📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Truyện nhờ đánh máy 🔒

36 trả lời, 5.495 lượt xem — Trang 2 / 2
Chương XIV
“THẬT TÌNH KHÔNG MỘT AI THƯƠNG TIẾC ANH TA”
 
 
Sau những lời này của anh một sự im lặng trùm lên toàn bộ căn phòng đến nỗi sóng biển ngoài cửa sổ bỗng to hẳn lên làm ồn ào cả phòng ăn.
-          Lạy chúa … - Mary Sanders thì thào – Nhưng có ai đâu… -  cô ngừng nói.
Mellow lấy tay xoa cằm.
-        Anh Alex này, cứ cho là mọi chuyện đúng như anh nói, và giả sử rằng đã có người nào đó trong chúng ta ngày hôm nay tìm thấy pho tượng này giấu đi trước mọi người, nhưng anh thử nói xem, kẻ đó giết Robert bằng cách nào? Tất cả mọi người cùng có mặt ở đây khi anh ta ra bến, không có ai ra ngoài cả, sau đó chúng ta lại cùng đi ra bến tìm và rồi lại cùng thấy anh ta trong hang đá. Anh thử xem còn thời gian nào đủ để kẻ đó giết người, mang vào hang đá và đặt theo tư thế mà chúng ta đã nhìn thấy?
-        Chẳng có gì phức tạp cả - Joe trả lời bình thản – Trước hết anh đã lầm khi nói rằng chúng ta lúc nào cũng có mặt đầy đủ cạnh nhau. Anh Caruthers đã chạy về lấy dây bảo hiểm, anh ấy có thể gặp Gordon ở nhà, giết chết, đem xác vào hang đá và chạy đem dây ra bến. Tiếng gió rít rất lớn làm cho không ai có thể nghe thấy tiếng kêu của Gordon, còn đường từ nhà tới hang đá lại rất tối vì ánh đèn  biển không quét tới. Có thể đem xác chết đến đấy mà không bị một ai để ý. Ngoài ra anh Caruthers cũng biết rằng mọi người đang tập trung ở trên bến, còn Smytrakis lại không thể rời nhà đèn có đúng không?
-        Tôi?… - Caruthers nói – Anh không đùa đấy chứ? … Tôi giết Robert để làm gì?
-        Vâng, lý do có thể sẽ tìm ra nếu chúng ta cố tình, tuy nhiên rất may cho anh là tôi biết rõ rằng anh không thể nào giết được Robert Gordon trong lúc anh quay trở về nhà lấy dây.
Lại im lặng. Alex nhìn lên tường nhưng đồng thời anh cũng cố gắng quan sát tất cả mọi người. Chỉ có Carroline và Mary đang ở chỗ bếp góc nhà là nằm ngoài góc nhìn của anh. Anh thấy Pamela Gordon không nhìn ra cửa sổ nữa. Cô quay lại và mở to mắt nhìn Caruthers. Giáo sư ngồi thẳng người dậy bất động vì kinh ngạc. Ngón tay của Mellow cũng thôi không gõ nhịp trên bàn nữa.
-          Tôi không thể nào giết được?... – Caruthers cố gượng cười – Nhờ ơn Chúa.
-        Anh không thể nào giết được vào lúc đó. Tôi không phải là bác sĩ pháp y, nhưng như mọi người đã biết, trong đời tôi đã tiếp xúc rất nhiều với các loại tội phạm và kiến thức của tôi trong lĩnh vực pháp y tuy chưa sâu nhưng không tồi. Tôi đã học được cách xác định chính xác độ đông máu sau khi chết. Đó là gần như là loại đồng hồ đo thời gian từ khi bị tử thương. Robert Gordon đã bị tên giết người giết chết và kéo vào hang để ở ngay lối vào. Tên giết người đã đặt vào tay người chết pho tượng nhỏ phục vụ cho ý đồ nào đó của hắn mà chúng ta chưa biết. Nhưng tôi có thể nói điều này là xác Gordon được đặt trong hang không phải ngay sau khi bị giết. Vì vậy anh Caruthers không thể giết Gordon lúc quay về lấy dây được vì chỉ vắng mặt trên bến khoảng mười phút. Tôi tin chắc rằng khi khi anh Caruthers chạy đi lấy dây thì Gordon đã chết ít nhất một giờ rồi. Điều đó có nghĩa là anh ấy bị giết ngay sau khi rời phòng này để đi ra bến hoặc khoảng năm mười phút sau đó. Và vì rằng vào thời điểm quan trọng đó tất cả chúng ta đều có mặt ở đây nên có thể xác nhận sự vô tội của mọi người.
Anh ngừng lời.
-        Có một điểm tôi không thỏa mãn – Mellow nói nhỏ - Như thế tức là không ai trong số chúng ta có thể giết anh ấy được.
Carroline và Mary bước lại bàn. Mary cúi xuống nói với Pamela:
-          Cậu uống một chút cà phê nóng đi, nó sẽ làm cho cậu dễ chịu hơn.
-        Rất cám ơn – giọng nói của Pamela có sự khó chịu rõ rệt nhưng Mary dường như không để ý tới.
Sự căng thẳng đã qua đi. Tất cả bỗng như bừng tỉnh sau một giấc mơ.
-        Ngoài ra – Joe nói tiếp vẫn nhìn vào Caruthers – trong suy nghĩ của tôi, tôi phải chú ý tới anh trước hết vì anh là người duy nhất không đi cùng chúng tôi khảo sát các hang động. Mới đầu tôi nghĩ rằng anh đã vào hang trước khi tôi đến, nhưng bây giờ đã rõ là không.
-        Được – Mellow đột ngột quay lại phía Alex – nếu toàn bộ vấn đề như anh nói và anh nói rất chính xác thì còn một người nữa, đó là cậu gác đèn người Hy lạp. Chỉ có mình anh ta ở ngoài nhà lúc Gordon đi ra ngoài, chỉ mình anh ta biết rõ hòn đảo này. Anh ta thấy Gordon đi ra ngoài, chạy theo giết và kéo xác chết để tạm vào nhà đèn. Sau khi để chúng ta đi ra bến, anh ta ung dung kéo xác chết vào hang. Thật là mọi chuyện rõ như ban ngày.
-        Hừm… Caruthers lắc đầu – Chúng ta không thể kết tội con người này chỉ vì chúng ta không muốn kẻ giết người là người nào đó trong số chúng ta. Chắc anh Alex đã có quan điểm riêng của mình về việc này.
-        Tất nhiên là trong những điều anh Mellow nói có nhiều điểm hợp lý – Joe suy nghĩ và nói tiếp – Eleflorios Smytrakis làm việc ở đây đã lâu, có thể tìm được pho tượng nhỏ này ở đâu đấy. Có thể có khả năng anh ta giết Robert Gordon. Nhưng tại sao lại làm vậy khi biết rằng nếu anh ta để xác chết ở cửa hang thì anh ta là người duy nhất bị nghi ngờ? Cách đơn giản hơn nhiều là đẩy xác chết xuống biển từ trên bờ đá cao dựng đúng kia. Và nếu như ngày mai chúng ta có thể tìm thấy xác thì ai cũng nghĩ rằng anh ấy bị trượt chân hoặc đi lạc nên ngã xuống biển. Ngoài ra tại sao Smytrakis lại giết một người lần đầu tiên nhìn thấy trên đời và cái chết của người ấy chẳng mang lại lợi lộc gì?
-        Có thể giả định rằng Smytrakis đã tìm thấy ngôi đền của Nữ Thần Mê Cung, vì vậy đã làm như thế để cản trở việc tìm kiếm của chúng ta, buộc mọi người phải quay về nước Anh. Có thể ở đó có nhiều vàng, đồ trang sức…. - Mary Sanders không nói tiếp nữa.
-        Thế thì sao anh ta lại đặt pho tượng vào trong tay người chết? Bởi vì điều đó chứng tỏ rằng có đền thờ Nữ Thần Mê Cung trên đảo. Smytrakis là con người thông minh. Không lẽ anh ta lại muốn nhận tội về phía mình và phô bày cho người khác biết cái mà anh ta cần giấu kín. Điều này đối với tôi quả là khó hiểu – Joe giang tay làm động tác như muốn nói rằng anh không thể chấp nhận cách lập luận của Mary.
-        Liệu có đơn giản hơn không nếu anh trực tiếp nói chuyện với Smytrakis? – Mellow hỏi – Nếu anh là chuyên gia về lĩnh vực này thì có thể anh sẽ tìm ra anh ta nói dối chỗ nào và buộc anh ta phải thừa nhận tội ác. Chúng tôi rất tiếc là chẳng giúp anh được gì mấy.
-        Vâng, có lẽ là như thế - Joe đứng dậy.
Trong chuyện này có cái gì đấy hoàn toàn không ăn khớp. Dường như có bàn tay vô hình nào đấy đã đổi quân bài của người chơi trước khi anh ta hạ xuống bàn. Suốt thời gian nói chuyện anh tin rằng sẽ tìm ra lời giải, thậm chí có lúc anh đã cảm thấy tìm thấy lời giải, nhưng sau đó nó lại biến mất, và đã bao nhiêu lập luận sụp đổ.
-        Lạy Chúa, tôi mệt quá đi mất – Pamela nói khẽ - Mary, chúng ta đi ra ngoài đi. Mình có thể ngủ nhờ ở phòng cậu được không?
-        Tất nhiên rồi. Tý nữa mình sẽ chuẩn bị chỗ nghỉ ngay.
Họ cùng đứng dậy. Joe cảm thấy sự mệt mỏi đang thấm dần, thấm dần vào trong cơ thể, vào trong óc khiến suy nghĩ của anh không còn được lô-gich nữa. Smytrakis không thể chạy trốn được. Điều này là chắc chắn vì ít nhất không ai có thể rời đảo trong ngày hôm nay được. Thuyền của Gordon cũng không thể ra khỏi bến lúc sóng lớn như thế này. Vậy thì anh có thể ngủ cho lại sức trong vài tiếng đồng hồ và khi dậy sẽ cố gắng suy đoán lại từ đầu. Có cái gì đó còn thiếu trong lập luận của anh. Nhưng đó là cái gì?
-        Smytrakis không thể chạy trốn được – Mellow nói – Và chẳng một ai trong chúng ta chạy trốn khỏi đây được – anh nói thêm dường như lặp lại đúng những suy nghĩ của Alex.
Giáo sư bước lại gần Alex.
-        Thật kinh khủng – ông nói quá nhỏ nên bị tiếng xê dịch bàn ghế át đi – Nó mới chết được có một giờ nhưng thực tình chẳng ai thương xót nó cả.
Ông cúi đầu, lặng lẽ đi qua Alex ra phía cửa.
-        Thế nếu như trên đảo còn có ai đấy mà chúng ta chưa biết? – Carroline bỗng nhiên nói. Giáo sư đứng sững  lại, còn mọi người thì lặng đi vì ý kiến đó quá rõ ràng và bất ngờ - Có thể như thế được không, anh Joe?
-        Mọi việc đều có thể - anh nói hơi do dự - bởi vì chúng ta không biết rõ các hang động trong núi, và có thể có hàng trăm người trong đó. Nhưng ….- anh lại ngập ngừng – không, điểm này nên loại trừ. Ở đây không có thực phẩm. Không một ai có thể sống ở đây mà không có quan hệ với người gác đèn bởi vì không có dự trữ thực phẩm.
-        Thế nếu như kẻ đỏ có quan hệ với người gác đèn? – Mellow đưa mắt hỏi:
-        Khi đó người gác đèn sẽ biết rằng kẻ ẩn náu đó là tên giết Gordon.
-        Chính thế! – Carroline vui vẻ nói – Em đã nghĩ như vậy.
-        Để xem – Alex nói – Tôi cho rằng chưa hẳn đã vậy.
-        Sao lại chưa hẳn như vậy? – Mellow gặng hỏi lại.
-        Mỗi giả thuyết đều là có thể cho đến khi đủ một trăm phần trăm cơ sở để bác bỏ.
Một giờ sau, khi anh đã nằm trên giường rồi nhưng vẫn lẩm bẩm nhắc lại câu nói này. Anh không thể ngủ được.
Trong dãy nhà này đang có một người chết và bảy người sống. Một sự im lặng đáng sợ trùm lên, thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi tiếng sóng đập vào bờ biển. Ý nghĩ của anh cũng chạy đuổi nhau như những đợt sóng và nó cũng bị tan vỡ ra khi đập vào giới hạn của vấn đề không thể có được. Nếu như….
Bỗng nhiên anh nằm im nín thở. Có lẽ bằng bản năng chứ không phải là do thính giác anh phát hiện ra một tiếng động rất khẽ ngoài cửa. Anh đưa mắt nhìn. Nắm đấm cửa sẽ chuyển động không một tiếng kêu. Cánh cửa từ từ hé ra. Một bàn tay phụ nữ hiện ra trên khung cửa. Sau đó anh nhận ra dáng người Carroline mặc bộ áo ngủ màu xanh nhạt.
Cô khép cửa lại và đưa tay lên công tắc đèn. Anh nghe cô đang nhón chân đi lại giường.
-        Em sợ phải ngủ một mình – cô thì thào và đặt mình xuống nằm bên cạnh anh – em không nhắm nổi mắt suốt đêm mất. Vì vậy em phải sang đây. Nhưng làm thế nào em dậy được trước khi trời sáng? Em không muốn mọi người thấy em ngủ ở phòng anh.
-          Anh sẽ đánh thức em dậy. - Alex thầm thì.
0
Chương XV
ANH PHẢI TÌM RA BÀ ẤY
 
Joe thức giấc mấy lần trong đêm vì có những đợt gió mới. Đến gần sáng mọi thứ đều lặng đi và khi anh mở mắt đã nhìn thấy ánh sáng mờ nhạt của buổi bình minh. Bên ngoài tiếng sóng biển dịu đi thành tiếng ầm ào dễ chịu.
Anh khẽ lay Caroline và cô vùng ngay dậy. Anh vội giơ ngón tay lên miệng làm hiệu im lặng. Tuy ngái ngủ nhưng cô gật đầu hiểu mình đang ở đâu. Alex ghé mồm vào sát tai cô nói thầm:
-        Nếu có thể được, anh muốn chúng ta cùng đi ra ngoài khoảng mười lăm phút. Mọi người chắc vẫn còn ngủ. Chúng ta sẽ viết giấy để lại trong phòng ăn để họ khỏi lo.
-        Chúng ta định đi đâu?
-        Vào hang. Em chuẩn bị bữa sáng đi. Anh sẽ ra gặp cậu gác đèn trao đổi một chút rồi quay lại.
-        Vâng, thưa xếp.
Cô ngáp, lấy tay che mồm nhưng ngay lập tức nhảy xuống sàn nhón chân đi ra khỏi phòng. Alex cầm khăn mặt, bàn chải đánh răng và xà phòng đi ra phòng tắm. Anh không muốn đánh thức ai dậy. Nếu anh và Caroline đi ra ngoài không bị ai để ý thì họ sẽ hoàn toàn tự do trong vòng hai đến ba tiếng đồng hồ. Joe còn muốn không ai biết họ đi đâu.
Anh mặc quần áo và đi ra phía cửa ngoài. Cửa được đóng bằng chìa khóa phía trong. Anh vặn khóa và đẩy cửa bước ra.
Mặt trời chưa mọc, nhưng trời ấm áp, ấm hơn cả những buổi trưa hè ở nước Anh. Joe hít một hơi dài. Anh ngạc nhiên là tại sao mọi người lại không tìm đến những nơi trên trái đất không có mùa thu và mùa đông để ở. Anh đưa mắt nhìn sang phía nhà đèn. Trời đã sáng và…
Anh giơ tay dui mắt đợi một chút. Không, đây không phải là ảo giác. Luồng ánh sáng đèn biển tuy có mờ hơn nhưng vẫn chiếu sáng và quay đều trong cái vỏ chụp của nó. Anh ta quên tắt đèn à? Chắc là như vậy. Anh ta cũng hoảng sợ như những người khác thôi. Án mạng bao giờ cũng là án mạng và nó tác động xấu đến tất cả mọi người xung quanh. Eleflorios Smytrakis cũng không thể khác được,
Joe tiến lại gần cánh cửa gỗ nặng nề và mở mà không cần gõ cửa. Trong nhà đèn vẫn sáng. Không thấy Smytrakis đâu. Máy điện tín không làm việc, băng giấy từ trên bàn rủ xuống đất. Alex bước lại cạnh bàn và bây giờ mới trông thấy chân người nằm trên sàn.
Eleflorios Smytrakis đã chết. Alex quỳ xuống, anh cố gắng không đụng chạm đến cái gì. Gáy người chết gần như bị đập nát nhiều chỗ. Tay phải của người chết vẫn còn cầm chặt bút. Anh ta đã bị tấn công bất ngờ từ phía sau, khi đang ngồi sau bàn làm việc.
Joe đứng dậy. Trên bàn, quyển sổ to vẫn mở, trong đó có nhiều cột, cột đầu tiên chắc để ghi giờ nhận hoặc phát tín hiệu. Dòng cuối cùng là “2.55” rồi không còn ghi gì nữa.
-        Hai giờ năm mươi lăm – Joe lẩm bẩm. Anh nhìn đồng hồ. Đã bốn giờ năm phút. Như vậy là một giờ mười phút đã trôi qua – Mình ngủ khi ở đây có kẻ giết người. Mình đã ngủ …. – anh lắc mạnh đầu – Làm sao mình để như thế nhỉ? Thật là vô lý, vô lý hết mức.
Anh cúi người xuống bên máy điện tín. Máy đã bị đập vỡ, chính vì vậy mà nó không làm việc. Micro phòng điện đài cũng bị đập nát và vứt vào một góc nhà. Không còn đường nào liên lạc với đất liền được nữa.
Anh nhìn quanh phòng một lần nữa, đi vòng quanh chiếc bàn để tránh xác chết và đỉ ra phía cửa. Bỗng nhiên anh dừng lại. Phía bên trái của xác chết có bảng điện. Anh bước lại nhưng không đọc được chữ Hy lạp. Anh cầm hai cầu dao chính kéo xuống. Anh đi ra ngoài, khóa cửa lại và rút chìa khóa cho vào túi.
Vừa đi anh vừa ngoái lại nhìn lên nóc nhà đèn. Đèn đã tắt, một trong hai cái cầu dao ấy đúng là của cây đèn biển.
Caroline đang đợi trong phòng ăn. Trên bàn đã để hai cốc cà phê, trứng rán và vài lát bánh mì phết bơ.
-        Bánh mì hơi bị cứng – cô thì thào – còn trứng rán làm từ bột trứng. Em sợ gây tiếng động nên chỉ lấy những thứ có sẵn ở ngoài. Trời sáng rồi, họ dậy ngay gây giờ đấy.
-        Có ai đấy đêm qua đã không ngủ - Alex nói và giơ tay cầm lấy một lát bánh mì, nhưng anh lại đặt xuống nghĩ ngợi. Thật đáng thương cho Smytrakis. Anh ta có thể sống đến trăm tuổi. Sao mà vô lý đến như vậy.
Anh tự ép mình uống cà phê và ăn hết các thứ mà Caroline chuẩn bị.
-          Ta đi thôi. Em có dây chứ?
Cô im lặng, chỉ tay vào cuộn dây và hai chiếc đèn pin đặt trên ghế.
Joe xé một tờ giấy trong quyển sổ tay viết: “Chúng tôi đi vào hang núi. Sẽ quay trở lại trước tám giờ - Caroline Beacon và Joe Alex”. Anh đặt tờ giấy giữa bàn.
-        Chúng ta lấy thêm pin dự phòng – Anh đeo cuộn dậy lên và cả hai cùng rón rén đi qua hành lang.
Phía xa, mặt trời đang từ từ nhô lên trên mặt biển.
-          Chúng mình đi đâu? – Caroline hỏi khi đã đi khỏi nhà một quãng khá xa.
-        Anh cũng đang tự hỏi mình câu đó – Joe cười gượng – Anh đang ở trong tình trạng khó khăn: anh phải tìm ra Nữ Thần mê Cung. Bằng bất cứ giá nào anh cũng phải tìm ra bà ấy vì đó là cách duy nhất để khẳng định rằng từ đâu người ta lấy được pho tượng kia.
-        Anh không tin là cái anh chàng người Hy lạp có thể đã giết Robert à?
Joe im lặng nhìn cô một lúc rồi mới nói.
-          Anh không tin. Hơn nữa anh có đủ lý do để tin chắc rằng anh ta không giết người.
Cô miễn cưỡng gật đầu.
-          Vậy chúng ta đi đâu bây giờ?
Alex dừng lại bên vách đá sát bờ biển.
-        Chúng ta sẽ đến chỗ ngày hôm qua chúng ta đã tới – Joe giơ tay gãi đầu – Em có nghĩ rằng cái khối đá trong hang ấy đúng là do con người làm ra không?
-        Em không biết chắc chắn, nhưng em nghĩ rằng rất có thể như vậy. Trong thiên nhiên cũng có thể có những trường hợp như thế và vì vậy con người hay lợi dụng để làm những chỗ cất dấu của cải của mình. Tính toán xác xuất thì trường hợp này là do con người làm ra.
Joe nhìn đồng hồ
-        Chúng ta đi thôi – anh nói một cách cương quyết – Chúng ta có gắng tới đó thật nhanh. Nếu như cái giếng đó không dẫn xuống đâu thì chúng ta phải tìm thêm chỗ khác. Nhưng anh muốn đợi cảnh sát đến rồi mới đi tìm.
Cô đặt tay lên vai anh, nhìn thẳng vào mắt anh hỏi:
-          Có đúng là anh đã biết được gì rồi phải không Joe?
-          Có lẽ vậy – Joe nói – Có nghĩa là anh bết rằng nó phải như vậy chứ không thể nào khác.
Nhưng anh chưa biết rõ quá trình diễn biến. Nếu anh không biết cách chứng minh được những điều mình biết thì tên giết người sẽ cám ơn anh suốt đời. Vì vậy anh phải tìm ra bà ấy. Đi thôi!
Họ buộc dây vào người.
 
0
Đánh máy: Hoatuyen
 
CHƯƠNG III


“ĐẢO KEROS, THƯA BÀ…”


Mãi đến khi ô tô chuyển bánh hòa lẫn vào dòng xe cộ trên đại lộ Edgware, Caroline mới phá tan sự im lặng.
-          Anh Joe này, nhiều lúc anh coi em cứ như đứa trẻ nhỏ ấy, em đảm bảo với anh rằng em đã trưởng thành từ lâu và…
-          Em muốn biết là chúng ta đi đâu chứ gì? - Anh liếc nhìn cô cười rồi lại tập trung nhìn về phía tay lái – Theo em, ở đâu trong Luân đôn có thể biết được vị trí của một hòn đảo nào đấy?
-          Ở đâu à? Em không hiểu… - Caroline nắm lấy cánh tay của anh – Joe, đừng có đùa như thế, nếu không thì em thề là sẽ bịt mắt anh lại và chúng ta cùng đâm vào cái cột điện nào đó trên đường.
-          Ấy đừng! Em sẽ không làm được điều đó đâu vì em còn mơ tới đảo Keros và người đàn bà cầm rắn trong tay. Còn nếu em không biết tìm những hòn đảo mất tích ở đâu thì anh sẽ bảo cho em biết: tìm ở Bộ Hải quân Hoàng gia Anh.
-          Ở bộ Hải quân? Anh ơi, em chỉ quen có vài sĩ quan hải quân, em đánh cược rằng chẳng ai ở bộ này có thể biết Keros nằm ở đâu và chưa từng nghe tới người cổ đại Crêt.
-          Về điều này thì anh không đánh cược, nhưng anh có thể cược rằng Phó Đô đốc Holinshead sẽ nói cho chúng ta tất cả những gì cần biết về hòn đảo của em – anh ngừng lời rồi vừa cười vừa nói thêm – tất nhiên là nếu như nó tồn tại.
-          Thế Phó Đô đốc Holinshead là ai?
-          À, đó là người mê truyện trinh thám và yêu thích nhà văn Joe Alex – anh trả lời một cách khiêm tốn – Chính ông ta nói với anh như vậy.
-          Nhưng… - Caroline không nói tiếp. Cô không tin rằng một vị đô đốc hải quân Anh nào đấy lại có thể biết về Keros hơn là những quyển Atlas và từ điển về thế giới cổ đại. Cô thở dài. Cô mệt mỏi về mười mấy ngày làm việc, thiếu ngủ và thiếu không khí trong lành. Mải cho tới lúc này cô mới nhớ ra rằng từ hai tuần nay cô chưa bước ra khỏi cửa.
Joe khéo léo lách xe giữa luồng xe đông đúc của buổi sáng. Vừa đi anh vừa nghĩ sẽ nói gì về Keros cho Holinshead. Vị Phó đô đốc này quả là người yêu thích truyện trinh thám. Alex biết ông ta trong một bữa tiệc tại nhà người bạn thân. Khi chia tay, Holinshead nói một câu xã giao với những người vừa quen biết. Nếu như tôi có thể giúp được ông điều gì, xin hãy đến gặp tôi ở Bộ hải quân. Joe chưa từng quên điều gì và cũng không quên cả những lời này.
Xe dừng lại trước toà nhà lớn, trụ sở của Bộ Hải quân. Họ đi vào. Khi người sĩ quan thường trực đi khỏi với tờ danh thiếp của Joe Alex, Caroline lại thở dài. Đáng lý ra phải báo cáo trước hết cho giáo sư Lee và cùng ông xác định vị trí của hòn đảo. Nhưng mà thế cũng chả hơn gì. Chỉ một điều duy nhất có ý nghĩa: đảo Keros nằm ở đâu? Liệu nó có tồn tại như Joe đã nhận xét không?
Viên sĩ quan đã quay  lại và đứng trước Alex.
-          Xin mời theo tôi, Đô đốc sẽ tiếp ông.
Caroline do dự nhưng Joe đã kéo cô cùng đi.
Herbert Holinshead chưa phải đã già lắm, thậm chí Caroline còn cho rằng ông rất trẻ. Cô không biết tại sao nhưng cái từ “Đô đốc” làm cô nghĩ ngay tới tóc bạc. Trong khi đó, vị sĩ quan Hải quân này chưa quá năm mươi, dáng người cao lớn và đẹp, trong bộ quân phục ông giống diễn viên hơn là sĩ quan Hải quân thực thụ.
Thế nhưng Holinshead chính là Đô đốc Hải quân, vì vậy ông hơi ngạc nhiên nhìn Caroline. Trong vài giây, trông ông như người bị chóng mặt, lúc này cô gái mới nhận thấy mình vẫn mặc áo sơ mi và quần dài. Có lẽ ít nhất từ một trăm năm mươi năm nay chưa có một phụ nữ trẻ đẹp nào bước qua ngưỡng cửa văn phòng này, và cũng chắc chắn là chưa có người phụ nữ nào mặc quần dài được bước vào đây[1]. Tuy nhiên Đô đốc trấn tĩnh ngay được. Bên cạnh cô gái này là Joe Alex, như vậy mọi sự có thế xảy ra được. Có thể sự đến thăm của họ che đậy một điều bí ẩn rùng rợn gì chăng? Còn công việc của vị trưởng phòng hải đô Bộ Hải quân Anh chẳng lấy làm mơ mộng và thú vị như trước đây ông tưởng khi còn là chàng trai muốn trở thành sĩ quan hải quân. Nếu được tự do nói thật, có lẽ ông thừa nhận ngay là công việc chán lắm. Mùa hè đang tới, ông chờ đón nghỉ hè như chờ cứu nạn.
-          Xin mời, xin mời, mời ông bà ngồi – ông nói hơi do dự, nghiêng đầu chào Caroline.
-          Tôi hi vọng là ông tha lỗi cho sự viếng thăm đường đột này – Alex nói nghiêm túc – nhưng sự việc đối với chúng tôi rất quan trọng. Có lẽ ông là người duy nhất ở Luân đôn này có thể giúp chúng tôi được. Cô Beacon đây là đại diện của Viện khảo cổ, và cứ trông quần áo thì ông thấy đấy, cô ấy tới thẳng đây từ hiện trường làm việc.
Không để ý tới cái nhìn đầy biết ơn từ Caroline, anh nói tiếp:
-          Công việc vô cùng phức tạp giống như giải mật mã vậy. Chúng tôi muốn nói về hòn đảo…
-          Về đảo à… - vị phó đô đốc tươi tỉnh hẳn lên – Tất nhiên nếu như chúng tôi có thể giúp được – ông mỉm cười – Đảo là một chuyên ngành của chúng tôi, một trong số…
-          Vâng – Joe nói – nhưng chúng tôi muốn nhờ ông, thưa Đô đốc, tìm hộ chúng tôi một hòn đảo mà chúng tôi biết là có tồn tại nhưng không biết nó ở đâu và gọi là gì.
-          Chuyện vặt! – Holinshead cười thoải mái – Rất may là ông bà còn biết là nó tồn tại.
-          Ấy, ngay điều này chúng tôi cũng chưa rõ.
Sau những lời đó, Joe tóm tắt cho ông ta nghe câu chuyện. Càng về cuối nét mặt của vị Phó đô đốc càng tập trung. Khi Alex nói xong, ông nói:
-          Câu chuyện này rất thú vị. Tôi biết một người có thể giúp được ông bà. Để tôi hỏi xem anh ta có ở trong khu vực này không – ông nhấc máy điện thoại, không cần quay số và nói: - Đại úy Brown có đấy không? – ông đợi một lúc – Hãy bảo anh ta lại chỗ tôi… Phải, ngay lập tức – Ông đặt máy xuống quay lại nói với Alex – Anh ta sắp tới đây. Đại úy Brown biết rõ vùng phía đông Địa trung hải hơn là những người khác biết vị trí đồ đạc trong nhà mình. Anh ta biết tất cả những hòn đảo nằm trên và dưới mặt nước, hơn nữa cả những hòn đảo đã mất tích và những hòn đang trồi lên phía trên nhưng vẫn còn nằm dưới sóng biển.
Cùng lúc đó có tiếng gõ cửa và đại úy Brown bước vào phòng. Sau khi giới thiệu khách, đô đốc nói rõ mục đích cuộc viếng thăm của khách. Đại úy Brown, theo Caroline, trông có vẻ thủy thủ hơn chỉ huy của mình, người chắc nịch, rám nắng, tóc cắt ngắn. Anh ta bước vào phòng với dáng đi đặc biệt của người thủy thủ. Anh suy nghĩ không lâu.
-          Những tư liệu ông đưa ra khá chính xác, có lẽ đủ để xác định vị trí của hòn đảo này – anh nói và nghiêng người bên tấm bản đồ vùng biển Địa trung hải treo kín cả một bức tường trong phòng đô đốc – Người này bơi theo hướng “sao hàng hải” có nghĩa là từ nam lên bắc, vì đó chính là sao Bắc đẩu. Ông ta đến Bi-dăng-tin, bây giờ là Công-stăng-ti-nô-pôn, như vậy có thể cho rằng ông ta đi từ Ai cập tới. Như ông bà nhận thấy khi đó sao Bắc đẩu hơi lệch về phía trái, tuy nhiên trong sách cổ hàng hải, hướng đi chỉ gọi theo cách tương đối, trong trường hợp này độ sai lệch không lớn lắm…
Đại úy ngừng lời, ngón tay vạch chậm theo con đường biển mà người thủy thủ Perimos đã đi cách đây hàng thế kỉ.
-          Thế… thế liệu ông có tìm thấy trên tuyến này có hòn đảo mà chúng tôi đang tìm không? - Caroline hỏi, cố giữ giọng bình tĩnh.
-          Loại đảo như vậy có ít nhất là vài hòn – Brown nhíu mày – Cả vùng này toàn những đảo đá màu trắng – Brown ngừng lời - Bà có thể cho tôi xem lại lời văn được không?
Anh cầm lên tay bản dịch sang tiếng Anh những lời của Perimos. Anh đọc từ từ và bỗng nhiên đứng thẳng người.
-          Có lẽ tôi đã tìm thấy. Vào thời đó người ta chèo thuyền dưới gió. Nhưng lúc đó thuyền không thể đi được vì cả đoàn thủy thủ đã đi ngủ. Như vậy Perimos muốn bơi từ nam lên bắc nhờ buồm để đến cạnh hòn đảo này phải đi vào dòng hải lưu chảy từ bắc xuống nam. Trong trường hợp khác, ông ta không thể làm được điều này nếu không có người chèo. Chỉ có một chỗ phù hợp với lời văn này. Do cấu tạo của đáy biển, dòng hải lưu này tạo ra dòng chảy quanh đảo và Perimos có thể lái thuyền đi mà không cần chèo, sau đó khi thuận gió ông ta có thể ra khỏi đó – anh ngừng lời và lắc đầu - nhưng ở đây nói có một đền thờ cổ rất lớn phải không ạ? Tôi e rằng ông bà sẽ thất vọng. Nơi đó hoàn toàn trơ trụi, không có cây cối, và điều quan trọng là trước đây không lâu không có chỗ cập bến tự nhiên. Chung quanh đảo là vách đá dựng đứng, lại có những mỏm đá ngầm làm cho biển lúc nào cũng sủi bọt, gầm réo ngay trong những ngày yên tĩnh. Có một sườn núi nghiêng thoai thoải làm thành một mặt phẳng dài rộng khoảng vài trăm thước, nhưng ra phía biển lại có vách gần như dựng đứng. Có lẽ chưa bao giờ có người và súc vật ở đó cả. Giả sử rằng có ai đó ngẫu nhiên lại tới đây thì nếu như không rơi xuống vực thẳm của biển thì cũng sẽ chết đói vì ở đó không có cây cỏ, còn động vật, ngoài chim không có loại nào sống ở đấy cả.
-          Ông nói rằng trước đây không lâu đảo không có bến cập tự nhiên phải không ạ? -  Caroline cúi người xuống bản đồ nhưng mắt vẫn nhìn viên đại úy.
-          Vâng – Brown gật đầu – trước đại chiến thế giới thứ hai, đảo này thuộc Italia. Sau chiến tranh nó được về Hy lạp. Trước đây, người Italia đã đục đá thành một  bến có bậc lên xuống dẫn tới chỗ bằng phẳng trên sườn núi, ở đây họ đặt một trạm quan sát nhỏ để theo dõi sự di chuyển của hạm đội Anh. Trạm có đài phát tin. Gần đây người Hy lạp dùng bến này để đặt trên đảo một cây đèn biển công suất không lớn lắm. Mật độ tàu biển trên Địa trung hải ngày càng tăng nên cần phải đặt đèn biển trên đó mặc dù đảo không nằm trên tuyến đường biển chính. Chính vì vậy nó không có tên trên bản đồ và từ lâu lắm chẳng ai nói tới nó cả. Phía đông của Địa trung hải có rất nhiều đảo đá lớn nhỏ. Một số đảo có bến đổ kín hoặc hở, thời cổ xưa và trung cổ đây là nơi trú ẩn của bọn cướp biển. Còn một điểm nữa là núi đá có rất nhiều hang động. Chúng ta biết về điều này không phải vì chúng có ý nghĩa với hàng hải mà đơn giản là trong trường hợp cần thiết có thể biến chúng thành nơi trú ẩn hoặc điểm tựa – anh giang tay – Có lẽ ông bà cũng hiểu được như vậy chứ?
-          Tất nhiên – Joe gật đầu – nhưng chúng tôi không chú ý đến vấn đề chiến lược lắm.
-          Thế hòn đảo này tên gì? – Caroline hỏi khẽ.
-          À… - Brown khẽ nhún vai – Trên hải đồ chi tiết nhất ông bà cũng nhìn thấy một chấm đen. Đấy để cho thoáng chứ không thì nhiều dấu với chữ quá sẽ làm cho bản đồ khó nhìn, mà những đảo như vậy ở đó có hàng chục cái. Mỗi mỏm đá nhỏ từ dưới nước lên không thể có tên riêng được. Người Ý đã đánh số cho chúng. Nhưng gần đây sau khi tiếp nhận các hòn đảo, người Hy lạp đã trả lại tên cho hàng loạt đảo, thậm chí cả những đảo rất nhỏ. Bản đồ mới của họ có tên những đảo đó. Hòn đảo này đã có bến và đèn biển nên chắc chắn là có người trực thường xuyên mặc dù trông nó chẳng có vẻ mến khách. Chắc là nó sẽ có một cái tên, một cái tên truyền thống do những người đánh cá đặt ra. Họ đặt tên cho các điểm mốc. Nếu như ông bà muốn tôi có thể tìm ở chỗ tôi…
-          Chúng tôi vô cùng biết ơn – Caroline nói và cười với vẻ hào hứng của đứa trẻ khiến Joe phải vội nói để dẹp bớt sự vui mừng thái quá của cô.
-          Tất nhiên sau khi nghe những điều ông nói, khả năng xác định hòn đảo của chúng tôi nhỏ lại đi. Khó có thể cho rằng những người dân trên biển như người Crêt lại đặt đền thờ nữ thần của họ tại một nơi không thuyền nào tới được. Nhưng dù sao thì chúng tôi vẫn muốn kiểm tra ở mức độ có thể.
-          Vâng tất nhiên rồi – Đại úy quay lại thượng cấp của mình – Xin đô đốc cho phép tôi được đi kiểm tra lại ở chỗ của tôi.
-          Tất nhiên, xin mời.
Brown đứng nghiêm chào và bước ra khỏi phòng, khép cửa một cách nhẹ nhàng.
-          Tôi rất tiếc là phải làm cho bà thất vọng – đô đốc nói với Caroline – nhưng tôi nghĩ rằng cái tên cổ Keros có lẽ đã không tồn tại từ lâu và…
Có tiếng chuông điện thoại. Vị đô đốc nhấc máy.
-          Holinshead đây… phải… Tôi nghe đây, đại úy… Cái gì? À phải, tôi hiểu… Rất cám ơn.
Ông đặt máy và quay lại phía Alex.
-          Vâng – ông nói – Người Hy lạp quả đặt tên cho hòn đảo này năm năm trước đây theo cách gọi của dân đánh cá. Tên của nó là KEROS.
-          Keros? – Caroline lắc đầu như muốn tỉnh dậy khỏi cơn mơ – Thật thế ư? Keros?
Vị đô đốc giang hai tay.
-          Tôi hy vọng cái tên này sẽ thích hợp với bà hơn tất cả những tên nào khác mà người ta có thể nghĩ ra, có phải không?
Và ông cười rất thoải mái.





[1] Ở châu Âu, khi tới những nơi trang trọng, người phụ nữ thường mặc váy
[/align][/align]
0

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvn1nmnnn31n343tq83a3q3m3237nvn

Truyện đã đưa vào thư viện

Thành thật cảm ơn các hiệp sĩ và HuyTran luôn vui

Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-03-02 21:24:16Ct.Ly>
Chương 7

Tuusacqui nhận đánh


Chương VII

“CHÚNG TÔI ĐÃ SẴN SÀNG, THƯA GIÁO SƯ…”

Trong phòng đợi của khách sạn Hilton mới xây treen đại lộ Vasileos Constantimon, Alex nhận được thư tay để lại của Carroline.
“Anh yêu quí,
Chúng em đã tới nơi nhưng lại phải khởi hành ngay vì Viện ở đây thuê được một chiếc tầu, ba giờ nữa sẽ nhổ neo. Em còn phải lo một đống tướng hòm xiểng và hành lý cả đoàn. Thư này, John Mellow nhận chuyển giúp tới khách sạn Hilton cho anh vì cậu ta có việc phải vào thành phố bằng xe taxi. Khoảng trưa mai bọn em sẽ tới Keros. Vô ! Cùng ! Sung ! Sướng ! Là ! Anh ! Sẽ ! Đến ! Với ! Em !
Em biết là anh sẽ nghĩ ra điều gì hay mà, vì vậy em càng nóng lòng mong anh. Em đợi.
                                                                                                     Carroline”
Joe đọc lá thư hai lần, sau đó để lên bàn thường trực một tờ xanh*
-        Tôi rất mệt – Anh nói với ngời thường trực có nước da rám nawngsvaf tóc màu bạc – Tôi phải ngủ một giấc, nhưng sáng mai tôi muốn tới một hỏn đảo nhở trên biển Ê giê.
Người thường trực cầm lấy tiền đút vào túi áo trong của mình và cúi đầu cảm ơn.
-          Hòn đảo ấy tên là ôgì, thưa ông?
-          Keros – Joe nói.
Người thường trực nhấc ống nghe, quay số và nói gì đó rất nhanh cho người ở đầu dây bên kia, sau đó anh ta ngừng bặt, đứng im như pho tượng bên máy. Rồi anh ta nói lại gì đó và lấy tay che ống nói, bàn tay anh ta trông giống như tay của nghệ sĩ dương cầm. Anh ta quay sang nói với  Alex:
-        Thưa ông, ở đây không có tầu biển nào tới Keros. Họ phải tìm kiếm trên bản đồ mà chưa thấy. Ông có chắc đảo đó tên Keros không?
-        Phải – Joe nói – Tôi không biết là có tào nào thường xuyên tới Keros cả. Đó là một hòn đảo không người…..
-        Tôi hiểu, thưa ông – Người thường trực lại cầm ống nghe và nói với tốc độ khủng khiếp. Sau đó anh ta nghe một lúc và nhìn Alex.
-        Nếu như ông rất muốn tới đó thì có thể làm được. Nhưng đáng tiếc là bây giờ trời đã tối, thưa ông.
Joe là động tác như định cho tay vào túi nhưng lại bỏ xuống:
-        Tôi rất biết ơn nếu như có thể giải quyết được việc này.
Lại  một cuộc nói chuyện với đầu dây bên kia. Sau đó máy được đặt xuống.
-        Vâng, thưa ông, tôi đã biết được ít nhiều về Keros. Cứ hai tuần lại có một chuyến tầu tới đó để mang đồ tiếp tế chi người coi đèn biển. Tuần sau chiếc tầu này sẽ đi từ đây đến đó…
Joe lắc đầu không chấp nhận.
-        Hoặc có thể thuê một chiếc thuyền ở Athen và đi tới đó vào chiều mai nếu như biển không động.
-        Liệu có cách thứ ba nào không?
-        Dạ có, nhưng hơi tốn kém. Sáng mai sẽ có máy bay bay tới Creet. Tới đó ông có thể thuê trực thăng. Nếu ông muốn tôi có thể đặt trước ngay bây giờ. Khách du lịch bây giờ thích du ngoạn trên không. Sau khoảng ba tiếng kể từ khi ông rời Athen ông sẽ có mặt ở Keros.
-        Tuyệt. Tôi sẽ đi như vậy. Cám ơn.
Joe đặt thêm một tờ xanh lên bàn vui vẻ đi về phía thang máy, vừa đi vừa vung vẩy chìa khóa.
Anh ngủ thiếp đi ngay, khi tỉnh dậy hoàn toàn sảng khoái. Bên ngoài, trời đã hửng sáng, ánh nắng chiếu hồng các dãy núi đá trắng phía sau đền Pac tê nông.
Mọi chuyện diễn ra đúng như lời người thường trực khách sạn Hilton. Giờ đây anh đang ngôi trên buồng lái của chiêc trực thăng nhỏ, cạnh người phi công. Dưới kia một mầu xanh xẫm đang kéo dài tới chân trời.
-        Mười phút nữa chúng ta sẽ tới nới – người phi cống nói tiếng Anh nhát gừng – Tôi chưa tới đó bao giờ, nhưng tôi đã liên lạc bằng vô tuyến điện với người coi đèn biển. Ông ta nói là đảo khá bằng phẳng, máy bay có thể hạ cánh dễ dàng – Anh ta ngẩng đầu nhìn trời rồi nói tiếp – Tôi muốn trở về ngay vì hiện đang có gió mạnh từ châu Phi thổi tới. Trời vẫn trong, nhưng gió sẽ thổi có thể làm lật máy bay. Trực thăng không thể chạy thoát được nhanh như máy bay phản lực. Ồ, chúng ta đã tới nơi. Ông thấy không?
Joe nhô người ra phía trước nhìn xuống qua vòm kính của mũi chiếc trực thăng. Lúc đầu anh chưa nhìn thấy gì cả. Mãi sau anh mới nhìn thấy một mỏm đá nhỏ nhô lên khỏi mặt nước, xung quanh một viền trắng do sóng đánh vào chân đảo tạo nên. Máy bay nhẹ nhàng hạ độ cao, lướt qua mỏm núi, từ từ bay xuống sườn núi bằng phẳng. Phía bên kia giáp biển là vách đá thẳng đứng không đường lên.
Người phi công cho máy bay trực thăng dừng ở trên không để nhìn kỹ nơi hạ cánh, Alex trông thấy một dẫy nhà thấp, lợp tôn sóng nép mình bên chân núi. Trong nhà mọi người đang lần lượt chạy ra, bóng họ đổ dài trên mặt đất.
Máy bay lại vòng ra biển và ngay lúc này Joe nhìn thấy chiếc thuyền buồm nhỏ mầu xanh thẫm nằm ần giữa những vách đá. Vợ chồng Gorlon cũng đã tới nơi. Anh nghĩ thoáng qua nhưng rồi tập trung ngay vào những người đang đứng trước nhà. Máy bay lại bay vào phía bãi phẳng bên chân núi và từ từ hạ xuống theo phương thẳng đứng.
-        May mà không có gió – Joe nói – Người phi công lặng lẽ gật đầu, Alex ngồi nhổm người, anh đã trông thấy Carroline. Không biết anh nhận ra cô bằng cách nào vì vẫn còn khá xa chưa trông thấy rõ mặt từng người. Tuy nhiên anh đã nhận ra cô ngay. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy, tám. Có tám người cả thẩy, thừa một người so với nhóm.
Động cơ đã tắt, chỉ có cánh quạt vẫn còn quay nhanh gây ra tiếng gió. Máy bay hạ xuống không được êm lắm, bị lắc mạnh. Joe bị xô lên phía trước rồi ngã ngồi xuống ghế.
-          Xong – người phi công nói – Cảm ơn ông.
-        Tôi cảm ơn anh mới phải – Joe bắt tay anh ta và nhẩy ra khỏi máy bay. Carroline đã chạy tới ngay khi bánh máy bay vừa chạm đất. Họ nắm lấy tay nhau.
Joe giơ tay đỡ lấy chiếc vali do người phi công đưa xuống. Anh giơ tay lên vẫy.
-        Chào tạm biệt, chúc lên đường may mắn – Anh gọi to – Hy vọng rằng chúng ta còn gặp nhau.
Người phi công gật đầu cười. Động cơ lại vang lên và máy bay bốc lên cao. Họ đứng nhìn theo hồi lâu cho đến khi máy bay chỉ còn là một chấm nhỏ bay về phía bức. Rồi họ đi về phía dãy nhà.
Bắt tay mọi người Joe nhận thấy họ đã thay đổi khá nhiều. Nước da họ đều rám nắng tưởng như họ đã ở đây vài tuần rồi. Ngay cả giáo sư cũng mặc sooc và áo sơ mi cộc tay, không như Carroline đã viết cho anh. Trông ông giống một viên sĩ quan thực dân hơn là một nhà khoa học. Cuộc hành trình vài ngày trên biển đã xóa đi màu trắng bệch của nước da/
-        Đây là chủ nhà của bọn em. Carroline chỉ tay về phía người trẻ tuổi, da nâu, cô hơi do dự rồi đánh vần từng tiếng Ê lê pjow tơ ri ốt Sơ mi tờ ra kít (Eleflotios Smytrakis), người trông đèn biển trên đảo Keros. Rất may ấy lại biết tiếng Anh. Anh ấy đã kể với chúng em là những lúc rỗi đã đi thăm thú một số hang động nhưng chẳng tìm thấy gì.
Joe bắt tay. Người thợ trẻ nói tiếng Anh khá sõi.
-          Rất hân hạnh được làm quen với anh.
Alex quay lại giáo sư Lee.
-        Rất cám ơn nhã ý của giáo sư đã cho phép tôi tới đây. Nhưng e rằng tôi là người thừa và chẳng được việc gì.
-        Ồ đừng lo – giáo sư Lee mỉm cười – Chúng tôi không để anh ngồi không đâu. Sáng nay chúng tôi mới tới đây nhưng đã kịp nhận thấy có một số vấn đề tương đối khó giải quyết. Đảo đá này không dễ gì chinh phục được đâu. Anh thấy đấy- ông giơ tay chỉ lên phía núi – Một số cửa hang nằm ngay trên vách đá dựng đứn, còn chúng tôi lại không có phương tiện leo núi, hơn nữa ở đây chả có ai biết leo núi cả. Mọi chỗ đều phải tìm cách tới, kể cả những chỗ khó khăn nhất, mặc dù thực sự mà nói ở đó khó có thể là nơi cúng nữ thầ được. Cần phải chú ý là trải qua hàng nghìn năm sườn núi có thể bị biến dạng. Có thể con đường dẫn tới đền thờ đã bị nước xâm thực  và bào mòn không còn dấu vết. Mỗi một người khỏe mạnh và tháo vát ở đây quí như vàng. Ngoài ra, anh còn có khả năng phán đoán sự việc không chỉ trong lĩnh vực trinh thám, có phải không? Chúng ta phải tính toán một chút. Nhưng thôi, các cô gái hìn như đã hứa cho chúng ta ăn cái gì đấy. Bọn tôi vừa ngồi xuống bàn ăn thì nghe tiếng trực thăng. Nào ta đi thôi – ông nắm lấy tay Alex và dẫn anh về phía dãy nhà một tầng.
Ngôi nhà họ vừa bước vào là một trong số hàng nghìn trại lính dã chiến trong thời kỳ chiến tranh. Nhà thấp, dài, nép mình bên vách đá, chác là để tránh gió nhưng cũng để tránh sự quan sát của máy bay và tầu chiến của kẻ địch. Một hành lang ở giữa chia ngôi nhà làm hai ohaanf, có  các căn buồng nhỏ để ở. Phía cuối hành lang là buồng lơn hơn hình như là nhà ăn và câu lạc bộ của lính. Trong phòng có hai bàn ăn lớn và một loạt ghế băng. Đi dọc theo hành lang, Joe nhận thấy đoàn khảo cổ đã bố trí xong nơi ăn ở. Có bàn tay nào đấy đã dùng bút mầu kẻ tên từng người ghim lên cửa mỗi phòng. Nhìn thấy tên JOE ALEX anh dừng lại.
-        Nếu anh muốn rửa tay thì đế buồng tắm ngay cạnh cửa ra vào ấy – giáo sư nói – Anh hãy để vali vào phòng rồi lại chỗ chúng tôi.
Carroline từ phía cửa nhà ăn quay trở lại.
-        Anh được một căn phòng đẹp nhất – cô nói thầm – có hai cửa sổ trông ra biển – cô khẽ nắm tay anh và quay đi. Joe đẩy cửa bươc vào phòng.
Căn phòng rộng hơn anh tưởng nếu nhìn từ phía ngoài. Một chiếc giường đóng bằng ván ép có trải một chiếc đệm mút còn mới. Trên giường có hai chăn len dầy, bộ khăn trải giường tương phản với mầu xỉn của tường và sàn nhà. Trong phòng có một chiếc tủ cũng đóng bằng ván ghép. Joe mở tử và mỉm cưởi. Trong tủ có ghim một mảnh giấy với dòng chữ: “Chào anh yêu quí”, phía dưới có vẽ một trái tim nhỏ mầu đỏ.
Anh gỡ tờ giấy, cẩn thận gấp làm tư cất vào vị trí. Ở Luân đôn anh có riêng một ngăn kéo chứa đầy những kỷ niệm loại này. Anh thu thập tất cả mặc dù anh không phải loại người dễ xúc cảm, nhưng quả thực Carroline chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt trong đời anh.
Anh bước lại phía cửa sổ. Trước mặt anh là một sân cỏ bằng phẳng chạy dài vài trăm bước chân, sao đó đất dường như tụt xuống và phía xa là biển màu xẫm đang gợn sóng lăn tăn.
Anh quay lại, ngẩng đầu lên. Trên trầng lơ lửng một ngọn đèn điện bằng một đoạn dây chạy ra phia công tắc ở cạnh cửa. Ở đây có điện? Anh hơi ngạc nhiên nhưng chọt nghĩ ra ở đây có máy phát điện dùng cho cây đèn biển. Nhưng cây đèn ở đâu anh chưa rõ, lúc ở trên máy bay anh không nhìn thấy.
Không quan tâm nhiều đến điều này nữa, anh bật đèn, lấy xà phòng và khăn mặt đi về phía buồng tắm. Dọc hành lang trên các cửa đều có đề teenL Mary Sander…, giáo sư Lee…, Honh Mellow…, Robert và Pamela Gordon…, Mr Eleflorios Smytrakis. Phòng phía trái ngay cạnh lối vào đề tên: Simon Carathera, phía phải đề: buông tắm.
Buồng tắm kiểu đơn giản, có một rãnh dài chạy dưới chân tường thông ra ngoài. Cạnh tường có một hàng xô đầy nước. Trên tường có dán tờ giấy với dòng chữ bằng tiếng Anh: “Sau khi dùng nước xong, nhớ múc đầy nước trả lại ”. Bên cạnh đó cò một chồng chậu nhựa xanh đỏ, chắc do đoàn khảo cổ mới mang đến. Anh rửa tay và quyết định lần này sẽ không thực hiện lời thỉnh cầu về chuyện múc đầy nước trở lại, sau đó bước về phía nhà ăn.
Anh bước và nhẹ nhàng hầu như không ai để ý thấy anh. Phía cuối bàn Simon Caruthers đang nói với chàng thanh niên Hy lạp.
-          Có thật thế không? Ngay cạnh bờ à? Tuyệt!
-        Thật mà – Smytrakis gật đầu trả lởi, đặt đĩa ăn xuống và giang tay ra – Hôm qua tôi mơi câu được một con cá to bằng ngần này này! Cá thường bơi gần bờ nhưng không phải chỗ sóng vỗ vào vách đá đâu. Cạnh bờ cá con đến kiếm ăn những loài giáp xác nhỏ, có lớn lại tìm đến để ăn cá con. Nhưng phải hết sức chú ý vì ở đó cực kỳ nguy hiểm – anh ta ngừng lại để chọn từ thích hợp  - có thể ngã xuống biển và thế là hết đời. Tôi sẽ chỉ cho anh nơi câu cá. Chỗ đó vách đá dựng đứng nhưng có thể xuống sát dưới chân vách được và có đủ chỗ để đứng câu cá.
-        Sau bữa ăn anh có thể đi với tôi được không? – Caruthers hỏi hy vọng.
Smytrakis nhìn ra cửa sổ rồi nhìn đồng hồ:
-          Tôi không có thời gian đi câu cá với anh đâu. Lát nữa sẽ có gió mạnh, tôi phải trực điện đài. Có thể có tín hiệu cấp cứu SOS. Nhưng phải năm, sáu giờ nữa mới có gió. Sắp sửa có triều xuống, đó là lúc tốt nhất để câu cá vì cá đến gần bờ hơn. Cá thích lúc triều xuống vì lúc đó có nhiều thức ăn dưới nước. Đáng tiếc là tôi phải trực điện đài, cứ cách một giờ lại phải nhận tin và phát tín hiệu một lần. Nếu biển động tôi phải ngồi liên tục canh điện đài suốt ngày đêm. Lúc nào anh ăn xong tôi sẽ chỉ chỗ xuống nơi câu cá.
-          Nhưng tất cả chúng ta sau bữa ăn sẽ đi quan sát núi cơ mà…Carriline nói.
-          Trời ơi….Caruthers thất vọng.
-        Chúng ta có thể cho Simon tự do buổi chiều nay cũng được – giáo sư nháy mắt với Caruthers – Anh ta bị mất kỳ nghỉ hè ở Scotland, vậy thì hôm nay hãy nghỉ đi. Bắt đầu từ ngày mai chúng ta sẽ làm việc. Hôm nay chúng ta đi xem một số hang động có lối vào ít trở ngại – ông quay lại nói với Mellow – Này John, có lẽ chúng ta cần đến đèn pin và một ít dây chão ni-lông, đề phòng trường hợp chỗ leo quá dốc hoặc trơn.
-        Vâng, thưa giáo sư – Mellow đẩy chiếc đã vét sạch và anh đứng dậy – Nhưng nếu tất cả chúng ta đều đi thì ai sẽ chuẩn bị bữa tối?
-        Tất nhiên là Caruthers rồi – Mary Sanders nói to – Anh ta sẽ đãi chúng ta món cá và rượu vang trắng.
-        Nhưng rượu lại không có – Pamela Gordon nói rành mạch – Simon, anh cẩn thận nhé. Tôi đã đi thuyền vòng quanh đảo và tôi thấy rằng có các vàng tôi cũng khong đi xuống mép nước để câu cá đâu. Cứ như là đi trên mép mái nhà ấy.
-        Anh Smytrakis hứa là sẽ đưa tôi đi.
Chàng trai người Hy lạp gật đầu.
-        Chỗ ấy có thể xuống được chị ạ - anh ta nói ****chắc chắn – Mà chẳng nguy hiểm đâu mặc dù nhìn từ trên xuống cũng hơi sợ. Chỉ cần nhẩy hai bước vào chỗ các mỏm đã sau đó là tới một khe dẫn xuống phía dưới.
-        Chúng ta đi thôi – Caruthers đứng dậy – Tôi chỉ mang theo cần câu là đủ, ta đi chứ!
Tất cả mọi người đều đứng dậy.
-          Đèn pin còn để trên thuyền – Mellow nói – Chúng ta đã chuyển các hòm đồ lên chưa?
-        Chưa đâu – Carroline nhìn quanh – Tôi cũng chưa biết để những thứ đó vào đâu. Để ở chỗ này được không ạ, thưa giáo sư? – cô chỉ tay vào một góc của nhà ăn – Sau này nếu cần sẽ sắp xếp lại.
-        Được – giáo sư gật đầu đồng ý – Tạm thời hãy cứ để ở đấy. Các dụng cụ chính xác và tinh vi hãy để lên cái bàn kia. Hơn nữa nếu chẳng tìm thấy cái gì thì một nửa số hòm sẽ không mở ra mà chở thẳng về Luân đôn – ông cười khi nhìn thấy nét mặt của Carroline.
-        Tôi đi chuyển hòm đây – Robert Gordon nói – Tôi cần một người tình nguyện.
-        Tôi đi với anh, Alex nói và di cùng anh ta ra cửa – Từ lúc tới nơi đến giờ tôi vẫn chưa được động chân động tay.
Gordon lặng im đi ra ta khỏi nhà. Ngoài trời thời tiết vẫn bình thường, nắng chói chăng đến nỗi Joe lập tức phải xắn tay áo cho đỡ nóng. Sau đó anh lấy thuốc ra hút nhưng lại để quên diêm trong áo com-lê trong phòng. Anh quay lại.
Caruthers và Smytrakis đang đứng trước nhà kiểm tra cần câu.
-          Anh có diêm không? - Alex hỏi – tôi để quên trong phòng bao diêm của tôi rồi.
-          Đáng tiếc là tôi không hút thuốc – Caruthers cười và quay sang thử trục quận cước.
Smytrakis chho ngay vào túi áo lấy ra bao diêm.
-          Anh cầm lấy mà dùng. Tôi còn bao nữa.
-        Cám ơn – Joe chạy vội theo Gordon, anh ta đang đi dọc theo con đường mòn dẫn từ nhà ra tới bờ biển dựng đứng.
Khi đến gần mép bờ, Gordon không dừng lại mà vẫn bước tiếp rất tự nhiên. Từ phía sau nhìn lại tưởng như anh ta đã nhảy xuống biển. Joe nhìn thấy vai anh ta rồi ầu đang từ từ chìm xuống. Nhưng lúc anh đến mép bờ mới thấy vách đá được dực thành những bậc rộng, thoai thải dẫn xuống một bến nhỏ nơi chiếc thuyền buồm màu da trời đang đậu.
-        Chúng ta phải cảm ơn Mu su li ni đã làm cáo bến này – Gordon nói to, át tiếng sóng vỗ vào vách đá chân đảo – Người Ý đã đục bậc thang trên vách đá này để cải tạo ra cái bến này trồng thời gian chiến tranh với các nước thuộc địa của Anh ở Địa trung hải. Chắc họ cũng nhùn trước rằng thế nào cũng xung đột với nước Anh, cho nên trong suốt thời gian đó họ để ở đây một trung đội, Smytrakis đã kịp kể cho chúng tôi nghe rằng trung đội này đã đầu hàng ngay sau khi quân Italia thua quân đồng minh. Họ đánh điện cho quân đội Anh đưa tàu đến để bắt họ làm tù binh.
Khi đã xuống mép nước, Joe ngắm nhìn con thuyền đậu giữa hai vách đá dựng đứng hai bên, trông nó như một đồ chơi trẻ con.
-          Chỉ có hai anh chi thôi mà dám dùng chiếc thuyền này đi trên biển à? Qua cả la Măng xơ, vịnh Biskey và Địa trung hải?
-        Tất nhiên Gordon cười rất tự tin – Trông nó cứ như một chiếc cano nhỏ ấy nhỉ. Có phải anh cũng nghĩ như thế không? Nhưng anh hãy nhìn kỹ xem, nó được gắn một động cơ cực mạnh, còn độ bền vững của nó thì hơn hẳn tàu “Santa maria” mà Cô-lông đã vượt Đại tây dương. Nó không sợ sóng to đâu. Khi chúng tôi qua Si sit bị sóng dồi rất mạnh, nhưng nó vẫn chẳng làm sao.
Nói xong, anh ta nhảy xuống thuyền. Joe cũng nhảy theo,.Trong khoang có vẻ rộng rãi hơn là nhìn từ ngoài con thuyền. Đồ đạc trong khoang rất sang trọng.
-        Đây là phòng khách và phòng ngủ - Gordon mở tiếp cửa buồng sang bên cạnh – Đây là buồng tắm, tiếp nữa là hai buồng nhỏ ành cho khách, rồi bếp và kho chứa thực phẩm. Sáu người có thể du lịch thoải mái trên cn thuyền này, nhưng thế thì hơi đông và chuyến đi sẽ mất hay vì quá ồn ào. Anh có thấy như thế không?
-        Hoàn toàn đồng ý – Joe gật đầu. Trong lúc đi thăm phía bên trong của chiếc thuyền, anh tự nhủ rằng sắp tới anh sẽ cố gắng làm tất cả những gì để có thể trở thành chủ của một chiếc thuyền tương tự.
-        Ngoài máy ra đa chúng tôi còn có cả một bộ điện đài nhỏ dễ sử dụng. Kia là hòm đồ của đoàn – Gordon đi vào căn buồng nhỏ cuối cùng bê ra hai chiếc hòm nhỏ bằng sắt. Joe lấy một chiếc mang lên mặt boong thuyền.
Mãi lúc này, khi nhìn những vách đá trắng phơi mình dưới anh sáng mặt trời, Joe mới chợt nghĩ tới điều bí mật của hòn đảo. Liệu mọi người có tìm thấy ngôi đên của vị nữ thần kia không? Anh hoàn toàn không tin tưởng chút nào. Nếu ở đây, trong thời gian vài năm đã có mấy chúc chàng lính trẻ tới đóng quân, mà họ lại chẳng có nhiều việc để làm thì chắc họ phải thăm thú hết tất cả những hang động ở các hòn đảo tý hon này. Nếu như trong đó có tượng, bình lọ gốm, đồ thờ, chắc hẳn họ đã lấy ra và hẳn đã có tin gì về những thứ đó. Tuy nhiên có thể con mắt của nhà khảo cổ sẽ tinh tường hơn con mắt của mấy cậu lính trẻ đi lang thang.
Joe bước lên các bậc đá theo sau Gordon. Chân anh ta gầy nhỏ, bước đi có vẻ vất vả. Ấy thế à con người yếu ớt này lại không sợ bơi trên đại dương với một người đàn bà, mà người đó lại không yêu anh ta, như Carroline đã nói, chỉ yêu có tiền thừa kế của anh ta thôi. Gặp anh ta lần đầu không ai có thể nghĩ đó là đứa con nuôi  của giáo sư Lee.
Nhưng rồi anh chợt nghĩ lại. Những việc riêng tư của người khác thì có liên quan gì đến anh? Đó là một nhóm người Anh, họ có học thức và được dạy dỗ cẩn thận. Họ có những nhược điểm của tầng lớp này, cái tầng lớp mà anh biết khá rõ bởi vì chính anh cũng sinh ra từ đấy. Ngay cả trong ý nghĩ, con người cũng không nên xọc mũi vào những chuyện riêng của người khác.
Họ lên đến mặt bằng của đảo và bước về phía nhà nghỉ. Từ xa Joe đã nhìn thấy Smytrakis đang đi một mình.
-        Tôi đưa anh ấy xuống dưới kia – Smytrakis cười nói – Một lát thủy triều xuống và anh ta có thể câu được cái gì đó. Theo tôi, anh ta là người có gan làm tất cả những gì có thể làm được.
-        Phải Gordon – vừa đi vừa nói giọng thương hại – Với nó bao giờ cũng rắc rối nhất là khi nó trông thấy nước mắt mà lại có cần câu trong tay. Cần phải cảnh giác những kẻ đam mê – anh ta kết luận một cách triết lý.
-        Tôi đi đến nhà đèn đây – Smytrakis có lẽ không hiểu ý nghĩa câu nói Gordon. Alex nhìn quanh. Họ đã đến trước cửa tòa nhà. John Mellow và Carroline đang moi những cuộn dây ni lông từ trong bọc ra phơi nắng.
-        Nhà đèn ở đâu? Joe nhì ra xung quan, nhưng không thấy bóng dáng của nhà đèn thông thường.
-        Kia kìa – Smytrakis chỉ tay vào một ngôi nhà nhỏ xây bằng đá đẽo, khó nhận ra vì màu của nó lẫn với màu của vách núi đá. Anh ra cười noi với mọi người, cúi đầu chào rồi bước nhanh về phía nhà đèn. Gordon đặtc chiếc hòm cạnh chân Carroline.
-        Đây, những thứ mà cô muốn đây. Lạy Chúa! – anh lau mồ hôi trán – vào những ngày thế như thế này không nên bắt ai làm việc cả. Trời cứ mỗi lúc một oi bức dù đã quá trưa rồi. Bầu không khí có vẻ khác lạ đây. Hay áp suất khí quyển hạ?
-        Cậu chưa quen đấy thôi – Mellow vừa nói vừa đứng dậy lộn trái cái túi và rũ mạnh – Hãy lấy đèn pin kiểm tra xem nó có sáng không. Anh Joe , anh thay quần áo đi. Bộ quần áo leo núi, em để trong phòng ấy. Anh có mang theo đôi giầy nào khác không? – Cô nhìn đôi giầy của anh lắc đầu – tí nưa chúng ta sẽ khởi hành đấy.
-        Anh có mang – Alex gật đầu với vẻ mặt nghiêm trọng. – Anh còn mang theo cả một số mảnh giấy cổ để khi nào tới hang anh sẽ ném vào đấy. Chúng sẽ là cho em vui thích, thêm phấn khởi tìm kiếm Nữ thần Mê cung.
Anh bước vào phòng, thay quần áo. Lúc ra, mọi người đã sẵn sàng lên đường. Carroline đưa cho anh một chiếc đèn pin to, màu bạc và một cuộn dây ni lông nhỏ mầu xanh.
-        Mỗi nhà khoa học đáng kính đều phải có một nhóm cộng sự chung quanh – Cô nói và quấn cuộn dây vào vai anh. Sau đó cô quay lại giáo sư Hugh Lee và nói – Chúng tôi đã săn sàng, thưa giáo sư.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-03-02 02:34:03Ct.Ly>
Chương 8


Chipmuck đã nhận


CHƯƠNG 8
 
TRẬN GIÓ THỨ NHẤT
 
Giáo sư Lee ngước mắt nhìn vách núi gần như dựng đứng vươn thẳng lên cao, điểm những hốc đen của hang động.
-              Rất may là một số cửa hang có thể tới được không cần phải trèo – Mary Sanders lấy tay che mắt cho khỏi chói, ánh mặt trời buổi chiều đang lấp ló đỉnh núi.
-              Chúng ta chia thành các toán nhỏ  - giáo sư nói – Pamela và Gordon, Caroline và Alex, còn Mary và John đi với tôi. Đừng có ai vào quá sâu nếu như hang bắt đầu đi xuống chỗ nào chưa rõ. Chúng ta chỉ đi thăm thú thôi, đừng có quá ham mê vào sâu. Hãy nhìn và sơ phác cấu tạo của hang, sau đó về chúng ta sẽ trao đổi. Từ ngày mai sẽ tiến hành thăm dò cẩn thận toàn bộ hòn đảo này. Trừ phi – ông nháy mắt với mọi người – Caroline sẽ tìm ra ngay Đền thờ Nữ thần mê cung và mọi việc coi như xong.
Caroline cười, chắp tay như cầu khẩn, ngước mắt lên bầu trời trong xanh không một gợn mây.
-              Nếu như vậy -  Mellow nói  tôi thấy không cần thiết phải đi cùng với giáo sư và Mary. Ba người trong trường hợp này không thấy gì nhiều hơn hai người đâu. Nếu đi một mình tôi nghĩ chúng ta sẽ xem được bốn hang chứ không phải ba.
-              Tôi không thích thế  - Giáo sư Lee nhíu mày – Tôi không thích những cuộc thăm dò đơn độc. Không ai có thể biết cái gì sẽ xảy ra ở đấy.
Ông hất hàm hướng về dãy núi đá trắng.
-              Tôi sẽ hết sức chú ý – Mellow nói rành rọt – Tôi vào chỗ kia kìa – Anh lấy tay chỉ một miệng hang nằm gần sát mặt đất đang đứng, chỉ cách nhà có vài chục bước chân – Chắc chắn là tôi sẽ chỉ tìm thấy dấu vết của bọn người Ý. Chúng nó sống ngay đây, cửa hang lại gần, chắc là chúng phải thường vào đấy.
-              Được – Giáo sư gật đầu nhìn đồng hồ - Bây giờ là ba giờ. Đúng năm giờ mọi người phải có mặt ở phía ngoài. Tập trung cả nhóm tại nhà ăn. Bây giờ tôi phân công toán nào vào đâu – ông chỉ tay – Có hai cửa hơi thấp một chút và một cửa cao hơn ở trên. Đấy tôi nói cái cửa hang ở ngay sát phía biển ấy. Mary và tôi vào chỗ này  - ông chỉ cửa hang thứ nhất – Pamela và Gordon đến chỗ kia, còn Caroline và Alex thì vào cái cửa hang cuối cùng kia. Ngày mai chúng ta sẽ leo lên cao hơn và lần lượt sẽ xem xét toàn bộ các hang trên sườn núi này. Ai còn hỏi gì không?
Không ai hỏi gì nữa. Mặt trời buổi chiều tỏa sức nóng nhiều hơn, gió biển cũng chẳng làm dịu được tí nào. Giáo sư lại nhìn đồng hồ.
-              Vậy thì gặp nhau lúc năm giờ. Chúc lên đường may mắn. Ông đi trước, dáng người cao gầy. Ông đi về phía cửa hang, sau lưng là Mary, hai tay cầm hai đèn pin.
-              Tiến lên, các bạn trẻ  - Mellow vươn đôi vai rộng của mình  - Tôi xin chịu thiệt để các bạn có thể giành thắng lợi  - Anh liếc nhìn Gordon nhưng anh ta không để ý.
-              Tại sao vậy – Caroline hỏi lại.
-              Bởi vì tôi đi một mình, không có ai bảo hiểm cho cả. Nữ thần mê cung chắc là thích loại người như tôi.
-              Thế thì cậu mang dây làm gì? Gordon hỏi – Chẳng có ai giữ cho cậu nếu cậu phải leo xuống cái giếng sâu nào
-              À nếu cần thiết tôi sẽ buộc một đầu dây vào đá. Lúc nào các cậu nghe thấy tiếng gì rơi mạnh thì hãy nhớ đến tôi, tôi nặng những gần một tạ đấy.
Anh cười vang, giơ tay chào rồi bước đi.
Alex và Gordon đi theo Caroline, Pamela đi sau cùng. Họ vừa đi vừa ngắm nhìn một cách chăm chú vách núi đá. Sau khi đi được vài chục bước tất cả dừng lại trước một dốc đá. Trên đầu họ, mặt trời vẫn đang chiếu sáng.
-              Vách đá này trông như miếng pho mát Thụy Sĩ ấy  - Caroline hít một hơi thật dài nói – Giá mà tất cả chúng ta chui được vào trong đó nhỉ.
-              Mê cung đây – Pamela nói nhỏ - Mê cung có thể trông như thế này đây. Một trăm lối vào nhưng chỉ có một lối đi đến đích. Cậu phải lấy làm mừng đấy, Caroline ạ.
-              Chúng ta đi thôi  - Gordon khẽ chạm tay vào Pamela  - Năm phút trôi qua rồi.
-              Phải, chính như vậy  - Cô trèo lên dốc trước tiên. Alex và Caroline đi tiếp một đoạn nữa. Họ đã ra gần sát bờ dốc dựng đứng thẳng xuống biển. Cửa hang mà họ định leo lên cao cách đầu họ gần chục mét nhưng do mưa xói mòn, vách đá nứt nẻ thành ra có những chỗ đặt chân rất tốt để leo lên.
Joe tháo cuộn dây ra khỏi vai và đưa một đầu dây cho Caroline, đầu kia anh buộc quanh người rồi thắt chặt nút lại.
-              Em hãy đợi ở đây cho đến khi nào anh leo vào được hang. Sau đó em hãy buộc dây quanh bụng và …..
-              Nhưng …
-              Như thế sẽ tốt hơn – anh nói bình thản và giơ tay nắm lấy một mỏm đá nhô ra. Sau vài phút anh đã ở trên cao. Ngay trước miệng hang, đá bị vỡ một mảng lớn tạo ra một bậc đứng hẹp. Alex đứng ở đấy nhìn xuống dưới. Anh không trông thấy Caroline đâu, nhưng chợt thấy đầu của cô đã ngay sát chân anh và sau mấy giây cô đã leo lên đứng cạnh anh, tay đang chúi vào chiếc quần vải thô màu đỏ.
-              Tại sao anh lại mạo hiểm một cách không cần thiết như vậy?
-              Thế tại sao anh cũng như vậy? Cô đặt tay lên vai anh, sau đó quay nhìn vào trong hang tối.
Joe thở dài:
-              Đèn pin đâu?
Cô thò tay vào túi quần đằng sau lấy đèn đưa cho anh/
-              Xin chào bà! – Cô bấm đèn – Bà có biết rằng tôi rất mong được tới thăm bà không?
-              Em nói với ai đấy? – Anh vừa cười vừa hỏi vì đã đoán trước được câu trả lời.
-              Tất nhiên là với Nữ thần mê cung.
Cô khom người xuống chui vào sâu bên trong hang.
-              Em chẳng nhìn thấy gì cả - Ngay lập tức giọng cô vang lên – Đèn của em không sáng.
Alex chui nhanh gần như là bò vào khoảng tối mà Caroline vừa mất hút.
Ngoài trời, mặt trời chiếu sáng, anh bị chói mắt nên thoạt đầu không trông thấy cô. Anh bấn lần nữa núm đèn oin và tưởng rằng đèn cũng bị tắt.
-              Chúng ta sẽ chơi trò ú tim chứ? – Caroline hỏi vọng ra. Anh lại bấm đèn và bây giờ mới thấy là mình đang ở lối đi vào một hang khác dài và hẹp dố thoai thoải phía dưới.
Anh im lặng sửa đèn cho Caroline và khi đèn đã sáng, họ cùng tiến vào phía trong cửa hang. Ở đây lạnh hơn họ tưởng. Anh quay lại nhìn ra ngoài cửa hang từ phía trong trông như một ô cửa sổ nhỏ. Ánh sáng ban ngày phản chiếu mờ nhạt trên vách đã ẩm ướt. Anh quay vào trong. Ánh đèn pin của Caroline phái trước đang chiếu dọc theo lòng hang mỗi lúc một sâu vào phía trong. Ở cuối hang là một bức tường đá thẳng đứng, ẩm ướt và có hàng nghìn tia sáng lấp lánh do phản chiếu ánh sáng đèn. Từ trên cao một giọt nước lạnh rơi trúng mặt Alex. Anh rùng mình.
-              Ở đây có chữ khắc trên đá! Caroline bỗng kêu lên và dừng lại. Giọng của cô vang lên và dừng lại. Giọng của cô vang lên trong hang rồi tắt dần đâu đó phía trong. Họ đứng trước bức tường chắn ngang, hang đến đây là hết. Dòng chữ được khắc bằng một dụng cụ nhọn trên vách đá ẩm ướt.
Ama, anz’ardi; che chi muore
Non ha da gire al ciel dal mondo altrale.
-              Tiếng Ý rồi – giọng nói của cô gái tỏ rõ sự thất vọng.
Hãy yêu và hãy đừng yêu, bởi vì chỉ trên đôi cánh đó con người mới có thể bay từ đất lên trời.
-              Đấy là cái gì?
-               Đoạn thơ của Michaelo Angelo (1) – Michaelo Angelo – Danh họa và nhà thơ nổi tiếng của Italia và thế giới thế kỷ XVI
-              Chắc là một trong những chàng lính trẻ khắc lên đây trong thời gian lưu đày trên hòn đảo này lúc chiến tranh – Caroline bước tiếp vài bước, chống tay vào tường đá. Hết, chúng ta có thể quay lại được rồi. Tuy nói vậy nhưng cô vẫn dùng đèn pin soi rất kỹ quanh bức tường đá.
-              Em tìm gì đấy? – Alex hỏi, anh không muốn tham gia vào công việc của cô. Cửa đi bí mật à?
-              Không….- cô hơi do dự - Anh có thấy không, ở đây lúc nào cũng có nước nhỏ xuống chảy dọc theo đáy hang – cô soi đèn xuống dưới đất – Nhưng đây là đá cứng chứ có phải nền cát đâu. Thế thì nước chảy đi đâu mà em không thấy nó đọng lại? Đây là chỗ cuối cùng của hang, nếu không có lối thoát thì chỗ này đã thành một túi nước.
-              Liệu nước có thể bay hơi được không? Joe hỏi vẻ không tin tưởng lắm. Anh chưa bao giờ chú ý đến địa chất và biết quá ít về cấu tạo của đất đá.
-              Không thể được. Ở đây không có nắng cũng  như gió còn nhiệt độ thấp và ổn định bởi vì trong hang sâu sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm không đáng kể. Dù thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải xem xét kỹ để sau này khỏi phải quay lại đây.
Cô quỳ xuống soi đèn sát mặt đất, lần dọc theo bức tường đá.
-              Anh thấy không?  - Sau một lúc xem xét, cô nói – chỗ này nước thấm xuống phía dưới – cô xoa tay trên nền đá phẳng - Ồ, đây có một khe nứt chạy ra đến tận chỗ này! Nhìn này, anh Joe! Trông như có ai đục tảng đá này ra rồi lại đặt vào chỗ cũ!
Alex quỳ xuống cạnh cô.
-              Anh thấy đây hoàn toàn là vết nứt tự nhiên. Trong đời anh đã nhìn thấy hàng nghìn vết như vậy – Lại một giọt nước khác rơi vào cổ anh – Ái chà!
Nhưng Caroline dường như không nghe anh nói. Cô gõ gõ vào đá một lúc, sau đó lùi ra khỏi bức tường đứng dậy.
-              Chúng ta phải thử xem có thể đẩy được tảng đá này ra không – cô nói giọng cương quyết.
-              Hừm…- Alex lắc đầu nghi ngờ - Nó có thể nặng tới vài tạ đấy? chúng ta lại chưa biết chiều dày của nó. Hơn nữa anh thấy đây hoàn toàn là vết nứt bình thường như…
Anh cảm thấy trên vai mình bàn tay nhỏ bé của cô đặt lên nên im lặng không nói tiếp.
-              Ở Ai Cập – cô nói – người ta làm những cửa bí mật bằng một nghệ thuật độc đáo. Đôi khi cửa vào những ngôi mộ hoàn toàn không nhận ra được vì nó được làm giả giống như những vết nứt tự nhiên, những chỗ lồi lõm giống như xung quanh. Tất cả chỉ để giấu lối vào và chỉ có những người thật tin cẩn mới được biết.
Nói xong cô cúi người xuống lấy vai ẩn vào vách đá.
-              Cẩn thận! – Alex ôm ngang lưng cô, kéo lùi lại. Sau đó anh nhanh chóng quỳ xuống chỗ cô vừa đứng lấy vai ấn vách đá như cô đã làm.
-              Anh làm gì thế, Joe?
-              Anh không biết tý gì về cách che giấy lối vào nhưng anh biết rằng những tảng đá kích thước như thế này mà rời ra thì em sẽ không còn dám tin vào…
Anh lấy hết sức ấn tảng đá, lại hít một hơi dài và ấn tiếp. Tảng đá khẽ chuyển động.
-              Trời ơi! – Anh nói giọng vô cùng ngạc nhiên  - nó chuyển động!
-              Chú ý đấy, Joe! – Caroine quỳ xuôgns cạnh anh. Anh cảm thấy hơi thở dồn dập của cô phả trên má mình.
-              Không sao đâu. Em soi đèn vào chỗ này….
Cô để đèn pin lên vai anh, nhìn chăm chú tảng đá đang hơi rung chuyển dưới sức tỳ của vai anh. Joe quay mặt lại lấy cả lưng mình để ấn tảng đá được mạnh hơn. Anh hỏi, giọng như nghẹt lại:
-              Chuyển chưa?
-              Chưa. Anh dừng lại đã, chúng ta phải thử cách khác.
-              Sao? Cách gì?
-              Anh đừng tỳ vào giữa tảng đá mà hãy tỳ vào một bên thôi.
-              Được.
Anh lại cúi người, tỳ vai vào gần sát vết nứt trên bức tường đá và lấy hết sức ấn mạnh. Tảng đá đột nhiên rung lên và thụt sâu vào một cách nhẹ nhàng. Anh vội lấy lại thăng bằng và đứng ngay lên. Họ đứng lặng yên đến một lúc lâu. Trước mặt họ là một lỗ hổng tối đen nơi tảng dá vừa thụt vào nhẹ nhàng như là quay trên bản lề.
Không ai bảo ai họ cũng quỳ xuống, chui vào lỗ hổng vừa rồi.
-              Anh thử… - Caroline nói nhưng Joe đã đặt ngón tay lên miêng cô ra hiệu im lặng.
-              Gì thế? – cô thì thào. Thay cho câu trả lời, anh chỉ tay vào phía trong.
Họ lắng nghe một lúc.
-              Có gì thế? – cô nói khẽ - Động đất à?
Alex im lặng lắc đầu, sau đó anh quay lại nhìn theo hướng họ đã đi vào. Trần hang thấp đã che mất cửa hang. Anh ngẫm nghĩ một lúc. Từ phía trong lỗ hổng có tiếng động đều đều vọng ra như có một con thú khổng lồ nào đó đang lồng lộn tìm đường ra.
-              Phải, anh nghĩ ra rồi! – anh lại lắng nghe một lúc rồi gật đầu- Chúng ta dang ở trong lòng núi nhưng không phải cao hơn mà là thấp hơn so với ngôi nhà ngoài kia. Chắc chắn là nước biển đã đục thành hang ở dưới chân núi, còn lỗ hổng kia là lối dẫn xuống hang. Cái tiếng mà em nghe thấy chính là tiếng sóng vỗ vào bờ truyền tới đây. Nước đã truyền đi tiếng sóng và độ rung của vách đá ngoài bời vào sâu trong lòng núi. Cái hang này có độ cộng hưởng âm thanh cao nên nghe được như vậy. Chúng ta hiện đang ở độ cao khoảng bằng hai tầng nhà trên mặt nước biển. anh đã nhẩm tính như vậy theo độ dốc của hang. Có lẽ chúng ta nên đẩy tảng đá lùi lại một chút nữa.
-              Trước tiên em muốn xem nó được gắn vào đây như thế nào. Anh chiếu đèn cho em đi.
Cô bắt đầu nghiên cứu kỹ bề mặt của tảng đá. Joe ngạc nhiên vì thấy cô lấy kính lúp từ trong túi quần ra soi. Cô xem xét kỹ lưỡng khá lâu, đưa đi đưa lại kính lúp mấy lần trên mép tảng đá.
Em không rõ…- cô nói khẽ  - Nếu như đây là sự thật thì cánh cửa đá này đã trải qua hàng nghìn năm rồi. Trông rõ ở đây chỗ nước chảy bào mòn nền đá. Có thể nó làm trôi được tảng đá, có thể tự tảng đá bị nứt vỡ. Tế mà ở đây nó cứ như được gắn vào vách đã bằng bản lề ấy. Có thể là hiện tượng tự nhiên nhưng cũng có thể… - Bàn tay cầm kính lúp của cô khẽ động vào mặt tảng đá…. – Trên tảng đá này không có dấu vết của của sự đục đẽo. Nhưng những người cổ đại là bậc thầy trong những công việc này, họ có lòng kiên nhẫn vô hạn. Họ có thể lợi dụng vết nứt tự nhien. Nào, chúng ta hãy đẩy nó vào một chút nữa và xem thử bên trong có gì.
Alex quỳ xuống cùng cô đẩy tảng đá. Lỗ hổng rộng ra và ánh sáng đèn chiếu vào bức tường đá thẳng đứng xuống phía dưới. Ngay bên cạnh lỗ hổng là một cái giếng sâu.
-              Kỳ lạ thật! Caroline nói – Tiếng động bây giờ nghe êm hơn. Sao lại thế nhỉ? – Cô cúi nhìn miệng giếng một cách ngờ vực.
Alex nhíu mày, nhưng lập tức anh lại tươi tỉnh.
-              Triều xuống! Anh nghe cậu người Hy Lạp đã nói với Caruthers như vậy. Chắc là triều xuống nên tiếng sóng vỗ có yếu hơn đi. Nhưng chúng ta phải xem đây là cái gì đã.
Cầm đèn pin trong tay, anh chui đầu vào lỗ hổng một cách khó nhọc. Anh soi đèn pin xuống dưới và quan sát.
-              Anh có thấy cái gì ở phía dưới không? – Caroline đứng đằng sau anh chưa đến một bước chân, nhưng bức tường đã cản âm làm cho giọng cô tưởng như từ khoảng cách rất xa.
-              Như giếng ấy! Thành giếng thẳng đứng, nhẵn thín chắc là bị nước mài mòn từ hàng triệu năm rồi. Anh cho là như vậy vì phía dưới có nước. Ánh sáng phản chiếu từ dưới mặt nước lên. Phía trên mặt nước tối lắm, không nhìn thấy thành giếng. Có lẽ phía dưới thành giếng rộng hơn.
-              Anh lùi người lại – Để em tự nhìn xem – Caroline chui đầu vào lỗ hổng, ngắm nhìn một lúc lâu rồi lùi người lại.
-              Em nghĩ rằng không phải ở đây – cô thở dài – Đường này không thể đi đến một đền thờ nào cả. Nhưng nếu như anh buộc dây thả em xuống thì….
Joe nhìn đồng hồ
-              Năm giờ kém năm – anh nói nhanh giọng nhẹ nhõm – Anh cho rằng chúng ta đã ở đây được mười lăm phút. Em kiểm tra lại đồng hồ xem.
-              Vâng – Caroline gật đầu – Chúng ta phải lên thôi. Mọi người đeeuf phải giữ đúng quy định thời gian ở nơi đất lạ. Đi đi anh, nếu không họ sẽ bắt đầu lo lắng về chúng ta mất. Nhưng ngày mai chúng ta sẽ quay lại đây.
Họ chậm rãi leo lên và chẳng máy chốc đã trông thấy cửa hang cùng với một mảng trời xanh. Khi họ cảm thấy luồng không khí bên ngoài thổi vào mặt thì Carline khẽ nắm tay Alex.
-              Sao? – anh dừng lại hỏi.
-              Ồ, em chỉ muốn nói với anh rằng: thật là tuyệt khi có anh ở đây! – cô kiềng chân ôm lấy cổ anh và hôn. Sau đó cô đột ngột buông tay ra nói – Chúng ta đi thôi.
Khi họ đứng trên bậc đá hẹp ở trước cửa hang, Joe ngắm nhìn biển trải dài trước mặt.
-              Thật là im ắng – Caroline vịn tay vào vai anh đứng bên vách đã cheo leo cách mặt biển vài chục mét. Họ sẽ phải tụt xống để quay về ngôi nhà phía dưới với những ô cửa kính đang phản chiếu ánh mặt trời.
Cô muốn nói thêm một điều gì đó, nhưng bỗng nhiên từ trên mặt biển có một tiếng động kỳ lạ nghe như tiếng rít của viên đạn đại bác, Alex vội cúi đầu xuống theo phản xạ.
Một trận lốc nổi lên cuốn theo cả một cột bụi cao vọt trên nóc dãy nhà bay vào sườn núi. Joe, bằng một phản xạ tự nhiên, ôm chặt lấy cô gái ngã lăn vào phía trong hang đá đúng lúc luồng gió cực mạnh đập vào cửa hang cùng với tiếng rít ghê rợn của nó.
Caroline vội vùng người ra khỏi vòng tay anh, cô nắm lấy một mỏm đá nhọn nhô lên ở cửa hang và nhìn ra ngoài.
-              Cái….cái gì đấy?
Ngoài trời hoàn toàn im ắng. Cơn gió hình như biến đi đâu đó ngoài biển cả. Mặt trời vẫn chiếu sáng gay gắt.
-              Nhanh lên – Joe quấn dây quanh cô và thắt nút lại – Em xuống nhanh lên, anh sẽ ở đây giữ đầu dây cho em. Cô không nói, chỉ gật đầu đồng ý. Khi anh ra cửa hang và nhìn xuống thấy cô đã ở dưới chân vách đá, đang bình thản hút thuốc. Trời vẫn hoàn toàn yên tĩnh, những tiếng sóng biển vỗ vào chân núi có vẻ dữ dội hơn mặc dù nước triều xuống đã làm lộ ra những tảng đá lớn xanh xám, chung quanh nước đang sủi bọt trắng xóa.
Anh tụt xuống rất nhanh, đứng cạnh Caroline.
-              Cái gì đã xảy ra thế hả anh? – cô dụi tắt điếu thuốc – Chỉ một tí nữa là chúng ta bị thổi bay khỏi nơi kia – cô chỉ tay lên miệng hang.
-              Anh cho rằng đó chính là loại gió mà cậu người Hy Lạp đã nói. May mà nó đã biến đi. Đi thôi, anh không muốn gặp lại nó trên chỗ trống này lần nữa.
Họ chạy vội về phía dãy nhà.
0
Hiệu đính
 
Chương II
“Ở NƠI ĐÓ VÔ SINH, VÔ TỬ…”
            Khi anh bấm chuông, Carroline mở cửa ngay tức khắc. Cách đây không lâu cô đã cắt bỏ cái “đuôi ngựa” trên đầu, hôm nay cô mặc chiếc quần chẽn mầu đen, áo sơ mi trắng. Cô giống như một cậu bé mảnh dẻ và rám nắng.
-          Chào cậu bé – Joe vuốt bàn tay trên mái tóc cắt ngắn của cô rồi vòng tay ôm lấy cô nhìn một cách chăm chú. Đôi mắt của Carroline vẫn sáng và ánh lên dường như cô mới dậy sau một đêm ngon giấc.
-          Trông em cứ như là chẳng mất ngủ tí nào cả - Anh hôn cô và mỉm cười – Lạy chúa, Đức Chúa duy nhất của con ơi, cái gì sẽ xẩy ra với khoa học nếu tất cả các nhà nghiên cứu đều giống như em.
-          Em không hiểu anh nghĩ gì – cô nói một cách nghiêm nghị, nhưng sau một giây lại mỉm cười – Joe, em van anh, hãy ngừng tán dóc một lúc để nghe em nào! Anh phải nghe, tuyệt đối phải nghe toàn bộ câu chuyện. Em không thể nghĩ về cái gì khác được… -Cô gỡ khỏi vòng tay anh đứng ở giữa phòng, hai tay chống vào eo lưng mảnh dẻ, giống con trai của mình – Anh có thể tin em hay không thì tùy, nhưng nếu như những gì em nghĩ về những dòng chữ trên mảnh giấy là sự thật thì cô Caroline Beacon sẽ viết thêm một vài dòng có ý nghĩa vào lịch sử của nền văn minh chúng ta.
Alex gật đầu vẻ hiểu biết.
-          Sếch xpia đã viết rằng nên nói tốt về mình bởi vì những người khác chẳng bao giờ làm điều này được bằng ta. Tuy nhiên từ trước đến nay anh vẫn nghĩ em là người khiêm tốn và …..
-          Bởi vì em khiêm tốn! - Carroline nói dài giọng. - Em rất khiêm tốn và rất đói. Cô Beacon xin mời vào phòng ăn
Cô khẽ nghiêng người vòng tay một cách duyên dáng, ngón tay gần như chạm sàn nhà giống như nhà quí tộc đang ngả mũ chào. Sau đó cô biến ngay vào bếp. Alex đứng im lặng một lúc, mỉm cười nhìn theo cánh cửa bếp vừa khép lại sau cô. Anh chậm rãi bước vào phòng ăn, ngồi xuống bàn đã dọn sẵn và nhắm mắt lại. Ở đây ấm áp và yên lặng. Đâu đấy có tiếng radio.
Cánh cửa cọt kẹt mở, Carroline hai tay bê chiếc khay trên có hai ly cà phê đang bốc khói.
-          Em pha cà phê rất đặc, rất đặc đấy – cô nói và đặt khay lên bàn – mặc dù em biết rằng anh thích nước chè hơn. Nhưng mà em muốn để anh nghe kỹ hơn, và không nhất thiết phải là Joe Alex mới đoán được rằng ai làm việc cả đêm sẽ ngủ quên ngay lặp tức nếu để cho người đó một mình trong một phút. Sau khi nghe xong câu chuyện em kể, anh sẽ tự nhận thấy câu chuyện quả thật là kinh ngạc.
Joe gật đầu và cố nén cái ngáp và nhắm mắt lại. Sau đó anh cố mở mắt ra và mỉm cười.
Đây nhất định sẽ là một trong những buổi sáng thú vị nhất đời anh.
-          Anh cứ cười đi, hãy cười không thương xót con người yếu ớt này đi, người mà tí nữa sẽ chăm cho anh ăn hết lòng. Nội dung mảnh giấy của em có thể sẽ thú vị gấp trăm lần so với nội dung của năm nhà xác chất đầy tận nóc những thây ma hạng bét của anh. Đấy là em chưa kể tới những kẻ kế thừa đần độn và sốt ruột mà sau này anh phải khám phá một cách vất vả như báo chí đã viết, mặc dù cái việc này chẳng đòi hỏi tý sức lực nào bởi vì thông thường người nọ giết người kia vì những lý do đơn giản thì chỉ cần nghĩ một lúc là…..
-          Anh hiểu – Joe gật đầu – Em muốn nói rằng anh là thằng ngốc và anh được nổi tiếng một chút trong các độc giả người Anh chẳng qua là vì kẻ sát nhân mà anh giúp thám tử Parker bắt được còn ngu hơn cả anh có phải không.
-          Không phải như vậy! Em chỉ muốn giải thích là nhà khảo cổ giỏi phải là nhà thám tử giỏi! Tất nhiên nhà khảo cổ giỏi không chỉ là thám tử mà còn là…
-          Là đầu bếp – Joe gật đầu tán thưởng – Anh nhìn thấy cà phê rồi. Thế anh được thêm gì nữa để nghe những điều hay ho mà cô Beacon sẽ nói về cô Beacon?
-          Tất cả những gì anh muốn, sau một giây nữa, nhưng hãy để em nói nốt đã.
-        Anh đang nghe đây – Alex đứng dậy, bước lại gần cô, nhấc bổng cô lên và đung đưa nhẹ nhàng trên không dường như cô chỉ là con búp bê lớn. Anh hôn cô rồi đặt cô xuống – Có lẽ có gì thú vị thật đây. Anh chưa bao giờ thấy em trong trạng thái này.
-          Bởi vì chưa bao giờ… À thôi, anh hãy đợi đã. Trước hết là ăn sáng. Mẹ em luôn nói rằng người đàn ông đang đói thì như thú dữ ấy, muốn dụ nó chỉ có thể bằng đĩa thức ăn đầy.
-          Hãy chuyển đến mẹ em lời chào kính trọng nhất của anh.
Sau bữa sáng, họ ngồi cạnh nhau trong phòng khách nhỏ sáng sủa, cũng đồng thời là phòng ngủ và phòng làm việc của Caroline. Cô nhấc tấm vải trắng đang phủ lên một vật nằm trên cái bàn giấy xinh xắn của cô. Thoạt đầu Alex ngỡ đó là bức tranh dài, khổ nhỏ, nhưng khi Caroline nghiêng nó về phía anh và đưa sát vào mắt thì anh nhận thấy đó là một mảnh giấy màu nâu đã nát, được đặt giữa hai lớp kính, chung quanh dán băng dính như một cái khung vậy.
-          Hãy nhìn kỹ vật này, Joe. Chỉ xin anh thật cẩn thận.
Alex im lặng xem xét mảnh giấy. Trên mảnh giấy là nhưng hàng chữ Hy lạp đều đặn, đẹp và đã mờ, đôi chỗ hoàn toàn không đọc được. Phía dưới có một hình vẽ. Đó là hình một phụ nữ đứng, mặc váy dài phủ kín bàn chân. Hai tay giang rộng và nắm vật gì trông như những con rắn. Trên đầu là chiêc mũ có con chim xòe hai cánh.
Hình vẽ được giữ tốt hơn chỗ có viết chữ, có lẽ nó được cuộn vào phía trong nên mặc dù chôn dưới đất có đến ngàn năm mà vẫn còn trông khá rõ.
Joe cúi xuống đọc dòng chữ viết dưới hình vẽ người đàn bà: ATANA POTNIA GIÓ BỒ CÂU MÊ CUNG.
Anh ngẩng đầu lên.
-          Vốn hiểu biết tiếng Hy lạp anh không khá lắm nhưng theo anh đây có lẽ không phải tiếng Hy lạp cổ.
Carroline mắt tròn xoe nhìn anh một cách ngạc nhiên.
-          Joe, thành thật làm sao anh có thể biết được điều này?
-          Anh không biết. Anh suy luận thôi. Atlanta là tên gọi cũ của Athena[1]. Chắc không sai đâu. Người có kiểu chữ viết đẹp như thế này hẳn là phải biết cách viết cái tên khá phổ biến đó.
-          Đúng, tuyệt thật! Thế còn những suy luận khác?
-          Em đừng đòi  hỏi quá nhiều ở một người viết truyện trinh thám khiêm tốn. Chữ PTONIA, theo anh nghĩ, nhà thơ Homer đã dùng để nói về nữ thần. Có thể dịch chữ này là NỮ THẦN có được không? – Anh lại ngắm nghía kỹ mảnh giấy – Như vậy dòng chữ dưới hình vẽ có nghĩa là: ATLANTA, NỮ THẦN CỦA GIÓ, CHIM CÂU VÀ MÊ CUNG.
Anh ngẩng đầu lên. Một nụ cười rộng lượng xuất hiện trên mặt anh.
-          Thế  mà em phải mất bao nhiêu thời gian cho cái mảnh giấy này – anh nói với giọng hơi đắc thắng – Tất nhiên, Nữ thần Mê cung là vị thần chính của dân Crêt.
Carroline cầm mảnh giấy lên tay. Cô ngắm nhìn Alex một lúc mà không mảy may thay đổi nét mặt. Rồi bỗng nhiên cô cười phá lên.
-          Tại sao chẳng bao giờ anh nói với em về điều này?
-          Về điều gì cơ?
-          Rằng anh cũng chú ý tới những công việc này này!
-          Anh không thích thú những công việc về cái nền văn minh Ê giê như em nghĩ. Dân Crêt đối với anh chả là cái gì. Anh chỉ thấy vô cùng hạnh phúc nếu như em trở thành vợ anh và lo công việc khác như nội trợ chẳng hạn. Còn nếu như em không có ý định làm việc này thì hãy đọc mảnh giấy đi và sau đó anh muốn được có thêm một ly cà phê nữa.
-        Anh sẽ có thậm chí cả một đồn điền cà phê, Joe, nhưng trước hết phải nghe những điều em nói đây – cô do dự một chút  rồi tiếp – Em nghĩ rằng anh sẽ giúp ích cho em – cô giơ tay chỉ vào mảnh giấy – Thực sự mà nói không còn nghi ngờ mảy may gì về tính chính xác của  tài liệu này. Anh không  phải là chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ, nhưng anh sẽ ngạc nhiên giống như khi  em nói với anh về nó. Mảnh giấy này đã có khoảng hai nghìn ba trăm năm trước và được tìm thấy ở Ai cập năm ngoái trong khi khai quật một ngôi làng cổ ven biển của người Hy lạp, trên ranh giới giữa châu thổ sông Nin và sa mạc. Chỗ đó khô ráo nhưng không phải là không bị ẩm. Em cho là phải có phép nhiệm mầu nên mảnh giấy này mới tồn tại được dù chỉ một phần. Họ đã đem nó về nước Anh cùng nhiều thứ khác. Sau đó, hoàn toàn ngẫu nhiên, một nhà cổ ngữ học trẻ tuổi, bạn em từ thời sinh viên, tiến hành đọc nó. Như anh thấy, mảnh giấy này bị nát nhiều chỗ và phải chiếu tia hồng ngoại để đoán được nét bút viết bằng cây sậy trên đó. Nhưng những chi tiết đó để sau đã. Trước tiên, em muốn anh nghe bản dịch ra tiếng Anh của em: có thể nó chưa hay nhưng hoàn toàn trung thực. Hãy nghe đây:
Ở nơi đó vô sinh vô tử
Chẳng kẻ nào dám thử liều mình
Đụng vào mảnh đất thần linh
Trồng cây, bới của cho mình giàu sang
Chỉ vì lòng da tham lam
Hay vì kẻ đó lòng đang hiếu kỳ

Dù kẻ đó muốn gì cũng kệ
Keros này đâu để kẻ trần
Đụng vào những phiến đá thần
Sẽ gây náo động Nữ thần Mê cung
Kẻ đó sẽ khốn cùng tuyệt vọng
Chết chìm trong lòng của biển khơi
Và tên tuổi hắn trên đời
Biến đi mà chẳng một người nào hay

Cô ngừng lại một lúc. Joe im lặng gật đầu giục cô đọc tiếp.
-          Đến đây là hết phần thơ – Caroline nói – Tiếp theo là lời do cùng một người viết:
“Những lời cổ xưa này về Đức Bà được chép lại trung thực từ tay ta, thủy thủ Perimos, người cả cuộc đời sống lênh đênh trên biển cả. Ta đã nhìn thấy Keros một lần khi bơi thuyền chở lúa mì và rượu vang tới Bi dăng tin. Ta đã nhìn thấy hòn đảo, nhưng không hướng thuyền về phía đó. Ta đã bơi vòng quanh đảo, cúi chào hòn đảo khi đêm xuống. Ta tự cầm lái khi gia nhân của ta đã ngủ say. Ngôi sao hàng hải đã chiếu trước mặt ta, sau lưng ta, rồi lại trước mặt ta khi ta dâng lễ vật cho thần bằng cách rót rượu vang xuống biển và rắc lúa mì trên sóng. Ta không đánh thức một kẻ nào dậy và không ai trong số chúng nhìn thấy ta làm gì cho đến khi ta lại cho thuyền tiến về phía ngôi sao hàng hải. Ta đã không đánh thức một ai, vì ta không muốn sau này khi chúng lại thấy Keros, chúng sẽ lên đảo quấy rầy sự yên tĩnh của Nữ thần Mê Cung. Trước đó Cụ của ta đã ở đấy, trước đó nữa là cha và ông của Cụ ta, và trước nữa là những người khác trong dòng họ của ta. Cụ của ta đã mất mà không có con trai. Từ đó đảo không có thủ đền, Mẹ của ta, con gái của người đã thuộc và nói cho ta những lời trên về Nữ thần. Ta không có anh em trai cũng như có con trai để nói lại cho họ những lời này. Thời gian của ta đã hết. Ta viết lại những lời này để Đức Bà biết rằng khi ta về cõi hư vô, ta đã dâng Người lễ vật. Cuộn giấy này, được niêm phong bằng triện của ta, sẽ được đặt vào mộ khi chôn, ta dặn phải đặt nó ở trong bàn tay phải của ta để ta trao lại cho Đức Bà khi trông thấy người. Và ta sẽ không còn là người sống nữa khi biết rằng Người đang ở trong Mê Cung. Và khi họ bơi qua đây như là vượt qua một nơi không có bến đỗ, nơi không có gì sinh ra cả. Và dù cho có kẻ nào liều mình tiến vào các mỏm đá hiểm trở, còn sống sót để lên bờ cũng sẽ rơi vào vực thẳm, biến mất cùng với tên tuổi của nó. Đức Bà đã ngủ như những người thường vẫn ngủ và sẽ thức dậy trong ánh hào quang của mình khi tới lúc.”
Carroline dừng lời, đặt mảnh giấy một cách thận trọng lên bàn.
-          Phía dưới là hình vẽ và dòng chữ mà anh đã được đọc rồi đấy – cô nói khẽ. Rời khỏi ghế, cô đi về phía cửa sổ, đứng im lặng một lúc với đôi mắt nhắm nghiền, trán tì vào kính cửa sổ rồi đột ngột quay lại – Nếu như anh muốn biết điều này có ý nghĩa gì thì hãy nghĩ tới một điều: người Crêt xây dựng vương quốc của mình cách đây đã sáu ngàn năm. Vương quốc hùng mạnh này tồn tại rất lâu và cuối cùng đã sụp đổ vào ba nghìn rưởi năm trước đây. Tất cả đều sụp đổ: các thành phố, tổ chức nhà nước, các thần linh, tiếng nói cũng mất đi, chỉ còn lại những dấu vết mờ nhạt trong thần thoại của người Hy lạp, những người đã phá hủy cái vương quốc này. Và lúc đó, khi triều đại Hy lạp đang đi tới chỗ suy vong thì trong một ngôi làng nhỏ nằm rất xa Hy lạp có một người con của vương quốc bị diệt vong đang hấp hối và viết nên những dòng chữ này. Ông ta kể tằng cụ của ông ta là người thủ đền thờ Nữ  thần Mê Cung, mà việc thờ cúng vị Nữ thần này đã không còn từ ít nhất một nghìn năm trước khi ông ta sinh ra. Mảnh giấy này mô tả kỹ lưỡng Atlanta, Potina, Nữ thần của Gió, Chim Câu, và Mê Cung, vị thần chính của người Crêt. Hơn thế nữa, ông ta còn giải thích rằng đền thờ của vị Nữ thần này nằm ở một nơi hiểm trở, hoàn toàn không phải ở trên đảo Crêt mà là trên hòn đảo nhỏ không có người ở, được giấu kín đến mức không tìm ra được. Điều đó có nghĩa là đền thờ này tồn tại qua hàng nghìn năm, mặc dù người Hy lạp đã ra sức tìm kiếm khắp các đảo vùng Địa trung hải, và có thể nó vẫn còn tồn tại!
Alex gật đầu một cách không tin tưởng mấy.
-          Chưa hết đâu – Carroline vội lấy tay che miệng anh lại – Một nghìn năm sau khi vương quốc Crêt sụp đổ, nhà sử học Hy lạp Tukidydes đã viết:
“Như chúng ta  đã từng nghe, Minos là người đầu tiên có trong tay hạm đội hùng mạnh. Ông ta đã thống trị phần lớn vùng biển mà ngày nay gọi là biển Hê len, đặt chính quyền lên toàn vùng Cyklad….” Cái từ “Như chúng ta đã từng nghe” có nghĩa là trong các câu chuyện kể của người Hy lạp có chứa dấu vết của những cuộc giao tranh với người Crêt, và cái tên Minos còn tồn tại bởi vì thực tế ông ta đã thống trị đất nước này. Ông ta ta là kẻ thù của các bộ tộc Hy lạp, những người từ những miền sâu trong đất liền ra sinh sống trên bờ biển, bị rơi vào ách thống trị của ông ta. Họ đã cố thoát khỏi ách thống trị này và phá hủy cả cái vương quốc rộng lớn của người Crêt, từ đó mở thông đường biển sang chinh phục các đảo và bờ biển vùng Tiểu Á. Nhưng em muốn nói sang vấn đề khác. Truyền thuyết các cuộc giao tranh với người Crêt có vài truyện có ý nghĩa lịch sử to lớn.
Trước hết là về Mê Cung do Đêdal xây dựng cho quốc vương Minos để nuôi giấu đứa con Minotaur, nửa người nửa bò của mình. Chúng ta cũng biết qua các khu khai quật rằng bò được thờ trên đảo Crêt. Có thể người ta đã cúng lễ nó bằng việc hành hình các tù binh hoặc các con[2] tin người Hy lạp, từ đó có chuyện kể là nó ăn thịt người. Sau đó là truyền thuyết về người Hy lạp tên là Têdê đã tới hòn đảo này, yêu công chúa Ariadna, thâm nhập vào sâu trong mê cung, giết Minotaur và lấy công chúa làm vợ. Có thể Têdê là thủ lĩnh của đội quân Hy lạp đã phá hủy thủ đô  vương quốc Minos và lật đổ tượng đài con bò đáng căm ghét. Ariadna có thể thực là công chúa của vương quốc Crêt mà người thắng trận đã chiếm làm vợ, để có thể hòa hợp với dân tộc này và đứng ở vị tri cao quí hơn là bị coi là kẻ xâm lược. Từ thời điểm này tiếng Hy lạp bắt đầu dùng trên đảo. Qua những công trình nghiên cứu thiên tai của Ventris, chúng ta biết rằng người Crêt dùng chữ khác, nói tiếng khác, đến giờ chúng ta vẫn chưa tìm được cách đọc.

Người Hy lạp chưa thể tiếp quản hết những kho báu của nền văn minh Crêt, và có thể những cuộc xâm chiếm về sau của những bộ tộc Hy lạp nguyên thủy hơn đã phá hủy cả cái nhà nước Hy lạp – Crêt? Nói gọn là hệ chữ đó đã biến mất, hai trăm năm sau khi chinh phục được đảo Crêt, người Hy lạp vẫn mù chữ. Mãi sau này người Hy lạp mới lấy bảng chữ cái của người Phê ních để tạo ra hệ chữ mà ngày này gọi là chữ Hy lạp. Từ những vùng khai quật trong khu vực văn minh Crêt, chúng ta biết rằng họ đã thờ thần chính là Nữ thần Mê Cung, đồng thời cũng là nữ thần của Gió và Chim Câu. Bà ta cũng có tên là Atana. Còn cái tên Atena vẫn được gọi sau này có lẽ là tên vị thần thời kỳ tiền Hy lạp do người Hy lạp truyền lại. Ngược lại người Hy lạp chưa bao giờ thờ Nữ thàn Mê Cung mặc dù họ biết tới nữ thần Persefon và ám chỉ Hades cũng là nơi khó tới được giống như vào Mê Cung…..
-          Nhưng ông thủy thủ Perimos của chúng ta…. Joe nói nhỏ.
-          Chính thế! Ông thủy thủ Perimos gọi nữ thần của mình bằng cái tên mà chính ông ta cũng không tự biết bởi vì nó bị lãng quên từ hàng nghìn năm rồi. Khi ông ta viết những giòng chữ này trên giấy, các thành phố Crêt đã bị phá hủy thành đống gạch từ lâu.
-          Có nghĩa là em muốn nói với anh rằng nếu ông ta biết được cái tên mà chính ông ta không thể tự tìm ra thì đó là chứng cớ rõ nhất về sự tồn tại hòn đảo nhỏ Keros đã được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác của ông ta.
-          Phải, em coi đó là luận cứ khoa học chắc chắn – Caroline trả lời dứt khoát – Bởi vì một người bình thường không thể biết được tên vị nữ thần này bằng cách khác. Anh có thấy hình vẽ người đàn bà giang hai tay cầm những con rắn không? Trên toàn bộ khu vực văn minh Crêt đều thờ tượng nữ thần này. Perimos có thể tìm được bức tượng này nhưng không tự biết nó là ai nếu không có những thông tin được truyền lại.
Alex nhướng mày.
-          Khoan đã. Dù cho pho tượng này là ai thì Mê Cung đó vẫn nằm trên đảo Crêt chứ không nằm trên một hòn đảo nhò nào khác, có phải không?
-          Joe, thế chúng ta đã biết gì về đảo Crêt và dân cư ở đấy? Chúng ta đã khai quật các thành phố của họ, chúng ta biết tới những hình vẽ, đồ gốm họ làm ra, chúng ta cũng biết họ ăn mặc thế nào, xây dựng ra sao, chúng ta có thể suy luận ra họ ăn gì và giải trí thế nào. Nhưng chúng ta hoàn toàn không biết tí gì về lịch sử của Crêt, bời vì chúng ta chưa biết đọc dạng chữ vạch mà dân tộc đó sử dụng. Cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa vượt qua được trở ngại này.
-          Cứ cho là người thủy thủ Perimos kia đã viết chúng đúng sự thật và nhóm nghiên cứu của em sẽ tìm ra Keros với đền thờ của Nữ thần Mê Cung, nhưng có thể đó chỉ là một trong số những nơi thờ cúng nhỏ bé của địa phương còn tồn tại vì ở cách xa những nơi người Hy lạp chiếm đóng. Hòn đảo nhỏ khó tới gần, từ xa trông không như có người ở và hiếm nước (theo lởi ông ta kể) và không có cây mọc sẽ không thu hút sự chú ý của ai. Những đền thờ như vậy, có thể rất nhiều. Tất nhiên, mảnh giấy này rất thú vị. Nhưng anh không thấy nguyên nhân nào làm cho nó có thể trở thành một tài liệu đặc biết.
-          Thế mà em lại thấy đấy – Caroline đáp lại bình thản – Nếu như đảo Keros không bị phá phách từ trước và nếu như ở đó tồn tại đền thờ Nữ thần Mê Cung, còn dòng họ người thủ đền trong vòng một nghìn năm đã bí mật tới đó để dâng lễ vật thì chúng ta có thể thực hiện những phát hiện bất ngờ. Hãy nhớ rằng, dòng họ ấy đã tới đảo thường xuyên trong vòng một nghìn năm, họ nhất định phải để lại dấu vết. Tập quán ghi nhận lại những lễ vật hiến tế rất phổ biến ở Hy lạp. Perimos chưa bao giờ đến Keros nhưng lại vẽ được hình Nữ thần Mê Cung giống như người Crêt đã thể hiện, như vậy có khả năng là dòng họ này đã truyền cho nhau kỹ năng viết chữ và ý nghĩa biểu tượng của Nữ Thần. Trong trường hợp những người nói tiếng Hy lạp cổ cũng đến thăm viếng đền thờ nữ thần thì họ sẽ để lại những ký hiệu hoặc văn tự của ngôn ngữ tiền Hy lạp và ta có thể tìm thấy những dòng chữ song ngữ ấy trên tượng, trên tường hay ở đâu đó. Đó chính là cuốn tử điển chuyên ngành khảo cổ học Crêt đang cầu mong. Anh đã hiểu em chưa?
-          Anh hiểu – Joe nói – Tất cả đều rất có thể xảy ra, mặc dù khẳ năng đó rất bé và thời gian hàng nghìn năm đã trôi qua. Tuy nhiên cho dù em không tìm ra những dòng chữ song ngữ, thì việc phát hiện ra đền thờ Nữ Thần Mê Cung theo những chỉ dẫn trong tài liệu cách đây 2.300 năm cũng làm chấn động thế giới.
-          Em thèm vào cái chấn động thế giới ấy! – Carroline nhíu mày – Điêu quan trong nhất là có lợi cho khoa học. Em nói điều này có vẻ hơi viễn tưởng về truyền thuyết Mê cung nổi tiến do Đêdal xây dựng. Khi nhà khảo cổ Evans phát hiện ra cố đô Crêt là Knosos và khai quật lâu đài của nhà vua với hàng trăm hành lang, phòng ở, buồng khách, sân chơi thì người ta cho đó là Mê Cung bởi vì người ta có thể lạc ở trong đó. Nhưng điều đó chưa chắc chắn.
-          Em muốn nói rằng, Cung điện ở Knosos không phải là Mê Cung do Đêdal xây dựng?
-          Phải.
-          Tại sao?
-          Em đã nghĩ như vậy vài năm trước đây khi em đọc những dòng chữ kiểu vạch trên các miếng gạch viết về Nữ thần Mê Cung.
Cô bỗng nhiên ngừng lời, nhìn Alex và mỉm cười.
-          Nào, xin mời thám tử nổi tiếng cho ý kiến!
Joe gật đầu.
-          Có phải em định nói rằng nếu như họ viết về Nữ Thần Mê Cung  thì có nghĩa đó phải là mê cung thật sự, chứ không phải là cung điện nhà vua. Người ta có thể gọi là mê cung chứ người dân ở đấy không thể nói như vậy, bởi vì đối với họ đó chẳng có gì bí mật cả. Họ chẳng đời nào gọi Nữ Thần của mình là Nữ thần Mê Cung chỉ vì cung điện nhà vua có nhiều phòng và hành lang. Có phải thế không?
-          Chính là như thế. Suy luận tiếp theo như sau: ở Knosos cũng như ở những nơi khác thuộc về nền văn minh Crêt không phát hiện ra công trình nào giống như Mê cung trong truyền thuyết của người Hy lạp. Tất nhiên Mê Cung trong đó không nhất thiết phải nằm trên đảo Crêt. Crêt là vương quốc trên biển đã thống trị toàn bộ vùng đông Địa trung hải. Người Crêt có thể chọn bất kỳ hòn đảo nào trong bán kính hàng trăm dặm cách đó là thủ đô để làm trung tâm tín ngưỡng, nhằm mục đích đảm bảo không kẻ nào cướp phá đền thờ của họ. Nếu như những khó khăn như Perimos mô tả thì điều đó càng trở nên đúng hơn. Anh có thể hỏi tại sao một dân tộc giầu có và hùng mạnh lại muốn có đền thờ thần linh của mình ở cách xa trung tâm? Trong khu vực này điều đó không phải là hiếm. Thí dụ Aten và Spac trong suốt một thời gian dài là hai vương quốc hùng mạnh  nhất ở Hy lạp, thế mà những trung tâm tín ngưỡng lớn lại ở cách khá xa hai nơi thành phố này, nhiều đền thờ còn được dựng ở những hòn đảo đông người hoặc những nơi hẻo lánh. Hình như đó chính là tập quán của người Hy lạp, muốn để thần linh của mình ở nơi yên tĩnh cách xa những trung tâm buôn bán, chiến tranh và hỗn độn – cô ngừng lời – Vị vậy có một khả năng dù rất nhỏ nhoi, là mảnh giấy nát tìm thấy trong ngôi mộ cổ kia sẽ chỉ ra cho chúng ta ví trí của một trong những công trình nổi tiếng nhất của thế giới cổ đại: Mê Cung của đức vua Minos.
Họ im lặng một lúc lâu, cuối cùng Alex nở một nụ cười thoải mái. Anh không còn buồn ngủ nữa.
-          Tốt – anh nói giọng nghiêm chỉnh – Anh muốn hỏi chỉ một điểu thôi: đảo Keros ở đâu?
Caroline giang tay bất lực.
-          Năm phút sau khi đã giải mã xong mảnh giấy, em bắt đầu tìm trong tất cả các Atlas và tử điển khảo cổ. Em có ở đây Đại Atlas thế giới cổ đại, em có các tử điển chỉ dẫn với các tên sông ngòi, địa danh, núi, đảo, vịnh, thành phố lớn nhỏ đã nói trong các tài liệu cổ…
-          Và sao nữa?
-          Chẳng có gì cả - Caroline giang tay – chẳng ở đâu có đền Keros.
-          Em đã hỏi ai chưa?
-          Chưa. Trước hết em có nhiệm vụ phải tường trình lại toàn bộ sự việc cho giáo sư Lee
Alex đứng dậy.
-          Chúng ta đi thôi – anh nói và tiến về phía cửa.
-          Đi đâu? – Carroline cũng đứng dậy nhìn anh dò hỏi.
-          Còn đi đâu nữa? – anh nắm tay trên quả đấm cửa, nét mặt nửa đùa nửa thật – tất nhiên đi tìm đảo Keros!
Ngạc nhiên, cô bước theo anh không nói một lời.
 





[1] Atena: - Tên một nữ thần trong thần thoại Hy lạp (ND)
[/align]
[2] Minos, Đêdal, Minotaur, Têdê, Ariadna, Persefon, Hades: tên những nhân vật trong thần thoại Hy lạp - ND
[/align][/align]
0
«« « 1 2 » »»