Đọc Sớm mai gà gáy của Huy Cận
Nguyễn Bùi Vợi
Nhà thơ Huy Cận viết bài thơ Sớm mai gà gáy năm 1962, năm miền Bắc mưa thuận gió hoà, một năm sau Tố Hữu viết Chào 61 đỉnh cao muôn trượng.
Bài thơ gợi lại những kí ức khó quên về làng Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh quê ông, năm tháng “Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi”.
“Ràn”, tiếng Nghệ Tĩnh, ngoài Bắc gọi là chuồng. Đặt một thổ ngữ vào câu thơ làm cho người xa quê thêm nhớ quê da diết.
Tiếng gà đánh thức người cha dậy “đi cày trau kịp vụ”.
Gặt chiêm xong, các gốc rạ nảy chồi xanh khắp ruộng, chồi xanh ấy gọi là trau. Cày đồng làm mùa, người nông dân phải lật đám trau ấy xuống bùn, làm phân xanh bón lúa, gọi là cày trau.
Hình ảnh người cha dậy sớm đi cày hiện hình trước mắt ông như một hoài niệm đầm ấm:
Hút vang điếu thuốc khói mù bay
Nhút cà, cơm ủ trong bồ trấu
Chút cá kho tương mẹ vội bày
Khi người cha dậy ăn sáng đi cày thì người con vẫn nằm trên giường nghe các tiếng gà thân thuộc:
Gà gáy nhà ta, gáy láng giềng
Ta nghe thuộc mỗi tiếng gà quen
Thuộc được tiếng gà nhà mình, nhà hàng xóm tức là gắn bó với làng quê lắm. Rồi người con hỏi cha:
- Cha ơi, con chửa nghe gà chú!
Và người cha trả lời mới hóm hỉnh làm sao:
- Nó cũng như mày hay ngủ quên.
Câu hỏi và lời đáp này làm cho bài thơ sinh động hẳn lên, không khí gia đình ấm cúng hẳn lên.
Khổ tiếp theo nghe thật “đầm ấm dương hoà” (như lời cụ Nguyễn Du):
Hàng cau mở ngọn đón ngày vào
Xóm nhỏ nép bên triền núi cao
Gà lại gáy dồn thêm đợt nữa
Nắng lên xoè quạt đỏ như mào.
Viết câu thơ thứ ba, nhà thơ hiểu rõ việc gà gáy: Lần gáy báo sáng sắp kết thúc thì gà khắp xóm gáy dồn dập, đua nhau gáy. Viết câu thơ thứ tư, nhà thơ rất giỏi quan sát và miêu tả. Vầng dương buổi sáng mà “xoè quạt đỏ như mào” thì đẹp hết ý. Câu 1 và câu 2 thật sống động với hai động từ mở ngọn và nép.
Hai mươi ba tuổi (1942); tốt nghiệp kỹ sư Canh nông, Huy Cận rất thuộc đời sống nông thôn và nông nghiệp, biết rất rõ chuyện cày trau, chuyện gà gáy... nên bài thơ mới sinh động đằm thắm như thế.
Nghe “Gà gáy ơi! Tiếng gà gáy ơi!” nhà thơ nghe được tiếng ban mai của cuộc đời rạo rực nhưng lòng lại chạnh nhớ người đã khuất “Thương cha lủi thủi không còn nữa/ Chẳng sống bây giờ thôn xóm vui”.
Cho đến năm Dậu 2005 này, kể cả tuổi mụ, bài thơ Sớm mai, gà gáy của Huy Cận đã vào tuổi 44 mà đọc lại vẫn thấy thích cái không khí êm ả, no đủ, thanh bình của một vùng quê xưa rất nghèo, năm 62 đã mát mặt. Mà theo Xuân Diệu, thơ Việt Nam hiện đại, bài nào được người ta nhớ đến 15 năm thì có cơ sống mãi!
Hà Nội, 11-2004
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Bùi Vợi
Nhà thơ Huy Cận viết bài thơ Sớm mai gà gáy năm 1962, năm miền Bắc mưa thuận gió hoà, một năm sau Tố Hữu viết Chào 61 đỉnh cao muôn trượng.
Bài thơ gợi lại những kí ức khó quên về làng Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh quê ông, năm tháng “Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi”.
“Ràn”, tiếng Nghệ Tĩnh, ngoài Bắc gọi là chuồng. Đặt một thổ ngữ vào câu thơ làm cho người xa quê thêm nhớ quê da diết.
Tiếng gà đánh thức người cha dậy “đi cày trau kịp vụ”.
Gặt chiêm xong, các gốc rạ nảy chồi xanh khắp ruộng, chồi xanh ấy gọi là trau. Cày đồng làm mùa, người nông dân phải lật đám trau ấy xuống bùn, làm phân xanh bón lúa, gọi là cày trau.
Hình ảnh người cha dậy sớm đi cày hiện hình trước mắt ông như một hoài niệm đầm ấm:
Hút vang điếu thuốc khói mù bay
Nhút cà, cơm ủ trong bồ trấu
Chút cá kho tương mẹ vội bày
Khi người cha dậy ăn sáng đi cày thì người con vẫn nằm trên giường nghe các tiếng gà thân thuộc:
Gà gáy nhà ta, gáy láng giềng
Ta nghe thuộc mỗi tiếng gà quen
Thuộc được tiếng gà nhà mình, nhà hàng xóm tức là gắn bó với làng quê lắm. Rồi người con hỏi cha:
- Cha ơi, con chửa nghe gà chú!
Và người cha trả lời mới hóm hỉnh làm sao:
- Nó cũng như mày hay ngủ quên.
Câu hỏi và lời đáp này làm cho bài thơ sinh động hẳn lên, không khí gia đình ấm cúng hẳn lên.
Khổ tiếp theo nghe thật “đầm ấm dương hoà” (như lời cụ Nguyễn Du):
Hàng cau mở ngọn đón ngày vào
Xóm nhỏ nép bên triền núi cao
Gà lại gáy dồn thêm đợt nữa
Nắng lên xoè quạt đỏ như mào.
Viết câu thơ thứ ba, nhà thơ hiểu rõ việc gà gáy: Lần gáy báo sáng sắp kết thúc thì gà khắp xóm gáy dồn dập, đua nhau gáy. Viết câu thơ thứ tư, nhà thơ rất giỏi quan sát và miêu tả. Vầng dương buổi sáng mà “xoè quạt đỏ như mào” thì đẹp hết ý. Câu 1 và câu 2 thật sống động với hai động từ mở ngọn và nép.
Hai mươi ba tuổi (1942); tốt nghiệp kỹ sư Canh nông, Huy Cận rất thuộc đời sống nông thôn và nông nghiệp, biết rất rõ chuyện cày trau, chuyện gà gáy... nên bài thơ mới sinh động đằm thắm như thế.
Nghe “Gà gáy ơi! Tiếng gà gáy ơi!” nhà thơ nghe được tiếng ban mai của cuộc đời rạo rực nhưng lòng lại chạnh nhớ người đã khuất “Thương cha lủi thủi không còn nữa/ Chẳng sống bây giờ thôn xóm vui”.
Cho đến năm Dậu 2005 này, kể cả tuổi mụ, bài thơ Sớm mai, gà gáy của Huy Cận đã vào tuổi 44 mà đọc lại vẫn thấy thích cái không khí êm ả, no đủ, thanh bình của một vùng quê xưa rất nghèo, năm 62 đã mát mặt. Mà theo Xuân Diệu, thơ Việt Nam hiện đại, bài nào được người ta nhớ đến 15 năm thì có cơ sống mãi!
Hà Nội, 11-2004
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,