<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:17:05mickey>
Thử tìm hiểu thiên hướng "Đăng cao" trong thơ Đường
Đỗ Thu Hằng
Khi khảo sát các tuyển tập Đường thi có uy tín, gồm các nguyên bản tiếng Trung như Đường thi tuyển của Mã Mậu Nguyên (Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã tháng 10/1999) Toàn Đường thi tinh tuyển dịch chú của Dương Tá Nghĩa (Trường Xuân xuất bản xã 1/2000) và các bản dịch, giới thiệu Đường thi ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy, có một số lượng lớn những bài thơ lấy nguồn cảm hứng từ vị trí cao. Cụ thể là, thông qua nội dung của bài thơ, người đọc xác định được vị trí không gian của chủ thể trữ tình là ở trên đỉnh núi, đền, đài, tháp... những nơi có địa thế cao so với mặt đất; vị trí này là thực mà cũng có thể là hình dung, tưởng tượng của nhà thơ trong quá trình sáng tạo. Chúng tôi tạm gọi đó là thơ "đăng cao" nhằm phân biệt với các đề tài thơ biên tái, thơ tống biệt, thơ sơn thủy điền viên... vốn đã được nhiều người biết đến.
Thơ "đăng cao" có thể được nhận diện qua yếu tố hình thức và được kiểm nghiệm về nội dung. Trong hệ thống ngôn từ của toàn bài, thậm chí ngay trong tiêu đề thơ, xuất hiện các từ đăng, đăng cao, đăng lâu, đăng đài, đăng sơn hoặc các động từ chỉ tư thế "hướng lên cao" như lãm, vọng hoặc các danh từ, danh ngữ chỉ những địa danh có địa thế cao như Đằng Vương các, Hoàng Hạc lâu... Có thể kể đến: Đăng cao (Đỗ Phủ), Đăng U Châu đài ca (Trần Tử Ngang), Đăng Quán Tước lâu (Vương Chi Hoán), Đăng cao, Đăng Nhạc Dương lâu (Đỗ Phủ), Hoàng Hạc lâu - Thôi Hạo, Vọng Lư Sơn bộc bố (Lý Bạch), Kế khâu lãm cổ (Trần Tử Ngang) v.v... Có nhiều bài thơ không xuất hiện các yếu tố hình thức kể trên, nhưng nội dung vẫn thể hiện tư thế "trên cao", "hướng lên cao" của chủ thể trữ tình chúng tôi vẫn xếp vào loại thơ "đăng cao", đơn cử như bài 1 trong chùm thơ Thu hứng bát thủ của Đỗ Phủ.
Qua nghiên cứu tìm hiểu, thì thơ "đăng cao" xuất hiện khá sớm trong nền thi ca Trung Quốc. Ngay trong những bài thơ dân gian được ghi chép lại trong Thi Kinh thì thiên hướng lên cao làm thơ đã manh nha xuất hiện. Sau đây là hai câu thơ trong bài Quyển nhĩ chúng tôi rút ra từ tập thơ này:
Trắc bỉ tồi ngôi, ngã mã khôi đồi
Ngã cô chước bỉ kim lôi, duy dĩ bất vĩnh hồi
(Dịch nghĩa: Trèo lên đỉnh núi kia, nhưng ngựa của ta đã mệt
Ta đành rót rượu ra chén vàng, để uống cho nỗi nhớ mong khắc khoải)
Bài thơ nói về nỗi nhớ của người chinh phu đối với người vợ nơi quê nhà. Trong nỗi khắc khoải, chinh phu "trèo lên đỉnh núi", ngóng về quê nhà, nhưng người và ngựa đều mệt, không thể nào lên nổi, đành rót rượu ra uống để giải sầu. ở đây, nhà thơ dân gian đã dùng phương thức "đăng cao" để thể hiện tâm tư của mình.
Trải qua thời gian dài, thơ "đăng cao" khai thác thêm nhiều phương diện mới, tuy nhiên, nó chỉ thực sự nở rộ và đạt được nhiều thành tựu vào đời Đường. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu những phương diện nội dung của thơ "đăng cao" được sáng tác vào đời Đường.
Thơ "đăng cao" đời Đường vẫn tiếp nối mạch thơ "đăng cao" nhớ người thân, bộc lộ tình cảm với bạn bè từ Thi Kinh. Có thể kể đến Nguyệt dạ của Đỗ Phủ, Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch.
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Dịch nghĩa: người bạn dời lầu Hoàng Hạc ở phía tây, xuôi theo dòng Trường Giang đi đến Dương Châu trong cảnh sắc mùa xuân tươi đẹp. Ta đứng bên dòng sông dõi theo bóng con thuyền nhỏ cô đơn mất hút phía chân trời, chỉ thấy dòng sông Trường Giang cuồn cuộn chảy giữa lưng chừng trời).
Tác giả Lý Bạch đã "vẽ" lên một bức tranh bằng ngôn từ. Dường như chỉ trong tư thế trên cao đó, nhân vật trữ tình mới nhìn ngắm bạn mình lâu hơn, có thể bộc lộ tình cảm lưu luyến và sự cô đơn của mình một cách sâu sắc. Tiếc là, nội dung này được khai thác không nhiều trong thơ "đăng cao" đời Đường.
Một số lượng lớn thơ "đăng cao" đời Đường dành cho việc ca ngợi cảnh đẹp tự nhiên. Đất nước Trung Quốc có phong cảnh tự nhiên tráng lệ như núi Nga Mi, Thiên Mụ, Ngũ Nhạc, Kính Đình..., những kiến trúc nhân tạo đồ sộ: lầu Quán Tước, đài Phượng Hoàng, tháp Từ Ân, đài U Châu... đáng kể nhất là "tam đại danh lâu" bao gồm: gác Đằng Vương, lầu Nhạc Dương, lầu Hoàng Hạc ở phương Nam. Đây là điều kiện thực tế để cho tứ thơ "đăng cao" xuất hiện và thăng hoa. Khi lên cao, tác giả có thể phóng tầm mắt "dao vọng" ([1]), "cực mục", ngắm nhìn cảnh sắc tự nhiên, từ đó mà hòa tâm hồn vào thiên nhiên, vào cảnh trời đất bao la. Và gần như lẽ tự nhiên, hễ cứ trèo lên cao là thi nhân tràn trề cảm xúc ([1]). Có lẽ cũng vì lý do này mà nội dung vịnh cảnh trong thơ "đăng cao" rất đặc sắc. Chỉ bằng bốn câu thơ, "thi tiên" Lý Bạch đã lột tả được vẻ đẹp hùng vĩ, lãng mạn ngọn núi Lư Sơn:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực hà tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
(Lý Bạch - Vọng Lư Sơn bộc bố)
(Dịch nghĩa: ánh nắng mặt trời chiếu trên đỉnh núi hình lư hương khiến đỉnh núi rực rỡ hào quang muôn hồng ngàn tía, từ xa nhìn lại, dòng thác tựa như là dòng sông treo ở trước mặt, dòng thác ấy đổ ào ào thẳng xuống từ ba nghìn thước, cứ ngỡ là dòng sông Ngân Hà tuột khỏi chín tầng mây rơi xuống).
Và cảm hứng tương tự đến với Đỗ Phủ khi ông đứng trước ngọn tháp Từ Ân:
Cao tiêu khoa thương khung
Liệt phong vô thời lưu
(Đỗ Phủ - Đồng chư công đăng Từ Ân tự tháp)
(Tạm dịch: Tháp cao vượt cả trời xanh, gió gào thét không có lúc nào ngừng)
Thiên nhiên trong thơ đăng cao thường nổi bật lên với vẻ đẹp hùng vĩ, mang màu sắc lãng mạn.
Theo ông Trần Bá Hải - một học giả Trung Quốc thì "so với các văn nhân thời trước thì văn nhân đời Đường đã có nhiều thay đổi về địa vị xã hội và được giải phóng đáng kể về thân phận. Nhìn chung, sau những năm chiến tranh loạn lạc, đến đời Đường, đất nước Trung Quốc đã bước vào thời kỳ thống nhất và phát triển thịnh vượng trên mọi phương diện, do đó đã kích thích con người phát huy tính chủ động, năng động sáng tạo của mình. Có thể nói thi nhân đời Đường đã được thời đại tiếp sức" ([1]). Nhận định của Trần Bá Hải đã lý giải cho tinh thần khát khao nhập thế cháy bỏng trong thơ đăng cao đời Đường.
Trong cuộc đời mình, Đỗ Phủ đã hai lần ứng thí và không biết bao lần dâng thi, dâng thư, dâng phú tự tiến cử rồi nhờ người tiến cử, lặn lội qua bao hiểm nguy, gian nan tìm cách tham chính. Còn Lý Bạch, chịu ảnh hưởng của Tung Hoành gia, ông nuôi tham vọng vào Tràng An làm Khanh tướng. Thất bại trên vũ đài chính trị, đến cuối đời ông còn ba lần tòng quân, quyết chí thực hiện hoài bão của mình. Cách ứng xử đó của thi nhân đối với hiện thực là cội rễ của tinh thần nhập thế, giàu lý tưởng, mong muốn khẳng định tài năng, nhân cách của các nhà thơ, trong thi ca đời Đường và "đăng cao" tỏ ra là rất phù hợp trong việc thể hiện tinh thần này. Vì dù là "đăng cao" trong hiện thực hay trong tưởng tượng, thì có lẽ, tư thế đó, rất tự nhiên, đã mang lại tầm cao cho tâm hồn, tinh thần và thể hiện được khát vọng vươn tới đỉnh cao của con người. Chúng ta cũng không quên một Vương Chi Hoán, qua thơ, đã thể hiện khát vọng muốn nhìn xa vạn dặm, Lý Bạch không dưới một lần nói ý định hái sao trời, với tới trăng, Đỗ Phủ hứa nhất định sẽ có một ngày leo lên đến tận núi Thái Sơn...
Trong bài Vọng Động Đình hồ tặng Trương Thừa Tướng, Mạnh Hạo Nhiên đã dùng thủ pháp tỉ hứng để kí thác hoài bão chính trị:
Dục tế vô chu tiếp, đoan cư sỉ thánh minh.
Tọa quan thùy điếu giả, đồ hữu tiễn ngư tình.
(Tạm dịch: Muốn qua sông nhưng không có thuyền bè, nhàn cư lại thẹn vì nhà vua anh minh. Ngồi nhìn những người câu cá bên hồ, lòng ta thán phục người câu được cá).
Tác giả nói một cách hình ảnh rằng: muốn qua sông nhưng không có thuyền bè (phương tiện để thực hiện lý tưởng chính trị). Điều này cho thấy, ông tuyệt nhiên không nguội lạnh với "sự quân" (thờ vua) và việc ông lựa chọn cuộc sống nhàn cư chỉ là bất đắc dĩ mà thôi.
Trong Vọng nhạc, Đỗ Phủ đã khẳng định tài năng, nhân cách của mình thông qua đối sánh tương quan giữa trời đất và con người.
Đăng hung sinh tằng vân,
quyết thư nhập quy điểu
Hội đương lăng tuyệt đỉnh
nhất lãm chung sơn tiểu
(Đỗ Phủ - Vọng nhạc)
(Tạm dịch: Khí mây bốc ra từ lưng chừng núi, khiến lòng ta phấn khích, nhìn rách mắt mới thấy những con chim bay về tổ. Nhất định sẽ có lúc ta trèo lên đến tận đỉnh núi, khi đó mà nhìn thì núi non xung quanh đều biến thành nhỏ xíu)
Vũ trụ rộng lớn là vậy, bỗng chốc thật nhỏ bé so với ý chí và khát vọng của con người.
Có thể nói, ở nhiều bài thơ đăng cao, chúng ta bắt gặp cái Tôi khát vọng, cái Tôi mang tầm vóc vũ trụ hoàn mĩ, "dữ thiên địa đồng tồn, dữ nhật nguyệt tề quang" (tồn tại cùng đất trời, tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời - Khuất Nguyên), hình tượng thơ đăng cao cũng vì vậy mà trở nên tráng mĩ siêu phàm, giàu sắc thái lãng mạn. Theo thống kê chúng tôi, tinh thần này được thể hiện rõ ràng nhất trong các sáng tác thời Sơ Đường và Thịnh Đường, thời kỳ sau, Trung Vãn Đường và Vãn Đường, tinh thần này có phai nhạt bớt, thay vào đó là ý thức phê phán, khủng hoảng, đầy ưu lo thế sự của thi nhân, tiêu biểu là các tác phẩm Đằng Vương các thi (Vương Bột), Đăng cao (Đỗ Phủ)... Có thể giải thích điều này bằng ý thức nhạy cảm với thời cuộc của thi nhân. Triều đại nhà Đường chỉ cực thịnh trong mấy niên hiệu Trinh Quán, Khai Nguyên, Thiên Bảo, từ sau giai đoạn Thiên Bảo đã xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng. Khủng hoảng bùng nổ đánh dấu sự kiện lịch sử loạn An Sử và năm 755, triều Đường rơi vào cảnh chiến loạn, đời sống nhân dân trôi nổi li tán, tầng lớp văn nhân sĩ phu bị bắt bớ, o ép hàng loạt.
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh, sa bạch điểu phi hồi
(Đăng cao - Đỗ Phủ)
(Dịch nghĩa: Gió rít ù ù, trời cao vời vợi vượn hú thê thảm
Bãi dưới sông nước trong, cát trắng, chim chao đảo lượn vòng)
Đó là tiếng than thở về tình cảnh bất an của đất nước trở đi trở lại trong thơ "đăng cao" Đỗ Phủ những năm cuối đời. Cái tư thế cao khi này gắn với hình ảnh con người cô đơn giữa đất trời mênh mông, hoài nhớ về quá khứ (Đằng Vương các - Vương Bột, Hoàng Hạc lâu - Thôi Hạo, Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài - Lý Bạch). Nhưng nhìn chung, đây không phải là khuynh hướng chủ đạo trong thơ đăng cao đời Đường.
Sau Đường, xu hướng đăng cao trong thơ vẫn tiếp tục được khai thác, nhưng về mặt nội dung lẫn hình thức, thì thơ đăng cao đời Đường vẫn là đỉnh cao, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với thơ ca trong nước cũng như ở các nước trong khu vực. Đăng cao là một biểu tượng trong thơ ca, mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc và là một phương thức độc đáo trong việc biểu lộ thế giới quan của người sáng tác. Là một thiên hướng phát triển theo nội tâm, tầm nhìn của sáng tác thơ, nói chung đây là một thiên hướng lành mạnh, khỏe khoắn và tinh khiết của nhà thơ.
Trên đây mới chỉ là những nhận xét ban đầu về một số nội dung của thơ đăng cao đời Đường. Nó đã chứng tỏ một phương thức chiếm lĩnh thực tại độc đáo, do vậy, những nghiên cứu tiếp theo là cần thiết và bổ ích./.
(Tạp chí Nhà văn)
Đỗ Thu Hằng
Khi khảo sát các tuyển tập Đường thi có uy tín, gồm các nguyên bản tiếng Trung như Đường thi tuyển của Mã Mậu Nguyên (Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã tháng 10/1999) Toàn Đường thi tinh tuyển dịch chú của Dương Tá Nghĩa (Trường Xuân xuất bản xã 1/2000) và các bản dịch, giới thiệu Đường thi ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy, có một số lượng lớn những bài thơ lấy nguồn cảm hứng từ vị trí cao. Cụ thể là, thông qua nội dung của bài thơ, người đọc xác định được vị trí không gian của chủ thể trữ tình là ở trên đỉnh núi, đền, đài, tháp... những nơi có địa thế cao so với mặt đất; vị trí này là thực mà cũng có thể là hình dung, tưởng tượng của nhà thơ trong quá trình sáng tạo. Chúng tôi tạm gọi đó là thơ "đăng cao" nhằm phân biệt với các đề tài thơ biên tái, thơ tống biệt, thơ sơn thủy điền viên... vốn đã được nhiều người biết đến.
Thơ "đăng cao" có thể được nhận diện qua yếu tố hình thức và được kiểm nghiệm về nội dung. Trong hệ thống ngôn từ của toàn bài, thậm chí ngay trong tiêu đề thơ, xuất hiện các từ đăng, đăng cao, đăng lâu, đăng đài, đăng sơn hoặc các động từ chỉ tư thế "hướng lên cao" như lãm, vọng hoặc các danh từ, danh ngữ chỉ những địa danh có địa thế cao như Đằng Vương các, Hoàng Hạc lâu... Có thể kể đến: Đăng cao (Đỗ Phủ), Đăng U Châu đài ca (Trần Tử Ngang), Đăng Quán Tước lâu (Vương Chi Hoán), Đăng cao, Đăng Nhạc Dương lâu (Đỗ Phủ), Hoàng Hạc lâu - Thôi Hạo, Vọng Lư Sơn bộc bố (Lý Bạch), Kế khâu lãm cổ (Trần Tử Ngang) v.v... Có nhiều bài thơ không xuất hiện các yếu tố hình thức kể trên, nhưng nội dung vẫn thể hiện tư thế "trên cao", "hướng lên cao" của chủ thể trữ tình chúng tôi vẫn xếp vào loại thơ "đăng cao", đơn cử như bài 1 trong chùm thơ Thu hứng bát thủ của Đỗ Phủ.
Qua nghiên cứu tìm hiểu, thì thơ "đăng cao" xuất hiện khá sớm trong nền thi ca Trung Quốc. Ngay trong những bài thơ dân gian được ghi chép lại trong Thi Kinh thì thiên hướng lên cao làm thơ đã manh nha xuất hiện. Sau đây là hai câu thơ trong bài Quyển nhĩ chúng tôi rút ra từ tập thơ này:
Trắc bỉ tồi ngôi, ngã mã khôi đồi
Ngã cô chước bỉ kim lôi, duy dĩ bất vĩnh hồi
(Dịch nghĩa: Trèo lên đỉnh núi kia, nhưng ngựa của ta đã mệt
Ta đành rót rượu ra chén vàng, để uống cho nỗi nhớ mong khắc khoải)
Bài thơ nói về nỗi nhớ của người chinh phu đối với người vợ nơi quê nhà. Trong nỗi khắc khoải, chinh phu "trèo lên đỉnh núi", ngóng về quê nhà, nhưng người và ngựa đều mệt, không thể nào lên nổi, đành rót rượu ra uống để giải sầu. ở đây, nhà thơ dân gian đã dùng phương thức "đăng cao" để thể hiện tâm tư của mình.
Trải qua thời gian dài, thơ "đăng cao" khai thác thêm nhiều phương diện mới, tuy nhiên, nó chỉ thực sự nở rộ và đạt được nhiều thành tựu vào đời Đường. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu những phương diện nội dung của thơ "đăng cao" được sáng tác vào đời Đường.
Thơ "đăng cao" đời Đường vẫn tiếp nối mạch thơ "đăng cao" nhớ người thân, bộc lộ tình cảm với bạn bè từ Thi Kinh. Có thể kể đến Nguyệt dạ của Đỗ Phủ, Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch.
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Dịch nghĩa: người bạn dời lầu Hoàng Hạc ở phía tây, xuôi theo dòng Trường Giang đi đến Dương Châu trong cảnh sắc mùa xuân tươi đẹp. Ta đứng bên dòng sông dõi theo bóng con thuyền nhỏ cô đơn mất hút phía chân trời, chỉ thấy dòng sông Trường Giang cuồn cuộn chảy giữa lưng chừng trời).
Tác giả Lý Bạch đã "vẽ" lên một bức tranh bằng ngôn từ. Dường như chỉ trong tư thế trên cao đó, nhân vật trữ tình mới nhìn ngắm bạn mình lâu hơn, có thể bộc lộ tình cảm lưu luyến và sự cô đơn của mình một cách sâu sắc. Tiếc là, nội dung này được khai thác không nhiều trong thơ "đăng cao" đời Đường.
Một số lượng lớn thơ "đăng cao" đời Đường dành cho việc ca ngợi cảnh đẹp tự nhiên. Đất nước Trung Quốc có phong cảnh tự nhiên tráng lệ như núi Nga Mi, Thiên Mụ, Ngũ Nhạc, Kính Đình..., những kiến trúc nhân tạo đồ sộ: lầu Quán Tước, đài Phượng Hoàng, tháp Từ Ân, đài U Châu... đáng kể nhất là "tam đại danh lâu" bao gồm: gác Đằng Vương, lầu Nhạc Dương, lầu Hoàng Hạc ở phương Nam. Đây là điều kiện thực tế để cho tứ thơ "đăng cao" xuất hiện và thăng hoa. Khi lên cao, tác giả có thể phóng tầm mắt "dao vọng" ([1]), "cực mục", ngắm nhìn cảnh sắc tự nhiên, từ đó mà hòa tâm hồn vào thiên nhiên, vào cảnh trời đất bao la. Và gần như lẽ tự nhiên, hễ cứ trèo lên cao là thi nhân tràn trề cảm xúc ([1]). Có lẽ cũng vì lý do này mà nội dung vịnh cảnh trong thơ "đăng cao" rất đặc sắc. Chỉ bằng bốn câu thơ, "thi tiên" Lý Bạch đã lột tả được vẻ đẹp hùng vĩ, lãng mạn ngọn núi Lư Sơn:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực hà tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
(Lý Bạch - Vọng Lư Sơn bộc bố)
(Dịch nghĩa: ánh nắng mặt trời chiếu trên đỉnh núi hình lư hương khiến đỉnh núi rực rỡ hào quang muôn hồng ngàn tía, từ xa nhìn lại, dòng thác tựa như là dòng sông treo ở trước mặt, dòng thác ấy đổ ào ào thẳng xuống từ ba nghìn thước, cứ ngỡ là dòng sông Ngân Hà tuột khỏi chín tầng mây rơi xuống).
Và cảm hứng tương tự đến với Đỗ Phủ khi ông đứng trước ngọn tháp Từ Ân:
Cao tiêu khoa thương khung
Liệt phong vô thời lưu
(Đỗ Phủ - Đồng chư công đăng Từ Ân tự tháp)
(Tạm dịch: Tháp cao vượt cả trời xanh, gió gào thét không có lúc nào ngừng)
Thiên nhiên trong thơ đăng cao thường nổi bật lên với vẻ đẹp hùng vĩ, mang màu sắc lãng mạn.
Theo ông Trần Bá Hải - một học giả Trung Quốc thì "so với các văn nhân thời trước thì văn nhân đời Đường đã có nhiều thay đổi về địa vị xã hội và được giải phóng đáng kể về thân phận. Nhìn chung, sau những năm chiến tranh loạn lạc, đến đời Đường, đất nước Trung Quốc đã bước vào thời kỳ thống nhất và phát triển thịnh vượng trên mọi phương diện, do đó đã kích thích con người phát huy tính chủ động, năng động sáng tạo của mình. Có thể nói thi nhân đời Đường đã được thời đại tiếp sức" ([1]). Nhận định của Trần Bá Hải đã lý giải cho tinh thần khát khao nhập thế cháy bỏng trong thơ đăng cao đời Đường.
Trong cuộc đời mình, Đỗ Phủ đã hai lần ứng thí và không biết bao lần dâng thi, dâng thư, dâng phú tự tiến cử rồi nhờ người tiến cử, lặn lội qua bao hiểm nguy, gian nan tìm cách tham chính. Còn Lý Bạch, chịu ảnh hưởng của Tung Hoành gia, ông nuôi tham vọng vào Tràng An làm Khanh tướng. Thất bại trên vũ đài chính trị, đến cuối đời ông còn ba lần tòng quân, quyết chí thực hiện hoài bão của mình. Cách ứng xử đó của thi nhân đối với hiện thực là cội rễ của tinh thần nhập thế, giàu lý tưởng, mong muốn khẳng định tài năng, nhân cách của các nhà thơ, trong thi ca đời Đường và "đăng cao" tỏ ra là rất phù hợp trong việc thể hiện tinh thần này. Vì dù là "đăng cao" trong hiện thực hay trong tưởng tượng, thì có lẽ, tư thế đó, rất tự nhiên, đã mang lại tầm cao cho tâm hồn, tinh thần và thể hiện được khát vọng vươn tới đỉnh cao của con người. Chúng ta cũng không quên một Vương Chi Hoán, qua thơ, đã thể hiện khát vọng muốn nhìn xa vạn dặm, Lý Bạch không dưới một lần nói ý định hái sao trời, với tới trăng, Đỗ Phủ hứa nhất định sẽ có một ngày leo lên đến tận núi Thái Sơn...
Trong bài Vọng Động Đình hồ tặng Trương Thừa Tướng, Mạnh Hạo Nhiên đã dùng thủ pháp tỉ hứng để kí thác hoài bão chính trị:
Dục tế vô chu tiếp, đoan cư sỉ thánh minh.
Tọa quan thùy điếu giả, đồ hữu tiễn ngư tình.
(Tạm dịch: Muốn qua sông nhưng không có thuyền bè, nhàn cư lại thẹn vì nhà vua anh minh. Ngồi nhìn những người câu cá bên hồ, lòng ta thán phục người câu được cá).
Tác giả nói một cách hình ảnh rằng: muốn qua sông nhưng không có thuyền bè (phương tiện để thực hiện lý tưởng chính trị). Điều này cho thấy, ông tuyệt nhiên không nguội lạnh với "sự quân" (thờ vua) và việc ông lựa chọn cuộc sống nhàn cư chỉ là bất đắc dĩ mà thôi.
Trong Vọng nhạc, Đỗ Phủ đã khẳng định tài năng, nhân cách của mình thông qua đối sánh tương quan giữa trời đất và con người.
Đăng hung sinh tằng vân,
quyết thư nhập quy điểu
Hội đương lăng tuyệt đỉnh
nhất lãm chung sơn tiểu
(Đỗ Phủ - Vọng nhạc)
(Tạm dịch: Khí mây bốc ra từ lưng chừng núi, khiến lòng ta phấn khích, nhìn rách mắt mới thấy những con chim bay về tổ. Nhất định sẽ có lúc ta trèo lên đến tận đỉnh núi, khi đó mà nhìn thì núi non xung quanh đều biến thành nhỏ xíu)
Vũ trụ rộng lớn là vậy, bỗng chốc thật nhỏ bé so với ý chí và khát vọng của con người.
Có thể nói, ở nhiều bài thơ đăng cao, chúng ta bắt gặp cái Tôi khát vọng, cái Tôi mang tầm vóc vũ trụ hoàn mĩ, "dữ thiên địa đồng tồn, dữ nhật nguyệt tề quang" (tồn tại cùng đất trời, tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời - Khuất Nguyên), hình tượng thơ đăng cao cũng vì vậy mà trở nên tráng mĩ siêu phàm, giàu sắc thái lãng mạn. Theo thống kê chúng tôi, tinh thần này được thể hiện rõ ràng nhất trong các sáng tác thời Sơ Đường và Thịnh Đường, thời kỳ sau, Trung Vãn Đường và Vãn Đường, tinh thần này có phai nhạt bớt, thay vào đó là ý thức phê phán, khủng hoảng, đầy ưu lo thế sự của thi nhân, tiêu biểu là các tác phẩm Đằng Vương các thi (Vương Bột), Đăng cao (Đỗ Phủ)... Có thể giải thích điều này bằng ý thức nhạy cảm với thời cuộc của thi nhân. Triều đại nhà Đường chỉ cực thịnh trong mấy niên hiệu Trinh Quán, Khai Nguyên, Thiên Bảo, từ sau giai đoạn Thiên Bảo đã xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng. Khủng hoảng bùng nổ đánh dấu sự kiện lịch sử loạn An Sử và năm 755, triều Đường rơi vào cảnh chiến loạn, đời sống nhân dân trôi nổi li tán, tầng lớp văn nhân sĩ phu bị bắt bớ, o ép hàng loạt.
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh, sa bạch điểu phi hồi
(Đăng cao - Đỗ Phủ)
(Dịch nghĩa: Gió rít ù ù, trời cao vời vợi vượn hú thê thảm
Bãi dưới sông nước trong, cát trắng, chim chao đảo lượn vòng)
Đó là tiếng than thở về tình cảnh bất an của đất nước trở đi trở lại trong thơ "đăng cao" Đỗ Phủ những năm cuối đời. Cái tư thế cao khi này gắn với hình ảnh con người cô đơn giữa đất trời mênh mông, hoài nhớ về quá khứ (Đằng Vương các - Vương Bột, Hoàng Hạc lâu - Thôi Hạo, Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài - Lý Bạch). Nhưng nhìn chung, đây không phải là khuynh hướng chủ đạo trong thơ đăng cao đời Đường.
Sau Đường, xu hướng đăng cao trong thơ vẫn tiếp tục được khai thác, nhưng về mặt nội dung lẫn hình thức, thì thơ đăng cao đời Đường vẫn là đỉnh cao, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với thơ ca trong nước cũng như ở các nước trong khu vực. Đăng cao là một biểu tượng trong thơ ca, mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc và là một phương thức độc đáo trong việc biểu lộ thế giới quan của người sáng tác. Là một thiên hướng phát triển theo nội tâm, tầm nhìn của sáng tác thơ, nói chung đây là một thiên hướng lành mạnh, khỏe khoắn và tinh khiết của nhà thơ.
Trên đây mới chỉ là những nhận xét ban đầu về một số nội dung của thơ đăng cao đời Đường. Nó đã chứng tỏ một phương thức chiếm lĩnh thực tại độc đáo, do vậy, những nghiên cứu tiếp theo là cần thiết và bổ ích./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,