📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Thuật Ngữ Phật Học

0 trả lời, 303 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-31 06:06:58DieuTam>
Niết-bàn: phiên âm chữ Pàli Nibbàna, nghiã gốc là ra khỏi rừng u tối, nghiã giáo lý là đã trừ diệt xong các phiền não, chứng được vô sanh (= chẳng còn phải tái sanh lại nữa). Tiếng Phạn là Nirvana. Có hai cõi Niết-bàn; khi còn sống gọi là Hữu dư Niết-bàn; đến khi lià đời thì vào cõi tịch diệt của Vô dư Niết-bàn.

Thử pháp: Thử = đó, kia; Pháp = pháp tu. Chữ Pháp có ba nghiã: (1) nghiã thường, pháp là pháp luật, luật lệ mà mọi người phải tuân theo; (2) nghiã thứ nhứt trong Phật học là những pháp tu, lời dạy để tu hành. Thí dụ: Chánh pháp, Đạo pháp. (3) Nghiã thứ hai trong Phật học là tất cả sự vật mà ta có thể đặt tên để gọi. Thí dụ như căn nhà, ngọn núi, con người, thú vật, đều được Phật học gọi là những pháp. Ở đây, hai chữ thử pháp, nghiã là, pháp đó, tức là cái pháp tu được nói đến.

Trong bài Kệ, chữ Thử pháp, pháp đó, nói đến Tứ Thánh pháp, tức là bốn Chơn lý Nhiệm mầu, là Tứ Diệu Đế.

Phục giải thoát: Phục = điều phục, bắt phải theo lịnh mình, tức là dẹp cho yên ổn. Giải thoát = cởi mở ra cho được tự do. Phục giải thoát là giai đoạn đầu của Giải thoát đạo, con đường đưa đến tự tại, tự mình làm chủ lấy mình, chẳng bị ràng buộc gì nữa. Phục, đây là điều phục các triền cái.

Triền cái: Triền = vây quấn xung quanh; cái = che úp lại. Triền cái, theo nghiã Phật học, là năm món che úp: (1) tham dục (= ham muốn), (2) sân khuể (= giận hờn), (3) giải đãi (= lười nhác), (4) trạo (hay điệu, vụt chạc, xao động) và hối (= hối tiếc), (5) nghi. Năm món nầy (thật ra có tới bảy món) làm chướng ngại cho việc tu đắc Sơ thiền (= thiền thứ nhứt).

Kết sử: còn gọi là kiết sử. Kết = tụ tập, kết hợp lại; Sử = sai khiến, sai sử. Kết sử là mười phiền não có khả năng sai khiến mình phải hành động hay nói năng theo hướng các phiền não đó; thí dụ kết sử giận sai khiến mình phải to tiếng, quát tháo, đánh đập, phá hủy. Có mười kết sử: (1) tham (2) sân (= giận), (3) si (= si mê), (4) mạn (= kiêu căng, phách lối), (5) nghi, (6) tà kiến (= ý nghĩ sái quấy), (7) giới cấm thủ (= các giới cấm và nghi thức cúng tế của ngoại đạo, đầy vẻ mê tín), (8) tật (= ganh ghét, đố kỵ), (9) khan (= keo kiệt) và (10) hữu kết (= tham muốn được sống mãi; hữu = cuộc sống hiện nay).

Dục giới: Chữ Giới nầy khác nghiã với chữ Giới là điều răn cấm. Giới trong chữ Dục giới, có nghiã là cõi, lãnh vực; Dục là ham muốn. Cõi dục giới là cõi chúng ta đang sống, còn nhiều ham muốn. Có ba cõi, hay là tam giới: dục giới, sắc giới (= cõi còn hình sắc, nhưng hình sắc tế nhị hơn ở cõi dục giới), và vô sắc giới (= cõi chẳng còn hình sắc, chỉ còn tư tưởng mà thôi)

Sắc giới: Cõi cao hơn cõi Dục giới, chẳng còn ham muốn, có hình sắc nhưng tế nhị hơn cõi Dục giới.

Vô sắc giới: Cõi cao nhứt trong ba cõi, chẳng có hình sắc, chỉ còn tư tưởng.

Hữu học và Vô học: Đây là nói về hai hạng người. Người hữu học là người còn nhiều điều phải học thêm; ý muốn nói chưa biết cách diệt trừ các phiền não. Còn người vô học, chẳng phải là người chẳng học gì ráo, vì đó là người thất học, chớ chẳng phải là người vô học. Vô học là học xong và thực hành đầy đủ việc diệt trừ các phiền não, nên chẳng điều gì phải học thêm nữa. Như thế, hữu học còn thấp hơn vô học.

Thanh tịnh:Thanh = trong, chẳng đục; Tịnh = sạch sẽ. Giới thanh tịnh là giữ gìn giới luật chặt chẽ chẳng sơ hở, chẳng hề phạm giới. Tâm thanh tịnh là lòng trong sạch, chẳng vướng bận ý nghĩ xấu ác, chẳng có vọng tưởng. Huệ thanh tịnh là trí sáng suốt chẳng bị các tà kiến che mờ, khiến cho Trí huệ Bát-nhã chiếu sáng lên, vẹt được sự vô minh (= sự ngu tối).

Trung Đạo: Trung = ở giữa. Đạo = con đường, đường lối. Trung Đạo là con đường tu tập mà Đức Phật đã vạch ra trong Bát Chánh Đạo, theo đó người tu hành tránh xa hai cực đoan: (1) tham lợi dưỡng, ham hưởng thú vui vật chất, và (2) khổ hạnh, tu hành ép xác cực khổ, tưởng rằng nhờ đó mà mau đắc quả. Hai cực đoan, lợi dưỡng và khổ hạnh, còn được gọi là nhị biên. [ Đừng lầm với Đạo Trung dung của Nho giáo].

Nhị biên: Nhị = hai; Biên = biên giới; Nhị biên thường được dịch là hai bên; còn ở giữa chính là con đường Trung Đạo, tránh được hai bên. Nhưng chữ nhị biên, hai bên còn có nghiã khác, chỉ cho hai tà kiến trái ngược hẳn nhau: thường kiến và đoạn kiến. Chống lại vô thường kiến (tư tưởng Phật học cho rằng muôn sự đều biến đổi để đi đến hoại vong), thường kiến là ý kiến tin rằng chẳng có sự thay đổi, hễ đã là người rồi thì chết đi, lại sanh ra làm người nữa. Còn đoạn kiến thì cho rằng chết đi là hết, chẳng có Luân hồi sanh tử chi cả. Cả hai tà kiến đoạn kiến và thường kiến khi tu theo đạo Tu-đà-huờn thì dẹp được hết, cùng với thân kiến (= chấp thân nầy là Ta).

Tăng thượng huệ: Tăng thượng = tăng là thêm lên; thượng là cao; Tăng thượng huệ là trí huệ cao hơn trí thông thường.

Tri kiến như thực: Tri kiến = các sự hiểu biết; Như thực = đúng như sự thật, đúng theo Chơn lý. Đồng nghiã với chánh kiến; trái nghiã với tà kiến.

Túc xứ: Túc = đầy đủ; xứ = nơi chốn. Túc xứ của Giới là nơi có đầy đủ điều kiện khiến cho Giới khởi lên. Ở đây, túc xứ của Giới là ba giai đoạn của điều thiện: sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Luận văn nói Túc xứ của Giới còn có nghiã là đóng cửa các căn lại, nghiã là khi nhìn, mắt biết hình sắc mà tâm chẳng chạy theo hình sắc, vì cửa mắt đóng chặt khiến hình sắc chẳng lọt vào trong để tâm có dịp chạy theo sắc. Vì tâm chẳng duyên theo sắc trần, nên gọi là biết giữ Giới.

Xúc giới, Vô xúc giới: Xúc = tiếp xúc với, va chạm đến; Giới = chữ Giới có nghiã tổng quát là phạm vi hay lãnh vực, hoặc vùng. Xúc giới là lãnh vực được tiếp xúc đến, tức là nơi mà mình có thể chạm đến, rờ mó hay cảm giác được. Còn Vô xúc giới là vùng mà ta chẳng tiếp xúc đến được.

Nhưng ở đây, trong đoạn văn nầy (đoạn nhóm ba loại: xúc giới, vô xúc giới và Phạm hạnh) thì chữ Giới lại có nghiã là các điều răn cấm. Cho nên ở đây, xúc giới là sự vi phạm vào giới luật; vô xúc giới là chẳng vi phạm giới.

Sa-môn: phiên âm tiếng Pàli là samana, có nghiã là tu sĩ ẩn cư. Phật học Từ điển Đoàn Trung Còn giải thích chữ Sa-môn bằng ba nghiã: (1) cần giả, người siêng làm điều thiện; (2) tức giả, người ngưng dứt hẳn mọi nghiệp ác; (3) phạp giả, người có hạnh nguyện chịu nghèo khó, thiếu thốn. Đức Phật Thích-ca thường được các tu sĩ ngoại đạo gọi là Sa-môn Cồ-đàm; Cồ-đàm (Pàli: Gotama) là họ của Đức Phật Thích-ca.

Tự tại: Tự = chính mình; tại = ngay tại đó. Chữ tự tại có nghiã là đang ở trong hoàn cảnh tự do, an nhiên, chẳng bị ràng buộc, thoải mái. Ở vài đoạn trong Luận văn, chữ tự tại lại được dùng như chữ thuần thục, thí dụ nói "tu Sơ thiền được tự tại rồi mới học sang Nhị thiền", tức là tu hành có thuần thục ở Sơ thiền rồi mới học đến Nhị thiền.

Đoàn thực: Đoàn = vo tròn thành viên; thực = ăn, thức ăn. Theo phong tục người Ấn khi ăn, lấy tay vo tròn thức ăn để vào miệng nhai; chữ đoàn thực chỉ các thức ăn vật chất dùng để nuôi thân.

Có Tứ thực, bốn loại "ăn": (1) đoàn thực, thức ăn vật chất; (2) xúc thực, "thức ăn" cho các cảm thọ, như sự vui mừng, sự nghe ca hát, v.v. (3) tư thực, "thức ăn" bằng sự suy nghĩ, khi nghĩ đến các tư tưởng cao đẹp, để nuôi tinh thần; (4) thức thực, "thức ăn" bằng sự hiểu biết, dùng sự hiểu biết các kiến thức để nuôi ý thức và trí huệ của mình.

Liễu nghiã và Bất liễu nghiã: Liễu = rốt ráo, đầy đủ, xong rồi. Đây là nói về Kinh, có Kinh bất liễu nghiã là Kinh mà nghiã còn chưa rốt ráo, còn Kinh liễu nghiã là Kinh mà nghiã đã rốt ráo. Thí dụ như các Kinh về Không và Hữu (= chẳng có và có) là Kinh bất liễu nghiã; còn các Kinh dạy về Trung Đạo là Kinh liễu nghiã, vì rốt ráo đã tránh xa được cả hai bên, bên Không và bên Hữu.

Thế gian định và xuất thế định: Thế = đời; ở đây có nghiã là thế gian. Xuất thế là vượt khỏi mọi ràng buộc ở thế gian. Xuất thế định là các tình trạng Định của bực Thánh đã dứt trừ xong ràng buộc của phiền não. Các Định khác còn lại đều là thế gian định.

Hữu lậu: Hữu = có; lậu = rỉ chảy. Hữu lậu là còn mang những phiền não trong tâm, đang rỉ chảy ra ngoài. Trái nghiã với hữu lậu là vô lậu = dứt hết phiền não, chẳng còn phiền não nào rỉ chảy ra nữa, tức là tu đến cấp A-la-hán.

Nhứt tâm: Nhứt = một. Giữ được nhứt tâm có nghiã là giữ tâm chuyên chú lâu vào một điểm; lại có nghiã là tâm chẳng suy nghĩ đến việc nào khác nữa, ngoài đối tượng đang được quán sát. Đây là thiền chi thứ năm; các thiền chi kia được kể theo thứ tự là: giác, quán, hỉ, lạc.

Dục định: Dục = ham muốn; ở đây chữ dục chỉ vào cõi dục giới (nơi chúng ta đang ở), vẫn còn nhiều ham muốn; dục định là tình trạng Định ở cõi dục giới, vẫn còn phiền não.

Sắc định = Định ở cõi sắc giới.

Vô sắc định = Định ở cõi vô sắc giới.

Vô sở thọ định = tình trạng định tâm dứt cảm thọ.

Định song biến: Song = hai, đôi; biến = biến đổi. Vì đây là Định của Phật, tôi chẳng biết được.

Đại bi: Đại = lớn; Bi = cứu khổ. Đại bi = sự cứu khổ rộng rãi giúp đỡ cho tất cả mọi loài chúng sanh.

Cửu thứ đệ định: Cửu = chín; thứ đệ = theo thứ lớp. Cửu thứ đệ định là chín cấp thiền định, mà cấp cao nhứt là Diệt thọ tưởng định, hành giả nhập vào Niết-bàn. Còn gọi là Diệt tận định.

Thiện tri thức: Thiện = lành, khéo; Tri thức = hiểu biết. Thiện tri thức, còn gọi là Thiện hữu tri thức là người, bực thầy hoặc bạn thân (hữu = bạn hữu, bằng hữu) có nhiều hiểu biết về Đạo, sẵn lòng chỉ dạy cho mình tu tập theo.

Nghiệp chủng: Nghiệp = tất cả hành động đã qua mang đến hậu quả cho ngày nay, hay về sau. Nghiệp thiện mang quả báo lành; nghiệp ác mang quả báo xấu dữ. Chủng = hột giống. Theo Duy thức học, mỗi hành vi gây nên nghiệp, kết thành hột giống, nằm trong thức A-lại-da (= thức thứ tám), chờ ngày phát sanh ra quả báo. Hiểu rõ về nghiệp chủng, ý muốn nói, hiểu biết rõ về Luật Nhân Quả, hễ gieo nhân nào thì sớm muộn chi cũng phải gặt quả của nhân đó.

Hiền Thánh: Theo giáo lý Bắc tông, ba đạo quả Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm tuy được vào dòng Thánh, nhưng chưa tận diệt hết các phiền não và chưa chứng đắc được vô sanh (= thoát vòng Luân hồi sanh tử), nên được sắp vào bực Hiền. Từ cấp A-la-hán trở lên, đã sạch phiền não và chứng vô sanh, mới gọi là bực Thánh.

Chấp trước, chấp tướng: Chấp = cầm giữ chặt chẳng chịu buông bỏ; Trước = kẹt dính vào nên bị ràng buộc. Tướng = hình tướng, hình dáng bề ngoài. Chấp trước là vì bám níu chặt quá cho nên mắc kẹt vào đó, buông bỏ ra chẳng được. Chấp tướng là quá chuộng về hình tướng hoặc nghi thức bên ngoài, chẳng nghĩ đến bản thể, hoặc nội dung bên trong.

Luận sư: Luận, ở đây là Luận tang, một trong ba tạng Kinh điển Phật giáo, gồm các bộ Luận do Đức Phật, các Bồ-tát và A-la-hán viết để giải thích rõ thêm về Kinh. Vị Luận sư là vị tăng thông đạt về Luận tạng và chỉ dạy lại cho Tỳ-kheo.

Quán tưởng: Quán = cũng đọc là Quan, có nghiã là xem xét thật kỹ lưỡng; Tưởng = tư tưởng. Quán tưởng là tình trạng của tâm đang chú ý, quan sát, suy tư về một đối tượng.

Nhứt thiết nhập: Nhứt thiết = tất cả; Nhập = vào. Tiếng Pàli là Kasina, có nghiã là toàn bộ, trọn phần, tất cả. Nhứt thiết nhập là dụng cụ, hay phương tiện dùng làm đối tượng để quán tưởng khiến cho tâm trí tập trung lại và nhập vào Định. Kasina còn được dịch là Biến xứ (biến = khắp tất cả). (Phẩm 8 về Hành môn sẽ giải thích rõ thêm và chỉ các cách tạo ra các nhứt thiết nhập, dựa theo đó mà thực tập quán tưởng).

Thức xứ: Thức = sự hiểu biết. Thức xứ là phạm vi, lãnh vực của Thức. Giáo lý Nam tông có sáu thức: nhãn thức (mắt), nhĩ thức (tai), tị thức (mũi), thiệt thức (lưỡi), thân thức và ý thức. Giáo lý Bắc tông thêm hai thức nữa: mạt-na thức (Pàli: mana, ý thức; còn gọi là truyền tống thức), và a-lại-da thức (Pàli: Àlaya, nhà, kho; còn gọi là tàng thức).

Vô sở hữu xứ: Vô = chẳng; Sở = chỗ; Hữu = có; Xứ = nơi. Vô sở hữu xứ nghiã đen là nơi chẳng có gì cả; nghiã về Thiền học là một cảnh giới cao hơn Không-xứ, nhưng còn thấp hơn cõi Phi tưởng phi phi tưởng. (Ph. 8 sẽ nói rõ các cõi nầy)

Phi tưởng phi phi tưởng xứ: Phi tưởng = chẳng phải là tư tưởng; Phi phi tưởng = chẳng phải chẳng phải là tư tưởng. Cõi phi tưởng phi phi tưởng là cảnh giới mà chúng sanh chỉ còn tư tưởng, rất tế nhị, gọi đó là tư tưởng cũng chẳng đúng, mà bảo là chẳng phải tư tưởng cũng sai.

Bản thể: Bản = Bổn = gốc, cốt lõi; Thể = hình dạng, thể chất. Một sự vật có hình tướng và bản thể. Hình tướng bên ngoài có thể thay đổi; còn bản thể là chỗ cốt lõi, chẳng thay đổi; do bản thể mà vật nầy khác hẳn vật kia, dầu hình tướng có giống nhau.

Định thắng: Định = tâm vào Định, tình trạng yên vắng tâm trụ lại; Thắng = hơn hết. Chữ Định thắng ở đây có nghiã là việc thực tập môn nầy sẽ đưa đến Định lực, vì ở môn nầy, Định lực chiếm điạ vị ưu thắng hơn là với Tưởng và Huệ.

Cảnh giới: Cảnh = hoàn cảnh; giới = vùng, nơi. Có ba cảnh giới, còn gọi là ba cõi: (1) cảnh dục giới, nơi chúng ta sanh sống còn nhiều dục vọng; (2) cảnh sắc giới, ở cõi Trời thấp, nơi mà sắc chất rất tế nhị, (3) cảnh vô sắc giới, ở cõi Trời cao, nơi mà hình sắc chẳng còn, chỉ còn tư tưởng và thức.

Niệm xứ: Niệm = một tư tưởng khởi lên trong tâm. Chữ Niệm xứ ở đây nói về bốn lãnh vực của pháp quán tưởng, gọi là Tứ niệm xứ: (1) quán Thân thì bất tịnh, (2) quán Thọ là khổ (thọ = cảm thọ), (3) quán Tâm là vô thường, và (4) quán Pháp là vô ngã (pháp = sự vật). Do đó, niệm xứ là bốn lãnh vực quán tưởng về: thân, thọ, tâm và pháp.

Pháp bảo: Pháp = ở đây là Chánh pháp, tất cả Tam tạng kinh điển của Đức Phật chỉ dạy; Bảo = qúi báu. Pháp bảo là một trong ba ngôi Tam bảo; hai ngôi kia là Phật bảo (= Đức Phật) và Tăng bảo (= chư Tăng ni).

Cam lộ: Cam = ngọt; Lộ = sương ban mai. Thường đọc là cam lồ, có nghiã là những chất ngọt ngào, rất đáng qúi. Theo nghiã trong Luận văn nầy, chữ Cam lộ ám chỉ đến hương vị ngọt ngào được hưởng, khi đến ngưỡng cửa của Niết-bàn.

Bổn sư: Bổn = gốc; Sư = thầy. Thầy bổn sư là vị thầy truyền giới và chỉ dạy giáo lý ban đầu cho mình. Chữ Bổn sư còn chỉ đến Đức Phật Thích-ca, vì các Phật tử tự xem mình như là học trò của chính Đức Phật, khi niệm: Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Kiết-già = kết-già: đủ chữ kết-già phu tọa = thế ngồi hoa sen khi toạ thiền, rất vững chắc và cũng khá đau chơn. Ngồi xếp bằng, hai chơn tréo nhau, bàn chơn trái gát lên đùi phải, và bàn chơn mặt gát lên đùi trái. Thế ngồi bán già dễ hơn, chơn trái dưới đùi phải, bàn chơn mặt gát lên đùi trái; hoặc ngược lại, bàn chơn trái ở trên đùi mặt và chơn mặt dưới đùi trái. Cần nhứt là ngồi được vững và lâu, vì hễ thân có yên thì tâm mới an.

Tự tại: Tự = chính mình, của riêng mình; Tại = hiện tại, tại đây và vào lúc nầy. Ráp hai chữ lại, Tự tại có nghiã là mình hiện có đây, chẳng bị chi ràng buộc; gần nghiã với chữ tự do ở ngoài đời. Nhưng trong bộ Luận thường dùng chữ tự tại cùng một nghiã với chữ thuần thục, tức là mình muốn tướng bỉ phần khởi lên trong tâm, thì hình ảnh của tướng ấy liền khởi lên thành một tâm ảnh trong tâm mình, chẳng có chi trở ngại.

Ngũ căn gồm có tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn.

Lục căn gồm có nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tị căn (mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân) và ý căn.

Bồ-đề phần: Bồ-đề = phiên âm chữ Pàli Bodhi, có nghiã là giác ngộ, thấy được Chơn lý. Phần = các phần, ở đây là các yếu tố của sự giác ngộ. Có bảy yếu tố của sự giác ngộ, gọi là thất giác chi (bảy nhánh của sự giác ngộ): (1) niệm, (2) trạch pháp, (3) tinh tấn, (4) hỉ, (5) khinh an, (6) định, (7) xả. Như thế, hỉ là yếu tố thứ tư của Thất giác chi (= Thất Bồ-đề phần).

Hành ấm: Hành = hành động, chuyển hành, vận hành, chuyển động (đây là nói sự biến chuyển của Tâm); Ấm = Uẩn = nhóm, tụ họp và che mờ. Hành ấm là tất cả các tri giác, tư tưởng và hành động của Tâm. Trong câu "Hỉ thuộc hành ấm, Lạc thuộc Thọ ấm", tác giả muốn phân biệt Hỉ là một ý tưởng, nên thuộc hành ấm, còn Lạc lại là một tình cảm nên thuộc về thọ ấm.

Thọ ấm: Thọ = cảm thọ, nhận chịu lấy. Thọ ấm là tất cả những tình cảm, những cảm giác, nhân vì có đối tượng ở trước mặt nên sanh ra tình cảm, hoặc nhận lấy cảm giác gây ra bởi đối tượng. Xin xem thêm chữ Hành ấm ở trên, để phân biệt giữa Hỉ (thuộc hành ấm) và Lạc (thuộc thọ ấm).



Thiện Nhựt
CÓ - KHÔNG chủ quản cuộc đời
Truy tầm chỗ CÓ , bỏ rơi KHÔNG tìm
Đường Về Cõi Tịnh  im lìm
CÓ KHÔNG nặng nhẹ nổi chìm khổ đau
 
http://diendan.vnthuquan....;m=375011&mpage=24
Đăng nhập để trả lời
0