Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

CHUYỆN MA _ KINH DỊ

17 trả lời, 6.070 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-16 01:08:18Ct.Ly>
 

                     Bãi đất hoang sau nhà
 

Lần đầu tiên Vân tận mắt chứng kiến một người chết cách đây hơn một năm lúc còn ở Việt Nam. Chứng kiến một người chết, có nghĩa là nhìn người ấy đang từ cõi sống đột ngột bước sang thế giới bên kia. Đó là ông Thọ ở cách nhà Vân ba căn trên cùng con hẻm nhỏ thuộc phường 10 quận Tân Bình.

Chẳng phải vì là hàng xóm mà Vân quen ông , láng giềng thật xa mỗi người có một cuộc sống nên cũng ít khi gặp nhau huống chi ông lại hơn Vân quá nhiều tuổi. Nếu xưng hô cho đúng thì Vân phải gọi ông bằng chú. Nhưng sỡ dĩ Vân thân với ông chỉ vì ông là tài xế xe bus trên lộ trình từ nhà Vân đến sở làm. Dù muốn dù không , ngày nào Vân cũng phải gặp ít nhất một lần vào buổi sáng.
Có một dạo xe bus là phương tiện chuyên chở công cộng rất đắt khách , chuyến nào cũng chật ních. Nhưng khi VN chuyển sang kinh tế thị trường thì dân Sài Gòn nườm nượpmua xe gắn máy. Lại thêm xe ôm phát triển , xe bus dần dà trở nên ế ẩm vì đi lại chậm chạp trên đường phố đông đúc mà ít ai tôn trọng luật lưu thông.
Chỉ có những hành khách không có phương tiện khác như Vân mới bất đắc dĩ phải bám với xe bus mà thôi. Xe vắng khách , nên mỗi khi thấy Vân bước lên , ông Thọ thường vui vẻ hỏi chuyện vu vơ mặc dù trên nguyên tắc , ông không được nói chuyện khi lái xe. Vân cũng hân hoan đáp lại , chọn cái ghế trống gần ông để đàm đạo cho quên đoạn đường tới sở. Đại khái thì toàn những câu xã giao thủ tục thôi , lâu lâu nếu trong con hẻm nhà Vân có chuyện gì bất thường xảy ra thì hai người mới có đề tài mới để bình luận.
ông Thọ không có vợ con , sống nhờ nhà người anh ruột , nhập chung hộ khẩu và coi gia đình người anh như gia đình mình. ở tuổi bốn mươi lăm, mặt ông khắc khổ ưu tư , nước da đen sạm và mái tóc phía trước hơi dài lúc nào cũng rũ xuống trán làm Vân thấy rất ngứa mắt .
ông ít cười , dù nụ cười rất tươi. Hàm răng đều như hạt bắp , phải cái tội là lúc nào cũng úa vàng vì khói thuốc. ông ghiền thuốc lá nặng ,trong túi lúc nào cũng có gói Mai , loại thuốc đen nội hóa ít người hút. Mỗi khi đường kẹt xe, ông thường chạy xuống rít một điếu hoặc có khi chỉ vài hơi rồi lại leo lên lái tiếp. Dân Sài Gòn hút thuốc nhiều , nên chẳng ai thấy ngứa mắt và cũng không thấy khó chịu vì khói thuốc.
Một buổi sáng trên đường đi làm như thường lệ , Vân ngồi ngay chiếc ghế sau lưng ông , đang kể câu chuyện bắt ghen trong xóm, và xe đang chạy ngon trớn, thì Vân bổng giật mình thấy xe bus tự dưng rẻ nghiêng sang bên phải, rồi leo hẳn lên lề , húc mạnh vào một gốc cây rồi dừng lại . Xe vẩn nổ máy, nhưng ông Thọ gục xuống trên tay lái làm còi xe cứ inh ỏi réo liên tục. Cũng may , gặp khúc lề đường rộng lại có cây lớn chặn lối nên xe không cán phải người bộ hành hoặc đâm vào nhà người ta.
Hành khách nhốn nháo đứng ngồi cả lên , Vân lay vai ông Thọ và hốt hoảng hỏi :
− Ý thôi chết , lạc tay lái hả ông Thọ ? Tỉnh dậy ông Thọ !
Nhưng lay mãi mà ông không trả lời , hành khách xôn xao đưa mắt nhìn nhau rồi bỏ xuống tìm phương tiện chuyên chở khác vì sợ trể giờ làm việc . Vài người hiếu kỳ phần lớn là khách quen ngày ngày vẩn đi cùng chuyến này xúm lại cùng với Vân lôi đầu ông Thọ ngồi thẳng lên , lập tức tiếng còi xe ngưng bặt. ông Thọ ngẻo đầu sang một bên , mặt xám ngắt , miệng hơi há ra và đôi mắt lạc thần vẫn mở trừng trừng nhưng rõ ràng là mất hết sinh khí .
ông đứng tim chết mà người ta xét theo lối dân gian là ông bị trúng gió , và không ai tin là ông đã chết thật bởi nó xảy ra quá đột ngột. Vân lo lắng nhìn quanh và hỏi :
− Ơ...Có ai có dầu nhị thiên đường không ?...Dầu gì cũng được...Cho tôi mượn.
Đám đông xung quanh mỗi người một câu :
− Trời...trời , ông bà nào chịu khó chạy lên ngả tư thấy ông công an, kêu dùm một cái
Người khác bảo :
− Kêu xe cứu thương chứ chờ công an đến kiếp nào...
Người ta giật tóc mai, lắc mạnh hai vai ông , hoặc ấn mạnh vào ngực ông , hy vọng có thể giúp ông hồi tỉnh trong lúc chờ vào nhà thương. Nhưng tất cả đều vô ích , có người thất vọng than :
− Thôi ! Chắc chết rồi , chết thiệt rồi . Trăm phần trăm là trúng gió rồi. Trời đất ơi ! Lúc này gió nó độc lắm nghen.
Cùng với nhận xét ấy , người ta tản mác xuống xe , lảng ra xa , tránh những phiền toái lát nữa khi nhân viên công lực đến thẩm vấn. Nhưng Vân không bỏ đi được , không nở bỏ ông hàng xóm , bởi nàng vẫn bám víu ý nghĩ là ông chưa chết hẳn, chỉ bất tỉnh nhân sự mà thôi.
Nàng xuống xe, mặt nhợt nhạt ngó quanh , rồi vẫy chiếc xích lô máy rồi nhờ người tài xế lên đỡ ông Thọ xuống và chở vào bịnh viện. Nàng bảo :
− Nhanh nhanh thì may ra cứu kịp nhé ! Chắc ông ấy chỉ bị nghẹt thở thôi , chưa có chết hẳn đâu.
Rồi nàng móc bóp lấy tiền trả ông xích lô , nhưng ông xích lô ngơ ngác nhìn Vân và hỏi :
− Bộ cô không đi với ông ấy sao ? Đâu có được , cô không có đi chung thì tôi không có chở ông ấy đâu ! Giỡn hoài , bộ tôi ngu sao ?
Vân khẩn khoản :
− Ông ơi , tội nghiệp người ta bị ngất xỉu ,ông làm ơn đưa vào nhà thương dùm. Tại tôi....tôi còn phải đi làm.
ông xích lô trợn mắt đáp :
− Ngất xỉu đâu mà ngất xỉu ? Chết ngắt rồi , tôi đưa vào bệnh viện , người ta hỏi lôi thôi lắm cô ơi. Phải có người nhà mới biết đường mà trả lời chứ !
Vân nhìn ông Thọ một lần nữa , quả thật ông chết rồi. cái xác không hồn , nằm rũ trên xích lô , đầu nghiêng sang một bên. Mắt vẫn trợn trừng , và mồm vẫn há ra. Nàng bảo ông xích lô :
− Nhưng mà tôi cũng đâu phải là người nhà !
ông xích lô vừa kinh ngạc , vừa bực bội , giậm chân lắc đầu lia lịa , ông toan chửi thề , nhưng nhớ rằng trước mặt phụ nữ , nên gắt lên :
− Cô không phải là người nhà của ông ấy thì mắc mớ gì cô đòi đưa ông ấy vào nhà thương ? Con người sao khờ quá ! Rồi công an hỏi cung về cái chết của ông ấy , rồi cô trả lời làm sao ?
Vân cũng vừa chợt nhận ra mình tự mang cái ách giữa đàng vào cổ , nhưng một phần vì là người quen , một phần thì bây giờ cũng đã lỡ rồi làm sao rút lui được ? Nàng cứ tưởng ông chỉ ngất xỉu nên mới động lòng tìm cách cứu chữa gọi xích lô đưa vào bịnh viện. Không ngờ ông đã về bên kia thế giới.
Từ lúc nghe ông xích lô xác quyết là ông Thọ đã chết, tự dưng chính Vân cũng thấy rờn rợn và không dám nhìn mặt ông nữa. Nhưng bây giờ biết làm sao , khách bộ hành đi ngang hiếu kỳ bu lại mỗi lúc một đông hơn vì ông xích lô khua chân, múa tay nói quá lớn , ông chán nản bảo Vân :
− Cà chớn ! mới sáng sớm đã gặp xui. Bây giờ cô phụ tôi khiêng ổng lên , bỏ lại trên xe bus đi rồi ai muốn làm gì thì làm. Tôi không có dính vào vụ này.
Dứt lời , ông xách nách xác chết và bảo Vân đỡ hai chân ông Thọ. Vân ngần ngại đứng yên , ông xích lô phải nạt lớn nàng mới chịu bắt tay vào khệ nệ khiêng cái xác không hồn lên xe bus, đặt vào sau tay lái. Rồi ông xích lô lao phắt xuống đường lên xe phóng vội đi miệng còn lào nhào chửi Vân là đồ ngu.
Vân xuống xe đứng phân vân bên lề đường không biết nên bỏ đi hay chờ cảnh sát tới để tường trình. Đám đông bu quanh mỗi người hỏi một câu , Vân lơ đãng trả lời rồi quyết định đón honda ôm về báo tin cho gia đình ông Thọ biết và vào nhà thương làm thủ tục nhận xác của ông chôn.
Định mệnh xắp đặt khiến ông chết đột ngột và tình cờ Vân lại là người đầu tiên chứng kiến cái chết bất ngờ của ông giữa lúc ông đang nói chuyện với nàng. Cách đây hơn một tháng Vân có khoe với ông là nàng đang chờ sang Canada định cư do người anh bảo lảnh. ông Thọ chớp mắt bảo :
− Mừng cho cô
Nhưng rõ ràng , giọng ông có một chút buồn tủi cho thân phận mình , ước mơ xuất ngoại mà không có con đường nào. ông bảo Vân:
− Tôi cũng có nghe nói cô sắp ra nước ngoài , người ta bảo vì vậy cô nhất định chưa chịu lấy chồng.
Vân cười rồi nói lại :
− Trước khi tôi đi thì thế nào gia đình tôi cũng làm tiệc giã từ bà con lối xóm mà. Mời ông sang cho vui với gia đình tôi nhé !
− Vâng, quý hóa quá ! Cô nghĩ đến tôi là tôi mừng rồi. Tôi thì phải qua tiễn chân cô chứ !
Câu chuyện tưởng như mới hôm qua , Vân chưa lên đường , chưa kịp làm tiệc mời ông Thọ thì ông đã về bên kia thế giới, Vân chạy về nhà báo tin, rồi cùng người anh ông Thọ lãnh ông từ nhà xác về , mua đất chôn ở nghĩa trang Tân Việt, gần Bà Quẹo.
Vân có mặt từ đầu đến cuối , từ lúc tẩm liệm cho tới khi hạ huyệt. Đám tang ông Thọ thưa thớt lại gặp ngày mưa to gió lớn , nghĩa trang ở vào khu đất trũng , nước ngập mênh mông. Quan tài thả xuống huyệt cứ nổi lềnh bềnh khiến người ta phải dùng gậy dí hai đầu xuống để lấp đất. Mà lấp bao nhiêu đất ,đất biến ngay thành bùn theo nước trôi đi, người nhà vất vả lắm , ông Thọ mới chịu an lòng.
******
Gần một năm sau, Vân lên đường sang Canada , tạm thời ở chung với gia đình người anh đã bảo lảnh , tên là Hiếu , có vợ ba con tại Toronto. Hiếu mới mua nhà trước khi Vân qua , căn nhà mới , ở vùng ngoại ô phía bắc toronto , nằm trong khu vực vừa khai phá , giá tương đối rẻ và đất xung quanh còn rất khoảng cách. Phía sau nhà Hiếu cách một bải trống mọc đầy cỏ hoang rồi mới tới bìa rừng. Bải đất trống ấy cũng nằm trong kế hoạch xây cất tư gia hoặc chung cư , nhưng vì tạm thời kinh tế xuống , ngành địa ốc suy thoái nên người ta khựng lại bỏ không.
Gia đình Hiếu có năm người , nhưng hai đứa con đầu vừa lên đại học và đi ở xa , ở nội trú luôn trong trường. nên nhà chỉ còn hai vợ chồng với cô con gái út mười bốn tuổi. Vợ chồng Hiếu chiếm ngụ cái phòng ngủ chính trên lầu , đứa con gái cũng có buồng ngủ riêng bên cạnh. Dưới nhà bên cạnh buồng tắm , có một phòng nhỏ dành cho Vân, sát bức tường phía sau , có cửa sổ trông ra bải đất trống quạnh hiu.
Ngày ngày nhìn cảnh tượng hoang vu vắng lặng sau nhà , Vân còn đang nhớ Sài Gòn da diết thì bà chị dâu đã xa gần giục chồng kiếm việc cho Vân. Thật ra thì chẳng cẩn phải chị phải giục , chính Hiếu cũng đang để ý tìm việc cho Vân để nàng có thêm tiền chi dụng , và nhất là để vợ Hiếu khỏi cằn nhằn. Hai vợ chồng Hiếu cùng đi làm cả, cho nên vợ Hiếu rất ngứa mắt khi thấy Vân qua đây mà cứ ngồi im trong nhà.
Ba tháng sau thì Hiếu tìm được việc cho em gái ở một tiệm cà phê Dolnad mở 24 tiếng một ngày , tiệm nằm ở khu vực downtown , nghĩa là trung tâm của thành phố Toronto. Họ cho Vân làm ca đêm , bắt đầu từ 11 giờ đến 7 giờ sáng. Hiếu an ủi em :
− Thôi ! Cứ chịu khó làm tạm đi, rồi một thời gian sau sẽ đổi sang ca ban ngày. Họ có hứa với tao như vậy. Ca đêm thì buồn ngủ, nhưng mà bù lại thì ít khách hơn ban ngày.
Vân vui vẻ đáp :
− Em có ngại gì đâu , ngồi nhà chán chết.
Hiếu tỉ mỉ dặn dò Vân những kinh nghiệm làm việc nơi xứ lạ để em khỏi bở ngở , rồi Hiếu chỉ dẩn cho Vân cách đón xe đi làm.
Vì là khu tân lập ngoại ô nên trước cửa nhà Hiếu tuy đường xá mới mẻ nhưng chưa có xe bus , Vân sẽ phải đi bộ một khoảng khá xa để ra con lộ chính lấy xe bus đưa nàng tới trạm Metro. Rồi khi từ trạm Metro trồi lên, nàng sẽ lại phải đón thêm một chuyến bus nữa mới đến downtown, chỗ nàng làm việc. Hiếu dự trù vài tháng nữa, sẽ bắt Vân đi học lái xe , sắm chiếc xe hơi cũ, cho em gái đỡ vất vả.
Hiếu lấy thêm chìa khóa nhà trao cho em rồi cẩn thận bắt em ghi số phone nhà, số phone tiệm Dolnad và số phone chỗ Hiếu làm việc , cất kỹ vào bóp để lúc cần thì liên lạc, nhất là lúc chẳng may Vân bị lạc đường. Hiếu bảo :
− Mày đi làm ca đêm cũng khoẻ , sáng khỏi phải dậy sớm , ban ngày tha hồ mà ngủ. Đường sá không kẹt xe, bus rộng rãi, khỏi phải đứng mỏi chân.
Vân biết ông anh vì tội nghiệp mình nên cứ phải tìm cách an ủi , nàng che dấu nét xúc động và bảo :
− Anh khỏi phải lo, việc lgì em làm cũng được mà , ở Vn em quen vất vả. Với lại đi làm học tiếng anh còn nhanh hơn học trong sách nữa.
Sáng hôm sau, Vân dậy sớm hơn thường lệ dù mãi đến tối mới phải đi làm. Ngày đầu nhận việc, nàng hồi hộp không ngủ yên giấc , nàng lục đục một lúc rồi vợ chồng Hiếu mới từ trên lầu bước xuống. Bà chị dâu hôm nay nhìn Vân âu yếm hơn vì nàng đã có việc, không ngồi chơi, ăn bám như ba tháng vừa qua. Việc của Vân tuy lương chẳng có bao nhiêu, nhưng chính Vân cũng mừng thầm trong bụng bởi từ nay khỏi phải nhìn nét mặt hầm hầm đi ra đi vào lườm nguýt của chị dâu.
Hai vợ chồng Hiếu chuẩn bị đi làm sớm, đứa con gái đáng lẽ chưa cần đi gấp, nhưng tiện xe của bố mẹ , nên cũng ké luôn tới trường , khỏi phải cuốc bộ . Nhà chỉ còn mình Vân ngồi ăn sáng, nàng dự định sẽ ngủ thêm một giấc nữa rồi dậy nấu cơm cho cả nhà ăn chiều. Riêng Hiếu thì cứ nằng nặc bảo Vân phải ngủ một giấc dài , phải đến gần giờ đi làm hẳng thức.Vân gật đầu đồng ý, nhưng lúc cả nhà đi rồi , nàng chỉ ngồi coi tivi hoặc thơ thẩn ra trước nhà rồi lại vô làm bếp , muốn ngủ, cũng không ngủ được.
Buổi tối hôm ấy cơm nước xong, cả nhà ngồi coi tivi một lúc, rồi Vân chuẩn bị đi làm. Muốn chắc ăn , nàng ra khỏi nhà lúc 9 giờ rưỡi mới không sợ trễ giờ. Trời cuối tháng 11 bắt đầu se lạnh và mau tối. Mới khoảng 5 giờ chiều là đã thấy âm u xám ngắt , có năm Toronto giờ này tuyết đã trắng xóa. Năm nay trời khô, nhưng gió buốt , nhất là quanh nhà Hiếu còn quá nhiều bải đất trống.
Vân mặc quần jean, hai ba lớp áo trong áo ngoài, cổ quấn khăn , chân đi giày bata, tay cầm cái túi đựng thức ăn và dăm ba đồ lặt vặt. Nàng lầm lũi lội bộ qua mấy khúc đường vắng tanh tăm tối rồi mới đến con lộ chính. Đúng như Hiếu nói , giờ này người và xe đã vơi hẳn nên ở trạm bus chỉ có một hành khách đang đợi, đó là một bà người Canada, ngồi trên ghế băng trong nhà lồng kiếng, sốt ruột nhìn về hướng xe bus tới.
Vân cũng bước hẳn vào trong nhà kiếng để tránh gió , nàng gật đầu chào bà cụ, rồi ngồi xuống bên cạnh và cùng quay mặt về hướng xe sẽ đến. Khoảng hơn 5 phút thì nàng vui mừng thấy xe bus hiện ra xa xa mờ mờ với ánh đèn đường. Nàng vội đứng dậy, bước hẳn ra ngoài, bà cụ cũng bước theo Vân, co ro đứng sát lề. Vân ngước nhìn con số khá lớn ghi trên đầu xe và hài lòng gật đầu vì đúng số xe mà Hiếu đã dặn. Mới đi xe bus lần đầu, nàng rất sợ lầm lộ trình rồi không biết cách nào mà quay về. Chiếc xe bus nặng nề lăn bánh tới và tách vào lề, Vân đứng trước , một tay xách túi đồ ăn, một tay cầm sẳn hai đồng bạc cắt. Bà cụ đứng sau lẩm bẩm nói một mình thứ tiếng Anh pha giọng ý rất khó nghe. Xe bus vừa mở cửa , Vân hăm hở bước lên bổng nàng giật mình sửng sốt kêu lên , đứng khựng lại và run rẩy muốn té quỵ xuống đất bởi vì người tài xế xe bus chính là....ông Thọ ngay trước mặt nàng. Giờ này ông lại ngồi sau tay lái bên Canada , quay đầu nhìn Vân cười rạng rỡ. Cái khác duy nhất giữa ông Thọ lúc trước và ông Thọ lúc này chỉ là da mặt ông không đen xạm như xưa mà trắng bệch có pha chút xanh xao, y như bôi một lớp sáp trên mặt , hàm răng ông cũng không còn vàng ám khói như nghệ mà trái lại trắng nhợt như nước sơn khiến nụ cười trông thật ma quái.
Nhất định là ông Thọ , không thể lầm được. Vân tái mặt đánh rớt cái túi thức ăn xuống đất , lạng quạng bước lùi lại mấy bước rồi kinh hồn quay đầu chạy , bà cụ người Canada đứng sau Vân đưa hai tay đỡ lấy vai Vân và hỏi bằng tiếng Anh :
− Cái gì thế , cô làm sao vậy ?
Vân không hiểu gì, run rẩy chỉ ông tài xế và ấp úng mãi mới nói đại được một câu nữa tiếng Anh, nữa tiếng Việt :
− Ông ấy...ông ấy...chết..rồi...he died...ông tài xế là người chết lâu rồi..
Rồi nàng quay lưng cắm cổ chạy, bà cụ vừa leo lên, vừa ngạc nhiên nhìn theo Vân lẩm bẩm vài tiếng không ai nghe rõ.
Chạy được một khoảng khá xa, vào hẳng trước dãy phố , Vân mới dừng lại thở , nàng quay đầu nhìn lại trạm xe, thì chiếc bus đã mất hút không thấy dấu vết gì nữa. Chỉ còn trơ lại cái nhà kiếng với ngọn đèn đường vàng úa. Dãy phố chỗ Vân đứng , nhiều cửa tiệm đã đóng im lìm ngoại trừ những quán cà phê, nhà hàng ăn, và tiệm tập hóa. Vân mệt quá ngồi đại xuống bậc thềm bên cạnh tiệm bánh ngọt đang chuẩn bị đóng cửa. Hơi thở nàng vẫn còn dồn dập , nàng nhớ lại nguyên vẹn khuôn mặt trắng xanh và hàm răng trắng ngời của ông Thọ lúc thấy nàng vừa bước lên xe , làm toàn thân nàng lạnh buốt như cơn bảo bất ngờ thổi buốt thấu xương.
Nàng không thể lầm được, ông Thọ đã chết , chính nàng đã đi đám tang và chôn ông ở nghĩa trang Tân Việt, Bà Quẹo. Sao giờ này lại lái xe bus bên Canada ? Vân phân vân suy nghĩ, đầu óc hoang mang, khuôn mặt đờ đẫn , quên cả cảnh vật xung quanh, đến nổi chủ tiệm bánh ngọt bên cạnh phải giục nàng đứng dậy để họ đổ rác vì nàng đang ngồi ngay bên cạnh thùng rác.


Sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
            Bài hát chết người
 
 
 
Có thể nào một bài hát làm cho người nghe nó phải chết không? Nghe có vẻ phi lý, nhưng đó là sự thật đối với một bài hát mang tên Gloomy Sunday.

"Gloomy Sunday" là tên của một bài hát kể về 1 tình yêu đã mất. Thật đúng như tựa đề của nó, bài hát được viết vào một ngày Chúa Nhật thật ảm đạm của tháng 12 năm 1932 bởi 1 nhà soạn nhạc tên là Reszo Seress.

Reszo thường nằm nguyên ngày trong căn phòng của mình ở thủ đô Paris. Người phụ nữ anh yêu vừa cự tuyệt tình yêu cao thượng của anh. Reszo luôn luôn tôn thờ tình yêu của mình, nên vì vậy anh đã phải đau khổ thật nhiều khi tình yêu của anh bị từ chối. Trong nỗi thất vọng, anh đã sáng tác ra bài hát sầu thảm nhất trong đời. Khi bài nhạc được hoàn thành, Reszo cảm thấy nhẹ nhàng hơn đôi chút trong lòng. Tuy nó không bù vào nỗi mất mát tình yêu to lớn kia, nhưng bài hát của anh ta thật hay - đủ hay để được đưa vào dĩa nhạc thời bấy giờ.

Khi Reszo cố gắng bán "Gloomy Sunday", thoạt đầu anh đã gặp nhiều khó khăn khi tìm người tiêu thụ. Các nhà sản xuất dĩa nhạc cho rằng bài hát nghe rất lạ và quá buồn thảm để trở thành 1 dĩa nhạc có giá trị.

Một nhà sản xuất đã viết rằng: " Có cả một mối tuyệt vọng bị cưỡng ép thật kinh khủng trong bài hát ấy. Tôi không nghĩ rằng nó sẽ đem lại điều gì hay ho cho người nào nghe bài hát ấy."

Nhưng không vì thế mà Reszo ngừng cố gắng để tìm mối tiêu thụ. Cuối cùng, anh ta đã tìm được một nhà sản xuất chịu phát hành nhạc của anh. Khi bài hát được tung ra thị trường cũng là lúc nhiều sự việc lạ lùng bắt đầu xảy ra.

Một người đàn ông đang ngồi trong 1 quán café đông đúc tại Budapest đòi ban nhạc chơi bản "Gloomy Sundaỵ" Người đàn ông ngồi tại bàn ông ta vừa nhấp rượu champagne vừa lắng nghe bài nhạc. Khi bản nhạc chấm dứt, người đàn ông trả tiền, rời khỏi quán, và vẫy 1 chiếc xe taxi. Vừa ngồi vào trong xe, ông ta liền lôi ra 1 khẩu súng và tự kết liễu đời mình.

Vài ngày sau đó, một cô gái bán hàng thật trẻ đã tự treo cổ tại Berlin. Nằm phía dưới chân của cô gái là tờ nhạc của bài "Gloomy Sunday".

Một cô thư ký xinh đẹp tại New York tự tử trong căn apartment bằng hơi ga đã để lại một mẩu giấy nhỏ xin yêu cầu bản nhạc "Gloomy Sunday" được chơi vào buổi lễ an táng cô.

Khắp thế giới, có nhiều bài tường trình về những cái chết liên quan đến bài hát ấỵ Ca sĩ chết trong lúc hát. Người ta chết trong lúc nghe.

Cuối cùng thì công ty truyền thông Anh Quốc phải cấm hẳn bài "Gloomy Sunday" vào những buổi phát thanh thường lệ trên làn sóng. Công ty này không thể làm ngơ trước những lời phiền hà đến từ bài hát ấy.

Nhiều hệ thống viễn thông Hoa Kỳ cũng nhanh chóng làm giống vậỵ Mười lăm quốc gia khác đã đâm đơn kiện bài hát. Các luật sư quanh thế giới đã tranh luận
rằng người soạn nhạc của bài hát có nên chịu trách nhiệm cho hàng loạt cái chết là hậu quả của sự sáng tạo của anh ta hay không. Nhưng khi các đài radio cố gắng hủy bỏ bài hát thì nó càng trở nên phổ biến hơn. Người ta còn cản thấy hào hứng hơn khi nghe bài hát "tự tử" này (suicide song).

Bài hát dường như ảnh hưởng mọi người không phân biệt gì đến tuổi tác hay tầng lớp. Một người đàn ông 80 tuổi tự hủy diệt đời mình bằng cách nhảy từ cánh cửa sổ lầu bảy xuống trong khi bài nhạc đang hát. Một cô gái 14 tuổi chết đuối khi trong tay còn cầm một bản copy của bài "Gloomy Sunday".

Một nạn nhân trẻ tuổi khác, một cậu bé sai vặt người Ý, đang đi ngang một người ăn xin trên lề đường đang hát bản nhạc "Gloomy Sunday" đột nhiên dừng lại, để chiếc xe đạp của cậu sang một bên, tiến dần đến chỗ người ăn xin và cho ông ta hết số tiền mà cậu đang có. Sau đó chẳng một lời nào, cậu bé đi đến một cây cầu gần đấy và tự nhảy xuống tìm lấy cái chết.

Báo chí lượm lặt hết tất cả những câu chuyện và gửi phóng viên đến phỏng vấn Reszo và hỏi anh ta nghĩ gì về điều ấỵ Nhưng Reszo cũng bàng hoàng như bao người khác. Anh ta cũng chẳng hiểu vì sao bài hát của mình đã gây ra nhiều điều bất thường đến vậy.

--------------------------------------------------------------------------------

Pegasus02-22-2005, 10:21 AM
Từ đó, người soạn nhạc dường như bị truyền nhiễm những điều bất lành theo sau bài nhạc bất cứ khi nào và nơi đâu khi bản nhạc được chơi lên. Khi bài "Gloomy Sunday" trở thành một "top hit" trong tuần, Reszo đã viết một lá thư gửi cho người yêu cũ của chàng và xin thêm một cơ hội nữa để nối lại mối duyên xưa.

Ngày hôm sau, người ta tìm thấy thi hài của cô gái trẻ đã chết vì uống thuốc quá liều lượng. Bên cạnh cô ta là một tờ giấy với nét chữ nghệch ngoạc trên ấy nhưng còn có thể đọc được. Đó là tên của bài nhạc "Gloomy Sunday".

Đến lúc này thì Reszo chẳng còn nghi ngờ gì về bài hát mang đầy tính nguyền rủa của chính mình. Lần đầu tiên trong đời, Reszo cố gắng thu hồi lại bài nhạc để nó khỏi bị lan ra nhiều thêm. Nhưng tất cả mọi nổ lực của anh đều không thành. Bài hát càng bị cấm, nó lại càng trở nên phổ biến hơn. Những bản copy lậu được bày bán trên đường phố như một loại trái cấm.

Trong mỗi quốc gia, số người chết lại càng gia tăng. Bài hát đã đem lại nhiều lời đồn đãi chết người đến nỗi các nhạc sĩ không dám chơi bài ấy hay thậm chí các ca sĩ cũng sợ không dám hát.

Thời gian trôi quạ Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ và người ta cũng bắt đầu quên đi bài hát ấỵ Dần dần, cơn sốt bài hát được lắng dịu xuống.

Vào thời điểm này Cơ Quan Truyền Thông Anh Quốc quyết định nới lỏng lệnh cấm bài hát. Đài BBC cho phát thanh "Gloomy Sunday" trên làn sóng điện, nhưng bấy giờ bài nhạc chỉ còn là một hợp tấu khúc (orchestral piece). Từ ấy bài hát được sửa lại theo lối hoà âm hợp khúc này.

Cũng bài nhạc được sửa lại theo kiểu version mới này được phát ra và cứ lập đi lập lại hàng giờ trong một căn apartment nhỏ. Người cảnh sát đi tuần gần đấy cứ phải nghe mãi một bài hát và lấy làm lạ. Tiếng âm nhạc phát ra từ cánh cửa sổ của một hộ apartment trên con phố mà người cảnh sát tuần tiểu. Cảm thấy lạ vì người nào có thể nghe mãi một bài hát cứ hát đi hát lại mãi thật nhiều lần mà không ngừng nghỉ, người cảnh sát cuối cùng quyết định điều tra.

Khi viên cảnh sát bước vào căn nhà, "Gloomy Sunday" đang được hát trên dàn máy hát xoay tròn tự động. Thân thể của một thiếu phụ đang nằm cạnh chiếc bàn nơi để chiếc máy hát đang chạỵ Người thiếu phụ đã chết với một liều thuốc ngủ cực mạnh.

Đây mới chỉ là một bắt đầu của hàng loạt cuộc tự tử khác nối tiếp. Một lần nữa, Cơ Quan Truyền Thông Anh Quốc phải ra cấm lệnh đối với bài hát.

Giờ đây thì Reszo Seress đã trở thành một người luôn bị ám ảnh bởi những cái chết do bài hát của anh ta gây nên.

Có hơn 100 người chết sau khi nghe bài hát "Gloomy Sunday". Bài hát vẫn có thể được nghe từ thời này sang thời khác. Gần đây, số tường trình về những cái chết liên quan đến bài hát ấy không còn nữạ Có lẽ lời nguyền năm xưa đã hết linh nghiệm chăng? Có thể là vậỵ Nhưng nếu bạn đang ở trong một quán bar nào đó và khi nghe người disc jockey bảo rằng bài nhạc cũ kỳ lạ "Gloomy Sunday" sắp được chơi, tôi thành thật khuyên bạn nên bước ra ngoài và tham gia những trò chơi khác thì tốt hơn.[/align]__________________
[/align]sưu tầm[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
Vụ giết người ghê rợn nhất
 
 
 
 





Vào ngày 4 tháng Hai, 1986, nông gia John Reen điện thoại báo cảnh sát ông nhìn thấy một xác chết lõa thể của một phụ nữ trẻ trong cánh đồng gần nhà. Nhiều xe cảnh sát chạy đến hiện trường và họ khám phá xác chết là nữ y tá Anita Lorraine Cobby, người đã bị báo mất tích bởi gia đình ngày hôm trước. Nạn nhân rõ ràng đã bị kéo qua một hàng rào kẽm gai, bị đánh đập tàn nhẫn, với rất nhiều vết thương trên đầu, ngực, mặt, vai, bụng, đùi và hai chân. Cổ họng của cô bị cắt và chiếc đầu gần như đứt lìa.
Các chuyên viên y khoa tin tưởng Anita Cobby còn tỉnh táo khi bị cắt cổ họng, và phải mất từ hai đến ba phút bị chảy máu cho tới chết. Anita Cobby cũng đã bị hãm hiếp rất nhiều lần. Điều duy nhất mà cảnh sát có thể giả định một cách chính xác ngay thời gian khám phá xác chết là "nhiều hơn một người, có thể là một nhóm" đã thực hiện tội ác ghê rợn này.
Vụ giết chết Anita Cobby đã làm công chúng vô cùng giận dữ. Các bản thỉnh nguyện với hàng chục ngàn chữ ký ủng hộ việc tái áp dụng án tử hình đã được trao cho chính phủ NSW. Một đài truyền hình ở Sydney thực hiện một cuộc thăm dò trên điện thoại, ghi nhận gần 16,000 cú điện thoại, cho thấy gần 95 phần trăm ủng hộ việc tái áp dụng hình phạt tử hình. Đối với một công chúng đang hết sức hoang mang, các kẻ phạm tội ác tàn bạo này vẫn có thể đi lại tự do trên đường phố là điều không thể tưởng tượng được, và họ không xem chúng là những con người bình thường.
Nhóm 5 tên đại ác này là những kẻ hèn nhát chuyên rình rập phụ nữ và tài sản của những người khác. Chúng ở tù như cơm bữa vì phạm các tội ăn cắp vặt, sử dụng ma túy, ăn trộm xe, lẻn vào nhà ăn trộm, ăn cướp có vũ khí, vượt ngục, mua bán đồ ăn trộm, hành hung và hãm hiếp. Tên đầu đảng là John Raymond Travers. Mặc dù chỉ mới 18 tuổi, cảnh sát tin rằng John Travers chịu trách nhiệm cho các vụ hãm hiếp ít nhất một chục người đàn ông và phụ nữ. Hắn đã vào tù ra khám kể từ khi 12 tuổi, lần đầu tiên bị bắt vì tội sử dụng cần sa.
Nghiện rượu ở tuổi 14 và làm bất kể những gì hắn muốn, hoàn toàn không có sự kiểm soát của cha mẹ. Là anh cả trong số bẩy anh chị em, John Travers lớn lên trong một vùng ngoại ô lao động, Mount Druitt, thuộc miền tây Sydney. Nhưng nơi đây cũng là một trong năm vùng ngoại ô nổi tiếng ăn trộm và lạm dụng ma túy đứng đầu bảng.
Khi người cha tài xế xe buýt, Ken, rời khỏi gia đình, bà mẹ của hắn, Sharon, đã không thể ứng phó được cảnh chồng bỏ con cái lêu lổng. Bà ta ăn uống vô độ và đã biến một thân thể cân đối trở thành béo phì, nặng hơn 120 ký, và thậm chí không còn có thể sinh hoạt bình thường trong nhà, như đi toilet và tắm rửa. Khi trở nên lớn tuổi hơn và mập phì, bà Sharon Travers sống phần lớn thời gian trong bệnh viện, điều trị nhiều chứng bệnh liên hệ trực tiếp đến thói quen ăn uống thiếu lành mạnh. Để mặc John coi sóc gia đình, và khi lậm vào rượu và cần sa hắn đã phải ăn trộm để có tiền.
Một trong những điều ác độc mà John Travers rất thích làm là giết thú vật. Hắn rất thành thạo công việc này vì đã làm việc một thời gian ngắn tại lò mổ thịt ở địa phương. Hắn cũng rất thích làm tình với thú vật. Nhiều người quả quyết đã nhìn thấy John Travers giao hợp với cừu, heo, dê, gà và bò, và khi sắp đạt đến sự khoái lạc hắn kéo đầu con vật xấu số và cắt cổ họng nó.
Thân thể của John Travers xâm khắp mọi nơi, kể cả dương vật của hắn. Nhưng hình xâm dễ nhận thấy nhất là giọt nước mắt ngay dưới con mắt trái, với hình xâm này hắn nghĩ làm hắn trông giống một tay anh chị dữ dằn. Thế nhưng Travers chỉ hung dữ khi đi chung với nhóm của hắn, những kẻ thường đánh đập, hãm hiếp phụ nữ và những người đồng tính tại trạm xe lửa và các nhà vệ sinh công cộng. Khi một mình, Travers là tên chết nhát. Nhưng đối với những đàn em khờ dại, hắn là tên đầu đảng gan dạ, chuyên xúi giục tấn công tình dục và hành hung. Chúng thường không bị trừng phạt bởi vì các nạn nhân không dám báo cảnh sát vì sợ bị trả thù.
Thế nhưng một nạn nhân đã trình cảnh sát. Trong giữa năm 1985, Travers và nhóm của hắn đã đánh đập và hãm hiếp một cô gái tại Toongabbie, một nơi cách Mount Druitt vài cây số, và nạn nhân đã cung cấp cho cảnh sát một sự miêu tả rất chi tiết người đàn ông có hình xâm giọt nước mắt bên dưới con mắt trái. Khi Travers biết cảnh sát muốn tìm gặp để hỏi chuyện, hắn cùng với ba đồng bọn bỏ trốn tới Tây Úc mãi đến khi vụ này lắng xuống.
Chúng lẩn quẩn ở vùng bờ biển nghỉ mát Mandurah, cách Perth chừng 60 cây số về hướng nam. Và chẳng bao lâu cảnh sát địa phương đã lưu ý nhóm đầu trộm đuôi cướp được cầm đầu bởi tên Travers có các hình xâm trên mặt. Chúng chạy lòng vòng thành phố trong chiếc xe với bảng số NSW. Travers làm quen với một thiếu niên 17 tuổi đồng tính luyến ái ở địa phương và sắp xếp cho một đàn em chụp hình hắn đang làm tình với cậu ta. Vào một buổi tối khi hắn ngà ngà say rượu và ma túy, Travers dẫn các đàn em tới nhà người yêu đồng tính này, đánh đập và hãm hiếp thiếu niên này ngay trước mặt các đàn em. Với các vết thương khắp mình mẩy thiếu niên này đã ráng lết tới trạm cảnh sát để trình báo. Cảnh sát vây bắt được hai tên nhưng Travers và tên đàn em còn lại đã tẩu thoát.
Trở về Sydney, Travers tỏ ra rất tự hào kể cho một người bà con nghe vụ hãm hiếp tàn bạo này, (người bà con này được gọi là Miss X). Hắn nghĩ lầm Miss X rất ngưỡng mộ hắn. Nhiều lần trong quá khứ hắn đã tâm sự với Miss X, và cô luôn miệng nói rất thích nghe các câu chuyện hấp dẫn của hắn. Nhưng Miss X đã chẳng bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai vì sợ John Travers giết chết nếu hắn biết được.
Travers kể chi tiết vụ hãm hiếp thiếu niên đồng tính và đã cho xem các tấm hình mà đàn em của hắn chụp được. Hắn cho Miss X biết rất muốn cắt cổ họng người thiếu niên này khi đạt tới khoái lạc cực điểm. Như hắn đã làm với các con cừu. Miss X rất sợ hãi, và đây không phải là câu chuyện dễ quên được, do đó, tám tháng sau, khi nghe câu chuyện Anita Cobby bị hãm hiếp và giết chết một cách ghê rợn, cô đã nhớ ngay những gì Travers đã kể về vụ hãm hiếp tàn bạo ở Tây Úc.
NHỮNG TÊN ĐÀN EM ĐẠI ÁC CủA TRAVERS
Một trong những đàn em trung thành của Travers là Michael (Mick) James Murdoch. Mick rất ngưỡng phục Travers. Mẹ của hắn, bà Rose Murdoch, rất ghét sự ảnh hưởng của Travers đối với đứa con trai và bà đã khuyến cáo Mick nhiều lần rằng Travers sẽ làm hắn vào tù. Travers và Mick cùng tuổi và không rời nhau kể từ khi còn rất nhỏ. Chúng tự xem là hai anh em ruột, thường để tóc và mặc quần áo giống nhau, và xâm hình cho nhau trên thân thể. Cũng giống Travers, Mick Murdoch lớn lên trong một gia đình tan vỡ và đã gặp rắc rối với cảnh sát khi chỉ mới 12 tuổi. Lần phạm tội đầu tiên của hắn là hút cần sa với Travers.
Với số tuổi 33, Michael Patrick Murphy là thành viên lớn tuổi nhất trong nhóm của Travers, nhưng hắn không phải là người khôn ngoan nhất. ở tù 25 năm vì 33 lần bị kết án tội đột nhập tư gia ăn trộm, và toan tính vượt ngục mới nhất của hắn đã thành công. Và thậm chí vụ vượt ngục này không phải do hắn hoạch định. Một tình huống bất ngờ xảy ra khi Murphy và một tù nhân khác được tin tưởng cho ra bên ngoài cổng nhà tù Silverwater và chúng đã quyết định tẩu thoát. Murphy đã chạy trốn trong sáu tuần lễ, ngay vào thời gian xảy ra vụ giết chết cô Anita Cobby.
Murphy đã sống nửa đời người trong tù. Là con cả trong số chín người con, Murphy được trông đợi làm gương cho các em trai và em gái. Nhưng hắn đã bắt đầu phạm tội trong những năm đầu của tuổi thiếu niên và kể từ đó rất hiếm khi ra khỏi nhà tù. Xâm hình rất nhiều như Travers, Murphy nổi tiếng là một tên côn đồ hung dữ ở khắp các vùng ngoại ô phía tây Sydney.
Hai em trai của Patrick Murphy, Les và Gary Murphy, là các thành viên còn lại trong nhóm của Travers. Cả hai đều phạm tội như cơm bữa. Trẻ hơn Patrick Murphy bốn tuổi, Gary Steven Murphy có một hồ sơ phạm tội rất dài, gồm nhiều tội ăn cắp xe, xâm nhập tư gia ăn trộm, hành hung và vượt ngục. Gary tự cho mình là một người chiến đấu, hay đánh lộn và bị cấm cửa bởi hầu hết các câu lạc bộ và quán rượu trong khu vực. Mỗi khi nốc vài ly rượu, hắn thường gây sự để đánh lộn, thế nhưng hầu hết những lần ẩu đả Gary đều bị đánh nhừ đòn. Cả khu xóm đều thở phào nhẹ nhõm khi cảnh sát tóm cổ Gary Murphy đưa vào tù.
Người em trẻ tuổi nhất trong ba anh em Murphy là Leslie Murphy 24 tuổi. Rất giống Patrick và Gary, Les có một tính tình rất hung dữ và cái tật lắm mồm. Hồ sơ phạm tội của hắn cũng rất dài, gồm nhiều tội trộm tư gia, trộm xe và cả cưỡng hiếp. Ai cũng biết Les không gặp may mắn với các cô bạn gái và chỉ phương cách duy nhất mà hắn có thể thỏa mãn tình dục là "ăn bánh trả tiền" hoặc cưỡng hiếp.
Mặc dù thường tỏ vẻ rất chì khi đi chung với bạn bè, thật sự thì Les Murphy rất sợ hãi khi một mình, hắn dựa vào sự nổi tiếng của hai người anh Gary và Patrick. Tương tự hầu hết các thành viên trong nhóm, Les sống phần lớn cuộc đời trưởng thành trong nhà tù. Ba anh em Murphy đã gặp nhau trong tù nhiều hơn khi sống ngoài đời. Những khi không trong tù, anh em Murphy tung hoành ở vùng Blacktown, Mount Druitt và khu vực thuộc phía tây thành phố Sydney.
Với Patrick vừa vượt ngục và hai đứa em trai của hắn vừa được thả tự do, đây là một dịp rất hiếm để ba anh em Murphy gặp nhau bên ngoài nhà tù. Nhưng buổi tối Chủ nhật định mệnh đó, ngày 2 tháng Hai, 1986, ba anh em Murphy đã cùng đi với Murdoch và Travers trong một chiếc xe ăn cắp để săn tìm một nạn nhân. Và chúng đã gặp Anita Cobby.
NGƯỜI CON GÁI ĐẸP YỂU MỆNH
Anita Lorraine Cobby, 26 tuổi, là một y tá tại Sydney Hospital. Trước đây cô đã từng thắng giải hoa hậu và được nghĩ có sắc đẹp để trở thành một người mẫu chuyên nghiệp. Thế nhưng cô đã chọn công việc y tá. Anita sống với cha mẹ, ông bà Garry và Grace Lynch, trong một căn nhà nhỏ rất giản dị của gia đình ở Blacktown, một vùng ngoại ô cách trung tâm Sydney khoảng 40 cây số về phía tây. Ông Garry Lynch là một họa sĩ vẽ bản đồ cho hải quân cho đến khi về hưu trước đó vài năm. Người vợ, bà Grace, là một y tá và vẫn làm việc không thường xuyên tại một bệnh viện địa phương để kiếm thêm tiền trong tuổi về hưu.
Ngoài Anita, ông bà Lynche có thêm một cô con gái 22 tuổi nữa, Kathryn. Cả hai cô gái này học rất khá, chẳng bao giờ đi chơi đêm và rất ưa thích bãi biển và cảnh ngoài trời. Anita là một học sinh suất xắc và được nhiều bạn bè yêu mến tại trường Evans High School ở Blacktown. Khi 20 tuổi, một người bạn của gia đình đã thuyết phục cô ghi tên tham dự cuộc thi hoa hậu Miss Australia để gây quỹ cho trung tâm trẻ em khuyết tật Spastic Centre. Gia đình Lynche đã biến việc từ thiện này thành một công việc của gia đình. Họ đi bán vé số tại khắp các trung tâm thương mại ở địa phương, thu tổng cộng được $10,000 và Anita được đội vương miện Miss Western Suburbs Charity Queen. Các tấm hình của một cô gái cao xinh đẹp, mái tóc quăn mầu nâu sậm, nụ cười duyên dáng đã xuất hiện trên tất cả các tờ báo. Chỉ trong thời gian rất ngắn Anita trở thành một người nổi tiếng.
Thế nhưng Anita Lynch không muốn được mọi người chú ý đến. Cô có thể theo đuổi một sự nghiệp người mẫu đầy quyến rũ, nhưng với sự vui sướng của cha mẹ, cô đã nạp đơn xin được huấn luyện làm nữ y tá tại Sydney Hospital. Anita được chấp thuận và đã trở thành một y tá, cô làm việc rất siêng năng trong ngành giải phẫu. Trong khi làm việc tại Sydney Hospital, Anita đem lòng yêu thương John Cobby, một nam y tá đẹp trai lớn hơn cô 3 tuổi. John và Anita có cùng sở thích xem phim, nghe nhạc và cùng học với nhau. Cha mẹ Anita rất thích John và khi cặp tình nhân này hứa hôn, họ tin rằng con gái họ đã có được sự chọn lựa tốt nhất.
Anita và John Cobby kết hôn trong tháng Ba năm 1982. Trong ba năm sau đó họ đã du lịch ngoại quốc rất nhiều lần, sống và làm việc một thời gian tại Coffs Harbour, một vùng duyên hải phía bắc tiểu bang NSW. Họ trở về Sydney trong năm 1985 và chỉ trong vòng vài tháng, cuộc hôn nhân này không hiểu vì sao đã kết thúc. Anita trở về sống với cha mẹ ở Blacktown. Cặp vợ chồng trẻ này giữ kín vấn đề tình cảm của họ, nhưng rõ ràng cả hai đều rất đau buồn bởi sự tan vỡ này. Họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau bằng điện thoại, nhưng đã không trở lại với nhau.
Anita Cobby đã không gặp khó khăn khi trở lại làm việc tại Sydney Hospital. Cô đã đắm mình vào công việc để quên đi cuộc hôn nhân tan vỡ, dành hầu hết thời gian tại bệnh viện và giao tiếp với các bạn đồng nghiệp. Nữ y tá Cobby chẳng bao giờ quan tâm đến giờ giấc làm việc. Khi phải làm việc trễ buổi tối, cô thường điện thoại cho cha đến đón tại trạm xe lửa Blacktown. Và bất kể giờ giấc nào, ông Garry Lynch cũng sẵn sàng để đi đón cô con gái. Trong buổi tối Chủ nhật định mệnh đó tại sao Anita đã không gọi điện thoại cho cha đi đón, nhưng lại quyết định đi bộ về nhà, sẽ vẫn là một sự bí ẩn mà chẳng bao giờ có thể được trả lời.
BUỔI CHIỀU CHủ NHẬT ĐỊNH MỆNH
Sau buổi làm việc, vào lúc 5 giờ chiều Chủ nhật ngày 2 tháng Hai, 1986, Anita Cobby và hai người bạn nữ y tá đi đến một nhà hàng Lebanese ở Redfern để ăn cơm chiều. Lyn Bradshaw và Elaine Bray đã học cùng khóa y tá với Anita và họ đã trở thành bạn thân trong nhiều năm. Sau bữa ăn chiều đó, Lyn đã chở Anita đến trạm Central Railway để đón xe lửa về nhà. Cả hai người bạn đều đề nghị cô về nhà ngủ buổi tối hôm đó, nhưng cô từ chối, chào tạm biệt và bước vào trạm xe lửa. Ngoại trừ những kẻ giết người, đó là thời gian sau cùng mà bất cứ ai có thể nhớ lại đã nhìn thấy Anita Cobby còn sống.
Khi cô con gái không gọi điện thoại ra đón buổi tối hôm đó, ông Garry Lynch đã không lo lắng gì cả. Anita thường làm việc rất trễ và ở lại đêm với các bạn đồng nghiệp trong thành phố. Cô là người hiểu biết và rất có trách nhiệm, do đó chẳng có lý do nào để ông Lynch phải lo lắng. Buổi trưa hôm sau khi người nữ y tá trực từ Sydney Hospital điện thoại hỏi thăm tại sao Anita không đi làm, ông Lynch liền đề nghị hãy liên lạc nhà người bạn của cô. Và khi được cho biết các người bạn đã có mặt ở sở và họ cũng đang rất lo lắng, ông Garry Lynch bắt đầu lo sợ. Ông điện thoại cho bà vợ ở sở làm và bà cũng không biết gì cả.
Ông Lynch điện thoại khắp những nơi mà Anita rất có thể đến. Đến chiều tối ông quyết định báo cho cảnh sát Blacktown con gái ông bị mất tích, và ngày hôm sau gia đình ông bà Lynch điên cuồng vì lo lắng. Người chồng cũ John Cobby cũng đã tham gia cuộc tìm kiếm, liên lạc với mọi bệnh viện, bạn bè và các bạn đồng nghiệp. Nhưng vẫn chẳng có tin tức gì. Tất cả những gì mà gia đình có thể làm là chờ đợi và cầu nguyện cho Anita trở về nhà an toàn.
Những gì mà các thám tử gan dạ đã nhìn thấy trên cánh đồng Boiler Paddock trong nông trại của ông John Reen ngày hôm đó chắc chắn sẽ hằn sâu trong đầu óc họ mãi mãi. Ông Reen khai với họ rằng buổi sáng hôm đó khi rời nhà ra đồng ông nhìn thấy các con bò có hành động rất khả nghi, chúng đi loanh quanh một vật gì đó trên mặt đất. Khi ông trở về chúng vẫn đứng trong cái vòng tròn đó và ông quyết định đến gần để xem điều gì xảy ra.
Cánh đồng Boiler Paddock tương đối xa từ căn nhà của ông Reen, và nó được đặt cho cái tên này bởi vì ông Reen nuôi tất cả các con bò già ở đó (boilers). Cánh đồng này chạy dọc theo con đường Reen Road, ở Prospect, một vùng ngoại ô chỉ cách trạm xe lửa Blacktown vài phút xe chạy. Xác của Anita Cobby được tìm thấy nằm bên trong hàng rào kẽm gai khoảng 100 thước, điều này cho thấy các tên giết người đã kéo cô qua hàng rào để vào cánh đồng cỏ. Bởi vì con đường Reen Road nổi tiếng là nơi hò hẹn của các cặp tình nhân, do đó một chiếc xe đậu ở đó vào buổi tối Chủ nhật không phải là điều bất thường.
Khi Đại úy cảnh sát Kennedy và Thám tử Heskett đến gõ cửa gia đình Lynch ngày hôm đó, ông bà Grace và Garry Lynch đã lo sợ điều tệ hại nhất. Hai thám tử này nói với họ rằng cảnh sát đã tìm thấy xác chết của một phụ nữ trẻ trong một cánh đồng tại Prospect, và nó rất giống sự miêu tả cô con gái bị mất tích của họ. Đại úy Kennedy cho ông bà Lynch xem một chiếc nhẫn cưới mà họ lấy được từ xác chết.
Sau đó các thám tử mời ông Garry Lynch đi cùng với họ đến nhà xác để nhận diện con gái của ông. Họ đã đứng đỡ ông Lynch nức nở nói lời vĩnh biệt cô con gái lần cuối cùng. Các thám tử này biết rõ rằng họ sẽ không bao giờ được yên tâm cho tới khi bắt được các kẻ giết chết Anita Cobby. Hai thám tử địa phương, Kevin Rause và Graham Resetta, đã được gọi đến. Cả hai đều là các cảnh sát viên nhiều kinh nghiệm, họ biết rõ mọi ngõ ngách của khu vực như trong lòng bàn tay. Kể từ giây phút đó, John Travers và các đồng bọn của hắn đã không có một cơ may nào cả. Dù phải mất cả phần đời còn lại của họ, Thám tử Kennedy và nhóm của ông sẽ không để chúng trốn thoát.
Một nhóm đặc nhiệm được thành lập tại trạm cảnh sát Blacktown. Cuộc lục soát khắp cánh đồng cỏ Boiler Paddock đã chẳng tìm thấy gì cả. Mặc dù xác chết của cô ta trần truồng, không một mảnh quần áo nào của Anita Cobby đã được tìm thấy. Không có vũ khí giết người, không có động lực và cũng chẳng có lý do nào để Anita có mặt ở cánh đồng này vào lúc bị giết chết. Cô hoàn toàn không có kẻ thù và không liên hệ đến các kẻ tội phạm hoặc buôn bán ma túy. Cũng chẳng có một người yêu bí mật hoặc người đàn ông có gia đình nào trong đời cô. Anita Cobby thực sự là một tấm gương hoàn hảo của một phụ nữ rất đứng đắn.
Cuộc điều tra của cảnh sát gặp bế tắc. Họ điều tra tiếng la hét mà ông Reen đã nghe thấy nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Con đường Reen Road là nơi hò hẹn của các cặp trai gái, do đó tiếng la có thể từ bất cứ ai. Nhóm đặc nhiệm đã phải bắt đầu một công việc rất mất thời gian, kiểm tra hàng trăm kẻ tội phạm trong khu vực. Những kẻ phạm tội tình dục được chiếu cố kỹ nhất, thế nhưng cảnh sát vẫn không tìm ra bất cứ manh mối nào. Các thám tử đã thẩm vấn hai người bạn đi cùng với Anita trong những tiếng đồng hồ cuối cùng. ở thời điểm này thậm chí không ai biết chắc Anita Cobby có đã đón chuyến xe lửa tới Blacktown buổi tối hôm đó hay không.
Và rồi manh mối đầu tiên xuất hiện. Các cư dân sinh sống trên con đường Newton Road, cách trạm xe lửa Blacktown vài trăm thước, cho biết đã nhìn thấy một cô gái bị kéo vào một chiếc xe hơi buổi tối Chủ nhật. Cô ta vùng vẫy và la hét. Họ điện thoại cảnh sát và miêu tả chiếc xe Holden Kingswood mầu xám và trắng. Cảnh sát mặc thường phục đã điều tra cú điện thoại này nhưng một cuộc lục soát trong khu vực đã không phát hiện gì cả.
Các nhân chứng vụ bắt cóc này khai với cảnh sát rằng vào lúc 9 pm, họ nghe một tiếng hét rất lớn và liền chạy ra ngoài. Họ nhìn thấy một người đàn ông thò chân ra từ cánh cửa của chiếc xe Holden. Một phụ nữ có mái tóc mầu sẫm đã vùng vẫy và la hét dữ dội trong khi chiếc xe không bật đèn chạy đi mất. Hai trong số các nhân chứng này, Linda và John McGaughey, đã kinh hoàng trước những gì họ nhìn thấy.
Khi người anh trai, Paul, và cô bạn gái, Lorraine Busher, về đến nhà một vài phút sau, John kể cho họ nghe và rồi Paul và Loraine chạy đi tìm chiếc xe này. Một trong những nơi mà Paul McGaughey đếm tìm là con đường nổi tiếng Reen Road, chỉ cách nơi Anita bị bắt cóc có vài phút xe chạy. Khi chạy được khoảng nửa con đường Reen Road, họ chạy ngang qua một chiếc xe HJ Holden mầu xám đời 1970, đậu ở lề đường và không có người bên trong. Họ đã không để ý đến chiếc xe này bởi vì sự miêu tả của chiếc xe mà họ nhận được là chiếc Holden Kingswood. Sau gần hai tiếng tìm kiếm khắp khu vực và một số địa điểm lân cận, họ trở về nhà.
Mặc dù vẫn không thể xác định Anita Cobby có đã thật sự đón chuyến xe lửa trở về Blacktown hay không, cảnh sát phải giả định rằng vụ bắt cóc được trình báo này chính là người phụ nữ đã bị giết chết. Nó xảy ra vừa vặn thời gian cô ta đến Blacktown. Nhưng tại sao Anita đã không điện thoại cho cha ra đón? Hoặc tại sao cô đã không đón một chiếc taxi?
Cảnh sát đã làm việc ngày đêm với vụ án giết người này. Họ đã quay trở lại cánh đồng Boiler Paddock vào ban đêm để có được "cảm giác" về những gì có thể đã xảy ra. Hàng trăm học viên cảnh sát đã được đưa đến để lục soát rất kỹ cánh đồng này, thế nhưng vẫn không mang lại kết quả nào. Sự hỗ trợ của công chúng rất lớn, hàng trăm cú điện thoại đã gọi đến nhóm đặc nhiệm. Và mọi cú điện thoại đều đã được đáp ứng một cách nghiêm túc.
Hai ngày sau khi tìm thấy xác chết của Anita Cobby, chính phủ New South Wales đã ra giải thưởng $50,000 cho những ai cung cấp tin tức đưa đến việc bắt giữ những kẻ giết chết cô ta. Đường dây điện thoại của cảnh sát đã hoạt động rất bận rộn, nhưng tất cả đều không mang lại kết quả. Đến lúc đó cảnh sát đã không chắc người phụ nữ bị bắt cóc ở đường Newton Road là Anita Cobby. Có thể Anita đã đón một chiếc taxi và bị giết chết bởi người tài xế. Họ kiểm tra mọi tài xế taxi trong khu vực.
Vào ngày Chủ nhật tiếp theo, một tuần lễ sau vụ giết người, một nữ cảnh sát viên đã diễn lại các hoạt động của Anita Cobby trong buổi tối cuối cùng với hy vọng có thể gợi trí nhớ của một người nào đó. Trung sĩ cảnh sát Debbie Wallace đã mặc quần áo tương tự bộ quần áo mà Anita đã mặc buổi tối cuối cùng đó và bước lên chuyến xe lửa tới Blacktown lúc 9 pm. Trong khi cô đi lại trong các toa xe, các thám tử đã phỏng vấn hành khách và cho họ xem hình ảnh của người phụ nữ bị giết chết.
Từ trạm xe lửa Blacktown, Trung sĩ Wallace đã đi bộ khoảng nửa tiếng đến nhà gia đình ông bà Lynch ở đường Sullivan Street. Cảnh sát chạy theo sau trong một chiếc xe không mang dấu hiệu. Một số chiếc xe đã dừng lại và đề nghị cho cô cảnh sát có cặp chân dài rất hấp dẫn này quá giang. Nhưng họ không phải là những kẻ đã giết chết Anita Cobby. Một lần nữa, cảnh sát vẫn trở về tay không.
TIẾN TRIỂN QUAN TRỌNG ĐẦU TIÊN CủA CảNH SÁT
Vào ngày thứ Ba, 11 tháng Hai, một người trong công chúng đã điện thoại cho cảnh sát biết ông ta đại diện cho bốn công dân có tin tức về kẻ giết người nhưng không dám trình báo vì quá sợ hãi. Người đàn ông này đã gặp cảnh sát và cho biết John Travers và hai kẻ tội phạm khác, Mick Murdoch và Les Murphy, đã lấy trộm một chiếc xe vài ngày trước khi xảy ra vụ giết người và đã sơn chiếc xe này trở thành mầu xám. Chúng tháo các chiếc mâm xe "mag wheels" và thay bằng các chiếc mâm thường.
Cuối cùng cảnh sát tin tưởng họ đã đi đúng hướng. Thật hết sức kín đáo, họ bắt đầu theo dõi nhưng nơi mà Travers thường lui tới. Họ không nói cho bất cứ ai biết về manh mối này vì sợ Traver và đồng bọn đánh hơi được và trốn thoát. Nhưng họ cần có thêm tin tức. Đến thời gian này chính phủ tiểu bang đã gia tăng tiền thưởng lên $100,000. Với củ cà rốt quá hấp dẫn này, một người đã xuất hiện và cung cấp một số địa chỉ mà John Travers có thể trú ngụ.
Trong một cuộc đột kích buổi sáng sớm vào một căn nhà gần Wentworthville, cảnh sát tìm thấy John Travers và Mick Murdock ngủ chung giường. Chúng thú nhận đã ăn cắp chiếc xe nhưng lại một mực nói không biết đến vụ giết chết cô Anita Cobby. Cảnh sát tìm thấy một dao găm của Travers có dính các vết máu. Khi bị hỏi các vết máu này đến từ đâu, Travers trả lời hắn đã giết một con cừu bằng con dao này.
Trong cùng thời gian bắt giữ Travers và Murdoch, cảnh sát cũng đã tóm cổ Les Murphy trong một căn nhà ở Doonside, một nơi cách xa chừng ba cây số. Trên chiếc xe Holden station của Les Murphy có các mâm xe "mag wheels" và các chiếc áo bọc ghế bằng da cừu từ chiếc xe bị lấy trộm này. Murphy thú nhận đã can dự đến vụ trộm chiếc xe này nhưng cũng phủ nhận bất cứ sự dính líu nào đến cái chết của Anita Cobby.
Les Murphy và Mick Murdoch bị kết tội trộm xe và được tại ngoại. Cảnh sát đã bí mật theo dõi cả hai, hy vọng rằng Murphy và Murdoch sẽ đưa họ đến chiếc xe bị mất trộm. Đây là chứng cớ quan trọng nhất, bởi vì chiếc xe có thể cung cấp các dấu tay, các mẫu máu và quần áo mà cảnh sát rất cần đến để liên kết vụ bắt cóc ở đường Newton Road với vụ giết người và với nhóm Travers.
TÊN ĐẦU ĐảNG THÚ TỘI
John Travers bị giam giữ vì bị ngờ vực đã phạm một số vụ hãm hiếp trong khu vực, gồm vụ hãm hiếp một thiếu nữ ở Toongabbie cách đó tám tháng. Cảnh sát tra hỏi Travers về vụ giết chết Cobby nhưng hắn đã không nhìn nhận bất cứ điều gì. Travers yêu cầu có một người thăm nuôi. Hắn trao cho cảnh sát số điện thoại của Miss X, người phụ nữ mà hắn đã kể cho nghe vụ hãm hiếp một thiếu niên ở Perth vài tháng trước đó.
Khi thám tử Kevin Raue điện thoại cho Miss X biết Travers muốn cô ta mang vào cho hắn một ít thuốc lá. Phụ nữ này đã nói những điều về John Travers mà cảnh sát rất muốn nghe, và họ đã thu xếp một cuộc gặp mặt tại một nơi công cộng ngay trong buổi chiều hôm đó. Khi họ gặp nhau, Miss X, một kẻ nghiện bạch phiến, cho biết rất lo sợ bị bắt gặp đang nói chuyện với cảnh sát. Miss X đã kể vụ hãm hiếp ở Tây Úc và thêm một vụ hãm hiếp khác nữa mà Travers đã nói cho cô ta nghe. Và cả trong hai trường hợp, Travers đã nói đến việc dùng con dao găm trên thân thể của các nạn nhân, tương tự phương cách mà nó thật sự đã được sử dụng đối với Anita Cobby.
Miss X biết rõ John Travers là người mà cảnh sát đang muốn buộc tội và đã đồng ý giúp cảnh sát bẫy hắn. Cô ta sẽ hỏi Travers về vụ giết người này và rồi sẽ báo cho cảnh sát. Buổi sáng hôm sau, Miss X đến với một số gói thuốc lá cho Travers và đã được để nói chuyện riêng với tù nhân trong nửa tiếng. Khi trở về, mặt mày phụ nữ này tái xanh và run lên vì sợ. Cô ta bật khóc và cho cảnh sát biết Travers vừa kể rằng hắn đã giết chết Anita Cobby. Miss X làm một bản khai về những gì mà Travers đã kể và đồng ý vào thăm hắn lần nữa buổi sáng hôm sau. Lần này Miss X được gắn một máy thu băng trong người. Travers đã kể tất cả. Hắn đã khoe phương cách mà cả nhóm đã bắt Anita Cobby, hãm hiếp, đánh đập và cuối cùng Travers đã cắt cổ nạn nhân như thế nào.
Cảnh sát đã không gặp khó khăn khi tóm cổ Mick Murdoch và Les Murphy. Chúng đã bị theo dõi kể từ lúc được tại ngoại. Murdoch có mặt ở nhà, Murphy được tìm thấy nằm trốn giữa hai người đàn bà dưới một tấm chăn đắp. Murdoch và Murphy đã khóc lóc và đổ lỗi cho John Travers khi chúng tự thú với cảnh sát. Travers bị lôi ra khỏi xà lim và đã viết bản thú tội, trong đó hắn nêu đích danh mọi đồng bọn đều dính líu đến vụ giết người này. Và hắn đã không phủ nhận là người thật sự đã giết chết Anita Cobby.
Cảnh sát thông báo cho giới truyền thông ba người đàn ông bị buộc tội bắt cóc và giết chết Anita Cobby. Hàng trăm người đã đổ đến trạm cảnh sát Blacktown để bầy tỏ sự giận dữ và đưa ra các ý kiến nên làm gì đối với các tên vô loại này. Nhiều người đòi treo cổ chúng. Khi chúng được chuyển từ trạm cảnh sát tới tòa án địa phương Blacktown, nhiều người đã phỉ nhổ vào chiếc xe chở tù. Và khi ba chiếc xe này rời khỏi tòa án dân chúng đã vỗ tay khen ngợi cảnh sát. Lúc đó là 22 ngày kể từ khi cô Anita Cobby bị giết chết.
Hầu hết các tờ báo đã đăng hình ảnh và các lời miêu tả nhân dạng của hai tên bị truy nã và khuyến cáo công chúng không nên đến gần chúng trong bất cứ trường hợp nào. Cảnh sát đã lục soát nhiều căn nhà trong khắp các vùng ngoại ô ở phía tây thành phố Sydney, nhưng cặp tội phạm này đã tránh né họ. Và rồi một người đàn ông gọi điện thoại cho biết có hai thanh niên rất giống sự miêu tả trên báo đang sống trong căn townhouse ngay bên cạnh nhà ông. Ngay tức khắc cảnh sát đã vây kín dẫy townhouse ở Tari Way, Glenfield, một vùng ngoại ô cách Blacktown khoảng 22 cây số. Khi một phụ nữ rời khỏi căn nhà, cảnh sát liền chặn bắt, cô ta cho biết hai anh em Murphy có mặt ở đó ban ngày nhưng đã đi khỏi. Cảnh sát không tin và quyết định xông vào căn nhà này.
Với chiếc trực thăng cảnh sát, Polair, rọi đèn sáng cả khu vực, các thám tử đã đập cánh cửa xông vào nhà bắt giữ Mick và Gary Murphy. Lúc đó Mick đang ngồi xem truyền hình và không kháng cự. Gary toan tính chạy thoát ra cửa sau nhưng đã bị một cảnh sát vật xuống đất, và cả hai đụng mạnh vào một hàng rào, làm trầy mặt của Murphy. Sau này hắn khai đã bị cảnh sát đánh đập. Thật sự thì tên du đãng này quá sợ hãi đến độ "đái ra quần". Hai anh em Murphy bị áp giải đến trạm cảnh sát Blacktown và bị buộc tội giết chết Anita Cobby.
Tin tức về vụ bắt giữ này đã lan nhanh như một trận cháy rừng và một lần nữa đám đông giận dữ đã tụ tập bên ngoài trạm cảnh sát Blacktown, kêu gọi "máu phải trả bằng máu". Có tới 1500 người đã làm tắc nghẽn các con đường chung quanh trạm cảnh sát, họ chờ đợi để được nhìn thấy mặt các tên giết người. Vào lúc 9 giờ sáng, hai anh em Murphy chính thức bị buộc tội tại tòa án Blacktown.
HÀNH ĐỘNG MAN RỢ CủA BẦY DÃ THÚ
Từ năm lời khai của các bị cáo, bồi thẩm đoàn đã nghe những gì thật sự đã xảy ra trong buổi tối khủng khiếp Chủ nhật, 2 tháng Hai 1986. Suốt buổi trưa và buổi chiều Chủ nhật đó Travers và nhóm của hắn đã uống rượu tại Doonside Hotel, và tất cả đều đã say. Chúng quyết định chạy rong chơi trong một chiếc xe mà Travers đã lấy trộm một tuần trước đó, và để có tiền đổ xăng chúng dự định giựt chiếc xách tay của một phụ nữ.
Ngay lúc đó một người phụ nữ trẻ đẹp đi bộ một mình trên con đường Newton Road với chiếc túi xách đeo lủng lặng trên vai đã là một mục tiêu lý tưởng của nhóm du đãng này. Chúng ngừng xe ngay trước mặt Anita Cobby, Travers và Mick Murdoch nhảy ra và kéo nạn nhân vào trong xe. Chỉ vài giây sau khi bị kéo vào chiếc xe, Anita bị buộc phải cởi quần áo, nhưng cô cự tuyệt và nói nhiều lần với những tên du đãng này rằng: "Hãy tha cho tôi. Tôi đã có gia đình." Travers và Murdoch bắt đầu giựt xé quần áo và đấm vào mặt và đầu nạn nhân. Từ ghế trước Les Murphy đã chồm người ra phía sau đấm vào người Anita trong khi Michael Murphy tát vào mặt cô ta. Anita đã chống cự mãnh liệt nhưng không có cơ hội nào để thoát khỏi nanh vuốt của các tên quỷ dâm dục này.
Chúng giữ con tin nằm trần truồng trên sàn xe ở băng sau trong khi ghé vào trạm đổ xăng, và trả tiền lấy từ chiếc bóp của Anita. Trên đường từ trạm xăng tới Reen Road, Travers và Mick Murphy đã thay phiên hãm hiếp Anita ở băng ghế sau trong khi những tên khác lục soát chiếc túi xách của nạn nhân. Chạy được nửa con đường Reen Road, chúng ngừng xe và lôi nạn nhân trần truồng vào một đường mương, tại nơi đó Travers, Garry Murphy và Les Murphy đã luân phiên hãm hiếp. Garry Murphy đã buộc Anita phải làm tình bằng miệng và kê dâm nạn nhân.
Sau khi cả bọn đã thỏa mãn thú tính, thì bất chợt Michael Murphy nổi hung lên và hãm hiếp lần nữa, sau đó đấm đá Anita cho tới khi cô ta nằm bất động trên mặt đất. Les Murphy đã đá một cú thật mạnh vào đầu Anita trước khi chúng quyết định bỏ mặc nạn nhân nằm thoi thóp trên bãi cỏ và đi trở lại chiếc xe. Thế nhưng Travers tỏ ra không vui. Hắn bàn tính rằng Anita có thể đã nhận diện tất cả và đã nghe chúng gọi tên lẫn nhau, do đó cô ta phải bị giết chết. Travers nói với đồng bọn rằng: "Tao quay lại giết nó, không thể để nó sống để đi báo chúng mình. Tao sẽ cắt cổ nó."
Cả bọn đã đồng thanh thúc giục Travers ra tay hành động: "Đúng, con nhỏ này đã thấy rõ mặt chúng mình. Hãy trở lại thanh toán nó đi." Chẳng cần nhiều sự khuyến khích, Travers đã đi trở lại chỗ Anita nằm, ngồi lên lưng, nắm tóc giật mạnh đầu lên và dùng dao cắt cổ họng nạn nhân. Hành động dã man giống hệt như hắn đã từng làm đối với các con cừu. Trong bản tự thú, Travers nhớ lại rằng hắn đã cắt cổ họng Anita hai lần. Và chứng cớ pháp y đã chứng thực điều này. Travers bỏ mặc nạn nhân nằm trần truồng trên bãi cỏ, chảy máu cho tới chết với chiếc đầu bị cắt gần lìa thân thể.
Khi Travers đi trở lại xe, người hắn dính đầy máu của Anita và kiêu hãnh kể về hành động dã man mà hắn vừa làm. Sau đó chúng quyết định chạy xe đến nhà mẹ của Travers để tắm rửa. Trên đường đi, Travers đã kể chi tiết về hành động giết người ghê rợn này. Tất cả đều cười lớn và khen ngợi hắn rất chì và thông minh nhất. Không một kẻ nào trong đám giết người này đã có một chút sự ray rứt về hành động man rợ mà chúng đã làm.
Travers giải thích với người mẹ các vết máu dính đầy trên quần áo là do giết chết một con chó đã tấn công hắn. Mick Murdoch thu nhặt tất cả quần áo và vật dụng của Anita trên xe, và cả bọn đứng uống bia trong khi đốt các tang chứng ở sân sau nhà. Năm ngày sau chúng lái chiếc xe ăn cắp đến một khu rừng hoang vắng và đốt cháy.
Trong lời khai của các bị cáo, Gary, Les và Mick Murphy và Mick Murdoch đều một mực nói là đã không dính líu đến vụ giết chết Anita Cobby. Tất cả đều nói rằng cảnh sát đã đánh đập chúng và buộc chúng phải thú tội. Một khi Travers đã nhận tội, tất cả các tên đồng bọn đều đổ tội cho hắn. Gary Murphy quả quyết rằng thậm chí hắn đã không có mặt ở đấy trong đêm hôm đó. Hắn khai lúc đó đang uống rượu với các người bạn, nhưng lại không nhớ rõ ở đâu.
Les Murphy đã khóc lóc và cầu xin Thượng Đế giúp làm cho bồi thẩm đoàn tin rằng hắn đã không hãm hiếp và đánh đập cô Anita Cobby. Trong khi Michael Murphy thì nói rằng chỉ có mỗi mình hắn đã cố gắng ngăn cản hành động kéo Anita Cobby vào trong xe. Còn riêng Mick Murdoch khai rằng hắn rất sửng sốt trước toàn bộ câu chuyện này và hắn ngồi trong xe không dính líu đến.
Vào ngày 16 tháng Sáu, 1987, John Travers và các đồng bọn bị xử trong Tòa án Tối cao. Hàng trăm người đã đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để theo dõi phiên xử này. Cuối cùng Quan tòa Maxwell đã tuyên bố bản án chung thân cho mỗi tên, và trong các tập hồ sơ của 5 tên tội phạm đại ác này đều được đóng dấu "Không Bao Giờ Được Thả". John Raymond Travers, Michael James Murdoch, Leslie Joseph Murphy, Michael Patrick Murphy và Gary Steven Murphy hiện đang bị giam trong các nhà tù kiên cố nhất của tiểu bang NSW. Và chúng sẽ chết rũ tù ở đó.[/align]

 

 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-16 01:07:35Ct.Ly>
 

        Những hình ảnh chết người 
Thiên hạ đồn thổi những con búp bê nhuốm đầy màu sắc liêu trai này “mượn” da và tóc của người đã khuất. Chưa rõ hư thực thế nào, nhưng quả thật mới liếc qua chúng thôi cũng đủ khiến tóc gáy người ta dựng ngược.














Bình thường chả sợ ma mà nhìn mấy con quỷ này cũng thấy lành lạnh


Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
           Những ngôi nhà ma
 
 





Hai vợ chồng Albert và Ivy Cardwelll muốn dọn đến ở tại một chung cư mà họ thích tại Rotherham ở miền Nam Yorkshier (Anh Quốc). Hôm đó nhằm tháng 7 năm 1986, hai người đã cảm thấy có sự dị thường nơi dãy phòng họ Ở. Ban đêm, họ nghe tiếng kọt kẹt có vẻ dè dặt rồi như có tiếng chân đi và tiếng gõ cửa ở phòng ngoài, ngay nơi phòng ngủ chính. Tiếng động ấy làm nhiều người nghe rõ nhưng bà Cardwell lại là người độc nhất thấy rõ một hình ảnh lạ lùng ghê sợ. Bà thấy một "con ma" xuất hiện trước mặt, đó là người đàn bà và bà ta biến mất ngay khi bà Cardwell có ý định chỉ cho chồng thấy cảnh tượng lạ lùng này.

Không phải hình ảnh ma luôn luôn hiện ra mờ ảo mà trái lại đôi lúc giống như một người sống. Tại Dunstable, ở Bedfordshire (Anh) có một ngôi nhà cổ mà dân quanh vùng không dám lại gần vì nhiều người đã thấy ở đó, hàng đêm xuất hiện một con ma đã già, mặc bộ đồ đen bạc màu thời đại Nữ Hoàng Victoria có nút đính khuy vàng nổi trên cổ áo. Đây không phải là một bóng ma mờ ảo mà trái lại hiển hiện như người thật. Năm 1966, vào mùa hè, con ma xưa cổ này lại xuất hiện một lần nữa ngay ở khung cửa lớn của ngôi nhà nhìn xuống đồi.

Một nhóm nghiên cứu về các hiện tượng ma quái đã đột nhập ngôi nhà cổ để quan sát và đã khẳng định rằng: hằng đêm khoảng 7 giờ đến 8 giờ tối, con ma già xuất hiện thường nhất là ở ngay phòng ngủ. Gương mặt mờ xám nhưng không có vẻ gì dễ sợ tuy nhiên những người có mặt cảm thấy rợn tóc gáy. Luôn luôn "con ma" đứng ngay giữa phòng, tóc màu xám tro rũ xuống trước trán. Vừa lúc đó, con chó Lassie chạy ngang, lúc bước qua trước mặt "con ma già" nó rên rỉ một tràng dài não ruột như bị một luồng điện chạy qua cơ thể nó.

Qua nhiều cuộc điều tra tỉ mỉ, người ta biết được ngôi nhà này ngày xưa chủ nhân sống cô độc và sau này phát điên rồi chết, người chết ấy chính là con ma thường đêm xuất hiện ngay nơi phòng ngủ của ngôi nhà cũ hoang vắng này...

Tại một vùng hoang vắng ở California (Hoa Kỳ) có một nhà gạch, ngôi nhà này được hai vợ chồng Frandes Littlemua lại vào năm 1968. Chỉ sau vài tuần dọn đến ở, người chồng bỗng thấy một người đàn bà lầm lũi đi quanh nhà như muốn tìm kiếm một cái gì, khi nhìn kỹ gương mặt, người chồng bỗng kinh ngạc vì đó là người vợ trước của mình.

Sau đó, bà Little (người vợ sau) một hôm đang ở nhà một mình bỗng đêm ấy thấy có một người đàn bà cao mảnh khảnh tự nhiên không biết từ đâu lững thững đi ra từ sau căn phòng một cách yên lặng và tiến vào phòng ngủ. Tại đây, người đàn bà này có vẻ tần ngần do dự trong bước chân đi nhưng không quay mặt về phía bà Littlẹ Rồi bất thần, người đàn bà ấy đi xăm xăm về phía phòng khách, ở vị trí này, bà Little có thể quan sát rõ ràng toàn thể người đàn bà lạ này. Nhanh trí, bà Little vội lấy cái máy ảnh nơi tủ gần chỗ bà đứng và bấm ngay một bức ảnh. Khi đèn lóa lên thì người đàn bà quay lại và sau đó biến mất. Bức ảnh được rửa ra và ông bà Little nhận ra đó là Alice Margaret Kolitisch, người đàn bà đã cùng ông Little xây dựng ngôi nhà nơi hoang vắng này vì lúc đó họ muốn sống một cuộc sống ẩn dật hạnh phúc lứa đôi với nhau. Năm đó là năm 1920.

Một trường hợp khác đặc biệt xảy ra tại một ngôi nhà ở Stockton, nơi vùng ngoại ô của New Castle, New South Wales (Úc Đại Lợi), ngôi nhà vừa được hai người trẻ tuổi và một người cháu gái thuê ở. Chỉ mới hai tuần lễ mà họ đã trải qua nhiều thử thách bởi một năng lực siêu nhiên huyền bí phát sinh quanh nhà và ngay cả trong nhà (từ đầu năm 1970 khi họ dọn đến ở). Trước tiên họ thấy tấm drap trải giường nhàu nát một cách lạ lùng sau mỗi lần họ căng trải cẩn thận, đồ chơi của đứa cháu gái thì di chuyển một cách tự nhiên mặc dù không có ai đụng tay vào, còn cửa lớn thì có tiếng gõ vang dậy một cách dữ dội, khẩn cấp. Điều kỳ lạ là đứa cháu gái nhỏ thường bị một bàn tay vô hình của ai đó nhấc bỗng lên khỏi chỗ nằm hay chỗ ngồi. Những người bạn của hai người trẻ tuổi này thường năng lui tới ngôi nhà này cũng đã chứng kiến nhiện tượng lạ lùng, có người đang ngồi bỗng nhiên có ai lắc đôi vai thật mạnh, có người cảm thấy như có đôi mắt nào đó đang chăm chú nhìn mình một cách quái đản. Micheal và Dianne Cooke, hai người trẻ tuổi thuê nhà đã nói như sau:

- Thường đêm chúng tôi thấy và nghe nhiều điều kỳ dị, ghê rợn nhất là gương mặt trắng bệch hiện ra nơi cửa sổ với đôi mắt trắng dã và con ngươi màu xám tro, chúng tôi phải tính chuyện dọn đi khỏi ngôi nhà quái gỡ kinh khiếp này càng sớm càng tốt...[/align]

 

 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
Ma quá giang ở Việt Nam
 
 





Chuyện ma xin quá giang xảy ra không riêng gì tại một quốc gia nào. Nhiều tài liệu thu thập được từ những chứng nhân ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ là những người đã thấy rõ hồn ma và cũng chính họ đã cho những ma đó đi một đoạn đường.

Tại Việt Nam, không hiếm trường hợp đã xảy ra. Một vài thí cụ điển hình mà chúng tôi xin lược kể ra đây là những trường hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại.

Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 đến 1945. Một đêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhưng tự nhiên thay vì kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao (qua cầu Trường Tiền), ông ta lại kéo xe chạy theo đường Hàng Đường để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa bước lên vừa đưa tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại.

Ông Trùm Mày vội vã ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa đi vừa chỉ về phía trước vừa nói - tiếng nói nhỏ như sợ có ai nghe: - Chở tôi về bến đò chợ Bao Vinh.

Ông Trùm Mày cố định thần nhìn cho kỹ mặt cô gái nhưng vì tóc cô để xõa nên chẳng thấy rõ mặt mày. Điều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy như chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai mươi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại. Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại để hỏi chuyện cô gái, nhưng lạ lùng chưa, cô gái không còn nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà.

Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lý Trưởng ở làng Bình An nghe. Người lão bộc trong nhà ông Lý Trưởng cho biết ở quảng đường gần cống Kẻ Trài đến bến đò Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, trước đó độ năm năm, cô gái này bị chết nơi bến đò gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vướng vào gốc và rễ những cây sanh già cỗi nơi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đường người qua lại để hỏi thăm, chuyện trò hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phương tiện chuyên chở đi qua đó. Theo người lão bộc (ông Ngọng) thì có lần hai người kéo xe bò qua đó cũng đã gặp cô gái từ dưới bến sông (Đông Ba) đi lên xin đi nhờ một quãng đường. Khi xe đi được khoảng nửa tiếng, thì bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bõm" như có vật gì rơi xuống sông. Ngay lúc đó hai người đánh xe bò rởn tóc gáy vì cô gái trên xe đã biến mất tự bao giờ (lúc đó khoảng một giờ sáng).

Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần trường tiểu học Gia Hội (Huế). Anh Hinh trước ở làng Đại Lược sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lộ Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1956. Ở Huế mùa hè rất nóng, anh Hinh thường đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Đêm đó, theo lời anh kể hình như là đêm 13 âm lịch, trời đầy trăng sao. Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi trường tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đường đi Mười Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngã ba thì anh thấy một người đàn bà đứng ngay nơi chỗ quẹo và đưa tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vã dừng xe lại. Dưới ánh trăng, anh thấy rõ gương mặt người đàn bà, rõ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh đậu mùa để lại trên gương mặt người đàn bà. Anh hỏi:

- Chị về đâu?" Người đàn bà vừa trả lời vừa bước lên xe:

- Cho tôi đến Chùa Bà.

Khi xe sắp đến đường quẹo thì người đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tời giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vườn to lớn trồng toàn là nhãn và vải, anh Hing nhìn thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ vì số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đường. Hay người đàn bà đã đưa nhầm, tưởng đó là giấy 10 đồng, nhưng 10 đồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó. Vốn là người lương thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vườn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 đồng vào cái bóp để trong túi áo. Trước khi đạp xe về nhà, anh còn nhìn kỹ lại địa điểm mà người đàn bà có gương mặt rỗ hoa đã bước suống xe để vào khu vườn sầm uất. Điều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn.

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông đồng. Khu vườn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vườn. Xa tít phía trong khu vườn là căn nhà xưa cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đã đi vắng. Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thường, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này được chôn trong vườn nhà. Trưa hôm đó, anh ghé lại cái quán cơm gần Ô Hồ để ăn trưa, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc đâu cả. Tìm mãi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đã có từ trước. Nhưng trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc.

Anh ngẩn ngơ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đường xương sống... như có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay người bán quán về khu vườn nơi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong vườn thì người bán quán cho biết như sau:

- Khu vườn đó là của ông Cả Đễ. Ông có một người vợ bé, bà này ở chung với bà vợ lớn và bị bà vợ lớn của ông Cả Đễ ganh ghét, hành hạ đủ điều. Cách đây hai năm, bà vợ bé bị bệnh đậu mùa, người trong nhà sợ bị lây bệnh tìm cách lánh xạ Sau đó bà vợ bé chết. Ông Cả Đễ thương tiếc vô cùng, chôn ngay trong vườn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một mình ông Cả Đễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vườn mà thôi. Bà vợ lớn thì đã bỏ vào Đà Nẵng lấy chồng khác. Ông Cả từ đó có vẻ tàng tàng và mất trí... " Anh Hinh nghe đến đó thì tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho người chủ quán nghe. Sau cùng người chủ quán nói:

- Như vậy là anh đã gặp đúng người vợ bé của ông Cả Đễ rồi! Với lại gương mặt rỗ hoa thì chính là bà ấy rồi, nhưng lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhưng theo ôn mệ (cha mẹ) tôi ngày trước thường kể thì những người đã giúp đỡ ma thường hay được phù trợ. Như anh đã có lần chở hồn ma bà vợ bé ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi... "[/align]

 

 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
               Vũ điệu wỹ
 
 
 
Đó là một nơi đáng sợ và huyền bí, nơi của những phép ma và những thất bại tồi tệ nhất.
Tôi đã dành một phần tư cuộc đời sống ở đó, học cách đối phó với sự đơn điệu, điên rồ.
Năm năm không tới đã biến tôi thành một kẻ lạ mặt, và khi bước vào hành lang của khu nhà, lòng tôi thấy bồn chồn khó tả.
Những cánh cửa kính, sàn nhà lát đá granit đen bóng, những bức tường hình lòng chảo có tên của các Mạnh Thường Quân đã qua đời.
Đây đúng là cái trạm hào nhoáng cho một chuyến du hành bất tận không người hướng dẫn.
Bên ngoài là mùa xuân nhưng ở đây thời gian có một ý nghĩa khác.
Có một nhóm các phẫu thuật sinh thực tập rất trẻ đang lững thững đi qua tôi trên những đôi dép đế dày của các bác sĩ phụ mổ, trông họ mệt mỏi vì phải làm ca kép. Đôi giày đế da của tôi kêu lộp cộp khi bước đi trên nền đá hành lang.
Sàn hành lang trơn và lạnh như sân băng. Hồi tôi bắt đầu làm bác sĩ thực tập ở đây thì nó mới được lát đá. Tôi nhớ lại những vụ phản đối. Nhiều lá đơn phản ánh sự bất hợp lý của sàn đá, ở nơi mà trẻ con thường chạy nhảy, nô đùa và đẩy xe lăn. Nhưng một số nhà nhân chủng học lại thích kiểu dáng của sàn đá. Thời đó, nhân chủng học là lĩnh vực đang được ưa chuộng.
Sáng nay, diện tích mặt sàn đá không còn trống nhiều, một đám đông đang chen lấn khắp hành lang, phần lớn có nước da đen, mặc quần áo rẻ tiền, xếp thành hàng dài tại những chiếc quầy có thành làm bằng kính và chờ đợi ân huệ của mấy thư ký mặt lạnh như tiền. Mấy thư ký luôn tránh nhìn vào mắt các bệnh nhân và tôn thờ đám giấy msa. Dòng người dường như không hề di chuyển.
Trẻ con đứa gào khóc, đứa bú mẹ; những phụ nữ trông tiều tuỵ; mấy người đàn ông cố nuốt trôi những câu chửi rủa định phát ra khỏi miệng và nhìn không chớp mắt xuống sàn. Những người lạ mặt va vào nhau liên tục và cùng cười cầu hoà với nhau.
Một vài đứa trẻ vặn người, và vùng vằng để thoát ra khỏi cánh tay ôm của người lớn. Bọn chúng thoát ra được khoảng một hay hai giây rồi lại bị kéo trở lại. Những đứa trẻ khác xanh xao, gầy gò, hốc hác, đầu rụng hết tóc được phết lên những loai màu kỳ lạ thì đứng yên, tuân lời cha mẹ một cách đau đớn. Giọng nói lanh lảnh phát ra nghe như tiếng của một cái máy. Thỉnh thoảng có những nụ cười hay một chút vui vẻ làm sáng lên căn phòng đầy ảm đạm âm u này.
Khi tới gần hơn, một thứ mùi đặc trưng đập vào mũi tôi.
Mùi nồng của cồn rửa, vị đắng của thuốc kháng sinh, cái nhớp nháp của cồn ngọt và sự đau đớn của người bệnh.
Đó là những thứ của bệnh viện. Có nhiều thứ không hề thay đổi theo thời gian. Nhưng tôi thì đã thay đổi, đôi tay tôi lạnh toát.
Tôi vừa chen vừa đẩy mới đi qua được đám đông. Vừa khi tôi bước tới thang máy thì một người đàn ông to, khoẻ trong bộ đồng phục xanh dương của cảnh sát từ đâu đó bước ra chặn lối. Anh ta có cái đầu cắt cua quá trọc tới mức lộ cả lớp da đầu bóng láng. Khuôn mặt lưỡi cày của anh ta được trang trí bởi bộ kính gọng đen.
- Thưa, ông cần gì?
- Tôi là bác sĩ Delaware. Tôi có một cuộc hẹn với bác sĩ Eves.
- Xin ông cho xem giấy tờ.
Trong vẻ lạ lùng, tôi lôi cho anh ta xem cái phù hiệu có kẹp cài đã được làm cách đây năm năm. Anh ta cầm và xem xét rất kỹ càng như thể nó là một đầu mối để tìm ra điều gì đó. Thỉnh thoảng, anh ta ngước nhìn tôi rồi lại nhìn vào bức ảnh đen trắng chụp cách đây đã mười năm. Tay anh ta cầm chiếc máy bộ đàm. Khẩu súng ngắn nằm trong cái bao đeo ở hông.
Tôi nói:
- Hình như ở đây kiểm tra nghiêm ngặt hơn nhiều từ khi tôi rời khỏi.
- Cái này đã quá hạn rồi - Anh ta đáp - Ông vẫn còn trong danh sách nhân viên ở đây, phải vậy không?
- Đúng thế.
Anh ta cau mày và bỏ cái phù hiệu vào túi áo mình.
Tôi nói:
- Vậy là có gì đó không ổn sao?
- Thưa ông, ông cần phải có phù hiệu mới. Ông hãy đi qua cái am thờ kia tới chỗ Ban An ninh, họ sẽ chụp ảnh và cấp cho ông một cái phù hiệu mới. - Anh ta đưa tay chạm vào chiếc phù hiệu trên ve áo. Nó có một bức ảnh màu, số chứng minh bao gồm 10 con số.
- Phải mất khoảng bao lâu mới xong? - Tôi hỏi.
- Cái đó còn tuỳ thuộc, thưa ông - Anh ta đưa mắt nhìn ra chỗ khác như thể đột nhiên cảm thấy nhàm chán.
- Tuỳ thuộc vào cái gì?
- Vào có bao nhiêu người đến trước ông và liệu những giấy tờ của ông có còn hiện hành không nữa.
Tôi nói:
- Này anh, cuộc hẹn của tôi với bác sĩ Eves chỉ vài phút nữa là tới rồi. Tôi sẽ làm phù hiệu trên đường ra vậy nhé.
- Thưa ông, có lẽ không được đâu - Anh ta đáp, mắt vẫn nhìn đi đâu đó. Đôi cánh tay anh ta khoanh tròn trước ngực - Đó là quy định ở đây.
- Có phải đây là quy định mới không?
- Đã có công văn gửi theo đường thư tới đội ngũ nhân viên y tế của bệnh viện từ mùa hè trước cơ, thưa ông.
- Chắc là tôi không được đọc công văn đó mất rồi.
Nói toẹt ra là có lẽ tôi đã không mở ra xem mà lập tức ném vào sọt rác giống như hầu hết các thư từ bệnh viện gửi tới cho tôi.
Anh ta không đáp lời.
- Tôi đang rất gấp rồi anh ạ - Tôi nói - Thế nếu tôi lấy thẻ khách thăm để cho qua chuyện này thì sao?
- Thẻ khách thăm chỉ dành cho khách, thưa ông.
- Thì tôi đang đến thăm bác sĩ Eves chứ sao.
Anh ta ném ánh mắt về phía tôi. Lại một cái cau mày - lần này thì có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Anh ta nhìn chằm chằm vào cà-vạt của tôi,một tay đưa ra chạm vào cái bao da ở hông.
- Thẻ khách thăm thì ông tới Ban Đăng ký - Anh ta nói đồng thời ngoắc ngón tay cái về phía một trong những hàng người dày đặc.
Anh ta lại khoanh tay trước ngực.
Tôi cười:
- Vậy là không có cách nào để cho qua chuyện này sao?
- Không, thưa ông.
- Thế có đúng là qua cái am thờ kia thì tới không?
- Qua đó và rẽ phải.
- Phải chăng ở đây vừa mới xảy ra chuyện gì nghiêm trọng? - Tôi hỏi.
- Tôi không đưa ra quy định, thưa ông. Tôi chỉ là người thực thi các quy định ấy.
Anh ta nán lại một phút rồi đứng tránh sang bên, nhìn theo tôi ra khỏi hành lang. Tôi ngoặt ở góc, trong lòng vẫn nghĩ rằng anh nhân viên an ninh ấy sẽ bám theo tôi nhưng hành lang hoàn toàn trống rỗng và yên lặng.
Cánh cửa có ghi chữ Ban An ninh cách đó hai mươi bước. Một cái biển treo lủng lẳng trên núm cửa sổ có ghi Sẽ trở lại bên trên là hình đồng hồ kim chỉ vào 9 giờ 30. Theo đồng hồ của tôi lúc này mới là 9 giờ 10. Tôi cứ gõ cửa; không có ai trả lời. Tôi nhìn quay lại; không có nhân viên an ninh nào. Nhớ mang máng rằng cái thang máy dành cho nhân viên y tế của bệnh viện nằm ngay cạnh phòng Điều trị bằng phóng xạ vì thế tôi tiếp tục đi dọc theo hành lang về phía đó.
Phòng Điều trị bằng phóng xạ bây giờ đã bị đổi thành phòng Nguồn phục vụ cộng đồng. Cái cửa này cũng đóng. Thang máy vẫn còn đó nhưng những cái nút bấm thì đã biến mất. Nó đã được chuyển từ vận hành bằng nút sang vận hành bằng chìa khóa. Tôi liền tìm kiếm xem có cầu thang bộ nào gần nhất không thì một cặp hộ lý xuất hiện, tay đang đẩy cái xe trống. Cả hai hộ lý đều còn trẻ, cao lớn, da đen, tóc kiểu hip-hop rất sành điệu. Họ đang nói chuyện với nhau rất say sưa về trò chơi Raiders. Một trong số họ rút ra chiếc chìa khoá, nhét vào ổ và xoay. Cánh cửa thang máy mở ra, thành của nó được phủ một lớp bông đệm. Những giấy gói đồ ăn vặt và một mẩu bông băng bẩn vương vãi khắp sàn thang máy. Hai hộ lý đẩy cái xe vào trong. Tôi nhảy vào theo họ.
Khu Bệnh nhi tổng hợp nằm ở đầu phía Đông của tầng 5 toà nhà bệnh viện được ngăn cách với phòng Sơ sinh bởi một cánh cửa gỗ xoay. Tôi biết phòng khám ngoại trú này mới được mở cách đây 15 phút nhưng phòng đợi đã đông kín người. Người hắt hơi, người ho, những vẻ mặt đờ đẫn và sự bồn chồn lo lắng. Các bà mẹ người nắm, người ôm lấy những đứa con đủ lứa tuổi. Tay họ nắm khư khư mớ giấy ờ và những cái thẻ Medi-Cal (1) nhựa có phép màu. Bên phải cửa sổ tiếp tân là cánh cửa đôi có ghi Bệnh nhân đến đăng ký và bên dưới là một dòng chữ được viết lại với nội dung tương tự bằng tiếng Tây Ban Nha.
Tôi đẩy cửa đi vào và sải bước qua một hành lang dài màu trắng dán đầy các tấm áp phích về an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, dọc đó là những báo chí y tế của quận và những lời hô hào viết bằng hai thứ tiếng về việc nuôi dưỡng, tiêm phòng, cai rượu và tránh xa ma tuý. Khoảng hơn chục phòng khám đang được sử dụng. Giá để bệnh án đã đầy tràn. Phía xa của hành lang là những thùng đựng hồ sơ, tủ đựng đồ tiếp tế và cái tủ lạnh được đánh dấu chữ thập đỏ. Người thư ký đang gõ vào bàn phím máy tính. Những y tá hớt hải đi lại giữa những chiếc tủ đựng đồ tiếp tế và những phòng khám. Các bác sĩ nội trú nói vào máy nói đặt cạnh cằm và đi theo những bác sĩ chính đang sải bước rất nhanh.
Bức tường nằm vuông góc với một hành lang ngắn hơn toàn là phòng của các bác sĩ. Cánh cửa phòng của Stephanie Eves vẫn mở, nó là cửa thứ ba trong số bảy cửa.
Căn phòng rộng chừng 3x3,6 mét vuông, những bức tường được sơn màu be tiêu chuẩn, cạnh đó là những giá để đầy sách vở và báo chí, h ai bức hoạ lớn sao chép của hoạ sỹ Miró và một cánh cửa sổ kính mờ nhìn ra hướng Đông. Bên ngoài đỉnh của những ngọn đồi Hollywood dường như đang tan biến trong một nồi nước xáo gồm có những tấm biển quảng cáo lớn và sương khói.
Cái bàn làm việc giả gỗ óc chó tiêu chuẩn của bệnh viện, khung mạ crôm, được đẩy sát vào tường. Chiếc ghế đẩu khung mạ crôm được bọc vải màu da cam có vẻ chắc chắn đang cố gắng chiếm lấy chút không gian với cái ghế ngả lưng màu nâu kiểu Naugahyde đã bị trầy xước nhiều chỗ. Giữa hai cái ghế này là một cái bàn để đèn nhỏ rẻ tiền, bên trên đặt cái máy pha cà phê và cây ráy thơm trong chiếc bình sành sứ màu xanh.
Stephanie ngồi tại bạn, mặc chiếc áo khoác dài trắng bên ngoài áo dài màu nâu và rượu vang đang cắm cúi viết trên mẫu nhận bệnh nhân ngoại trú. Chồng bệnh án cao tới cằm đổ bóng xuống cánh tay đang viết của cô. Khi tôi bước vào phòng, cô ngửng mặt lên nhìn rồi đặt bút xuống, miệng nở nụ cười và đứng dậy.
- Anh Alex.
Cô đã trở thành một phụ nữ khả ái. Mái tóc màu nâu xỉn một thời để dài quá vai, lúc nào cũng rối bời nay đã cắt ngắn gọn, được phủ một lớp óng ánh như sương sớm, và còn làm cho bồng bềnh như lông vũ. Cặp kính sát tròng đã thay thế cặp kính cũ, để lộ ra đôi mắt màu hổ phách mà tôi chưa từng nhìn thấy ở cô bao giờ. Thân hình của Stephanie dường như khoẻ khoắn hơn như được chạm khắc. Thời gian đx không bỏ qua cô khi cô bước sang phía tối của tuổi băm. Đôi mắt cô đã hằn những vết ch ân chim còn khoé miệng như có cái gì đó trở nên xơ cứng. Mỹ phẩm đã phần nào che được hết thảy những dấu vết của thời gian.
- Thật vui khi được gặp anh - Cô nói rồi cầm lấy tay tôi.
- Tôi cũng rất vui mừng được gặp lại cô, Steph.
Chúng tôi ôm lấy nhau trong giây lát.
- Để tôi lấy cho anh chút gì đó uống nhé? - Cô chỉ tay về phía cái máy pha cà phê, cánh tay phát ra những tiếng kêu lẻng xẻng. Mấy cái vòng mạ vàng quấn quanh cổ tay cô. Tay bên kia của Stephanie có đeo chiếc đồng hồ màu vàng. Cô không đeo nhẫn - Uống cà phê thường hay cà phê sữa nào? Cái máy này còn hâm nóng được cà phê đấy.
Tôi từ chối và nói lời cảm ơn trước khi nhìn vào chiếc máy. Đó là vật nho nhỏ đã xỉn đen, vỏ bằng thép mang biểu tượng của một nhà máy bên Đức. Bình đựng nước nhỏ nhắn chỉ chứa được hai cốc nước đầy. Cạnh bình là chiếc ấm đun bằng đồng nhỏ.
- Đẹp đấy chứ? - Stephanie nói - Đó là món quà do một người bạn tặng đấy. Chắc phải cố gắng lắm mới đưa được chút lối sống hiện đại vào nơi này.
Cô cười. Thứ hiện đại là điều mà cô không bao giờ quan tâm tới. Một cuốn sách bìa bọc da nằm trên mặt bàn cạnh đó. Tôi cầm lấy cuốn sách lên xem. Đó là tuyển tập thơ của thi sĩ Byron. Trên cuốn sách có dán nhãn của cửa hàng mang tên Browers - địa chỉ ở đường Los Feliz, ngay phía trên Hollywood. Đó là một cửa hàng đầy bụi bặm và chật chội bán sách thơ là chủ yếu. Trong đó toàn là những thứ tạp nham nhưng cũng có một vài thứ đáng quý. Khi còn là bác sĩ thực tập, tôi đã từng tới đó một lần vào giờ ăn trưa.
Stephanie nói:
- Ông ấy là nhà thơ. Tôi đang cố mở rộng chút hứng thú của mình vào lĩnh vực này.
Tôi đặt cuốn sách xuống. Stephanie ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn làm việc của mình và xoay một vòng lại đối mặt với tôi, hai chân bắt chéo. Đôi tất màu nâu và giày da lộn rất hợp với bộ cánh của cô.
- Cô thật đẹp - Tôi khen.
Cô mỉm cười, bất chợt nhưng đầy đặn, như thể đã đoán trước rằng tôi sẽ khen mà vẫn cảm thấy thích thú với lời khen ấy.
- Anh thì có kém gì chứ, anh Alex. Cảm ơn anh vì đã đến ngay.
- Là vì cô đã khuấy đảo niềm hứng thú của tôi.
- Thật vậy sao?
- Đúng thế. Toàn bộ những điều cô nói đều gợi cho tôi những suy tưởng về một âm mưu cao siêu nào đó.
Stephanie quay nửa vòng về phía bàn, lấy một cái bệnh án ra khỏi chồng, đặt nó lên đùi nhưng không mở ra.
- Đúng vậy - Cô nói - Đó là một ca gai góc lắm, tôi nói thật đấy.
Đột nhiên, cô đứng bật dậy, ra đóng cửa và quay về ngồi xuống chỗ cũ.
- Anh cảm thấy thế nào khi trở lại đây? - Stephanie hỏi.
- Chút nữa là tôi đã bị tóm cổ trên đường vào đây đấy.
Tôi kể lại cho cô nghe về cuộc chạm trán với nhân viên an ninh nọ.
- Đó là những kẻ phát xít ấy mà - Cô nói một cách vui vẻ. Câu nói của cô khiến tôi nhớ ra rằng cái Uỷ ban khiếu nại do chính cô đứng đầu. Đội blu trắng, quần jeans, dép xăng đan đã bị đội áo khoác trắng tỏ vẻ khinh miệt. Họ gọi cô là Stephanie, chứ không kèm danh hiệu Bác sĩ. Danh hiệu vẫn luôn là công cụ phân biệt của giới có quyền...
Tôi nói:
- Đúng thế, đó là thái độ nửa quân phiệt chứ chẳng sai.
Cô nhìn vào cuốn bệnh án trên đùi mình và nói:
- Cái mà chúng ta đang có là một câu chuyện ly kỳ - một chuyện hy hữu trong lịch sử đấy. Chỉ có điều đây không phải là tác phẩm trinh thám của nhà văn Agathan Christie, anh Alex ạ. Đây thực sự là một mớ bòng bong ngoài đời đấy. Tôi không biết anh có giúp gì được không, nhưng tôi thì không còn biết phải làm gì nữa rồi.
Những giọng nói từ bên ngoài hành lang vọng qua khe cửa lọt vào trong, tiếng thét, tiếng chửi rủa và mắng nhiếc hoà lẫn với tiếng bước chân chạy trốn. Rồi tiếng khóc trong kinh hoàng của một đứa bé xuyên thủng bờ tường lọt vào phòng.
- Đây đúng là một vườn thú - Stephanie nói - Chúng ta hãy ra khỏi nơi này rồi bàn chuyện.
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
                  Ngăn kéo số 14
 
 
Làm người trực đêm ở nhà xác thành phố thì cũng chẳng có gì đáng khoe, nhưng công việc này cho phép tôi vẫn đi học đầy đủ vào ban ngày và cũng có thể nghiên cứu thêm vào ban đêm bên cạnh những nhiệm vụ phải làm vốn không nặng nề gì.
Trong các ngăn kéo được đánh số và gắn thẻ, các xác chết trong đó sẽ chẳng bao giờ quấy rầy tôi trong khi tôi đang nặn óc đánh vật với các vấn đề tích phân. Tôi vẫn nghĩ thế.
Tối hôm đó, tôi tới đổi phiên cho Olaf Daly như thường lệ. Olaf là một lão già chết cứng với cái nghề này vì đã lớn tuổi và vì cái chân thọt, nên cả ngày lão chỉ mong cho tới lúc đổi phiên. Như mọi khi, lão ầm ừ một câu chào rồi tạm biệt cùng một lượt. Với cái chân thọt mà lão đi ra khỏi nhà xác coi bộ nhanh nhẹn ác!
Còn lại một mình trong gian phòng phía ngoài vắng lặng, tôi đặt bình thủy, chiếc radio và mấy cuốn sách lên bàn, rồi tôi lôi cuốn sổ trực to tổ bố lại gần xem qua một lượt.
Olaf đã ghi chép việc xuất nhập hàng ngày bằng nét chữ khẳng khiu của lãọ Một ông chết đuốị Hai ông bà chết vì đụng xẹ Một gã ngủ say tới bỏ mạng khi nhà bốc cháỵ Một chú đánh lộn bị đâm chết. Một phụ nữ bỏ xác trôi sông.
Công việc mỗi ngày của Olaf rất đều đặn. Cả tuần qua chẳng có gì đặc biệt đáng chú ý. Ngoại trừ cái con mụ tuần qua nằm ở ngăn số 14.
Con mụ ấy nghe đồn là phù thủy, mụ xưng là Phù thủy Endor đệ tứ, nhiều người tin mụ gớm. Vì mụ sống ở một khu nghèo nàn và thất học, kiếm ăn bằng nghề coi bói, lên đồng, đoán số đề, bán bùa ngãi... nhưng dân láng giềng nói bà ta chưa làm gì bậỵ Một đêm trời nóng nực, mụ leo lên mái nhà khu chung cư. Không hiểu do mụ ta trượt chân hay vì muốn bay lên mặt trăng nhưng thất bại, mà người ta thấy mụ nằm phơi xác trên mặt đường nhựa trước khu chung cư sáu tầng lầu đó, rồi được mang tới đây, đặt trong ngăn số 14. Mụ nằm trong ngăn đông lạnh đó bốn ngày thì có đứa con ở tận đâu đâu đó tới nhận xác. Với Olaf thì mụ ấy chưa hoàn toàn đi khỏi đây, lão già nói:
- Tao thề là có cái mùi gì ở ngăn số 14 đó, giống như mùi lưu huỳnh.
Tôi có thấy cái gì đâụ Mũi tôi còn đầy nghẹt mùi của phòng thí nghiệm nơi tôi đã phải trầy trật để theo kịp chúng bạn.
Tôi dẹp cuốn sổ để đi tuần một vòng. Căn phòng kế cạnh thắp đèn sáng choang, nhưng lạnh tanh, thênh thang và không sinh khí. Nền phòng sạch bông, thoang thoảng mùi thuốc sát trùng. Ðằng kia là cánh cửa lớn mở ra lối cho xe chở xác chạy vào, cạnh đó là cái bàn đá có chân bánh xe, mặt bàn dài thượt. May mắn mà lúc này nó trống, được lau chùi sạch sẽ chờ lúc được sử dụng tớị Cái máy lạnh phát ra tiếng rù rì trầm trầm, chú ý mới nghe thấỵ
ở mé tay phải, giống như một tổ ong khổng lồ, là hàng hàng lớp lớp những ngăn kéo để chứa các xác chết trong khi chờ thân nhân đến nhận, hay sau cùng thì nhà nước bỏ tiền ra chôn làm phước.
Ngăn kéo nào có xác đều được gắn thẻ, như thẻ hành lý trong kho trên máy bay hay tàu thủỵ Thẻ được móc vào tay cầm của ngăn kéọ
Tôi huýt sáo nho nhỏ, chỉ vì muốn tạo một âm thanh gì đó thôi, và bắt đầu kiểm tra những thẻ theo danh sách trong sổ mà tôi vừa xem qua và nhớ được.
Tới gần ngăn số 14, tôi chợt khịt mũi "A! cái mùi lưu huỳnh của lão Olaf đây !", tôi lẩm bẩm.
Ði qua ngăn kéo ấy một bước thì tôi giật mình, ngoảnh đầu, rồi xoay cả người lạị
Olaf đâu có ghi xác nào trong ngăn 14, nhưng mà có thẻ gắn ở ngăn nàỵ Tôi cúi người tới, đưa tay ra, huýr sáo không thành tiếng nữạ Tôi cầm tấm thẻ lật qua lật lạị Một lần, hai lần, rồi ba lần càng lúc càng nhanh.
Ðứng thẳng dậy, tôi gãi đầu một phát. Cả hai mặt thẻ đều trống trơn, chẳng ghi gì cả. Cha nội Olaf tuy già, nhưng đâu đến nỗi lẩm cẩm. Quên ghi tên người vào thẻ, lão chưa từng có vụ này bao giờ.
Rồi tôi nhếch mép cườị Lão già này muốn đùa đây, tôi đâu dè lão cũng khoái giỡn như thế. Tôi lại huýt sáo được thành tiếng, nghe có vẻ tỉnh táo lắm, nhưng không có gì hay họ
Tôi nắm lấy tay cầm và kéo mạnh. Ngăn kéo vốn có bánh xe nên tuột ra cái rẹt. Tiếng huýt sáo của tôi chợt tắt ngúm.
Một con nhỏ đang nằm trong đó! Tóc vàng, coi trẻ măng, và đẹp nữa, mặc dù đã chết.
Tôi đứng nhìn cô ta mà nghe mấy ngón chân ngọ ngoạy trong đôi giàỵ Nét mặt cô thật dễ thương, làn da mịn màng như lụạ Ðôi mắt khép nhẹ như đang ngủ, bờ mi cong và dài, đen mướt. Cô mặc bộ đồng phục y tá. Món duy nhất cho tôi biết lai lịch chút ít của cô là tấm lắc dây chuyền ở cổ taỵ Trên tấm lắc có khắc hai mẫu tự: Z.L.
Tôi vội vàng quay đi, chạy ra phòng ngoàị Vồ lấy cuốn sổ trực, tôi lật vội ra xem. Tôi không muốn nghi oan lão Olaf.
Tôi rà một lượt, ngớ người ra, rà lại lần nữạ Lật trang trước coi phần ghi chép hôm qua, và cả hôm kia nữạ Tuyệt nhiên không có ai được đưa vào ngăn 14 cả.
Tôi chu mỏ, nhưng huýt sáo không nổi, và bước tới cửa vào phòng lạnh. Mé trên cửa có hai khung kiếng nên tôi có thể nhìn vào trong mà không cần mở cửạ Ngăn kéo 14 bị lôi kéo ra vẫn còn nguyên ở đó, và cô Z.L. tóc vàng vẫn nằm chầng vầng một đống như cũ.
Tôi cẩn thận ngồi xuống ghế, rút khăn tay ra và lau trán. Hít một hơi dài, tôi nhấc phôn lên quay số của Olaf. Khi nghe tiếng chuông, tôi còn liếc lại cửa phòng lạnh.
Giọng mụ vợ Olaf nghe ngái ngủ:
- ồ, rất tiếc. Ông Olaf nhà tôi chưa về. - Rồi chợt giọng bà ta nghe tử tế hơn - Chờ chút, tôi nghe tiếng ông ấy mở cửạ
Giọng Olaf vang lên sau tiếng đằng hắng:
- Rồi, chuyện gì?
- Tully Branson đây, bác Dalỵ
- Không có cái vụ trực thế cho mày đi nhậu với bạn đâu à nghen !
- Không có đâu - tôi đáp - cháu chỉ muốn biết về cái cô trong ngăn 14.
- Không có ai trong ngăn 14 hết, Tullỵ
- Có mà, thưa bác. Một cô tóc vàng đàng hoàng. Trẻ và đẹp, chết uổng hết sức. Chắc bác nhớ ra hén, có điều bác quên ghi sổ nhập cho cô ấỵ
Tôi nghe tiếng bà Daly hỏi chồng chuyện gì đó, rồi nghe ông ta nói với vợ:
- Chắc cái thằng Branson này đêm nay nó mang rượu vô đó uống quá!
- Không có, bác ơi - tôi cự liền - Cháu khoái nhậu, nhưng không có mang rượu vô đây à nghen! Chỉ có chuyện cô tóc vàng ở ngăn 14 bác quên ghi sổ thôi !
- Ðời nào tao lại quên chuyện đó được?
- Có mà. Không tin bác ghé đây coi đị
- Tao sẽ tới, con ạ ! Sai sót này lớn lắm chứ chơi đâụ
Lão giộng ống nói xuống thiếu điều làm tôi thủng cả màng nhĩ. Còn tôi thì nhẹ nhàng đặt ống nói xuống, lấy bình thủy rót một ít cà phê ra, đốt một điếu thuốc, nhấp một ít cà phê, châm một điếu thuốc.
Nhấp miếng cà phê nữa, cất bình thủy vào chỗ của nó, thò tay lấy gói thuốc, lúc đó tôi mới nhìn thấy mình đã châm hai điếu bỏ trên gạt tàn. Tôi mếu miệng cười, duị tắt một điếu để dành đêm khuyạ
Với bước chân khập khiễng, lão Olaf bước vào cứ như một con tàu đi trong giông bãọ Ðáp lại ánh mắt trợn trừng của lão, tôi chỉ mỉm cười với tất cả sự chắc ăn mình có được, và mời lão vào phòng xác.
Lão đi qua cánh cửa, tôi theo sát nút. Ngăn 14 vẫn còn kéo lòi ra ngoài ở đó. Lão chẳng cần đi tới nơị Nhìn một cái, lão quay lại liền:
- Branson - lão nói - tao mà còn trẻ là đập bể mặt mày liền. Mày bắt một người già mệt nhọc nửa đêm tới một nơi hôi thối như thế này đó hả? Vậy mà lâu nay tao cứ nghĩ mày là thằng nhóc tử tế đó !
- Nhưng bác Daly...
- Không có "nhưng" con mẹ gì cả ! Cái vụ này tao sẽ báo cáo !
Tôi trợn mắt nhìn ngăn 14 như thằng khùng. Cô ta vẫn còn đó, thù lù một đống. Tóc vàng, xinh đẹp và chết cứng.
Olaf xô tôi qua một bên và bước đị Tôi níu lấy tay lãọ Tôi đúng là còn nhỏ tuổi, nhưng cũng đã mọc râu rồị Tôi kêu lên:
- Bác Olaf. Bác thấy mà. Cháu biết bác thấy mà !
- Bỏ cái tay ra nghe chưa ! - lão quát - Tao thấy rõ ràng là cái ngăn kéo trống trơn, y hệt cái đầu óc của mày vậỵ
Tôi cứ níu tay lão, không cho đi:
- Cháu không có chịu giỡn kiểu này đâu...
- Thì tao cũng vậy - lão quát vào mặt tôi - Giỡn gì cà chớn !
- Thì bác coi kỹ cái ngăn đi, đừng giỡn nữa mà.
- Thì tao đã coi rồị Không có gì hết ngoài một thằng nhóc láo lếu dám bày trò thối tha là bắt một người già phải nửa đêm tới đây !
Lão giật tay ra và bước nhanh ra ngoàị Ðến cửa, lão quay lại, dứ dứ ngón tay về phía tôi:
- Nè nhóc, tốt nhất là từ mai, mày lo kiếm việc làm khác đi ! - và lão dông
 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
             Trái tim con rắn
 
 
 
 
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Thuật nín thở, lắng nghẹ Nín thở, nhưng ông vẫn nghe thấy nó đang đập ở đâu đó trong người mình ồn ào, hối hả.
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Càng nín thở, tiếng đập nghe càng rền rĩ. Bên cạnh Thuật, Trinh đã ngủ say, vẫn kiểu ngủ nằm sấp "thấy ghét", nhưng hôm nay Thuật đành bất lực nằm nhìn.
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Vẫn nín thở, Thuật đè chặt bàn tay lên ngực tráị
Lồng ngực ông lặng thinh. Vậy thì cái gì đang đập, nếu không phải là nó, trái tim con rắn mà ông đã nuốt sống hồi chiềủ
Lưỡi dao phập xuống, cái đầu con rắn bị đóng đinh xuống mặt thớt nằm lại với hai con mắt trợn trừng. Thân hình vặn vẹo những co giật cuối cùng trong đôi tay của lão nhà bếp, phun những tia máu đỏ tươi xuống chiếc phễu cắm vào cổ chai rượu thuốc. Mũi dao nhọn rạch một đường nhỏ điệu nghệ, và ngón tay thành thạo thọc vào moi ra một quả tim nhỏ bằng ngón tay, còn thoi thóp thở. Nó dường như vẫn còn co bóp, khi đã yên vị trong chiếc ly nhỏ. Người ta đổ rượu thuốc đã trộn đều với máu vào ngập miệng lỵ Đó sẽ là ly rượu bắt đầu cho buổi tiệc, và theo thông lệ, luôn được dành cho nhân vật quan trọng nhất.
Hôm nay, đó là Thuật.
Với Thuật, trái tim rắn ấy phải kể ở đơn vị hàng chục. Ngay từ trái tim đầu tiên được thưởng thức, thường thì mọi người đều cảm thấy cái gì đó nhờn nhợn, nuốt vội cho trôi, thậm chí còn có người từ chối cái quyền.tiên chỉ. (ưu tiên), Thuật đã chứng tỏ sự lì lợm khác người của mình: Ông thò hai ngón tay vào ly rượu, nhón lấy trái tim rắn và cho vào miệng nhai chóp chép ngon lành, rồi mới chiêu cạn ly rượu để đưa tiễn nó vào dạ dày mình. Đặt ly xuống, Thuật há miệng cười, khoe hàm răng còn lem nhem máụ Hành động đó được tái lập từ trái tim thứu hai trở đi, và đã làm sáng thêm cái danh.chịu chơị của Thuật.
Nhưng chiều nay...
Thuật đã có cảm giác là lạ lúc kẹp lấy nó ở đáy lỵ Dường như nó quẫy nhẹ như muốn tuột khỏi tay ông. Cảm giác chưa từng có ấy thoáng qua rất mau, và Thuật cho rằng có lẽ vì hai độ nhậu dữ dằn ở hai điểm khác kéo dài từ mười giờ sáng cho đến giờ, đã làm ông run taỵ Nhưng vừa cho nó vào miệng, thì rõ ràng nó lăn lên lưỡi của ông và tuột vào yếu hầu, rồi dường như dừng lại ở thực quản. Ngay lúc đó, ông đã nghẹn thở mất mấy giâỵ Ly rượu tống tiễn nó vẫn không làm ông thấy cổ họng mình thông suốt, như có gì cứ nghèn nghẹn trong đó.
- Ủa sao anh Hai không nhai nó? Một tên đàn em vọt miệng hỏị
Thuật trấn tĩnh rất nhanh, giả lả:
Thôi mày, cho lẹ đặng nhậu cho rồị Dô đi!
Bữa tiệc hào hứng với đám chiến hữu thân thiết và các em nhân viên mặc quần sọc, áo thun lỗ tận tình phục vụ, đã làm Thuật quên ngay cảm giác khác thường ấỵ Cái quán này vốn có biệt tài đó. Vào đến đây, chuyện quốc gia trọng đại gì nữa, người ta cũng quên hết, nói chi đến cái chuyện cỏn con không nhai được tim rắn! Em nào cũng thơm như múi mít, ngồi sát rạt trong vòng tay, nân từng ly bia, đút từng miếng mồi cho mình, còn hai tay mình thì cứ tự do như chưa bao giờ được tự do như vậỵ Rồi kết thúc bữa tiệc, anh thích thì em chiều, phòng riêng tại chỗ, có máy lạnh, giường đệm... Hố hố, có thằng chó nào mà chẳng mê tít mắt!
Thuật thường kết thúc hành trình một ngày nhậu của mình tại cái quán hẻo lánh này, chính là vì vậỵ Để cho đầu óc nó thoải mái, đặng hôm sau mới làm việc tốt được. Chiêu đãi người ta nhân vừa "trúng" lớn, Thuật cũng dẫn lên đâỵ Mà được trả ơn, Thuật cũng gợi ý đến điểm "vui vẻ" nàỵ Ai theo Thuật đến lần đầu, sau đó thảy đều giơ một ngón tay cái: Ông anh đúng là số một! Ngay chính vợ Thuật, Thuật cũng đã đưa lên đâỵ Từ lâu bà đã sợ Thuật như sợ cọp, vậy mà gần đây, chịu hết nỗi, dám sinh chuyện cự nự:
Ông đi đâu mà đi hoài, đêm nào cũng một hai giờ sáng mới về? Vừa vừa thôi, ít ra ông cũng phải tôn trọng tôi phần nào chớ! Rồi uy tín làm việc của ông nữạ Cái ghế ông ngồi không phải là muôn đời đâụ
Lúc đó là năm sáu giờ chiều, Thuật ghé về nhà tắm rửa và thay quần áo lịch sự, ngồi chờ một thằng bạn đến kéo đi "tham quan" nhà hàng nổi một lần cho biết. Cú điện thoại hẹn lại giờ chót của thằng bạn, cộng với lời cằn nhằn của vợ con, bất ngờ làm Thuật nổi điên. Ông kéo tay vợ ra xe:
Bà muốn biết tôi thường đi đâu phải không? Được rồi xin mời bà đi theo tôi!
Ban đầu, các em thấy Thuật đi với vợ, chỉ dám thập thò sau quầy ngó rạ Thuật ngang nhiên gọi một lúc sáu em ra ngồi cùng bàn, ôm hôn mỗi em một cái ngay trước mặt vợ. Bà chủ quán đi ra, chào Thuật bằng kiểu chào thường lệ; đứng sau lưng, đặt hai bàn tay lên vai Thuật, cúi xuống cọ má với Thuật. Vợ Thuật xanh mét cả mặt mày, muốn ngất xỉụ Thuật rút tiền bo cho mấy em, rồi đuổi hết cả đám đi, xong mới nói với vợ:
Bà thấy chưa, ở đây chúng nó đẹp như vầy, trẻ như vầy còn bà già còm, lép kẹp như vậy, có biết mắc cỡ hay không mà đi ghen với tụi nó? Biết điều thì cứ ngậm miệng, mỗi tháng tôi phát tiền cho dư xàị Tôi còn ở với bà là phúc đức lắm rồị Lộn xộn tôi dẹp luôn, cho treo mỏ cả lũ. Còn cái ghế tôi ngồi hả? Chắc hay không thì tôi tự biết, nhưng bà ráng mà cúng bái hàng ngày cho nó. Nghe chưả
Thuật điềm nhiên ngồi ăn cho hết bữa, trong lúc bà vợ chạy ra ngoài vường nôn thốc nôn tháo những miếng ăn vừa nuốt. Lần "giáo dục" kiểu đó đã có hiệu quả thấy rõ. Một tuần sau, vợ Thuật đến cơ quan tìm ông giữa trưạ Cửa phòng giám đốc chỉ đóng chứ không có khóa, vì đố thằng nào dám gnang nhiên bước vào! Thuật và một cô nhân viên đang ôm nhau trên chiếc đi văng dành cho giám đốc nghỉ trưạ Thấy vợ Thuật, cô gái sợ hã toan vùng dậỵ Thuật ghì cô ta lại, nói cứ bình tĩnh, không việc gì phải sợ. Rồi ông quay qua đuổi vợ về, mắng vợ là bất lịch sự, vào phòng không biết gõ cửạ Vợ Thuật chỉ nói được một câu: "Rồi trời sẽ tru đất sẽ diệt ông!", rồi run lập cập đi rạ Thuật cười hô hố.
Bữa tiệc vẫn tiến hành náo nhiệt, mới đó mà đã qua thùng bia thứ bạ Hai tay Thuật giang ra ôm hai cộ Miệng Thuật thỉnh htoảng há ra để ực bia, để táp mồi, để cười khùng khục, để quay qua quay lại hôn hít trên mấy cái má hồng mịn màng thơm phức. Cứ mỗi lần đến đâỵ Thuật lại có cảm giác mình đang làm vuạ Có đêm, Thuật kéo luôn năm em vào một phòng, quần nhau cho tới sáng. "Nhất dạ đế vương" cũng sướng đến đó là cùng! Hôm nay là ngày Thuật trúng lớn, vừa đẩy được mấy tấn nguyên liệu còn tốt mà Thuật chạy được quy thành phế liệu, nhậu hết cái nhà hàng này còn được, nói gì đến cái bàn tiệc chục thằng nàỵ Dzô đi, dzô nữa đi! Còn bao nhiêu bia, nhà hàng cứ đem hết ra, cho tụi này tắm bia một bữa nhớ đời! Thằng Thuật này đã từng chi ba triệu cho một bữa tiệc ở đây, bằng lương một tháng của cả văn phòng xí nghiệp cơ mà! Tên kế toán trưởng hơi chợn, nhắc Thuật nên giữ lại một tấn cho bọn công nhân có việc làm, chứ hổm rày chúng nghỉ việc ăn 70 phần trăm lương, kêu trời như bọng rồi! Thuật trợn mắt, nói đồ ngu, ai có phần nấỵ Người nào đã chịu nhiều gian khổ, sống chết, thì bây giờ phải được hưởng. Còn số thằng nào mạt thì ráng mà chịụ Đời này, ai ăn được thì cứ ăn. Đã chấp nhận cuộc chơi mà còn bày đặt chuyện lương tâm!
Nỗi lo gợn lên, vào đúng lúc Thuật kê miệng húp chén cháo rắn được em Trinh bưng lên mờị Giữa ngực ông bất chợt nhói một cái đau đến nín thở. Kẹt cả hai tay, Thuật lắc đầu dùng cằm đẩy chén cháo rạ Cái gì mà đau như vậỷ Thuật đổ mồ hôi khi cảm nhận dường như nó đang cựa quậỵ Nãy giờ, bao nhiêu là bia là mồi tống xuống, vậy mà nó vẫn kẹt lại ở khoảng giữa ngực saỏ Thuật bỗng thấy nhợn nhạo trong họng. Ông cố trấn tĩnh, từ từ đứng dậy, gạt hai em, bước ra vườn. Đến sau một gốc cây khuất, ông đưa mấy ngón tay vào miệng, móc họng cho ói ra hết những gì vừa ăn uống. Đó là một động tác quen thuộc mỗi khi Thuật muốn hồi phục để có thể ngồi tiếp tục chiến đấu trong những độ nhậu kéo dàị Nhưng lần này không phải do ông thấy mệt, mà là để tống cái của nợ đáng sợ kiạ
Hoàn toàn yên tâm, Thuật bước vào bàn nhậu đầy khí thế trở lạị Mọi việc tiếp tục diễn biến bình thường. thuật nói nhỏ vào tai Trinh, tối nay, anh chọn em làm hoàng hậu đó nghẹ Trinh giả bộ trợn mắt, rụt vai, lè lưỡị Cái lưỡi hồng dẻo quẹo đầy hứa hẹn, vậy mà làm Thuật liên tưởng đến cái lưỡi thở phì phì giận dữ của con rắn khi nãy, lúc nó đang bị lão đầu bếp lôi vào trò đùa trước khi chết.
Cái nhói đau thứ hai xảy ra khi Thuật đã nằm trên giường, nhìn Trinh đang uốn éo cởi quần áo dưới ánh đèn hồng. Ông thánh cũng phải chào thua trước thân hình tuyệt mỹ của cô gái được phong làm hoa hậu ở quán này, vậy mà Thuật vẫn nằm yên, tay đè lên ngực. Máy lạnh chạy rì rì mà mồ hôi Thuật vẫn vã ra, ướt cả mặt đệm.
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Đó là lần đầu tiên trong đời, Thuật nghe thấy những âm thanh quái đản ấỵ Nó dội lên trên đỉnh đầu, rồi cứ thế bục rạ
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Rồi Thuật nhìn xuống bụng, chợt ré lên một tiếng, lồm cồm ngồi dậỵ Ông vừa trông thấy đầu con rắn quặc qua quặc lại giữa hai đùi mình. Thuật đưa tay bật đèn nê- Ông, lúc đó con rắn biến mất. Ông nhìn quanh quất. Còn Trinh thì co rúm người, nhìn ông bằng con mắt sợ hãị
Gì vậy anh?
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Thuật thở dài, tắt đèn, ôm lấy Trinh:
Không có gì.
Khoảng vài phút sau, Thuật thở dài, xô Trinh ra, nằm vật xuống.
Thôi, hôm nay cho em nghỉ. Ngủ đị
Trinh nằm xuống bên Thuật, và chỉ vài phút sau, cô đã ngủ ngon lành. Trong khi đó, tiếng đập ồn ào trong ngực Thuật vẫn cứ vang lên đều đặn.
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Ở chỗ giữa ngực ông, có cái gì đó chư nhô lên thụt xuống. Thuật úp hai bàn tay đè mạnh lên chỗ đó. Nó vẫn cứ phập phồng dưới tay ông.
Ịch ình, ịch ình, ịch ình...
Thở hổn hể, Thuật ngồi bật dậy, kinh hoàng khi nhìn rất rõ giữa ngực mình nổi hẳn lên một khối u nhỏ. Thật nhanh, Thuật chộp lấy nó, nghiến răng bóp mạnh. Ông cảm thấy như nó đang vỡ ra bên trong lồng ngực mình. Một cảm giác đau chết người ập đến. Thuật lăn ra giường cố gắng lết đến bên Trinh, ông cố gắng vươn tay ra định chạm vào người Trinh để gọi cô dậy nhưng đã kiệt sức...
Sáng hôm sau, Trinh thức dậy thấy Thuật đã chết cứng đơ từ hồi nàọ Khi đem xác của Thuật đến bác sĩ pháp y thử nghiệm thì các bác sĩ đều kết luận rằng Thuật chết vì nhồi máu cơ tim (heart attact). Ngực ông bị tím bầm, nổi hằn những vệt móng tay của chính ông cào cấụ
Nhưng khi giải phẫu tử thi, mọi người chứng kiến đều rởn tóc gáy khi thấy ở giữa lồng ngực trái tim của Thuật là một trái tim nhỏ xíu, chỉ bằng đầu ngón tay, đã bị bóp bể ra làm haị
......
 
 
sưu tầm
[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
                  Giọt máu
 
 
 





"Ðem truyện trăm năm giở lại bàn"
(Trần Tế Xương) Nữa đầu thế kỷ trước, ở Kẻ Noi, huyện Từ Liêm, có ông Phạm Ngọc Liên là bậc đại phú. Ông Liên xây nhà trên miếng đất đầu làng. Miếng đất này bằng phẳng, rộng ba sào hai thước. Có người đi qua bảo rằng: "Ðất này đẹp, hình bút, phát về văn học. Ðã phát về văn học thì nước cạn, tàu ráo, hiếm con trai". Ông Liên nghe xong, níu áo người đó bảo: "Tôi bình sinh là dân cày cuốc, mong con cháu sau này có ít chữ nghĩa mở mặt với đời. Hiếm con cháu cũng được, miễn là có đức, thiên ha, nể trọng". Người đó cười: "Chữ nghĩa có ăn được không?". Ông Liên bảo: "Không ăn được". Người đó bảo: "Thế đa mang chữ nghĩa làm gì?". Ông Liên bảo: "Gì thì gì, nó vẫn hơn cày cuốc". Người đó bảo: "Nhiều chữ nghĩa thì có đức à?". Ông Liên bảo: "Phải". Người đó cả cười, hỏi gì cũng không nói nữa rồi phất áo đi. Ông Liên giận, bảo: "Ðồ cuồng".
Khánh thành nhà, ông Liên mổ hai lợn, một bò, làm lễ tế trời đất, bày la liệt chín mươi mâm cổ. Dinh cơ quả đồ sộ, giữa là nhà thờ ba gian, trạm trổ long, ly, quy, phượng. Nhà tiền tế năm gian, cửa bức bàn, cột tròn, gỗ xoan rừng. Hai nhà ngang hai bên, sân gạch Bát Tràng, bình phong, bể nước, lại xây tường cao ba mét xung quanh, trên cắm mảnh sành. mảnh thủy tinh. Vữa là vôi cát trộn mật, đặc quánh.
Ông Liên ngồi giữa sân. bảo cả họ: "Lấy ngày 12 tháng Giêng làm ngày giỗ tổ. Họ Phạm xưa nay trong làng không kém họ Ðỗ, họ Phan, họ Hoàng. Chỉ hiềm họ Phạm làm ruộng, buôn bán, chưa có ai học hành đỗ đạt. Thiên hạ coi mình là thô lậu. Tức lắm".
Ông Liên gọi năm con trai đến, bảo: "Con cháu chúng mày thằng nào đỗ Thám Hoa, Bảng Nhãn, tao cho ăn tự cả cơ ngơi này, lại cho tất cả của gia bảo. Cốt làm sao thiên hạ phải học cái đức họ Phạm nhà này".
Ông Liên sống đến 80 tuổi. Ông có ba vợ, năm con trai, sáu con gái. Khi ông bệnh nặng, con trưởng là Phạm Ngọc Gia làm nghề mổ thịt lợn, túc trực bên giường gần một tháng trời, mắt sâu hoắm, râu mọc tua tủa. Bên giường ông Liên lúc nào cũng có chuối, cam, thịt giò, ngồn ngộn không thiếu thứ gì. Ông Gia hỏi: "Cha thèm ăn gì không?". Ông Liên bảo thèm ăn cơm rau muống chấm tương với cà. Ông Gia nấu cơm gạo tám vào nồi đất, đánh giấm canh bằng lá chua me, bày đỉa rau với chén tương Bần, tự tay bưng lên cho cha. Ông Liên chỉ húp được một thìa canh rồi xua đi. Ông Gia òa khóc. Ông Liên bảo: "Chẳng ra gì. Chữ mới cần". Nói xong tắt thở. Lúc ấy là giờ Tỵ, ngày 24 tháng Chạp, năm Canh Tí (1840).
Ông Gia bỏ tiền làm ma rất trọng thể. Sau ba ngày làm lễ thành phục, tuần ba mươi nhăm ngày rước linh lên chùa, tuần bốn mươn chín, một trăm ngày thảy đều tươm tất. Dân làng ai cũng khen ngợi là người có hiếu.
Sau đám ma, ông Gia cho sửa lại bàn thờ, xây thêm một gian nữa. Còn toàn bộ cơ ngơi từ đó đến nay vẫn y nguyên. Thời gian có làm cho nó cũ kỹ, múc nát, hư hỏng đi một vài bộ phận nhưng về cơ bản vẫn không thay đổi.[/align]

 

 
 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
              Bụi tre làng 
 
 
 
Gió thổi từng cơn, mang theo hơi ẩm của cơn mưa mùa ha.. Tôi ngồi trước thềm nhà vànhớ lại câu chuyện, bác Bãy gặp ma.
Bác Bãy là người chuyên di bắt ếch, nhái vào ban dêm. Trời càng khuya thì càng tốt. Có nhiều khi Bác ấy di dến gần 2 giờ sáng mới về. Những cơn mưa, dầm dề, dến hai hoặc ba ngày liền. Dó là những dịp may nhất mà bác Bãy hằng mong dợị
Có một dêm, mưa gió rất lớn. Tôn trên nóc nhà dập lên, xuống như muốn vỡ luôn cả nóc nhà ra ... Thế nhưng bác Bãy lặng lẽ rời khỏi nhà với chiếc dèn "măn-xông" và cái thùng mủ có nắp. Bác mãi mê tìm kiếm Ếch, Nhái cho tới 1 giờ sáng. Chỉ có vài con trong thùng. Vừa buồn, chán lại thêm phần mệt, mõi. Bác bãy dã từ từ di trỡ về tới dầu làng. Mưa dã bớt dần, nhưng gió thì không ngớt. Bác Bãy vừa thấy bụi tre thì chợt nhớ ra mình cần phải di tiễu. Nghĩ tới dó thì chân bác Bãy dã dẫm lên trên những lá tre rồi. Bác vội bõ chiêc dèn và thùng Ếch, Nhái xuống. Cứ như vậy, mà bác Bãy tha hồ "trúc bầu tâm xự鈴uot; lên cây tre. Bỗng nhiên, gió thỗi mạnh làm bụi tre nghiêng ngã. Thân những cây tre cọ xát vào nhau, tạo thành những tiếng kiêu:"kòke,kót két,kòke,kót két..." ơn' lạnh cả người. Bác Bãy vừa tiễu xong, thì nghe tiếng mẹ ru con phát ra từ trên những ngọn cây tre " Oa,Oa,Oa...Ầu ơ nín di, nín di con dễ mẹ xuống, xem trong thùng có Ếch không. Mẹ bắt lên cho con nha". Bác Bãy vừa nghe thì vội vàng nhìn chung quanh xem thử ai vữa nói. Bác Bãy chẵng thấy một ai cã. Bác lẫm bẫm một mình " Xuống dây, lấy 'con-ccc...' lên cho con mầy nè". Nói vừa dứt lơì thì Bác bước ra về. Trong lòng có phần hồi hợp. Bác cố tạo ra vẽ mạnh dạng,trong những bước chân của mình. Ai ngờ, lại những tiếng ru hôì nãy vang lên. Có tiếng, người mẹ nói lớn hơn và nhấn mạnh từng câu một :" Âu ơ...nín di con, dễ mẹ xuống dưới cắt "con-ccc" cua ỗng lên cho con nha. Lúc này thì hồn vía của bác Bãy di chơi dâu rồi. Bác không còn biết chi, ngoài việc co giò chạy thẳng về nhà.
Sau ba ngày nằm bệnh trên giường. Bây giờ bác Bãy mới bắt dầu từ từ kể lại cho mọi người ngồi chung quanh nghe... Bây giờ mưa dã tạnh, bầu trời cũng sáng rực lên rồi. Trên cây chỉ còn lại những hạt nước to,bự long lanh trong tia nắng. Khắp làng dã bi nước ngập lên tới" mắc cá" chân.[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
      
 
       Ác báo ghê hồn
 
 
 
 





Vợ, họ Doãn, độc dữ khác thường, chồng hơi làm điều chi trái ý, là vác gậy đập liền. Ông cụ thân sinh Dương, ngoài 60 tuổi và góa vợ đã lâu, họ Doãn coi cha chồng như tôi tớ. Dương cùng em là Vạn-Chung thường lén đem cơm bánh cho ông cụ ăn mà không dám cho vợ hay. Tội nghiệp ông cụ lọm khọm rách rưới quá, anh em không cho khách khứa thấy mặt, sợ bị chê cười

Vạn-Thạch 40 tuổi chưa có con trai, cưới vợ bé là Vương thị, mà tối ngày không dám nói năng với nhau nửa lời

Hai anh em lên quận đợi thi hạch, thấy một thiếu niên ăn mặc nhã nhặn, bắt chuyện để làm vừa lòng, hỏi thăm tánh danh, thiếu niên tự giới thiệu là Giới-Phủ họ Mã. Từ đó kết giao càng ngày càng thân mật, thăm hương thề quyết làm anh em, rồi từ biệt.

Chừng nửa năm sau, Mã bổng dắt đồng bộc đến nhà Dương, vừa gặp lúc Dương lão ngồi ngoài cổng phơi nắng bắt rận; Mã tưởng đứa ở liền nói tên họ, nhờ vô thưa với chủ nhân.

Có người bảo cho Mã biết đó là cụ thân sinh ra hai anh em Dương, khiến Mã kinh ngạc. Anh em để đầu trần ra đón. Mã vô nhà khách, Mã xin ra mắt cụ ông, Vạn-Thạch nói trớ là cụ se mình, rồi nắm tay mời ngồi hết chuyện nọ qua chuyện kia, chẳng dè gần tối. Vạn-Thạch thường nói để dọn cơm ra ăn, nhưng lâu lắm, vẫn chưa thấy cơm bưng rạ Anh em thay phiên nhau chạy ra chạy vô, mấy lần, mới có thằng ở gầy nhom xách hồ rượu ra, uống giây lát đã hết nhẵn.

Ngồi đợi giây lâu, Vạn-Thạch chay đi thúc hối kêu gọi, đổ cả mồ hôi trán, lại thấy thằng gầy còm bưng cơm ra, cơm gạo lức và đồ ăn rất xoàng, chả có món gì ngon lành.

Ăn xong, Vạn-Thạch vội vã đi, Vạn-Chung thì ôm chăn gối ra nằm ngủ với khách. Mã ngỏ lời phiền trách:

- Hôm trước tôi nghĩ anh em nhà ông cao nghĩa nên cùng đính ước anh em. Nay được trông thấy cụ già nhà ta thật tình chẳng được phụng dưỡng no ấm, khiến người đi đường thấy thế cũng xấu hổ giùm.

Vạn-Chung nhỏ lệ và nói:

- Tình riêng chất chứa trong tâm, thật khó nói ra lời. Nhà tôi không may, gặp người chị dâu ác độc mà anh tôi thì hèn nhát yếu đuối, bị vợ dày vò hết sức. Tôi với anh, nếu không phải có cái tình ăn thề kết nghĩa với nhau, thì sự xấu trong gia đình tôi như thế quyết nhiên không thể nói thiệt.

Mã nghe chuyện sửng sốt than thở giây lâu rồi nói:

- Ban đầu ta định sáng sớm mai thì đi, nhưng nay nghe được chuyện lạ này, chả lẽ không mục kích một lần xem sao. Vậy có gian nhà nào bỏ không, xin cho tôi ở tạm, mặc kệ tôi tự nấu ăn lấy

Vạn-Chung làm y theo lời, dọn riêng một căn nhà cho thầy trò Mã ở. Ðêm khuya lấy trộm lúa gạo rau cỏ, đem tới tiếp tế cho Mã, hồi hộp chỉ lo chị dâu hay được thì khốn. Mã hiểu ý, hết sức chối từ, lại mời Dương lão đến ăn ngủ với mình, rồi tự ra ngoài chợmua các thứ vải lụa về may quần áo cho cụ mặc, vứt hết đồ cũ rách rưới. Cha con anh em thấy Mã xử tử tế quá, đều cảm động tới khóc.

Vạn-Chung có thằng con trai tên là Hỷ-nhi, mới bảy tuổi, đêm nào cũng quấn quýt nằm ngủ với ông nội. Mã vuốt ve nó và nói:

- Thằng bé này phước thọ hơn cha nó nhiều, duy có lúc trẻ phải vất vả thôi

Doãn thị thấy ông cụ được no ấm thì nổi giận, kiếm chuyện mắng chưởi, bảo Mã khi không can dự vào việc nhà người ta. Ban đầu, những lời chì tiếng bấc còn ở trong chốn buồng riêng, dần dà bay tới gần chỗ Mã ở; anh em họ Dương hỗ thẹn toát mồ hôi, nhưng không sao bịt được miệng mụ đừng nói. Mã làm lơ, như tuồng chẳng hay biết chuyện chi

Người vợ bé Vương thị có mang được năm tháng, mụ mới hay lột áo nàng ra đánh đập thảm hại xong rồi gọi Vạn-Thạch đến, bắt quỳ xuống mặc quần áo đàn bà, lại vác gậy rượt đánh chồng chạy ra tới ngoài đường cái

Giữa lúc ấy Mã ở ngoài đường, cho nên Vạn-Thạch xấu hổ không dám thò mặt ra, nhưng bị mụi đuổi tới sau lưng, đành phải chạy tuốt ra ngoài mà trốn. Mụ theo ra, khoanh tay dậm cẳng, chửi rủa vang trời, hai bên xóm giềng đổ ra xem đầy đường chật ngõ. Mã trỏ vào mặt mụ và thét:

- Bước đi ! Bước đi !

Mụ lập tức day mình trở vô, dường như bị ma quỷ rượt đuổi, đến nỗi tuột cả giày vớ, vải quấn cẳng rơi ra lòng thòng trên lộ, chạy cẳng trơn mà về, sắc mặt xám ngắt như gà mới cắt tiết, một lúc lâu mới hoàn hồn.

Con hầu đem giày vớ khác cho mụ mang xong, đấm ngực khóc rống, gia nhân đều sợ, chả ai dám hỏi han an ủi gì cả

Trong khi đó, Mã lôi Vạn-Thạch về căn nhà mình ở riêng, cởi y phục đàn bà ra cho, thế mà Vạn-Thạch cự nự không chịu, chỉ sợ khăn yếm tuột ra; Mã phải lấy sức mạnh mới cởi ra được. Chàng đứng ngồi run rẩy không yên, vì sợ mụ bắt lỗi sao chưa được cho phép, đã vội cởi ra. Mãi sau dò biết vợ đã nín khóc rồi, bấy giờ mới dám mò về, len lén đi tới trước mặt, mụ không nói một tiếng gì, vội vã đứng dậy, đi vô buồng nằm ngủ

Bấy giờ chàng mới định thần yên tâm, nói riêng với em, cho Mã là người lạ. Nội nhà cũng lấy thế làm kỳ, tụ họp xầm xì với nhau, hơi lọt đến tai mụ, làm mụ càng thêm tức giận, đánh đập nô tì khắp lượt. Lại kêu đến người vợ bé, nhưng nàng bị đánh đêm hôm trước còn đau nặng quá, chổi dậy không đặng. Mụ cho là giả đò, đến tận giường nằm mà đánh nàng tới băng huyết trụy thai mới thôi !
Ðứng trước những việc tàn nhẫn như thế, Vạn-Thạch vừa thừa lúc vắng người, than khóc với Mã

Mã kiếm lời an ủi, rồi gọi tiểu đồng dọn cơm tử tế cho chàng ăn, mãi đến canh hai còn cầm giữ không cho chàng về

Mụ ở buồng riêng, giận chồng không về, đã toan di kêu rao, mắng chửi cả chồng lẫn Mã cho đã nư giận, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, liền bảo con thị nữ chạy ra mở, không dè cửa mở toanh, một người khổng lồ dữ dội bước vào, bóng che khắp nhà, mặt mày như quỷ. Kế mấy người nữa theo chân vô, tay đều cầm dao búa ghê sợ. Mụ hoảng hồn mất vía, toan la lên, người khổng lồ đâm dao ngay cổ họng và nói :

- Hễ la thì giết chết lập tức.

Mụ năn nỉ đem vàng lụa ra chuộc mạng, nhưng người khổng lồ gạt đi:

- Tao là sứ giả âm ty, không thèm tiền bạc của mày, chỉ cốt lấy trái tim của con đàn bà ác độc mà thôi

Nghe nói, mụ càng sợ hãi, lạy lục giập trán dưới đất. Người khổng lồ rút dao găm, vạch trước ngực mụ và kể ra từng tội lỗi:

- Như tội này có đáng giết không ?

Nói ra như mỗi tội vạch một khía. Phàm những việc làm độc ác của mụ thuở nay đều vạch gần hết, vết dao khía vào da thịt, có tới mấy chục. Sau cùng lại hạch tội nửa

- Người vợ bé của chồng sinh ra thằng con trai, cũng là nòi giống nhà mi, sao mi nỡ đánh tới trụy thai, việc này không thể tha thứ được.

Nói đoạn, sai mấy người tùy tùng nắm chặt lấy tay mụ, để mổ bụng con đàn bà ác độc xem ruột gan ra sao. Mụ cúi đầu van lạy, thề xin ăn năn chừa lỗi. Chợt nghe cửa giữa mở đóng, và có tiếng nói thinh không:

- Dương Vạn Thạch đã tới kia. Con ác phụ đã nói chừa lỗi, vậy hãy để cái mạng nó đó

Mấy người liền bỏ đi tản lạc.

Giây phút chàng vô, thấy vợ cởi trần bị trói, trước ngực có vết dao ngang dọc, không thể đếm hết. Chàng cởi trói và hỏi nguyên do, lấy làm kinh hãi, nhưng trong bụng hơi nghi là do Mã làm ra. Hôm sau thuật chuyện cho Mã nghe, Mã cũng tỏ vẻ sợ hãi

Từ đó mụ bớt làm sai, luôn mấy tháng không dám thốt ra nửa lời hung dữ. Mã nghe rất mừng bảo Vạn-Thạch:

- Giờ tôi nói thiệt với anh, phải kín miệng nhé! Hôm nọ tôi thi thố cái thuật cỏn con để làm cho chị biết sợ mà sửa lại tánh nết. Nay anh chị được hoà thuận rồi, tôi tạm xin từ giã

Mã nói xong, thầy trò ra đi

Ðêm nào như đêm nấy, mụ cố giữ Vạn-Thạch ngủ chung, hết sức vui vẻ chiều chuộng. Thuở giờ chàng chưa từng được biết thú vị ấy, nay mới được hưởng, đến nỗi đứng ngồi đều thấy bồn chồn. Một đêm, mụ chợt nhớ lại người khổng lồ mà còn run sợ; chàng muốn nịnh vợ hơi ló mòi giả mạo cho vợ yên tâm. Bất đồ mụ bắt được thóp ấy, liền vùng chổi dậy, o bế gạn hỏi, chàng tự biết đã nói lỡ lời, không giấu được nửa, bèn nói thật đầu đuôi. Mụ nổi giận lôi đình, mắng chửi rầm rĩ. Bây giờ tới phiên chàng sợ hãi run người tái mặt, quỳ xuống bên giường mà chịu trận

Mụ không thèm ngó tới. Chàng van lơn tha thiết mãi đến canh ba, mụ mới thèm nói:

- Giờ muốn được tao xá tội cho, thì phải lấy dao vạch ngực may y như con số tao đã phải chịu, có vậy cái hận này mới tiêu được cho

Tức thời mụ đứng phắt lên, chạy vô bếp lấy con dao phay ra. Chàng sợ quá chạy trốn, mụ rượt theo, làm vang động cả nhà, đến nổi chó sủa gà kêu, gia nhơn cùng thức dậy một lượt.

Vạn-Chung thấy thế, động lòng thương anh, bất giác nổi dóa, lượm cục đá ném vào chị dâu, trúng giữa đầu mụ ngã xuống chết tốt. Vạn-chung nói:

- Ta chết cha anh được sống là ta hả lòng.

Nói rồi nhảy tuốt xuống giếng, người ta vớt lên thì đã ngụp nước tắt thở rồi

Giây lát mụ hồi tĩnh, nghe tin Vạn-chung đã chết, cơn giận cũng nguôi

Sau khi chôn cất xong, vợ góa của Vạn-chung thương xót đứa con, thề ở vậy thờ chồng., nhứt định không cải giá. Mụ thấy em dâu như thế, chẳng an ủi khuyến khích thì chớ, lại còn mắng nhiếc hàng ngày không cho ăn cơm, bắt ép nàng đi lấy chồng cho khuất mắt.

Nàng đi rồi, để lại đứa con mồ côi, sớm tối bị bác gái đánh đập khổ sở. Mỗi bửa gia nhơn ăn no nê rồi, mụ mới thí cho nó cơm dư canh cặn. Trải nửa năm thằng bé gầy nhom chỉ còn da bọc lấy xương, thở chẳng ra hơi

Một hôm thình lình Mã đến. Vạn-thạch căn dặn người nhà chớ nói cho mụ hay

Mã trông thấy ông cụ lại rách rưới lam lũ như hồi nào, trong lòng sửng sốt tức tối, lại nghe chuyện Vạn-chung chết oan mà thương, đấm chân đấm ngực gào thét rất bi thảm

Thằng bé thấy Mã đến, chạy lại quấn quýt vồn vã, kệu gọi Mã thúc luôn miệng. Thoạt tiên Mã không biết là thằng bé nào, chừng nhìn kỹ mới nhận ra, kinh ngạc và nói:

- Trời đất ơi! tại sao cháu tiều tụy đến nỗi này

Ông cụ tỉ tê, thuật rõ sự tình. Mã phát phẫn, bảo Vạn-thạch:

- Lúc trước tôi vẫn nghĩ anh chẳng phải loài người, nay quả đúng như thế. Anh em hai người chỉ có một đứa bé này nối dõi tông đường, thế mà đành tâm giết nó chết đi lần hồi như vầy đây, là nghĩa thế nào ?

Vạn-thạch chẳng nói được câu gì, chỉ ngồi cúi đầu cụp tai mà khóc rấm rức

Chàng ngồi tiếp Mã một lát, thì mụ đã hay tin có Mã đến rồi. Tuy mụ chẳng dám thò mặt ra đuổi khách, nhưng gọi réo chồng phải vô, bạt tai chàng tối tăm mặt mày, bắt phải tuyệt Mã đi. Chàng nuốt lệ trở ra, những dấu vết tát tai còn in đỏ trên mặt. Mã giận quá nói:

- Anh không làm oai với chị được, nhưng lại chẳng tống cổ đi được ư ? Mụ đánh cha giết em như thế mà anh còn nhịn. Ðâu phải là giống người nữa chớ ?

Chàng nghe, thở dài, có vẻ động lòng. Mã lại khích thêm:

- Nếu tống cổ mụ không chịu đi, thì anh phải lấy sức mạnh đuổi đi cho bằng được. Dù phải giết phức cũng đừng thèm sợ. Tôi có đôi ba bạn thiết đều giữ chức lớn ở kinh đô, tất họ sẽ hợp lực cứu anh, nhất định vô sự

Chàng gật đầu, hung hăn chạy vào trong nhà vừa đụng đầu mụ, mụ thét hỏi định làm gì mà sắc mặt hầm hừ thế. Chàng luống cuống và thất sắc chống tay xuống đất nói:

- Chú Mã xúi tôi đuổi mình đi

Mụ nổi dóa, ngảnh lại tìm dao hay gậy để đánh chồng. Vạn-thạch sợ, vội vàng chạy ra với Mã. Mã phỉ nhổ nói:

- Anh thật là người hư hỏng, không dạy bảo được nửa rồi

Nói đoạn, mở tráp lấy ra gói thuốc bột đem hòa với nước, trao cho Vạn-thạch uống

- Thuốc này là thuốc trượng phu tái tạo đây. Trước kia sở dĩ tôi chưa muốn dùng, vì cớ nó có thể hại người. Nay cực chẳng đã, phải cho anh dùng thử xem sao

Chàng uống thuốc ấy vô giây lát, nghe phẫn khí nổi lên phừng phừng, như có lửa bốc cháy trong ruột gan, ma không sao nhịn được nữa. Tức tốc chạy vào buồng vợ, gầm hét như sấm. Mụ chưa kịp hỏi gì, chàng đã co giò đá phốc một cái, mụ ngã bắn xa mấy thước. Rồi hai tay hai cục đá làm như quả đấm, cứ thụi mãi vào mụ huỳnh huỵch, không biết là bao nhiêu mà đếm. Mụ bị đấm đá sây sát cả thân thể, nhưng miệng còn mắng chửi lia lịa. Chàng liền rút dao mang bên cạnh sườn ra, mụ vừa chửi vừa nói:

- Bộ mày rút dao ra, dám giết tao chết đấy chăng ?

Vạn-thạch chẳng nói chẳng rằng, hươi con dao chém vào bắp đùi mụ, đứt phăng một miếng thịt lớn bằng bàn tay rơi xuống mặt đất

Chàng toan chém nửa, mụ khóc xin tha tội. Nhưng chàng không nghe, lại chém một dao. Người nhà thấy chàng nổi cơn hung dữ thái quá, vội vàng xúm lại, cố sức lôi ra bên ngoài. Mã chạy tới đón rước, cầm tay an ủi chàng còn cơn giận chưa hết, chỉ lâm le chạy vô tìm vợ để chém nủa, Mã cố ngăn lại mới thôi

Một chốc, hơi thuốc tan dần, chàng ngẩn cả người, như giấc chiêm bao mới tỉnh. Mã căn dặn ân cần:

- Anh chớ có ngã lòng yếu vía đấy nhé ! Cái đạo làm chồng được phấn chấn lên, quan hệ ở chuyến này đó. Tẩu tẩu khiến anh sợ hãi quá lố như thế, chẳng phải là chuyện đầu hôm sớm mai gì, sự thật do mỗi ngày một tí, dần dà mà có đã lâu lắm rồi. Chẳng khác chi hôm qua anh chết mà ngày nay sống lại, vậy từ đây nên ráng tẩy cũ thay mới, nếu lại chịu lùi bước phen nữa thì hỏng to

Rồi tức thời bảo Van-thạch vô trong nhà dò xem. Mụ thấy chàng trở vô, chân tay run rẩy, tim nhảy thùm thụp, kêu gọi thị nữ đỡ mình, toan quỳ xuống lạy lục. Chàng ngăn lại mới thôi. Trở ra thuật chuyện cho Mã hay. Hai cha con thấy gia đình thay đổi như vậy, đều lấy làm vui mừng. Mã muốn đi, cha con cùng năn nỉ lưu lại, nhưng Mã cố từ:

- Vừa rồi tôi có việc phải đi Ðông hải, cho nên tiện đường ghé thăm. Giờ tôi phải đi, để bận trở về lại cùng hội hợp

Liền hôm đó Mã lên đường. Hơn một tháng, mụ mới bình phục, thờ phượng ông chồng hết sức tử tế, hẳn hoi. Nhưng dần dà thấy chồng chẳng có tài nghệ gì đáng sợ, thế rồi lần hồi đâm ra dễ ngươi, lờn mặt, kế đến chế diễu, rồi tới mắng chửi. Không bao lâu, thói cũ lại hiện xuất nguyên hình. Ông cụ không chịu thấu, dang đêm bỏ nhà trốn đi Hà nam, nhập tịch đạo sĩ. Vạn-thạch biết vậy, nhưng chẳng dám đi tìm cha về

Cách trên một năm, Mã đến, trông thấy tình cảnh mà chán, trách móc Vạn-thạch tận từ, rồi gọi Hỷ nhi ra, ẵm ngồi trên mình lừa, gia roi đi thẳng.

Từ đó, người làng đều khinh Vạn-thạch, chẳng ai thèm chơi với. Chàng lên tỉnh thi khảo khóa, văn bài dở quá nên bị đánh rớt và bôi tên trong sổ sĩ tử tỉnh nhà

Bốn năm năm sau, nhà chàng phát cháy, tất cả của cải nhà cửa đều hóa ra tro bụi, lại cháy lan cả hàng xóm. Người làng chung đơn lên quận thưa kiện, chàn gbị xử phạt tiền rất nặng. Gia sản còn sót lại chút nào, dần dà tiêu sạch, tới nước không có túp lều mà ở. Mấy làng quanh miền bảo nhau không cho Vạn-thạch ở đậu, không cho thuê nhà. Anh em Doãn thị (bên vợ) cũng giận những việc thất đức mụ làm bấy lâu, cho nên cự tuyệt không chứa cũng không giúp đỡ gì hết.

Vạn-thạch bí lối cùng đường đem bán nàng hầu cho một nhà giàu sang, rồi dắt vợ xuống ghe đi Hà nam. Ðến lúc tiền ăn đường sạch trơn, mụ không chịu theo nữa, một hai kiếm chuyện để tự do đi lấy chồng khác.

Vừa gặp dịp một người làm nghề mổ heo mới góa vợ, bỏ ra ba trăm quan tiền mua mụ đem đi. Chàng bơ vơ một thân, ăn xin khắp xóm này làng kia lần mò đến xin trước cửa một nhà quan, bị tên gác cửa thét mắng đuổi đi, không cho vô trong. Giây lát một vị quan trẻ từ trong đi ra, chàng phục dưới đất mà khóc. Quan nhìn đi nhìn lại, hỏi qua tên họ, rồi sững sốt nói:

- Cơ khổ ! Bác tôi đây mà ! Sao bác nghèo nàn đến thế

Vạn-thạch nhìn kỹ, biết là Hỷ nhi, bất giác khóc rống, theo cháu vô trong nhà, thấy nguy nga bóng lộn. Giây lát, ông cụ vịn vai một tiểu đồng tử trong bước ra, cha con đối nhau bi thương tấm tức. Chàng kể rõ tình cảnh điêu đứng cho thân phụ nghe

Nguyên khi Mã ẵm Hỷ nhi ra đi, đưa thẳng tới đâỵ Mấy hôm sau lại đi tìm ông cụ đến, cho hai ông cháu ở chung với nhau, rồi rước thầy về dạy Hỷ nhi học. Thằng nhỏ thông minh, mười lăm tuổi đậu hạch, năm sau thi Hương đậu cử nhơn. Mã cưới vợ cho xong xuôi, muốn từ giã đi; ông cháu cùng khóc lóc cầm giữ ở lại. Mã nói:

- Tôi không phải người ta đâu. Thật là chồn tiên, các bạn đồng đạo chờ tôi đã lâu, phải để tôi đi mới đặng.

Bấy giờ cậu cử Hỷ nhi kể chuyện ấy cho bác nghe, lòng còn cảm động chan chứa. Nhơn dịp nghĩ lại hồi xưa Vương thị (vợ bé của bác Vạn-thạch), cùng chịu đối đãi bạo ngược như mình, động lòng thương hại, bèn cho xe ngựa và người đem tiền bạc theo để chuộc Vương thị về

Vương thị về hơn một năm, sinh đứa con trai, nhân đó nhắc nàng lên ngôi vợ cả

Còn Doãn thị đi theo người chồng mổ heo được chừng nửa năm, lại giở thói ngang tàng như xưạ Thằng chồng nổi giận, sẵn dao mổ heo, xẻo phăng của mụ một miếng thịt đùi, lại lấy dây trói mụ lại, treo rút lên xà nhà, xong rồi gánh thịt heo ra đi

Mu đau quá kêu la rầm rĩ, lối xóm mới hay. Người ta đến cởi trói và cắt dây, mụ la đang vang dậy làng xóm. Từ đó, hễ thấy mặt anh chàng mổ heo đến thì sợ hãi đến sởn tóc gáy và lạnh buốt xương sống. Chỗ đùi tuy lành, nhưng mà què một cẳng, phải đi khập khễnh, nhưng vẫn sớm hôm phục dịch vất vả, chớ hề dám than van, trễ nãi. Mỗi khi chàng mổ heo say sưa về nhà, là mỗi lần đánh chưởi mụ thậm tệ. Tới đây mụ mới hiểu ra thuở trước mình ác độc với thiên hạ ra sao, giờ mình phải chịu cũng thế

Một hôm Dương phu nhân (vợ Hỷ nhi) cùng bác gái Vương thị đi lễ chùa, các cô các bà nông dân ở quanh đó xúm lại chào mừng. Doãn thị cũng ở trong đám đó, nhưng thập thò không bước tới gần. Vương thị hỏi mụ ấy là ai ? Gia nhơn thưa là vợ người bán thịt heo, họ Trương; đồng thời thét bảo mụ phải đến gần cúi đầu làm lễ. Vương thị cười và nói:

- Con mẹ này đi theo thằng mổ heo, chắc không thiếu thịt ăn, sao mà ốm gầy đến thế ?

Doãn tức và thẹn, về nhà muốn thắt cổ chết phức. Nhưng giây yếu quá không chết. Anh chàng ghét thêm. Hơn năm sau chàng mổ heo qua đời, mụ đi đường gặp Vạn-thạch, đứng nhìn xa xa, nước mắt tuôn như mưa. Vạn-thạch ngại mặt tôi tớ đi bên cạnh, không hỏi gì đến mụ, về nhà bàn với cháu, tính cho mụ trở lại. Cháu nhất định không nghe

Mụ bị người làng xóm khinh bỉ quá, hết chỗ nương tựa, theo lũ ăn mày kiếm ăn. Thỉnh thoảng, Vạn-thạch còn hẹn hò gặp mụ trong một ngôi chùa, Hỷ nhi cho thế là nhục, ngầm sai bọn ăn mày bêu xấu, bấy giờ chàng mới chịu tuyệt.

Chuyện này về sau ra sao, ta không nghe nói.[/align]

 

 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
           Sen vàng lãng đãng
 
 
 





Sương in mặt, tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng như gần, như xạ
(Nguyễn Du)
Sinh hoạt trong trại giam này gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau - cả tù chính trị và tù có án - chung sống, thật đa dạng và cũng lắm điều vụi Khá nhiều hình thức hấp dẫn được trình bày, lôi cuốn một số người hưởng ựng
Đại để có những nhóm: Chiếu Phim, Bói Toán, Cầu Cơ và Truyện Mạ
* Chiếu Phim, - (tên gọi dành cho một xuất kể chuyện, khoảng gần 60 phút),- do một vị đọc nhiều hiểu rộng, nói thao thao bất tuyệt trước một cử toạ vài chục người chính thức tham dự - không kể các thính giả nghe kẹ Sở dĩ quý vị này có biệt danh là "nghe ké", là vì họ không đóng góp gì vào những buổi "chiếu phim", trái với những người tham dự chính thức, phải luân phiên chiêu đãi Người Kể Chuyện: trà ngon, thuốc thơm, kẹo bạnh Quý vị nghe ké cũng chẳng quan tâm gì đến việc mình không có gì đóng góp với anh em, mà vẫn được nằm nghẹ phim! Trong lán trại, mỗi người có chỗ nằm của mịnh Địa điểm kể truyện gần chỗ vị nào nằm, vị đó cứ tự nhiên được nghe miễn phí, nếu không muốn đóng góp phần chiêu đãi như các anh em khạc
Nhóm Chuyện Phim này tuy đông người tham dự nhất, nhưng lại chỉ chăm chú nghe một người nói, nên được coi là một nhóm tổ chức có qui củ, nghiêm túc nhật Năm đó, Song Lộc tiên sinh là Người Kể Truyện hay nhất, được anh em phục sát đật Ông rất hứng thú khi thấy anh em chăm chú nghe và ít khi quan tâm đến chuyện được mời mọc ăn uộng Ông kể rõ ràng, minh bạch, hầu như thuộc lòng nội dung cả chục pho võ hiệp tiểu thuyết Kim Dung, lại đi vào từng chi tiết, cả tên những chiêu thức kiếm thuật, côn, quyện rất khó nhớ, ông cũng đọc ra vanh vạch
** Bói Toán, tuy gọi là một nhóm, nhưng lúc nào cũng chỉ có hai người sinh hoạt: Vị lốc cốc tử và người nhờ coi bọi Nhóm này hầu như khộng phát thanh, vì những lời nói của ông thầy chỉ vừa đủ cho khách hàng lãnh hội mà thội
*** Nhóm Cầu Cơ tổ chức thường vào quá nửa khuya để tránh tai mắt của nhà cầm quyền, ngoài mấy người quen mặt tham dự, phần còn lại đều đã đi vào giấc ngủ, sau một ngày lao động mệt nhọc
**** -n ào nhất là nhóm Truyện Mạ Độc quyền làm diễn giả là một lão tiền bối có hỗn danh là Lão Tạm
Chẳng là lão có đến ba vị phu nhân không chính thức, tức là trên nguyên tắc, dù đã ngoại lục tuần, lão vẫn còn độc thân, chưa cưới vợ lần nạo Lão bị tuyên án mười năm tù về tội buôn lậu hàng quốc cấm qua biên giợi Lúc mới khăn gói quả mướp đến chỗ nằm hiện nay, lão đạ tự khai về câu chuyện ba bà này từng làm lão thất điên bát đạo Dù đã phải cất một căn chòi giữa khoảng đồng không mông quạnh, cách chợ Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên khoảng nửa giờ đi bộ, để khỏi làm phiền lối xóm trong vườn, có căn nhà hương hoả của lão trước đậy Lối xóm của lão thường phải điếc tai về những lời qua lại giữa mấy bà mỗi lúc không hẹn mà gặp nhau trong nhà lạo Cũng thể theo sáng kiến của bà nhỏ nhứt, ngoài việc cất cái chòi biệt lập giữa cánh đồng, lão còn đã phân chia một chương trình "thăm viếng" rành rọt cho mỗi bà, để không ai gặp ai trong căn chòi của lạo Thế mà rồi mấy bà cũng đụng đầu nhau toé lửa, cãi cọ ì xèo, đôi khi còn thượng cẳng chân, hạ cẳng tay làm lão chịu không thậu Thêm vào đó, lại gặp chuyện ma quỷ nên lão phải... di tản qua Căm Pu Chia ít ngạy Lão ham vui, theo mấy ông bạn nhậu lên mãi tận một làng hẻo lánh thuộc quận Chi-Phou, tỉnh Svay-Riệng Tại đây, lão tham tiền, mà cũng ỉ mình rành đường đi nước bước, nhận chuyển một số hàng về ngả Tân Châu, Châu Độc Đó là nguyên nhân đưa lão vô đậy
Lão cho rằng đời lão tàn vì ba bà, nên mới được anh em tặng cho cái hỗn danh: Lão Tam, mặc dù lão thứ tự Không hiểu công lực của lão thâm hậu đến đâu mà đương đầu nổi với cả ba bà, nhưng tài kể chuyện Ma của lão quả thực thần sầu quỷ khộc Chẳng thế mà có đến cả chục đệ tử cúc cung phục vụ lão thực phẩm, thuốc men để được nghe lão kể cho nghe những chuyện ma làm nhiều cậu dựng tóc gạy
Mấy chú nhỏ nghe chuyện lão kể, sợ đến nỗi trời nóng mà phải trùm mền kín mịt Có cậu đêm khuya một mình không dám vô nhà cầu, đành nằm nhịn, chờ sạng
Tối hôm đó, đầu kia căn nhà là truyện phim Tiếu Ngạo Giang Hồ do Song Lộc tiên sinh kể, tới hồi Giáo Chủ Triêu Dương Thần Giáo là Đông Phương Bất Bại cầm chiếc kim thêu mà sắp đánh bại cựu Giáo Chủ Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung, Hướng Vấn Thiên và Quang Minh Hữu Sứ Thượng Quang Vận
Mọi người đang nín thở theo dõi câu chuyện đến hồi hấp dẫn nhất thì cuối căn nhà, có tiếng kêu thất thanh:
- Ma! Ma!
Mấy ông bạn đang nghe "ké" ngóc đầu dậy:
- Ma ở đâu mà Mả Tào lao không hà!
Người vừa kêu ma một cách sợ hãi đó chính là Lão Tam, diễn giả về những chuyện ma rất rùng rợn
Chiều hôm qua, Lão Tam đang kể câu chuyện Ma mà chính lão được chứng kiến, và cũng là nạn nhân, trong thời gian lão còn cư ngụ trong chòi nói trên, nơi lão dùng làm địa điểm hò hẹn định kỳ với một trong ba người đàn bà đều hâm mộ lạo
Sống trong căn chòi trơ trọi giữa khu đồng ruộng bao la, chung quanh lại nhiều nấm mộ, hầu như lọt vô một nghĩa trang vô chủ, kể ra Lão Tam cũng là người gan dạ
Được hỏi vậy chớ những đêm không có bà nào đến bầu bạn, lão làm gỉ
Lão Tam cười hăng hắc:
- Thì cũng phải nghỉ xả hơi chớ! Ôm hoài cho chết sảo
Rồi lão nói tiếp:
- Bởi vậy mới có chuyện!
Kể đến đây, câu chuyện đang ngon trớn, bỗng nhiên Lão Tam ngưng ngang xương:
- Bữa nay tới phiên đứa nào châm trà, sao im lặng quá vẩy
Một chàng trai, cũng tù hình sự, khoảng ba mươi tuổi, giơ tay:
- Tới phiên con, tía!
Lão hất hàm:
- Trà đẩu
Thanh niên gãi đầu:
- Cho con thiếu kỳ này đi, tịa Lần sau xin bồi dưỡng tía hai xuất trà lá kẹo (tức trà tầu, thuốc lá, bánh kẹo) đàng hoạng
Lão Tam lắc đầu:
- Vậy là bữa nay tạm ngưng ở đậy Đứa nào ghiền kể chuyện hổng chịu nổi thì qua bển nghe "cọp" chuyện Tiếu Ngạo Giang Hồ!
Nói xong, lão nằm xây qua một bên, ngụ
Ngờ đâu, chẳng hiểu Tổ trác thế nào, lão lại nằm mơ thấy ma nên mới la lối om sòm!
Lão lẩm bẩm:
- Lại con mẹ Hai Mì chết bất đắc kỳ tử, hiện về phá nữa!
Bữa nay, đúng giờ hẹn và đến phiên một khổ chủ, đã sẵn sàng trà lá kẹo đàng hoàng, lão mới bắt đầu kể câu chuyện chính lão là nạn nhân, như đã viết trên đây, câu chuyện xảy ra đã lâu mà bây giờ nhớ lại, lão vẫn còn thấy ớn!
Khuya đó, một đêm cuối tháng, tuy mát trời nhưng chẳng hiểu sao lão trằn trọc không ngủ được Lão nhổm dậy, quơ chai rượu tắc kè, rót một chung rồi cầm ra phía ngoài sận Trời tối như mực, xa xa mấy ánh đèn leo lẹt Lão ngồi trên chiếc ghế cây, đặt ly rượu một bên, thỉnh thoảng uống một hợp
Thốt nhiên nhìn về phía con lộ xuống Thốt Nốt, lão nhận ra, ngoài ánh lửa bập bùng của mấy căn nhà bên xóm cây da lớn, phía ngoài còn có một ngọn đèn đong đựa Lão ngạc nhiện Khuya rồi mà còn ai đi đâu cả Mà hình như ngọn đèn di chuyển về phía lạo Hay là bà Chín kiếm lạo Thừa dịp vào thời gian trong chương trình nghĩ ngơi không hẹn với bà nào của lão, bà Chín dám qua mặt hai "tình địch", để lén đến với lão lặm
Ai chớ bà Chín mà xé rào thì lão hoan nghệnh Chẳng phải vì bả trẻ nhứt,mới khoảng trên dưới bốn mươi, mát da mát thịt nhứt, lại có sạp chạp phô trong nhà lồng chợ Thốt Nốt, mà là vì bả rất duyên dáng, lại đa tịnh Bà goá chồng chừng vài năm nay, có độc nhứt một cô con gái rượu - con bé Hai - mà lão đã gặp bữa ghé Thốt Nốt dự đám cưới con người bạn thận Chính ông này đã giới thiệu bà Chín Chạp Phô cho lạo Trên nguyên tắc, dù trọng tuổi, lão vẫn còn là trai... tơ, vì chưa lập gia định Khi gạo đã nấu thành cơm, bà Chín mới hay là lão đang có hai bạ già nhân ngãi, nhưng lỡ rồi, nên bà mới buộc lão phân chia thời gian cho từng bà, để khỏi đụng đầu nhau trong cái tổ quỷ giữa đồng!
Thành ra mỗi tháng, ba tuần lễ đầu đã phân chia cho ba bà, lão chỉ còn rảnh sáu hay bảy ngày, từ hai mươi lăm ta tới ngày mồng một, tuỳ theo tháng đó đủ hay thiếu, dành để dưỡng sực Hôm nay là ngày hai mươi lăm, "ca" chót của bà Chín mới chấm dứt hồi bữa qua, chẳng lẽ bả đã thèm ặn chè liền vẩy Nhưng chẳng hiểu dự đoán của lão trúng hay là vì uống chung rượu nặng, hoa mắt nhìn gà hoạ cuốc, lão thấy người cầm đèn bão tới gần lão, quả nhiên là bà Chịn
Nhưng sao bả bày đặt mặc bộ đồ bà ba lụa màu vàng lợt rộng thùng thình, có mùi hoa lài hương thơm phảng phẩt Lão cười cầm bàn tay lạnh ngắt vì đi trong đêm khuya của bà Chín, lão ân cần kéo người tình vô trong chòi:
- Khuya rồi mà sao em còn tới vẩy Có chuyện gì khổng
Bá Chín cười chúm chím:
- Bộ hổng có chuyện thì không cho em tới phải hổn
Lão lắc đầu:
- Qua hỏi vậy thôi! Nhưng coi chừng hai mụ kia mà hay được thì qua sẽ bị xé xác!
- Vậy nên em mới tới vợi Tư vào khuya nạy Bộ Tư không chịu sảo
Lão giã lả:
- Ai biểu qua không chịu Em tới là qua mừng hụm
Cuộc tình của lão đến thế coi như đầy hoan hị Trời chưa sáng, lão chợt tỉnh ngủ và nhận ra cục cưng không còn nằm bên cạnh lão nựa Lão cho là chuyện thường, vì cả trong những phiên chính thức, bà Chín vẫn thường ra về sớm để tránh dị nghị, nhất là con bé Hai thức dậy mà không thấy má, lại dò hỏi lôi thôi!
Năm đêm liền sau đó, bà Chín tiếp tục chương trình, vẫn đến căn chòi hú hí với lạo Nhưng bả đều tới vào cữ quá nửa khuya, rồi lại ra đi lúc trời chưa sáng, lúc lão còn mệt ngụ Lão đang mơ mơ màng màng thì thấy bóng dáng bà Chín với chiếc áo màu vàng loà xoà, lướt vô nhẹ nhàng không một tiếng động
Trưa ngày thứ sáu, tức ngày mồng một đầu tháng, người tình đầu tiên của lão tới phiên, bước vô căn chòi thì thấy lão nằm một đống, mặt mũi xanh lẹ Bà này hết hồn, đè lão ra cạo giọ Hồi lâu lão mới tỉnh dậy Trong mình lão không còn chút khí lực nạo Bà ta đưa lão tới một ông thầy thuốc tàu ở chợ Long Xuyên coi mạch, hốt thuốc, cả nửa tháng sau lão mới hồi sực
Tuy vậy, lão vẫn chờ đợi, ngày hai mươi mốt ta, lại tới phiên bà Chín đến với lạo Lão vẫn còn ham cái mùi hoa lài thơm ngát mà suốt mấy đêm đã làm lão ghiện Mùi hoa mà, ngay từ ban đầu gá nghĩa, chưa bao giờ lão cảm nhận ở bà Chịn Nhưng càng mong càng mất, mấy ngày sau cũng không thấy tăm hơi bà Chịn Không còn cách nào khác, lão lại mò xuống nhà lồng chợ Thốt Nột
Lão rất ngạc nhiên khi nghe con bé Hai nói:
- Má cháu đi về Ngoại ở Sóc Trăng cả tháng nay vẫn chưa lên!
- Cháu có nhớ là Má đi ngày nào khổng
Nó trả lời ngay:
- Hai mươi lăm tháng trước, cậu Mười cháu lên cho hay là bà Ngoại binhNgạy chiều hôm đó, Má cháu ngồi sau xe hông đa của cậu Mười về Cần Thơ liện Chắc là Bà Ngoại cháu đau nặng nên Má cháu chưa lện
Lão nghe nó nói mà rụng rời cả tay chận Bà Chín đi Cần Thơ ngày hai mươi lăm tháng trước, vậy chớ ai xách cây đèn lồng, khuya đó tới căn chòi của lảo
Lão quên cả dặn con nhỏ, khi Má nó trở về, nói là có Ông Tư kiệm Lão hốt hoảng cắm đầu chạy vệ chọi Đúng là mấy đêm liền, lão đã ăn nằm với ma quỵ Lão nằm vật ra thở dộc Không có bà nào đến với lão trong thời gian nạy Chiều hôm đó, lão trở lại căn nhà trong vượn Thằng Út thấy cậu Tư về cũng không thèm ra đọn Đứa cháu con bà chị này này vốn không ưa lão, nó giận lão đèo bòng quá nhiều bà, bỏ bê nhà cửa ruộng vườn, khiến nó làm việc ứ hơi mà vẫn không xọng
Đêm đó, lão lại trằn trọc không ngủ được Thốt nhiên, đâu đây phảng phất mùi Hoa Lài quen thuộc Lão thấy ớn xương sộng Hay là có một oan hồn nào theo phá lạo Lão sực nhớ ra là đã từng phụ tình một người đàn bà trong xọm Bà này sau đó đã tử nạn trong một vụ chìm xuộng Lão không hay biết gì về tên họ của người đàn bà này, mà người ta thường kêu là Bà Hai Mì, vì bả có gánh mì ngồi bán ngoài chợ lạng
Sáng hôm sau, lão lần ra coi ngôi mộ của người mà lão phụ tịnh Lão trố mắt nhìn tấm bia mộ có ghi rõ ràng họ và tên bà Hai Mì: "Trương Thị Lài" sanh năm Ất Dậu (1945) tạ thế ngày.... v. v...
Toàn thân lão lạnh toạt Mùi Hoa Lại Bóng áo vàng loà xoà lướt tợi Đúng là oan hồn của bả về "báo" cái tội phụ tình của lạo
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến lạo di tản qua Căm Pu Chia để rồi có dịp vô đậy bóc lịch!?[/align]

 

 
sưu tầm
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
               Yêu nữ
 
 
 
Hắn đứng chân trần trên cát, dưới ánh nắng nóng bức và mùi tanh nồng của hải cảng, dưới tấm bạt mỏng của một quầy cà phê nhỏ. Chiếc quần màu hung cũ mèm của hắn ngắn tới chỗ mắt cá chân, hai bàn chân hắn dài chai sạm và nứt nẻ, những ngón tay mềm mại trước đây giờ đã thô ráp như đá.

Chiếc sơ-mi hắn mặc có màu xanh nhạt hài hoà với sắc trời bạc phếch trong nắng hè chói chang. Hắn đưa cánh tay phải ra một cách ương ngạnh và khó chụ, như muốn yêu cầu khách tới thăm các viện bảo tàng phải bố thí mới được chiêm ngưỡng. Những tiếng lắp bắp ngô nghê bật ra từ cái miệng mở to, để lộ hai hàm răng trắng loá của hắn.

Gã câm điếc à?

Gã không điếc đâu.

Jean Demetriadis, chủ nhân của các xưởng sản xuất xà phòng lớn trên đảo, lợi dụng lúc hắn đang lơ đãng nhìn về phía biển, thả một đồng drachme (tiền Hi Lạp cổ) xuống nền quán trơn nhẵn. Tiếng leng keng rất khẽ và gần như tắt ngay do lớp cát mịn vương trên nền quán vẫn chui vào đôi tai của gã hành khất. Hắn nhặt vội đồng bạc kim loại trắng rồi lập tức đứng lại như cũ, trầm tư và buồn rầu, như con hải âu đậu trên bến cảng.

Gã không điếc đâu - Jean Demetriadis lập lại rồi đặt xuống trước mặt mình một ly nước bã nhớt và đen đã uống gần một nửa. Gã hành khất Panegyotis này đã bị câm lúc mười tám tuổi vì đã gặp lũ ma Nerayder.

Một nụ cười mỉm hiện trên đôi môi Panegyotis khi hắn nghe nhắc đến tên mình. Hắn tỏ ra không hiểu ý nghĩa lời nói của người kia, người mà hắn lờ mờ nhận là người bảo trợ của mình, nhưng hắn chỉ cảm nhận được qua giọng nói, chứ không phải ngôn từ. Hài lòng vì biết người ta đang nói về mình hắn càng hy vọng được thêm một lần bố thí nữa nên lặng lẽ chìa tay ra phía trước, giống như vẻ sợ sệt của con chó khi nó khẽ chạm chân vào gối ông chủ để nhắc ông ta đừng quên cho nó ăn.

Hắn là con trai của một trong những gia đình nông dân khá giả nhất làng tôi - Jean Demetriadis nói tiếp - họ là những người giàu thực sự. Cha mẹ hắn có những cánh đồng mênh mông, một ngôi nhà lỗng lẫy bằng đá khối, một vườn cây ăn trái xum xuê, một vườn rau xanh tốt, một chiếc đồng hồ báo thức đặt trong bếp, một ngọn đèn cháy sáng suốt ngày đêm trước bức tường treo đầy ảnh thánh, nghĩa là họ có đủ thứ cần thiết. Người ta có thể nói về Panegyotis là, trước mặt hắn lúc nào cũng có ổ bánh mì nóng giòn cho đến trọn đời. Đối với hắn con đường đã mở sẵn ở phía trước dù là con đường Hi Lạp bụi cát, gập gềnh sỏi đá, nhưng vẫn có tiếng chim hót véo von. Hắn đã hứa hôn với con gái của vị bác sĩ thú y, một cô bé ngoan làm việc trong xưởng của tôi; vì hắn rất đẹp trai nên có hàng đống nhân tình ở cái xứ sở đầy những cô gái thèm khát yêu đương này; người ta còn đồn rằng hắn đã vụng trộm với vợ của ông linh mục; mà nếu như điều đó có thật thì ông linh mục cũng chẳng trách hắn vì ông vốn không mấy yêu phụ nữ và cũng chẳng quan tâm gì đến vợ mình, vả lại cô nàng luôn tỏ ra sẵn sàng với bất kỳ ai. Các vị thử hình dung hạnh phúc của thằng Panegyotis xem: nào là tình yêu của những người đẹp, sự ghen tỵ của bọn đàn ông và đôi khi cả sự thèm khát của họ nữa, nào là chiếc đồng hồ bạc và hàng ngày lại thay một chiếc sơ mi trắng tinh, nào là đĩa cơm chiên thịt vào bữa trưa và nước màu xanh lam ngát hương xức trước bữa ăn tối. Nhưng hạnh phúc vốn thật mong manh: khi nó không bị con người hay hoàn cảnh phá huỷ thì lại bị những bóng ma đe doạ. Có thể quý vị còn chưa biết hòn đảo của chúng tôi vốn lắm chuyện bí ẩn. Ma ở đây không giống với lũ ma quỷ phương Bắc của quý vị, nghĩa là chỉ xuất hiện lúc nửa đêm và ban ngày sống ở nghĩa địa đâu. Bọn ma ở đây không thèm khoát tấm choàng trắng và chúng thì có da thịt hẳn hoi. Nhưng chúng nguy hiểm hơn cả những hồn ma người chết, những người ít ra đã từng biết sống, biết đau khổ là thế nào. Những con ma Nereyder ở nơi này vừa trong trắng lại vừa xấu xa, khi thì bảo vệ lúc thì phá huỷ con người. Những vị thần đã chết từ lâu và các bảo tàng chỉ còn giữ lại những cái xác bằng cẩm thạch của họ. Rồi, một buổi sáng tháng Bảy, hai con cừu của cha Panagyotis giở chứng quay cuồng. Nạn dịch lan rất nhanh trong đàn thú và mảnh sân đất nện trước nhà chẳng bao lâu đã biến thành nơi cách ly bầy gia súc bị bệnh. Ngay giữa trưa nóng bỏng Panegyotis một mình đi tìm vị bác sĩ thú y ở bên kia sườn núi Xanh Êli, trong một làng nhỏ cạnh bờ biển. Đến chiều tối hắn vẫn chưa về. Cha Panegyotis rất lo cho hắn; người ta đã sục sạo khắp làng và các thung lũng lân cận, nhưng đều vô ích; suốt đêm đám phụ nữ cầu nguyện tại ngôi nhà thờ trong làng, nơi chỉ là một kho chứa cỏ được thắp sáng bằng vài chục ngọn nến. Tối hôm sau, vào giờ nghỉ, cánh đàn ông ngồi bên bàn ở sân làng trước một ly cà phê, một cốc nước và một thìa mứt, thì thấy hắn, một gã Panegyotis khác lạ, thay đổi tới mức như vừa từ cõi chết trở về. Đôi mắt hắn lấp lánh như chỉ còn tròng trắng, hai tháng sốt rét cũng không thể làm cho hắn vàng khè như thế. Một nụ cười làm méo xệch cặp môi của hắn khiến cho lời nói không thoát ra được. Tuy nhiên, hắn vẫn chưa bị câm hoàn toàn. Những tiếng ngắc ngứ bật ra khỏi miệng hắn như tiếng của một nguồn nước sắp tắt.

Ma Nereyder... Các cô... Nereyder... đẹp lắm... Trần truồng... Người tóc vàng... Tóc vàng.

Đó là những lời duy nhất mà người ta có thể nghe hắn nói. Nhiều lần, trong những ngày tiếp theo, người ta thấy hắn vẫn còn lẩm bẩm một mình: ``Tóc vàng... Người tóc vàng...`` cứ như hắn đang vuốt ve một tấm lụa. Rồi sau đó lịm tắt. Mắt hắn không còn lấp lánh nữa, cái nhìn trở nên xa vắng và bất động một cách lạ lùng; hắn chiêm ngưỡng mặt trời không chớp mắt; có lẽ hắn đã tìm thấy khoái cảm khi quan sát vầng thái dương vàng chói ấy. Tôi có mặt ở làng trong mấy tuần đầu tiên phát bệnh của hắn: không sốt, cũng chẳng có một triệu chứng gì là cảm nắng hay lên cơn. Cha mẹ hắn đưa hắn đến một tu viện nổi tiếng ở gần đấy để trừ tà; hắn ngoan ngoãn, để mặc người ta muốn làm gì thì làm, nhưng từ lễ tế ở nhà thờ, thuật xông khói hương lẫn những ma thuật của các mụ phù thuỷ trong làng đều không thể tống ra khỏi hắn những nữ thần điên rồ xinh đẹp. Rồi cuộc sống hắn cứ tuần tự trôi đi; hàng ngày hắn vẫn kiên nhẫn tới nơi các nơi ma nữ hiện hình: ở đó có một nguồn nước mà đôi khi những người đánh cá ghé lại lấy nước ngọt, một thung lũng sâu và một nương cây vả, nơi bắt đầu một con đường chạy xuống biển. Người ta nghĩ rằng sẽ thấy trong lớp cỏ gầy những dấu chân phụ nữ, những chỗ cỏ rạp xuống do thân người đè lên. Họ hình dung ra cảnh cậu con trai làng bị tiếng cười nói của phụ nữ đánh động, như người đi săn chợt nghe thấy tiếng vỗ cánh; những cô gái xinh đẹp nâng cánh tay ngà lấm tấm lớp lông tơ vàng ươm chắn ngang ánh mặt trời; bóng lá thấp thoáng trên khuôn ngực trần, cặp vú trắng với đôi núm đỏ hồng chứ không phải màu xanh tím; rồi Panegyotis hôn ngấu nghiến vào tóc họ, hắn có cảm tưởng như đang nhấm nháp mật ong và rạo rực ham muốn khoái lạc. Loài ma Nereyder đã dâng tặng chàng thanh niên cuồng si một thế giới đàn bà khác hẳn với những cô gái trên đảo, và khác biệt với những con vật cái. Các nường đã cho hắn cái mơn man mới lạ, sự mệt mỏi diệu kỳ và lấp lánh hạnh phúc. Người ta đồn rằng hắn vẫn không ngừng gặp các nường vào những trưa nóng nực, lúc những con quỷ đẹp mê hồn ấy lang thang tìm tình yêu: và dường như hắn đã mê tới mức quên cả mặt vị hôn thê, mà mỗi lần gặp nàng hắn đều quay mặt như tránh một con khỉ đột; hắn khạc nhổ khi vợ ông linh mục đi qua khiến bà phải khóc suốt vài tháng mới bình tâm lại. Lũ ma ấy đã làm hắn mụ mẫm đi rồi lôi hắn vào vòng xoáy trò chơi của chúng. Rồi hắn không làm việc nữa; hắn cũng không bận tâm đến thời gian; hắn trở thành kẻ hành khất để có thể ăn bất cứ khi nào hắn đói. Hắn lang thang trên đảo, cố tránh những con đường lớn; hắn chui vào trong nương rẫy và rừng thông ẩm thấp; Người ta bảo rằng một bông hoa nhài cài trên vách đá khô hoặc một viên sỏi trắng đặt dưới gốc cây trắc bá đều là mật hiệu mà hắn có thể giải mã ra thời gian và địa điểm của lần hẹn hò sắp tới với lũ ma xinh đẹp. Những người nông dân cũng kháo nhau rằng hắn không hề già đi; họ khó lòng đoán được hắn đang ở tuổi mười tám hay bốn mươi. Nhưng đầu gối hắn đã run, và hồn phách hắn đã ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại và cả tiếng nói nữa, cũng sẽ không bao giờ xuất hiện trên đôi môi hắn.

Nhưng mà này, Jean, vợ Demetriadis nói một cách bực dọc, ông có cho rằng Panegyotis đã thực sự thấy con ma Nereyder không?

Jean Demetriadis không đáp, ông ta đang bận nhổm người trên ghế để đáp lại lời chào kiêu hãnh của ba cô gái nước ngoài đang đi qua. Ba cô gái Mỹ mặc y phục trắng nhún nhẩy đi trên bến cảng ngập nắng, theo sau là một ông phu khuân vác già gập lưng dưới sức nặng của chiếc bao tải thực phẩm mà các nàng vừamua ở chợ; giống như những cô bé vừa tan trường, họ nắm tay nhau bước đi. Một cô trong số họ để đầu trần, có mấy cành sim nhỏ gài lên mái tóc hung, còn cô thứ hai đội chiếc mũ rơm rộng vành kiểu Mêhicô, và cô thứ ba đội một chiếc khăn bông, đeo kính râm to che gần kín mặt như một chiếc mặt nạ. Ba cô gái trẻ này muốn định cư ở đảo, họ đã mua một ngôi nhà cách xa đường cái: ban đêm họ dùng đinh ba bắt cá ngay trên con thuyền riêng của họ và vào mùa thu họ đi săn chim cút. Họ không giao du với ai và tự lo liệu lấy cuộc sống; họ sống cách biệt hẳn để tránh những lời dèm pha mà có lẽ họ còn khó chịu hơn cả những điều vu khống. Tôi thử quan sát xem Panegyotis có ném cái nhìn theo mấy cô gái không, nhưng vô ích; đôi mắt hắn lơ đãng, trống vắng và không một chút loé sáng: rõ ràng hắn không thừa nhận những con ma Nereyder của hắn mặc quần áo đàn bà. Đột nhiên, hắn cúi xuống nhanh nhẹn nhặt một đồng drachme mà chúng tôi vừa ném xuống, và tôi nhận thấy có một vật duy nhất trên lớp lông thô của chiếc áo thuỷ thủ mà hắn khoác hờ hững trên vai, một bằng chứng không thể chối cãi được: đó là một sợi tơ, một sợi tơ mảnh của mái tóc vàng óng đàn bà.[/align] [/align] [/align]sưu tầm[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Người đàn ông không... thật :
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=386372&mpage=69&key=
Khoảng lặng đã qua :
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=427346&mpage=23
Chuyện ngắn Phong Linh :
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=440207
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
              Ma nữ si tình
 
 





Ma nữ đa tình (Chuyện viết dựa theo một đoạn trong phim kinh dị Creepshow và một nhân vật có thiệt trong chuồng Dzịt ....hehehe :P )
Tác giả: Tiger


Ngồi lặng lẽ trong góc tối tại quán rượu, Túy run run uống thêm một ly rượu lấy lại bình tĩnh. Anh vừa qua một cơn khủng hoảng trầm trọng. Tiếng người cười nói xung quanh không làm bớt nỗi sợ hãi và cảm giác cô đơn đến tột cùng của Túy. Tại sao tình trạng xui xẻo cứ bám theo anh không ngừng? Tiếng điện thoại cầm tay vang lên mơ hồ bên cạnh, Túy hững hờ cầm lên trả lời:

-Tâm hả? Ờ, đừng lo cho anh, anh về liền.

Tiếng người vợ ngọt ngào trong điện thoại dặn dò anh lái xe cẩn thận, Túy cười cay đắng nghĩ thầm:

-Trễ quá rồi, anh đã làm một chuyện chính bản thân anh không thể nào tha thứ cho mình.

Đặt điện thoại xuống, Túy nhớ lại chuyện cũ đã xảy đến với anh nhanh như một cơn lốc xoáy trong mấy tháng qua mà bây giờ anh mong nó chỉ là cơn mộng dữ. Túy ước gì anh có thể xoay ngược lại được thời gian, phải chăng đó là định mệnh? ...

Túy là một người đàn ông phải nói là thành công, anh là một bác sĩ nội khoa tại một bệnh viện công của thành phố Seal Beach, đó cũng là niềm hãnh diện của mẹ Túy. Túy qua Mỹ theo diện tỵ nạn với bà mẹ vì ông bố Túy đã mất trong trại cải tạo, nhà chỉ còn hai mẹ con, Túy là con một. Chịu ảnh hưởng của bố, Túy dáng người cao lớn, đi đứng nói năng điềm đạm, từ tốn. Nói chung, Túy là một người lý tưởng cho các cô, mẫu đàn ông thời đại. Hồi còn ở Việt Nam, Túy cũng đã có một mối tình đáng ghi nhớ. Qua đến Mỹ, phải lo vật lộn với bài vở ngập đầu, chương trình học, Túy không dám nói chuyện tình cảm, yêu đương, tuy không thiếu các bóng hồng để ý tới anh. Nói đúng ra, vì anh thương mẹ, một người đã chịu bao nhiêu là cực khổ. Vừa mới ra trường, khi Túy bắt đầu kiếm ra tiền, mẹ Túy đã kiếm cho anh một người vợ mà theo bà rất là xứng với anh, người đó là Tâm. Tâm vừa đẹp người, lại đẹp nết, chăm sóc mẹ Túy như mẹ ruột và làm cho gia đình nhỏ bé của anh sống động, đầm ấm hơn. Tâm có khuôn mặt trái xoan, nước da trắng mịn, giọng nói dịu dàng, gần nàng Túy có cảm giác thật êm đềm. Nàng như một giòng suối mát, mang lại cho anh sự an ủi khi cần đến. Đầu năm nay, khi Tâm có triệu chứng mang thai thì cả nhà quyết định dọn nhà lớn hơn. Sau cùng họ đã tìm ra căn nhà vừa ý ở Signal Hill. Căn nhà tọa lạc trên đồi cao, phải lái xe đi lên mấy con đường ngoằn ngoèo mới tới. Ở đó có thể nhìn được cả thành phố Long Beach phía dưới, và thích nhất là ban đêm, khi thành phố lên đèn, họ có thể nhìn thấy được những ánh đèn màu lấp lánh chung quanh như những vì sao. Nhà gần thành phố và nhà thương Túy làm việc, nhưng lại có được sự yên tĩnh và riêng tư, không khí trong lành. Dọn nhà, chỉ có mẹ Túy là cằn nhằn, bà cụ nói nhà rộng quá, ở phí đi, tiền nhà trả góp lại cao, rồi cái số nhà... cái số xui xẻo...số 666. Nghe đâu đó là số tượng trưng cho ma quỷ (!) Không biết có thật không, nhưng từ hôm dọn vô nhà mới, bà cụ ít khi đi đâu, bịnh hoạn luôn. Túy là bác sĩ nhưng cũng chịu thua cái bệnh già của mẹ. Tâm thì nghỉ làm, ở nhà lo chăm sóc cho bà cụ với cái bụng đã khá lớn. Trong hạnh phúc êm đềm ấy, Túy không thể nào tưởng tượng được là có ngày hôm nay, và định mệnh đã bắt đầu vào lúc anh không ngờ nhất...

Một buổi tối ở ca trực tại bịnh viện, Túy được cô y tá kêu đến phòng cấp cứu. Một bịnh nhân đã dùng lượng ma túy quá liều với rượu, sau đó bị ngất đi tại một câu lạc bộ gần đó. Đã quá quen với những trường hợp tương tự, Túy thản nhiên bảo y tá lo dụng cụ thử máu, đo mạch và cấp cứu để cứu người. Vừa lướt qua khuôn mặt của người bịnh, Túy sửng sốt giật mình. Cũng may là anh quay mặt đi kịp để dấu vẻ bối rối không cho mấy cô y tá chung quanh trông thấy. Tay anh hơi run và tim anh đập mạnh. Người con gái nằm kia anh vừa nhận ra là Nhàn, người tình cũ. Bao nhiêu năm nay không gặp mặt cô, anh nghĩ là đã quên nhưng tình cảm đó chỉ tạm chôn dấu đi nay lại bừng bừng sống dậy. Nhàn nằm đó, hai hàng mi dài rũ xuống, da tái xanh, mái tóc dài xoã sang bên gối. Điểm nổi bật bao giờ cũng dễ nhận ra trên khuôn mặt đẹp của cô là nốt ruồi duyên trên khóe môi. Hồi đó, Túy hay âu yếm chọc cô đó là nốt ruồi ăn hàng. Không hiểu sao Nhàn có sức quyến rũ kỳ lạ... đối với Túy. Cũng như bây giờ, trong lúc cô đang hôn mê, Túy phải ráng dằn lòng, để không đưa tay ra vuốt tóc cô. Mọi việc cấp cứu tiến hành thuận lợi, Nhàn đã qua thời kỳ nguy hiểm. Xem lại hồ sơ bịnh nhân, Túy thấy ghi tên:

-Nancy N. Nguyen-Williams.

Thì ra cô đã lấy chồng, tự dưng Túy cảm thấy như mình vừa đánh mất một cái gì quý giá, anh buồn rầu dặn cô y tá trực săn sóc Nhàn, khi nào bịnh nhân tỉnh dậy thì báo cho anh ngay.

Túy không ngờ gặp lại Nhàn trong một hoàn cảnh như thế này, không hiểu tại sao anh lại cảm thấy mình có lỗi. Khi xưa, hai người chỉ hẹn hò, chưa hứa hẹn gì với nhau nhưng tình cảm hai người phải nói là gắn bó. Đột nhiên Túy bỏ đi vượt biên không một lời từ giã, rồi anh mất liên lạc với Nhàn. Đời sống của Nhàn chắc không được hạnh phúc, vì nếu không tại sao cô vô nhà thương mà thân nhân lại không có ai thăm hỏi .…đang suy nghĩ lan man thì có điện thoại báo bệnh nhân phòng số 44 đã tỉnh. Túy hồi hộp trở lại phòng 44 . Nhàn nằm đó, đầu gối cao nhìn ra phía cửa, Túy thấy cô vẫn đẹp như ngày nào, đôi mắt sâu thẳm của cô như biết nói, anh dừng chân ở cửa phòng ngần ngại, không biết Nhàn còn nhớ anh không. Nhàn yếu ớt kêu:

-Phải anh Túy đó không? Nhàn nè anh …

Túy lại gần Nhàn, nắm lấy tay cô:

-Em khỏe chưa? Không ngờ mình gặp nhau ở đây.

Nhàn vừa ngượng ngùng vừa mừng và kể cho Túy nghe những chuyện gì xảy ra cho cô hơn mười năm nay. Cô không có thân nhân ở đây. Ba má cô vẫn còn ở VN, hai đứa em hiện đang ở bên Đức. Cô lấy chồng cách đây hai năm, chồng cô là một thương gia người Mỹ. Cuộc hôn nhân không kéo dài lâu, chồng cô đã bị tử nạn trên máy bay vào hai tháng trước. Vì cô đơn cô đâm ra rượu chè tìm quên, ai ngờ đó cũng là nguyên nhân làm cho cô bị xảy thai, mất chồng rồi mất cả con. Nghẹn ngào kể xong, cô gượng cười:

-Gặp lại anh em mừng lắm, anh thì sao? Anh đã lập gia đình chưa?

Không hiểu sao, Túy nhìn cặp mắt long lanh của Nhàn, nhìn khuôn mặt đã bắt đầu hồng hào hơn một chút, Túy tự dưng không muốn thấy cô buồn, Túy nói dối:

-Chưa, anh vẫn ở với mẹ anh.

-Có phải hông? Em hỏng tin…

Nói vậy nhưng ánh mắt Nhàn ngập đầy niềm vui, cô mừng quá, lắc lắc cánh tay Túy và bắt đầu huyên thuyên kể tiếp những chuyện đã qua, hai người tâm sự cho đến sáng.

Sau đó là những buổi gặp mặt thơ mộng, và cũng kể từ đó Túy bắt đầu nói dối nhà nghề hơn, anh nói dối cùng một lúc với cả hai người đàn bà. Thật ra Túy không phải là một con người bay bướm, nhưng anh vốn mềm yếu trong chuyện tình cảm, không dứt khoát. Túy biết là mình sẽ không giấu được lâu, anh hy vọng khi nào Nhàn vui vẻ, yêu đời hơn, anh sẽ tìm cách nói cho nàng hiểu là anh đã có vợ. Hồi xưa, mẹ anh cũng đã khuyên anh:

-Con bé Nhàn nó đẹp quá, ai lấy nó rồi cũng khổ, không phải mẹ không thương nó, nhưng mẹ thấy hình như nó có tướng sát phu (!) .

Cũng đã có lần Túy từng so sánh, nếu nói vợ anh, Tâm, là một giòng suối mát êm đềm, thì Nhàn trái hẳn lại, cô là một hỏa diệm sơn không biết bốc cháy bất cứ lúc nào. Nhàn là một người đàn bà nhiệt tình, và đó cũng là điều làm cho Túy say mê. Túy sắm thêm một cái điện thoại cầm tay, viện cớ để cho nhà thương có thể gọi cho anh bất cứ lúc nào. Túy cho Nhàn số điện thoại ở nhà thương, nhưng ngày nào anh cũng phone cho cô và đến thăm cô mỗi tối. Từ nhà Nhàn đến nhà Túy cũng không xa lắm, khoảng nửa tiếng đồng hồ lái xe. Nhàn có căn nhà riêng ở gần ven biển thành phố Huntington Beach, nhờ vào số tiền bảo hiểm nhân thọ do ông chồng chết đi để lại Nhàn không phải lo lắng nhiều về sinh kế. Tối hôm đó, như mọi lần, Túy đến thăm Nhàn, bên ngoài trời mưa lớn, nước mưa che hết cả mặt kính xe. Túy nghĩ thầm, tối nay anh sẽ về nhà sớm với vợ, anh đã hứa với Tâm. Tâm dạo này yếu lắm, có thể nàng sẽ sanh non.

Buổi ăn tối lãng mạn đã được Nhàn chuẩn bị cả buổi chiều, cô cố gắng tập nấu những món mà Túy ưa thích. Dưới ánh nến lung linh, khuôn mặt Nhàn càng tăng thêm vẻ mờ ảo. Đang ăn thì điện thoại cầm tay của Túy reo lên phá đám, nghĩ là nhà thương gọi, Nhàn gắt:

-Kệ nó anh, ăn xong đi đã.

Túy với tay vô trong áo vét treo ở thành ghế, lôi điện thoại ra miễn cưỡng nói:
-Để xem có chuyện gì, anh không sao, em ăn đi …Hello, hả, vậy à? Anh về liền, chờ anh …

Nhìn mặt Túy biến sắc, Nhàn đoán là có chuyện quan trọng, cô hỏi:

-Bộ nhà thương gọi hả anh?

Túy cầm lấy ly rượu uống vội, xô ghế đứng lên, anh xoay người vướng phải chân bàn khiến người nghiêng qua một bên, trái với thái độ từ tốn hằng ngày, anh luống cuống:

-Anh…anh phải đi ngay, lát nữa anh phone cho em .

Nói xong, không đợi Nhàn trả lời, Túy bước nhanh vô phòng tắm rửa mặt. Nhàn nhìn cái điện thoại Túy để trên bàn, trí tò mò nổi lên, cô thắc mắc, không biết ai mà quan trọng vậy. Cô ngần ngừ vài giây, cầm điện thoại lên bấm số kêu ngược lại. Đầu giây bên kia, một giọng nói ngọt ngào của một người đàn bà trả lời:

-Hello ?

Nhàn cắn mạnh môi, cô hỏi vội:

-Dạ, có phải nhà anh Túy đó không ạ?

-Phải, tôi là vợ anh ấy, cô kiếm anh Túy có chuyện gì cần không?

-Dạ không, xin lỗi bà, để khi khác tôi sẽ gọi lại sau.

Khi Túy ở trong phòng tắm bước ra lấy áo vét để mặc lên người thì đã thấy Nhàn nước mắt lưng tròng ngồi chết lặng ở bàn ăn. Túy liền hỏi:

-Sao vậy em? Giận anh à, tối nay không ăn thì mai anh ráng ăn cho hết …

Nhàn nhìn Túy, cô nói nhỏ:

-Tại sao anh có vợ rồi mà dấu em?

Túy ngập ngừng im lặng hồi lâu, quay lưng đi lẩn tránh ánh mắt soi mói của Nhàn, anh nhìn ra ngoài cửa sổ, trời đang mưa to:

-Anh xin lỗi em, vì anh thương em quá nên không muốn em buồn. Nếu em đã biết thì anh cũng đỡ khó xử.

Nhàn ngắt lời Túy và nói lớn hơn:

-Anh biết là em không thể xa anh được, anh nói đi, anh ở với em hay về với vợ anh ?

-Anh …anh ... dĩ nhiên là anh chọn em, nhưng hôm nay vợ anh sắp sanh, để anh về rồi anh sẽ nói chuyện với em sau …

Nhàn bật khóc lớn, cô nói nếu anh về thì sẽ không bao giờ trở lại với cô nữa. Túy không biết nói sao, trong lòng anh nóng như lửa đốt. Túy để mặc Nhàn vật vã, anh đi ra xe như chạy trốn.

Lái xe ra khỏi nhà Nhàn, lòng Túy vẫn thấp thỏm không yên, linh tính cho anh biết sẽ có chuyện không hay xảy ra. Trời mưa như trút từng cơn nước đập vào kính xe, cây gạt nước quay qua, quay lại vẫn không gạt rõ tầm nhìn cho người lái. Ra đến xa lộ 405, xe bị kẹt xếp từng hàng dài thăm thẳm không biết tới bao giờ mới thông. Sau hơn một tiếng đồng hồ nhích từng chút một, chắc không thể về nhà được, Túy sốt ruột cầm điện thoại lên gọi về nhà, anh dặn Tâm:

-Em nhớ soạn sẵn một ít quần áo, anh về là đi ngay. Anh đang bị kẹt xe, nếu anh không về kịp, em kêu bạn anh, bác sĩ Đăng tới chở em lại nhà thương Memorial, anh sẽ lại đó sau nhé.

Ngồi trong xe, chân nhấp chân ga, Túy lại nhớ đến Nhàn, không biết giờ này cô ngủ chưa? Nhìn đồng hồ, thấy kim chỉ đã mười hai giờ đêm, Túy lại cảm thấy ruột mình thắt lại vô cớ, chắc hồi tối ăn vội nên bụng đói. Túy ráng lách xe ra lane phải để tìm lối ra, kiểu kẹt xe này thì phải kiếm đường trong đi cho mau. Vừa nhìn chừng xe bên cạnh, Túy gọi điện thoại cho Nhàn, điện thoại reng một hồi lâu, không thấy Nhàn bốc lên, có thể cô đã ngủ rồi.

Ra khỏi freeway, Túy thở phào, nhấn chân ga. Trong làn mưa dầy đặc, hình như có một bóng trắng lao vụt ra ngay đầu xe anh, đường trơn, xe đang lao với tốc độ nhanh, Túy hốt hoảng thắng xe nhưng không kịp. Chiếc xe quay chao đi xém tông vô bờ lề bên kia đường. Túy vội vã đậu xe vô lề, tắt máy xe, nhìn ra ngoài. Đường chung quanh không một bóng xe, khúc rẽ này vắng vẻ, nhìn xuống đường, Túy giật thót mình khi thấy một xác người trắng toát nằm đó không xa. Túy lấy hết can đảm, mở cửa xe, mặc cho trời dang mưa, chạy ra nhìn cho kỹ. Đưa tay vuốt nước mưa trên mặt, anh vừa đi lại gần cái xác vừa hy vọng người đó còn sống. Đó là một cô gái, mái tóc dài che phủ hết mặt cô, cô mặc áo ngủ mỏng manh màu trắng, chân không mang giầy. Túy vén mái tóc cô gái, anh tính đưa tay ra rờ mũi xem chừng. Một hình ảnh khủng khiếp đập vào mắt anh, người con gái đó không ai xa lạ, chính là ...Nhàn! Trong kinh nghiệm bác sĩ của Túy, đây có lẽ là một cái xác ghê rợn nhất mà anh từng gặp, mắt Nhàn trợn trừng, đôi măt đẹp sâu thẳm từng nhìn Túy âu yếm tình tứ, nay không còn sức sống, trắng dã, máu từ trong miệng Nhàn ứa ra nhỏ xuống chiếc áo trắng sũng nước mưa, đôi môi đỏ mọng xinh tươi của cô nay đã trở thành màu tím thẫm, mặt cô trắng như tờ giấy. Hiển nhiên cô đã chết, và người lái xe đụng cô là Túy. Nghĩ tới đây, Túy buông vội cái xác xuống, chạy mau lại chiếc xe Volvo của mình, anh phải chạy cho xa, càng nhanh càng tốt.

Một tay Túy run rẩy vặn chìa khóa nổ máy xe, tay kia xập cửa lại. Túy chạy xe trên đường vắng, chạy không định hướng, đầu óc còn lởn vởn hình ảnh ghê rợn của Nhàn. Túy lẩm bẩm:

-Anh đã giết em ...anh không muốn như vậy đâu ...Tha lỗi cho anh nghe Nhàn.

Không hiểu vì thấm nước mưa hay sao, tự nhiên Túy thấy lạnh buốt, trong xe như có một luồng gió lạnh ở đâu thổi tới. Túy giật thót người, anh ráng gồng hết bao nhiêu bắp thịt ở cổ lên để từ từ quay sang bên cạnh. Trên chiếc ghế đối diện ...Nhàn ngồi lù lù ở đó, nhe hàm răng đỏ ối những máu ra cười với anh! Cũng nụ cười ấy, hàm răng ấy, lúc trước dễ thương và mời gọi bao nhiêu thì bây giờ mang lại cho Túy một niềm ghê sợ, anh kinh hãi á khẩu, không nói được lời nào. Nhàn âu yếm đưa tay ra sờ mặt Túy, cử chỉ cô thường làm với anh, tay cô lạnh như đá. Túy ngồi như bị đóng đinh, anh tưởng chừng mình đang ở một thế giới nào khác, trong thế giới đó không có sự sống. Chiếc xe lao vun vút không người điều khiển, đâm xiên xiên vô trườn dốc trên con đường Cherry, trước khi bắt vô con đường ngoằn ngoèo lên dốc cao. Xe Túy đụng vô một thân cây ở trong khu rừng thưa, đầu anh đập mạnh vô tay lái, anh đã bất tỉnh liền ngay sau đó ...


Tỉnh dậy, Túy ôm đầu ngơ ngác nhìn chung quanh, cố nhớ lại chuyện gì đã xảy ra. Túy nói thầm:

-Mong là mình chỉ nằm mơ thôi, tất cả chỉ là ác mộng ...Nhàn chưa chết ...

Nhìn vô đồng hồ tay, thấy đã gần ba giờ sáng, Túy giật mình, nhìn ra ngoài xe, mưa đã tạnh, bóng đêm im lặng trong khu rừng vắng. Túy hơi nhăn mặt khi thấy đầu và tay nhói đau. Túy thử nổ máy xe, may quá, chiếc Volvo cứng cáp lúc này là một vị cứu tinh cho anh, máy vẫn nổ đều, anh thử de xe lại để lấy trớn, chiếc xe hơi bị khựng lại như bị chắn bởi vật gì, chắc la` một cành cây to, mặc kệ, Túy phải đi khỏi chỗ này, anh rú ga cho xe chồm lên ra sau. Hình như có một tiếng vọng xa xôi, tiếng thét thê thảm đâu đó, Túy giật mình, nhìn lên kính chiếu hậu, một con quạ đen vụt đập cánh bay lên tàng cây mờ mờ. Nhìn sang ghế xe bên cạnh, Túy thấy trống trơn, bỗng tay anh lại run lên, trên nệm ghế da, một vũng nước mưa còn đọng ở đó. Cả đêm thần kinh căng thẳng, Túy thật là mệt mỏi, anh lái xe chầm chậm lên con dốc. Anh lục túi tìm điện thoại để kêu về nhà. Chuông reo một hồi lâu thì có tiếng mẹ anh:

-À lố, Túy đó hả con? Trời ơi, cả đêm con làm mẹ sốt ruột, con Tâm đã vô nhà thương rồi sanh rồi. Con đi đâu vậy?

Túy nói nhanh cho qua:

-Con bị đụng xe nhưng không sao, bây giờ con về liền.

-Sao thế con? Mẹ lo quá có ngủ được đâu, mưa gió thế này, thôi, con về rồi chở mẹ đi ra nhà thương luôn, hèn chi mẹ cứ nóng ruột mãi, ở nhà một mình chắc mẹ phát điên.


Túy cũng mong là bây giờ có mẹ ở bên cạnh, anh cảm thấy cô đơn và sợ hãi. Khi Túy tới nhà thương, Tâm đã được chuyển qua phòng dưỡng bịnh, nàng có vẻ mệt mỏi. Em bé sanh non hơn một tháng, đó là một bé gái. Bác sĩ Đăng, bạn của Túy, bắt tay chúc mừng anh đã được làm cha. Bác sĩ Đăng vui vẻ:

-Bà nhà sanh hơi khó vì thiếu tháng, nhờ có tôi chích thuốc giảm đau nên chỉ đau bụng có hơn ba tiếng đồng hồ, nhưng baby sẽ phải nằm trong lồng kiếng một thời gian. Thôi, ông mau vô thăm dzợ con đi, bả đang giận ông đó!

Tâm hờn mát nhìn chồng:

-Mẹ nói cho em nghe rồi, anh mất hồn mất vía rồi sao, đụng xe không kêu cho em khỏi mong?

Túy cười gượng:

-Đâu có gì, em có đau nhiều không?

-Nếu có anh ở bên cạnh thì em sẽ đỡ đau nhiều hơn, anh đã bế con chưa, con mình giống ai vậy anh?

Đứng bên ngoài, Túy nhìn vô lồng kiếng, gương mặt em bé đỏ chót, môi như bôi son, mày đậm, mi dài. Túy mỉm cười với con, bỗng anh trố mắt nhìn trừng trừng, trên cái miệng nhỏ nhắn đang há ra, một chấm nốt ruồi đen ở môi trên thật đậm!!!

Bà mẹ Túy đứng sau lưng anh, khen con bé dễ thương, giống bố. Bà cụ hớn hở:

-Túy này, mẹ đã bàn với vợ con rồi, nếu là con gái, mình đặt tên nó là Nancy, con nghĩ sao?


---

Sau này, Túy mới biết thì ra Nhàn đã tự tử chết ngay sau khi anh rời khỏi nhà cô đêm hôm đó. Cô dùng dao lam cắt đứt mạch máu ở cổ tay, chết với tư thế nằm trên giường, trên người mặc bộ đồ ngủ màu trắng. Bóng trắng mà Túy đụng phải ở khúc quanh chỉ là hồn ma của cô . Tuy không phải giết Nhàn, nhưng Túy vẫn luôn nghĩ là anh đã gián tiếp gây nên. Anh đã cứu Nhàn sống lại và cũng đẩy cô vào một cuộc tình không lối thoát . Có một điều mà cả vợ lẫn mẹ Túy đều không biết, thật ra em bé Nancy không giống anh, nó giống Nhàn! Anh sợ phải đối diện với con, đêm đêm thường ra quán rượu uống giải sầu.[/align]

 

Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
           Kiếp nào iu nhau
 
 
 
Mùa hè 1972, Quang cùng đơn vị lên Pleiku yểm trợ chiến trường Tây Nguyên theo kế hoạch hành quân của quân đoàn. Ban chỉ huy đóng ngay bên cạnh bộ tư lệnh, ngoài giờ làm việc cũng như những lúc không bận công tác khẩn cấp, Quang gần như có mặt thường xuyên ngoài phố, từ các nhà hàng phòng trà đến quán café, bia rượu. Chuyên viên ngành tiếp vận nhưng Quang thường kết thân với tất cả anh em đủ binh chủng đến tăng phái cũng như về dưỡng quân sau thời gian dài hành quân từ vùng tam biên.
Quang yêu Pleiku hơn Đà lạt. Thủ đô lính với những đường dốc bùn lầy đất đỏ, phố xá thô sơ nghèo nàn nhưng thật ấm cúng, thiết tha, sâu đậm và thiêng liêng như tình yêu quê mẹ đối với bất cứ những ai đã một lần ghé qua. Thành phố nhỏ, quanh quẩn chỉ vài con đường ngắn, đi dăm phút đã về chốn cũ, nhưng quyến rũ với những quán ăn, quán bia phòng trà mang hình ảnh lính ồn ào náo nhiệt nhưng thật hiền hòa như tình người địa phương. Cuộc sống bình thản không vội vã, không hoảng sợ, mặc dù các trận đụng độ ác liệt đang sát bên cạnh và pháo địch thường xuyên rót vào khu vực phi trường nằm kế cận trung tâm thành phố. Ở đây người dân xem hình ảnh chiến tranh như một cái gì gần gũi quen thuộc trong đời sống hằng ngày. Họ mở rộng vòng tay chào đón các đoàn quân vội vã đi ngang, đôi lúc dừng lại vài giây lát ăn vội bữa cơm, uống ly café nóng hay chỉ kịpmua gói thuốc rồi tiếp tục lên đường.
Trời về chiều sương mù phủ xuống thành phố một màu trắng nhạt trông trời đất như đang quyện vào nhau, phố xá thưa dần bước chân, sinh hoạt còn lại là những quán ăn náo nhiệt, phòng trà ấm cúng và những quán café trữ tình là nơi tiếp tục mở cửa để sưởi ấm những chiến binh trở về từ mặt trận, tìm quên mệt mỏi, trút bỏ đau thương và xóa tan những hình ảnh chết chóc. Pleiku đất đỏ sương mù không có gì quyến rũ nhưng bất cứ người nào đã rời khỏi nơi đây đều mang theo trong lòng những kỷ niệm sâu đậm, phải chăng là nhờ phố xá không xa nên phố tình thâm hay những nàng thiếu nữ da trắng, má đỏ môi hồng, tóc em uớt và mắt em ướt nên em mềm như mây chiều đông đã trói chặt bước chân người lãng tử. Pleiku, thành phố lính, thành phố của những chàng trai khoác áo chiến binh một khi rời khỏi đây đều vương vấn một mối tình.
Quang cũng không thoát khỏi thường tình của một chàng trai hai mươi lăm tuổi.
Từ khi gặp được hai người bạn, Quang không còn lang thang những ngày cuối tuần, chàng tìm đến với Yên và Phúc, cả hai đang dạy ban văn chương tại trường trung học. Phúc, một thi sĩ nổi tiếng, thường tổ chức những buổi đọc thơ cuối tuần và trong dịp nầy, ánh mắt của một nữ sinh ban văn chương đã hớp hồn chàng ngay trong buổi đầu gặp gỡ. Yên và Phúc cho biết, nàng tên Dung, con của một công chức cao cấp của tỉnh. Dung ngây thơ, trong sáng với mái tóc dài phủ xuống lưng, làn da trắng như tuyết, mắt nâu màu hạt dẻ mở lớn, ngơ ngác như nai, đôi gò má núm đồng tiền lúc nào cũng đỏ ửng và làn môi hồng cười lộ đôi hàm răng trắng… Nàng lãng mạng yêu thơ, thích nhạc, cởi mở, nhưng nàng trong sáng quá. Đã là bạn với Yên và Phúc xem như đứng vào hàng thầy cô hoặc chú bác. Đời binh nghiệp, khoác chiếc áo trận nay đây mai đó, trên lưng vỏn vẹn chiến balô, cuộc sống bấp bênh chưa biết thương tật sống chết bất chợt đến giờ nào, nhiều lần tự vấn lương tâm nhưng Quang không thể tiến tới dù biết Dung có thể ngã vào vòng tay Quang một khi chàng tỏ tình. Chàng đành ôm mối tình câm và hy vọng một ngày nào đó
Ngày được lệnh di tản, thu xếp xong công việc Quang vội vã đến đón Dung đi theo đoàn xe đơn vị rời Pleiku chạy xuống Quy Nhơn, nhưng đã trễ, gia đình đã tự túc khởi hành từ lúc sáng sớm. Từ đó Quang mất hẳn liên lạc với Dung, cho đến mùa thu năm 1978 Quang gặp lại nàng trong trại tỵ nạn ở Mã lai. Đến lúc nầy Quang mới biết mặt cha mẹ Dung và người em gái, cả nhà đối xử thật tốt với Quang nhưng đối với nàng hình như đang bị một cái gì ngăn trở. Trao đổi bình thường Dung rất nhiệt tình nhưng khi đề cập đến vấn đề tình cảm thì nàng lẩn tránh và không bao giờ cho biết rõ lý do. Chừng sáu tháng sau, Quang được tòa lãnh sự Mỹ cấp giấy nhập cảnh, lúc đến chào từ giã lần đầu tiên Dung ngã vào người Quang nức nở khóc. Quang vỗ về an ủi và hứa qua đến Mỹ sẽ tìm đủ mọi cách để sống gần nhau. Nhưng Dung chỉ lắc đầu từ chối và không một lời giải thích gì thêm.
Dung không trả lời Quang mặc dù Dung đã nhận được gần hai chục lá thư kể từ lúc Quang đặt chân lên đất Mỹ và sau đó cắt hẳn liên lạc với Quang khi gia đình nàng lên đường định cư tại một nước thứ ba.
Sau ba năm vừa làm vừa học, Quang ra trường với mảnh bằng kỹ sư vi tính và ổn định ngay với một chức vụ quan trọng trong công ty phần mềm của người Mỹ. Sau đó một năm Quang kết hôn với Chi, con gái út của một gia đình nổi tiếng giàu có từ trước, đến định cư giữa năm 1975. Chi tốt nghiệp ngành địa ốc và được gia đình giúp vốn để mở một văn phòng lớn tại quận Cam.
Một cặp vợ chồng thật lý tưởng và xứng đôi, Quang đẹp trai, cao lương và được xã hội ưu đãi. Chi điều hành một hoạt động hái ra tiền một cách dễ dàng. Họ có đời sống vật chất thật cao, hai ngôi nhà đáng giá cả triệu, vợ chồng mỗi người một chiếc xe đua, chi tiêu không bao giờ tính toán đến tiền bạc. Hai người kết hôn đã lâu nhưng vẫn chưa có con. Có lần Quang đưa Chi đến một bệnh viện chuyên nghiệp sản khoa, ở đây bác sĩ cho biết họ cần một thời gian theo dõi để biết nguyên nhân từ người vợ hay do người chồng. Nghe qua, hai người đều cho rằng con cái chưa quan trọng trong lúc nầy đối với một cặp vợ chồng trẻ, hơn nữa họ đang cần thời giờ dành cho việc kiếm tiền quá dễ dàng và nhanh chóng. Nhìn bên ngoài đôi vợ chồng sống thật đầm ấm hạnh phúc, nhưng đi sâu vào đời sống riêng tư, cũng như gia đình khác, vẫn có những khúc mắc thầm kín. Chi, con người của thực tế, suốt ngày chỉ có con số, tính toán lúc nào cũng nằm sẵn trong đầu. Quang thì thờ ơ với tiền bạc, thường lái câu chuyện qua thơ văn mỗi khi chuyện trò với vợ. Do đó đối thoại giữa hai người thường đi vào bế tắc. Vì tôn trọng đời sống riêng tư của nhau, sau bữa cơm tối, vợ theo dõi báo chí, thị trường địa ốc, tin tức vật giá trong ngày. Quang một mình đọc sách nghe nhạc, đến chừng mệt mỏi hai người vào phòng thì giấc ngủ giờ đó quyến rũ hơn những vấn đề khác. Hai người đều quên rằng việc ái ân giữa vợ chồng cũng đòi hỏi có sự hòa hợp, hai người phải tạo cơ hội và khuyến khích lẫn nhau để đi đến tận cùng của yêu đương. Không thể một người sẵn sàng trong lúc người kia chưa chuẩn bị.. Những trục trặc nho nhỏ đưa dần đến sự lạnh nhạt hay nhàm chán cuối cùng đi đến quên lãng bổn phận vợ chồng.
Bận công việc, bận xem sách đọc báo, vào giường ngủ không cùng lúc cùng giờ là những lý do đã tách rời đời sống vợ chồng Quang. Từ chỗ không hòa hợp trong nhiều khía cạnh, việc gối chăn từ đó vắng dần nhưng hai người vẫn một mực yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Giữa hai vợ chồng chưa bao giờ lớn tiếng về bất cứ một bất đồng nhỏ nào nhưng những khác biệt trong cuộc sống thường nhật cứ lớn dần trong im lặng.
Cho đến một ngày Quang tâm sự với Chi:
- Em à, cuộc sống chúng mình đầy đủ, tình yêu hai đứa trọn vẹn nhưng anh vẫn thấy có một cái gì càng ngày càng ngăn cách chúng ta.
Chi đáp không suy nghĩ:
- Có lẽ đúng vậy, bên ngoài ai cũng ganh với vợ chồng mình đủ mọi phương diện, nhưng giữa chúng ta có thật sự hạnh phúc hay không? Tình yêu thuần túy chưa hẳn là điều kiện chính để tạo hạnh phúc mà phải có sự hòa hợp trong cuộc sống chung đụng giữa vợ chồng.
- Anh đồng ý với em nên muốn cùng em hôm nay phân tách để chúng ta cùng tìm một lối thoát.
Chi hơi ngạc nhiên:
- Lối thoát gì?
- Anh nói lối thoát có nhiều khía cạnh: Tổ chức lại cuộc sống, cho ra đời một đứa con, bỏ bớt những đam mê suy tư hay công việc cá nhân để dành nhiều thời giờ cho nhau. Nếu những phương cách trên không thể cứu vãn thì trả lại tự do ban đầu cho nhau.
Vài phút suy tư, Chi đặt hỏi lại:
- Nghĩa là nếu các giải pháp trên không đưa đến tiến bộ nào trong đời sống riêng tư chúng ta thì ly dị?
Quang gật đầu:
- Có thể như vậy, để trả lại sự tự do cho nhau còn hơn ràng buộc để gây đau khổ.
- Đồng ý với anh. Bây giờ theo ý anh, tổ chức lại cuộc sống như thế nào? Suốt tuần hai đứa đi làm, về đến nhà chỉ còn lại chút thời giờ lo ăn uống rồi chuẩn bị đi ngủ. Cuối tuần đi chợ mua sắm để chuẩn bị cho tuần tới. Nếp sống Mỹ đã vạch cho chúng ta chương trình làm việc, sinh hoạt, ăn ngủ như chiếc máy không thể thay đổi gì được ngoại trừ trường hợp thất nghiệp hay đã nghỉ hưu.
- Em có nghĩ chúng ta nên có con?
- Em cũng muốn con, nhưng có lẽ chưa phải lúc nầy. Vả lại chưa biết trường hợp của chúng ta thế nào, phải mất một thời gian khám nghiện chữa trị mới biết. Còn phương cách thứ ba?
- Đời sống tinh thần rất quan trọng, không thể gạt qua một bên hoặc từ bỏ hẵn trong cuộc sống phàm tục. Mỗi người cần phải có một chí hướng, một đam mê, dù tốt hay xấu, mới thấy cuộc đời mình có ý nghĩa, từ đó họ sẽ ham sống và hăng say trong công việc. Trong cuộc sống lứa đôi, cũng khó buộc người bạn đời của mình phải dứt bỏ đam mê của họ nhất là những đam mê hữu ích và vô hại.
Chi lơ lửng đặt câu hỏi:
- Nếu vậy, ly dị là giải pháp tốt nhất?
- Có thể như vậy, có nhiều lý do và hình thức ly dị đặc biệt cho mình.
- Lý do?
- Vì hai đứa mình vẫn thương yêu và kính trọng nhau, ly dị để trả lại, có thể tạm thời, tự do cho nhau.
- Sao gọi là tạm thời?
- Anh nghĩ rằng có thể một ngày nào đó, khi chim mỏi cánh hoặc hai đứa đều nhận thấy sự cần thiết của nhau trong đời thì " châu về hiệp phố ".
- Cũng có nghĩa là tình yêu cũng như thể xác con người, cần nghỉ hè để lấy lại thăng bằng hay tân trang vô dầu mở kiểm tra kỹ thuật như cái máy?
Quang cười lớn:
- Gián đoạn công vụ thì đúng hơn.
- Anh nghĩ thế nào cũng được, nhưng tại sao quan niệm như vậy?
- Tình yêu cũng như một món đồ, có thể nhàm chán và bị bỏ quên nhưng một ngày nào đó bắt gặp lại, nó sẽ trở nên mới và quý giá. Con người cũng thế, đã là của riêng và thường xuyên ở sát bên cạnh, đôi khi mình không hoặc chưa biết giá trị thật của người bạn đồng hành. Hai người cần phải cách xa một thời gian và phải va chạm những gì mình hằng mơ tưởng, lúc đó mới thấy được cái đáng yêu và giá trị của những gì mình đã có trong tay mà từ lâu chưa biết hay không biết đến.
- Như vậy ý anh muốn tình yêu chúng mình cần phải trải qua một thời gian gián đoạn xem như thời kỳ thử thách mới có thể nhìn thấy giá trị tiềm ẩn bên trong. Em đồng ý, nhưng nếu một trong hai nguời tìm được một nguồn hạnh phúc mới?
Quang cười:
- Thì cầu chúc hạnh phúc cho nhau.
- Còn người kia?
- Không thể trở về bến cũ thì kiếm con đò khác. Đàng nào hai người cũng tạo được hạnh phúc mới, như vậy vấn đề ly dị chính là một giải pháp đẹp cho nhau trước một tình yêu vợ chồng gò bó không lối thoát.
Chi im lặng một lúc rồi trở lại đề nghị của Quang:
- Anh nói hình thức ly dị đặc biệt là thế nào?
- Chắc em công nhận với anh, suốt trong thời gian chung sống giữa chúng ta, tuy có những cách biệt nhưng chưa bao giờ gây gổ về chuyện gia đạo, tiền bạc, cũng như cho đến giờ nầy chưa có một hình bóng người nào trong đời sống tình cảm của anh cũng như của em. Như vậy chúng ta ly dị trong sự hiểu biết và tình yêu thương.
- Nghĩa là?
- Ra tòa ly dị không tranh chấp, không phân chia tài sản và cũng không quy trách nhiệm cho ai. Anh chỉ lấy lại ngôi nhà của anh cho mướn và về đó ở.
- Viện cớ gì để xin ly dị?
- Trục trặc chăn gối. Đây là lý do hữu hiệu và nhanh chóng nhất.

Bạn bè đều nhận được lời mời dùng cơm thân mật tại nhà vợ chồng Quang. Không người nào thắc mắc gì vì trong đám bạn bè của Quang cũng như Chi đều có thói quen luân phiên dùng cơm tại nhà nầy hay nhà khác. Nhưng hôm nay, khi tất cả đến đây họ nhận được ba chuyện lạ, số khách mời đông hơn thường lệ trong đó có những người không quen thân lắm, các món ăn đều được nhà hàng mang đến phục dịch và vợ chồng Quang ăn mặc thật chỉnh tề như ngày đại lễ.
Mở đầu câu chuyện Vinh vào đề trước:
- Có gì lạ mà hôm nay ông bà trịnh trọng vậy?
Chi cười bí mật:
- Chút nữa sẽ biết, bây giờ cứ tự nhiên, hôm nay là ngày đại lễ.
Tất cả vào bàn vui vẽ với nhiều món ăn đúng như lời Chi vừa nói. Cuối bữa tiệc, Quang đưa ra một thùng rượu champagne đã ướp lạnh, Chi bưng chiếc bánh ba từng theo sau, Quang kéo Chi vào lòng:
- Hôm các bạn phải uống hết thùng rượu nầy mới được ra khỏi nhà. Ngày vui của hai vợ chồng tôi.
Tất cả vỗ tay chúc mừng. Có nhiều người lên tiếng hỏi:
- Có chuyện gì vui tuyên bố ngay đi !
Chi rót rượu cười tươi:
- Phải qua xong một vòng rượu trước chúng tôi sẽ nói lý do sau.
Xong đợt rượu đầu tiên, Chi đứng dậy, Quang ép sát vào người và vòng tay qua lưng Chi, rồi trịnh trọng:
- Hôm nay là ngày chúng tôi chính thức ly dị với nhau !
Tất cả đều chưng hửng trước câu tuyên bố của vợ chồng Quang. Mọi người để ly rượu xuống, căn phòng rộng lớn với trên hai chục người khách hoàn toàn trở nên im lặng. Bỗng có tiếng trong nhóm khách:
- Đừng đùa, coi chừng xảy ra chuyện thật thì mệt lắm !
Chi tươi cười lặp lại:
- Đã suy nghĩ và bàn tính với nhau từ lâu, hôm nay chúng tôi quyết định mời các bạn đến đây dự lễ ly dị !
Vừa dứt lời Chi cởi chiếc nhẩn cưới trên ngón áp út và trao lại cho Quang, đồng thời lấy trong bóp xách tay tờ phán quyết cho phép ly dị của toàn án. Hai người quay lại ôm nhau hôn môi một cách nồng nàn thắm thiết như nụ hôn lần đầu họ đã trao cho nhau ngày cưới.
Bây giờ thì khách mời ngẩn ngơ và không cách nào hiểu được hai người đang diễn một hoạt cảnh gì. Các bà ngạc nhiên tột độ, miệng há hốc, mắt nhìn không chớp vào hai vợ chồng Quang, trong lúc các ông vỗ tay cổ võ.
Khi hai người buông nhau, Quang cười với khách:
- Đây là nụ hôn chia tay của tình vợ chồng tôi, có thể là vĩnh viễn và cũng có thể là…giai đoạn.
Kha đánh tan bầu không khí đang căng thẳng:
- Tại sao làm vậy? Chúng ta tất cả đều bạn thân, chúng tôi không hiểu, hai người có thể cho một vài giải thích.
Vợ chồng Quang đồng cười:
- Dĩ nhiên, chúng tôi không dấu gì, nhưng để chúng tôi trình bày xong các bạn cứ đóng góp ý kiến. Tôi nhắc lại là đóng góp ý kiến cho vui thôi chứ chúng tôi đã quyết định và chuyện đã rồi không thể quay lại.
Chưa ai có ý kiến gì, Chi trình bày trước:
- Chúng tôi ly dị vì yêu thương nhau thì đúng hơn. Ra tòa không tranh chấp, không phân chia tài sản, vẫn quý mến nhau và có thể một ngày nào đó sẽ quay trở lại sum hợp với nhau.
Từ ngạc nhiên nầy đến thắc mắc khác đã thúc đẩy khách mời tranh nhau nhiều câu hỏi. Quang và Chi không che dấu một điều gì, hai người trình bày những gì đã thảo luận và tính toán với nhau từ trước. Những lời giải thích tuy chưa chấm dứt nhưng đã chia người nghe thành hai nhóm, các ông đa số ủng hộ ngược lại các bà phần đông ra mặt chống đối. Nhưng dù ủng hộ hay chống đối, trong tình cảnh nầy tất cả đều cảm thấy mùi vị champagne quen thuộc bỗng trở nên đắng nghét ở trong cổ họng, họ được mời đến để chứng kiến một đổ vỡ, không biết nên vui hay buồn cho hai người bạn trước một quyết định quá mới và táo bạo.

- o O o -
Kể từ ngày ly dị, Quang trở thành người đàn ông độc thân vui tính, quay về ngôi nhà cũ của chàng, cơm nước ngày hai bữa tại các tiệm ăn, tối về đọc sách nghe nhạc đến khuya, nhiều lúc ngủ ngay tại phòng khách hay trong phòng làm việc. Sáng dậy trễ, vừa đủ thời gian làm vệ sinh cá nhân tối thiểu rồi vội vàng lái xe vào sở. Cuối tuần Quang không từ chối bất cứ một cuộc họp mặt nào của bạn bè. Quang muốn tận hưởng lại những giây phút tự do của một người đàn ông độc thân giàu có và đẹp trai. Đã gần năm mươi tuổi nhưng trông Quang vẫn còn thật trẻ, mái tóc màu đen nguyên thủy, thân mình cao lớn khỏe mạnh, việc làm tốt, nhà cao, xe đẹp. Chàng đúng là mẫu người lý tưởng của hai thế hệ đàn bà, nhưng Quang chưa nghĩ đến vấn đề đi thêm một bước.
Chi và Quang vẫn thường gặp nhau, trong quán ăn, các buổi dạ hội, các lần họp mặt tại nhà bạn bè. Họ đối xử với nhau thân tình như hai người bạn, ngồi chung một bàn, nhảy với nhau vài bản nhạc, từ giã ôm nhau hôn như những người bạn thân… Chính lối đối xử với nhau sau nầy chứng tỏ cho bạn bè những gì Quang và Chi đã nói ra trong ngày lễ ly dị.
Đã nhiều lần, bạn bè lợi dụng những bữa cơm thân mật hay những dịp họp mặt để giới thiệu Quang một vài người bạn gái, nhưng Quang đã dứt khoát báo trước rằng chưa phải lúc. Nhưng lần nầy Quang nhận đến dùng cơm tối với một số bạn tại nhà vợ chồng Vinh để gặp Lan, một người đàn bà chưa chồng, đã quá tuổi thanh xuân, rất đẹp, thùy mỵ và trí thức theo lời giới thiệu của bà Vinh. Quang uống rượu vào hạng tồi nhất trong đám bạn, nhưng mỗi khi đã uống thì uống tới lúc say gục ngay tại chỗ. Nhưng chỉ cần một giấc ngủ vài giờ đồng hồ Quang sẽ trở lại tỉnh táo như không có chuyện gì xảy ra.
Bữa cơm tối ngoài gia chủ, Quang và Lan còn bốn cặp khác, không ai lạ ngoài những người bạn quen thuộc từ lâu. Hình như đã có sự sắp xếp ngầm từ truớc, khi Quang đến Lan đã có mặt, tất cả đều ép Quang ngồi cạnh Lan. Đúng như lời bà Vinh, Lan khoảng chừng ngoài ba mươi. Con gái đẹp, thông minh ở tuổi nầy thường bị xếp vào loại cao số. Qua xã giao, Quang phải đánh giá nàng thuộc hạng người có học và con nhà nề nếp, nhưng có lẽ vì một lý do thầm kín nào đó nàng còn độc thân đến giờ nầy. Dù tự cho mình cao giá, nhưng không một người con gái nào dại dột bỏ mất cơ hội để kéo dài tuổi đời của mình thành gái lỡ thì, có lẽ vì lý do nầy Lan nhận lời mau mắn khi bà Vinh đề nghị đến gặp Quang. Quang không muốn đường đột đi vào đời tư của Lan chàng chỉ quanh co chuyện mưa nắng từ đầu cho đến giữa bữa ăn thì nghe Lan than nhức đầu chóng mặt rồi ói mửa ngay tại chỗ. Vợ chồng Kha cho biết nàng bị trúng gió, các bà đưa Lan vào tạm phòng trong đánh gió xức dầu và đề nghị Quang đưa về nhưng chàng ngại và từ chối để nhờ vợ chồng Kha đưa về tiện hơn.
Bữa cơm vừa xong thì Quang đã say mèm, nằm gục xuống bàn. Tất cả không lạ gì chuyện say rượu của Quang, họ vực vào phòng ngủ để chàng ngủ thoải mái đến sáng hôm sau.
- Dậy đi anh, uống làm gì quá mức để say không biết trời trăng gì cả.
Nghe giọng nói, Quang vừa tỉnh, biết có ai đang đắp nước đá trên đầu, chàng mở mắt ra, một người con gái đang ngồi bên cạnh mỉm cười:
- Nhận ra em không?
Quang ú ớ:
- Cô là ai?
- Thùy Dung đây, anh nhớ lại xem.
Quang tỉnh hẳn, chàng ngồi dậy nhìn kỹ người con gái bên cạnh, đưa tay cầm lấy tay nàng:
- Thùy Dung, anh nhớ ra rồi. Hồi hôm sao đến trễ vậy.
- Đến thì anh đã say, em vào đây chờ anh tỉnh để đưa về. Đây là nhà anh chị Vinh.
Quang mang giày và cùng Dung mở cửa ra, gặp ngay Vinh đang ở phòng khách:
- Thôi chào, cô Dung đến đưa tôi về nhà. Cám ơn bữa cơm và gởi lời cám ơn chị giùm tôi.
Hai người ra xe, Dung dành tay lái và bảo Quang dựa đầu ra sau nghỉ.
- Em biết đường không? Quang hỏi.
Dung cười:
- Còn rành hơn anh nữa.
- Em từ tiểu ban nào đến mà bảo rành hơn anh?
- Ngay bên cạnh nhưng anh không biết.
- Tại sao không gặp anh?
- Vợ anh kềm bên cạnh ai dám đến !
Dung tự lái xe thật vững và rành đường như người địa phương. Không cần hướng dẫn Dung vẫn về đến nhà bằng đường tắt. Đến nơi Dung cho thẳng xe vào nhà chứa và đi ngay vào phòng khách, tắt hệ thống báo động thông thạo như chính chủ nhà.
Treo chìa khoa lên vách tường, Dung bảo Quang:
- Anh tắm cho khỏe, người hôi mùi rượu em không chịu được.
Quang nghe lời như chiếc máy, tắm xong quay về phòng đã thấy Dung đang ngồi ở phòng khách trên người đang mặc bộ đồ của Quang. Nàng đưa tay gọi:
- Đến đây anh. Đi quá vội chưa mang theo đồ dùng, anh cho mượn tạm bộ đồ ngủ.
Quang không trả lời, ngồi xuống bên cạnh choàng tay qua ôm lấy Dung. Nàng gục đầu vào vai Quang thì thầm:
- Em chờ đợi giây phút nầy đã mấy chục năm.
Quang không còn nghe gì ngoài hơi thở dồn dập của hai người, chàng bồng Dung vào phòng
Đã lâu thiếu đàn bà và trong lúc không tự chủ được lòng, Quang đã chiếm đoạt trinh tuyết của một người con gái, mặc dù nàng đã đến và tự nguyện hiến dâng. Nhìn Dung đang ngủ yên, gương mặt trong sáng, đậm nét thơ ngây tuổi học trò, chàng cảm thấy ân hận việc xâm phạm quá vội vã. Quang cúi xuống hôn vào đôi môi đang hé mở:
- Không ngờ em còn con gái, anh xin lỗi và sẽ cưới em làm vợ.
Dung trở mình nhướng mắt nhìn Quang mĩm cười:
- Cám ơn anh, nhưng em không muốn ràng buộc.
- Anh đã ly dị với vợ anh.
- Em biết, nhưng em ao ước được sống với anh một thời gian thì em đã mãn nguyện.
Quang ngạc nhiên:
- Bây giờ đâu còn gì cản trở chúng ta. Tại sao?
- Nhưng em không thể, một ngày nào đó anh sẽ hiểu.
Hai người sống thật hạnh phúc như đôi vợ chồng trẻ mới cưới. Quang đi làm, trưa trở về dùng cơm với Dung, tối hai người đi tiệm. Cuối tuần Quang lấy máy bay lần lượt đưa Dung đi vòng quanh nước Mỹ. Trong dịp lễ tạ ơn, chàng đã lấy những ngày nghỉ trong năm để đưa Dung trở lại Sàigòn rồi cùng nhau lên Pleiku thăm thành phố thân yêu ngày trước. Suốt ngày dạo phố, nghe nhạc phòng trà, ngồi quán café. Ngày cuối họ trở lại thăm căn nhà xưa và ngôi trường cũ. Trước khi lên phi cơ vào Sàigòn, Dung yêu cầu Quang đưa nàng đến thăm lần chót chiếc hồ lớn mà nàng gọi là Hồ than thở mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm Pleiku. Dịp nầy Quang đặt câu hỏi:
- Sao em gọi là hồ than thở?
- Vì em thường ra đây một mình để nói chuyện với chính mình.
- Em đã than thở gì?
- Em đã nguyền sẽ yêu anh suốt đời. Cứ mỗi lần như vậy, em ném xuống hồ một viên đá. Hãy nhìn kỹ, anh sẽ thấy ở dưới toàn là đá do em liệng xuống.
- Em có biết hồ nầy sâu không? Người ta thường gọi là hồ không đáy mà.
- Biết, nhưng đá của em liệng xuống đến nay đã ngập đến mặt hồ !
Lời tỏ tình thật văn hoa và tha thiết, Quang sung sướng ôm chặt Dung vào người hôn lên mái tóc và dìu nàng bước lên bờ. Trước khi lên xe, hai người quay lại nhìn mặt hồ lần cuối, bỗng Dung đề nghị:
- Anh hãy ném xuống hồ một viên đá.
- Để làm gì em?
- Viên đá anh ném xuống sẽ nằm yên giữa hồ chung với hàng ngàn hàng hàng vạn viên do em đã ném xuống, có nghĩa là em đã ôm được anh vĩnh viễn trong lòng đúng theo ước nguyện từ ngày mới gặp và yêu anh.
Sau chuyến về từ Pleiku, Dung càng ngày càng tỏ ra buồn bã, không còn những tiếng cười dòn tan mỗi lần trò chuyện. Quang ngày đêm gạn hỏi nhưng Dung chỉ lắc đầu không trả lời. Cho đến một hôm nàng khóc suốt đêm, Quang lo lắng ôm nàng vào lòng mơn trớn vỗ về. Cuối cùng nàng ngồi dậy gục đầu vào vai Quang thổn thức:
- Đã đến lúc em phải xa anh.
Như trúng phải luồng điện Quang giật mình nhìn thẳng vào mắt Dung, hai tay lắc mạnh đôi vai, hỏi tới tấp:
- Tại sao? Tại sao? Anh đã làm gì em buồn?
Tiếng khóc của Dung càng lớn:
- Đã đến lúc em phải ra đi, một ngày nào đó anh sẽ hiễu.
- Không, anh muốn em nói ngay bây giờ.
- Không được anh, em không thể làm gì trong lúc nầy.
- Cho đến lúc nào?
- Khi anh đến thăm em thì anh sẽ hiểu.
Dung đưa ngón tay che miệng Quang:
- Đừng hỏi nhiều, em không có quyền tiết lộ bất cứ gì bây giờ.
- Ai cấm em?
- Bí mật.
Biết không thể đòi hỏi gì hơn một khi Dung đã dứt khoát, Quang thều thào:
- Anh sẽ đưa em về nhà.
- Em cho anh địa chỉ để đến thăm em sau.
Nói dứt câu, nàng đứng dậy lấy trong túi áo Quang cuốn sổ tay và ghi địa chỉ của nàng và dặn:
- Em đi rồi anh hãy mở ra xem sau.
Trước khi trời sáng, Dung quay qua ôm chặt lấy Quang:
- Yêu em lần cuối đi anh. Yêu thật nhiều, thật nồng nàn, thật say đắm để em làm hành trang mang theo. Còn em, em sẽ để lại cho anh một vết sẹo để đời.
Vừa dứt câu Dung hôn vào môi và mắt vào tai vào cổ Quang, cuối cùng ghé răng cắn vào vai Quang hai cái thật mạnh rồi đứng dậy bước nhanh về phía cửa. Quang chưa kịp phản ứng, chỉ kịp ú ớ vài câu và chạy theo ra đến đường nhưng Dung đã đi xa.

Quang tỉnh dậy và ngạc nhiên khi thấy mình vẫn còn nằm ở tại nhà Vinh. Chàng ngồi dậy định thần, vươn vai thở một hơi dài và cảm thấy trong người khỏe hẳn. Không tin vào nhản quang của mình khi nhìn thấy đồ vật trong phòng và những gì đã xảy ra, chàng thử bấm mạnh hai đầu ngón tay cái và trỏ vào nhau, cảm thấy đau, chứng tỏ mình đang hoàn toàn tỉnh táo. Bước xuống giường không kịp mang đôi giày, Quang mở cửa bước ra phòng ăn, vợ chồng Vinh đang dùng điểm tâm, hai người vội để ly café xuống reo lên:
- Chào anh Quang, tỉnh dậy đã khỏe hẳn chưa? Ngủ gì gần một tuần nay làm chúng tôi hết hồn.
Bây gờ đến lượt ngạc nhiên:
- Anh chị nói tôi ngủ?
- Vâng, anh ngủ ngon lành một tuần nay.
Quang lắc đầu:
- Không thể được, hoàn toàn không thể?
- Tại sao?
- Sau khi hết say, tôi đã về nhà gần cả năm nay mà !
Hai vợ chồng Vinh trố mắt nhìn Quang:
- Anh đã tỉnh hẳn chưa hay vẫn còn say ngủ?
Quang ngồi xuống cạnh hai vợ chồng:
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Chúng tôi phải hỏi anh mới đúng.
Quang lấy ly café của Vinh uống một hơi:
- Tôi đã về nhà tôi ngay đêm hôm đó.
Vợ Vinh lắc đầu, Vinh nhìn Quang thương hại giải thích:
- Anh đã ngủ mê gần một tuần nay, chúng tôi sợ quá nên đã nhờ anh Khoa đến bắt mạch, đo huyết áp cho anh nhiều lần nhưng sức khỏe của anh thật hoàn toàn và ở trong trạng thái bình thường của một người khoẻ mạnh đang ngủ say. Cuối cùng chúng tôi quyết định đưa anh vào bệnh viện, nằm tại đây hai ngày. Sau khi khám tổng quát rồi qua chuyên khoa tâm thần, các bác sĩ xác nhận anh ở trong tình trạng hôn mê nhưng không kiếm được một triệu chứng lạ nào, chỉ cần vào nước biển để giữ thăng bằng điều hòa cơ thể. Cuối cùng chúng tôi đưa anh về lại đây vì cần có người bên cạnh chăm sóc. Khoa đến đây hai lần một ngày để trông chừng anh nhưng vẫ không có chuyện gì xảy ra. Giấc ngủ thật yên lành, mặt mày tươi rói, miệng lâu lâu mỉm cười nhưng đang trò chuyện cùng ai.
Quang vẫn lắc đầu:
- Tôi không tin chuyện xảy ra như vậy.
Vinh đưa tay chỉ tờ lịch treo tường:
- Nhìn kỹ và cố nhớ lại, tối thứ bảy tuần trước, sinh nhật vợ tôi là ngày 9 tháng 4, anh và một số anh em đến đây ăn cơm với chúng tôi, hôm nay là 16 tháng 4, nghĩa là đúng một tuần, làm gì có chuyện một năm.
Vợ Vinh hỏi lại:
- Anh nói anh đã tỉnh lại và về nhà, bây giờ giải thích cho chúng tôi.
Quang vẫn một mực:
- Đồng ý hôm sinh nhật chị Vinh, tôi say thật đến ngã gục xuống bàn chẳng hay biết trời trăng gì cả. Nhưng sau đó, chính cô Dung đến và đưa tôi về nhà.
Vinh trả lời:
- Cô Dung nào, hôm đó chẳng có ai tên Dung. Ngoài những cặp vợ chồng bạn bè anh đều quen biết, chỉ có cô Lan là người chúng tôi muốn giới thiệu với anh. Nhưng cô Lan trúng gió ói mửa, vợ chồng anh Khoa đã đưa cô ta về. Sau đó không còn một người lạ nào trong nhà ngoài những người bạn thân của chúng ta.
- Chuyện xảy ra hoàn toàn trái ngược với anh chị kể.
Vợ Vinh ghé tai chồng nói nhỏ:
- Có thể anh Quang bị ám ảnh một chuyện gì, bây giờ thì nên gởi anh đến một bác sĩ tâm thần.
Quang đáp ngay:
- Tôi thật tỉnh táo và sáng suốt nói chuyện với anh chị, không cần bác sĩ.
- Được anh kể chúng tôi nghe chuyện của anh.
Quang chậm rãi:
- Sau khi gục tại chỗ, tôi vẫn còn nhận định được anh chị và mấy anh em đưa vào phòng, cởi giày, áo ngoài và đặt nằm trên giường sau đó chị thoa dầu gió cho tôi. Chừng nửa tiếng sau thì Dung xuất hiện, nàng xin lỗi đến trễ và xin phép anh chị đưa tôi về nhà. Lúc đầu anh chị ngại, nhưng sau nhiều lần giải thích, anh chị đồng ý để Dung đưa về nhà tôi. Chính nàng lái xe tôi và dìu tôi vào nhà một cách an toàn. Dung đã ở lại với tôi, nối lại mối tình đầu thật trọn vẹn với nhau gần một năm. Sau đó chúng buộc lòng phải chia tay để nàng trở về nhà.
Vợ chồng Vinh không thể tin vào những lời Quang vừa thốt ra, Vợ Vinh vẫn ôn tồn:
- Anh bị một chuyện gì ám ảnh nặng.
Vinh ngăn vợ:
- Khoan kết luận vội vã như vậy, bây giờ xin anh Quang nói rõ thêm về cô Dung được không?
- Được, chuyện đơn giản như thế nầy. Tôi và Dung quen nhau tại Pleiku, nhưng thật sự chưa ai mở lời nói chuyện yêu đương trước. Pleiku mất, chúng tôi mỗi người di tản xuống Quy Nhơn. Ba năm sau kể từ ngày mất nước, tôi vào Sàigòn và vượt biên bằng đường biển. Tình cờ gặp lại nhau trong trại tị nạn Mãlai, lần nầy tôi tỏ tình trước, Dung vẫn vui vẽ nhưng không đáp lại tình yêu của tôi. Sau đó tôi đi Mỹ và mất hẳn liên lạc với Dung cho đến bây giờ không.
Vinh trầm ngâm giây lát:
- Như vậy chẳng có gì quan tâm cũng không phải vấn đề tâm thần. Chỉ là giấc mộng bình thường. Nhưng tôi vẫn thắc mắc, anh ngủ say một giấc dài mặc dù đã nhiều lần đánh thức bằng đủ mọi hình thức, di chuyển vào bệnh viện, trải qua nhiều gian đoạn khám nghiệm mà anh vẫn không hay biết.
- Đối với tôi là một thời gian dài, chúng tôi sống trọn vẹn cho nhau như đôi vợ chồng mới cưới trong căn nhà thân yêu của tôi.
Vợ Vinh không tài nào hiểu được những lời Quang vừa trình bày:
- Anh có vết tích nào chứng minh những lời anh nói:
- Có chứ.
Quang rút trong tui quần cuốn sổ tay ra:
- Chính Dung đã tự tay biên địa chỉ của nàng vào đây.
Vừa nói Quang lật trang chữ D ra đưa cho hai vợ chồng xem, ở gần cuối trang giấy, ba giòng chữ đậm nét rõ ràng và bay bướm của một người đàn bà: Nguyễn Thùy Dung,đường Södertälje, Thụy Điển. Vinh nhìn Quang dò xét:
- Thật không hay địa chỉ cô nào trước đây?
Quang sực nhớ ra, hớn hở:
- Còn đây hãy xem. Chính Dung đã cắn vào vai tôi mấy lần, nàng nói để sẹo bắt tôi phải nhớ nàng suốt đời.
Vừa nói Quang vừa mở nút áo chemise xuống, rút cánh tay phải ra ngoài đưa ra trước mặt vợ chồng Vinh. Đúng là những vết răng đều đặn và nhỏ nhắn của một người đàn bà đã cắn vào vai, còn lộ nguyên hình các dấu răng ứ máu bầm. Vợ Vinh bắt đầu mất bình tĩnh, vì Quang đã ngủ say một tuần, vợ chồng bà theo sát một bên làm sao những vết cắn có thể xuất hiện trên thân thể của Quang. Đến chừng bà Vinh phát hiện ra những vết son môi còn dính trên cổ, ngay dưới hai trái tai của Quang, thì hai tay bắt đầu run bà chỉ ngay cho chồng:
- Anh xem nầy.
Vinh đã nhìn tận mắt dấu răng và các vết son còn tươi, chưa xác định được sự việc thì Quang tiếp:
- Nàng khóc suốt đêm qua, hôn và cắn tôi nhiều lần trước khi chia tay.
Quang rút trong túi ra chiếc khăn tay còn ẩm và tiếp tục:
- Nước mắt nàng ướt cả chiếc khăn, anh chị xem đây !
Hai vợ chồng Vinh không còn gì để hỏi thêm, tin chuyện hoang đường thì chưa chắc nhưng nghi ngờ những lời Quang thì không thể được. Chính hai vợ chồng là người ở sát bên cạnh Quang từ ba ngày nay sau khi Quang trở về từ bệnh viện. Chỉ một mình Kha là người đàn ông duy nhất đến chăm sóc. Vết cắn, môi son và nước mắt trong khăn tay là những chứng thật không thể giải thích.
Vinh đặt câu hỏi:
- Anh định đi tìm nàng?
- Vâng, tôi sẽ lấy thêm ngày nghỉ để qua Thụy Điển một tuần lễ.

Södertälje là một thành phố nhỏ nằm về phía nam Stockholm chừng hơn một giờ xe hơi. Quang đưa tấm giấy ghi địa chỉ Dung cho người tài xế taxi xong, Quang dựa đầu vào nệm sau nhắm mắt ngủ vì quá mệt sau mười bốn giờ bay. Quang không báo tin trước mục đích dành cho Dung một ngạc nhiên lớn. Đang dật dờ ngủ thì taxi dừng ngay trước một chiếc cổng lớn, Quang vừa bước xuống lại vội mở cửa lên trở lại và hỏi người tài xế:
- Sao ông đưa tôi đến nghĩa trang?
- Thì đúng theo địa chỉ trong giấy.
Người tài xế đưa tờ giấy lại cho Quang, chàng giật mình so lại địa chỉ tại chỗ thì đây đúng là địa chỉ của nghĩa trang thành phố. Thân mình tay chân chàng tự nhiên đồng loạt nổi da gà, nhưng chính tình yêu đã biến đổi sự sợ hải thành một động lực giúp chàng bình tĩnh và can đảm, mạnh dạn tiến vào bên trong tìm mộ Dung, vì nghĩ rằng nàng đã chết và xác thân đang an giấc tại nơi đây.
Người quản lý nghĩa trang đưa Quang qua nhiều lối đi cuối cùng đến trước một ngôi mộ. Bức ảnh in trên bia đá rất rõ nét, hình một người con gái chừng ba mươi tuổi, khuôn mặt trong sáng, mái tóc dài với nụ cười hồn nhiên của tuổi thanh xuân. Bên dưới bức ảnh hai hàng chữ khắc sâu trong bia đá, Cô Nguyễn Thùy Dung, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1954 tại Pleiku Việt Nam, tử ngày 19 tháng sáu năm 1982 tại Södertälje Thụy Điển.
Ngồi bất động trước mộ Dung, một người đàn ông dù bản lãnh nhưng Quang không thể cầm được những giọt nước mắt đang chảy dài xuống má. Những hình ảnh ngây thơ trong sáng ngày đầu gặp gở tại Pleiku, kế đến, gương mặt phiền muộn ưu tư trên đất Mã lai cũng như cảnh âu yếm mặn nồng của Dung đã mang lại cho Quang trong ngày tái ngộ tại Mỹ đều lần lượt hiện về trước mắt Quang. Dung vẫn là người con gái ngày xưa, nàng đã giữ nguyên vẹn mối tình đầu và tuyết trinh của thân xác để hiến dâng cho chàng dù âm dương cách biệt. Thân xác nàng nằm đây, nhưng có lẽ hai mươi ba năm qua linh hồn nàng đã dài công tu luyện, mong hoàn tục một thời gian, để được phép trở về dương thế cho trọn tình với Quang. Nhìn gương mặt, nụ cười trên bức hình, Quang nghĩ rằng giờ đây chắc nàng đã toại nguyện.
Quay ra ngoài mua bó hồng thật lớn, trở lại đặt ngay ngắn, cúi xuống hôn trên phần mộ và bức ảnh:
- Anh sẽ trở lại với em.

- o O o -
Người quản lý nghĩa trang cho Quang danh tánh và địa chỉ thân nhân của Dung. Nhìn thấy tên của một người đàn ông, Quang khựng lại giây lát, nhưng đã quyết tâm tìm hiểu Dung, chàng nhất quyết đi taxi đến.
Vừa bấm chuông xong, một người đàn bà còn trung niên ra mở cửa e ngại hỏi bằng tiếng Thụy Điển:
- Thưa ông ông kiếm ai?
Quang không hiểu gì, chàng nói ngay tiếng Việt:
- Thưa bà, bà là người Việt nam?
Hai mắt người đàn bà sáng lên, vồn vã hỏi ngay:
- Thưa, ông cần gì? Tôi là người Việt.
- Tôi tên Quang từ xa đến, xin lỗi bà tên Nghĩa?
- Nghĩa là tên chồng tôi.
Quang ấp úng:
- Xin lỗi bà, bà có một thân nhân tên Thùy Dung an táng trong nghĩa địa thành phố
Bà Nghĩa nhìn Quang, dè dặt trả lời:
- Đó là chị tôi nhưng liên hệ gì với ông.
Quang mừng ra mặt, một lần nữa chàng lặp lại:
- Tôi tên Quang, quen với Thùy Dung cách đây trên ba chục năm tại Pleiku.
Bà Nghĩa mừng rở reo lên:
- A tôi nhớ ra rồi. Mời ông vào nhà.
Vừa dẫn khách vào vừa nói:
- Tôi tên Trang, em gái của Thùy Dung. Lúc chị tôi còn sống lúc nào cũng nhắc đến ông. Nghe mãi tên nên đã nhập tâm, tôi làm sao quên được nhưng lâu quá thú thực không nhìn ra người.
Vừa ngồi xuống ghế, Quang vội vào đề:
- Xin bà vui lòng cho tôi biết rõ về Dung.
- Dĩ nhiên, tôi sẽ kể rõ cuộc đời của chị tôi vì đây cũng là ý nguyện của người quá cố. Đã từ lâu tôi ao ước gặp ông nhưng chim trời cá biển biết đâu mà tìm. Nay có lẽ duyên số của chị tôi vẫn còn nên đã đẫy đưa ông từ xa đến. Chuyện còn dài, ông ở lại đây với vợ chồng tôi vài bữa. Bây giờ dùng café cho ấm lòng, chồng tôi cũng sắp về đến.
- Cám ơn bà cứ để tôi tự nhiên.
Bà Nghĩa cười:
- Ông là người tình muôn thuở của chị tôi, xem như trong nhà, xin gọi nhau bằng anh em có lẽ thân mật hơn và chắc chắn chị tôi sẽ vui lòng.
- Vâng, nếu ông bà cho phép.
Trang ngồi xuống đối diện với Quang:
- Anh từ đâu đến và tại sao kiếm ra chúng em dễ dàng vậy?
- Chính Thùy Dung cho anh địa chỉ, nhưng địa chỉ của nghĩa trang chứ không phải ở đây.
Đến lượt Trang ngạc nhiên tột độ. Hai mắt mở lớn, miệng ấp úng:
- Không thể, không thể…chị em chết đã hai mươi ba năm. Ngoài vợ chồng và hai đứa con em không còn một ai quen thân với Dung cũng như biết được phần mộ của chị em. Trước khi đến Thụy Điển anh đã liên lạc thăm dò đường sá?
- Không, anh tưởng Thùy Dung còn sống, căn cứ theo địa chỉ đã cho, anh đến Stockholm và dùng taxi đến thành phố nầy.
- Taxi đưa anh đến ngay nghĩa trang?
- Đúng như vậy, anh ngập ngừng vài giây nhưng sau đó anh tin là sự thật.
- Anh cho biết rõ thêm.
- Anh đã gặp Dung, sống hạnh phúc với nhau gần một năm trời tại Mỹ, nhưng bạn bè cho biết thì thời gian khoảng chừng một tuần.
- Em chưa hiểu !
- Trong một cơn ngủ say kéo dài một tuần, Thùy Dung đã về chung sống với anh. Trước khi chia tay nàng đã ghi lại địa chỉ trong cuốn sổ tay của anh.
Trang với giọng run run:
- Anh cho em xem cuốn sổ.
Nhìn vào, sắc mặt Trang biến đổi, Trang đứng dậy lấy tập thơ biên tay đưa cho Quang xem, đúng một tuồng chữ không sai một nét nhỏ nào.
Ông Nghĩa mở cửa bước vào, sau lời giới thiệu, ông mở lời trước:
- Anh đã đến đúng theo ước nguyện của người quá cố. Dung đã trối với vợ chồng em trước khi nhắm mắt.
- Qua đây hoàn toàn do sự hướng dẫn của Thùy Dung, có lẽ còn những bí ẫn nào đó Dung đã nhắn lại với anh?
- Chuyện còn dài, anh phải ở lại đây vài ngày.
Nghĩa dành làm bếp để vợ nói chuyện với Quang. Trao cho Quang cuốn album hình xong Trang bắt đầu vào chuyện kể:
- Chị Thùy Dung đã phải lòng anh trong những lần đầu gặp gỡ tại nhà cô giáo Yến. Hồi đó mặc dù em còn nhỏ nhưng cũng nhận biết anh cũng yêu chị em, nhưng tại sao không chịu tỏ tình và giữ im lặng để chị em phải đau khổ với mối tình câm. Em còn thuộc bốn câu thơ chị thường đọc cho em nghe:
Chỉ cần một tiếng Yêu
Ngày xưa em vẫn đợi
Tiếc gì anh không nói
Để mất nhau suốt đời
Uống xong hớp trà, Trang tiếp:
- Rồi quả đất tròn, chị Dung gặp lại anh trong trại tị nạn. Đây là thời gian thuận lợi nhất để hai người kết hợp nhưng chị em đã đau khổ chạy trốn mối tình tha thiết của anh. Sau khi anh lên đường định cư, Chị Dung ốm nặng nằm bất động một chỗ cả tuần lễ. Thế rồi một buổi tối trước khi ngủ, chị Dung cho em xem một tập thơ, trước khi đốt thành tro và rải xuống biển, gồm nhiều bài thơ tình chị viết riêng cho anh và cho mối tình câm của chị.
Quang xin phép hỏi:
- Anh không hiểu chuyện gì xảy ra nhưng trong thời gian còn ở trong trại tị nạn, anh đã nhiều lần tỏ tình và ước ao kết hôn với chị em trước ngày lên đường đến nước thứ ba. Em có biết lý do tại sao chị em vẫn một mực từ chối không?
Trang kể tiếp qua nước mắt:
- Bây giờ em mới có dịp trình bày với anh. Sau khi thi xong phần hai tú tài, chị Dung tự nhiên bị bệnh nhức đầu kinh niên. Cha mẹ em đã chạy chữa khắp nơi nhưng các bác sĩ không kiếm ra bệnh chứng. Cuối cùng phải vào tận Sàigòn nhờ các bác sĩ nước ngoài chữa trị, ở đây khám phá ra chị Dung bị chứng ung thư hệ thần kinh nảo bộ. Dù với các phương tiện tối tân nhưng các bác sĩ phải đành khoanh tay, không thể giải phẫu để lấy cục bứu ra. Họ cho hay việc giải phẫu chưa biết kết quả đi đến đâu nhưng trước mắt, may mắn lắm thì nạn nhân sẽ sống sót nhưng toàn thân bất toại, nếu rủi ro thì không cứu được mạng người. Lúc đầu gia đình dấu kín chuyện nầy nhưng cuối cùng chị Dung cũng biết. Từ đó chị ít trò chuyện và không tiếp xúc với bất cứ ai…Cho đến một ngày gặp lại anh trong trại tị nạn. Điều nầy cũng đủ để giải thích thái độ chị Dung đối với anh trong thời gian nầy. Ba tháng sau ngày anh lên đường qua Mỹ, phái đoàn Thụy Điển đến Mãlai và chỉ nhận người tị nạn thuộc diện nhân đạo, nghĩa là họ chỉ nhận những gia đình có người đang mang trong người chứng bệnh nan y để đưa về Thụy Điển chữa trị. Gia đình em quá mừng, hy vọng cơ hội duy nhất để dành lại mạng sống của chị Dung đang tàn dần theo thời gian. Nhưng số trời đã định, ở đây cho biết ngày ra đi của chị Dung gần kề, họ khuyên gia đình nên làm những gì vui lòng cho người xấu số trong những ngày còn lại. Chị ra đi một cách nhẹ nhàng không đau đớn, trước khi nhắm mắt chị Dung còn tỉnh táo nói nhỏ với vợ chồng em, hãy cố gắng tìm và chuyển lại anh thông điệp cuối cùng của chị: Dung vẫn một đời yêu anh.
Nghĩa muốn tạm ngưng câu chuyện tại đây, xen vào hỏi Quang:
- Xin lỗi, chưa hỏi gì về anh. Gia đình, công việc ra sao?
- Anh đã li dị, không con cái và còn tiếp tục đi làm. Thế còn hai bác?
Trang cho biết:
- Cha mẹ em đã qua đời, hiện giờ chỉ còn vợ chồng em và hai đứa con. Chúng nó đã lớn và có gia đình.
Suy nghĩ một hồi, Quang đề nghị:
- Anh đề nghị hai em việc nầy, xem có tiện không?
- Anh cứ nói.
- Anh muốn xin phép hai em cho anh được đưa hài cốt chị Dung về Mỹ.
Một đề nghị ngoài dự đoán, vợ chồng Nghĩa nhìn nhau không ai lên tiếng trước. Quang giải thích thêm:
- Anh cũng độc thân không còn ai ràng buộc trong cuộc sống cũng như tình cảm. Anh muốn mang đưa Dung về ở gần anh. Mỗi năm hai em có dịp qua thăm như vậy cũng tiện.
Nghĩa nhường lời cho Trang:
- Em nghĩ thế nào?
Trang đáp trong do dự:
- Nằm ở đây có cha có mẹ đường nào cũng ấm cúng hơn.
Quang thuyết phục:
- Dù chưa giao ước cưới hỏi, nhưng ý nguyện của Dung muốn được sống bên anh. Kiếp nầy đã dở dang, âm dương có cách trở nhưng tình yêu không ai có thể ngăn cản một người sống yêu thương một người chết bên kia thế giới. Sự cách biệt thể xác đâu ảnh hưởng đến tình yêu trong tâm hồn. Anh muốn cùng Dung ngày đêm có nhau, như tình cảm của một người chồng trung thành vĩnh viễn với vợ mặc dù nàng đã chết.
Trang yên lặng, một lúc sau nàng đáp:
- Nếu anh đã nặng tình với chị Dung thì em đành nghe theo. Ngày mai chúng ta nghiên cứu việc bốc mộ. Dù hơn hai mươi ba năm, em nghĩ xương cốt vẫn còn nguyên. Vậy anh muốn hỏa thiêu một lần nữa để anh đưa về dễ dàng không?
- Được vậy rất tốt cho việc di chuyển và vấn đề vệ sinh cũng như kiểm soát hải quan.
Trước khi chia tay về phòng, Trang trao cho Quang một hộp giấy:
- Chiếp hộp nầy chị Dung dặn em, một ngày nào tìm được anh thì trao tận tay. Em chưa bao giờ mở ra xem.
- Quang cám ơn đem hộp giấy vào phòng ngủ.
Một ngày sau khi trở lại Mỹ, Quang tìm đến một nhà điêu khắc và nắn tượng nổi tiếng tại Los Angeles để đặt làm một pho tượng bán thân bằng thạch cao. Chàng đưa bức ảnh bán thân của Thùy Dung và đề nghị nhà nghệ sĩ cố gắng làm thế nào để khuôn mặt phải có hồn và giống y theo bức ảnh, kích thước đúng với vóc dáng thật của một người con gái Á Châu. Quang còn đề nghị khoét một lỗ ở phần sau lưng pho tượng để có thể đặt vào đó chiếc bình nhỏ đựng tro của người quá cố. Chừng mười ngày sau Quang đem bình đựng tro đến yêu cầu để vào sau lưng và niêm kín pho tượng.
Quang sửa sang phòng làm việc của chàng thành phòng riêng dành cho Dung thật đầy đủ tiện nghi. Pho tượng thạch cao được trang trọng để trên một bệ cao đối diện với bàn làm việc. Phía dưới chân tượng chưng bức ảnh bán thân, tập nhật ký và cuốn băng nhựa do chính Dung tự thu tiếng nói và hai bài hát: Còn một chút gì để nhớ để quên và Kiếp nào có yêu nhau. Hằng ngày sau giờ tan sở về đến nhà, việc trước tiên Quang vào phòng trò chuyện với Dung, nghe lại giọng nói và hai bài hát. Mỗi lần trò chuyện Quang đều thấy Dung hiện về với mình. Mặt pho tượng đổi sắc, sống động như Dung đang gồi trước mặt, hai má ửng hồng, ánh mắt linh động, miệng mĩm cười chia xẻ buồn vui với chàng. Từ đó Quang không còn tha thiết với bạn bè, ít lui tới với ai và từ chối luôn những viếng thăm của khách dù quen hay lạ. Xong công việc ở sở vội quay về nhà và suốt ngày sống âm thầm với nguồn hạnh phúc riêng tư. Cuộc đời của Quang bây giờ chỉ sống với hình bóng mờ ảo của Dung và hai bài hát phát ra từ cuốn băng nhựa.

- o O o -

Vào một buổi tối mùa thu, trên đường về chàng ghé qua siêu thị mua chai champagne và ổ bánh để kỷ niệm một năm chung sống với Dung. Nhưng về đến nhà, mở cửa vào chàng không còn nghe tiếng hát quen thuộc đón chàng như thường lệ. Quang chạy ngay vào phòng Dung, nhìn pho tượng, chàng thấy Dung bây giờ chỉ là một khối thạch cao vô tri giác, khuôn mặt không còn sống động, ánh mắt hết long lanh và nụ cười đã cũng tắt hẳn. Chàng với tay lấy cuốn băng nhựa để vào máy, không còn nghe tiếng nói Dung cũng như tiếng hát thường lệ. Lấy cuốn băng nhựa ra, hàng chữ của Dung ghi trên đó vẫn còn, Quang thử lại một lần nữa bằng dàn máy ngoài phòng khách nhưng không còn một âm thanh nào khác, cuốn băng nhựa đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Quang quay trở lại phòng Dung, lên tiếng hỏi nhiều lần nhưng chung quanh chàng không một tiếng động.

- o O o -
Quang nằm vật ra giường thì điện thoại đổ chuông. Không buồn nhấc máy, vì đã từ lâu, điện thọai đối với chàng chỉ dùng để gọi mỗi khi cần thiết mà thôi, chưa lần nào nhấc máy trả lời kể từ ngày rời Thụy Điển. Nhưng điện thoại vẫn tiếp tục đổ chuông đến hơn năm phút, Quang miễn cưỡng nhấc lên:
- Alô, tôi nghe !
Đầu giây kia tiếng nói quen thuộc của Chi:
- Anh khỏe không, em đây.
Quang trả lời nhát gừng:
- Có gì cứ nói nhanh, anh đang bận.
Giọng Chi nhỏ nhẹ:
- Mời anh dùng cơm tối được không?
- Anh đang có chuyện buồn
- Em biết !
Quang định cúp máy, tiếng Chi úp mở ở đầu giây:
- Đi ăn cơm với em thì chuyện gì đâu cũng vào đó.
- Ô hay, chuyện riêng tư của anh, em xen vào làm gì?
- Để giải quyết cho anh !
Quang bực tức:
- Nói đi.
Chuyện dài lắm, anh không muốn đi ăn với em, nhưng muốn
nghe em nói bây giờ không?
- Được nhưng vắn tắt trong vài ba câu.
Đường giây kia Chi cười:
- Cô vợ ma bỏ rồi phải không?
Quang nghe đến lạnh xương sống, ngồi bật dậy hai tay run run giữ chặt ống nói, chàng giật mình không hiểu vì sao Chi biết được chuyện vừa xãy ra chưa đầy một tiếng đồng hồ.
Quang lắp bắp:
- Làm làm sao Chi biết?
- Hôm qua cô ta báo mộng cho em.
Quang hỏi dồn:
- Rồi sao nữa nói tiếp đi.
- Đêm qua em không ngủ được, đến gần sáng vừa chập chờn nửa tỉnh nửa mê, em thấy một người đàn bà, một cô gái thì đúng hơn, xưng tên là Thùy Dung đến ngồi ngay đầu giường ngỏ ý muốn nói chuyện với em. Cô cho hay nợ tình của cô ta đối với anh đã chấm dứt và yêu cầu em nối lại tình vợ chồng với anh để cô ta yên lòng ra đi. Chuyện đại khái có thế.
Quang năn nỉ:
- Em có thể cho anh biết rõ thêm?
- Em đã đặt nhiều câu hỏi và được trả lời đầy đủ. Cô ta cho biết yêu anh từ tuổi mười tám nhưng vì một chứng bệnh nan y không thể chung sống với anh và đã qua đời hai mươi ba năm nhưng hồn nàng vẫn theo sát bên anh như hình với bóng. Chuyện ly dị giữa anh và em do chính cô ta xếp đặt, xui khiến để hai đứa mình phải tạm chia tay trong một thời gian. Tiếp đó vì không muốn anh rơi vào tay một người khác, nàng đã phá đám việc giới thiệu cô Lan cho anh tại nhà ông bà Vinh. Dung đã xin lỗi em vì muốn dành anh làm của riêng để yêu và được yêu như lời nguyền. Bây giờ thì thời hạn đã hết cô Dung phải trở về với cát bụi.
- Tại sao Dung yêu cầu em trở lại đời sống vợ chồng với anh?
- Cô ta yêu anh, không muốn anh cô đơn trong lúc tuổi đã hai phần ba đời người. Cô Dung cho em hay, anh là một người chồng hiếm có trên đời, sức khỏe rất tốt không thể sống thiếu đàn bà.
- Chỉ yêu cầu đơn giản vậy thôi?
- Cô Dung hứa sẽ nhồi đắp hạnh phúc cho hai đứa mình, không còn quấy rối tạo ra những xung khắc cách biệt, nhàm chán trong việc sống chung, nhất là hạnh phúc gối chăn như trước kia nữa. Bây giờ anh nghĩ thế nào?
- Cho anh một thời gian.
Chi dứt khoát:
- Không còn chần chờ nữa, em sẽ trở lại sống với anh và chấp nhận sự hiện diện của Dung giữa chúng ta như một vị thần hộ mạng để bảo vệ tình yêu hai đứa mình.[/align] [/align] [/align]sưu tầm[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
         Thử yêu lần nữa
 
 
 
Xét về tình cảm, họ yêu nhau. Nhưng về lý trí, rõ ràng, Tony không phải mẫu hình lý tưởng của cô. Joshy hiểu rõ hai người là hai thế giới. Tony cũng chưa muốn có bạn gái để dồn sức cho sự nghiệp. Ngoài mặt, cậu dửng dưng nhưng lại luôn có một sự quan tâm đặc biệt không lời. Vì tất nhiên, dửng dưng chưa bao giờ có nghĩa là không thích. Và họ đã có với nhau một tháng với những gì đẹp đẽ nhất. Mọi việc đi nhanh hơn cả tên lửa NASA, đâu có ai biết cách làm cho tên lửa chậm lại khi nó đã được phóng. Cả Joshy và Tony đều cảm thấy những vấn đề không bình thường giữa hai người nhưng họ luôn né tránh. Một sai lầm kinh điển của những đôi yêu nhau. Không lâu sau đó, Tony đề nghị chia tay. Cậu đã phải chịu nhiều áp lực trong việc cố gắng trở thành một người bạn trai. Việc có bạn gái đã ngốn mất nhiều thời gian mà đáng lẽ ra cậu phải dành cho sự nghiệp của mình.

Những ngày sau đó là những ngày u ám & nặng nề. Tony vẫn làm việc đều đều dù cậu không thể phủ nhận rằng cậu thấy rất trống vắng. Khi đã bình tĩnh hơn và thôi khóc, Joshy nhận thấy việc chia tay của hai người là việc vô lý nhất cô từng biết. ``Có lẽ mình phải làm một cái gì đó!``.

Hai tuần sau, Joshy hẹn Tony đến quán nước quen thuộc. Cô nhìn thẳng vào mắt Tony và hỏi: ``Mình chia tay đã nửa tháng, anh đã cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn chưa?``. Chắc chẳng ai trên đời này cho rằng trống vắng là một cảm giác thoải mái dễ chịu nhưng Tony vẫn im lặng. ``Em đã có rất nhiều điều không hiểu`` - Joshy nói - ``Nhưng ngày hôm đó, cả hai chúng ta đều khong đủ bình tĩnh để nói chuyện với nhau. Em thật sự muốn biết anh đã chịu áp lực như thế nào``.

Không dễ để Tony nói ra những gì cậu nghĩ nhưng Joshy đã khéo léo thuyết phục bằng tất cả những dịu dàng và cảm thông nhất mà cô có thể. Sau cùng, cô nói: ``Em thật sự không thể chịu đựng được khi mình mất nhau như vậy. Nếu anh vẫn còn một chút tình cảm với em, chỉ cần một chút thôi nhưng là tình cảm thật sự chứ không phải lòng thương hại và anh cũng không muốn kết thúc như thế, chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu lại thật chậm. Em tin mình có cơ hội để làm mọi việc tốt đẹp hơn``.

Tony im lặng rất lâu. ``Mình sẽ bắt đầu thật chậm như thế nào?`` - Cậu hỏi. ``Nếu anh thật sự muốn biết và muốn thử, hãy gật đầu cho em xem nào!`` - Joshy trả lời. TOny bật cười và gật đầu. Joshy vẫn luôn lém lỉnh như thế.

Joshy chậm rãi. ``Sẽ có một vài quy định bắt buộc, tất nhiên! Nhưng hãy thoải mái anh nhé! Em chỉ muốn cùng anh chơi một trò chơi thôi! Và đây là quy định của cô: Mỗi tuần họ sẽ gặp nhau ít nhất một lần và nhiều nhất ba lần. Mỗi người được quyền chủ động những cuộc hẹn và cả việc sẽ đi đâu trong một tuần. Tuần sau đến lượt người kia. Người bị động có quyền từ chối nếu không thoải mái nhưng một tuần bắt buộc phải có một lần đi cùng nhau. Đến khi một người muốn có cuộc hẹn thứ tư trong một tuần và người kia đồng ý thì đã đến lúc mọi việc trở lại bình thường như nó vốn như thế.

``Để bắt đầu, chúng ta sẽ bốc thăm`` - Joshy lấy từ trong xắc tay hai lá thăm be bé - ``Người nào bốc được lá thăm ghi chữ THE FIRST sẽ là người chủ động hẹn đầu tiên. Và tuần kế tiếp sẽ là quyền chủ động của người kia. Cứ như thế! Anh đã luôn nhường em nên lần này em nhường anh trước đấy!``

Tony bốc trúng lá thăm ghi chữ THE FIRST. Một tuần sau đó, cậu hẹn Joshy và trò chơi bắt đầu. Không dễ để hàn lại những thứ đã vỡ. Rất nhiều lúc Tony cảm thấy chán nản. Ý nghĩ về việc không hợp nhau làm cậu cứ muốn bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng tình yêu cậu dành cho Joshy là một tình yêu thật sự. Joshy đã nói với cậu trước khi ra về ngày hôm đó: ``Em chỉ cần anh can đảm và kiên nhẫn chút thôi để cùng em vượt qua giai đoạn khó khăn này``. Cậu luôn nhắc nhở mình câu nói ấy để kìm bớt tính nóng vội và mau nản. Joshy cũng không dễ chịu gì hơn. Cô phải đánh đón tính tự ái của mình rất nhiều roi để nó yên thân mà nằm xẹp xuống. Cô tập yêu luôn cả những điều khiếm khuyết ở người con trai minh chọn. Cô lặp lại liên tục trong đầu hai từ ``kiên nhẫn``. Đã có nhiều điều buồn cười xảy ra trong suốt những ngày đó. Vì Joshy không hề quy định sẽ làm gì trong những lần gặp nhau nên họ nghĩ ra đủ trò. Joshy bắt Tony phải đến tiệm uốn tóc tán gẫu với cô trong khi các cô thợ rị mọ với cả đống ống cuốn trên đầu. Tony cũng khiến Joshy dở khóc dở cười khi ngồi chờ cậu trên thành hồ bơi nam. Họ đã cùng nhau chạy đua một chặng đường rất dài để tìm lại nhau.

Dần dần, họ thấy thích thú được quyền ``hành hạ`` người kia mỗi tuần và cả cái cách hỏi nhau khi bắt đầu một cuộc hẹn: ``Chiều thứ sáu này em rảnh không?``. Thêm một thời gian nữa, họ bắt đầu thấy nhớ nhau và cần nhau nhiều hơn là ba cuộc hẹn mỗi tuần. Tony đã thích nghi được với việc san sẻ thời gian và áp lực cho một người luôn sẵn sàng lắng nghe cậu. Và cậu nhận thấy việc có cả bạn gái lẫn sự nghiệp không phải là điều quá khó. Vào tuần cuối cùng của tháng tư, Tony hẹn Joshy lần thứ tư trong một tuần. Hôm đó là một ngày tuyệt vời không kém ngày đẹp trời lúc họ quen nhau. Nhưng Joshy vẫn giữ nguyên quy tắc ``mỗi người một tuần`` của mình, cô chỉ điều chỉnh nó thành thỏa thuận. ``Và tất nhiên người ta có thể vi phạm thỏa thuận trong những trường hợp có thể thương lượng được`` - Joshy nháy mắt tinh nghịch khi cả hai đứng mút kem.

Ngày 14 tháng 6, Joshy đem đến cho Tony một hũ thủy tinh đựng đầy socôla với dòng chữ: ``Be my valentine!``. Joshy cười một nụ cười của nắng: ``Những chuyện không vui đã khiên chúng ta xa nhau vào đúng ngày lễ Tình yêu. Em không muốn đợi đến năm sau mới đưa anh món quà này! Em yêu anh!`` - Cô hôn Tony.

``Có một điều anh đã thắc mắc rất lâu!`` - Tony nói sau khi qua phút ngất ngây - ``Nếu ngày hôm đó em bốc phải lá thăm THE FIRST thì khi nào em sẽ hẹn anh?`` Một nụ cười bí ẩn nở trên môi Joshy: ``Thì đã bao giờ em không bốc phải là thăm THE FIRST đâu! Cả hai lá thăm đều là THE FIRST, em chỉ không cho anh nhìn thấy lá thăm của em thôi! Em muốn anh bắt đầu khi anh thật sự sẵn sàng. Còn em thì đã luôn sẵn sàng để chờ đợi anh!``. Tony hỏi tiếp, cố giấu vẻ xúc động: ``Nếu như anh không chơi trò đó với em, hoặc nếu như anh không hẹn lần thứ tư... nếu...``. Nhưng hai ngón tay xinh xinh của Joshy đã đặt lên môi Tony để ngăn cậu nói tiếp. Cô nhẹ nhàng: ``Đó là một bí mật! Khi đó, em sẽ tính cách khác nhưng em sẽ không nói anh nghe đâu!`` Tony vòng tay ôm lấy cô. Cậu cũng không cần biết đến điều bí mật đó. Và sẽ chẳng bao giờ biết rằng Joshy chẳng có một dự tính nào cho những tình huống đó. Bởi cô tin là cả hai sẽ làm cho mọi việc tốt đẹp hơn.[/align] [/align] [/align]sưu tầm[/align]
Bốn mùa thương nhớ
Bốn mùa qua rồi bốn mùa sôi nổi
Nhung nhớ đầy như nước lại vơi đi
Gió quấn lòng thương nhớ gió vi vu
Hằn trong đó cả bốn mùa thương nhớ
Đăng nhập để trả lời
0