<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:19:35mickey>
Cần đọc đúng câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”
Nguyễn Huy Thông
Sở dĩ chúng tôi phải nói như trên, vì câu thơ quen thuộc này của Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977) - một chiến sĩ kiên cường, một nhà thơ tài hoa của chiến khu Đ năm xưa (miền Đông Nam Bộ), gần đây vẫn bị một số người đọc sai, trích dẫn sai. Trên báo An ninh Thủ đô số cuối tuần, thứ bảy, 27-11-2004, trong bài Bảo vệ tiếng nói, chữ viết của người Hà Nội, tác giả Nguyễn Tất Phan viết: “Bài thơ nổi tiếng của nhà yêu nước và cách mạng Huỳnh Văn Nghệ, người đất Nam Bộ có câu cuối Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. Nhưng trong kỳ Hội Thơ lần đầu tiên vào ngày rằm tháng Giêng ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nhà thơ Huy Cận đã đọc rõ là Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long. Thế mới đúng là văn phong Hà Nội”.
Chính vì nhầm lẫn 4 từ đầu của câu thơ trên, nên đầu xuân 2004, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã cho ấn hành tuyển thơ khá đồ sộ, “hoành tráng”, dày 2.000 trang, in đẹp, tốn tới 2,7 tấn giấy mang tên Ngàn năm thương nhớ do Gia Dũng biên soạn. Đáng tiếc là trong tập thơ này, 2 câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ vẫn bị in sai là:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
Chúng tôi đã tìm được tập sách Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ do Sở Văn hoá - thông tin - thể thao Đồng Nai xuất bản năm 1997 và cuốn Lịch sử chiến khu Đ do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1997 đều có in bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ. Toàn văn bài thơ như sau:
Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ơi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng…
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại… Ôi đất Bắc!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.
Chiến khu Đ, 1946-1948
Theo chúng tôi biết, từ trước tới nay, trên nhiều sách báo, 2 câu thơ cuối của khổ thơ đầu bài thơ đã bị in sai 3 chỗ, cụ thể là: “độ” thành “thuở, “cõi” thành “nước”, “trời Nam” thành “nghìn năm” (ngàn năm).
Phải đọc kỹ 2 câu thơ này và đặt nó trong ngữ cảnh của toàn bài thơ mới thấy tác giả trau chuốt, cân nhắc dùng từ ngữ như vậy là rất đắt, rất hay. Nhà thơ dùng từ “cõi” để chỉ giang sơn gấm vóc bờ cõi phía Nam mà chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng) đã có công buổi đầu đưa con cháu từ đồng bằng sông Hồng của Tổ quốc vượt qua biết bao nhiêu nguy hiểm gian lao để mở mang cơ nghiệp, tạo lập cuộc sống yên vui tới tận đồng bằng sông Cửu Long. Nhà văn, nhà thơ Nguyên Hồng sau này trong bài thơ Cửu Long giang ta ơi! cũng có những câu thơ khắc hoạ được công lao từ bao đời của những người đi mở cõi ấy:
Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương
Mồ hôi vã bãi lau thành đồng lúa
Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa
… Cha ông ta nhắm mắt
Truyền cháu con không bao giờ chia cắt
Ngay từ câu thơ đầu tiên, Huỳnh Văn Nghệ đã thốt lên lời kêu gọi: “Ai về Bắc, ta đi với” nói thay ý nghĩ, tình cảm của bao người con đất Việt trên mọi miền của Tổ quốc nhớ tới quê Việt cổ Thăng Long. Có hiểu được hoàn cảnh sáng tác và tâm tư của tác giả thì mới thấy sự sâu sắc, thấm đậm nhân tình trong câu thơ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Xin nhớ rằng tác giả làm bài thơ Nhớ Bắc ấy trong bối cảnh khốc liệt miền Đông gian lao mà anh dũng, quyết chiến quyết thắng thực dân Pháp. Bài thơ đặc sắc này được sáng tác kịp thời làm rung động lòng người, tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần cho quân và dân chiến khu Đ hướng về cội nguồn đất Tổ thân thương, một lòng một dạ quyết giữ gìn non sông.
Chúng tôi nghĩ rằng cần phải tôn trọng nguyên văn tác phẩm của các tác giả, nhất là các nhà văn, nhà thơ đã mất. Phải đặt những sáng tác đó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể để hiểu sâu tác phẩm và tác giả. Tuyệt đối không nên tuỳ tiện biên tập, sửa cả ý và nguyên văn của tác giả. Đối với trường hợp câu thơ trên của Huỳnh Văn Nghệ cũng vậy. Có người ngộ nhận cho rằng biên tập lại là để làm cho câu thơ nghe mênh mang hơn, có “chiều dài lịch sử” hơn. Song, thực tế biên tập như vậy là phản lại ý định, nỗi niềm sâu lắng của tác giả gửi gắm trong bài thơ. Chính vì thế, chúng ta cần đọc đúng, viết đúng 2 câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ là:
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Làm như vậy thì chắc chắn ở dưới suối vàng, vong linh nhà thơ cũng cảm thấy thanh thản, vì người đời đã hiểu đúng câu thơ gan ruột của Tám Nghệ - một người con Nam Bộ đã sớm đầu quân làm anh bộ đội Cụ Hồ rồi trở thành vị chỉ huy chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hoà, tư lệnh khu 7, tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Vừa cầm súng vừa làm thơ, ông đã để lại cho thơ ca cách mạng Việt Nam những bài thơ hay mang bản sắc độc đáo, in dấu ấn không thể nào quên được.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Huy Thông
Sở dĩ chúng tôi phải nói như trên, vì câu thơ quen thuộc này của Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977) - một chiến sĩ kiên cường, một nhà thơ tài hoa của chiến khu Đ năm xưa (miền Đông Nam Bộ), gần đây vẫn bị một số người đọc sai, trích dẫn sai. Trên báo An ninh Thủ đô số cuối tuần, thứ bảy, 27-11-2004, trong bài Bảo vệ tiếng nói, chữ viết của người Hà Nội, tác giả Nguyễn Tất Phan viết: “Bài thơ nổi tiếng của nhà yêu nước và cách mạng Huỳnh Văn Nghệ, người đất Nam Bộ có câu cuối Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. Nhưng trong kỳ Hội Thơ lần đầu tiên vào ngày rằm tháng Giêng ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nhà thơ Huy Cận đã đọc rõ là Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long. Thế mới đúng là văn phong Hà Nội”.
Chính vì nhầm lẫn 4 từ đầu của câu thơ trên, nên đầu xuân 2004, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã cho ấn hành tuyển thơ khá đồ sộ, “hoành tráng”, dày 2.000 trang, in đẹp, tốn tới 2,7 tấn giấy mang tên Ngàn năm thương nhớ do Gia Dũng biên soạn. Đáng tiếc là trong tập thơ này, 2 câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ vẫn bị in sai là:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
Chúng tôi đã tìm được tập sách Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ do Sở Văn hoá - thông tin - thể thao Đồng Nai xuất bản năm 1997 và cuốn Lịch sử chiến khu Đ do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1997 đều có in bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ. Toàn văn bài thơ như sau:
Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ơi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng…
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại… Ôi đất Bắc!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.
Chiến khu Đ, 1946-1948
Theo chúng tôi biết, từ trước tới nay, trên nhiều sách báo, 2 câu thơ cuối của khổ thơ đầu bài thơ đã bị in sai 3 chỗ, cụ thể là: “độ” thành “thuở, “cõi” thành “nước”, “trời Nam” thành “nghìn năm” (ngàn năm).
Phải đọc kỹ 2 câu thơ này và đặt nó trong ngữ cảnh của toàn bài thơ mới thấy tác giả trau chuốt, cân nhắc dùng từ ngữ như vậy là rất đắt, rất hay. Nhà thơ dùng từ “cõi” để chỉ giang sơn gấm vóc bờ cõi phía Nam mà chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng) đã có công buổi đầu đưa con cháu từ đồng bằng sông Hồng của Tổ quốc vượt qua biết bao nhiêu nguy hiểm gian lao để mở mang cơ nghiệp, tạo lập cuộc sống yên vui tới tận đồng bằng sông Cửu Long. Nhà văn, nhà thơ Nguyên Hồng sau này trong bài thơ Cửu Long giang ta ơi! cũng có những câu thơ khắc hoạ được công lao từ bao đời của những người đi mở cõi ấy:
Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương
Mồ hôi vã bãi lau thành đồng lúa
Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa
… Cha ông ta nhắm mắt
Truyền cháu con không bao giờ chia cắt
Ngay từ câu thơ đầu tiên, Huỳnh Văn Nghệ đã thốt lên lời kêu gọi: “Ai về Bắc, ta đi với” nói thay ý nghĩ, tình cảm của bao người con đất Việt trên mọi miền của Tổ quốc nhớ tới quê Việt cổ Thăng Long. Có hiểu được hoàn cảnh sáng tác và tâm tư của tác giả thì mới thấy sự sâu sắc, thấm đậm nhân tình trong câu thơ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Xin nhớ rằng tác giả làm bài thơ Nhớ Bắc ấy trong bối cảnh khốc liệt miền Đông gian lao mà anh dũng, quyết chiến quyết thắng thực dân Pháp. Bài thơ đặc sắc này được sáng tác kịp thời làm rung động lòng người, tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần cho quân và dân chiến khu Đ hướng về cội nguồn đất Tổ thân thương, một lòng một dạ quyết giữ gìn non sông.
Chúng tôi nghĩ rằng cần phải tôn trọng nguyên văn tác phẩm của các tác giả, nhất là các nhà văn, nhà thơ đã mất. Phải đặt những sáng tác đó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể để hiểu sâu tác phẩm và tác giả. Tuyệt đối không nên tuỳ tiện biên tập, sửa cả ý và nguyên văn của tác giả. Đối với trường hợp câu thơ trên của Huỳnh Văn Nghệ cũng vậy. Có người ngộ nhận cho rằng biên tập lại là để làm cho câu thơ nghe mênh mang hơn, có “chiều dài lịch sử” hơn. Song, thực tế biên tập như vậy là phản lại ý định, nỗi niềm sâu lắng của tác giả gửi gắm trong bài thơ. Chính vì thế, chúng ta cần đọc đúng, viết đúng 2 câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ là:
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Làm như vậy thì chắc chắn ở dưới suối vàng, vong linh nhà thơ cũng cảm thấy thanh thản, vì người đời đã hiểu đúng câu thơ gan ruột của Tám Nghệ - một người con Nam Bộ đã sớm đầu quân làm anh bộ đội Cụ Hồ rồi trở thành vị chỉ huy chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hoà, tư lệnh khu 7, tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Vừa cầm súng vừa làm thơ, ông đã để lại cho thơ ca cách mạng Việt Nam những bài thơ hay mang bản sắc độc đáo, in dấu ấn không thể nào quên được.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,