📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhà Thơ Bùi Giáng

11 trả lời, 1.402 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 17:49:08ct.ly>
Bùi Giáng và những người phụ nữ của cái đẹp




Không chỉ có Kim Cương và Marilyn Monroe, Bùi Giáng còn say đắm nhiều phụ nữ khác. Mỗi người một vẻ, họ hiện ra trong nhiều màu sắc kỳ bí khác nhau. Đó không phải là những nàng thơ theo nghĩa thông thường mà là hiện thân của cái đẹp.

Một cách vô thức, Bùi Giáng phân biệt họ theo những tiêu chí khác nhau. Những người đầu tiên có thể kể đến là Hoàng hậu Nam Phương và ni cô Trí Hải. Khác với nghệ sĩ Kim Cương và cô đào rực lửa người Mỹ Monroe Marilyn là hiện thân của cái đẹp nhân gian trần tục, hai người này thuộc về thế giới của cái đẹp thoát trần.

Một ngày nọ, Bùi Giáng nhận được một phong bì gửi đến, trên có dán con tem in hình Nam Phương Hoàng hậu. Sự kiện nhỏ nhoi ấy lập tức gây xúc động lớn với ông. Từ lúc đó, Hoàng hậu Nam Phương trở thành một hình bóng ám ảnh ông. Bà bắt đầu xuất hiện trong các trang viết của thi sĩ. Trong cuốn Mùa thu trong thi ca Bùi Giáng viết: "Suốt bao năm dài tại hạ làm thơ, chung quy chỉ vì cái màu xuân xanh bất tuyệt ban sơ của Dương Hoàng Hậu. Màu xuân ấy đã một lần tái sinh cách đây ba mươi năm trong hình hài máu me Nam Phương Hoàng hậu. Tại hạ yêu Dương Quý Phi bao nhiêu thì cũng yêu Nam Phương Hoàng Hậu bấy nhiêu".

Mặc dù Bùi Giáng luôn tôn kính Nam Phương, nhưng ông cũng hài hước, cà rỡn, lan man trên hình ảnh của bà cũng bởi tính của ông như vậy. Tuy nhiên, Bùi Giáng cố gắng giữ "chuẩn mực", không bao giờ đi quá đà. Một đôi khi ngẫu hứng quá thì ông cũng chỉ viết như thế này: "Chiêm bao anh thấy Hoàng hậu Nam Phương dắt tay Marilyn Kim Cương nương tử tới gõ cửa xin vào thăm viếng anh thì anh bảo rằng anh đang bận viết lá thư cho em nên không thể nào đón tiếp Hoàng hậu được thì cảm phiền Hoàng hậu hãy lui gót chờ qua ngày mai anh sẽ ân cần chiếu cố".

Bùi Giáng cũng có sáng tác một đôi bài thơ về Nam Phương. Trong bài Chiêm bao Nam Phương Hoàng hậu, dù là một bài thơ thuộc vào thể "điên loạn", nhưng ông vẫn đủ "tỉnh táo" để ngòi bút không chệch qua chỗ thiếu đứng đắn:

"Kê bô tí xí đêm đà
Ki ba ri xí i à xán da
Xã dan xoàng xĩnh giang hà
Ồ mô pha cố cồ ri xa ì
Tử tì mỉm tí tì ti
Miệng vàng hợp nhất nhu mì nhị biên
Ra sông ngồi ngó diện tiền
Ngần sương sái diện uy quyền nữ vương".

Bên cạnh Hoàng hậu Nam Phương, ni cô Trí Hải xuất hiện trong các trang sách Bùi Giáng một cách khá dày. Bà là một người có trình độ uyên thâm, tác giả của một số đầu sách. Có lúc Bùi Giáng gọi bà là Trí Hải ni cô, có lúc gọi là mẫu thân Phùng Khánh. Bùi Giáng làm rất nhiều bài thơ về bà. Có thể kể tên một số bài như Mẹ Phùng Khánh, Kính tặng Phùng mẫu thân, Mẹ Phùng Thăng Khánh, Phùng Khánh Mẫu Thân...

Rất nhiều người thắc mắc vì sao Bùi Giáng gọi người này là mẹ, là mẫu thân. Bùi Giáng cũng từng "giải thích" chuyện đó trong Thi ca tư tưởng như sau: "Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt Nam. Tôi lại là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?".

Có lẽ Bùi Giáng đã tìm thấy nơi người nữ tu này điều gì đó gần gũi với hình bóng người mẹ xa xưa của ông, hoặc là tấm lòng nhân ái của bà làm ông cảm động, hoặc là trí tuệ mẫn tiệp của bà khiến ông nể phục... Vì một trong những lý do nào đó mà ta không thể đoan chắc được, thi sĩ bật ra tiếng gọi mẹ trong vô thức một cách da diết. Những bài thơ của ông vì thế đọc lên thấy vừa tức cười vừa tội nghiệp:

"Mẹ còn nhớ nữa con chăng
Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên
Tuy đôi phen chết nếp nền
Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang
Mẹ về ngõ vắng vườn hoang
Thừa thiên sông lạnh kéo sang khu rừng"
..."Mẹ nhìn con nữa còn chăng
Mẹ đi đứng gót mẹ hằng hằng qua
Lúc vui buồn mẹ nhớ nhà
Quận châu xứ sở con đà lãng quên
Phùng thăng mẹ chớ xui nên
Từng cơn điên dại khôn đền cho con"
... "Nghe tin con chết giữa đường
Mẫu thân Phùng Khánh càng thương con nhiều
Con bèn tái điệp giấn liều
Chết thêm một trận hoang liêu song trùng
Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung
Ngày đêm mẹ khóc vô cùng vì con".
.. "Con thương Phùng Khánh vô ngần
Phùng thăng thân mẫu cũng gần như nhiên
Nguyệt rừng lộng lẫy man nhiên
Trăng ngàn thơ dại ngậm nghiêng nghiêng vành"...

Những câu thơ này, dù không được bình thường, nhưng nó lại gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm man mác. Phải chăng trong tiếng gọi mẹ thiêng liêng ấy là một sự cô độc tận sâu thẳm hồn người ? Nhưng Bùi Giáng là như vậy. Trong suy tư, trong cảm xúc, trong cuộc đời... ông lúc nào cũng hồn nhiên như con trẻ.

Theo Thanh Niên

📎 bui giang
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 18:01:40ct.ly>
Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị

Bùi Giáng có phải là một người điên không?


Bùi Giáng qua Phạm Văn Hạng (đất nung)

Từ trước đến nay có rất nhiều người đặt câu hỏi: Bùi Giáng có phải là một người bị mắc bệnh điên hay không? Cũng đã có rất nhiều bài viết về Bùi Giáng đề cập đến vấn đề này, trong đó một số tác giả khẳng định Bùi Giáng là người điên trong khi một số khác lại nói ngược lại.
Trong một bài viết, tác giả Trần Đới khẳng định:
- "Một sự thực là Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi Giáng bất mãn trước bất cứ thời thế nào. Bởi lẽ dễ hiểu là Bùi Giáng chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cõi văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó... Bây giờ người thi sĩ này chỉ còn một cách duy nhất để sáng tác nguồn cảm hứng kia là sống".
Một người khác, ông Nhất Thanh, thì viết như thế này:
- "Ồ, chẳng có ngôn từ nào thích hợp với Bùi Giáng cả. Ông chỉ là một ông già bình thường nhất, dễ thương nhất. Nếu có điên chăng, có lẽ là tất cả chúng ta".

Bùi Giáng hiển nhiên cũng biết việc nhiều người tranh cãi nhau rằng ông có điên hay là không điên. Ông đã tự viết về mình như sau: "Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy".

Đọc đoạn đó của ông người ta thấy hơi bối rối. Vậy thì Bùi Giáng là người như thế nào? Ông là một người điên hay là một người bình thường? Nhưng có một sự thật không thể chối cãi: Bùi Giáng đã từng là bệnh nhân của bệnh viện tâm thần hẳn hoi. Năm 1969 là năm ông in được nhiều tác phẩm nhất nhưng cũng là năm mà ông vấp phải cú sốc lớn thứ hai trong đời. Bùi Giáng bị hỏa hoạn thiêu cháy hết toàn bộ sách vở quý hiếm, một số tranh và đặc biệt nhiều bản thảo hoàn chỉnh mà ông rất tâm đắc. Con người hồn nhiên của Bùi Giáng có lẽ không bị sốc vì chuyện này, nhưng sau đó người thân của ông phải đưa ông vào Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa để chữa trị.

Cung Tích Biền kể: "Khoảng đầu thập niên 70 có lẽ người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa chữa cái bệnh đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình:
-"Nhà thương Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!".
Ông trả lời tỉnh queo:
-"Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên".
Nghe Bùi Giáng nói như thế, hẳn người ta cảm thấy ngờ ngợ rằng những việc làm không giống ai của ông là do ông muốn thế chứ chẳng phải do bệnh tật gì gây ra. Nhà văn Đào Hiếu viết:
-"Cũng có thể hiểu Bùi Giáng như thế này: Ông coi đời là hữu hạn, là phi lý, là chốn lưu đày, là cõi phù du là cái mớ bòng bong vớ vẩn...".
Chung quanh vấn đề Bùi Giáng, có hai điều cần nêu ra sau đây. Một là, không phải chỉ có mình Bùi Giáng vừa có những biểu hiện tâm thần vừa làm thơ viết văn. Có rất nhiều bệnh nhân của các bệnh viện tâm thần là nhà văn, nhà thơ, họa sĩ... Họ có thể vẽ tranh, sáng tác văn thơ ngay trong thời gian điều trị bệnh. Có điều họ không có sẵn cái gốc tài năng xuất chúng như Bùi Giáng nên không trở thành hiện tượng đặc biệt mà thôi.

Hai là, những hành vi khác người của Bùi Giáng đã được các nhà chuyên môn xác định có nguyên nhân bệnh lý hẳn hoi chứ không phải là vấn đề tư tưởng hay nhân sinh quan gì cả. Có điều, vì ta thấy cái điên của ông cũng hơi khác người nên cảm thấy ngờ ngợ. Nhưng dần dần ta sẽ được rõ hơn khi xem xét đến các vấn đề khác. Cần biết rằng, không riêng gì Bùi Giáng mà nhiều bệnh nhân tâm thần khác, tiếp xúc với họ đôi khi ta cũng dễ nhầm lẫn vì thấy họ có vẻ thật thật giả giả, nửa điên nửa tỉnh. Cho nên chúng ta không thể kết luận được về tình trạng của họ mà phải là các nhà chuyên môn.

Không ai biết Bùi Giáng, đọc Bùi Giáng mà không yêu mến ông. Đó là sự thật. Gọi ông là người tỉnh cũng được, điên cũng được, dù là tỉnh hay điên ông cũng đã để lại cho đời những vần thơ mênh mang trác tuyệt. Ông mở ra một thế giới thi ca cao vời, ảo diệu. Nói như một người từng gần gũi với ông: "Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có được thêm ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu". Quả đúng như vậy !
📎 BG qua Pha..t nung )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 18:16:17ct.ly>
Chàng Tô Vũ" thao thao bất tuyệt....




Bùi Giáng tiên sinh
Trước nay, có khá nhiều bài viết về Bùi Giáng nhưng đều rất tản mạn, hầu hết chỉ là những bài lẻ tẻ đăng báo hoặc viết trong các tuyển tập hoặc đặc san kỷ niệm. Dựa trên những tài liệu có được và những tác phẩm của ông, chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những thông tin tương đối có hệ thống về diện mạo của con người tài năng thuộc hạng siêu phàm nhưng rất kỳ dị này.

Người viết sách với tốc độ kinh hồn

Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau càng nhiều hơn. Nói về số lượng, thì ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước giải phóng. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị ngàn bài. Tuy nhiên, ông hoàn toàn không phải một học giả cần mẫn, suốt ngày giam mình trong thư viện, miệt mài bên trang sách mà thậm chí còn ngược lại. Nhiều người từng gần gũi ông ngạc nhiên nói rằng họ chỉ thấy Bùi Giáng suốt ngày lang thang rong chơi nhàn nhã, bia rượu uống tràn, thế nhưng khi nhà xuất bản cần, chưa đến một ngày ông đã mang đến cả năm bảy trăm trang sách. Vậy ông viết sách vào lúc nào?

Một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể lại chuyện viết sách của ông như sau: "Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc Nhà xuất bản An Tiêm lúc đó) vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, đã dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản tác phẩm của Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm".

Nhà văn này kể tiếp: "Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đã gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà thầy Thanh Tuệ, chúng tôi đã thấy Bùi Giáng ngồi đó trước, tươi cười, ung dung trong cái phong thái của một con người nhàn nhã nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nhỏ nào của một người viết đang gió táp mưa rơi với ngàn ngàn trang sách". Ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cố gắng tìm hiểu nhưng không thể nào hiểu nổi. Chưa bao giờ những người gần gũi Bùi Giáng bắt gặp ông đang ngồi viết sách. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng đang làm gì hết.
Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười: "Tôi cũng lấy làm kỳ. Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Nhưng ảnh viết tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Còn nói ảnh đem bản thảo tới thì nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Điều kỳ lạ là thể loại trước tác nào ảnh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết tới phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy".

Có người ngạc nhiên quá, tìm cách rủ Bùi Giáng tới quán uống rượu để tìm hiểu. Nhưng chỉ tốn rượu đãi Bùi Giáng chứ chẳng khai thác được chút thông tin nào. Vặn hỏi mãi ông cũng không giải thích điều gì. Bùi Giáng chỉ cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu và nói "vui thôi mà" trước sự ngơ ngẩn của người hỏi chuyện. Trước sau ông không hề giải thích bất cứ thắc mắc nào.
Nhà văn kể trên nói tiếp: "Chừng như ông không có gì giải thích, sự thành hình một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó. Ừ, vui, ba chữ "vui thôi mà" là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi sự tìm hiểu".

Bài thơ lạ lùng của anh chăn bò
Bùi Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ chánh qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền.

Bùi Giáng là con thứ 2 của ông Bùi Thuyên với bà Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng. Và Bùi Giáng cũng tỏ ra thích thú với tên gọi này. Thỉnh thoảng ông cũng tự xưng cái tên thứ đó trong những câu thơ của mình. Sau này trong một bài thơ khá hài hước, Bùi Giáng viết:

"-Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?
- Và cô có phải cô Bông năm nào?
- Anh còn nhớ rõ, ôi chao
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
Anh điên mà dzui dzẻ thập thành
Còn chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu".

Mặc dù là người gặp may mắn trên đường học vấn nhưng Bùi Giáng luôn luôn phá ngang. Bùi Giáng từng viết rằng ông không có ý định học để lấy bằng cấp. Ông Bùi Văn Vịnh, một người em ruột cùng cha cùng mẹ khác của Bùi Giáng cho biết, sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa. Năm 1945, khi đang học lớp Đệ Tứ thì thời thế thay đổi. Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung. Rồi Bùi Giáng lên đường đi theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học. Từ Quảng Nam thuộc Liên khu V ra tới Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV phải đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi ra đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam.

Bỏ học trở về nhà, ông theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi. Sau này ông có sáng tác bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ in trong tập Mưa nguồn để kỷ niệm cho khoảng thời gian này. Một số tài liệu cho rằng Bùi Giáng đã có nhiều năm chăn dê nhưng thực ra ông chỉ trải qua 2 năm chăn bò, từ 1950 đến 1952 trên vùng rừng núi Trung Phước. Có lẽ đây là quãng đời lãng mạn nhất của ông. Và ông đã gọi quãng thời gian này là 15 năm chăn dê, như Tô Vũ ngày xưa. Nhớ lại những tháng ngày này, ông viết: "Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách vở. Chạy về quê làm thằng chăn bò. Bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!".

Bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ dài đến 60 câu, được nhiều người thích đọc. Bài thơ với những lời thơ hết sức thiết tha, đằm thắm, ông dành cho những nàng thơ đặc biệt của ông là những con bò, đọc lên nghe rất thú vị.
Trong bài thơ, ông xưng anh với những con bò mà ông đã biến chúng thành dê cho giống chuyện Tô Vũ ngày xưa và gọi chúng là em:

"Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện
Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi"

Ông tặng các nàng thơ của ông những chiếc vòng bằng mây mà ông tự đan đủ màu sắc như người ta tặng kỷ vật cho người mình yêu:

"Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này đây em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu".
Mỗi nàng dê một chiếc vòng, ông tự tay đeo vào cổ các nàng và thủ thỉ:

"Ngẩng đầu lên! Dê ơi anh thong thả
Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! Đây lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên".

Tặng xong kỷ vật cho các nàng dê rồi ông mới thề thốt:

"Và giờ đây một lời thề đã thốt
Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha".

Lấy dê, thực chất là bò, làm nàng thơ quả là một chuyện xưa nay chưa có ai làm. Nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa là ông so sánh chuyện đeo vòng mây cho dê với việc trao vòng cầu hôn cho vị hôn thê của mình: "Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ/Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi/Trao người em trăm năm lời ước thệ/Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi".
Trong lần xuất bản đầu tiên của tập Mưa nguồn, Bùi Giáng còn ghi chú rõ ý khổ thơ này là, ngày xưa khi ông cưới vợ, thì cái giây phút đeo chiếc vòng đính hôn kỳ diệu ấy không làm ông xúc động bằng bây giờ đeo vòng mây cho dê! Thật là một cảm xúc khác người. Sau này chúng ta sẽ thấy, thứ cảm xúc này không phải do ông cố nặn ra cho thành bài thơ lạ mà đó là những gì diễn ra thực tế trong tâm trí ông.

Nỗi lòng Tô Vũ là một bài thơ độc đáo bởi đối tượng cảm xúc của tác giả không phải là cảnh đẹp, là người thơ mà là những con dê. Bài thơ không giống ai đó có những đoạn thơ đẹp lạ lùng:

"Em nhớ hay không hồn hoa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu buông hãi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan lìa"...
📎 Buigiang2
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 18:21:12ct.ly>
Chuyện ly kỳ của ông thầy giáo cuồng si nàng Kiều



Hai năm chăn bò có lẽ cũng quá đủ để nhà thi sĩ thả hồn mình rong ruổi theo những dặm đường du mục. Những ấn tượng sâu đậm trong thời kỳ này đã được Bùi Giáng tái hiện trong một số bài thơ mà ông sáng tác sau này.

Ngoài bài thơ độc đáo Nỗi lòng Tô Vũ, còn có bài Anh lùa bò vào đồi sim trái chín. Tuy không hay bằng Nỗi lòng Tô Vũ nhưng bài thơ này cũng thể hiện một tình yêu thiên nhiên đắm say và mãnh liệt của Bùi Giáng:

“Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình",
"Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không"
Quả thật là một tâm hồn quá khoáng đạt.
Tháng 5 năm 1952, Bùi Giáng bỏ lại sau lưng những đàn bò cùng "hồn hoa dại cỏ" trên những đồi sim trái chín để ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương. Bằng tú tài trước đây do Liên khu V thuộc Chính phủ Kháng chiến cấp, đổi lại để vào Sài Gòn là khu vực đang thuộc vùng địch tạm chiếm ghi danh theo học Đại học Văn khoa. Nhưng một lần nữa ông cũng quyết định bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở Đại học Văn khoa vì thấy không "tâm phục khẩu phục". Theo tác giả Thụy Khuê thì đây là lần cuối cùng ông bận tâm với chuyện học hành. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.

Sau khi kết thúc chuyện học hành, Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Sau đó ông bắt tay vào dịch tác phẩm văn học, giới thiệu tác gia danh tiếng của nước ngoài. Ngoài việc nghiên cứu và viết sách, Bùi Giáng còn đi dạy ở một số trường trung học. Và vì thế mới có những câu chuyện ly kỳ về việc giảng Kiều của Bùi Giáng.

Câu chuyện sau đây do một tác giả thuật lại trong một đặc san về Bùi Giáng, không nói rõ là mình chứng kiến hay giai thoại. Chuyện kể rằng, một lần nọ Bùi Giáng giảng Kiều cho các em học sinh, đến đoạn Từ Hải bị chết đứng giữa trận tiền, ông cảm thấy uất ức quá. Ông không chịu nổi việc một người anh hùng như Từ Hải mà phải bỏ thân nơi chiến trường vì bị mắc lừa. Từ bức xúc thái quá dẫn đến kích động thần kinh nên Bùi Giáng la hét dữ dội. Càng căm tức Hồ Tôn Hiến bao nhiêu thì ông càng la hét bấy nhiêu. Rồi ông khóc tức tưởi, đập bàn đá ghế, gục đầu thổn thức trên bàn giáo viên. Hết hét lại khóc, hết khóc lại hét.
Học sinh lúc đầu còn ngạc nhiên thích thú nhìn ông thầy mình thể hiện cảm xúc, nhưng sau thấy ông làm quá thì đâm ra sợ hãi. Bởi trước mặt chúng đang là một ông thầy đạo mạo bỗng nhiên trở thành một con người không còn biết gì đến chung quanh, chỉ la hét than khóc như cha chết mẹ chết. Quả thật Bùi Giáng đã biến tiết dạy của mình thành đám ma của Từ Hải, khiến từ học sinh cho đến ban giám hiệu phải một phen hết hồn. Sau sự cố "đám ma Từ Hải" đó, nhà trường đành phải mời thầy nghỉ dạy vì không dám để thầy làm các em học sinh phải thêm một phen hoảng hồn bạt vía nữa.

Cung Tích Biền cũng kể một câu chuyện tương tự nhưng kỳ dị hơn nữa. Theo Cung Tích Biền thì đây chỉ là một giai thoại, tuy nhiên căn cứ vào những gì xảy ra với Bùi Giáng trước nay thì chúng ta có thể tin được đó là câu chuyện có thật. Câu chuyện xảy ra vào khoảng đầu thập niên sáu mươi. Bùi Giáng đi dạy môn Việt văn cho một trường trung học ở một vùng tỉnh lỵ nọ. Hiển nhiên dạy Việt văn thì phải đến lúc ông đụng đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Và chuyện gì đến phải đến.

Trong một giờ Việt văn, khi giảng đến đoạn nàng Kiều phải bán mình chuộc cha để hồng trần lưu lạc, Bùi Giáng đã bật khóc òa, khóc tức tưởi, khóc nức nở ngay giữa lớp học. Có lẽ nước mắt cũng không làm ông nguôi bớt nỗi cảm thương người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. Vì thế ông vừa khóc vừa nhảy phóc qua cửa sổ lớp học, chạy bộ ra bến xe rồi đón xe đò về Sài Gòn tức thì. Học trò nam nữ trong lớp thì cứ ngồi chờ mãi, tưởng thầy đi rửa mặt cho sạch nước mắt để dạy tiếp hoặc đi đâu đó một lát rồi sẽ trở lại, bởi vì trên bàn thầy vẫn còn sách vở, bao thuốc lá.

Nhưng hết tiết học cũng không thấy thầy trở lại. Ngày hôm sau cũng không thấy thầy trở lại. Cả tuần sau thầy cũng không quay lại. Bởi vì thầy đã quyết định bỏ lớp bỏ trường, bỏ luôn cả vùng đất tỉnh lỵ ấy đến nhiều năm sau. Hỏi thầy nguyên nhân vì sao thì thầy ngậm ngùi nói "mần răng mà trở lại nơi em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn" ấy.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nàng Kiều và tình yêu loài vật
Đến Sài Gòn được ít lâu, Bùi Giáng bắt tay vào việc viết sách. Nhưng những cuốn sách đầu tiên Bùi Giáng viết ra, vì chưa có "thương hiệu" nên dĩ nhiên chưa có nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in, do vậy ông phải tự lo.
Nhưng với một người vừa chân ướt chân ráo đi lập nghiệp như ông, làm sao có tiền để in sách. Vì vậy, ông phải xoay xở bằng nhiều cách. Một số người cho rằng Bùi Giáng đã nhờ người bà con đang làm ăn phát đạt lúc đó là bác sĩ Bùi Kiến Tín cho mượn tiền để in sách. Nhưng những người thân cận với Bùi Giáng cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa hưởng ở Quảng Nam để lấy tiền in sách. Theo chúng tôi, chi tiết này là chính xác, vì nó đúng với bản chất con người Bùi Giáng.
Khởi đầu, Bùi Giáng tập trung vào việc nghiên cứu Truyện Kiều. Đây là tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh mẽ với ông trong thời kỳ còn học trung học. Năm Bùi Giáng mười sáu tuổi, đọc những cuốn sách của Nguyễn Bách Khoa, ông đã cảm thấy bức xúc vì những lời Nguyễn Bách Khoa đả phá Truyện Kiều quá nặng nề.

Lúc đó, không khí tranh luận về Truyện Kiều khá sôi nổi. Bùi Giáng đã hăng hái bước vào cuộc. Cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần do Tân Việt xuất bản vào năm 1957 có những bài viết rất hay về Truyện Kiều. Cùng với một vài tác giả khác, ông chống lại những quan điểm cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm phản đạo đức, không mang tính nhân bản. Ông bênh vực quyết liệt cho nàng Kiều.

Lúc này, tác giả Nguyễn Sĩ Tế vừa tái bản tập sách Luận đề về Nguyễn Du, trong đó phê phán nhân vật Kiều nhu nhược, lẩn thẩn, ham mê vật chất... Bùi Giáng bèn "ra tay nghĩa hiệp" bênh vực giai nhân. Ông đối thoại thẳng thắn với Nguyễn Sĩ Tế, cho rằng Nguyễn Sĩ Tế hẹp hòi trong cách nghĩ: "Sao ở mọi chốn khác ông Tế tỏ ra chu đáo là thế, mà riêng đây, ông nỡ cứ hẹp hòi. Mười năm trước ông Nguyễn Bách Khoa từng lớn tiếng: hoàn cảnh xã hội chi phối con người.
Nhưng khi đem cái nguyên tắc ấy áp dụng trong việc phê phán nhân vật, bao lần ông đã không chịu xét cái cảnh ngộ nào đã trực tiếp chi phối tâm trạng con người nào"..., rằng: "Ông tàn nhẫn quá. Mà chúng tôi tự lượng sức mình không đủ để bênh vực cho giai nhân. Chúng tôi đành quay mặt đi, không dám thấy, và chỉ xin phép yếu ớt khẽ kêu lên một tiếng xuýt xoa một đôi bận mà thôi - những bận nào mũi dao của ông tỏ ra tàn bạo quá". Với một giọng văn lúc thiết tha trầm lắng, lúc sôi nổi mạnh mẽ, Bùi Giáng góp phần làm cho người đọc cảm thương nàng Kiều hơn.
Những cuốn sách đầu tiên của Bùi Giáng có lẽ bán chạy nên các nhà xuất bản bắt đầu chú ý đến ông. Những cuốn sau, Bùi Giáng không cần phải bỏ tiền ra in nữa mà ông giao bản thảo cho các nhà xuất bản in để lấy tiền. Từ lúc đó trở đi, Bùi Giáng kiếm được kha khá nhờ những khoản nhuận bút. Vừa dạy học vừa viết sách, nếu khéo thu xếp như Nguyễn Hiến Lê, hẳn ông đã tạo dựng được cơ ngơi.

Thế nhưng Bùi Giáng hầu như không giữ lại cho riêng mình được cái gì. Một phần lớn khoản tiền nhuận bút ông đem tiêu pha rất lung tung, trong đó dành khá nhiều cho việc mua chó và khỉ về nuôi. Những người thần tượng hóa Bùi Giáng tỏ ra rất đắc ý với những việc làm khác người đó của ông.
Vào những năm về sau, khoảng gần cuối thập niên sáu mươi, ông in được nhiều sách, tiền nhuận bút cũng nhiều, ông càng tiêu tiền một cách kỳ cục hơn. Nhiều người kể có lúc thấy đàn chó của ông lên đến mấy chục con. Phạm Mạnh Hiên cho biết: "Hồi đó, sách của Bùi Giáng thường in ở nhà xuất bản An Tiêm, mỗi lần thầy Thanh Tuệ đưa tiền nhuận bút, tôi phải đi với anh Bùi Giáng. Lại lên đường ngao du nhờ cái bộ vó thư sinh hiền lành của tôi mà nhiều lần mấy cái khách sạn ở Chợ Lớn đã để cho chúng tôi cùng vào trú ngụ, bởi bên cạnh tôi có cái ông trung niên kỳ dị, ăn mặc cổ quái chẳng giống ai, lại dẫn theo cả đàn chó hay vài ba chú khỉ nhỏ"...
-"Ngày đó hễ có tiền là anh Giáng ra ngay khu chợ Bến Chương Dương mua cả bầy chó, cả bầy khỉ". Cái thú đi giang hồ đã làm cho Bùi Giáng “nướng” hết những khoản nhuận bút vừa nhận. Có lần say ngất ngưởng, sáng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm ở vỉa hè.

Một người quen khác của Bùi Giáng kể:
-"Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn ngất ngư, ngộp thở, kêu hục hục trong bao. Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Ký cả tuần lễ làm bà Bé Ký phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai chịu nổi". Khoảng năm 1974, một người em ruột của Bùi Giáng mua được ngôi nhà ở Thị Nghè và mời ông về ở. Ông đến, dắt theo cả đàn vừa chó vừa khỉ khiến hàng xóm hết sức kinh ngạc.



📎 bui giang
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 18:24:01ct.ly>
Bùi Giáng: Nỗi ám ảnh Nguyễn Du và Heidegger



Tiếp theo những cuốn sách giới thiệu các tác giả cổ điển VN, Bùi Giáng chuyển qua viết khá nhiều cuốn sách về con người, tác phẩm và tư tưởng của các nhà văn, nhà triết học phương Tây.

Đầu tiên là cuốn Tư tưởng hiện đại in năm 1960, đề cập đến Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, Paul Claudel, Saint Exupéry, Jean Paul Sartre, André Malraux. Cuốn sách này thể hiện một kiến thức uyên bác của tác giả, tuy Truyện Kiều thứ thiệt, thơ giả Kiều do tác giả sáng tác, thơ Tản Đà, thơ của nhiều nhà thơ khác được đưa vào đây không ít.

Năm 1963, bộ sách 2 tập dày ngót ngàn trang Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại ra đời. Đây là một cuốn sách vừa uyên thâm vừa kỳ lạ. Hãy đọc một đoạn văn ở phần Lời tựa: "Đã là con người quay chong chóng trên quả địa cầu tròn, có một ai không cảm thấy mình là lá cỏ lá rêu mù sương lá lách, lau cồn lìa kim dứt cải…Vậy phải biết nhắm hai con mắt lại để làm một cái giây leo như Tố-Như leo khắp mình mẩy Hoa Thi Đường Thi không chừa một chỗ".
Người đọc có cảm giác như ông nhảy phóc vào trong tư tưởng của triết gia này và… quậy. Xin hãy đọc đoạn văn sau đây nằm trong chương Martin Heidegger và vấn đề hữu thể:

"Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau
Nỗi niềm tưởng tới mà đau
Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà
Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Bằng ba năm hay bằng hai? Bằng hai hay bằng bốn? Một đêm mà bằng bốn năm kia ư? Nhiều quá? – Mấy thì vừa? – Hai năm? Ít quá? – Vừa bằng là ấy ấy ấy chính lààà BAAA. Và ta xin trở lại với nguyên ý của nguyên tình nguyên mộng lụy
CA DAO LÀ MUÔN NĂM NGÀN ĐỜI VẠN ĐẠI NƯỚC VIỆT LÀ SƯƠNG TUYẾT KIỀU ĐẠM IN PHA:
Con ơi! Nhớ lấy lời cha. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Vâng. Con nhớ lời cha. Tại sao nhớ? – Vì con có nghe. – Tại sao nghe? – Vì con có thấy. – Thấy gì? – Thấy rõ ràng lù lù trước mặt là… - Là gì? Là: Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Ai ăn trộm? – Sartre ăn trộm áo quần của Heidegger – Áo quần đẹp mới hay không? Đẹp mới vô ngần. Nhưng… Nhưng sao? Nhưng than ôi! Tại sao lại xảy ra cái chuyện này là cái nỗi nông kỳ bí… - Kỳ bí như thế nào? Cái nỗi nông nông nỗi gì? – Thưa rằng áo quần của Heidegger vốn của Heidegger thì vốn của Heidegger mặc áo Heidegger coi ra rỡ ràng thật đẹp là Heidegger rỡ ràng quắc thước là hùng dũng Heidegger rạng vẻ cân đai Heidegger râu hùm mày ngài Heidegger hàm én đồ sộ cả cười hàm én Heidegger có nhìn đêm tế ngộ trông mặt là Heidegger trông mặt cả cười với Kiều và Thúy và Tố và Như và Nguyễn Du là ấy chính Heidegger đúng điệu thiên tài vùng vẫy trong bấy nhiêu niên đáng lẽ từ thiên thu làm nên kinh thiên động địa nếu gặp người từ lâu tri kỷ là đúng điệu tri kỷ của Heidegger…". Đoạn văn kiểu như vậy dài ngót cả mấy chục trang sách. Đọc nó người ta thấy như bước vào một mê hồn trận.
Trong hai tập sách dày hơn một ngàn trang này có rất nhiều đoạn văn như thế. Không ai có thể biên tập được những cuốn sách này. Bùi Giáng cũng biết điều đó nên trong phần mở đầu một chương của cuốn Tư tưởng hiện đại, Bùi Giáng viết: "Bài này trước kia chúng tôi đăng ở tạp chí MAI, ký tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh đã có nhã ý muốn bày tỏ niềm thông cảm đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn chịu nhiều những hững hờ của độc giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông Tuynh đã chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là những tiếng tôi quen dùng".

Bùi Giáng đã cám ơn người biên tập cho ông trong phần mở đầu đó. Có lẽ đây là người duy nhất biên tập văn Bùi Giáng, và nhờ đó cuốn sách này trở nên gọn gàng, ta có thể hiểu được một số nội dung mà Bùi Giáng đưa ra. Nhưng bởi vì ông Tuynh là đồng tác giả. Còn nếu biên tập viên thì không thể làm được như ông Tuynh.
Có một số người Bùi Giáng nhắc lại mãi trong những trang viết của mình như là một nỗi ám ảnh. Hình bóng họ đã ăn sâu vào tiềm thức ông do những ấn tượng mạnh mẽ lúc ban đầu. Khi bệnh tình bộc phát, những hình bóng đó sẽ xuất hiện trở lại trong văn thơ ông theo những cách khác nhau. Trên lĩnh vực tri thức, đại thi hào Nguyễn Du và triết gia người Đức Martin Heidegger được ông lặp lại nhiều nhất.
Khi bước vào con đường nghiên cứu, Bùi Giáng quan tâm đến Nguyễn Du đầu tiên cùng với một số tác giả cổ điển khác. Chúng ta nhớ lại, cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần được ông viết vào năm 1957 thật sáng trong mạch lạc. Kể từ đó, thiên tài Nguyễn Du bắt dầu "nhập hồn" Bùi Giáng. Ước tính có đến cả ngàn lần Bùi Giáng nhắc tên Nguyễn Du. Trong thơ, trong văn, trong giới thiệu tư tưởng và triết học, thậm chí cả trong những bản dịch tiểu thuyết nước ngoài… đâu đâu ta cũng bắt gặp hình bóng Nguyễn Du. Bùi Giáng còn sáng tác nhiều bài thơ về Nguyễn Du. Một số bài thơ khác không liên quan, thì ông lại đề tặng Nguyễn Du.
Tuy nhiên, không phải như thế là Bùi Giáng sẽ dành những câu chữ hay ho nhất để viết về "cố nhân" của mình. Ngược lại, phần lớn những bài thơ viết về Nguyễn Du đều rất cà rỡn. Ta hãy đọc vài đoạn thơ Bùi Giáng viết về Nguyễn Du. Đây là một đoạn trong bài

Nhớ ông:
"Nhớ hoài ông Nguyễn ông Du
Ông Như ông Tố Điếu Đồ biển Nam
Hồng Sơn Liệp Hộ hội đàm
Hồng Sơn sơn nguyệt minh quang một mình".

Hoặc một đoạn khác trong bài Tố Như nhớ quê:
"Tôi nay lão nhược hơn ông
Tôi ngoài bảy chục thong dong một mười
Ông chưa tới tuổi sáu mươi
Lìa đời lúc mới tuổi ngoài năm lăm".

Đó là trong thơ. Vì thơ thì không phải lúc nào cũng đưa được một người nào đó vào mãi nên sự xuất hiện của Nguyễn Du cũng có giới hạn. Nhưng trong văn xuôi thì Bùi Giáng liên tục đưa Nguyễn Du vào. Đi sâu vào các trang sách của Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Du xuất hiện dày đặc. Khen thơ Hồ Dzếnh, Bùi Giáng viết:
- "Cũng may cho ông Nguyễn Du sinh ra ở thế kỷ trước. Nếu sinh ra đồng thời với Hồ Dzếnh, ắt ông Nguyễn Du không còn chịu viết Đoạn Trường Tân Thanh làm gì".

Viết về một câu chuyện không đâu vào đâu, Bùi Giáng cũng lại nói về Nguyễn Du: "Lại cũng như ông Nguyễn Du ham có hơn ba trăm năm sau có kẻ khóc mình. Có một mẫu thân Phùng Khánh cho con bú trong hiện tại đã đủ rồi, hà tất phải dỗ con nín khóc ba trăm năm sau".
Viết về Albert Camus, Bùi Giáng cũng không quên Nguyễn Du:
- "Rồi những điều Nguyễn Du nói với ma, thì quỷ lại tưởng là nói với quỷ. Những điều Nguyễn Du nói với quỷ, thì thần thánh lại tưởng là nói với thánh thần. Những ngộ giải chạy tràn lan. Quỷ không hài lòng về Nguyễn Du, thần thánh bực bội vì Nguyễn Du".

Trong những cuốn sách như Mùa thu trong thi ca, Thi ca tư tưởng, Đường đi trong rừng… cứ một đôi trang là ta bắt gặp hình ảnh Nguyễn Du hiện lên qua cái lăng kính hài hước của Bùi Giáng:
"Nguyễn Du không kinh hoàng nhảy lui. Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma, vùng vẫy rú lên một tiếng như Zarathustra also sprach. Ông điềm nhiên làm Nam Hải Điếu Đồ. Kẻ câu ấy câu cái gì tại Nam Hải?"… "Và đó cũng là duyên do kỳ dị thiên biến vạn hóa đã khiến Nguyễn Du mở một trận Ẩn Tàng kỳ bí cổ kim bằng cách: cả hư không đặt để nên lời, cả nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung của song trùng tịch hạp thượng thừa huyền môn tâm pháp – Nguyễn Du đều đem gán vào môi miệng Bạc Bà Tú Bà"…

Bùi Giáng còn có cái thú làm thơ giả Kiều để ký tên chung Bùi Giáng - Nguyễn Du hoặc Bùi Giáng - Tố Như. Đó là những đoạn lục bát chen vào giữa những đoạn văn xuôi, có tí chút "chất Kiều". Trong cuốn Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại có nhiều đoạn giả Kiều rất dài. Những câu giả Kiều ấy có khi sai cả vần sáu tám.

Cùng với Nguyễn Du là Heidegger. Ông này cũng xuất hiện rất nhiều trong các trang viết của Bùi Giáng, không kém gì Nguyễn Du. Không rõ triết gia người Đức này "nhập hồn" Bùi Giáng lúc nào mà đến năm 1963, khi Bùi Giáng viết bộ sách hai tập Martin Hedegger và tư tưởng hiện đại thì đã thấy ông bị "tẩu hỏa nhập ma" bởi triết gia này rồi. Bùi Giáng đã viết đến năm sáu cuốn sách liên quan đến Heidegger. Nhưng như thế vẫn chưa thỏa mãn, ông lại đưa triết gia này vào trong rất nhiều cuốn sách khác. Tuy nhiên khác với Nguyễn Du, Bùi Giáng ít dám "sờ cằm vuốt râu" Heidegger, dù đôi lúc cũng cà rỡn kiểu như: "Ông Cụ Già Nua Nước Đức Heidegger", "Heidegger Đức Quốc Nua Già". Người ta có cảm giác Heidegger được ông kính nể như một người thầy còn Nguyễn Du thì ông mến yêu như một người ông vậy…

* Vị trí hai người đẹp Kim Cương và Marilyn Monroe trong lòng Bùi Giáng
Bùi Giáng yêu cũng thật lạ lùng. Trong lòng ông có rất nhiều người đẹp, nữ nghệ sĩ Kim Cương và diễn viên điện ảnh Mỹ Marilyn Monroe chiếm một vị trí đặc biệt. Đối với hai người này, Bùi Giáng mạnh dạn nói năng mà không hề e ngại điều gì. Bởi trong tâm thức ông, họ là hiện thân của cái đẹp nhân gian.
Hiện có rất nhiều giai thoại về chuyện Bùi Giáng mê Kim Cương, nhưng có lẽ ta cũng không cần tìm hiểu rằng chúng thật giả bao nhiêu phần trăm, bởi điều đó không mấy quan trọng. Vì như trường hợp Marilyn Monroe, một người ở tận bên kia đại dương mà vẫn nhập vào hồn ông được, huống gì là Kim Cương tài sắc ở ngay tại VN.
Kim Cương là đối tượng số một của Bùi Giáng. Hình bóng của người đẹp này dường như thường trú trong vô thức của ông chứ không phải thỉnh thoảng mới hiện ra như một số người khác. Bùi Giáng đã dùng mọi cách biểu đạt kỳ quái nhất để nói về Kim Cương. Bài thơ sau đây hẳn sẽ làm cho một số độc giả nữ cảm thấy "kỳ kỳ" nhưng đồng thời nó cũng cho thấy sự ám ảnh kinh khủng của người đẹp Kim Cương đối với ông. Đó là bài Cô Kim Cương ơi, in trong tập Sa mạc phát tiết, nguyên văn như sau: "Nếu ngày sau tôi chết đi, mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt/Thì cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được/(Nhớ giỏ ngay trên nấm mồ)/Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận/(Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây)". Thật là một bài thơ không thể nào tưởng tượng nổi.

Nhưng không chỉ có vậy. Trong cuốn sách Con đường ngã ba, Bùi Giáng còn bị ám ảnh dữ dội hơn nhiều. Suốt mấy trang liền, ông nhắc đi nhắc lại "lời đề nghị" ở trên: "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Thiên tài buổi Hoàng Hôn thốt một lời như thế. Nhưng Vũ Lâm Xuân của Thệ Đa Lâm vẫn không thể trùng sinh trên đống xương tơi tả của mình..."... "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Đó quyết nhiên là lời rốt ráo tối hậu. Không cách gì nói khác. Nấm mồ tại hạ. Không thể đổi tiếng đó ra làm một tiếng nào khác. Hãy đi tiểu. Có thể nào đổi tiếng đi tiểu ra làm một tiếng khác..."... "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ vẫn vĩnh viễn là ngôn ngữ tuyệt trù bất tận thi nhiên. Vì chỉ nói như vậy thì ngàn vạn năm sau riêng hình ảnh cô Kim Cương sẽ vĩnh viễn đi về Trong Tháng Ba Lễ Hội để giải oan cho Tượng Vương hồi xứ Hoa Nghiêm Kinh..."... "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ là sự vụ cần yếu ban sơ cho cuộc tối sơ đi về hủy thân giữa trần thổ. Cô Kim Cương vén xiêm đi tiểu xong rồi, thì từ nấm mồ của trần thổ hủy thân đó sẽ nảy nở ra cuộc đầu thai nơi núi đá...". Cứ một ý như vậy mà Bùi Giáng nói dông nói dài mãi. Nhưng sau đó, cách khoảng mấy trang, Bùi Giáng lại đổi ý, không muốn giữ lời đề nghị trên nữa: "Hỡi mẫu thân Kim Cương! Mẫu thân hãy dừng cuộc đi tiểu trong một thời gian để suy ngẫm trở lại xem có thể tạo ra một vũ trụ khác để đi tiểu".

Chúng ta không cần quan tâm đến ý nghĩa của từng câu chữ. Nhưng chúng mang cái ý nghĩa tổng quát, đó là sự ứng xử của vô thức đối với từng khái niệm. Ở đây là sự ứng xử với cái đẹp khác giới tính của thi sĩ trong trạng thái tâm thần không bình thường.

Theo sau Kim Cương, Marilyn Monroe cũng được Bùi Giáng mê cuồng. Ông đã sáng tác một số bài thơ về người đẹp này. Ta hãy đọc bài Trời khóc Marilyn để xem Bùi Giáng viết về người đẹp này như thế nào:

"Trời xanh úp mặt nghe tin
Thôi rồi! Em Má Ri Lyn đi rồi
Từ đây ta bỏ ngai trời
Thu thời gian đập tơi bời càn khôn
Giữa hư vô nếu em còn
Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc òa
Cồn lê lên miệng là ba bốn lần".

Đó là bài thơ ông in trong tập Hoa lá cồn, xuất bản năm 1963. Sau đó trong phần Mưa nguồn hòa âm, ông lại viết một bài thơ với cái tựa cũ là Trời khóc Marilyn. Bài thơ có mấy chục câu bắt đầu từ chữ luống, một loạt câu khác bắt đầu từ chữ một. Bài thơ này có một số câu chữ đi vượt quá giới hạn "đố tục giảng thanh", không thể trích dẫn vào đây được. Nhưng nó cho thấy rõ cái cách mà Bùi Giáng trình bày về cái đẹp trần tục theo cảm hứng của ông.

Có lẽ nói mãi cũng không hết được chuyện Bùi Giáng làm thơ về những người đẹp. Cho nên ta hãy đọc mấy câu thơ mà ông "phân loại đánh giá người đẹp" trong bài Quốc sắc Việt Nam sau đây: "Nam Phương Hoàng hậu đẹp một cách thong dong/Kim Cương Nương tử đẹp một cách thoải mái/Hà Thanh Công chúa đẹp một cách cởi mở/Trí Hải Ni cô đẹp một cách không lời". Bài thơ này còn dài nhưng chỉ trích dẫn chừng này câu cũng đủ cho thấy "vị giám khảo cuộc thi Người đẹp Việt Nam" này có con mắt tinh đời lắm.
📎 BG qua nét..oàn Vinh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 23:21:49ct.ly>
Bùi Giáng - thi sĩ kỳ dị

Ngày tháng ngao du





Năm 1970, Bùi Giáng được các bác sĩ ở Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cho xuất viện. Ngay trong năm đó, ông đã in hai cuốn sách là Biển Đông xe cát và Mùa thu trong thi ca. Qua năm 1971 ông in Ngày tháng ngao du. Lúc này ông cũng đã bắt đầu ngao du thực sự trên khắp những nẻo đường Sài thành chứ không chỉ ngao du trong các trang sách.

Phạm Xuân Đài một người gần gũi với Bùi Giáng kể: "Bây giờ anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện vùng chợ Trương Minh Giảng, chỗ Đại học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ, đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đang đầy ắp trong người anh. Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình đang hiện diện ngay trước mặt mình. Đêm khuya một hai giờ sáng người ta nghe thấy một người đi vừa tranh luận với chính mình, lời lẽ khó hiểu, thì ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng".

Năm 1972 ông in khá nhiều sách: Đường đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Con đường ngã ba - Bước đi của tư tưởng. Năm 1973 in Bài ca quần đảo, Hoàng tử Bé. Năm 1974 in Mùi hương xuân sắc.

Khi không làm gì, ông lại ngao du nhiều hơn. Một người quen biết khác với Bùi Giáng, ông Nguyễn Văn Thức kể lại như sau: "Có một lần gặp một người bạn, người bạn đó đã nói với tôi: Bùi Giáng dạo này điên lắm. Tôi bán tín bán nghi tự hỏi không biết có thật không”. Nhưng một hôm, Nguyễn Văn Thức đã tận mắt chứng kiến những gì xảy ra trước mắt mình, mới tin lời người bạn nói lúc trước: "Một ông lão ăn mặc thời thượng đang nhảy múa trên đường Duy Tân (nay là đường Phạm Ngọc Thạch). Quần áo lếch thếch, dơ dáy, màu sắc lung tung. Tay cầm một ống sáo, đầu đội khăn có cắm lông gà lua tua. Râu ria xồm xoàm. Ống sáo trên đầu bịt một chiếc bong bóng đỏ, mỗi lần thổi bung lên tóp xuống, không phát ra một thứ âm thanh nào.

Đang từ ở một mé đường ông lại chạy tông ra giữa đường nhảy múa. Chiếc bong bóng cứ liên tiếp phùng ra tóp vào. Lũ trẻ chạy theo bu quanh hò reo thích chí. Cứ thế ông diễu hành dọc theo đường Duy Tân lên đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu). Đám trẻ cứ bu theo ông chọc ghẹo. Ông rượt đuổi chúng chửi rủa thậm tệ và miệng lẩm nhẩm những gì không ai hiểu nổi. Đứng ngoài nhìn ông diễu hành, tôi thấy cám cảnh nên đã trờ xe đến gần gọi ông, nhưng ông không hề nghe vẫn tiếp tục nhảy múa. Vài đứa trẻ nhìn tôi lấy làm lạ. Tôi tiếp tục gọi ông. Lần này ông quay lại nhìn và nhận ra tôi rồi nhờ tôi chở đến nhà Đinh Cường. Khi ngồi ở sau xe tôi, Bùi Giáng trở nên hiền khô. Tôi thấy hai đòn bánh treo tòn teng ở cổ kỳ kỳ. Bùi Giáng hiểu và cho tôi hay là mẹ Trịnh Công Sơn vừa mới cho".

Và đây là một cảnh tượng khác xảy ra trên đường phố Sài Thành mà "diễn viên chính" không ai khác hơn ngoài thi sĩ của chúng ta: "Bùi Giáng nhảy múa trước Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đường Nơ Trang Long quận Bình Thạnh. Ông cầm một cây đu đủ khô queo dài cỡ hơn hai mét. Lúc nào cũng vung cây đu đủ lên nhảy múa, quần áo vẫn lôi thôi, chằng vá đơn kép, màu sắc linh tinh. Đám trẻ con, người lớn bu vào. Giữa đám đông ấy tôi đến gần Bùi Giáng, vỗ vai ông: Nhảy múa gì mãi vậy, ông? Nghe hỏi, ông quay phắt lại phía tôi, nhếch cặp mắt trắng dã, dữ tợn với dáng vẻ thủ thế. Tôi mỉm cười cầu hòa. Khi nhận ra tôi - vẫn một tên trung niên ông đã từng gặp: À, mày, mày cho tao về xóm gà đi. Vào nhà tao chơi. Không cần gì phản ứng của tôi, ông nhảy phóc lên yên sau xe đạp. Lúc này xe gắn máy của tôi đã mất nên chở ông rất khó khăn, vả lại trên tay ông đang cầm một cây đu đủ dài hơn hai mét.

Bùi Giáng và tôi đang là trò cười cho đám đông. Tôi nói là bận không thể chở được. Ông nói như phán: Cứ đi đi, chở cây này về dùm tao. Bùi Giáng cứ gác gốc cây đu đủ lên tay lái xe đạp, ngọn thì ông đặt lên vai. Ông lại phán: Đi mày ! Giây phút này tôi bỗng trở nên một gã hề, rất hề. Giá ông đọc vài câu thơ Pháp lên giọng rồi xuống giọng thì tuyệt. Nhất định là một sân khấu ngoài trời. Hình ảnh này tôi đã gặp nhiều lần ở quán cà phê Huy Tưởng. Tôi cố sức đạp đi mà không nổi, vì lỉnh kỉnh quá. Vài người trong đám đông đề nghị, đi xích lô thôi. Tôi đồng ý ngay. Bùi Giáng thì lưỡng lự. Nhưng trời xui đất khiến ông cũng nhảy xuống. Tôi đưa ông ít tiền để ông đi xe, nhưng ông chỉ lấy một nửa trước sự ngạc nhiên của tôi và nhiều người..."

Nói về chuyện ngao du của Bùi Giáng, Phạm Xuân Đài kinh ngạc: "Cái ông già gầy gò ngoài sáu mươi ấy lấy đâu ra sức lực để trải qua các cơn điên dữ dội của mình? Đấy là một điều bí ẩn. Đi lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được".

Theo Thanh Niên



📎 nha tho BG
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-16 22:57:37ct.ly>
Bùi Giáng - 'Người thơ' cuối cùng của thế kỷ 20


Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998).
Có lẽ những người yêu thơ Việt Nam vẫn còn nhớ ngày này cách đây 5 năm (7/10/1998), thi sĩ Bùi Giáng của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng ở Sài Gòn. Bùi Giáng, không chỉ là nhà thơ, mà đi xa hơn, ông chính là hiện thân của một "đạo thơ", một "thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gây cấn"...

Sự nghiệp của Bùi Giáng tỏa rộng qua nhiều lĩnh vực, từ thơ, nghiên cứu phê bình, bình giảng, làm báo và dịch thuật. Nhưng có thể khẳng định thơ đã "can thiệp", xuyên suốt và xuyên thấu qua hết mọi địa hạt của ông. Nói cách khác, cái lõi của vấn đề Bùi Giáng là "lõi thơ". Không những Bùi Giáng dịch hay như làm thơ (tiêu biểu là các cuốn Ngộ nhận, Hòa âm của điền dã, Hoàng tử bé)... mà ông viết nghiên cứu cũng dào dạt mê cuồng như làm thơ (Tư tưởng hiện đại)... Ông lấy "thi tưởng" để "quán" hết mọi lẽ trong hành động. Vì thế mới có những nhận định về Bùi Giáng theo kiểu như của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đó là "ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ".

Điều tôi quan tâm ở thơ Bùi Giáng cũng là thái độ về lẽ biến hóa, vô thường đó. Ông là người kết hợp được những lý lẽ uyên áo, trầm mặc của tinh thần phương Đông với triết lý thực nghiệm, thực dụng của phương Tây nên càng về cuối đời, thơ Bùi Giáng càng có những cuộc đảo lộn dữ dội về ngôn ngữ, lật nhào cả những hệ thống quan điểm thơ mà gần như cả một đời ông xây dựng. Từ cái thuở tinh khôi và căn nguyên như trong Mưa nguồn:

"Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù."

cho đến khi xóa sổ, tung hê hết:

"Sài Gòn chợ Lớn rong chơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn."

Triết lý trong cuộc chơi và kiếm tìm ngôn từ của Bùi tiên sinh cuối cùng chỉ còn lại mấy chữ "vui thôi mà!" cứ ngỡ rằng ai hiểu thế nào cũng được. Nhưng theo ý tôi, "vui thôi mà" đó chính là khát vọng và bi kịch của một thi sĩ đã "tuẫn nạn trên lộ trình của chữ". Dường như mỗi thi sĩ đích thực không thể lý giải hết khát vọng và sự có mặt của mình. Bùi Giáng viết:

"Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".

Nhiều bài viết của các học giả cho rằng, ở văn học miền Nam một giai đoạn, nếu Phạm Công Thiện là đỉnh cao của trí tuệ thì Bùi Giáng chính là tinh hoa của trời đất.

Vì thế Bùi Giáng là kẻ hát rong giữa chợ đời hay kẻ vì yêu đời quá mà hóa điên, trở thành một gã cuồng khấu vô vọng? Không ai hiểu hết những con đường nào mà thi sĩ đã đi. Đường trần, đường thơ, đường định mệnh. Khi tôi biết Bùi Giáng và đến chơi với ông thì ông không còn đi rong nữa. Có lẽ ông đã thuộc lòng mỗi con đường, mỗi ngõ phố Sài Gòn. Ông dường như chỉ còn ngồi một chỗ trong căn nhà của một người cháu tên là Hoài trên đường Lưu Quang Định, quận Gò Vấp. Trên trán ông, lớp băng trắng vẫn còn thấm máu bởi những vết thương đời do những kẻ ít hiểu thi sĩ gây ra. Chỉ riêng hai con mắt vẫn sáng bừng như muốn nhìn thấu, muốn ôm trọn hết mọi cõi. Đến lúc ấy tôi mới hiểu hai câu thơ:

"Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con".

Tất nhiên, ý thơ này là của Bùi Giáng chứ không phải của Trịnh Công Sơn. Cũng cần phải nói thêm, Trịnh Công Sơn đã từng sử dụng rất nhiều ý tưởng của Bùi Giáng cho nhạc của mình nhưng ít khi ông chính danh về điều đó. Ví như ý câu thơ "Từ khi trăng là nguyệt" vậy. Nhưng Bùi Giáng, theo chỗ tôi biết, chưa một lần có phản ứng về điều này. Đến khi Bùi Giáng mất, Trịnh Công Sơn là người đã khóc trên báo Thanh Niên số tưởng niệm Bùi Giáng. Trịnh Công Sơn viết đại ý, ngày còn sống Bùi tiên sinh đã có thơ tặng ông. Thơ viết rằng:

"Công Sơn trịnh trọng phiêu bồng
Thưa rằng thơ nhạc có ngần ấy thôi!".

Tôi có nhiều lần được tiếp xúc và gặp gỡ với Bùi Giáng nhưng không có một buổi trò chuyện nào ông chịu hết mình với tôi. Bùi Giáng rất hay nổi điên khi có một người nào truy bức ông đến cùng. Cho dù đó là thi ca hay học thuật. Tôi cho rằng ông tránh các cuộc va chạm nảy lửa và tàn khốc ấy với hai lý do: Một, cuộc đời ông quá đủ đầy như một minh chứng; và hai, ông không muốn tái lặp lại bất cứ một đặt đề, một định đề nào cho Nghệ thuật. Đi vào nó thì giống như đi vào "Sa mạc phát tiến". Ước mơ của ông là tung hê hết chữ nghĩa để nhảy múa và hát ca. Mang tinh thần Lão tử, hòng diễn giữa chợ đời hiện đại. Vì thế ở một góc chợ Bà Chiểu, hay giữa cầu Trương Minh Giảng, người ta đã từng thấy thi sĩ múa may quay cuồng hay "nhập đồng" phóng ào từ trên xích lô xuống diễn kịch, múa gậy vây giữa đám đông hồ hởi và cuồng nhiệt. Những hình ảnh thơ như thế sẽ không bao giờ còn nữa. Ông chính là "người thơ" cuối cùng của một thế kỷ và đã ra đi giữa một thời đại đang ngày càng xa vắng những tâm hồn và những tâm tình thơ.

Nguyễn Hữu Hồng Minh



📎 bg4
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-29 04:52:38ct.ly>
Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị -


Kỳ 1: Người viết sách với tốc độ kinh hồn 21:44:05, 28/02/2005



Bùi Giáng là một con người gây kinh ngạc cho bất kỳ ai quan tâm đến ông. Làm thơ, dịch tiểu thuyết của các tác gia danh tiếng trên thế giới, viết sách nghiên cứu triết học đông tây kim cổ với những kiến thức vô cùng uyên bác… nhưng Bùi Giáng đồng thời lại còn chạy nhảy la hét ngoài đường trong bộ dạng của những con người mà ta quen gọi là điên.




Cuộc đời Bùi Giáng vì vậy luôn được bao phủ bởi vô số những giai thoại ly kỳ, những thông tin hư hư thực thực. Trước nay, có khá nhiều bài viết về ông nhưng đều rất tản mạn, hầu hết chỉ là những bài lẻ tẻ đăng báo hoặc bài của nhiều người viết trong các tuyển tập hoặc đặc san kỷ niệm Bùi Giáng. Dựa trên những tài liệu có được và những tác phẩm của ông, chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những thông tin tương đối có hệ thống về diện mạo của con người tài năng thuộc hạng siêu phàm nhưng rất kỳ dị này.

Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau càng nhiều hơn. Nói về số lượng, thì ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước giải phóng. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị ngàn bài. Tuy nhiên, ông hoàn toàn không phải một học giả cần mẫn, suốt ngày giam mình trong thư viện, miệt mài bên trang sách mà thậm chí còn ngược lại. Nhiều người từng gần gũi ông ngạc nhiên nói rằng họ chỉ thấy Bùi Giáng suốt ngày lang thang rong chơi nhàn nhã, bia rượu uống tràn, thế nhưng khi nhà xuất bản cần, chưa đến một ngày ông đã mang đến cả năm bảy trăm trang sách. Vậy ông viết sách vào lúc nào?

Một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể lại chuyện viết sách của ông như sau: "Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc Nhà xuất bản An Tiêm lúc đó) vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, đã dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản tác phẩm của Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm".

Nhà văn này kể tiếp: "Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đã gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà thầy Thanh Tuệ, chúng tôi đã thấy Bùi Giáng ngồi đó trước, tươi cười, ung dung trong cái phong thái của một con người nhàn nhã nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nhỏ nào của một người viết đang gió táp mưa rơi với ngàn ngàn trang sách". Ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cố gắng tìm hiểu nhưng không thể nào hiểu nổi. Chưa bao giờ những người gần gũi Bùi Giáng bắt gặp ông đang ngồi viết sách. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng đang làm gì hết. Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười: "Tôi cũng lấy làm kỳ. Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Nhưng ảnh viết tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Còn nói ảnh đem bản thảo tới thì nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Điều kỳ lạ là thể loại trước tác nào ảnh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết tới phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy".

Có người ngạc nhiên quá, tìm cách rủ Bùi Giáng tới quán uống rượu để tìm hiểu. Nhưng chỉ tốn rượu đãi Bùi Giáng chứ chẳng khai thác được chút thông tin nào. Vặn hỏi mãi ông cũng không giải thích điều gì. Bùi Giáng chỉ cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu và nói "vui thôi mà" trước sự ngơ ngẩn của người hỏi chuyện. Trước sau ông không hề giải thích bất cứ thắc mắc nào. Nhà văn kể trên nói tiếp: "Chừng như ông không có gì giải thích, sự thành hình một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó. Ừ, vui, ba chữ "vui thôi mà" là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi sự tìm hiểu".

(còn tiếp)

Trần Đình Thu

Đăng nhập để trả lời
0
Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh




1) Một người cùng quê hỏi ông: "Thầy thường làm thơ như thế nào ?"

Ông mỉm cười: "Qua làm thơ cũng giống như em là kỷ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi".

Ông nói câu đó rất tự nhiên, rất thành thật, chẳng có vẻ gì tự mãn.



2) Nhà văn Cung Tích Biền, người đồng hương với ông kể rằng: Vào đầu thập niên sáu mươi, có lúc ông đi dạy Việt văn ở một trường Trung học tỉnh ly Một hôm giảng truyện Kiều, đến chỗ nàng Kiều phải hồng trần lưu lạc, thầy Giáng khóc oà! rồi thầy nhảy qua cửa sổ lớp học, băng bộ ra bến xe về Sài Gòn. Học sinh ngồi chờ mãi, tưởng thầy đi đâu đó sẽ trở lạị Trên bàn sách vở, bao thuốc lá hãy còn. Hỏi lý do, thầy ngậm ngùi nói: "Làm sao mà trở lại nơi em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn!".

3) Một ngày vào năm 1963, thi sĩ Viên Linh chở Bùi Giáng đi thăm người tình. Ông rất trang trọng trong cuộc đi thăm này Trước khi đi, ông mặc gần một chục chiếc sơ mi chồng lên nhau, áo sạch giặt ủi đàng hoàng. Ra khỏi cửa ông lột chiếc sơ mi đầu tiên ném xuống đường, hối Viên Linh đi, rồi lần lượt ném gần hết áo, tới trước nhà người yêu ông cởi đến chiếc kế chót, còn lại chiếc chót ông mới bước vào nhà người yêu.

Một lúc sau ông trở ra hí hửng. Viên Linh hỏi ông:
- Sao ông mặc nhiều áo thế rồi cứ cởi ra vứt đi vậy ?
- Tau phải làm thế, đến với người yêu thì phải trong sạch từ tâm hồn đến thể xác. Những chiếc áo bận đi đường bị nhuốm bụi hồng trần, tau đến với nàng phải là chiếc áo tinh khiết nhất ... như tâm hồn tau vậy ! (1)

4) Khoảng năm 1967-1968, độc giả cười nghiêng ngửa khi Ao Thả Vịt (nhật báo Sống - Chu Tử) loan tin rằng thi sĩ Bùi Giáng yêu say đắm kỳ nữ Kim Cương. Ông yêu đến nỗi phải làm thơ gọi Kim Cương là Mẫu thân. Khối tình đơn phương đó vẫn bền bỉ trong Bùi Giáng. Có hôm ông ngất ngưởng ngồi xe xích lô đến tận nhà thăm nàng. Ông sơn móng chân móng tay, đánh phấn thoa son cẩn thận. Gọi cửa nàng không ra, ông lấy đá chọi rầm rầm vào nhà. Nàng phải xuất hiện để ông thấy mặt và nói vài lời rồi đi. Chỉ có thế thôi ! (1)

Sau này trong dịp niệm kinh cho ông, nghệ sĩ Kim Cương - người mà Trung Niên Thi Sĩ chép tặng bài thơ Sầu Ca Sĩ trong tập Ðường Ði Trong Rừng - tâm sự: Tôi may mắn được thi sĩ Bùi Giáng nhắc đến trong thơ và ngoài đường lang thang. Một khuya đã lâu lắm rồi, chừng hơn 25 năm trước, anh đập cửa nhà tôi và hét: "Mẫu thân, mở cửa!". Tôi hỏi anh Giáng ở đâu về mà bơ phờ vậy? Anh bảo ở nhà thương Biên Hòa, khi không có một Bồ Tát hiện tới bảo anh phải về Sài Gòn gấp để nhờ "mẫu thân" Kim Cương bảo lãnh mới "an toàn hiện sinh sinh hiện". Tôi nói không dám nhận mấy tiếng "mẫu thân". Anh quát:"Ðồ phàm phu tục tử như ái khanh một triệu năm sau chưa hiểu thấu tình yêu của Trẫm!" Tôi chỉ cười và kính anh là tài hoa muôn một (2)

5) Nhà văn Hoàng Nguyên Nhuận kể rằng ngày 30-4-1975 ở Sài Gòn thì ông là người duy nhất mặc đồ trận của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà với quần áo trận và nón nhưa (lớp trong của nón sắt)... Anh nhởn nhơ trong nhung phục ấy với một bầy chó năm bảy con cột dính chùm quanh lưng! Trước ngày đổi đời ông nhận được một số tiền nhuận bút. Ông ra phố rủ đám trẻ đánh giày, đám trẻ cầu bơ cầu bất trôi sông lạc chợ cùng ông ăn nhậu; còn bao nhiêu tiền ông mua chó để . . . phóng sanh!?

Nhà phê bình hội họa Huỳnh Hữu Ủy cho biết có lần ông để quên đàn chó ở nhà nữ họa sĩ Bé Ký cả tuần lễ làm bà phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt!

6) Nhà văn Cung Tích Biền cũng kể thêm có lần Bùi Giáng và ông đang đi long nhong gần nhà thờ Ba Chuông kiếm vài chung "quốc lũi" thì Bùi Giáng bỗng nói: "Cho ta về nhà chút đã!". Hóa ra ông về để cho heo gà ăn "chớ không sợ tụi nó chết !!!".

Về nhà trong hẻm gần cổng xe lửa số 6, đã thấy ngay trước hàng hiên có mấy con . . . heo đất, mấy con vịt nhựa, được đặt trong rọ hoặc úp bằng những cái rỗ đàng hoàng. Bên con heo đất hãy còn mấy cọng rau tươi, nơi gà vịt nhựa có gạo vung vãi! Một người bà con tiết lộ: "Phải chăm sóc cẩn thận, ảnh về thấy heo gà không có thức ăn ảnh khóc!".

7) Ông mê Truyện Kiều, thơ Huy Cận. Có lần ông nói với thi sĩ Trần Tuấn Kiệt là ông viết về triết học, bàn về tư tưởng hiện đại là để cuối cùng nêu lên mấy câu về Kiều hay của Huy Cận chơi! Thế mà không hiểu tại sao ông rất ghét Xuân Diệu! Có lần Xuân Diệu diễn thuyết trong khuôn viên Trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh, ông đi tới đi lui ngoài cổng trường và lầm bầm chửi rủa! (3)
8) Một hôm, vào khoảng 1980, ông ngồi uống cà phê, mơ màng nhìn sang bên kia là đường Ðặng Thị Nhu, đột nhiên đôi mắt ông sáng lên . Té ra ông nhìn thấy một cuốn sách tiếng nước ngoài, bị chủ quầy đem lót dưới kệ sách thay cho gạch bởi vì từ lâu không có ai hỏi mua. Ông cuống quít móc những đồng bạc cuối cùng nài nỉ mua - vì không đủ tiền - rồi ông ngồi đọc say mê như người bị thôi miên, hoàn toàn không biết gì về mọi chuyện xung quanh!


9) Một giai thoại chót: Giữa chợ trời đông như hội cuối đường Trương Minh Ký Sài Gòn sau tháng 4/75, đến trước một hàng bán phụ tùng xe đạp cũ, ông nhẩn nha vớ lấy cái "ghi đông" xe rồi tỉnh bơ bỏ đi. Bà chủ quán chạy theo la thất thanh nhờ thiên hạ bắt giùm "thằng ăn cắp". Chẳng đợi ai bắt, ông quay lại trả cái ghi đông vào chỗ cũ và từ tốn phân bua đại để rằng: "Bà con thấy chưa, mất tất cả . . . mà phải câm, mất có cái ghi đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!". Hành động ấy là điên hay tỉnh đây!!

T. V. Phê (10/2001)


Đăng nhập để trả lời
0
CUỐI NĂM NHỚ NHÀ NHỚ NGƯỜI
ĐỌC BÙI GIÁNG NGHĨ LAN MAN
CƯỜI NGẶT NGHẼO




Vô Danh

1. Cái gì? Bùi Giáng? Bùi Giáng là ông thần nào?

Chắc là thế. Tên Bùi Giáng nghe như xa lạ hơn cả giấy đòi tiền từ công ty điện nước, đối với nhiều người. Với một số không ít người khác, có theo dõi sách báo ít nhiều, thì Bùi Giáng là một trong những tên tuổi thỉnh thoảng thấy được nhắc đến như chiếm một vị trí trỗi vượt trong thi ca miền Nam Việt nam trước 1975. Nhưng tại sao? -- Vì chắc là mấy ông bà gọi là nhà văn nhà báo mà nói như thế thì cũng điên điên gần như Bùi Giáng. Nếu họ không nói như một cái máy theo ý người khác.

Có bao nhiêu là lí do dễ hiểu cho một phản ứng như thế. Chẳng hạn người chỉ bắt đầu trưởng thành nhiều năm sau biến cố 1975 sẽ dễ có một cái nhìn như vậy. Họ không được học Việt văn và tư tưởng theo những cách có thể giúp cảm nhận được cái hay đẹp nơi sáng tác của nhiều tên tuổi trong thi văn Việt nam. Cảm nhận Bùi Giáng còn khó hơn nữa.

Tất nhiên, người trẻ Việt nam thuộc các thế hệ sau 1975 không phải tất cả chỉ có khả năng sử dụng tiếng Việt như một sinh ngữ phụ thuộc, ở ngoài nước. Và như tiếng mẹ đẻ nhưng đã bị giản lược và biến dạng so với dạng tiếng mẹ với nó Bùi Giáng đã làm thơ và viết văn. Trong nước. Có những ngoại lệ --Những người trẻ ở cả trong lẫn ngoài nước với khả năng đọc thông hiểu sâu tiếng Việt như một ngôn ngữ thi ca và tư tưởng.

Nhưng về Bùi Giáng? Những người trẻ ngoại lệ khá hiếm hoi đó không biết có bao người nghĩ rằng, ông có cái gì hơn là một thi sĩ điên điên chuyên viết cù nhầy chọc cười, có khả năng sử dụng ngôn từ như một cầu thủ điêu luyện nhồi quả bóng. Đến mức có thể mô phỏng Nguyễn Du hoặc bất kì nhà thơ lớn nào khác một cách tài tình khi ông muốn?

Bùi Giáng phải hơn thế! Khả năng làm thơ, văn cù nhầy chọc cười không là điểm làm một người trở thành thi sĩ. Cũng thế với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tài tình! Vậy thì từ đâu mà có tin tưởng rằng Bùi Giáng là một nhà thơ, và là nhà thơ lớn?

Tin tưởng "Bùi Giáng là nhà thơ" chắc là dễ dàng được chia sẻ, chấp nhận: Thơ trước và trên hết là vấn đề cảm nhận. Người làm thơ là kẻ cô kết cảm nhận chủ quan của mình trong một khuôn thước từ ngữ nhất định, và cảm nhận chủ quan trong khuôn khổ từ ngữ nhất định này được người đọc ... cảm nhận như thơ, chứ không là một lắp ghép chữ nghĩa tài tình.

Cứ tạm cho đây là giải thích chấp nhận được. Nhưng còn "Bùi Giáng nhà thơ lớn"? Các nhà phân tích và phê bình thơ nghĩ sao mà nói như thế? Có ai trong họ nói Bùi Giáng cũng chả điên? Dường như họ không có ý kiến gì. Hoặc họ có ý kiến nhưng ý kiến của họ không xuất sắc đến mức làm người đọc biết đến, lưu ý đến, và không quên? Hay họ có những ý kiến xuất sắc nhưng vì người đọc không thích, chưa thích Bùi Giáng nên các ý kiến này đã rơi mất tăm mất tích vào hố đen của đời sống cơm áo? [1]

2. Về Bùi Giáng, người đọc thơ nào cũng có thể cảm thấy ông là một thi sĩ tài hoa có chỗ đứng đặc biệt trong văn học Việt nam hiện đại. Nhưng cái đã làm nên tính cách độc đáo, đặc biệt của văn, nhất là thơ, Bùi Giáng, thì có lẽ không hẳn như số đông người thưởng ngoạn nghĩ: Thơ văn của ông hay một cách kì kì, ngộ ngộ, nhiều khi làm người ta phá ra cười thoải mái, không vì Bùi Giáng hóm hỉnh, có tính hài hước (humour) và khéo dùng hình ảnh, chữ nghĩa, vần điệu một cách lạ thường, trái công ước.

Tất nhiên Bùi Giáng hay bông lơn, khéo léo về kĩ thuật và trong sự thách đố các công ước thi văn thông thường, và những điều này tạo ra ấn tượng sâu xa nơi người đọc. Nói như một người yêu thích thơ Bùi Giáng[2] thì ông “đã " tỉnh bơ " với những bài thơ đặc thù không giống ai, tứ thơ mới nhưng không theo kiểu thơ mới, những bài thơ lục bát, song thất lục bát .. nhưng ý tưởng và dụng từ mới lạ, BG đã nhào nặn ngôn từ, đùa giỡn ngôn ngữ ... gói ghém trong những bài lục bát bình dị như ca dao ... những câu thơ 7 chữ mờ ảo phảng phất nét u mặc [...] Ngoài thơ, BG còn dịch một số truyện […] và cả truyện kiếm hiệp Kim Dung nữa […] BG dịch sách thiên hạ cũng như kiểu ông làm thơ ... cũng phớt đời, cũng tỉnh bơ, ... trong câu văn xuôi chợt chêm 2 câu lục bát Kiều ...”

Vấn đề là nếu xem tính khí và kĩ năng ngôn ngữ của Bùi Giáng là yếu tố cơ bản thì trước hết không giải thích được một khác biệt lớn lao giữa ông và nhiều nhà thơ khác. Thơ văn của Bùi Giáng, chưa kể những sáng tác Hán Việt, cho thấy một thế giới thênh thang, phiêu hốt, cao hơn, rộng hơn là thế giới thi ca của đại đa số các nhà thơ cùng thời.

Trước hết, và hiển nhiên, trong thơ văn Bùi Giáng cái tục tĩu, cấm kị trong công ước văn chương và đạo đức thông thường có thể trở thành thóat tục, thơ mộng một cách bất ngờ. Rồi ngay cái "không nên thơ" của chính nhà thơ cũng trở thành thơ: "Em Mọi", cô mọi điên của ông vòi ông một bài thợ Câu từ chối, biện bạch của ông -- rằng hết cả nên thơ nên thẩn gì được rồi!-- đã trở thành cả một bài thơ ý nhị, hóm hỉnh và đầy nhạc điệu!


  • Ngày nay anh làm thơ
    Chẳng còn hay như trước
    Suốt một tháng
    Viết không được một câu
    Thì lấy đâu ra thơ
    Mà tặng em cho được
    Tặng một câu chưa đủ
    Thì lấy đâu bốn câu
    Cho đủ một bài.
    Quả thật mọi sự vật đều có thể trở nên lãng đãng, thanh thoát, phiêu bồng hơn qua mắt nhìn Bùi Giáng. Kể cả những điều đơn điệu, nhàm chán, tầm thường, u uất, đen tối trong mắt người khác. Có thể thấy như thế qua một số bài thơ buồn hiếm hoi của ông, được phổ biến sau 1975 ở ngoài nước. Hay qua bài "Anh Lùa Bò"
  • , trong đó, bằng kĩ thuật luyến láy từ và ý nhà thơ vẽ ra một cảnh đời khép kín, lập đi lập lại hết ngày này sang ngày khác và người trong cuộc thì "mười mê một tỉnh", "ưu tư". Người đọc thấy được rằng Bùi Giáng cảm thương cho tình cảnh anh lùa bò, nhưng cũng thấy ông như bay lượn trên những bờ cỏ xanh chứ không bi lụy, vướng mắc trong nỗi buồn đó:

    Anh lùa bò đi qua bờ ruộng
    Ruộng bờ qua cày luống cày qua
    Xuân xanh lắm lúc như là
    Mười mê một tỉnh sơn hà gió trăng
    Anh lùa bò bờ quen bờ thuộc
    Thuộc bờ quen luống chuốc ưu tư
    Năm đi tháng lại bù trừ
    Ngày đi vĩnh viễn anh ừ cho anh.
    3. Thế giới thông thường của con người bình thường về mặt tâm lí không phải là thế giới chung cho tất cả mọi người. Có khi người ta sống chung dưới một mái nhà những mỗi người thật sự có một thế giới tâm lí khác nhau. Nhận thức về sự vật và các đáp ứng của mỗi người vì thế mà có thể rất khác biệt nếu các thế giới này có quá ít điểm chung. Người sống trong một thế giới bị điều kiện hóa bởi sự tưởng tiếc quá khứ, niềm tin cuồng nhiệt thiếu căn bản lí trí, sự uất hận, thù ghét (đối với cộng sản, hay tư bản, hay văn hóa tây phương, hay công giáo, hay đạo Bụt, vv. và vv.) vì thế đã có những nhận thức và phản ứng làm người khác phải sửng sốt và chán ngán.

    Bùi Giáng cũng có một thế giới riêng. Thế giới này sắc nét, cụ thể hơn dạng thế giới nêu trên -- về mức độ, nó chẳng khác một thế giới tâm bệnh khác, thế giới của người bị chúng tự kỉ (autism) vì Bùi Giáng thường trực ở trong đó, chứ không "mười mê một tỉnh". Nhưng thế giới riêng của Bùi Giáng chỉ khác khác thường, bất thường theo nghĩa tích cực. Nó không chật hẹp, u tối, cô lẽ, cách biệt hay nặng nề cảm tính như các thế giới tâm bệnh; ngược lại, nó thênh thang, cao hơn, rộng hơn, bao trùm lấy toàn thể thế giới thông thường của chúng ta.

    "Thế giới Bùi Giáng" ở đây, như thế không được hiểu theo nghĩa biểu tượng (symbolic) như thường thấy. Nó là một khái niệm hi vọng là giúp hiểu một cách nhất quán và tương đối đầy đủ [3], về quan hệ mật thiết giữa thi tài Bùi Giáng, tư tưởng thể hiện trong thơ văn của ông và đời sống của ông, sự kiện “sống trong bối cảnh chiến tranh, xã hội bát nháo, các nhà thơ cùng thời đều bị ảnh hưởng thời thế... riêng BG [trông như] chỉ làm những bài thơ khơi khơi nói chuyện tào lao ... tách lìa hẳn cái ta bà phù phiếm của đời ... ông như đứa trẻ đùa giỡn rong chơi giữa tiếng súng, bãi mìn ...” [2]

    Phải có một thế giới như thế, hay phải trụ trong một cảnh giới như thế Bùi Giáng mới nhìn cái gì thì cái ấy trở nên khác thường, bớt tục lụy và lung linh, huyền ảo, thơ mộng hơn. Và Bùi Giáng phải trụ trong một cảnh giới như thế ông mới có một đời sống như ông đã có, nhất quán với tư tưởng, và tư tưởng thì lan tỏa, trào dâng vào văn thơ một cách không gượng ép mà hồn nhiên, như nhiên, tự nhiên. Đây là một dạng của thế giới làm nên bởi các kinh nghiệm huyền niệm (mystical experience) với sắc thái Á Đông phi thần giáo. [4]

    4. Thế giới Bùi Giáng không có những điều xấu và bất thiện. Những ác, xấu trong thế giới thường tục của chúng ta cũng được Bùi Giáng xem như có thực thể, do "hư vô" sinh ra. Nhưng ông nghiêng về cái thiện, cái đẹp, tin rằng đây mới là "dưỡng chất cho trần gian" (xem ở dưới). Bùi Giáng đúng là một nhà thơ triết lí có hạng (philosopher-poet; tức là không phải triết gia mang mang hồn thơ, poet-philosopher, như Tuệ Sỹ hay Phạm Công Thiện), với nhận thức rằng đời sống có thể tiếp diễn là nhờ cái thiện và đặc biệt cái đẹp.

    Cái thiện không được Bùi Giáng trực tiếp nói đến, nhưng chắc chắn nó không phải là cái thiện theo công ước luân lí đạo đức thông tục, mà gần như là, "thiện là cái không có tác hại gì cho ai", tức là một dạng tiêu cực của cái thiện theo định nghĩa của đạo Bụt ("thiện là cái có lợi cho cả ta lẫn người").

    Cái thiện của Bùi Giáng do đó không bị chia lìa, phân cách tuyệt đối với cái đẹp như trong trường hợp tư tưởng tây phương trước đây. Do đó ông có thể nói thiên hình vạn trạng về cái đẹp, bất kể người khác nghĩ sao. Và cái đẹp thì hiển lộ, dễ hiểu, nhiều lần nhất nơi các mĩ nhân. Bùi Giáng ca ngợi mọi người đẹp, bất kể đó là tây hay ta, quen hay lạ, có thật ngoài đời hay chỉ trong sách sử
  • ; và người đẹp gợi tình gợi dục như Brigitte Bardot, Marylyn Monroe, hay người tuổi sắp về chiều (?) “đẹp một cách thong dong” như Nam Phương Hoàng hậu, hay người đầu trọc áo nâu đi đứng nằm ngồi bị "gò bó" trong giới luật, “đẹp một cách không lời” như Trí Hải, lúc bấy giờ là một ni cô [Quốc Sắc Việt Nam; *].

    Xu hướng "mê gái" thì phần đông đàn ông ai cũng có, nhưng chỉ những người như Bùi Giáng mới có thể thản nhiên cho thấy, phơi bày điều này trong các trường hợp người ta đè nén tận đáy lòng hay không tiện, không thể nói ra. Vì ông không có một mãy may ý muốn chiếm hữu hay xúc phạm đến, và như thế cái "mê gái" của ông chả hại gì ai, trong quan niệm về thiện ác của ông. Có thể thấy, những bài thơ thường bị xem như "tục" nhất, "dê" nhất của ông cũng chỉ nằm ở phạm vi mô tả và ca ngợi cái đẹp.

    Và đáng trân quí nhất, được Bùi Giáng thường xuyên nhắc đến nhất, là cái đẹp không thể diễn tả bằng ngôn ngữ dung tục, cái đẹp “không lời”, “vô ngôn”, “bát nhã”, “bà là mật” vv. Người đẹp ni cô do đó đã được ông khiêng ra khiêng vào bao nhiêu là bài thợ Mặc dù người ta đã cười xòa bảo thôi, như thấy trong "Hãy Vô Ngôn", thuộc về các bài thơ “của Người Chăn Trâu tặng Một Ni Cô”
  • :

    Giập đầu bái tạ cô nương đẹp
    Dám hỏi bao giờ có đẹp hơn
    Miệng ngọc cười xòa lên tiếng đáp
    Rằng xin các hạ hãy vô ngôn.
    Đã cho người ta là có cái đẹp vô ngôn, không diễn tả, so sánh được, nhưng nhà thơ của chúng ta cứ mở miệng tán tụng, diễn tả --bằng cách hỏi có khi nào đẹp hơn bây giờ không. Nói để rồi nhận lại cái boomerang “vô ngôn” của mình! Đây là trạng huống tiến thoái lưỡng nan quen thuộc trong triết lí Á Đông (và trong vài thuyên giải cơ bản của khoa học hiện đại): Biết là không thể nói chính xác về thực tại bằng ngôn từ khái niệm thông thường, nhưng mặt khác không thể không tìm cách nói ra. Để tiến bộ và không giáo điều. [5]

    Sự việc Bùi Giáng nhắc hoài đến sự vượt trên ngôn ngữ, “vô ngôn”, “bất khả nghị” vv. cho thấy một phần nào cái cốt lõi huyền niệm Á Đông nơi ông. Cũng tương tự với một vài bài thơ mà hình ảnh, từ ngữ hoặc vần điệu thật đẹp nhưng có vẻ như không có ý nghĩa mạch lạc gì.

    5. Tính cách triết gia nơi Bùi Giáng được thấy nơi nhiều thơ văn của ông (bất kể nó được hay chưa được các nhà phê bình nói đến). Ngay như bài thơ "Em Mọi Nhỏ" dẫn ở trên, dù thọat nhìn chỉ là một bài thơ khôi hài, không mấy xuất sắc về mặt thi ca, nhưng thật ra cũng chứa đựng một lí luận triết học: Nếu luận lí và ngôn từ có thể "phản ánh" thực tại, thì tôi không thể làm được bài thơ đó, vì làm một câu thơ không được, lấy đâu mà ra cả một bài dài hơn bốn câu?!

    Bùi Giáng quả thật đã nói lên nhận thức của ông về sự bất khả, bất lực của ngôn từ và khái niệm trong những văn thơ thoạt nhìn tưởng như chỉ có tính bông lơn, khôi hài. Nhưng điều này không có nghĩa là ông có một tin tưởng tuyệt đối. Trong đoản văn "Phố phường Mọc cỏ"
  • , ông lí luận rằng, nếu ngôn từ và luận lí mà chụp bắt được thực tại, thì phố phường phải có "cỏ" mọc loạn cả lên quanh năm suốt tháng! Vì sao? -- Thành phố chứa đựng con người, các thiếu nữ dậy thì. Và nơi các thiếu nữ, các cô đang tuổi dậy thì thì trong người lúc nào "cỏ" cũng mọc loạn lên. Thành phố, theo đó, cũng phải như thế!

    Lí luận của ông đã không tôn trọng các phạm trù luận lí cơ bản, một điều quá dễ thấy đối với ông. Phải chăng đây là sự chế diễu thâm trầm hướng vào chính mình rằng, để có sự nhất quán, hễ tôi không tin vào khả năng nắm bắt thực tại của khái niệm thì tôi cũng không tôn trọng nó -- nhưng như thế thì đi đến kết luận/hệ luận kì khôi? Để ngầm nói rằng, Tôi tin và tôi thỉnh thoảng cũng hoài nghi niềm tin của mình, vì không lí luận, biện giải được?

    "Tin và không biện giải được" là điểm được Bùi Giáng khẳng định trong một đoản văn khác, "Vấn Đáp"
  • , về tiền đề triết học nêu trên, "thế giới được dưỡng nuôi bằng cái đẹp". Ông tin, như đã nói, vào một thực tại nhị nguyên. Có cái bất thiện, xấu xa và có cái thiện, cái đẹp. Và Bùi Giáng cho rằng, thế thì phải có các Nguyên nhân sinh ra chúng: "Hư vô" sinh ra cái xấu, cái bất thiện, còn một Nguyên nhân tận thiện tận mĩ (mà ông gọi là "Thương Đế hay "Trời Xanh Thượng Đế") thì sinh ra "các dưỡng chất trần gian". Vũ trụ quan của Bùi Giáng, như thế, gần với ý niệm tâm vật song hành trong đạo Bụt Sơ thời, dù từ "Thượng Đế" có thể làm người ta nghĩ khác.[6]

    Tin nhưng thỉnh thoảng ông hoài nghi rằng một Nguyên nhân đẹp đẽ như thế không có -- hoài nghi mà chả do lí do đáng kể, hoặc có khi do một lí do triết học nặng kí như: Những cái thiện, cái đẹp cho dù hiện hữu dài lâu đến mấy đi nữa nhưng rồi có lúc sẽ chấm dứt, thế thì nguyên nhân của chúng cũng không tồn tại mãi mãi; Nguyên nhân toàn thiện toàn mĩ kia phải do một nguyên nhân khác tạo nên, và cứ thế, không có cái gì gọi là Nguyên nhân đầu tiên, tối sơ, siêu việt thời gian cả (Uncaused Cause).

    Hỏi -- Tại sao các hạ tin rằng có Thượng Đế?

    Đáp --Bởi vì nếu không tin là có, ắt phải tin là không có. Mà hễ tin là không có, ắt thời gian phong cảnh sẽ hoang liêu. Mọi "dưỡng chất trần gian" ắt sẽ do sa mạc cung cấp. Làm sao chịu đựng nỗi sự tình đó? Uống một chai la de, mà nghĩ rằng đó là của cải hư vô ban cho, thì hởi ơi, làm sao còn xum xuê ăn uống nhậu nhẹt thơ mộng được nữa. Tuy nhiên...

    Hỏi -- Tuy nhiên thế nào?

    Đáp -- Tuy nhiên tại hạ thỉnh thoảng cũng đánh mất niềm tin nơi Thượng Đế.

    Hỏi -- Thỉnh thỏang đánh mất như thế nào?

    Đáp -- Như trường hợp chán chường đột ngột không còn muốn uống la de.

    Hỏi -- Hoặc như thế nào nữa?

    Đáp -- Hoặc như trường hợp đọc sách vũ hiệp đến chương kết thúc.

    Hỏi -- Vì sao như thế?

    Đáp -- Vì kết thúc, thì tất nhiên là chấm dứt hết mọi cõi liên tồn. Còn biết lấy đâu mà đeo đuổi chiêm bao được nữa. Hởi ôi! Đến sách vũ hiệp mà cũng kết thúc, thì Trời Xanh Thượng Đế cũng thi đua nhau tử vong, tiêu tán hết cả ngấn tích di hài ...

    Bấy giờ ai biết hỏi ai
    Dù lòng biển rộng sông dài thênh thênh.
    (Bạc Bà ghi chép)
    Niềm tin, và thái độ "tin và không biện giải được" trong đoạn văn trên, và một số chỗ khác trong văn, thơ Bùi Giáng có thể làm nghĩ ông đã từng quen thuộc lắm với truyền thống Kitô giáo. Có hay không thì để có sự nhất quán trong nhận thức, Bùi Giáng đã phải nhấn mạnh tính cách siêu việt thực tại của ngôn từ và khái niệm, nhấn mạnh như trong truyền thống mà ông dường như xem là điểm tựa tâm linh của mình: một tích hợp giữa tư tưởng Lão, Trang và đạo Bụt Thiền tông-- Thiền tông trong dạng phổ thông ở Trung hoa và Việt nam, với dấu ấn Lão giáo, ở tính cách huyền niệm và sự nhấn mạnh (rõ rệt hơn Đại thừa Ấn độ) thể tính "đối đãi là bổ sung" trong nhận thức về thực tại của chúng ta (complementarity). [7]

    Thật vậy, ông không có thái độ tin tưởng tuyệt đối, tin dù không biện giải được (của Kitô giáo, ví dụ), mà rõ rệt chủ trương một niềm tin tương đối, tin nhưng sẵn sàng nghi, Tin và Nghi bổ sung cho nhau để con người bước lên một cảnh giới, một trạng thái tâm linh hay nhận thức cao hơn.

    Tính cách bổ sung được thấy nơi rất nhiều sáng tác của Bùi Giáng (không chừng nơi toàn bộ sáng tác Bùi Giáng). Trong các văn thơ đã dẫn ở trên, chẳng hạn cái nghiêm trọng và khí vị khôi hài, bông lơn, hay cái thanh và cái tục vv. theo lẽ thường không đi đôi với nhau, thế nhưng ở Bùi Giáng, các đối nghịch, tương phản như thế lúc nào cũng quấn quít nhau từng cặp một. Theo nghĩa này ông có lẽ là một trong những ngươi viết Việt nam hiện đại thành đạt nhất trong việc thể hiện tư tưởng triết học Á Đông trong thơ văn.

    7. Còn có thể phân tích để thấy các yếu tố tư tưởng khác của Bùi Giáng như một thi sĩ triết gia. Nhưng chúng ta hãy dừng lại ở một bài bài thơ, "Thưa Cô Nương"
  • . Bài này ngắn, thoạt nhìn đơn sơ, dễ hiểu, không có gì lạ. Nhưng nó nói lên được một cách tài tình nhận thức về thực tại của Bùi Giáng: Sự hiện hữu, trong cùng một bình diện nhận thức, của các cặp đối đãi thánh & phàm, mê & ngô, giống & khác, tục & thanh, nghiêm trọng & khôi hài, thiêng & tục (holy / profane).

    Và không chỉ như thế mà thôi, vì nó còn hóm hỉnh cho thấy điểm tựa tư tưởng và trình độ tâm linh của ông nữa. Bài thơ này như sau:

    Tại hạ ra biển
    Phen này lần ấy
    Để nhìn cô nương tắm
    Lúc bấy giờ bỗng dưng
    Tâm hồn tại hạ biến ra
    Làn nước biển
    Vậy xin cô nương dừng ngay cuộc tắm
    Kẻo mà đau đớn tâm hồn tại hạ vô cùng.
    Có gì hay ho đâu?! Có thể có người sẽ nói ngay như vậy. Nhưng hãy khoan. Hãy bắt đầu đọc lại:

    Thi sĩ của chúng ta đi ra biển để ngắm người đẹp tắm. Đi lần này qua lần khác. Và có lần, trong một khoảnh khắc của mê say đắm đuối đó ông đi vào một trạng thái của kinh nghiệm huyền niệm: Ông trở thành một với nước biển!

    Ai cũng có thể kinh qua điều tương tự như Bùi Giáng. Nhưng Bùi Giáng ở trong một trạng thái tâm linh và nhận thức cao hơn nhiều: ông không quên mình, đánh mất chính mình, không bị vong thân, tha hóa , bị cái mê say đắm đuối kia điều động, để, không biết chừng nẩy ra ý nghĩ đen tối hoặc lân la dở trò ... thả dê, như chúng ta! Ông mê nhưng biết mình đang mê, và biết mình không hòan tòan là một với nước biển dù đang trong trạng thái là-một với nước biển.

    Tại sao? Và nói như thế thì phải chăng nói, Nhà thơ của chúng ta ngộ Đạo trong một chừng mực nào đó rồi? --Thưa không, Bùi Giáng nói. Cái trạng thái vô ngã, không giống không khác mà tôi đang kinh qua, cái trạng thái ấy coi vậy còn kém cỏi lắm, chật hẹp lắm.

    Kinh nghiệm như-một đó chỉ bao trùm tôi và làn nước biển, và chỉ tôi và làn nước biển mà thôi. Nó loại bỏ người đẹp kia ra ngoài! Cô kia vẫn là vị cô nương hở hang hấp dẫn, chứ không là-một với cái thực tại tôi-nước biển. Thế nên tôi còn đắm đuối mê say, còn tri giác cảm giác về cô như một thực tại cách biệt nhưng khêu gợi. Và vì tôi là làn nước biển có-tri-giác-cảm-giác, cô nên dừng ngay cái vụ tắm đi thôi, không thì tôi sẽ "đau đớn vô cùng"! Tôi là nước biển có tri giác mà cô té nước, chòi đạp, bơi lội tung tăng thế kia thì tôi làm sao mà không đau đớn vô cùng cho được!!

    Một cách nửa đùa nửa thật, nhà thơ triết gia muốn chúng ta hiểu rằng ông muốn chấm dứt cái cảnh mê-trong-ngộ kia đi vì nó có hại. Chấm dứt không theo nghĩa ông rời bỏ kinh nghiệm tương-tự-ngộ của mình, mà theo nghĩa nó nên phát triển thành một kinh nghiệm ngộ đạo thật sự Vị cô nương mĩ miều kia phải ngưng tắm chứ ông nhất quyết không chịu buông bỏ kinh nghiệm như một với nước biển!!

    · Vô Danh 02.02.2003

    Ghi chú:

  • [*] Dẫn theo Bùi Giáng, Mùa Thu Trong Thi Ca, Sống Mới (ở Mĩ) in lại. Không có số trang và năm tháng xuất bản và tái bản.

    [1] Những gì được viết trong phần này chỉ có mục đích "gây hấn," mời gọi đóng góp ý kiến về thơ Bùi Giáng. Cảm ơn BG và ong (trong scv) đã hưởng ứng và góp phần giúp ước lượng các nhận xét chung của người đọc thơ Bùi Giáng. Cũng cảm ơn ong đã đăng một bài thơ Bùi Giáng cách đây vài tháng. Đó là lần đầu tiên người viết lưu ý đến nhà thơ này.

    [2] ong, news:b1l2f1$13nsgd$1@ID-122297.news.dfncis.de...

    [3] Mặc dù bài này được xây dựng trên một số giới hạn thơ văn chữ Việt của Bùi Giáng, nhưng các nhận xét trong bài thì trên nguyên tắc bao trùm phần lớn thơ văn ông. Vì khái niệm "thế giới Bùi Giáng" dược trình bày như có tính khoa học. Mang tính cách như thế, khái niệm này phải bị điều chỉnh lại hoặc lọai bỏ nếu có một khái niệm khác thích hợp hơn cho việc giải thích thơ văn Bùi Giáng như một toàn thể.

    [4] Kinh nghiệm huyền niệm là loại kinh nghiệm tôn giáo được xem như cao nhất, với nó, tùy theo niềm tin và căn bản thần học/triết thuyết mà người ta thấy mình trở nên một với Chúa, hoặc với tự nhiên vv. Loại kinh nghiệm này cho đến nay vẫn ít có ở Tây phương, nhưng hiện nay được nghiên cứu, học hỏi ráo riết. Các kinh nghiệm ngộ đạo ở Đông phương, chẳng hạn kinh nghiệm ngộ trong Thiền tông, được biết như một dạng thức kinh nghiệm huyền niệm cao đẳng, ít lệ thuộc vào nền tảng triết thuyết và ít cảm tính (chẳng hạn không có trạng thái vừa kinh sợ vừa hoan lạc vv. như ở tôn giáo tây phương). Nói như thế không có nghĩa, khái niệm "kinh nghiệm huyền niệm" của tôn giáo học đủ chính xác cho mọi dạng kinh nghiệm tôn giáo ở đông phương.

    [5] Về điểm này trong Đại thừa Ấn độ-Tây tạng có một cái nhìn tích cực và gần với khoa học hiện đại hơn, và điều này góp phần làm nên lâu đài triết học nguy nga của truyền thống này: Ngôn từ, khái niệm không phải là phương tiện chẳng-đặng- đừng, mà là cái, nếu sử dụng đúng, có khả năng nắm bắt thực tại tương đối và nó phải được vận dụng để có thể nói cho nhau hiểu về Thực tại tối hậu, dù thực tại này là bất khả tư nghị.

    [6] Có lẽ do ảnh hưởng tây phương, từ "Thượng Đế" thường được nhiều người Việt hiểu như để chỉ Thiên Chúa. Thật ra Thượng đế (Shangdi) nguyên là Vua của các thần, vị thần tối cao trong tín ngưỡng cổ xưa ở Trung hoa -- tối cao nhưng không có những thuộc tính thần học rõ ràng như Chúa trời. Từ "Thượng đế", mà Bùi Giáng đã dùng không chính xác (giống như bao người Việt, trừ người có hiểu biết về tôn giáo học), là theo nghĩa "God của các triết gia", một Nguyên nhân tạo ra Vũ trụ, không nhất thiết là có ngôi vi hay không.

    [7] Bất kể Bùi Giáng nghĩ mình thiên về Lão, Trang nhiều hơn hay Thiền tông nhiều hơn, hoặc ông xem hai truyền thống này là như nhau, thì có lẽ vẫn lí luận được rằng tư tưởng Thiền tông có khi chiếm ưu thế nơi ông. Để chỉ nói sơ qua cho đủ, thì hai điểm cơ bản trong một lí luận như thế là, a/ thực tại quan của Lão, Trang là vũ trụ quan nhất nguyên, và b/ các ý niệm về đối đãi và bổ sung trong tư tưởng Thiền tông chỉ giới hạn trong nhận thức về thực tại, chứ không "lấn" ra đến chính thực tại hay lẩn lộn giữa nhận thức về thực tại và chính thực tại như tư tưởng Lão Trang và Kinh Dịch.

    Đăng nhập để trả lời
    0
    Bùi Giáng
    sinh năm 1926 tại Quảng Nam, mất lúc 14 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại Sàigòn

    tác phẩm :

    Một vài nhận xét về bà huyện Thanh Quan
    Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, quan Âm Thị Kính
    Vài nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần
    Lá Hoa Cồn
    Mưa Nguồn
    Màu Hoa Trên Ngàn
    Ngàn Thu Rớt Hột
    Martin Heidegger và Tư tưởng hiện đại
    Ði vào Cõi Thơ
    Sa Mạc Phát Tiết
    Mùa Thu Trong Thi Ca
    Ngày Tháng Ngao Du
    và các tuyển tập thơ khác được các bạn văn ở hải ngoại ấn hành
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Bùi Giáng chăn dê

    Nguyễn Minh Sơn

    Tôi đọc Bùi Giáng khi bước vào trường đại học. Bấy giờ như một thứ mode thịnh hành. Sinh viên văn khoa, đứa nào đọc “được” Bùi Giáng thì có thể ngửa mặt lên trời đi vào ký túc xá, chẳng cần nhìn cuộc đời làm gì. Thấy mọi người oách quá mình cũng làm theo. Tôi đảm bảo đến tận bây giờ cũng có rất nhiều người bắt chước như vậy. Thật tình, lúc đó đọc thơ của Trung Niên Thi Sĩ chỉ thấy thú vị, đọc biên khảo triết học của Bùi Giáng thì chẳng hiểu mô tê gì cả, đọc các tác phẩm văn học dịch của ông thì càng bùi nhùi hơn nữa. Tiếng Pháp, tiếng Đức nguyên tác, chen lẫn truyện Kiều, thơ Đường. Chữ Hán đủ loại vào trong bản dịch làm cho người đọc hoang mang. Nguyên cớ chính là người đọc không có “gốc“. Nhất là những người thuộc thế hệ như tôi, được đúc trong một cái “khuôn“ chung trong sách vở nhà trường. Cũng may, nhờ một ông giáo già thâm trầm như một con cáo chữ nghĩa, chuyên nghiên cứu triết hiện sinh mách bảo ở thư viện Đại học Huế trong kho sách triết học in trước năm 1975 có rất nhiều sách liên quan đến Bùi Giáng. Martin Heidegger, Nietzsche, Hoelderlin, Thiền, rồi Albert Camus, André Gide, Saint Exupéry, Henri Miler...

    Bùi Giáng - cho đến bây giờ và sau nữa là một trường hợp có một không hai trên văn đàn. Ông là một con người cá biệt, một người điên đặc biệt, một thi sĩ độc đáo của Việt Nam. Từ điển của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant định nghĩa: “Điên (fou) là người hứng khởi, thi sĩ, người được khai tâm thụ giáo thường có vẻ như là những người điên bởi một số hình thức ứng xử của họ vượt ra khỏi những chuẩn mực chung... Một truyền thuyết của bộ tộc Peul nói rằng có ba loại người điên: Người từng có tất cả và đột nhiên mất sạch; người chẳng có cái gì sất rồi có được tất cả không qua bước chuyển tiếp nào; và người điên do bệnh tâm thần. Có thể thêm vào đó loại thứ tư người hy sinh tất cả để có được sự hiền minh, là người được khai tâm mẫu mực. Theo kinh Phúc Âm, sự anh minh của loài người là điên rồ trong mắt Chúa, và sự hiền minh của Chúa là điên rồ trong mắt con người: Đằng sau từ điên ẩn giấu từ siêu nghiệm”. Mặc dù Bùi Giáng có vào dưỡng trí viện Biên Hòa (tháng 5-1969) chữa bệnh (tâm thần) và cùng viết Thái Bình Điên Quấc nhưng thực ra Bùi Giáng thuộc loại người điên thứ tư. Loại người thứ tư này không ai khác hơn là lá bài Mat trong bộ bài Tarot.

    Cuộc đời Bùi Giáng có nhiều giai đoạn mờ mịt đến nỗi trở thành huyền thoại. Trong bài viết này, tôi chỉ đề cập đến một huyền thoại - sự thật, ít người biết và nhắc đến: Bùi Giáng chăn dê! Đó là duyên kỳ ngộ trong nghề làm báo. Một đêm mưa, tại làng Trung Phước xa xôi trong thung lũng vùng Tây huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, thượng nguồn sông Thu Bồn. Lúc rượu say ngầy ngật, hai cụ già hứng khởi hát hò khoan. Đến đoạn cao trào đối đáp, một cụ bí rị. Bèn chật lưỡi: “Hát này hồi xưa ở làng mình có ông Cửu Tý đối ứng số một!“. Ông Cửu Tý là ai vậy? Cụ già bảo: Là anh ruột ông Cửu Thứ? Ông Cửu Thứ là ai? Là ông Bùi Biên, giàu có

    và hào hiệp số một làng này, sau theo Việt Minh làm Chủ tịch ủy ban vận động kháng chiến huyện, có con trai là bác sĩ Bùi Kiến Tín nổi tiếng... Chuyện đến đây thì tôi chợt kinh hãi, giật mình tỉnh hẳn rượu. Có phải thi sĩ Bùi Giáng “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi. Đi lên đi xuống đã đời du côn“ là cháu ông Cửu Thứ ? Cụ già vỗ đùi cái đét, mần răng biết, anh Sáu Giáng là con ông Cửu Tý đó! Nghe nói vào Sài Gòn dạy học rồi phát điên. Ông Cửu Tý hồi xưa cũng điên, nhưng kiểu “điên chữ“. Làm câu đối, hát hò khoan hay lắm. Hàng ngày cứ cưỡi ngựa tàu mo đi từ Trung Phước đến Cà Tang hát hò hát hổng rồi chọc gái. Chọc vui thôi. Ông này thích gái đẹp lắm (Cười!) Đàn ông nào chẳng thích?

    Đâu vào khoảng năm 1920, dòng họ Bùi ở Vĩnh Trinh (Duy Xuyên) làm một cuộc viễn du ngược lên thượng nguồn dòng sông Thu Bồn sinh sống. Thung lũng Trung Phước, căn cứ nghĩa quân Cần vương của Nguyễn Duy Hiệu một thời còn hoang vu. Rừng rậm, sông sâu, chỉ có đường độc đạo. Dân cư ở đây thưa thớt, cọp beo sống chung với người. Chẳng mấy chốc, nhờ thông minh tài trí, dòng họ Bùi trở thành hào phú bậc nhất trong vùng với những sở ruộng phì nhiêu “cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi“. Cho đến hơn nửa thế kỷ sau, căn nhà lầu của dòng họ Bùi ở vùng này vẫn là căn nhà lầu duy nhất trong vùng. Trong nhà người làm công, kẻ tôi tớ đông như kiến. Giàu có nhưng hào hiệp. Những năm đói kém thiên tai, người già trong làng bây giờ vẫn còn nhớ, ông Cửu Thứ cưỡi ngựa đi từ Trung Phước đến Cà Tang rao khắp nơi rao: “Mời bà con trong làng ngày mai tới xứ ruộng Gò Om, Cây Muồng, Giáp Nam gặt lúa về ăn!“. Người người kéo đến gặt lúa nhà ông Cửu Thứ về ăn đông như hội. Một ngày hội nhân văn hiếm thấy của một người giàu trong trận đói 45. Thuở nhỏ, Bùi Giáng học trường Viên Minh ở Hội An cùng với giáo sư Hoàng Châu Ký. Học trò mặc áo dài nâu, mang guốc mộc, xa nhà nên phải ở trọ. Bùi Giáng trọ học trong nhà ông bà Phán Trai, một viên chức khá giả kiêm cho thuê nhà trọ và nấu ăn. Gia đình sống tầng dưới, học trò ở phòng trên. Người đẹp Phạm Thị Ninh, sau này là vợ Bùi Giáng con gái ông bà Phán học cùng trường với ông. Đám cưới tổ chức linh đình. Hai họ đưa rước dâu bằng thuyền mất gần một ngày từ Hội An lên thẳng bến đò Trung Phước. Người làng đi xem đám cưới nhà giàu đông như hội. Ông Phạm Văn Hòa, em ruột bà Phạm Thị Ninh năm nay 74 tuổi, hiện sống tại gần Chùa Cầu (Hội An) nhớ lại: “Khoảng năm 1945, gia đình tôi cũng chuyển lên Trung Phước tản cư. Nhà ở gần nhà của anh Sáu Giáng“. Chỗ ấy bây giờ là Trường Tiểu học Quế Trung. Sau một thời gian bôn ba tầm sư học đạo khắp dải đất Trung Việt từ Hội An, Huế đến Hà Tĩnh... Bùi Giáng trở về quê cưới vợ, không đi học nữa. Thời gian này, ông mua hơn 100 con dê và cùng đàn dê này rong ruổi khắp các thung lũng thượng nguồn Thu Bồn. Phường Rạnh, Giáp Nam, Gò Om, Dùi Chiêng, Tí, Sé, Hòn Kẽm Đá Dừng... nơi nào có đồi sim, có cỏ non nơi đó có đấu chân đàn dê của Bùi Giáng. Vài cuốn sách tiếng Pháp trong túi xách, một tít gạo mắm trên vai... có khi Trung Niên Thi Sĩ cùng đàn dê đóng trại ở lại tận Dùi Chiêng hơn một tháng mới trở về nhà. Ông Hòa, người em vợ, người bạn nhỏ chăn dê kể chuyện này trong sự ngạc nhiên, không làm sao hiểu được: “Lạ thật! Hồi đó nhà anh Sáu Giáng giàu có lắm! Chẳng biết anh nuôi dê để làm gì? Không thấy bán, cũng chẳng thấy giết thịt! Chỉ thấy thỉnh thoảng buổi sáng anh vắt sữa dê đổ vào cái bát chưng lên cho chị tôi uống!“. Những buổi chiều chăn dê trên đồi, Bùi Giáng thơ thẩn đi hái bông sim, bông mua, bông giằng giằng, bông tứ quí kết thành vòng đeo vào cổ cho từng con dê. Mỗi con, Bùi Giáng đặt cho một cái tên riêng theo cách của ông.

    Hồi sống ở Sài Gòn, tôi có hỏi nhà thơ Tường Linh chuyện chăn dê. Nhà thơ Tường Linh cho biết hồi đó ông có học tiếng Pháp với Bùi Giáng. Hai người cùng quê, tuổi tác chênh nhau 4, 5 năm nên coi như bạn bè. Một trang công tử hào hoa như Bùi Giáng đi chăn dê làm ai cũng ngạc nhiên. Người dân ở đây quanh năm lam lũ đâu biết gì. Mãi đến năm 1952, Bùi Giáng có tham gia giải phóng quân trong rừng ở vùng Hiệp Đức bây giờ đâu được 6 tháng. Một buổi sáng mùa mưa trên rừng, trời mưa Bùi Thi Sĩ nhận được hung tin người vợ xinh đẹp hiền lành bị bạo bệnh qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp phải một gốc rễ cây bất tỉnh nhân sự. Người vợ qua đời lúc mới 26 tuổi là cú sốc lớn trong đời Bùi Giáng. Từ đó nhà thơ bỏ quê xuôi về phố thị với cỏ hoa hồn du mục và mưa nguồn không ngớt réo gọi trong tim. Thời gian Bùi Giáng đi chăn dê đâu chừng 4 năm nhưng sau này trong bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ (Mưa nguồn) thi sĩ đã đề từ “Kỷ niệm 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú“. Đấy là một bài thơ trong sáng, tha thiết và gợi nhiều cảm xúc nhất trong tập Mưa nguồn của Bùi Giáng.



    Những bận nào Trà Linh qua

    Đá Dừng Hòn Dựng

    Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược

    Khe Rinh

    Bao lần anh cùng chúng em lận đận

    Bôn ba băng rú rậm luống rùng mình



    Những bận nào Quế Sơn Rù Rì

    con suối ngược

    Nước trôi nguồn nước lũ cuốn

    phăng phăng

    Những bận nào mịt mùng mưa

    gió ướt

    Đẫm thân hình co rúm lạnh

    như băng



    Em nhớ hay không? Hồn hoa dại cỏ

    Những ngậm ngùi đầu núi

    canh khuya

    Vàng cao gót nai đầu truông sợ hãi

    Gió cây rung trút lá mộng tan lìa



    Mười lăm năm, ứng với thời gian lưu lạc của nàng Kiều. Mượn chuyện chăn dê của Tô Vũ đời Hán Vũ Đế bên Trung Quốc để nói nỗi lòng mình. Phải chăng, thuở sơ khai, Bùi Giáng đã ngộ ra thân phận của con người. “Ngươi là bụi, dĩ nhiên phải trở về với bụi“. Ngay từ khi mới ra đời nguyên tổ loài người đã bị Chúa mỉa mai. Adam bị đuổi ra khỏi địa đàng và từ đó con người trở thành kẻ xa lạ (étranger) giữa chốn trần gian huyễn mộng này... Đó là tư tưởng xuyên suốt, là nỗi dày vò thường trực của thi sĩ có một không hai trên văn đàn này.

    Nhân ngày giỗ của Bùi Giáng (7.10), trở lại vùng Trung Phước, Cà Tang chạnh nhớ chuyện chăn dê. “Hỏi quê: rằng biển xanh dâu. Hỏi tên: Rằng mộng ban đầu đã xa. Ôi! Một làng quê nhỏ bé nghèo nàn đơn sơ, khỉ ho cò gáy... nuôi dưỡng, chở che không biết bao nhiêu con người muốn lập chí và thất chí. Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Nguyễn Đình Hiến, Bùi Giáng, Tường Linh, Tạ Ký... Nó réo gọi người ra đi khôn xiết.

    Vĩnh biệt anh! Bùi Giáng

    Bùi huynh! Trung Phước đợi anh về

    Đồi cũ mong người thuở giữ dê

    Giọt giọt mưa nguồn rơi chẳng ngớt

    Sài Gòn vang tiếng vọng mưa quê

    (Báo Văn nghệ Trẻ)
    Love mickey,
    Đăng nhập để trả lời
    0