📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Mường Giang

1 trả lời, 700 lượt xem — Trang 1 / 1
Việt Báo Chủ Nhật, 2/15/2009, 12:00:00 AM
 
Cộng Sản VN
 






MƯỜNG GIANG
 (Bài được lưu trữ trong website huongvebinhthuan.org và thuvientoancau.org)

Vài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Đông, lên chiến hạm về nước, trong danh dự. Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch ‘nước mắt trước cơn mưa‘ là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ đàn chim bồ câu trắng hòa bình từ cõi trên hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.

Đây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q. Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH thay Cao Văn Viên và Vĩnh Lộc đã bỏ chạy, khi nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các Đơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn (nhất là SD18BB của Tướng Lê Minh Đảo và Lực Lượng III Xung Kích của Tướng Trần Quang Khôi), phải cố giữ vững vị trí chiến đấu chờ sáng, để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975.

Đây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp đồng với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào thủ đô. Đó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Động, Đặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Đó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..
Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN, do cọng sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất. Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Đại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp, miên viễn bị bia miệng nguyễn rũa.), như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Cũng nhờ cách mạng, giải phóng nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền và nhục nhã tội lỗi nhất là đem đất biên giới, hải đảo, biển Đông và mới nhất là đất đai Nam Cao Nguyên Trung Phần để nhừng bán cho kẻ thù truyền kiếp giặc Tàu, suốt 4000 năm lâp quốc của dân tộc Việt.

Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất , đều viết : ‘Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kệp, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức nhà báo khoa bảng, cũng phải đi ăn mày.. ’ ’ ’
Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.
Cũng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Đó là Dinh Độc Lập mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.
Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa xuạn ? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày ‘ Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt ‘, qua các tác phẩm mang tên ‘ Mùa Xuân Đại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử .. ’ ’ ’

Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây thân cộng lúc đó, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Tho, chị Bình, chị Định.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do.. Di chứng này tới đây vẫn đâu có chấm dứt, mà cứ tiếp tục qua mấy bức vẽ ‘ Chậu rữa chân hay dây kẽm gai có hình lá cờ vàng ba sọc đỏ của Quốc Dân VN ra đời từ năm 1948, chứ không phải là cờ của Bảo Đại, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu..

Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán , cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?
Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó, để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sỹ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Đến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, Úc, Canada.. trên vạn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễ n xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.

Bảy mươi chín năm trôi qua (1930-2009), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng cọng sản và Việt gian, thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với cọng sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cân đại, được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người, từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì, ngoài nhu cầu hợp tác và giai đoạn.

Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi đệ tam quốc tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ công khai bán nước của Việt Cộng qua Đổ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng.. trong vai trò chọn lựa làm đầy tớ Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước đã chết khựng và xấu hổ tận cùng vì biết chắc đất nước từ đây đã trở thành một quận huyện của Tàu Đỏ như mấy ngàn năm Bắc Thuộc trong quá khứ.
Năm 1979 Đặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước nếu chống cự lại giặc. Biến cố ngư dân Thanh Hoá bị Trung Cộng thảm sát trong vịnh Bắc Việt vào ngày 8-1-2005, như một khúc dạo đầu của điệu ru nước mắt, mà VN đang dần bước vào nẻo tuyệt lộ vì giặc Tàu, qua đồng thuận của Việt Cộng, từng bước xâu xé gấm vóc giang sơn của dâ
n tộc Đại Việt, một cách công khai và man rợ, như chúng từng làm trong quá khứ
‘.. ôi trọn kiếp, lòng ta hoài mơ ước
cảnh thanh bình trên vạn nẻo quê hương
nên thường hay chợt khóc giữa đêm trường
khi tưởng tới ngày mai về cố quốc.. ’ ’ ’

1- Trung Cộng xâm lăng Việt-Nam lần thứ nhất (1979):
Ngày 1-5-1975 VC ban hành một bản đồ mới của nước VN thống nhất, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hiện do hải quân Bắc Việt chiếm giữ 6 đảo, khi VNCH bỏ ), mà chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã giấy trắng mực đen, xác nhận thuộc chủ quyền của Trung Cộng vào năm 1958. Đây cũng chỉ là một nguyên cớ, để Tàu xâm lăng VN vào mùa xuân năm 1979.

Thật ra tình hữu nghi giữa hai nước, đã lung lay từ năm 1967, khi Trung Cộng xuí giục Nam Lào tấn công Pathet Lào, vốn là chư hàu của Bắc Việt. Rồi từ khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, quyền hành lọt vào tay Lê Duẩn, Lê Đức Thọ vốn thân Nga, lúc đó là kẻ thù không đội trời chung của Trung Cộng, nên sự rạn nứt của tình đồng chí lại càng thêm nứt rạn. Nhưng vì kẻ thù trước mặt là Nga-Mỹ vẫn còn, vì vậy hai đảng cố quên bất đồng để hợp tác giai đoạn.

Khi Mao Trạch Đông thăng hà vào năm 1976, Đặng Tiểu Bình lên nối ngôi đã chấm dứt sự leo dây của VC từ lâu, vì Đặng đã biết rõ VC lúc ấy đang ngả hẳn theo Nga. Nhiều cuộc đụng độ đã xảy ra tại biên giới Hoa-Việt, mà chủ động luôn luôn do Hồng quân gây hấn, theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Đây là một đòn hù dọa cũng như áp lực VC lúc đó đang tiến hành chính sách cải tạo công thương nghiệp, cướp của và đánh đuổi Hoa Kiều Miền Nam, nhất là tại Sài Gòn-Chợ Lớn, ra biển về Tàu.

Giữa lúc tình hữu nghi của hai nước căng thẳng tột độ, thì Trung Cộng ngang nhiên xua 30.000 hồng quân vào các tỉnh Luang Namtha, Udom Say, Phong Salay, Luang Prabang và Sầm Nứa, nói là để bảo vệ công nhân Trung Hoa, đang làm thiết lộ Bắc Lào-Vân Nam. Nhưng thực chất Trung Cộng muốn uy hiếp Pathet Lào và bao vây biên giới phía tây bắc của VN. Đây cũng là ý đồ của Tàu, muốn mở một con đường thông thương từ Vân Nam xuống đất Miên, để tiện tiếp tế cho quân Khmer đỏ của Polpot lúc đó, đang du kích chiến với bộ đội VN. Mộng ước này hiện được Nguyễn Tấn Dũng, nhân danh thủ tướng VC , qua quyết định cho Tàu Đỏ được khai thác mõ Bauxít tại Nam Trung Phần vào tháng 2-2009, giúp Trung Cộng Công Khai Xâm Nhập Vào Lảnh Thổ VN, mà bao đời chúng muốn nhưng không làm được.

Nhưng Hà Nội lúc đó đã biết rõ ý đồ của Bắc Kinh, nên đã ra tay trước. Đầu tiên là cùng Pathet Lào ký một hiệp ước quân sự và biên giới ngày 18-7-1977. Sau đó đem 50.000 quân trấn đóng tại Trung và Nam Lào, vừa bảo vệ Pathet Lào, cũng như ngăn cản không cho Trung Cộng vào đất Miên. Sự gây hấn đã trở thành công khai vào năm 1978, khi Bắc Kinh gọi Hà Nội là ‘tiểu bá quyền khu vực‘, còn VC thì bảo Trung Cộng là ‘chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán‘.

Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng cong sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng cọng sản mới chiếm được miền bắc vào năm 1954.

Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH, đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đỏ đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ mỷ kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giúp Bắc Việt, để xây dựng và phòng thủ. Đã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến
Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo Liên Xô. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.

Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cọng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Liên Xô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Đó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.
Hồng quân Trung Hoa hay quân đội Trung Cộng tuy được thành lập vào năm 1927 nhưng thật sự chỉ thống nhất sau năm 1949 khi chiếm được Hoa Lục. Nói chung VC đã theo đúng khuôn mẫu của Mao, để tổ chức binh đội. Còn chủ thuyết Mao, được coi như nền tảng tư tưởng, dùng làm chiến thuật và chiến lược, gọi là chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị.

Thời nào, quân đội Tàu cũng đông nhất thế giới. Năm đó, Hồng quân có hơn 4 triệu người, bao gồm hai binh chủng Hải và Không Quân trên nửa triệu. Cả nước được chia thành bảy quân khu : Lan Châu (Tân Cương và Thanh Hải), Bắc Kinh (Nội Mông, Bắc Kinh, Hà Bắc, Sơn Tây), Trấn Giang (Hắc Long Giang, Liêu Ninh), Kiến An (Hà Nam, Sơn Đông), Nam kinh (Phúc Kiên, Giang Tây, Thượng Hải, An Huy), Thành Đô (Vân nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Tây Tạng) và Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam). Mỗi quân khu có nhiều quân đoàn. Ngoài chính quy và chủ lực, Trung Cộng còn có hơn bảy triệu dân quân. Tất cả do Chủ tịch quân ủy trung ương , tức là chủ tịch đảng lãnh đạo, khi Đặng nắm quyền kiêm nhiệm luôn chức này.

Năm 1979, Hà Nội sau khi bị Trung Cộng tố cáo là vong ơn bạc nghĩa, kể cả sự phanh phui Võ Nguyên Giáp không phải là người chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Để trà đũa, VC cho phổ biến bạch thư, nói về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua, đồng thời tố cáo Hoa Kiều trong nước là gián điệp, tay sai của Trung Cộng chống lại VN. Tiếp theo VC xua quân tấn công tiêu diệt Polpot và Khmer đỏ , vốn là đàn em chư hầu của Tàu, khiên cho dầu được đổ thêm vào lửa chiến tranh giữa hai nước, chỉ chờ bùng nổ.

Tại miền Nam, ngày 24-3-1978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Đình, xông vào các hãng xường, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vết, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được bật mí, chỉ riêng mẻ lưới trên, Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn.

Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba, khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bì đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.
Để trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Đã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn, để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày, rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều, qua chiến dịch ‘xuất cảng người‘. Sau đó tống khứ họ ra khơi, khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Đông, mà những trang Việt sử cận đại, gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.

Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski, tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Đặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.

Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Đặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Để thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò. Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc 3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Đồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.

Để tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QD 13,14 tấn công Lai Châu-Lào Kay. Hai QĐ 41,42 tấn công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.

Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ. Phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX. Nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Đoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SD 567, B46, SD. Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SD316,345, Đoàn B68, M63, các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.

Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Đặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Đắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SD 3,327,338,347,337 và 308. Trong lúc đó hai SD chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi Các-Mác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Đặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.
Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chiến Đông Dương lần II (1960-1975), gọi là vùng an toàn. Đã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

2- Trung Cộng Xâm Lăng VN lần thứ hai (1984-1989):
Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China.com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (SEcret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được ‘Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Đất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989)‘. Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Đất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.

Núi Đất (VN) hay Lão Sơn (Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy , huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.

Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung đoàn 118, Sư đoàn 40 BB, thuộc Quân đoàn 14, Quân khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..
Này 11-6-1984 , một Tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 12-7-1984, hai bên đụng độ lớn cấp Sừ đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 Trung đoàn Bộ binh của các SĐ312,313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung đoàn 982 thuộc Sư đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngõ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm.Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp Đại đội, cho tới ngày 13-2-1991 thì châm dứt với kết quả : Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Đất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.

Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Đảng CSQT chiếm được nữa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cưởng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975 và cai trị cả nước tới 2009, chỉ hơn nữa thế kỷ (1955-2009), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tai biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, Thac Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi ĐấtBãi Tục Lãm và nhiều vùng đánh cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Đồng bào quốc nội.

Sau khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng, cuối cùng cắt đất dâng biển đảo của VN cho Tàu để xin được làm tôi tớ của thiên triều như cũ. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu , thì một cuộc chiến đẳm máu khác đã thấy ló dạng qua hành động bán nước công khai cho Tàu Đỏ, được Nguyễn Tấn Dũng và 14 tên chóp bu trong tập đoàn ngụy quyền Hà Nội hoàn tất vào cuối tháng 12-2008, ngoài đất đai biển đoảo còn công khai cho giặc Tàu đỏ vào đóng tại miền Nam Cao Nguyên Trung Phần, qua bức màn khói KHAI MÕ.
Lần trước Trung Cộng chỉ mới tàn phá được miền thượng du Bắc Việt bằng súng đạn cổ điển. Lần này nếu lại có chiến tranh, Trung Cộng với bản chất dã man và khát máu, chắc chắn giặc sẽ tận dụng hết khả năng quân sự trong đó có bom nguyên tử để xoa sổ VN trên bản đồ Châu Á. Sự tổn thất về nhân mạng và tồn vong của dân tộc chỉ có người dân cùng đất nước hứng chịu, còn đảng với gia đình, trong đó có các tên chóp bu như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dủng.. chắc chắn đã cao bay xa chạy tới những khung trời hạnh phúc ở hải ngoại mà thiên đường đâu có nơi nào sánh bằng Hoa Kỳ với tiền núi vàng tấn đã được chuyển tới đây từ khuya.

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

- Brother Ennemy của Nayan Chanda do Phạm Quốc Bảo dịch.
- Giọt nươc trong biển cả Hoàng Văn Hoan
- Mặt thật của Thành Tín
- Chinese aggression against VietNam
- Death in The Rice Field của Peter Scholl Latour
- các tạp chi TP,PNDD..
- Tài liệu ‘ Trận Biên giới Hoa Việt lần 2’ trên Diễn Đàn Việt Nam Exodus..

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Hai 2009
MƯỜNG GIANG
[/align]

 MƯỜNG GIANG
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=140926
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT NGÀN LẺ MỘT CHUYỆN LẠ VỀ TRÂU BÒ TRONG NĂM SỬU
 

 
 
Theo thống kê của FAO thuộc Liên Hiệp Quốc cho biết vào năm 1992 cả thế giới có đàn trâu trên 147, 5 triệu con, trong đó Á Châu chiếm 86% cả đàn. Ấn Ðộ đứng đầu thế giới với 75,5 triệu con, còn VN vào năm 1995 đứng hàng thứ 6 tại Á Châu với 3,2 triệu con trâu, tính chung cứ 1000 nông dân ta chỉ có 45 con trâu để sử dụng.

 Ngay từ buổi đầu dựng nước Văn Lang cách đây mấy ngàn năm, người Việt vào thời các Tổ Hùng đã biết dùng trâu-bò vào công việc đồng áng và các công tác vận chuyển.
 
Trâu VN thuộc giống Karabao, sau khi được thuần hóa rất hiền lành và nghe lời chủ sai khiến. Vì trâu VN thuộc nhóm đầm lầy, tuy có khả năng cày kéo tốt nhưng sản xuất sữa lại kém. Ngược lại giống trâu sông thì cho sữa tốt nhưng việc đồng áng rất tồi. Do đó ở nước ta từ lâu, đã cho lai giống giữa hai loại trâu sông Ấn Ðộ (Murrah) và trâu đầm lầy bản địa. Tuy kết quả đuợc cải tiến khả quan ở các thế hệ trâu lai F1 và F2 nhưng cũng không tránh khỏi khó khăn vì sự khác biệt nhiểm sắc thể giữa hai nhóm trâu phối hợp.
 
            Là một trong những gia súc lâu đời của con người, trâu-bò thuộc loài nhai lại, nhóm guốc chẳn, có sừng.. là những hình ảnh rất quen thuộc ở nông thôn qua những công việc nặng nhọc hằng ngày như kéo cày, kéo xe, kéo gỗ, thồ hàng.. cung cấp thịt sữa và những vị thuốc quý trong Ðông dược kể cả nước dãi trâu.
 
            Phải chăng vì thế mà hình ảnh của trâu bao đời đã khắc sâu vào tâm thức của người Việt nhất là ở nông thôn, luôn được coi là “ đầu của cơ nghiệp “, là biểu tượng của sức sống mãnh liệt và tâm hồn hiền lành chất phác của dân tộc Việt. Do đó trâu được nhắc nhớ rất nhiều hơn bất cứ con vật nào khác, trong kho tàng văn học dân gian, ca dao tục ngữ.. và ở bất cứ phương diện nào, thì nó cũng là những tấm gương phản chiếu trong đời sống của con người:
 
“ Sai con toán, bán con trâu
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
trong ba việc ấy, lọ là khó thay..
Làm ruộng mạnh có trâu
làm dâu mạnh có chồng
Muốn giàu thì nuôi trâu cái.. “
 
            Trâu cũng là người bạn đồng hành, đã gắn bó mật thiết với nguời nông dân ngay từ lúc họ còn là mục đồng để chõm cho tới khi trở thành một lảo điền đầu hói trán nhăn, nhưng thủy chung người và trâu vẫn không dời đổi cái thân phận “ mang ách kéo cày “ của kiếp đời:

“ trên đồng cạn, dưới đồng sâu
chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
trâu ơi ta bảo trâu này
trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
cấy cày vốn nghiệp nông gia
ta đây trâu đấy ai mà quản công..

            Theo Hán Việt từ điển của Ðào Duy Anh và Nguyễn Quốc Hùng, thì Ngưu có nghĩa là Bò và chú thích rằng người Việt đã nhận lầm chữ Ngưu là Trâu. Còn bộ Hán Ngữ Ðại Tự Ðiển của Tàu mới xuất bản năm 1993 tại Thành Ðô (Tứ Xuyên) thì định nghĩa chữ Ngưu chỉ chung loại động vật có vú, đầu có sừng, chân guốc đuôi có chùm lông dài, ăn cỏ nhai lại.. nói chung thuộc Họ Bò bao gồm Trâu, Bò Tây Tạng.. Vì chữ Ngưu là Danh Từ Chung (Non Générique) nên người ta phải gọi Bò là Hoàng Ngưu, Trâu là Thủy Ngưu, Bò Tây Tạng là Mao Ngưu, Tê Giác là Tê Ngưu khi viết.. nhưng lúc phát âm thì không phân biệt mà chỉ nói chung là “ Ngầu “ như theo âm Quảng Ðộng gọi “ Phở Bò “ là Ngầu Phẳn hay Ngầu Phảnh để chỉ món ăn đuợc nấu bằng hủ tiếu với thịt bò. Nhiều bộ tự điển khác kể cả Tam Tự Kinh, Việt-Hán Thông Thoại Tự Vị của Ðổ Văn Ðáp, Hán Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu cũng nói Ngưu là Trâu.

            Thế giới ngày nay cũng đang tranh luận về vai trò của trâu-bò trong nền nông nghiệp hiện đại nhất là tại Á Châu. Cuối cùng đa số đã khẳng định sự ưu thế tuyệt đối của con trâu tại nông thôn dù bò có trội hơn về mức cung ứng sữa-thịt và sinh sản. Như vậy dù ở đâu, thời đại nào, mãi mãi con trâu vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân ở quê làng đồng ruộng.

            Với người Việt qua ý niệm tôn vinh trâu như là con vật thần có công bảo vệ đàn gia súc, nên tự ngàn xưa tổ tiên ta đã có lễ “ Tiến Xuân Ngưu “ ngay tại kinh đô Thăng Long vào dịp Tết Nguyên Ðán hằng năm. Trong lúc cả nước thì có Tết Trâu vào ngày mùng 5 tháng Giêng.. Hiền lành, chất phác, cam phận thấp hèn trong một xã hội đời nào cũng bất công dối trá, coi rẽ đạo đức luân thường chỉ vì hám danh chuộng lợi. Nhưng đừng có tưởng “ mài sừng cho lắm cũng là trâu “ mà có lúc phải hứng cái cú húc bằng sừng hay cái đá hậu cực mạnh của kẻ “ có miệng mà không nói được “ đối với những con chó điên chuyên chạy theo sau cắn trộm.
 
 
1- TRÂU BÒ QUA PHƯƠNG DIỆN VẠN VẬT HỌC:

            Trâu bò là loài thú nhai lại, có móng guốc chẳn, đầu có sừng chân có bốn ngón, hai ngón giữa lớn, hai ngón bên nhô hẳn lên. Họ này có bộ máy tiêu hóa rất đặc biệt và bộ răng không có răng cửa và răng nanh ở hàm trên nhưng hàm dưới có tới 6 răng cửa rất bén đưa ra phía trước, hai răng nanh giống như răng cửa và các răng hàm to với lớp men trên mặt ngoằn ngèo.
 
            Thực quản của trâu-bo dài, dạ dày đặc biệt có tới 4 ngăn giữ 4 nhiệm vụ khác nhau. Khởi đầu khi ăn, trâu-bò dùng lưỡi vơ lấy cỏợ và cắt bằng răng cửa hàm dưới với lợi hàm trên. Sau đó lắc đầu cho cỏ đứt và nuốt vào mà không cần nhai. Cỏ này khi vào bụng sẽ được chứa trong một túi đựng cỏ rất lớn, kế tiếp chuyển tới túi tổ ong và được giữ tại đây. Lúc nghĩ ngơi, trâu-bò lại ựa cỏ lên miệng để nhai lại thật kỹ, bằng các răng cửa hàm dưới và lợi hàm trên. Cỏ này từ miệng chuyển thẳng tới túi sách và được tiêu hóa nhờ các dung dịch từ dạ dày tiết ra. Sau rốt nó được chuyển tới túi cuối cùng để biến thành chất bổ dưỡng nuôi sống con vật. Do sự phức tạp trên, nên trâu-bò có ruột (non và già) dài tới 40m, để thích ứng với loài nhai lại.
 
             HỌ BÒ (BOVIDIE): Lớn nhất trong lớp động vật ăn cỏ nhai lại, có móng guốc ở chân. Hiện có chừng 50 giống và 200 loài thay đổi vóc dáng tuỳ theo kích thước, có sừng thường xuyên cắm sâu trong một đế xương. Họ Bò chia thành ba nhóm: Trâu-Bò, Sơn Dương và Dê.
 
            Nhiều nhà khảo cổ khi quan sát bộ xương của loài ăn cỏ nhai lại cách đây khoảng 17 triệu năm, cho rằng tổ tiên của họ này trước kia không có sừng và sừng của chúng chỉ mới mọc từ các thế hê sau này, qua sự tiến hóa kéo dài khoảng vài triệu năm. Sừng là vũ khí của loài này chống lại kẻ thù và cũng là yếu tố quan trọng trong sự liên hệ tình dục giữa con đực và cái.
 
            Còn các nhà nghiên cứu khoa học thuộc nhóm của giáo sư Martin Pickford tai viện bảo tàng vạn vật ở Ba Lê (Pháp) thì cho rằng sừng của loài thú được mọc chỉ để cân bằng trọng lượng giữa xương và thịt, qua tiến trình thay đổi của thảo mộc là thức ăn chính của loài nhai lại. Ðiển hình là loài Nai đực sừng mọc vào mùa xuân để cân bằng với trọng lượng cơ thể tăng vọt khi đồng cỏ vào mùa đó dạt dào xanh tốt. Trái lại sừng của chúng sẽ gầy tóp rồi rụng chết vào mùa đồng băng iá đói kém thiếu ăn.
 
            Ở nhóm trâu-bò, hiện tượng cũng như sừng nai nhưng sừng của loài này không rụng vì có điểm khác biệt với loài nai có lớp tế bào mới mọc trên lớp tế bào cũ. Trái lại ở trâu-bò, các tế bào sừng độc lập và mọc vĩnh viễn trên một mắc cá của xương trán. Ngoài ra sừng của chúng cũng không phải là lớp tế bào chết như ở loài hươu-nai mà là một kho tích trữ Calcium cho cơ thể. Do đó nó luôn thay đổi tuỳ theo trọng lượng của trâu-bò nhất là ở giống cái (trừ loài tuần lộc), dùng lượng tích trữ calcium tại sừng để chế tạo sữa nuôi con và phôi bào khi có bầu.
 
+ NHÓM TRÂU:

             TRÂU (Bubalus bubalis ): Là động vật hoang dã nhưng trâu đã được khai hóa rất sớm ở Népal, Assam, Ấn Ðộ, Miến Ðiện Tích Lan, Ðông Dương, Mã Lai.. Nhà nhân chủng học K.Kenle (1910) cho rằng trâu là con vật đầu tiên trong đàn gia súc của loài người. Tuy thuộc Bộ Bò (Bos) nhưng trâu lại có nhiều đặc tính về sinh học khác hẳn với các loài bò nhà, bò rừng, bò Tây Tạng, bò Tót, bò Balen.. Do đó Trâu được xếp vào nhiều Họ trong Bộ Bò theo các đặc tính tương cận như Họ Trâu Rừng (Bubalus), phụ Họ Buvinac, Họ Sừng Rỗng (Covicornia hay Bovidae), phụ Bộ Răng Lưởi Liềm (Selenodonta), Nhai Lại (Ruminantia) hoặc Họ Móng Guốc Chằn.
 
            Nhóm Trâu gồm ba loài: Trâu Anoa, Trâu Châu Á và Trâu Châu Phi. Sự phân biệt được căn cứ vào màu lông và hình dạng của cặp sừng. Là loài thú hoang dã, trâu được thuần hóa từ trâu rừng vào khoảng giữa đệ tam thiên niên kỷ trước Tây Lịch. Tại Á Châu có 3 loài: trâu rừng, trâu Anoa, Tamarao và Arnee. Tới nay loài người chỉ mới thuần hóa được giống trâu Arnee.
 
* TRÂU CHÂU Á:
 
            - TRÂU ANOA: gần gủi với loài trâu hoá thạch (Bubalus Triquetricornis) đuợc xem là thủy tổ của loài trâu hiện nay. Giống trâu Anoa (Bubalus Depressicornis) có tầm vóc nhỏ nhất trong họ trâu, chỉ cao từ 80-100cm, được xem là con vật trung gian giữa hai bộ Bò và Antilopa.Loài này có sừng ngắn, chỉa thẳng về phía sau, mõm nhọn, đầu cổ và chân to, trán rộng, đỉnh đầu tròn, lông hai màu nâu nhạt hay xám sẩm. Giống trâu này chậm chạm, sống kham khổ đơn độc hay từng cặp thích nước, chỉ có ở đảo Celebes thuộc Indonesia (Nam Dương).
            TRÂU TAMARAO: Chỉ có ở đảo Mindoro (Phi Luật Tân) là loài trâu nhỏ, lông màu xám đen hay nâu sậm, sừng ngắn nhưng khỏe, hơi cong vào bên trong. Sống thành từng đàn nhỏ nhiều nhất 10 con, tại các khu rừng tre nứa rậm rạp đầm lầy, hiện còn rất ít.
            - TRÂU ARNEE: có nhiều tại Ấn Ðộ, Tích Lan, Việt Nam, Lào và Kampuchia.
Sống thành từng đàn lớn tại các vùng có đầm lầy suốt ngày ngâm mình dưới nước. Ðây là loài trâu lớn, cao trên 1,4m nặng gần 1000 kg, da màu đen, xám hay nâu sẩm, sừng lớn cong ra phía ngoài, chóp sừng uốn thành hình lưởi liềm hướng vào trong. Hiện số lượng giảm sút rất nhiều vì bị săn đuổi và bệnh tật.
             -TRÂU HOANG ẤN ÐỘ (Bacni) VÀ TRÂU MINDO (B.Mindorensis): Trâu Mindo đã được thuần hóa, vóc dáng lớn hơn trâu Anoa, lông đen có sừng ngắn, thẳng chỉ hơi uớn cong ở phần trên. Loài trâu này sống ở quần đảo Phi Luật Tân.
            Trâu Hoang Ấn Ðộ hay Acni trước sống tại Bắc Phi và vùng Lưỡng Hà (Trung Ðông) nay còn gặp tại vùng rừng rậm sình lầy Ðông Nam Ấn Ðộ, Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan. Loài này cao gần 2m, nặng trên 1500kg, thường tấn công cả voi lẫn hổ để tự vệ. Trâu Acni có sừng dài, trán rộng, thân hình đẩy đà, to và thấp. Loài này có nhiều điểm tương cận với các loài trâu Zafrabadi ở Katiava (Ấn Ðộ), trâu rừng Capfe (Châu Phi). Riêng loài trâu Acni được thuần hóa đã hình thành loài trâu sừng ngắn hay đặc biệt có con không có sừng
            Theo nhà động vật học Meeken, thì loài trâu hoang Ấn Ðộ đã mất tính miển nhiễm với hóa chát mélanin nên lông của chúng từ màu đen biến thành đỏ, hung cả trâu bạch tạng đang được nuôi trong viện nghiên cứu Azechaizan. Do có nhiều đặc tính giống nhau nên loài trâu rừng đuợc coi như tổ tiên của các giống trâu nhà Ấn Ðộ Sừng Dài (Bubalus Indicus Macrocuro) sống tại Miền Nam Trung Hoa, các đảo Nam Thái Bình Dương và Nam Dương Quần Ðảo. Trong nhóm này còn có loài trâu hoang lông đỏ Karabu.
            Trâu Sừng Ngắn (Bus, Indicus Brachyeeros) sống ở Nhật Bản, miền bắc Trung Hoa và vùng phía tây Châu Á. Loài Trâu Ấn Ðộ còn được gọi là Trâu Nước được coi như một gia súc, sinh sống chẳng những khắp vùng Ðông Nam Á tới Trung Hoa, Ai Cập, Ý, Pháp, Hung Gia Lợi.. Loài trâu này cao khoảng 1,5m toàn thân màu đen xẩm, mặt thon, cặp sừng vươn rộng tới 1,2m nặng hơn 800kg. Trâu giúp việc đồng áng, kéo xe, cung cấp thịt, da.Trâu cái sau thời gian 10 tháng mang bầu, sẽ sinh một hay hai trâu nghé vào mùa hè.
- TRÂU CHÂU PHI:
            Tên khoa học Sincerus,Trâu Châu Phi (trâu Cape) hao hao với trâu Ấn Ðộ, sồng thành từng đàn suốt ngày dầm mình trong bùn lầy. Là loài thú hoang dã mà con người chưa bao giờ thuần hóa được, loài này cực kỳ hung dữ và nguy hiểm nhất là khi bị thương. Hiện chúng còn rất ít vì bị săn đuổi ráo riết và bệnh tật. Loài trâu này cũng to lớn, lông đen thưa, nặng chừng 900 kg và cao khoảng 1,5m. Ðặc biệt là bộ sừng cong veo từ dưới lên trên và uốn cuộn vào phía trong, còn lưng trâu thì có nhiều bướu lớn. Cùng loài trâu Cape nhưng ở Tây Phi thì thân hình nhỏ hơn, lông hung vàng và cặp sừng cũng ngắn, chúng sống trong các khu đầm lầy rừng rậm ít người lai vảng.
            Có thể nói Sa mạc Sahara là quê hương của loài trâu Châu Phi, vào mùa giao phối, trâu đực thường kèm sát trâu cái và các trâu đực tơ chém đuổi trâu đực già ra khỏi đàn khiến chúng sống cô độc. Trâu Ðông Phi thích sống ở vùng bình nguyên như Kilimandaro cao hơn mặt biển 8000m vì có nguồn nước phong phú, khi gặp người thì bỏ chạy chỉ chống lại để tự vệ lúc nguy cấp. Gần đây các đàn trâu bò và loài Antilopa tại Châu Phi bị tử vong rất nhiều do loài ruồi Xéré truyền bệnh dịch tả.
 
- TRÂU NHÀ:
            TRÂU VÙNG ÐÔNG NAM Á: Rất gần gũi và hơi giống trâu rừng do sự giao phối giữa trâu nuôi và trâu hoang dã tại các làng mạc gần núi rừng, ao đầm sình lầy là nơi sinh hoạt tự nhiên thích hợp của loài trâu. Từ đặc tính thích nước, người ta phân biệt hai loại trâu nhà: Trâu Ðầm Lầy (Swamp Buffalo) và Trâu Sông (Riverine Buffalo) chủ yếu là Trâu Ấn Ðộ và Pakistan, loài trâu này ở vùng sông ngòi và thích tắm giữa giòng nước sạch.
            Hai loài Trâu Nhà tại Kampuchia và Phi Luật Tân rất giống nhau về voc dáng, màu da đen, xám hay nâu nhạt. Nói chung, Trâu Nhà vùng Ðông Nam Châu Á có đặc tính gần giống nhau vì ngay từ năm 1930 các nước Trung Hoa,Phi Luật Tân, Lào, Kampuchia, Thái Lan, Mã Lai Á và Nam VN đã trao đổi giống trâu lẫn nhau nhất là về màu lông đen, xám hay nâu nhạt. Ðặc biệt là giống trâu nhà “ Bạch Tạng “ với lông màu vàng nhạt mọc trên lớp da màu hồng.
            Loại Trâu Nhà Ðầm Lầy có sừng lớn cong tròn hay hình bán nguyệt có chiều dài từ 60-120cm với khoảng cách hai chóp sừng từ 50-90cm, được dùng để mở đường rừng hay đào hố trong các đầm lầy để dầm mình. Một số Trâu của Tàu có sừng uốn cong gần như một vòng tròn có khoảng cách chỉ 12cm. Trong lúc Trâu Nam Dương có bộ sừng dài quá mức với khoảng cách hai chóp sừng tới 210cm trông rất nghênh ngang khi di chuyển. Nông dân Mã Lai Á tại Penang, Kedah hay Người Phi, Nam Dương nuôi Trâu Nhà Ðầm Lầy không để lấy sửa bán mà chỉ dùng trong gia đình và để chế tạo một loại phomat mềm ăn rất ngon.
            Trái lại các giống Trâu Sông nuôi tại Ấn Ðộ, Pakistan, Nam Á và Nam Âu.. sản xuất sữa nổi tiếng khắp thế giới. Chỉ riêng Ấn Ðộ đã có rất nhiều giống trâu sữa được nuôi tại vùng Tây Bắc như các giống trâu Murrah, Nill Ravi, Kundi.. vùng Ðông Ấn có giống trâu Surij, Mehsana, Jafarabadi, Trung Ấn có giống Napuri, Pendharpuri, Manda, Jerangi, Kelabandi, Sambalpur, vùng Nam Ấn có giống Toda và Kanara..
            Do có năng suất cao về sản xuất sữa và thịt, nên giống trâu Murrah của Ấn Ðộ đã được xuất cảng sang hầu hết các nước Á Châu kể cả VN và Ba Tây (Nam Mỹ). Người ta nuôi loại trâu này chỉ để lấy sữa vì nó không thích ứng cho việc đồng áng cày bừa.
            TRÂU NHÀ ÚC CHÂU: Người Úc bắt đầu nuôi trâu từ năm 1824 khi nhập cảng giống trâu đầm lầy tai miền Timor thuộc Indonesia. Từ đó trâu được phát triển nhanh tai vùng đồng cỏ hoang Bắc Úc. Riêng loại trâu rừng Úc được thợ săn bắn để lấy da.
            TRÂU NHÀ MIỀN CẬN ÐÔNG, NAM ÂU, NAM MỸ VÀ CHÂU PHI: Thuộc giống Trâu Sông được nuôi rãi rác khắp Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran, Bảo Gia Lợi, Ý, Hy Lạp, các nước Cộng Hòa cũ của Liên Xô như Azerbaizan, Dagestan. Trâu nhà vùng này được nuôi để lo việc đồng áng, lấy thịt, sữa làm phó mát.. Tại Nam Mỹ chỉ có Ba Tây nuôi giống trâu sữa Murrah và Jafarabadi nhập từ Ấn Ðộ. Ngoài ra còn giống trâu điạ phương sống tại vùng châu thồ sông Amazone là giống Preto lấy sữa và Rosilo ăn thịt. Tại các nước thuộc vùng Caribé chỉ có Trinidad nuôi trâu để lo việc cày bừa tại các đồn điền mía và Guana nuôi trâu để kéo gổ. Các giống trâu trên đều được nhập từ Ấn Ðộ tứ năm 1900-1945 như Murrah, Jafarabadi..
            Ai Cập là nước duy nhất ở Châu Phi nuôi trâu lấy thịt và sữa với hai giống Beheri (miền Nam) và Saidi (miền Bắc). Trâu Ai Cập có sừng tương đối ngắn cong về phía sau dọc theo đầu và chóp sừng cong dần lên trên. Tóm lại trâu sống khắp hoàn cầu nhưng 90% tại Á Châu và Ấn Ðộ là quốc gia có số lượng trâu-bò nhiều nhất thế giới.
            VN xưa nay vẫn nuôi loài Trâu Ðầm Lầy (Swamp Buffalo) có hình vóc vạm vỡ bụng to chân ngắn, lông màu xám đen, sừng hình bán nguyệt nằm ngay trên mặt phẳng trán. Ðiểm đặc biệt của loài trâu VN là giữa trán có một miếng vá xám trắng, hai vành mắt cũng có hai chấm trắng và một chòm ria mép trắng ở phía môi trên. Ngoài ra còn có hai đai trắng (chevron), một ở dưới cổ vắt ngang qua cuống họng, còn cái kia thì nằm phía trước ngực.
            Trâu nhà VN có tổ tiên là giống trâu rừng Châu Á (Bubalus Arnee) là một trong ba nhóm trâu hoang dã còn thấy tại vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào và Cao Nguyên Trung Phần. Cũng từ nhóm trâu rừng trên, người Việt đã sớm biết thuần hóa chúng vào thời đại đồ đá cách đây vài ngàn năm, để giúp việc đồng áng qua nghề trồng lúa nước, mà di chỉ xác nhận có xương trâu nhà, đào được tai Phú Lộc, Hậu Lộc thuộc Thanh Hóa thời Vua Hùng cai trị nước Văn Lang với lảnh thổ gồm Bắc Việt và các tỉnh Thanh, Nghệ, Tỉnh ngày nay. Hiện trâu VN đã được lai giống với Trâu Sông Ấn Ðộ (Murrah) để tăng thêm năng suất sữa và thịt.
 
 
+ NHÓM BÒ:
 
            - BÒ NHÀ: Bắt nguồn từ bò rừng Aurock hay Uruck tại Âu Châu, nay đã bị tuyệt chũng. Tại Á Châu, bò nhà vai có u cùng nguồn gốc với bò rừng Ấn Ðộ (box Indicus) sừng dài, cao, u vai chứa đầy mỡ, yếm ngực rộng, da thường màu xám-vàng. Tâi Phi Châu cũng có loài bò u vai (watusi) được các bộ lạc ở Uganda,Rwanda nuôi dưỡng, màu da nâu có sừng dài tới 1,5m hơi cong.
             Bò Yack Bos Grundiens sống thành từng đàn nhỏ trên cao nguyên Tây Tạng, giữa cao độ từ 4 tới 5000m, được người Tạng và Hoa miền tây bắc thuần dưỡng, dùng để cầy ruộng, kéo xe, lấy sữa-thit-da, còn phân dùng làm chất đốt. Loại bò này dài tới 4m, cao 1,8m, nặng khoảng 1400 kg có cặp sừng dài tới 0,9m. Nhờ có bộ lông màu nâu đen mọc rất dày và rậm, nên chống lại được cái lạnh khắc nghiệt ở miền băng giá Trung Á.
            - BÒ RỪNG: Tại miền đôngẤn Dộ, Miến Ðiện, Nam Dương có loại bò Bang Tien Bos dài 2,5m, cao 1,5m màu da xám-nâu hoặc đỏ xẩm, phần gần mông và phía dưới 4 chân màu trắng. Sừng nó cong và cao 0,50m, màu lông con cái dẹp hơn đực, sống thành từng đàn nhỏ ở rừng rậm giá lạnh, hiện được các nước liên hệ bảo quản trong các công viên quốc gia (bò rừng Bắc Mỹ)

            Trên cao nguyên Trung Phần VN, có giống bò Min cao lớn dị kỳ, hình dáng giống như con thú thời tiền sử, lông màu nâu đậm, lưng gù, cặp sừng no tròn to lớn. Hiện loài bò này có nguy cơ bị tuyệt chũng vì sự săn bắn bừa bãi ngay từ thời Pháp thuộc và tiếp diễn dưới chế độ Việt Cộng. Tại Gia Nã Ðại và Hiệp Chũng Quốc, có giống bò rừng Bison có chiều dài 3m, cao 1,4m,đuôi dài 0, 65m nặng trên 1 tấn, có màu da đen nhạt với bộ lông mọc bùm xùm như chiếc áo tơi nhưng thường rụng vào mùa xuân.
            Trước khi người da trắng đổ bộ lên Tân Thế Giới, bò Bison sống thành từng đàn lớn tại Bắc Mỹ, trên các miền thảo nguyên, từ bờ đông Ðại Tây Dương tới các tiểu bang Oregon và Nevada. Một nhiếp ảnh gia người Mỹ tên La.Huffman dã để lại nhiều bức ảnh giá trị về cảnh tàn sát bò rừng Bắc Mỹ. Theo sử liệu thì miền này trước đây có chừng 75 triệu con bò rừng Bison (bò tót). Tới đầu thế kỷ XIX chỉ còn lại 20 triệu con. Từ năm 1880-1898 thời kỳ người Mỹ chinh phục miền Viễn Tây, họ đã tàn sát số bò còn lại nên tới nay chỉ có khoảng 1000 con sống sót. Tình trạng khủng khiếp trên khiến cho chính phủ liên bang phải ban lệnh cấm giết bò rừng. Nhờ vậy số lượng đã tăng lên vài chục ngàn con và được sống yên ổn trong khu rừng cấm được bảo vệ. Tại Âu Châu cũng có giống bò Bison nhưng nhỏ hơn, u thấp, phần mông không đưọc đều đặn, da nâu đen hay màu hạt dẽ, dài từ 2-3m, cao 1,50m và nặng khoảng 800kg. Hiện bò này được nuôi dưỡng và bảo vệ trong các khu riêng biệt tại Nga Sô, Ba Lan và Lithuania.
 
            Tương cận với nhóm trâu-bò trong họ Bò, có loài Linh Dương, Sơn Dưong, Dê rừng, Dê nhà.. tất cả đều ăn thực vật và nhai lại.
 
 
2 -  NGÀN MỘT CHUYỆN LẠ VỀ TRÂU-BÒ:
 
.......

http://www.hon-viet.co.uk/MuongGiang_MotNganLeMotChuyenLaVeTrauBo.htm
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0