Nhớ những bậc danh sư của Tam Nguyên Yên Đổ
Nguyễn Thế Vinh
Năm năm sau, kể từ ngày rũ áo từ quan về ở vườn Bùi, làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, ngày 15 - 10 năm Thành Thái thứ nhất (1889), nhà thơ Nguyễn Khuyến khởi bút viết cuốn Gia phả, ngành thứ họ Nguyễn Vị Hạ, từ xứ Nghệ ra Bắc lập nghiệp đã dài 500 năm. Gia phả cho biết về hai cụ song thân, quá trình học hành của nhà thơ và ghi ơn những người thầy đã giúp ông thành đạt.
Nguyễn Khuyến sinh tại quê mẹ, giờ Tý, ngày 18 tháng đầu năm ất Mùi (15-2-1835), Minh Mệnh thứ 16, tại thôn Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), các kì lão làm nhà đón gia đình nhà thơ về quê nội. Lúc ấy cậu bé Nguyễn Thắng (tên khai sinh của Nguyễn Khuyến), mới 9 tuổi. Hơn 10 năm sau, đầu xuân 1854, cụ Mền Liễn mất, người mẹ đã 55 tuổi. Mất cha, cảnh nhà tiêu điều xơ xác, là lúc chàng hàn sĩ sắp tuổi đôi mươi khao khát tìm thầy, kết bạn. Ngặt nỗi nhà nghèo, anh phải dạy học góp tiền nuôi mẹ. Biết vậy, nhiều nhà cho thầy đồ trẻ ngồi nhờ dạy học không lấy tiền. Vừa làm thầy, vừa làm trò, Nguyễn Khuyến chăm chỉ đèn sách theo học quan giáo thụ phủ Nho Quan Phạm Mỹ, người làng Tiên Minh, tỉnh Hải Dương và đốc học Hải Dương Hoàng Kim Chung quê xã Phú Khê, huyện ý Yên.
Liên tiếp mấy khoa thi, Tự Đức thứ 5 (1853), ất Mão (1855), Mậu Ngọ (1858) ông đều không đỗ. Năm 25 tuổi (1860), anh khoá Thắng theo học cử nhân Trần Duy Vỹ, vừa cáo quan về quê mở trường. Nhà thơ thuật: “Tôi theo học quan tri phủ Hoài Đức là Trần tiên sinh (huý Vỹ, người xã Vụ Bản). Chỗ nông thì lội, chỗ sâu đi thuyền, nương nhau mà sống. Mẹ tôi thì sớm chiều tựa cửa ngóng trông để mong con nên người”. Giai thoại văn học kể thuở hàn vi: “Mẹ già, nhà nghèo, đời sống ngày càng cơ hàn, nhưng Nguyễn Thắng vẫn bền chí học hành. Không buổi bình văn nào vắng mặt. Đi học, cậu thường không quên mang theo cái dậm để dọc đường về, tranh thủ kiếm thêm con tôm, con cá. Có ngày mưa rét, người tím tái, run cầm cập ai nấy đều xót xa ái ngại”... ( Theo Bùi Văn Cường)
Thầy Trần Duy Vỹ, hiệu là Định Phu, sinh năm Tân Hợi (1791) ngày 7 tháng Giêng, thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Tuy xuất thân trong gia đình nối đời khoa bảng, tiên sinh họ Trần lận đận ba chục năm dùi mài kinh sử, 38 tuổi mới đỗ đầu trường Hương khoa Mậu Tý (1828).
Nhận bằng cử nhân là có thể ra làm quan, nhưng thầy chỉ mong về quê mở trường vừa dạy vừa nuôi trò. Theo tác giả cuốn Địa dư huyện Bình Lục xuất bản năm 1935 của Ngô Vi Liễn tri huyện Bình Lục, Vụ Bản nổi danh là đất học, khởi nguồn từ dòng dõi nhà cụ cử họ Trần, cả ba làng trong xã đều xây văn chỉ. Từ chối nhiều lần không tiện, Trần Duy Vỹ ra làm quan cho nhà Nguyễn 7 năm: Hậu bổ Hà Tĩnh (1837 - 1839), Tri huyện Nghi Xuân (1839 - 1841), Tri phủ Hoài Đức (1841 - 1843). Lộc bổng của quan tri phủ khi về, chỉ đủ để cất ba gian từ đường và mua bộ sách Tứ thư đại toàn dạy học trò.
Theo gia phả họ Trần, Vụ Bản: Học trò ai năng nổ thì thầy khuyến khích, ai thiếu thốn thầy vận động môn sinh làng xóm chu cấp. Thầy dạy trò chu đáo, chăm lo cho kẻ hậu thành tài. Người qua cửa thầy đỗ đạt nhiều: 18 vị Tiến sĩ, cử nhân, 40 tú tài, trong số đó danh giá nhất là Nguyễn Khuyến. Vì ông ở làng Yên Đổ, đậu đầu ba kì thi nên người đời thường gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Tuy đã cao niên, cụ Trần Duy Vỹ vẫn cùng thân hữu là Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805 - 1881), Tri phủ Lý Nhân, vận động nhiều thân hào ở các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Bình Lục, Thanh Liêm, Nam Xang, tham gia phong trào Văn Thân chống thực dân Pháp. Việc lớn đương làm, cụ đột ngột qua đời ngày 11 tháng 10 năm 1866, thọ 75 tuổi. Nhà vua Tự Đức ban cho biển đề hai chữ: “Nhân sư”, nghĩa là người thầy lớn, nay vẫn trang trọng đặt tại từ đường, nơi năm xưa cụ ngồi dạy học.
Lại nghe Tam nguyên Yên Đổ thuật tiếp: “Thế là bốn khoa thi không đỗ mẹ tôi tuổi ngày càng cao, nghèo lại thêm nghèo. Vì thế, tôi định thu xếp ngồi dạy học ở nhà Đoàn Bính (là học trò của cha tôi ở xã Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm). Nhưng mà sau đó may gặp quan Tế tửu Vũ tiên sinh là học trò của ông bác tôi, khuyên tôi gắng công đèn sách và hứa cấp cho giấy bút, lương ăn hàng tháng. Khuyến tôi xin với mẹ rằng: Thầy giúp con đủ lương một mình ăn học, còn ở nhà thiếu thốn thì sao? Nên con muốn tìm chỗ ngồi dạy học kiếm lương để sớm chiều đỡ mẹ có được không? Mẹ tôi tỏ vẻ không vui bảo: Nhà ta nối đời nho học, nếu chịu khó theo đòi học hành thì mẹ dù đói rét cũng cam tâm. Nếu chỉ vì cái lợi nhỏ trước mắt mà bỏ sự nghiệp thì sau này còn mặt mũi nào nhìn cha ông nơi chín suối! Vâng lời mẹ, tôi bèn đến học quan Tế tửu họ Vũ (huý Lý) ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang”.
Quan nghè Vũ Văn Lý hiệu là Vĩnh Xuyên. Huyện Nam Xang (Xương) quê cụ năm 1901 cải là Lý Nhân, mảnh đất truyền kì về nàng Vũ Thị Thiết - Người con gái Nam Xương, mà vua Lê Thánh Tông từng ngự bút đề thơ ai tụng. Tiến sĩ họ Vũ là con quan Hàn lâm viện thị giảng Vũ Văn Huyên, một bậc nổi tiếng văn thơ đất Nam Xang. Ngài sinh ngày 18-12 năm Gia Long thứ 6 tại Vĩnh Trụ. Hai lần tú tài. Năm trước đỗ cử nhân khoa Canh Tí (1840), năm sau đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Tân sửu (1841), Vũ Văn Lý được thăng cử giữ các chức vụ Hàn lâm viện biên tu, Tri phủ Thái Bình, biên tu Quốc tử giám. Đến năm 1851, ông được vua Tự Đức cho an trí, về quê mở trường dạy học. Anh khoá Thắng theo học cụ nghè Vũ Văn Lý là chính, nhưng thỉnh thoảng vẫn xuống tập văn ở trường của Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị mãi vùng biển Nam Định. Cùng lớp tập văn với Trần Bích San (1840 - 1877) người làng Vị Xuyên, tỉnh Nam Định, đậu Tam nguyên lúc 25 tuổi, trước Nguyễn Khuyến bốn khoa.
Ngày dân làng Vĩnh Trụ trùng tu ngôi đình, trân trọng mời quan nghè cất thượng lương và soạn văn bia. Bài văn có đoạn: “Luật lệ của làng là phải tiết kiệm, không được dùng của công vào việc ăn chơi xa xỉ; phải cấm mọi điều gian dối, ngăn chặn tham nhũng; cấm kị việc cạnh tranh kiện cáo. Vẫn biết rằng như lửa khói mỗi ngày bốc lên càng cao, cạnh tranh lợi nhuận là không hề giảm bớt. Việc làng xóm tuy nhiều, nhưng chẳng ngại phiền, chi phí dù lớn cũng chẳng lo tốn kém; trước tiên phải thành hiệu quả trong dân, rồi đến việc phải hết sức thành tâm với thần linh. Có vậy việc mới nên thành quả. Đó là điều cần nói ra vậy.” (Bản dịch của cử nhân Hán văn Phạm Quốc Bằng, tạp chí Xưa Nay số 121, tháng 8.2002). Những lời lẽ ấy còn đúng đến hôm nay và đời sau.
Tiến sỹ Vũ Văn Lý có tập thơ: “Danh thần thi tập”, gồm 120 bài thơ mới được tìm thấy, cho người đọc biết được tâm tư thiết tha của ông với thế cuộc. Trong đó có 7 bài thơ chữ Hán viết về mùa thu, gửi gắm nỗi niềm nhớ quê, khao khát mong sớm được xum họp gia đình. Bài thơ cuối cùng từ biệt triều chính ông viết:
Quân thần phân nghị nhật nhĩ trường
Lão bệnh nan thân xứng sở vương
Phụng quốc nhất tâm thường tỉnh nguyệt
Ưu dân lưỡng phát dĩ thành sương.
Dịch nghĩa: Tình vua tôi trải đã bao ngày
Già yếu bệnh tật chẳng xứng với tấm mong ước (của vua)
Duy chỉ tấm lòng phụng sự đất nước
luôn sáng như trăng rằm
Bởi ưu lo dân mà mái tóc ngả màu sương.
Dịch thơ:
Vua tôi tình trải bao ngày
Tuổi già sao đáp ơn dầy sở vương
Lòng trung - trăng sáng như gương
Nỗi lo dân nước, tóc sương lúc nào
(Nguyễn Thế Vinh dịch)
Mong rằng thi tâp này sớm ra mắt, để người đời nay rõ hơn sự ảnh hưởng của bậc danh sư, với các học trò ưu tú mà tiêu biểu là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi (Ông Nghè Lợi Giao Cù: 1836 - 1877), cùng nhiều môn sinh của ông đã trở thành danh nhân đất nước.
Năm Tự Đức thứ 22 (1871), khi học trò Nguyễn Khuyến đỗ đệ nhị Tiến sĩ xuất thân, đệ nhất danh, thì người thầy Tiến sĩ Vũ Văn Lý được triều đình mời vào kinh sư Huế lần thứ 2 nhận chức Quốc Tử Giám Tế tửu Hàn lâm viện thị giảng (tương đương với chức Hiệu trưởng Trường đại học Quốc gia ngày nay). Quan Nghè họ Vũ rời sông Hương, núi Ngự về quê núi Đọi sông Châu khi 66 tuổi. Giờ Tí ngày 3-5 năm Tự Đức 30 (1878), người thầy lớn của nhiều danh nhân và nhiều thế hệ nho sĩ đã từ trần, thọ 71 tuổi. Vua Tự Đức truy phong Trung thuận đại phu. Văn Thánh của triều đình nhà Nguyễn khắc bia đá lưu danh tên tuổi của ông, tấm bia đá ngày nay vẫn còn.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Thế Vinh
Năm năm sau, kể từ ngày rũ áo từ quan về ở vườn Bùi, làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, ngày 15 - 10 năm Thành Thái thứ nhất (1889), nhà thơ Nguyễn Khuyến khởi bút viết cuốn Gia phả, ngành thứ họ Nguyễn Vị Hạ, từ xứ Nghệ ra Bắc lập nghiệp đã dài 500 năm. Gia phả cho biết về hai cụ song thân, quá trình học hành của nhà thơ và ghi ơn những người thầy đã giúp ông thành đạt.
Nguyễn Khuyến sinh tại quê mẹ, giờ Tý, ngày 18 tháng đầu năm ất Mùi (15-2-1835), Minh Mệnh thứ 16, tại thôn Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), các kì lão làm nhà đón gia đình nhà thơ về quê nội. Lúc ấy cậu bé Nguyễn Thắng (tên khai sinh của Nguyễn Khuyến), mới 9 tuổi. Hơn 10 năm sau, đầu xuân 1854, cụ Mền Liễn mất, người mẹ đã 55 tuổi. Mất cha, cảnh nhà tiêu điều xơ xác, là lúc chàng hàn sĩ sắp tuổi đôi mươi khao khát tìm thầy, kết bạn. Ngặt nỗi nhà nghèo, anh phải dạy học góp tiền nuôi mẹ. Biết vậy, nhiều nhà cho thầy đồ trẻ ngồi nhờ dạy học không lấy tiền. Vừa làm thầy, vừa làm trò, Nguyễn Khuyến chăm chỉ đèn sách theo học quan giáo thụ phủ Nho Quan Phạm Mỹ, người làng Tiên Minh, tỉnh Hải Dương và đốc học Hải Dương Hoàng Kim Chung quê xã Phú Khê, huyện ý Yên.
Liên tiếp mấy khoa thi, Tự Đức thứ 5 (1853), ất Mão (1855), Mậu Ngọ (1858) ông đều không đỗ. Năm 25 tuổi (1860), anh khoá Thắng theo học cử nhân Trần Duy Vỹ, vừa cáo quan về quê mở trường. Nhà thơ thuật: “Tôi theo học quan tri phủ Hoài Đức là Trần tiên sinh (huý Vỹ, người xã Vụ Bản). Chỗ nông thì lội, chỗ sâu đi thuyền, nương nhau mà sống. Mẹ tôi thì sớm chiều tựa cửa ngóng trông để mong con nên người”. Giai thoại văn học kể thuở hàn vi: “Mẹ già, nhà nghèo, đời sống ngày càng cơ hàn, nhưng Nguyễn Thắng vẫn bền chí học hành. Không buổi bình văn nào vắng mặt. Đi học, cậu thường không quên mang theo cái dậm để dọc đường về, tranh thủ kiếm thêm con tôm, con cá. Có ngày mưa rét, người tím tái, run cầm cập ai nấy đều xót xa ái ngại”... ( Theo Bùi Văn Cường)
Thầy Trần Duy Vỹ, hiệu là Định Phu, sinh năm Tân Hợi (1791) ngày 7 tháng Giêng, thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Tuy xuất thân trong gia đình nối đời khoa bảng, tiên sinh họ Trần lận đận ba chục năm dùi mài kinh sử, 38 tuổi mới đỗ đầu trường Hương khoa Mậu Tý (1828).
Nhận bằng cử nhân là có thể ra làm quan, nhưng thầy chỉ mong về quê mở trường vừa dạy vừa nuôi trò. Theo tác giả cuốn Địa dư huyện Bình Lục xuất bản năm 1935 của Ngô Vi Liễn tri huyện Bình Lục, Vụ Bản nổi danh là đất học, khởi nguồn từ dòng dõi nhà cụ cử họ Trần, cả ba làng trong xã đều xây văn chỉ. Từ chối nhiều lần không tiện, Trần Duy Vỹ ra làm quan cho nhà Nguyễn 7 năm: Hậu bổ Hà Tĩnh (1837 - 1839), Tri huyện Nghi Xuân (1839 - 1841), Tri phủ Hoài Đức (1841 - 1843). Lộc bổng của quan tri phủ khi về, chỉ đủ để cất ba gian từ đường và mua bộ sách Tứ thư đại toàn dạy học trò.
Theo gia phả họ Trần, Vụ Bản: Học trò ai năng nổ thì thầy khuyến khích, ai thiếu thốn thầy vận động môn sinh làng xóm chu cấp. Thầy dạy trò chu đáo, chăm lo cho kẻ hậu thành tài. Người qua cửa thầy đỗ đạt nhiều: 18 vị Tiến sĩ, cử nhân, 40 tú tài, trong số đó danh giá nhất là Nguyễn Khuyến. Vì ông ở làng Yên Đổ, đậu đầu ba kì thi nên người đời thường gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Tuy đã cao niên, cụ Trần Duy Vỹ vẫn cùng thân hữu là Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805 - 1881), Tri phủ Lý Nhân, vận động nhiều thân hào ở các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Bình Lục, Thanh Liêm, Nam Xang, tham gia phong trào Văn Thân chống thực dân Pháp. Việc lớn đương làm, cụ đột ngột qua đời ngày 11 tháng 10 năm 1866, thọ 75 tuổi. Nhà vua Tự Đức ban cho biển đề hai chữ: “Nhân sư”, nghĩa là người thầy lớn, nay vẫn trang trọng đặt tại từ đường, nơi năm xưa cụ ngồi dạy học.
Lại nghe Tam nguyên Yên Đổ thuật tiếp: “Thế là bốn khoa thi không đỗ mẹ tôi tuổi ngày càng cao, nghèo lại thêm nghèo. Vì thế, tôi định thu xếp ngồi dạy học ở nhà Đoàn Bính (là học trò của cha tôi ở xã Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm). Nhưng mà sau đó may gặp quan Tế tửu Vũ tiên sinh là học trò của ông bác tôi, khuyên tôi gắng công đèn sách và hứa cấp cho giấy bút, lương ăn hàng tháng. Khuyến tôi xin với mẹ rằng: Thầy giúp con đủ lương một mình ăn học, còn ở nhà thiếu thốn thì sao? Nên con muốn tìm chỗ ngồi dạy học kiếm lương để sớm chiều đỡ mẹ có được không? Mẹ tôi tỏ vẻ không vui bảo: Nhà ta nối đời nho học, nếu chịu khó theo đòi học hành thì mẹ dù đói rét cũng cam tâm. Nếu chỉ vì cái lợi nhỏ trước mắt mà bỏ sự nghiệp thì sau này còn mặt mũi nào nhìn cha ông nơi chín suối! Vâng lời mẹ, tôi bèn đến học quan Tế tửu họ Vũ (huý Lý) ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang”.
Quan nghè Vũ Văn Lý hiệu là Vĩnh Xuyên. Huyện Nam Xang (Xương) quê cụ năm 1901 cải là Lý Nhân, mảnh đất truyền kì về nàng Vũ Thị Thiết - Người con gái Nam Xương, mà vua Lê Thánh Tông từng ngự bút đề thơ ai tụng. Tiến sĩ họ Vũ là con quan Hàn lâm viện thị giảng Vũ Văn Huyên, một bậc nổi tiếng văn thơ đất Nam Xang. Ngài sinh ngày 18-12 năm Gia Long thứ 6 tại Vĩnh Trụ. Hai lần tú tài. Năm trước đỗ cử nhân khoa Canh Tí (1840), năm sau đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Tân sửu (1841), Vũ Văn Lý được thăng cử giữ các chức vụ Hàn lâm viện biên tu, Tri phủ Thái Bình, biên tu Quốc tử giám. Đến năm 1851, ông được vua Tự Đức cho an trí, về quê mở trường dạy học. Anh khoá Thắng theo học cụ nghè Vũ Văn Lý là chính, nhưng thỉnh thoảng vẫn xuống tập văn ở trường của Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị mãi vùng biển Nam Định. Cùng lớp tập văn với Trần Bích San (1840 - 1877) người làng Vị Xuyên, tỉnh Nam Định, đậu Tam nguyên lúc 25 tuổi, trước Nguyễn Khuyến bốn khoa.
Ngày dân làng Vĩnh Trụ trùng tu ngôi đình, trân trọng mời quan nghè cất thượng lương và soạn văn bia. Bài văn có đoạn: “Luật lệ của làng là phải tiết kiệm, không được dùng của công vào việc ăn chơi xa xỉ; phải cấm mọi điều gian dối, ngăn chặn tham nhũng; cấm kị việc cạnh tranh kiện cáo. Vẫn biết rằng như lửa khói mỗi ngày bốc lên càng cao, cạnh tranh lợi nhuận là không hề giảm bớt. Việc làng xóm tuy nhiều, nhưng chẳng ngại phiền, chi phí dù lớn cũng chẳng lo tốn kém; trước tiên phải thành hiệu quả trong dân, rồi đến việc phải hết sức thành tâm với thần linh. Có vậy việc mới nên thành quả. Đó là điều cần nói ra vậy.” (Bản dịch của cử nhân Hán văn Phạm Quốc Bằng, tạp chí Xưa Nay số 121, tháng 8.2002). Những lời lẽ ấy còn đúng đến hôm nay và đời sau.
Tiến sỹ Vũ Văn Lý có tập thơ: “Danh thần thi tập”, gồm 120 bài thơ mới được tìm thấy, cho người đọc biết được tâm tư thiết tha của ông với thế cuộc. Trong đó có 7 bài thơ chữ Hán viết về mùa thu, gửi gắm nỗi niềm nhớ quê, khao khát mong sớm được xum họp gia đình. Bài thơ cuối cùng từ biệt triều chính ông viết:
Quân thần phân nghị nhật nhĩ trường
Lão bệnh nan thân xứng sở vương
Phụng quốc nhất tâm thường tỉnh nguyệt
Ưu dân lưỡng phát dĩ thành sương.
Dịch nghĩa: Tình vua tôi trải đã bao ngày
Già yếu bệnh tật chẳng xứng với tấm mong ước (của vua)
Duy chỉ tấm lòng phụng sự đất nước
luôn sáng như trăng rằm
Bởi ưu lo dân mà mái tóc ngả màu sương.
Dịch thơ:
Vua tôi tình trải bao ngày
Tuổi già sao đáp ơn dầy sở vương
Lòng trung - trăng sáng như gương
Nỗi lo dân nước, tóc sương lúc nào
(Nguyễn Thế Vinh dịch)
Mong rằng thi tâp này sớm ra mắt, để người đời nay rõ hơn sự ảnh hưởng của bậc danh sư, với các học trò ưu tú mà tiêu biểu là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi (Ông Nghè Lợi Giao Cù: 1836 - 1877), cùng nhiều môn sinh của ông đã trở thành danh nhân đất nước.
Năm Tự Đức thứ 22 (1871), khi học trò Nguyễn Khuyến đỗ đệ nhị Tiến sĩ xuất thân, đệ nhất danh, thì người thầy Tiến sĩ Vũ Văn Lý được triều đình mời vào kinh sư Huế lần thứ 2 nhận chức Quốc Tử Giám Tế tửu Hàn lâm viện thị giảng (tương đương với chức Hiệu trưởng Trường đại học Quốc gia ngày nay). Quan Nghè họ Vũ rời sông Hương, núi Ngự về quê núi Đọi sông Châu khi 66 tuổi. Giờ Tí ngày 3-5 năm Tự Đức 30 (1878), người thầy lớn của nhiều danh nhân và nhiều thế hệ nho sĩ đã từ trần, thọ 71 tuổi. Vua Tự Đức truy phong Trung thuận đại phu. Văn Thánh của triều đình nhà Nguyễn khắc bia đá lưu danh tên tuổi của ông, tấm bia đá ngày nay vẫn còn.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,