Nguyễn Thuý Quỳnh-Trở về với biển hãi hùng đêm
Trịnh Thanh Sơn
Phải thú nhận rằng, đã lâu lắm rồi, tôi mới lại có được cái cảm giác sửng sốt trước thơ, sửng sốt trong cảm thức buồn đau, vui sướng, tin cậy, ngạc nhiên. Thơ đã làm được một trong những công việc của nó, ấy là làm cho lòng người tan nát! Tan nát để làm gì, không ai biết nữa, nhưng cứ phải là tan nát, thế thôi! Có lẽ, đó là sự tan nát của đất, sau phơi ải và cày bừa vò xé, những mầm mạ nảy mầm, vươn lên rồi xanh mơn mởn, xanh vô tư, xanh thăm thẳm, xanh đến hãi hùng...
Cảm giác mà tôi có được là bởi hai tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh, tập Giá mà em từ chối (Nxb Văn hoá Dân tộc - 2002) và Mưa mùa đông (Nxb Hội Nhà văn - 2004). Đọc thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, tôi chợt nhận ra rằng, đây là thơ của một cô gái hồn nhiên, trong trẻo, một người thiếu phụ đoan trang, hiền dịu, một người tình đam mê, say đắm, cuồng nhiệt, đớn đau... Nói chung, thơ Nguyễn Thuý Quỳnh bài nào hay đều rất buồn, một nỗi buồn không nước mắt, nỗi buồn kiêu hãnh, và như thế lại càng “đoạn trường” hơn. Có thể gọi đó là “Những nỗi buồn khô” vậy! Và đây, nỗi buồn khô thứ nhất:
Bước chân người chầm chậm gieo vào
ta như tiếng đóng đinh
Phút chịu nạn, nào đâu chỉ Chúa.
Người trong ta sao thành xa lạ?
… Có sự hoá thân nào trên bờ cát
trinh nguyên
Giờ mất người, ta mất chút thiên đường
duy nhất
Thôi người đi, trước khi chiều vụt tắt
Ta trở về với biển hãi hùng đêm...
(Thơ cuối chiều)
Chuyện những lứa đôi chia tay, những cuộc hôn nhân tan vỡ trên thế gian này cũ như trái đất, nỗi buồn trong nỗi biệt ly cũng quen thuộc như bàn tay năm ngón, dễ làm cho ta cảm thấy buồn nản chai sạn. Tuy nhiên, qua những câu thơ trên, người đọc bỗng cảm thương cho thân phận cô gái (hay người thiếu phụ) bị bạc tình. Có cái gì như là oan uổng cho cô gái trong cuộc chia ly này, bởi cô còn yêu người trai kia lắm lắm! Cô cảm thấy mình như Chúa Giê su đang bị đóng đinh câu rút, nếu mất người ấy, cô sẽ mất “chút thiên đường duy nhất”, và đơn độc “trở về với biển hãi hùng đêm”:
Trở về nơi một lần ta có tên
Có chiếc vỏ sò úp cuộc đời lên cát
Con thuyền cô đơn đến từng vân
gỗ chát
Từng mạch máu trong ta nhắc tên
người như dại như điên...
(Bài trên)
Tưởng không còn khổ đau nào, tuyệt vọng nào, mất mát nào hơn thế nữa. Lạ lùng sao, cô gái vẫn còn yêu: “Từng mạch máu trong ta nhắc tên người như dại, như điên!” Chao ơi, với một người con gái bị bỏ rơi, phải thổ lộ điều thầm kín ấy ra, đau đớn đến ngần nào, thành thực biết ngần nào! Và chính sự chân thành ấy đã làm ta cảm động!
Và đây nỗi buồn khô thứ hai:
Được tin người gửi thiệp hồng
Mà như muối xát vào lòng. Là sao?
Rằng quen? Vừa mới hôm nao
Rằng yêu? Đã được phút nào yêu đâu!
(Được tin)
Sao vậy nhỉ? Một người đàn ông vừa quen hôm nao, một người đàn ông chưa được một phút yêu nào, vậy mà khi được tin người ấy lấy vợ, cô gái bỗng đau đớn, xót xa như xát muối vào lòng. Trong con mắt của những kẻ tỉnh táo, những kẻ có “thần kinh thép”, thậm chí trong con mắt vô hồn của người lãnh cảm, cô gái này “hâm hấp”, “chập cheng”, bệnh lý... hẳn hoi rồi! Ai chấp làm gì cái con người cứ “Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” ấy? Không những thế, cô gái còn cứ xưng xưng, kể ra bao chuyện nực cười. Nào là: “Chỉ là cứ mãi nhớ nhau/ Chỉ là ngơ ngẩn vì câu nói đùa/ Người như bóng nắng ngày mưa/ Bừng lên, đủ để sững sờ. Rồi thôi...” chưa hết, lại còn thế này nữa chứ:
Người đem ánh mắt hay cười
Che tôi đỡ giá lạnh. Rồi lại đi
Tự tôi chả muốn nghĩ gì
Mình thì xuất giá, họ thì còn không...
Thì ra là thế này: Một người thiếu phụ, bất chợt trong một hoàn cảnh nào đó gặp một thanh niên (hay một người đàn ông) chưa vợ. Gặp nhau dăm bữa nửa tháng rồi chia tay, mỗi người mỗi ngả. Lâu sau, người đàn ông lấy vợ, gửi thiệp hồng mời (hay báo tin) cho người thiếu phụ biết, thế là ra nông nỗi: Nghe tin người gửi thiệp hồng/ Mà như muối xát vào lòng. Là sao? Bài thơ đẹp, đẹp từ những câu lục bát đẹp đi, và buồn, buồn lắm, buồn một nỗi buồn tinh khôi và kiêu hãnh. Chỉ cần đọc một lần là có thể thể bám vào trí nhớ, nhờ ở cái tứ độc đáo, nhờ ở sự chân thật và khéo léo, nhờ ở sự phổ quát trong tình cảm con người. Bài thơ gợi tôi nhớ đến một truyện ngắn rất hay của Tsêkhốp: Người đàn bà và con chó nhỏ. Buồn miên man...
“Rằng quen? Vừa mới hôm nao/ Rằng yêu? Đã được phút nào yêu đâu!’’ Nói là nói vậy, nhưng trong lòng, họ đã yêu nhau rồi, yêu tha thiết đắm say rồi, chỉ có điều lý trí và lễ giáo ngăn họ lại trước một giới hạn nào đấy thôi. Người đời, thường gọi những mối tình như thế là “tình yêu sét đánh”. Cô gái nói: “Đã được phút nào yêu đâu!” là một lời tự thú, thậm chí một lời hờn trách, không phải hờn trách người đàn ông mà là hờn trách ông trời, hờn trách số phận. Rồi, cô gái tự thú thêm, chân thành hơn nữa, rằng: “Chỉ là cứ mãi nhớ nhau”, rằng: “Chỉ là ngơ ngẩn vì câu nói đùa!”. Lời tự thú này vẽ lên bức chân dung người đàn ông. Hẳn là, người đàn ông mà cô gái phải “ngơ ngẩn vì một câu nói đùa” kia thông minh, hóm hỉnh và có duyên lắm. Không thế, làm sao cô gái còn ví von thêm, rằng anh như tia nắng trong ngày mưa, ánh mắt hay cười của anh có thể che cho em đỡ giá lạnh… Hình ảnh người đàn ông trong cảm nhận của cô gái thật đẹp đẽ, thật mã thượng, có sức hút hồn người. Cái con người hoàn hảo, hào hoa ấy, chỉ vừa gặp, cô gái thú nhận là đã yêu mê mệt. Nhưng họ không thể tới được với nhau, chỉ vì hoàn cảnh mà thôi “Mình thì xuất giá, họ thì còn không!”. Dùng đại từ ngôi thứ ba, số nhiều “họ” để chỉ người đàn ông kia, người thiếu phụ cố tình đẩy xa người ấy ra, đẩy xa niềm đam mê ấy ra, trong một tiếc thương và buồn đau thê thảm! Theo tôi, đây là một bài thơ tình thật hay, thật toàn bích, có chỗ đứng trong bất cứ tuyển tập thơ tình nào, nói riêng, và bất cứ tuyển tập thơ Việt nào, nói chung!
Còn đây nữa, nỗi buồn khô thứ ba:
Không chỉ sinh ra để mang những gì người ta chất lên
Còn mang cả chính mình
Những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng
Thế mà những dấu chân
Không để lại hình hài trên sa mạc
… Lớn hơn nỗi cô đơn
Là nhận ra không ai có thể mang gánh nặng hộ mình
Lỡ một mai kiệt sức
Trên cả sự chịu đựng
Những bàn chân lầm lũi bước
Còn xa lắm cái ngày kết thúc
Những bước chân xoáy ngược chiều bão cát
Khúc trường - ca - độc - hành
(Thơ về lạc đà)
Có thể nói ngay rằng, Thơ về lạc đà là bài thơ mới nhất, hiện đại nhất, có cách riêng biệt nhất trong cả hai tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh. Đề tài bài thơ rất giản dị, như bài văn tả con vật của học trò lớp năm, lớp sáu: “Em hãy tả con lạc đà đi trong sa mạc” và Nguyễn Thúy Quỳnh đã mượn cái đề văn ấy của học trò để làm... thi sỹ. Thoạt vào đề, chị viết:
Trời hoang hoang nắng
Cát mênh mang trắng
Lạc đà thầm lặng đi
Mở đề như thế là bám sát đề tài. Là thầy giáo, tôi sẽ phán như vậy. Rồi khen thêm: Hai điệp ngữ “hoang hoang” và “mênh mang” là có sáng tạo về ngôn ngữ.
Vào phần thân bài, phần phát triển, ta chợt thấy cô học trò biến mất, hiện nguyên hình là một nhà thơ. Con lạc đà của nhà thơ khác con lạc đà của học trò ở chỗ phải “mang cả chính mình”, “những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng” và “không để lại hình hài trên sa mạc”.
Nhưng đến câu này thì ngay cả các nhà thơ không phải ai cũng viết được, hoặc lúc nào cũng viết được:
Không thể nói gì về sự còn mất
Với những đám xương rồng vô tâm
ở đoạn phát triển, tất cả hồn vía bài thơ nhập vào đây. Nỗi lo âu này là có thật, xa xót và thổn thức biết bao:
Lớn hơn nỗi cô đơn
Là nhận ra không ai mang gánh nặng hộ mình
Lỡ một mai kiệt sức.
Niềm ao ước tới bến, tới bờ là khát vọng có thực, nó lớn hơn cả sự chịu đựng. Chịu đựng bao nhiêu cũng được, miễn trong ta còn chút hy vọng sẽ có ngày tới đích, dẫu ta tự ý thức rằng, cái đích còn xa vời lắm:
Trên cả sự chịu đựng
những bàn chân lầm lũi bước
Còn xa lắm cái ngày kết thúc.
Bài thơ được viết bằng giọng lạnh lùng, khô khan, rất ít nữ tính, nhịp điệu rắn đanh, gân guốc mà gieo vào lòng người đọc một mỹ cảm lạ lùng. Đây là mỹ cảm của trí tuệ, mỹ cảm của nghị lực, mỹ cảm của minh triết, nó khác xa cái véo von, sướt mướt đang như một bệnh dịch tràn ngập mọi xó xỉnh của đời sống. Bài thơ mới và hay đến độ, tôi cứ ngờ ngợ có phải là giọng điệu của ai đó, thậm chí tôi nghĩ là một bản dịch của nhà thơ Hy Lạp: Ritxốt!
Không phải đâu, tôi đùa đấy, dẫu rằng câu đùa nhạt nhẽo chẳng làm ai phải “ngẩn ngơ” cả. Có thể nói, trí tuệ là một trong những phẩm chất nổi trội trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Những bài như: Giá có thể làm được điều gì khác; Bài hát về những tường thành; Người đàn ông đi qua con đường của tôi; Tự bạch, Nghĩ về đàn ông... là những minh chứng cho phẩm chất trí tuệ trong thơ của chị.
Xin được dẫn ra đây một bài tứ tuyệt:
Một ngàn năm trước có ai trông
Mà đến Hồ Tây sóng ngập lòng
Đặt dấu môi này vào đáy nước
Ngàn năm quay lại, thấy người không?
(Ghi ở Hồ Tây, năm 2000)
Đọc xong, cứ ngỡ là thơ Thôi Hiệu!
Lại đùa rồi. Và chẳng ai “ngơ ngẩn” cả!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Trịnh Thanh Sơn
Phải thú nhận rằng, đã lâu lắm rồi, tôi mới lại có được cái cảm giác sửng sốt trước thơ, sửng sốt trong cảm thức buồn đau, vui sướng, tin cậy, ngạc nhiên. Thơ đã làm được một trong những công việc của nó, ấy là làm cho lòng người tan nát! Tan nát để làm gì, không ai biết nữa, nhưng cứ phải là tan nát, thế thôi! Có lẽ, đó là sự tan nát của đất, sau phơi ải và cày bừa vò xé, những mầm mạ nảy mầm, vươn lên rồi xanh mơn mởn, xanh vô tư, xanh thăm thẳm, xanh đến hãi hùng...
Cảm giác mà tôi có được là bởi hai tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh, tập Giá mà em từ chối (Nxb Văn hoá Dân tộc - 2002) và Mưa mùa đông (Nxb Hội Nhà văn - 2004). Đọc thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, tôi chợt nhận ra rằng, đây là thơ của một cô gái hồn nhiên, trong trẻo, một người thiếu phụ đoan trang, hiền dịu, một người tình đam mê, say đắm, cuồng nhiệt, đớn đau... Nói chung, thơ Nguyễn Thuý Quỳnh bài nào hay đều rất buồn, một nỗi buồn không nước mắt, nỗi buồn kiêu hãnh, và như thế lại càng “đoạn trường” hơn. Có thể gọi đó là “Những nỗi buồn khô” vậy! Và đây, nỗi buồn khô thứ nhất:
Bước chân người chầm chậm gieo vào
ta như tiếng đóng đinh
Phút chịu nạn, nào đâu chỉ Chúa.
Người trong ta sao thành xa lạ?
… Có sự hoá thân nào trên bờ cát
trinh nguyên
Giờ mất người, ta mất chút thiên đường
duy nhất
Thôi người đi, trước khi chiều vụt tắt
Ta trở về với biển hãi hùng đêm...
(Thơ cuối chiều)
Chuyện những lứa đôi chia tay, những cuộc hôn nhân tan vỡ trên thế gian này cũ như trái đất, nỗi buồn trong nỗi biệt ly cũng quen thuộc như bàn tay năm ngón, dễ làm cho ta cảm thấy buồn nản chai sạn. Tuy nhiên, qua những câu thơ trên, người đọc bỗng cảm thương cho thân phận cô gái (hay người thiếu phụ) bị bạc tình. Có cái gì như là oan uổng cho cô gái trong cuộc chia ly này, bởi cô còn yêu người trai kia lắm lắm! Cô cảm thấy mình như Chúa Giê su đang bị đóng đinh câu rút, nếu mất người ấy, cô sẽ mất “chút thiên đường duy nhất”, và đơn độc “trở về với biển hãi hùng đêm”:
Trở về nơi một lần ta có tên
Có chiếc vỏ sò úp cuộc đời lên cát
Con thuyền cô đơn đến từng vân
gỗ chát
Từng mạch máu trong ta nhắc tên
người như dại như điên...
(Bài trên)
Tưởng không còn khổ đau nào, tuyệt vọng nào, mất mát nào hơn thế nữa. Lạ lùng sao, cô gái vẫn còn yêu: “Từng mạch máu trong ta nhắc tên người như dại, như điên!” Chao ơi, với một người con gái bị bỏ rơi, phải thổ lộ điều thầm kín ấy ra, đau đớn đến ngần nào, thành thực biết ngần nào! Và chính sự chân thành ấy đã làm ta cảm động!
Và đây nỗi buồn khô thứ hai:
Được tin người gửi thiệp hồng
Mà như muối xát vào lòng. Là sao?
Rằng quen? Vừa mới hôm nao
Rằng yêu? Đã được phút nào yêu đâu!
(Được tin)
Sao vậy nhỉ? Một người đàn ông vừa quen hôm nao, một người đàn ông chưa được một phút yêu nào, vậy mà khi được tin người ấy lấy vợ, cô gái bỗng đau đớn, xót xa như xát muối vào lòng. Trong con mắt của những kẻ tỉnh táo, những kẻ có “thần kinh thép”, thậm chí trong con mắt vô hồn của người lãnh cảm, cô gái này “hâm hấp”, “chập cheng”, bệnh lý... hẳn hoi rồi! Ai chấp làm gì cái con người cứ “Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” ấy? Không những thế, cô gái còn cứ xưng xưng, kể ra bao chuyện nực cười. Nào là: “Chỉ là cứ mãi nhớ nhau/ Chỉ là ngơ ngẩn vì câu nói đùa/ Người như bóng nắng ngày mưa/ Bừng lên, đủ để sững sờ. Rồi thôi...” chưa hết, lại còn thế này nữa chứ:
Người đem ánh mắt hay cười
Che tôi đỡ giá lạnh. Rồi lại đi
Tự tôi chả muốn nghĩ gì
Mình thì xuất giá, họ thì còn không...
Thì ra là thế này: Một người thiếu phụ, bất chợt trong một hoàn cảnh nào đó gặp một thanh niên (hay một người đàn ông) chưa vợ. Gặp nhau dăm bữa nửa tháng rồi chia tay, mỗi người mỗi ngả. Lâu sau, người đàn ông lấy vợ, gửi thiệp hồng mời (hay báo tin) cho người thiếu phụ biết, thế là ra nông nỗi: Nghe tin người gửi thiệp hồng/ Mà như muối xát vào lòng. Là sao? Bài thơ đẹp, đẹp từ những câu lục bát đẹp đi, và buồn, buồn lắm, buồn một nỗi buồn tinh khôi và kiêu hãnh. Chỉ cần đọc một lần là có thể thể bám vào trí nhớ, nhờ ở cái tứ độc đáo, nhờ ở sự chân thật và khéo léo, nhờ ở sự phổ quát trong tình cảm con người. Bài thơ gợi tôi nhớ đến một truyện ngắn rất hay của Tsêkhốp: Người đàn bà và con chó nhỏ. Buồn miên man...
“Rằng quen? Vừa mới hôm nao/ Rằng yêu? Đã được phút nào yêu đâu!’’ Nói là nói vậy, nhưng trong lòng, họ đã yêu nhau rồi, yêu tha thiết đắm say rồi, chỉ có điều lý trí và lễ giáo ngăn họ lại trước một giới hạn nào đấy thôi. Người đời, thường gọi những mối tình như thế là “tình yêu sét đánh”. Cô gái nói: “Đã được phút nào yêu đâu!” là một lời tự thú, thậm chí một lời hờn trách, không phải hờn trách người đàn ông mà là hờn trách ông trời, hờn trách số phận. Rồi, cô gái tự thú thêm, chân thành hơn nữa, rằng: “Chỉ là cứ mãi nhớ nhau”, rằng: “Chỉ là ngơ ngẩn vì câu nói đùa!”. Lời tự thú này vẽ lên bức chân dung người đàn ông. Hẳn là, người đàn ông mà cô gái phải “ngơ ngẩn vì một câu nói đùa” kia thông minh, hóm hỉnh và có duyên lắm. Không thế, làm sao cô gái còn ví von thêm, rằng anh như tia nắng trong ngày mưa, ánh mắt hay cười của anh có thể che cho em đỡ giá lạnh… Hình ảnh người đàn ông trong cảm nhận của cô gái thật đẹp đẽ, thật mã thượng, có sức hút hồn người. Cái con người hoàn hảo, hào hoa ấy, chỉ vừa gặp, cô gái thú nhận là đã yêu mê mệt. Nhưng họ không thể tới được với nhau, chỉ vì hoàn cảnh mà thôi “Mình thì xuất giá, họ thì còn không!”. Dùng đại từ ngôi thứ ba, số nhiều “họ” để chỉ người đàn ông kia, người thiếu phụ cố tình đẩy xa người ấy ra, đẩy xa niềm đam mê ấy ra, trong một tiếc thương và buồn đau thê thảm! Theo tôi, đây là một bài thơ tình thật hay, thật toàn bích, có chỗ đứng trong bất cứ tuyển tập thơ tình nào, nói riêng, và bất cứ tuyển tập thơ Việt nào, nói chung!
Còn đây nữa, nỗi buồn khô thứ ba:
Không chỉ sinh ra để mang những gì người ta chất lên
Còn mang cả chính mình
Những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng
Thế mà những dấu chân
Không để lại hình hài trên sa mạc
… Lớn hơn nỗi cô đơn
Là nhận ra không ai có thể mang gánh nặng hộ mình
Lỡ một mai kiệt sức
Trên cả sự chịu đựng
Những bàn chân lầm lũi bước
Còn xa lắm cái ngày kết thúc
Những bước chân xoáy ngược chiều bão cát
Khúc trường - ca - độc - hành
(Thơ về lạc đà)
Có thể nói ngay rằng, Thơ về lạc đà là bài thơ mới nhất, hiện đại nhất, có cách riêng biệt nhất trong cả hai tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh. Đề tài bài thơ rất giản dị, như bài văn tả con vật của học trò lớp năm, lớp sáu: “Em hãy tả con lạc đà đi trong sa mạc” và Nguyễn Thúy Quỳnh đã mượn cái đề văn ấy của học trò để làm... thi sỹ. Thoạt vào đề, chị viết:
Trời hoang hoang nắng
Cát mênh mang trắng
Lạc đà thầm lặng đi
Mở đề như thế là bám sát đề tài. Là thầy giáo, tôi sẽ phán như vậy. Rồi khen thêm: Hai điệp ngữ “hoang hoang” và “mênh mang” là có sáng tạo về ngôn ngữ.
Vào phần thân bài, phần phát triển, ta chợt thấy cô học trò biến mất, hiện nguyên hình là một nhà thơ. Con lạc đà của nhà thơ khác con lạc đà của học trò ở chỗ phải “mang cả chính mình”, “những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng” và “không để lại hình hài trên sa mạc”.
Nhưng đến câu này thì ngay cả các nhà thơ không phải ai cũng viết được, hoặc lúc nào cũng viết được:
Không thể nói gì về sự còn mất
Với những đám xương rồng vô tâm
ở đoạn phát triển, tất cả hồn vía bài thơ nhập vào đây. Nỗi lo âu này là có thật, xa xót và thổn thức biết bao:
Lớn hơn nỗi cô đơn
Là nhận ra không ai mang gánh nặng hộ mình
Lỡ một mai kiệt sức.
Niềm ao ước tới bến, tới bờ là khát vọng có thực, nó lớn hơn cả sự chịu đựng. Chịu đựng bao nhiêu cũng được, miễn trong ta còn chút hy vọng sẽ có ngày tới đích, dẫu ta tự ý thức rằng, cái đích còn xa vời lắm:
Trên cả sự chịu đựng
những bàn chân lầm lũi bước
Còn xa lắm cái ngày kết thúc.
Bài thơ được viết bằng giọng lạnh lùng, khô khan, rất ít nữ tính, nhịp điệu rắn đanh, gân guốc mà gieo vào lòng người đọc một mỹ cảm lạ lùng. Đây là mỹ cảm của trí tuệ, mỹ cảm của nghị lực, mỹ cảm của minh triết, nó khác xa cái véo von, sướt mướt đang như một bệnh dịch tràn ngập mọi xó xỉnh của đời sống. Bài thơ mới và hay đến độ, tôi cứ ngờ ngợ có phải là giọng điệu của ai đó, thậm chí tôi nghĩ là một bản dịch của nhà thơ Hy Lạp: Ritxốt!
Không phải đâu, tôi đùa đấy, dẫu rằng câu đùa nhạt nhẽo chẳng làm ai phải “ngẩn ngơ” cả. Có thể nói, trí tuệ là một trong những phẩm chất nổi trội trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Những bài như: Giá có thể làm được điều gì khác; Bài hát về những tường thành; Người đàn ông đi qua con đường của tôi; Tự bạch, Nghĩ về đàn ông... là những minh chứng cho phẩm chất trí tuệ trong thơ của chị.
Xin được dẫn ra đây một bài tứ tuyệt:
Một ngàn năm trước có ai trông
Mà đến Hồ Tây sóng ngập lòng
Đặt dấu môi này vào đáy nước
Ngàn năm quay lại, thấy người không?
(Ghi ở Hồ Tây, năm 2000)
Đọc xong, cứ ngỡ là thơ Thôi Hiệu!
Lại đùa rồi. Và chẳng ai “ngơ ngẩn” cả!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,