<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:17:46mickey>
Thế giới thực trong cõi ảo
(Đọc ảo giác - Tập thơ của Tuyết Nga - Nxb Hội Nhà văn 2002)
Chu Thị Thơm
19 bài thơ trong tập không phải là nhiều đối với dung lượng một tập thơ. Nhưng với tập “ảo giác”, sức chứa đằng sau những con chữ đã thực sự thuyết phục độc giả bởi những gì mà Tuyết Nga đem đến cho bạn đọc.
Nét độc đáo của tập thơ là ở chỗ Tuyết Nga đã đưa người đọc đến với cõi ảo, để từ đó, trong tâm thức, mỗi con người lại độc hành về với cõi thực, và sống nhân ái, suy tư hơn trong cuộc đời này. Tôi gọi đó là sự đánh thức những cảm thức con người bằng ngôn ngữ thơ ca, mà không phải một thi sĩ nào cũng có thể may mắn làm được.
Thế giới thi ca của Tuyết Nga là thế giới của một thế giới không phân định giữa ngày và đêm, giữa hư và thực, giữa hữu hạn và vô hạn… Tất cả đan chen vào nhau bởi lăng kính đa chiều, sâu sắc qua ngôn ngữ và hình tượng thơ.
Hoa tầm xuân là một bài thơ hay trong tập thơ. Mượn ý ca dao, nhưng thi sĩ không làm cái việc loay hoay “bước xuống” và “đi lên” vườn cà ảo giác để hái nụ tầm xuân như người xưa. Chị không nói về vẻ đẹp sắc hoa. Chị nói về thời gian đã qua. ở đó có những nụ tầm xuân xanh ngắt trong cõi nhớ. Trong nỗi nhớ quặn thắt như sắc màu tầm xuân, có một cô bé thẩn thơ đi về cõi vô thường. Người mẹ thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, để lại nhành tầm xuân bé nhỏ cho đời. Trong vô thức, nụ hoa tầm xuân nở muộn lại nhói lòng nỗi đau của những giấc mơ đang và đã trở thành sự thực:
“… Nụ tầm xuân…
“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”
Mẹ từng hát ru ta lời Ngoại hát thuở nào ta làm mẹ
và một chiều mây trắng
chợt thấy tầm xuân xanh biếc trước hiên.
Lời thơ ám ảnh, lay thức người đọc không phải bởi những từ hoa mỹ. Chỉ cần có một chút tình và sâu lắng trong thơ là đủ. Nhưng chút tình ấy, sự sâu lắng ấy phải được chắt chiu gom nhặt qua bức tranh kí ức, với tấm lòng biết yêu thương và trân trọng quá khứ, trân trọng con người.
Thế giới ảo trong thơ Tuyết Nga đi từ có đến không. Từ ý thức đến vô thức. Từng cung bậc, từng nốt nhấn trên phím đàn ngôn từ lại bất chợt hiện lên, rờ rỡ cõi đời, cõi người với muôn mặt của nó. Chị nói về “sắc” ta nhận ra “không”. Chị nói về cõi ảo, ta nhận ra nhà thơ đang đi giữa cõi thực trên đời. Với ngổn ngang trăm mối tơ vò.
Tuyết Nga là người hay nghi hoặc. Những điều chị nói ra, có những điều nửa như dùng dằng, nửa như dứt bỏ, định rồi lại thôi… Thế giới không rêu phong trong cõi thơ của chị. Chị hình dung có một ngày… Vâng, có một ngày như “khói rỗng không buồn lả mái nhà/ em sẽ khóc một ngày nắng hạ/ anh đổ về như sóng quanh em” (Rồi một ngày). Theo quy luật của đời người cũng như qui luật của con tim - kí ức luôn đánh thức gọi về những tình cảm thân thương, da diết, gần gũi nhất. Hình dung về hợp tan hay hình dung về hạnh phúc hay biệt ly, hay giữa còn và mất, con người trước đó phải đánh cược với chính cuộc đời mình để rồi chấp nhận một thực tế do chính mình lựa chọn. Trong cơn mơ, Tuyết Nga nhận ra mình hiện diện với tình yêu và nỗi nhớ sâu sắc biết chừng nào. Khi “anh đổ về như sóng quanh em” cũng là lúc chị bật khóc bởi những lời chợt đến trên môi/ và anh quay đi/ lưng chừng ký ức…/ rồi một ngày bạc nắng tìm nhau/ cả trời thu mục nát/ và biển sóng đã khô thành cát/ miên man năm tháng vô thường”.
Trong cõi nhớ, cõi mơ ấy, Tuyết Nga đã miên man đi về phía trước. Nỗi nhớ, nỗi đau bao giờ cũng là có thật, chỉ có điều khát vọng là còn ẩn hiện, như sương khói mà thôi. Tôi thích cách chị nói như thế này: “… Giấc ngủ choàng chiếc khăn san đen/ lên tất cả đất trời/ tất cả/ tưởng có thể vùi sâu vào giấc ngủ/ trái tim buồn như một trái cây rơi…”. Tưởng như tất cả bình yên, tất cả vỗ về nâng bước con người. Trong, là người tinh tế và giàu cảm xúc, Tuyết Nga kiên nhẫn chờ đợi điều kì diệu sẽ đến với mình. Con người hay hồ nghi và trắc ẩn ấy cũng đã có lúc phải tin - một đức tin của kẻ ngoan đạo. Chị tin những cái gì không thể có, cũng như tin vào sự hoài nghi và sự khe khắt của muôn mặt đời thường. Giông bão đã thổi trong lòng chị, nó cũng giống như “ngổn ngang giông gió ngày chật hẹp thôi, anh mong nhớ sẽ theo về/ đừng tin xẻ mùa thu được/ lững thững sông mòn mỏi bãi xa (Không đề 2).
Có những điều con người phải chấp nhận mà trước đó không mấy ai tin. Đây là sự nghịch lý của thế giới thực và thế giới ảo trong thơ Tuyết Nga. Sự tương phản này đã tạo cho câu thơ của chị mang màu sắc triết lý. Triết lí mà không khô khan. Bởi chị đã xây dựng cho mình một thế giới hình tượng thơ độc đáo mà không giả tạo. Bình dị mà không dễ dãi. Sâu sắc mà tinh tế. Hình tượng thơ đã được thể hiện qua con tim nhạy cảm và rất đỗi nhân ái bao dung. Đây là một trong thế giới hình tượng thơ của chị:
“Một hoàng hôn/ Rong chơi khoác chiếc áo Cô đơn phong phanh gió lạnh/ lang thang trước ngõ nhà em/ Một chiều mưa/ Tham lam sụp chiếc mũ Khổ đau/ co ro nép vào cánh cửa nhà em/ Em mở cửa ngôi nhà nghèo khó/ Nhóm lên từ đống thời gian mệt mỏi lụi tàn/ một ngọn lửa kham khổ/ Và Rong chơi đã khoác mình lên giá/ Để nỗi Cô đơn đến sưởi dịu dàng/ bên ngọn lửa mỏng manh vừa cháy sáng/ Và Tham lam tự treo mình lên chiếc đinh lạnh buốt/ để nỗi Khổ đau đến sưởi dịu dàng/ bên ngọn lửa niềm tin vừa cháy sáng. (ảo giác 1).
Những vần thơ này một nửa như lời độc thoại, một nửa như lời đối thoại. Song, dẫu có đối thoại hay độc thoại đi chăng nữa, thế giới ảo trong cõi thực của thơ Tuyết Nga đã đưa người đọc trở về với cõi thiện, lay thức con người bằng những cảm xúc tinh tế, chân thành mà tha thiết ấy. Con người có thể đi qua khổ đau để mơ về bến bờ hạnh phúc, nhưng hành trang mang theo không thể thiếu là sự cô đơn. Cô đơn trong tâm thức còn đáng sợ hơn sự cô đơn ngay trong cuộc sống này. Cô đơn để hiểu mình, hiểu đời, hiểu người hơn. Với thi sĩ, rất cần những phút giây cô đơn như thế.
Trong ảo giác 2, những vần thơ lay thức người đọc của tác giả lại chính là nỗi đau về thân phận tình yêu của kẻ khác. Câu mở đầu ngắn gọn Trong đám cưới của người bạn bị bạc tình…, chị đã nhìn thấy bóng của hạnh phúc đằng sau những nghi thức tình yêu là những giấc mơ không yên ả với những dự báo không lành:… “Và em thấy mọi người là loài chim cụt cánh/ trong bữa tiệc của người bạn chán đời/ nơi niềm vui/ như đồng tiền giật tạm./ Và…/ một ngày…”. Người đọc nhận ra những câu thơ của chị sắc lạnh hơn cả những gì chị đang nhìn thấy. Nhìn về phía trước là như thế, nhưng đau hơn là khi chị thú nhận lời ta là những mảnh thuỷ tinh rơi mãi/ trái tim co ro nhón gót hãi hùng/ máu rỏ xuống âm thầm kỉ niệm/ những giọt màu rong rêu… Trong một bức tranh ký họa một người thiếu phụ bằng thơ, chị nhận ra sự trống trải và cô đơn, bất hạnh trong cặp mắt buồn của người thiếu phụ. Chỉ cần mấy nét phác hoạ bằng thơ, người phụ nữ đã hiện lên với tất cả thân phận khổ đau và bất hạnh, cô đơn và buồn bã. Không gia đình bóng dáng người thân. Đây là ánh mắt thiếu phụ: “Không mây gió những con đường tít tắp/ không cả hương thơm hoa cỏ những khu vườn”. Còn môi thiếu phụ là “nụ cười trăng lạnh” khi “đêm vũ hội tàn trăng buông thinh không… Chân dung người đàn bà cô đơn kia được nhà thơ ký hoạ rất nhanh, song những nét phác thảo có thể nói cũng rất thần. Bức tranh có sáng tối của những gam màu tương phản, có cả không gian, thời gian, cũng như có cả niềm đau qua những con chữ:… Thiếu phụ đi/ như một ánh sao ngày/ màu thời gian bạc con đường cỏ mọc/ Chợt nghe tiếng trẻ vụt ngời sau tĩnh lặng/ cả một mặt trời ngoái lại/ lung linh” (Ký hoạ).
Có thể nói rằng đây là một trong những bài thơ ám ảnh người đọc nhiều nhất, bởi cái tình và sự tinh tế trong con tim tác giả, bởi cấu tứ nghệ thuật chặt chẽ, bởi ngôn ngữ đã được chắt lọc và mở ra đằng sau số phận tưởng như khép lại của một con người. Bài thơ cho ta thấy đây là một giấc mơ đau đớn, song cũng là một khát vọng yêu thương, khát vọng về hạnh phúc phải được thể hiện ngay trong cuộc đời rất thực này.
Trong một bài thơ có tên là Bản nháp, Tuyết Nga đang tẩy xoá để tự vẽ bức chân dung cho chính mình. Đây là bức chân dung tình yêu, khi “anh/ bản nháp của tình yêu một sớm. Khi chị nhận ra mình là bản nháp của tình yêu đầy dập xoá thì cũng là lúc chị lại là người, chứ không phải là ai khác, “chấm phá bản năng tìm kiếm chính mình/ những bản nháp của tình yêu rơi xuống/ bí ẩn nồng nàn/ khắc khoải đớn đau/ anh và em/ và những năm tháng cũ nhàu…/ những chân dung tự hoạ/ những chân dung không màu đầy dập xoá/ tình yêu phác lên bất lực chính mình. Có lẽ không chỉ riêng Tuyết Nga mới có những phác thảo chân dung như thế. Con người, đằng sau những thành công hay thất bại đều phải thừa nhận với chính mình, với nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn ấy, nỗi đau ấy có thể kiệt cùng là cái chết. Nhưng con người rất cần những lời ru cho đời bớt đi hưu quạnh. Trong bài Dòng sông đã chảy, thi làm một cuộc lãng ru viếng thăm người thân ở thế giới vĩnh hằng. Hãy nghe lời chị ru người đã khuất:
“Hãy yên nghỉ hỡi trái tim khổ ải/ ngoài kia sao sa/ ngoài kia gió xoáy/ người em yêu cạnh người yêu em/ nhưng em đã kiệt cùng sức lực/ hãy yên ngủ đáy mùa thu thăm thẳm/ đáy mùa thu mây trắng vĩnh hằng… Nhưng cuối cùng, lời ru đời, ru chính bản thân mình mới trở về thực tại. Có nỗi đau nào mà lời ru không tới? Nhưng có lời ru nào làm sẽ làm nguội những nỗi đau? Nơi vĩnh hằng xa xăm lắm, nhưng mùa thu và những nỗi đau vẫn mãi còn với con người. Câu thơ đưa người đọc đi vào cõi nhớ, nhưng lại đưa người đọc trở về với thực tế phũ phàng. Rất may, vẫn còn bao khúc ru đời, nâng bước con người trở về bến trần gian. ở đó có cỏ cây lay thức và sự sống trở về:
“… Nhịp đập cuối cùng lay dậy ban mai/ giọt máu cuối cùng thắm lại xanh rêu/ thôi em… thôi em/ dòng sông đã chảy/ ru em… ru em…/ mặt trời không tuổi/ thôi nào trái tim…”
Dẫu nói vậy, nhưng tôi biết con tim của tác giả vẫn khóc. Dẫu nỗi đau có hoá vào cảnh vật, thì sự hiển hiện của nó vẫn còn đó, ẩn trong tiềm thức của mỗi con người. Nỗi đau ấy, ai có thể gọi thành tên?
Tuyết Nga đã từng nói về nỗi đau như thế. Chị không mô tả nó. Nhưng chị chỉ ra sự hiện diện của nó trong mỗi con người. Không bao giờ nỗi đau rời bỏ con người:
“… Nỗi đau không qua như xúi quẩy của một ngày/ nỗi khổ không qua như rủi ro phút chốc/ hạnh phúc như trái ở trong cây, tình yêu như lá rơi vào đất/ mặt trời ngày ngày cặm cụi trước hiên…” (Xem vở kịch câm “Người đi ngược chiều gió”).
Trong tâm thế là người hành khất gom về những nỗi đau, chị nhặt được những ánh mắt của trẻ em khiếm thị đang khát khao được thấy bầu trời mơ ước, khát khao được biết sự nồng hậu trong trái tim của mỗi con người:
“… Không có một ngày thử nhìn bằng đôi mắt em/ tôi đâu biết con đường chỉ dài tới nơi bàn chân mình chạm tới/ Lòng vô cảm nghĩa là ngày đã hết/ mặt trời có lúc xanh xao…” (Mắt)
Trong hành trình đi giữa bến mơ, qua làn sương ảo của ký ức, niềm đau và sự cô đơn, Tuyết Nga đã đưa người đọc tới cõi thực với bao nỗi lo toan bộn bề mà con người phải bận tâm trong cuộc sống hàng ngày.
Tôi cũng đồng ý với chị, rằng “Thời gian xô con sóng về đâu?/ lùi vào lãng quên đại dương bất lực/ rồi một mai ngôi nhà đang xây kia sẽ lại là di tích/ ta cũng thành một quá khứ xa xăm…” (Viêt sở phố Hiến), nhưng những khát vọng có được một giấc mơ trở thành hiện thực lại không dễ bao giờ.
Thôi thì, con người cứ khát vọng, bởi đó là điều thúc đẩy, nâng bước cho những ước mơ. Sẽ có một ngày, không chỉ riêng gì chị, mỗi chúng ta lần giở từng trang ký ức, xếp đặt và xoáy như một hình khối ru bích, mà ở mỗi chiều là một khoảnh khắc tâm linh. Có khối ru bích nào cất giữ và thể hiện được, xếp đặt được những lớp lang của ngăn kéo ký ức không? Bất chợt, tôi nhận ra mình cũng có những nỗi niềm như chị, khi “thèm đóng gói được mùi đất ải cánh đồng hoàng hôn chim ngói bời bời/ đóng gói được con đò uể oải/ cả lối mòn phơ phất bóng cau…”. Rồi thời gian sẽ đi qua, và “mái cổ ngõ nhỏ hương cốm thơm sương vỉa hè lá đổ/ ngút ngát chiều heo may…/ cổ vật lòng ta mai sau/ mai sau…” (Nhật ký cuối thế kỷ)
Những trang nhật ký đời người sẽ được còn ghi mãi mãi. Nhưng thiếu đi các bức hoạ tiết chân dung những số phận con người trong niềm đau và sự cô đơn với khát vọng được cảm nhận con tim không mù loà lại là điều trân trọng. Rất may, đi từ cõi ảo, Tuyết Nga đã đưa người đọc trở về thế giới thực trong nỗi niềm yêu thương, trăn trở… Đi qua thế giới của yêu thương, hờn giận, vui buồn, âu lo, trăn trở trong thơ Tuyết Nga, ta sẽ gặp một thế giới của đức tin - nếu con người thực sự sùng đạo - đạo của lòng vị tha, tin cậy và bao dung, nhân ái. Điều đó rất cần không chỉ riêng cho người cầm bút, mà cho tất cả mọi người.
(Báo Văn nghệ)
(Đọc ảo giác - Tập thơ của Tuyết Nga - Nxb Hội Nhà văn 2002)
Chu Thị Thơm
19 bài thơ trong tập không phải là nhiều đối với dung lượng một tập thơ. Nhưng với tập “ảo giác”, sức chứa đằng sau những con chữ đã thực sự thuyết phục độc giả bởi những gì mà Tuyết Nga đem đến cho bạn đọc.
Nét độc đáo của tập thơ là ở chỗ Tuyết Nga đã đưa người đọc đến với cõi ảo, để từ đó, trong tâm thức, mỗi con người lại độc hành về với cõi thực, và sống nhân ái, suy tư hơn trong cuộc đời này. Tôi gọi đó là sự đánh thức những cảm thức con người bằng ngôn ngữ thơ ca, mà không phải một thi sĩ nào cũng có thể may mắn làm được.
Thế giới thi ca của Tuyết Nga là thế giới của một thế giới không phân định giữa ngày và đêm, giữa hư và thực, giữa hữu hạn và vô hạn… Tất cả đan chen vào nhau bởi lăng kính đa chiều, sâu sắc qua ngôn ngữ và hình tượng thơ.
Hoa tầm xuân là một bài thơ hay trong tập thơ. Mượn ý ca dao, nhưng thi sĩ không làm cái việc loay hoay “bước xuống” và “đi lên” vườn cà ảo giác để hái nụ tầm xuân như người xưa. Chị không nói về vẻ đẹp sắc hoa. Chị nói về thời gian đã qua. ở đó có những nụ tầm xuân xanh ngắt trong cõi nhớ. Trong nỗi nhớ quặn thắt như sắc màu tầm xuân, có một cô bé thẩn thơ đi về cõi vô thường. Người mẹ thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, để lại nhành tầm xuân bé nhỏ cho đời. Trong vô thức, nụ hoa tầm xuân nở muộn lại nhói lòng nỗi đau của những giấc mơ đang và đã trở thành sự thực:
“… Nụ tầm xuân…
“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”
Mẹ từng hát ru ta lời Ngoại hát thuở nào ta làm mẹ
và một chiều mây trắng
chợt thấy tầm xuân xanh biếc trước hiên.
Lời thơ ám ảnh, lay thức người đọc không phải bởi những từ hoa mỹ. Chỉ cần có một chút tình và sâu lắng trong thơ là đủ. Nhưng chút tình ấy, sự sâu lắng ấy phải được chắt chiu gom nhặt qua bức tranh kí ức, với tấm lòng biết yêu thương và trân trọng quá khứ, trân trọng con người.
Thế giới ảo trong thơ Tuyết Nga đi từ có đến không. Từ ý thức đến vô thức. Từng cung bậc, từng nốt nhấn trên phím đàn ngôn từ lại bất chợt hiện lên, rờ rỡ cõi đời, cõi người với muôn mặt của nó. Chị nói về “sắc” ta nhận ra “không”. Chị nói về cõi ảo, ta nhận ra nhà thơ đang đi giữa cõi thực trên đời. Với ngổn ngang trăm mối tơ vò.
Tuyết Nga là người hay nghi hoặc. Những điều chị nói ra, có những điều nửa như dùng dằng, nửa như dứt bỏ, định rồi lại thôi… Thế giới không rêu phong trong cõi thơ của chị. Chị hình dung có một ngày… Vâng, có một ngày như “khói rỗng không buồn lả mái nhà/ em sẽ khóc một ngày nắng hạ/ anh đổ về như sóng quanh em” (Rồi một ngày). Theo quy luật của đời người cũng như qui luật của con tim - kí ức luôn đánh thức gọi về những tình cảm thân thương, da diết, gần gũi nhất. Hình dung về hợp tan hay hình dung về hạnh phúc hay biệt ly, hay giữa còn và mất, con người trước đó phải đánh cược với chính cuộc đời mình để rồi chấp nhận một thực tế do chính mình lựa chọn. Trong cơn mơ, Tuyết Nga nhận ra mình hiện diện với tình yêu và nỗi nhớ sâu sắc biết chừng nào. Khi “anh đổ về như sóng quanh em” cũng là lúc chị bật khóc bởi những lời chợt đến trên môi/ và anh quay đi/ lưng chừng ký ức…/ rồi một ngày bạc nắng tìm nhau/ cả trời thu mục nát/ và biển sóng đã khô thành cát/ miên man năm tháng vô thường”.
Trong cõi nhớ, cõi mơ ấy, Tuyết Nga đã miên man đi về phía trước. Nỗi nhớ, nỗi đau bao giờ cũng là có thật, chỉ có điều khát vọng là còn ẩn hiện, như sương khói mà thôi. Tôi thích cách chị nói như thế này: “… Giấc ngủ choàng chiếc khăn san đen/ lên tất cả đất trời/ tất cả/ tưởng có thể vùi sâu vào giấc ngủ/ trái tim buồn như một trái cây rơi…”. Tưởng như tất cả bình yên, tất cả vỗ về nâng bước con người. Trong, là người tinh tế và giàu cảm xúc, Tuyết Nga kiên nhẫn chờ đợi điều kì diệu sẽ đến với mình. Con người hay hồ nghi và trắc ẩn ấy cũng đã có lúc phải tin - một đức tin của kẻ ngoan đạo. Chị tin những cái gì không thể có, cũng như tin vào sự hoài nghi và sự khe khắt của muôn mặt đời thường. Giông bão đã thổi trong lòng chị, nó cũng giống như “ngổn ngang giông gió ngày chật hẹp thôi, anh mong nhớ sẽ theo về/ đừng tin xẻ mùa thu được/ lững thững sông mòn mỏi bãi xa (Không đề 2).
Có những điều con người phải chấp nhận mà trước đó không mấy ai tin. Đây là sự nghịch lý của thế giới thực và thế giới ảo trong thơ Tuyết Nga. Sự tương phản này đã tạo cho câu thơ của chị mang màu sắc triết lý. Triết lí mà không khô khan. Bởi chị đã xây dựng cho mình một thế giới hình tượng thơ độc đáo mà không giả tạo. Bình dị mà không dễ dãi. Sâu sắc mà tinh tế. Hình tượng thơ đã được thể hiện qua con tim nhạy cảm và rất đỗi nhân ái bao dung. Đây là một trong thế giới hình tượng thơ của chị:
“Một hoàng hôn/ Rong chơi khoác chiếc áo Cô đơn phong phanh gió lạnh/ lang thang trước ngõ nhà em/ Một chiều mưa/ Tham lam sụp chiếc mũ Khổ đau/ co ro nép vào cánh cửa nhà em/ Em mở cửa ngôi nhà nghèo khó/ Nhóm lên từ đống thời gian mệt mỏi lụi tàn/ một ngọn lửa kham khổ/ Và Rong chơi đã khoác mình lên giá/ Để nỗi Cô đơn đến sưởi dịu dàng/ bên ngọn lửa mỏng manh vừa cháy sáng/ Và Tham lam tự treo mình lên chiếc đinh lạnh buốt/ để nỗi Khổ đau đến sưởi dịu dàng/ bên ngọn lửa niềm tin vừa cháy sáng. (ảo giác 1).
Những vần thơ này một nửa như lời độc thoại, một nửa như lời đối thoại. Song, dẫu có đối thoại hay độc thoại đi chăng nữa, thế giới ảo trong cõi thực của thơ Tuyết Nga đã đưa người đọc trở về với cõi thiện, lay thức con người bằng những cảm xúc tinh tế, chân thành mà tha thiết ấy. Con người có thể đi qua khổ đau để mơ về bến bờ hạnh phúc, nhưng hành trang mang theo không thể thiếu là sự cô đơn. Cô đơn trong tâm thức còn đáng sợ hơn sự cô đơn ngay trong cuộc sống này. Cô đơn để hiểu mình, hiểu đời, hiểu người hơn. Với thi sĩ, rất cần những phút giây cô đơn như thế.
Trong ảo giác 2, những vần thơ lay thức người đọc của tác giả lại chính là nỗi đau về thân phận tình yêu của kẻ khác. Câu mở đầu ngắn gọn Trong đám cưới của người bạn bị bạc tình…, chị đã nhìn thấy bóng của hạnh phúc đằng sau những nghi thức tình yêu là những giấc mơ không yên ả với những dự báo không lành:… “Và em thấy mọi người là loài chim cụt cánh/ trong bữa tiệc của người bạn chán đời/ nơi niềm vui/ như đồng tiền giật tạm./ Và…/ một ngày…”. Người đọc nhận ra những câu thơ của chị sắc lạnh hơn cả những gì chị đang nhìn thấy. Nhìn về phía trước là như thế, nhưng đau hơn là khi chị thú nhận lời ta là những mảnh thuỷ tinh rơi mãi/ trái tim co ro nhón gót hãi hùng/ máu rỏ xuống âm thầm kỉ niệm/ những giọt màu rong rêu… Trong một bức tranh ký họa một người thiếu phụ bằng thơ, chị nhận ra sự trống trải và cô đơn, bất hạnh trong cặp mắt buồn của người thiếu phụ. Chỉ cần mấy nét phác hoạ bằng thơ, người phụ nữ đã hiện lên với tất cả thân phận khổ đau và bất hạnh, cô đơn và buồn bã. Không gia đình bóng dáng người thân. Đây là ánh mắt thiếu phụ: “Không mây gió những con đường tít tắp/ không cả hương thơm hoa cỏ những khu vườn”. Còn môi thiếu phụ là “nụ cười trăng lạnh” khi “đêm vũ hội tàn trăng buông thinh không… Chân dung người đàn bà cô đơn kia được nhà thơ ký hoạ rất nhanh, song những nét phác thảo có thể nói cũng rất thần. Bức tranh có sáng tối của những gam màu tương phản, có cả không gian, thời gian, cũng như có cả niềm đau qua những con chữ:… Thiếu phụ đi/ như một ánh sao ngày/ màu thời gian bạc con đường cỏ mọc/ Chợt nghe tiếng trẻ vụt ngời sau tĩnh lặng/ cả một mặt trời ngoái lại/ lung linh” (Ký hoạ).
Có thể nói rằng đây là một trong những bài thơ ám ảnh người đọc nhiều nhất, bởi cái tình và sự tinh tế trong con tim tác giả, bởi cấu tứ nghệ thuật chặt chẽ, bởi ngôn ngữ đã được chắt lọc và mở ra đằng sau số phận tưởng như khép lại của một con người. Bài thơ cho ta thấy đây là một giấc mơ đau đớn, song cũng là một khát vọng yêu thương, khát vọng về hạnh phúc phải được thể hiện ngay trong cuộc đời rất thực này.
Trong một bài thơ có tên là Bản nháp, Tuyết Nga đang tẩy xoá để tự vẽ bức chân dung cho chính mình. Đây là bức chân dung tình yêu, khi “anh/ bản nháp của tình yêu một sớm. Khi chị nhận ra mình là bản nháp của tình yêu đầy dập xoá thì cũng là lúc chị lại là người, chứ không phải là ai khác, “chấm phá bản năng tìm kiếm chính mình/ những bản nháp của tình yêu rơi xuống/ bí ẩn nồng nàn/ khắc khoải đớn đau/ anh và em/ và những năm tháng cũ nhàu…/ những chân dung tự hoạ/ những chân dung không màu đầy dập xoá/ tình yêu phác lên bất lực chính mình. Có lẽ không chỉ riêng Tuyết Nga mới có những phác thảo chân dung như thế. Con người, đằng sau những thành công hay thất bại đều phải thừa nhận với chính mình, với nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn ấy, nỗi đau ấy có thể kiệt cùng là cái chết. Nhưng con người rất cần những lời ru cho đời bớt đi hưu quạnh. Trong bài Dòng sông đã chảy, thi làm một cuộc lãng ru viếng thăm người thân ở thế giới vĩnh hằng. Hãy nghe lời chị ru người đã khuất:
“Hãy yên nghỉ hỡi trái tim khổ ải/ ngoài kia sao sa/ ngoài kia gió xoáy/ người em yêu cạnh người yêu em/ nhưng em đã kiệt cùng sức lực/ hãy yên ngủ đáy mùa thu thăm thẳm/ đáy mùa thu mây trắng vĩnh hằng… Nhưng cuối cùng, lời ru đời, ru chính bản thân mình mới trở về thực tại. Có nỗi đau nào mà lời ru không tới? Nhưng có lời ru nào làm sẽ làm nguội những nỗi đau? Nơi vĩnh hằng xa xăm lắm, nhưng mùa thu và những nỗi đau vẫn mãi còn với con người. Câu thơ đưa người đọc đi vào cõi nhớ, nhưng lại đưa người đọc trở về với thực tế phũ phàng. Rất may, vẫn còn bao khúc ru đời, nâng bước con người trở về bến trần gian. ở đó có cỏ cây lay thức và sự sống trở về:
“… Nhịp đập cuối cùng lay dậy ban mai/ giọt máu cuối cùng thắm lại xanh rêu/ thôi em… thôi em/ dòng sông đã chảy/ ru em… ru em…/ mặt trời không tuổi/ thôi nào trái tim…”
Dẫu nói vậy, nhưng tôi biết con tim của tác giả vẫn khóc. Dẫu nỗi đau có hoá vào cảnh vật, thì sự hiển hiện của nó vẫn còn đó, ẩn trong tiềm thức của mỗi con người. Nỗi đau ấy, ai có thể gọi thành tên?
Tuyết Nga đã từng nói về nỗi đau như thế. Chị không mô tả nó. Nhưng chị chỉ ra sự hiện diện của nó trong mỗi con người. Không bao giờ nỗi đau rời bỏ con người:
“… Nỗi đau không qua như xúi quẩy của một ngày/ nỗi khổ không qua như rủi ro phút chốc/ hạnh phúc như trái ở trong cây, tình yêu như lá rơi vào đất/ mặt trời ngày ngày cặm cụi trước hiên…” (Xem vở kịch câm “Người đi ngược chiều gió”).
Trong tâm thế là người hành khất gom về những nỗi đau, chị nhặt được những ánh mắt của trẻ em khiếm thị đang khát khao được thấy bầu trời mơ ước, khát khao được biết sự nồng hậu trong trái tim của mỗi con người:
“… Không có một ngày thử nhìn bằng đôi mắt em/ tôi đâu biết con đường chỉ dài tới nơi bàn chân mình chạm tới/ Lòng vô cảm nghĩa là ngày đã hết/ mặt trời có lúc xanh xao…” (Mắt)
Trong hành trình đi giữa bến mơ, qua làn sương ảo của ký ức, niềm đau và sự cô đơn, Tuyết Nga đã đưa người đọc tới cõi thực với bao nỗi lo toan bộn bề mà con người phải bận tâm trong cuộc sống hàng ngày.
Tôi cũng đồng ý với chị, rằng “Thời gian xô con sóng về đâu?/ lùi vào lãng quên đại dương bất lực/ rồi một mai ngôi nhà đang xây kia sẽ lại là di tích/ ta cũng thành một quá khứ xa xăm…” (Viêt sở phố Hiến), nhưng những khát vọng có được một giấc mơ trở thành hiện thực lại không dễ bao giờ.
Thôi thì, con người cứ khát vọng, bởi đó là điều thúc đẩy, nâng bước cho những ước mơ. Sẽ có một ngày, không chỉ riêng gì chị, mỗi chúng ta lần giở từng trang ký ức, xếp đặt và xoáy như một hình khối ru bích, mà ở mỗi chiều là một khoảnh khắc tâm linh. Có khối ru bích nào cất giữ và thể hiện được, xếp đặt được những lớp lang của ngăn kéo ký ức không? Bất chợt, tôi nhận ra mình cũng có những nỗi niềm như chị, khi “thèm đóng gói được mùi đất ải cánh đồng hoàng hôn chim ngói bời bời/ đóng gói được con đò uể oải/ cả lối mòn phơ phất bóng cau…”. Rồi thời gian sẽ đi qua, và “mái cổ ngõ nhỏ hương cốm thơm sương vỉa hè lá đổ/ ngút ngát chiều heo may…/ cổ vật lòng ta mai sau/ mai sau…” (Nhật ký cuối thế kỷ)
Những trang nhật ký đời người sẽ được còn ghi mãi mãi. Nhưng thiếu đi các bức hoạ tiết chân dung những số phận con người trong niềm đau và sự cô đơn với khát vọng được cảm nhận con tim không mù loà lại là điều trân trọng. Rất may, đi từ cõi ảo, Tuyết Nga đã đưa người đọc trở về thế giới thực trong nỗi niềm yêu thương, trăn trở… Đi qua thế giới của yêu thương, hờn giận, vui buồn, âu lo, trăn trở trong thơ Tuyết Nga, ta sẽ gặp một thế giới của đức tin - nếu con người thực sự sùng đạo - đạo của lòng vị tha, tin cậy và bao dung, nhân ái. Điều đó rất cần không chỉ riêng cho người cầm bút, mà cho tất cả mọi người.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,