<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:12:40mickey>
Sống trong mồ và làm thơ trong mồ, một hiện tượng văn chương đặc biệt
(Thơ của Nguyễn Dân Trung - NXB Hội Nhà văn – 2002)
Trường Lưu
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa tái bản tập thơ Sống trong mồ của Nguyễn Dân Trung, có bổ sung hai phần: Tám và Bích và Mai Ca. Cũng nhân dịp tái bản này, tác giả đã đưa vào một số bài thơ lẻ đã sáng tác trước và sau khi hoàn thành truyện thơ Sống trong mồ.
Đây là loại tác phẩm chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh chiến đấu khốc liệt của chiến sĩ cách mạng Việt Nam với loại kẻ thù vượt ra ngoài khuôn khổ tàn bạo. Nếu với Nguyễn Đức Thuận trước đây đã từ cõi chết trên mặt đất trở về và viết nên hồi ký Bất khuất (Trần Đỉnh thực hiện - NXB Văn học, 1964) thì Nguyễn Dân Trung đã từ cõi chết ở địa ngục nằm sâu trong lòng đất trở về và mang theo trong đầu truyện thơ Sống trong mồ. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, đọc lại truyện thơ tái bản, vẫn gây trong ta nhiều xúc động. Bài viết này chủ yếu đề cập đến quá trình sáng tác đặc biệt của tác giả gắn với hiện thực một nhà tù đặc biệt.
Làm thơ, viết văn trong nhà tù là việc thường thấy ở các chiến sĩ cách mạng xưa nay. Tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ đã trở thành tác phẩm vĩ đại. Các bài thơ xuất sắc viết trong tù của Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy và nhiều nhà cách mạng khác, đã ăn sâu vào trí nhớ bạn đọc. Nhật ký Viết dưới giá treo cổ của Phu-xích đã được giải thưởng quốc gia Tiệp Khắc; trường ca Nhật ký Mô-a-bít của Mu-xa Da-lin đã được giải thưởng Lê-nin của Liên Xô cũ... đều là những tác phẩm viết trong tù khi phát xít Đức tấn công vào Trung Đông Âu.
Nhưng Phu-xích, Mu-xa Da-lin còn tìm được những mảnh giấy vụn, những mẩu bút chì để viết, hoặc ít ra cũng tìm được những mảnh lá, mẩu than để làm thơ như các chiến sĩ Côn Đảo đã làm, còn Nguyễn Dân Trung thì hoàn toàn không có một tí phương tiện gì để biến câu thơ thành dòng chữ. Cảnh sống trong mồ là cảnh chết. Đây là một trong lối giam cầm của giặc Mỹ và tay sai, chúng đã nghiên cứu đủ moi loại nhà tù độc ác để “sáng tạo” ra những cánh giam cầm mới. Thời gian trong đáy huyệt là một màu đêm thăm thẳm. Không ánh sáng, không giấy bút, người làm thơ chỉ còn biết sử dụng bộ óc. Vừa sáng tạo vần điệu, hình ảnh thơ, vừa bắt thơ làm ra phải trải dài trong trí nhớ. Thật là cảm động khi được biết Nguyễn Dân Trung làm thơ như kiểu gạch cột, thắt nút dây ở một thời đại chưa có chữ viết: “Anh đã cắt chiếc quai dép cũ làm cái vòng nhỏ. Cứ làm xong mười câu, anh lại xỏ cái vòng nhỏ vào ngón tay. Khi nhắc cái vòng qua đủ mười ngón, anh ôn lại cho thuộc đủ một trăm câu. Rồi lại làm tiếp. Vừa làm thơ anh vừa phải đánh nhau với bầy chuột cống tới cắn chân, phải hò hét với rắn hổ mang bò vào xà lim làm ổ”.
Ba nghìn câu thơ trong mười tám tháng liên tục làm. Làm thơ trong những điều kiện ấy là một hành động quá ư dũng cảm. Tất nhiên là Nguyễn Dân Trung đã sáng tác bằng xúc cảm tràn trề của một tâm hồn nghệ sĩ, nhưng trước hết là bằng máu, bằng tủy, bằng tất cả tâm huyết của người chiến sĩ cách mạng trung kiên. Tuy sống trực tiếp với hoàn cảnh có một không hai ấy, người làm thơ cũng phải mất nhiều tâm sức để quan sát những gì xoay quanh cái hoàn cảnh ấy trước khi những vần thơ xuất hiện.
Cuộc thám hiểm bắt đầu vào chi tiết...
... Cả đất trời thu lại bấy nhiêu đây...
Nguyễn Dân Trung làm thơ là để chiến đấu với thần chết và với lũ quỷ vây quanh; nhưng mục đích chính của anh, làm thơ là để ghi lại những mẩu đời, mẩu việc trong mồ, với hy vọng nếu còn sống sót sẽ “tố cáo kiểu hầm giam vô cùng tàn bạo”. Anh là một trong ba người còn sống sót, và anh đã thực hiện mục đích ấy theo lời trăn trối của các bạn tù, đã cùng bị giam chung trong huyệt Chín Hầm. Có lẽ trong lịch sử văn học thế giới xưa nay chưa có tác phẩm nào có quá trình sáng tác kỳ lạ như tập thơ Sống trong mồ của Nguyễn Dân Trung.
Tác giả đã tâm sự: “Trong hoàn cảnh không viết lách được gì cả, nên không trau chuốt gọt giũa được, chỉ mới ghi sự việc một cách vội vàng mà chưa xoáy vào tâm sự nhân vật”. Đúng là ở đây ta không hề thấy có bàn tay kỹ xảo tỉa tót vần điệu, nhưng nội dung của tác phẩm có sức lôi cuốn người đọc đến say mê và cảm động. Người đọc có thể muốn biết thêm những khía cạnh này nọ về cuộc đời các nhân vật, nhưng mỗi nhân vật ở đây đều có hồn, có máu thịt, có bản lĩnh kiên cường, có trái tim nồng nàn và cao cả. Tác phẩm đã đạt được những yêu cầu cơ bản về nghệ thuật miêu tả, kể chuyện, về ngôn ngữ hình tượng, nhất là làm nổi rõ cái môi trường sống và chiến đấu của người tù trong đáy huyệt... Nguyễn Dân Trung cũng chỉ sử dụng một bút pháp chân phương và giản dị, chứ không có điều kiện để chú ý nhiều đến kỹ thuật, nhưng do bản thân câu chuyện trong tác phẩm nhiều mặt độc đáo nên đã kéo theo sự sinh động cho từng ý thơ.
Nguyễn Dân Trung đã đau cái đau của những anh em đồng chí phải chịu đựng một kiểu tra tấn không gông xiềng, kìm kẹp, một cuộc “tra không nghỉ, tra trường kỳ vô hạn”; nói rõ hơn, một “lối chôn sống mà không cho chết gấp, bắt phải sống giữa quan tài đậy nắp”. Anh căm thù cái căm thù của đồng đội khi nhìn sự hành hạ ghê tởm của lũ quỷ người bắt con người phải làm kiếp ma. Mỗi người tù mang kiếp ma ấy như bị đóng đinh vào xà lim thường bị ngập bùn, ngập cả phân và rác “trộn vào nhau thành đống”, “thở rặt một mùi phân” do ô uế xông lên. Những cái đó cũng đủ giết chết người tù chứ không đợi đến ăn cơm trộn dầu hôi và uống nước khe nước lá.
Trong bóng tối hãi hùng vây phủ, người tù chỉ nhận ra nhau qua tiếng nói có hạn được vọng lên từ xà lim. Mỗi người tù cũng khó nhận ra mình khi sờ vào râu, tóc dài tua tủa với những tấm giẻ rách không đủ che tấm thân chỉ còn da bọc lấy xương. Cảnh sống và cảnh chết ở đây hầu như không phân biệt. Họ đúng là những “người cổ sơ trần trụi giữa hang dơi”, vừa là “những thây ma gọi bầy quạ xám”.
Từng thớ thịt, từng tế bào giãy giụa
Giẫy, giẫy hoài mà vẫn sống dằng dai
Sống ngắc ngư, sống vật vã hình hài
Một cái sống làm bằng nghìn cái chết
Càng cố sống càng đau nhừ xác thịt.
Nhưng lũ quỷ trên đầu xà lim nào có chịu để yên cho những người tù chết dần chết mòn vì bị phù, bị teo, bị kiết lỵ, bị thần kinh rối loạn kêu rú thất thanh. Chúng vét đến cả chiếc quần rách cuối cùng không cho người tù dùng làm khăn quấn cổ để chống rét mùa đông tràn về và khí lạnh từ lòng đất bốc lên. Tội ác của kẻ thù đã lên tới đỉnh tột cùng, và cũng là đỉnh tột cùng đối với sự chịu đựng muôn vàn đau đớn của người tù. Chỉ có tất cả nỗi đau và niềm căm thù to lớn, với sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình, Nguyễn Dân Trung mới vẽ lên được cái hiện thực nhà tù có một không hai này. Thiếu đi một trong hai mặt ấy, thì hoặc chỉ có sự việc ngổn ngang mà ít những cảm xúc cần có, hoặc có xúc cảm nhưng chưa gắn sâu vào cái bề dày của sự việc...
Hoàn cảnh sống và chiến đấu tạo ra thơ, và nhà thơ nâng cao ý nghĩa của sự sống trong hoàn cảnh ấy: cái lô-gích đó ở đây thật là rõ nét. Nếu không phải là người trong cuộc thì dù một nhà thơ chuyên nghiệp có trình độ kỹ thuật già dặn đến đâu, và đã nghe kể lại sự việc ở ngục Chín Hầm đến bao nhiêu lần, cũng không thể tạo được những câu thơ như Nguyễn Dân Trung đã miêu tả khi nghe những giọt nước từ mặt đất theo khe hở rơi xuống chạm vào các song sắt trên đầu xà lim. Tiếng nước rơi làm xôn xao tâm sự, gợi lòng thương nhớ bạn tù bao la. Hình tượng tiếng nước rơi của Nguyễn Dân Trung cũng có sức truyền cảm mạnh mẽ, gây trong ta tình thương hòa lẫn kính phục. Hình tượng ấy chỉ có thể nảy sinh trong hoàn cảnh khi người tù khó bề vượt qua cái chết.
Nghe khắp phía tiếng nước rơi khó tả
Buồn làm sao những giọt đập vào song
Chừng nhớ ai, hai giọt hỏi: Coòn... khôông...?
Hai giọt đáp: "Khôông... coòn...", nghe nức nở
Có giọt nện... nện đều... trên tấm gỗ
Đóng hòm chăng? Ai sắp sửa vô hòm?
Có giọt rơi xuống vũng nước lòm bòm
Ai lội đó? Đi đâu trong động quỷ?
Có giọt gõ vật gì bằng kim khí
Kiễng đưa ma sao khua rộn đêm tàn?
Sống trong mồ không thiếu những đoạn thơ tương tự.
Nhưng nói về tội ác của kẻ thù cũng chỉ để qua đó nói lên tâm hồn của người tù, và đó mới là mảng hiện thực đẹp đẽ nhất của truyện thơ Sống trong mồ. Đó là lòng yêu đời của các chiến sĩ trong ngục Chín Hầm. Không phải ai cũng có được lòng yêu đời ấy, nhất là khi cuộc sống dồn đến bước đường cùng. Cái bước đường cùng trong ngục Chín Hầm thật là ghê rợn, chỉ cần một chút thiếu nghị lực và lòng tin là người tù vĩnh viễn vùi thân trong đáy huyệt.
Sống trong mồ không đưa chúng ta trở về với những tấm gương anh dũng trong các nhà tù trước đây, nhưng phảng phất trong mỗi nhân vật đều có sự tiếp nối truyền thống về lòng yêu đời và về niềm lạc quan cách mạng của các chiến sĩ trong tù, tuy hoàn cảnh tù có khác nhau. Sống trong ngục Chín Hầm, Hồng bâng khuâng nghĩ tới các chiến sĩ đã chết trong tù: “Họ đã nghĩ những gì khi sắp mất? Có trối trăng, có nhắn gửi gì không? Có điều chi muốn nói với riêng Hồng?”. Rồi Hồng tự nhủ:
Lũ chôn người chưa chôn được ta đâu
Khi niềm vui theo xuống tận mồ sâu.
Hồng là hóa thân của Nguyễn Dân Trung. Thốt ra được những câu nói lạc quan ấy, Hồng đã phải trải qua một cuộc “thám hiểm” đầy công phu về kiến trúc nhà tù sau khi tâm trí đã trở lại thăng bằng không còn mất khái niệm về thời gian nữa. Trong bóng tối lờ mờ, Hồng bỗng reo lên: “Chao! May quá, thế là chưa mất hẳn!” khi thấy chút ánh sáng từ bên ngoài rọi tới. Thì ra đó là lỗ thông hơi duy nhất được trổ trên tường cao và sát dưới trần nhà giam; đối diện với nó là cửa nhà ngục, phía ngoài các song sắt là những tảng đá nằm ngang, nhưng vẫn còn một khoảng trống con con.
Đối với người tù ở ngục Chín Hầm, tìm được kẽ hở để liên lạc với thế giới bên ngoài cũng như người sắp chết vớ được những tia hồi sinh. Từ những tia hồi sinh ấy mà cầm cự được với thần chết và tạo dần nên sức sống dẻo dai. Hồng đu người lên và rướn cổ nhìn xem những cảnh vật hiện ra trong cái khung lỗ thông hơi. Kia là mảnh trời, là màu xanh của cây cỏ, và sát bên trên nhà ngục là một bụi sim, mấy ngọn chổi là sà và những chòm lau phơ phất. Đó chỉ là khoảng vũ trụ “quá thân và quá hẹp” làm sao đủ đáp ứng cho con người đang khao khát không gian. Nhưng cái vòm trời chật hẹp ấy cũng đã làm cho “bóng tối mỏng dần đi” trong cái ngục tối tăm và ngột ngạt. Qua tiếp xúc với thiên nhiên có hạn, người tù hình dung ra “cuộc sống bên ngoài vẫn vươn lên bền bỉ”, và thấy trở lại bước đi của thời gian qua tiếng gà gáy sáng, tiếng còi rúc buổi trưa, qua ánh nắng mặt trời và ánh trăng bàng bạc...
“Thiên nhiên là khúc hát trữ tình muôn đời của nghệ thuật, là bầu sữa ngọt nuôi sống tâm hồn con người” (Bi-ê-lin-ski). ở đây, Nguyễn Dân Trung vừa nói đến thiên nhiên như nguồn an ủi con người trong cảnh lao tù đau khổ, vừa nói đến sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên như một lẽ tất yếu. Trong tác phẩm có thêm những chi tiết về cuộc đời của Hồng, ta càng hiểu thêm cái lẽ tất yếu đó. Và đó là những chi tiết rất đạt, đã tạo them cho cái chiều sâu cần có khi tự phản ánh mình. Hồng tâm sự: Hồi còn là học sinh một trường trung học ở thành phố Huế, anh “lánh phố đông, thường lạc đến đồi thơ” để tìm cái đẹp của thiên nhiên, trong khi nuôi nhiều “hoài bão... ước mơ”... nhưng “tâm trí còn mờ...”. Thiên nhiên luôn gần gũi bên anh trong các quãng đời hoạt động cách mạng. Cho nên sau khi bị đẩy vào ngục Chín Hầm, bên cạnh những việc chiến đấu khác phải làm, anh vẫn cố tìm cách để được ngắm thiên nhiên. Không ngắm được thì anh thường nhắc đến thiên nhiên như một hình bóng thân yêu nhất của đời mình. Lúc thì:
Câu nói vô tình gây nhớ tiếc không gian
Ngoài cửa kia thôi, ôi thông biếc bạt ngàn
Hồng thấy lại cảnh đồi thông tu viện...
Và lúc thì:
Đồi này đây, phải chăng nơi ta từng dạo gót?
Bụi sim kia, nơi ta từng nghe chim hót?
Đồi của ta, sim của ta ơi,
Mình với ta gắn bó đã lâu rồi.
Do lòng yêu đời, yêu cảnh vật thiên nhiên, các bài thơ viết trong tù của các chiến sĩ cách mạng ta cũng thường đề cập đến thiên nhiên như thế. Thiên nhiên trong thơ nhà tù tuy không thật nhiều vẻ song bao giờ cũng gợi cảm. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Dân Trung thiết tha, day dứt, vì người làm thơ hoàn toàn bị cách ly với mọi sự sống bên ngoài.
Nếu tình yêu thiên nhiên là một mặt của tình yêu cuộc sống và đất nước và nói đến thiên nhiên cũng chỉ để nói đến con người, thì tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Dân Trung đã làm tăng vẻ đẹp cho tâm hồn chiến sĩ của anh vốn đượm tình người, tình bạn chiến đấu. Bản thân anh đã trải qua những chuỗi ngày tù trôi nổi, từ nhà tù P.42 ở Sở thú Sài Gòn đến nhà lao Thừa phủ ở Huế, từ lao xá Ty công an Thừa Thiên đến ngục Chín Hầm: mắt toàn thấy cảnh thương tâm và tai nghe mãi giọng bọn cai ngục ác ôn. Là một người như thế, nhưng suốt trong tập Sống trong mồ ta không thấy anh lộ những tình cảm yếu đuối. Chỉ thỉnh thoảng có những câu thơ phảng phất một tâm sự buồn, thương nhớ tập thể, thương và nhớ tất cả. Với hoàn cảnh như Nguyễn Dân Trung, làm sao tránh khỏi được buồn và nhớ. Thể hiện cái buồn này trong văn học là thể hiện một mặt ý chí đấu tranh của người tù. Toàn bộ tâm trạng của Nguyễn Dân Trung hoàn toàn thuộc về tình cảm và ý chí cách mạng.
Niềm băn khoăn lớn nhất của anh sau khi bị đầy vào ngục Chín Hầm là nhớ kháng chiến, nhớ chiến khu, nhất là nhớ các bạn tù đã sống chết có nhau. Nhớ và hối hận vì những câu lỡ lời của mình trước đây đã có lúc làm bạn phật lòng. Nhà tù của Mỹ - ngụy thì nơi nào cũng tàn bạo như nơi nào, nhưng tù trên mặt đất hàng ngày anh em vẫn thấy mặt nhau, vẫn liên lạc với nhau qua nụ cười, khoé mắt, vẫn nghe được nhịp sống bên ngoài. Còn bây giờ thì hoàn toàn thiếu tất cả. Càng bị bịt bùng trong ngục Chín Hầm càng thấy nhớ nhung bức thiết. Nhưng bức thiết hơn là anh em tù phải giúp đỡ nhau để sống còn trong ngục.
"... Hai anh ạ, đừng lo tôi chết cóng
Các anh sống ắt là tôi cũng sống"
Tám tiếp luôn: "Tôi sẽ xé bao tời
Để anh dùng quấn đỡ quanh người"
Hai cũng nói: "Tôi đưa anh vải lót
Dùng che ngực hay che lưng cũng tốt"
Ca gạt ngay: "Cho mình nói vài lời
Tích nguy rồi, nhường áo chết như chơi!
Tám cũng yếu, phá bao, e có hại
Xin các cậu bình tâm cân nhắc lại
Các cậu thương cũng không cứu được mình”...
Tình yêu thương ấy trở thành một sức mạnh tình cảm to lớn có sức cuốn hút nhau cùng bảo vệ khí tiết người chiến sĩ. Họ cố quên đi những đau khổ bời bời trong các nhà tù ngột ngạt những hôi hám, tanh tưởi, những lời văng tục, chửi rủa của bọn lính cai ngục. Họ vẫn đùa, vẫn ngâm thơ cho nhau nghe và dạy cho nhau học. Học bằng mồm và bằng trí nhớ. Họ vẫn lồng những câu nói dí dỏm vào các câu chuyện kể cho nhau nghe mỗi khi vắng bóng bọn lính cai ngục. Họ ví bữa ăn trong tù là “tiệc mặn”, đi ở tù là “nghỉ mát”, người tù là “khách sang của cậu út Trầu (Ngô Đình Cẩn) và nhà tù Chín Hầm là “chiêu đãi sở” mang nhãn hiệu “nhân vị cần lao”.
Miêu tả cái hiện thực cách mạng trong nhà ngục Chín Hầm, Nguyễn Dân Trung đã dành nhiều tình cảm đặc biệt để nói đến Mai Ca. Sau Hồng, đây là nhân vật rất nổi trong Sống trong mồ. Hồng giàu cảm xúc, yêu thiên nhiên, hay suy nghĩ về những bước đường cách mạng, thì Mai Ca là hiện thân của mưu trí cách mạng, của đầu óc hành động. Bị tra tấn máu me đầy người, Mai Ca cũng chỉ nói: “Không hề chi, chúng mới thử sơ qua”. Hồng bé người, “việc chân tay thường vụng”, thì Mai Ca cao lớn, có “giọng cười như thác đổ” “nhưng tính lại ưa mềm”. Theo Nguyễn Dân Trung, Mai Ca và Hồng đã trải qua nhiều năm tháng cùng hoạt động trong một ngành công tác của Đảng, và Mai Ca cũng sáng tác văn học như Hồng. Trong thời gian bị giam ở lao xá Ty công an Thừa Thiên, Mai Ca đã viết ra một truyện dài nhưng bản thảo đã bị địch tịch thu.
Điểm nổi bật nhất của Mai Ca là anh luôn luôn tổ chức vượt ngục. Những trang hồi ức vượt ngục của anh làm ta nhớ tới những trang hồi ký vượt ngục của chiến sĩ ở Côn Đảo, Sơn La v.v... Đó là những trang sử thi giống nhau về những mưu toan, kế hoạch, óc thông minh, khéo léo, những hồi hộp và lo âu. Nhưng kẻ thù mới có khác kẻ thù cũ, “khoa học” tù ngục của Mỹ khác hẳn “nghề giam” của thực dân Pháp. Bởi vậy, cuộc đấu trí, đấu mưu trong hoàn cảnh mới cũng có những mặt tinh vi phức tạp hơn.
Cũng qua những trang hồi ức vượt ngục của Mai Ca, tuy chỉ bằng những đoạn thơ điểm xuyết, Nguyễn Dân Trung cũng đã làm nổi lên nghĩa tình của nhân dân đối với cách mạng. Thông cảm với nỗi đau khổ của người tù bị đày đọa tấm thân, nhưng không biết làm cách nào, nhân dân chỉ nói với anh em những tiếng lóng, những dấu hiệu của lòng tin. “Một tiếng gắng đủ làm tim bừng tỉnh, một tiếng tin mà nát cả can tràng”. Khi biết anh em tù vượt ngục, họ hết lòng che chở và giúp đỡ:
... Đồng bào tốt làm mình rơi nước mắt
Mình đóng vai ở bệnh viện vừa ra
Một bà hàng nghe mình nói xót xa
Không tính toán cho liền hai hộp thuốc
Toàn thuốc bổ dùng cầm hơi tạm được...
Huế anh dũng, Huế phi thường, Huế cầm cự được cả tháng trời với các loại vũ khí hiện đại của Mỹ trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân năm 1968, vì Huế có những con người như các nhân vật Sống trong mồ.
Với Sống trong mồ, văn học yêu nước chống đế quốc của chúng ta có thêm một tác phẩm viết về nhà tù, đội ngũ sáng tác văn học có thêm một nhà thơ trưởng thành từ hệ thống xà lim nằm sâu trong lòng đất. Kẻ thù muốn giết chết mọi sức sống ở người tù, nhưng chính chúng đã tạo điều kiện cho người tù cách mạng nâng cao nhân phẩm và phát huy cả cảm xúc văn học. Sự hình thành của tác phẩm, quá trình sáng tác và hiện thực được miêu tả, đã vượt xa ý nghĩa thông thường của văn học.
Nguyễn Dân Trung chẳng những là chiến sĩ đã đấu tranh không mệt mỏi trong các nhà tù mà còn là chiến sĩ trên mặt trận văn học. Anh đã đưa chất thép vào thơ cũng như hiến cả sức lực đời mình cho những năm tháng đi theo cách mạng./.
(Tạp chí Nhà văn)
(Thơ của Nguyễn Dân Trung - NXB Hội Nhà văn – 2002)
Trường Lưu
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa tái bản tập thơ Sống trong mồ của Nguyễn Dân Trung, có bổ sung hai phần: Tám và Bích và Mai Ca. Cũng nhân dịp tái bản này, tác giả đã đưa vào một số bài thơ lẻ đã sáng tác trước và sau khi hoàn thành truyện thơ Sống trong mồ.
Đây là loại tác phẩm chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh chiến đấu khốc liệt của chiến sĩ cách mạng Việt Nam với loại kẻ thù vượt ra ngoài khuôn khổ tàn bạo. Nếu với Nguyễn Đức Thuận trước đây đã từ cõi chết trên mặt đất trở về và viết nên hồi ký Bất khuất (Trần Đỉnh thực hiện - NXB Văn học, 1964) thì Nguyễn Dân Trung đã từ cõi chết ở địa ngục nằm sâu trong lòng đất trở về và mang theo trong đầu truyện thơ Sống trong mồ. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, đọc lại truyện thơ tái bản, vẫn gây trong ta nhiều xúc động. Bài viết này chủ yếu đề cập đến quá trình sáng tác đặc biệt của tác giả gắn với hiện thực một nhà tù đặc biệt.
Làm thơ, viết văn trong nhà tù là việc thường thấy ở các chiến sĩ cách mạng xưa nay. Tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ đã trở thành tác phẩm vĩ đại. Các bài thơ xuất sắc viết trong tù của Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy và nhiều nhà cách mạng khác, đã ăn sâu vào trí nhớ bạn đọc. Nhật ký Viết dưới giá treo cổ của Phu-xích đã được giải thưởng quốc gia Tiệp Khắc; trường ca Nhật ký Mô-a-bít của Mu-xa Da-lin đã được giải thưởng Lê-nin của Liên Xô cũ... đều là những tác phẩm viết trong tù khi phát xít Đức tấn công vào Trung Đông Âu.
Nhưng Phu-xích, Mu-xa Da-lin còn tìm được những mảnh giấy vụn, những mẩu bút chì để viết, hoặc ít ra cũng tìm được những mảnh lá, mẩu than để làm thơ như các chiến sĩ Côn Đảo đã làm, còn Nguyễn Dân Trung thì hoàn toàn không có một tí phương tiện gì để biến câu thơ thành dòng chữ. Cảnh sống trong mồ là cảnh chết. Đây là một trong lối giam cầm của giặc Mỹ và tay sai, chúng đã nghiên cứu đủ moi loại nhà tù độc ác để “sáng tạo” ra những cánh giam cầm mới. Thời gian trong đáy huyệt là một màu đêm thăm thẳm. Không ánh sáng, không giấy bút, người làm thơ chỉ còn biết sử dụng bộ óc. Vừa sáng tạo vần điệu, hình ảnh thơ, vừa bắt thơ làm ra phải trải dài trong trí nhớ. Thật là cảm động khi được biết Nguyễn Dân Trung làm thơ như kiểu gạch cột, thắt nút dây ở một thời đại chưa có chữ viết: “Anh đã cắt chiếc quai dép cũ làm cái vòng nhỏ. Cứ làm xong mười câu, anh lại xỏ cái vòng nhỏ vào ngón tay. Khi nhắc cái vòng qua đủ mười ngón, anh ôn lại cho thuộc đủ một trăm câu. Rồi lại làm tiếp. Vừa làm thơ anh vừa phải đánh nhau với bầy chuột cống tới cắn chân, phải hò hét với rắn hổ mang bò vào xà lim làm ổ”.
Ba nghìn câu thơ trong mười tám tháng liên tục làm. Làm thơ trong những điều kiện ấy là một hành động quá ư dũng cảm. Tất nhiên là Nguyễn Dân Trung đã sáng tác bằng xúc cảm tràn trề của một tâm hồn nghệ sĩ, nhưng trước hết là bằng máu, bằng tủy, bằng tất cả tâm huyết của người chiến sĩ cách mạng trung kiên. Tuy sống trực tiếp với hoàn cảnh có một không hai ấy, người làm thơ cũng phải mất nhiều tâm sức để quan sát những gì xoay quanh cái hoàn cảnh ấy trước khi những vần thơ xuất hiện.
Cuộc thám hiểm bắt đầu vào chi tiết...
... Cả đất trời thu lại bấy nhiêu đây...
Nguyễn Dân Trung làm thơ là để chiến đấu với thần chết và với lũ quỷ vây quanh; nhưng mục đích chính của anh, làm thơ là để ghi lại những mẩu đời, mẩu việc trong mồ, với hy vọng nếu còn sống sót sẽ “tố cáo kiểu hầm giam vô cùng tàn bạo”. Anh là một trong ba người còn sống sót, và anh đã thực hiện mục đích ấy theo lời trăn trối của các bạn tù, đã cùng bị giam chung trong huyệt Chín Hầm. Có lẽ trong lịch sử văn học thế giới xưa nay chưa có tác phẩm nào có quá trình sáng tác kỳ lạ như tập thơ Sống trong mồ của Nguyễn Dân Trung.
Tác giả đã tâm sự: “Trong hoàn cảnh không viết lách được gì cả, nên không trau chuốt gọt giũa được, chỉ mới ghi sự việc một cách vội vàng mà chưa xoáy vào tâm sự nhân vật”. Đúng là ở đây ta không hề thấy có bàn tay kỹ xảo tỉa tót vần điệu, nhưng nội dung của tác phẩm có sức lôi cuốn người đọc đến say mê và cảm động. Người đọc có thể muốn biết thêm những khía cạnh này nọ về cuộc đời các nhân vật, nhưng mỗi nhân vật ở đây đều có hồn, có máu thịt, có bản lĩnh kiên cường, có trái tim nồng nàn và cao cả. Tác phẩm đã đạt được những yêu cầu cơ bản về nghệ thuật miêu tả, kể chuyện, về ngôn ngữ hình tượng, nhất là làm nổi rõ cái môi trường sống và chiến đấu của người tù trong đáy huyệt... Nguyễn Dân Trung cũng chỉ sử dụng một bút pháp chân phương và giản dị, chứ không có điều kiện để chú ý nhiều đến kỹ thuật, nhưng do bản thân câu chuyện trong tác phẩm nhiều mặt độc đáo nên đã kéo theo sự sinh động cho từng ý thơ.
Nguyễn Dân Trung đã đau cái đau của những anh em đồng chí phải chịu đựng một kiểu tra tấn không gông xiềng, kìm kẹp, một cuộc “tra không nghỉ, tra trường kỳ vô hạn”; nói rõ hơn, một “lối chôn sống mà không cho chết gấp, bắt phải sống giữa quan tài đậy nắp”. Anh căm thù cái căm thù của đồng đội khi nhìn sự hành hạ ghê tởm của lũ quỷ người bắt con người phải làm kiếp ma. Mỗi người tù mang kiếp ma ấy như bị đóng đinh vào xà lim thường bị ngập bùn, ngập cả phân và rác “trộn vào nhau thành đống”, “thở rặt một mùi phân” do ô uế xông lên. Những cái đó cũng đủ giết chết người tù chứ không đợi đến ăn cơm trộn dầu hôi và uống nước khe nước lá.
Trong bóng tối hãi hùng vây phủ, người tù chỉ nhận ra nhau qua tiếng nói có hạn được vọng lên từ xà lim. Mỗi người tù cũng khó nhận ra mình khi sờ vào râu, tóc dài tua tủa với những tấm giẻ rách không đủ che tấm thân chỉ còn da bọc lấy xương. Cảnh sống và cảnh chết ở đây hầu như không phân biệt. Họ đúng là những “người cổ sơ trần trụi giữa hang dơi”, vừa là “những thây ma gọi bầy quạ xám”.
Từng thớ thịt, từng tế bào giãy giụa
Giẫy, giẫy hoài mà vẫn sống dằng dai
Sống ngắc ngư, sống vật vã hình hài
Một cái sống làm bằng nghìn cái chết
Càng cố sống càng đau nhừ xác thịt.
Nhưng lũ quỷ trên đầu xà lim nào có chịu để yên cho những người tù chết dần chết mòn vì bị phù, bị teo, bị kiết lỵ, bị thần kinh rối loạn kêu rú thất thanh. Chúng vét đến cả chiếc quần rách cuối cùng không cho người tù dùng làm khăn quấn cổ để chống rét mùa đông tràn về và khí lạnh từ lòng đất bốc lên. Tội ác của kẻ thù đã lên tới đỉnh tột cùng, và cũng là đỉnh tột cùng đối với sự chịu đựng muôn vàn đau đớn của người tù. Chỉ có tất cả nỗi đau và niềm căm thù to lớn, với sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình, Nguyễn Dân Trung mới vẽ lên được cái hiện thực nhà tù có một không hai này. Thiếu đi một trong hai mặt ấy, thì hoặc chỉ có sự việc ngổn ngang mà ít những cảm xúc cần có, hoặc có xúc cảm nhưng chưa gắn sâu vào cái bề dày của sự việc...
Hoàn cảnh sống và chiến đấu tạo ra thơ, và nhà thơ nâng cao ý nghĩa của sự sống trong hoàn cảnh ấy: cái lô-gích đó ở đây thật là rõ nét. Nếu không phải là người trong cuộc thì dù một nhà thơ chuyên nghiệp có trình độ kỹ thuật già dặn đến đâu, và đã nghe kể lại sự việc ở ngục Chín Hầm đến bao nhiêu lần, cũng không thể tạo được những câu thơ như Nguyễn Dân Trung đã miêu tả khi nghe những giọt nước từ mặt đất theo khe hở rơi xuống chạm vào các song sắt trên đầu xà lim. Tiếng nước rơi làm xôn xao tâm sự, gợi lòng thương nhớ bạn tù bao la. Hình tượng tiếng nước rơi của Nguyễn Dân Trung cũng có sức truyền cảm mạnh mẽ, gây trong ta tình thương hòa lẫn kính phục. Hình tượng ấy chỉ có thể nảy sinh trong hoàn cảnh khi người tù khó bề vượt qua cái chết.
Nghe khắp phía tiếng nước rơi khó tả
Buồn làm sao những giọt đập vào song
Chừng nhớ ai, hai giọt hỏi: Coòn... khôông...?
Hai giọt đáp: "Khôông... coòn...", nghe nức nở
Có giọt nện... nện đều... trên tấm gỗ
Đóng hòm chăng? Ai sắp sửa vô hòm?
Có giọt rơi xuống vũng nước lòm bòm
Ai lội đó? Đi đâu trong động quỷ?
Có giọt gõ vật gì bằng kim khí
Kiễng đưa ma sao khua rộn đêm tàn?
Sống trong mồ không thiếu những đoạn thơ tương tự.
Nhưng nói về tội ác của kẻ thù cũng chỉ để qua đó nói lên tâm hồn của người tù, và đó mới là mảng hiện thực đẹp đẽ nhất của truyện thơ Sống trong mồ. Đó là lòng yêu đời của các chiến sĩ trong ngục Chín Hầm. Không phải ai cũng có được lòng yêu đời ấy, nhất là khi cuộc sống dồn đến bước đường cùng. Cái bước đường cùng trong ngục Chín Hầm thật là ghê rợn, chỉ cần một chút thiếu nghị lực và lòng tin là người tù vĩnh viễn vùi thân trong đáy huyệt.
Sống trong mồ không đưa chúng ta trở về với những tấm gương anh dũng trong các nhà tù trước đây, nhưng phảng phất trong mỗi nhân vật đều có sự tiếp nối truyền thống về lòng yêu đời và về niềm lạc quan cách mạng của các chiến sĩ trong tù, tuy hoàn cảnh tù có khác nhau. Sống trong ngục Chín Hầm, Hồng bâng khuâng nghĩ tới các chiến sĩ đã chết trong tù: “Họ đã nghĩ những gì khi sắp mất? Có trối trăng, có nhắn gửi gì không? Có điều chi muốn nói với riêng Hồng?”. Rồi Hồng tự nhủ:
Lũ chôn người chưa chôn được ta đâu
Khi niềm vui theo xuống tận mồ sâu.
Hồng là hóa thân của Nguyễn Dân Trung. Thốt ra được những câu nói lạc quan ấy, Hồng đã phải trải qua một cuộc “thám hiểm” đầy công phu về kiến trúc nhà tù sau khi tâm trí đã trở lại thăng bằng không còn mất khái niệm về thời gian nữa. Trong bóng tối lờ mờ, Hồng bỗng reo lên: “Chao! May quá, thế là chưa mất hẳn!” khi thấy chút ánh sáng từ bên ngoài rọi tới. Thì ra đó là lỗ thông hơi duy nhất được trổ trên tường cao và sát dưới trần nhà giam; đối diện với nó là cửa nhà ngục, phía ngoài các song sắt là những tảng đá nằm ngang, nhưng vẫn còn một khoảng trống con con.
Đối với người tù ở ngục Chín Hầm, tìm được kẽ hở để liên lạc với thế giới bên ngoài cũng như người sắp chết vớ được những tia hồi sinh. Từ những tia hồi sinh ấy mà cầm cự được với thần chết và tạo dần nên sức sống dẻo dai. Hồng đu người lên và rướn cổ nhìn xem những cảnh vật hiện ra trong cái khung lỗ thông hơi. Kia là mảnh trời, là màu xanh của cây cỏ, và sát bên trên nhà ngục là một bụi sim, mấy ngọn chổi là sà và những chòm lau phơ phất. Đó chỉ là khoảng vũ trụ “quá thân và quá hẹp” làm sao đủ đáp ứng cho con người đang khao khát không gian. Nhưng cái vòm trời chật hẹp ấy cũng đã làm cho “bóng tối mỏng dần đi” trong cái ngục tối tăm và ngột ngạt. Qua tiếp xúc với thiên nhiên có hạn, người tù hình dung ra “cuộc sống bên ngoài vẫn vươn lên bền bỉ”, và thấy trở lại bước đi của thời gian qua tiếng gà gáy sáng, tiếng còi rúc buổi trưa, qua ánh nắng mặt trời và ánh trăng bàng bạc...
“Thiên nhiên là khúc hát trữ tình muôn đời của nghệ thuật, là bầu sữa ngọt nuôi sống tâm hồn con người” (Bi-ê-lin-ski). ở đây, Nguyễn Dân Trung vừa nói đến thiên nhiên như nguồn an ủi con người trong cảnh lao tù đau khổ, vừa nói đến sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên như một lẽ tất yếu. Trong tác phẩm có thêm những chi tiết về cuộc đời của Hồng, ta càng hiểu thêm cái lẽ tất yếu đó. Và đó là những chi tiết rất đạt, đã tạo them cho cái chiều sâu cần có khi tự phản ánh mình. Hồng tâm sự: Hồi còn là học sinh một trường trung học ở thành phố Huế, anh “lánh phố đông, thường lạc đến đồi thơ” để tìm cái đẹp của thiên nhiên, trong khi nuôi nhiều “hoài bão... ước mơ”... nhưng “tâm trí còn mờ...”. Thiên nhiên luôn gần gũi bên anh trong các quãng đời hoạt động cách mạng. Cho nên sau khi bị đẩy vào ngục Chín Hầm, bên cạnh những việc chiến đấu khác phải làm, anh vẫn cố tìm cách để được ngắm thiên nhiên. Không ngắm được thì anh thường nhắc đến thiên nhiên như một hình bóng thân yêu nhất của đời mình. Lúc thì:
Câu nói vô tình gây nhớ tiếc không gian
Ngoài cửa kia thôi, ôi thông biếc bạt ngàn
Hồng thấy lại cảnh đồi thông tu viện...
Và lúc thì:
Đồi này đây, phải chăng nơi ta từng dạo gót?
Bụi sim kia, nơi ta từng nghe chim hót?
Đồi của ta, sim của ta ơi,
Mình với ta gắn bó đã lâu rồi.
Do lòng yêu đời, yêu cảnh vật thiên nhiên, các bài thơ viết trong tù của các chiến sĩ cách mạng ta cũng thường đề cập đến thiên nhiên như thế. Thiên nhiên trong thơ nhà tù tuy không thật nhiều vẻ song bao giờ cũng gợi cảm. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Dân Trung thiết tha, day dứt, vì người làm thơ hoàn toàn bị cách ly với mọi sự sống bên ngoài.
Nếu tình yêu thiên nhiên là một mặt của tình yêu cuộc sống và đất nước và nói đến thiên nhiên cũng chỉ để nói đến con người, thì tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Dân Trung đã làm tăng vẻ đẹp cho tâm hồn chiến sĩ của anh vốn đượm tình người, tình bạn chiến đấu. Bản thân anh đã trải qua những chuỗi ngày tù trôi nổi, từ nhà tù P.42 ở Sở thú Sài Gòn đến nhà lao Thừa phủ ở Huế, từ lao xá Ty công an Thừa Thiên đến ngục Chín Hầm: mắt toàn thấy cảnh thương tâm và tai nghe mãi giọng bọn cai ngục ác ôn. Là một người như thế, nhưng suốt trong tập Sống trong mồ ta không thấy anh lộ những tình cảm yếu đuối. Chỉ thỉnh thoảng có những câu thơ phảng phất một tâm sự buồn, thương nhớ tập thể, thương và nhớ tất cả. Với hoàn cảnh như Nguyễn Dân Trung, làm sao tránh khỏi được buồn và nhớ. Thể hiện cái buồn này trong văn học là thể hiện một mặt ý chí đấu tranh của người tù. Toàn bộ tâm trạng của Nguyễn Dân Trung hoàn toàn thuộc về tình cảm và ý chí cách mạng.
Niềm băn khoăn lớn nhất của anh sau khi bị đầy vào ngục Chín Hầm là nhớ kháng chiến, nhớ chiến khu, nhất là nhớ các bạn tù đã sống chết có nhau. Nhớ và hối hận vì những câu lỡ lời của mình trước đây đã có lúc làm bạn phật lòng. Nhà tù của Mỹ - ngụy thì nơi nào cũng tàn bạo như nơi nào, nhưng tù trên mặt đất hàng ngày anh em vẫn thấy mặt nhau, vẫn liên lạc với nhau qua nụ cười, khoé mắt, vẫn nghe được nhịp sống bên ngoài. Còn bây giờ thì hoàn toàn thiếu tất cả. Càng bị bịt bùng trong ngục Chín Hầm càng thấy nhớ nhung bức thiết. Nhưng bức thiết hơn là anh em tù phải giúp đỡ nhau để sống còn trong ngục.
"... Hai anh ạ, đừng lo tôi chết cóng
Các anh sống ắt là tôi cũng sống"
Tám tiếp luôn: "Tôi sẽ xé bao tời
Để anh dùng quấn đỡ quanh người"
Hai cũng nói: "Tôi đưa anh vải lót
Dùng che ngực hay che lưng cũng tốt"
Ca gạt ngay: "Cho mình nói vài lời
Tích nguy rồi, nhường áo chết như chơi!
Tám cũng yếu, phá bao, e có hại
Xin các cậu bình tâm cân nhắc lại
Các cậu thương cũng không cứu được mình”...
Tình yêu thương ấy trở thành một sức mạnh tình cảm to lớn có sức cuốn hút nhau cùng bảo vệ khí tiết người chiến sĩ. Họ cố quên đi những đau khổ bời bời trong các nhà tù ngột ngạt những hôi hám, tanh tưởi, những lời văng tục, chửi rủa của bọn lính cai ngục. Họ vẫn đùa, vẫn ngâm thơ cho nhau nghe và dạy cho nhau học. Học bằng mồm và bằng trí nhớ. Họ vẫn lồng những câu nói dí dỏm vào các câu chuyện kể cho nhau nghe mỗi khi vắng bóng bọn lính cai ngục. Họ ví bữa ăn trong tù là “tiệc mặn”, đi ở tù là “nghỉ mát”, người tù là “khách sang của cậu út Trầu (Ngô Đình Cẩn) và nhà tù Chín Hầm là “chiêu đãi sở” mang nhãn hiệu “nhân vị cần lao”.
Miêu tả cái hiện thực cách mạng trong nhà ngục Chín Hầm, Nguyễn Dân Trung đã dành nhiều tình cảm đặc biệt để nói đến Mai Ca. Sau Hồng, đây là nhân vật rất nổi trong Sống trong mồ. Hồng giàu cảm xúc, yêu thiên nhiên, hay suy nghĩ về những bước đường cách mạng, thì Mai Ca là hiện thân của mưu trí cách mạng, của đầu óc hành động. Bị tra tấn máu me đầy người, Mai Ca cũng chỉ nói: “Không hề chi, chúng mới thử sơ qua”. Hồng bé người, “việc chân tay thường vụng”, thì Mai Ca cao lớn, có “giọng cười như thác đổ” “nhưng tính lại ưa mềm”. Theo Nguyễn Dân Trung, Mai Ca và Hồng đã trải qua nhiều năm tháng cùng hoạt động trong một ngành công tác của Đảng, và Mai Ca cũng sáng tác văn học như Hồng. Trong thời gian bị giam ở lao xá Ty công an Thừa Thiên, Mai Ca đã viết ra một truyện dài nhưng bản thảo đã bị địch tịch thu.
Điểm nổi bật nhất của Mai Ca là anh luôn luôn tổ chức vượt ngục. Những trang hồi ức vượt ngục của anh làm ta nhớ tới những trang hồi ký vượt ngục của chiến sĩ ở Côn Đảo, Sơn La v.v... Đó là những trang sử thi giống nhau về những mưu toan, kế hoạch, óc thông minh, khéo léo, những hồi hộp và lo âu. Nhưng kẻ thù mới có khác kẻ thù cũ, “khoa học” tù ngục của Mỹ khác hẳn “nghề giam” của thực dân Pháp. Bởi vậy, cuộc đấu trí, đấu mưu trong hoàn cảnh mới cũng có những mặt tinh vi phức tạp hơn.
Cũng qua những trang hồi ức vượt ngục của Mai Ca, tuy chỉ bằng những đoạn thơ điểm xuyết, Nguyễn Dân Trung cũng đã làm nổi lên nghĩa tình của nhân dân đối với cách mạng. Thông cảm với nỗi đau khổ của người tù bị đày đọa tấm thân, nhưng không biết làm cách nào, nhân dân chỉ nói với anh em những tiếng lóng, những dấu hiệu của lòng tin. “Một tiếng gắng đủ làm tim bừng tỉnh, một tiếng tin mà nát cả can tràng”. Khi biết anh em tù vượt ngục, họ hết lòng che chở và giúp đỡ:
... Đồng bào tốt làm mình rơi nước mắt
Mình đóng vai ở bệnh viện vừa ra
Một bà hàng nghe mình nói xót xa
Không tính toán cho liền hai hộp thuốc
Toàn thuốc bổ dùng cầm hơi tạm được...
Huế anh dũng, Huế phi thường, Huế cầm cự được cả tháng trời với các loại vũ khí hiện đại của Mỹ trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân năm 1968, vì Huế có những con người như các nhân vật Sống trong mồ.
Với Sống trong mồ, văn học yêu nước chống đế quốc của chúng ta có thêm một tác phẩm viết về nhà tù, đội ngũ sáng tác văn học có thêm một nhà thơ trưởng thành từ hệ thống xà lim nằm sâu trong lòng đất. Kẻ thù muốn giết chết mọi sức sống ở người tù, nhưng chính chúng đã tạo điều kiện cho người tù cách mạng nâng cao nhân phẩm và phát huy cả cảm xúc văn học. Sự hình thành của tác phẩm, quá trình sáng tác và hiện thực được miêu tả, đã vượt xa ý nghĩa thông thường của văn học.
Nguyễn Dân Trung chẳng những là chiến sĩ đã đấu tranh không mệt mỏi trong các nhà tù mà còn là chiến sĩ trên mặt trận văn học. Anh đã đưa chất thép vào thơ cũng như hiến cả sức lực đời mình cho những năm tháng đi theo cách mạng./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,