📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Suy ngẫm về nghệ thuật

0 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
Suy ngẫm về nghệ thuật

Huy Cận (lý luận phê bình)

Lao động nghệ thuật



Nếu như lao động sáng tạo ra con người, thì lao động nghệ thuật sáng tạo ra con người nghệ sĩ...Người nghệ sĩ phải tự tạo luôn luôn thì mới sáng tạo được tác phẩm. Tự tạo bằng cách, tự nhào nặn mình trong cuộc sống, qua hành động, và cũng tự nhào nặn thường xuyên qua lao động nghệ thuật nữa. Chính lao động nghệ thuật ấy tiếp tục sáng tạo ra nội dung, sáng tạo ra tâm hồn. Không phải rằng lúc ta đến bàn viết, lúc ta vào xưởng vẽ là ta đã có sẵn, hoàn chỉnh, tác phẩm trong đầu và chỉ còn cái việc thể hiện ra bằng tay vẽ, tay viết. Làm như là đã mang sẵn tác phẩm trong tâm trí và chỉ việc Phiên dịch ra bằng ngôn ngữ nghệ thuật, bằng chữ hay bằng nét vẽ hoặc màu sắc! Trăm lần không phải như vậy! Lúc anh ngồi vào bàn hay vào xưởng, anh chỉ mới có cái "khung", chỉ mới có một niềm xúc động.Nhưng anh còn phải lao động đổ mồ hôi để cụ thể hóa niềm xúc động ấy, để cho niềm xúc động ấy đầu thai vào những hình tượng, thành những hình tượng. Anh còn phải vật lộn trầy xương với cái vật chất của chữ, của vật liệu, của đường nét, của màu sắc, của âm thanh, làm cho cái vật chất ấy chịu nói cái tâm hồn mà anh cảm thấy đang hình thành, mà không có vật chất ấy thì cái tâm hồn kia cũng không hình thành được. Lúc anh ngồi vào bàn hay vào xưởng, anh không phải chỉ sáng tạo nội dung ( đây là nội dung máu thịt, cụ thể của tác phẩm) trong quá trình vật lộn với hình thức, nghĩa là trong quá trình lao động nghệ thuật. Rất nhiều khi đó là một cuộc vật lộn gay go đổ mồ hôi, sôi nước mắt; nhưng phần thưởng lại vì thế mà cao hơn, sức sáng tạo tâm hồn lại mạnh hơn.

Một nhà phê bình về nội dung và hình thức nghệ thuật thường đơn giản hóa vấn đề đi, không thâm nhập vào quá trình biện chứng của việc sáng tạo nghê thuật, cho nên không bắt được phép biện chứng của sự sáng tạo.

Yêu thay Nguyễn Du (theo người ta kể) trăm lần viết lên cánh cửa những câu thảo của Truyện Kiều, xóa đi, chữa lại. Yêu thay Mi- ken Lang- giơ (Michel Ange) đêm trước ngày chết còn cầm búa nặng đục vào đá cho bật ra tâm hồn!



Tượng đầu người bằng hòn bi.



Năm 1961, rồi năm 1968 tại Nhật Bản, và năm 1969 tại ý tôi đã có dịp xem triển lãm mỹ thuật "mô đéc". Trong các cuộc triển lãm tạo hình ấy, tôi đã sửng sốt thấy những tượng người vai u thịt bắp, nhưng cái đầu lại teo bằng hòn bi. Một hòn bi, không hơn không kém. Cơ thể con người chỉ còn là một đống thịt cuồn cuộn, nhưng đờ đẫn. Tôi có cảm giác ớn lạnh trước những pho tượng ấy, như cái cảm giác bị một tai nạn đang đe dọa mình. Như đứng trước một thiên tai dữ dội sắp xẩy ra đè nén con người. Tôi hỏi người hướng dẫn viên: "Tôi không hiểu". Một chị hướng dẫn viên khác nói liều "Con người hiện đại đó". Tôi thì tôi nghĩ: đây là thứ nghệ thuật dao động, dao động trước những bế tắc của thế giới tư bản ngày nay. Bế tắc, không tìm được lối ra, rồi biểu hiện sự từ chức của con người, sự hàng phục của con người. Đầu bằng hòn bi thì đâu còn tư thế của con người. Con người rút lui, chỉ còn đống thịt đờ đẫn. Nghệ thuật bi qua tột độ, nghệ thuật phản bội con người. Chúng ta những nghệ sĩ nhân bản, chúng a phải đánh lùi thứ nghệ thuật bủn rủn và độc hại ấy. Nghệ thuật của chúng ta phải là bản anh hùng ca của thời đại ca ngợi sự nghiệp của con người trong công cuộc chinh phục vũ trụ và xây dựng cuộc sống tốt đẹp trên mặt đất.



Văn chương là tiếng chim gọi đàn



"Văn chương là tiếng chim gọi đàn", các cụ xưa, cha ông xưa đã thấy sâu sắc chức năng của văn nghệ qua câu nói trên mà tôi được đọc từ hồi nhỏ trong một bài luận về văn chương của Phan Kế Bính. (Phan Kế Bính trích dẫn lời của người xưa). Tiếng chim gọi đàn...Đúng rồi, văn chương nảy sinh ra giữa tập thể, giữa đàn, giữa xã hội loài người. Và tiếng nói ấy là để gọi nhau, gọi đàn, để tập hợp lực lượng, nhất là những khi phải vượt qua gió bão. Và phải là tiếng chim, tiếng hay như thế nào thì mới gọi đàn được. Và phải nhận thức ra điều gì mới cần gọi đàn, mới có thể gọi đàn.

Xem thế mới biết cha ông chúng ta chưa bao giờ xem văn chương là một chuyện phù phiếm, "mua vui". Không! Văn chương đối với các cụ xưa là một chuyện nghiêm trang, "một phép xử thế".

Chúng ta ngày nay có dịp tiếp xúc với nhiều lí luận văn nghệ của các nước xã hội chủ nghĩa, của cả phương Tây, điều ấy rất bổ ích cho sự nghiên cứu, tìm tòi của chúng ta. Nhưng thiết tưởng cũng cần tìm hiểu thêm những suy nghĩ, những tổng kết của cha ông về văn học, nghệ thuật. Chả lẽ bụt chùa nhà thì cứ phải kém thiêng!





Thơ ca di dưỡng tinh thần.



Các cụ ta ngày xưa thường nói "thơ ca di dưỡng tinh thần". Đúng lắm! di dưỡng, nuôi tâm thần người ta, không chỉ là đem lại cho ta những nhận thức đúng về con người, về xã hội, về thế thái nhân tình, về thiên nhiên tạo vật; và cũng không chỉ giúp ta những ý đúng, những ý nghĩ độ lượng về cuộc sống, về con người, và không chỉ gợi cho ta cái đẹp. Tất cả những điều đó đều là hiệu quả của thơ ca. Nhưng bao trùm các điều đó, hay đúng hơn là mạch ngầm trong các điều đó là một trạng thái tâm hồn, hơn thế nữa, một trạng thái tâm thần và có thể cởi mở, thư thái mà sôi nổi, hào hững mà lắng trong, một trạng thái toàn diện trong đó ý và tình đều như đang sinh ra, đang nhú lên, tình đang đọng thành ý, ý còn mang tất cả cái rung động của tình, một trạng thái tinh khôi, sáng tạo. Tâm thần được nuôi nhiều bằng những trạng thái ấy. Đúng là một chất di dưỡng cho tâm hồn. Có cái gì giống như là trái đang chín cây, chứ không phải chín dú. Trạng thái đang chín đó đã truyền từ tâm hồn người làm thơ, qua cơ thể bài thơ, câu thơ, Bởi một bài thơ hay là một cơ thể sống trong đó ý và tình, cảm giác và cảm tưởng chữ và nhịp, hình tượng và nhạc điệu, tất cả đều tồn tại trong một thể thống nhất, gây thành một xúc động thống nhất, toàn diện. Tóm lại là một hiện tượng của sự sống, không phải là một sơ đồ. Hiện tượng ấy là một hiện tượng cởi mở, đón chờ, đang chín, thuận cho mọi sự thai nghén, tụ thành.

Cho nên có những điều kì lạ, tưởng như mâu thuẫn, lúc nhà thơ đang làm thơ và lúc độc giả đang đọc thơ, đang hưởng thơ. Ví dụ: làm hoặc đọc một bài thơ về đau khổ, về nỗi dằn vặt của tâm hồn, hay nung cháy tâm can. Theo lí luận thông thường thì lúc đó nhà thơ hay người đọc thơ phải ở trạng thái đau khổ, dằn vặt. Nhưng không! nhà thơ làm thơ về đau khổ trong một trạng thái tâm hồn hào hứng, trong một trạng thái trái đang chín cây. Người đọc thơ được dinh dưỡng tinh thần với trạng thái ấy, mặc dù người làm thơ có thể mang nỗi đau khổ trong đáy tâm hồn mình.





Rung động thơ



Rung động làm ra thơ, làm ra nghệ thuật, cũng cùng loại với rung động của tình yêu. Bắt đầu yêu là một niềm xao động, bắt đầu của một tứ thơ cũng là một nỗi niềm, mà tôi muốn gọi là nỗi - niềm- tình- vân. Bắt đầu chưa có câu, chưa có lời, thậm chí chưa có tứ cụ thể. Câu sẽ đến sau, lời sẽ đến sau. Nhưng trước hết là một nỗi niềm ùn ùn trước ngực, rạo rực tâm hồn. Bắt đầu là tinh vân, tinh vân đọng lại mới hình thành mặt trời, mặt trăng và các hanhftinh...Từng câu, từng lời cũng như những hành tinh, mặt trời, mặt trăng đọng lại từ tinh vân nguyên thủy.

Thưởng thức thơ là phải biết sống lại quá trình ấy, quá trình từ nỗi- niềm- tinh- vân đọng lại dần thanhfh từng ý, từng lời, từng câu, từng chữ. Biết sống lại quá trình tác tạo ra một bài thơ là "hiểu", là xúc động thơ từ bên trong một cách biện chứng. Cho nên người thưởng thức thơ ít nhiều cũng có hồn thơ như vậy.

Nói nỗi- niềm- tinh- vân, có phải là huyền bí hóa rung cảm thơ, của người làm nghệ thuật không? Thực ra không có gì là huyền bí vì nỗi -niềm- tinh- vân ấy cũng là do một quá trình tích lũy lâu dài của người làm thơ, của người làm nghệ thuật mà có được; tích lũy vốn sống và cuộc sống, tích lũy hình tượng nó là tín hiệu sống, giữa vạn vật và cuộc đời với tâm hồn thi sĩ và nghệ sĩ. Tích lũy càng giàu, càng nặng thì nỗi- niềm- tinh- vân càng phong phú, càng thiên biến vạn hóa, và xúc động thơ, xúc động nghệ thuật càng muôn vẻ, muôn màu, bời hồi sự sống. Hiểu được như vậy sẽ giúp ta giảng dạy văn học đi vào bể sâu của tâm hồn, và bể sâu của tác phẩm.



Vai trò của trạng từ trong câu thơ.

Trong câu thơ, mỗi chữ, mỗi tiếng không chỉ mang cái nghĩa nguyên sơ của nó, cái nghĩa định trong từ điển của nó, mà thấm nhuần cái sức xúc cảm của chữ bên cạnh, của chữ láng giềng; chữ trước nó và chữ sau nó để tỏa diện vào nó, biến nó thành một nghĩa mới, mang xúc cảm mới. Đây không phải là một vấn đề hình thức mà thôi. Sở dĩ có hiện tượng truyền điện như vậy là có một luồng điện, tức là ý thơ, hồn thơ nó chạy suốt qua câu thơ.. Vì vậy trong một câu thơ có một độ tối ưu để sắp xếp các chữ, các ý. Nếu tham nhét nhiều thứ quá, nhiều tính từ quá vào một câu thơ thì tăng điện trở, tăng chướng ngại vật, luồng thơ không qua được. Cũng vì vậy mà trạng từ có vai trò đặc biệt, trạng từ có sức dẫn điện cao. Vì sao? Phải chăng trạng từ nói lên dáng dấp của sự vật, dáng dấp của tâm hồn. Mà cái dáng dấp ấy linh hoạt lắm. Khéo dùng trạng từ thì câu thơ dễ truyền đạt cho ta trạng thái tâm hồn thông qua trạng thái sự vật.

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuốn ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Nao nao, sè sè, rầu rầu, vẽ lên dáng dấp rất khó tả của buổi chiều thanh minh và nàng Kiều lần đâu tiên gặp bóng dáng của số mệnh:

Dộng phòng dìu dạt chén mồi

Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.

Hai tiếng bâng khuâng, Ngậm ngùi có thể là tính từ, nhưng thực chất là trạng từ. Nếu tính từ thì cũng đã trạng từ hóa. Dáng dấp của tâm hồn chàng Kim nhớ mối tình đầu với nàng Kiều trong buổi sum vầy trở lại "tình nhân lại gặp tình nhân", chỉ cần ba trạng từ là nói được đầy đủ.

Dáng dấp của một hồn ma cũng vẽ được dễ dàng:

Sương in mặt, tuyết pha thân

Sen vàng lảng đảng như gần như xa

Trạng từ thật là chiếm ưu thế để mô tả dáng dấp sự vật và tâm hồn, đến nỗi trong câu thơ Việt có xu hướng trạng từ hóa tính từ:

Cỏ non xang rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Nhân đây có một nhận xét: Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du rất tiết kiệm dùng tính từ; không phải là không dùng, nhưng dùng rất dè dặt, rất cẩn thận, rất tiết kiệm. Trái lại trạng từ lại được dùng nhiều. Cũng có khi đáng lẽ dùng một tính từ thì Nguyễn Du mô tả dưới dạng động của sự vật. Ví dụ:

Sương in mặt, tuyết pha thân

để nói cái màu trắng thực thực hư hư của hồn ma Đạm Tiên.

Làn thu thủy nét xuân son

cũng theo một bút pháp ấy.

Nhớ câu ca dao:

Mưa lâm thâm ướt đầm lá hẹ

Em thương một người có mẹ không cha

Trạng từ lâm thâm thấm vào tâm trạng chúng ta còn hơn là mưa.

Dáng dấp của sự vật, tâm hồn...Cho nên dùng trạng từ rất khó. Nhưng dùng đúng thì hiệu quả xúc cảm vô cùng lớn lao.



Không gian và thời gian trong một câu thơ.



Không gian và thời gian là hai bề của sự vật, là kích thước của sự sống. Nghệ thuật biểu hiện sự sống, tái hiện sự sống làm sao mà không dựng cái khung không gian và thời gian lên được, để chứa đựng sự vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi nảy nở. Cho nên nói cho cùng, câu thơ nào (đáng gọi là thơ) cũng chứa đựng không gian và thời gian. Có câu chỉ gợi không gian, có câu chỉ gợi thời gian và có những câu trong đó không gian và thời gian bát ngát. Những câu thơ thoáng gió những câu thơ mở rộng cửa tâm hồn.

Trên trời có đám mây xanh

ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng

Ước gì ta lấy được nàng

Thì ta mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Không gian bát ngát và màu sắc tươi vui: có chút thời gian gợi lên trong tâm tưởng:Ước gì ta lấy được nàng"...Thời gian của niềm mong ước, kín đáo chảy trôi, thêm bề sâu cho bầu trời kia và hồ bán nguyệt nọ.

Có thương nhau thì thương nhau cho chắc

Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn

Đừng làm chi như con thỏ dầu truông

Khi vui dỡn bóng, khi buồn dỡn trăng.

Không gian thì đã rõ ràng. Còn thời gian? ấy là khi vui, khi buồn. "Khi vui dỡn bóng, khi buồn dỡn trăng": Thời gian mà lại minh họa bằng không gian; thời gian trập trùng thấp thoáng nơi bóng với trăng, và thấp thoáng trập trùng trong tâm tưởng nữa. Câu thơ trở nên vô cùng khoáng đạt. Con thỏ đầu truông tưởng như nhảy múa thênh thang trong cả khoảng trời mênh mông tràn ngập ánh trăng. Và vì vậy mà nỗi buồn của người tình trong câu ca dao mới thật là vời vợi, vừa trng vừa lạnh, đau buốt vô cùng.

Nửa năm hương lửa đang nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Thời gian và không gian trong câu Kiều này thật say đắm và hào hùng như mỗi tình và khí phách của Từ Hải.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Trong bốn câu thơ trên đây của Hồ Chủ tịch, không gian và thời gian trùng trùng điệp điệp, lồng vào nhau, và vì thế sự "lo nỗi nước nhà" càng canh cánh bên lòng tác giả và độc giả.

Động phòng dìu dặt chén mồi

Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.

Không gian gợi qua, nhưng thời gian mới thật là sống, thời gian của duyên mới tình xưa, cái bát ngát đó lấy gì mà đo được! Tình cảm được vun tưới bằng một thời gian mà mạch dào như suối, không sao tắt được.

Không gian và thời gian trong câu thơ, trong một bài thơ và nói chung trong mọt tác phẩm nghệ thuật vừa là máu thịt, vừa là cái áo của tác phẩm. Khéo gợi không gian và thời gian thì tứ thơ, tứ nghệ thuật có chỗ thở, có mạch sống. Không biết gợi thì ngột thở, chết héo, tàn lụi cả hồn thơ.



Hai cực của một câu thơ.



Con người sống trong vũ trụ và sống trong xã hội. Sống với vũ trụ và sống với xã hội. Một thành viên của vũ trụ và một thành viên của loài người. Mỗi con người trong bản thân mình sống cả quy luật của vũ trụ và quy luật của loài người. Hai cực của cuộc sống, hai cực của tư tưởng, hai cực của nghệ thuật, của thơ.

Sáng được quy luật của xã hội giúp ta sáng thêm quy luật của vũ trụ: điều này dần dà ta hiểu sâu thêm.

Nhưng đừng quên điều bổ sung quan trọng này: sáng được quy luật của vũ trụ cũng giúp ta sáng rõ thêm quy luật của loài người. Duy vật lịch sử làm sao mà không liên quan đến duy vật biện chứng được?

Cảm quan về vũ trụ và cảm quan về xã hội là hai cánh cửa ủa thơ, không thể bay bằng một cánh.

Sống đúng trong xã hội, ta không còn cảm thấy cô đơn trong vũ trụ bao la. Khi thực hiện được cái tập thể loài người trong ta, thì ta có chỗ đứng của ta trong bầu trời, không còn choáng ngợp, không còn run chân. Nhưng vẫn còn (và nên còn) cái cảm giác lồng lộng cái vô cùng của sự sống ở chật cả không gian và thời gian.

Cảm quan về vũ trụ và cảm quan về sự sống và cuộc sống nhuyễn quyện vào làm một. Thơ là cái này, là cái nọ, nhưng chắc chắn thơ cũng là ánh chớp, là sự sáng bừng của cảm quan toàn diện ấy

Gió đưa hoa cải về trời

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay

Nhớ lại tuổi nhỏ ở quê nhà, những buổi chiều sơn cước, nhớ vườn cải với những con ong làm cho hoa bay trong trời xanh. Cảm giác vũ trụ rưng rưng nơi những cánh hoa vàng lấm tấm quyện với cảm thụ cay đắng về cuộc đời..."Rau răm ở lại chịu đời đắng cay"



Trí nhớ trong sáng tạo văn học.





Trí nhớ cũng cần cho sáng tạo văn học, vì trí nhớ là tích lũy, tích lũy vốn sống, chất liệu của nghệ thuật, của thơ văn. Phải trau dồi trí nhớ. Sổ ghi chép là cần thiết, nhưng không đủ, nếu không có trí nhớ làm gốc. Phân tích đến cùng, nghệ thuật dựa trên trí nhớ của con người hưởng thụ (độc giả, khán giả). Có hai loại trí nhớ cần cho văn học, hay đúng hơn là hai cách nhớ: Một là nhớ các sự việc, chi tiết của sự việc, có khi cả chi tiết tỉ mỉ, màu sắc đường nét. Gần như một thứ trí- nhớ- chụp- ảnh, nhưng bên cạnh loại trí nhớ đó, còn cách nhớ trong trạng thí tâm hồn của chính bản thân tác giả lúc sự việc (mà ta ghi chép vào sổ tay) đang xẩy ra. Nhớ nỗi niềm xao động trong lòng tác giả, nhớ trạng thái tâm hồn, nhớ những xúc động trong lòng tác giả, nhớ những xúc động.Có khi không cần ghi chép, và không ghi chép được, nhưng mà sống mãnh liệt, sâu sắc xúc động, trạng thái ấy. Có lẽ cách nhớ thứ nhất cần nhiều cho người viết tiểu thuyết, và cách nhớ sau cần cho người làm thơ nhiều hơn. Thật ra nhà tiểu thuyết cũng cần nhớ những trạng thái tâm hồn. Còn lúc làm bài thơ là lúc phải sống lại đầy đủ xúc động của tâm hồn. Nghĩa là vận dụng một thứ trí nhớ nóng, không đẹp như những lá ướp khô làm tiêu bản cho nhà thảo mộc học.

Cũng vì một lẽ tương tự mà chỉ có thể làm thơ tình yêu vào lúc đang yêu, kể cả lúc làm thơ hoài niệm về tình yêu, vì lúc hoài niệm là còn yêu, là yêu nuối, là ngọn lửa tình yêu bừng dậy một lần nữa, có thể để rồi tắt ngóm. Khó tưởng tượng một nhà thơ làm thơ tình yêu bằng cách mở các "kí họa" về tình cảm mà nhà thơ đã ghi chép được trước đây, mà bây giờ sắp xếp lại. Làm thơ anh hùng ca có chỗ khác. Nhưng cũng phải vận dụng cả trí nóng, trí nhớ sống. Nhưng trạng thái xúc động tâm hồn thì thơ anh hùng ca mới có khí, mới liền mạch, mới xúc động được lòng người, rèn luyện trí nhớ nói cho cùng là tích lũy vốn sống một cách cần mẫn, làm cho quá khứ luôn luôn sống trong cơ thể, trong tâm hồn.



Sự đầu thai của một tứ thơ.



Sự đầu thai của một tứ thơ vào một thể loại thơ, vào những hình tượng thích ứng, đó là một quá trình hào hứng và rộn rực, có khi dằn vặt. Một quá trình có qui luật của nó. Không phải tứ thơ nào cũng có thể khuôn vào bất cứ hình thức, thể loại nào. Trong đời sống làm thơ của tôi, có mấy lần tôi phải thay áo cho thơ, phải đổi thể loại thì tứ thơ mới bật ra được.

Ví dụ: bài Đẹp xưa trong tập Lửa thiêng lúc đầu làm theo thể đường luật:

Ngập ngừng mép núi đường quanh co

Quán đứng trơ vơ ngọn lá đưa

Gió hút về ngàn vi vút mãi

Dạt sườn thung lũng hàng lau thưa...

Đọc nhám mãi, thấy còn nhẹ quá, có cái gì hẫng, không đạt được cái đẹp xưa trong cảnh sắc tâm hồn à tạo vật. ý thì không có gì thay đổi nhưng điệu thơ, âm hưởng của câu thơ thì thử phổ lục bát xem sao:

Ngập ngừng mép núi quanh co

Lưng đèo quán dựng, mừa lò mái ngang.

vi vu gió hút nẻo vàng

Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao

Dừng cương nghỉ ngựa non cao

Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon...

Di rồi khuất ngựa sau non,

Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch liêu

Trơ vơ buồn lọt quán chiều

Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người.

Rõ ràng là trong trường hợp này, lần đầu thai sau đúng chỗ hơn: bài lục bát thơ đọng hơn bài đường luật.

Bài Tràng Giang trái lại, lúc sơ khai lại muốn là một bài lục bát và tên nguyên thủy của nó là Chiều trên sông. Nhưng cái nhịp điệu Đường luật đến ám ảnh ngay sự xúc động của tác giả và đặc biệt cái nhịp láy của sóng nước, của thuyền nan đã đầu thai ngay thành nhịp láy của ngôn ngữ.

Sóng gợi Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

và cái xao động của cảnh chiều, của sông nước nhập thành cái xao động của cuộc đời. Bài thơ tưởng là tả cảnh, thật sự là tả tâm hồn, mang ý nghĩa tượng trưng rất tự nhiên, bằng cái lô gic bên trong của nó.

Sóng gợi Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng



Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiễng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng bến cô liêu.



Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cần gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng



Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Xác và hồn, hồn và xác của một bài thơ quyện nhuyễn vào nhau làm một. Khi ta đụng vào xác, sửa đổi một tí trong xác làm ảnh hưởng đến hồn của bài thơ, ấy là một dấu hiệu của thành công. Còn như thay đổi vần điệu, câu chữ, thậm chí thay đổi cả thể loại mà cảm thấy hồn thơ, tứ thơ không bị ảnh hưởng gì, thì đó là một điều đáng lo.

Nội dung quyết định hình thức, có nghĩa là phải tìm cho ra hình thức thích ứng để cho nội dung đầu thai thành máu thịt của tác phẩm, chứ không có nghĩa xem nhẹ sự sáng tạo hình thức. Không có hình thức đẹp thì lấy đâu cho nội dung đẹp tồn tại! Xin nhớ rằng nội dung của tác phẩm nghệ thuật không chỉ là ý, mà là cả một tổng thể xúc động của tác phẩm.





Nguyễn Du và Đỗ Phủ



Chưa ai nhắc đến tính bà con, thân thuộc giữa thơ Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ. Nguyễn Du như mọi nhà thơ xưa của ta chịu sâu sắc ảnh hưởng của thơ đường (Trung Quốc), điều ấy không có gì đáng nói lại. Nhưng điều đặc biệt là thơ Nguyễn Du gần thơ Đỗ Phủ. Điều ấy thấy được trong thơ Truyện Kiều, trong Văn chiêu hồn, và trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Tấm lòng ưu ái đối với con người, sự lo lắng cho thân phận của con người cùng một âm hưởng xót xa trong tâm hồn của hai nhà thi hào. Nôi cơ cực cụ thể của những con người cụ thể, đói rách, tủi nhục, cay đắng, dưới chế độ phong kiến hà khắc tất cả những quằn quại, da diết ấy đều được nói đến một cách phẫn nộ hoặc chua chát trong thơ Đỗ Phủ và thơ Nguyễn Du. Gọi đó là thơ hiện thực chăng? Cũng được nếu ta định nghĩa hiện thực là phản ánh thực tại của cuộc sống xã hội của một thời nhất định. Gọi đó là thơ nhân ái, xét về nội dung, có lẽ thích hợp hơn. Gọi gì thì gọi, điều quan trọng là trong thơ Nguyễn Du ta nghe mạch đập của cuộc đời, ta thấy được thân phận của con người giữa ba đào của thời đại..

Nguyễn Du nhà thơ tài hoa, hào hoa phong nhã, lại đi gần những cay đắng cuộc đời, gần gũi với những thân phận thấp hèn trong xã hội, và cũng sẵn lòng để cảm thông với những kiếp lỡ làng. Nếu thử so sánh thơ Nguyễn Du và thơ Đỗ Phủ với thơ Lý Bạch thì ta thấy nổi bật tấm lòng ưu ái xót xa của Đỗ Phủ và của Nguyễn Du, Lý Bạch tài hoa, Nguyễn Du cũng tài hoa nhưng tấm lòng đau đời của Nguyễn Du và của Đỗ Phủ rõ ràng là nặng đòn cân hơn trong tác phẩm.





Thơ trí tuệ



Sáng tác thơ cũng như sáng tác mọi nghệ thuật khác đều đòi hỏi vận động của trí tuệ song song với sự nung nấu của tâm hồn, của tư tưởng và tình cảm, với sự trau dồi cho cảm xúc nhọn sắc nữa. Nhưng co vì vậy mà quan niệm ra có một loại thơ trí tuệ không? Thế nào gọi là Thơ trí tuệ? Theo tôi nên xóa từ này đi trong những khái niệm về văn học. Thơ là thơ, và thơ bừng lên một xúc cảm tổng thể nó làm rung động cả trái tim ta, cả trí óc ta, cả cơ thể ta nữa. Tình cảm, tư tưởng, cảm giác đều xao động trong một rung động thơ; và có như vậy thơ mới sống được, thơ mới là thơ; có cảm xúc tổng thể đó mới giúp nhà thơ trong sự cố gắng truyền được nguyên bản của cuộc sống chứ không phải chỉ là phiên bản, không chỉ là bản dịch (dịch sự vật thành ra khái niệm mà thôi)

Nói thế không phải là trong thơ không có yếu tố trí tuệ. Trong sự xúc cảm tổng thể của thơ, có sự rung ảm của trí tuệ. Thơ có thể, và nên chứa đựng tư tưởng, những tư tưởng lớn nữa, nhưng tư tưởng ấy phải thật sự bật lên từ máu thịt của cuộc đời, từ máu thịt chứ không phải từ một sự nặn óc của nhà thơ để gọi là có tư tưởng. Điều này thật ra cũng dễ thấy thôi, thấy đâu là tư tưởng thật bật lên từ cuộc sống và đâu là "tư tưởng" nặn óc mà ra. "Đau đớn thay phận đàn bà"! Tiếng kêu thương ấy thốt lên hai lần (một lần trong truyện Kiều và một lần trong Văn chiêu hồn) là một tư tưởng lớn, chứa đựng một cảm nghĩ lớn về thân phận con người, về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Nhưng rõ ràng tư tưởng ấy, cảm nghĩ ấy toát lên một cách hết sức tự nhiên, không cưỡng được, từ máu thịt cuộc đời, từ cảnh ngộ của nàng Kiều bảy nổi ba chìm mà tác giả đã truyền cho ta với cả niềm xúc động, bồi hồi, da diết.

"Đau đớn thay phận đàn bà"

Ta không còn nghe đây là tư tưởng, là suy nghĩ của tác giả nữa, mà là tiếng kêu thốt lên của nhân vật ấy, của cảnh ngộ ấy, của chính cuộc đời. Thơ Nguyễn Du chứa đựng những tư tưởng lớn, nhưng có vì vậy mà ta gọi đó là Thơ trí tuệ không?

"Trong đời muôn vạn điều cay đắng

Cay đắng chi bằng mất tự do"

Hai câu thơ ấy của Hồ Chủ tịch chứa đựng một tư tưởng lớn, là một tư tưởng lớn, nhưng ai nấy đều thấy tư tưởng lớn ấy toát lên một cách rất tự nhiên không những từ bài thơ, mà từ máu thịt của cả cuộc đời của dân tộc ta, của nhân dân ta. Chắc chắn không ai gọi hai câu thơ trên của Bác Hồ là thơ trí tuệ.

Trở về vẫn đề thật, ấy là: rung cảm từ cuộc đời, từ cuộc sống, từ máu thịt của cuộc sống thì mới thật sự có tình cảm lớn lớn và tư tưởng lớn bật lên trong thơ. Tư tưởng và tình cảm lớn lúc bấy giờ như nhụy của hoa thơm, nhụy sống của hoa sống, chứ không phải nhụy vờ của hoa giấy. Thơ trí tuệ ư? Thế nào là thơ trí tuệ? Từ nay theo tôi nghĩ, nên xóa khái niệm ấy trong văn học, vì nó gây một nhận thức nhầm lẫn về thực chất của thơ.



(Phụ bản Thơ- Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0