấy cô bước đi trên những lối mòn dọc bờ biển của chúng tôi, chúng tôi đã thấy cô trên các ngọn đồi của chúng tôi, mình cúi xuống, hai bàn tay siết chặt vào ngực và đầu nghiêng sang một bên.
Cô ấy rời khỏi các túp lều của người nghèo và người ốm để đến nhà mẹ và các anh em trên bờ biển rồi trở về nhà mục sư. Không ai nghe tiếng bước chân cô khi cô đến hay đi. Và ngày chủ nhật, cô ấy đi ra khỏi nhà thờ bên cạnh mục sư, chúng tôi rùng mình bởi vì ông ấy không trông thấy là ông ấy nắm trong tay mình bàn tay của một người chết. Chúng tôi nhìn theo cô, có phải đây là lần cuối cùng không? Vĩnh biệt Agnete, vĩnh biệt!
Cô ấy sắp chết, bà già ở Sonderbjaerg, Maerged Duunm nói thế hôm mà chúng tôi thấy cô ấy đang có thai, khi nhìn bóng cô thay đổi hiện ra trên bầu trời xanh mùa xuân.
Tôi đã tham dự vào cuộc chạy trốn đầu tiên và vô ích của Agnete, và tôi lại được làm chứng trong mưu toan thứ hai may mắn của cô.
Tôi đang tìm những bông hoa tím trong cỏ úa mùa đông, trên núi Sonderbjaerg và ở trên đấy tôi nhìn thấy Agnete lê bước dọc theo bờ biển, thất bại vì một trọng lực mà nhờ nó mọi sinh vật mới có cuộc sống.
Không hiểu vì sao, tôi ném cho cô ấy những bông hoa tím của tôi. Nhưng tất cả đều tản mát ra xa Agnete, tung ra mặt biển màu lam như màu hoa. Tôi run lên, cảm thấy giờ đã gần.
Tôi chưa kịp trông thấy một trong số những đứa trẻ giống như những bông hồng đang chơi trên bãi đá bị rơi xuống nước và bị sóng cuốn đi thì Agnete đã chạy lên trên các tảng đá mặc dù thân thể nặng nề, cô nhảy xuống biển sóng.
Ngay cả trước khi thấy cô biến mất trong biển màu hoa tím mà tôi muốn bọc cho cô, tôi đã biết rằng cô được giải thoát.
Từ trên núi Sonderbjaerg tôi lao xuống rách toạc cả bàn tay và quần áo, suýt gãy cổ, và chạy đến chỗ lũ trẻ đang kêu. Agnete nằm trong sóng sủi bọt, chết rồi vẫn còn ôm chặt vào ngực cô đứa bé đang rên nhưng đã được cứu sống. một nụ cười dịu dàng của người mẹ soi sáng khuôn mặt cô. Cô đã được giải thoát khỏi sinh linh bé bỏng cô mang trong lòng, khỏi vật cống trên mặt đất.
Tôi cúi xuống để bế đứa bé ra khỏi vòng tay cô và đặt nó nằm trần truồng và run rẩy giữa những đứa khác, trên cát nóng, rồi tôi vòng hai cánh tay mảnh dẻ của Agnete lại và quấn xung quanh ngực co6 bằng tóc của cô.
Cái nhìn của Chúa Trời đặt vào chúng ta, cái nhìn đó trông thấy tất cả trên mặt đất và cho phép từng tạo vật của Người hoàn thành luật lệ của Người. Trong khi nhớ lại cuộc hôn nhân của bản thân mình, giờ đây tôi chứng kiến sự ra đời của Agnete và tôi vuốt trán cô như một cô em.
Trong đêm đó, cái cây cuối cùng của Khu Rừng Lam, cây đoạn của Sonderbjaerg đổ xuống như một sợi dây vang lên bài ca mùa xuân. Nó đổ xuống trên bãi biển trong tiếng kêu của chim di cư, trong tiếng ầm của sóng, dưới những làn mây bay, đúng chỗ mà Agnete đã cho nó cuộc sống. Bằng thân cây đổ đó chúng tôi dựng lên cây thánh giá trên đồi để kỷ niệm cô gái đã nở hoa như bông huệ cuối cùng của khu rừng.
Cái chết của Agnete hình như là phát súng kết liễu cho bà Léonore và các giấc mơ của bà. Người đàn bà đi theo quan tài của con gái đội vòng hoa cúc gai đồi cát và hoa guốc bê, loại cây duy nhất có thể tặng hoa sau giấc ngủ đông. Người đàn bà còn sống tiếp hai năm nữa dưới mái nhà tảo dạt rất giống với người đã nghe tiếng hát của chim vĩnh hằng và đã sống rất lâu dưới sự che chở của vòng tròn ma thuật, của những tiếng ngân nga. Bất thình lình bị mặt trời của thực tại đập vào, người bị mê say rơi xuống thành bụi. Chỉ mình bảy người ngủ đã có thể có một bộ mặt như bà – họ đã già đi hai trăm năm để mơ mộng.
Ngta không đánh thức giấc mộng của bà Léonore.
Hai năm sau, tôi ở bên giường hấp hối của bà. Xáo trộn bởi cái lạnh toả ra trong phòng, tôi khóc nức nở khi nghĩ đến cuộc sống này kết thúc ở đây. Nhưng bà chìa bàn tay ra với tôi, mỉm cười với vẻ ngạc nhiên và đôi mắt nhìn lên những xà nhà nặng nề sắp đổ, đầu lại toả vầng hào quang vì sự loé sáng của giấc mơ, bà lắng nghe tiếng thì thầm của biển ở bên kia các cửa sổ thấp phủ đầy sương giá. Rồi bà nói rất khẽ:
- Ông khóc, vì sao vậy? Vì cuộc đời của tôi? Nhưng nó đã hạnh phúc. Bóng tối, cái đói, cái rét? Ông nói đến cái đó, nhưng tôi không nhận thấy nó. Tôi đã yêu chồng tôi, nhưng tư duy của ông ấy không cùng chúng tôi. Ông ấy luôn luôn chạy đến vận may mà ông ấy ước mơ đạt được. Tôi đã yêu ông ấy vì sự đeo đuổi dã man đó. tâm hồn tôi đi theo ông ấy trên những chiếc cánh lửa. như thế tôi đã tạo ra sức nóng, tôi tạo ra một tổ ấm cho tôi và các con tôi. Cái chết của Agnete? Vâng, lúc đó tôi đã có cảm giác rằng tôi đã đốt con gái tôi trong ngọn lửa thiêu huỷ tôi. Nhưng sống, nghĩa là đốt, và bây giờ tôi sắp đi gặp nó trong ngọn lửa. Jacobus Uz sẽ lo cho những đứa bé khốn khổ của tôi.
Bà mỉm cười, rượu của Chúa đã làm bà say.
Tình hình diễn ra như bà đã nghĩ. Jacobus Uz đưa bọn trẻ về nhà ông. Còn về người chồng, ông hầu như hơi ngừng cuộc chạy lại một chút để nhìn về chỗ họ đã biến mất, bà và Agnete.
Cũng như trong ngày đưa tang Agnete, trong ngày chôn cất vợ ông đã tiến hành cuộc đi chơi xa thường nhật một cách nhớn nhác hơn bao giờ hết.
Ông ở lại một mình trong ngôi nhà to, trống vắng bên bờ biển. Ban đêm chúng tôi nghe nổi lên trong bóng tối tiếng than xé lòng của đàn piano, nó không la hét chống những người chết mà chống lại mặt trời vĩnh viễn. Hàng ngày chúng tôi thấy ông tiếp tục cuộc đi săn dưới mặt trời buổi sáng hoặc dưới mặt trời buổi chiều.
Ông ăn tại nhà Jacobus với các con ông, nhưng trong khi nuốt từng miếng ông vẫn không thôi nhìn ra ngoài cửa sổ như một con chim trong lồng. Rồi ông cầm mũ, chạy nhanh ra ngoài và bắt đầu lao đi trên bờ biển.
Một ngày mùa đông ông không xuất hiện trong bữa ăn tối. Mãi đến chiều hôm sau, nhóm người đi tìm mới thấy ông ở cách một dặm ngoài biển đóng băng, chết vì kiệt sức, hai cánh tay vươn tới chân trời.
Phải chăng ông đột nhiên nhìn thấy băng giá đã mở rộng hòn đảo ra và hòn đảo hoảng hốt vì cảnh quạnh hiu, đã vượt ra khỏi ranh giới để vươn tới đất liền? Và ông đã như hòn đảo cố thử trốn thật xa khỏi cái tôi của mình?
Và bây giờ ông nằm đấy, bị kẹp giữa những khối băng của hoàng hôn đang toé tia ra giữa mặt băng mênh mông như một sự nở hoa thần diệu đủ màu sáng chói đốt cháy người chết bằng cái cầu vòng của nó. Rồi mặt trời biến mất trong băng giá, và chúng tôi, vây quanh người chết, thấy ông nằm torng chiếc quan tài đóng băng, ánh sáng giấc mơ điên rồ của ông tắt ngúm mãi mãi. Ông ấy bé nhỏ và xám xịt, là một con ruồi giữa mùa đông.
Nhưng hãy hỏi những người dân ở đây. Họ luôn luôn trông thấy Vendelinm nhân viên thuế quan, chạy dọc bờ biển, giống như ham muốn không được thoả mãn của họ.
Chúng tôi không bao giờ tìm thấy tài sản của ông. Các ngăn kéo và các tủ của ông đều trống rỗng, cũng như ngôi nhà còn lại. vậy ông đã có khi nào tiết kiệm được một xu từ đồng lương khốn khổ của ông hay ông đã bí mật chôn nó đi?
Kho của, trái tim cháy bỏng của Vendelin, vẫn luôn ở đâu đấy trên đảo chăng?
Nếu khi nào có ai đó bước lên trên nó chắc hẳn anh ta sẽ cảm thấy sức nóng qua lớp cát. Nhưng cũng không ai dám đào nó lên. Nó sẽ đốt cháy bàn tay anh ta như chính than củi của địa ngục.
Tôi thì, tôi lại đào chính kho báu của Vendelin trong các chữ cổ vạch trên cát viết. Tôi biết ông đã chôn nó vào đấy. nhưng chỉ có Chúa và tôi biết giải các ký hiệu kỳ dị đã bị xoá mất đó.
Những đứa con của Vendelin khi đã lớn, quá tuổi học với tôi rồi, đều lần lượt được gửi lên đất liền để, trong hoạt động chúng sẽ quên hòn đảo và những ước mơ của chúng.
Jacobus Uz đã cứu tất cả chúng nó trừ Steffen, đứa lớn nhất. Nó đã sống quá lâu giữa những con ma của ngôi nhà, nó đã chơi bời quá nhiều và nhớ quá nhiều về băng giá trên các dãy núi của Saint Patrick.
Nó ở Copenhague về, bị thương nặng, như một con chim mà các con khác không chịu thừa nhận nó ở trong đàn với chúng và mổ cho nó đến ngã quỵ. Trong khi nó suy mòn tại nhà Jacobus Uz, trên chiếc giường vợ chồng kê cạnh cửa sổ mở ra biển, tôi đọc thấy trên nét mặt nó những câu hỏi kinh hoàng mà cuộc sống đã đặt ra ở kia và tôi cảm ơn Chúa đã cho tôi sự cứu độ tại đây.
Ôi, ở đây không còn sự cứu độ cho Steffen, nó đã bị chảy máu vì những vết thương của nó. Nhưng trong khoảnh khắc cái chết, nỗi kinh hoàng đã thế chỗ cho sự lôi cuốn đến hạnh phúc, giấc mơ đã lấy lại đứa con của mình. Steffen đã ra đi với một nụ cười.
Chúng tôi đặt nó xuống đất, bên cạnh Agnete và bà Léonore. Bây giờ cả ba yên nghỉ trên đất của đảo. Ở nghĩa trang các ngôi mộ đều trơ trụi nhưng trên mộ của ba người nở rất nhiều hoa, những mảng hoa. Không có ngôi mộ nào được chăm sóc chu đáo như thế, người ta nói rằng toàn đảo đã chôn vào đó những gì là quý giá là không thể nào quên của đảo.
Mục sư Tang không qua năm ở đây. vì người ta không duyệt đơn chuyển ccoo (hơn nữa chẳng có mục sư nào xin được đơn này) ông đã tự ý bỏ đi giữa mùa đông, thuê một ngư dân Thuỵ Điển đưa ông vào đất liền. Về sau ngư dân kể lại rằng suốt trong lúc vượt biển, Tang ngồi quay lưng lại phía đảo như thế núi sonderbjaerg và Agnete từ trên đỉnh núi nhìn bao quát khắp mặt biển đã đe doạ ông.
Cuối cùng khi điểm trông thấy cuối cùng của đảo biến mất sau đường chân trời, nét mặt mục sư đỡ căng thẳng được một chút, và đến đêm thì thuyền đến bến Grenaa, ông vội vàng rời thuyền ngay như một kẻ chạy trốn và không nói không rằng đi vào trong bóng tối của bãi biển.
Ở đấy ông trở thành một ông hoàng của nhà thờ. Người ta chấp nhận ông hành động rời bỏ bổn phận trong cơn hoảng loạn thần kinh gây nên bất kỳ cái chết của vợ và sự hung hăng của dân đảo. Ông tìm được một nhiệm sở khác, lại cả một người vợ thứ hai giàu có. Chẳng bao lâu ông trở thành giám mục rồi giáo sĩ và tự mình phân chia các chức trách. Hiện nay người ta kể tên ông trong số những á thánh đã đi theo dấu vết của Chúa Jesus. Chuyện đã rồi, ai có thể biết rõ hơn ông, ông mục sư, để trở thành sự vinh quang của giáo hội này ai là ecclesia trimphans!
Và bây giờ chúng ta nó vài lời về Malene, người sống sót của mục sư Schwarzflugel. Cô từ Grenaa trở về, thắng lợi trong cuộc đấu tranh với những người thừa kế của chồng, cho xây cái nhà, hiện nay người nhân viên bưu điện đang ở. Nhưng cô lại là người cô đơn hơn bất kỳ ai trên đảo. không ai nhớ là quả phụ của mục sư ngày xưa tên là Malene Tabor, và không ai dám giương mắt nhìn cô.
Còn về bản thân cô, người ta tin rằng lời hứa cô đã nói với ông già còn ràng buộc cô, và ông ấy đòi hỏi cô vẫn phải là của ông ấy, có lẽ còn hơn cả trước đây, trong cái lạnh bất biến mà ông ấy đã ngập vào. Nếu không thì sao cô ấy lại ở đây?
Có phải đất liền không muốn nhận cô, cả gia đình và những người quen biết của chồng không nhận, có phải cô đã trở thành người xa lạ đối với đảo và với dân đảo?
Khi cô tiến lên, mình mặc áo choàng, đầu đội khăn lụa đen, đến tận chiếc ghế đầu của nhà thờ, và trên quyển thánh ca cô chắp hai bàn tay đeo găng chìa ra ngoài măng sét áo có riềm đăng ten, rồi sau đó, cô bước ra khỏi nhà thờ trước tất cả mọi người, trở về một mình tới căn nhà mái đỏ, không ai nghĩ tới Malene ngày xưa. Malene ấy – trong chiếc áo vải thưa trên thân thể trần và nóng cháy đã đi qua giữa mọi người như một ngọn lửa. Mỗi người kính cẩn cất mũ nghiêng mình trước người vợ góa của mục sư, và nếu ai bạo gan nhìn lên đôi má tái mét màu nâu của cô thì anh ta hoảng sợ lùi lại như là anh ta trông thấy đã quắp vào đó một bàn tay của bộ xương. Khi cô khuất đi sau cánh cửa, người ta tưởng như thoáng thấy bàn tay róc hết thịt đó đã đóng cửa cho cô, vợ của người chết.
Tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục đi gặp cô. tôi đã không bị ngọn lửa của cô đốt cháy, tôi không sợ cái rét bây giờ đang toả ra từ người cô.
Và tôi biết rằng nỗi sợ hãi lộ ra trong đôi mắt to nâu của cô là ở tận nơi sâu kín nhất lòng cô. Cô ấy đã học được trong vòng tay của ông già quá cố, trong cái hang băng giá của người chết, rằng ngay cả trong dòng máu nóng nhất cũng không trụ lại được cái lạnh của tuổi già. Trái lại, cuối cùng nó cũng đông lại mà thôi. Cái lạnh vẫn luôn có tiếng nói cuối cùng.
Cô ấy ngồi câm lặng bên cửa sổ của cô, hai mắt dán vào hoang mạc, người quấn kín bằng khăn san trong lúc hai bàn tay tìm chỗ trốn, tay nọ trong tay kia, bởi vì chúng không còn có thể tìm ở đâu nữa.
Tôi nói chuyện với cô, vừa ngập ngừng, về những chuyến đi, về những xứ sở của mặt trời mà tôi nhìn thấy torng các ảo ảnh của sa mạc. Nhưng cô lắc đầu. cô ấy không biết ngôn ngữ của những vùng đó. Không, không phải, cô ấy sẽ không có khả năng học được các ngôn ngữ đó. Cô chẳng đã quên cả tiếng nói của chính mình đó sao?
Lúc bấy giờ ông Sivert Grunau cập đến đảo chúng tôi và giải thoát cho cô.
Một chiều, chiều cuối cùng năm ấy, khi đang đợi tin tức từ lục địa và chúng tôi tụ tập tất cả trên bãi biển, một chiếc thuyền nhỏ đã đưa đến một người lạ. Ông ta đến một mình dưới bầu trời đe doạ và mặt biển âm u có vẻ như muốn nối liền vào nhau ở bên kia chiếc tàu độc nhất ở ngoài khơi để chôn chúng tôi cùng một thể trong ngôi mộ vĩnh cửu.
Người lạ run lập cập trong những khăn quàng lông to cộm. Ông ấy có những va li nặng bằng da và đi ủng da màu vàng. Cái mũi nhọn dô ra dưới mũ cát két. Ông dắt mũi hai con chó đỏ hung cứ chen sát vào chân ông vừa rú lên về phía hoang mạc và các quả đồi.
Chúng tôi biết ông đến để ở lại đây, vì cũng như hoàng thân, ông bị đuổi đi, nhưng không phải nhà nước đuổi, mà bởi những người nhà của ông. Ông thuộc về một gia đình thống trị của vùng và đã làm mất danh dự gia đình khiên gia đình bắt buộc ông – điều kiện cuối cùng trước khi gia đình dứt khoát từ bỏ phải thề đi ra đảo và không bao giờ rời khỏi đảo.
Ông ấy sẽ ở trong một cái chái của căn nhà mới dho bà Schwargflugel xây dựng.
Chúng tôi, những người mà bến bờ này là quê hương, quê hương mà chúng tôi không thể không gắn bó, mà chúng tôi không thể bỏ qua, chúng tôi thấy người đàn ông đến kia có vẻ như là đến bến bờ của sự trừng phạt và đói nghèo. Nhưng chúng tôi vẫn chào ông ấy với một nụ cười. Dù sao, ông ấy vẫn là một sứ giả của đất liền, một món quà người ta tặng trong mùa đông hiu quạnh này.
Nhưng ông ta giữ vẻ không tin, rụt cổ vào trong cổ áo và leo lên chiếc xe của hoàng thân đang đợi ông. Chúng tôi thấy xe khuất đi sau những con đê, trong khi chúng tôi trao đổi những cái nhìn lén lút. Biết đâu chúng tôi lại không vừa mới đón nhận Quỉ sứ lên bờ của chúng ta, theo như lời của Greje Staven, ngư dân và người giữ đồ thánh đang dòm ngó dưới cái mũ vải dầu của anh ta. Và quả thế, chúng tôi sắp được biết ông ta là ai, người mà chúng tôi đón tiếp ấy mà – tôi sắp được biết điều đó như những người khác. Vậy tôi có nên thú nhận tội lỗi của thật, tôi, người được Chúa đánh dấu ban ơn siêu phàm? Có nên thú nhận rằng tôi đã không cưỡng nổi sự cám dỗ, trong lúc tội lỗi đó đã bỉêu lộ qua nỗi lo sợ trên khuôn mặt trẻ của Steffen, và đã trả nó về để chết trên cát trắng của tuổi thiếu thời?
Vâng, tôi là con trai của Eberhard Sebastien Baden, tôi đã sống bên ông trong nhà chứa, tôi đã thấy hào quang của sự trong trắng chói lên trên những khuôn mặt bị tàn phá trong lúc tiếng nói được thanh lọc trong các bài thánh ca như miệng của những người được chọn trong lễ Thánh Thần mở ra để ca ngợi Chúa Trời, tôi đã được lôi ra một cách kỳ diệu khỏi cái gác xép áp mái và khỏi toà soạn báo nhơ nhớp, được giải thoát khỏi mọi tội lỗi nhục nhã…
Tôi đã tìm được nơi trú trong sự quạnh hiu của sóng biển dưới bầu trời bao la, tôi đã được Chúa dành cho sống ở đây như trong những ngày đầu tiên của tạo hoá, tôi đã được Eberhard dành để trở thành á thánh của Chúa, thế mà tôi lại bị ngã ngay ở đòn đánh đầu tiên của kẻ thù của Người.
Tôi đã tự hỏi nghìn lần, sao chuyện như thế có thể xảy ra được. Tôi đã như thế thì lmà sao có thể phạm tội được. Tôi đã suy nghĩ, tìm trong sự thừa kế vô ý thức, trong những bản năng tuổi thơ của tôi, trong những giấc mơ đêm của tôi, trong những ham muốn thoáng qua của tôi, một lý do cho sự điên rồ của tôi. Nhưng không ở đâu tôi tìm thấy tôi bị hơi rượu mạnh, làm cho bầu trời và mặt đất của Chúa thành một sự hỗn độn đáng thương và bản thân tôi thành một con vật mù quáng và thấp hèn. Tôi không tìm thấy ở tôi một ý muốn nào đòi hỏi một màu sắc trần thế nào khác với sự tô màu của Chúa.
Tôi đã rất yếu ớt, nhưng thể chất và tinh thần trong sạch. Dù là con của tội lỗi, tim tôi yêu sự tinh khiết cũng như thân thể tôi đòi hỏi phải sạch sẽ.
Và, tuy vậy, trong hơn sáu tháng tôi là bạn của Sivert Grunau, vết thương hở ở cạnh sườn của cả một gia đình, kẻ mang thuốc độc như là một con rắn, như cây tầm ma.
Phải chăng đó là một sức lực chưa biết đến, chưa dùng đến của cái xác thịt không bao giờ được thoả mãn, phải chăng đó là con vật khát máu đòi trả nợ? Tuổi trẻ của tôi báo thù chăng?
Tôi đã cảm thấy hối tiếc. Hôm nay, tôi không hối tiếc gì hết, bởi vì tôi không làm hại ai, cũng không làm hại tôi. Trong khi đánh mất mình, tôi đã nhận được cái khôn ngoan của sự xấu hổ.
Sivert Grunau, như tôi đã nói, ở trong cánh trái ngôi nhà của Malene. Nghe đồn hắn ta đã bố trí nội thất với một sự xa xỉ lạ lùng.
Khi đi theo lối đi phủ cát người ta trông thấy sau con đê bằng đá lởm chởm những cây guốc bê, những tấm màn nhung, những tượng nhỏ, những bình và khói xanh của thuốc lá.
Khi gặp người lạ đó trên con đường đã bị hư hỏng vì bao bước chân giẫm lên, giữa những phế thải của cá, nhiều người trong chúng tôi quay lại, ngạc nhiên rằng con người là kẻ bị loại bỏ, bị gia đình gửi đi biệt xứ.
Ông ta bước những bước ngắn và thận trọng, cái gậy có cán bạc cầm tay. Râu cằm nhét vào trong cổ áo lông, ông ấy nhả vào gió làn khói thuốc và ngâm nga một bài hát tục tĩu.
Thanh niên hít mùi thuốc và mùi hương đắt tiền, đã bị lây nhiễm, họ cố thử tìm l.ai những giai điệu mà họ đã nghe được. Hai tay đút túi, họ nhìn khoảng không bao la xám xịt như thể họ trông thấy một ảo ảnh xa vời nhưng hấp dẫn. Họ kéo lê đôi chân đi guốc bỗng dưng bị nặng trịch vì cát, và mắt họ, sau khi trông thấy ảo ảnh, đã bộc lộ một sự chờ đợi u buồn. Nhưng những người già nhớ đến hồi hoàng thân đến đảo, và những tháng dài thất vọng của ông thì lại lắc đầu "Theo tôi" họ nói "ai mà nhận cuộc đày biệt xứ nhẹ nhàng như thế thì chỉ là một kẻ đại bất lương".
Greje Staven, cả tuần là ngư dân, chủ nhật là người giữ đồ thánh, cau mày càu nhàu:
- Khỉ thật, sao mà hòn đảo chúng ta lại cứ phải làm cái chuồng phân cho người ta vứt vào những thứ mà người ta không muốn giữ ở nơi khác?
Các cụ già còn nhớ lại cả những chuyện kể của bà goá Abel về những người bị bệnh dịch hạch, và họ nghiến răng xấu hổ.
Vậy ra chúng tôi chỉ là bãi chứa các bệnh dịch và các vết thương của lục địa hay của các tàu thuỷ hay sao?
Tôi không hiểu vì sao mà tôi – một anh giáo viên nghèo và nhút nhát (vì từ khi mục sư Tang bỏ đi, người ta đã trả lại lớp học cho tôi) lại trở thành thân thiết với nhà quý tộc này! Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đã bị lôi kéo về phía ông như tất cả thanh niên của đảo, và cho đến cả những người bài ngoại nữa – có lẽ tôi còn bị lôi kéo hơn…
Chẳng phải ngày xưa, dù với những đôi giày không đế, tôi đã đạp chân lên các hè phố mà những đôi giày vecni bóng của ông chỉ lướt qua nhẹ nhàng? Chẳng phải tôi đã có trong máu sự ham thích rượu, thích xa xỉ, và, tôi có thể nói thẳng là ham mê cái đẹp?
Và ông ấy là sivert Grunau đẹp đẽ, với mớ tóc đen, cái trán thấp, đôi mắt màu ghi xanh, giọng nói khàn khàn, những cử chỉ lén lút của bàn tay. Ở chỗ ông ta, trong nhà của Malene, lại đủ thứ tơ lụa màu vàng mờ, gỗ gụ, pha lê, nước hoa, bánh ngọt, rượu vang làm quên đi nghèo khổ, gió mưa, cát bụi.
Tôi ít khi đến đấy. Grunau, mặc dù rất cần giao du nhưng chắc hẳn không quên hoàn cảnh khiêm tốn của tôi. Hoặc ông ấy là kẻ nhẫn tâm, cảm thấy ghê tởm khi nhìn người khác hưởng thụ sự giàu có của mình.
Tôi gặp ấy ông ấy lúc đầu ở nhà hoàng thân, sau đó trong các túp lều của ngư dân và cuối cùng ở quán rượu. Mắt, răng, những chiếc nhẫn của ông làm tôi loá mắt vì ánh hào quang, buộc tôi phải cúi đầu. tôi đã đánh mất tôi rồi.
Tôi nhớ lại dư luận về ông và lý do ông đến đảo là để làm gì chứ. Ông ấy đã rượu chè, chơi bời, làm điều sai trái, và thậm chí, như người ta bí mật thì thầm, thì ông ấy đã rắp tâm đầu độc một người phụ nữ mang thai với ông. Tôi buồn nôn trước mùi hơi thở của ông, khi thấy cái cười giả tạo của ông, các cử chỉ ủy mị của ông để mà làm gì chứ? bởi vì tất cả những cái đó và cả đến những quan hệ thân mật với hoàng thân mà ông đã lột bỏ, chỉ càng cuốn hút tôi hơn vào những cái lưới của ông.
Cái tai hoạ mà may phúc tôi vừa thoát khỏi đó tôi thấy kinh hoàng nhưng vẫn lấy đó làm một đồ chưng diện.
Tôi nhớ lại ông ngồi sát liền tôi, chạm ly chúc sức khoẻ tôi với một nụ cười dâm dục và ép tôi cho say.
Ban đầu cơn say làm tôi sung sướng , giải thoát cho tôi mọi gánh nặng, ngay cả gánh nặng nhất. Rồi đến cơn say tàn ác, nó giải thoát mọi bản năng xấu của tôi vốn giấu kín như những chiếc kim lông nhím, và cuối cùng là cơn say lè nhè của súc vật.
Chuyện đó kéo dài cho đến một chiều khi tỉnh lại cơn say thì tôi thấy mình ở trong quán rượu.
Tôi cần phải nói vài câu để các bạn hiểu tôi.
dĩ nhiên là tôi hiểu cái quán rượu đó ở đâu. Tôi đã trông thấy rõ mái nhà đen kịt của nó, đã nghe thấy những tiếng kêu thoát ra từ đấy. Sự tồn tại của quán như thế nào, những người thỉnh thoảng đến đấy đã cho tôi biết, họ bị ám ảnh bởi một sự điên rồ, một mối hoảng sợ, một nỗi khiếp đảm về hòn đảo và về cuộc đời. Bạn của họ đưa họ về nhà giống như những xác chết. Thỉnh thoảng có những người khác cũng bước vào quán uống một ly khi cái lạnh quá khắc nghiệt hoặc khi bỗng dưng một nỗi nhớ nhung vô cớ chiếm cõi lòng họ.
Nhưng mặt khác thì chỉ có một vài ngư dân ngoại quốc nhất là những người Thuỵ Điển hay lui tới quán này. Vì thế xưa nay người ta vẫn gọi nó là quán rượu của người Thuỵ Điển khi tình cờ người ta nói đến và cũng chỉ nói đến trong trường hợp cần thiết. chúng tôi đi qua trước quán với vẻ thờ ơ không biết đến nó.
Có một hôm thì lại khác, bà goá Abel kể cho tôi, bởi vì từ quán này đã xuất phát ngọn lửa cướp mất của đảo những người đàn ông cũng như nó đã thiêu mất của đảo cả khu rừng. Đó là vào hồi Khu Rừng Lam. Nhưng cũng như người ta bất đắc dĩ mới nói đến cái quán, người ta đã tránh nhắc den cái kỷ niệm đó.
Hồi bấy giờ mọi người đàn ông đều mải mê với rượu. một đêm mùa đông một chiếc tàu chở đầy những thùng rượu bị mắc cạn trên bãi biển. Những người dànd ông rét thấu xương, đã uống ngay ở miệng rót, để sưởi ấm, và phát điên lên, bỏ mặc những người bị nạn. Lũ người la hét đó đã lôi những thùng tô nô về tận nhà họ qua sa mạc. Đêm tối và bão tố hoành hành trên đảo, nhưng những người đàn ông vẫn uống. Họ sống giàu có và sung sướng trong những xứ sở giàu có và sung sướng . Cuối cùng, thùng rượu cuối cùng cạn hết và họ thức dậy vào buổi sáng, cát và tuyết đầy trong mắt, nhưng rượu đã làm họ quên hòn đảo của họ mà họ không nhận ra được nữa.
Những ngư dân đi biển tùy theo cái ý thích độc đoán của họ, để mặc cho rừng và thạch thảo lấn chiếm hết đồng ruộng. Đàn bà và trẻ con sống lay lắt đói khổ trong lúc những người đàn ông râu tóc bù xù chen chúc nhau trong quán rượu. Lão chủ quán, tên Hinke Gjonge đáng nguyền rủa, kích thích họ uống thêm, thêm mãi, và tất cả của cải trên đảo rơi vào túi hắn hết cả.
Cuộc chè chén vừa mới bắt đầu thì đã dừng lại đột ngột, nhưng nó cũng lấy di cả Khu Rừng Lam.
Một hôm, khi những người đàn ông đang làm huyên náo hơn bao giờ hết bên những bình rượu thì thình lình một tiếng kêu cất lên từ bên ngoài. Họ trông thấy một ánh sáng đỏ lờ mờ qua các cửa kính. Trong nháy mắt cánh cửa mở ra và một tiếng gào "Khu Rừng Lam! Khu Rừng Lam!" mọi người đổ xô đến phía lò lửa cháy rực.
Ngay cả không khí cũng rực cháy những làn mây loé lửa ngọn. Đám cháy hình nh phun ra từ mặt biển, dựng lên phía mặt trời, dìm mặt trời vào trong những ngọn sóng khói. Súc vật chạy trốn, đàn bà trẻ con than khóc, tụ tập xung quanh những người đàn ông.
Nhưng người đàn bà đã đốt đám cháy lên vẫn bình thản, tay cầm nùi rơm nhìn tất cả mọi người. Đó là một người đàn bà mà cả ba đứa con cũng như những đứa con của những chị em bất hạnh của bà đều chết đói trong khi những người đàn ông uống rượu.
Chỉ trong một giây những người đàn ông đã tỉnh rượu. nhưng không còn là vấn đề dập tắt được ngọn lửa nữa. Họ bèn dẫn vợ con đến đầm lầy và xa hơn nữa, đến chỗ những chiếc thuyền rồi ra biển. Từ ngoài khơi họ trông thấy Khu Rừng Lam bao bọc bầu trời bằng tán lá vàng và bao bọc chân trời trong những cành cây của nó. Không ai nói gì hết. Chỉ đến khi họ trông thấy ngọn lửa trên đỉnh núi quây xung quanh người đàn bà trẻ mà không một sức mạnh nào có thể nhổ ra khỏi đất, và chồng cô ngã sụp dưới chân cô thì một tiếng thở dài thoát ra khỏi những lồng ngực. Những chiếc thuyền run rẩy trong nước đỏ lên vì đám cháy, nơi hiện ra những sừng hươu, những đầu thỏ và cáo. Chim chóc hoảng sợ xoay xung quanh các con thuyền.
Mãi đến ngày thứ ba người ta mới chèo thuyền về bờ dưới làn mưa tro. Khói toả ra rất xa trên mặt biển. Phải chăng bắt đầu lại cuộc sống trên đống than hồng hôi thối giữa sóng biển.
Từ đó, không một người đàn ông nào mải mê rượu chè, bởi vì họ không quên ngày họ trông thấy đảo cháy, họ cũng không quên chỉ vì sai lầm của họ, người đàn bà mới đốt lên đám cháy.
Giữa tiếng xào xạc của cành lá, trong tương lai người ta chỉ nghe tiếng huýt gợi nhớ của bão cát.
Bà goá Abel nói chuyện đó còn dài trong nhà bà ở sau nhà thờ. Bà ấy thì thầm rằng lão Hinke Gjonge, tên chủ quán xấu xa đó bị cuốn lên không trung với những ngọn lửa, hắn bay theo khói trên mặt biển và không bao giờ người ta trông thấy lại hắn nữa.
- Không bao giờ nữa, trước khi.. ha! Ha! – bà già nói – Ông đã trông thấy người chủ quán chứ? ông nghĩ hắn là ai nào? Có ai có thể bảo là hắn từ đâu đến, và hắn đã sống ở đâu xưa kia? Hắn đã đến đột ngột cách đây vài năm. Nhưng để làm gì? không có Khu Rừng Lam nào mọc lên trên đống tro nữa, nhưng sự lãng quên lớn lên nhanh hơn một cái cây. Ông hãy chờ đợi một tí, một tai họ mới đe doạ hòn đảo. Hạnh phúc cho ai sẽ không trông thấy cái xấu chiến thắng lần thứ hai.
Ngày hôm sau cái ngày mà bà goá Abel nói với tôi như thế, chúng tôi đã trông thấy bà ấy treo cổ ở dây kéo chuông. Đó là sáng ngày đầu năm và trong năm đó Silert Grunau cặp bến đến đảo chúng tôi. Một vài người già bèn cho rằng nếu người chủ quán rượu Thuỵ Điển là Hinke Gjonge, thì Sivert Grunau ít ra cũng giống hệt con tàu mắc cạn trên bãi biển và hắn làm chúng ta say vì cái thuốc độc nước ngoài của hắn ta.
Thanh niên chiều nào cũng chen nhau xung quanh hắn ở quán ra, bị quyến rũ bởi nụ cười và tiền của hắn. hắn trả tiền, những người khác uống, rồi chơi, lại trả giá cho những gì họ đã uống làm lợi cho hắn, và còn hơn thế nữa. Nhưng hôm sau, họ lại bị hắn lôi cuốn như trước.
Và bỗng nhiên, tôi trông thấy chính tôi ở giữa đám người say sưa đó.
Hoàng thân với mới mở một trong những bữa tiệc, bữa tiệc cuối cùng và ồn ào nhất. ngọn lửa ngủ im từ lâu dưới tro tàn của tuổi già và sự cô độc được Grunau làm sống lại còn ném ra một lần nữa ánh sáng khốn khổ và chập chờn.
Đến cái ngày tháng tám nóng như thiêu đó, Grunau đã ở trên đảo được chín tháng. Hoàng thân không quan tâm gì đến ý kiến phản đối của Hans Hofman, đã cho bày bàn lên giữa sa mạc.
Chân bàn lún sa6u trong cát, nhưng những chai rượu hảo hạng, đồ bạc, hoa quả bày trên mặt làm cho nó giống như một loại quả tưởng tượng phun ra từ lòng đất.
Chúng tôi ngồi xung quanh bàn, giữa khoảng rộng úa vàng và nóng cháy bên bờ biển xanh, dưới bầu trời xanh.
Hofman với bộ mặt bí hiểm sau cặp kính không bộc lộ tí gì về sự buồn giận của mình đã xào nấu các món trên cái bếp lò lộng gió toả ra những hạt đỏ tía như một cây quả lửa. rất cao trên đầu chúng tôi, những con chim bay vút một phát lên bầu trời rồi từ từ rơi xuống.
Ngoài xa sáng lên cây cột trắng của đèn pha giống như một cây nến khổng lồ đốt lên cho lễ hội. tiếng biển rì rào vẳng đến khe khẽ và bất biến.
Chúng tôi, những người ở đây, nhìn nhau. Chúng tôi thấy hình như chúng tôi đang ở ngay giữa trái tim phập phồng của đảo.
Nhưng cái nhìn của Grunau làm chúng tôi quên ngay bầu trời và tiếng hát của sóng, và chúng tôi quên cả bản thân và mùi hương của loại quả nhiệt đới đang toả ra cho chúng tôi.
Chúng tôi chạm ly chúc sức khoẻ lẫn nhau, nâng ly uống mừng bốn phương trời. chúng tôi ném ly của chúng tôi lên mặt trời, leo lên ghế vẫy khăn cứ như chúng tôi muốn bay lên với những con mòng trắng, với những làn mây bạc.
Bác sĩ Hagedorn, người được cử đến với chúng tôi chỉ vì ta6.t hay uống rượu bét nhè, và để cho những cuộc đi săn và cuộc sống ngoài trời giúp ông loại trừ thói hư đó, bất thình lình cúi xuống phía trên bàn và bắn một phát súng qua khoảng giữa đầu hoàng thân và người bên cạnh. Ông đã thoáng thấy một con thỏ hoảng sợ vì tiếng ồn ào. Và trong khi con vật chạy trốn, Grunau lẹ làng leo tót lên bàn. Đứng giữa những cốc chai, hắn gọi Hans Hofman:
- Chạy lên trên ấy, bắt lấy nó, quay nó lên và chúng ta chén ngay.
Nhưng khi Hans, lẽ ra phải trả lời, lại đưa mắt nhìn hoàng thân sau cặp kính to tròn. Philip Gebhard 29 quỵ xuống bất thình lình, bị đau bởi cái nhìn của anh đầy tớ và lời cảnh cáo của thần Chết. Cái đầu già nua của ông rơi xuống chỗ những chiếc đĩa vỡ và rượu lai láng.
- Các người nình xem – Grunau thét, đùi giạng ra, vừa chỉ ngón tay – Hoàng tử tớp sóng đỏ
Tôi chưa khi nào uống say bét nhè như chiều hôm ấy. Khi hoàng thân sụp xuống tôi ngẩng đầu lên rất khó khăn và trông thấy mặt trời hạ xuống sáng rực đàng sau núi Sonderbjaerg, trên chiếc giường mây. Hình như nó đầy cả bầu trời, to lớn biết bao.
Tôi lảo đảo thử cố đứng lên. Cái gì cháy ở đàng kia vậy? Giữa lúc ấy Grunau vừa nắm cánh tay tôi vừa kêu rằng người ta đã đưa hoàng thân về nhà ông ấy, nhưng tôi phải đi theo ông ấy cùng với các thanh niên.
Tai chẳng nghe thấy gì, mắt lóa chẳng thấy gì, tôi để người ta lôi về tận làng qua những đất đá sụt lở trên các ngọn đồi cát trên truông, khắp nơi chỉ thấy toàn ngọn lửa đỏ.
Tôi chỉ tỉnh lai khi một cánh cửa đóng lại với đám cháy, khi tôi hít thấy một mùi đất nồng và khi tôi thoáng nhìn thấy một bộ mặt hoàn toàn lạ, mặc dù tôi đã quen biết tất cả mọi người trên đảo. Tôi thức dậy, nhưng không biết mình đang ở đâu.
Đó là một bộ mặt ghê gớm, một con người ghê gớm mà tôi trông thấy trước mặt tôi. một khối vàng nhạt không có sợi lông nào cưỡi lên hai miếng dồi có hai viên thịt nổi lên. Hai quả cầu bất động sừng sững nhìn tôi giữa những khe hở màu xanh của chúng. Chốc chốc một làn hơi nóng bốc lên từ cổ họng của tạo vật đó.
Nhìn nó tôi tưởng tôi đã xuống dưới âm phủ. Nhưng giọng nói chói tai và rồ rồ của Grunau đang gọi đem rượu làm cho tôi hiểu ra là chúng tôi ở trong quán rượu Thuỵ Điển. Khuôn mặt mà tôi chưa bao giờ trông thấy ấy là mặt của Hinke Gjonge và ngoài kia Khu Rừng Lam đang cháy. Và thình lình một ngọn lửa loé sáng giữa những khói rượu. Tôi trông thấy nó dựng lên như một mũi tên ở trong không khí dày đặc, phản chiếu ở đó thành một vòng ánh sáng.
Dorete trẻ trung, thon thả, khoả thân, đang chải tóc giữa vòng tròn sáng đó.
Tôi quay đi để chạy vội ra ngoài, vào trong lò lửa đỏ, và lảo đảo đến được cửa của tôi, để ngã vào phòng tôi, bất tỉnh, nhưng đã được cứu thoát.
Khi tôi hồi tỉnh lại, Jacobus Uz ở bên cạnh tôi. Suốt trong ba quý vừa qua, từ ngày Grunau đến đảo, Jacobus Uz vắng mặt ở đảo. Ông theo học ở Copenhague những khóa thần học, vì ông muốn có khả năng làm các công việc của mục sư, ma chay, cưới xin, rửa tội cũng như những nghiên cứu Kinh Thánh trong những việc làm thêm thường xuyên của mục sư. Từ khi Tang ra đi, chúng tôi đã thấy đi qua hai mục sư và nhiều phó hạt. Hơn nữa, đã có Jacobus Uz từ lâu làm nhiệm vụ mục sư trong chúng tôi.
Khi nhìn ông ngồi bên cạnh, khuôn mặt hiền từ cúi xuống dưới cái bướu, và đôi mắt sáng của ông nhìn vào mắt tôi, tôi hiểu rằng Grunau ở không b gã có một tí quyền hành gì ở đây nếu ông ấy đã có ở đây và cũng chẳng bao giờ tôi nằm ở cái giường này.
Khóc nức nở lên vì thất vọng và xấu hổ, tôi giấu mặt vào cánh tay của Jacobus Uz. Nhưng ông ấy vuốt ve gáy tôi và thì thầm những lời an ủi. bây giờ khi tôi nghĩ lại và xé rách quần áo của tôi để sự thăng thiên của tôi được dễ dàng hơn…Rồi ông siết chặt bàn tay tôi, ông cau mày thề rằng sắp mở cuộc chiến với Grunau.
Cuộc chiến của tôi thắng được nhờ có ông ấy, thắng hoàn toàn, không đổi lại được . Nhưng tội lỗi của tôi vẫn còn. Như những ngày đầu tiên, tôi học ca ngợi cái hoang mạc, nơi tôi ẩn nấp xa con người. Nó che giấu sự trần truồng của tôi và nhận những giọt nước mắt của tôi như là tôi đã nhỏ nước mắt đó vào chính lòng của Chúa mà ở dưới bóng của Người mỗi con người chỉ là chính mình.
Tôi ngồi một mình ở nơi mà chúng tôi đã tiệc tùng, hai tay chắp lại trên đầu gối, lưng dựa vào một công trường đá lửa ngày xưa. Xung quanh tôi chỉ có sự yên lặng của mồ mả, cát và đá. Ở rất xa nổi lên những ngọn đồi sẫm, nơi con người sống, những con người đó tôi không dám nhìn lại họ nữa bởi vì tôi đã không trung thành với sứ mệnh của sự điều độ, của phẩm hạnh mà cai cộng đồng bé nhỏ của chúng tôi cần phải có. Hơn bất kỳ ai khác, tôi được giao phó tương lai của đảo, tức là những đứa trẻ…Hình ảnh của tôi trong mắt bọn trẻ đó đã giết chết tôi nếu mấy tuần lễ say sưa đó không trùng hợp với kỳ nghỉ và nếu tôi không thường xuyên tìm bóng những túp lều mỗi khi đi qua làng như một con vật bóng tối.
Tôi được giấu đi với tất cả bọn trẻ nhưng không với Dorete, với Chúa! Tôi rất có thể úp mặt vào trong hai bàn tay tôi, lấp đất trên đảo như Lavrus Pottet, nhưng họ vẫn trông thấy tôi và tôi cũng thấy mình nữa.
Tôi nghe tiếng thở êm êm của biển và chẳng nghe thấy tiếng động nào khác. Tôi đã có thể tin rằng đến cuối thế kỷ chỉ còn có tội lỗi của tôi và tôi ở lại trên mặt đất, bị bỏ quên bởi Người Phán xử lớn, bỏ quên để chúng tôi tự thiêu huỷ nhau.
Một đàn chim bay qua trên đầu tôi trong bầu trời trong, có lẽ là chuyến bay cuối cùng của những linh hồn bị gọi đến cuộc Phán xử.
Tôi là sinh mạng cuối cùng trên mõm đá ngầm được gọi đến đầu tiên. Trong vẻ âm u ở đàng xa một tia sáng loé ra bất thình lình . phải chăng đó là tia sáng của một người cắt đá lửa? Tôi có đi gặp nó không? thời gian có trở về nguồn gốc của nó không? Nhưng không, đó là cây đèn pha gửi ánh sáng ccn đến cho tôi. Vậy còn những người sống? Hay là những tạo vật mới lần đầu tiên cố thử chiếu sáng những bóng tối chưa biết? Có phải con đê chắn sóng mà từ mỏ đá lửa tôi trông thấy ở bên kia ngọn Sonderbjaerg tiến ra một biển chưa khám phá?
Tôi cảm thấy sương mù ban mai làm mát trên trán. Tim tôi thấy lại quá khứ của đảo từ lúc cuộc sống câm lặng và cô đơn của con người thời kỳ đồ đá cho đến cuộc sống của tôi, trải qua cuộc đời của hàng nghìn người khác đã tìm một chỗ trú ở đây, tim tôi đập nhẹ nhàng trong sự đổi mới này của thế giới.
Thế giới đã mới từ đêm nay và tôi cũng mới như thế giới. Tội lỗi của tôi được tha thứ. Tôi dám vượt qua cánh đồng đá và tìm lại những quả đồi, tìm lại những người đàn ông và cả trẻ con. Những hối tiếc của tôi đã khiến sinh ra một mảnh đất mới, chúng đã tạo ra trong tôi một tâm hồn mới. Jacobus Uz có lý. Tôi leo lên đỉnh bằng những bước đi nhẹ nhàng hơn.
Vâng, thế giới đã thay đổi khi tôi từ hoang mạc trở về. Người ta sợ quán rượu, người ta tránh nó như nấm mồ của tên giết người. cũng như các cụ già, những người trẻ tuổi đi qua trước quán không một tiếng nói, không một cái nhìn.
Khi Silvert Grunau vội vã ngang đảo mỗi lần đi từ nhà Malene ra bãi biển và tư~ Bãi biển trở về nhà Malene, người ta chào hắn như một người xa lạ, một người chưa quen.
Jacobus đã chiến thắng cái ác như thế nào? Tôi đã trông thấy họ gặp nhau có mỗi một lần, trên bãi cỏ ở chân đồi làng, nơi thanh niên đang đá bóng ngày chủ nhật. Grunau đã lẻn vào giữa đám người chơi, vừa mỉm cười lôi kéo họ đến chơi một trò khác ở quán rượu.
Tôi rất lúng túng, đến nỗi bỏ trốn khi trông thấy cái bóng bé nhỏ của Uz thong thả đi xuống sườn đồi, hướng đến chỗ Grunau, và khi tôi nghe tiếng nói của họ xen lẫn nhau.
Tôi không có ý muốn nghe Jacobus Uz phán xét về chúng tôi và những lời của ông ấy nói với kẻ quyến rũ đám thanh niên.
Nhưng tôi quay lại trong cuộc chạy trốn và tôi trông thấy Grunau lùi lại, hạ thấp cây gậy xuống. Hắn lùi cho đến con đường, lùi tận về nhà. Uz giơ cao tay, có vẻ đẩy hắn đi. Ở dưới chân đồi, bọn trẻ chúng tôi nhóm họp lại, vợt cầm ở tay. Tôi ngã xuống ở trên dỉnh Sonderbjaerg, cảm ơn Chúa đã giải thoát tất cả chúng tôi trước khi ngọn lửa phá hoại thiêu đốt chúng tôi và hòn đảo của chúng tôi.
Những lời mà Jacobus Uz đã nói với kẻ quyến rũ và đã bắt bọn trẻ phải về nhà chúng như sau:
- Các cậu muốn từng đứa trong số bọn trẻ trên đảo này cũng ngà xuống bất tỉnh trước ngưỡng cửa của hắn như anh giáo trẻ của chúng ta ư? Và các cậu thanh niên , các cậu muốn anh ấy, người mà các cậu đã biết từ mươi ba năm nay, nằm ra đấy mà không được báo thù chăng? Nếu cái lão đó đã lôi kéo được anh ấy đi xa như thế, thì các cậu sẽ còn đi đến đâu? Các phụ nữ liệu có buộc phải một lần nữa như hồi Khu rừng Lam, đốt hòn đảo đi để giải thoát khỏi các cửa và giải thoát khỏi kiếp người?
Không ai nhắc lại cho tôi những lời đó, nhưng tôi đã nghe được ngang qua từng phần của câu chuyện Lucie Camrath kể. Ý nghĩ về điều nhục nhã của bản thân và ý nghĩ về lòng Chúa nhân từ an bài cho tôi sự vấp ngã để cứu vớt tôi đã khiến tôi run lên và tôi hiểu vì sao sự tha thứ đã làm tôi tái sinh.
Con ác quỷ rút lui vào trong hang để làm sa vào lưới con mồi cuối cùng, Malene. Chúng tôi đã quên Malene và một mình co6 ấy ở lại với Grunau.
Những ngày đó hoàng thân bị ốm, bị đánh gục bởi lễ hội cuối cùng và bước lao cuối cùng tới cuộc sống mà ông đã xiết bao yêu quý nhưng lại đã hoàn toàn phá hỏng nó.
Tất cả ý nghĩ của chúng tôi xoay quanh ông ấy, ông chủ già của chúng tôi, người đã chia sẻ số phận của chúng tôi trong nửa thế kỷ.
Ông ấy đã làm loá mắt cả đảo bằng những cảnh huyền hoặc của ông, nhưng những cảnh đó là một thú vui buồn thảm đối với chúng tôi cũng như đối với ông ấy. Bao giờ nó cũng gợi lên những ham muốn điên rồ. Không ai ở đây quên thời gian ông hối hận lúc đầu. Ông ấy đã yêu mọi người như một ngư dân nghèo khổ chứ không phải như một người gây dựng nên tội lỗi. Grunau quyến rũ ông ấy, cũng như hắn đã quyến rũ tất cả chúng ta, nhưng ông ấy đã phải trả giá cho sự yếu mềm trong cuộc đời của ông ấy.
Bác sĩ Hagedorn xấu hổ vì bị sa ngã lại tìm bước trên lối đi của bổn phận nghề nghiệp (ông được phái đến đảo vì phạm tội) đã chung thuỷ đến thăm hoàng thân, nhưng cũng cho chúng tôi ít hy vọng. Cái thân già cỗi, khô héo vì gió buốt của đảo và những thiếu thốn không thể nào chống đỡ được sự đổi mới của dòng nhựa bị bỏ quên này.
Ông nằm bên cái cửa sổ thấp mở ra đường để còn có thể "chia sẻ cuộc sống của người khác", như lời ông nói, và "theo dõi những cuộc đi lại của chúng tôi". Nét mặt của ông đã lấy lại vẻ uy nghi vương giả. Hào quang của đôi mắt ướt đã tái nhợt đi, cái cằm bé và nhẽo nằm trên ngực ông.
Khi đi qua thấy khuôn mặt đóng khung trong mớ tóc bạc trắng, chúng tôi thấy hình như nhìn rõ bộ mặt của hòn đảo chúng tôi với những cảnh quạnh hiu buồn bã, vẻ khắc nghiệt của những quả đồi bao bọc bởi bọt sóng trắng.
Vậy vì sao hòn đảo lại là nhà tù đối với ông ấy? Tù nhân đã có dáng dấp của nhà tù. Ông chủ của đảo cũng đồng nhất với chính hòn đảo. Ông ấy bị nắm giữ bởi cái chết cũng như hòn đảo bị nắm giữ bởi biển cả. Ông ấy cũng như hòn đảo chăm chăm nhìn vào đất liền không thể nào tới được. Mắt ông có nhìn thấy tổ quốc hay bến bờ của giải thoát không?
Một hôm khuôn mặt sau cửa sổ biến mất. Ông vua và người tù của đảo không còn nữa.
Chúng tôi hôn đôi bàn tay chắp lại lạnh cóng của ông, đôi bàn tay yếu đuối và bất lực đã lấy lại sức và khép lại trên tài ản của ông. Vầng trán mà những cách chữa trị đáng buồn của ông làm nhăn lại cũng như bão tố làm nhăn cát của đảo, đã nằm nghỉ trong yên lặng. Thân thể long khớp từng lảo đảo trước làn gió nhẹ đã cứng lại trong bộ áo giáp của cái chết. Người tù đã được giải thoát và đã rũ bỏ xiềng xích ra xa mình.
Ông Hans Hofman già như một con vật bị đánh chết, tựa đầu vào xác của chủ. Ông chỉ còn đòi đi theo hoàng thân đến những đất săn mới mà thôi. Nước mắt của ông ứa ra dưới cặp kính đen giống như hai cốc rượu trong đám tang.
Hoàng thân Philippe Gebhard 29, người cuối cùng của dòng họ Bernburg Lippe được chôn thật sâu trên đảo, bên bờ hoang mạc, dưới một ngôi mộ bằng đá màu xám như cát của chúng tôi.
Trong khi lâm bệnh ông đã gửi đơn lên đức vua, có lẽ ít ra là lá đơn thứ năm mươi. Lần này ông không xin cuộc sống nữa, mà ông cầu mong cái chết sẽ giải thoát ông khỏi đảo. Và đó là lần đầu tiên ông được chấp thuận..Nhưngkhi ông già Hans đã nhận vượt biển trong mùa đông để đưa đơn và đem trả lời về cho chủ, thì ông này mỉm cười. Ông đã đi đến sự tự do mà không một vị vua nào có thể cướp đi được.
- Cám ơn Hans! – ông nói – nhưng chính ở đây tôi sẽ để chiếc giường của tôi. Vả lại, làm sao Chúa Trời tìm được tôi ở kia?
Như thế là khi sống ông là tù nhân trên đảo, ông vẫn là tù nhân ở đó khi chết. Nhờ có ông, chúng tôi có được niềm tin rằng mảnh đất của chúng tôi không phải là một nhà tù như mọi nhà tù khác, và người ta ngủ giấc ngủ cuối cùng tốt hơn ở nhà mình. Chính ở nhà sè tìm chúng tôi hơn cả.
Ông Hans già còn sống sáu tháng nữa, rồi người ta chôn ông dưới chân quan tài chủ ông, cho con chó trung thành đi theo đến bến bờ của sự phục sinh.
Ngay trong ngày chúng tôi đặt hoàng thân nằm trong ngôi mộ chờ ông, cái ngày tối sầm lại vì bão cát, Grunau và Malene cập bến vào đảo. Họ với mới kết hôn xong và vội vã trở về nhà họ, đóng cửa lại ở trong ấy.
Cái gì đã thúc đẩy họ sum họp với nhau? Ý định của hắn chẳng mấy chốc chúng tôi đã biết tỏng tòng tong.
Gói thư tín chờ ở Copenhague để được đưa đến đảo trong mùa xuân, và ông già Hans nhận trách nhiệm chuyển cùng một lúc với giấy phép cấp cho hoàng thân, có một bức thư gửi cho Grunau.
Mẹ hắn, một người đàn bà tế nhị và bất hạnh, mà hắn là nguyên nhân mọi đau khổ của bà, vừa mới chết và các anh em hắn giảm bớt trợ cấp cho hắn đi bảy phần tám. Sự phạt tù sẽ thay thế mọi tiền góp nếu hắn cả gan rời khỏi đảo. Thế là hắn đã tìm được sự bồi thường trong đống vàng của ông già Schwarzflugel. Nhưng còn cô ấy, Malene? Vậy thì cô ấy bị bần cùng hóa chăng? Sự ôm ấp lạnh lẽo của đảo phải chăng đã hoàn toàn dập tắt ngọn lửa xưa kia bốc cháy trong người Malene khiến cô phải sưởi ấm bên cạnh một người nước ngoài?
Chúng tôi nhớ lại khi cô còn trẻ và đốt nóng tất cả chúng tôi. chúng tôi giơ ra với cô những bàn tay lạnh giá của chúng tôi và, cô ấy hào hiệp chia sức nóng của cô cho mọi làn gió.
Và bây giờ? Không ai trong chúng tôi lo lắng cho cô, nghĩ đến cô từ ngày Schwarz flugel giam cô ở nhà ông ấy như là tài sản riêng của ông ấy.
Tôi nhớ lại ngày mất của ông mục sư già. Đó là mùa hè và Malene thở dài, quay về phía cửa sổ mở ra phía mặt trời.
Ôi! Liệu cô ấy có biết rằng khi thoát khỏi vòng ôm của ông già thì cô vẫn tiếp tục mang họ của ông ấy không? cô ấy là vợ của mục sư, vĩnh viễn cách xa với những người ngang hàng, cô đơn như những viên chức khác trên đảo này, cô đơn ngay giữa những người mình như một con chim lọt vào tay con người.
Và thế kia, cô ấy lại bị một người bẫy chim ngoại quốc bắt được! Đột nhiên hình như hòn đảo nhớ lại cô ấy là người con của đảo, thấy rằng cô ấy là con cừu bị hy sinh cho con sói mà suýt nữa chúng tôi đều là nạn nhân. Thù hận hắn gây ra ngày một tăng. Những người như tôi, không sinh ra ở đây nhìn thấy điều đó trong môi trường, trong im lặng. Càng ngày người ta càng sống cho riêng mình…
Nhưng năm tháng qua đi và tôi điều khiển cái trường học bé nhỏ của tôi dưới thòi giáo chức của một mục sư mới mà chúng tôi cũng có được.
Ông ấy tên là Florentius Flak, và ngay từ khi nhìn thấy ông trên chiếc thuyền đưa ông đến, chúng tôi đã biết vì sao ông đến chỗ chúng tôi. Ông đến để ngủ.
Cao khoảng hơn 2 mét, và to bề ngang, ông đúng là một khối thịt khổng lồ với đôi mắt ti hí ngái ngủ trên một khuôn mặt có cằm kép và đôi má to bành. Giọng ông khàn. Ông có vẻ như đau đớn trong từng cử động. Cái nhìn của ông chói ra một ánh sáng ẩm ướt, buồn bã và những bàn tay dị dạng của ông hình như cầu xin đặc ân cho ngủ được.
Thực ra tôi không lo ông ấy cho tôi nghỉ việc. Ông còn cám ơn tôi đã loại bỏ cho ông ấy cái công việc mục mà, cũng như khi ông chọn đến đảo, là chỉ để tránh phải cố gắng lớn.
Khi chúng tôi chia tay nhau trên vịnh kho, nơi tất cả chúng tôi chạy dbn xem đệ tử này của Chúa Jesus đã có lòng thương chúng tôi bị bỏ rơi, chúng tôi đã hiểu rằng hễ người ấy còn sống thì chúng tôi sẽ không bị bỏ rơi. Ông ấy đã chuẩn bị một cái giường nghỉ cho lâu dài trên sự bình yên không bị xâm phạm của những chiếc gối bằng cát của chúng tôi.
Còn ở đâu người ta có thể ngủ tốt như ở chỗ chúng tôi?
Tôi ở bên cạnh ông khi ông ấy chết, hai năm sau đó. Tôi ngồi bên cạnh ông, tôi nhìn ông ngủ, như ông đã luôn luôn ngủ trong căn nhà tối tăm và, trống rỗng, nói đúng chữ là căn phòng bảo hoà giấc ngủ.
Ba mươi năm đã qua đi từ ngày ông đến đây, nhưng tôi không nhận ra có thể nói là một thay đổi nào trên khuôn mặt nặng nề buồn bã và nhẵn nhụi lấp lánh những hạt mồ hôi.
Ngay cả những lông tơ cũng không chịu mọc ở ông.
Trong khi ngắm nghía những nét thất vọng của con người nghỉ ngơi trong ánh sáng chiều vàng lọc qua những cửa sổ thấp, tôi thấy những nét đó giống như hoang mạc của chúng tôi và tôi hiểu vì sao ông ấy đã tìm nơi nương thân và giấc ngủ ở chỗ chúng tôi. Nơi nương thân chống lại những đòi hỏi của một công việc ông không thể hoàn thành và giấc ngủ để thoát khỏi nỗi buồn của ông. Hòn đảo này là mảnh ván cứu nạn với ông cũng như với tôi.
Ông khó nhọc giương mí mắt đỏ lừ, mỉm nụ cười mệt mỏi với tôi, vừa giơ bàn tay ẩm ướt ra cho tôi vừa thì thầm:
- cuối cùng, tôi sắp sửa có thể ngủ thực sự.
Rồi cái cằm của ông rơi xuống ngực, đôi mắt ông không động đậy, ông ấy đã chết.
Buột tiếng thở dài cám ơn, tôi cảm thấy giấc ngủ là một cái hay và giấc ngủ của tôi cũng đã đến gần. Các bạn thử xem hiện giờ chúng tôi đã gần nó biết bao.
Tuy nhiên tôi cũng phải trở lại đàng sau – nhưng cũng sẽ là để gặp các ngôi mộ. Chắc các bạn đã nhận xét câu chuyện tôi kể quá lâu, dài dòng và đã đến đoạn chót.
Rồi đến một ngày không thể nào tưởng tượng đối với chúng tôi, những người đã quen biết Malene Tambor trong hồi thanh xuân của cô, một ngày mà chúng tôi xúm quanh một chiếc quan tài mở. cô ấy nằm trong đó giữa những tấm vải phủ liệm màu trắng, lạnh lẽo và đông cứng như một cây nến tắt.
Vâng, cô ấy vừa mới chết, Malene, sau gần hai năm trong cuộc sống vợ chồng với Sivert Grunau, vừa mới chết đột ngột, trong một đêm, không hề đau ốm gì hết, ở tuổi ba mươi sáu.
Và chúng tôi phải cám ơn Chúa vì xưa kia trên hòn đảo băng giá này, cô ấy là sức nóng và ánh sáng của ngọn lửa cho tất cả chúng tôi.
Cô Malene mà c tôi thấy hôm nay chính là cô gái hoang dã xinh đẹp và tốt bụng, cô gái đầu tiên đón tôi trên bãi biển để tỏ cho tôi biết rằng không phải là ngọn lửa của cái chết mà là ngọn lửa giấu kín của cuộc sống trên cát lạnh của chúng tôi mà cô ấy biết làm cho nó loé ra.
Trên tuyết trắng của gối, cô ấy có vẻ nhìn chúng tôi một cách ngạc nhiên và hai bàn tay xưa kia giơ ra với biết bao độ lượng, đã quắp lại sát liền nhau.
Trong những bàn tay nửa giấu dưới những đăng ten áo sơ mi của cô, cô cầm một bức thư.
Tất cả chúng tôi đều thấy lá thư. Jacobus Uz và tôi đứng ở đầu quan tài, các ngư dân dọc hai bên, mục sư Flak ở cuối quan tài, và Sivert Grunau ngồi trên chiếc ghế ngay gần đó, hai cánh tay vòng quanh lưng ghế, mắt nhìn dán vào chúng tôi.
Chúng tôi ở đấy, im lặng xung quanh cô cũng chẳng khác nào chúng tôi đọc bức thư qua phong bì niêm phong bởi vì chúng tôi biết Sivert Grunau đã giết vợ sau khi hút hết giọt máu cuối cùng mà Schwarzflugel để lại cho Malene. Mặc dù các cửa đóng và các bức tường kín của ngôi nhà, chúng tôi đã thấy cuộc sống của họ rõ ràng như hôm nay chúng tôi đọc được lời thú nhận chứa đựng trong thư.
Chúng tôi nín thở, nhưng mọi người siết nắm đấm sẵn sàng nhảy vào con ma cà rồng hút máu, tên đao phủ, tên giết người đang ngồi rình trên ghế.
Líếc nhìn trộm những khuôn mặt gầy, cứng và tái dưới những chòm râu đen, bất động như những đầu người chết bao quanh quan tài, tôi bỗng thấy hoảng sợ, biết đâu người ta không chỉ tìm cách báo thù hắn, mà cả tôi và những người ngoại quốc từ bao thế kỷ nay sống nhờ vào bờ biển và bị bỏ rơi và bị phản bội. Nỗi sợ hãi làm tôi chóng mặt một lúc. Liệu người ta có tóm cả tôi và ném cùng với hắn xuống cái biển khơi đã đưa chúng tôi đến đây?
Tôi nhận thấy trên trán mục sư Flak những giọt mồ hôi hình như tỏ ra cùng chung nỗi lo lắng. Môi ông mấp máy, có vẻ như ông muốn bắt đầu nghi lễ. Nhưng ông không rời mắt khỏi bức tươi và hai bàn tay ông lóng ngóng tìm chỗ dựa vào nhau.
Ngay trong lúc Flak sắp đành cất tiếng thì Jacobus Uz bước ra khỏi hàng tối, và tôi nhận thấy khuôn mặt nghiêm khắc và trắng của ông sao mà giống khuôn mặt những người khác đến thế, nhưng cũng lại nhận thấy rằng cái nhìn long lanh của ông mở ra với toàn thế giới thì cái nhìn của họ chỉ nghiêng vào hòn đảo.
- Sivert Grunau, thay mặt tất cả những người có mặt ở kia, tôi hỏi anh, lá thư vợ anh cầm trong tay là cái gì vậy?
Grunau ngước mắt nhìn chúng tôi như một con nai nhìn những con chó vây quanh. Nhưng hắn không trả lời, Jacobus Uz tiến đến gần thêm một bước, và cất cao giọng nói tiếp:
- Sivert Grunau, có phải tự anh viết bức thư này không?
Hắn đột ngột cúi đầu xuống, người ta có thể nói người ta đã đánh hắn.
- Thế cô ấy phải đưa bức thư cho ai?
Tôi nghe những người khác thở hổn hển, giống như những con chó chỉ chờ một dấu hiệu là lao vào con mồi để xé nó ra.
Grunau thèm thuồng nhìn về chúng tôi và hai bàn tay hắn bám vào lưng ghế.
- Mang đến cho Chúa – hắn thì thầm.
- Thôi được.
Jacobus lùi lại một chút và khuôn mặt ông hình như sáng chói lên.
- Bắt đầu thôi, ngài mục sư, để cho Malene có thể đưa đến nơi mà nó được gửi đi.
Hai hàng người đang cúi mặt về phía trước run rẩy như những ngọn sóng sẵn sàng nhảy vào cơn bão. Nhưng Jacobus Uz giơ bàn tay lên và nhìn họ. Uy lực ông tác động vào họ quá lớn khiến cả đám người lắc lư lùi về phía sau và đứng im xung quanh quan tài.
Nhưng vừa đi ra khỏi nhà một tí, mọi người liền vây quanh Uz.
Ông đứng trên bậc thềm, lại một lần nữa giơ tay lên để ra lệnh cho họ im, và ông nói:
- Có ai trong các người dám mở lá thư đó không?
Flak lắc đầu. Nửa ngất đi, ông dựa vào khung cửa và lau trán.
- Sao? – Jacobus Uz liếc mắt nhìn hết người nọ đến người kia – Các người không tin rằng Grunau đã tự giao nộp cho Người Phán Xử đích thực, Người Báo Thù đích thực à?
Tất cả im lặng, rồi cùng một hành động đồng loạt, họ bước xuống thành nhóm sát nhau đi về làng từng người một khuất vào dưới những mái nhà bằng tảo dạt.
Nhưng Jacobus Uz bỏ mũ và đưa tay qua lông mày, mỉm cười lên bầu trời mây.
- Ông mục sư và ông Bek, các ông có biết là tất cả các nơi khác trên thế giới này đều buộc Grunau phải viết bức thư đó không?
Ông im lặng một lúc rồi nói tiếp:
- Và có lẽ cũng không có ở nơi nào khác, hắn không bị dồn đến hành động đó. vậy là hắn đã tìm được người phán xét đích thực, người tạo ra hắn và tạo ra hòn đảo. Còn chúng ta – ông nói thêm, và cái nhìn đượm buồn của ông dừng lại ở ông mục sư, rồi ở tôi – chúng ta cần phải học sống với đất liền và đất liền phải học sống với đảo không phá hoại lẫn nhau và trong mối thù qua lại của chúng ta. Con người đã thích Malene và rồi lại giết cô ấy, hắn không thể làm khác được, cũng như là cuối cùng hắn phải nộp mình vào tay Chúa.
Tôi nhớ lại nhất những lời đó bởi vì nó là giá cuộc đời cho người đã phát biểu ra. Sau khi đã có ngày cứu được người mình khỏi hàm răng của chó sói, ông đã giật con sói ra khỏi tay họ. nhưng không phải để trả thù họ, vì việc trả thù đó đã được thực hiện trong vòng chưa đầy một năm. Không đợi đến sự can thiệp của Chúa mà Grunau đã cầu xin, hắn đã hoàn toàn thay đổi trong năm đó. hắn đã tự đóng kín cửa sau khi thất bại trong trò chơi và trong việc kết hôn với Malene, bỗng bất thình lình xuất hiện giữa chúng tôi, không phải còn dưới bề ngoài là một kị sĩ thanh lịch mà trong những quần áo nghèo khổ bình thường, tức là mặc áo chật như ngư dân và chân đi guốc gỗ. hắn tìm cách giấu mình lẫn vào trong những người dân đảo, để trở thành một người trong số họ, để giấu mình khỏi Malene, để cô ấy và Chúa không nhận ra hắn nữa.
Nhưng sự im lặng chung đã trả hắn lại với hai người đó. Bất kỳ chỗ nào hắn đi đến cũng là chỗ trống không, hắn trốn khỏi nhà hắn để đến gần một người hắn đi qua trước cửa, nhưng chẳng con mắt nào nhìn hắn, chẳng lỗ tai nào nghe hắn.
Nhợt nhạt như một xác chết, lảo đảo đi đôi guốc gỗ mà hắn không quen, lưng còng xuống dưới sự cải trang mà hắn muốn làm cho hắn khác đi trong con mắt của hắn và của những người khác, hắn theo gót các ngư dân, bắt chuyện, hỏi han, xin xỏ, hứa hẹn vàng của hắn.
Nhưng không một cái nhìn, không một lời nói, không một nụ cười đáp lại hắn. Hắn ở lại đàng sau, trên bờ đường, ở bìa sa mạc, cái nhìn dán vào họ đi cứ như hắn tự hỏi không biết tất cả cái đó có thật không, không biết hắn có nói chuyện, có xin, có hứa không, có phải hắn không tồn tại nữa không.
Một đêm hắn đến chỗ tôi, lúng túng, tái nhợt. tiếng gõ cửa của hắn lôi tôi ra khỏi giường, hắn chạy bổ vào phòng tôi, lao vào tôi, hai tay nắm cánh tay tôi và bắt tôi phải khẳng định là hắn thực sự có tồn tại.
Nhưng tôi là người ngoại quốc, mà hắn lại tìm câu trả lời cho câu hỏi của hắn ở trong dân đảo cơ. Đêm đó hắn kêu khóc với tôi rằng không phải hắn đã giết Malene, mà chính là họ, những người dân ở đây. Từ ngày Jacobus Uz đuổi hắn ra khỏi sân chơi, họ đã bắt hắn phải sống với cô ấy.
Họi đã áp đặt cho Malene một sự cô đơn khiến hắn phải lấy cô ta rồi giết cô để được giải thoát, để trả thù.
Hắn ngã quỵ xuống đất, van nài tôi cứu hắn khỏi Malene, khỏi Chúa. Và tôi chẳng có lấy một lời an ủi, một sự giúp đỡ nào hiến cho hắn, bởi vì tôi biết rõ hòn đảo và dân đảo. Tôi chỉ có thể trả lời rằng hắn thực tế có tồn tại và không có một sự phủ nhận nào về sự tồn tại của hắn có thể tiêu diệt hắn.
Nhưng những lời nói của tôi chỉ làm cho nỗi sợ hãi của hắn tăng thêm, nếu hắn sống thì sai lầm của hắn cũng sống.
Từ nhà tôi hắn chạy ra chỗ những ngư dân đi qua lúc sáng sớm để đến Sonderstand thăm mẻ lưới ban đêm. Rồi rời những ngư dân, Grunau trốn vào hoang mạc như thể hắn là con ma mà người ta nghĩ chính là hắn. năm ấy tôi thì gãy tay chân, Jacobus Uz thì chết. Ông yêu cầu những người khác đừng đọc bức thư niêm phong đó và để cho nó vẫn giữ kín đến với Chúa. Ông yêu cầu nhân danh sự tha thứ, lòng thương hại, nhân danh người phụ nữ đã chết. nhưng lời yêu cầu của ông gặp phải những khuôn mặt cũng đóng kín, những đôi môi cũng câm lặng như là với những nài nỉ của Grunau. Cuối cùng ông cố làm cho Grunau phải ra đi nhưng gửi hắn đi đâu? Đi đến nhà tù ư? Nếu hắn rời khỏi đảo, hắn sè không thoát khỏi đó đâu. Ông muốn lấy hắn ra khỏi đảo để nộp hắn hoàn toàn vào bàn tay của Chúa. Làm cho hắn thoát khỏi sự trừng phạt của con người để bỏ nó cho ơn huệ của Chúa. Ông đã đấu tranh cho hắn cũng như đấu tranh cho chính ông, cho tội lỗi của chính thời trai trẻ của ông, cho sự đoán chắc của việc chuộc mọi tội lỗi và khả năng của việc đứng dậy. Tất cả những cái đó đã kết thúc đúng như nó đã bắt đầu ở Chúa.
Đêm cuối cùng của năm đó chúng tôi tụ họp tất cả ở nhà ông, trong cái phòng lớn, nơi xưa kia đã sinh ra những kế hoạch hành động toàn cầu, nơi tổ tiên của Jacobus vạch ra những bản đồ biển, bày ra trước mặt họ những con đường tội ác mà các tàu thuyền của họ phải đi theo để cho các thuyền trưởng của họ nghe. Bây giờ người hậu duệ cuối cùng của họ đấu tranh cho tội lỗi của họ, cho tội lỗi của mình, cho tội lỗi của Grunau. Những cánh tay dai của ông giơ lên phía trần nhà, ông khẩn khoản các bạn bè của ông nhận Grunau vào cộng đồng của họ, để cho hắn sống, thừa nhận hắn và sẽ mở bức thư c hắn, Chúa, Người phán xử duy nhất. Ông câu xin đừng làm cho Grunau chết trong cô đơn trên đảo. Nhưng những khuôn mặt chéo ném vào ông những cái nhìn bướng bỉnh. Cuối cùng khi những ánh đèn nhạt đi trước bình mình, Jacobus Uz ngã xuống bất tỉnh trên chiếc ghế lãnh chúa của tổ tiên ông. Nhưng ông đã thắng, mọi người thề vâng lời ông và nhận Grunau vào trong cộng đồng, để mặc sự phán xét cho Chúa.
- Clémens! – ông bạn thân thì thầm khi tôi cúi xuống – tôi thấy hình như tôi đã được Chúa tha thứ khi được Người cho một cuộc sống nhân loại ngay tại nơi có cuộc sống mà tôi đã phá hỏng. Ôi! Tôi tin rằng tôi đã chiến thắng mọi cái xấu, chiến thắng tính kiêu căng của con người tưởng mình ngang hàng với Chúa, Người phán xử của chúng tôi.
Tiếc thay! Khi mọi người thất bại và chịu khuất phục xiết chặt hàng đi về phía đầm lầy và nhà của Grunau, đập cửa để gọi hắn trở về với cuộc sống thì thấy cửa và bàn ghế lổng chổng, như trong một cuộc chạy trốn điên cuồng. chẳng ai trông thấy Sivert Grunau.
Về sau người ta cũng không tìm thấy hắn. hắn đã bị ngã vì tuyết trong đêm khi Jacobus Uz tiến hành cuộc chiến cho Grunau, cho bản thân, cho Chúa. Và các dấu vết đã bị gió đêm xoá hết.
- Các dấu vết đó phải đi ra biển – tôi tự nhủ.
Nhưng ai nấy đều im lặng lắc đầu, bởi vì không bao giờ hắn trở lại, mặt nnta đã trải qua mấy đêm sau đó để khám phá bờ biển, để biết xem ai có lý, dân chúng hay Jacobus, và xem Chúa sẽ đưa hắn lại hòn đảo để tha thứ hay Người sẽ lấy hắn đi khỏi họ mãi mãi. Hắn đã không về. ngày hôm nay nữa, mọi người tin chắc họ đã không nhầm. Chính bàn tay Chúa đã bắt hắn để trừng phạt. Jacobus Uz không đứng lên khi ông được biết thắng lợi của ông là vô ích và Grunau đã chứng tỏ rằng những người khác có lý khi ông công nhận rằng hắn đã chết trong đêm đó.
- Vậy là Chúa đã không nhận sự sám hối của chúng tôi – Jacobus nói.
Ông nằm trên giường của ông, trong ngôi nhà của tổ tiên ông, hai tay dài của ông khoanh lại trên ngực và đôi mắt ông nhìn chòng chọc rất xa trên biển.
- Vậy là Grunau và tôi sẽ cần phải ở trên một hòn đảo mới trong một cuộc đời mới. Nhưng tôi chưa bị mệt mỏi vì cuộc sống và vi đấu tranh, nhưng chúng tôi chỉ đấu tranh bên cạnh Chúa, bàn tay chúng tôi trong bàn tay Người.
Chẳng có gì ngạc nhiên rằng toàn dân đảo đi theo đám tang Jacobus Uz, có đám tang nào mà chúng tôi không cùng đi tất cả! Và cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi người gác đèn pha, chồng của Madeleine, lại đi đầu quan tài, nếu hia người có thể tiêu diệt nhau trên cái nhà tù tức là hòn đảo này thì họ cũng lại trao cho nhau nụ hôn hoà bình. Không, cái kỳ lạ là ở Jacobus Uz, lời của Kinh Thánh xác nhận, ông ấy không chết, mà ông ấy sống.
Ông ấy sống như chỉ những người vĩ đại sống, mà sự hiện diện của họ không thiếu với chúng tôi như một người bạn thân đã mất, người ta không khóc ông như khóc một người chết, bởi vì ông sống. Ông ấy sống bởi kỷ niệm, bởi những lời nói, bởi tấm gương của ông. Ông sống, ông là cứu tinh của hòn đảo này, vị cứu tinh đã thắng lợi vì cái chết của ông. Tôi đã biết môi trường của đảo trước lúc ông chết, tôi đã biết nó về sau. Và mỗi lần tôi đều nhận thấy hơi thở của tinh thần ông.
Trong các ngăn kéo mà ông giao cho tôi sắp xếp lại, tôi không tìm thấy một dòng nào của sử thi ông viết về hòn đảo. Nhưng bản thân ông là sử thi của hòn đảo này, nó bị ép rất chặt bởi những ngọn sóng phải vọt đứng lên giữa bầu trời.
Bằng giá trị tài sản ccoo để lại, dân đảo đã mua lại quyền tự do của họ với những người thừa kế của hoàng thân. Họ đã được giải phóng khỏi cái ách lâu đời của họ.
Nhiều năm đã trôi qua, hòn đảo vẫn ở kia như hồi ông ấy sống, khổ đau, chiến thắng, nhưng trong số những người đồng thời với ông ấy chỉ còn Lucie Camrath và tôi. Những đường dây điện thoại ở chỗ chúng tôi bây giờ kéo từ bờ bên này sang bờ bên kia, đến tận cây đèn pha. Tiếng người gọi nhau trên sa mạc, nơi này ngày xưa tôi đã tìm tiếng nói của Chúa.
Người ta xây trạm tín hiệu lớn, cột semaphore, nhà kho của tổ chức cứu nạn. biển cả từ nay đã được mở ra, và tất cả những cái đó là nhờ có gia sản đồ sộ của Jacobus Uz. Như thế ngày nay ông ấy còn sống, những thuyền máy chạy xung quanh các bờ biển của chúng tôi, bưu phẩm đến với chúng tôi mỗi tuần một lần.
Trong vụ đánh cá trích, người ngọai quốc, ngư dân, người mua, người nhập khẩu rộn rịp ở con đê chắn sóng khổng lồ bằng đá granit, trong nhiều văn phòng và nhà kho dỡ hàng. Người ta nói đến những tàu thuỷ hơi nước sẽ cặp bến ở đây và chở chúng tôi đến Copenhague – trái tim của đất nước – chỉ không đến một ngày. Người ta nói cả đến chuyện xây một khách sạn lớn trên vịnh nhà kho. Những người giàu sang và sung sướng của đất liền đến đảo chúng tôi nghỉ ngơi. Mùa hè trước chính tôi đã thấy các quý bà mặc áo sáng màu đi dạo cùng các quý ông, cười đùa trên bãi biển mà từ đây những người ngày xưa của chúng tôi trong các thế kỷ trước quay nhìn về thế giới thực tại xa vùng đất cô quạnh, vùng đất đói khát và bệnh tật này. Cái bờ biển này nhìn thấy những cuộc chạy vạy điên rồ của nhân viên thuế quan Vendelin, cái bờ biển này, nơi tôi đã khóc, run trong ngôi mộ mà tôi bị chôn sống nhưng lại cũng là nơi tôi đã tìm thấy đất Ấn Độ cho tôi.
Thời buổi đổi thay, cuộc sống gần lại chúng tôi. Tôi còn lại là người già cuối cùng, là người cuối cùng trong số những người có thể nói về hòn đảo. Người cuối cùng chứng kiến sự cô đơn của con người, sự ngã xuống, sự đứng dậy, thắng lợi, sự đấu tranh với bản thân, với anh em mình, với Chúa.
Tôi đã biết những điều kiện xưa kia của cuộc sống nhân loại, do Chúa đặt ra và không quan tâm đến những điều kiện mới do con người tạo nên. Tôi đã sống ở đây trong khi mà chúng tôi bị đóng kín và cuộc sống nở hoa ở bên ngoài và tôi không lo đến chuyện có thể thoát ra khỏi trong từng lúc. Hồi còn trẻ, tôi mơ đến một con thuyền hạnh phúc một ngày nào đó đến đưa tôi tới một thế giới như tôi đã nói về nó. Nhưng đêm nay, tôi đã mơ là nó sắp đưa tôi đi xa thế giới. Thế giới chính là ngay ở đây và ở đây thế giới đã đi qua. Tôi đã ở cuối cuộc chạy cũng như đời tôi vậy. Tôi chỉ còn lại là kể chuyện một ngày cuối cùng, ngay cả nếu có lẽ chỉ còn cho tôi một ngày cuối cùng để sống.
Tôi với mới bốn mươi tư tuổi và tôi đã sống ở đây được hai mươi lăm năm rồi. Đó là một ngày âm u tháng mười một. Vẫn như mọi ngày, tôi ngồi một mình trong phòng, trước ngọn đèn dầ u. Tôi chăm chú nhìn ánh sáng nhợt nhạt sắp tắt bởi vì đêm đã khuya. Bỗng tôi thấy bóng tối lớn lên xung quanh tôi và ngọn đèn chập chờn của tôi, bóng tối đến từ trần nhà, từ các bức tường. Tôi thức tỉnh như một người bị chôn sống trong mồ. Cuộc đời tôi giảm đi với ánh sáng ngọn đèn của tôi. Ôi! Lạy Chúa! Tôi đã làm gì được ở đời này mà một nửa đã trôi qua. Hết năm này sang năm khác, tôi vẫn là anh giáo viên quèn nghèo khổ trên đống cát này. Tôi vùng nhảy dậy như thể muốn đẩy cái nắp quan tài của tôi và đụng đầu phải xà nhà. một tiếng kêu thoát ra từ ngực tôi, lúc bấy giờ tôi có ảo giác của một người hấp hối, tôi thấy cả những gì cuộc sống có thể trao tặng: một người vợ, những đứa con, của cải, những chuyến du lịch, công danh. Tôi thốt ra từ "indoustan" mà chẳng hiểu tại sao, bởi vì tôi chỉ hơi biết rằng indoustan có tồn tại. Tất cả những gì tôi biết là tôi từ lúc sinh ra đã có hai chân tự do để chạy cho tới những khu rừng có vảy ánh nắng của xứ Indoustan. Tôi trông thấy một căn phòng không phải nghèo nàn và chật chội như phòng của tôi mà rộng rãi sáng sủa giống như phòng khách của ông tôi hay của gia đình Colbjornson. Căn phòng chan hoà ánh nắng, tôi ở đấy lúc mới đi làm một công việc có ích và vẻ vang về quây quần với vợ con. Tôi còn trông thấy một nhóm người thông minh, những người đàn bà thanh lịch cười nói dưới ánh sáng những ngọn đèn chùm làm lấp lánh các huy chương của quý ông và các vai trắng nõn của quý bà. Tôi nghe những lời chuyện trò dí dỏm của họ, tôi cảm thấy hơi ấm của họ, mùi thơm của họ và tôi nhận ra Dorete trong đám người, bên cạnh Adam. Tôi thốt lên những tiếng kêu phản đối bất lực, vừa nắm tay đập vào mặt.
Đó là sai lầm của mày, tôi kêu lên. Tại sao mày không ở lại Copenhague, dù đói, dù rét, dù bị ném đá? Tại sao mày không ở lại để mọc lên phía trước như bao nhiêu sinh viên nghèo khác, như Augustin mà mày vừa trông thấy tên trên tờ tạp chí của mục sư, đã trở thành một trong số những luật sư được quý mến nhất của Copenhague với những vụ kiện có lợi, với sự cần mẫn ở nhà thờ? Tại sao mày không bám lấy, tại sao mày đẩy đi cái bàn tay ông nội mày chìa ra cho mày, tại sao mày lại bỏ trốn sau cái đêm trong vườn cùng Dorete Honorius? Lẽ ra mày bây giờ là Adam, mày là giáo sĩ, mày là chồng cô ấy. Cái tên ông mày thừa sức đưa mày đến chiếc ghế của giáo hội. Cô ấy không yêu mày ư? Mắt cô ấy không tìm mắt mày ư? Và mày đã đẩy đi tất cả, rồi phí hoài, tại sao? Ôi! Eberhard Sebastien Baden. Ông đã cầu xin Chúa cho tôi số phận một tín đồ công giáo và số phận đó đã là số phận của tôi. Ông đã lấy cắp cuộc đời tôi, cái điều duy nhất mà chúng tôi biết, chúng tôi nắm nó trong bàn tay. Và tôi, để nhìn được cô ấy khi cô ấy một mình và khoả thân, để khỏi quay mắt đi, tôi đã chạy trốn, tôi đã tự trừng phạt bằng cách tự đày tội chết. Vì sao? Vì đã có tội đối với cô ấy, và để có được cô ấy ở bên kia.
A! Cô ấy không nghi ngờ điều gì cả, tôi không hề làm hại gì đến cô ấy cả. Tôi không gây ra một vết xước nhỏ trên làn da trắng trẻo của cô ấy, mặc dù một hôm nó đã được hiến cho đôi môi tôi và cho xúc giác của hai bàn tay tôi.
Ở bên kia, mày biết thế nào được, cái thằng khốn khổ! Và từ đâu mà mày có nhận thức như vậy? Hiện nay cô ấy đã trải qua cuộc đời cô ấy với Adam, với các con cô ấy, làm thế nào cô ấy có thể rời bỏ chúng và anh ta để gặp lại mày ở bên kia? Mày chỉ là một người không quen biết, một người bị lãng quên. Người bị lãng quên! Tôi biết rõ điều đó, cô ấy đã quên tôi cũng như tôi đã quên cuộc đời, tôi đã chết, chết từ lâu rồi.
Ngọn đèn của tôi tắt đột ngột và tôi ngã ra phía trước, trên bàn.
Các bạn hãy nghĩ là bấy giờ tôi đang ở giữa tuổi bốn mươi, ở bước ngoặt cuộc đời. Cái tuổi nguy hiểm giữa tuổi thanh xuân và tuổi già. Các bạn cũng hãy nghĩ là tôi đã không có tuổi thanh xuân, đã không sống cuộc đời của con người. Tôi đã là một thằng bé, tôi sắp thành một ông già và cái đó chỉ đột một phát mà thôi.
Các bạn cũng hãy nghĩ đến những gì tôi đã bỏ lại ở lục địa, hãy nghĩ đến những gì mà tôi đã dại dột tưởng rằng có thể tìm lại ở đấy.
Hãy nghĩ đến dó khi các bạn biết rằng sáng hôm sau, trong rạng đông lạnh lẽo, tôi đã quỳ xuống, nửa vô ý thức trên boong tàu Coquillage và trông thấy với con mắt hoảng sợ, các bờ biển của hòn đảo biến mất, trong khi đó gió thổi phồng các cánh buồm đẩy con tàu tới chân trời, đến các bờ biển của Jutland, nơi chiếc tàu bưu điện đến đấy từ nhiều năm rồi.
Làm sao tôi lên được trên tàu tôi hầu như không biết, tất cả những gì tôi biết được, đó là tôi đã trốn chạy khỏi căn phòng của tôi, khỏi ngọn đèn tắt và tôi đã lảo đảo vượt khỏi cửa, chạy trong đêm lặng và sương trắng đến các cồn cát, đến biển. Hình như vì sợ cái chết, tôi đã muốn chạy vội đến đấy.
Bỗng nhiên tôi nhìn thấy những cánh buồm căng về phía rạng đông ửng hồng của buổi sáng tháng mươi một, cột buồm mũi rung rinh hướng về phía chân trời. Tàu Coquillage chuẩn bị nhổ neo. nó rời đảo lần cuối cùng trong năm. Con tàu này của cuộc sống chạy trốn đêm tối để đến bầu trời hồng của bình minh.
Tôi chạy trên đá cuội đến tận chiếc thuyền mà thuyền trưởng và thuỷ thủ đang chèo về phía chiếc tàu. Hồi đến đảo này tôi đã chạy, nước ngập đến đầu gối và tôi cũng chạy như thế để ra đi hôm nay, vừa đến được bến thuyền tôi đã nhảy qua bờ thuyền, giữa các thuỷ thủ khiến họ hoảng sợ.
Tay chèo của họ im bặt như những cánh chim dừng lại giữa bầu trời. Họ kinh ngạc há hốc mồm nhìn tôi, nhưng tôi chỉ có thể vẫy tay với một cử chỉ bất lực, quần áo rỏ nước, tôi thở hồng hộc gần như vỡ ngực.
- Ông muốn lên tàu à, ông giáo? – cuối cùng một người hỏi. Tôi long tong ra hiệu là có.
Nhưng họ nhìn nhau và tôi thấy rằng họ không thể tha thứ đối với một trong những người dân đảo và nhất là tôi lại muốn thoát khỏi đêm tối, khỏi mùa đông để đi đến bình minh.
- Nào, chèo đi! – tôi kêu lên và họ vẫy chèo cùng nhịp với nước sủi bọt và chúng tôi hướng đến chiếc tàu.
Ngay khi chiếc thuyền đến sát vỏ tàu xạm đen vì ẩm của Coquillage, tôi thấy những cánh buồm phồng căng và dây thừng kéo lên giật giật từng hồi, tôi mới trở về với cảm nhận thực tế.
Hôt hoảng, tôi nhìn xung quanh, một bên trải ra biển sóng mênh mông, bên kia tôi thấy bờ biển, một bờ biển duy nhất.
Tôi đến đấy để chết chăng?
Nhưng người ta gọi tôi:
- Nào, ông giáo, lên đi, chúng tôi sắp đưa thuyền lên đấy.
Và tôi leo theo họ lên thang dây, trượt lên trên các trục cuộn và đến boong tàu với cái áo mặc trong sờn, vá, nhiều mảnh, không đội mũ, tóc bị gió ban mai thổi bồng lên, hai mắt nhìn chòng chọc vào bờ biển đang chạy trốn mỗi lúc một nhanh. Con tàu chạy vùn vụt hình như lao nhanh chân trời về phía tôi. Nó tiến với những luồng sóng sủi bọt, kêu rú như cố vọt từ độ sâu khôn lường lên trên những bờ mép của mặt đất. chẳng mấy chốc chúng tôi rơi vào trong cái vực. những làn sóng phồng ra ngày càng lớn ở sau đuôi tàu quay lại phía đảo, hình như chỉ cho tôi rằng ở kia và chỉ có ở kia là sự giải thoát.
Thốt ra một tiếng kêu, tôi nhảy lên chiếc ghế bơi, sẵn sàng lao xuống biển trước khi quá muộn. Những làn sóng đã đưa tôi vào bờ, đến với sự sống. Nhưng thuyền trưởng Brahen nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi lại phía sau,xa hẳn những thừng chão đang rung rinh, những cánh buồm căng phồng và những làn sóng xám phịot lên trên bờ thành tàu. Ông đưa tôi xuống cầu thang và kéo tôi về tận ca bin của tôi "Này ông giáo" ông nói. Tôi rùng mình khi nghĩ ra rằng từ mấy năm nay mọi người gọi tôi bằng cái tên đó chứ không phải là Ông sinh viên. "Ông vui lòng giải thích cho tôi ông vừa làm cái quái gì ở trên tàu Coquillage vậy. Ông muốn đi đâu? Và ông định đi làm cái gì?" – Ông làm dấu hiệu chỉ lên boong tàu và biển bằng đầu cán tẩu thuốc.
- Tôi, tôi…. – tôi cố thử nói, trong sự bối rối , cố tìm một lý do, chỉ một thôi, tìm tên một ai đó có thể gọi tôi ở bên kia, nhưng là cái gì, là ai? Đổ người xuống cái gối bằng vải buồm bốc mùi nhựa đường, tôi oà khóc nức nở, tôi khóc, tôi, một người đàn ông bốn mươi tư tuổi khóc như một đứa trẻ.
- Vậy ra chỉ đơn giản là ông muốn chuồn – thuyền trưởng nói sau một lúc im lặng rất lâu, vừa thở ra một làn khói từ chiếc tẩu thuốc – người ta hiểu điều đó khi người ta như tôi đã từng vượt biển trên chiếc thuyền tồi này từ hai mươi năm trước, khi ông Tonessen chết trong biển có cái tên gọi là rượu, trong đó bao nhiêu thuỷ thủ đã tự đánh mất mình. Tôi đã có khá nhiều người trong trường hợp của ông hồi đó ở trên thuyền tôi, ông có thể tin tôi điều đó – Nhưng ông gỡ tàn trong tẩu ra – Ông hãytin rằng họ cũng không đến cảng Grenaa được trước kh van nài tôi đưa họ trở về nhà.
Tôi ngẩng lên và nhổm dậy, kinh ngạc. vậy ra không phải chỉ mình tôi? vậy ai đã ra đi như tôi? Suốt trong hai mươi lăm năm tôi sống trên đảo, có ai đã bỏ trốn rồi lại trở về mà không người nào hay biết gì hết?
Không có ai ư? Có chứ, những người khác họ biết điều đó cả đấy. trên đảo chẳng có gì giấu giếm được, nhưng người ta không tự ý nói ra vì sợ lây lan. Người ta cũng không muốn gợi lại tội lỗi của mình, cái đó rất có thể làm cho ông quên đi mọi thứ, ông giáo ạ. Ông không phải hoàn toàn thuộc về hòn đảo, ông ấy mà.
Qua những cửa sổ tàu tôi nhìn ra biển rì rào dọc theo các con tàu.
Vậy là tôi không phải của đảo, nhưng từ đâu đến, trời ơi, từ đâu? Từ bên kia ư? Từ thế giới rộng lớn ư?
- Ông thuyền trưởng Brahen – tôi quay đầu lại, nói – tôi cảm thấy lạnh giá như chính buổi sáng, và cũng như buổi sáng tôi thức tỉnh trước ánh sángsau bóng tối ban đêm. Ngày mai ông có thể đưa tôi trở lại không?
- Ngày mai?
Thuyền trưởng Brahen khạc một tia nước bọt dài, và giữ im lặng rất lâu, bất thình lình ông nói, mắt nhìn vào mắt tôi:
- Vâng, nhưng điểm mấu chốt là chúng tôi đang chạy chuyến cuối cùng trong năm.
Tôi để ngã người xuống ghế dài, với cảm tưởng là trần nhà đổ ụp dưới chân tôi và tôi nhìn vào trong những con sóng.
- Ông không biết thực à? – ông càu nhàu vừa lắc đầu – Đó là một câu chuyện thiêng liêng.
Tôi ném một cái nhìn lén lút lên cầu thang mà những bậc trên cùng đã bị sóng đánh ướt.
Với tôi thế là hết. tôi không nghĩgì đến bến bờ của đảo, không tới được rồi, tôi biết, nhưng tôi nghĩ đến bến bờ khác mà tôi sắp tới, yên lặng, không gây tiếng động, những con sóng tối om mang đi bị nuốt chửng vào vực thẳm.
Biết đâu về sau tôi lại không bị ném về cái bờ biển bị ruồng bỏ, và liệu tôi có thể ôm nó bằng đôi môi chết để cầu xin tha thứ? Nếu ít ra đảo không đẩy tôi ra, thậm chí trong cái chết như Sivert Grunau?
Thuyền trưởng Brahen không rời mắt nhìn tôi.
- Chúng ta sẽ làm gì đây? – ông nói – Tôi đã đưa tất cả những người khác trở về nhà họ, nhưng đối với ông thì mọi chuyện lại khó suôn sẻ. Nếu họa tình cờ một trong số những ngư dân của chúng tôi không buông neo ở bên kia, hay một người Thuỵ Điển trở về sẽ đưa ông đi….
tôi mỉm cười yếu ớt như một người sắp chểt mỉm cười với một hy vọng viễn vông.
- Cám ơn thuyền trưởng – tôi nói – nếu khi nào tôi về được đến nhà, xin ông cứ tin chắc rằng tôi sẽ tiết kiệm tiền lương để trả cho ông, nhưng…
- Ông đừng nói thế. Tôi sẽ không nhận đâu, khi được giao trách nhiệm đi đi lại lại giữa hòn đảo và thế giới, người ta không bắt những kẻ bỏ trốn phải trả tiền đâu. Dù sao người ta vẫn là một con người, phải không?
Ở trên ấy ông ta đứng lên, bước qua chiếc ghế dài và leo lên cầu thang. Còn tôi thì gục xuống cái gối thơm mùi nhựa đường và giấu đầu vào hai bàn tay. Tôi để cho biển và số phận đưa tôi đi.
- bởi vì ông vẫn còn ở đấy, ông giáo ạ, ông hãy lên đây nhìn một tí về đất liền! – thuyền trưởng Brahen gọi tôi . Tôi ngơ ngác ngồi trên giường và nhìn ông như thể ông gọi tôi ra khỏi ngôi mộ.
- Này, ông đã ngủ rồi chứ. Thế là tốt. Vâng, tôi biết mà, phần lớn những người khác đều làm thế. Ngay cả những người khoẻ nhất. Chân họ rất mỏi sau khi nhảy lên tàu. Vả lại chúng ta đã có một hành trình khá tốt, chỉ mất sáu giờ trên biển thôi, ông hãy nhìn đất liền một tí kìa. Ông đã không nhìn thấy lại nó từ hai hay ba mươi năm rồi.
Tôi lảo đảo bước lên boong. Nó kia rồi, bỡ biển Jutland dài, màu xám, kéo dài vô tận từ chân trời này đến chân trời kia, xuống đến phía nam, đến Đức, đến châu Á, và đến Hindoustan.
Tôi nhìn không rời mắt, tưởng chừng như tôi đã ước ao rằng bờ biển vô tâm này sẽ kéo tôi về với nó. Hai đầu gối của tôi khuyu.xuống dưới người tôi trong lúc tôi đến gần, xa lạ và thù nghịch.
Tôi không biết rằng bờ biển này đã chết ư? Tôi đã không thấy một hôm nó đã mất hút trong sóng chăng? Thế mà kia nó lại xuất hiện sau hai mươi lăm năm.
Nó hiện ra với tôi giống như những con thuyền ma, cho những "Người Hà Lan bay" tìm cách kéo chúng tôi lên thuyền để vỡ tan dưới chân chúng tôi. Bờ biển đó, tôi không thể thở không khí của nó được, không thể chịu đựng nghe tiếng nói của nó được.
Cây đèn pha dựng trên đồi phía trên những ngôi nhà xám và thấp, không phải là Fornaes như người ta bảo. Fornaes mà những tối nào đó có thể ném ra một tia chớp đến tận chúng ta và ban đêm tụ họp lại thành một nhóm lặng lẽ trên núi Kirkebjaerg, chúng tôi cố thử nhìn kỹ thì phân biệt được dấu hiệu là Chúa không quên chúng tôi.
Không, không phải Fornaes, mà là công trình của thế hệ khác, xây dựng bởi một nòi giống khác của tôi. Ánh sáng của nó chiếu sáng một thế kỷ không biết đến, nó không loé đỏ lên cho thời kỳ hiện nay. Và trong các nhà khác rải rác trên cánh đồng và trên các sườn dốc đất sét, tôi không bao giờ mạo hiểm đi tìm con người. Cũng như thế, đèn pha không chiếu sáng cho những du khách trên biển sáng mà cho những cá thể đi vòng trong không gian. Những người sống ở bên kia không thể dính với mặt đất. Nhưng tự do và chiến thắng họ tìm kiếm thực phẩm ngay trong không trung.
Tôi đã vắng mặt suốt nhiều nghìn năm và tôi trở về nhà tôi, nhưng để chạy trốn nữa, để tìm một chỗ nấp trên biển là nơi duy nhất chưa hề thay đổi.
Chúng tôi vào trong cảng, đi qua giữa những tàu khác. Tôi nhận thấy sau bỡ thành tàu những khuôn mặt mà chúng tôi chưa bây giờ thấy, những con người mà tôi không quen, không biết tên và cuộc đời họ. tôi thấy hình như tôi đang ở trên bờ một vực thẳm, đó là thế giới mênh mông và không được biết đến.
Khi đến Grenaa, tôi đã vào giữa trung tâm thế giới khổng lồ đó.
Một lát sau, bị chói loà vì những quang cảnh mới, ngơ ngác vì những tiếng nói và khuôn mặt mới, bởi tiếng ầm ầm của các xe cộ chạy nhả khói, hoảng sợ vì đã lại đặt chân lên một vỉa hè, tôi thấy tôi ngồi trên một chiếc ghế nệm mùi rất quen làm tôi tỉnh khỏi giấc mơ điên rồ về một cuộc sống thực.
Phía bên kia bàn, thuyền trưởng Brahen ngồi uống cà phê mà ông rót ra từ một cái ấm bằng bạc. Ông nói chuyện với những người tôi chưa trông thấy bao giờ nhưng đối với tôi lại chẳng phải là người không quen biết. một người đàn ông già, bé nhỏ, tóc màu tro, đeo kính, đội mũ cát kết, ngậm tẩu thuốc và một người đàn bà cũng bé nhỏ, đeo tạp dề có đăng ten. Bà đan len, trên mớ tóc bạc bà đội một chiếc mũ uốn vành của đảo. Tôi hít vào một hơi, nhưng ồ, cái mùi này tôi biết nó quá, đó là cái mùi tảo dạt và mùi phân cừu cháy. Mùi mùa đông của đảo. Lửa trong lò của tôi cháy torng cái lò ba chân, giống hệt cái lò "thầy tu" của tôi. Tôi hơi nghển lên và hoài nghi ngắm nghía các chủ nhà của tôi. Giữa lúc ấy thuyền trưởng cất tiếng:
- Đúng rồi đấy ông giáo ạ, người ta đốt tảo dạt và phân cừu như ở trên đảo. Villads Villum và Grunnel không thể nấu ăn nếu không có cái đó.
- Đúng thế, chúng tôi chẳng đã hít thở cái mùi này trong thời trẻ tuổi của chúng tôi là gì – Grunnel vừa nói vừa gật đầu với thuyền trưởng.
Như tôi hiểu họ, họ là những người con của đảo cũng như tôi, thảo nào tôi nhận ra họ. Thuyền trưởng Brahen càu nhàu mấy tiếng trong chòm râu của ông và rót cà phê cho chúng tôi, bà vợ cúi xuống đồ đan còn ông chồng nâng cặp kính lên trán.
Một tiếng than buột ra;
- Nhưng làm sao mà ông đến đây?
- Hừ! – Ông thốt ra – đó là lỗi tại số phận, hay đúng hơn là do ý nguyện của Chúa Trời.
Và ông thủ thỉ kể cho tôi nghe chuyện đời bằng những câu ngắn gọn, trong lúc chiêc đồng hồ của thuyền trưởng phát ra tiếng tích tắc, và mùi ngọn lửa bôc về phía tôi. Villads Villum và vợ là Grunnel bị chỉ định theo rút thăm đến định cư ở đất liền để cung cấp thực phẩm cho đảo. Cá của đảo được chở đến Grenaa để họ đem bán ở Eckem forde và mua lương thực dự trữ cho đảo.
Villards Villlum nói "Sau cái năm đói người ta đã quên cung cấp bột và lúa mì cho chúng tôi. Chúng tôi bị mùa đông giam lại không có lấy một tí lương thực dự trữ nào. Trẻ con và người già chết vì thiếu ăn, mà chúng tôi lại không thể đến đất liền được vì biển đóng băng. Ba người của đảo đã đánh bạo vượt biển băng nhưng họ không trở về. cuối cùng khi biển được giải phóng, chúng tôi quyết định để một cặp vợ chồng đáng tin cậy sẽ đến đây và lo cho nạn đói không tái diễn nữa. Người ta không thể giao cho ai ngoài những người dần trêN đảo, nhưng không ai muốn đi cả. Lúc bấy giờ người ta tổ chức bốc thăm trong số vợ chồng trẻ mới cưới, và người trúng phải hứa tuân theo số phận. Thăm trúng vào Grunnel và tôi. Tôi nhớ lại là ba cặp chúng tôi họp lại ở chân núi Kirkebjaerg, trên sân chơi bóng. Đó là ngày đầu tiên của mùa xuân, chưa bao giờ chúng tôi thấy bầu trời xanh như thế ở trên sa mạc. Nhưng Chúa đã chọn khi chúng tôi quỳ xuống để bốc thăm và thế là vợ chồng tôi phải đi. Chúng tôi đã ở hẳn đây từ bốn mươi năm rồi và chúng tôi không làm sai nhiệm vụ. chúng tôi đã nghĩ đến các anh trong mỗi mùa đông và trong mỗi mùa xuân.
Tôi nhìn hai người già. Ông chồng nhìn chằm chằm vào một điểm trong không gian qua cặp kính, quên đi tờ báo và cái tẩu thuốc, bà vợ ngồi cắm cúi với đồ đan, đôi mắt cũng có biểu hiện mơ màng như mắt chồng.
Vậy tôi có phải hoài công tìm kiếm hòn đảo của tôi bên kia sóng nước? Nhưng họ thì được gọi đến đây, họ có chức trách cố định của họ, còn tôi lại là kẻ đào nhiệm.
- Này! – thuyền trưởng Brahen nặng nề đứng lên – Cảm ơn vì cà phê, ông hãy trông nom người này một tí nhé, đó là một người bị chìm thuyền của đảo ta. Tôi đi ra xem có ai trong số người chúng ta ở đây không để đưa người ta trở về. Nếu không, tôi chắc là họ sẽ phải qua mùa đông ở đây.
Tôi nhắm mắt vừa hít vào mùi khói, có lẽ tôi phải chịu đựng qua đông ở đây bên cạnh lò lửa này. Nhưng rồi công việc của tôi ở trên đảo sẽ ra sao? và tôi tìm cách nuôi sống và cư trú như thế nào đây? Chưa nói đến món tiền trả cho người ngư dân chở thuyền cho tôi đi xa đây bảy dặm.Rồi ngư dân đó lại còn phải trở về Grenaa nữa, vị chi là mười bốn dặm biển. có thể là ai ở tre6n đảo?
- không, bởi vì anh ấy sẽ đến chỗ chúng tôi – Villads Villum trả lời vừa lắc đầu – Nhưng hãy chờ vậy, sáng nay một người Thuỵ Điển đã đến từ mũi Marup. Ông có thể bảo anh ta đưa ông giáo về, anh ta sẽ đi đêm nay, theo anh ta nói, nếu như có sáng trăng.
- Một người Thuỵ Điển? Thế thì giá sẽ mắc đấy – thuyền trưởng Brahen phát biểu, vừa nhìn tôi.
Tôi ngước mắt lên thật nhanh.
- Mục sư Flak trả tiền hộ tôi và tôi sẽ trả tiền dần cho ông ấy số tiên tôi vay.
- Được – Brahen gật đầu với tôi – Thế là ông mắc nợ đấy nhé, ông giáo. Nhưng dù sao đi nữa thì ông vẫn có lợi rồi, đúng không nào? – và ông đưa mắt nhìn hai người già.
Tôi quay mặt đi để khỏi gặp cái nhìn của họ. với họ, những người phải rời đi không phàn nàn gì hòn đảo mà số phận giữ họ rời xa nó từ khá lâu rồi.
- Hừ! – Brahen nói thêm – ông đừng ngượng ngùng như thế, họ đã đón tiếp những người khác trong số những người bỏ trốn trước ông.
- Chúng tôi không hiểu cái gì đã thúc đẩy họ ra đi – Bà già Grunnel nói, hai bàn tay úp chụm lên trên cánh tay ông. Villard Villum lắc đầu.
- Xem nào, mẹ nó kìa, chúng nó đã trở về nhà chúng.
Bất thình lình một tiếng sấm, kèm theo là một tiếng rú lê nkhiến tôi nhảy cẫng lên.
- Cái gì thế? – tôi kêu lên, hết đỗi hoảng sợ.
- Chỉ là một chiếc tàu chạy hơi nước – Villards Villum trả lời vừa nhìn qua cửa sổ.
- Một tàu thủy chạy hơi nước? – tôi vừa ngồi lại trên ghế vừa đưa bàn tay lên trán.
- Vậy là những tàu thuỷ hơi nước đến đây?
- Nếu chúng đến đây thì sao? – Người kia nhìn tôi qua cặp kính – Quả đúng là ông ở đảo rồi, ông chưa bao giờ đi biển trên tàu hơi nước.
- Không, tôi chỉ nhìn thấy nó thấp thoáng ngoài khơi và chỉ thấy khói của nó trên biển. Không có một chiếc tàu hơi nước nào cập bến vào đảo. Và ngày xưa, ở Copenhague, tôi chỉ nhớ có tàu Ophélie và tàu Hamlet ở Sund.
Biết bao lần trên bãi biển, ở đấy, tôi đã nhìn theo làn khói của các tàu hơi nước, khi trời yên, khói lững lờ bay trên biển dọc chân trời. Bấy giờ tôi mơ làn khói đó là chiếc cầu mà tôi sắp đi qua để đến miền đất giấu sau biển nước.
- Còn đường sắt? – người đàn bà nói – ông thấy bao giờ chưa?
- Có, tôi thấy rồi – tôi cười, trả lời – tôi đã thấy con đường copenhague đến Rskilde, nhưng tôi chưa khi nào đi tàu lửa.
Ông chồng lại nói:
- Chúng tôi cũng thế, chưa bao giờ đi tàu lửa. Nó không thể đưa chúng tôi đến đảo. Nó chỉ luôn đưa người ta đi xa hơn.
Grunnel dừng đưa kim và nói:
- Khi tôi thấy ông đến với thuyền trưởng Brahen, ông tỏ ra bé tí bên cạnh ông ta, không dam dời tay ông ta và nhìn xung quanh, tôi đã đo thời gian dài như thời gian chúng tôi sống xa đảo.
Và bà oà khóc trong những bàn tay nhăn nheo.
- Thôi nào mẹ nó, thôi nào – Villards Villum nói – đó là Chúa bảo chúng ta đi.
- Vâng, nhưng – Grunnel ngước mắt nhìn chồng – có phải là Chúa có ý định tạo ra những kẻ không nhà?
Villards Villum hút thuốc một múc trong im lặng rồi ông nhẹ nhàng nói:
- có lẽ khi nào chết chúng ta có thể đi tàu đến đảo trên con tàu Thanh niên.
Tôi không nhìn các làng khi tôi rời đi với người dân chài Thuỵ Điển. Tôi quay lưng lại với nó, mắt nhìn chằm chằm ra biển xám mà những làn sóng đập vào thuyền chúng tôi không mệt mỏi.
- Tôi ngồi im lặng, hai tay trên hai đầu gối, đắp bằng cái áo măng tô cũ của Villards Villum, cái mũ cát két cũ của ông ấy trên đầu.
- Cầm lấy, cầm lấy nào! – Grunnel nài khi thấy tôi không muốn nhận quà biếu của bà – Ít ra chúng sẽ nhìn thấy lại đảo.
Tôi không nghe tiếng động của mặt đất đàng sau tôi nữa, chỉ còn lại tiếng rì rào của gió và sóng. Tôi nghĩ đến hai người già cầm tay nhau đứng trên bến nổi, vẫy tôi, nhìn chúng tôi khi chúng tôi rời cảng.
Vì sao Chúa cho phép tôi đi con đường trở về dưới mắt Người?
Và tôi nhớ lại Eberhard nói về những người được Chúa yêu và bắt buộc phải rời bỏ tổ ấm và hạnh phúc. Tôi cúi đầu, một lần nữa tin chắc rằng Eberhard nhầm về vấn đề của tôi, chưa bao giờ tôi được Chúa ưa thích.
Từ Grenaa, tôi chỉ trông thấy bến cảng, tàu thuỷ hơi nước, những khuôn mặt không quen biết và cửa kính của một nhà hàng ở góc phố lớn, người ta bảo tôi là nó dẫn đến thành phố.
Ở đấy có một cái bàn dọn đầy các món ăn ngon lành mà tôi nhớ lờ mờ là đã trông thấy ngày xưa trong một cửa hàng của Copenhague. Sao mà thức ăn của dảo lúc đầu làm tôi ghét thế…
Nhưng bến cảng, con tàu, những khuôn mặt nhốn nháo, tất cả chìm vào trong cõi mênh mông màu xám của biển vĩnh hằng. mặt trăng xuất hiện khỏi bóng tối, đỏ như một trái tim chảy máu, trái tim của Chúa, Cor cordium.
Trong lúc thuyền trưởng của chúng tôi lướt đến gặp nó, chúng tôi thấy nó để lửa của nó tràn ngập bầu trời và mặt biển. Phải chăng nó gửi những làn sóng rì rầm của nó đến cho chúng tôi để nâng cao lên trên biển cả, vì đất là nơi của cây cối, của động vật, và của người? Rồi khi công việc sáng tạo xong xuôi, nó lên cao dần trên bầu trời, tươi mát, tự do, bỏ công việc sáng tạo, chỉ cấp cho chúng ta mỗi mình ánh sáng lạnh lẽo và trong trẻo của nó.
Nhưng chúng ta đi trên con đường rung rinh nó vạch ra cho chúng ta đi tới đích của chúng ta.
Cuối cùng tôi thấy hiện ra ở kia bãi biển dành cho chúng tôi, bé nhỏ như đầu chiếc kim găm, rồi một khối nhỏ, tiếp đến mũi đá Sonderbjaerg ngập vào giữa những sóng bạc đầu. Lúc bấy giờ tôi nhìn thấy cây thánh giá Agnete dựng lên, cô đơn trên cát, chìa ra với chúng tôi hai cánh tay của nó, hình ảnh của nỗi đau khổ chờ đợi con người ở bờ biển đầu tiên của nó. Chúng tôi lướt dưới chân những vách đá dựng đứng màu xanh, cột đèn pha dâng lên bầu trời vòng sáng lấp lánh. Những cánh sáng xuyên qua bóng tối chập choạng. Những chiếc kim không mỏi của chiếc đồng hồ thời gian. Sự vĩnh cửu đã bắt đầu. Mũi cuối cùng của đảo kéo dài ngón tay trắng về phía biển và cánh buồm của chúng tôi hạ xuống.
Tôi lội trong nước lạnh buốt, chân trần của tôi giẫm lên mặt đất. Tôi đã ở trên đảo của tôi. Tôi quay người vẫy mũ chào từ biệt ngư dân, chiếc thuyền của anh lại căng buồm.
Rồi tôi chạy chân không trên những hòn đá đến cây cột đèn pha, đến cổng thấp. Tôi thấy cổng mở và vội vã chạy đến chiếc cầu thang xoáy, tối và ẩm, leo bốn bậc một. Bất thình lình ánh sáng loé ra. Nó gọi tôi ở trên cao, vẫn ở trên cao, và tôi leo lên theo một đà dã man để được đội vòng hoa của trời. Các bậc thang lần lượt lôi cuốn tôi lên đỉnh. Trong cuộc chạy tôi đã bước qua các năm, các thế kỷ, tôi chính là nhân loại đang leo lên bầu trời từ bậc thang này tới bậc thang kia luôn luôn cao hơn. Cuối cùng chân tôi tới nấc cuối cùng dưới các động thạch nhũ tạo nên bởi nước rỉ từ các vòm cao. Mệt lả thở không ra hơi, sẵn sàng bị ngã, tôi đẩy cánh cửa mở ra ánh sáng. Trong khi leo tôi không ngừng nghĩ đến chị vợ người gác đèn, Madeleine xứ Provence, đến chuyến chạy trốn của chị ấy, và tôi đã đoán những gì mà chồng và người yêu của chị không bao giờ hiểu chị.
Chị không trốn chạy họ, nhưng chị trốn chạy bản thân, trốn chạy bóng tối để leo lên ánh sáng. Cũng như chị, tôi khát khao lao vào ánh sáng, lao vào cánh tay của Chúa. Thân hình cao lớn của người gác đèn pha hiện ra trong khung cửa, đèn chiếu ở trên đầu ông như một dãy núi đá quý, tôi run run bước vào trong mạng màu của nó. Và chiếc mũ cát két ép giữa hai bàn tay, tôi nhìn ông ta thong thả quay chiếc đèn khổng lồ làm tràn đầy không gian nhỏ hẹp của các bức tường lát gạch đến mặt gương tròn của cửa kính, và chiếu ra tất cả các góc trời, ánh lửa lấp lánh của nó.
Một chùm màu xanh lục và thanh thiên, vàng và đỏ, toé ra từ cái lăng kính đo thành một dải lấp lánh. Tất cả các sắc màu óng ánh của mặt đất chiếu sáng trên vòm trời này. Tôi ngồi thụp xuống chiếc ghế của người gác trước cái bàn có để ngọn đèn nhỏ và một cuốn Kinh Thánh. Ông già không nhúc nhích, ông ấy đứng rất thẳng người, bàn tay đặt trên khung sắt lấp lánh của đèn chiêu, mắt nhìn vào nó. Thang màu lướt trên khuôn mặt đầy nếp nhăn sâu của ông, xanh bích, thanh thiên, vàng và đỏ, cả bảy sắc cầu vồng hình như toả ra từ đôi mắt, từ trái tim ông và vòng ánh hào quang trên cái đầu bạc của ông. Tôi thấy hình như ông ấy giống như cây đèn pha vươn lên từ những đáy sâu của tội lỗi và của hận thù, trải qua những bóng tối của hối hận và nỗi cô đơn đến ánh sáng của vòm trời. Khuôn mặt ông sáng lên trước mặt tôi, là dấu ấn đạo lý của Chúa. Tôi đứng lên, muốn nói với ông, nhưng ông mỉm cười ngăn lại giống như thuyền trưởng Brahen đã làm lúc tôi nhảy lên tàu Coquillage.
- Đừng nói gì hết, chính vì thế mà cửa vẫn mở, anh là người độc nhất không lên đây trong một đêm để ngắm nhìn hòn đảo từ trên cao của ngọn tháp, dưới ánh sáng ngọn đèn của tôi, anh xem – ông mở cái cửa ra bãi tròn và cả hai chúng tôi bước ra, tôi vẫn chân trần trên mặt đất lạnh buốt. Những chiếc kim của cái đồng hồ vĩnh cửu vẽ ra những vòng tròn trên đầu chúng tôi, chúng tôi đứng giữa trời với toàn thế giới dưới chân chúng tôi.
Tận phía dưới, mũi đất chia biển với đất như ngón tay của Chúa. Những ngọn sóng run rẩy dưới ánh sáng trăng chảy từ nam lên bắc, từ bắc xuống nam, và hoang mạc và các quả đồi bắt đầu xuất hiện ở trên những bóng tối nguyên lai.
Và trong tháp này dựng lên giữa trời đất, tận mũi xa nhất của đảo, bên cạnh con người cô độc và mạnh mẽ, trong khi cùng một lúc tôi cảm nhận được tiếng hát nóng bỏng của trái đất và sự yên lặng của vĩnh hằng, tôi quỳ xuống trên sát nền sân, và cảm ơn đấng tạo hoá của tôi đã cho tôi cuộc đời này mà cuối cùng tôi đã hiểu được ý nghĩa.
- Và chúng tôi – Ellen Lange cúi xuống ông già và hôn tay cụ - chúng tôi cảm ơn cụ vì cuộc đời..mà cụ đã học tập để hiểu – Erik thì thầm ở bên kia giường.
Clemens Bek mỉm cười ngạc nhiên.
- Các con, không nên nói thế, tôi đến đây đúng là để làm anh giáo viên quèn dạy bọn trẻ con, nhưng tôi cũng có thể dạy cho các bạn một vài điều…
Mục sư Honorius nói:
- Cụ nói rất phải. chúng tôi ở kia trong thế giới rộng lớn, kiến thức đều bị bó hẹp, chúng tôi hiểu, không đoán được những gì cụ đã trông thấy trong đêm ấy trên cao của ngọn đèn pha. Từ trên cao của ngọn tháp đã được nâng lên đó, sự nhún nhường, tính kiên nhẫn, lòng biết ơn của cụ lên cao. Chúng ta không có Chúa, chúng ta chẳng là gì cả, với Chúa chúng ta là tất cả. Cảm ơn, cụ Clemens Bek, cảm ơn.
Họ từ từ qùy xuống bên giường. Cụ già chưa kịp ngăn lại thì cả ba đã qùy xuống rồi.
Cụ giơ hai bàn tay run run, trong một cử chỉ phản kháng nhưng nửa chừng nó đã chắp lại, và cụ Clemens Bek, mắt nhìn lên những xà đen của trần nhà, thì thầm với một nụ cười vui thích.
- Lạy Chúa, con cảm ơn Người đã cho con thêm niềm vui này nữa, Người đã rút đi cho con nỗi sợ cuối cùng này.
- Nỗi sợ gì? – Honorius nhìn cụ dò hỏi, hai bàn tay ông già vẫn siết chặt nhau và cái nhìn rạng rỡ của cụ không ngừng hướng lên trên.
- Nỗi sợ cuối cùng và lớn nhất của tôi, nỗi sợ này không đến với tôi trong tuổi trung niên, ở bước ngoặt của cuộc đời mà ở lại liên quan hơn tất cả nỗi sợ hãi của đời tôi. Nỗi sợ đã sống đúng đắn nhưng chỉ cho riêng tôi, đã đạt mục nhưng chỉ cho riêng tôi, đã bước ra toàn thắng trong cuộc đấu tranh theo đòi hỏi của Eberhard Sebastien trong lời cầu nguyện nhưng cũng chỉ cho riêng tôi, đã chiến đấu vì Chúa đúng như Người đã ra lệnh, nhưng chỉ cho riêng tôi.
Tôi sợ đã bỏ lỡ thắng lợi, bỏ lỡ mục đích của tôi. Tôi không bao giờ làm hại cho tương lại của tôi, tôi nghĩ thế, và như tôi được biết thì không bao giờ cố ý. Nhưng kể chi cái đó, đó là cái tối thiểu đòi hỏi ở một con người.
Bởi vì tôi cũng không làm cái gì tốt, không tạo ra một niềm vui nào cho ai. Hãy trả lời đi? Các bạn đã nghe chuyện về đời tôi, các bạn hãy đọc ra một tên người nào đi. Bây giờ tôi đã quá yếu không thể điều khiển các trường học nhỏ bé của tôi nữa, và tôi phải nằm ở đây để đọc báo các bạn đem đến, tôi cảm thấy cái cảm giác nặng nề nghĩ rằng mình đã là kẻ vô ích. Tôi biết rõ rằng vùng hoạt động của tôi hẹp và tôi không có sức. Tôi chỉ là một kẻ đáng thương, không giàu có, không thôngl minh, không can đảm. có lẽ tôi chẳng có khả năng gì ngoài việc dạy trẻ ở trên đảo này, nơi tôi đã d ncách đây năm mươi lăm năm. Tuy nhiên, ít ra thì tôi cũng đã có thể làm một cái gì đó, tạo ra một chút niềm vui.
Niềm vui ư? Khi tôi là sinh viên ở Copenhague, ít lâu trước khi tôi đến đảo, Adam đã cho tôi một chiếc vé dự "Hoà nhạc của hội âm nhạc", người ta trình diễn "Ca ngợi niềm vui" của Schiller, bản giao hưởng số chín của Beethoven.
Phải chăng đó là một bố thí cuối cùng? Phải chăng Adam muốn cho tôi nghe thêm một lần nữa it ra một bản nhạc của cuộc đời trọn vẹn trước khi loại tôi ra xa cuộc đời?
Nhưng bản hợp xướng không hát để đuổi tôi như những người sống đuổi những người chết ra khỏi phạm vi cuộc đời này, mà nó đã thu hút tôi như những cánh tay ôm những đoá hoa hồng.
Tôi ngồi, mắt nhắm lại để không nhìn thấy cử toạ, một mình run lên trước thiên thần hát bài ca ngợi niềm vui, vị Chúa ở trên các vì sao.
Tôi biết rằng cánh tay của vị Chúa đó có thể ôm tất cả các sinh linh, ngay cả những tạo vật nào không đạt đến chỗ chiếm lấy chỉ một trái tim.
Tôi tin chắc rằng chỉ cần có tình yêu và lòng tin là có quyền hoà chung vào đội quân hợp xướng những người hạnh phúc khỏi bị cưỡng ép phải khóc mà xa lìa nó.
Từ đó, niềm vui ấy đã hát lên trong tôi giữa dông tố, tuyết và đêm, giữa sự cô quạnh của đảo, như nó đã hát trong bài ca ngợi tối hôm đó.
Nhưng giờ đây, trong năm cuối cùng này, suốt những buổi tối dằng dặc và những đêm trường một mình tôi nằm trong phòng này, giờ đây tôi đã kẻ6 cho các bạn về cuộc đời tôi từ khi tấm bé đến tận ngày nay, sự sợ hãi đã xâm chiếm lấy tôi. Bài ca ngợi chẳng có lý chăng, Chúa sẽ không bằng lòng về niềm vui đang hát trong tim tôi chăng. Người sẽ không hỏi tôi đã thức dậy trogn tim người khác niềm vui nào chăng? Ở thiên đường đáng lẽ phải hoà tiếng của tôi vào tiếng hát hoan hỉ vĩnh cửu của hàng triệu người hạnh phúc, tôi có sắp khóc lên ở đó như tôi đã hát một mình ở dưới này? Các bạn có tin Chúa Trời của chúng ta muốn nhận tôi vào trong số người của Chúa? Trong thời gian mà một nửa đời đã ở đàng sau lưng, tôi đã sợ phá hỏng mất của nó một nửa đầu, giờ đây tôi sợ đã để phí hoài nó tất cả. Tôi sợ đã chỉ sống cho bản thân tôi, biệt lập trong túp nhà tranh này với hy vọng đến gần Dorete, đến gần Chúa. Tôi đã phải đấu tranh nhiều để đạt mục đích và chiến thắng. và sức tôi quá yếu khiến tôi quên hết mọi người khác để chỉ nghĩ đến tôi.
Bà không thể hiểu tôi, bà Ellen, cả ông, bác sĩ ạ, và cả ông mục sư nữa. Các bạn có bằng cấp, các bạn thông thái và có năng lực chữa trị và an ủi chúng tôi ở đây, trên hòn đảo của chúng tôi. Không, không, các bạn trẻ trung và không thể hiểu rằng mối sợ hãi này không liên quan đến tôi mà trái lại nó liên quan hơn tất cả. Sự tồn tại của tôi phải chăng đã mang lại kết quả, tôi đã có lòng tin, tôi đã hoàn thành các công việc, praxis pietatus theo cách nói của ông già Eberhard và ông đã thực hiện. Tôi sợ mình sẽ tay không đến trước Chúa là người đã tự hiến dâng. Chúa đã vạch ra con đường lên trời cho chúng ta, con đường đi qua bằng máu. Tôi sợ đánh mất cuộc đời vì thiếu tinh thần hy sinh. Tội lỗi duy nhất mà Chúa lên án.
- Cụ Clemens Bek! – Erik tìm bàn tay ông già – dù cụ nói như thế nhưng cụ vẫn là người cứu hòn đảo.
- Người cứu hòn đảo?
Một câu hỏi ngạc nhiên và lo âu đọc được trong mắt của cụ giáo.
- Cụ đã dùng những từ a khi nói về Jacobus Uz, và cụ đã nói, ông ấy không chết, ông ấy chưa thôi tác động làm yên lòng và cụ…
- A! sao không nói Jacobus Uz là người cứu hòn đảo? tôi đã làm được gì so với ông ấy, tôi có an ủi những người phiền muộn, những người bị đắm tàu, những kẻ không có nhà cửa không? Sau khi chết tôi có thể tiếp tục an ủi, nuôi người ta ăn, cho người ta ở không? Tôi đã xây dựhg cảng, đặt điện thoại, nối đảo với thế giới bên ngoài bằng điện tín. Nhưng tôi không yêu cầu thực hiện các công trình của tôi sau khi tôi chết, cái đó chỉ những con người vĩ đại mới có khả năng. Tôi chỉ yêu cầu làm được một việc có ích trong đời tôi, cái đó thì những con người bé nhỏ cũng có thể làm được.
- Cụ có hỉ ông ấy, cụ là người thế nào đối với đảo không? Và đối với cuộc sống của hòn đảo này? – Erik Lange nói vừa chỉ tay ra phía cửa sổ trong lúc đó đang có cái bóng bé nhỏ cúi người của Luce Camrath lướt qua. Nhưng cánh tay đã giơ lên bỗng dừng lại, bên cạnh Lucie còn có một người lạ cùng đi. Đó là người thuỷ thủ mà Ellen và anh đã trông thấy chèo thuyền vào bờ lúc sáng sớm.
- Cụ có khách thăm, thưa cụ Clemens Bek ạ - anh vừa nói vừa đứng lên khỏi ghế.
- Khách đến thăm tôi? chẳng bao giờ có khách lạ đến thăm tôi cả, huống chi bây giờ.
- Có lẽ ngay bây giờ - bác sĩ thong thả trả lời, mắt nhìn chằm chằm ra cửa, như vì linh cảm.
Cánh cửa mở, Lucie Camrath bước vào, theo sau là một người lạ. Lucie vẫn như mọi khi đứng ở ngưỡng cửa, rụt rè chào vợ chồng bác sĩ, ông mục sư, bà nhìn thật nhanh vào người ốm.
Người lại đi thẳng đến chỗ cụ Bek, cúi rạp xuống, chiếc mũ lớn ép sát vào ngực.
- Dù sao con cũng đã đến được rồi, thưa thầy. Đội ơn Chúa! Con tìm lại được thầy còn sống, chuyện thật gay go nhưng không ngờ…
Anh ngồi xuống chiếc ghế mà Erik vừa rời khỏi, và vén tay áo lau trán như anh vừa chạy một quãng đường dài.
- Nhưng anh là ai?
Cụ Bek nhổm dậy đột ngột, hai bàn tay run run bám vào thành giường.
- Thưa thầy, thầy không nhận ra con ư? Chúng ta đã cùng nhau ở ngôi trưởng nhỏ kia, và trên đảo này hơn mười lăm năm. Con là Ude Thyssen, một trong những đứa con của thầy.
- Ude Thyssen! Con đấy à? Người ta kể rằng con là một người giàu có, đã phát tài to ở Brazil. Con đã ở trong trường học của tôi. Và bây giờ con từ đâu đến?
Thuỷ thủ hơi cúi người về phía cụ già.
- Con đến từ Porto Alegre, thưa thầy, để…để..
- Từ Porto Alegre – cụ Bek kinh ngạc nói – Làm sao có thể thế được? con, một nhân vật quan trọng, con trở về đây ư? Nhưng… - cụ nhìn người kia, ái ngại – Con có biết mẹ con..chết rồi? Còn các anh chị em con không còn ở đây nữa? Có thể con còn những bạn thân ở đảo?
- Vâng – thuỷ thủ bây giờ nói với cụ rất gần, bốn mắt nhìn vào nhau – Vâng, thưa thầy, ở đây con còn có một người bạn thân, chỉ một trên đời này, đó là thầy.
- Tôi!
Giọng nói cất cao rồi im đi.
Người ta không nghe một tiếng động nào nữa ngoài tiếng tích tắc của chiếc đông hồ.
- Thưa thầy, đây là một trong các con thầy đến cám ơn thầy.
Người ốm run bắn lên khiến những người khác nghe họ nói chuyện trong phòng cũng có cảm tưởng run lên cùng.
- Và anh về bên tôi sau ba mươi năm ở Porto Alegre để…để\/…
- Để thăm lại thầy trước khi thầy mất, thưa thầy, và để cám ơn thầy, cầu phúc cho thầy nghìn lần và nghìn lần.
- Nhưng tại sao vậy? – Cụ Bek sờ soạng xung quanh cụ giống như người đang bị chói mắt – Vì sao và ở điểm nào tôi đã có ích cho anh?
- Có ích chứ! – giọng của Thyssen vỡ ra một nửa thành tiếng cười, một nửa thành tiếng nức nở - Thầy có ích cho con ở điểm nào ư? – một nụ cười rạng rỡ trên cặp mắt nâu của anh – Có cần kể chuyện đó không nhỉ, tất cả mọi người đêu biết cái tốt thầy đã làm cho họ. Nhưng khoan đã, con sẽ nói rõ với thầy điều đó. Con phải an ủi lòng con. Con không biết ông và bà này, nhưng vì họ ở trên đảo này và tại nhà thầy, con biết họ sẽ hiểu dễ dàng những gì con nói ra.
Hai bàn tay úp trên hai đầu gối, anh hơi đung đưa trên ghế ngồi, mắt nhìn xa xăm. Anh tìm những từ không thường dùng trong một ngôn ngữ không thường dùng, rồi nói rất khẽ:
- thầy biết đấy, từ khi mười lăm tuổi con đã đi khắp thế giới rộng lớn và chân con không giẫm lên đất Đan Mạch, con rất hiếm khi nói tiếng Đan Mạch với các thuỷ thủ của con. Nhưng con luôn luôn hỏi họ có ở đây không, họ có đến đây đánh cá không và họ có biết ông giáo thế nào rồi không. Mùa xuân này con nghe nói thầy bị ốm và vội vàng bỏ hết công việc để về đây ngay.
Mọi người đều lắng nghe, nhất là cụ Bek.
Bên ngoài mây lững lờ trôi trên bầu trời chiều hôm đó cũng như mọi chiều khác.
- Ông có tổ ấm của tuổi ấu thơ ở đây – Erik ngập ngừng thì thầm.
Người thuỷ thủ vẫn đung đưa, rồi anh cúi đầu.
- Ồ, tổ ấm của tuổi thơ tôi, đúng thế…
- Có lẽ ông nghĩ đến cái tổ ấm trong thời ông còn là trẻ con.
- Tổ ấm của tôi! Hai ông và bà không biết cái đó, nhưng đó là sư xấu hổ của đảo, đúng sự thật là thế. Tuy rằng đảo rất bé, nó vãn luôn luôn lương thiện. Tuy nhiên nó đã có một gia đình, mà ở đấy cái ác ẩn nấp, và hồi bấy giờ là gia đình tôi. Tôi tin cái sai là của mẹ tôi, bà là người Thuỵ Điển và không thể thích nghi với cuộc sống ở đây cũng như những người khác. Có người bảo tôi rằng bà là một cô gái xinh đẹp khi cùng với bố tôi đến đây, nhưng bà đã tái người đi khi trông thấy túp lều của bố tôi, và hoang mạc cùng với biển ở bốn bề. Còn bố tôi thì cũng không phải là trong số những người đáng được tự hào gì cho cam, chẳng tốt, cũng chẳng ác, thờ ơ với tất cả, chẳng nhiệt tình với công việc, càng say mê chơi bời nhưng lại mau chán, hơi say rượu, hơi kém sức khoẻ.
Tôi có rất nhiều anh chị em, tất cả đều là con bất hợp pháp. Tổ ấm với tôi, đó là con cừu già, luống khoai tây gần hoang mạc, và một chiếc đồng hồ cũ từ gia đình mẹ tôi ở Vorgerg. Một hôm bố tôi đã ruồng bỏ tất cả và đi ra biển, ông đã hứa sẽ gửi về cho chúng tôi một phần tiền lương của ông, nhưng, dĩ nhiên là ông đã bị bão tố quét đi từ trên thuyền. Qủa là một con người đáng thương. Còn tôi , ở đây thế là quá đủ rồi, để mà thấy người ta nhìn mình bằng con mắt khinh bỉ, để mà nghe người ta nói tôi sẽ khó mà sống được, tôi sẽ giống như bố mẹ tôi. Đúng ra thì tôi chán ghét hòn đảo và dân đảo, thêm vào đó là ghét mẹ tôi, cả các anh chị em tôi. Tôi thấy rằng họ làm cho tôi xấu hổ.
Bây giờ tôi biết bà ấy đã chết từ lâu và anh chị em tôi thì li tán khắp nơi. Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ gặp lại họ và thăm lại hòn đảo. Tôi chỉ thấy ở đây là xấu hổ, là khốn cùng và cát sỏi.
Tôi đã ra đi trên một chiếc tàu buôn Thuỵ Điển và đã thấy bờ biển biến mất sau chân trời, tôi chán ngay cả hướng đi về phía đảo và tự hứa với mình là sẽ làm cho mọi người thấy những điều họ tiên đoán về tôi là sai hết.
Nhưng năm tháng trôi đi. Và các ông này sẽ không hiểu rõ được tôi đâu, họ không hiểu thế giới như tôi được, tôi là thuỷ thủ mà, và tôi lại chỉ có một mình trong cái đám đông ồn ào, tôi đã đi vòng quanh trái đất, qua mọi nòi giống và đã trông thấy con người đúng bản chất của nó.
Không, các ông không thể hình dung ra điều gì mà một cậu bé như thế có thể học được và nó sẽ không quên cái đó khi nó thành một người lớn, bởi mỗi cuộc gặp nó thực hiện đều làm sống lại các kỷ niệm.
Lúc bấy giờ, dần dần tôi bắt đầu nghĩ đến cụ. không phải là nghĩ đến những gì cụ đã dạy chúng tôi, cái đó thì tôi đã quên hết phần lớn rồi, và cái đó chắc hẳn là không thể trội hơn những kiến thức của phần lớn các nhà thông thái. Chính là tôi nghĩ về bản thân thầy, chẳng hạn như người ta trông thấy cụ trên những con đường ở đảo chúng tôi, ở trường và trong túp lều của cụ. Cụ luôn luôn dễ mến và vui vẻ, cụ nhường bước cho người khác đi qua. Và cụ đã nói với các ông về kinh thánh. Chính cụ là người đáng quý hơn tất cả những người mà cụ kể chuyện cho chúng tôi nghe, không bao giờ nổi giận với chúng tôi, cụ chỉ lộ vẻ mặt kinh ngạc khi chúng tôi hư, hình như cụ không thể tưởng tượng ra được chuyện như thế.
À, mà vâng, tôi nhớ lại tất cả những cái đó khi nhìn thấy những người đàn ông, ở đó đây, xử sự với nhau cứ như là họ tồn tại một mình họ, và như thể người ta đã hứa với họ bằng văn bản rằng họ sẽ có được tất cả những gì họ muốn và hơn thế nữa, và chúng ta chỉ đáng là đồ bỏ đi, phải ném qua thành tàu.
Khi tôi trông thấy kiểu họ sống ở đấy, ngoài kia, những quý ông ở những xứ nóng giàu có, với một nô lệ da đen ở mỗi bước đi, và bản thân tôi, tôi đã trở thành gần giống như họ tự bao giờ mà tôi không biết, giống về cách ăn, cách uống và trong mọi nhu cầu.
Tôi nhớ đến cụ. Vốn là một con người được học hành tử tế, sao cụ lại vui vẻ chấp nhận một cuộc sống cùng khổ trên hòn đảo hoang vắng này. Luôn luôn với một nụ cười và cảm ơn từng người với vẻ mặt như mình đã chiếm mất quá nhiều chỗ…
Và đối với tôi, cụ đã thành quê hương như các ông vẫn thường nói, như một mảnh đất để tôi có thể hạ neo để khỏi chìm. Đó là lý do khiến tôi không trở thành một con vật như những người khác , cả trong lúc tôi còn là một đứa trẻ bị khinh rẻ, cả về sau này, mà tôi đã xử sự gần như đúng đắn.
Chúng tôi là trẻ con, chúng tôi đã cười khẩy khi thấy cụ chẳng được lợi lộc gì ở hòn đảo, cả ở chúng tôi, cả ở tất cả những gì còn lại mà chúng tôi cho chỉ là con số không.
Nhưng từ ấy, khi nhìn thấy những con người lấy ra được gì từ biển cả và từ mặt trăng, và từ cả bầu trời, tôi tự hỏi không biết có phải cụ đã có lý, cụ đã phát hiện ra những ý định thực của Chúa.
Chúng ta ấy mà, chúng ta chỉ đọc thế giới như một học giả đọc Kinh Thánh. Còn tôi thì cố thử nhìn thế giới bằng mắt của cụ.
À mà này! Ở đây chẳng có ai đi bép xép, vả lại cũng chẳng có gì xảy ra, tôi có thể nói thật, một đêm tối mịt, bốn người trên tàu tôi đã cầm con dao của tôi để đập vào lưng một người đã bước trên tôi như người ta đập một con chó, và hắn chỉ đáng chết.
Hắn đã quyết định giết tôi ngay sau đó. Tôi thấy hình như tôi sẽ chẳng còn đòi được sống nếu tôi trông thấy hắn bị ngã nhào và máu của hắn vấy bẩn bàn tay tôi. Không chỉ mình hắn tôi có ý định giết, mà là giết tất cả những ai muốn làm điều ác cho tôi, theo như ý của tôi, tôi muốn đập cả thế giới.
Ô, vâng, cuộc đời của một cậu bé một mình cô đơn giữa mọi người có thể trở thành như thế. Nhưng đúng giữa lúc tôi giơ cao con dao và tôi còn nghe tiếng gió ríot trong các thừng chão thì hình như tôi thấy cụ, khuôn mặt tái nhợt của cụ trong bóng tối, và rất hiền, tôi tưởng như đó là khuôn mặt của Chúa. Tôi để con dao tuột vào trong ống tay áo và thoát chạy. Tôi chịu ơn thầy giáo già của tôi là đã không trở thành một kẻ giết người và cũng không bị chết từ lâu rồi.
Sau cái đêm đó, cụ thường hiện về với tôi mỗi khi tôi sắp sửa trèo quá cao và tôi không muốn xuống lại, mỗi khi tôi muốn tìm cách đập bằng dao găm không phải vào cuộc sống của những người khác mà chỉ vì cái ăn hàng ngày. Cụ đã trở về, giữa lúc tôi sắp đánh mất cái duy nhất đáng sống khi tuổi càng cao và khi có một chút tự trọng.
Cụ đã đến ngày và đêm, ở miền nam và miền bắc nhắc cho tôi rằng cụ không nghĩ đến bản thân. Cụ đến như một lời hứa của sự hiện diện của Chúa. Và chính vì thế, hôm nay tôi về đây để cám ơn cụ lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Cảm ơn cụ đã tồn tại trên thế giới này, một con người như cụ. Tôi đã luôn nghĩ đến quay về thăm cụ, nhưng biển và tiền thường làm người ta quên. Thời gian trôi đi, kết cục người ta quên luôn cả mình. Tuy nhiên, cái chết ở đấy để đánh thức chúng ta.
Chúng ta đã nghe nói đến vườn Eden với những suối, hoa, và những con vật cùng vui gặm cỏ\/ đối với tôi mảnh vườn như thế ở đây, giữa sóng nước quạnh hiu và trong đám người đông ồn ào có một chỗ ở thanh bình.
Về sau tôi đã hiểu ra rằng có đức Chúa Trời của chúng ta, ở trong vườn và cũng có nước Đan Mạch, một nước tuy bé nhỏ giữa các nước khác, nhưng dẫu sao vẫn là xứ sở của tuổi thơ tôi. Ổ đấy lạnh giá, ở đấy âm u, và con người sống thiếu thốn, eo hẹp như cụ giáo, nhưng không ham danh, hám lợi như ở kia.
Đấy, đối với tôi cụ ấy là tất cả những thứ đó, trước tiên tất cả cái gì là tốt, rồi đến Chúa, trước tiên là tổ ấm của tôi rằng đến quê hương tôi.
Và người nào không hoàn toàn đánh mất quê hương và Chúa của mình, thì sẽ không bao giờ như ai đó tưởng rằng chỉ mình anh ta có thể chiếm hữu thế giới cho riêng mình. Chính vì thế, cuối cùng tôi đã về để nói với cụ ấy tất cả những điều đó và để thăm lại cụ trước khi cụ mất.
Người thủy thủ đột ngột quay về phía người ốm tưởng chừng như anh muốn ngã đổ vào cụ.
- Thầy có thấy không, vì thế con về đây, chính cái đó thúc đẩy con trở về.
- Thúc đẩy anh trở về từ Porto Alegre! – cụ Bek nói ấp úng vừa úp hai bàn tay mình vào bàn tay của Thyssen.
- Đúng thế - người kia đáp – Bảo rằng chúng ta tưởng tượng hòn đảo quá nhỏ, và chúng ta quá lớn, vậy thì chúng ta càng có thể đi ở đây, nhưng bây giờ chúng ta đã nhìn thấy thế giới, ở đấy, ngoài kia, chúng ta đã hầu như tin rằng chúng ta đã cùng kích cỡ, hòn đảo và chính mình. Tất nhiên là đảo không phải bé hơn mà chúng ta đã trở thành bé hơn. Con nghĩ rằng một ngày kia đảo có thể thừa hưởng một ít của cải con có để cho nó có thể không tầm thường và không nghèo như một thằng bé khác, và thằng bé này không có ý định để mẹ nó ở lại đó, v`i bà ấy đã đi nơi khác, và cả anh chị em của nó nnb, chỉ vì một ý định là để xoay xở ở ngoài kia. Chúng ta biết rõ rằng sinh ra ở trên đảo là một chuyện rất khó. Và nếu chúng ta không thể đến giúp đỡ cho người nhà, thì ít ra chúng ta cũng muốn giúp đỡ người khác. Di sản có tên là "Kỷ niệm của Clemens Bek". Bởi vì nếu cụ không sống ở đây thì co nsẽ không bao giờ trở về đây.
- Trở về từ Porto Alegre – Cụ Bek thì thầm. Lange, Ellen và mục sư Honorius lặng lẽ đi về phía cửa. Họ nhìn ông già mà cả đời đi qua trên đảo bắt tay thật mạnh người đàn ông đã vòng quanh thế giới ba lần và trở về để bắt tay cụ.
Clemens Bek không nhìn thấy họ và đôi mắt của Lucie cũng dán vào Clemens và người thuỷ thủ. Những người khác nhận thấy một nụ cười trên môi của cô gái già. Bà sung sướng, sung sướng cho Bek, sung sướng cho bản thân bà khi nghĩ rằng một người đã bao lần đi vòng quanh thế giới vừa mới đi vòng quanh căn phòng này. Trong khi cánh cửa đóng lại phía sau Ellen, ba người trẻ tuổi nghe cụ Bek thì thầm:
- Từ Porto Alegre…
★
★
★
★
★
0