Cái bờ rào trong thơ Dương Thuấn
Nguyễn Thị Thu Hiền
(Đọc bài thơ Cái bờ rào đã mọc lên in trong tập “Đêm bên sông yên lặng” của Dương Thuấn)
Đã có một “giậu mồng tơi xanh rờn” trong thơ Nguyễn Bính. Nhưng đó là giậu mùng tơi nguyên cớ, giậu mùng tơi nối nhịp tìm duyên như vấn vít, giăng giăng muôn sợi tơ hồng. Cái bờ rào trong thơ Dương Thuấn mọc lên đầy thách thức:
Hiện tại giản đơn, rất đỗi bình thường trong cuộc sống thường nhật sao bỗng trở thành điều đáng nói, như ẩn ức trong tâm hồn người dân và tác giả? Bởi hơn ai hết, những người con dân tộc Tày đã sống và yêu vô cùng một cuộc sống:
Không có bờ rào, lối đi thời rộng rãi
Tối đi săn thú về tiện biếu cho nhau thịt
Lúc cất rượu trưa, mời bạn cũng nhanh hơn…
Tôi đã sống ở cái bản tôi tình nghĩa
Mưa phùn trời ấm sang nhà nhau xin lửa
Trẻ khóc đòi ăn sang nhà nhau xin cơm nguội
Đứa trẻ vừa tập đi dắt sang mọi nhà chơi…
Trong những dòng tản văn cũng bàn về hình ảnh cái bờ rào, nhà văn Tạ Duy Anh tinh tế phát hiện ngôi nhà người dân miền xuôi trên đất miền núi qua cách xây dựng bờ rào. Quả thật mỗi miền, mỗi vùng đều có nét đặc trưng khó lẫn, khó nhoà. Không “kín cổng, cao tường” như thị thành, phố xá, người dân miền núi vốn quen với cuộc sống không bờ rào (theo cả hai nghĩa). Có một bản Hon của Dương Thuấn trở đi trở lại trong thơ anh, làm nên hình tượng về đời sống cộng đồng đậm đà tình nghĩa. Một số bài thơ, Dương Thuấn trực tiếp miêu tả bản Hon ở nhiều khoảnh khắc: “Buổi sáng bản Hon”, “Chiều bản Hon”… (tập thơ “Đêm bên sông yên lặng” - Nxb Hội Nhà văn 2004). Mang mang trong các bài khác, đâu đâu cũng có bóng dáng của bản Hon. Trong “Quê hương”, anh viết:
Lá gan đốt trong lòng
Đi đâu rồi cũng trở về
“Về bản”, nỗi nhớ của người con xa quê “dài thêm”. Không mờ nhạt, chung chung, nỗi nhớ quê được cụ thể qua những con người cụ thể:
Ông Ngân hay bẫy cá không còn
Ông Mèo hay đi săn không còn
Ông Nông hay nấu cao không còn
Ông bếp Lằm hay đùa trẻ con
Ông bếp Vò vấn thuốc rê một ngón…
Đau đáu, nhà thơ về bản ngay cả khi ở phố. Anh nói với vợ:
“Em ơi ta ở đâu
Là bản ta ở đó”
Cảm hứng cộng đồng từng trải những niềm hứng khởi ra với sông, với biển (“Theo nước đi”). Dương Thuấn càng không muốn khu biệt dân tộc mình bằng cái bờ rào, dẫu sang thế kỉ hai mươi mốt cái bờ rào đó “thấy rất cần” để:
Không còn lo gà mái nhà bên sang đẻ lộn
Không còn lo lợn rừng ham cám đến tranh ăn
Không còn lo ban đêm có kẻ trộm đến rình
Tiện, lợi, ai cũng “thấy rất cần”. Nhưng chắc chắn cồm cộm lên điều không tiện, lợi về tình nghĩa. Nhà thơ khái quát về điều không tiện, lợi đó:
Sang nhà nhau phải đi vòng hơn một chút
Lời thơ, hình ảnh thơ tự thân đã đem đến những suy ngẫm trực diện về hiện tượng thoạt nhiên rất đỗi bình thường. Từ cái bờ rào ở bản, lại có thể suy ngẫm về biết bao điều đã được rào chắn trong cuộc đời…
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Thị Thu Hiền
(Đọc bài thơ Cái bờ rào đã mọc lên in trong tập “Đêm bên sông yên lặng” của Dương Thuấn)
Đã có một “giậu mồng tơi xanh rờn” trong thơ Nguyễn Bính. Nhưng đó là giậu mùng tơi nguyên cớ, giậu mùng tơi nối nhịp tìm duyên như vấn vít, giăng giăng muôn sợi tơ hồng. Cái bờ rào trong thơ Dương Thuấn mọc lên đầy thách thức:
Hiện tại giản đơn, rất đỗi bình thường trong cuộc sống thường nhật sao bỗng trở thành điều đáng nói, như ẩn ức trong tâm hồn người dân và tác giả? Bởi hơn ai hết, những người con dân tộc Tày đã sống và yêu vô cùng một cuộc sống:
Không có bờ rào, lối đi thời rộng rãi
Tối đi săn thú về tiện biếu cho nhau thịt
Lúc cất rượu trưa, mời bạn cũng nhanh hơn…
Tôi đã sống ở cái bản tôi tình nghĩa
Mưa phùn trời ấm sang nhà nhau xin lửa
Trẻ khóc đòi ăn sang nhà nhau xin cơm nguội
Đứa trẻ vừa tập đi dắt sang mọi nhà chơi…
Trong những dòng tản văn cũng bàn về hình ảnh cái bờ rào, nhà văn Tạ Duy Anh tinh tế phát hiện ngôi nhà người dân miền xuôi trên đất miền núi qua cách xây dựng bờ rào. Quả thật mỗi miền, mỗi vùng đều có nét đặc trưng khó lẫn, khó nhoà. Không “kín cổng, cao tường” như thị thành, phố xá, người dân miền núi vốn quen với cuộc sống không bờ rào (theo cả hai nghĩa). Có một bản Hon của Dương Thuấn trở đi trở lại trong thơ anh, làm nên hình tượng về đời sống cộng đồng đậm đà tình nghĩa. Một số bài thơ, Dương Thuấn trực tiếp miêu tả bản Hon ở nhiều khoảnh khắc: “Buổi sáng bản Hon”, “Chiều bản Hon”… (tập thơ “Đêm bên sông yên lặng” - Nxb Hội Nhà văn 2004). Mang mang trong các bài khác, đâu đâu cũng có bóng dáng của bản Hon. Trong “Quê hương”, anh viết:
Lá gan đốt trong lòng
Đi đâu rồi cũng trở về
“Về bản”, nỗi nhớ của người con xa quê “dài thêm”. Không mờ nhạt, chung chung, nỗi nhớ quê được cụ thể qua những con người cụ thể:
Ông Ngân hay bẫy cá không còn
Ông Mèo hay đi săn không còn
Ông Nông hay nấu cao không còn
Ông bếp Lằm hay đùa trẻ con
Ông bếp Vò vấn thuốc rê một ngón…
Đau đáu, nhà thơ về bản ngay cả khi ở phố. Anh nói với vợ:
“Em ơi ta ở đâu
Là bản ta ở đó”
Cảm hứng cộng đồng từng trải những niềm hứng khởi ra với sông, với biển (“Theo nước đi”). Dương Thuấn càng không muốn khu biệt dân tộc mình bằng cái bờ rào, dẫu sang thế kỉ hai mươi mốt cái bờ rào đó “thấy rất cần” để:
Không còn lo gà mái nhà bên sang đẻ lộn
Không còn lo lợn rừng ham cám đến tranh ăn
Không còn lo ban đêm có kẻ trộm đến rình
Tiện, lợi, ai cũng “thấy rất cần”. Nhưng chắc chắn cồm cộm lên điều không tiện, lợi về tình nghĩa. Nhà thơ khái quát về điều không tiện, lợi đó:
Sang nhà nhau phải đi vòng hơn một chút
Lời thơ, hình ảnh thơ tự thân đã đem đến những suy ngẫm trực diện về hiện tượng thoạt nhiên rất đỗi bình thường. Từ cái bờ rào ở bản, lại có thể suy ngẫm về biết bao điều đã được rào chắn trong cuộc đời…
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,