📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Hành trình tìm lại cội nguồn

40 trả lời, 1.386 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-25 14:59:09Tư Tứ>
TRAO ĐỔI LẠI VỚI ÔNG TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG

Tôi chưa có trong tay “Sử Việt đọc vài quyển” của ông Tạ Chí Đại Trường mà chỉ được liếc qua nó trong bài giới thiệu trên BBCOnline ngày 11.5.2005. Thấy những dòng sau :

“Nhà chính trị trong niềm u uất của người dân mất nước, đem phóng đại quá khứ dân tộc để vẽ ra một tương lai huy hoàng. Tương lai đó có vẻ đã trở thành hiện thực trong thời đại độc lập, nên nhà ‘nghiên cứu’ thấy quá khứ kia đúng là hiện thực của thời đã qua, liền tô vẽ thêm bằng ngôn từ khoa học, triết lí mình thu nhận của thời nay. Do đó, Khổng Nho biến thành Việt Nho, dân Việt không còn là một nhóm người ở Giao Chỉ / Giao Châu như của Ngô Thì Sĩ hay lấn lên hồ Động Đình như của Ngô Sĩ Liên mà lại đúng là chủ nhân ông của đất tộc Hán, nên cố giành lấy Hà đồ, Lạc thư về mình ! Chính trị, huyền sử đã trở thành lịch sử - trong ước mơ. Tinh thần dân tộc của thời mới đã làm đảo lộn nội dung đồng văn xưa cũ. Không phải người Hán dạy dân Việt mà dân Việt đã khai phá văn minh cho dân Hán. Tiến trình vương hóa không đi theo dòng địa lý bắc – nam mà là chuyển hóa từ bên trong giữa hai dân tộc trên cùng địa vực, trong đó dân Việt là chủ thể phát tán. Tuy nhiên, khi cho rằng tương quan Thiên triều / phiên thuộc của quyền lực cụ thể trong quá khứ phải hiểu đảo lộn trong lãnh vực văn hóa, nhà ‘nghiên cứu’ triết gia muốn thành sử gia – và những đồ đệ nối tiếp trong và ngoài nước cho đến bây giờ, đã để lộ ra một tinh thần tự ti dân tộc ráng che mà không kín.”

Và :

“Giả thuyết của S. Oppenheimer và các thành quả về mtDNA mới đây không phải chỉ là sự lừa dối, nhưng đem áp dụng cho ‘vua Hùng’ thì có dáng như một hứng khởi vì tìm được bằng cớ mới cho một thành kiến tự tôn, thiếu cơ sở của niềm tự ti che giấu (thuyết Việt Nho... phát triển thêm lối rao giảng cũ từ thời qua Mỹ với Ngũ Kinh, Sứ điệp trống đồng... trong hoang tưởng về một giải Nobel-mới tự đặt) của LM Kim Định mà các ‘học giả’ trong nước cũng đang bắt chước... Đem ảo tưởng về một đất nước văn minh tuyệt vời dạy cho học trò nhỏ, chỉ tập cho chúng tính huênh hoang, mai mốt lớn lên thật khó chen chân vào thế giới.”

Có sự thật là, cho đến cuối thế kỷ trước, nghiên cứu cội nguồn người Việt bị chặn đứng lại trước lý thuyết của L. Aurousseau. Không chỉ học giả trong nước mà ngay cả những trí tuệ hàng đầu nhân loại cũng bị kìm chân trong thư tịch Trung Hoa cùng những tư liệu thời thuộc Pháp. Trong khi đó, về mặt tâm linh, cả dân tộc Việt vẫn bền bỉ hướng về quá khứ xa xôi với Phục Hy, Toại Nhân, Thần Nông rồi Lạc Long Quân-Âu Cơ. Không ai chịu ai, dân gian và bác học hồn ai nấy giữ !
 
Linh mục Kim Định đơn thương độc mã bứt phá khỏi tình trạng đắm chìm này của học thuật chỉ với chiếc phao duy nhất là những dòng trong sách của Vương Đồng Linh và Chu Cốc Thành : “Trước khi người Hán vào Trung Nguyên thì người Việt đã từ lâu chiếm lĩnh 18 tỉnh Trung Quốc.” Một suy lý giản đơn : người Việt đã sống từ lâu trên đất Tàu thì nền văn hóa từng có ở đó phải là của người Việt ! Rồi bằng linh cảm thiên tài của triết gia, ông giải mã những huyền thoại và mở ra chân trời mênh mông cho Việt học: Việt Nho, An Vi… Hơn thế, ông là người rất sớm và có tiếng nói thuyết phục đòi lại kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư cho tộc Việt !
 
Những ý tưởng lật nhào mọi quan niệm hiện hành như vậy tất yếu chịu sự chống trả quyết liệt. “Thiếu căn bản khoa học !” là câu nói cửa miệng của giới khoa bảng. Rất nhẹ nhàng nhưng lại mang sức nặng của nhát búa dáng xuống quan tài. Sau đó là im lặng chối bỏ. Và lâu lâu thành cười cợt đàm tiếu mà những lời dè bỉu trên của tiên sinh họ Tạ là ví dụ !
 
Trong thế kỷ XX, những học giả quan phương ấy không đáng trách bởi lẽ đó là giới hạn tri thức của thời đại họ.
 
Nhưng sang thế kỷ này, khi Eden in the East, Out of Eden –Peopling of the World, và những tài liệu về Đa dạng di truyền người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project) đuợc công bố thì suy nghĩ trên đã trở thành tội lỗi.
 
“Giả thuyết của S. Oppenheimer và các thành quả về mtDNA mới đây không phải chỉ là sự lừa dối, nhưng đem áp dụng cho ‘vua Hùng’ thì có dáng như một hứng khởi vì tìm được bằng cớ mới cho một thành kiến tự tôn, thiếu cơ sở của niềm tự ti che giấu.”
 
Những lời trên được xuất bản vào năm 2004 khiến tôi không thể không tự hỏi: phải chăng ông Tạ Chí Đại Trường hiểu thấu đáo điều mình nói ? Xin sử gia hãy chứng minh rằng Eden in the East là lừa dối ! Cũng xin ông đưa ra chứng lý phản bác các thành quả về mtDNA ? Tôi đoan chắc lĩnh vực này không thuộc sở trường của Tạ tiên sinh nên trước khi có thể nói gì, ông cần phải học ! Học để hiểu được rằng :
 
- Bằng chứng di truyền học cho thấy, theo con đường phương Nam, người tiền sử đặt chân trước hết tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước và khoảng 40.000 năm trước tiến lên khai phá miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Người Hán, tộc người đông nhất hoàn cầu chỉ ra đời khoảng 2600 năm trước công nguyên, là con lai giữa người Bách Việt và người Mông Cổ phương Bắc. Tất cả những thành tựu văn hóa xuất hiện trên đất Trung Hoa từ 2600 năm TCN trở về trước đều là sản phẩm của Việt tộc. Sau trận Trác Lộc, có một dòng người Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về Việt Nam dựng nước Văn Lang và làm chuyển hóa di truyền của cộng đồng Việt từ Australoid sang Mongoloid phương Nam. Cuộc di cư trở lại nguồn này do Lạc Long Quân dẫn dắt... Đúng là huyền sử đã trở thành lịch sử ! Hay nói cách khác : những bằng chứng khoa học không thể phủ nhận đã xác minh sự thật lịch sử nằm trong truyền thuyết ! Học thuyết của Kim Định đã được khoa học chứng nghiệm. Thực tế cho thấy, vị triết gia thiên tài này đã đóng góp phát kiến lớn lao nhất về văn hóa Việt !
 
Nếu ông có tội thì đó là tội quá yêu dân tộc và đi trước thời đại.
 
Viết sử là chuyện khó mà việc bình sử cũng chẳng dễ dàng gì, bởi lẽ cả hai cùng là nhìn nhận về sự vật. Chỉ gần đây, do sự khủng hoảng của vật lý học hiện đại, con người mới thấu hiểu được rằng, không hề có sự vật tồn tại độc lập khách quan mà chỉ có sự vật tồn tại trong nhận thức của con người. Một ngôi nhà, góc phố, một dòng sông, cánh đồng… chỉ hiện hữu trong nhận thức chủ quan của từng con người cụ thể. Vậy thì một triều đại, một phong trào, một trận đánh… lại càng phụ thuộc hơn vào cách nhìn chủ quan ấy ! Không có chân lý sao ? Có, chân lý có đó nhưng bao giờ cũng chỉ là chân lý tương đối, chỉ có thể tiếp cận theo đường hyperbol. Lẽ đời đơn giản này bác bỏ tất cả mọi mưu toan muốn độc quyền chân lý !
 
Với giọng lưỡi đầy mỉa mai, ông Tạ Chí Đại Trường diễu cợt học giả Kim Định : “nhà ‘nghiên cứu’ triết gia muốn thành sử gia”, “trong hoang tưởng về một giải Nobel-mới tự đặt” (!)
 
Không thể không phản cảm trước thái độ trên của một nhà khoa học ! Phải chăng ông cho sử gia cao quý hơn và là lĩnh vực dành riêng cho những người như ông chứ không phải của triết gia như Kim Định ? Nếu quả vậy thì chính ông đã quá mau quên gốc gác của mình : người phương Đông vốn không tách bạch giữa sử với văn và triết. Sự phân chia như hiện nay chỉ là học đòi từ khuynh hướng phân tích-chủ biệt của phương Tây. Và đấy là dấu mốc nói lên sự suy thoái của học thuật Đông phương. Nhìn sự vật cùng lúc với ba hệ quy chiếu vừa văn vừa sử vừa triết là cực khó nhưng dù sao đó cũng là nhìn vật sống. Một khi tách bạch nó thành văn, sử, triết riêng rẽ thì đã giết chết nó rồi, chẳng khác gì việc lôi lục phủ ngũ tạng của con vật ra mà “nghiên cứu” ! Nghiên cứu được đấy nhưng là nghiên cứu cái xác chết !
 
Hình như thời thế đã đổi khác, nhà sử học bây giờ không còn là người nắm được nhiều tư liệu mà là người có khả năng kết nối rồi giải mã những tư liệu vô cùng phong phú do công nghệ thông tin mang lại. Như vậy, nhà sử học phải là nhà bác học thực sự làm chủ kiến thức liên ngành. Trong nhà sử học không chỉ có nhà văn học, nhà triết học mà còn cần một nhà khảo cổ, nhà nhân chủng học, nhà sinh học, nhà dân tộc học, nhà chính trị… Chỉ có thế mới cơ may tiếp cận chân lý lịch sử. Không những vậy, rất có thể, trong trường hợp nào đấy, nhà sử học còn phải là một nhà đạo học để từ thiền định quán tưởng tìm ra cái Đạo của Sử. Chuyện này nếu xảy ra thì cũng không lạ. Với những phương tiện tinh vi nhất, gần đây nhà vật lý hạ nguyên tử mới phát hiện được Đạo của Vật lý (The Tao of Physics – tên một cuốn sách của Fritjof Capra). Nhưng bằng quán tưởng, từ nghìn xưa, nhà đạo học phương Đông đã tìm ra cái Đạo đó rồi! Kim Định giống như nhà vật lý thiên văn tìm ra thiên thể mới ngoài dải Ngân Hà mà nhiều thập niên sau kính viễn vọng mới theo kịp. Người nay mỉa mai Kim Định có khác gì người xưa cười nhạo Copernic !
 
Từng thích thú khi đọc cuốn sử nội chiến của Tạ tiên sinh. Nhưng đọc nhiều bài của ông gần đây trên mạng tôi cảm thấy buồn về con người mình quý trọng. Nơi những bài viết đó, xen với một số ý kiến nghe được lại là những lời xỏ xiên cạnh khóe. Trộm nghĩ, nó không làm tăng thêm phẩm giá sử gia nơi ông. Chẳng ai cả đời sáng suốt. Thiên tài như Einstein kia cũng có lúc trở thành bảo thủ. Đã từng thưa lại với giáo sư Cao Thế Dung về chuyện tương tự nhưng tôi cảm thông vị giáo sư già ở sự lầm lẫn chân thành. Uy quyền học thuật nếu có thì được tạo nên bởi tác phẩm chứ không phải bằng giọng của những tiên thứ chỉ mục hạ vô nhân.
 
Hơn một lần, người viết nói về sự phản thùng của tri thức. Ở đây, hiểu biết hữu hạn đã phỉnh nịnh vinh quang quá khứ, biến những con người từng một thời sáng láng trở thành chú đà điểu tội nghiệp vùi đầu trong cánh. Âu đó cũng là quy luật của muôn đời : sinh, lão…
 
                                                                                                                                               Sài Gòn, 18/9/2007
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-25 15:07:11Tư Tứ>
TRAO ĐỔI VỚI PHÓ GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN CHINH
 
Cảm ơn Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã đọc cuốn sách của tôi và cho những nhận xét chân thành.
 
Là kẻ hậu sinh, tôi được thừa hưởng nhiều thành quả nghiên cứu từ Phó giáo sư cùng đông nghiệp của ông. Việc giới khảo cổ Việt Nam đi sâu nghiên cứu thời Hùng Vương, đưa thời đại này từ trong truyền thuyết trở thành chính sử là cống hiến lớn cho văn hóa dân tộc. Việc khẳng định nguồn gốc bản địa của văn hóa Sa Huỳnh cũng nói lên tiếng nói độc lập của giới khoa học nước nhà... Tuy nhiên, tôi vẫn có cảm tưởng rằng, những gì làm được chưa tương xứng với đòi hỏi của dân tộc. Và cũng có cảm nhận là về phương diện này, chúng ta chậm lụt so với thế giới.
 
Từ suy nghĩ thực lòng và trách nhiệm, tôi xin thưa lại đôi lời
 
I. Về nguồn gốc và sự di cư của loài người.
 
Phó giáo sư viết : “Ngày nay tư liệu về cổ nhân cũng như khảo cổ đều cho thấy trên châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Bắc Á đều phát hiện di cốt của cả một quá trình biến diễn từ Người vượn đứng thẳng (Homo erectus) qua Người hiện đại cũ (Homo sapiens) sang Người hiện đại mới (Homo sapiens sapiens). Những tư liệu đó cùng với tư liệu khảo cổ cho thấy ngay từ thời tối cổ cũng không hề có một dòng thiên di từ châu Phi qua Nam Á rồi sang Đông Nam Á, từ đây lại chuyển lên phía bắc. Có thể trước đây có một vài người theo thuyết một nguồn gốc nêu lên như vậy, nhưng những phát hiện ngày nay đã khác.”
 
Đúng là cho tới những năm 70 thế kỷ trước, khi thuyết Đa trung tâm thắng thế, ý tưởng trên thống trị cộng đồng khoa học thế giới. Thuyết này cho rằng: con người sinh ra tại nhiều nơi trên trái đất rồi tuần tự tiến hóa trở thành người hiện đại. Nhưng tới cuối thê kỷ, với những phát kiến mới nhờ công nghệ di truyền, đại đa số trong cộng đồng khoa học rời bỏ thuyềt trên, ủng hộ thuyết Một trung tâm. Thuyết này cho rằng: Loài người được sinh ra ở Đông Phi, khoảng 180.000 năm trước, từ người đàn ông duy nhất và 3 người đàn bà, cho ra 3 đại chủng: da đen, da trắng, da vàng.
 
Những công trình nghiên cứu của Specer Wells vẽ ra Bản đồ thiên di cùa loài người (Human migrations) cho thấy, khoảng 85.000 năm trước có cuộc di cư của người hiện đại từ châu Phi sang Trung Đông rồi lan ra khắp thế giới. Khoảng 70.000 năm trước, có một nhóm từ Trung Đông về hướng đông, băng qua Ấn Độ, Pakistan, theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam.
 
Song song với S. Wells, những nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ trong Dự án Đa dạng di truyển người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project) do Y. Chu dẫn đầu, phát hiện con đường phương nam của người hiện đại tới Việt Nam sau đó lên Trung Quốc  rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Công trình này được công bố ngày 29. 9. 1998 đã gây chấn động giới khoa học Mỹ. Từ đó tới nay chưa có ai phản bác.
 
Cũng những năm 70 thế kỷ trước, thịnh hành quan điểm cho rằng, người Neanderthals, đại diện của Người đứng thẳng Homo erectus, là tổ tiên của người da trắng châu Âu. Nhưng sau đó, bằng công nghệ gene, người ta biết được, Neanderthals tuyệt chủng 24.000 năm trước, nhiều lắm cũng chỉ là anh em họ với người châu Âu hiện đại.
 
Như vậy, những điều Phó giáo sư nói trên không còn phù hợp nữa.
 
 2. Về nguồn gốc và văn minh Việt
 
Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết : “Qua đó có thể nói nguồn gốc dân tộc Việt Nam là từ cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời trên đất nước ta. Cư dân này trong thời đại đá mới là ngươì Melanesien và Indonesien thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Sang thời đại kim khí do sự cộng cư hoà đồng cùng cư dân Hoa Nam tràn xuống, yếu tố Mongoloid ngày càng đậm thêm thành chủng người Nam Á”
 
Phát biểu của PGS thể hiện quan điểm của thuyết Đa trung tâm. Nhưng muốn vậy, cần rất nhiều chứng minh.
 
Câu hỏi trước hết: Ai là tổ tiên những người Indonesien, Melanesien ấy? Theo logic của Phó giáo sư thì đó là Người vượn Núi Đọ có mặt 300.000 năm trước! Muốn chứng minh điều này, phải phát hiện hàng loạt hài cốt những lớp người nối tiêp nhau cho tới người Sơn Vi 30.000 năm cách nay. Đó là điều không có và không thể có bởi lẽ, cũng như người Bắc Kinh, Jawa, người Núi Đọ chỉ là giống người cổ đã tuyết chủng, không dây mơ rễ má gì với H. sapiens. Khoa học đã xác minh được rằng, những người vượn trên cũng từ châu Phi di cư tới. Hiện cũng chưa tìm được mối liên hệ trực tiếp giữa H. erectus và người hiện đại trên địa bàn Đông Nam Á.
 
Ở đây Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã có sự lầm lẫn đáng tiếc. Người Melanesien, Indonesien không thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á (H.1983), tác giả Nguyễn Đình Khoa nói rất rõ: “Vào thời Đá Mới, dân cư Việt Nam thuộc loại hình Australoid. Sang thời Đồng-Sắt, yếu tố Mongoloid xuất hiện và trở thành chủ thể trong dân cư. Yếu tố Australoid mất dần đi, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.” Điều này năm 2005 M. Oxenham, giáo sư Đại học Quốc gia Australia, khi khảo sát 30 bộ hài cốt của di chỉ Mán Bạc một lần nữa xác nhận.
 
Tác giả Nguyễn Đình Khoa cũng cho thấy, người tiền sử Việt Nam bao gồm hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo ra 4 chủng: Inđonesien, Melanesien, Negritoid và Vedoid. Tất cả đều thuộc loại hình Australoid. Và Nguyễn Đình Khoa, sau đó M. Oxenham đã chứng minh, cuộc Mongoloid hóa thành chủng Mongoloid phương Nam ổn định vào trước 2000 năm TCN.
Bằng so sánh hình thái sọ, khoa cổ nhân học đưa ra nhận xét chính xác đó nhưng chưa thể trả lời: nguyên nhân nào dẫn tới sự thay đổi như vậy?
 
- Về câu : “Những tư liệu trên cho thấy không có một dòng thiên di lớn từ vùng Đông Nam Á lên miền Bắc Trung Quốc trong lịch sử”
 
Thưa Phó giáo sư, đó là giới hạn của tri thức nhân loại cho tới gần cuối thế kỷ XX. Những phát kiến mới đây nhờ công nghệ gene, cho ra bức tranh khác hẳn : đợt di cư đầu tiên, người tiền sử đã tới Đông Nam Á. Sau khi dừng lại 10.000 năm để hòa huyết, tăng nhân số, người từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Khoảng 8000 năm cách nay, trong cơn Đại hồng thủy, người Đông Nam Á lên Trung Hoa còn nhiều hơn.
 
- Về câu : “Trên vùng sông Dương Tử và luu vực Hoàng Hà không hề có dấu tích văn hóa Hòa Bình.”
Đấy là lầm lẫn đáng tiếc của nhà khảo cổ. Năm 1921, khi phát hiện di chỉ Ngưỡng Thiều, nhiều người cho rằng đó là dấu tích lan tỏa của văn minh phía Bắc xuống phía Nam qua Long Sơn. Nhưng ngay từ năm 1932, Hội nghị khảo cổ học tiền sử Viễn Đông đã khẳng định: “Văn hóa Ngưỡng Thiều và cả Long Sơn đều là từ Hòa Bình sớm đi lên.” Tiếp đó, suốt thế kỷ trước hàng loạt chứng tích văn hóa Hòa Bình mà tiêu biểu là chiếc rìu có vai được tìm thấy trong lòng đất lưu vực Hoàng Hà, Dương Tử.
 
Về câu : “Trong giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên mở đầu thời Tiền Đông Sơn (khoảng 4000 – 3500 năm trước) cư dân Phùng Nguyên mới biết đến kỹ thuật luyện đúc đồng thì thời Thương họ đã đúc được những chiếc đỉnh đồng nặng tới 700kg.”
Theo nhiều tài liệu được công bố thì hiện vật đồng thau đầu tiên tìm được ở Việt Nam là tại Phùng Nguyên, có tuổi 1850 năm TCN, còn ở Trung Quốc là tại Anyang vùng Sơn Tây, niên đại 1300 năm TCN. Chính các chuyên gia khảo cổ học thế giới xác nhận, đồ đồng được phát sinh trước ở Việt Nam rồi từ đây đưa lên Trung Hoa.
 
Một câu khác: “Trên đất Sơn Đông làm gì có dân Việt nào.”
 
Điều này trái với thực tế. Đấy chính là người Đông Di theo cách gọi của các thủ lĩnh Hoa Hạ. Các sử gia Trung Hoa như Chu Cốc Thành và Vương Đồng Linh cũng cho rằng: “người Việt theo sông dương tử xuống đồng bằng Hoa Nam rồi men theo duyên hải lên khai phá vùng Hoa Bắc, làm chủ cả 18 tỉnh nước Tàu trước khi người Hán kéo xuống.” Như vậy không thể không có người Việt ở Sơn Đông. Đấy chính là trung tâm quan trọng của người Việt.
 
Về câu:“khoảng 40.000 năm trước người Việt chưa hình thành, vì lúc này con người đang trong giai đoạn cuối để hoàn thành quá trình hình thành con người về mặt sinh học và bắt đầu hình thành các đại chủng, cư dân sinh sống trên miền trung và bắc Việt Nam lúc bấy giờ chưa phải là người Việt.”
Quả thực, tôi không hiểu căn cứ vào đâu mà Phó giáo sư nói như vậy. Theo chỗ tôi biết thì chưa hế có chứng cứ nào xác nhận điều này.
 
Những tài liệu công bố gần đây như Ánh sáng mới trên quá khứ bị lãng quên của G. Solheim II, Địa đàng ở phương Đông của S. Oppenheimer và nhất là công trình của nhóm giáo sư Y. Chu đưa ra thông tin khác hẳn: Tới Việt Nam, Homo sapiens từ giã thời đại Đá Cũ, bước vào thời Đá Mới với những dụng cụ đá mài tinh xảo mà đỉnh cao là chiếc rìu đá có vai. Những nhóm người từ Việt Nam, từ Đông Nam Á vượt hàng vạn cây số tới châu Úc, châu Mỹ không thể là con người chưa hoàn thành về mặt sinh học. Cũng không như Phó giáo sư nói, lúc này không phải bắt đầu hình thành các đại chủng mà là tại đất Việt, hai đại chủng từ Trung Đông tới, hòa huyết tạo ra cộng đồng người Việt. Lên Trung Quốc, do sống trong hoàn cảnh địa lý khác nhau, bốn chủng này phân ly thành Bách Việt.
 
Về câu: “lúc này cả thế giới, chứ nói gì đến người Việt đã làm gì có nông nghiệp, mà lại là nông nghiệp trồng lúa nước.”
 
Quả là ở đây tôi viết gộp lại nên gây hiểu lầm. Ở chỗ khác, tôi nói rõ: “Lúc đầu người Việt mang rìu đá đi mở đất, sau đó từ Hòa Bình đưa lên giống lúa, giống gà, giống chó…” Về thời điểm hình thành nông nghiệp, có nhiều ý kiến khác nhau. Việc chưa tìm ra hạt lúa sớm nhất ở Việt Nam không có nghĩa Hòa Bình không là trung tâm nông nghiệp sớm nhất của nhân loại. Về việc này, S. Oppenheimer là người đi xa hơn cả, trong cuốn sách đã dẫn, ông cho nông nghiệp lúa nước hình thành tại Đông Nam Á khoảng 24.000 năm trước! Nói người Hòa Bình không có nghĩa chỉ là người ở Hòa Bình mà là chủ nhân của nền văn hóa này. Đó là những người Indonesien, Melanesien… sống ở đồng bằng Sundaland, Hainanland. Khi nước dâng vào khoảng 20.000 năm trước, đã di cư lên Hòa Bình. Sau này khi hai đồng bằng trên bị ngập, khoa học chỉ biết tới hậu duệ của họ là Hòa Bình.
 
3. Đôi điều về phương pháp luận
 
Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết : “Theo tôi để giải quyết vấn để trên thì tư liệu cổ nhân học và tư liệu khảo cổ học là hai nguồn tư liệu quan trọng nhất, còn các tài liệu khác chỉ là góp phần tham khảo, nó chỉ thật sự có giá trị khi có sự phù hợp giữa chúng với hai loại tư liệu trên.”
 
Đúng như ý kiến Phó giáo sư, cổ nhân học và khảo cổ học từng là hai khoa học có vai trò quan trọng giúp con người tìm lại quá khứ. Có thể nói, tri thức về tiền sử của chúng ta có được như hôm nay, phần lớn là nhờ đóng góp của hai ngành khoa học này. Nhưng cũng có sự thực là, trong nhiều vấn đề nhạy cảm, cần tiếng nói quyết định, hai khoa học trên tỏ ra bất lực! Nhiều câu hỏi bức xúc còn bị treo đó. Xác định quan hệ của Neanderthals với người hiện đại hay nguyên nhân biến mất của Australoid trên địa bàn Đông Nam Á… là những vấn đề nhiều thập niên thách đố khoa học !

Chính vì vậy, công nghệ di truyền được sử dụng vào lĩnh này.  Tìm ra mã di truyền chứa trong vật mẫu rồi thống kê chúng bằng sự chính xác toán học để phân nhóm, công nghệ gene trở thành cây gậy thần bắt từng mảnh xương, từng chiếc răng vốn lặng im bí ẩn phải “khai” ra thân phận thực của mình! Từ đó khoa cổ nhân chủng học tiến những bước rất xa, giải đáp hầu hết những vấn đề mà khoa cổ nhân học cũ phải bó tay. Có thể nói, ngày nay, bất cứ một phát hiện nhân chủng học nào nếu không được công nghệ gene kiểm định sẽ chưa mang ý nghĩa khoa học.
 
Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “do có nhiều tư liệu như di truyền học hiện đại tôi gần như không có tư liệu nên chỉ xin nêu lên một số vấn đề quanh cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt mà thôi.”

Như vậy, Phó giáo sư và tôi không cùng phương pháp luận. Cuốn sách của tôi cơ bản dựa trên thành quả mới nhất của công nghệ di truyền mà tôi may mắn nhận được từ cộng đồng khoa học thế giới, trong đó có đóng góp của người Việt ở nước ngoài. Không cùng phương pháp luận nên không hiểu nhau là chuyện bình thường trong khoa học.
 
Dù sao tôi cũng xin cám ơn Phó giáo sư đã góp những ý kiến chân thành.
 
 
                                                                                                                                                Sài Gòn, 24. 9. 2007
 
* Ở đây xin viết tóm lược. Muốn tìm hiểu thêm, xin vào talawas.org, vannghesongcuulong.org và havanthuy.ourprofile.net
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-25 15:17:23Tư Tứ>
LỜI CÁO CHUNG CHO THUYẾT AUROUSSEAU VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
 
I. Thuyết “Sở-Việt” của nguồn gốc dân tộc Việt và những đệ tử
 
Năm 1904, trong cuốn Le Cambodge xuất bản tại Paris, học giả người Pháp E. Aymonier đề xuất giả thuyết: “Tổ tiên những người ngôn ngữ Mon-khmer bắt nguồn từ những sườn núi phía nam Tây Tạng rồi di chuyển về phương nam theo hai hướng, hướng tây nam sinh ra người Munda ở Ấn Độ, hướng đông nam sinh ra các tộc Mon-khmer ở Đông Dương.” (1)
 
Từ thuyết này, vào những năm 20 thế kỷ trước, L. Aurousseau khai thác thư tịch Trung Hoa, cho rằng: “Người Việt Nam trước ở Trung Hoa rồi mới di cư qua miền Bắc Việt Nam. Nước Sở thuộc giòng Bách Việt, lãnh thổ bao gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay, xuất hiện trước thế kỷ thứ XI trước CN. Ðến thế kỷ thứ IX trước CN, một ngành nước Sở di cư về phía Nam, dọc theo sông Dương Tử, định cư ở Chiết giang, thành lập nước Việt (Việt Vương Câu Tiễn) vào thế kỷ thứ VI trước CN. Năm 333 trước CN, nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy về phương Nam theo bốn nhóm: Nhóm Ðông Âu hay là Việt Ðông ở miền Ôn Châu (Chiết Giang). Mân Việt ở Phúc Kiến. Nam Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Lạc Việt ở phía Nam Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam. Các nhóm kể trên bị Hán hóa, chỉ còn lại nhóm Lạc Việt là tồn tại…”
 
“Những chúa dẫn các dân Việt di cư xuống miền Nam Quảng Tây và đến tận Bắc kỳ ngày nay về thế kỷ thứ IV và thứ III trước Gia tô là cùng một dòng họ với các vua Việt đến định cư ở Ôn Châu, Phúc Châu và Quảng Ðông vậy.”
 
Vậy thời ta có đủ chứng cớ mà nói quyết rằng người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333, và tiên tổ ngàn xưa, về thế kỷ thứ VI trước Gia tô, đã ở miền tỉnh Triết Giang nước Tàu ngày nay, vào khoảng lưu vực con sông cùng tên ấy”(2).
 
Trong hoàn cảnh sự hiểu biết về văn minh Đông Á còn hạn chế lúc đó, một số trí thức nước ta như Phạm Quỳnh đã chớp lấy “phát kiến tân tiến” trên rồi truyền bá trong cộng đồng.
 
Từ đó, thuyết của  Aurousseau được coi như tài liệu chính thống về cội nguồn dân tộc. Không chỉ dừng lại ở thế kỷ đã qua, tư tưởng của ông còn được một số tác giả người Việt mang sang thế kỷ XXI.
 
Giáo sư Cao Thế Dung trong bài “Tên nước Việt”  được lưu hành trên nhiều website tiếng Việt, nhắc lại ý tưởng của L. Aurousseau với ý tán thành, đồng thời cũng góp phần hiện đại hóa thuyết này bằng cách bổ sung vào đó những phát kiến mới của khoa di truyền học hiện đại từ công trình của Y. Chu, Jin Li…
 
Nguyên Nguyên với loạt bốn bài “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương”, là học trò trung thành của của L. Aurousseau. Tác giả đào xới cổ thư Tàu và áp dụng kỹ thuật điện tử 'fast forward' (quay băng video nhanh) để rút ngắn thời đại Hùng Vương đi 2500 năm cho vừa với giả thuyết người thầy Tây của mình.
 
Người trẻ nhất trong trường phái là Trương Thái Du với các bài viết trên mạng và in thành sách ở Nhà xuất bản Lao Động - 2007: “Tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam” và “Nói thêm về Đàn Nam Giao” (vannghesongcuulong.org 19.12.06), trong đó đưa ra những bằng cứ từ cổ thư Trung Hoa để minh chứng cho truyết “Sở - Việt”
 
Nói một cách công bằng, người viết bài này cũng chịu ảnh hường của Aurousseau. Có một thời, đó là cách giải thích khả dĩ nhất về gốc gác người Việt. Nhưng rồi, cùng với sự trưởng thành của trí tuệ, với những phát hiện khảo cổ học mới và nhất là từ khi có thông tin từ công trình của nhóm Y. Chu về con đường phương nam của người tiền sử tới Việt Nam, niềm tin của chúng tôi thay đổi.
 
Từ những bằng chứng khảo cổ học, nhân chủng học vững chắc hiện có, chúng ta có đủ cơ sở để viết lời cáo chung cho thuyết Aurousseau
 
II. Sự cáo chung của thuyết Aurousseau
 
Thuyết “Sở-Việt” được đưa ra vào đầu những năm 20 thế kỷ trước, sau khi khảo cổ học phát hiện ra di chỉ Ngưỡng Thiều mà lúc đó cho là khởi nguyên của văn minh Hán truyền xuống Long Sơn và vùng Đông Nam. Nhưng đầu thập niên 30, Hội nghị Quốc tế về tiền sử Viễn Đông đã thống nhất cho rằng: “Cả Long Sơn, cả Ngưỡng Thiều đều từ văn hóa Hòa Bình sớm đưa lên.”
 
Tại sao khi khảo cổ học phát hiện dòng chuyển dịch văn hóa ngược với quan niệm cũ thì niềm tin vào thuyết của Aurousseau vẫn không thay đổi? Đó là do trong lịch sử có những cuộc di dân về Việt Nam vào thời Chiến Quốc. Lịch sử người Việt có hai giai đoạn: giai đoạn đầu đi lên khai phá đất Trung Hoa và giai đoạn sau từ Trung Hoa về xây dựng Việt Nam. Giai đoạn đầu quá xa xôi, không được ghi chép trong thư tịch Trung Hoa nên đến cuối thế kỷ trước, nhân loại chưa biết tới. Do chỉ biết giai đoạn sau nhưng lại ngộ nhận đấy là toàn bộ lịch sử nên Aurousseau cùng học trò của ông đã sai lầm.
 
Cho tới cuối thế kỷ trước, thuyết “Sở-Việt” vấp phải những mâu thuẫn sau :
 
1. Mâu thuẫn thứ nhất : hoàn toàn phủ định truyền thuyết Hùng Vương dựng nước.
 
Giả thuyết Aurousseau là sự phủ định lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt. Kết quả là lịch sử của chúng ta chỉ còn lại một nửa thời gian. Về mặt tâm linh, đó là đòn chí mạng đánh vào lương tri người Việt. Chưa biết đúng hay sai, giả thuyết như vậy là rất khó chấp nhận. Một lý thuyết đưa ra mà trái ngược tới mức phủ định truyền thuyết gốc của dân tộc là điều phải hết sức đắn đo, thận trọng. Vì vậy, không lấy làm lạ là, dù không ít học giả quảng bá cho thuyết này thì nó cũng không được đại đa số người Việt chấp nhận. Hầu như mọi người đều hướng về lịch sử 4000 năm với Phục Hy, Thần Nông, rồi Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân.
 
2. Mâu thuẫn thứ hai : Trái ngược với bằng chứng khảo cổ học:
 
Từ thập niên 70 thế kỷ trước, do việc phát hiện thời đại Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam, thế giới đã công nhận Việt Nam là trung tâm văn hóa đồng thau xuất hiện sớm và phát triển nhất khu vực, bắt đầu từ 1850 năm đến thế kỷ II TCN, mà rực rỡ nhất là văn hóa Đông Sơn kéo dài khoảng 800 năm. Thời kỳ này tương đương với sự xuất hiện cùa nước Sở, mà ta biết, hiện vật đồng thau nước Sở vừa muộn hơn, lại ít hơn và nhất là không tinh xảo bằng của Việt Nam. Đấy là bằng chứng cho thấy, Việt Nam là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển sớm và mạnh hơn nước Sở. Đạt được trình độ phát triển như vậy chứng tỏ rằng trên địa bàn Việt Nam lúc đó có một nhà nước mạnh. Điều này cho thấy không thể có chuyện ngược đời là người Sở-Việt di cư xuống lập nước Văn Lang và thành tổ tiên của người Việt.
 
Do không hóa giải được hai mâu thuẫn trên nên số ủng hộ viên của thuyết Aurousseau giảm đi.
 
Tuy vậy, chứng lý bác bỏ thuyết Aurosseau chưa đủ mạnh vì còn thiếu bằng chứng quan trọng nhất là nhân chủng học. Sang thế kỷ XXI, với việc phát hiện con đường thiên di phương nam của người tiền sử tới Việt Nam, khoa học có đủ bằng chứng để bác bỏ thuyết Aurousseau.
 
3. Mâu thuẫn thứ ba : trái với chứng cứ nhân chủng học.
 
Điều khá khôi hài là, trong khi khẳng định người Sở - Việt là tổ tiên của người Việt Nam thì những người theo thuyết Aurousseau chẳng hề biết người Sở - Việt là ai, người Văn Lang là ai, người Việt Nam hiện đại là ai ?! Ở đây không có chỗ cho những tên gọi nôm na như “tộc Tâu Âu”, “tộc Việt cổ”, “tộc Thái cổ” mà phải là những tên Latinh trong bảng phân loại nhân chủng. Khi chưa minh định được điều đó thì việc cho rằng chủng này là tổ tiên của chủng kia chỉ là chuyện ăn ốc nói mò!
Có định luật như sau: Nếu trong quá khứ dân cư vùng A thiên di làm nên tổ tiên của dân cư vùng B tất sẽ để lại những vết tích trong bộ gene (genome) của dân cư vùng B. Như vậy, nếu vào thế kỷ IV TCN, người Sở-Việt di cư xuống tạo thành tổ tiên người Việt Nam hiện đại thì phải có bằng chứng về sự chuyển hóa di truyền của cư dân Việt Nam ở thời điểm trên.
 
Không hề có bằng chứng như vậy. Xin đọc :
 
“Thời đại Đá Mới, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu. Sang thời đại Đồng - Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hoá.”(3)
 
Đấy là kết luận của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam Nguyễn Đình Khoa, được trình bày trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á, xuất bản năm 1983 ở Hà Nội.
 
Đầu năm 2005, khi phân tích 30 di cốt ở khu mộ cổ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình, tiến sĩ M. Oxenham của Đại học Quốc gia Úc một lần nữa xác nhận: “Người Việt từ trước thời đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu [Nam đảo] hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ đầu thời Đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hoà giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt hiện thời, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN.”(4)
 
Hai đoạn dẫn trên cho thấy: chỉ có việc chuyển hóa cùa dân cư Việt Nam từ loại hình Australoid sang Mongoloid, hoàn tất vào khoảng 2000 năm TCN. Không có biến đổi di truyền nào cùa dân cư Việt ở thời điểm thế kỷ IV TCN.
 
Như vậy là, người Việt hiện đại ra đời từ hơn 2000 năm trước khi người Sở - Việt di cư xuống. Cố nhiên, người Sở - Việt không thể là tổ tiên của những người được sinh ra trước họ.
 
Điều này chứng tỏ rằng, khi di cư xuống Việt Nam, người Sở - Việt có cùng bộ gene di truyền với người bản địa.
 
Bằng chứng nhân chủng học là chiếc đinh cuối cùng đóng xuống quan tài thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt Nam.
 
III. Giả thuyết : “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang”
 
Dựa trên những phát kiến khoa học mới, nhất là công trình của tập thể nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ cộng tác trong Dự án Đa dạng di truyền người Trung Hoa (Chinese Human Genome Diversity Project), chúng tôi xin đưa ra giả thuyết “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang” như sau:
 
Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV CTN, họ đã làm chủ vùng đất mênh mông từ Đông Nam Á tới phía nam sông Hoàng Hà, có nhân số khoảng 2/3 nhân loại và phát triển nền nông nghiệp tiên tiến.
 
Cũng khoảng thời gian này, một số nhóm người Mongoloid từ Đông Nam Á đi lên, định cư ở phía tây bắc Trung Hoa và chuyển dần từ săn bắt hái lượm sang du mục, là tổ tiên của chủng  Mongoloid phương Bắc.
 
Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người du mục xâm phạm lãnh thổ của người Việt, cướp của, hiếp dâm, bắt người làm nô lệ, mức độ ngày một tăng. Do vậy đã xuất hiện liên minh các bộ lạc Bách Việt phía bắc sông Dương Tử do Đế Lai chỉ huy với các bộ lạc phía Nam Dương Tử do Lạc Long Quân lãnh đạo chống lại quân xâm lăng. Khoảng năm 2600 TCN, người Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở chiến dịch lớn tổng tấn công ở Trác Lộc. Liên quân Việt thua trận, Đế Lai hy sinh. Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo dòng Hoàng Hà ra biển xuống phía nam, đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh. (5)
Trong đoàn thuyền nhân trở về Việt Nam, có một số người lai Mông Cổ được sinh ra từ những cuộc xâm lấn trước đó và cả những phụ nữ bị quân Mông Cổ hãm hiếp mang thai. Khi trở về, họ sinh những con lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Do sự chiếm đóng mở rộng, cuộc di tản khỏi lưu vực Hoàng Hà còn tiếp tục và bổ sung thêm người Mongoloid phương Nam cho dân cư Việt Nam. Những người mang gene Mongoloid phương Nam này lai với người bản địa thuộc loại hình Australoid, làm chuyển hóa dân cư Việt Nam sang loại hình Đông Nam Á, là tổ tiên của người Việt Nam ngày nay.
 
Đoàn thuyền nhân từ Hoàng Hà trở về, do cùng chủng tộc, ngôn ngữ và được dắt dẫn bởi Lạc Long Quân, vua của nước Xich Quỷ nên dễ dàng hòa nhập với dân bản địa. Người mới về, do hoạt động trên vùng đất rộng, phải thường xuyên đối mặt với kẻ xâm lấn phương Bắc nên biết cách tổ chức nhà nước và kỹ thuật quân sự, là “những người tài giỏi” vì vậy được cộng đồng bản địa tôn lảm vua. Nhờ ưu thế lai của chủng Mongoloid phương Nam, nhờ được tổ chức thành nhà nước, người Văn Lang trở nên hùng mạnh, sáng tạo văn hóa đồng thau, đặc biệt là chế tác trống đồng.
 
Tuy thời gian này người Việt có kỹ nghệ hàng hải cao và làm chủ biển Đông nhưng di tản bằng thuyền không thể đưa ồ ạt số lớn người nên số người mang gene Mongoloid phương Nam có mặt lúc đầu ở Văn Lang không nhiều. Vì vậy quá trình chuyển hóa dân cư Việt khá chậm chạp, phải trong thời gian hơn nửa thiên niên kỷ, cho tới 2000 năm TCN mới ổn định.
 
Giải thích và chứng minh
 
Giả thuyết do chúng tôi đề xuất có những ưu điểm sau :
 
a/ Phù hợp với truyền thuyết Hùng Vương dựng nước: thời gian dựng nước Văn Lang khoảng 2600 năm TCN, Lạc Long Quân theo Hoàng Hà ra biển Đông, xuôi về Nam.
 
Đồng thời cũng phù hợp với Ngọc phả đền Hùng là có “đoàn người đổ bộ vào Nghệ Tĩnh”
 
b. Việc không tìm được sọ Mongoloid thuần chủng ở Việt Nam chứng tỏ  là vào thời kỳ này không có người Mongoloid thuần chủng trên đất Việt Nam. Như vậy chỉ còn khả năng duy nhất là người Mongoloid phương Nam di cư bằng thuyền tới Việt Nam và làm biến đổi gene của dân cư Việt.
 
Giả thuyết của chúng tôi giải thích thỏa đáng điều này : cách nhau vạn dặm núi rừng và một biển người Bách Việt dòng Australoid, khoảng 2600 năm TCN, bên sông Hoàng và bên sông Hồng, chủng người Mongoloid phương Nam gần như đồng thời xuất hiện. Nguyên nhân tại đâu? Chỉ có khả năng duy nhất là những người lai Mông Cổ trong đoàn thuyền nhân từ sông Hoàng Hà đi về Việt Nam. 
 
c. Giả thuyết của chúng tôi cho phép chứng minh ngược lại thuyết của Aurousseau.
 
Có thể có khả năng sau :
 
Lạc Long Quân làm vua nước Xích Quỷ từ phía Nam Dương Tử tới tận miền Trung Việt Nam. “Nước” ở đây là một liên minh bộ lạc lỏng lẻo do tộc Lạc Việt (Indonesien) có số dân đông và nói ngôn ngữ Mon-khmer đứng đầu. Khi lên thuyền chạy theo Hoàng Hà ra biển, Lạc Long Quân vì lý do nào đó, không trở về đô của mình ở Ngũ Lĩnh mà dông thuyền xuống tới vùng Nghệ Tĩnh rồi đi lên lập đô mới ở Bạch Hạc, từ đây dựng nước Văn Lang. Như vậy, có thể hiểu đây là một lần dời đô và đổi quốc hiệu của Lạc Long Quân: đô mới là Bạch Hạc còn quốc hiệu là Văn Lang thay cho Xích Quỷ. Cùng một thời kỳ lịch sử, cương vực Văn Lang trùng khớp với địa bàn nước Xích Quỷ ủng hộ cho giả thuyết này.
 
Từ xa xưa vẫn có dòng người từ Việt Nam đi lên phương bắc. Tới thời điểm này trong dòng di dân có thêm những người lai. Những người lai này đã truyền bá  gene Mogoloid phương Nam ra khắp địa bàn nước Văn Lang rộng lớn, làm chuyển hóa di truyền của người Việt ở phía nam Dương Tử. Đến khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận dân số Văn Lang đã được Mogoloid hóa. Các nước Sở, Ngô, Việt… là những mảnh vỡ của nước Xích Quỷ - Văn Lang nên dân cư đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam.
 
Việc người nước Việt của Câu Tiễn trở về Việt Nam vào năm 333 TCN là lá rụng về cội, cháu con trở lại đất xưa của tổ tiên.
 
IV. Kết luận
 
Có thể, khi phát biểu giả thuyết của mình, L. Aurousseau là một trí tuệ mẫn tiệp của thời đại ông. Thuyết của ông được ủng hộ bằng cuộc di cư của số đông người từ Nam Trung Hoa tới Việt Nam vào thời Chiến Quốc. Chính vì thế ông chiếm được lòng tin của nhiều học giả người Việt thông thuộc cổ thư Trung Hoa.
 
Tuy nhiên thực tế lịch sử cho thấy, đấy là lầm lẫn lớn. Từ những bằng chứng khảo cổ và nhất là di truyền học, khoa học hiện đại chứng minh được rằng, người tiền sử xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam rồi đi lên mở mang đất nước Trung Hoa. Sau đó, do người Mông Cổ xâm lấn, đã trở về lại Việt Nam cùng các quốc gia Đông Nam Á khác. Khảo cổ và di truyền học cũng xác nhận, vào thời điểm 2000 năm TCN, chủng Mongoloid phương Nam là chủ thể dân cư Việt Nam và là tổ tiên của người Việt hiện đại. Những bằng chứng vững chắc trên đã bác bỏ thuyết Aurousseau.
 
Một câu hỏi tất phải nảy sinh: vì sao, trước sự thực khoa học như vậy mà vẫn còn người tin theo thuyết “Sở-Việt” ?
Có thể, đó là hậu quả của thói ù lỳ trí thức nơi những người chỉ duy nhất tin vào những gì  quen thuộc, do kiến văn hạn hẹp nên không còn lựa chọn nào khác.
 
Đấy còn là sự thất bại về phương pháp luận của những người leo cây tìm cá. Các tác giả này tận tín vào sách của thày Tàu mà không biết tới nghịch lý: người Trung Hoa hiện nay cũng chẳng biết tổ tiên gốc gác của họ là ai trong khi lại ảo tưởng rằng cổ thư Tàu là nguồn duy nhất chỉ dạy mình biết gốc gác tổ tiên người Việt ! Phải chăng đó cũng là vấn nạn của dân tộc Việt ?!
 
 
                                                                                           Phật Đản 2007


 1. E.Aymonier. Le Combodge. Paris.Tom 3. Dẫn theo Nhân chủng học Đông Nam Á.
 2. Léonard Aurousseau, "Khảo về cỗi rễ dân An Nam". Bản dịch của Hồng Nhân Phạm Quỳnh. Nam Phong tạp chí số 84, tháng 6-1924, tr.480. Dẫn theo Cao Thế Dung: Tên nước Việt.
3. Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB Đại học và THCH. HN,1983
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
BÀI HỌC KHÓ THUỘC
 
Trong những cái đọc được vào dịp 30. 4. 2005, bài viết “Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào” của giáo sư Keith W. Taylor* khiến tôi bận lòng hơn cả. Xin mạo muội trao đổi cùng tác giả đôi điều.

1. Trong bài viết, K.W. Taylor nêu bật 5 quyết định sai lầm của các tổng thống Mỹ Kennedy và Johnson. Từ đó, ông cho rằng chính sự điều hành yếu kém của các tổng thống Mỹ là nguyên nhân dẫn đến thua trận. Thật dễ dàng khi đổ lên đầu các tổng tư lệnh bại trận cái tội điều hành cuộc chiến tồi. Ðiều này chả có gì mới. Từ xa xưa người Việt đã có câu tội quy vu trưởng! Nhưng vấn đề ở đây là liệu cách lý giải như vậy có thuyết phục ?
 
Muốn giải đáp câu hỏi này, phải hiểu tổng thống Hoa Kỳ là ai ? Ðấy là những người được chọn trong cuộc bầu cử dân chủ nhất hành tinh. Ðương nhiên họ là nhân vật số một của nước Mỹ, là biểu trưng của nhân cách và trí tuệ Mỹ. Quả vậy, những vị này đã không tồi trong việc dẫn dắt nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dưới sự lãnh đạo của họ, nước Mỹ đã đưa người lên Mặt trăng và sáng tạo những thành tựu khoa học lớn. Trong chiến lược toàn cầu, Kennedy và Johnson đã thắng trong vụ khủng hoảng hạt nhân Caribe, tiêu diệt mầm mống xã hội chủ nghĩa ở Indonesia, ở Chile, ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô tại Nicaragua, Afghanistan… Xin giáo sư K. W. Taylor giải thích giùm: Vì sao những người giỏi giang sáng suốt - cố nhiên theo cách nhìn Mỹ - ở nơi khác như vậy bỗng nhiên trở nên tối tăm sai lầm tại Việt Nam ? Hẳn giáo sư sẽ nhận ra lập luận của mình bất cập và thấy cần phải tìm nguyên nhân ở chỗ khác, ở cái gì đó sâu xa hơn !

Ngay khi chiến tranh phá hoại bùng nổ thì những nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với dân chúng : Mỹ chọn lầm đối tượng! Ðấy là cách nhìn sáng suốt, chứng tỏ người cộng sản Việt Nam hiểu Mỹ hơn các tổng thống Mỹ hiểu mình ! Về kinh tế, về chiến lược quân sự, Việt Nam không phải mối quan tâm số 1 của Mỹ. Việt Nam không phải là nước Ðức trong chiến lược toàn cầu, cũng không phải là Trung Ðông dầu hỏa sống còn với Mỹ. Ðến Việt Nam, Mỹ chỉ đóng vai kẻ yêng hùng làm “nghĩa vụ thiêng liêng” bảo vệ thế giới tự do, ngăn chặn làn sóng đỏ! Tự kỷ ám thị bởi lòng kiêu ngạo Mỹ, Kennedy cùng bộ tham mưu của ông ta nghĩ rằng, với sức mạnh của mình, Mỹ chỉ cần cất ngón tay út lên là có thể bắt đất nước Việt Nam nhỏ bé phải khuất phục! Chính vì sự tưởng bở ấy, ông ta đã dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ để kéo Quốc hội và toàn dân Mỹ vào cuộc. Nhưng Kennedy đã lầm! Do biết chắc rằng hơn ai hết, là kẻ ích kỷ, Mỹ không thể bảo vệ chính quyền tay sai bằng mọi giá nên người Việt Nam chủ trương đánh tan ý chí xâm lược của Mỹ : Ðánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào là chiến lược tuyệt vời đúng đắn ! Cuộc tấn công và nổi dậy Mậu Thân chính là cú đòn thần diệu làm thối chí Mỹ ! Thuận buồn xuôi gió chén chú chén anh, gió quẩn đồng quanh cắn nhau như chó ! Câu ca dao cổ xưa của người Việt thể hiện xác đáng biện chứng của sự thất bại. Chính thất bại ở chiến trường, chính dòng thác lũ lính Mỹ trở về trong những quan tài thép mà mâu thuẫn trong xã hội Mỹ bùng nổ. Báo chí phanh phui sự dối trá của “sự kiện vịnh Bắc Bộ” rồi vụ Mỹ Lai... Lương tri nguời Mỹ thức tỉnh và làn sóng phản chiến nổi lên. Không còn cách nào khác, cay đắng nuốt những lời hứa cuội với đồng minh Sài Gòn, quân Mỹ ôm đầu máu tháo chạy !

Nếu nói đến sai lầm của các tổng thống Mỹ trong chỉ đạo chiến tranh, tôi không hiểu sao K.W. Taylor không nói đến sai lầm lớn này: Tại sao lại dùng chiến tranh leo thang mà không dùng chiến tranh tổng lực: ném bom hủy diệt Hà Nội, cho quân Mỹ và chư hầu chiếm Bắc Việt Nam, diễn lại kịch bản của chiến tranh Triều Tiên trước đó? Tôi tin rằng, với cuộc chiến tranh tổng lực như vậy, giống như người Hungary, người Tiệp, người Việt khó mà kháng cự nổi! Nhưng dù liều lĩnh đến mấy thì các tổng thống Mỹ cũng không dám phiêu lưu đến vậy vì lúc đó phe xã hội chủ nghĩa còn rất mạnh. Mỹ không thể vì chính quyền tham nhũng ở Sài Gòn mà mất tất cả để đối đầu với Liên Xô và Trung Quốc! Thêm một bằng chứng cho thấy sự chọn lầm đối tượng đã trói tay các tổng thống Mỹ như thế nào! Việc giết anh em Ngô Ðình Diệm cũng phản ánh sự thất bại của lựa chọn chiến lược sai lầm. Bi kịch của ông Diệm là cả tin vào Mỹ và không tự biết thân biết phận mình. Cam tâm làm tay sai thì êm xuôi nhưng khi lương tri và lòng yêu nước trỗi dậy khiến ông ta có những hành động trái với quyền lợi Mỹ thì lãnh đủ! Rõ ràng, như một quy luật của muôn đời, khi đã sai lầm trong chọn lựa chiến lược thì mọi cố gắng về chiến thuật chỉ là vô vọng !

Thật đáng ngạc nhiên là ở đây giáo sư sử học K. W. Taylor nhắc đến kinh nghiệm cuộc xâm lăng của người Pháp cuối thế kỷ XIX. Lịch sử không lặp lại ! Sự gan góc can trường của người Việt không thay đổi nhưng bất hạnh là lúc ấy họ có người chỉ huy quá đớn hèn bạc nhược ! Tình hình của những năm 60 khác hẳn. Người Việt Nam sau 80 năm nô lệ đã ngửng đầu trong Cách mạng tháng Tám và làm nên Ðiện Biên lừng lẫy. Lúc này, không chỉ có ý chí kiên cuờng, có sức mạnh của nhân loại tiến bộ mà người Việt Nam còn có một bộ tư lệnh chiến tranh tuyệt vời... Thưa giáo sư Taylor, “huyền thoại về nhân dân Việt Nam anh hùng đánh bại những đoàn quân xâm lược” hoàn toàn không phải là sáo ngữ lịch sử ngớ ngẩn như ông viết mà là một thực tế hiển nhiên. Không cần nói lại những Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong quá khứ thì thời nay, dân tộc Việt chính là người đầu tiên đào mồ chôn chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp và cũng là dân tộc đầu tiên thắng Mỹ ! Hơn nữa, ở thời đại ngày nay, người Việt được sự dẫn dắt bởi Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một thánh nhân mang tầm vóc Ðế Nghiêu,  Ðế Thuấn ! Nhìn Việt Nam những năm 60 bằng con mắt cuối thế kỷ XIX là sự mù lòa về lịch sử!

2. Tôi không sao hiểu nổi, là một sử gia thời hậu chiến, K. W. Taylor lại cố chứng minh cho tính hợp pháp của chính quyền Sài Gòn? Không thể tìm nổi bằng cứ muốn có và thất vọng vì bản tuyên bố sau cùng của Hội nghị Genève, tác giả cố bám víu vào những lời nói của Khrushchev, của Chu Ân Lai đề nghị cả hai chính phủ Việt Nam được nhận vào Liên hợp quốc. Phải chăng K. W. Taylor giả vờ không biết là cũng vì quyền lợi của mình, những vị này từng đi đêm với Mỹ, mua bán trên lưng người Việt Nam ? Nhưng vì không phải là tay sai, vẫn giữ được chủ quyền, những nhà lãnh đạo Việt Nam đã không chấp nhận sự mua bán ma quỷ đó ! Ðể có một chính quyền hợp pháp ư ? Với họng súng và đô la, người Mỹ có thể dễ dàng chế tác một chính quyền theo ý muốn. Nhưng họ không thể có được chính quyền hợp lòng dân ! Các chính quyền Sài Gòn là như vậy. Lá cờ ba sọc truyền đời của họ là như vậy ! Tôi có ký ức riêng về lá cờ này. Tôi sinh năm Giáp Thân 1944. Hình như tôi lờ mờ biết về nạn lụt năm 45 nhưng biết rất rõ những ngày cha chú tôi tưng bừng tập quân sự, rào làng chiến đấu, cả những ngày tiêu thổ kháng chiến bỏ làng ra đồng lập trại sống. Rồi một sáng mùa đông năm 1950, trong sương mù, một đoàn người nhớn nhác ở đầu làng lo lắng trước trận càn thì chợt chú tôi kêu lên : Nó kia kìa ! Và lớn bé trẻ già tớn tác chạy cùng tiếng súng rền trời. Chiều hôm đó trở về làng cũ, bỏ lại phía sau khu trại cháy thành than, đứa trẻ 6 tuổi là tôi đói lả người và sợ kinh hồn nhìn những người lính Bảo Hoàng săn gà bắt lợn… và nghe tin rùng rợn về những người làng bị giết. Ngày hôm sau, từ sáng sớm chú mõ dựng mọi người dậy với tiếng rao : mỗi nhà phải treo cờ nền vàng ba gạch đỏ ! Các chính quyền tay sai thua ở chỗ đó : họ không bao giờ có cơ sở sâu rộng trong lòng dân, kể cả miền Bắc lẫn miền Nam !

Tôi hiểu K. W. Taylor khi ông tiếc nuối những biểu hiện dân chủ có được ở miền Nam. Từng kinh qua thảm họa cải cách ruộng đất ở miền Bắc nên tôi tán thành cuộc cải cách điền địa ở miền Nam. Ở đây, “những kẻ tước đoạt” không bị tước đoạt lại, giai cấp địa chủ bị xóa bỏ để chuyển hóa sang những nhà công nghiệp. Nông dân miền Nam đạt mức sống trung nông, là điều mà nông dân miền Bắc nằm mơ không thấy ! Và quả là tôi thèm muốn tự do báo chí, ngôn luận, lập hội cùng những tự do khác mà thành thị miền Nam được hưởng ! Nhưng tôi cũng biết, đó là nền dân chủ què quặt và không vững bền bởi lẽ trên nó là chính quyền tham nhũng vừa là bù nhìn vừa là tay sai của ông giời con mũi lõ ! Như trong truyền thuyết về một vương quốc xây trên lưng rùa : Sẽ ra sao khi nóng lưng rùa chìm xuống ? Thảm họa tháng Tư bảy lăm là số phận tất yếu của mọi chính quyền tay sai. Và cố nhiên, nó chôn vùi luôn cái bong bóng dân chủ vay mượn !

3. K.W. Taylor viết: “...tôi không chấp nhận nguyên lý cho rằng Hoa Kỳ không có lý do hợp pháp nào để can dự vào Việt Nam. Tôi cho rằng quyền lực toàn cầu trong tay Hoa Kỳ phải được nắm lấy như là một trách nhiệm, không phải là điều mà chúng ta cần tỏ ra hối hận. Nếu Hoa Kỳ thất bại trong việc dùng quyền lực để đem lại những tốt đẹp cho nhân loại thì nó sẽ mất đi không chỉ sức mạnh, mà cả những gì mà đất nước này đã đạt được, những nền tự do vươn lên dưới bóng sức mạnh của Hoa Kỳ sẽ bị lâm nguy.”

Tôi rợn người khi đọc những dòng loảng xoảng tiếng gươm khua và tanh lợm mùi máu của vị sử gia ! Chưa ở đâu như nơi đây, mặc cảm về lòng kiêu ngạo Mỹ được thể hiện bệnh hoạn đến vậy !

Nhân loại từng biết rằng, để đạt mục đích của mình, quyền lực toàn cầu Mỹ dám làm mọi chuyện từ sự kiện vịnh Bắc Bộ ở Việt Nam đến vũ khi hủy diệt ở Iraq. Hợp pháp hay không hợp pháp không có chỗ trong từ điển quyền lực Mỹ ! Cuộc chiến tranh Việt Nam mở đầu bằng hành động dối trá, còn ở Iraq, người Mỹ hung hăng hơn, bất chấp cả công pháp quốc tế! Thử hỏi rằng, quyền lực toàn cầu Mỹ đã đem lại được gì tốt đẹp cho người Việt Nam ? Có đáng không khi vì một chút quyền tự do dân chủ áp đặt mà 3 triệu người Việt Nam phải chết và hiện còn hàng triệu người quằn quại vì nỗi đau da cam! Ðang sống trong một đất nước thiếu tự do và dân chủ nhưng quả thật, tôi thương hại những nền tự do dưới bóng sức mạnh của Hoa Kỳ. Tự do phải là tự thân! Tự do dưới bóng kẻ khác chỉ là thứ tầm gửi ký sinh hay là những cây rỏng rớt cớm nắng! Năm nay là năm Cervantes. Tôi nhớ trong Don Quijote bất hủ một câu đại ý thế này : “Thật sung sướng cho kẻ nào mà mỗi khi nâng bát cơm lên, ngoài cảm ơn Chúa ra hắn không còn phải cảm ơn ai khác !” Cũng có thể mượn câu đó để nói về dân chủ ! Nói thế, không phải tôi không quý và biết ơn những gì mà nhân loại tiến bộ giúp người Việt ngày một đến gần hơn tới dân chủ. Nhưng tôi mong đó là thứ dân chủ chỉ đứng dưới bóng mặt trời và càng không phải thứ dân chủ áp đạt bằng quyền lực của kẻ khác! Là giáo sư dạy sử Việt Nam, không hiểu K. W. Taylor có biết sự kiện trong Kinh Thư ghi lại buổi đầu người Hán thống trị dân Việt như thế này : “Sau ba lần đánh rợ Tam Miêu không được, nghe lời ông Cao Dao, vua Thuấn cho mở nhạc múa trước sân. Ba tuần sau dân Tam Miêu quy phục.” Cái tự do cái dân chủ đạt được theo cách của vua Thuấn nhân ái hơn hẳn cái dân chủ mà người Mỹ mong áp đặt bằng quyền lực ở Việt Nam trước kia và ở Iraq hiện nay ! Có người bạn nói nhỏ với tôi thế này : “Nói ra, người ta cho mình là kẻ ác nhưng quả thực, sự kiện 11 tháng 9 là cái giá đích đáng mà người Mỹ phải trả vì những gì họ đã gây ra cho thế giới !” Xét đến cùng, lời nói đó không hoàn toàn vô lý ! Ðấy là cái giá mà hàng ngàn người dân vô tội phải trả cho lòng kiêu ngạo Mỹ. Có thể nói thế này, hầu hết những vụ nổ bom cảm tử trên thế giới này đều nhằm vào Mỹ ! Lương tri người Mỹ phải tự vấn : vì sao ngày nay Mỹ lại có nhiều kẻ thù đến vậy ? Với tôi thì thế này : hồi trẻ tôi căm thù giặc Mỹ xâm lược. Tuổi trung niên tôi trông chờ hy vọng người Mỹ mang đến tự do và dân chủ. Nhưng rồi tôi sớm thất vọng vì chính sách hậu chiến tranh lạnh vừa ngạo mạn vừa vị kỷ của người Mỹ. Và bây giờ với người Mỹ, tôi dè chừng, cảnh giác ! Tôi cho rằng trên thế giới này người Mỹ ít đáng tin cậy nhất. Kẻ thù không tin họ là lẽ đương nhiên nhưng bất hạnh cho đồng minh nào tin nguyên con vào người Mỹ ! Cái chết của anh em Ngô Ðình Diệm rồi việc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa là tấm gương nhỡn tiền ! Quả thật, cái tôi lo bây giờ là tương lai nước Mỹ. Một đất nước sẽ ra sao khi có quá nhiều kẻ thù ? Người Việt có câu con giun xéo lắm cũng quằn ! Và câu chuyện ngụ ngôn về voi và kiến không biết có ích gì cho người Mỹ ?

Tôi hiểu sự bức xúc của K. W. Taylor khi ông viết : “đất nước này phải chịu đựng một cơ cấu cai trị chuyên chế, thối nát và nghèo nàn...” Ðúng là tình hình Việt Nam đang như thế. Nhưng thay đổi nó bằng cách nào đây ? Phải chăng cách tốt nhất là dùng quyền lực Mỹ tiêu diệt nhà nước hiện thời rồi đưa ở đâu đó về những thiên thần dân chủ ? Tôi không tin vào khả năng như vậy !

Phương Tây từng nói rằng, người cộng sản biến chủ nghĩa Mác-Lê thành một thứ tôn giáo. Nói nơi cửa miệng nhưng họ không chịu hiểu sâu hơn: thực tế những giáo điều Mác-Lê đã thấm vào dân như một tôn giáo. Dương cao cờ tự do tín ngưỡng nhưng tại sao phương Tây không thể tất cái đạo cộng sản đã nhiễm vào dân Việt Nam ? Bảy chục năm qua những giáo chủ cộng sản luôn dạy dân tuân phục Ðảng và làm cách mạng mà chưa từng dạy về tự do dân chủ ! Vẫn biết tôn giáo là ngu dân tại sao lại không thể tất sự ngu dân của đạo cộng sản ? Trong khi trí thức quá hiểu cái lỗi thời, lạc hậu thậm chí phản tiến hóa của lý thuyết Mác-Lê thì hàng triệu người dân vẫn tin như tin vào kinh thánh ! Người nông dân Thái Bình biểu tình có thể đánh chém kẻ tham nhũng, ném đồ dơ của phụ nữ vào mặt quan chức nhưng trong một cuộc trưng cầu ý dân vẫn có đến 90% người ủng hộ chế độ! Tại sao vậy ? Lý lẽ đơn giản : dù có sai dù có hư hỏng thì đảng vẫn gắn bó với họ. Họ không chấp nhận những kẻ trắng má lạ mặt từ đâu tới ngồi trên đầu mình. Làm sao đây với khối đồng bào này ? Phải chăng là dùng lưỡi lê của lính viễn chinh hay cán cuốc Pol Pot tẩy não họ ? Tôi nghĩ rằng, nếu dám hết mình vì nền tự do, người Mỹ hãy làm như vua Thuấn xưa chứ không phải kéo quân đến chém giết để rồi áp đặt !

4. Qua bài viết, tôi hiểu K. W. Taylor là người chân thành đến tận cùng. Ông là trí thức trọng danh dự, có nhân cách và trung thành tuyệt đối với chính quyền Mỹ. Người như thế ở Việt Nam được gọi là ngu trung - kẻ sĩ trung thành một cách ngu muội. Họ thường là công cụ của triều đình phong kiến trong việc đàn áp nông dân, các sắc dân thiểu số và bảo vệ đến cùng những ông vua chính thống. Người như ông rất cần cho quyền lực Mỹ. Chỉ cần có lệnh của cấp trên, thì bất kể hợp pháp hay không hợp pháp, ông cũng tuân thủ và nã súng vào đối phương dù là đàn bà con trẻ để thực thi nghĩa vụ công dân Mỹ ! Những người như ông không ít trên đời này : họ tạo nên những quân đoàn SS, những Ăng-ca Khmer đỏ, những Hồng vệ binh dưới thời Mao... Trong đội ngũ Quân giải phóng miền Nam không ít những người trọng danh dự và trung thành với đất nước với nghĩa vụ như ông. Trong những nghĩa vụ đặt trên vai họ, ngoài những điều phù phiếm Nếu được làm hạt giống để mùa sau / Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa thì cái căn cốt nhất nơi họ là chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, họ là kẻ trung nhưng không ngu ! Do chính nghĩa của mình mà tình đồng đội của họ bền chặt. Những người chết luôn là thiêng liêng với người còn sống ! Việt Nam không có Bức tường than khóc nhưng có rất nhiều nghĩa trang liệt sĩ được chăm sóc bởi chính đồng đội của họ. Do sự ưu đãi của chính quyền có hạn nên nhiều người lính đã cưu mang con cái, cha mẹ của đồng đội đã chết. Trong đời sống thực cũng như trong tâm linh, người chết luôn gắn bó, luôn sống trong lòng người may mắn sống sót. Trong số cựu chiến binh Việt Nam không ít số phận chịu bất công cay đắng thậm chí thù hận với chính phủ nhưng tôi chưa thấy ai tỏ ra lạnh nhạt bạc bẽo với đồng đội không may của họ. Họ không giống như ông khi nói : “Ðó là đài tưởng niệm những cái chết, mà tôi là một người sống sót và bức tường đó không can hệ gì đến tôi.”(!)

Tôi hiểu vì sao ông quay lưng lại với bức tường đó ! Mặc cảm thất bại trong cuộc chiến Việt Nam đã hủy hoại nhiều thế hệ thanh niên Mỹ. Ðấy là điều tệ hại. Cần phải thoát khỏi mặc cảm đó. Không ít người, với tinh thần thượng võ, xóa bỏ thù hận, bắt tay kẻ thù xưa, hàn gắn lại những vết thương cũ, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Họ hiểu rằng, người Mỹ cần sống tử tế hơn với phần còn lại của thế giới.

Giống những người Mỹ trên, không cam tâm chìm đắm trong chủ nghĩa thất bại, ông cố quẫy đạp vươn lên. Nhưng ông vơ lấy cái phao cứu sinh thật nguy hiểm: sứ mạng của quyền lực Mỹ ! Không chấp nhận cái đám đông mặc cảm chiến bại, ông tự chích vào mình chất ma túy sứ mạng của quyền lực Mỹ rồi đứng lên làm một giáo chủ của bầy đàn mới đem lại danh dự cho những người đã chết và động viên tập hợp tín đồ cho những cuốc thánh chiến ở Iraq và có thể ở Iran, ở Bắc Triều Tiên !

Cuộc chiến Việt Nam có nhiều bài học. Một trong những bài học rút ra, đó là cuộc đối đầu giữa một bên là lòng kiêu ngạo cộng sản muốn làm tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Một bên là lòng kiêu ngạo Mỹ: bảo vệ thế giới tự do, ngăn chặn làn sóng đỏ! Sau khi đánh nhau vỡ đầu sứt tai, cả người Việt cả người Mỹ đều thấy là mình ngớ ngẩn đã chém giết nhau vì những cái vớ vẩn! Trong khi cả người Mỹ cả người Việt nhận ra hai đất nước chả có lý do gì phải thù hận nhau, cùng bắt tay khép lại quá khứ thì có một nhà sử học cựu chiến binh phất lên ngọn cờ sứ mạng quyền lực Mỹ! Hẳn rồi mai đây, dưới ngọn cờ rách ấy hàng ngàn hàng vạn thanh niên Mỹ lại lao vào những cuộc chém giết mới ! Quả là bài học Việt Nam khó thuộc !
                                                                                           
                                                                                                                                               Sài Gòn tháng 5.2005
 
*Xin xem phần phụ lục ở phía dưới.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT CÁCH NHÌN LỊCH SỬ XUYÊN TẠC VÀ MÉO MÓ
 
Có sự thực là, lịch sử Việt Nam từng bị bôi bác xuyên tạc bằng tiếng Tàu, tiếp đó tiếng Tây và bây giờ là tiếng Anh-Mỹ. Một số bài viết của Keith Weller Taylor : “Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào”(1), “Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19”(2), Cái nhìn mới về Việt Nam (3) có nội dung như vậy.
 
Với bài viết chẳng đặng đừng này, tôi không có tham vọng thuyết phục giáo sư K.W.Taylor thay đổi quan điểm của mình mà chỉ muốn nói với người Việt cả trong và ngoài nước rằng lịch sử dân tộc bị xuyên tạc đầy ác ý như thế nào !
 
1.  Những điều ngộ nhận của giáo sư K.W.Taylor
 
Với những bài viết trên, có thể nói rằng Tiến sĩ sử học, Giáo sư Đại học Cornell, Keith Weller Taylor hiểu biết rất nông cạn và có cái nhìn méo mó về lịch sử Việt Nam. Có vẻ là quá đáng khi những lời trên được dành cho tác giả của “The Birth of Vietnam”. Nhưng đó là sự thật. Bởi lẽ trong cuốn sách 400 trang kia, chủ yếu ông xào xáo sách Tàu, sách Tây mà tiếc thay phần lớn những tư liệu trong đó nếu không xuyên tạc thì cũng là sự nhìn lịch sử “lộn đít lên đầu”! Không nên trách giáo sư vì khi cuốn  sách ra đời, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, đó là giới hạn của tri thức nhân loại. Không chỉ vậy, điều quyết định tạo nên cái nhìn quáng gà đầy ngộ nhận là ở chỗ ông xoi mói dân tộc Việt Nam dưới con mắt thù hận.

 
Điều ngộ nhận thứ nhất : Trong bài “Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19” K.W. Taylor viết: “Không khó để đọc cái gọi là ‘phong trào giải phóng dân tộc’ của Lê Lợi như là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh, với việc nhiều nhân vật Đông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ chống cự sự quê kệch của các tỉnh phía nam.”
 
Trong đoạn trích trên có đến hai lần lịch sử bị xuyên tạc:
 
Một là : - Có đúng cuộc kháng chiến của Lê Lợi là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh ? Ta biết nguyên nhân dẫn tới cuộc xâm lược thắng lợi của quân Minh là hành vi chiếm ngôi nhà Trần cùng những chính sách hà khắc của Hồ Quý Ly làm tan rã khối đoàn kết dân tộc và đẩy cao sự phẫn uất của người dân. Chính vì vậy, không chỉ tầng lớp quan lại cũ của nhà Trần mà nhiều người dân cũng trông vào quân Minh như người giải phóng. Phải 10 năm sau, khi không chịu nổi sự tàn bạo của người Minh, cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi mới nổ ra. Đấy là cuộc nổi dậy tự phát của người dân bị dồn tới đường cùng. Chỉ sau khi có sự tham gia của những nhân vật Đông Kinh là Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Văn Linh, nhất là Bình Ngô sách của Nguyễn Trãi với diệu pháp “phạt tâm công” thì cuộc khởi nghĩa mới có hướng đi rõ rệt. Và cũng chỉ từ khi nghĩa quân ra Bắc, nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dân Đông Kinh, mới đi đến thắng lợi. Việc có 1100 người thề trung thành với nhà Minh hay 9000 người trốn sang Trung Quốc cũng không chứng tỏ rằng tất cả dân Đông Kinh đều theo giặc. Mọi cuộc xâm lược đều sản sinh ra đám tay sai bản xứ! Nhận định rằng cuộc kháng chiến ngoan cường với bao hy sinh gian khổ giành độc lập của toàn dân Việt chỉ là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh là sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn đến ngớ ngẩn (xin lỗi, tôi trả lại chính chữ của K.W.Taylor) nhằm xúc phạm, hạ thấp dân tộc Việt và kích động sự chia rẽ các vùng miền.
 
- Hai : Có đúng nhiều nhân vật Đông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ chống cự sự quê kệch của các tỉnh phía nam ?
 
Trước hết xin hỏi : khi quân Minh xâm lược thì các tỉnh phía nam có vai trò gì trong chính trường để đến nỗi dân Đông Kinh phải chống lại? Không gì hết! Họ chỉ là con dân Đại Việt. Sau nhiều đời phục vụ nhà Trần, họ Hồ của Quý Ly cũng thành quý tộc, là dân Kinh, đâu còn là quê mùa nữa? Việc nhiều người Đông Kinh dựa vào quân Minh chống họ Hồ là chống thế lực thoán đoạt và ách thống trị tàn bạo chứ đâu phải chống các tỉnh phía nam quê kệch? Xem người Minh như thế lực bảo vệ chống cự sự quê kệch của các tỉnh phía nam, không thể nói gì khác hơn là một hoang tưởng “ngớ ngẩn”.
 
Một sự ngộ nhận khác là K.W. Taylor đã đánh giá thấp vai trò của Nguyễn Trãi: “Không phải là nhân vật tiêu biểu hay đại diện cho xu thế chung của quê ông.” Nguyễn Trãi không chỉ là nhà thơ mà trước hết ông là quân sư của Lê Lợi, nhà chính trị, nhà chiến lược thiên tài với Bình Ngô sách mà mục đích là đánh vào lòng người. Việc ông chủ hoà rồi cho 10 vạn quân Minh về nước an toàn không chỉ chấm dứt chiến tranh mà còn dập tắt những ý đồ xâm lược tiếp theo của cường quốc phía bắc. Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới, lúc đó chính là lương tri cùng trí tuệ của Đại Việt. Ngoài Nguyễn Trãi, lại còn đại tướng tổng tư lệnh Trần Nguyên Hãn rồi tướng Phạm Văn Xảo và viên dũng tướng kiêm văn tài Lê Văn Linh, chứng tỏ sự tham gia tích cực của người Đông Kinh vào cuộc khởi nghĩa. Điều này càng cho thấy đây là cuộc kháng chiến của toàn dân, hoàn toàn không phải là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ với Đông Kinh ! 
 
Điều ngộ nhận thứ 2 : cho rằng cuộc chiến tranh Lê-Mạc là tranh chấp vùng miền giữa Đông Kinh và Thanh Nghệ.
[/align] 
Thực tế đây là cuộc tranh giành quyền bính giữa các thế lực trong triều đình nhà Lê. Nhà Lê suy yếu là nguyên nhân sâu xa nhưng nguyên nhân trực tiếp là do cuộc xung đột giữa hai dòng họ trụ cột: “Họ Thuỷ Chú (Trịnh) và họ Tống Sơn (Nguyễn) đều là họ công thần hạng nhất, danh vọng trên đời. Hoằng Dụ đánh Trịnh Tuy, đánh nhau, cùng bỏ kinh thành chạy. Chỉ còn Trần Chân luu lại triều đình làm phụ chính.”(4) Do đánh nhau mà họ Trịnh chạy về Sơn Nam còn họ Nguyễn chạy về Thanh Hoa để lại triều đình khoảng trống quyền lực tạo cơ hội cho Mạc Đăng Dung chuyên quyền. Trước khi cướp ngôi, Mạc Đăng Dung đã từng bước đưa người của mình vào những vị trí then chốt của triều đình và triệt hạ mọi lực lượng đối kháng nên những người muốn chống lại ông đã không có cơ hội. Mặt khác, là người có thực tài, ông thi hành chính sách cởi mở, khoan nới sức dân nên người dân, trước hết là khu vực kinh thành ủng hộ. Nếu không có việc phù lập của Nguyễn Hoằng Dụ thì lịch sử Việt Nam đã rẽ theo dòng khác: như nhà Lý nhà Trần, nhà Mạc sẽ thành dòng vua chính thống. Tranh chấp Lê Mạc thực chất là cuộc tranh quyền giữa họ Nguyễn và sau đó là họ Trịnh với họ Mạc. Họ Nguyễn và họ Trịnh đã sống ở Thăng Long trên dưới 100 năm, đã thành người Kẻ Chợ nên không còn là đại diện cho vùng Thanh Nghệ. Cũng phải kể sự kiện là sau chiến thắng của Lê Lợi, rất nhiều gia đình người Thanh Nghệ đã ra sống tại Thăng Long và tứ trấn nên khái niệm người Kinh không còn như trước kia nữa! Mặt khác, do nhiều người Thanh Nghệ làm quan, do tinh thần ham học (Thanh Nghệ trở thành đất học từ thời Lê, với nhiều ông đồ Nghệ dạy học ở ngoài Bắc), đáp ứng các cuộc thi cử nên dân trí vùng Thanh Nghệ cũng được nâng lên, khoảng cách văn hoá giữa Kinh và Trại thu hẹp lại, cái gọi là sự quê kệch của Thanh Nghệ cũng không còn nữa. Thực chất của việc họ Trịnh chống nhà Mạc rồi sau này chuyên quyền lấn át vua Lê chỉ chứng tỏ việc một thế lực quân sự áp đặt cuộc chiến vì quyền lợi của mình lên vùng Thanh Nghệ. Ngoài việc hy sinh quá nhiều, người dân Thanh Nghệ không được hưởng lợi gì từ đó cả. Việc họ Trịnh kéo quân vào đóng tại kinh thành không thể là sự thống trị của Thanh Nghệ với Đông Kinh. Vì vậy việc nói đó là cuộc tranh chấp giữa Thanh Nghệ và Đông Kinh chỉ là suy luận chủ quan không kém phần hoang tưởng.
 
Điều ngộ nhận thứ 3 : cuộc chiến Đàng Trong và Đàng Ngoài.
 
Trong những điều K.W.Taylor dẫn ra để minh chứng cho ý tưởng về cái gọi là tranh chấp vùng miền, tưởng như cuộc chiến Đàng Trong và Đàng Ngoài có vẻ thuyết phục hơn cả. Nhưng thực tế đó cũng chẳng phải sự tranh chấp vùng miền thực sự. Để lý giải điều này, trước hết cần có sự minh định thế nào là vùng, miền. Theo ý nghĩa thông thường, vùng là khu vực địa lý, dân cư hình thành một cách tự nhiên và lâu dài đủ để tạo nên những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội và lịch sử mang ý nghĩa khu vực. Trong ý nghĩa như vậy thì vào thế kỷ XVIII, Thuận Quảng không mang tính chất một vùng miền điển hình. Trong vai trò thần tử của nhà Lê, họ Nguyễn đưa người từ Thanh Nghệ vào để khai thác và bảo vệ vùng đất mới. Cuộc sống của người dân nơi đây không phải một xã hội dân sự mà một xã hội bán quân sự dưới sự chỉ huy của lãnh chúa. Như vậy lợi ích của vùng không phải là lợi ích của người dân mà là lợi ích của kẻ nắm quyền. Việc đưa Thuận Quảng chống lại triều đình là cuộc ly khai nổi loạn của một lãnh chúa ở vùng biên. Vì nguyên do đó, cuộc chiến Đàng Trong-Đàng Ngoài hoàn toàn không phải là cuộc tranh chấp vùng miền. K.W.Taylor có nói : “Tại sao không thể giải quyết bằng chính trị ngoại giao mà chỉ bằng quân sự ?” Điều này càng chứng tỏ rằng, đó không phải là tương quan giữa hai quốc gia. Bởi giữa hai quốc gia thì có thể thương lượng. Nhưng trong một nước thì chỉ là một mất một còn : một nhà không thể hai chủ !
 
Một đặc điểm cần lưu ý của cuộc ly khai này : tuy là anh hùng nhất khoảnh, từng nhiều phen tấn công ra Bắc thắng lợi nhưng họ Nguyễn vẫn nêu ngọn cờ “phù Lê”, chỉ dám xưng “chúa” trong vai trò tòng phục nhà Lê (chỉ tới Phúc Khoát 1744 mới xưng vương nhưng cũng là vua “dỏm” vì không dám đặt hoàng hậu, thái tử.)
 
Chúng ta kiểm chứng điều này qua thái độ người dân Thuận Quảng khi quân Trịnh kéo vào, dưới con mắt của sử gia trực tiếp tham gia cuộc hành quân : “Tướng giữ luỹ Trấn Ninh ra hàng, tướng lại quân dân cùng đem nhau quy phục, tranh nhau đem trâu ngựa để dâng quan quân” (ĐVTS.Tr.73) “Năm 36 Ất Vị tháng Giêng vào thành Phú Xuân. Người họ Nguyễn là quận Chiêm quận Thặng hơn trăm người đều quy thuận, văn võ tướng lại đều đón hàng… Quan lại sĩ dân ở yên như cũ, chợ không đổi hàng, cả miền vui vẻ, nói rằng: ‘Không ngờ hai trăm năm nay lại trông thấy áo mũ triều đình.’” (ĐVTS.Tr.75)
Như vậy là rõ : xung đột Đàng Trong-Đàng Ngoài là cuộc chiến tranh quyền giữa hai thế lực có quyền lợi đối kháng, hoàn toàn không phải sự tranh chấp vùng miền.
 
Điều ngộ nhận thứ 4 : Coi phong trào Tây Sơn là một sự phản ứng vùng trước những yêu sách của các nhà cai trị Thuận Quảng áp đặt lên vùng này.
 
Trước hết, có một sự thật :
 
“Quảng Nam Thuận Hoá chỉ hai trấn thôi mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng kể có hàng nghìn, nhũng lạm quá lắm. Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân chịu sao được.” (5)
 
Rồi : “Bấy giờ Thuận Hoá luôn mấy năm mất mùa đói kém, lại phải đánh trận bắt lính không thôi, quân dân lìa làng, sùng sục mong làm loạn” (PBTL.Tr. 71).
 
Trong cảnh cùng cực chung đó, vùng Quảng Nam có bị xiết chặt hơn : “Lệ phú thuế ở xứ Quảng Nam khác với xứ Thuận Hoá. Sự trưng thu so với Thuận Hoá hơi nặng, cho nên các kho tàng thu vào rất nhiều, bổng lộc quan lại rất nhiều, mà dân địa phương ấy nổi loạn trước cả cũng vì cớ ấy.” (PBTL.Tr.162)
 
Theo thiển ý, những cuộc nổi dậy chỉ là sự phản ứng của người dân bị dồn vào đường cùng, có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào mà Tây Sơn là điểm nhạy cảm nhất: Nguyễn Văn Nhạc lúc đầu mất phương hướng đã tụ tập đi ăn cướp giống như nhiều toán cướp đương thời. Nhưng không hiểu vì sao sau đó chuyển thành cuộc khởi nghĩa có quy mô ngày càng lớn, nhận được sự ủng hộ ngày càng nhiều của người dân.
 
Tuy nhiên vì vậy mà  coi phong trào Tây Sơn là một sự phản ứng vùng trước những yêu sách của các nhà cai trị Thuận Quảng áp đặt lên vùng này lại là sự khiên cưỡng không đủ thuyết phục. Cũng như Lê Lợi xưa, đây là cuộc quật khởi của người nông dân giành quyền sống mà không hề là chuyện tranh chấp vùng miền! Thực tế lịch sử cho thấy Bình Định chỉ là một trung tâm kinh tế và một cứ điểm quân sự chứ không có tầm quan trọng quyền lực đáng kể nào trong bối cảnh cuối thế kỷ XVIII. Vai trò của Bình Định chỉ là cái tổ sinh ra con chim đại bàng Nguyễn Huệ. Khi đủ lông đủ cánh, đại bàng đã bay lên thu nhận tinh hoa linh khí của mọi miền đất nước làm nên đại nghiệp. Còn Nguyễn Nhạc với Bình Định khác nào chú vịt con tắm ao nhà! Thổi phồng vai trò vùng miền của Bình Định cũng là ngộ nhận đáng tiếc của giáo sư K.W.Taylor.
 
Chính do ngộ nhận nên giáo sư K.W. Taylor tự mâu thuẫn : “Tôi không tin rằng các cuộc xung đột mà tôi đã trình bày trong tiểu luận này là tất yếu, không thể tránh được. Tôi không thấy có bất kỳ bằng chứng nào về sự cần thiết kinh tế, hằn thù sắc tộc, hay thậm chí logic địa lý khiến mọi cuộc chiến tranh này là không tránh được.” Không có lý do kinh tế, hằn thù sắc tộc hay địa lý để dấy lên những cuộc “xung đột vùng miền” chính vì những “xung đột vùng miền” chỉ là hoang tưởng của tác giả, còn sự xung đột quyền lợi giữa các thế lực quân sự mới là có thật! Rồi vì không giải thích được nên sử gia đưa ra cách lý giải quá đỗi siêu hình : “Có vẻ trong nhân loại có điều gì đó có thiên hướng dẫn đến xung đột ?” Phải chăng đây là sự bi hài của con nhện bị vướng bởi tấm lưới của mình?
 
Một ngộ nhận nữa tuy nhỏ nhưng vì sự minh bạch, thiết tưởng cũng cần phải đề cập: sử gia Hoa Kỳ đã hiểu sai câu thơ Mạc Thiên Tích! Câu Ngư long mộng giác xung nan phá trong bài Đông Hồ ấn nguyệt không có nghĩa “Con ngư con long, những ẩn dụ thay cho nhà cai trị và tuỳ tùng, tràn đầy giấc mơ và phối hợp, nhưng quá trình thức tỉnh và hành động thì không hoàn tất.” Ba trăm năm trước, Đông Hồ là vụng biển sâu, nơi đóng hạm đội của họ Mạc. Kết hợp với hòn Kim Dự nơi đặt pháo đài ở cửa sông, đồn Giang Thành ở thượng lưu, đây là cứ điểm mạnh chống trả kẻ xâm phạm. “Ngư long” trong quan niệm phương Đông chỉ những kẻ làm giặc, những phường ngoại xâm. Hoà điệu với bài Kim Dự Lan đào, Giang Thành dạ cổ, câu thơ trên của Tổng binh Mạc Thiên Tích ý nghĩa thật rõ ràng: kẻ xâm phạm, bằng vũ lực hay mua chuộc không thay đổi được lòng trung của ông với nước Việt : Nước Việt biên thuỳ vững núi sông (Nhật Nam cảnh vũ lại an lao - bài Giang Thành dạ cổ)(6)
 
2. Nguyên nhân ngộ nhận
 
Có thể nhận thấy hai nguyên nhân làm nên sự ngộ nhận của K.W.Taylor mà một là ông không hiểu cội nguồn của người Việt. Người Việt không phải như sử sách trước nay vẫn viết là đám người từ cao nguyên Tây Tạng thiên di xuống phía Nam Trung Hoa sau đó bị người Hán xua đuổi xuống đất Việt. Hoàn toàn không phải thế. Sang thế kỷ này khoa học có đủ chứng cứ để viết những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt :
 
Khoảng 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông theo ngả Nam Á tới Trung và Bắc Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra những chủng Indonesien, Melanesien… tràn lan khắp lục địa Đông Nam Á. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á di cư tới châu Úc, sau đó là New Guinea và các đảo ngoài khơi. Khoảng 40.000 năm trước, do băng hà tan, khí hậu trở nên ấm áp, người từ Đông Nam Á đi lên khai thác lục địa Trung Hoa. Do phân bố thời gian dài trên địa bàn rộng, người Đông Nam Á đã phân ly thành những bộ lạc khác nhau mà sau này lịch sử gọi bằng tên chung là Bách Việt. Trong cộng đồng Bách Việt, người Lạc Việt có nhân số đông nhất và giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Trên đất Trung Hoa, trung tâm của Bách Việt là Ngũ Lĩnh ở phía nam và Thái Sơn phía bắc. Người Việt tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông làm những vị vua tổ của mình.
 
Cũng khoảng thời gian trên, có lẽ là muộn hơn ít nhiều, một vài nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường Ba Thục lên định cư tại Tây Bắc Trung Quốc. Đó là tổ tiên của những bộ lạc Mông Cổ thiện chiến sống du mục trên các đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc sau này.
 
Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ du mục vượt sông Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Người Mông Cổ nhanh chóng hoà huyết với dân bản địa tạo ra chủng Mongoloid phương Nam. Bại trận ở Trác Lộc, Đế Lai, cháu cùa Thần Nông bị giết. Lạc Long Quân, vua nước Xích Quỷ,  một vị tướng chỉ huy liên quân Việt, đã đưa một bộ phận người Việt lên thuyền theo Hoàng Hà ra biển xuôi về nam, đổ bộ lên vùng Rào Rum, Ngàn Hống xứ Nghệ An, lập nước Văn Lang với các Vua Hùng.(7)
 
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của tộc người từng sáng tạo nền văn hoá Hoà Bình rồi đi lên xây dựng nền văn hoá lúa nước tiến bộ nhất nhân loại trên đất Trung Hoa. Người Việt bị cướp đất đai và cả lịch sử, phải chạy khỏi Trung Hoa trở về cố thủ trên đất tổ. Sự trải nghiệm lịch sử cho người Việt bài học quý nhất: sự đoàn kết. Bài học ấy trở thành thiêng liêng trong tục thờ Quốc Tổ Hùng Vương, trong truyền thuyết núi Hy Cương 99 ngọn… Từ miền Bắc, tiến về Nam mở đất, trong gia tài của người Việt có cội nguồn thiêng liêng là Đất Tổ, có thủ đô Thăng Long, nguồn sáng của văn hoá Việt với những vị đế vương của mình. Tục của người Việt cho rằng, người con cả của mọi gia đình ở lại miền Bắc phụng sự tổ tiên, còn người con thứ đi mở đất, nên mọi người con đầu tiên trong mỗi gia đình miền Nam đều là con thứ: anh Hai, chị Hai! Những dòng người Nam tiến đều từ đồng bằng sông Hồng, từ Thanh Nghệ ra đi nên họ chỉ là người Việt - không phải “những tộc người nói tiếng Việt” như ông K.W.Taylor cố tình xuyên tạc. Những địa danh nổi lên trong quá trình Nam tiến hoàn toàn không phải là sự cát cứ vùng miền để tranh chấp nhau. Ở từng thời gian, địa linh sinh nhân kiệt, xuất hiện những con người tài giỏi anh hùng từ một địa phương đứng lên giải quyết những vấn đề do lịch sử đặt ra với mục đích tối cao đưa dân tộc đi lên trong độc lập và thống nhất. Lịch sử mở nước là cuộc chạy tíếp sức giữa các thế hệ và các vùng miền: khúc gậy được chuyền tay từ Việt Trì xuống châu thổ sông Hồng rồi tới Thanh Nghệ, Thuận Quảng, Nam Bộ. Hỏi một người dân Nam Bộ: “Ông quê đâu,” thường gặp câu trả lời : “Ông già tôi sinh ở Quảng Nam, còn ông cố ông sơ tận ngoài Bắc.” Đó chính là dòng chảy của người Việt trên con đường mở nước. Điều này được thể hiện trong hai câu thơ của nhà thơ có cội nguồn miền Bắc    
 
Từ thuở mang gươm đi mở cõi,
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
 
 Không hiểu điều sâu xa này sẽ không thể hiểu được, vì sao gần 2000 năm trước, chỉ cần lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng thì cả một vùng rộng lớn đứng lên khởi nghĩa, cho đến nay vẫn có tới 200 ngôi đền thờ Hai Bà tại miền nam Trung Quốc ? Không hiểu được vì sao sau một nghìn năm bị đô hộ, người Việt Nam vẫn giành lại được nước ? Cũng không hiểu được vì sao một nước nhỏ, dân số không đông mà từng 3 lần thắng quân Nguyên Mông và sau này thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ ? Phải liên tiếp đối đầu với quân xâm lược là điều bất hạnh nhưng bị đồng hoá để tan biến vào hư vô còn bất hạnh hơn nhiều ! Do không hiểu những điều sâu xa này nên K.W.Taylor đã nhìn lịch sử Việt Nam một cách hời hợt và méo mó.
 
Tuy nhiên không chỉ có vậy, sự ngộ nhận của ngài sử gia Hoa Kỳ còn nguyên nhân sâu xa hơn: lòng thù hận với dân tộc Việt!
 
Là chiến binh của đoàn quân xâm lược bại trận nhưng cựu sĩ quan tình báo K.W.Taylor không chịu thua. Ông phất ngọn cờ rách sứ mạng quyền lực Mỹ xông vào trận chiến phục thù. Ông phục thù bằng cách xuyên tạc lịch sử, lăng mạ, bội nhọ dân tộc Việt. Điều này trước đây tôi đã phát biểu trong “Bài học khó thuộc” (8)
 
Xin hãy đọc K.W. Taylor :
 
“Giờ tôi không còn nghi ngờ nữa, Hoa Kỳ hoàn toàn có lý do để dùng sức mạnh hầu ngăn chặn sự hủy diệt những hy vọng một tương lai dân chủ cho ít nhất là một số người Việt Nam.”(1)
 
“Theo tôi, thảm kịch Việt nam không phải là việc Hoa Kỳ can thiệp khi cần, mà là sự can thiệp được tiến hành một cách tệ hại và sự phản bội những người Việt đã tin tưởng vào chúng ta.”(1)
 “Ðể xóa đi trong tâm thức chuyện nhục nhã này, nhiều người Mỹ tìm thấy sự hài lòng khi dựa vào những mơ màng lãng mạn của Hồ Chí Minh và những sáo ngữ lịch sử ngớ ngẩn về một dân tộc Việt Nam anh hùng đánh bại những đoàn quân xâm lược mà tên tuổi Hồ Chí Minh đã được kết đan vào đó.” (1)
 
“Hiện nay ở Việt Nam chính phủ rất muốn nói rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử thống nhất và người Việt Nam là một cộng đồng thống nhất. Nhưng thật ra theo tôi, về quan điểm lịch sử thì điều đó không đúng.”(3)
 
“Cho nên tôi nghi ngờ về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục, tức là lịch sử của một nhóm lấy quyền hành chính trị muốn dùng chuyện lịch sử để giảng dạy và tuyên truyền dân chúng phải theo chính sách quốc gia của chính phủ. Lịch sử thống nhất liên tục là lịch sử bị chính trị hóa, không là lịch sử khoa học.” (3)
 
“Nam tiến là một thuật ngữ lịch sử cận đại, là một học thuyết để khẳng định từ Bắc vào Nam chỉ có một nước và một người. Đây là sự tuyên truyền của chủ nghĩa quốc gia, muốn phủ nhận những sự khác nhau giữa miền Nam và miền Bắc và muốn nói rằng văn hóa miền Nam chỉ có một nguồn. Và nguồn này phải ở miền Bắc, tức là lý do cho phép miền Bắc đô hộ miền Nam để giảng dạy người Nam thế nào là một người Việt Nam thật sự.”(3)
 
“Tôi nghĩ rằng trong hai thế kỷ 17 và 18 Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai nước. Vì sao Việt Nam phải là một nước thôi là vấn đề chiến tranh và chính trị, không là vấn đề lịch sử, xã hội và văn hóa.” (3)
 
“Những người quyết tâm cai trị toàn bộ các dân tộc Việt sẽ nhấn mạnh về một lịch sử và văn hóa Việt Nam đơn nhất với một cội nguồn duy nhất và một xung lực duy nhất xuyên suốt thời gian và không gian. Nhưng những giấc mơ về tính độc nhất này là sự thể hiện niềm tin chính trị, chứ không phải là điều nghiễm nhiên.” (2)
 
“Ý tưởng về một ‘lịch sử chung’ là một điều được tưởng tượng và tranh luận, chứ không phải là một vấn đề hiển nhiên; nó không phải là một di sản rõ rệt mà đúng hơn, nó được nghĩ ra, dạy dỗ và học từ thế hệ này sang thế hệ khác: nó là một vấn đề truyền thụ. Một ‘lịch sử chung của người Việt’ là chuyện ý thức hệ và chính trị, không phải là học thuật.”(2)
 
“Thật dễ dàng để cho rằng Đông Kinh có thể xem như một phần của Đông Á trong khi Nam Bộ được xem là một phần của Đông Nam Á. Nhưng điều này có ý nghĩa gì cho một ‘lịch sử chung’ của các dân tộc Việt? Và điều này có ý nghĩa gì cho Đông Á và Đông Nam Á với tư cách các phạm trù kiến thức học thuật? (2)
 
Giáo sư K.W.Taylor có lý do để thù hận giới lãnh đạo Việt Nam. Nhưng giận cá chém thớt, xuyên tạc lịch sử của một dân tộc lại là chuyện khác. Người ta không ngu dốt đến nỗi không nhận ra, dưới chiêu bài khoa học khách quan, cho Việt Nam là đất nước đầy mâu thuẫn tranh chấp giữa các vùng miền, đất nước của vùng nọ áp đặt sự đô hộ thống trị đối với miền kia, có mưu đồ sâu xa. Tôi vốn coi cái “nguy cơ diễn biến hoà bình” mà giới tuyên truyền của Việt Nam thường rêu rao không khác hơn trò đội váy nhát mẹ. Nhưng hình như việc làm của sử gia K.W. Taylor lại chứng tỏ họ không hoàn toàn vô lý! Tôi không liều lĩnh nói rằng không có sự khác biệt vùng miền trong cuộc sống của người Việt. Đấy là chuyện tất yếu do lịch sử tạo nên. Không thể không nói rằng, do những sai lầm của các nhà lãnh đạo, do tội lỗi của những quan lại địa phương tham nhũng và chuyên quyền, người dân nhiều vùng bị đối xử tệ hại. Nhưng đấy chỉ là sự áp đặt của những người cai trị mà hoàn toàn không có việc miền nọ đô hộ miền kia. Cho đó là mâu thuẫn vùng miền, rồi kích động tâm lý ly khai phản loạn là sai lầm và tội ác !
 
3. Kết luận
 
Mỗi dân tộc có một lịch sử của mình. Dân tộc Việt có một lịch sử đặc biệt. Đó là dân tộc từng sáng tạo nền văn minh lúa nước rồi văn hoá đồng thau rực rỡ, là chủ nhân đầu tiên tạo dựng nền văn hoá Trung Hoa vĩ đại. Nhưng đó cũng là dân tộc bị tước đoạt, bị xua đuổi. Ở thời hiện đại, dân tộc này lại bị xô đẩy vào những cuộc chiến tranh khủng khiếp. Sức mạnh duy nhất để dân tộc Việt tồn tại chính là sự đoàn kết thống nhất. Với dân tộc như vậy, cần được nhìn bằng con mắt cảm thông và kính trọng.
 
Nghiên cứu tìm hiểu rồi viết và giảng dạy lịch sử của dân tộc khác để đem lại sự hiểu biết lẫn nhau là điều tốt đẹp đáng làm. Nhưng hình như với giáo sư Keith Weller Taylor lại không như vậy. Với ý đồ trả thù một dân tộc từng đánh thắng người Mỹ, ông hăng hái học, dạy rồi viết về lịch sử Việt. Dưới chiêu bài “phát hiện những cái mới”, ông thể hiện cách nhìn mục hạ vô nhân, vừa xuyên tạc lịch sử của người Việt vừa coi thường công trình của những người đi trước. Nhưng rõ ràng, những mưu toan xuyên tạc lịch sử đầy ác ý của ông sẽ không đem lại điều gì tốt đẹp. Không tốt đẹp cho sự hiểu biết và thông cảm nhau giữa các dân tộc và cũng không đem lại tốt đẹp cho sự nghiệp sử gia của ông. Phản bác lại những mưu toan bóp méo lịch sử, xúc phạm dân tộc, kích động thù hằn giữa các vùng miền lẽ ra là công việc của những sử gia mũ cao áo dài, học hàm học vị cùng mình và từng hưởng nhiều ơn vua lộc nước. Việc một kẻ phó thường dân, cóc ngồi đáy giếng như tôi phải lên tiếng là vạn bất đắc dĩ nhưng không thể không làm vì đó cũng là tâm nguyện của nhiều người Việt.
                                                                                                 
Tài liệu tham khảo :
1. talawas.org 30.4.05
2. talawas.org 30.5.2005
3. BBCVIETNAMESE.com 12.9.2003
4.Lê Quý Đôn. Đại Việt thông sử. Hà Nội-1978, tr.258
5.Lê Quý Đôn. Phủ Biên tạp lục. Hà Nội-1977, tr.146
6. Hà Văn Thùy. Trấn Hà Tiên và Tao đàn Chiêu Anh Các. NXB Văn học. Hà Nội 2002.
7. Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá. talawas.org, vannghesongcuulong.org. 
8. Hà Văn Thùy. Bài học khó thuộc. talawas. 5.2005
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-26 09:35:51Tư Tứ>
NHỮNG BÀI CÓ LIÊN QUAN TỚI BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
NHỮNG BÀI CÓ LIÊN QUAN TỚI BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
CUỐN SÁCH NHỎ BÀN VẤN ĐỀ LỚN
PGS. Hoàng Xuân Chinh
                                                                   
Cuốn sách có độ dày khá khiêm tốn, chỉ trên 180 trang khổ 14,5cm x 20,5cm  được chia làm 2 phần. Phần đầu bàn về Nguồn gốc người Việt, phần sau bàn về Cội nguồn văn hoá Việt Nam.
 
Chỉ hai phần đơn giản thế thôi, song trong đó chứa đựng tư liệu của rất nhiều bộ môn cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên như nhân chủng học, di truyền học, khảo cổ học , sử học, ngôn ngữ học, địa chất học.v.v... Tác giả đã sử dụng tư liệu từ xa xưa như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ, những tư liệu trước Cách mạng Tháng 8 như Việt Nam sử lược của Trân Trọng Kim, của L. Aurousseau và khá nhiều tư liệu của các học giả ở miền Nam trước ngày đất nước thống nhất năm 1975 như  cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam của Bình Nguyên Lộc, các cuốn sử của Phạm Văn Sơn, sách của Kim Định, Nguyễn Đăng Thục, v.v... cùng nhiều sách của các học giả như các công trình của W.G. Solheim II, C. Sauer, J.Y. Chu, Bing Su, W. Kim, S.W. Ballinger, Jin Li, Peter Savolainen, Stephen Oppenheimer, v.v...
 
Trước một khối lượng tư liệu đồ sộ từ nhiều nguồn khác nhau như vậy, tôi lần đọc trích yếu lý lịch của tác giả ở trang bìa: Hà Văn Thuỳ quê gốc lúa Thái Bình, sinh trước Cách mạng Tháng 8 một năm, tốt nghiệp Khoa Sinh Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1967. Ra nghề, không làm công việc của ngành sinh học, mà chuyên về văn, thơ. Từng làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình, Kiên Giang rồi báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam. Và cũng đã có tác phẩm đủ các lãnh vực thơ, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật, phê bình và tiểu luận. Cuốn Tìm lại cội nguồn văn hoá của người Việt này là tác phẩm gần đây nhất của ông, xuất bản năm 2007.
 
Càng đọc tôi càng phục khả năng đọc và viết của ông. Ngành văn thơ vốn là nghề tay trái của ông mà đã có những công trình đủ loại như vậy, nếu ngay từ đầu hiến thân cho ngành tay phải chắc là đã có nhiều đóng góp to lớn cho ngành sinh học. Ngay cuốn sách này, theo tôi chính là xuất phát từ những kiến thức sinh học mà ông đã tiếp thu từ những ngày ngồi trên ghế nhà trường. Vì thế, tuy công trình dẫn ra rất nhiều nguồn tư liệu, nhưng kết luận cuối cùng của ông chính là dựa trên tư liệu di truyền học (?).
 
Như phần trên đã nói, công trình này đã đề cập đến một vấn đề vô cùng quan trọng mà không phải các nhà khoa học cần và phải giải đáp mà cũng là nguyện vọng của bất cứ một người con dân đất Việt nào ở trong hay ngoài nước đều muốn biết. Đặc biệt là những người dân Việt sống xa tổ quốc lại càng quan tâm tìm hiểu cội nguồn dân tộc. Trong những năm tháng trước giải phóng miền Nam - 1975, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này, chẳng hạn như Nguyễn Phương có các bài: Tiến trình hình thành của dân tộc Việt Nam, Việt Nam thời khai sinh; Trở lại bài lịch sử Lạc Việt; Nghiêm Thẩm có bài Nguồn gốc văn minh Việt Nam; Đỗ Trọng Huề có bài Đi tìm dấu vết Hùng Vương; Hồ Hữu Tường có bài Đi tìm nguồn gốc dân tộc, v.v...Và ngay trên miền Bắc nước ta trong những ngày kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, toàn ngành khảo cổ, sử học, dân tộc học cùng một số ngành liên quan khác đã tập trung một số năm nghiên cứu về thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc: Thời Hùng Vương. Chính nhờ đợt nghiên cứu tập trung này mà Thời kỳ Hùng Vương từ trong mây mù huyền thoại đã được đưa vào chính sử...
 
Nói như vậy để thấy rằng tác giả Hà Văn Thùy đã đề cập đến một vấn đề cấp thiết mà mỗi người dân Việt bất cứ ở đâu, làm bất cứ công việc gì đều muốn biết.
 
Nhưng, đúng đây là một vấn đề vừa rộng vừa khó nên ít người muốn xông vào nên có hiện tượng đúng như Xuân Cang nói về hai công trình Việt Lý Tố Nguyên và Cơ cấu Việt Nho của Lương Kim Định bị chìm trong im lặng.
 
Thực ra, thì vấn đề Nguồn gốc dân tộc Việt Nam luôn được đề cập đến trong các công trình khảo cổ và lịch sử  thời kỳ tiền sơ sử, nhưng thường chỉ được gói gọn trong tư liệu cổ nhân học và khảo cổ học phát hiện được trong những năm gần đây có sự đối chiếu với truyền thuyết trong các thư tịch xưa.
 
Cuốn sách mà tác giả dẫn ra khá nhiều tài liệu về các ngữ hệ ngôn ngữ từ Môn - Khme, Mèo - Dao, Tày - Thái đến Tạng - Miến, Mã Lai - Đa Đảo, Việt - Mường, các tài liệu về nhân chủng như đại chủng Mongoloid, Australoid, người Melanesien, Indonesien và Nam Á thuộc loại hình nhân chủng Mongoloid phương Nam và loại bình Mongoloid phương Bắc, cùng các thần thoại về Tam Hoàng, Ngũ Đế, về nước Xích Quỷ, về người Viêm Việt, về Xi Vưu, Đế Lai, Đế Minh, v.v... và đặc biệt tác giả đã dựa vào tư liệu di truyền học hiện đại của các học giả phương Tây vạch ra con đường thiên di của các dòng người Đông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn. “Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử... Giai đoạn hai, mà sử sách gọi là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Đông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lược xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình”.
 
Đối với người Việt thì “Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Đông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm Đế. Kế tục Thần Nông là Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vươn, Lạc Long Quân ở phía Nam. Thời kỳ này người Mông ở phía bắc và liên tục xâm lấn, thường xuyên xẩy ra tranh chấp”
 
“Khoảng năm 2.600 trước Công nguyên, trong trận Trác Lộc, Đế Lai tử trận, người Mông thắng, tôn Hoàng Đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận theo Âu Cơ con gái Đế Lai chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam.”(Xem trang 52, 53)
 
Tóm lại, sau khi trích dẫn nhiều loại tài liệu, tác giả đi đến kết luận là từ rất sớm, cư dân Đông Nam Á thiên di lên đến miền bắc Trung Quốc, về sau bị dân du mục ở phía tây bắc tràn vào phải rút lui về phương nam. Người Việt là một trong số cư dân Đông Nam Á đó đã từng làm chủ đất Trung Quốc. Về sau bị xua đuổi mà phải trở về đất cũ ở phương nam. Những kết luận này làm nổi bật vai trò của dân tộc Việt cũng như văn hoá Việt đã một thời góp phần tạo nên văn minh Trung Hoa.
 
Ở đây, do phạm vi của một bài báo nhỏ và cũng là do có nhiều tư liệu như di truyền học hiện đại tôi gần như không có tư liệu nên chỉ xin nêu lên một số vấn đề quanh cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt mà thôi.
 
Trước hết, theo tôi để giải quyết vấn để trên thì tư liệu cổ nhân học và tư liệu khảo cổ học là hai nguồn tư liệu quan trọng nhất, còn các tài liệu khác chỉ là góp phần tham khảo, nó chỉ thật sự có giá trị khi có sự phù hợp giữa chúng với hai loại tư liệu trên. Bởi vì tài liệu cổ nhân loại và tài liệu khảo cổ là những tư liệu thực bằng vật chất từ thời đó để lại, còn truyền thuyết, huyền thoại là những câu chuyện được hình thành sau này, còn tài liệu dân tộc học hay ngôn ngữ học là những gì còn lại hiện nay nó đã thay đổi biến dị khá nhiều so với nguyên gốc.
 
Thứ hai, mối giao lưu trao đổi cũng như sự dịch chuyển của một bộ phận cư dân qua các thời kỳ là việc xẩy ra thường nhật, nhất là ở một vị trí như nước ta có thể trao đổi từ đất liền ra hải đảo, từ bắc xuống nam hay trái lại từ hải đảo vào đất liền, từ Nam lên Bắc. Nhưng qua di cốt sọ cùng bộ mặt văn hoá vật chất thể hiện trên tư liệu khảo cổ, có thể thấy trên đất nước ta đã tìm thấy xương răng cùng công cụ đá của con người sơ kỳ thời đại đá cũ sống cách ngày này năm sáu chục vạn năm, tương đương người vượn Bắc Kinh. Và trên đất nước ta con người có mặt suốt trong các thờì kỳ đá mới, thời đại đồng thau và thời đại sắt cho mãi tới ngày nay.Và ngay trên đất Trung Quốc cũng vậy, cả trên lưu vực sông Hoàng Hà lẫn lưu vực sông Dương Tử và Hoa Nam suốt từ sơ kỳ thời đại đá cũ cho đến các thời kỳ đồ đá mới, đồ đồng, đồ sắt sau đó luôn luôn có con người cư trú. Giữa các vùng này luôn có sự giao lưu trao đổi qua lại hai chiều, song bộ mặt văn hoá mỗi vùng vẫn có những đặc trưng riêng không thể lẫn được. Những tư liệu trên cho thấy không có một dòng thiên di lớn từ vùng Đông Nam Á lên miền bắc Trung Quốc trong lịch sử.
 
Lấy văn hoá Hoà Bình làm ví dụ, văn hoá Hoà Bình phân bố rộng rãi khắp vùng Đông Nam Á lục địa và một phần vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc, và đựơc xem là văn hoá đặt nền móng cho văn hoá thời tiền sử Đông Nam Á. Vùng núi  Lưỡng Quảng trong khái niệm địa chất được các nhà khoa học xếp vào Đông Nam Á. Trên vùng sông Dương Tử và lưu vực Hoàng Hà không hề có dấu tích văn hoá Hoà Bình. Đó là về thời tiền sử.
 
Còn trong thời dựng nước đầu tiên cuả dân tộc ta: Thời Hùng Vương các nhà nghiên cứu của nhiều ngành đã qua  nhiều cuộc thảo luận trao đổi, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu khác nhau đã đi đến những nhận định khá thống nhất.Văn hoá Đông Sơn là văn hoá vật chất của thời dưng nước đầu tiên của dân tộc, mà truyền thuyết gọi là Thời Hùng Vương. Trước đó tại các lưu vực sông Hồng, sông Mã và  sông Cả đã có một quá trình phát triển liên tục văn hoá thời đại đồng thau để hoà hợp thành văn hoá Đông Sơn mở đầu vào khoảng một hai thế kỷ đầu Thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Trước đây các học giả phương Tây cho văn hoá Đông Sơn bắt nguồn từ văn hoá sông Hoài thời Chiến Quốc bên Trung Quốc hoặc tận vùng Han Tát bên trời Âu. Nhưng tư liệu khảo cổ phát hiện trong vài chục năm lại đây đã chứng minh một cách hùng hồn văn hoá Đông Sơn có nguồn gốc bản địa, văn hoá Đông Sơn được phát triển lên từ các văn hoá thời đại đồng thau ở Bắc bộ và bắc Trung bộ.
 
Thời kỳ hình thành nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng trong Thiên niên kỷ  I và II trước Công nguyên là thời kỳ ra đời của nhà Thương và nhà Chu ở Trung Quốc.Trong giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên mở đầu thời Tiền Đông Sơn (khoảng 4000 – 3500 năm trước) cư dân Phùng Nguyên mới biết đến kỹ thuật luyện đúc đồng thì thời Thương họ đã đúc được những chiếc đỉnh đồng nặng tới 700kg. Và cũng cần nói thêm phong cách văn hoá giữa hai vùng hoàn toàn khác nhau.Trống đồng là biểu tượng của nền văn minh Việt cổ, còn văn minh Hoa Hạ làm gì có trống đồng. Nhân đây cũng cần nói thêm vấn đề Bách Việt. Bách Việt là tên phiếm chỉ người Hán dùng để chỉ một số nước nhỏ ở Hoa Nam trước lúc nhà Tần thống nhất vào Trung Quốc. Đó là Ngô Việt ờ vùng Chiết Giang, Mân Việt ở vùng Phúc Kiến, Nam Việt ở vùng Quảng Đông, Quế Việt ở vùng Quảng Tây, Điền Việt ở vùng Vân Nam, và Lạc Việt ở Việt Nam. Trên đất Sơn Đông làm gì có dân Việt nào. Các dân tộc ở phía nam sông Dương Tử về văn hoá, tộc người khá khác với người Hán vùng Hoa Hạ, mà trái lại có nhiều nét gần gũi với người Việt Nam. Trải qua mấy ngàn năm sống chung lẫn lộn trong cộng đồng dân tộc Trung Quốc, nhưng ngày nay vẫn dễ dàng phân biệt dân Hoa Bắc và dân Hoa Nam.
 
Tôi trình bày kỹ một số tình hình như vậy để muốn nói rằng, trong các thời kỳ, các dân tộc đều có sự giao lưu trao đổi, dịch chuyển nơi cư trú, nhưng cư dân và nền văn hoá bản địa luôn đóng vai trò chủ thể, do đó cần phải thận trọng sử dụng học thuyết thiên di để giải thích tìm nguồn gốc của dân tộc và cội nguồn văn hoá. Trước đây nhiều nhà nghiên cứu phương Tây khi nghiên cứu tìm hiểu cội nguồn các nền văn hoá của các dân tộc thường bị ảnh hưởng của thuyết thiên di chi phối. Những phát hiện khảo cổ cũng như cổ nhân loại học những năm gần đây cho thấy nhiều trường hợp không thoả đáng, thậm chí sai lầm.
 
Trong cuốn sách mà tác giả Hà Văn Thùy đã sử dụng nhiều tài liệu, nhưng phải nói rằng tác giả quá chú ý đến tài liệu truyền thuyết hay những tư liệu quá xưa, hoặc của những người đề cập đến những vấn đề không phải là chuyên môn của họ, mà ít những tư liệu cập nhật về cổ nhân cũng như khảo cổ. Chẳng hạn ngày nay tư liệu về cổ nhân  cũng như khảo cổ đều cho thấy trên châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Bắc Á đều phát hiện di cốt của cả một quá trình biến diễn từ Người vượn đứng thẳng (Homo erectus) qua Người hiện đại cũ (Homo sapiens) sang Người hiện đại mới (Homo sapiens sapiens). Những tư liệu đó cùng với tư liệu khảo cổ cho thấy ngay từ thời tối cổ cũng không hề có một dòng thiên di từ châu Phi qua Nam Á rồi sang Đông Nam Á, từ đây lại chuyển lên phía bắc.Có thể trước đây có một vài người theo thuyết một nguồn gốc nêu lên như vậy, nhưng những phát hiện ngày nay đã khác.
 
Còn cư dân châu Đại Dương và châu Mỹ thì cho đến nay ở các nơi đó chưa phát hiện được di cốt và văn hoá của con người thời tối cổ, mà chỉ mới phát hiện được dấu tích văn hoá và di cốt của con người cách ngày nay vài vạn năm nên các nhà nghiên cứu cho rằng cư dân tiền sử châu Á đã bằng bè mảng theo gió mùa hoặc qua eo bể Bering tiến sang châu Đại Dương và châu Mỹ.
 
Có một số tư liệu tác giả cần chính xác hơn. Chẳng hạn ông W.G. Solheim II không phải là nhà nhân chủng học, mà thuần tuý là nhà khảo cổ học Mỹ, giảng dạy ở Đại học Ha-oai. Ông đã đến thăm Việt Nam và tôi cũng đã từng trao đổi với ông nhiều vấn đề về khảo cổ Việt Nam và Đông Nam Á, chẳng hạn như ông cho văn hoá Sa Huỳnh là từ hải đảo vào, mà các nhà nghiên cứu chúng ta có đủ tư liệu chứng minh, văn hoá Sa Huỳnh là một văn hoá bản địa có sự góp mặt từ một vài nguồn khác.
 
Hoặc tác giả viết: “...những di vật để lại trong hang núi Đọ” (tr.74) .Thật ra Núi Đọ không phải là núi đá vôi như ở văn hoá Hoà Bình  - Bắc Sơn, mà núi Đọ là núi đá ba dan và đất, công cụ Núi Đọ được làm từ đá ba dan chủ yếu nhặt trên  sườn núi.
 
Ở trang 53 tác giả đã viết: “Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Đông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo...” (tr.53). Trong đoạn văn ngắn này có vài vấn đề phải bàn.
 
Thứ nhất, khoảng 40.000 năm trước người Việt chưa hình thành, vì lúc này con người đang trong giai đoạn cuối để hoàn thành quá trình hình thành con người về mặt sinh học và bắt đầu hình thành các đại chủng, cư dân sinh sống trên miền trung và bắc Việt Nam lúc bấy giờ chưa phải là người Việt.
 
Thứ hai, lúc này cả thế giới, chứ nói gì đến người Việt đã làm gì có nông nghiệp, mà lại là nông nghiệp trồng lúa nước.
 
Nhân đây cũng xin nói thêm về sự ra đời của nông nghiệp. Trước đây có tài liệu đều nói cư dân văn hoá Hoà Bình sinh sống bằng săn bắn và hái lượm, nhưng đến những năm 60 của thế kỷ XX sau khi nhà khảo cổ học người Mỹ C.Gorman đào một di tích thuộc văn hoá Hoà Bình trong Hang Ma, miền bắc Thái Lan đã phát hiện được một số hạt và phấn hoa của một số cây rau quả như bầu, đậu, dưa chuột, củ ấu, trám v.v...một số nhà nghiên cứu trong đó có tôi nghĩ rằng cư dân văn hoá Hoà Bình đã biết đến nông nghiệp sơ khai, mà là nông nghiệp làm vườn trồng cây rau củ. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu nước ta nhận định về sự ra đời của nông nghiệp sơ khai trong bối cảnh văn hoá Hoà Bình khá dè dặt. Còn nông  nghiệp trồng lúa nước ở ta cho đến nay chỉ mới phát hiện được dấu tích hạt lúa và vỏ trấu trong một số di tích văn hoá Phùng Nguyên là có niên đại sớm hơn cả. Hầu như các nhà nghiên cứu về nông nghiệp cổ đều cho Đông Nam Á là nơi phát sinh của nông nghiệp trồng lúa nước, còn sớm nhất ở nước nào thì chưa thống nhất được. Di tích Hà Mẫu Độ ở gần Thượng Hải có niên đại khoảng trên 5.000 năm đã tìm được dấu tích hạt lúa. Ở Thái Lan cũng đã tìm được dấu tích lúa khá sớm.
 
Thứ ba là thời Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa làm gì đã thành lập được nhà nước kể cả còn lỏng lẻo. Ở Trung Quốc nhà nước đầu tiên là nhà Hạ cũng chỉ có niên đại khoảng trên dưới 2.000 năm trước Công nguyên để phát triển thành nhà Thương tiếp sau đó. Ở ta, nhà nước Văn Lang cũng chỉ mới hình thành vào khoảng đầu Thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Các nước Việt khác trong khối Bách Việt như Điền Việt, Mân Việt cũng có tình hình tương tự .
 
Qua đó có thể nói nguồn gốc dân tộc Việt Nam là từ cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời trên đất nước ta. Cư dân này trong thời đại đá mới là ngươì Melanesien và Indonesien thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Sang thời đại kim khí do sự cộng cư hoà đồng cùng cư dân Hoa Nam tràn xuống, yếu tố Mongoloid ngày càng đậm thêm thành chủng người Nam Á.Với vị trí nằm ở giữa con đường giao lưu đông tây nam bắc thường xuyên có mối giao lưu giữa các nhóm người và các nền văn hoá xung quanh, song yếu tố con người và văn hoá bản địa luôn chiếm địa vị chủ đạo.
 
Vì thế tôi nghĩ rằng, đất nước ta trước, trong và sau thời dựng nước đầu tiên của dân tộc luôn là nơi tiếp nhận các yếu tố nhân chủng và văn hoá mới để góp phần cùng cư dân và văn hoá bản địa tạo nên bộ mặt dân tộc và văn hoá mới .
 
Như phần trên đã nói, cho đến nay tôi chưa có tư liệu về di truyền học hiện đại khu vực này nên không thể nói được gì hơn, nhưng tư liệu về di truyền học hiện đại cũng cần được kiểm chứng với các nguồn tư liệu khác như cổ nhân học và khảo cổ học thì mới đáng tin cậy.
 
Còn một số vấn đề cần được trao đổi sáng tỏ hơn, nhưng phải nói rằng đây là một cuốn sách được tác giả viết khá công phu, có trách nhiệm, tư liệu phong phú rất đáng được trân trọng. Đây thực chất là một công trình khoa học bao trùm nhiều khoa học rộng lớn được tác giả nêu lên một số ý kiến mới. Mà đã là khoa học, lại có ý kiến mới thì nhất định sẽ có những ý kiến trao đổi, đồng ý hoặc phản bác. Đó là điều bình thường. Tôi có nhiều điều muốn trao đổi cặn kẽ với tác giả như vấn đề Nhà Triệu, vấn đề tượng đá Mỵ Châu, v.v... nhưng trong bài viết này không thể nói hết. Mong sẽ có dịp được trao đổi kỹ với tác giả.
 
                                                                                                                 Hà Nội , sau Lễ Vu Lan
                                                                                                                      Tháng 9 năm 2007
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                
* NXB Văn học. Hà Nội, 2006, 186 trang
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-26 09:49:01Tư Tứ>
Keith W. Taylor
Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào
Bùi Văn Phú dịch

Tháng Giêng năm 1972, khoảng sáu tháng sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về và được phục viên, tôi bắt đầu học thạc sĩ tại Ðại học Michigan, chuyên ngành sử Việt Nam. Cuộc chiến lúc đó thì quá bao la để tôi có thể ép nó vào khung hàn lâm, vì thế tôi chú trọng vào những thời kỳ cổ sử, là một sự vượt thoát êm ả khỏi những bối rối từ trải nghiệm bản thân về cuộc chiến Việt Nam.

Những năm sau, khi dạy môn sử Việt, tôi không tránh khỏi việc phải dành vài tiết nói về cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, nhưng tôi luôn cảm thấy lo sợ khi làm thế, vì bàn luận công khai về cuộc chiến thường khiến tôi có cảm giác buồn nôn. Phải mất 25 năm tôi mới bắt đầu hiểu được cảm giác buồn nôn đó đến từ sự trái nghịch giữa những mẫu diễn giải mà tôi đã ghi nhận được về cuộc chiến và những gì tôi cảm nhận trong lòng mình.
Bài viết này giải thích sự việc tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào và những tư duy về cuộc chiến đã thay đổi ra sao để trở thành những tư duy của chính mình.

Có ba nguyên lý trong các lý giải nổi bật nhất về chiến tranh Mỹ-Việt đã được những phong trào phản chiến đưa ra vào cuối thập kỷ 1960 và rồi được đa số giáo sư đại học coi đó là nền tảng để giải thích về cuộc chiến này.

Ba nguyên lý đó là: chưa bao giờ có một chính quyền không cộng sản hợp pháp tại Sài Gòn; Hoa Kỳ không có lý do hợp pháp để can dự vào việc của người Việt Nam; và Hoa Kỳ đã không thể thắng được cuộc chiến trong bất cứ hoàn cảnh nào.


Phải mất nhiều năm tôi mới thoát ra khỏi những luận điểm này và nhìn chúng như những mảnh vụn giáo điều của phong trào phản chiến hơn là những lập luận có nền tảng vững chắc được xác minh với bằng chứng và lý luận. Tôi có thể nói như thế, vì rút cuộc tôi cũng đã đồng thuận với những trải nghiệm của bản thân.

Nhận bằng cử nhân vào tháng 5. 1968, hai tuần lễ sau tôi nhận giấy động viên, yêu cầu trình diện tại trung tâm quân vụ gần nhất để khám sức khoẻ. Sau cái gọi là Tổng công kích Mậu Thân mùa xuân năm đó, chỉ số trưng binh cao hẳn lên khiến nhiều người trong chúng tôi, do học vấn, vốn mong được hoãn nghĩa vụ cho đến qua thời hạn trưng binh, thì từng người giờ đang phải giáp mặt với chiến tranh.

Tôi nhớ lúc đó có năm chọn lựa.

Một là tìm cách để rớt khám sức khoẻ tổng quát và có nhiều cách để làm thế. Tôi loại bỏ cách này ngay vì nó làm mất danh dự bản thân.

Một cách khác là làm đơn xin được một ngoại lệ như "người phản đối vì lương tâm" mà sẽ đòi hỏi tôi phải lý luận rằng, vì niềm tin tôn giáo nên tôi không thể vào lính. Tôi gạt cách đó, vì tôn giáo của tôi không nằm trong loại này.

Cách thứ ba là vào tù, nhưng tôi không thấy có lý do gì để làm chuyện này, vì không tin là cuộc chiến có một giá trị đạo đức thấp đến độ tôi phải phản kháng dân sự. Cuộc chiến, như tôi hiểu vào lúc đó, tự nó không phải là xấu; nếu có gì xấu, thì tôi nghĩ là do không được chỉ đạo đúng và những hệ quả của sự dốt nát này. 7 tuổi, tôi đã chứng kiến cảnh anh rể trở về trong quan tài, tôi có ý thức về bổn phận công dân đối với đất nước, điều không hề bị cản trở do những thăng trầm chiến tranh vì lãnh đạo kém. Soi rọi vào chính mình, tôi biết tôi có thể trung thành với luật danh dự cá nhân gắn liền với những gì tôi hiểu, như những lý tưởng tiềm ẩn trong cách tổ chức chính phủ tại nước tôi, đã vươn cao hơn cả sự thất bại của giới lãnh đạo chính trị và quân sự. Ðiều này trở nên rõ hơn khi tôi được một sĩ quan phỏng vấn trong tiến trình cấp cho tôi đặc quyền được biết những tin mật về an ninh. Ông ta hỏi ý kiến về cuộc chiến, tôi trả lời rằng, thật là vô lý nếu chúng ta tìm cách bảo vệ miền Nam khi vùng biên giới với Lào và Cam Bốt lại để cho địch quân kiểm soát. Tôi đã không tranh luận về việc chống lại sự bành trướng của những chính quyền cộng sản. Nhưng tôi không nhìn thấy một chiến lược nào được áp dụng khả dĩ có triển vọng thành công. Tuy nhiên tôi nói với viên sĩ quan rằng lòng yêu nước của tôi cao hơn những bất mãn về sự lãnh đạo tồi. Tôi không thể vào tù chỉ vì bất đồng với việc điều hành chiến tranh, đặc biệt là tôi đã không tranh cãi về mục tiêu toàn diện của cuốc chiến.
Cách thứ tư là trốn qua Canada, một việc đang được chính phủ ở đó khuyến khích. Ðây là điều mà bạn thân của tôi đã làm năm 1967. Tôi suy nghĩ kỹ về chọn lựa này, đã đến sứ quán Canada hỏi một nhân viên và được khuyên hãy di dân qua đó. Nhưng vì những lý do đã trình bày, tôi không thấy chọn lựa này hấp dẫn. Hình dung ra những thuận lợi cho mình khi làm chuyện này, nhưng làm như thế, bỏ ra một bên sự cương quyết của mình, sẽ làm cho cha mẹ tôi xấu hổ, đau buồn là điều tôi không sẵn lòng.

Lựa chọn thứ năm là phục vụ tổ quốc, làm tròn bổn phận công dân như tôi đã được dạy. Ðó là điều tôi đã chọn.

Nhưng, có lẽ từ niềm tự cao với một trình độ giáo dục vững chắc và hãnh diện về tính độc lập phát sinh ra niềm tự cao đó, tôi quyết tâm gìn giữ và kiểm soát cuộc đời mình bằng mọi cách có thể được. Tôi không ưa cái cảm giác của sự bất lực đến từ một viễn vọng giản đơn là bị trưng binh, bị gửi đến bất cứ nơi nào để làm bất cứ việc gì.

Vì thế khi người tuyển binh giải thích thay vì bị trưng binh, tôi có thể tình nguyện đăng ký và như thế tôi có thể chọn việc cho mình trong quân đội. Tôi quyết định nắm lấy bất kỳ dấu tích tự kiểm soát nào mà tôi có thể đặt vào đời mình trong lúc này. Tôi đăng ký vào ngành quân báo.

Hai năm kế tiếp là những khoá huấn luyện : từ căn bản chiến đấu, tình báo đến học tiếng Việt. Tôi đã ấp ủ hi vọng không phải can dự vào cuộc chiến. Những đồng đội thân quen được gửi đi Alaska, Triều Tiên hay Ðức quốc, Panama. Nhưng một khi tôi được đi học tiếng Việt, điều duy nhất tôi hy vọng là lúc mãn khóa thì cuộc chiến cũng chấm dứt. Nhưng không, cuối cùng tôi đến Việt Nam vào năm 1970 với chức vụ trung sĩ chủ lực.

Ðiều tôi tiếp cận ở Việt Nam là một quân đội đang trong tình trạng suy đồi tinh thần chiến đấu. Sau khi dư luận quần chúng trở nên chống đối cuộc chiến vào năm 1968, phong trào phản chiến đã thâm nhập vào hàng ngũ quân đội tại Việt Nam. Những vấn đề quy ước như ma túy, xung khắc màu da, giết người, dùng lựu đạn tấn công cấp chỉ huy và bất tuân lệnh thì hiển hiện và ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu. Những vấn đề này như tôi hiểu, liên quan đến một sự thực, là hệ quả của lãnh đạo yếu kém, nên đất nước không còn ủng hộ cuộc chiến. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu.

Lãnh đạo quân đội, giới nhà binh cũng như dân sự, nhận ra sự cần thiết để tái phối trí binh lính ra khỏi Việt Nam càng mau càng tốt để tránh cho sự bất mãn lân lan đến những bộ chỉ huy khác trên thế giới. Trong khi đó chúng tôi lại được yêu cầu hãy nắm lấy cơ hội chót "làm người cuối cùng hy sinh ở Việt Nam".

Dù đã thi hành nhiệm vụ của mình một cách chuyên nghiệp và hết lòng, tôi cũng bị ảnh hưởng bởi sự bất mãn này. Ðối với tôi, chúng ta đang thua trận và chúng tôi đơn giản chỉ là những đoàn hậu binh bị bỏ rơi tùy tiện.

Tôi không thích điều đó và trở nên nghi ngờ cấp chỉ huy của mình, tôi cảm nhận được rằng sự sụp đổ mà chúng tôi đang tham dự ít nhất cũng cho họ cơ hội để thăng quan tiến chức, trong khi đó phần chúng tôi chỉ còn lại một câu hỏi đơn giản, sống hay chết.

Tôi được tản thương về Hoa Kỳ năm 1971 trong ngơ ngác và mất hướng. Tại Ðại Học Michigan chung quanh tôi là những sinh viên, giáo sư, những người đã ôm chặt lấy ba nguyên lý về chiến tranh Việt Nam mà tôi đã nêu ra ở phần đầu và coi đó là những sự thực hiển nhiên.

Tôi tức giận vì đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho sự thiếu khả năng lãnh đạo của những ông già, và rộng ra khi nghĩ đến chiến tranh tôi đơn giản chấp nhận những giáo điều trong những khẩu hiệu phản chiến lúc đó rất thịnh hành ở Ann Arbor.

Trong nhiều năm, những trải nghiệm chiến tranh của tôi như một cục u không tan trong óc. Tôi không biết phải làm gì với nó. Tôi bắt đầu dạy và viết về lịch sử Việt Nam, nghĩa là về thời điểm trước thế kỷ XX, và tôi hình dung ra rằng bằng một cách nào đó tôi đang chuyển đổi những trải nghiệm đời lính không đẹp thành một điều tích cực, bằng cách dạy người khác về một đất nước chứ không phải chỉ có cuộc chiến.

Sống ở Việt Nam đầu thập kỷ 1990 tôi đã gặp nhiều người Việt, mà khi họ thấy một người từng là lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam và có thể nói được ngôn ngữ của họ, họ thường tỏ ra tức giận và đau khổ, là điều tôi dễ thông cảm. Ở miền Bắc là những năm chịu đựng bom. Ở miền Nam là sự phản bội. Dù thế nào thì di sản người Mỹ để lại Việt Nam là một ký ức đau buồn cho họ, cho tôi. Nhưng có một điều tôi học được sau vài năm sống và làm việc ở đó là đất nước này phải chịu đựng một cơ cấu chính phủ tàn bạo, áp bức, thối nát và nghèo nàn, và tôi dần hiểu được những gì mà nhiều người Việt tị nạn đã nói với tôi: Nếu người Mỹ đã giữ lời hứa, miền Nam giờ đây có lẽ cũng được phồn thịnh, dân chủ như những quốc gia láng giềng Ðài Loan, Nam Triều Tiên, Thái Lan.

Ðiều đó trở nên rõ ràng với tôi, vì tôi không là một trong số những người Mỹ tự ghét mình khi thấy những dân tộc khác trông vào chúng ta ở vai trò lãnh đạo thì cho đó không có gì khác hơn là chủ nghĩa thực dân mới và đế quốc; còn tôi thì đồng ý với tiền đề là Hoa Kỳ ngày nay có một vai trò chính đáng, có thể nói là không tránh được, trên thế giới.

Nếu chấp nhận nguyên lý những chính quyền ở Sài Gòn từ năm 1954 đến 1975 là không hợp pháp, không thể tồn tại thì cũng như lập luận rằng từ năm 1945 chỉ có một chính quyền Việt Nam hợp pháp và tồn tại do Hồ Chí Minh lãnh đạo, mà điều này giản đơn là giáo điều nền tảng trong cách nhìn của người cộng sản về lịch sử dân tộc.

Thật hết sức dễ dãi khi để lý giải này của người cộng sản được phổ biến, chấp nhận bởi những nhà nghiên cứu Mỹ mà không bị chỉ trích. Ngay cả Kruschev cũng không hành động theo sự cao ngạo tuyệt vời này của cộng sản. Người ta thường quên rằng vào năm 1957 Liên Xô đã đề nghị cả hai chính phủ Việt Nam được nhận vào Liên hiệp quốc, chưa kể việc Trung Quốc cũng tán đồng sự hiện hữu của hai nước Việt Nam. Rõ ràng là, bỏ hai phiá Việt Nam ra, những người tham dự Hội nghị Geneve 1954 đều ủng hộ giải pháp hai quốc gia để làm giảm đi những đối đầu nghiêm trọng toàn cầu. Sự xác định về một nước Việt Nam thống nhất trên lý thuyết, trong bản tuyên bố sau cùng của những người tham dự hội nghị đưa ra, đã loại bỏ ra ngoài câu hỏi về chính quyền hợp pháp của một nước Việt Nam thống nhất và để nó đổi thay theo những biến chuyển mơ hồ của một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức hai năm sau, mà đó chỉ là tô vẽ lên một cách ngoại giao sự nhiệt tình dân tộc trong thực thế của một cuộc chiến tranh lạnh.

Quan điểm thường có về chính phủ Ngô Ðình Diệm là một chính phủ thiếu khả năng và làm tay sai cho Hoa Kỳ ngày càng trở nên khó biện minh hơn. Ít nhất Ngô Ðình Diệm đã hai lần dẹp được những nổi loạn ở nông thôn vào năm 1956 và 1958. Vì những thành công này mà năm 1959 Hà Nội quyết định khởi động chiến tranh, chứ không phải họ xem Ngô Ðình Diệm là yếu kém, mà ngược lại bởi vì Hà Nội không thể chờ đợi lâu hơn nếu không muốn mất cơ hội ngăn chặn sự ổn định của một chính phủ không cộng sản tại miền Nam.

Việc Hoa Kỳ quyết định lật đổ Ngô Ðình Diệm hiển nhiên cho thấy ông ta không phải là tay sai, mà đang chống lại những ảnh hưởng của Hoa Kỳ vào chính quyền của ông. Ông ta bị làm dê tế thần cho những sự bực bội của người Mỹ và bị phản bội bởi chính quyền Mỹ; số phận của Ngô Ðình Diệm đã mô tả trước chân dung tất cả những người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản. Chỉ gần đây mới có những đánh giá nghiêm túc về Ngô Ðình Diệm với nhận thức rằng ông là người đã hiểu được điều gì cần làm cho một quốc gia non trẻ hơn là lòng hăng hái bị chỉ đạo sai bởi những cố vấn Mỹ.

Sau khi Ngô Ðình Diệm bị giết, phải mất gần bốn năm mới có một chính phủ ổn định, một chính phủ vì nhu cầu, lệ thuộc vào Hoa Kỳ nhiều hơn chính phủ Diệm. Nhưng nền "Ðệ nhị Cộng hòa" cũng ổn định qua những thăng trầm của chiến tranh và đã ở vào vị trí có thể tồn tại, khi mà vì những khủng hoảng chính trị và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ vào đầu thập kỉ bảy mươi đã phản bội lại một nước Việt Nam không cộng sản để đưa nó vào tay quân thù.

Chắc chắn tính hợp pháp và khả năng tồn tại của chính phủ Sài Gòn không ít hơn (với sự trợ giúp của Hoa Kỳ) những chính phủ Nam Hàn, Ðài Loan hay Hà Nội (với những trợ giúp của đàn anh họ). Nhưng đó là nỗi bất hạnh của chính phủ Sài Gòn để trở thành nạn nhân của đàn anh Hoa Kỳ hay thay đổi. Ðể xóa đi trong tâm thức chuyện nhục nhã này, nhiều người Mỹ tìm thấy sự hài lòng khi dựa vào những mơ màng lãng mạn của Hồ Chí Minh và những sáo ngữ lịch sử ngớ ngẩn về một dân tộc Việt Nam anh hùng đánh bại những đoàn quân xâm lược mà tên tuổI Hồ Chí Minh đã được kết đan vào đó.

Tôi thì lại muốn bàn đến những mô thức về sự quan trọng của việc bảo vệ và xây dựng những nền dân chủ non trẻ trên thế giới mới vừa nổi lên từ bạo tàn. Tự do mà chúng ta thừa hưởng trên đất nước này không tự nhiên mà có, mà do những phấn đấu của người dân và không có gì đảm bảo tự do sẽ tiếp tục hiện hữu. Sự tuyệt vời của hệ thống chính trị này, mà chúng ta hay xem thường, là kết quả của những hy sinh từ thế hệ này qua thế hệ khác, những hy sinh thường không được những người thừa hưởng trân quý. Ðó là lý do tại sao tôi không chấp nhận nguyên lý cho rằng Hoa Kỳ không có lý do hợp pháp nào để can dự vào Việt Nam. Tôi cho rằng quyền lực toàn cầu trong tay Hoa Kỳ phải được nắm lấy như là một trách nhiệm, không phải là điều mà chúng ta cần tỏ ra hối hận. Nếu Hoa Kỳ thất bại trong việc dùng quyền lực để đem lại những tốt đẹp cho nhân loại thì nó sẽ mất đi không chỉ sức mạnh, mà cả những gì mà đất nước này đã đạt được; những tự do vươn lên dưới bóng sức mạnh của Hoa Kỳ sẽ bị lâm nguy.

Tôi không là một người Mỹ tự ám thị, chối bỏ trách nhiệm, đào sâu vào những tội lỗi và lỗi lầm đã phạm hơn là dám đứng ra chống lại sự thiếu vắng thông tin về những đau khổ và rối loạn toàn cầu. Giờ tôi không còn nghi ngờ nữa, Hoa Kỳ hoàn toàn có lý do để dùng sức mạnh hầu ngăn chặn sự hủy diệt những hy vọng một tương lai dân chủ cho ít nhất là một số người Việt Nam. Tiếc thay lãnh đạo Mỹ cuối thập kỷ 1960 đã có những quyết định chính trị và quân sự sai lầm khiến nhân dân Mỹ chống đối lại những cam kết với Việt Nam. Theo tôi, thảm kịch Việt nam không phải là việc Hoa Kỳ can thiệp khi cần, mà là sự can thiệp được tiến hành một cách tệ hại và sự phản bội những người Việt đã tin tưởng vào chúng ta.

Nguyên lý thứ ba là những nỗ lực của Hoa Kỳ ở Việt Nam không sao tránh khỏi thất bại vì sự thiếu quyết tâm và nhất trí trong mục đích chung giữa người Mỹ và dân miền Nam, khi so sánh với miền Bắc và những đồng minh Trung Quốc và Liên Xô của họ. Ðúng là những chính phủ chống lại một nước Việt Nam không cộng sản đã có thể vận động quần chúng và không quan tâm gì đến những ý kiến bất đồng, trong khi một trong những mục tiêu căn bản và lâu dài của Hoa Kỳ là phát triển quyền bất đồng chính kiến, một quyền rõ ràng làm suy giảm sự nhất trí và đồng thuận về mục đích chính sách quốc gia. Hơn thế nữa, miền Bắc Việt Nam có lợi điểm là những tổ chức cộng sản ở miền Nam do họ chỉ đạo, còn người miền Nam không có lợi thế đó để chống lại miền Bắc. Sau cùng, từ cái nhìn của người Mỹ, Việt Nam là một đất nước xa xôi, ít được biết đến, không có một liên hệ gần nào ngoại trừ luận điểm về cuộc đối đầu trong tổng thể của một chiến tranh lạnh.

Mọi hoàn cảnh là những thách đố cho nỗ lực tạo dựng một chính quyền không cộng sản ở Sài Gòn. Tuy nhiên những quan tâm này không phải dẫn đến một tranh luận là chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam trước sau cũng thất bại.

Chính sách của Mỹ tại Việt Nam đã được sự tán đồng của quần chúng Mỹ cho đến năm 1968, và những nguồn tài nguyên quân sự, kinh tế mà Hoa Kỳ dành ra, bất kể tính toán cách nào, thì chắc chắn tương đồng với những nỗ lực bảo vệ chính phủ miền Nam. Ngay cả khi chúng ta thừa nhận rằng những người cộng sản được bảo đảm hơn với cơ cấu tổ chức chỉ huy có thể tạo ra được sự nhất trí hành động hơn là giữa người Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam. Thật khó tưởng tượng, làm cách nào mà việc đó làm mất đi khả năng quân sự của Hoa Kỳ nếu được vận dụng một cách tài tình. Chỉ cần xem lại việc Pháp chinh phục Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX để thấy những sai lầm của cuộc tranh luận về điều gọi là thất bại không thể tránh được. Nguyên nhân dẫn đến sự bại trận của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam không phải là thiếu nhất trí và quyết tâm, mà là do một chuỗi những quyết định sai lầm mà chính quyền Kennedy và Johnson đã phạm để đưa cuộc chiến vào bế tắc, làm mất đi lòng kiên nhẫn của nhân dân Mỹ.

Trong những năm từ 1961 đến 1967, Hoa Kỳ đánh mất sức mạnh quân sự bởi những tư tưởng chiến lược nghèo nàn và bởi thiếu những quyết tâm chính trị. Dĩ nhiên thật là dễ giải thích những sai lầm đã có như là chúng đã tuần tự diễn ra theo một chuỗi sự việc mà tổng thống Kennedy và Johnson, cùng với những cố vấn cao cấp, đã hiểu. Tuy nhiên, những bất đồng trong từng giai đoạn đã được đưa ra, những chọn lựa được chấp thuận không phải vì bị dọa nạt mà vì dựa vào một tiền đề sai và thiếu sự quan tâm.

- Nổi bật trong những quyết định sai lầm là :

- Quyết định của Kennedy vào năm 1961 khi thương thảo về điều gọi là nền trung lập của Lào, nhượng bộ cho địch khu vực biên giới và đường liên lạc bên trong nội địa, tức như đã chấp nhận rủi ro chiến lược cho những gì còn lại của cuộc chiến.
Kennedy quyết định tăng số nhân viên quân sự ở Việt Nam trong khi tìm cách ngăn cản những tường thuật của báo chí về việc người Mỹ tham chiến và không có một tư duy chiến lược rõ hơn ngoài vai trò "cố vấn", và như thế đã đưa ra một tiền lệ nguy hại là can thiệp không có mục đích minh bạch cũng như không tỏ ra thành thật với quần chúng.

- Kennedy quyết định thúc đẩy một cuộc đảo chánh quân sự lật đổ Ngô Ðình Diệm, vì thế đã loại bỏ một nhà lãnh đạo Việt duy nhất có tài, đã tạo ra những rối loạn chính trị buộc Hoa Kỳ phải chọn giữa thất bại hoặc can dự sâu hơn vào Việt Nam.

- Quyết định của Johnson đưa lục quân và không quân tham chiến trong một chiến thuật gây hao mòn, cho tướng Westmoreland quyền ngăn cấm những phương thức chống phiến quân mà những người lính Thủy quân Lục chiến rất ưa chuộng (những phương cách đó thật ra lính Pháp đã áp dụng thành công trong thập kỷ 1880 và 1890).

- Quyết định của Johnson nhằm thuyết phục đối phương từ bỏ ý định chiến thắng hơn là sử dụng mọi phương tiện cần thiết để đạt chiến thắng cho Hoa Kỳ: Johnson tránh động viên quần chúng và kinh tế vào cuộc chiến; từ chối trưng binh lực lượng trừ bị, lệ thuộc hoàn toàn vào việc tuyển binh và vay mượn ngân sách trong cuộc khủng hoảng tài chánh đầu năm 1968, vì thế can dự của Hoa Kỳ vào cuộc chiến chỉ giới hạn; Johnson cho phép sách lược chiến tranh bị ngăn cản dựa vào diễn giải sai lầm là Trung Quốc có thể can dự, vì thế đã loại bỏ ra những chọn lựa rất mấu chốt. Sự tự mãn của Johnson đã để cho cuộc chiến tiếp tục tháng này qua tháng khác mà không có những lượng giá nghiêm túc về mục tiêu và thành quả, đưa đến thất bại trong quyết tâm chính trị ở Hoa Kỳ. 
 
Tất cả những sai lầm đó qui về một mối vào đầu năm 1968, khi sự hậu thuẫn của quần chúng dành cho cuộc chiến đang diễn ra không còn nữa.

Hệ quả là chính quyền Nixon tiến hành chiến tranh với những giới hạn của việc rút quân khỏi cuộc chiến, nhưng cũng đã tìm cách giúp cho việc ổn định một chính quyền và củng cố quân đội Nam Việt Nam mà vào năm 1972 đã có thể, với viện trợ của Hoa Kỳ, đánh bại một cuộc xâm lăng toàn bộ từ miền Bắc. Nhưng những thành quả này đã bị lâm nguy với bản hiệp định Ba Lê 1973, và cuối cùng với vụ Watergate dẫn đến việc từ chức của Nixon thì quân đội đó coi như suy thoái. Nam Việt Nam đã bị bỏ rơi để đương đầu với kẻ thù mà không có bạn giúp.

Tôi tin là đã có những cơ hội để bảo vệ một chính quyền không cộng sản ở Sài Gòn ngay cả sau năm 1968, nhưng khả năng đó bị buộc chặt với sự lãnh đạo của Nixon, mà khi không còn Nixon thì không ai can đảm để thấy một lời hứa cũ được tôn trọng.

Tôi tin rằng Kennedy đã có những quyết định sai lầm về Việt Nam vì ông không quan tâm đến vấn đề nhiều lắm và Johnson cũng sai lầm vì không xem đó là những ưu tiên cao. Kennedy hầu như chỉ định việc làm chính sách Việt Nam cho cấp dưới, những người có những mục đích trái ngược nhau hay đơn thuần chỉ là những ngườI không có suy nghĩ sâu xa. Johnson đã dành nhiều thời giờ cho chính sách đối nội và đã có những quyết định về Việt Nam với cung cách như ông đã thực hiện tốt khi làm việc với quốc hội: nịnh hót và dẹp qua những dị biệt. Cả hai đã không dành thời giờ để lượng định chính sách ở Việt Nam với những quan tâm cần có, vì những hao tốn xương máu và tài chánh do chính sách tạo nên. Thiếu lãnh đạo sáng suốt và quan tâm, nên những quyết định sai lầm đã chồng chất. Không có chuyện quan trọng hay không để tránh né những chính sách này, trừ khi chúng ta muốn tranh luận rằng màn sương tư duy nên được xem là một thành tố quan trọng của chính phủ Kennedy và Johnson. Một số người tranh luận là loại sương mù tư duy này, đơn giản chính là những dấu chỉ Việt Nam không thật quan trọng để lãnh đạo Hoa Kỳ dành mọi quan tâm và điều này cũng nói lên một điều là chính sách nào rồi cũng thất bại. Ðể trả lời cho luận điểm này, có thể nói, thứ nhất là Việt Nam quả là quan trọng để nhiều tổng thống phải gửi hàng ngàn thanh niên Mỹ vào cõi chết ở những chiến trường xa xôi với sự ủng hộ nhiệt tình của dư luận quần chúng và quốc hội; thứ nhì, việc chính sách đó được thực hiện kém rõ ràng là một sự phán xét dựa trên phẩm chất lãnh đạo chứ không phải nhắm vào chính sách.

Tôi bắt đầu dạy một lớp ở đại học về cuộc chiến Mỹ-Việt từ cuối thập kỷ 1990, bởi ý thức trách nhiệm công dân còn vương vấn (giới trẻ nên có hiểu biết về cuộc chiến này) và từ một tư duy vị kỷ cần làm để cho tâm hồn được yên ổn. Buộc mình nói về cuộc chiến là một trải nghiệm vượt khỏi những giới hạn khi tôi bắt đầu tìm thấy tiếng nói của chính mình trong những đống sách vở chất chồng viết về cuộc chiến. Nhiều cuốn kể lể theo một tiêu chuẩn sáo ngữ, dựa trên những nguyên lý tôi đã dẫn ở phần đầu bài này, mà tôi cảm thấy không được thỏa mãn.
 
Nhiều đề mục quan trọng bị gạt ra, đặc biệt là những khát vọng, những kế hoạch, hành động của người Việt đã chiến đấu với hy vọng xây dựng một nền dân chủ trên đất nước họ.
 
Tại một hội nghị vào khoảng thời gian đó, tôi gặp một người Việt, ông phục vụ trong nhiều chính phủ Sài Gòn từ cuối thập kỷ 1950 đến đầu thập kỷ 1970, sau đó bị bỏ tù nhiều năm, trước khi di cư đến Hoa Kỳ. Tôi muốn hỏi ông nhiều điều, nhưng ông nhìn tôi đầy ngờ vực và xin phép cho được hỏi tôi một câu hỏi trước. Ông hỏi: "Ông có nghĩ là trong cuộc chiến đó, chúng ta có chính nghĩa?" Tôi ngạc nhiên với câu hỏi bất ngờ đó, nhưng từ đáy lòng phát ra câu trả lời làm ngạc nhiên cả chính tôi: "Ðúng, tôi nghĩ thế". Nghe tôi trả lời, thái độ của ông thay đổi hẳn và trở nên tin tưởng, cởi mở hơn. Ông giải thích rằng bằng trải nghiệm bản thân, hầu hết những nhà nghiên cứu Mỹ không trân trọng ông bởi vì họ cho rằng ông đã chọn đứng về phiá sai lầm của cuộc chiến. Thực ra tội của ông ấy chỉ là kỳ vọng vào một nền dân chủ cho đất nước và đã tin vào Hoa Kỳ.

Trong hai thập kỷ, tôi không muốn xem mình là một cựu chiến binh Việt Nam. Tôi muốn dòng đời tiếp tục trôi và không muốn bị gắn liền với chuyện buồn đó. Tôi không thích đài tưởng niệm chiến binh của cuộc chiến Việt Nam ở thủ đô Washington với tên của những người đã chết khắc trên tường đá. Ðó là đài tưởng niệm những cái chết, mà tôi là một người sống sót và bức tường đó không can hệ gì đến tôi.

Rồi một buổi chiều hoàng hôn gần tắt, trong một nghi thức đơn giản ở xa thủ đô Washington, tôi co ro trong một căn lều để tránh gió lạnh trong khi mấy bạn trẻ đang cùng xướng tên người chết bên những ngọn nến lấp lánh tỏa sáng lên mặt và lều vải. Lắng nghe những giọng đọc từng tên người quyện vào nhau, theo dòng chảy của âm thanh, tôi không khóc, nhưng một cái gì đó chuyển động trong tôi và tôi cảm thấy một sự thoát ra và tôi biết là tôi đang ở chỗ của chính mình, tôi đang đem lại danh dự cho những người đã chết.

Ðó là một đổi thay trong cách nhìn tri thức và cũng là một trải nghiệm đầy thỏa mãn xúc cảm để rồi tôi vất bỏ đi những ảo tưởng tội lỗi về cuộc chiến mà tôi đã mang trong mình từ một phần tư thế kỷ qua. Làm thế đã cho tôi học lại bài học về những giá trị từ ngày còn trẻ, để trân quý những hy sinh của người Việt, những người đã trở thành đồng bào của mình, và để dạy về cuộc chiến với những hăng say mới.

Hiện đang có một mốt thời thượng trong giới đồng nghiệp hàn lâm là dán nhãn cho Hoa Kỳ như một quyền lực phát-xít và đế quốc. Giờ tôi không sợ bị nguy hiểm doạ nạt bởi những lập luận vô cớ như thế. Các bạn hãy nhìn quanh thế giới xem, có sự lựa chọn nào khác hơn cho những thực hành dân chủ được đề cao, tuy chưa hoàn hảo, bởi Hoa Kỳ ngày nay. Tôi không thấy có những chọn lựa khác.

Sự thực, vieäc Hoa Kỳ sử dụng quyền lực toàn cầu quá nhiều không phải là chỉ dấu của một điều sai trái, trừ khi người ta chọn đứng về phiá của những quyền lực trên thề giới đang phô trương sự chuyên chế tàn bạo đằng sau bộ mặt bên ngoài của những sự trù dập.

Tôi đã nhận thức được rằng, bây giờ là lúc phải lên tiếng. Tuổi trẻ của đất nước này đáng được dạy những điều tốt đẹp hơn lòng hoài nghi và thù hận trước những gì đang còn là hi vọng tốt nhất cho nhân loại.


Tác giả Keith W. Taylor là Giáo sư Ðại Học Cornell, Hoa Kỳ


© 2005 talawas


[/align]Nguồn: “How I Began to Teach about the Vietnam War”. Keith W. Taylor. Cornell University. Michigan Quarterly Review. Ann Arbor: Fall 2004
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-26 09:59:55Tư Tứ>
Keith W. Taylor
Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến 19
Lê Quỳnh dịch
 
Lời giới thiệu của dịch giả: Trong một thời gian dài, đa số các học giả nước ngoài đồng ý rằng chỉ có một lịch sử Việt Nam duy nhất và một nền văn hóa Việt Nam duy nhất. Nhưng gần đây có một số thay đổi trong xu hướng nghiên cứu. Đọc ở Hà Nội năm 1998 trong Hội nghị Việt Nam học, Keith W.Taylor nhắc đến khuynh hướng nhấn mạnh vào “những vùng và địa phương hoặc các nhóm xã hội hay chính trị trong quá khứ đã bị bỏ qua hay là không được coi trọng bằng các chủ đề thống nhất của các phạm trù dân tộc.” (“Việt Nam học ở Bắc Mỹ”, trong tập Các nhà Việt Nam học nước ngoài viết về Việt Nam, NXB Thế giới, 2002)

Trong một phỏng vấn của đài BBC năm 2003 về quá trình thay đổi tư tưởng của ông, Keith W.Taylor nói ông hồ nghi “về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục”, vốn là quan điểm được các học giả nghiên cứu về Việt Nam tán đồng trước đây.

Bài tiểu luận này in trong quyển Guerre et paix en Asie du Sud-Est do Nguyễn Thế Anh & Alain Forest chủ biên. Tên tiếng Anh của bài: “Regional Conflicts Among the Việt Peoples Between the 13th and 19th Centuries” (1998)

Một phiên bản khác của bài này sau đó được Keith W. Taylor bổ sung thêm và in với tựa đề “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region” trong Journal of Asian Studies 57, 4 (Nov. 1998): trang 949-978.

Trong thế kỷ 20, các mô tả về lịch sử và văn hóa Việt Nam đã đặt trọng tâm vào những mô hình về sự thống nhất và liên tục. Trong bài tiểu luận này, tôi sẽ khảo sát những sự tương quan có thể có giữa suy nghĩ và nơi chốn, giữa các cách làm người Việt và địa hình. Mục đích của tôi là đặt những sự hình thành tư tưởng và hành động của người Việt vào từng địa điểm cụ thể ở không gian và thời gian khi chúng xuất hiện.

Tôi sẽ nói bằng ngôn ngữ tương đối tổng quát để thảo luận những sự kiện trải dài trong nhiều thế kỷ và nhiều khu vực. Trong một số trường hợp, cái nhìn của tôi dựa trên những nghiên cứu chi tiết về các chủ đề đã được đề cập bởi tôi hay nhiều người khác. Trong các trường hợp khác, tôi nương theo trực giác, nhường cho các nghiên cứu tương lai xác nhận hoặc bác bỏ quan điểm của tôi. Tôi hướng đến một cái nhìn chặt chẽ mà có thể giúp ích cho nghiên cứu tương lai nhờ sự khơi gợi hoặc khích động; tôi không tự phụ cho rằng quan điểm của mình là dứt khoát đúng.

Tôi đã chọn thảo luận sáu cuộc xung đột liên quan năm vùng trong năm thế kỷ. Các xung đột vùng này có thể liên quan đến sự mở rộng biên giới phía nam của các dân tộc nói tiếng Việt và sự thể hiện các quyền lợi chính trị của các vùng. Chúng cũng có thể liên quan các hình thức địa phương của tôn giáo, ý thức hệ, ngôn ngữ và văn hóa. Phương pháp của tôi là sẽ ngắn gọn duyệt lại các cuộc xung đột và bày tỏ một số bước phân tích có thể áp dụng cho các xung đột này.

Có bằng chứng về xung đột tại các địa phận được cho là nơi tổ tiên người Việt hiện đại từng cư trú từ thời xưa nhất mà văn bản còn ghi lại, dù là chuyện về các vua Hùng huyền thoại, hay các văn bản lưu giữ tại Trung Quốc, hay những sự kiện ghi trong biên niên sử của Việt Nam [1] . Trong những năm cuối trị vì của Lê Hoàn, vào đầu thế kỷ 11, các cuộc chinh phạt của triều đình liên tục tấn công những cư dân của khu vực mà nay là các tỉnh Vĩnh Phú, Thanh Hóa và Nghệ An [2] , tất cả tọa lạc ở bên rìa hay bên ngoài đồng bằng sông Hồng rộng lớn nơi khi đó là trung tâm quyền lực của hoàng gia. Con trai và là người nối nghiệp của Lê Hoàn, Lê (Long) Đĩnh, tiếp tục đưa quân tấn công các dân tộc ở Thanh Hóa và Nghệ An và xây một con đường xuyên qua các tỉnh miền nam này để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các cuộc chinh phạt [3] . Vị vua tiếp theo, Lý Công Uẩn, cũng mở chiến dịch chống các tỉnh miền nam này, nói rằng ông không thể không tấn công người dân Nghệ An vì họ “không tôn trọng những hướng dẫn khai hóa” [4] . Những dấu hiệu chiến tranh trong đầu thế kỷ 11, khi một chế độ triều đình địa phương đang bắt đầu hình thành, có thể được hình dung như xung đột giữa tổ tiên của những dân tộc mà trong thời hiện đại đã được phân biệt, theo ngôn ngữ và xã hội, là các chi người Kinh (vùng thấp) và người Mường (vùng cao) của các dân tộc Việt. Đó không phải là những chương riêng lẻ.

Hai cuộc xung đột đầu tiên trong sáu xung đột tôi muốn nhắc đến diễn ra giữa nơi tôi gọi là Đông Kinh, tức đồng bằng sông Hồng mà trung tâm là Hà Nội, với Thanh Nghệ, tọa lạc nơi miền nam và bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, và Hà Tĩnh. Cần nhắc rằng phương ngữ tại phần phía nam của Thanh Nghệ, tức Nghệ Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh) lại gần với tiếng Mường hơn là tiếng Kinh. Ngay cả hiện nay, giữa những người làm việc trong chính phủ và giới khoa bảng ở Hà Nội, cũng có sự nhận thức về tương quan ảnh hưởng và quyền lực giữa người từ Hà Nội và các tỉnh xung quanh với người từ Thanh Nghệ (Thanh Nghệ Tĩnh hay Nghệ Tĩnh). Không phải ai cũng nhớ rằng các khu vực này từng gây chiến với nhau trong đầu thế kỷ 15 và hầu như trong suốt thế kỷ 16.

Chương xung đột đầu tiên tôi chọn để thảo luận đã gần như bị chôn sâu đằng sau khung viết sử theo hình thức kháng chiến chống ách đô hộ quân Minh trong ba thập niên đầu tiên của thế kỷ 15. Nhưng cái điều được xác quyết hời hợt như cuộc chiến ‘giải phóng dân tộc’ lại có vẻ khác hẳn khi được xem xét kỹ.

Vào cuối thế kỷ 14 Hồ Quý Ly đã kiểm soát triều Trần và năm 1400 tự lập triều đại riêng. Trong khi nhà Trần là người thuộc đồng bằng sông Hồng, Hồ Quý Ly là người từ Thanh Nghệ, và ông xây một thủ đô mới ở Thanh Hóa. Việc ông không giành được sự trung thành của vùng Đông Kinh là một yếu tố quan trọng trong việc nhà Hồ không chống nổi cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1406-1407, thời điểm khi Hồ Quý Ly từ bỏ phần lớn khu vực Đông Kinh và tìm cách phòng thủ bờ nam của sông Hồng. Có nhiều bằng chứng cho thấy đa số sĩ phu ở Đông Kinh sẵn sàng chấp nhận sự cai trị của quân Minh và rằng nhiều thế gia vọng tộc ở khu vực này, đặc biệt là họ Mạc, đã trung thành phục vụ quân Minh. Năm 1407 người Minh nói hơn 1100 nhân vật có thế lực địa phương bày tỏ sự trung thành với nhà Minh và yêu cầu vùng đất của họ sát nhập vào đế quốc Trung Hoa. Tài liệu của nhà Minh ghi lại rằng hơn 9000 người địa phương sau đó đã đến thủ đô nhà Minh để được sắc phong làm quan chức cấp tỉnh. Hiệu lực của sự cai trị của nhà Minh đã không thể xảy ra nếu không có sự chấp nhận và tham gia với mức độ lớn của người địa phương [5].

Không khó để đọc cái gọi là ‘phong trào giải phóng dân tộc’ của Lê Lợi như là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh, với việc nhiều nhân vật Đông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ chống sự quê kệch của các tỉnh phía nam. Cái nhìn này đi ngược với cách viết sử của nhà Lê và cách viết sử dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại, nhưng khi xét các sự kiện về sau, nó lại đáng tin hơn so với khuynh hướng thông thường giả tảng như nhiều ngàn người phục vụ quân Minh hoặc đã biến mất vào màn sương phương bắc hoặc bỗng dưng quay lại thành người yêu nước.

Vai trò của Nguyễn Trãi, sĩ phu Đông Kinh nổi tiếng và là người về nam để gia nhập đoàn quân Lê Lợi ở Thanh Nghệ, không phải là nhân vật tiêu biểu hay đại diện cho xu thế chung của quê ông. Các bài thơ ông viết trong thời Minh và trước lúc ông về nam phục vụ Lê Lợi, thể hiện, như cách dùng từ của O.W. Wolters, “một người xa lạ ngay trên mảnh đất của mình” [6] . Nhiều bài văn ông viết sau khi ông về nam là những lá thư gửi người cùng thời phục vụ nhà Minh, thúc giục họ xoay sang phục vụ Lê Lợi [7] . Sau này Nguyễn Trãi bị cô lập và triệt tiêu – bị cáo buộc tội giết vua và bị xử trảm năm 1442. Thảm kịch này chắc chắn có sự tác động của việc ông đã tách mình khỏi cả những người đồng hương ở Đông Kinh để phục vụ quyền lợi của Thanh Nghệ, và mặt khác, những bài thuyết lý của ông về cách cai trị và nỗ lực của ông muốn đưa thêm người Đông Kinh vào phục vụ công việc triều chính lại khiến ông bị cô lập bởi những thế lực đang lên từ Thanh Nghệ.

Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) thường được xem là vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam bởi vì ông tạo lập một chính quyền trung ương kiểu Trung Hoa và đã có cuộc chinh phục Chămpa. Thế nhưng thành tựu quan trọng nhất của ông lại không thường được công nhận: đó là thành công của ông trong việc tập hợp đoàn cận thần dung hòa cả quyền lợi của Đông Kinh và Thanh Nghệ. Triều đại của ông, và âm hưởng trong sự trị vì của người con nối nghiệp, đã tạm thời dập tắt các căng thẳng nhờ việc đáp ứng các quyền lợi của các phe. Một khía cạnh trong sự đáp ứng này là việc chinh phục lãnh địa người Chàm ra tới đèo Cù Mông, ở biên giới phía nam của nơi sau đó là tỉnh Bình Định. Nó đem lại cho phe Thanh Nghệ một khoảng không gian mới cho tham vọng của họ. Một khía cạnh khác trong sự đáp ứng quyền lợi này là các khoa thi tạo cơ hội nhập triều chính cho những người Đông Kinh có gia đình từng phục vụ người Minh [8] . Tuy vậy thành công của vua Lê Thánh Tông phần lớn bắt nguồn từ uy tín cá nhân của ông. Nó thể hiện rõ khi chỉ hơn một thập niên sau khi ông mất, triều đình bắt đầu phân rã thành những phe nhóm diệt nhau để rồi sau đó khởi đầu cho ba thế hệ chiến tranh giữa Đông Kinh và Thanh Nghệ, tức là cuộc nội chiến Lê-Mạc của thế kỷ 16. Đây là chương xung đột thứ hai mà tôi chọn thảo luận trong bài viết này.

*
Sự hỗn loạn trong đầu thế kỷ 16 thể hiện qua những cuộc nổi dậy của nông dân ở Đông Kinh, mà lớn nhất là của Trần Cao. Đó là một nhà sư tự nhận mình là Đế Thích giáng sinh và hậu duệ nhà Trần. Những sự hỗn loạn này có thể dễ dàng được hiểu là phản ứng mang tính Phật giáo của Đông Kinh trước thay đổi được gán cho triều Lê của Thanh Nghệ và yếu tố Nho giáo của nó [9] . Nhân vật tái lập trật tự ở Đông Kinh, Mạc Đăng Dung, là thành viên trong cùng gia đình họ Mạc mà từng ủng hộ nhà Minh một thế kỷ trước. Ông tập hợp nhóm cận thần mở rộng cửa cho các gia đình Đông Kinh và thành công trong việc huy động sự ủng hộ địa phương [10] . Một chi tiết quan trọng nhưng ít được nhắc tới là Đông Kinh đã trung thành sâu sắc với gia đình họ Mạc trong thế kỷ 16 và Đông Kinh đã cứng rắn chống lại cuộc chinh phục của đoàn quân Thanh Nghệ vào cuối thế kỷ này.

Trịnh Tùng, người dẫn đầu cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh trong thập niên 1590, đã tổ chức sự chiếm đóng quân sự tại Đông Kinh mà vẫn còn thể hiện rõ khi Alexander de Rhodes sống ở đó trong thập niên 1620 và 1630. Alexander de Rhodes tường thuật, có vẻ với sự phóng đại, rằng 50.000 lính từ Thanh Nghệ đóng thường trực tại “hoàng thành” ở Đông Kinh để bảo vệ những người trị vì và đàn áp các cuộc nổi dậy ở các tỉnh xung quanh Hà Nội. Bên cạnh đó còn là các đoàn thủy quân lớn tuần tra trên sông “để bảo vệ ông hoàng trước mọi phe phản loạn” [11] . Cho đến tận năm 1630, các cuộc càn quét của họ Mạc từ thung lũng Cao Bằng phía bắc, nơi nhà Mạc tiếp tục trị vì cho đến thập niên 1670, thể hiện dư âm cuộc nổi dậy chống lại nhà Trịnh của những cư dân vùng phía đông Đông Kinh [12] . Cho mãi đến thập niên 1650, dưới sức ép của thất bại quân sự ở miền nam, nhà Trịnh mới bắt đầu thu phục nhiều người Đông Kinh dưới trướng của họ. Kết quả của việc này là cuộc xung đột phe nhóm kéo dài dựa trên các cạnh tranh quyền lợi địa phương [13] . Các căng thẳng tương tự cũng thể hiện trong các cuộc nổi loạn lan rộng hầu khắp Đông Kinh trong thập niên 1740, 1750 và 1760 khi các đoàn quân nông dân địa phương bị lính từ Thanh Nghệ đàn áp sau nhiều năm đánh nhau.

Qua những gì trình bày, điều mà tôi hi vọng thể hiện là cuộc xung đột vùng giữa Đông Kinh và Thanh Nghệ là đặc điểm nổi bật trong hình dung của chúng ta về một kinh nghiệm lịch sử Việt Nam. Đông Kinh là đồng bằng trồng lúa rộng lớn với dân số tương đối đông dọc các dòng sông và biển; người dân ở đây xem vùng rừng núi chủ yếu là điều gì đó xa lạ. Thanh Nghệ chạy dài vào miền nam với đồng lúa thưa thớt giữa các đồi và núi; đồi núi ở nhiều nơi kéo dài ra vùng duyên hải; những người trồng lúa sống như các láng giềng gần của các nhóm miền cao có cách sống ít mang tính nông nghiệp hơn. Trong nhiều thế kỷ, Đông Kinh dày đặc các chùa chiền và lâu đài; các quan lại người Trung Hoa và vua nước Việt đã cai trị ở Đông Kinh nhiều thế kỷ. Trong nhiều thế kỷ, Thanh Nghệ là vùng biên giới tương đối hoang vu giữa Đông Kinh và khu vực người Chàm ở phía nam. Bắt đầu với Hồ Quý Ly và sau đó với Lê Lợi, Thanh Nghệ trở thành khu vực của các vị vua và lãnh chúa có khao khát thống trị Đông Kinh; đó là nơi tuyển quân cho triều đình và là quê hương của những người nghĩ rằng họ phải lao động kham khổ giữa sự nhũng lạm miền bắc của Đông Kinh. Đông Kinh, mặc dù có liên hệ chặt chẽ hơn với văn hóa Trung Hoa, không thể cạnh tranh về mặt quân sự với Thanh Nghệ, bởi vì đằng sau Thanh Nghệ là một vùng rộng lớn của những người nói tiếng Việt, một kho tiềm tàng nguồn nhân lực bổ sung lính nhập ngũ, những người không quen với và không chịu ràng buộc bởi những lề thói của người nông dân trồng lúa. Đổi lại, Thanh Nghệ không thể thống trị khu vực nếu nó mở rộng ra ngoài tầm với của Thanh Nghệ; trong thế kỷ 17, nỗ lực trong suốt nhiều năm của Thanh Nghệ muốn kiểm soát các lãnh địa nằm sâu về hướng nam đã kết thúc trong thất bại. Vậy loại khu vực nào xuất hiện sau Thanh Nghệ ?
*
Đèo Ngang và dải Hoành Sơn, ở biên giới phía nam của Thanh Nghệ, đã là mũi phía nam của vương quốc người Việt trong nhiều thế kỷ. Đằng sau nó là một đồng bằng hẹp dọc biển, rộng khoảng 30 cây số giữa núi và biển, kéo dài khoảng 250 cây số đến đèo Hải Vân. Khu vực này, thời hiện đại gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, được các nhà cai trị người Việt trong thế kỷ 15 và 16 gọi là Thuận Hóa; nó bao gồm các lãnh thổ thay phiên bị chiếm, bị chinh phục bởi những nhà cai trị Trung Hoa và Việt Nam suốt nhiều thế hệ, nhưng cho đến thế kỷ 15, nó vẫn là vùng biên giới tranh chấp bởi các vua Chàm. Trong thập niên 1470, vua Lê Thánh Tông đưa quân vượt qua Thuận Hóa, chinh phục và đóng quân trên ba trăm cây số lãnh thổ dọc biển nằm giữa đèo Hải Vân và đèo Cù Mông, mà khi đó gọi là Quảng Nam, nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Diễn biến này mở cửa biên giới phía nam cho sự bành trướng chưa từng có của người Việt.

Danh từ ‘nam tiến’ đã trở thành một phạm trù quan trọng trong cách viết sử của Việt Nam. Dù được nhìn tiêu cực như sự xâm chiếm hay tích cực như một sức mạnh, thì danh từ này thường được phân loại như một điều có sẵn trong cái gọi là tính cách Việt Nam, một tiến trình đã diễn ra trong suốt lịch sử Việt Nam, và theo mô hình này, nó được xác định là bắt đầu từ thế kỷ 10 khi người Việt được cho là đã thoát khỏi sự kiểm soát của sự cai trị Trung Hoa. Tôi thì muốn chia phạm trù này thành những chương cụ thể và xem những sự hình thành khác nhau của các sự kiện tại các thời điểm và nơi chốn khác nhau. Lãng mạn hóa hay chê trách việc mở rộng về phía nam của người Việt trong tiến trình nhiều thế kỷ cũng đều khiến chúng ta không thấy được những gì đã xảy ra ở một thời điểm hay nơi chốn nhất định. Tôi sẽ không nói về nam tiến. Thay vào đó, tôi sẽ nói về sự hình thành các phiên bản mới của việc làm người Việt Nam ở ba khu vực vừa mới có người Việt sinh sống ở bên ngoài đèo Ngang: Thuận Quảng, Bình Định và Nam Bộ.

Nơi đầu tiên của các vùng này tôi sẽ gọi là Thuận Quảng, một cách nói tắt từ hai vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của thế kỷ 15 và 16, nhưng đã được định nghĩa lại cho mục đích của tôi để loại trừ khu vực sâu trong phía nam, Bình Định, một nơi có sức mạnh khu vực riêng của nó trong thế kỷ 18. Như thế Thuận Quảng ở đây là tập trung vào một trung tâm chính trị ở Phú Xuân (Huế) và một trung tâm buôn bán ở Hội An và Đà Nẵng. Sự trỗi dậy của Thuận Quảng với tư cách một trung tâm quyền lực khu vực mới trong hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa đã bắt đầu bằng việc di dời của Nguyễn Hoàng và tùy tùng vào khu vực này năm 1558. Nguyễn Hoàng xuất thân từ Thanh Nghệ và liên minh với các phe khác của Thanh Nghệ chống lại nhà Mạc ở Đông Kinh. Trong thập niên 1590, Nguyễn Hoàng đưa quân từ Thuận Quảng tham gia vào các chiến dịch chặng cuối đuổi quân Mạc ra khỏi Đông Kinh. Tuy vậy, các nỗ lực của Trịnh Tùng muốn đặt Nguyễn Hoàng ở dưới uy quyền của ông ta thất bại, và vào năm 1600, Nguyễn Hoàng quay về Thuận Quảng và củng cố sức mạnh của gia đình tại đó [14]
Trong những năm 1620, căng thẳng giữa những người con của Trịnh Tùng và Nguyễn Hoàng bùng nổ thành cuộc chiến, và giao tranh kéo dài hơn 50 năm. Các từ áp dụng cho hai bên thể hiện một cảm thức mạnh mẽ của sự phân biệt không gian. Vương quốc phía bắc, do họ Trịnh cai trị, được gọi là Đàng Ngoài, và vương quốc phía nam của họ Nguyễn được gọi là Đàng Trong. Các từ ‘ngoài’ và ‘trong’ có thể hiểu đơn giản như ngôn từ phân cách tính chất trung ương và bên lề, hoặc chúng có thể được soi sáng bằng một cặp diễn đạt khác đươc sử dụng trong thế kỷ 15 để diễn tả việc đi lại dọc trục bắc – nam: vào nam, và ra bắc. Ý niệm về việc đi ‘vào’ phía nam và ‘ra’ bắc, miền nam ‘ở trong’ và miền bắc ‘ở ngoài’ đã được giáo sư Nguyễn Tài Cẩn phân tích dựa trên kinh nghiệm đi lại giữa vùng đồng bằng mở của sông Hồng với Hà Nội là trung tâm và các lãnh thổ hẹp phía nam bị hạn chế giữa núi và biển [15] . Giải thích này là khả tín khi dựa trên trải nghiệm địa hình của con người.
Làm thế nào những người sống ‘ở trong’ không gian miền nam hẹp có thể chống đỡ các đợt tấn công liên tiếp của người sống ‘ở ngoài’ trên đồng bằng rộng lớn? Những người ‘bên trong’ đã không chỉ vượt qua sáu chiến dịch lớn của người ‘bên ngoài’ mà họ cũng phản kích và chiếm cứ nhiều nơi của Thanh Nghệ trong nhiều năm của thập niên 1650 trong lúc đồng thời đưa đội quân đầu tiên của người Việt vào đồng bằng sông Mêkông. Liệu việc ‘ở trong’ có đem lại lợi thế nào không? Dường như là có, bởi vì những người miền nam tận dụng ‘sự ở trong’ của họ bằng cách đắp lũy giữa biển và núi ở cửa bể Nhật Lệ tại Đồng Hới, cách không xa nơi được thừa nhận là biên giới giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong tại sông Gianh [16] . Đằng sau các lũy, những nông dân – quân đội sống chen chúc trong các làng – chốt gác tự túc. Trong toàn bộ các trận chiến của thế kỷ 17, người bắc chưa bao giờ vượt qua nơi này. Họ chưa bao giờ ‘vào được trong’ ? Tại sao ?

Một cách giải thích là người miền nam bảo vệ lãnh thổ của họ trong khi người miền bắc cách xa nhà ở một nơi không quen thuộc. Ngoài ra, mỗi năm chỉ có một khoảng thời gian ngắn thuận lợi cho giao chiến vì sự hạn chế của mùa khô khi quân đội có thể di chuyển, hạn chế gió để giúp hoạt động thủy quân, và thiếu tiếp viện từ miền bắc; nếu người miền nam đơn giản chỉ kháng cự đủ lâu, người miền bắc sẽ phải lui quân trước khi đường tiếp tế của họ cạn kiệt hoặc trước khi có thay đổi về gió và có mưa. Tuy nhiên, điều tôi muốn nhấn mạnh là những cân nhắc chiến lược này gắn với một tình thế cụ thể, một địa hình cụ thể, và rằng chúng không được trải qua như những quan niệm trừu tượng mà như những khả năng thật sự.

Một sự xem xét kỹ địa hình ở Đồng Hới và những nỗ lực củng cố nơi này bằng lũy của con người cho ta thấy một không gian tương đối nhỏ giữa núi và biển mà để qua nơi này chỉ có hai tuyến đường khả dĩ: một “đường núi” ở phía tây băng qua những đồi thấp dưới chân núi và một “đường biển” ở phía đông băng qua rìa cồn cát ở bờ biển. Ở giữa hai tuyến đường này là một dải rộng của sông và đầm lầy. Rõ ràng người miền bắc không có khả năng vượt qua nơi này chỉ bằng thủy quân; nếu không có bộ binh, lực lượng thủy quân của họ không phải là đe dọa thật sự cho phía nam Đồng Hới. Một phần là vì ưu thế vượt trội của thủy quân miền nam, những người đã học từ người Bồ Đào Nha cách trang bị và sử dụng súng đại bác trên thuyền, nhưng ngay cả nếu không có điều này, thì khả năng bảo vệ bờ biển của phía nam có vẻ vẫn vượt trội hơn quân miền bắc nếu không có hỗ trợ của bộ binh. Sự nghiên cứu này cho thấy địa hình tại Đồng Hới trở thành tâm điểm của giao tranh, nó nằm ngay trong biên giới và ở một nơi mà chọn lựa di chuyển bằng đường bộ bị hạn chế ở hai tuyến đi lại hạn hẹp. Việc áp dụng trí tuệ con người tại địa hình này đã tạo nên một hệ thống tường trải dài từ các ng̣ọn núi ở hai nơi khác nhau và bao gồm các thành lũy dọc bờ biển ở trên các đụn cát [17].

Tôi đã dừng lại ở Đồng Hới bởi vì chính tại đây ba thế hệ các lãnh tụ vùng đã liên tục đụng trận, nơi Đàng Ngoài và Đàng Trong đã thử thách và định lượng sự phân cách của họ. Tại sao những bản sắc và tham vọng vùng này lại thể hiện bằng đại bác, gươm và voi trận thay vì bằng những phương thức giao tiếp ôn hòa hơn như thương thuyết và nhượng bộ? Một giải thích thu hút và thường được trích dẫn là việc chỉ ra rằng, trong những năm này, Trung Quốc đang trải qua giai đoạn dài thay đổi triều đại và, khi không có sự đe dọa can thiệp của Trung Quốc, người Việt không cưỡng được nội chiến. Nhưng có ít nhất ba luận cứ chống lại quan niệm này. Đầu tiên, biện luận ở trên sẽ không giải thích được cuộc chiến Đông Kinh với Thanh Nghệ kéo dài hầu hết thế kỷ 16, trừ phi người ta muốn nói rằng vào thời đó, sự suy thoái của triều Minh đã loại bỏ mối đe dọa can thiệp của Trung Quốc, nhưng như thế điều này trở thành một kiểu giải thích rất không chính xác, thậm chí tùy tiện. Thứ hai, việc Trung Quốc tiếp tục là một yếu tố trong chính trị Việt Nam trong suốt thời chiến tranh thế kỷ 16 và 17, ngay cả trong giai đoạn chuyển tiếp triều đại, bị bỏ qua quá dễ dàng. Trong thế kỷ 16, các lãnh đạo Thanh Nghệ gắng sức nhờ đến hành động của nhà Minh để chống lại Đông Kinh. Một đội quân Minh đã đến trong những năm 1540, nhưng xung đột đã tránh được nhờ nỗ lực ngoại giao của nhà Mạc. Sau khi họ chinh phục được Đông Kinh, những cố gắng của họ Trịnh nhằm tiêu diệt hẳn đối thủ đã bị cản trở suốt gần tám thập niên bởi sự bảo vệ của nhà Minh, sau đó là nhà Thanh, dành cho họ Mạc ở tỉnh Cao Bằng nơi biên giới với Trung Quốc [18].

Thứ ba, chắc chắn là sai lầm khi giải thích xung đột vùng ở Việt Nam là vì thiếu đe dọa từ ngoài, cứ như thể một trong số ít những điều, nếu không phải là điều duy nhất, khiến người Việt Nam trở thành một loại người riêng biệt là nhờ một phản ứng chung hay thống nhất trước mối đe dọa can thiệp của nước ngoài. Điều này đơn giản là sự kiêu ngạo của cách viết sử dân tộc chủ nghĩa đã biến “tinh thần chống ngoại xâm” thành tố chất vĩnh cửu trong “bản sắc Việt Nam”. Việc đi tìm ở Trung Quốc hay nơi khác những giải thích cho chuyện xảy ra ở Việt Nam không còn là một chiến lược phân tích làm thỏa mãn, đặc biệt khi môṭ cách nhìn sự việc đáng tin hơn rõ ràng ở ngay trước mắt. Nếu chúng ta có thể bỏ ra khỏi đầu óc mình quan niệm về “chất Việt Nam” như một đối tượng tri thức và thay vào đó, xem xét cẩn thận điều mà những người chúng ta gọi là người Việt đã làm ở những thời điểm và nơi chốn cụ thể, thì khi đó chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thấy bên dưới lớp âm thanh, ngữ âm, lời nói chung, hay bất kì cách tưởng tượng nào của chúng ta về hiện tượng ngôn ngữ con người, là những con người khác biệt mà cái nhìn của họ về bản thân và người khác dựa vào địa hình vùng họ sống và dựa vào những trao đổi văn hóa có được tại vùng đó.

Liệu có còn quá ngạc nhiên là Đàng Trong đã chống lại uy quyền của Đàng Ngoài tại Đồng Hới trong nhiều thế hệ và nhiều trận đánh khi chúng ta nhớ lại rằng những dân tộc mà ta gọi là Chàm trước đó đã từng kháng cự uy quyền miền bắc cũng tại chính nơi này trong hàng trăm năm? Liệu có khó hiểu được là dân tộc chúng ta gọi là người Việt, những người mới đến sống ở đây, lại có một thái độ trước quyền lực miền bắc theo nhiều cách cũng tương tự các cư dân trước đây? Thay vì dõi mắt về Trung Quốc phía bắc để phân tích, có thể đã đủ khi quan sát kỹ hơn Thuận Quảng và xem xét làm thế nào sự định vị chiến lược và văn hóa của những người nói tiếng Việt tại một nơi mà trong nhiều thế hệ là của người Chàm lại có thể giúp soi sáng và giải quyết nỗ lực tìm hiểu của chúng ta. Những cư dân mới đến đã thờ phụng các vị thần của các cư dân cũ [19] . Chuyện họ cũng thừa hưởng những kẻ thù của cư dân cũ gây ngạc nhiên chỉ bởi vì mức độ tuyên truyền ý thức dân tộc chủ nghĩa nhắm vào người của thế kỷ 20. Có thể hữu ích hơn nếu ta không nói về cuộc nam tiến của dân tộc Việt, mà thay vào đó, nói về sự hình thành những phiên bản mới của việc làm người Việt ở lãnh thổ trước đây của người Chàm và các dân tộc khác [20].
Một sự biểu lộ về khác biệt giữa “những phiên bản” làm người Việt có thể nằm trong địa hạt của sự nhạy cảm về tôn giáo, văn học và thơ ca. Chính trị Việt Nam ngày càng trở nên địa phương hóa và phi tập trung hóa đến mức không nhân nhượng trong tiến trình của thế kỷ 16, nhưng sau đó, những ký ức “Việt” về thời kỳ ấy lại trở thành trung tâm luân lý trong con người Nguyễn Bỉnh Khiêm (sinh năm 1491). Vai trò quân sư và thầy giáo của ông được kích hoạt bởi việc “thoái ẩn” về quê cũ, phía đông Hà Nội, năm 1542. Giọng nói của ông được xem như một nguồn quyền uy mà không còn tìm thấy trong địa hạt chính trị, và mọi lãnh tụ tham vọng trong thời ông đều được mô tả là đã đi tìm và nhận sự ban phúc của ông dành cho tham vọng cá nhân và vùng miền của họ. Tuy nhiên, sau cái chết của ông năm 1585, ngay cả một trung tâm văn hóa hoặc luân lý Việt đã không còn tồn tại.

Thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm và của học trò giỏi nhất của ông, Phùng Khắc Khoan (1528-1613), người chọn phụng sự chúa Trịnh ở Hà Nội, mô tả thế giới như một nơi nguy hiểm, đầy lòng tham, bạo lực, hỗn độn, tranh quyền đoạt lợi [21] . Ở một mức độ triết lý, tôn giáo hay thi ca, Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa quan niệm về nhân sinh này thành những tuyên ngôn về tính tuần hoàn và sự tu thân. Trong một bài thơ của ông, ngôn ngữ Phật giáo xác nhận một chu kỳ tuần hoàn trong biến thiên của con người; thời gian liên tục đi theo những vòng hưng thịnh và suy tàn. Phản ứng đúng đắn của con người là sự tu thân. Tôi muốn đối lập điều này bằng một sự nhạy cảm thơ ca mà sau đó xuất hiện ở phía miền nam.

Đào Duy Từ (1572-1634) có thể được xem là nhà thơ Đàng Trong đầu tiên. Ông bị loại khỏi cuộc đua quyền chức ở miền bắc vì chúa Trịnh khinh ông là con nhà xướng ca, nên ông vào nam và phụng sự chúa Nguyễn, rồi thành người xướng xuất việc đắp lũy ở Đồng Hới [22] . Những bài thơ được cho là của ông sử dụng một ngôn ngữ Phật giáo rất khác thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thời gian không phải tuần hoàn mà là trống rỗng; sự thông thái không phải là thành quả của sự tu dưỡng mà là xảy đến không cần nỗ lực. Ẩn dụ về tính cách con người không phải là mẩu vườn được chăm bón mà là thiên nhiên không có bàn tay con người. So sánh với tư tưởng tuần hoàn nhưng có tính cạnh tranh tìm thấy trong thơ miền bắc, những bài thơ của Đào Duy Từ thể hiện một cảm giác tự do và tự tin không quan tâm đến quy tắc, lịch sử, hay tổ tiên. Nhìn bề ngoài, nó cũng có vẻ cho thấy một sự chuyển từ tư tưởng Tịnh độ (Pure Land) sang Thiền.
*
Bây giờ tôi chuyển sang tỉnh Bình Định và sự trỗi dậy của một trung tâm khu vực mới tại đó trong thế kỷ 18. Bình Định, cụ thể là khu vực gần kề thành phố Qui Nhơn thời hiện đại, từ lâu đã là một địa điểm quan trọng cho các vua Chămpa. Nơi này bị các đội quân Việt cướp bóc trong nhiều thế kỷ nhưng chưa bao giờ bị chinh phục lâu dài cho đến cuối thế kỷ 15. Đó là tiền đồn cực nam của biên giới của người Việt từ đó cho đến 1611, khi Nguyễn Hoàng chinh phục khu vực này về phía nam, bao gồm cả đèo Cả, mà sau đó được biết đến với tên tỉnh Phú Yên. Đến cuối thế kỷ 17, Bình Định trở thành khu vực hoạt động cho các binh đoàn tiến về nam và đi sâu vào đồng bằng Mêkông. Đến những năm 1690, Bình Định đã trở thành trung tâm của một mạng lưới giao thông và liên lạc kết nối trung tâm Thuận Quảng của Đàng Trong với đồng bằng sông Mêkông. Nó cũng trở thành trung tâm tuyển mộ binh lính và lao động để duy trì hoạt động quân sự ở sâu trong phía nam.
 
Một tính chất quan trọng khác của Bình Định là vị trí của nó như một bến cuối của tuyến đường được đi lại nhiều dọc cao nguyên đến thung lũng Mêkông, băng qua An Khê, Plây Ku, và đến sông Mêkông ở Stung Treng ở nơi mà hiện nay là phía bắc Campuchia, nơi nó nối kết với mạng lưới giao thương tỏa ra từ Ayudhaya/Bangkok. Thương mại di chuyển dọc tuyến đường này, nối Bình Định với những mối quan tâm buôn bán của người Xiêm. Các dân tộc vùng cao và người Việt tham gia vào hoạt động thương mại này, nhưng các cộng đồng người Hoa ở Ayudhaya/Bangkok và Qui Nhơn cung cấp vốn và những mối quan hệ để kích hoạt giao thương. Qui Nhơn trở thành trung tâm thương mại quan trọng tại đầu mối của một cảng biển lý tưởng, con đường phía tây qua núi, con đường phía bắc đến Thuận Quảng, và con đường phía nam đến đồng bằng sông Mêkông [23].
Trong thế kỷ 18, những nhà cai trị ở Thuận Quảng ngày càng quan tâm đến Bình Định, xem nó như một điểm nối uy quyền của họ với vùng biên giới phía xa. Một nghiên cứu gần đây đã phân tích buổi khởi nghiệp của phong trào Tây Sơn (Tây Sơn nằm ở lưu vực sông giữa Qui Nhơn và An Khê) những năm 1770, xem đó là một sự phản ứng vùng trước những yêu sách của các nhà cai trị Thuận Quảng áp đặt lên vùng này [24] . Ngoài ra, địa điểm Qui Nhơn đem lại những khả năng rõ rệt như một trung tâm quyền lực. Nguyễn Nhạc, người anh cả dẫn đầu cuộc nổi dậy, đã theo đuổi việc trở thành “hoàng đế” tại Qui Nhơn. Trong thập niên 1780, tranh chấp giữa Nhạc và em trai Huệ đã dẫn tới đụng độ để giành quyền kiểm soát Qui Nhơn. Và vào cuối thế kỷ ấy, sự kiểm soát Qui Nhơn trở thành ám ảnh tranh giành của quân Tây Sơn và đối phương của họ, liên tục thay chủ, vây hãm, bao vây lần nữa trong nhiều năm; cả cho đến khi tương quan cuộc chiến đã khiến nơi này không còn quan trọng về quân sự, thì Qui Nhơn vẫn là đối tượng tranh giành, có lẽ ở một mức độ nào đấy, được thèm muốn như một trung tâm thương mại có cảng và kết nối đường bộ với Bangkok.

Đến ngày nay, Bình Định vẫn duy trì tiếng tăm là tỉnh thiện chiến nhất, sản sinh những chiến binh võ nghệ cao cường. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, người từ Bình Định nắm lấy sân khấu trung tâm trong chính trường và chiến trường của người Việt. Phong trào Tây Sơn, bắt đầu là một hỗn hợp người dân tộc vùng cao, nông dân đồng bằng và lái buôn Trung Hoa, đã bùng nổ tại Bình Định, đưa quân chinh nam phạt bắc và thúc đẩy 30 năm chiến tranh giữa các khu vực có người nói tiếng Việt sinh sống. Mặc dù Bình Định không có tài nguyên để trở thành một trung tâm đủ sức khống chế các vùng khác trong bất kì thời gian dài nào, nhưng nó cũng bộc lộ một cái nhìn khu vực về vấn đề làm người Việt. Nó sản sinh là một nhân vật, Nguyễn Huệ, người dẫn quân từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác và đã cố tìm cách thống nhất mọi khu vực của người Việt dưới uy quyền của ông. Việc ông thất bại thường được quy cho là vì cái chết bất ngờ của ông. Nhưng có lẽ người ta đã không dành đủ sự chú ý cho câu hỏi làm thế nào viễn kiến khu vực của Bình Định đã có thể định hình tham vọng của cả ông và những người kế vị yếu kém, và khiến họ dễ bị đe dọa bởi một đối thủ có một viễn kiến khu vực khác. Chừng nào một sức mạnh quân sự tự nguyện và chuỗi dài thắng trận còn là bí quyết giúp có quyền lực chính trị, người của Bình Định có thể chiếm ưu thế. Nhưng khi đối diện với một đối thủ đã thua trận liên tục nhưng luôn đứng dậy, một đối thủ có tầm nhìn chiến dịch lâu dài chứ không chỉ một trận đánh, một đối thủ xem thành công không phải nhờ giao tranh mà là kết quả của tổ chức, rèn luyện, huy động tài nguyên, chuẩn bị, hoạch định và chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi, thiên tài Tây Sơn, đứng trước một đối thủ như thế, bỗng chỉ trở thành một sự gan dạ cấp tỉnh. Và đối thủ này xuất hiện từ đâu? Từ Nam Bộ.











[/align][1]K.W.Taylor, The Birth of Vietnam, Berkeley, NXB Đại học California, 1983, các trang 6, 21-22, 57-66, 78, 89-91, 94-95, 110, 112-113, 151, 155, 226, 228-229, 240-248, 265-268, 275-280. K.W.Taylor, “The ‘Twelve Lords’ in Tenth-Century Vietnam”, Journal of Southeast Asian Studies, 14, 1 (March 1983), các trang 46-62.
[2]Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Hà Nội, NXB Khoa Học Xã Hội , 1993, I, trang 230 [xem các năm 1000, 1001, và 1003]
[3]Như trên, I, trang 235-236 [xem các năm 1008 và 1009]
[4]Như trên, I, trang 243 [xem năm 1012]. Cũng đọc thêm, K.W.Taylor, “Authority and Legitimacy in Eleventh-Century Vietnam,” trong sách Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, David G. Marr & A.C.Milner (chủ biên), Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986, trang 163-164.
[5]A.B.Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam”, Papers on China, 17, (1963), trang 12-21, thể hiện ngầm mức độ người địa phương tham gia chính quyền Minh, nhưng mang tính phân tích tập trung vào thất bại chung cuộc của chính sách của Minh. John K. Whitmore, Vietnam, Hồ Quý Ly, and the Ming (1371-1421), New Haven, Yale Southeast Asia Studies, 1985, trang 91-116, cung cấp sự xem xét bao quát hơn, ít phân tích, về chủ đề này.
[6]O.W.Wolters, “A stranger in his own land: Nguyễn Trãi’s Sino-Vietnames poems, written during the Ming occupation”, The Vietnam Forum, 8 (Summfer-Fall 1986), trang 60-90.
[7]Ví dụ, xem Nguyễn Khắc Viện & Hữu Ngọc, Vietnamese Literature, Hanoi, Foreign Languages Publishing House, trang 241-244. Cũng xem Stephen O’Harrow, “Nguyễn Trãi’s Bình Ngô Đại Cáo of 1428”, Journal of Southeast Asian Studies, 10, 1 (March 1979), trang 164-173.
[8]Nola Cooke, “Nineteenth-Century Vietnamese Confucianization in Historical Perspective: Evidence from the Palace Examinations (1463-1883)”, Journal of Southeast Asian Studies, 25, 2 (September 1994), trang 277-281.
[9]Như trên, trang 288-293
[10]Như trên, trang 284-288
[11]Alexander de Rhodes, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, Jean Baptiste Devenet, 1651, trang 16-17
[12]L. Cadiere, “Le Mur de Đồng Hới: etude sure l’etablissement des Nguyễn en Cochinchine”, Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extreme-Orient, 6 (1906), trang 138.
[13]Như trên, trang 11-22.
[14]K.W. Taylor, “Nguyễn Hoàng and the Beginning of Vietnam’s Southward Expansion” trongg quyển Southeast Asia in the Early Modern Era, Anthony Reid (biên tập), Ithaca, Cornell University Press, 1993, trang 42-65.
[15]Nguyễn Tài Cẩn, “Về việc dùng hai động từ ‘vào’ ‘ra’ để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía nam hay phía bắc trong tiếng Việt hiện đại”, Tạp chí Khoa Học, 4, (1991), trang 36-42.
[16]Đáng chú ý là cho đến thời điểm khi bài này được viết, 1996, nếu đi bằng xe máy từ Hà Nội đến Sài Gòn, vẫn chỉ có duy nhất một nơi không có chiếc cầu nào được xây và người ta phải đi phà, và địa điểm đó là tại sông Gianh.
[17]L. Cadiere, trang 138-140
[18]K.W. Taylor, “The Literati Revival in Seventeenth-Century Vietnam”, The Journal of Southeast Asian Studies, 18, 1 (March 1987), trang 17.
[19]Nguyễn Thế Anh, “The Vietnamization of the Cham Deity Po Nagar”, trong cuốn Essays into Vietnamese Pasts, do K.W.Taylor và John K.Whitmore (biên tập), Ithaca, Cornell Southeast Asia Program, 1995, trang 42-50; cũng được in trong Asia Journal, 2, 1 (June 1995), trang 55-67.
[20]K.W.Taylor, “Nguyễn Hoàng”, trang 64-65.
[21]Ví dụ, xem Huỳnh Sanh Thông, biên tập và dịch giả, The Heritage of Vietnamese Poetry, New Haven, Yale University Press, 1979, trang 36-38, 50-52, 88-91, 147-148, 156, 175-177.
[22]Để đọc một ghi chép về Đào Duy Từ trong văn bản cuối thế kỷ 18, xin xem Tang Thương Ngẫu Lục, của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án.
[23]Về chủ đề Qui Nhơn với tư cách là trung tâm thương mại với cộng đồng người Hoa ở thế kỷ 18, xem Pierre-Yves Manguin, Les Portugais sure les Cotes du Viet-Nam et du Champa, Paris, EFEO, 1973, trang 166-167; Pierre-Yves Manguin, Les Nguyễn, Macau et le Portugal: Aspects politiques et commerciaux d’une relation privlégiée en Mer de Chine, 1773-1802, Paris, EFEO, 1984, trang 43-45, 172-173.
[24]Li Tana, The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyễn Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, Luận án tiến sĩ, Đại học quốc gia Úc, Tháng Chín 1992


[/align] 
    2 

Nam Bộ là vùng đồng bằng sông Mêkông, vùng biên cuối cùng của người Việt. Một dân số Khmer lâu đời đã kết giao vào cuối thế kỷ 17 với hàng ngàn người Minh hương đến bằng đường biển; đến cuối thế kỷ đã có một dòng đều đặn những người Việt đến từ miền bắc. Giữa Nam Bộ và đèo Cả ở đường biên phía nam Phú Yên, vùng đất ven biển trồng lúa ở ngay phía nam Bình Định, là 350 cây số lãnh thổ bán khô cằn, thậm chí bỏ hoang (các tỉnh mà nay gọi là Khánh Hòa, Ninh Thuận, và Bình Thuận, hay các thành phố Nha Trang, Phan Rang và Phan Thiết). Ở đây phạm vi dành cho nông nghiệp tương đối nhỏ; số ít những người đến đây sống đã chuyển qua đánh cá. Đây là nơi tập trung những cư dân người Chàm còn sót lại. Trong biểu đồ di dân của người Việt, nơi đây đơn thuần là một con đường lớn giữa Bình Định và Nam Bộ. Đồng bằng màu mỡ phù sa của Nam Bộ là nơi vẫy gọi.

Đến giữa thế kỷ 18, một trăm năm sau khi những đội quân người Việt đầu tiên bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng sông Mêkông, sáu tỉnh Nam Bộ được thành lập từ các vùng đất Khmer với sự tham gia nhiệt tình của các nhóm di dân người Hoa rất có tổ chức. Khi Bình Định nổ ra chiến tranh những năm 1770, Nam Bộ trở thành nơi trú ẩn của phe họ Nguyễn từng trị vì Đàng Trong trong hai thế kỷ trước đó. Thành viên của tông tộc này, người sống sót để trở thành lãnh đạo của phe nhà Nguyễn, Nguyễn Ánh, cuối cùng đã xây dựng nền tảng quyền lực tại Sài Gòn ở Nam Bộ và từ đấy đã đi chinh phục toàn bộ các vùng ở miền bắc nơi người Việt sinh sống, lập nên một vương quốc vào đầu thế kỷ 19 mà trước đó chưa bao giờ tồn tại. Nhìn hời hợt, đây có vẻ là trường hợp vùng biên chống lại trung tâm. Nhưng một quan niệm như thế đặt giả thiết là có tồn tại một “vùng trung tâm” (heartland). Dù đã từng có hay không một “trung tâm” Việt Nam trong thế kỷ 18, thì chắc chắn lúc này nó không tồn tại. Thay vì xem Nam Bộ thế kỷ 18 là một vùng biên mà đã khiến xô đẩy trung tâm, tôi lại muốn xem Nam Bộ chỉ là một khu vực nữa trong quá trình định nghĩa một phiên bản làm người Việt, khu vực này bắt đầu cạnh tranh ưu thế với toàn bộ những phiên bản khu vực khác của việc làm người Việt.

Tôi sẽ thảo luận phiên bản làm người Việt của Nam Bộ bằng cách nhắc tới ba nhận xét sau: địa hình, sự đa dạng về người, và kinh nghiệm con người. Đầu tiên, Nam Bộ, khác với tất cả các khu vực khác, không có một biên giới địa lý rõ ràng; nó không được định nghĩa bằng địa hình. Biên giới phía tây của Nam Bộ chạy qua đồng bằng sông Mêkông từ cao nguyên trung phần ở đông bắc ra biển ở tây bắc. Đó là kết quả của chiến tranh và thương lượng chứ không phải của bất kì yếu tố địa hình địa vật nào. Nơi duy nhất mà đường biên giới thời cận đại tuân thủ mốc cắm trên đất là tại kênh Vĩnh Tế, xây hồi đầu thế kỷ 19, giữa sông Mêkông và biển, nhưng đây là một trường hợp của công trình con người áp dụng vào địa hình để tạo nên một biên giới. Điều mà tôi muốn nhận xét là khía cạnh địa lý của Nam Bộ là tính rộng mở, dễ tổn thương, tính có thể. Tương đối có ít cảm thức về tính cố định, ràng buộc, định hướng. Điểm đặc trưng chính là dòng nước chảy liên tục qua khu vực này từ lưu vực Campuchia ra biển và sự gặp gỡ các dòng thủy triều. Những tính chất này, cùng với đất phì nhiêu và đầy ắp sản phẩm từ sông và biển, khuyến khích một sự mong chờ thay đổi, vận động và lựa chọn thay vì mọi cảm giác hạn chế và gắn bó vốn là tính chất điển hình hơn ở địa hình giới hạn của các khu vực khác tại Việt Nam.


Sự đa dạng trong định cư của con người tại Nam Bộ bổ sung thêm một khía cạnh nữa cho tính mở của địa hình. Người Khmer, Trung Hoa và Việt đều có mặt ở đó với đủ số lượng để đòi hỏi một sự thừa nhận lẫn nhau. Nam Bộ là một nơi gặp gỡ về văn hóa và ngôn ngữ. Những quan hệ chức năng, trung thành cá nhân, và hy vọng vào tương lai có ý nghĩa quan trọng hơn dòng họ hay những quyến rũ của quá khứ. So với bất kì khu vực nào khác, ở đây có nhiều hơn những kinh nghiệm, quen thuộc và tôn trọng sự giao tiếp với những dân tộc không phải người Việt và những nơi chốn. Nam Bộ kết nối với thế giới của người Việt bằng một con đường hẹp ven biển 350 cây số đi qua những vùng đất tương đối cằn cỗi, ít dân cư. Mặt khác, Nam Bộ tọa lạc ở một trung tâm tiềm năng về giao dịch quốc tế đang trỗi dậy. Nam Bộ là một khu vực của người Việt có nhiều triển vọng nhất cho việc sát nhập những cái nhìn mới vào một phiên bản làm người Việt.


Một điều rất quan trọng cho mục đích của tôi là người ta không nên xem quan điểm Nam Bộ này là một điều “ít chất Việt Nam hơn”, dù chất ấy có nghĩa là gì. Không có phiên bản vùng nào của việc làm người Việt mà tôi đang thảo luận lại có chất Việt Nam “chân thật” hơn cái khác. Ý niệm về tính trung tâm văn hóa là một sự xây dựng ý thức hệ cưỡng bức với một mục đích chính trị rõ rệt. Chỉ khi chúng ta có thể chấp nhận Nam Bộ là một địa điểm chính trị và văn hóa chân thật y như các địa điểm khác, thì chúng ta mới bắt đầu nhìn thấy những gì đã xảy ra vào đầu thế kỷ 19 là một sự kiện lịch sử thật sự chứ không phải, như người ta thường khẳng định trong mấy thập niên gần đây, là một sự sửa đổi sai quấy của một tiến trình lịch sử được tưởng tượng.


Nguyễn Ánh là người đầu tiên tổ chức Nam Bộ thành một khu vực đủ sức tranh dự thành công trong chiến cuộc và chính trị giữa các vùng tại Việt Nam. Sự nghiệp của ông là câu chuyện về những thất bại và lưu vong triền miên, nhưng cũng là chuyện về sự kiên trì và học từ thất bại; nó bộc lộ một kinh nghiệm con người về tiềm năng thành một khu vực tại Việt Nam của Nam Bộ. Các phẩm chất lãnh đạo của Nguyễn Ánh bắt đầu tìm thấy chỗ phát triển trong thập niên 1780 vào lúc, sau khi phụng sự như một chư hầu của Vua Xiêm, ông củng cố mình ở Sài Gòn và lấy Nam Bộ làm một quyền lực quân sự mới. 20 năm sau, ông là chủ của tất cả các khu vực Việt Nam. Nguyễn Ánh thắng thế nhờ sự vượt trội thủy quân và khả năng vận chuyển toàn bộ quân đội bằng đường biển. Ông làm được điều này bằng cách tập hợp lực lượng quốc tế gồm những chiến binh và kỹ thuật viên giỏi. Tùy tùng của ông gồm người Chàm, Trung Hoa, Xiêm, Lào, Miến Điện, Mã Lai và Pháp. Bất kì ai có khả năng đóng tàu, lái thuyền, pháo binh, sản xuất và xây thành đều được hoan nghênh ở Sài Gòn.


Một khía cạnh khác trong chiến thắng của Nguyễn Ánh là sức sống và năng lực của mối liên hệ thương mại giữa cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn và Bangkok, một yếu tố mà Bình Định không thể tranh đua. Người sáng lập Bangkok, Rama I, đã chinh chiến ở Campuchia, và binh đoàn năm 1784 của ông đi xuống Mêkông đánh quân Bình Định ở Nam Bộ chắc chắn không chỉ là một cử chỉ thân thiện huynh đệ với Nguyễn Ánh, người ông có liên minh trong chiến dịch đó; các quyền lợi buôn bán cũng ngự trị. Một vài năm sau, khi Nguyễn Ánh chuyển khỏi Bangkok để thiết lập căn cứ ở Sài Gòn, thì những quyền lợi thương mại chắc chắn không tách rời. Nhân chứng người Bồ Đào Nha đã chứng thực sự có mặt của nhiều thương nhân người Hoa tại Sài Gòn trong những thập niên cuối của thế kỷ 18 [1].


Ngoài việc đặt một chốt chặn của người Việt đối với mạng lưới thương mại Trung Quốc đặt trung tâm ở Bangkok, bước chuyển vào Sài Gòn của Nguyễn Ánh còn mang lại một kiểu chiến tranh mới giữa những người nói tiếng Việt, kiểu chiến tranh mà Nguyễn Ánh đã học khi chinh chiến cùng Rama I chống quân Miến Điện. Kiểu chiến tranh của người Việt đã thường có xu hướng nghĩ đến yếu tố lãnh thổ, dù là để đánh chiếm hay phòng thủ. Nó ngược với kiểu kiểm soát nhân lực, vốn thể hiện rõ rệt hơn trong người Xiêm. Thay vì chỉ chiếm lãnh thổ để phòng thủ, Nguyễn Ánh đã thu hút và lãnh đạo một đoàn tùy tùng gồm những cá nhân tham vọng, tranh đua, tất cả muốn thể hiện sự ưu tú để tiến thân; trong các “chiến dịch theo mùa” của ông hồi đầu thập niên 1790, ông đã tập hợp người có hiệu quả hơn là việc lấy đất, và người ta tự hỏi rằng liệu đó có phải là ưu tiên cấp thời của ông khi ấy hay không. Chuyện chinh phục quần thần vốn chẳng phải mới lạ gì với người Việt, nhưng khả năng của Nguyễn Ánh trong việc mở cửa cho những người không phải người Việt, và cho những người đang trở thành người Việt Nam Bộ, là một điều chưa từng có. Những dấu hiệu thể hiện điểm đặc biệt này đã được trình bày qua thơ như thế nào có thể tìm thấy trong những sáng tác được cho là của nhà thơ đầu tiên của Nam Bộ, Mạc Thiên Tích (1706-1780).


Mạc Thiên Tích là con trai của Mạc Cửu, một người Hoa vào cuối thế kỷ 17 thiết lập một trung tâm buôn bán và đặt ưu thế địa phương ở Hà Tiên; trong thế kỷ 18, Mạc Cửu bày tỏ sự trung thành với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong và khi ông qua đời năm 1735, Mạc Thiên Tích kế nghiệp cha. Trong thập niên 1770, Mạc Thiên Tích đến Bangkok trong đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh, nơi xảy ra các mưu toan dẫn đến cái chết của ông năm 1780.

Các bài thơ của Mạc Thiên Tích thể hiển cách thức một vị quý tộc Nam Bộ có học quan sát khu vực của ông vào lúc nó sắp trở thành tổng hành dinh của một cuộc chinh phục chưa từng có đối với toàn bộ các vùng của Việt Nam [2] . Có một cảm thức trông chờ, thay đổi, đa dạng và khả biến, về tự do và không phân biêṭ. Trong một bài thơ có chủ đề sáo mòn về bình minh, nhà thơ bộc lộ một cảm giác sắc bén về đổi thay và vận động với một sự khẳng định mạnh mẽ về tính ưu việt của Phật giáo; cảnh đồng quê thức dậy trở thành ẩn dụ cho việc đạt đến một cảnh giới nhận thức:


[/align]
Tiêu Tự Thần Chung
Tàn tinh liêu lạc hướng thiên phao
Mậu dạ kình âm viễn tự xao
Tịnh cảnh nhân duyên tình thế giới
Cô thinh thanh việt xuất giang giao
Hốt kinh hạc lệ nhiễu phong thụ
Hựu súc ô đề ỷ nguyệt sao
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu

Dịch nghĩa

Bóng sao tàn thưa thớt lặn dần trên nền trời
Đêm đã đến canh năm, tiếng kình thỉnh từ chùa xa
Tiếng chuông trong hoàn cảnh yên tịnh, khiến cho người nhân đó mà tỉnh ngộ chuyện đời
Tiếng chuông cô đơn nổi lên đồng vọng khắp sông nước, khắp đồng nội
Tiếng chuông làm kinh động tiến chim hạc vương trên cành cây gió thoảng
Tiếng chuông lại chạm đến tiếng chim quạ cất trên ngọn cây trăng lồng
Nghĩ rằng mọi người đều thức giấc sau đêm nghiêng gối
Tiếng gà truyền tin sáng cũng đã văng vẳng đó đây


[/align]

Ở đây, dấu hiệu báo sáng sớm điển hình, tiếng gà, lại đến sau cùng, sau khi nhà thơ đã để ý một loạt các dấu hiệu tỉnh giấc bao gồm vòng xoay suốt ngày đêm của thế giới con người và tự nhiên; nhà thơ tọa vị phía trước dấu hiệu thông thường về sáng sớm, trước âm thanh của tiếng chim nuôi mà thông thường vẫn mở đầu cho hoạt động xã hội trong các công thức văn chương. Phần đầu của bài thơ là về cảnh và âm thanh, ngôi sao lặn và chuông chùa, báo hiệu cho người xem và người nghe về thay đổi sắp đến, sự chuyển tiếp từ đêm sang ngày, từ ngủ sang hành động; khoảnh khắc đi trước và tiến vào thời khắc đổi thay này là nơi nhà thơ đặt ao ước diễn cảm của ông, thay vì khi bình minh đã xong – giây phút bình minh đã xong được thêm vào như một ý nghĩ muộn vào cuối bài thơ với dấu hiệu ấn định của tiếng gà gáy. Có thể đọc trong bài thơ này hương vị của khoảnh khắc trước rạng đông của Nam Bộ, sự thức tỉnh của nó trước lúc nhận ra mình trở thành một nơi riêng biệt tại Việt Nam. Sự nhắc đến chữ “tin” trong bài thơ có thể đã có một âm vang xâm nhập và báo điềm ở một thời điểm và một nơi của những đoàn quân và lãnh chúa đang có tham vọng như Nam Bộ thế kỷ 18; những người tỏ ra tự tin và oai vệ mà sắp sửa xuất hiện.
Bài thơ thứ hai đề cập một cảnh văn chương sáo mòn khác, xem ánh trăng phản ánh trong nước, theo một cách có gị̀ đó hơi lật đổ :


[/align]
Đông Hồ Ấn Nguyệt
Vân tể yên tiêu cộng diểu mang
Nhất loan phong cảnh tiếp hồng hoang
Tình không lãng tịnh truyền song ảnh
Bích hải quang hàn tiển vạn phương
Trạm khoát ứng hàm thiên đãng dạng
Lãm linh bất quí hải thương lương
Ngư long mộng giác xung nan phá
Y cựu băng tâm thượng hạ quang

Dịch nghĩa

Mây tạnh, mây tan trong cõi mênh mông bát ngát
Một vùng phong cảnh tiếp liền với cõi rộng lớn
Phía trên, sáng sủa trong trẻo, phía dưới sóng nước yên tĩnh lặng lẽ, truyền nhau đôi bóng
Mặt biển biếc, ánh sáng lạnh, khắp bốn phương sạch sẽ
Sâu rộng ngâm chứa cả trời rộng lớn
Lạnh lẽo không thẹn với biển mênh mông
Con ngư con long tỉnh mộng, trở mình vùng vẫy cũng không làm phá vỡ được
Một tấm lòng băng vẫn rực rỡ chói chang y như cũ


[/align]
Những suy tưởng quy ước về việc trăng phản chiếu trên nước và quan tâm hình ảnh nào là thật, hình nào là ảo giác đều không có trong bài thơ này. Mọi cảm giác ưu việt hay thứ bậc tôn ti đều không có, khi “đôi bóng” treo lơ lửng trong sự bao la không phân biệt của trời và nước; trong câu thứ ba, sự hòa nhập của trời và nước trong một viễn cảnh về sự thống nhất của chúng bao hàm sự tự do vùng vẫy không cần nhìn lại. Con ngư con long, những ẩn dụ thay cho nhà cai trị và tùy tùng, tràn đầy giấc mơ và phối hợp, nhưng quá trình thức tỉnh và hành động thì không hoàn tất; những nỗ lực “phá vỡ” để tiến đến hiểu biết và hoàn thành của họ bị ngăn chặn. Bị ngăn chặn bởi cái gì? Cái ý tôi dịch sang tiếng Anh là “loyalty” (trung thành) thì nguyên gốc có nghĩa là “băng tâm”, một thành ngữ quy ước chỉ “sự trinh bạch” của phụ nữ và “tính cao thượng” của đàn ông; nó có nghĩa là tính chất đáng tin cậy, bền lòng, trung trinh, trung thực với mình. Phẩm chất này được xem là đã luôn “y như cũ”, không phải phụ thuộc vào những giấc mơ của “con ngư con long”, với những cuộc tranh đua của chúng vốn chỉ mang tính phù du. Hiệu ứng của bài thơ này là một nhận thức về thiên nhiên và vũ trụ như một sự thống nhất vượt qua những tu từ phân biệt của nhà thơ hay mưu toan của nhà cai trị, đó cũng là một nhận thức về quy tắc hành xử con người không cần đến “văn chương” hay “chính quyền”. Hiệu ứng này còn rõ rệt hơn trong bốn dòng thơ cuối cùng của bài thứ ba nhan đề Thạch Động Thôn Vân, một bài suy tưởng về đỉnh đá núi:


[/align]
Phong sương cửu lịch văn chương dị
Ô thố tàn di khí sắc đa
Tối thị tinh hoa cao tuyệt xứ
Tùy phong hô hấp tự ta nga
Dịch nghĩa
Trải qua nhiều phong sương, càng thêm nét sáng đẹp lạ lùng
Bóng ác bóng thỏ (mặt trời mặt trăng) thường di chuyển, khí sắc thêm nhiều
Chắc hẳn đây là nơi tinh hoa cao tuyệt rồi
Tự do theo gió, thở hút ở trên chót vót thượng từng


[/align]
Không giống như thiên nhiên mang tính chất như vườn, chịu ở dưới nỗ lực của con người như trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhiều nhà thơ xứ bắc, không giống sự ca tụng niềm vui con người giữa thiên nhiên hoang sơ trong thơ Đào Duy Từ ở Đàng Trong, Mạc Thiên Tích xem thiên nhiên như một tác nhân động vừa khơi hứng vừa hạn chế nỗ lực con người. Dòng thứ nhất ở trên cho thấy các thói quen văn chương chắc chắn thay đổi khi chuyển vào Nam Bộ; không cần phải xin lỗi cho tính không chính thống. Dòng thứ hai ngụ ý những kế hoạch thống nhất của người có tham vọng làm vua thường xuyên bị ngăn trở và buộc phải thay đổi ở Nam Bộ; không cần phải xin lỗi cho sự đa dạng. Trong hai dòng cuối, có thể đọc như một ẩn dụ cho Nam Bộ, một nơi có những khí sắc riêng, một nơi mà những lựa chọn chỉ dành cho những ai “tự do theo gió”, dấu hiệu của việc đi theo khát vọng cá nhân, và xem những khả năng “trên chót vót thượng từng”. Tôi đã dừng lại ở thơ của Mạc Thiên Tích bởi vì Nguyễn Ánh có thể đã là người Việt Nam đầu tiên “theo gió”ở Nam Bộ và nhìn về phía bắc từ “chót vót” của Nam Bộ.
Cú đánh kết liễu của Nguyễn Ánh năm 1801 là thông qua việc chuyển toàn bộ quân bằng đường biển, bỏ qua Bình Định (nơi quân của ông bị Tây Sơn vây hãm), và chiếm Thuận Quảng; nhờ thế, trong một nước cờ khéo léo, ông đã làm vây hãm quân Tây Sơn ở Bình Định và mở rộng đường ra bắc. Trong chiến dịch ra bắc, ông lại được hỗ trợ nhờ sự có mặt của quân đồng minh Lào qua đường núi từ phía tây đi vào Thanh Nghệ và nhờ việc là Đông Kinh đã không đứng lên chống lại ông. Nhưng người ta phải nhớ rằng những sự kiện này xảy ra sau nhiều năm chuẩn bị, thất vọng, hoạch định kỹ lưỡng, chờ đợi kiên nhẫn, và một viễn kiến về sức mạnh đường biển và hoạt động điều phối rộng khắp mà không đối thủ nào sánh bằng. Viễn cảnh chiến thắng của Nguyễn Ánh được tạo dựng ở Nam Bộ. Khi ông quyết định cai trị từ Huế, gần mộ tổ tiên ở Thuận Quảng, ông đã khiến những người kế vị mất đi tầm nhìn mà đã từng giúp ông chiến thắng và khiến cho Nam Bộ dễ bị các sức mạnh khác tấn công. Chỉ 40 năm sau khi ông qua đời năm 1820, Nam Bộ đã trở thành tổng hành dinh của người Pháp ở châu Á.
Chế độ quân chủ Nguyễn ở Huế trong thế kỷ 19 là một sự thử nghiệm chưa từng có trong nỗ lực cai trị toàn bộ các khu vực mà chúng tôi đã thảo luận. Khiếm khuyết của thử nghiệm này là trừ phi nhà lãnh đạo đủ sức kiểm soát ít nhất một trong hai khu vực mạnh về kinh tế và đông dân nhất, là Đông Kinh hoặc Nam Bộ, còn bằng không ông sẽ không đủ sức cai trị các vùng còn lại. Khi cố gắng cai trị từ Thuận Quảng, các vua nhà Nguyễn đã không thể kiểm soát hoặc Đông Kinh hoặc Nam Bộ. Đến lúc Pháp chuẩn bị chiếm Huế trong thập niên 1880, triều đình nhà Nguyễn đã không có sự kiểm soát thật sự đối với Nam Bộ và Đông Kinh. Nam Bộ đã trở thành thuộc địa của Pháp và Đông Kinh trở thành nơi vô chính phủ với những quân lính không chính quy từ Trung Quốc, tay súng địa phương và những kẻ phiêu lưu từ châu Âu. Vào lúc này xảy ra ví dụ cuối cùng mà tôi muốn thảo luận về xung đột giữa các vùng, một xung đột giữa Thuận Quảng và Thanh Nghệ, ẩn khuất trong lớp vỏ ngoài của cuộc chinh phục của Pháp và sự kháng chiến.


Nhóm tinh hoa hoàng cung Huế không bao giờ kết nạp người từ Nam Bộ hay Đông Kinh với một mức độ đáng kể nào. Đến giữa thế kỷ 19, nhóm này chủ yếu bao gồm toàn người từ Thuận Quảng và Thanh Nghệ [3] . Người từ hai vùng này sau đó có những thái độ khác nhau đối với hoàng gia và với câu hỏi làm sao phản ứng trước Pháp. Khi vấn đề bảo hộ của Pháp xuất hiện, giới tinh hoa Thuận Quảng ủng hộ việc hòa hoãn và hợp tác để cứu chế độ quân chủ trong khi các lãnh đạo Thanh Nghệ ủng hộ kháng chiến. Cuộc xung đột phe nhóm tại hoàng cung sau cái chết của vua Tự Đức năm 1883 có thể được diễn giải như cuộc đấu tranh giữa các lãnh đạo Thuận Quảng ủng hộ hợp tác và các lãnh đạo Thanh Nghệ chống hợp tác [4] . Chính sự chủ động của người Thanh Nghệ đã dẫn đến việc đưa hoàng gia thoát khỏi Huế và kêu gọi ‘cần vương’ năm 1885. Sự đáp ứng lời kêu gọi này đã diễn ra rộng lớn và kéo dài tại Thanh Nghệ, tiếp tục cho đến khi Phan Đình Phùng qua đời gần 10 năm sau, trong lúc các lãnh đạo Thuận Quảng nhanh chóng hòa hoãn với Pháp chống lại các đối thủ Thanh Nghệ của họ [5].
Diễn giải cuộc chinh phục An Nam của người Pháp và phong trào Cần vương cuối thập niên 1880 và đầu 1890 ở một mức độ nào đó như một cuộc xung đột giữa các vùng ở Việt Nam sẽ vi phạm các quy chuẩn của cách viết sử dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại. Nhưng nếu phủ nhận khả năng phân tích này, chúng ta sẽ che khuất những điểm đặc trưng trong tình hình Việt Nam cận đại, đặc biệt khi ta xem xét vai trò của Thanh Nghệ (tức Nghệ Tĩnh trong thế kỷ 20) trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thập niên 1930 và số lượng các lãnh tụ dân tộc thời hiện đại, bao hàm Hồ Chí Minh, người xuất thân từ vùng này. Người dân Thanh Nghệ Tĩnh có tiếng là ‘người theo chủ nghĩa dân tộc’ và ‘yêu nước’ ; liệu có thể nào những từ này là lối uyển ngữ thay cho khát vọng của vùng muốn vươn lên hay không ?

Tôi sẽ kết thúc bằng việc xem xét một vài câu hỏi thường xuất hiện trong các thảo luận về các vấn đề được bàn đến trong tiểu luận này. Đến mức nào có thể nói rằng “các yếu tố lịch sử năng động” (dynamic historical factors) giúp giải thích chuỗi các sự kiện tôi đã đề cập trong bài viết này? Ý niệm về các yếu tố lịch sử thay đổi phải được định vị trong các hoàn cảnh khu vực và thời gian, bởi vì mỗi khu vực với địa hình cụ thể, với các khả năng liên lạc và trao đổi với những khu vực khác, và cảm thức tự hào và gắn bó địa phương là những đơn vị phân tích phù hợp. Điều này ngụ ý rằng những ý niệm về các yếu tố lịch sử thay đổi bao trùm trên toàn Việt Nam phải được quan sát với sự hồ nghi. Những người quyết tâm cai trị toàn bộ các dân tộc Việt sẽ nhấn mạnh về một lịch sử và văn hóa Việt Nam đơn nhất với một cội nguồn duy nhất và một xung lực duy nhất xuyên suốt thời gian và không gian. Nhưng những giấc mơ về tính độc nhất này là sự thể hiện niềm tin chính trị, chứ không phải là điều nghiễm nhiên.


Bằng cách chia lịch sử và văn hóa Việt Nam thành từng khu vực, chúng ta có thể xây dựng những cái nhìn về các quá khứ tiêu biểu về các dân tộc Việt Nam hơn là những gì được mô tả bởi cách viết sử dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại. Nhưng điều này sẽ không đủ nếu khi đó mỗi khu vực lại được xem như một thực thể có sự phát triển liên tục riêng của nó. Các khía cạnh của các quan điểm vùng có thể vẫn dai dẳng khi được củng cố bằng địa hình địa vực, nhưng tôi quan tâm đến khả năng là hành vi con người, dù mang tính chất khu vực hay ‘quốc gia’, thì cuối cùng vẫn mang tính chất giai đoạn, chứ không tiến triển liên tục, và rằng lịch sử của mỗi vùng cũng đứt đoạn giống như mọi nguyên lý căn bản lớn hơn tầm vùng miền. Đông Kinh đã là nhà của các vị vua và là một khu vực năng động, cố kết từ thế kỷ 11 đến 14; sau giai đoạn đó, vùng này liên tục chịu sức ép từ sự trỗi dậy của các khu vực phía nam. Những tham vọng của Thanh Nghệ, đầu tiên hướng ra bắc sau đó hướng về nam, đã có sự vượt trội tinh thần trong các diễn ngôn bao quát toàn Việt Nam trong nhiều thế kỷ mặc dù nội dung của những tuyên bố tinh thần của vùng này thay đổi qua từng thời đại. Trong thế kỷ 15, những người ủng hộ nhà Lê tự nhận có một lẽ phải dựa trên các mô hình đạo đức có trong các sách cổ. Trong thế kỷ 16 và sau đó, mục tiêu khôi phục nhà Lê và những hăng hái sau đó của vùng Thanh Nghệ được loan đi với lời kêu gọi nhắc đến lòng trung thành và uy tín tổ tiên, chính nghĩa của một chế độ quân chủ đã quá vãng chỉ còn tính biểu tượng. Thuận Quảng cai trị vùng biên giới phía nam trong hai thế kỷ; thành công tương đối của nó với tư cách một trung tâm vùng đã không thể biến thành ưu thế trên toàn Việt Nam bởi những hạn chế về địa hình và sự chú tâm hạn hẹp đến Huế. Khoảnh khắc chiến thắng của Bình Định, từng đoạn từng hồi, liên quan đến vị trí của nó trong một hoàn cảnh lớn hơn của các mối quan hệ khu vực. Nam Bộ, một trung tâm buôn bán quốc tế, cung cấp sức mạnh cho Nguyễn Ánh nhờ sự giàu có và tính đa dạng, nhưng cuối cùng bị xem là không quan trọng và bị từ bỏ bởi các lãnh đạo mắc kẹt trong hệ thống các ưu tiên của các vùng khác; kết quả sau đó là Nam Bộ tự tìm hướng đi giữa các cường quốc thế giới và học cách chịu hậu quả của điều đó. Không có khu vực nào đã hoặc sẽ duy trì một sự gắn bó tuyệt đối, tất cả đều ở trong tình trạng phát triển và thay đổi; chúng sẽ tiếp tục đấu tranh với nhau và đồng thời liên tục tái định nghĩa mình trong tương lai. Yếu tố lịch sử với xung lực lớn nhất là khao khát phát triển và thay đổi của con người – nó tạo ra những đà tiến cấp vùng và những sự định hình từng giai đoạn của các đà tiến đó. Không có một hình thái làng, hệ thống gia đình, hay một mô hình hoạt động tín ngưỡng trên toàn cõi Việt Nam, nhưng từ vùng này sang vùng khác, ta có thể tìm thấy nhiều trạng thái của tất cả những điều trên; chúng liên tục trải qua thay đổi, không phải theo một logic vĩnh cửu mà theo những thay đổi của trải nghiệm con người mang tính chất có vẻ ngẫu nhiên và theo từng giai đoạn.


Một câu hỏi khác: liệu ‘hòa bình’ mang ý nghĩa gì trong các xã hội Việt Nam đã trải qua ‘xung đột’ trong nhiều thế kỷ? Bên dưới bề mặt của chiến tranh là một sêri những biến chuyển xã hội liên quan nông nghiệp và thương mại mà về căn bản không liên quan đến những nghị trình trong cuộc xung đột. Trong khi một vài lãnh tụ và tùy tùng của họ ganh đua chuyện thống trị, những người dân nói tiếng Việt đi lại, lao động, tìm kiếm những nơi ‘yên bình’ riêng của họ ngay cả khi xã hội nói chung có vẻ đang được tổ chức cho chiến tranh. Đồng thời, bên dưới lớp vỏ thống nhất triều đại là những nền văn hóa truyền miệng địa phương hóa, đè lên nhau và một sự đa dạng các khác biệt vùng xung quanh chủ đề là người Việt Nam.


Trong những năm mà tôi đã đề cập, không có giai đoạn nào mà những người nói tiếng Việt không đánh lẫn nhau hoặc giao chiến với các láng giềng. Đây là một tình trạng bình thường tại Đông Nam Á thời tiền hiện đại. Trong tiểu luận này, tôi đã không đặt nhiều chú ý về quan hệ xung đột của Việt Nam với người Trung Quốc, người Chàm, Khmer, Lào hay Xiêm. Mỗi một quan hệ này đều riêng biệt và đặc thù với những thay đổi về đe dọa, cơ hội và lãnh thổ; ngoài ra, chúng thay đổi với thời gian. Không có một sơ đồ khái niệm đơn nhất có thể giải thích toàn bộ các xung đột này hay thậm chí giải thích một xung đột trong toàn bộ thời gian. Có nhiều khả năng để phân tích các hoàn cảnh mà có thể đặt sự kết nối giữa những xung đột của người Việt và xung đột giữa người nói tiếng Việt và người ngoài và những khả năng này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng; không có những tính cách ‘dân tộc’ được đơn giản hóa nào có thể giải thích những câu hỏi xuất hiện từ một nghiên cứu như vậy.


Tôi ngờ rằng, trong các thế kỷ được đề cập ở tiểu luận này, ý niệm hòa bình có nghĩa là tồn tại bên trong quỹ đạo của một lãnh tụ có khả năng thực thi sự độc quyền vũ lực. Sống trong hòa bình có nghĩa là sống dưới sự bảo vệ của một người có quyền uy. Những cố gắng mở rộng quỹ đạo hòa bình ấy để bao gộp toàn bộ các dân tộc nói tiếng Việt tất yếu dẫn đến chiến tranh khi những quỹ đạo này chen lấn nhau. Vì thế trong khi chiến tranh xảy ra ở vùng biên, hòa bình lại được củng cố ở trung tâm. Khái niệm đương đại của chúng ta về ‘hòa bình’ liên quan đến những ý niệm về nhà nước hiện đại và tính chất bắt buộc tuân theo hành vi thống nhất mà nhà nước đòi hỏi. Nhưng trong thời gian trước khi có các nhà nước hiện đại, khi sự lãnh đạo chính trị được thực hiện bởi các lãnh tụ và các nhóm đối với các vùng lân cận tùy thuộc sự thay đổi của tính cách và quan hệ con người, thì ‘hòa bình’ không phải là thành tựu của sự thống nhất pháp luật mà là tập hợp các tình huống gần như luôn luôn bao hàm cả chiến tranh.


Một câu hỏi khác : liệu ‘xung đột’ có thể được tách thành một phạm trù riêng biệt thuộc về trải nghiệm con người và được đối xử như một đối tượng tri thức có những hình thức lịch sử riêng của nó? Với tôi, có vẻ như mọi sự tìm kiếm một hình thức kết cấu của xung đột đều không thể tách khỏi mọi khía cạnh khác của hành vi con người và vì thế phải thừa nhận những yếu tố hỗn độn và không theo quy luật về ‘nguyên nhân, hình thức và sự phát triển.’ Tôi không tin rằng các cuộc xung đột mà tôi đã trình bày trong tiểu luận này là tất yếu, không thể tránh được. Tôi không thấy có bất kỳ bằng chứng nào về sự cần thiết kinh tế, hằn thù sắc tộc, hay thậm chí logic địa lý khiến mọi cuộc chiến tranh này là không tránh được. Có vẻ trong nhân loại có điều gì đó có thiên hướng dẫn đến xung đột. Tôi đã cố gắng hình dung làm thế nào cách nghĩ dựa trên địa hình giúp soi sáng kiểu xung đột theo vùng, nhưng mục đích của tôi không phải nhằm nói rằng hành vi con người bị quy định bởi địa lý và con người nhất định phải giao tranh vì những cấu trúc địa hình, địa vật nhất định. Tôi đã khảo sát những thiên hướng, chứ không phải những sự bắt buộc. Cùng lắm, tôi đi tìm trong địa hình, địa vật để có các câu trả lời về việc các xung đột diễn ra như thế nào, chứ không để giải thích nguồn gốc của chúng. Nguồn gốc của xung đột nằm trong những con người cụ thể. Không có nhóm người nào về bẩm sinh lại ‘hiếu chiến’ hơn nhóm khác; thói quen gây chiến được thu nhận và từ bỏ trong những hoàn cảnh thời gian và nơi chốn nhất định.


Các chương chiến tranh chúng tôi đã xem xét trong tiểu luận này có thể được xem như là đã xảy ra do nỗ lực của những người nói tiếng Việt muốn vượt qua các hạn chế của địa hình và tư tưởng vùng và muốn hướng đến một nền hòa bình của toàn bộ người Việt. Không có nỗ lực nào thành công. Và điều này đưa chúng ta đến câu hỏi về một ‘lịch sử chung’ và sự ức đoán về việc các khu vực Việt Nam ‘thuộc về’ đâu, trong sự sắp xếp kiến thức hệ thống: ở Đông Á hay Đông Nam Á. Thật dễ dàng để cho rằng Đông Kinh có thể xem như một phần của Đông Á trong khi Nam Bộ được xem là một phần của Đông Nam Á. Nhưng điều này có ý nghĩa gì cho một ‘lịch sử chung’ của các dân tộc Việt? Và điều này có ý nghĩa gì cho Đông Á và Đông Nam Á với tư cách các phạm trù kiến thức học thuật ?

Ý tưởng về một ‘lịch sử chung’ là một điều được tưởng tượng và tranh luận, chứ không phải là một vấn đề hiển nhiên; nó không phải là một di sản rõ rệt mà đúng hơn, nó được nghĩ ra, dạy dỗ và học từ thế hệ này sang thế hệ khác: nó là một vấn đề truyền thụ. Một ‘lịch sử chung của người Việt’ là chuyện ý thức hệ và chính trị, không phải là học thuật. Ví dụ, sự khẳng định nhà Mạc là ‘quân nổi loạn’ là quan điểm của vùng Thanh Nghệ. Sự khẳng định Nguyễn Huệ Quang Trung đã thống nhất các dân tộc Việt là quan điểm của Bình Định và Thanh Nghệ. Sự khẳng định Nguyễn Ánh Gia Long đã thống nhất các dân tộc Việt là quan điểm của Nam Bộ và Thuận Quảng. Sự níu kéo của Đông Kinh đối với nhà Lê trong thế kỷ 18 và 19 là cách duy nhất để giành một tiếng nói trong nhiều âm thanh chính trị; cả khu vực Đông Kinh và triều Lê khi đó đều đã không còn quyền lực. Việc xây dựng một ‘lịch sử chung’ nằm trong địa hạt thần thoại.


Điều tối đa có thể nói là các dân tộc Việt mà chúng tôi đã thảo luận đều nói một ngôn ngữ mà tất cả đều hiểu, nhưng thậm chí ngay cả ở đây chúng ta vẫn phải chú ý rằng cái ‘ngôn ngữ chung’ đó là một lớp âm thanh, từ vựng và cú pháp tương đối hời hợt, mà ẩn bên dưới đó là những lớp sâu sắc hơn của những mô hình ngôn ngữ vùng. Chữ Nôm, hệ thống chữ viết được dùng trong mấy thế kỷ mà chúng tôi đã thảo luận, có tiếng là không có hệ thống và đầy rẫy những thay đổi và sự khó hiểu. Một chữ có thể chỉ nhiều từ khác nhau tùy thuộc vào thời điểm và nơi chữ đó được viết; và một từ có thể được viết theo nhiều chữ, cũng lại tùy thuộc vào thời điểm và nơi mà nó được viết. Đây là một hệ thống chữ viết có sự nhạy cảm cao đối với các cách phát âm vùng và đối với sự thay đổi ngữ âm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chữ Nôm là một tư liệu quý về những khác biệt trong ngôn ngữ vùng và về cách ngôn ngữ thay đổi theo thời gian. Tôi càng làm việc với chữ Nôm lâu, tôi lại càng hồ nghi những lý thuyết về ý nghĩa của một ‘ngôn ngữ chung’, một ‘lịch sử chung’, một ‘văn hóa chung’. Chữ Nôm là một phản đề mạnh mẽ chống lại việc thả vào quá khứ những viễn cảnh viết sử mang tính dân tộc chủ nghĩa vốn có nguồn gốc từ thời hiện đại. Và chắc chắn đó là một lý do vì sao chữ Nôm lại bị từ bỏ.


Liên quan vấn đề định nghĩa một ‘lịch sử chung’ của các dân tộc Việt là sự khó khăn của việc đạt sự đồng thuận về một vấn đề thường khô khan, tức là quy cho họ một vị trí trong tương quan với Trung Quốc và các dân tộc khác. Nếu quả thật có một ranh giới giữa Đông Á và Đông Nam Á, thì chắc chắn nó rơi vào giữa người Việt, và sự nhấn mạnh về tính chất vùng của Việt Nam mà tôi đã nhắc có lẽ có thể được nhận diện bởi chủ đề lớn hơn là tính chất vùng tại châu Á. Thiển ý riêng của tôi là nếu phải phân tích trong khuôn khổ Đông Á và Đông Nam Á, thì có lẽ tốt hơn là đặt người Việt vào khu vực Đông Á; nhưng tôi sẽ muốn tách người Việt ra khỏi Đông Á hoặc Đông Nam Á và xem họ như những nhóm người chia sẻ một vùng âm thanh và đứng giữa một ranh giới văn hóa lớn.


Nếu bị buộc phải phân một lằn ranh giữa Đông Á và Đông Nam Á, tôi sẽ vẽ đường ranh tại đèo Hải Vân, giữa Huế và Đà Nẵng, chính ở giữa vùng mà chúng tôi đã gọi là Thuận Quảng. Từ nơi này nhìn về nam, người ta có thể thấy một sự thay đổi rõ rệt nhất về khí hậu, tiếng nói và lối sống so với bất kì đâu trên bờ biển Việt Nam. Cũng có thể bảo rằng một đường ranh như vậy được đặt tại đèo Ngang hoặc sông Gianh hoặc tại Đồng Hới. Vùng đất từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân thực tế chính là vùng Nhật Nam, khu vực xa nhất mà nhà Hán hay bất kì triều đại Trung Hoa nào từng giành được về phía nam. Việc đặt ở nơi này một đường ranh giới giữa Đông Á và Đông Nam Á không phải dựa trên yếu tố chinh phục của người Hán; mà đúng hơn, tôi tin rằng khả năng chinh phục của người Hán về phía nam là yếu tố phụ thuộc khí hậu, địa hình và những tiên liệu về khả năng tổ chức xã hội.


Có vẻ lạ lùng là khi tôi thảo luận những khu vực Việt Nam, tôi nói về Thuận Quảng như một đơn vị đơn nhất nhưng khi tôi thảo luận về những khu vực châu Á rộng hơn, tôi lại vạch lằn ranh ở giữa Thuận Quảng. Tôi tin rằng sự bất thường này là thể hiện rằng sự phân tích của chúng ta càng dựa nhiều vào những mảnh vỡ của trải nghiệm con người, thì nó càng ít đáp ứng các phạm trù rộng lớn về lịch sử và văn hóa được hình dung ở mức toàn cầu hoặc mức toàn quốc. Sự chú ý đến chi tiết có lẽ là một hoạt động có tính lật đổ, phá vỡ.


Tác giả: Keith W. Taylor là Giáo sư khoa Nghiên cứu châu Á, Đại học Cornell.

© 30.5.2005 talawas
 
 
HẾT













[/align][1]Manguin, Les Nguyễn, Macau et le Portugal, trang 22-45, 73-81.
[2]Trong bản gốc, K.W.Taylor dịch sang tiếng Anh từ cuốn An Nam Hà Tiên Thập Vịnh (EFEO microfilm A.441, n661, 10-12-1955). Người dịch sử dụng phần Hán thi và bản dịch nghĩa tiếng Việt của Đông Hồ, trong cuốn Văn học Hà Tiên (Xuất bản Quình-Lâm, Sài Gòn, 1970).
[3]Nola Cooke, “The Composition of the Nineteenth-Century Political Elite of Pre-Colonial Nguyễn Vietnam”, Modern Asian Studies, 29, 4, (1995), trang 741-764.
[4]Nola Cooke, Colonial Political Myth and the Problem of the Other: French and Vietnamese in the Protectorate of Annam, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Úc, Tháng 12, 1991, chương Ba.
[5]David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, Berkeley, University of California Press, 1971, chương Ba.


[/align]* Bài này đã được dịch và đang trên tạp chí Xưa nay số 269 và 270 năm 2006
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
Thấy tự tử cần cù cóp pét mang bài vào đây mà hỏng ai thèm đọc, thấy cũng tội... nhưng phải nói có phần hơi bị nhàm chán... lại nhớ những loạt bài cóp pét thuở nào... chẹp... chẹp... thôi lại đi ra...
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»