Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Còn mãi tình thâm gửi tiền nhân

0 trả lời, 144 lượt xem — Trang 1 / 1
Còn mãi tình thâm gửi tiền nhân

Bảo Trung

Ông chỉ lẳng lặng cười khi chúng tôi gọi ông là nhà khảo cổ có tâm hồn thi sĩ, bởi ông thường tỏ bày những xúc cảm của mình trước lịch sử và các đấng tiên hiền theo một cách riêng, đó là những rung cảm hiện hữu bên lề của từng trang báo cáo khô khan của khảo cổ - lĩnh vực mà ông nặng mang suốt cuộc đời như một nghiệp duyên.

1. Nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật đã không cầm được nước mắt khi nhận được hung tin: hòn Vọng phu đã bị những kẻ thủ lợi thiển cận đập phá, nung vôi; vĩnh viễn xoá sổ một di tích in dấu đậm sâu trong dòng chảy văn hóa, giữa phù trầm, hưng phế của lịch sử và tâm thức của bao thế hệ người Việt Nam. Gần 40 năm về trước, ngay dưới chân hòn Vọng phu ông đã kính cẩn nghiêng mình và làm mấy câu thơ gửi tặng... linh hồn tượng đá. Ông quả quyết vẫn còn lãng đãng đâu đây nỗi uẩn tình của người con gái của quan tư đồ Trần Nguyên Hãn và là mẹ Nguyễn Trãi, khóc chồng khi cùng con trai là Nguyễn Trãi tiễn đưa phu quân Nguyễn Phi Khanh ở Đông Quan. ông cho rằng hòn Vọng phu chính là nỗi niềm của người cô phụ khi cảm thấu rằng “ái biệt ly” tựa hồ nhát chém hư vô, mãi mãi chia lìa và để lại một khoảng trống không có gì có thể bù đắp nổi trong lòng. Ông viết: “Vọng phu là đá chờ chồng/ Trơ trơ năm tháng mà lòng không phai/ Đá mòn nhưng dạ không mòn/ Còn non còn nước hãy còn chờ mong...”

Những người bạn đồng hành với ông hôm ấy cũng đã bày tỏ sự đồng cảm với ông trong nỗi cảm hoài của một người có trái tim thi sĩ và rất dễ xúc động như ông. “Theo tôi, nàng Vọng phu hình như chưa bao giờ tuyệt vọng, chúng ta hôm nay và hậu thế cũng không tuyệt vọng”, ông nói.

Dường như trong mịt mù khói lửa của những mùa chiến chinh tao loạn, hơn ai hết phụ nữ là người phải hứng đỡ nhiều thiệt thòi và mất mát nhất. Điều đó mãi làm ông ưu tư mỗi khi bắt gặp những di chỉ có liên quan đến đối tượng đặc biệt này. Có một lần theo đoàn khảo cổ tiến hành khai quật di chỉ thành Cổ Loa vào năm 1962, ngồi bên giếng cũ, nền xưa và đền đài của một thời quá vãng, ông cật vấn: “Rõ ràng các sử gia đương đại đã thiếu căn cứ khi kết án oan cho Mỵ Châu; tại sao nàng lại có thể là một kẻ phản bội được. Nàng có một tình yêu thật đẹp và còn là một người rất chung tình với người mình yêu?”. Ông Đỗ Đình Truật cho hay, vào thời kỳ đó chế độ mẫu hệ đang ở vào giai đoạn cực thịnh, người phụ nữ luôn được suy tôn hàng đầu. Đứng trước tượng Mỵ Châu bị cụt đầu mà sách giáo khoa về lịch sử đã nhất mực khẳng định là nàng bị An Dương Vương chặt đầu vì tội phản bội. Ông không tin và đặt dấu hỏi: Trên thực tế biết đâu Mỵ Châu là một nữ chiến binh đã vong thân khi lâm trận trong cuộc chiến một mất một còn với kẻ thù? Thẫn thờ trước tượng người xưa, khi bóng tịch dương buông phủ, ông bày tỏ tiếng lòng bằng những dòng đau đáu: “Tôi đến Loa thành thăm Mỵ Châu/ Người xưa nay đã khuất lâu rồi/ Giếng ngọc còn đây còn vết ngọc/ Tượng không đầu thương lắm Mỵ Châu ơi/ Có phải vì yêu mà lầm lỗi/ Hỡi người con gái mấy ngàn năm/ Hay vì non nước quên son phấn?/ Vó ngựa thanh gươm mộng chiến trần...”

Những câu thơ của một người làm công tác khảo cổ - một công việc đơn điệu và tỉ mẩn tưởng chừng như hoàn toàn trái chiều với nhau nhưng với ông đó lại là những khoảnh khắc bay bổng, lãng mạn nhất của người làm khoa học khảo cổ. Thế nhưng chính điều này cũng đã khiến cho không ít người cho là gàn gở, thậm chí còn đặt dấu hỏi và cho rằng ông là người “có vấn đề” trong nhận thức các vấn đề lịch sử. Có người còn quở trách ông đã quá chủ quan khi đã quá lãng mạn hoá nhân vật Mỵ Châu mà quên đi rằng đây là bài học về sự mất cảnh giác, cho nên mới dẫn đến hệ quả là mất nước. ông vuốt chòm râu khô trắng như cước rồi cười buồn nói với tôi: “Người ta cảnh giác cũng là có lý thôi”.

2. Ông thực sự quan tâm và ngưỡng mộ đặc biệt với các bậc anh hùng tiên liệt của dân tộc, ông ấp ủ điều này từ khi còn là cậu học trò nhỏ ở trường Lê Khiết (Quảng Ngãi). Ước mơ đã thành hiện thực khi ông ra miền Bắc năm 1954, rồi sau đó được Nhà nước cử đi học về khảo cổ ở thành phố Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc). Đây cũng là giai đoạn mà ông dành nhiều tâm lực nhất tạo nên sự kết nối, dung hoà giữa xúc cảm lãng mạn và hoạt động nghề nghiệp. Ông có tham vọng đi tìm kiếm và dựng lại những diện mạo của lịch sử, đặt các giá trị này đúng vị trí cũng như các giá trị thực của nó. “Lẽ nhiên đã yêu nước thì phải biết cội nguồn và có tâm hồn. Đó là sự dung hoà giữa quá khứ và hiện tại. Suốt đời tôi chỉ nặng mang một chữ THươNG mà thôi”, ông trầm giọng. Ông rất không hài lòng khi biết một số người thuộc hàng “chiếu trên” trong làng sử học đã cố tình huyền sử hóa lịch sử đích thực; tự cho mình có quyền phán xét, thậm chí còn dám đứng lên kết án các nhân vật lịch sử mà không hề dựa vào một căn cứ hay tiêu chí khoa học cụ thể nào!

“Hãy để cho lịch sử tự chứng minh lịch sử, mọi giá trị rồi sẽ được trả lại đúng nghĩa, bởi lịch sử rất cần sự công tâm và sòng phẳng”, ông khẳng định chắc nịch.

Trong những ngày nghỉ học ở Trung Quốc, ông dành nhiều thì giờ lục tìm trong tàng thư và các nguồn thông tin khác nhau, ghi chép tỉ mỉ, hệ thống hoá các nguồn dữ liệu về các danh tướng Việt vì nhiều lý do khác nhau phải chịu kiếp lưu đày và gửi lại nắm xương tàn nơi đất khách. Có lần đặt chân tới Long Châu (Quảng Tây) ông đã lặng người đi hồi lâu tưởng chừng như không còn tin vào mắt của mình khi đọc hàng chữ “Cố tướng quân Nguyễn Thiện Thuật chi mộ”. Nơi an nghỉ của Tán tướng Nguyễn Thiện Thuật đây ư? Lặng đi hồi lâu, khi cơn xúc động lắng lại, thầy Trần Văn Giáp - một người được giới trí thức Trung Quốc hồi đó tôn xưng là Quách Mạt Nhược của Việt Nam và cũng là thầy giáo của ông Truật đã nhắc ông viết ngay bài điếu văn để tưởng nhớ bậc tiên hiền. Không cần nghĩ suy nhiều, ngay lập tức câu chữ ùa tràn cả trang giấy như một sự đồng ứng với bối cảnh “tha phương ngộ cố tri” đầy xúc động: “Một nén hương tàn bay tỏa khói. Nhìn lên bao mặt ủ sầu thương. Đá bia vương vấn tình đất nước. ái quốc yêu dân buổi đoạn trường. Gặp lúc nước nhà cơn lửa đạn. Làm trai há ngại buổi phong ba. Rừng lau Bãi Sậy quân một nhóm. Chính nghĩa không mờ bóng quốc gia ...”

… Hôm nay gió lặng cây dừng, trời quang đất sáng. Hương một nén xin nhớ người dĩ vãng. Thơ vài dòng xin nhắc lại ơn xưa. Người nằm đó chắc người cũng rõ, tình Việt-Trung hai nước anh em. Tuy người xa khuất núi sông, nhưng bia cách mạng còn ghi tên người...

Trong tiết thanh minh lành lạnh nơi xứ người, hai thầy trò thấy ấm lòng, ngập tràn bao cảm xúc khó tả trước sự hữu duyên này mà không phải bất cứ ai cũng có được. Cũng trong thời gian này, ông còn nuôi hy vọng tìm cho được nơi an nghỉ của Hồ Quý Ly - một vị quân vương có nhiều công trạng trong việc cải cách, cân tân kinh tế - xã hội của đất nước. Thế nhưng cuộc kiếm tìm này bất thành, ông về nước mang theo một nỗi canh cánh bên lòng và hứa với lòng mình là sẽ có ngày quay trở lại để tìm cho được mộ phần của Hồ Quý Ly, thực hiện vẹn tròn tâm nguyện của mình.

3. Gần đây, niềm hy vọng ấp ủ gần nửa thế kỷ tưởng chừng như bị chìm khuất bởi cuộc mưu sinh thường nhật, bỗng nhiên loé bùng lên khi ông được Hội khoa học lịch sử Việt Nam tài trợ kinh phí cho chuyến đi Trung Quốc để thực hiện nốt ước nguyện còn dang dở. ông thức trọn một đêm trước chuyến đi mà từ bấy lâu nay trông đợi, mọi người thân của ông ngạc nhiên khi thấy ông trở nên trầm tư, ít nói hơn ngày thường, ông chong đèn suốt đêm lần giở từng trang tư liệu đã ố màu thời gian về Hồ Quý Ly; từng cơn gió lạnh từ phương Bắc thổi về làm tung mái tóc bạc trắng, phủ kín lên từng trang sách. Trên đất nước Trung Quốc rộng lớn, qua chuyến hành trình dài dằng dặc, ông có cảm giác như đang ngồi trên cỗ xe đi ngược dòng về lịch sử. Đến Nam Kinh, người dẫn đường đưa ông đến một nghĩa trang cổ tại núi Lão Hổ Sơn - đây là cụm núi nhỏ có diện tích gần 80 ha nằm bên bờ nam sông Dương Tử. Bẻ cây rừng chống làm gậy leo lên núi, ông chăm đắm đọc kỹ từng bia mộ. Ông dừng lại rất lâu bên nấm mộ có tên là Hồ Văn Hải, mất cách đây l00 năm. Bằng linh cảm riêng mình, ông tin rằng có thể đây là là mộ phần hậu duệ của Hồ Quý Ly. Và khi làn khói hương trắng bay lên cao thì câu thơ xưa ông viết tặng tiền nhân gần nửa thế kỷ bỗng ùa về trong ký ức: “Anh hùng thất thế trơ thành quách/ Dẫu có buồn thương cũng đế vương/ Sông Mã bao phen gầm sóng đỏ/ Cơ đồ còn đó nghĩ mà thương…”

Khi tuần hương vừa hết, ông lặng lẽ tưới rượu lên đỉnh núi, ngồi lại một lúc và đắm mình theo dòng mặc tưởng bất tận.

Cả một làng họ Hồ ở dưới chân núi đã đón ông như một người thân lâu ngày mới trở về. Ông và họ chuyện ngắn, chuyện dài suốt canh thâu. Mọi người lấy làm ngạc nhiên khi biết một người Việt Nam đã bước vào tuổi “thất thập” mà không quản ngại đường thiên lý diệu với để đến nơi đây. Nhiều người già trong làng đã ôm lấy nhau mà khóc oà lên khi được nghe ông kể về chuyện lưu đày của Hồ Quý Ly gần 600 năm về trước cũng như thân phận của Người.

Không xác định được chính xác mộ phần của Hồ Quý Ly, ông thở dài lẳng lặng đào lấy một nắm đất nhỏ trên núi Lão Hổ Sơn, cất kỹ vào túi mang về Việt Nam; dọc đường về ông luôn ôm kỹ nắm đất trên tay như một vật vô cùng linh thiêng mà dường như chỉ có riêng ông mới cảm nhận rõ. Ông ước ao có thêm thời gian và sức khoẻ để hy vọng còn trở lại nơi này, tìm đúng nơi an nghỉ của Người, đem thiên kim của Người về với cố quốc thì mới thoả lòng.

Nhìn gương mặt gân guốc và đôi mắt luôn ánh lên niềm lạc quan quan của ông; chạm tay vào nắm đất lạnh ông đã kỹ lưỡng mang về, tôi tin vào niềm tin mà ông đã suốt đời dành trọn.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0