📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Trần Huyền Trân - nhà thơ “vẩy bút làm mưa gió”

1 trả lời, 729 lượt xem — Trang 1 / 1
Trần Huyền Trân - nhà thơ “vẩy bút làm mưa gió”

Lưu Khánh Thơ

Khác với rất nhiều thi sĩ theo đuổi đến tận cùng thi nghiệp của mình trong 76 năm hiện diện trên dương thế, Trần Huyền Trân (*) chỉ dành cho thơ độ bảy, tám năm, chủ yếu là từ 1939 đến 1946. Sau này, tuy thỉnh thoảng ông có viết một đôi bài thơ, nhưng sự nghiệp chính của ông từ 1945 trở đi, có lẽ gắn với lĩnh vực sân khấu nhiều hơn.

Dường như đó là một phần lí do để Tô Hoài vừa nhận thấy ở Trần Huyền Trân “Một hơi thở gồ ghề, lẫm liệt”, vừa nhận thấy trong sự nghiệp ông “bộ môn nào cũng tưởng như đang còn dở dang, chưa hẳn đã tỏ rõ đầy đủ khí thế có thật của anh, nhất là trong thơ. Nếu ai đã đọc thơ anh, dễ thấy có lẽ những bước nhảy vọt trên đường phát triển, anh chưa sửa soạn, chưa có khai phá mới, luôn luôn mới, trong khi thật sự sức mạnh sáng tạo của anh hơn thế nhiều”(1).

Tuy nhiên, tôi lại nghĩ hơi khác. Cái tinh anh của Trần Huyền Trân trong thơ đã phát tiết đúng độ của nó rồi. Cái tài hoa của thơ ông cũng đã đạt đến “cõi”. Cái bản sắc, giọng điệu riêng của ông cũng đã định hình. Khó có thể tìm ra căn cứ để nói rằng nếu ông không chuyển sang làm sân khấu, cứ tiếp tục sự nghiệp thơ ca của mình thì ông đạt đến những đỉnh cao sáng tạo khác, những thành tựu thơ ca lớn hơn thế. Tuy sáng tác không nhiều, nhưng ngay từ khi mới xuất hiện thơ Trần Huyền Trân đã “lọt mắt xanh” nhà phê bình Hoài Thanh. Trần Huyền Trân đã được đưa vào Thi nhân Việt Nam với lời đánh giá: “Viết đến đây tôi đã định khép cửa lại, dẫu có thiên tài đến gõ cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa! Trần Huyền Trân… Tôi đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió”(2).

Với những bài thơ đã có đủ để người đời biết đến ông bằng danh hiệu nhà thơ, đủ để lịch sử văn học ghi tên ông vào danh sách những nhà thơ có bản sắc trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Trong Tuyển tập Nguyễn Bính khi so sánh ba nhà thơ thuộc “hội tam anh”, chính Tô Hoài xác nhận: “ở trường thơ ấy, mỗi người đã thể hiện một phong cách độc đáo. Thâm Tâm và Trần Huyền Trân sừng sững và cũng cô đơn như gốc đa, như con đò một mình”. Cái chung giữa họ là tâm hồn, tù túng, bế tắc. Nhưng cái riêng giữa họ lại mỗi người một vẻ khác nhau: Thâm Tâm thường xúc cảm day dứt về những cuộc ra đi. Nguyễn Bính thường lưu luyến với cảnh xưa người cũ nơi thôn dã, quê mùa đầy tâm sự bi phẫn, u uất.

Đọc thơ Trần Huyền Trân, ta hay gặp những tâm trạng cảm khái:

Nhớ nhau vảy bút làm mưa gió

Cho đống xương đời được nở hương

(Lưu biệt)

Bút dầm biển mực chưa thành sóng

Đã phải cắm lòng khúc tráng ca

(Đôi ta)

Nhớ người, nhạt thếch rượu đời

Tay vo chỏm tóc, ta ngồi ta ca

Khóc nhau, ném chén tan tành…

Nghe vang vỡ cái bất bình

thành thơ!

(Độc hành ca)

Đằng sau tâm trạng cảm khái của ông không phải là những bùi ngùi, tiếc nuối thường thấy trong thơ cổ mà là những nỗi niềm u uất, những day dứt không nguôi về tình đời, tình người giữa một thực tại không thoả mãn. Đôi khi, ta thấy giọng thơ ông bi tráng, tiềm ẩn những tâm sự lớn, những nỗi ưu tư dằn vặt lớn. Có lúc, ta bắt gặp nhà thơ rầu rĩ trong đau khổ, tiều tụy trong cô quạnh và bần hàn. Nhưng nhiều lúc ta thấy ông như bừng tỉnh cơn say, trong chiều loạn “mỏi mòn chính khí lạc loài thơ” đã giác ngộ:

Nghĩa lớn ai mua bán chợ chiều

Dập vùi hoa lá biết bao nhiêu

Hãy cùng chiến địa chung trang giấy

Cất bút cho dòng chữ kiếm reo

(Chiều loạn)

Và khi đụng tới những vấn đề lớn của đất nước, Trần Huyền Trân đã có những câu thơ hừng hực hào khí:

Khói lửa bốc hoa tay kẻ sĩ,

Bốn phương về thảo chính khí ca

(Đi trên đường Hà Nội sau ngày Tuyên ngôn độc lập 1945)

Hãy tạm gạt sang một bên hơi thơ có vẻ cổ kính, ý thơ nhiều khi khác lạ để trân trọng một hồn thơ nhậy cảm và tài hoa. Hình ảnh trước tiên là hình ảnh của chính bản thân ông, một nhà thơ lầm lì, gân guốc, nhiều u uất và nhiều dự cảm. Ông hay bộc lộ tâm sự, hay độc thoại và có lúc ngơ ngác trước thời cuộc. Nhưng chưa khi nào ông tỏ ra ủy mị, yếu đuối. Ta luôn luôn thấy ở ông những nghiền ngẫm, những do dự, những băn khoăn về lẽ đời, lẽ người, những trăn trở về hành động những định liệu về các cuộc ra đi đến một nơi nào đó mà chính ông cũng còn chưa ý thức được một cách thật rõ ràng. Một loạt bài như Mưa đêm lều vó, Tha hương, Lưu biệt, Chiều mưa xứ Bắc gửi người xứ Nam… đã phần nào nói đến tâm thế ấy của nhà thơ. So với Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân ít làm thơ về tình yêu. Hình bóng những người tình trong thơ Trần Huyền Trân thường là hoài niệm về một tình yêu đã qua, mơ hồ, dịu nhẹ nhưng cũng không kém phần khắc khoải da diết.

Một mình nhóm lại nồi than

Tưởng còn bên lửa mấy bàn tay hơ

(Đêm trừ tịch)

Xa nhau gió ít, lạnh nhiều

Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh

(Tương tư)

Trần Huyền Trân cũng là một nhà thơ được nhắc đến trong nghi án văn học của T.T.Kh. Người ta nhắc nhiều đến Hai Sắc hoa tigôn mà ít biết rằng Trần Huyền Trân cũng có những câu thơ cùng mang một nỗi lòng một tâm sự với người thiếu phụ cô đơn:

Bây giờ năm tháng vô duyên quá

Em đã theo chồng bến cát xa

Đò đã sang sông chèo lái mới

Sao còn khua sóng mãi thơ ta.

(Trưa ấy qua rồi)

Bên cạnh khẩu khí và phong thái cao ngạo của thi sĩ đã bắt đầu chuếnh choáng hơi men giang hồ, thơ Trần Huyền Trân còn bộc lộ một thứ tình cảm ít thấy trong sáng tác của các thi nhân tiền chiến. Đó là tình bằng hữu và tình mẫu tử. Đằng sau hình ảnh tự hoạ của ông, là hình ảnh những người bạn cùng cảnh, cùng chí hướng. Gần gũi hơn cả là Nguyễn Bính và Thâm Tâm. Hình như họ kết bạn với nhau không chỉ vì tài hoa mà còn vì những tù túng đói nghèo, những kỉ niệm rau cháo trong lều tranh, xóm chợ. Chỉ riêng thơ tặng bạn, tặng người thân của ông đã “Bắc cả thiên thu một nhịp cầu”. Điều đáng quý là giữa hai phong cách thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm, Trần Huyền Trân vẫn giữ được một bản sắc riêng độc đáo. Thơ Trần Huyền Trân vừa phảng phất cái dư vị ngâm vịnh của người xưa, vừa gần gũi với đời thường. Có những lúc, ông hình dung ra mình được ngồi uống rượu với Tản Đà, để giao cảm với tiền nhân.

Cụ hâm rượu nữa đi thôi

Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu

Rồi lên ta uống với nhau

Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.

(Uống rượu)

Kể từ thời Thơ mới cho đến nay những câu thơ tả thực tâm trạng của con người thật như thế này cũng không phải là nhiều. Lại có những lúc, với một người đàn bà yêu thơ nào đó, ông bộc bạch:

Tim tôi chiếc lá dâu xanh

Tằm đời ăn rỗi trơ cành còn chi

(Thưa bà)

Những năm cuối đời, khi đã bước vào tuổi 70 Trần Huyền Trân vẫn có những câu thơ đẹp nói về đất nước mà hồn thơ ông đã suốt đời gắn bó: Cho xanh gốc tự do/ Cho xanh trời độc lập/ Cho bông hoa nhỏ nhất/ Cũng thơm suốt đời hoa/ Ngẫm người ta hoá đất/ Tưới nước mắt yêu thương / Thơ mang tình đất nước/ Vẫn vô tận nguồn hương.

Thời gian cuối đời, nhà thơ Trần Huyền Trân mắc bệnh hiểm nghèo. Ông nằm tiều tuỵ, nhỏ thó trên giường bệnh. Một tấm chăn mỏng đắp ngang bụng, che đi phần cơ thể phía dưới đã bị các bác sĩ tháo dần đi để duy trì mạng sống cho ông. Chỉ có cặp lông mày xếch và đôi mắt rất sáng là vẫn còn giữ được vẻ tinh anh và hào hoa như thuở nào ông viết những câu thơ đầy cảm khái:

Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió

Cho đống xương đời được nở hương.

Số phận Trần Huyền Trân có nhiều điều bất hạnh. Nhưng lúc nào ông cũng là người hiền hậu, vui vẻ và giàu tình nghĩa. Tôi vẫn còn nhớ những lần được đi cùng cha tôi - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận - đến thăm ông. Sau một hồi dài ngồi trên tàu điện nghe tiếng chuông leng keng chạy dọc phố Hàng Bột, cha con tôi bước vào căn nhà làm bằng tre nứa của ông ở phía sau nhà thờ Nam Đồng. ở đó các ông say sưa bàn bạc với nhau những dự định về nghệ thuật, chia sẻ cùng nhau những ấm lạnh của cuộc đời. Trần Huyền Trân mất ngày 22-4-1989 tại Hà Nội. Rồi thời gian sẽ làm mờ dần hình ảnh tiều tuỵ của ông vào lúc cuối đời trong con mắt những người quen biết. Nhưng những câu thơ và bầu tâm huyết ông dành cho nghệ thuật mãi mãi còn gắn liền với cuộc đời tài hoa mà bất hạnh của ông. Ngày chia tay ông, một buổi chiều tháng tư buồn lạnh, con trai ông cầm chai rượu trắng dốc lên mộ, bên cạnh là nhà viết kịch Lộng Chương nghẹn ngào đọc những câu thơ vĩnh biệt:

Bạn đã đi về nơi vĩnh cửu

Bạn ơi lòng đất ấm tình không?



(*) 1913 - 1989.

(1) Tô Hoài: Lời bạt thơ Trần Huyền Trân, In ở tập Những gương mặt, trang 11; 1988.

(2) Hoài Thanh - Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam, tr.367 - 1988.

(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Trần Huyền Trân (1913- 1989)


* tiểu sử

Tên khai sinh: Trần Đình Kim, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913, quê tại huyện Ân Thi -, Hải Hưng, sống ở Hà Nội nhiều năm. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Ông viết văn làm báo từ khoảng những năm 1938, 1942, 1943 rồi hoạt động trong Hội Văn Hoá Cứu Quốc, trong kháng chiến chống Pháp là thành viên của Đoàn Sân khấu Việt Nam, rồi phụ trách đoàn kịch Tháng Tám (Bộ Tuyên truyền), là phó trưởng đoàn Văn công Trung ương.

Từ 1957, Ông là uỷ viên thường vụ Hội văn nghệ Hà Nội và Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông là một trong những người chỉ đạo Đoàn Chèo Hà Nội.

* Tác phẩm chính

Sau ánh sáng (tiểu thuyết, 1940); Bóng người trên gác binh (tiểu thuyết, 1940); Tấm lòng người kỹ nữ (tiểu thuyết, 1941); Người ngàn thu cũ (tiểu thuyết, 1942); Quan Âm Thị Kính (chỉnh lý chèo); Trúc Uyên giảng Kiều (Chèo); Vân Đại (chỉnh lý chèo cổ ); Rau tần (thơ, 1986).

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0