Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Dân tộc Cao Lan đã giao cho Lâm Quý… làm thơ

1 trả lời, 498 lượt xem — Trang 1 / 1
Dân tộc Cao Lan đã giao cho Lâm Quý… làm thơ

Nguyễn Hưng Hải

Lâm Quý có cái tật đáng yêu và cũng rất đáng ghét là luôn thăng hoa, luôn trong rượu. Đã mấy chục năm nay, ở đất Phú Thọ, Yên Bái hay Vĩnh Phúc bây giờ, bạn đến chơi nhà, không khi nào Lâm Quý quên mời rượu bạn bè.

Rượu đã cho Lâm Quý, Nhà thơ - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam những câu thơ, những bài thơ tuyệt hảo. Nhưng cũng chính rượu đã có lúc làm phiền anh. Biết thế nhưng vẫn không bỏ được, bởi rất có thể, không rượu Lâm Quý sẽ hết thơ.

Tôi không có ý định làm người bào chữa cho cái “tật” đáng yêu, đáng ghét này của người tài Lâm Quý, chỉ muốn nhắn gửi với bạn bè, độc giả của anh rằng, đã quý trọng tài thơ Lâm Quý thì cũng nên tôn trọng, chấp nhận tài - tật của người thơ thuộc vào diện quý hiếm này của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Lâm Quý sinh năm Đinh Hợi (1947) là người Cao Lan, quê ở Quảng Yên, Lập Trạch - tỉnh Vĩnh Phúc; là con thứ tư một gia đình hiếu học. Cuối năm lớp 10 đáng lẽ Lâm Quý đã du học tại Tiệp Khắc. Nhưng nghe lời người thầy dạy Lâm Quý thi vào khoa văn, Trường Đại học Tổng hợp. Năm 1969 nghe tin Bác Hồ mất, Lâm Quý nghẹn ngào xúc động, làm bài thơ “Ké Hồ ơi” đăng báo Nhân dân và nổi lên trong đám sinh viên như một cây bút trẻ đầy hứa hẹn. Cũng từ đây cái tên Lâm Quý quen dần với bạn đọc cả nước, bây giờ ít ai biết anh có cái tên cúng cơm là Lâm Văn Quý.

Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhà trường định giữ Lâm Quý ở lại giảng dạy khoa Hán Nôm, nhưng anh, chỉ với một nguyện vọng là được vào chiến trường để tăng cường vốn sống phục vụ cho sở thích viết văn, làm báo của mình.

Lâm Quý kể: Bước ngoặt lớn của đời anh bắt đầu từ băm 1972, khi anh được phân công làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng chiến trường khu 5.

Tại đây, anh đã tận mắt chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh đối với những người con gái mấy năm trời không gặp một bóng đàn ông. Nghe rõ từng tiếng thở dài; Cảm động tường tận từng nỗi đau. Có những người con gái, mới ngoài 20 tuổi đầu vì quá khổ, tính tình như con trai vậy.

Trong một lần vô tình bắt gặp chị em đang vừa hát vừa gõ vào chiếc thùng phuy (200 lít) trên đường vận chuyển lên đỉnh dốc Cọp để đựng xăng, Lâm Quý đã xúc động, viết thành công bài thơ “Chuyện gặp trên đỉnh dốc Cọp”, tặng Đại hội mùng 8-3 (nữ quân giải phóng làm nhiệm vụ hậu cần vùng dốc Cọp, huyện Ba Tơ - Quảng Ngãi). Bài thơ viết cách đây đã hơn 30 năm, nhưng Lâm Quý vẫn đọc lại cho tôi chép, không sai một dấu chấm, dấu phẩy. Anh bảo, ngày đó, nếu không có tiếng hát của các chị, các em trong Đại hội mùng 8-3, hơn 1 tháng nếu không được chị em nuôi dưỡng và bảo vệ thì không biết mình còn được trở về không.

Sau trận ấy, Lâm Quý trở về chiến khu, để rồi sau 2 tháng 27 ngày lặn lội trên dải Trường Sơn, anh có mặt ở chiến trường Tây Nguyên. Dù là chiến tranh rất ác liệt, nhưng thơ Lâm Quý ngay từ ngày đó đã dạt dào trữ tình. Trong một đêm nghỉ lại giữa đồng cỏ cao nguyên không có cây để buộc võng, anh đã bật dậy bấm đèn pin viết trên mảnh vỏ bao thuốc lá bài thơ Nhớ vợ có tên là Đồng cỏ biển xanh. Bây giờ nghe Lâm Quý đọc lại, chị Trần Thị Sình (vợ anh) chỉ cười. Nhưng tôi biết đó là nụ cười hạnh phúc sau bao nhiêu nước mắt. Bởi vì cái đêm Lâm Quý nằm trên đồng cỏ cao nguyên ấy là cái đêm bom đạn, chị cũng như bao nhiêu người phụ nữ Việt Nam đã vò võ chờ chồng, nuôi con trong lẻ loi cô quạnh với hy vọng mong manh sẽ có ngày đoàn tụ.

Bây giờ nghe nhiều người kể lại càng thêm cảm phục sự gan góc, năng nổ và xông xáo của Lâm Quý những ngày ở chiến trường Liên khu 5 khốc liệt. Tại đây với tư cách là một nhà báo, ngày Tây Nguyên giải phóng anh đã kịp thời có những tin, bài báo làm nức lòng đồng bào, chiến sĩ cả nước trước niềm vui chiến thắng, đó là các bài như “Quân giải phóng đã làm chủ Buôn Mê Thuật”, “Lá thư từ Buôn Mê Thuật”, “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm chủ Tây Nguyên”…

Kể lại với tôi; chuyện ngày Sài Gòn giải phóng, Lâm Quý vẫn nguyên cảm xúc như lúc anh cùng một đồng nghiệp lái chiếc xe Giép, đằng sau đặt một khẩu Ak, bên hông đeo khẩu K54, rong ruổi khắp các đường phố Sài gòn để xem xét tình hình, lấy tin tức…

Sau năm 1975 Lâm Quý được điều động trở lại Đắc Lắc, phụ trách phân xã thông tấn xã Việt Nam ở đây cho tới năm 1978 thì được rút về Ban tin tức trong nước của Thông tấn xã Việt Nam tại Hà Nội. Và cũng bắt đầu từ đây thư Lâm Quý nở rộ trên thi đàn với các bài khá ấn tượng như: “Asúa nhớ vợ”, “Chợ hoa miền biên giới”.

Do hoàn cảnh gia đình con đông, vợ ở quê không có việc làm, Lâm Quý xin chuyển về thường trú tại Vĩnh Phúc, và công tác ở đây từ năm 1979-1992; sau đó được điều động lên làm phóng viên, rồi làm Trưởng phân xã TTXVN tại Yên Bái đến 2003 thì nghỉ hưu. Chừng ấy năm, Lâm Quý đã có hàng trăm bài báo viết về quê hương Đất Tổ, về mảnh đất Yên Bái. Ngoài sự nghiệp báo chí - cái nghề “ăn lương” của anh, Lâm Quý dành hết cả cuộc đời cho thơ. Với văn chương, nghệ thuật, anh luôn tâm niệm: “Văn chương quả là chuyện không phải dễ dàng, nó thơm như loại trầm hương. Cả rừng mới có một loại trầm hương này mà phải mất hàng trăm năm mới có…”. Đánh giá về tài thơ Lâm Quý, nhà thơ Ngọc Bái từng nhận xét: “Lâm Quý đã có công sáng tác trên nền sáng tạo của dân tộc mình”. Tìm vào những tác phẩm của Lâm Quý càng khẳng định rõ hơn điều này. Thấm từ câu dân ca, câu chuyện tình của người Cao Lan - Dân tộc mình, Lâm Quý đã để lại cho đời những bài thơ gần như tuyệt bút, trong số ấy không thể không kể đến “Điều có thật từ câu dân ca”, “tâm sự với hoa văn”, “Những chàng trai của núi”…

ở bài “Điều có thật từ câu dân ca”, Lâm Quý như người tạc tượng bức phù điêu văn hoá dân tộc mình: “yêu em anh bổ hòn đá núi/ lấy nước non nguồn trong lõi đá nuôi em/ thương em, anh chòi vầng trăng tỏ/ lấy nửa mặt trời nướng chín em ăn/ anh vắt lấy nước thơm của dây rừng cho em tắm”.

Giọng thơ thấm đẫm chất dân ca, chất văn, chất thơ ca cổ của người Cao Lan, có lẽ chỉ duy Lâm Quý tạo dựng được thành cốt cách, phong cách để có một giọng thơ rất riêng, rất đặc sắc. Điều này còn thể hiện như một phẩm chất của Lâm Quý trong bài “Tâm sự với hoa văn” - Kể với tôi về xuất sứ bài thơ, Lâm Quý không dấu diếm. Anh bảo, năm 1979 được “tháp tùng” Tổng Bí thư Trường Chinh nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương, với nhiệm vụ của một phóng viên, Thông tấn xã thường trú, lần đầu tiên anh được chứng kiến người đứng đầu đất nước khai mở lễ hội bằng tiếng trống đồng tại Nghĩa Lĩnh, anh thực sự xúc động. Đêm đó về trằn trọc mãi, nghĩ ngợi và hình như các vua Hùng “phù hộ”, mà có được “Tâm sự với hoa văn”. Bài thơ đã được in trong rất nhiều tuyển tập, nhưng Lâm Quý tự hào nhất là nó đã phản ánh đúng được tâm trạng mình, cũng như tâm trạng của nhiều người Việt Nam: “Tôi nghĩ/ những họa tiết hoa văn có cánh, có hồn và ý thức/ khi tổ tiên gõ lên mặt trống đồng/ hoa văn xẫy vùng bay theo tiếng trống/ biến thành muôn tiếng ngân nga/ tiếng ngân lặn vào lòng đất/ đất giữ lại ngàn năm vẫn trong/ lặn vào màu xanh/ cây giữ lại muôn đời vẫn sắc/ lặn vào lòng bà Âu Cơ/ truyền con nối chắt”.

Như hoa văn trên mặt trống đồng, lời tâm sự trên của Lâm Quý hẳn còn lưu giữ mãi với thời gian. Bởi đây là một trong những đỉnh cao của thơ Lâm Quý, thơ các cây bút dân tộc thiểu số. Đây cũng là một bài thơ đặc sắc viết về văn hoá cội nguồn, viết về mảnh đất từng là Kinh đô của Nhà nước Văn Lang - nơi có núi Nghĩa Lĩnh thâm nghiêm bốn phương tụ hội. Sau mấy chục năm cầm bút, Lâm Quý đã là tác giả của 15 đầu sách, mà tập nào dường như cũng có dư luận. Anh cũng đã nhiều lần được giải thưởng văn học của hai tỉnh Vĩnh Phú và Yên Bái. Năm 2003 Lâm Quý được giải nghiên cứu sưu tầm của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam.

Anh bảo, số mình ít hoá khoa. Nhưng có lẽ chẳng có phần thưởng nào vinh dự bằng, vô tình ở một góc nào đó, thấy ai nhắc đến tên mình, thơ mình. Chỉ sợ viết ra rồi mà không có một hồi âm, dù là lời “mắng mỏ”.

Sau bao năm bươn trải, chịu nhiều gian khổ, hy sinh, có khi cả tai tiếng thị phi, giờ Lâm Quý đã neo trụ tại thị xã Vĩnh Yên. Con người thơ ngỡ chìm trong rượu và bạn bè này, đã xây cất được cho vợ con một ngôi nhà hai tầng “đáng mặt” là một người tài của tỉnh đang “nổi” Vĩnh Phúc.

Vẫn như xưa, gặp tôi, anh chỉ đàm đạo văn chương. Chuyện đời, tôi với anh, có thể coi là bạn vong niên từ ngày Vĩnh Phú chưa tách tỉnh. Nhưng lạ là lần này, được nghe anh chỉ bảo: Hãy biết sống chung với “lũ”.

Quay lại chuyện của anh, tôi hỏi: Công việc biên tập tạp chí thế nào? Lâm Quý vui vẻ tâm sự: Đại hội văn nghệ Vĩnh Phúc vừa rồi, có nhiều đổi mới. Mình trúng vào Ban chấp hành, được phân công biên tập phần lý luận và một số mục khác. Cơ quan Hội bắt đầu có sự đổi mới về chất. Nhưng tất cả mới là bắt đầu. Rồi thời gian sẽ có câu trả lời? Riêng mình, cố gắng viết. Dự định năm 2005 này, sẽ xuất bản một tập thơ. Còn chuyện gia đình coi như đã ổn định.

Thật mừng cho Lâm Quý, vì cái tính thích du cư, du canh của anh? Cũng mừng là anh còn nhớ nhiều kỷ niệm, nhất là kỷ niệm về những xuất sứ của những bài thơ tâm đắc của anh.

Bên chén rượu mừng nhau, đầu năm con gà, Lâm Quý đã kể với tôi kỷ niệm về bài thơ “Tình em đêm hát ví”. Lâm Quý bảo, năm anh 18 tuổi yêu một cô gái tên Đạt. Một lần cùng người yêu qua sông Lô, trên một chuyến đò, Lâm Quý mạnh dạn ướm lời: “Tết này bố mẹ anh sẽ sang nhà em, hỏi em về làm vợ”. Bất ngờ, người yêu “buông” một câu hát ví: “Chàng chỉ biết đi thuyền qua sông/ chẳng biết dưới lòng sông có một con cá đang nhìn chàng”. Sau một phút lúng túng, Lâm Quý quả quyết: “Anh sẽ đục thủng thuyền, nhảy xuống sông, lặn tìm bằng được con cá ấy”.

Rồi chuyện ấy cũng qua đi. Bây giờ kể lại chị Trần Thị Sình lại “nguýt” yêu anh. Thời trai trẻ ấy mà. Cũng may cô gái có cái tên Đạt ấy không phải làm vợ nhà thơ Lâm Quý - Làm vợ nhà thơ thật hãnh diện nhưng cũng trăm đường khổ ải. Sướng cái nỗi gì “bầu rượu, túi thơ”?

Chị Sình quay xuống bếp, Lâm Quý kể tiếp: Bẵng đi 30 năm, tết năm 1996, anh về quê ngoại, bất ngờ gặp lại người xưa, ngần ấy năm vẫn đơn chăn, lẻ bóng vì một lời nguyền. Đau nhói một góc con tim Lâm Quý chỉ còn biết cúi đầu xin “nàng” tha thứ. Suốt đêm ấy, Lâm Quý không ngủ. Bên ngọn đèn dầu, anh viết một mạch: “Tiếng hát em khéo vặn chạc thừng - vặn xoắn tình anh vào đấy/ chạc để buộc trâu dưới gậm/ để buộc bò dưới sàn/ lỡ buộc tình anh vào cột/ cột nhà em bằng lim/ trâu gếch sừng là đổ/ cột nhà em bằng táu/ bò hểnh chân là siêu/ cột tình em yêu yêu/ anh xoay bên này đẩy/ vòng bên kia đu/ mời xao vẫn đứng vậy/ tiếng hát em khéo vặn chạc mây/ vặn xoắn tình em vào đấy…”.

Vào đấy, có lẽ vẫn là vào thơ thôi. Còn bây giờ Lâm Quý đã là người cha có trách nhiệm, người ấy trong thơ mãi là hoài niệm. Nhưng dẫu sao thì cũng nhờ có chị, thi đàn Việt Nam có thêm một “Tình em đêm hát ví” để mà yêu hơn văn hoá dân tộc mình, yêu hơn, thương hơn người phụ nữ Việt Nam.

Trước đây, đã có lần Lâm Quý tâm sự với tôi: “Nghệ thuật dân gian là người mẹ vĩ đại đã chấp cánh cho hồn thơ Lâm Quý bay”. Đó là nghệ thuật của một dân tộc có hơn 100.000 người (dân tộc Cao Lan), mà Lâm Quý chỉ là một sinh linh bé nhỏ trong cộng đồng ấy. Nhưng nhờ có đắm say, Lâm Quý đi mải miết, mải miết sưu tầm, chắt lọc những tinh hoa của Văn hoá dân tộc mình cũng như Văn hoá các dân tộc Việt Nam mà anh tạo được cho thơ mình sự tinh tế mang hình khối như sự đẽo đá tạc tượng quê hương. Có lẽ chính quê hương và đồng bào dân tộc Cao Lan của anh đã cho Lâm Quý: “ánh sáng diệu huyền có nữ thần Lan Slam đắm say cùng núi núi, mây mây, cây cây, cỏ cỏ… Một dân tộc ấy có một Nữ thần thi ca thanh cao linh thiêng và huyền bí để tôn thờ, dân tộc ấy không thể không sinh ra Lâm Quý”.

Mượn nhận định ấy của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, để thay cho lời kết này cũng là thêm một lần nữa tin ở Lâm Quý, nhất là từ khi anh tự thức: “Núi rừng sinh ra mình, mình phải làm gì cho núi chứ. Đó là đạo lý ở đời. Có lẽ dòng họ Lâm và dân tộc Cao Lan đã giao cho mình sưu tầm phát triển vốn văn hoá cổ truyền dân tộc mình giới thiệu với các dân tộc anh em”. Muốn thế, Lâm Quý ơi, cứ vui lên mà viết.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Lâm Quý


* tiểu sử

Dân tộc Sán Chay (Cao Lan). Sinh ngày 22-4-1947 (2-3 năm Đinh Hợi). Tại xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 1972.

Nhà thơ: Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Hội viên Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Nhà báo: Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam. Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.

Từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi ham say sáng tác những bài thơ, bài văn ngô nghê. Tâm hồn tôi luôn luôn gắn bó với quê hương Núi Sáng – dân tộc Cao Lan của tôi. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1972, tôi tình nguyện vào chiến trường miền Nam chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Vừa là phóng viên chiến trường, tôi vừa thu thập vốn sống để sáng tác thơ, viết bút ký, truyện ngắn, chụp ảnh. Năm 1979 trở lịa miền Bắc công tác, tôi tiếp tục làm Báo và sáng tác văn học.

* Tác phẩm chính

Tập thơ: Chuyện cổ tích Cao Lan (sưu tầm, Nhà xuất bản VHDT- 1982); Dân ca Cao Lan (sưu tầm và dịch, Nhà xuất bản VHDT – 1983) Điều thật trong dân ca (tập thơ, Nhà xuất bản VHDT, 1988); Kó Lau Slam (truyện tình thơ, Sở VHTT Vĩnh Phú xuất bản, 1991); Kó Lau Slam (truyện tình thơ, in song ngữ, Nhà xuất bản VHDT, 1992); Chàng út của ông trời (thơ- truyện, Nhà xuất bản VHDT, 1996); Tình thơ Cao Lan (Tập thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1997); Nhiều bài thơ in trong các tuyển tập thơ - Văn của Trung ương và địa phương.

Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0