Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Muốn Nên Người - Phạm Cao Tùng 🔒

14 trả lời, 2.437 lượt xem — Trang 1 / 1
MUỐN NÊN NGƯỜI
PHƯƠNG PHÁP LẬP THÂN CỦA NGƯỜI BẠN TRẺ
Tác giả: Phạm Cao Tùng
Xuất bản: 1967
Nguồn: Bụi Tím

Xin chân thành cảm ơn chị Bụi Tím đã chia sẻ quyển sách này đến Thư Quán. Chúc chị nhiều sức khỏe, may mắn và thành công!
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-04-07 15:53:20ldlvinhquang>
LỜI NÓI ĐẦU



Ở đời có ba điều đáng tiếc:
Một là hôm nay bỏ qua,
Hai là đời này chẳng học,
Ba là thân này lỡ hư.
Chu Hi


Gửi các bạn thanh niên sắp rời bỏ trường học để bước chân vào trường đời.
Thưa bạn, quyển sách này vì bạn mà có.
Bạn đừng tìm nơi đây những bài học luân lý theo lối nhà trường, cũng đừng tìm nơi đây những triết lý về đời sống hoặc những lời khuyên của thánh hiền xưa nay xếp thành chương thành mục.
Quyển sách này chỉ ghi lại một thí nghiệm, những suy nghĩ, những lo âu của một người đã sống cái tuổi của bạn, đang sống cùng một hoàn cảnh như bạn và cũng có những lo nghĩ như bạn khi cầm quyển sách này lên xem.
Sau khi rởi bỏ ghế nhà trường để bước chân vào trường đời, người ấy thấy mình như lạc bước trên dải đất xa lạ khi phải lo nghĩ đến việc lập thân, người ấy thấy mình thiếu thốn mọi điều kiện, gần như chưa bao giờ chuẩn bị để làm người.
Người ấy đã phải tự tìm con đường đi, qua những sách vở bàn dạy về phép xử thế, đạo làm người. Người ấy phải hoàn toàn làm lại sự giáo dục của mình và lẽ cố nhiên khi vừa đi vừa dò dẫm, đã phải trả bằng một giá rất đắt một ít kinh nghiệm về cuộc đời.
Sau khi đã trải qua một đoạn đường hơi xa, người ấy muốn ghi lại cuộc đời thí nghiệm này những bài học thực tiễn của nó, mong những bạn đồng cảnh ngộ của mình sẽ tránh được những cái vấp mình đã vấp.
Chúng tôi không phát minh ra điều gì mới lạ, chúng tôi chỉ xếp lại thành hệ thống những bài học rải rác đó đây và giữ lại những gì chúng tôi thấy có thể thực hành và áp dụng.
Ở thời nào, ở xã hội nào, muốn nên người cũng phải biết nỗ lực, biết làm việc, biết lập thân, biết giữ gìn sức khỏe, biết yêu thương, biết học hỏi, biết ăn ở cho phải đạo làm người. Đó cũng là những đề mục chúng tôi đề cập trong sách này.
Cưu mang nó trong mười năm, đến nay mới để nó thoát thai không phải vì chúng tôi cần thời gian gọt giũa câu văn mà chỉ vì chúng tôi cuộc thí nghiệm được thử lửa thời gian.
Chúng tôi không dám nghĩ những điều góp trong sách này là những chân lý, song chúng tôi có thể cả quyết rằng đó là những điều mà các bạn có thể thực hành và thí nghiệm như chúng tôi.
Hơn nữa, có cần gì bạn đồng tin tưởng như chúng tôi, điều cần là bạn sẽ suy nghĩ đến những gì chúng tôi nêu ra trong mấy trang sách sau đây, do đó bạn sẽ có những tư tưởng mới, riêng của bạn và đó mới thật quý hơn.
Và nếu may ra bạn có thể xem quyển sách này như người bạn đường giúp mình bước qua những khúc khuỷu của đường đời thì chúng tôi đã đạt ý nguyện.
Chào bạn.
Phạm Cao Tùng
Trà Vinh, 7-1941 – Sài Gòn, 1-1952
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-04-07 15:59:54ldlvinhquang>
PHẦN THỨ NHẤT
CHƯƠNG I
THẾ NÀO LÀ NÊN NGƯỜI?
Không ai tự nhiên nên người,
 song người ta trở nên người.

Người ta thường lầm lộn ý nghĩa hai danh từ “nên người” và “làm nên”.
Đây là một người xoay xở đâu được một món tiền to, tậu nhà, tậu xe là được hàng xóm trầm trồ đưa làm mẫu cho con cháu: “Đấy, con người ta bằng tuổi bây mà xem, người ta đã nên thân với đời”. Vâng, người ấy đã làm nên với đời thật, song có thể bảo người ấy đã “nên người” chăng nếu phần trí thức của họ là miếng đất hoang vu hoặc phần tâm đức của họ là một vũng sình lầy?
Đây là một bác sĩ du học ở ngoại quốc mới về quê. Cha mẹ đều mừng cho đứa con đã nên thân với đời. Nhưng nếu người bác sĩ ấy mang thân xác về quê mà chỉ còn một lá phổi, thử hỏi có thể bảo ông ta đã “nên người” chăng?
Đây là một nhà văn đã làm nên một sự nghiệp văn chương, nhưng nếu nhà văn ấy sống một cuộc đời bê tha, vô liêm sỉ, lạm dụng chút tài hoa để lừa dối bạn bè cùng những người hâm mộ, có thể bảo nhà văn ấy đã xứng đáng làm người chăng?
Một người chỉ làm nên ở một điểm hoặc ở một phần nào, thí dụ về chức nghiệp hay về tiền bạc, còn những phần khác lại khuyết điểm hay hư hỏng, những khối óc to mà chân tay bở như đất hoặc những tấm thân bồ tượng mà chứa bộ óc rỗng không, đó là những mảnh vụn chứ không phải là một người đầy đủ, đó là những dị nhân có cánh tay thật to gắn trên thân hình thật bé. Những người như thế dù tài năng hay địa vị họ đến đâu cũng không thể bảo họ đã nên người, một người xứng đáng làm người với tất cả những ý nghĩa của nó.
Năm xưa, một tờ báo bên Pháp phê bình một vị phi công đại tài đã hợp tác với quân Đức: “Là một phi công đại tài nhưng là một người thấp kém”.
Cũng bởi quan niệm làm người như thế nên nhạc sĩ trứ danh Beethoven nói: “Tôi thích làm một người xứng đáng hơn một nhạc sĩ trứ danh”. Ông Roosevelt cựu Tổng thống Mỹ nói về một giáo sư danh tiếng: “Ông ấy đã hơn một nhà bác học, vì ông đã là một người với tất cả ý nghĩa của nó”.
Có thể nói một người đã nên người là khi họ biết làm phát triển con người của họ một cách điều hòa và đầy đủ về tất cả những phương diện: thể chất, trí thức, tâm đức và xã hội.
Một người xứng đáng làm người là một người có một thân thể tráng kiện, một khối óc sáng suốt, một lý tưởng cao đẹp.
Người ấy không phải là y sĩ, nhưng cũng biết cách giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, biết chọn thức ăn, biết cách cầm máu, biết làm hô hấp nhân tạo, biết phép nuôi con.
Người ấy không phải là lực sĩ, nhưng có thể cử tạ năm mươi cân, mang bao bị trên vai, đi chân đôi ba chục cây số, có thể ngủ ngoài trời ở giữa đồng mà không sợ bị trúng sương cảm gió, có thể, nếu cần thức liền hai ba đêm để làm xong một công việc mà không ngầy ngật, có thể nhảy xuống sông cứu người sắp chết đuối.
Người ấy không phải là tu sĩ, những luôn luôn tìm hiểu những thị dục, những chỗ yếu của mình, có thể đủ sáng suốt để phân biệt đâu là hạnh phúc thanh cao, đâu là thú vui thấp hèn, có đủ đức hy sinh để hiến thân cho một nghĩa vụ cao cả, hoặc có thể làm một cách âm thầm những công việc bất vụ lợi mong đem lại đôi chút hạnh phúc cho những người xấu số hơn mình.
Người ấy không phải là thi sĩ, nhưng rất có thể cảm thông cái đẹp của vũ trụ cũng như cái khổ đau của nhân loại. Tim họ có thể hòa nhịp với những khúc nhạc của gió chiều dạo trên lá trúc, cũng như đôi khi họ cũng nhỏ những giọt nước mắt không đâu để khóc vay cho thiên hạ.
Người ấy không phải là chiến sĩ, nhưng họ rất hiểu lề luật sắt của tạo vật: luật chiến đấu. Họ chiến đấu để chinh phục con người họ, chiến đấu để chinh phục cuộc đời.
Biết rõ giá trị của cần lao và sức cố gắng, họ dám liều lĩnh nếu cần liều lĩnh. Thành công, họ không vênh váo, vì họ biết đó là kết quả tự nhiên của sự cố gắng. Bị ngã quỵ họ không sờn lòng, vì họ rất yêu đời, tin ở đời, tin ở sự tiến bộ không ngừng của nhân loại… vì họ biết rằng chỉ có những người không làm gì cả mới không thất bại.
Người ấy mới thật nên người. Người ấy dù là một tay thợ hay một người làm công cũng có thể kể là một giá trị trong xã hội. Vì chỉ có nhân phẩm mới làm tiêu chuẩn để đánh giá một con người.
Và trong xã hội nào, ở thời nào người ta cũng cần những người ấy. Ngày xưa, ông Diogène xách đèn giữa thanh thiên bạch nhật để tìm một người; ở thế kỷ 19 ông Jouffroy đã thốt tiếng than: “Chúng ta thiếu người”. Phải chăng là những người như thế?
Có bạn sẽ bảo: “Đó là những lý tưởng trong tiểu thuyết!”. Không, đó là những người chúng ta có thể chung đụng hàng ngày.
Đó là hạng người mà nền giáo dục tương lai có phận sự nung đúc. Vì có ai “tự nhiên mà nên người, song người ta trở nên người” nhờ sự giáo dục khôn ngoan và hợp lý.
Ngày xưa, người học trò tốt là người có trí nhớ dẻo dai, có thể trả thuộc lòng cho thầy nghe những bài học thường khi vô dụng.
Ngày xưa, đứa con ngoan là đứa con nhu mì, thiệt thà, ít nói, nước da trắng như bột, thích sống quanh quẩn trong gia đình.
Ngày nay, với đời sống hoạt động cần nhiều tranh đấu, muốn nên người, muốn sống với tất cả ý nghĩa thật của cuộc đời người bạn trẻ phải được nung đúc theo một lề lối giáo dục mới. Vì: “Giáo dục một người là gì? Phải chăng là rèn tập cho họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh”.
Lẽ cố nhiên, dù xưa hay nay cũng thế, người tốt là người biết nhân, lễ, nghĩa… Song với cuộc sống đấu tranh hiện nay: là một người nết na nhu mì chưa đủ, phải là người quả quyết, đầy tự tin; là người hiền đức chưa đủ, phải là người hoạt động, đầy nghị lực; là người biết lo tròn bổn phận chưa đủ, phải là người có nhiều sáng kiến để làm hơn bổn phận của mình; là người có thiện chí chưa đủ, phải là người có nhiều ý chí…
Những giá trị cũ không phải hoàn toàn bị phá bỏ, nhưng chúng ta phải thừa nhận thêm những giá trị mới. Và chúng ta thử tìm một con đường giáo dục mới…
My company: www.procard.com.vn
0
CHƯƠNG II
THẾ NÀO LÀ GIÁO DỤC MỘT NGƯỜI?
Người ta lo khai trí những bạn trẻ
nhưng người ta không luyện chúng nó nên người.
Ch. Rivet

Năm xưa, ông Vũ Ngọc Phan có viết một quyển sách về giáo dục: "Con đường mới của thanh niên". Ngay ở những trang đầu tác giả cố ý tìm một định nghĩa xác đáng cho danh từ giáo dục. Sau khi trình bày ý kiến những triết gia xưa và nay, theo Kant: "Mục đích giáo dục là làm cho mỗi con người ta được thật hoàn toàn", theo W. James, S. Mill, H. Spencer: "Giáo dục có mục đích làm cho mọi người trở nên một vật sung sướng cho người ấy và cho đồng loại", ông Phan cho rằng chỉ có định nghĩa sau đây của E. Durkheim là thiết thực và rõ ràng hơn cả:

"Giáo dục là ảnh hưởng của những thế hệ người lớn đối với những thế hệ còn chưa chín chắn để tham dự vào cuộc đời trong xã hội. Giáo dục có mục đích là làm cho phát triển ở đứa trẻ những điều kiện vật chất, trí thức và tinh thần, là những điều mà toàn thể xã hội chính trị đang mong mỏi, đến cả cái hoàn cảnh riêng của đứa trẻ cũng mong mỏi nữa".

Theo chúng tôi, định nghĩa như thế ấy chỉ sát nghĩa, chưa được rõ rệt và thiết thực cho lắm. Sát nghĩa vì động từ "Eduquer" (tức là giáo dục) của tiếng Pháp, lấy nguồn gốc của một động từ La Tinh "Educere", nghĩa là đem ra ngoài, làm nẩy nở; như vậy, định nghĩa chữ "giáo dục" theo Durkheim là "làm nẩy nở, làm phát triển ở đứa bé những điều về vật chất v.v..." thì không gì sát nghĩa hơn.
Song có thể định nghĩa chữ "giáo dục" một cách khác, vẫn đúng nghĩa và được rõ rệt thiết thực và gọn ghẽ hơn: "Sự giáo dục là nghệ thuật làm nên một người".

Làm nên một người trước nhất phải dạy cho nó biết cách chinh phục lấy nó, là dạy cho nó những phương pháp để tạo lấy sức khỏe, là rèn đúc cho nó một ý chí đanh thép, để có thể làm chủ thân xác, tư tưởng và tâm hồn của nó. Như vậy để đoạt lấy sức khỏe của thể chất và sự an tĩnh của tâm hồn, tức là để đoạt lấy hạnh phúc.
Làm nên một người là dạy cho nó biết cách chinh phục lấy cuộc đời, là dạy cho nó nghề để nuôi sống, là dạy cho nó những điều cần biết để lập gia đình, để lập danh phận, để lập nghiệp, là rèn tập cho nó những đức tính thiết thực; óc thực tiễn, óc tổ chức, làm việc có phương pháp, sống đắc lực, tức là dạy nó cách đoạt lấy thành công.

Đã giúp cho người bạn trẻ có đủ khí giới để chinh phúc lấy sức khỏe, hạnh phúc, thành công tức là đã giúp cho nó sống một cách đầy đủ và điều hòa, nghĩa là đã làm cho nó trở nên người, mà như vậy cũng đủ lắm rồi. Aldous Huxley viết: "Làm một người đầy đủ, điều hòa là một việc khó khăn, nhưng đó là công việc duy nh[font="times new roman,times new roman"][size=4]ất của chúng ta. Người ta chỉ xin chúng ta một điều: trở nên người. Một người, anh nghe rõ? Không phải thần minh, cũng không phải là quỷ sứ".
[/size][/font]
0
CHƯƠNG III
CHÚNG TA CÓ ĐƯỢC CHUẨN BỊ ĐỂ TRỞ NÊN NGƯỜI CHĂNG?
 
Những ông giáo sư không thể chuẩn bị cho anh vào đời sống thực tế,
bởi chính họ thiếu kinh nghiệm.
H. N. Casson
 

Do đó: mục đích thiết thực của sự giáo dục là làm sao cho người bạn trẻ được trở nên người. Và lo cho họ trở nên người là: dạy cho họ biết chinh phục lấy họ và biết chinh phục lấy cuộc đời. Ở đây chúng ta thử xét, theo lối giáo dục hiện giờ đứa trẻ có được chuẩn bị để nên người chăng?
Trước hết, hãy nhìn lại gia đình, vì theo lẽ phải cha mẹ phải lo lắng sự giáo dục của con cái trước nhất. Song chúng ta phải buồn rầu mà nhận thấy: sự giáo dục gia đình hiện nay thiếu hẳn. Chúng ta chưa tin? Hãy hỏi một người chủ gia đình về sự giáo dục con cái họ: "Dạy con? Còn thì giờ đâu mà tôi lo đến, việc ấy đã có mẹ chúng nó lo cũng đủ rồi". Hỏi người mẹ, họ đáp: "Lo cho con thì tôi lo chạy ăn, sắm mặc cho chúng nó, còn nói đến giáo dục chúng nó làm sao tôi lo nổi công việc ấy, vì chính chúng tôi cũng không hiểu gì về sự giáo dục cả, lo cho chúng nó chúng tôi đã cố gắng lắm mới có tiền gửi chúng nó đến trường, ở đó đã có người thầy lo dạy bảo chúng nó".
Như thế, phần đông cha mẹ đều phó thác tương lai con cái họ ở sự dạy dỗ của người thầy, của nhà trường. Còn họ, họ chỉ thấy phận sự là thỉnh thoảng dạy con họ bằng những bài luân lý suông: "Đừng hư thân mất nết, đừng ham chơi, ráng mà học v.v…". Hoặc mỗi tháng liếc sơ giấy hạnh kiểm và sự học của đứa trẻ do nhà trường gửi về. Đôi khi đứa trẻ có phạm lỗi gì nặng, vì nóng giận, họ mắng chửi ầm lên, tát cho chúng nó vài tát hoặc nẹt cho chúng nó vài roi, thế là họ đã làm xong phận sự giáo dục của họ. Mà như thế có thể gọi là giáo dục chăng? Hay là chỉ thấy trừng phạt mà không thấy dạy dỗ.
Hiện tình việc giáo dục ở xứ ta không có gì khả quan hơn hiện tình việc giáo dục bên Âu Tây khi mà nhà giáo dục H. Spencer phải than rằng: "Nghe những người chăn nuôi súc vật bàn cãi dông dài về các thức nuôi heo nuôi bò, song nếu có ai nói đến việc giáo dục con cái họ, thì họ đáp cách tự nhiên: rồi chúng nó sẽ lớn lên".

Hiện nay ở xứ ta có lắm cha mẹ cũng đã nói tương tự như thế: "Hơi đâu mà lo, đã có thân thì chúng nó phải biết tự lo lấy". Muốn cho con nên người cha mẹ nào không muốn thế, song lo cho con nên người đã có mấy người biết lo, bởi họ tưởng rằng nhà trường có đủ tư cách để làm cho con họ trở nên người. Song… mục đích chính của nhà tửờng là mở đường học vấn…
Nhà trường chuẩn bị cho đứa trẻ để đi thi, chúng ta không thể đòi hỏi người thầy nhiều hơn nữa, thời giờ ít mà chương trình học rộng rãi, người thầy phải cố dạy cho đứa trẻ biết sơ qua tất cả những điều cần biết đã ghi trong chương trình.

Cha m[font="times new roman,times new roman"][size=4]ẹ ỷ lại vào nhà trường mà nhà trường thì chỉ lo dạy chữ nghĩa cho nên công việc giáo dục đứa trẻ bị bỏ quên.
Có ai lo dạy cho chúng nó biết cách chinh phục lấy nó?
Có ai lo dạy cho chúng nó biết cách chinh phục lấy cuộc đời?
Dạy cho đứa bé cách chinh phục lấy nó là rèn đúc cho nó một tính khí. Nhưng mỗi khi thi cử, người ta chỉ xem tài làm văn, làm toán của đứa trẻ, có mấy ai để ý xem nó có một vài nét gì tỏ ra là người có chí khí chăng? Nó có biết phán đoán chăng? Nó có nhiều sáng kiến chăng? Nó có biết kiên tâm bền chí chăng? Nó có nhiều hăng hái ham hoạt động chăng? Những đức tính mà khi ra đời sẽ làm nổi bật nhân cách của nó thường ít ai quan tâm. Bác sĩ Gustave le Bon nói: "Ngoài đời, những đức tính thuộc về tính khí đóng một vai tuồng trọng yếu. Óc sáng kiến, óc phán đoán, sự kiên chí, tính minh sát, nghị lực, tính tự chủ, ý thức về nghĩa vụ là những đức tính nếu thiếu sót thì óc thông minh cũng trở nên vô dụng. Những đức tính ấy, việc giáo dục có thể tạo nên một đôi phần, nếu di truyền để lại".

Dạy cho đứa trẻ biết cách chinh phục lấy cuộc đời? Học ở trường chúng ta đã biết qua các triết học Đông Tây, song khi ra đời muốn áp dụng khoa tâm lý học trong sự giao tiếp hàng ngày, nói làm sao cho người ta nghe theo mình, khiển trách làm sao cho người ta không thể giận mình, chúng ta phải lúng túng vì trong trường có ai dạy chúng ta phần tâm lý học thực tiễn ấy. Học ở trường, chúng ta thông tạo văn chương thi phú, nhưng khi ra đời nếu phải đặt một bản phúc trình để phát biểu ý kiến của mình về sự lập một hiệu buôn, chúng ta lại bối rối. Có người không thể thảo nổi một bức thư mua bán. Tổ chức công việc làm như thế nào cho đắc lực? Đọc sách như thế nào? Phải ghi chép tài liệu ra sao? Làm sao để xếp những tài liệu cho có phương pháp để khi cần dùng có thể tìm thấy ngay? Bao nhiêu điều mà khi ra đời chúng ta thấy cần dùng đến luôn, song chẳng thấy ghi trong chương trình nhà trường. Đến cách thức lập thân: cách chọn nghề, học nghề, cách lập gia đình, phương pháp hành động cho đắc lực, cũng không thấy ai chỉ dạy.
Cho nên khi bước ra đời người bạn trẻ thấy mình như ngơ ngác khi phải đụng đầu với đời sống thực tế. Ch. Béguy đã thốt: "Các bạn học sinh, điều làm phiền cho các anh nhất là ở ngoài đời có những cái thực tế".

 
[/size][/font]
0
CHƯƠNG IV
MỘT LỀ LUẬT CẦN PHẢI NHẬN:
LUẬT CỐ GẮNG
Con người sinh ra để chiến đấu,
không phải để an nghỉ
Emerson
 

Muốn cho con uống hết liều thuốc đắng, người mẹ phỉnh nó: "Ăn đi con, kẹo ngọt đó". Tin thật, đứa bé bỏ thuốc vào miệng nhai, song nuốt chưa khỏi cổ nó đã nhăn mặt bởi vị đắng của thuốc. Dạy con như thế là thất sách. Bà mẹ có thể nói khéo cho đứa con tin để uống thuốc song bà không thể làm cho thuốc hết đắng. Đứa con uống hết thuốc, song nó cũng đã mất lòng tin ở mẹ nó.
Nung đúc bởi một lối giáo dục giả dối, xa hẳn với cuộc đời, người bạn trẻ hiện nay thiếu một quan niệm về cuộc đời thực tế. Họ thường dễ bị phỉnh phờ bởi những sản phẩm của nghệ thuật, những tiểu thuyết, những phim ảnh, trong đó nghệ sĩ cố tạo nên những nhân vật theo lý tưởng, những cảnh đời xinh như mộng. Các cô gái thấy vởn vơ trước mặt một "người chồng lý tưởng" vừa đẹp trai vừa giàu, vừa hùng vừa sang. Các cậu tưởng mình có thể đi ô tô tám máy, ở khách sạn lộng lẫy, ngủ tới mười giờ trưa, có bồi đem cà phê tới tận buồng ngủ và chẳng làm chi cả, chỉ cần biết "cười duyên" cho khéo như các công tử Mỹ trong xi nê. Đối với họ đời chỉ là một trò chơi, không có gì đáng cho họ lấy làm quan trọng. Đã không nhận thấy mặt thực của cuộc đời, họ cũng quên mất những lề luật của sự sống: luật chiến đấu, luật cố gắng, luật cần lao, luật nhân quả v.v…
Một nguyên do khác:
Cũng như đứa trẻ con nhà giàu sinh ra đã nằm trên đống bạc, khó mà hiểu nổi công lao của cha mẹ đã dựng nên cơ nghiệp, chúng ta thuộc lớp người tốt số, sống giữa những thuận tiện do đời sống văn minh đem lại: bước ra đường là có ô tô đi, trời tối chỉ nhấn một cái nút là có ánh đèn sáng tỏa, nằm tại nhà có báo chí, ti vi mang tin tức khắp nơi, bước vào thư viện chúng ta có thể làm quen với văn nhân, triết nhân xưa nay.
Những phát minh về khoa học, những công trình về văn chương, mỹ thuật chúng ta đang hưởng cách dễ dàng quá nên chúng ta quên hẳn công cố gắng của lớp người trước.
Do đó, chữ "cố gắng" đối với phần đông chúng ta không còn ý nghĩa nữa.
Bởi không thấu hiểu lề luật sơ đẳng ấy nên khi phải đụng chạm với cuộc đời thực tế, họ phải thất vọng và luôn luôn họ phàn nàn: đáng lẽ phải chiến đấu với đời họ lại chê rằng đời ô trọc nên thà họ ẩn dật; đáng lẽ phải nỗ lực, phải cố gắng để chiến thắng, họ cam chịu đầu hàng trước nghịch cảnh và đổ tội cho số kiếp; đáng lẽ phải ra sức làm việc để kiếm ăn, họ khoanh tay ngồi chờ một dịp may không bao giờ đến, để rồi than nghèo than túng.

Chúng tôi không mu[font="times new roman,times new roman"][size=4]ốn bắt chước người mẹ phỉnh phờ con để rồi làm cho nó càng thêm thất vọng. Ở đây, chúng tôi muốn các bạn nhận thấy mặt thực của đời với những lề luật khắc khe của nó, những lề luật sắt mà những ai muốn sống cuộc đời đáng sống cần phải thấu hiểu và tuân giữ. Trong những lề luật nói trên, chúng tôi tưởng có thể gom lại thành một lề luật: luật cố gắng.

Luật muôn đời đã dạy: "Mày phải lấy mồ hôi trán mà mua lấy chén cơm mày". Loài người xưa nay đã tiến bộ bởi đã thực hành theo lề luật đó. Đời sống văn minh hiện giờ là kết quả của bao nhiêu cố gắng liên tiếp bao nhiêu lớp người.

Cố gắng để chinh phục tạo vật.
Tạo vật không làm quà cho chúng ta món gì cả. Đất sẵn có, hạt giống sẵn có, song chúng ta phải cuốc, cày, cấy, gặt; được bông lúa lại phải đem xay, giã cho ra gạo mới có thể nấu cơm ăn. Không phải chỉ đào đất lên là có dầu hỏa để dùng, từ chất cặn dầu nằm dưới mấy lớp đất đến chất dầu trong sạch có thể dùng, con người đã phải cố gắng bao nhiêu lượt: đào giếng, dẫn dầu, lọc dầu. Ngọc kim cương đã có sẵn dưới đất, song từ một chất than đá lu mờ, bị bụi đất bám đầy đến khi thành hình một hạt kim cương lóng lánh, chiếu ngời trong tủ kính một hiệu buôn đồ nữ trang, nó phải nhờ đến sức cố gắng của con người: lau, chùi, mài, giũa.

Cố gắng để chinh phục lấy mình.
Đó là danh tự tối cao của con người. Biết cố gắng là dấu hiệu của hạng người cao đẳng. Những dân tộc sơ khai không biết cố gắng lâu dài.
Muốn đè nén thú tính, cưỡng lại những dục vọng, tẩy trừ những thói hư, rèn tập những nết tốt, chúng ta phải luôn luôn cố gắng vì thói hư tật xấu không phải như cây cỏ, chỉ nhổ tận gốc một lần là tuyệt trừ. "Đuổi cái thiên tánh, nó sẽ chạy sãi mà trở lại". Cho nên đối với "trận giặc thiêng liêng" ấy chúng ta phải đánh suốt đời mới mong giữ phần thắng.

Cố gắng để chinh phục lấy cuộc đời.
Đời đã không có những con chim quay sẵn trên trời để rơi vào đĩa cơm chúng ta thì cũng chẳng có một sự nghiệp nào làm nên trong nháy mắt hoặc do một sự may mắn. Ông Louis Lumière, người sáng chế ra máy chớp bóng cũng là một người cần lao, trả lời cho một nhà báo đến phỏng vấn ông: "Những kẻ nào mong đợi phép màu sẽ thất vọng mà đợi nó. Nên biết rằng một phép màu làm nên bằng những dụng cụ, bằng nước mắt và năm hoặc mười năm cần lao".

Chúng ta thường thấy gương mặt sung sướng của nhà doanh nghiệp khi họ bệ vệ ngồi trên chiếc ô tô mui kính, song chúng ta mấy khi thấy bộ mặt đăm chiêu của họ khi phải đối đầu với những cuộc cạnh tranh sống chết, có ai nhớ lại cảnh "thắt lưng buộc bụng" của họ lúc bước đầu để gây nên số vốn đầu tiên.
Chúng ta thấy ngày "vinh quang" của một nhà văn khi mà tác phẩm của họ được người đời ca tụng, song có ai nhớ lại những ngày "đói lạnh" họ đã âm thầm trải qua giữa sự hờ hững của loài người, có ai thấy những đêm trăng họ ngồi bóp đầu nặn óc để tạo nên một tác phẩm. Chúng ta chỉ thấy cái kết quả họ đang hưởng, ít ai chịu nhận thấy những cố gắng họ đã trải qua.

Cố gắng để giành lấy và để bảo vệ hạnh phúc.
Chúng ta chẳng nên hiểu "hạnh phúc" theo nghĩa thụ động. Chẳng có ông thánh ông thần nào có thể ban bố hạnh phúc cho chúng ta. Chỉ có chúng ta mới có thể tạo lấy hạnh phúc cho chúng ta. Hơn nữa, chúng ta phải luôn luôn cố gắng để bảo vệ hạnh phúc ấy. Xét
nh[size=4]ư hạnh phúc gia đình, nhiều người chỉ biết cố gắng để chiếm đoạt tình yêu rồi thôi, họ tưởng rằng họ có thể an nhàn hưởng, chẳng còn phải cố gắng để săn sóc tình yêu ấy nữa. Họ nghĩ rằng: đã thành chồng vợ thì cần gì phải cố gắng để tìm hiểu nhau hơn, để làm vừa lòng nhau, để nuôi nấng tình yêu. Cho đến khi bất hòa đầu tiên xảy ra, họ cũng không biết cố gắng để thu xếp, để cho tình yêu phai lợt dần với thời gian, có công nhen nhúm lò lửa ái tình mà không biết cố gắng để quạt, để thổi cho lửa thêm hồng, nó lại tắt.

Cố gắng để giữ gìn sự sống.
Đến như sự sống, chúng ta cũng phải cố gắng nhiều mới mong giữ gìn được nó. Chống lại với bệnh tật, chống lại với tuổi già, trận giặc ấy kéo dài cho đến ngày chúng ta kiệt sức không thể chiến đấu nữa, đó cũng là ngày cuối cùng của chúng ta.

Luật của muôn đời.
Nếu có ai mách cho anh một bí quyết để làm giàu một cách dễ dàng, anh đừng tin.
Nếu ái mách cho anh một thứ thuốc thần uống vào là sức khỏe cường thịnh, bắp thịt nở năng mà không cần phải nhọc mệt để tập luyện chi cả, anh đừng tin.
Nếu có ai nói rằng có thể tạo nên một cuộc đời an nhàn, anh chớ vội tin; vì người với người có thể hết tranh lẫn nhau nhưng con người vẫn phải tranh đấu với tạo vật.
Bởi anh hiểu rằng: đời là một cuộc chiến đấu không ngừng. Đã chiến đấu thì phải có một người thắng, một kẻ bại. Kể bại trận là người không biết cố gắng hoặc sức cố gắng kém hơn người khác.
Bởi anh nhận thấy theo lời bác sĩ G. Durville nói: "Những hiện tượng của đời sống vật chất tinh thần đều rất hợp lý, nghĩa là cái kết quả "kết thành là do cái nhân". Ít "nhân" thì ít "quả". Không cố gắng gì cả tức không có gì cả".

Đã thấu hiểu luật muôn đời ấy, chúng ta không còn mơ ước một cuộc đời an nhàn.
Chúng ta sẽ đặt lẽ sống ở chỗ hoạt động, luôn luôn hoạt động, vì động là sống mà tĩnh là chết. Chúng ta sẽ đặt hạnh phúc ở chỗ nỗ lực, luôn luôn nỗ lực để chiến đấu, và không quên rằng: "Những người chiến đấu mới sống".
[/size][/size][/font]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-04-11 00:47:10Bụi Tím>
PHẦN THỨ HAI

CHƯƠNG I

LẬP CHÍ: LUYỆN CHÍ ĐỂ THÀNH CÔNG
 
Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi
mà vì lòng người ngại núi e sông
Nguyễn Bá Học

 
Có chí là có tất cả. Muốn thành công trên đường đời cần nhiều điều kiện: sức khỏe, tài năng, học vấn, chí khí, hoàn cảnh. Không thể nói những người có chí khí đều thành công, song trái lại chúng ta có thể nói không sợ lầm: những người đã thành công là những người có chí khí. Bất luận ở một ngành hoạt động nào: một nhà buôn phát đạt, một nhà khoa học phát minh, một nhà văn nổi tiếng, một nhà chính trị đắc thắng, đều có khí giới bén nhọn ấy giúp họ lướt thắng hết mọi trở lực, làm hơn người cùng thời.

Nếu có ai hỏi những người đã "đến nơi đến chốn" ấy, cái gì đã giúp họ nhiều nhất để làm nên chắc chắn họ sẽ trả lời: chí khí.
Thiếu tiền bạc làm vốn? Có đủ chí khí để dành dụm tiện tặn lâu ngày rồi cũng được một số vốn.

Thiếu học? Có đủ chí khí để học thêm thì đầu óc mỗi ngày mở mang.
Thiếu sức khỏe? Có đủ chí để tuân giữ phép vệ sinh, tập thể dục hàng bữa, chắc chắn rồi cũng được khỏe mạnh.
Tiền bạc, học vấn, sức khỏe không có? Có chí khí chúng ta sẽ làm nên cho có. Trái lại, thiếu chí khí là thiếu tất cả.
Trong quyển Sách Của Con Tôi ông Paul Dumer viết: "Những kẻ nào muốn thành công trên đường đời phải ước mong một chí khí đanh thép; mọi sự khác tự nhiên rồi sẽ có sau".

Người như ông Paul Dumer, từ bậc con nhà hàn vi vượt lên ngôi Tổng thống nước Pháp, đã từng trải việc đời và thấu được bí quyết ấy, nói ra tưởng chúng ta có thể tin lắm.
Hoàng đế Napoléon, người mà mỗi khi nói đến chí khí, nghị lực người ta thường nhắc đến cũng nói: "Những chiến công ở trận mạc ba phần tư là nhờ ở sức mạnh tinh thần".

Trên trận đời, chúng ta nhận thấy câu nói ấy không sai mấy. Trong cuộc chiến đấu để giành lấy hạnh phúc, danh vọng, sức khỏe, tiền bạc, chức nghiệp, ái tình người bại trận là người yếu tinh thần.
Phần đắc thắng trên trận đời không dành để cho những "đại lực sĩ" họa chăng là trên bãi cỏ, trên võ đài. Hình ảnh một tấm thân bồ tượng song kém tinh thần bị một người bé nhỏ mà khôn lanh nắm dây dụi không phải là không đúng. Bắp thịt chỉ có một giá trị tương đối, nhắm mắt chạy ù theo phong trào vai u thịt nở, suốt ngày luyện tập cho được cái sức mạnh của con hổ là điều không khôn ngoan, vì mạnh như con hổ kia còn bị người đi cày lập mưu trói lại, đánh cho một trận nên thân.
Cũng không phải với khối óc thông minh, với sở học cao mà làm nên sự nghiệp. Trong trường học đưa ra đời hai cậu học sinh cùng một cỡ học, cùng một trí thông minh. Vài năm sau, người đã đi xa trên đường đời là người giàu chí khí hơn. Có nhiều người lúc còn ở nhà trường luôn luôn đứng trên chúng bạn mà khi ra đời lục đục đi sau người.
Trái lại, có nhiều ông "vua dê rô" khi ra đời lại làm nên nghiệp cả. Điều đó dễ hiểu, vì ở trường học người ta xếp hạng tùy theo khối óc thông minh, theo trí nhớ dẻo dai, khi ra trường đời trái lại, con người được đánh giá theo chí khí của họ. Có nhiều khối óc to, nhét đầy hiểu biết mà suốt đời chẳng làm nên một công việc gì xứng đáng với tài học của họ. Họ thường núp sau hai chữ "khiêm tốn" để che đậy nỗi bất lực. Thật ra bởi thiếu cái chí để thành công nên họ toan tính dự định thì nhiều mà không làm nên một trò trống gì cả.
Lịch sử xưa nay treo gương bao nhiêu người đã nhờ cái chí khí mà làm nên sự nghiệp. Chúng tôi không muốn nhắc đến mẫu đời cao cả của những bậc vĩ nhân ấy. Họ xa chúng ta quá, chúng tôi muốn các bạn nhìn lại chung quanh mình, để tìm một vài gương mẫu "sống" và gần các bạn hơn. Hạng người nhờ sức mạnh tinh thần mà làm nên "chúa tể trên đời" không thiếu.

Đây chúng ta hãy trông họ đi ngoài đường: người họ thẳng thắn, cằm đưa ra, ngực nẩy tới, cái nhìn sâu sắc ngó thẳng tới trước, họ mạnh dạn vẹt đám đông người mà tiến bước. Họ làm cái gì cũng thành tựu. Mở một gian hàng tạp hóa ở góc đường, khai khẩn một đồn điền hay tranh đua một địa vị, họ đều thành công. Họ đi từ đắc thắng này đến sự đắc thắng khác. Người nông nổi cho rằng họ sinh nhằm một vì sao tốt hoặc vận đỏ. Thiết thực hơn, đúng lý hơn chúng ta hãy tìm nguyên do sự thành công của họ ở cái chí khí làm người của họ. Rủi may không phải là không có, song nó không phải là vị thần đui mù như người ta lầm tưởng. Nó thường chiêu đãi những người nào biết lấy chí cả bền gan mà chinh phục nó. Trong quyển Tôi Muốn Thành Công H. Durville viết: "Khi anh đã quyết chiến đấu phần may mắn sẽ thuộc về anh, nó không phải là một thực thể hay dời đổi. Nó vâng lời kẻ nào biết muốn. Một khi chúng ta có thể điều khiển tư tưởng của chúng ta nổi thì chúng ta hấp dẫn nó được, chúng ta hấp dẫn nó như đá nam châm hút kim chỉ nam".

May rủi là một cái cớ cho người ươn hèn, biếng nhác tự an ủi họ sau những thất bại chua cay, hoặc để cam phận sống cuộc đời phẳng lỳ như mặt nước ao tù. Ông Thomas Edison người mà đời sống là một gương nghị lực đã thường nói: "Trong những công trình sáng chế của tôi, 10% là nhờ ở nguồn cảm hứng còn 90% là ở những mạch mồ hôi". (Thomas Edison: Nhà phát minh nước Mỹ, lúc 12 tuổi ông còn là một cậu bé bán báo trên xe lửa. Về sau lần mò học nghề sắp chữ nhà in rồi sang nghề đánh điện tín. Nhờ có chí để tự học và sức làm việc ít ai bì ông đã trở nên một nhà thông thái đã phát minh ra máy hát, đèn điện, điện thoại…).
0

Cái chí khí ấy chúng ta phải tự rèn lấy.
Có người sẽ hỏi: "Nói đến những bậc "chúa tể trên đời" có ích gì, hay chỉ làm cho chúng tôi thêm thất vọng? Họ thu[font="times new roman,times new roman"][size=4]ộc về hạng người đặc biệt, người phàm như chúng tôi làm gì noi gương họ nổi?".
Sao lại không? Họ là bậc "vĩ nhân", họ không phải là "dị nhân". Họ cũng xác phàm như chúng ta, họ cũng có những dục vọng để đè nén, cũng có thói ươn hèn để chống trả, cũng gặp những cảnh khó khăn làm nản lòng, họ cũng yếu đuối, cũng lầm lỡ, cũng thất bại như chúng ta song sở dĩ họ hơn người là họ biết tự rèn lấy một chí khí đanh thép. Không phải lọt lòng mẹ là họ được cái chí để hơn người, chí khí ấy họ phải tự rèn luyện lấy. Điều đáng bắt chước và chúng ta ai cũng có thể làm theo là cách luyện chí của họ.
Thống soái Foch, một vị tướng của nước Pháp nói: "Phước thay cho những kẻ sinh ra đời với một lòng tín ngưỡng, nhưng hiếm lắm. Không ai lọt lòng mẹ mà thông thái cũng như không ai sinh ra là thành lực sĩ. Mỗi người trong chúng ta phải tự rèn luyện lòng tín ngưỡng, mớ học thức, những bắp thịt. Cái kết quả ở đây không phát lột một cách chớp nhoáng hoặc do sự nẩy nở trong nháy mắt của những năng lực của chúng ta. Chúng ta chỉ thâu đoạt lấy kết quả bằng một sự cố gắng không ngừng".

Với các bạn trẻ sắp bước chân ra trường đời chúng tôi xin nhắn: hãy rèn đúc một chí khí đanh thép; có chí, các bạn sẽ có tất cả.

Ý chí: một đức tính trụ cột thường bị bỏ quên.
Một đức tính quan trọng như ý chí lạ thay không được người ta chú ý cho lắm. "Ở nhà trường người ta nhét vào óc đứa trẻ một mớ hiểu biết làm cho đứa trẻ có thể trở nên nhà thông thái, song người ta lại không nghĩ đến việc giúp cho nó những khí giới để ra tranh sống, bởi sự rèn luyện về tinh thần của nó. Người ta không dạy cho nó làm người". Bác sĩ G. Durville đã lên tiếng phàn nàn như thế.
Trong gia đình cũng không khác, cha mẹ chỉ khen những đứa con nào thông minh, học giỏi: "Cháu sáng dạ lắm, năm nay cháu đi thi tú tài phần nhì". Không mấy ai để ý xét phần tính khí: Ý chí, óc hoạt động, óc sáng kiến, v.v… là những khí giới rất đắc dụng khi ra tranh sống với đời. Đã thế, nếu đứa trẻ có được một tinh thần sung mãn, thường có những cử chỉ hơi bạo dạn là bị liệt ngay vào hạng những đứa con hư; trái lại, những đứa trẻ tinh thần suy nhược đặt đâu ngồi đó lại được khen là dễ dạy.
Về sách vở cũng không thấy một quyển nào bàn về cách luyện chí trong khi đó hằng tá sách bàn về truyện Kiều. Sách về giáo dục, về luân lý xưa nay không phải thiếu, song những sách ấy thường chỉ thuyết lý suông: "Phải ăn ở như thế này, phải có đức tính này, đây là con đường mới của thanh niên, v.v…" Nghe qua những lời dạy bảo trên các bạn trẻ đều nhận là đúng, song họ sẽ hỏi: "Vâng, chúng tôi chịu rằng: Phải tập thể dục mới được khoẻ, phải tránh những thú vui xác thịt, phải chăm làm việc, phải biết chịu khó, nhưng làm thế nào để thực hành những lời khuyên ấy, một khi chúng tôi thiếu chí khí làm gốc? Biết làm như thế là đúng, song vì kém nghị lực, chúng tôi không làm theo nổi. Biết làm như thế là có hại, song vì yếu đuối chúng tôi vẫn đâm đầu vào". Lời than của họ rất có lý. Với những kẻ sắp chết đói, nếu chúng ta chỉ giúp họ lời khuyên phỏng có ích lợi gì? Phải ăn cơm để sống, họ vẫn biết nhưng làm thế nào để có cơm ăn điều ấy họ cần biết hơn.

M[size=4]ột năng lực cũng như một bắp thịt, có vận động, có luyện tập là có nở nang. Không vận động, thiếu luyện tập thì dần dần suy kém đi. Năng lực của ý chí bị bỏ xó qua bên không được giũa mài lẽ cố nhiên lâu ngày phải rỉ sét để mục dần. Thiếu đức tính trụ cột này con người thành ra bất lực. Chúng ta đã thấy một hạng trí thức, cái gì cũng hiểu, cũng biết mà bất lực. Chỉ biết suy tính, giải quyết mọi vấn đề trên mặt giấy, làm bao nhiêu việc chỉ ở trên chót lưỡi. Một chính khách đã lên án họ bằng một câu chua chát: "Chúng ta cần những chiến sĩ. Phải đào luyện ở đám thanh niên ý chí hơn là óc thông minh". Nói đến chí khí là nói đến ý chí, hai chữ này gần trùng nghĩa. Nói: một người có chí khí tức là nói người ấy có ý chí đanh thép. Vậy nói đến việc rèn đúc tính khí tức là nói đến cách rèn luyện ý chí.

Có thể sửa đổi tính khí của chúng ta chăng?
Trước khi bàn đến cách luyện chí, hãy thử xét tính khí của chúng ta có thể sửa đổi được chăng? Điều này rất quan trọng vì nếu quả thật như nhiều người đã nói, tính khí của chúng ta là "bất di bất dịch" không sao sửa đổi được thì chúng ta có còn can đảm nào lo rèn luyện.
Xét về vấn đề này, nếu chỉ đem so sánh ý kiến với những nhà giáo dục xưa nay chúng ta không còn biết tin theo đàng nào. Một phái rất tin ở hiệu lực của giáo dục rèn đúc tính khí con người. Một nhà giáo dục phương Đông nói: "Trong thiên hạ không có ai là không dạy được, cũng không có người nào mà không nên dạy".

Cùng một ý kiến ấy, nhà giáo dục phương Tây nói: "Mọi người sinh ra đời đều bằng nhau, với những năng khiếu đồng nhau, chỉ có giáo dục làm cho có sự hơn kém".

Một phái khác, trong có những triết gia: Kant, Schopenhauer cho rằng: rèn luyện tính khí là công dã tràng, vì tính khí là dấu riêng của mỗi người đã thọ lãnh khi ra đời, dấu ấy không sao sửa được. H. Spencer, một triết gia khác cho rằng: có thể sửa đổi tính khí con người, song cần một thời gian dài cả… mấy trăm năm, như thế cũng bằng không.
Như vậy còn biết tin đàng nào? Về lý thuyết thì lý thuyết nào cũng có lý lẽ của nó nếu cứ tin theo sách vở thì có khi chúng ta sẽ như anh chàng kia phải thức suốt đêm chẳng đám đặt lưng xuống nằm ngủ, bởi anh xem sách về vệ sinh thấy ông bác sĩ này cho rằng nằm ngửa có hại, ông khác bàn: chẳng nên nằm nghiêng phía mặt, ông khác nữa lại bảo nằm nghiêng bên trái có hại.
Hãy đem sự phán xét của chúng ta mà phán đoán. Chúng ta thấy gì? Tính khí chúng ta không phải là "bất di bất dịch". Nó thay đổi với tuổi tác, với hoàn cảnh, có khi với sức khỏe. Cứ xét ngay ở mình: con người chúng ta hôm nay rất khác với con người chúng ta năm mười năm về trước. Có người lúc bé rất nhu nhược lười biếng, khi lớn lên đổi tính hẳn và trở nên người hiếu động. Cũng có người lúc bé tính tình chất phát, thật thà ít nói, khi lớn lên gặp phải hoàn cảnh xấu làm cho họ trở nên tay đàng điếm, tinh quái, xảo quyệt.
Cũng có người bản tính vui vẻ, về sau bị một cơn bệnh như đau dạ dày chẳng hạn, làm cho họ đâm ra cau có, buồn bã, chán đời.

V[size=4]ả lại nếu nói theo Kant, thì người nào đã sinh ra đời với tính lười biếng thì suốt đời biếng nhác, chẳng bao giờ trở nên siêng năng được. Song một người dù lười biếng đến đâu lâm phải cảnh nghèo đói cũng có một lúc trở nên siêng năng.
Nếu họ còn lộn về đường cũ là bởi họ không biết bí thuật để duy trì những ý tưởng tốt ấy, tức là họ không biết cách luyện tập ý chí. Còn tính khí của họ dù chỉ thay đổi được trong giây lát cũng đã tỏ rằng: nó không phải là "bất di bất dịch".
[/size][/size][/size][/font]
0
 
Tại sao có thể sửa đổi tính khí? Bởi nó không phải là một vật đơn nhất hoặc thuần nhất, nó là sự tổng hợp của di truyền, của thói quen, của khí chất, của khuynh hướng, của thị dục, của lối sống, của hoàn cảnh riêng mỗi chúng ta. J. Payot nói: "Tính khí là một tổng hợp, mà một tổng hợp của nhiều lực lượng thì bao giờ cũng dời đổi do sự liên kết của lực lượng ấy". Thay đổi được một trong những lực lượng đã hợp thành lại nó thì nó đã bị thay đổi. Ông cũng đã khéo cho một thí dụ: Âu Châu bao giờ cũng là Âu Châu, song bản đồ Âu Châu luôn luôn thay đổi do sự thịnh suy, do sự liên kết của các nước hợp thành nó.
Quyền hạn của chúng ta trong công việc sửa đổi tính khí. Như đã nói trên: tính khí là tổng hợp của nhiều yếu tố: di truyền, khí chất, khuynh hướng v.v…
Một người thuộc đa huyết chất dễ đắm say về nhục dục. Người thuộc lâm ba chất có tính lười biếng không thích vận động. Đối với những người có khuynh hướng này ý chí của họ không có quyền lực gì một cách trực tiếp cả. Họ có quyền gì để lựa chọn cha mẹ, tổ tiên của họ. Nếu thế, họ sẽ làm tôi mọi suốt đời cho bản tính của họ sao?
Không, nếu ý chí của họ không có quyền lực gì để sửa đổi tính khí của họ một cách trực tiếp, trái lại họ có thể sửa đổi nó một cách gián tiếp, bởi cách điều khiển những khuynh hướng, những ý niệm, những tri giác của họ một cách khôn khéo.
Vì những khuynh hướng kia thật ra chỉ là những cái "mầm", cái "gốc" chúng ta mang sẵn trong người thôi, nó không có quyền độc đoán với chúng ta. Người thuộc về đa huyết chất chỉ mang cái "mầm" thiên về nhục dục, song vị tất họ phải là tôi mọi cho nhục dục. Lửa, chất nóng, có tính cháy lan, song vị tất dùng đến lửa là bị phỏng, bị cháy. Nếu biết cách dùng lửa ta có thể nhen nhúm nó trong lò để nhờ hơi nóng của nó và ngăn ngừa không cho nó cháy lan.
Đi đến hàng sách vô tình chúng ta gặp phải một quyển sách "khiêu dâm" làm sôi lòng dục chúng ta. Trước sự bất ngờ ấy, chúng ta phải cam chịu cho thú dục nổi lên. Song chúng ta rất có thể lánh xa hiệu sách ấy ngay, không mua quyển sách xấu ấy.
Cũng trong quyển I’Education de la volonté, J. Payot đã dẫn một thí dụ rõ rệt: "Một cơn giận làm sôi máu ở tim chúng ta, khó mà diệt cơn giận ấy trực tiếp, nhưng chúng ta có thể ngăn cản nó một cách gián tiếp, không để nó phát lộ ra ngoài. Muốn phát lộ ra ngoài, cơn giận cần có quả tay nắm chặt, hai hàm răng cắn sát, gân mặt nheo lại, hơi thở hồng hộc. Song chúng ta có thể giữ nét mặt thản nhiên, có thể kềm hơi thở cho điều hòa, có thể giữ miệng tươi cười".
Chúng ta có thể rèn luyện và làm nở nang ý chí cũng như chúng ta có thể rèn luyện và làm nở nang bắp thịt. Chúng tôi quả quyết: tính khí con người có thể sửa đổi được nếu biết rèn luyện nó một cách hợp lý. Tức là có một phương
pháp rèn luy[size=4]ện ý chí đắc lực, và chúng ta có thể rèn luyện làm nở nang ý chí như chúng ta luyện tập làm nở nang cơ bắp.
Chúng tôi sẽ cắt nghĩa tại sao?
Trong quyển Nghị Lực, ông P. N. Khuê viết: "Có biết bao nhiêu người đánh bạc cả đời, mê gái cả đời, uống rượu cả đời… tuy rằng lúc nào họ cũng chiêm bái những tư tưởng cao, lúc nào họ cũng nói ra những lời cương quyết". Chúng tôi phải nói thêm: "Chẳng những họ chiêm bái những tư tưởng cao, song có lúc họ cũng biết giác ngộ và biết sống một đời mực thước, hợp đạo. Có người nghiện rượu nghiện á phiện mà suốt đời không có một lần định cai những chất độc ấy. Họ có thể chừa bỏ thói hư ấy trong một thời gian ngắn, tại sao họ không thể duy trì những quyết định ấy lâu dài hơn. Bí thuật của nhiều phương pháp luyện chí là ở chỗ đó: làm sao giúp họ duy trì những ý thiện".
Có người sẽ bác: Không thể được, bắt họ chừa bỏ những thói hư tật xấu thật chẳng khác công dã tràng, ngựa quen đường cũ. Người Tây đã chẳng nói: "Đuổi cái thiên tính đi, nó sẽ chạy sãi trở lại sồng sộc".
Lý lẽ này chỉ đúng một phần. Đúng vì trong việc tẩy trừ những tật xấu, công việc chúng ta không phải dễ dàng như việc nhổ cỏ xấu, chỉ bứng gốc rễ một lần là trừ tuyệt. Xua đuổi những thói xấu nó sẽ trở lại, trở lại nhiều lần. Song chúng nó không thể trở lại mãi mãi.
Không phải một sớm một chiều mà chúng ta có thể trở nên một người mới hoàn toàn theo ý muốn. Không phải chỉ xáp chiến một lần là quân đội đoạt được một cửa ải. Họ phải tấn công nhiều lượt, tấn công liên tiếp, đôi khi lại lùi bước trước những cuộc phản công quá gắt… nhưng không phải để chạy dài, song là để thừa cơ, phục sức mà mở những cuộc tấn công mới đến khi bên địch yếu sức phải đầu hàng.
Trên mặt trận tâm lý cũng thế. Muốn diệt trừ một thói xấu, muốn tập một nết tốt chúng ta phải ra sức cố gắng; đầu tiên, chúng ta phải vất vả nhiều vì bên địch còn khỏe, song lần hồi, sự cố gắng liên tiếp đã tạo cho ta những thói quen tốt thay vào những tật xấu, bấy giờ sự cố gắng chúng ta đã dễ dàng hơn. Một nhà tâm lý học, ông R. P Anderson, đã khéo so sánh: "Khối óc con người ví như một rừng rậm và tư tưởng chúng ta ví như những người khai phá. Những tư tưởng mởi phải cực nhọc, lấy dao mác để chặt những bụi cây rậm rạp, gai góc để khai phá con đường, để những tư tưởng sau này do con đường trơn tru ấy xâm nhập vào rừng cách dễ dàng. Đó là thói quen. Thử gấp một từ giấy lại rồi tháo ra, về sau nhờ có những lằn gấp chúng ta gấp lại cách dễ dàng. Đó là thói quen".
Thói quen đó là khí giới rất đắc lực mà chúng ta sẽ dùng trong công việc chinh phục con người chúng ta. Đây là một người quyết theo đuổi việc tập thể dục. Sau thời gian sốt sắng ở buổi đầu, đến lúc chán nản. Mối khi đến giờ tập là họ thấy bứt rứt, khổ nhọc, thói ươn hèn, tật lười biếng đã nổi lên quyến rũ họ bỏ qua buổi tập. Muốn lướt thắng những lần đầu họ phải cố gắng nhiều. Ngày tới, rồi ngày tới, họ phải nỗ lực nhiều mới đeo đuổi trọn vẹn chương trình tập luyện đã dự định. Song lần hồi, sự tập thể dục đã thành một thói quen, sự cố gắng gần như không còn nữa và nếu bỏ qua một buổi tập họ lại cảm thất bứt rứt khó chịu.
Sự hoạt động của khối óc cũng như những bắp thịt, làm tựu lại đó nhiều máu và làm nở nang những phần ấy, tuy một cách chậm chạp song chắc chắn.
Giáo s[size=4]ư Elmer Gates đã chứng tỏ bằng nhiều cuộc thí nghiệm. Nếu não thần trung khu được hoạt động luôn, nó sẽ nở nang; trái lại, sự thiếu hoạt động làm cho nó trở nên suy nhược. Ông đã bắt vài con chó và vài giống thú khác để thử huấn luyện thị quan và thính quan của chúng về một vài phương diện: Ông đã tập được những con chó biết phân biệt màu xanh, đỏ. Cùng một lúc ấy ông đem nhốt một số con chó khác cùng một giống, cùng trạc tuổi vào trong buồng tối. Sau một thời gian ông giết chúng nó và đem mổ khối óc ra, ông nhận thấy ở não thần trung khu của thị quan ở những con chó được huấn luyện có nhiều tế bào thần kinh hơn ở những con bị nhốt trong tối không dùng đến thị quan.
Xem như thế, những năng lực của tinh thần cũng như năng lực của thể chất đều theo luật sinh trưởng nở nang bởi sự hoạt động: có vận động, có tập luyện là có nở nang.
Kết luận: chúng ta có thể làm nở nang ý chí cũng như chúng ta có thể làm nở nang bắp thịt. Chỉ cần một phương pháp rèn luyện ý chí cách hợp lý và đầy đủ và kiên tâm theo đó mà tập.
Một phương pháp luyện chí. Ở đây, chúng tôi thử phát họa một chương trình luyện chí.
Luyện tập và luyện tập có phương pháp, đó là chương trình hành động của chúng ta.
Muốn biết đọc, phải tập đọc; muốn có ý chí, phải luyện chí. Không phải chỉ nghiền ngẫm những cuốn sách về thể dục mà bắp thịt chúng ta được nở nang.
Không phải chỉ xem hết năm mười pho sách thánh hiền là chúng ta trở nên người đức hạnh. Cũng không phải chỉ nắm tay đập xuống bàn và nói: "Tôi sẽ là người có chí" mà được trở nên người có chí khí. Ý chí cũng như bắp thịt hay não óc, chỉ nẩy nở, phát triển là khi nó được luyện tập. Muốn được một chí khí đanh thép, điều kiện trước là phải luyện chí và luyện tập cho chuyên cần.
Điều ấy rất dễ hiểu, vì nó rõ rệt và chắc chắn như hai với hai là bốn. Tuy thế, có rất nhiều người muốn có ý chí mà không bao giờ nghĩ đến sự luyện chí. Họ cầu kỳ đi tìm những lý thuyết viễn vông hoặc bí quyết để trong tức khắc họ trở nên người có chí. Họ không bao giờ làm công việc trước tiên là lo tập luyện.
Nhà hiền triết Hy Lạp Epictète đã cho chúng ta một bài học thiết thực: "Muốn biết đi, hay tập đi; muốn chạy giỏi, hãy tập chạy. Anh muốn biết đọc, hãy đọc. Muốn biết viết, hãy viết. Thử nằm trong mười ngày liên tiếp rồi ra đi một khoảng đường xa, anh sẽ thấy cặp chân anh nó "khỏe" đến mức nào. Nói tóm lại: nếu anh muốn tập thói quen làm một công việc nào, hãy làm công việc ấy".
[/size][/size]
0
 
Luyện tập… nhưng phải luyện tập cho có phương pháp. Chỉ có ý muốn luyện tập không chưa đủ. Phải có công luyện tập. Song luyện tập mà thiếu phương pháp thật là phí công vô ích. Một người học bơi thiếu phương pháp mặc dầu hai chân đạp tung tóe, hai tay bơi không ngớt, song không biết lấy hơi thở cho điều hòa, giữ thân mình cho thăng bằng trên mặt nước thì không thấy mình tấn tới bao nhiêu, có khi kiệt sức rồi bị đắm luôn.
Đó là hình ảnh những người luyện chí mà thiếu phương pháp. Để luyện chí, họ thảo ra những chương trình luyện tập to tát, dù có cố gắng bao nhiêu họ cũng không thể thực hành theo nổi.
Có người bấy lâu nay quen sống một cuộc đời không mực thước, buông lung theo mọi thú vui vật chất. Một hôm xem được một quyển sách dạy phép "tu thân" trong giây phút họ giác ngộ và quyết rèn tâm sửa tính. Trong lúc quá hăng hái ở buổi đầu, họ muốn hoàn toàn ly dị với tất cả thói xấu đã vấn vít người họ bấy lâu nay. Họ quyết sẽ bỏ thuốc lá, cai rượu mạnh, cấm đi chơi đêm, mỗi ngày tập thể dục một giờ, đọc sách một giờ, viết xong mười pho sách. Nghĩa là họ muốn trong đầu hôm sớm mai sẽ trở nên một người hoàn toàn. Từ một linh hồn đen tối họ mốn trở nên một linh hồn trong trẻo của đấng thần minh. Nhưng hỡi ôi! Mộng càng đẹp bao nhiêu nó càng khó thực hiện bấy nhiêu. Cùng trong một lúc một mình phải chống trả với bao nhiêu kẻ thù làm sao họ thắng nổi. Lúc đầu, họ còn có chí tuân theo chương trình khắc khổ ấy, song chỉ nội vài hôm thì vẫn rượu chè, vẫn thuốc lá, vẫn chơi đêm, vẫn lười tập thể dục, vẫn không viết được một dòng chữ nào.
Khôn khéo hơn, họ nên kéo từng địch thủ một mà đánh. Xét trong các thói xấu kia cần diệt bỏ thứ nào trước, hoặc trong các tính tốt cần phải rèn luyện tính nào trước, rồi tập trung cả nghị lực để thực hành cho kỳ được chương trình khiêm tốn ấy. Mà như vậy họ sẽ có nhiều hy vọng để thành công hơn.
Nghệ thuật luyện chí là nghệ thuật tập nên những thói quen. Nhà tâm lý học G. Le Bon định nghĩa giáo dục: "Là nghệ thuật chuyển sang phần vô thức những gì đã có nơi phần ý thức". Ở phần ý thức là lý trí, óc phán đoán; ở phần vô thức là tính tự động, là những thói quen. Theo G. Le Bon: "Giáo dục là nghệ thuật tập thành thói quen những gì lý trí và óc phán đoán chúng ta nhận là đúng nên theo".
Đó cũng là mục đích chính của phương pháp luyện chí hợp lý. Những lề luật của thói quen sẽ làm nền tảng cho phương pháp luyện chí chúng tôi sẽ trình bày sau đây.
Có thể tóm tắt những lề luật ấy:
1) Mỗi tác động, về thể chất cũng như về tinh thần, chúng ta đã cố ý làm sẽ tạo cho chúng ta thói quen để lập lại những tác động ấy một cách vô tình.
Chúng ta vì tính tò mò muốn hút thử cho biết mùi vị lạ của thuốc lá nên đã cố ý đốt những điếu thuốc lá đầu tiên. Tác động ấy lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo cho chúng ta thói quen hút thuốc lá. Về sau chúng ta sẽ hút thuốc một cách vô ý thức.
Sáng ngày, mở mắt ra chúng ta vói tay lấy điếu thuốc châm lửa. Nếu có ai chặn hỏi: "Hút thuốc để làm gì?". Chúng ta chỉ biết trả lời: "Hút chỉ để mà hút vì thói quen nó bắt hút".
Do theo luật nói trên, một tác động xấu gây nên một thói xấu. Nếu muốn được một thói quen tốt, chúng ta chỉ có việc là gây nên một tác động tốt.
2) Thói quen ấy ngày càng ăn sâu vào người chúng ta và chúng ta lặp lại những tác động ấy một cách dễ dàng.
[size=4]
Ở [size=4]trước chúng tôi đã có dẫn dụ của nhà tâm lý học Anderson đã khéo so sánh thói quen với mảnh giấy: "Thử gấp tờ giấy lại, lần đầu chúng ta lấy tay vuốt thật sát; về sau, tháo ra muốn gấp lại, chúng ta sẽ gấp lại một cách dễ dàng nhờ những lằn gấp đã có sẵn".
Một thí dụ khác cho dễ hiểu: Việc tập đánh máy chữ. Khi mới bắt đầu tập đánh máy, chúng ta phải hết sức chú ý để nhận biết đâu là phím nhấn chữ A, Z, E, R, v.v… Về sau, khi đã thông thạo, nghĩa là khi việc đánh máy đã thành một thói quen, mắt vừa nhìn thấy dạng chữ A trong bài là ngón tay chúng ta mổ đúng ngay vào phím chữ A, có khi ý thức chúng chưa kịp nhận biệt nút đó thuộc chữ gì.
Về phương diện tinh thần cũng thế, khi đã gây được một thói quen, thí dụ: ăn uống có tiết độ, chúng ta lướt thắng tật mê ăn, ham uống dễ dàng, ít khó nhọc hơn khi mới bắt đầu buộc mình tuân giữ theo phép ăn uống có tiết độ.
Thử phát họa một chương trình để luyện chí. Trình bày một phương pháp luyện chí là công việc ngoài phạm vi chương sách. Công việc ấy chúng tôi sẽ dành riêng trong một quyển sách.
Ở đây chúng tôi chỉ thử phát họa một chương trình tổng quát, chương trình ấy gồm những phương tiện chúng ta sẽ dùng:
1) Những phương tiện về thể chất.
2) Những phương tiện về tâm lý.
3) Những phương tiện bên ngoài.
Những phương tiện về thể chất. Biết rằng thể chất và tinh thần có liên quan mật thiết với nhau, chúng ta phải lo tạo một sức khỏe vì sức khỏe có dồi dào thì tinh thần mới rắn rỏi.
Chúng ta sẽ học lấy những điệu bộ, cử chỉ của một người mạnh tinh thần: mắt ngó thẳng, ngực nẩy tới trước, cằm đưa ra, ít nói v.v…
Những phương tiện về tâm lý. Biết rằng bên trong con người chúng ta có hai viên chủ nhân điều khiển: ý thức và vô thức. Chúng ta phải cùng một lượt giáo hóa hai người này.
Về phần ý thức: Tập suy gẫm để biết rõ mình muốn gì, để tạo một ý lực. Tập đóng vai tuồng, thế nào để lột hết tinh thần vai tuồng một người có chí khí mình mơ ước.
Để kích thích chúng ta trong khi theo đuổi một mục đích nên dùng những cảm tình có ảnh hưởng mạnh trong tâm tính hơn là dùng lý trí. Thí dụ, dùng lý trí mà suy xét, chúng ta biết rõ tất cả lợi ích của việc tập thể dục, tuy thế, nó không đủ sức kích thích chúng ta thực hành. Đến khi thấy một người bạn được khỏe mạnh, thân hình nở nang rất đẹp nhờ tập thể dục, chúng ta cảm thấy mình bị thua thiệt, thế là chúng ta có đủ ý chí để lo tập thể dục hàng ngày.
Về phần vô thức: Dùng lối tự dẫn dụ để nhét những ý tưởng tốt vào phần vô thức, để tập nên những thói quen tốt. Đây là phần quan trọng nhất trong việc luyện chí.
Những phương tiện bên ngoài. Biết rằng con người bị hoàn cảnh chi phối rất nhiều, chúng ta sẽ cố tạo cho mình một hoàn cảnh thuận tiện giúp ý chí được [size=4]
phát tri[size=4]ển: tránh xa những bè bạn xấu, tạo cho mình một đời sống mực thước, tuân theo một quy phạm khắc khe, xem sách bổ tinh thần.
Về cách luyện tập.
a) Bắt đầu đánh những trận nhỏ, khởi sự chống lại những thói xấu nhỏ nhen để lần hồi loại trừ những tật xấu đã bám chặt vào chúng ta.
b) Phải chia ra từng phần mà chinh phục. Đừng bao giờ quyết rèn tập đôi ba đức tính trong cùng một lúc. Muốn tập tính siêng năng làm việc thì phải lo rèn tập đức tính ấy cho đến khi đạt thành, rồi sẽ bắt đầu tập đức tính khác.
c) Luyện chí cũng như luyện thân thể, được kết quả nhiều hay ít là do công phu rèn luyện. Mỗi ngày phải có làm một "công việc ý chí" cũng như các bạn hướng đạo sinh mỗi ngày ráng làm một việc thiện.
d) Đừng bao giờ nản chí, thua trận này hãy bày trận khác. Để an ủi, chúng ta nên nhớ rằng: Ở đời, những bậc hiền nhân quân tử rất hiếm. Người có ý muốn học thành quân tử đã quý lắm rồi.
[/size][/size][/size][/size]
0
CHƯƠNG II
LẬP SỨC KHỎE:
TẠO MỘT SỨC KHỎE ĐỂ LÀM VỐN
Người ta dạy chúng ta sống khi đời sống đã đi qua.
Montaigne
Sức khỏe của chúng ta ở trong tay chúng ta.
Cái gia tài mà mỗi người trong chúng ta đều chắc chắn có thọ lãnh của cha mẹ là: Di truyền. Khi lọt lòng chúng ta đã mang sẵn thiên tính về thể chất hoặc tinh thần, nghĩa là chúng ta được cấp một số vốn. Số vốn này nhiều hay ít không tùy ở chúng ta. Người may mắn được hưởng một di truyền tinh khiết trọn đời không mấy khi đau ốm. Người xấu số mang lấy thân bệnh tật ngay trong bào thai. Số mạng? Tình cờ? Nghiệp chướng? Không biết! Điều nên biết hơn là do sự khôn khéo hay vụng về, chúng ta có thể làm gia tăng số vốn đầu tiên ấy hoặc đi đến phá sản.

"Sức khỏe của chúng ta ở trong tay chúng ta"
đúng như lời ông Gandhi nói. Đây là một người thọ lãnh của công cha di truyền bất hảo, khó nuôi từ thuở bé, lớn lên làm mồi cho nhiều bệnh tật, song với chí khí đáng kính, họ chịu khó luyện tập sống theo một lối sống hợp vệ sinh: tập thể dục, làm việc có điều độ, dưỡng sức, ăn uống có tiết độ; sau một thời gian, tuy bước những bước chậm nhưng chắc chắn, lần hồi họ cũng lần mò đến sức khỏe.
Lại có người hừa hưởng của cha mẹ một sinh lực dồi dào, một thân hình cường tráng, song họ lại phung phí di sản quý báu ấy trong những cuộc truy hoan rồ dại để vài năm sau sức khỏe tiêu ma, sinh lực kiệt quệ, đến khi họ sực tỉnh lại thì đã muộn. Phải chăng sức khỏe là một của báu mà người ta chỉ nhận thấy giá trị một khi đã mất nó đi.
Thật thế, mỗi người khỏe mạnh không bệnh tật đều mang trong người họ một số vốn to tát mà chính họ không dè. "Muốn thành công ở đời này, điều kiện trước tiên là biết làm một con vật tốt". Nhà triết học H. Spencer đã nói. Cùng một ý ấy, ông J. Payot nói: "Mọi sự ở đời là những con số dê rô, nếu không có sức khỏe đứng đầu thì chẳng có giá trị gì cả". Người đau yếu là sâu mọt trong xã hội, đã không tự giúp ích mình được còn mong gì họ giúp ích được ai.

Đã có một số vốn to tát ta phải biết quản trị một cách khôn khéo. Hãy xem cách nhà buôn quản trị tài sản của họ ra sao: luôn luôn họ nghĩ đến cách sinh phương làm lợi, tiền xuất ra bao giờ cũng được thu vén cho kém hơn số thu vào. Thường lệ, khi cuối năm, họ tính sổ kỹ càng để xem biết lời lỗ mà trù liệu chương trình doanh thương trong năm tới.
Tại sao tiền bạc người ta chu đáo đến thế? Còn về sức khỏe thì ít ai ngó ngàng đến, lời lỗ không hay, suy thịnh không biết, cứ nhắm mắt đánh liều đến khi sức khỏe tiêu tan bị vật ngã trên giường bệnh.
Một nhà buôn bị khánh kiệt thì người ta chê bất tài. Nhưng một người mà sức khỏe bị phá sản thì không bị ai chê. Người ấy luôn luôn đổ lỗi cho "số
m[size=4]ạng", cho hoàn cảnh gia đình hay xã hội, song họ quên nghĩ đến những lỗi lầm của họ.
Tại sao người ta rất chú trọng đến việc đào luyện trí não, tranh đua nhau sức học, tài cao mà bỏ quên thân thể. Nhưng thử hỏi một ông bác sĩ hay thạc sĩ sau mấy chục năm đèn sách ở hải ngoại về nước với một lá phổi bị vi trùng lao đục khoét thì sở học ấy có giúp ích gì cho ông ta chăng? Đừng nói đến việc ông ta sẽ giúp ích cho ai. Nếu có người ngu dốt về chữa nghĩa thì cũng có những người ngu dốt về sức khỏe, đó là những người bệnh, những người yếu đuối.
Một hôm, gặp một nhà doanh nghiệp đã từng lặn lội làm ăn bên Lào, tôi hỏi thăm ông ta về phong thổ xứ ấy và xin cho biết có quả thật như tiếng đồn, người mình sang bên ấy thường bị da vàng bụng trướng chăng? Ông ấy phì cười đáp: "Ma thiêng, nước độc thì có, nhưng làm trai thì phải biết phòng thân chứ. Người để cho ma bệnh vật ngã thì sao gọi là tài". Ông ta kể luôn chuyện ông Nguyễn Văn Vĩnh mà ông ta được biết lúc ở Lào và ông ta kết luận: "Ông Vĩnh là nhà văn có tài và cũng là người có chí mạo hiểm, nhưng theo tôi, ông phải gửi xác bên Lào thì ông chưa phải là người tài". Lời bình phẩm này hơi gắt gao, nhưng không phải là không đúng.

Người ta không chết, người ta tự sát.
Y học vẫn tiến bộ, song bệnh vẫn nhiều. Đó là một hiện trạng dị thường oái oăm. Trước sự tiến bộ không ngừng của y học, người ta tưởng chừng con người ở thế kỷ 20 này phải khỏe mạnh hơn con người thời xưa, nhưng sự thật khác hẳn.
Cứ đi rảo qua phòng bệnh một y sĩ, cứ xem những quảng cáo thuốc trên mặt báo, cứ quan sát những người chung quanh, chúng ta sẽ thấy tình trạng dị thường này. Y học bất lực? Không, y học vẫn tiến. Y học mang lại cho người ta những khí giới mới để đánh trả lại với bệnh tật, để chống lại với tử thần. Nhưng các con bệnh vẫn nhiều. Bệnh tật không buông tha một hạng người nào. Nói rằng nghèo thường đau yếu vì thiếu ăn thiếu mặc, nhưng các nhà giàu lại thường là thân chủ trung thành nhất của các thầy thuốc; nói rằng hạng dốt nát thiếu sức khỏe vì không hiểu biết vệ sinh, song những người có ăn học vẫn không thoát khỏi con ma bệnh, có những ông bác sĩ da mặt xanh mét, có những ông kỹ sư mặt luôn luôn nhăn nhó vì ăn không tiêu hóa.
Vậy bảo rằng vấn đề sức khỏe là vấn đề tiền bạc không đúng, là vấn đề hiểu biết cũng chưa đúng. Phải nói đó là vấn đề ý chí. Muốn khỏe mạnh, ít ra ta phải có ý chí muốn sống khỏe mạnh. Chúng ta có thể nâng hoặc đỡ một người leo lên cái thang, nhưng nếu người ấy không ra sức nắm giữ lấy cái thang, không kíp thì chầy họ cũng tuột và ngã xuống đất. Về sức khỏe cũng thế, không thể nói: "Tôi muốn khỏe mạnh" rồi ngồi khoanh tay mong người khác làm lại sức khỏe cho mình. Lắm người hiện giờ có thái độ của người leo thang nói trên, họ muốn khỏe mạnh song họ chỉ ngồi chờ một bí thuật trường sinh, mong tìm sức khỏe ở các lọ thuốc hoặc nhờ tay người thầy thuốc, còn tự họ không biết ra sức riêng, cố gắng để chinh phục sức khỏe.
Bởi thế, tuy ai cũng "ham sống sợ chết" song có rất nhiều người tự sát một cách vô ý thức. Một bác sĩ đã phải lên tiếng: "Người ta không chết, người ta tự sát".
Họ tự sát bằng cách nào?

1) B[size=4]ằng cách mê tín ở thuốc men, ở thầy thuốc mà không tin ở sức riêng của mình.
2) Bằng cách sống một lối sống giả dối không thích hợp với lề luật của thiên nhiên, tức là lề luật của sức khỏe.
[/size][/size]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-04-15 16:01:04Bụi Tím>
 
Sáu quy tắc để giữ gìn sức khỏe rẻ tiền, không cần thuốc. Bí quyết của sức khỏe là tìm hiểu và tuân theo lề luật thiên nhiên, tức là lề luật của sức khỏe. Thiên nhiên là quan tòa rất chánh trực và cũng rất thanh liêm, chúng ta không thể "hối lộ" đút nhét tiền bạc để làm sai luật lệ mà vẫn hưởng được ân huệ.

Đã nhận thấy rằng sức khỏe không thể dùng tiền bạc để mua lấy, cũng không thể ỷ lại vào nghệ thuật, tài năng của người thầy thuốc để giữ gìn sức khỏe cho mình, thì chúng ta hãy tự lo làm lại sức khỏe mình, giúp mình trước… các thầy thuốc sẽ giúp sau.
Chúng tôi đã nói: không có một bí quyết để tìm sức khỏe, chỉ có những quy tắc rất giản dị, bất luận ai cũng có thể tuân giữ nếu có một chút ý chí. Chúng ta có thể gom lại sáu quy tắc:
Biết ăn.
Biết thở.
Biết tống độc.
Biết dùng những món thuốc bổ thiên nhiên

Biết vận động.
Biết giữ vệ sinh tinh thần.

Biết ăn.
Thân thể con người là một xưởng máy. Nó cần nhiều nguyên liệu: thức ăn, nước uống, không khí để bồi bổ cơ thể và để tạo ra tinh lực.
Vấn đề ăn uống đóng vai tuồng quan trọng trong lịch sử nhân loại. Hai phần ba hoạt động của loài người đều hướng vào một việc: ăn. Lo làm ăn, làm để ăn, ai cũng lo ăn, sợ thiếu ăn, nhưng ít ai lo nghĩ đến việc ăn thế nào cho đúng phép vệ sinh vì nhiều người tưởng rằng ăn thế nào cũng được miễn dạ dày đừng kêu đói là được. Họ cho rằng con người ăn thức gì cũng được. Họ có biết đâu chính những thức ăn tạp nhạp, những thức ăn "nhân tạo" do óc tưởng tượng loài người chế biến ra mà họ dồn nhét vào dạ dày và họ cho là bổ dưỡng thật ra là những chất độc có thể gây ra nhiều căn bệnh. Một danh y thời xưa, ông Galien đã lên tiếng: "Con người dùng bộ răng mà đào lấy huyệt tự chôn mình". Người ta thuật chuyện:
Một bác sĩ hiện đại, ông Héquet thường khi đến thăm bệnh (những thân chủ trưởng giả của ông), ông không quên đi ra sau bếp nhắn xéo với các ông bếp: "Thật chúng tôi, các thầy thuốc phải mang ơn các anh nhiều vì nếu không có nghệ thuật "thuốc người" của các anh thì chúng tôi phải thất nghiệp ráo".

Chúng ta hãy nhìn chung quanh ta những người bụng phệ, mặt tía đỏ, những người ốm như cây sậy, bộ mặt nhăn nheo đó là hai hạng người lậm độc vì ăn uống, những căn bệnh phong thấp, ung thư, lao phổi cũng do nguồn gốc xa gần ở sự tiếp dưỡng bất hợp lý.
Trong động vật, người ta thấy những thú hoang ăn uống theo bản năng thiên nhiên không bao giờ đau ốm; trái lại, con người và súc vật nhà ăn uống theo lối "nhân tạo" thường bị nhiều bệnh tật.

Đến đây chúng ta đã bước vào một vấn đề mà hiện nay những bác sĩ, những nhà chuyên về khoa tiếp dưỡng vẫn chưa đồng ý: Vấn đề ăn uống. Nên ăn những thức gì? Thịt thức ăn nào bổ, thức ăn nào có hại?
Phái thiên nhiên cho rằng ăn thịt cá đã không cần thiết lại thêm hại, chỉ nên ăn rau đậu, hoa quả. Phái y học chính thức trái lại cho rằng ăn có nhiều chất bổ.
Về phép ăn uống, đừng quá câu nệ ở chi tiết. Có người xem xét từng món ăn: ăn món "bít tết" này sẽ bổ máu, ăn chén yến này sẽ bổ thận, có người gần như muốn xách cân tiểu ly lại bàn ăn đo lường cho biết miếng này nặng được mấy "ca lô ri", làm như cơ thể con người là phòng thí nghiệm hóa học và nhiệt độ của các thức ăn. Nhưng, cùng một món ăn, người này có thể dung nạp mà người khác lại không. Bằng chứng: người mình ăn gạo cơm, người Ấn Độ dùng nhiều sữa, người Pháp ăn nhiều thịt.
Chỉ nên biết đại khái cơ thể cần dùng những chất gì, rồi do theo đó mà chọn thức ăn vừa có thể tiếp dưỡng đầy đủ cơ thể vừa hạp với mình.
Một điểm mà các nhà vệ sinh, các y sĩ gần đồng ý là những thứ cơ thể cần dùng. Có thể kể:

1) Thức ăn có đạm chất
, là những vật liệu để tài bồi những tế bào bi hao mòn, để giúp sự nở nang. Có thể tìm thấy chất này ở thịt, cá, trứng, sữa, vài thứ đậu.

2) Th[size=4]ức ăn có chất đường và bột,
là những vật liệu đem lại sức nóng cho cơ thể, tạo ra năng lực giúp sự vận dụng các thớ thịt. Những chất này thường gặp ở các mễ cốc, khoai, đậu, trái cây có chất ngọt, đường.

3) Thức ăn có chất béo,
cũng là những vật liệu đem lại sức nóng cho cơ thể để gìn giữ nhiệt độ trong mình chống lại với sức lạnh bên ngoài.
Có thể gặp những chất này ở các thứ mỡ thịt, phó mát, bơ, dầu olive, dầu phộng, dầu cá.
Ngoài ba loại thức ăn chính này có thể kể:

4) Thức ăn có khoáng chất
: sodium, calcium, potassium, sắt, lân, đồng, lưu hoàng, v.v… Những chất cơ thể không thể thiếu, ngoài ra những chất này có tính cách sát trùng, làm trung hòa những a xít, giúp sự trao đổi bên trong của máu.
Người ta gặp những chất này trong: thịt, cá, trứng, phó mát, bột mì, đậu haricot, rau cải, trái cây.

5) Thức ăn có sinh tố,
là vật liệu sinh sống cần thiết cho sự vận dụng, sự nở nang, sự giữ gìn cơ thể. Người ta nghiệm thấy những người đi tàu thủy lâu ngày chỉ dùng toàn đồ hộp bị bệnh bại huyết, nhưng khi cho họ ăn trái cây tươi vào là khỏi ngay, những người bị bệnh thũng khi cho họ ăn cơm gạo lức còn chất cám, có sinh tố B là khỏi.
Có nhiều thứ sinh tố A, B, C v.v… Người ta thường gặp những chất này trong rau, cải, trái cây tươi. Nhưng nếu bị nấu chín, những chất sinh tố sẽ bị tan đi, vì thế nên dùng trái cây tươi, rau quả sống. Xứ ta không thiếu những thức ăn bổ dưỡng này: chuối, xoài, cam, quýt v.v…

6) Thức ăn sinh cặn bã
, không bổ dưỡng vì cơ thể không thâu dụng nhưng có ích vì sinh ra cặn bã, làm kích thích bộ ruột, giúp sự tiêu hóa và nhuận trường.

7) Chất nước,
là chất quan trọng trong thân thể, có thể nói nó chiếm ¾ sức nặng thân thể. Mỗi ngày chất nước trong thân thể bị tiêu hao độ hai, ba lít do mồ hôi, do hơi thở, do nước tiểu bài tiết.
Người ta có thể nhịn ăn trong một tháng nhưng nhịn uống trong một tuần là đã thấy nguy. Chất nước mà cơ thể cần dùng là chất nước lã trong sạch, hoặc chất nước trái cây. Rượu mạnh, rượu nho hay bia cũng không thể thay nước lã.
Cách tiếp dưỡng hợp lý là độ thế nào để những thức ăn này cung cấp cho cơ thể đủ những vật liệu nói trên. Đó là về "phẩm".
Vấn đề "lượng" cũng đáng kể. Phải ước lượng sao cho số "chi thu" của cơ thể được quân bình, nghĩa là ăn nhiều ít tùy theo lối sống, theo tuổi tác, theo thời tiết. Người trai tráng làm việc tháo vác phải ăn nhiều hơn người có tuổi, người chỉ ngồi bàn giấy làm việc bằng trí não.
Và đây là một vài quy tắc về vệ sinh ăn uống:
- Ăn nhiều quá cũng có hại như thiếu ăn.
- Điều cốt yếu không phải là ăn được nhiều mà làm sao đồng hóa được những thức ăn.
- Nhai thật kỹ vì sự tiêu hóa bắt đầu ở nơi miệng. Nhai kỹ để nghiền nát thức ăn và cũng để miếng ăn được nhuần nước miếng.
- Đợi khi tinh thần và thân thể khỏe khoắn hãy ngồi vào bàn ăn.
[size=4]
- R[size=4]ượu mạnh có thể dùng làm thuốc trừ bệnh, không thể dùng làm nước uống hằng ngày. Rượu mạnh làm yếu người.
- Nên dè dặt trong việc dùng thức ăn kích thích
[/size][/size][/size]
0

Biết tống cặn bã.
Bỏ than củi vào lò máy tàu sau khi than cháy đi còn để lại tro bụi. Bình xăng ô tô lâu ngày cũng đóng cặn bã.
Bộ máy người cũng thế, sau khi cơ thể đã dùng những vật liệu là thức ăn, nước uống để hoạt động còn chừa lại những chất không được đồng hóa, đó là những cặn bã, thường là những chất độc, cần phải tống ra khỏi cơ thể kịp thời. Nếu vì lẽ gì mà không được bài tiết ra khỏi cơ thể thì lần hồi tích tụ lại và sinh độc.
Trong bộ máy tinh vi của con người đã có những cơ quan để lọc hoặc bài tiết những chất độc ấy như lá phổi, da, bộ ruột, thận.
Mỗi cơ quan lãnh một phận sự. Phổi bài tiết hơi cặn. Da bài tiết mồ hôi. Ruột bài tiết phân. Thận bài tiết nước tiểu. Riêng bộ ruột và cặp thận là hai cơ quan làm việc nhiều nhất. Tác động hai cơ quan này vượt ra ngoài ý chí ta, chúng ta không thể bắt buộc nó làm việc theo ý muốn, nhưng ít ra chúng ta cũng đừng ngăn cản công việc làm của nó, hoặc gây thêm công việc cho nó.
Ta cản trở bằng cách gò ép mình, giữa bữa ăn ta muốn đi ngoài nhưng vì xã giao lại ráng nhịn đi, tức là ta cản trở công việc bài tiết của bộ ruột.
Ta gây thêm công việc cho nó bằng cách đem nhiều chất độc vào mình, thí dụ uống nhiều rượu, thận phải làm việc nhiều.

Biết thở.
Thanh khí là món thuốc bổ vô cùng quý. Sở dĩ người ta không chịu dùng đến nó bởi đó là món thuốc không mất tiền mua. Nếu có ai ra lệnh thâu tiền mỗi hơi thì ắt có nhiều người dám tốn cả sự nghiệp để mua thanh khí.
Con người cần thanh khí như cá cần nước. Nín thở trong năm phút chúng ta sẽ chết ngạt.
Hàng năm không biết có bao nhiêu người chết vì lao phổi. Những người bị lao phổi thường là những người có cặp phổi suy yếu vì thiếu vận động, tức là thiếu hô hấp. Thường người ta chỉ hoi hóp: thở ra hít vào chút hơi cho khỏi chết ngạt, ít có người biết thở một cách đầy đủ và càng hiếm người biết luyện tập cho cặp phổi nở nang.
Thanh khí vào cơ thể lọc rửa máu huyết, có nhiều thanh khí. Nơi làm việc phải để các cánh cửa mở rộng. Nơi phòng ngủ cũng thế, song đừng nằm ngay đầu luồng gió. Sau buổi làm việc, nếu có thể đi bách bộ ở nơi đồng trống, theo bờ sông, đừng giam mình trong những quán rượu, đầy khói thuốc. Những ngày nghỉ, thay vì chen vào những rạp hát kín hơi hoặc cong lưng ngồi sòng bạc nên đi khỏi thành phố, cắm trại, bơi lội.

Biết dùng những thuốc bổ thiên nhiên, ánh nắng, nước lã, không khí.
Có những món thuốc bổ thiên nhiên không mất tiền mua, ai cũng có thể dùng được: ánh nắng, nước lã, không khí.
Ánh nắng mặt trời là phương thuốc sát trùng. Nên để ánh nắng tràn ngập vào nhà ở. Một nhà vệ sinh nói: "Ở đâu ánh nắng mặt trời không lọt vào thì thầy thuốc sẽ đi vào".

Nhi[font="times new roman,times new roman"][size=4]ều người lại sơ ánh nắng làm nám da, sợ cả không khí, nên luôn luôn bọc kín người họ dưới lớp quần áo dày. Phải tập quen chịu đựng với "gió sương", đó cũng là một cách làm kiên cố miếng đất sinh lý, để ngừa phòng sự tấn công của các mầm bệnh và vi trùng độc.
Ông bà ta ngày xưa không biết vệ sinh, không có những thuốc bổ hóa học như Campollon hay Vitamine B12 nhưng vẫn tráng kiện, phải chăng họ biết dùng một cách đầy đủ những thuốc bổ thiên nhiên ấy.

Biết vận động.
Muốn cho bắp thịt nở nang, dẻo dai, muốn cho các quan năng hô hấp, tiêu hóa tuần hoàn làm việc điều hòa, thân thể phải được vận động hằng ngày.
Nếu vì lối sống hoặc điều kiện riêng thân thể thiếu vận động thì ta phải tìm cách vận động lối nhân tạo, tức là tập thể dục. Đừng nhầm lẫn thể thao với thể dục. Thể thao là những trò chơi, một lối tiêu khiển thanh tao, đó cũng là một cách để làm vận động thân thể, nhưng không thể xem như một lối luyện tập thân thể hoàn bị. Người đá bóng chỉ làm nở nang hai chân, người chơi tơ nít chỉ làm nở nang hai tay.
Chơi thể thao theo quan niệm phần đông người ta hiện giờ là chơi thể thao tranh đấu, thường làm hại sức khỏe bởi sự chuyên môn và sự quá sức.
Thể thao không phải lúc nào cũng mang lại cho ta sức khỏe, nhất là đối với những người có thể chất tương đối kém. Phải là người khỏe mạnh mới có thể chơi thể thao. Lắm tay vô địch chiến thắng các địch thủ trên bãi cỏ, trên võ trường lại bị vật ngã trên giường bệnh một cách đau thương…
Tóm luận: Thể thao là những trò chơi vận động nhiều, không phải là những phương tiện để luyện tập thân thể đầy đủ. Nên chơi thể thao nếu anh thích, song chơi thể thao có điều đồ.
Trái lại, anh phải tập thể dục dầu anh không ham thích vì đó là bổn phận đối với thân thể.

Biết giữ vệ sinh tinh thần.
Biết giữ vệ sinh thể chất chưa đủ để giữ gìn sức khỏe, cần phải thêm biết giữ vệ sinh tinh thần. Vì tinh thần và thể chất liên quan mật thiết với nhau.
Có người bị đau yếu chỉ vì tinh thần suy kém. Người ta nghiệm thấy: trong lúc có bệnh truyền nhiễm tràn lan thì người yếu tinh thần là người dễ bị lây nhất.
Vệ sinh tinh thần cũng có những định luật: luật cố gắng và ngơi nghỉ. Phải biết tập trung tinh thần để làm việc mà cũng phải biết dưỡng tinh thần, để nó nghỉ ngơi.
Muốn tập trung tinh thần để làm việc cho đắc lực phải biết tập tính chú ý. Có biết chú ý mới có thể luyện tập trí nhớ, trí phán đoán và ý chí.
Trong chúng ta có hai con người: con người có ý thức và con người vô thức. Lắm khi chúng ta bị con người vô thức xỏ mũi tức là lúc phần ý thức chúng ta bị vô thức lấn át.
Trí óc chúng ta biết rượu là độc, nhưng tay chúng ta vẫn nâng cốc rượu lên uống. Gặp việc kinh sợ tâm trí chúng ta muốn bình thản, nhưng mặt chúng ta vẫn xám, tay chúng ta vẫn run.

Tuy th[size=4]ế, không phải luôn luôn chúng ta bất lực, chúng ta có thể huấn luyện phần vô thức, chúng ta có thể điều khiển nó. Bằng cách nào? Bằng cách tự dẫn dụ, đã có nói ở phần trước.
Có những món ăn độc hại thân thể thì cũng có những tư tưởng hắc ám làm lụi tinh thần. Thân thể cần cơm ngon, gạo tốt thì tinh thần cũng cần những tư tưởng thanh cao, tích cực. Phải tránh những tư tưởng đê hèn, tiêu cực. Luôn luôn giữ thái độ lạc quan: yêu đời, yêu người, thích ứng với mọi hoàn cảnh.
Có ánh sáng mặt trời thì có bóng tối, có mối lo buồn thì cũng có lẽ vui sống. Bỏ thái độ bi quan: tính chỉ trích, ngạo đời, lo âu, sợ hãi vẩn vơ.

Điều chúng ta cho là rủi biết đâu là cái may và chúng ta không biết. Truyện Tái Ông mất ngựa là một bài học thâm thúy về tính yêu đời. Thái độ tiêu cực làm hại cho cơ thể ta trước nhất.
Phải có một tinh thần sống khỏe mạnh, đừng quá khiếp sợ vi trùng hay bệnh tật.
Phải tin rằng khi mình biết giữ vệ sinh cơ thể sẽ khỏe mạnh. Cơ thể đã mạnh, nó sẽ đủ sức chống chọi bệnh tật.

Sức khỏe là sự điều hòa.
Mục đích cuối cùng trong công cuộc đi tìm sức khỏe là đạt đến sự điều hòa về ba mặt: Thể Chất – Tinh Thần – Tâm Thần.

Đạt đến sự điều hòa của ba phần này là đạt đến sức khỏe.
Mỗi khi một trong những phần này bị gián đoạn, mất thăng bằng thì ta bị đau yếu. Nếu một trong những phần này bị khủng hoảng thì những phần khác cũng bị ảnh hưởng lây.
Mỗi khi cơ thể bị bệnh thì tinh thần cũng suy kém, và trái lại khi tinh thần suy kém thì thân thể cũng bị lây truyền.
Mỗi khi tâm hồn bị rối loạn, thì thân thể và tinh thần cũng bị rúng động nay.
[/size][/size][/font]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-06 00:59:12Bụi Tím>
CHƯƠNG III
LẬP VỐN:
HỌC LẤY MỘT NGHỀ ĐỂ NUÔI SỐNG

                                                                                                                          Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay.

Sống trước đã. Nếu có một hang người nhắm mắt chạy theo “con bò vàng”, một hạng người chỉ biết xem tiền là chúa tể vạn vật thì cũng có một hạng người khác sống giữa thời kim tiền này mà họ rất khinh miệt đồng tiền hoặc chẳng lo nghĩ gì đến cách kiếm tiền.
Không phải là những người gần đất xa trời, đã tận hưởng những cảnh giàu sang, đã chán mùi phú quý để có thái độ bi quan như thế. Họ là những người bạn trẻ, chân ướt chân ráo mới nhảy vô cuộc đời. Chưa sống họ đã chán chê sự sống. Trong lúc tay không rỗng túi, còn ăn bám vào gia đình, họ đã tập tễnh lên án buộc cho tiền bạc trăm điều tội lỗi, rập theo những nhân vật trong tiểu thuyết hoặc trên sân khấu. Tuổi trẻ thường dễ đam mê, xem những tiểu thuyết trong đó tác giả khéo thi vị hóa cuộc đời, vẽ toàn những “người hùng”, những “thánh nhân”, sống trong những cảnh chỉ có thể có trong óc tưởng tượng là họ đam mê ngay. Họ muốn sống một cuộc đời siêu thoát, không bận tâm đến những vấn đề cơm áo mà họ cho rằng là sà dưới mặt đất.
Cho nên không bao giờ họ lo nghĩ đến cách làm ra tiền dầu là làm ra tiền để nuôi sống chính họ. Chúng ta thấy nhiều bạn trẻ đến tuổi lập thân đáng lẽ phải lo tìm một kế sinh nhai hoặc học một nghề để nuôi sống, trái lại chỉ lo những chuyện không đâu chẳng đem đến cho họ một sự lợi ích thiết thực nào cả.
Người thì lo học nhảy “Claquette”, người lo học đờn ghi ta, người khác lo gọt đẽo mấy vần thơ để than mây, khóc gió, quyết học làm thi nhân. Chúng ta không bảo những thú chơi, những công việc ấy là hoàn toàn vô bổ. Song đối với cái tuổi của họ, ở vào địa vị của họ thì những việc học ấy, những trò chơi ấy phải để vào hạng phụ thuộc. Cần thiết hơn là cái học “kiếm cơm”.
“Sống trước đã… triết lý sau” lẽ phải dạy chúng ta như thế. Nghèo không xấu, song chưa nuôi nổi thân mình là một điều sỉ nhục. Chưa nuôi thân mình được thì mong gì giúp ích cho ai. Bao nhiêu người ôm ấp những hoài bão cao siêu, những tư tưởng rất nhân đạo. Nếu đem ra thực hành sẽ giúp ích cho đời, cho nước, song thiếu tiền bạc, thiếu điều kiện tối cần ấy thì những tư tưởng kia chỉ có giá trị trên mặt giấy vì có bao giờ đem ra thực hành được.
Làm ra tiền là một điều rất chính đáng. Tiền là phần thưởng của sự cần lao, là phần thưởng của sức cố gắng. Nó là một phương thuốc làm phấn khởi sức hoạt động của con người.
Biết làm ra tiền mới sống một cuộc đời độc lập. Nếu không phải ở cung trăng rơi xuống thì chúng ta phải nhận rằng: hiện giờ không ai thoát khỏi kềm kẹp của tiền bạc. Kẻ nào không biết lo chạy cho đủ ăn, đủ mặc thì sớm hay muộn cũng phải sè tay xin những người mà họ đã cho là quá bận bịu với tiền bạc.
 
Làm ra tiền là tạo lấy cho mình, cho những người thân yêu mình một đời sống tốt đẹp hơn, mặc dầu tiền bạc không có nghĩa là hạnh phúc. Có ai ở giữa cảnh chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, hoặc gặp hồi túng bấn, nợ kêu đòi trước cửa mà còn giữ được sự thư thái trong tâm hồn?
Lo làm việc, lo kiếm tiền chẳng những là lo cho bản thân mình, vì sự lợi ích riêng mình song đồng thời ta cũng giúp ích cho đoàn thể, cho nước nhà. Một nhà kỹ nghệ dựng lên một xí nghiệp, một nhà thương mãi kinh doanh một cuộc doanh thương, một nhà nông khai khẩn một đồn điền, thoạt tiên họ chỉ lo làm lợi cho túi tiền riêng của họ. Song song khi làm lợi cho họ thì họ cũng đã làm giàu cho ngân sách quốc gia. Vì tài sản của một quốc gia là tài sản của những tư nhân góp thành.
Cái “án” tiền bạc. Nhưng tại sao có một hạng người không ưa tiền bạc, cho nó là mụt ghẻ của xã hội, là đầu dây mối nhợ của trăm điều tội lỗi. Tại sao xưa giờ có nhiều triết gia đã lên án tiền bạc? Phải chăng do người ta lầm lẫn trong sự định giá của nó?
Tiền bạc là một thế lực, nó không phải là “chúa tể vạn vật”. Nhiều người quá tin tưởng ở thế lực tiền bạc. Họ cho rằng “có tiền mua tiên cũng được” hoặc “đã là nhà triệu phú chúng ta sẽ có tất cả”, nên họ nhắm mắt chạy theo đồng tiền, gác bỏ hết mọi tình cảm, đạp lên mọi bức rào luân lý, bán rẻ danh dự để hốt cho nhiều tiền.
Nhưng một khi đã ngồi trên đống bạc, họ sẽ thất vọng mà rằng: có tiền chưa hẳn là có tất cả như họ nghĩ, bởi có nhiều điều mà tiền bạc không thể mua được, thí dụ như tài năng, sức khỏe hoặc hạnh phúc.
Sức khỏe, có ai dùng tiền mua được nó? Bằng chẳng thì những tay triệu phú có tiếc gì mà chẳng vãi tiền ra mua để sống trên trăm tuổi hầu tận hưởng cuộc đời phú quý của họ.
Tiền bạc cũng không mua nổi hạnh phúc. Chúng ta còn nhớ tích vị hoàng tử trong một truyện ngụ ngôn phải nhọc công đi tìm khắp nước chiếc áo lót của người hữu phúc, bởi có vị tiên mách bảo với ông rằng ông sẽ nếm được hạnh phúc khi choàng chiếc áo lót của người ấy. Đến khi gặp được anh chàng hữu phúc, ông ta thất vọng bởi chàng ta nghèo đến nỗi chẳng có một tấm áo che thân.
Nói về cái óc con buôn của một hạng người, Charles Wagner có viết trong quyển Đời Đơn Giản:
“Có những người buôn khoái lạc, buôn ái tình, buôn phép màu, buôn lòng ái quốc, như thế cái danh hiệu của nhà thương mãi rất đáng kính khi người mang danh đó buôn bán những cái gì là những thức có thể mua bán, đã thành một điều đại sỉ nhục khi đó là những vật thuộc về cõi lòng, về tôn giáo, về tổ quốc”.
Tiền bạc là một phương tiện, không phải là một cứu cánh. Bao giờ chúng ta còn phải chạy ăn, sắm mặc, chúng ta còn phải cần dùng tiền bạc. Mặc dầu tiền bạc chưa hẳn là hạnh phúc, song với tiền bạc chúng ta mua được nhiều “hạnh phúc” nho nhỏ: một chỗ ngồi trong rạp xi nê, một quyển sách hay, một bữa ăn ngon ở hiệu cơm. Chính những hạnh phúc lặt vặt ấy góp lại sẽ tạo nên cuộc đời hạnh phúc.
0
Muốn Nên Người - Phạm Cao Tùng

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn CTT và Ldlvinhquang đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
0