Ngân Thành cố sự
Tác giả: Lý Nhuệ (Trung Quốc)
Dịch giả : Trần Đình Hiến
Tiếu thuyết Lịch sử
Đến thời bấy giờ, phố thị này đã không còn thấy mùi phân trân nữa rồi. Vào hai triều Minh-Thanh, hoặc sớm hơn, trước đó sáu bảy trăm năm, người Ngân Thành vẫn dùng phân trâu khô làm nguyên liệu đun nấu .Các bà nội trợ nhét bánh phân đã khô vào giữa bếp lò, sau đó từ từ kéo ống bễ. mượn sức gió thổi bùng ngọn lửa. Đôi lúc một sợi khói lam thoát ra cửa lò, nó không hôi, chỉ tanh tanh, gây gây, pha mùi đậu răng ngựa cháy.
Có thể nói, lịch sử nơi này đầy ắp khói phân trân khô.
Mấy trăm năm ròng rã, cách dùng phân trâu khô đun nấu đã trở thành một thói quen không thể thiếu của những người dân thường ở đây. Nặn phân trâu thành bánh rồi đem bán đã từng trở thành một nghề dễ làm mà ổn định.
Ở phố thị này, chỉ cần làm công việc chân tay có tiếp xúc với trâu là đều nhận được phân trâu miễn phí, đều biết làm phân trâu bánh.
Khi quá bận, người ta thường mời khách trâu đến nặm giúp. Chỉ có người nặn phân trâu chuyên nghiệp mới được người ta gọi là khách trâu. Bánh phân trâu đã làm xong gọi là cháy trâu. Dốc núi dùng để hong khô phân trâu bánh gọi là dốc phân trậu. Chợ bán phân trâu bánh gọi là ngõ phân trâu. Trong tám món thiết yếu nhất của đời sống, là “củi, gạo, dầu, muối, nước tương, dấm, trà, đường.”, thì bánh phân trâu chính là “củi” của người Ngân thành.
Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng không thể thiếu. Được năm thu hoạch ổn định, một lạng bạc trắng có thể đổi được sáu trăm xu tiền đồng. Gặp năm không thuận lợi, một lạng bạc trắng đổi được đến một ngìn năm trăm xu. Ở Ngân Thành, mua được năm mươi cân than mất ba trăm xu tiền đồng, năm mươi cân củi mất hai trăm xu, còn năm mươi phân trâu bánh chỉ cần một trăm xu. Phân trâu bánh vừa rẻ vừa dễ dùng, tất nhiên là lựa chọn số một của dân địa phương.
Mỗi ngày cứ vào lúc sáng sớm và chạng vạng tối, phân trâu đã phơi khô được đựng trong sọt tre, gánh tới ngõ phân trâu. Hoặc nhanh gọn hơn cả là đội trên đầu một cái nệm cỏ, rồi chất lên chồng bánh phân trâu cao ngất nghễu, hai tay cầm hai thanh tre gõ vào nhau, vừa đi vừa rao tới cuối ngõ. Chỉ cần nghe thấy tiếng gõ của hai thanh tre, các bà các cô sẽ thò đầu qua cánh cửa mà vẫy ” Cháy trâu, đem tới đây, đem tới đây.”
- * -
Tất cả các tài liệu lịch sử liên quan tới Ngân Thành đều như cố tình bỏ quên mùi khói của phân trâu bánh. Tất cả những người biết dăm ba chữ đều tự cho mình là đúng khi nghĩ rằng: lịch sử của con người không phải là lịch sử của trâu. Vì lẽ đó , có giở hết mọi loại sách lịch sử, bạn cũng không thể ngửi thấy mùi khói phân trâu, không tìm được manh mối gì về những cư dân sừng dài, cũng không thể phát hiện ra được mối quan hệ giữa những người khách trâu và một Ngân thành phồn vinh thịnh vượng.
Chỉ có các bà nội trợ đời nọ tiếp đời kia tin tưởng vững chắc rằng, nếu không có trâu, không có bánh phân trâu khô rẻ và tiện dụng thì khó mà sống thanh thản cũng như tất cả những thứ hiện giờ của phố thị này. Ngân Thành có vô số giếng muối, vô số lái buôn muối, vô số bạc, nhưng nếu không có những con trâu kia, bánh xe sẽ không quay, giếng sẽ không bao giờ đào xong, nước muối sẽ không bao giờ lấy được lên.
Tất cả sẽ là những lời sáo rỗng, lịch sử của Ngân thành cũng sẽ mất đi động lực phát triển. Khoảng sáu bảy trăm năm trước đó, hoặc hơn nữa , cùng chung sống với gần hai chục vạn người dân Ngân Thành, còn có hơn ba vạn chú trâu . Hơn ba vạn cư dân sừng dài này, mỗi năm ăn hết hai mươi lăm triệu cân đậu răng ngựa , một trăm sáu mươi triệu cân rơm, năm trăm bốn mươi triệu cân cỏ tươi.
Ba hạng mục này phải tiêu tốn xấp xỉ một trăm ba mươi vạn lạng bạc. Trong ba vạn chú trâu , mỗi năm đại khái có khoảng năm nghìn chú vì đau ốm, bệnh tật, già cả, “qua đời “ mà được giải ngũ. Việc giết mổ, gia công chế biến và buôn bán năm nghìn chú trâu này lại trở thành một thứ dịch vụ, một ngành nghề dài dài ở chốn này.
Quãng thời gian vài trăm năm đủ để tạo nên một món ăm nổi tiếng khắp gần xa, phục vụ cho khẩu vị những lái buôn muối nổi tiếng sành ăn, ở một nơi nổi tiếng nhất về thịt trâu. Đó là món khô trâu.
Khi mà tất cả mọi thứ thuộc về nơi đây đã trở thành quá khứ , nhòa dần ở một góc nào đó của lãng quên, thì món khô trâu vẫn thay sách vở và lịch sử, được lưu giữ trong khẩu vị của mỗi người, đời nọ truyền qua đời kia, tiếng lành đồn xa. Vì để có trâu bổ sung liên tục, bãi Cao sơn và thị trấn Kê ô nằm kề bên Ngân thành đã trở thành hai chợ trâu nổi tiếng. Mỗi tháng , cứ vào các ngày ba, sáu, chín là họp chợ trâu , trong đó chợ xuân ngày hai mươi ba tháng ba và chợ thu ngày hai mươi ba tháng tám là rầm rộ nhất .
Giao dịch mua bán hơn ba nghìn chú trâu trong năm đều nhờ cả vào hai phiên chợ này mà thành công. Chợ trâu phân ba đẳng cấp , mỗi chú trâu được rao bán với giá từ mười ba lượng đến trên một trăm lượng bạc. Nếu lấy mức giá tạm tính trung bình cho một đầu trâu là bảy mươi lượng , thì năm nghìn chú trâu là một phiên giao dịch lớn với trị giá ba mươi lăm vạn lạng bạc. Cứ hai mươi lăm chú trâu cần môt thành viên khỏe mạnh ăn uống, ngoài việc cắt cỏ, cho trâu ăn, dọn dẹp chuồng trại, thuốc thanh khi trâu đau ốm, …lúc trời nắng đưa trâu đến tắm ở các đập nước hoặc khe suối, bờ sông , mỗi tháng một lần đưa trâu đi tiêm thuốc xông ruột . .. Người làm những việc kể trên gọi là ” nài trâu “ Ba vạn chú trâu cần một nghìn hai trăm nài trâu thạo việc .
Trâu đã đóng vào xe , cần phải có người điều khiển các động tác đi đứng nhanh chậm. Người này gọi là phụ xe, thường vẫn gọi là “ gậy đánh chân trâu” . Cứ năm chú trâu cần một phụ xe, ba vạn chú trâu sẽ cần tới sáy nghìn phụ xe. Ở các giếng muối của Ngân thành, từ trước tới nay , đều là trâu nghỉ mà xe không nghỉ. Vậy nên ba vạn con trâu, một nghìn hai trăm nài trâu, sáu nghìn phụ xevà những người thợ ở các giếng muối tập trung lại thành một khối , không phân biệt ngày đêm, không kể nắng mưa rét mướt, một khắc cũng không dừng bánh xe chuyển động của lịch sử .
Ba vạn chú trâu lông xám, lắc lư cái cơ thể khổng lồ cùng những cặp sừng rất đẹp, chớp chớp đôi mắt hiền lành thân thiện, thản nhiên kéo Ngân thành về một câu chuyện cổ xưa sứt mẻ , thật giả khó lường …
- * -
Ngân Thành vẫn luôn là một thành phố phồn vinh thịnh vượng, sản xuất ra nhiều muối mỏ và khí thiên nhiên. Cả trăm nghìn giếng muối chen chúc giữa các thung lũng lớn bé hai bên bờ sông Ngân Khê , miệng giếng sừng sững hệ thống cần trục cao từ mấy trượng đến mười mấy trượng. . Để vận chuyển nước mặn làm muối , từ các giếng trong thung lũng , trong rừng sâu , người ta bắc các ống tre dài, cả vài chục dặm, ngoằn ngoèo như một con trăn khổng lồ.
Người Ngân Thành gọi hệ thống khung giàn làm bằng gỗ sam là cần trục, gọi ống dẫn làm bằng gỗ lim là ống máng. Dưới cần trục có ròng rọc, những chú trâu miệt mài kéo ròng rọc chuyển động phát ra những tiếng kẻo kẹt ngày đêm không nghỉ , kéo lên rồi hạ xuống những chiếc gầu tre, hoặc những vật dụng khác dùng để đựng nước từ vực sâu mấy chục trượng …
Nước từ giếng muối sẽ được kéo lên bằng một sợi dây dài vài chục tới vài trăm trượng rồi chạy thẳng vào những nồi chưng cất muối khổng lồ luôn sôi sùng sục nhờ ngọn lửa đốt bằng khí thiên nhiêncháy rực ngày đêm. Ngân Thành bình quân mỗi năm sản xuất ra hai trăm mười triệu cân muối mỏ, nộp hơn năm trăm vạn lạng bạc tiền thuế. Một nữa số tiền thuế thu được của cả tỉnh là từ Ngân Thành.
Hàng ngày, tựa như có cả rừng cột buồm từ những thuyền muối dựng nên cập bến Ngân Thành. Cả những đoàn người buôn muối từ Vân Quí, Khang Tạng xa xôi cũng lũ lượt kéo về đây. Nhờ sự phát đạt của nghề làm muối mà một loạt ngành nghề phụ cũng được thơm lây , như nghề đan tre, nghề mộc, nghề làm sắt, nghề chăn nuôi gia súc, trồng cây lương thực , vận tải, xây dựng , tài chính tiền tệ …
Chỉ riêng việc kinh doanh thuốc thú y mỗi năm doanh số cũng đã lên tới mấy chục vạn lạng bạc trắng. Người Ngân Thành từ xưa tới nay chưa từng tuân thủ thời gian biểu của nhà nông : mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ. Sau khi mặt trời khuất sau núi, bóng tối bao trùm , thì cả nghìn vạn ngọn lửa vẫn rực cháy như thường. Đèn vẫn sáng tỏ trên tám trăm cửa hiệu và từ nhà của các đại thương gia buôn muối.
Công nhân làm ca đêm bên cần trục vẫn thắp vô số ngọn đèn mỡ trâu , ánh đèn từ những chiếc thuyển chở muối vẫn lấp lánh soi xuống dòng Ngân Khê. Có câu hát rằng :
Đố ai đếm được sao trời
Ngân Thành hạ giới có bao nhiêu đèn.
Ngân Thành giàu có nổi tiếng thiên hạ với đèn đuốc không nghỉ, lái buôn tập trung đông đúc, ngựa xe như nước. Ngân Thành với tài nguyên nhiều vô cùng tận , dùng không bao giờ hết. Trong cái thời đại canh nông, đất rộng người thưa, sự phồn vinh thịnh vượng của Ngân Thành càng nổi bật lên một cách quái đản , kỳ lạ, tựa hồ như phi lý.
Những người khách trâu mồ hôi đầm đìa, phơi khô cả năm mươi cân bánh phân trâu mới đổi được một trăm xu tiền đồng, được xếp vào loại lao động khổ cực nhất, rẻ mạt nhất ở Ngân Thành. Trong những năm tháng tiêu tiền như nước đó, không còn ai nhớ nổi rốt cuộc đã có bao nhiêu bánh phân trâu, càng không có người nhớ nổi Ngân Thành có bao nhiêu vị khách trâu nữa.
Nhưng, vào mùa thu năm một nghìn chín trăm mười dương lịch, tức là thời Đại Thanh năm Nguyên Thống thứ hai, nói một cách chính xác là ngày thứ năm sau tết Trung Thu, một vị khách phân trâu tên là Vương Tài vớt được một khúc tre từ giữa đám lau sậy bên bờ sông Ngân Khê . Những giọt nước trong vắt từ khúc tre đó và từ cánh tay Vương Tài tí tách rơi xuống mặt sông , tạo nên những khoảng tròn gợn sóng.
- * -
Giống như những bạn đồng nghiệp khác, hàng ngày Vương Tài nếu không được người khác thuê nặn bánh phân trâu thì cũng tự ra dốc phân trâu làn hàng , bán hàng. Vương Tài, cũng như những người cùng nghề, đều phải đi thu nhặt phân trâu tươi, trộn lẫn với một lượng cỏ khô vừa đủ, làm bay hơi nước, tiếp theo là dùng chân đất dẫm đi xéo lại trên đống hỗn hợp phân khô đó cho tới khi cỏ vụn và phân trâu được trộn đều với nhau .
Công việc này giống hệt như khi trộn rơm rạ với đất để đắp vách nhà. Sau đó một lớp mỏng cỏ vụn sẽ được trải xuống nền đất phẳng , rồi dùng xẻng xúc hỗn hợp phân vừa được giẫm đều đó đổ lên trên, cứ một xẻng là một bánh . Kế tiếp là công đoạn tỉa tót, đánh bóng bề mặt bánh phân, Đường kính của mỗi bánh khoảng một thước năm tấc, ngoài dày trong mỏng, từ viền ngoài một tấc dần dần mỏng lại tới chính giữa chỉ còn dưới nữa tấc. Phơi tới khí bánh phân khô tới một nữa thì chọc lỗ .
Dùng dây thừng xâu hai thanh tre rộng một đốt ngón tay, dài nữa thước thành một giá đỡ hình chữ thập. Xâu sợi thừng qua lỗ giá đỡ là có thể treo được bánh phân trâu lơ lửng. Những bánh phân trâu nữa khô nữa ướt này sẽ được treo ở một nơi thoáng gió có mái che mưa. Nếu thời tiết tốt, chỉ cần mười ngày tới nửa tháng là đã xong được một mẻ.
Gã trộn hàng kỹ lưỡng, nhuần nhuyễn, “ tỉa tót” bề mặt cẩn thận, nên những chiếc bánh phân trâu đều có bề mặt nhẵn bóng, rắn chắn, đầm tay và quan trọng nhất là khi đốt cho ngọn lửa sáng , đượm. Có thể nói, đó thực sự là hàng tốt .
- * -
Mùa thu năm một nghìn chín trăm mười, Vương Tài vô tình vớt lên được từ giữa đống lau sậy cạnh bờ sông Ngân Khê một thanh tre, đang chăm chú nhìn ngắm thì lại phát hiện thêm hai thanh tre nữa nằm giắt giữa đám gốc sậy, bèn bước thêm hai bước, vớt chúng lên. Trên mỗi thanh tre đều có ai đó dùng sơn dầu viết chữ lên . Gã không biết chữ, nhưng thấy mấy thanh tre này dài hơn một thước, rộng một đến hai tấc, chính giữa thủng một lỗ vừa vặn có thể buộc thành hình chữ thập để phơi bánh phân trâu.
Gã nhìn quanh, hy vọng tìm thêm mấy thanh nữa …
Bên bờ sông, dưới ánh chiều tà, mặt nước lấp lánh như đất vàng . Chen chúc nơi khúc quanh của dòng sông , những chiếc thuyền gỗ chờ lấy muối cột buồm vàng óng. Từng thân cây sậy đang phất phơ cũng như được dát vàng ... Tiếc thay, cảnh huy hoàng tráng lệ đó lại không có thứ gã đang tìm kiếm .
- * -
Vì làm tốt bánh phân trâu, bản thân lại thật thà chăm chỉ nên trong mắt các bà nội trợ, Vương Tài cũng có đôi chút tiếng tăm. Sau khi đã thanh toán xong tiền, nhận thêm hàng, đôi lúc các bà các cô mời chén nước trà, nhìn gã uống như trâu, cổ họng kêu ùng ục chỉ vài tợp là uống cạn chén nước. Những người phụ nữ tốt bụng gợi ý, cả đời gã làm cháy trâu thì làm gì có “tài” ( của cải) mà “ vương” (giàu có), sao không học thêm một nghề nào đó để cưới vợ , sinh con ...
Đàn bà thường đơn giản hóa những việc khó khăn nhất trên đời thành một câu cửa miệng nhưng rất khó phản bác. Những lời này nghe nhiều rồi, gã chẳng buồn thanh minh, chỉ nói bản thân mình vốn dĩ sinh ra đã có số làm “khách trâu” rồi …Lúc nói những điều này, nụ cười bẽn lẽn, ngượng ngùng như mắc lỗi – đặc biệt là có lỗi với người phụ nữ đã có lòng tốt rót chén trà kia, luôn thường trực nhìn trên khuôn mặt .
Có điều, các bà các cô không thể biết rằng, nụ cười chất phát nở trên khuôn mặt kia lại chính là tấm lá chắn bên ngoài. Gã không hề ngờ nghệch đần độn như trong tưởng tượng của họ, chỉ là không muốn giải thích lần lượt từng người về số phận của mình mà thôi. Kể cả khi không khát, cũng uống hết bát nước trà .
Gã biết mình không thể từ chối lòng tốt của họ, nên uống trà không phải chỉ để giải khát mà thường là để những bà nội trợ kia hài lòng, để lần sau còn được mang bánh phân trâu đến bán .
- * -
Vương Tài đứng dưới sông ngoảnh lại nhìn mấy chữ mà không biết đọc. Khoảng cách quá gần có thể ngửi thấy mùi nước bùn tanh khi rửa còn phảng phất trên tay chân .
Ráng chiều êm ả trên đỉnh Ngọc Tuyền, in trên dòng sông Ngân Khê ảo ảnh lộng lẫy, biến bóng dáng cởi trần thành pho tượng lóng lánh màu sắc. Không biết có phải do những nỗi vất vả cực nhọc cả buổi chiều, nên khiến gã không cảm thấy mình là tượng thần trong ảo ảnh. Gã vừa lấy bùn cát cọ sạch phân trâu dính trên tay chân .
Bờ sông sau lưng đang phơi bộ quần áo lam lũ và đôi giày cỏ, trên dốc phân trâu gần đó đầy những viên bánh phân trâu vừa nặn xong. Bộ quần áo và đôi giày cỏ rách nát , cùng với những viên bánh phân trâu được sắp xềp ngay hàng thằng lối kia, tất cả chìm trong ảo ảnh lộng lẫy của ráng chiều.Vương Tài là một khách trâu thích sự sạch sẽ .
Mỗi ngày, sau khi hoàn thành xong phần việc của mình, thường tới đây tắm rửa kỳ cọ. Bùn cát ở lòng sông chính là loại xà phòng tốt nhất và rẻ nhất. Khi trời nóng, có thể cởi hết quần áo nhảy xuống sông bơi lội một hồi thỏa thích. Ở đây không có mùa đông giá rét , mặt sông chưa từng bị đóng băng. Vì thế , cho dù là giữa mùa đông vẫn có thể ngâm mình trong nước lạnh lau rửa sạch sẽ. Phần lớn những vị khách trâu khác cũng đều tới đây để tắm rửa, nhưng không tắm kỹ và cũng không thích ngâm nước nhiều .
Họ thường cười khi thấy gã lưu lại bên dòng nước lạnh, nói :
- Này, chú mày khộng phải ông chủ, sư phụ cũng không, kỳ cọ sạch bong thế này hẳn là muốn tới lầu uyên ương tìm em út hả ? Hay là để cho cô Ba nhà bà Sáu Thái xem mặt ?
Nhưng gã chẳng hề để ý tới những lới trên chọc đó, vẫn xuống sông tắm rửa như thường ngày. Giờ đây, tắm đã tắm rồi, bơi cũng đã bơi rồi .
Dòng sông mùa thu nước đầy ắp như cơ thể sung mãn của người phụ nữ, chở những đám mây dàn như thế trận trên mặt nước, trôi qua thị xã, vượt qua cống ngầm, xuyên qua tấm thân cường tráng của gã , tràn qua bãi ngãi điệp, rồi chậm rãi chảy đi. Dòng sông mang đến của cải dồi dào này sẽ từ cửa Quan Âm nhập vào sông Thanh Y. Sau đó cùng với nó chảy thẳng vào Trường Giang.
Gã đứng giữa dòng nước hiền hòa, đột nhiên nhớ lại lúc trước ở miếu Ngưu Vương đã nhìn thấy mấy thanh tre có viết chữ, rồi có mấy đạo sĩ lắc lọc sọc cái ống thẻ, rồi từ ống thẻ rơi ra mấy thẻ tre có viết mấy chữ bên trên. Người đạo sĩ dựa vào mấy chữ này mà đoán lành dữ. Hay là hôm nay đức Long Vương thả những thẻ tre này trên sông Ngân Khê ? Nghĩ vậy, gã vội nắm chặt ba thẻ tre có chữ trong đôi tay rắn chắc, thô ráp mà cười tủm như vừa nhận được món quà nhỏ.
Để xem món quà của Long Vương có linh nghiệm hay không ?.
Lại nghĩ, chuyện nghe nói chưa chắc đã thành sự thật, bà Sáu Thái chưa chắc đã lại thay đổi ý kiến …Thế là lại do dự, bất giác ngẩng đầu nhìn bức tường thành sừng sững trong ráng chiều bên bờ sông đối diện, tự biết ước mơ của mình có phần giống ráng chiều, mặt trời khuất sẽ chẳng còn lại dấu vết gì nữa. Như sợ mất bảo bối, tự nhiên siết chặc mấy tấm thẻ tre trong tay .
Gã không biết mình đã vô tình nhặt được một vật thường được người ta gọi bằng cái tên “ LỊCH SỬ “
Tác giả: Lý Nhuệ (Trung Quốc)
Dịch giả : Trần Đình Hiến
Tiếu thuyết Lịch sử
Đệ nhất chương : Hoàng Hà Tuôn Nước Từ Mây Trắng
Hồi 1
Trung Hoa đại lục, Ngân Thành thị xã. Năm một ngàn chín trăm mười. Mùa thu , lá vàng rơi rụng lác đác trong ráng chiều hơi gió đã bắt đầu trở nên lạnh lẽo …Hồi 1
Đến thời bấy giờ, phố thị này đã không còn thấy mùi phân trân nữa rồi. Vào hai triều Minh-Thanh, hoặc sớm hơn, trước đó sáu bảy trăm năm, người Ngân Thành vẫn dùng phân trâu khô làm nguyên liệu đun nấu .Các bà nội trợ nhét bánh phân đã khô vào giữa bếp lò, sau đó từ từ kéo ống bễ. mượn sức gió thổi bùng ngọn lửa. Đôi lúc một sợi khói lam thoát ra cửa lò, nó không hôi, chỉ tanh tanh, gây gây, pha mùi đậu răng ngựa cháy.
Có thể nói, lịch sử nơi này đầy ắp khói phân trân khô.
Mấy trăm năm ròng rã, cách dùng phân trâu khô đun nấu đã trở thành một thói quen không thể thiếu của những người dân thường ở đây. Nặn phân trâu thành bánh rồi đem bán đã từng trở thành một nghề dễ làm mà ổn định.
Ở phố thị này, chỉ cần làm công việc chân tay có tiếp xúc với trâu là đều nhận được phân trâu miễn phí, đều biết làm phân trâu bánh.
Khi quá bận, người ta thường mời khách trâu đến nặm giúp. Chỉ có người nặn phân trâu chuyên nghiệp mới được người ta gọi là khách trâu. Bánh phân trâu đã làm xong gọi là cháy trâu. Dốc núi dùng để hong khô phân trâu bánh gọi là dốc phân trậu. Chợ bán phân trâu bánh gọi là ngõ phân trâu. Trong tám món thiết yếu nhất của đời sống, là “củi, gạo, dầu, muối, nước tương, dấm, trà, đường.”, thì bánh phân trâu chính là “củi” của người Ngân thành.
Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng không thể thiếu. Được năm thu hoạch ổn định, một lạng bạc trắng có thể đổi được sáu trăm xu tiền đồng. Gặp năm không thuận lợi, một lạng bạc trắng đổi được đến một ngìn năm trăm xu. Ở Ngân Thành, mua được năm mươi cân than mất ba trăm xu tiền đồng, năm mươi cân củi mất hai trăm xu, còn năm mươi phân trâu bánh chỉ cần một trăm xu. Phân trâu bánh vừa rẻ vừa dễ dùng, tất nhiên là lựa chọn số một của dân địa phương.
Mỗi ngày cứ vào lúc sáng sớm và chạng vạng tối, phân trâu đã phơi khô được đựng trong sọt tre, gánh tới ngõ phân trâu. Hoặc nhanh gọn hơn cả là đội trên đầu một cái nệm cỏ, rồi chất lên chồng bánh phân trâu cao ngất nghễu, hai tay cầm hai thanh tre gõ vào nhau, vừa đi vừa rao tới cuối ngõ. Chỉ cần nghe thấy tiếng gõ của hai thanh tre, các bà các cô sẽ thò đầu qua cánh cửa mà vẫy ” Cháy trâu, đem tới đây, đem tới đây.”
- * -
Tất cả các tài liệu lịch sử liên quan tới Ngân Thành đều như cố tình bỏ quên mùi khói của phân trâu bánh. Tất cả những người biết dăm ba chữ đều tự cho mình là đúng khi nghĩ rằng: lịch sử của con người không phải là lịch sử của trâu. Vì lẽ đó , có giở hết mọi loại sách lịch sử, bạn cũng không thể ngửi thấy mùi khói phân trâu, không tìm được manh mối gì về những cư dân sừng dài, cũng không thể phát hiện ra được mối quan hệ giữa những người khách trâu và một Ngân thành phồn vinh thịnh vượng.
Chỉ có các bà nội trợ đời nọ tiếp đời kia tin tưởng vững chắc rằng, nếu không có trâu, không có bánh phân trâu khô rẻ và tiện dụng thì khó mà sống thanh thản cũng như tất cả những thứ hiện giờ của phố thị này. Ngân Thành có vô số giếng muối, vô số lái buôn muối, vô số bạc, nhưng nếu không có những con trâu kia, bánh xe sẽ không quay, giếng sẽ không bao giờ đào xong, nước muối sẽ không bao giờ lấy được lên.
Tất cả sẽ là những lời sáo rỗng, lịch sử của Ngân thành cũng sẽ mất đi động lực phát triển. Khoảng sáu bảy trăm năm trước đó, hoặc hơn nữa , cùng chung sống với gần hai chục vạn người dân Ngân Thành, còn có hơn ba vạn chú trâu . Hơn ba vạn cư dân sừng dài này, mỗi năm ăn hết hai mươi lăm triệu cân đậu răng ngựa , một trăm sáu mươi triệu cân rơm, năm trăm bốn mươi triệu cân cỏ tươi.
Ba hạng mục này phải tiêu tốn xấp xỉ một trăm ba mươi vạn lạng bạc. Trong ba vạn chú trâu , mỗi năm đại khái có khoảng năm nghìn chú vì đau ốm, bệnh tật, già cả, “qua đời “ mà được giải ngũ. Việc giết mổ, gia công chế biến và buôn bán năm nghìn chú trâu này lại trở thành một thứ dịch vụ, một ngành nghề dài dài ở chốn này.
Quãng thời gian vài trăm năm đủ để tạo nên một món ăm nổi tiếng khắp gần xa, phục vụ cho khẩu vị những lái buôn muối nổi tiếng sành ăn, ở một nơi nổi tiếng nhất về thịt trâu. Đó là món khô trâu.
Khi mà tất cả mọi thứ thuộc về nơi đây đã trở thành quá khứ , nhòa dần ở một góc nào đó của lãng quên, thì món khô trâu vẫn thay sách vở và lịch sử, được lưu giữ trong khẩu vị của mỗi người, đời nọ truyền qua đời kia, tiếng lành đồn xa. Vì để có trâu bổ sung liên tục, bãi Cao sơn và thị trấn Kê ô nằm kề bên Ngân thành đã trở thành hai chợ trâu nổi tiếng. Mỗi tháng , cứ vào các ngày ba, sáu, chín là họp chợ trâu , trong đó chợ xuân ngày hai mươi ba tháng ba và chợ thu ngày hai mươi ba tháng tám là rầm rộ nhất .
Giao dịch mua bán hơn ba nghìn chú trâu trong năm đều nhờ cả vào hai phiên chợ này mà thành công. Chợ trâu phân ba đẳng cấp , mỗi chú trâu được rao bán với giá từ mười ba lượng đến trên một trăm lượng bạc. Nếu lấy mức giá tạm tính trung bình cho một đầu trâu là bảy mươi lượng , thì năm nghìn chú trâu là một phiên giao dịch lớn với trị giá ba mươi lăm vạn lạng bạc. Cứ hai mươi lăm chú trâu cần môt thành viên khỏe mạnh ăn uống, ngoài việc cắt cỏ, cho trâu ăn, dọn dẹp chuồng trại, thuốc thanh khi trâu đau ốm, …lúc trời nắng đưa trâu đến tắm ở các đập nước hoặc khe suối, bờ sông , mỗi tháng một lần đưa trâu đi tiêm thuốc xông ruột . .. Người làm những việc kể trên gọi là ” nài trâu “ Ba vạn chú trâu cần một nghìn hai trăm nài trâu thạo việc .
Trâu đã đóng vào xe , cần phải có người điều khiển các động tác đi đứng nhanh chậm. Người này gọi là phụ xe, thường vẫn gọi là “ gậy đánh chân trâu” . Cứ năm chú trâu cần một phụ xe, ba vạn chú trâu sẽ cần tới sáy nghìn phụ xe. Ở các giếng muối của Ngân thành, từ trước tới nay , đều là trâu nghỉ mà xe không nghỉ. Vậy nên ba vạn con trâu, một nghìn hai trăm nài trâu, sáu nghìn phụ xevà những người thợ ở các giếng muối tập trung lại thành một khối , không phân biệt ngày đêm, không kể nắng mưa rét mướt, một khắc cũng không dừng bánh xe chuyển động của lịch sử .
Ba vạn chú trâu lông xám, lắc lư cái cơ thể khổng lồ cùng những cặp sừng rất đẹp, chớp chớp đôi mắt hiền lành thân thiện, thản nhiên kéo Ngân thành về một câu chuyện cổ xưa sứt mẻ , thật giả khó lường …
- * -
Ngân Thành vẫn luôn là một thành phố phồn vinh thịnh vượng, sản xuất ra nhiều muối mỏ và khí thiên nhiên. Cả trăm nghìn giếng muối chen chúc giữa các thung lũng lớn bé hai bên bờ sông Ngân Khê , miệng giếng sừng sững hệ thống cần trục cao từ mấy trượng đến mười mấy trượng. . Để vận chuyển nước mặn làm muối , từ các giếng trong thung lũng , trong rừng sâu , người ta bắc các ống tre dài, cả vài chục dặm, ngoằn ngoèo như một con trăn khổng lồ.
Người Ngân Thành gọi hệ thống khung giàn làm bằng gỗ sam là cần trục, gọi ống dẫn làm bằng gỗ lim là ống máng. Dưới cần trục có ròng rọc, những chú trâu miệt mài kéo ròng rọc chuyển động phát ra những tiếng kẻo kẹt ngày đêm không nghỉ , kéo lên rồi hạ xuống những chiếc gầu tre, hoặc những vật dụng khác dùng để đựng nước từ vực sâu mấy chục trượng …
Nước từ giếng muối sẽ được kéo lên bằng một sợi dây dài vài chục tới vài trăm trượng rồi chạy thẳng vào những nồi chưng cất muối khổng lồ luôn sôi sùng sục nhờ ngọn lửa đốt bằng khí thiên nhiêncháy rực ngày đêm. Ngân Thành bình quân mỗi năm sản xuất ra hai trăm mười triệu cân muối mỏ, nộp hơn năm trăm vạn lạng bạc tiền thuế. Một nữa số tiền thuế thu được của cả tỉnh là từ Ngân Thành.
Hàng ngày, tựa như có cả rừng cột buồm từ những thuyền muối dựng nên cập bến Ngân Thành. Cả những đoàn người buôn muối từ Vân Quí, Khang Tạng xa xôi cũng lũ lượt kéo về đây. Nhờ sự phát đạt của nghề làm muối mà một loạt ngành nghề phụ cũng được thơm lây , như nghề đan tre, nghề mộc, nghề làm sắt, nghề chăn nuôi gia súc, trồng cây lương thực , vận tải, xây dựng , tài chính tiền tệ …
Chỉ riêng việc kinh doanh thuốc thú y mỗi năm doanh số cũng đã lên tới mấy chục vạn lạng bạc trắng. Người Ngân Thành từ xưa tới nay chưa từng tuân thủ thời gian biểu của nhà nông : mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ. Sau khi mặt trời khuất sau núi, bóng tối bao trùm , thì cả nghìn vạn ngọn lửa vẫn rực cháy như thường. Đèn vẫn sáng tỏ trên tám trăm cửa hiệu và từ nhà của các đại thương gia buôn muối.
Công nhân làm ca đêm bên cần trục vẫn thắp vô số ngọn đèn mỡ trâu , ánh đèn từ những chiếc thuyển chở muối vẫn lấp lánh soi xuống dòng Ngân Khê. Có câu hát rằng :
Đố ai đếm được sao trời
Ngân Thành hạ giới có bao nhiêu đèn.
Ngân Thành giàu có nổi tiếng thiên hạ với đèn đuốc không nghỉ, lái buôn tập trung đông đúc, ngựa xe như nước. Ngân Thành với tài nguyên nhiều vô cùng tận , dùng không bao giờ hết. Trong cái thời đại canh nông, đất rộng người thưa, sự phồn vinh thịnh vượng của Ngân Thành càng nổi bật lên một cách quái đản , kỳ lạ, tựa hồ như phi lý.
Những người khách trâu mồ hôi đầm đìa, phơi khô cả năm mươi cân bánh phân trâu mới đổi được một trăm xu tiền đồng, được xếp vào loại lao động khổ cực nhất, rẻ mạt nhất ở Ngân Thành. Trong những năm tháng tiêu tiền như nước đó, không còn ai nhớ nổi rốt cuộc đã có bao nhiêu bánh phân trâu, càng không có người nhớ nổi Ngân Thành có bao nhiêu vị khách trâu nữa.
Nhưng, vào mùa thu năm một nghìn chín trăm mười dương lịch, tức là thời Đại Thanh năm Nguyên Thống thứ hai, nói một cách chính xác là ngày thứ năm sau tết Trung Thu, một vị khách phân trâu tên là Vương Tài vớt được một khúc tre từ giữa đám lau sậy bên bờ sông Ngân Khê . Những giọt nước trong vắt từ khúc tre đó và từ cánh tay Vương Tài tí tách rơi xuống mặt sông , tạo nên những khoảng tròn gợn sóng.
- * -
Giống như những bạn đồng nghiệp khác, hàng ngày Vương Tài nếu không được người khác thuê nặn bánh phân trâu thì cũng tự ra dốc phân trâu làn hàng , bán hàng. Vương Tài, cũng như những người cùng nghề, đều phải đi thu nhặt phân trâu tươi, trộn lẫn với một lượng cỏ khô vừa đủ, làm bay hơi nước, tiếp theo là dùng chân đất dẫm đi xéo lại trên đống hỗn hợp phân khô đó cho tới khi cỏ vụn và phân trâu được trộn đều với nhau .
Công việc này giống hệt như khi trộn rơm rạ với đất để đắp vách nhà. Sau đó một lớp mỏng cỏ vụn sẽ được trải xuống nền đất phẳng , rồi dùng xẻng xúc hỗn hợp phân vừa được giẫm đều đó đổ lên trên, cứ một xẻng là một bánh . Kế tiếp là công đoạn tỉa tót, đánh bóng bề mặt bánh phân, Đường kính của mỗi bánh khoảng một thước năm tấc, ngoài dày trong mỏng, từ viền ngoài một tấc dần dần mỏng lại tới chính giữa chỉ còn dưới nữa tấc. Phơi tới khí bánh phân khô tới một nữa thì chọc lỗ .
Dùng dây thừng xâu hai thanh tre rộng một đốt ngón tay, dài nữa thước thành một giá đỡ hình chữ thập. Xâu sợi thừng qua lỗ giá đỡ là có thể treo được bánh phân trâu lơ lửng. Những bánh phân trâu nữa khô nữa ướt này sẽ được treo ở một nơi thoáng gió có mái che mưa. Nếu thời tiết tốt, chỉ cần mười ngày tới nửa tháng là đã xong được một mẻ.
Gã trộn hàng kỹ lưỡng, nhuần nhuyễn, “ tỉa tót” bề mặt cẩn thận, nên những chiếc bánh phân trâu đều có bề mặt nhẵn bóng, rắn chắn, đầm tay và quan trọng nhất là khi đốt cho ngọn lửa sáng , đượm. Có thể nói, đó thực sự là hàng tốt .
- * -
Mùa thu năm một nghìn chín trăm mười, Vương Tài vô tình vớt lên được từ giữa đống lau sậy cạnh bờ sông Ngân Khê một thanh tre, đang chăm chú nhìn ngắm thì lại phát hiện thêm hai thanh tre nữa nằm giắt giữa đám gốc sậy, bèn bước thêm hai bước, vớt chúng lên. Trên mỗi thanh tre đều có ai đó dùng sơn dầu viết chữ lên . Gã không biết chữ, nhưng thấy mấy thanh tre này dài hơn một thước, rộng một đến hai tấc, chính giữa thủng một lỗ vừa vặn có thể buộc thành hình chữ thập để phơi bánh phân trâu.
Gã nhìn quanh, hy vọng tìm thêm mấy thanh nữa …
Bên bờ sông, dưới ánh chiều tà, mặt nước lấp lánh như đất vàng . Chen chúc nơi khúc quanh của dòng sông , những chiếc thuyền gỗ chờ lấy muối cột buồm vàng óng. Từng thân cây sậy đang phất phơ cũng như được dát vàng ... Tiếc thay, cảnh huy hoàng tráng lệ đó lại không có thứ gã đang tìm kiếm .
- * -
Vì làm tốt bánh phân trâu, bản thân lại thật thà chăm chỉ nên trong mắt các bà nội trợ, Vương Tài cũng có đôi chút tiếng tăm. Sau khi đã thanh toán xong tiền, nhận thêm hàng, đôi lúc các bà các cô mời chén nước trà, nhìn gã uống như trâu, cổ họng kêu ùng ục chỉ vài tợp là uống cạn chén nước. Những người phụ nữ tốt bụng gợi ý, cả đời gã làm cháy trâu thì làm gì có “tài” ( của cải) mà “ vương” (giàu có), sao không học thêm một nghề nào đó để cưới vợ , sinh con ...
Đàn bà thường đơn giản hóa những việc khó khăn nhất trên đời thành một câu cửa miệng nhưng rất khó phản bác. Những lời này nghe nhiều rồi, gã chẳng buồn thanh minh, chỉ nói bản thân mình vốn dĩ sinh ra đã có số làm “khách trâu” rồi …Lúc nói những điều này, nụ cười bẽn lẽn, ngượng ngùng như mắc lỗi – đặc biệt là có lỗi với người phụ nữ đã có lòng tốt rót chén trà kia, luôn thường trực nhìn trên khuôn mặt .
Có điều, các bà các cô không thể biết rằng, nụ cười chất phát nở trên khuôn mặt kia lại chính là tấm lá chắn bên ngoài. Gã không hề ngờ nghệch đần độn như trong tưởng tượng của họ, chỉ là không muốn giải thích lần lượt từng người về số phận của mình mà thôi. Kể cả khi không khát, cũng uống hết bát nước trà .
Gã biết mình không thể từ chối lòng tốt của họ, nên uống trà không phải chỉ để giải khát mà thường là để những bà nội trợ kia hài lòng, để lần sau còn được mang bánh phân trâu đến bán .
- * -
Vương Tài đứng dưới sông ngoảnh lại nhìn mấy chữ mà không biết đọc. Khoảng cách quá gần có thể ngửi thấy mùi nước bùn tanh khi rửa còn phảng phất trên tay chân .
Ráng chiều êm ả trên đỉnh Ngọc Tuyền, in trên dòng sông Ngân Khê ảo ảnh lộng lẫy, biến bóng dáng cởi trần thành pho tượng lóng lánh màu sắc. Không biết có phải do những nỗi vất vả cực nhọc cả buổi chiều, nên khiến gã không cảm thấy mình là tượng thần trong ảo ảnh. Gã vừa lấy bùn cát cọ sạch phân trâu dính trên tay chân .
Bờ sông sau lưng đang phơi bộ quần áo lam lũ và đôi giày cỏ, trên dốc phân trâu gần đó đầy những viên bánh phân trâu vừa nặn xong. Bộ quần áo và đôi giày cỏ rách nát , cùng với những viên bánh phân trâu được sắp xềp ngay hàng thằng lối kia, tất cả chìm trong ảo ảnh lộng lẫy của ráng chiều.Vương Tài là một khách trâu thích sự sạch sẽ .
Mỗi ngày, sau khi hoàn thành xong phần việc của mình, thường tới đây tắm rửa kỳ cọ. Bùn cát ở lòng sông chính là loại xà phòng tốt nhất và rẻ nhất. Khi trời nóng, có thể cởi hết quần áo nhảy xuống sông bơi lội một hồi thỏa thích. Ở đây không có mùa đông giá rét , mặt sông chưa từng bị đóng băng. Vì thế , cho dù là giữa mùa đông vẫn có thể ngâm mình trong nước lạnh lau rửa sạch sẽ. Phần lớn những vị khách trâu khác cũng đều tới đây để tắm rửa, nhưng không tắm kỹ và cũng không thích ngâm nước nhiều .
Họ thường cười khi thấy gã lưu lại bên dòng nước lạnh, nói :
- Này, chú mày khộng phải ông chủ, sư phụ cũng không, kỳ cọ sạch bong thế này hẳn là muốn tới lầu uyên ương tìm em út hả ? Hay là để cho cô Ba nhà bà Sáu Thái xem mặt ?
Nhưng gã chẳng hề để ý tới những lới trên chọc đó, vẫn xuống sông tắm rửa như thường ngày. Giờ đây, tắm đã tắm rồi, bơi cũng đã bơi rồi .
Dòng sông mùa thu nước đầy ắp như cơ thể sung mãn của người phụ nữ, chở những đám mây dàn như thế trận trên mặt nước, trôi qua thị xã, vượt qua cống ngầm, xuyên qua tấm thân cường tráng của gã , tràn qua bãi ngãi điệp, rồi chậm rãi chảy đi. Dòng sông mang đến của cải dồi dào này sẽ từ cửa Quan Âm nhập vào sông Thanh Y. Sau đó cùng với nó chảy thẳng vào Trường Giang.
Gã đứng giữa dòng nước hiền hòa, đột nhiên nhớ lại lúc trước ở miếu Ngưu Vương đã nhìn thấy mấy thanh tre có viết chữ, rồi có mấy đạo sĩ lắc lọc sọc cái ống thẻ, rồi từ ống thẻ rơi ra mấy thẻ tre có viết mấy chữ bên trên. Người đạo sĩ dựa vào mấy chữ này mà đoán lành dữ. Hay là hôm nay đức Long Vương thả những thẻ tre này trên sông Ngân Khê ? Nghĩ vậy, gã vội nắm chặt ba thẻ tre có chữ trong đôi tay rắn chắc, thô ráp mà cười tủm như vừa nhận được món quà nhỏ.
Để xem món quà của Long Vương có linh nghiệm hay không ?.
Lại nghĩ, chuyện nghe nói chưa chắc đã thành sự thật, bà Sáu Thái chưa chắc đã lại thay đổi ý kiến …Thế là lại do dự, bất giác ngẩng đầu nhìn bức tường thành sừng sững trong ráng chiều bên bờ sông đối diện, tự biết ước mơ của mình có phần giống ráng chiều, mặt trời khuất sẽ chẳng còn lại dấu vết gì nữa. Như sợ mất bảo bối, tự nhiên siết chặc mấy tấm thẻ tre trong tay .
Gã không biết mình đã vô tình nhặt được một vật thường được người ta gọi bằng cái tên “ LỊCH SỬ “