Hoàng Tá -nhà thơ của đồng quê, của thiếu nhi
Phan Hồng Hiệp
Nhà thơ Hoàng Tá sinh ngày 20 tháng 10 năm 1945 tại thôn Thượng, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhắc nhớ đến Hoàng Tá, là mỗi chúng ta nhắc nhớ đến nhà thơ của đồng quê, của thiếu nhi. Tạo hoá ban cho ông tài thơ tài hoa và lãng mạn, nhưng lại quá đỗi bất công và phũ phàng. Căn bệnh viêm tắc tĩnh mạch đã đẩy ông vào tình cảnh nghiệt ngã: Phải tháo khớp đôi chân khi đang ở tuổi đương thì ba mươi đầy sung sức - độ tuổi con người ta ôm ấp thực hiện bao ước mơ, hoài bão cao sáng của cuộc đời. Với sức sống nội lực lớn, ông đã gồng mình vượt bao đớn đau, thử thách để sống cuộc đời ý nghĩa hơn, nhân văn hơn. Thế giới tâm hồn trẻ thơ - nhất là trẻ thơ đồng quê lam lũ và thơ mộng, chính là điểm tựa, nơi neo giữ tâm hồn tươi tắn đặc biệt của ông. Một điều thật giản dị và xúc động lí giải vì sao Hoàng Tá sinh ra đã là nhà thơ của thiếu nhi, chính bởi: “Hoàng Tá yêu thương, khát khao được giao cảm giữa bạn bè, đồng loại. Và trong sự giao lưu ấy, với thế giới trẻ thơ là vui nhất, hồn nhiên nhất, xanh trong nhất. Đó cũng là nguồn gốc nảy sinh ra thi ca - Thơ vốn là tiếng chim gọi đàn, tiếng người gọi bạn” (Vũ Đình Minh)…
Thơ Hoàng Tá dung dị, hồn nhiên, tài hoa và đằm sâu. Thuở nhỏ học tiểu học trường xã, tâm hồn trẻ thơ của tôi đã sớm say mê, bao vần thơ của nhà thơ Hoàng Tá trong tập thơ Mặt trời của bé. Theo tháng năm, những dấu ấn, ký ức và ám ảnh ấy vẫn còn lưu giữ vẹn nguyên như những dấu mực tím học trò thơm mát. Bằng sự đồng cảm và yêu thương, nhà thơ đã viết về bao kỷ niệm rất đỗi thân thương, và những cảm nghĩ hồn nhiên, êm dịu của lứa trẻ thơ quê lấm láp của chúng tôi, như: “Trứng ra đời trước - Thì trứng là chị - Gà con bé nhỏ - Ra sau là em - Vậy sao anh Tân - Gọi cái trứng nhỉ - Con nhép vừa nở - Lại gọi chú gà?”. Hay câu chuyện ngộ nghĩnh Vì tại cái bút giữa Mèo và Thỏ: Mèo vốn dĩ lười học chữ xấu, nhưng lúc nào cũng tự vỗ ngực, vuốt râu tự khen chữ mình “rất... rất đẹp”. Nhưng đến khi lớp thi viết chữ, Thỏ được điểm 10, Mèo lại ngượng nghịu cười bao biện: “Tại... bút tôi mới quá!”. Và một điều ngỡ ngàng hơn là tôi lại được người lớn cho biết nhà thơ Hoàng Tá là người cùng xã nhà ở ngay thôn bên gần trên đường ngày ngày tôi đi học. Cũng từ đó tôi thầm nuôi ước mong được gặp nhà thơ. Lớn lên, văn chương đồng hành với tôi như một duyên phận, tôi có điều kiện lại được đọc thơ ông nhiều hơn, đặc biệt là các tập thơ: Hoa học thầm, Chiều nhọ cánh cò và tập thơ Cái sân chơi biết đi - Giải A Hội Nhà văn 1994, lòng tôi càng thêm yêu kính và cảm phục.
Có thể nói cả cuộc đời, Hoàng Tá đã dành trọn tấm lòng mình để sống, để cho thế giới trẻ thơ bằng tất cả sự am hiểu, đồng cảm và yêu tin sâu nặng. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Tá sinh động, phong phú. Chính sự hồn nhiên trong cách cảm, cách nghĩ và phương thức tái hiện đã đem đến cho thơ ông độ chân tình và nhiều hình tượng có phẩm chất nghệ thuật cao. Đó là sự rung động của tâm hồn trẻ thơ với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời, cây cỏ, với tình cảm người thân, gia đình, bè bạn và cùng những ước mơ, hoài bão giản dị mà sáng trong... Mở đầu tập thơ Cái sân chơi biết đi là bài thơ Con bướm không nhà. Với một tứ thơ độc đáo, xúc động và thấm thía, nhà thơ không những đã đề cập đến một vấn đề có tính thời sự, xã hội bức xúc, mà còn đánh động niềm trắc ẩn đầy nhân văn của con người về thế giới cùng sự chăm lo đến người nghèo, đến những thân phận trẻ thơ tội nghiệp, lang thang, cơ nhỡ: Đêm xui con bướm không nhà - Ngủ nhờ trên cái miệng hoa, tối mò - Cái hoa ngỡ kẹo ai cho - Ngồi ăn hết những giấc mơ bướm vàng.
Ghi nhận thành công nổi bật của thơ thiếu nhi Hoàng Tá là năng lực quan sát, phương thức tái hiện hồn nhiên, tài tình qua chính đôi mắt và điệu hồn của con trẻ về cảnh vật tự nhiên, về tình cảm gắn bó yêu thương với gia đình, bè bạn và quê hương yêu dấu. Nhờ đó, bóng dáng và dấu ấn của làng quê Việt Nam, con người Việt Nam hiện lên qua những trang thơ của ông rất đậm đà, tươi mới. Trong con mắt trẻ thơ, thế giới xung quanh ẩn chứa bao điều đẹp đẽ, đáng yêu cùng bất ngờ thú vị luôn cần được phát hiện, khám phá và lí giải. Bài thơ Thỏ thẻ đã kể về một câu chuyện sinh hoạt đời thường rất ngộ nghĩnh, qua sự sắp xếp tình huống, lập tứ và diễn đạt tự nhiên, khéo léo của nhà thơ. Đứa cháu nhỏ hào hứng nhận phần việc đun nước cho ông pha trà tiếp khách, nhưng lại chạy lên, chạy xuống nhờ ông đủ thứ việc, nào là: Bắt ông xách giúp siêu nước, rút rạ vào bếp, thổi quạt hết khói cay đi, dập bớt ngọn lửa... để đến mức ông phải cười xoa đầu cháu: ông cười xoà: Thế thì - Lấy ai ngồi tiếp khách?. Câu chuyện thơ hóm hỉnh này gợi người đọc nhớ đến câu chuyện cười dân gian giữa ông và cháu: Đồng nào mua mắm, đồng nào mua tương, Bát nào đựng mắm, bát nào đựng tương hồn hậu khi xưa. Cũng với mạch chân cảm hồn nhiên đó, bài thơ Lời của bé, lại lần nữa thể hiện tài quan sát và ngòi bút tài hoa của Hoàng Tá: Quả thị không bôi nước hoa - Mà thơm nức cả vườn nhà, bố ơi - Gió rủ quả thị đi chơi - Lắc đầu nó bảo: Sợ rơi méo đầu!”. Việc quả thị không bôi nước hoa, không dùng đến “hoá mỹ phẩm mà vẫn thơm nức đã là một phát kiến thú vị, nhưng việc quả thị lại biết từ chối không đi chơi vì Sợ rơi méo đầu thì thực sự là một tài hoa mới lạ chỉ Hoàng Tá mới có. Bài thơ Mùa đông lại mở ra những thú vị nhân văn khác: Con trâu cũng biết bỏm bẻm nhai trầu sau buổi làm đồng vất vả để thảnh thơi: Trưa về thả khói bên sân trước sự tò mò ngắm nghía đầy thích thú của Bé: - ồ! Con bò nó vừa ăn thuốc lào.... Từ sự quan sát ấy, nhà thơ đưa Bé đến một cảm nhận đạo đức thấm thía về sự vất vả của người nông dân, của cha, của mẹ qua niềm thương con cò: Thương con cò trắng biết bao - Suốt ngày đứng cắm chân vào ruộng sâu! ... Bé mùng tơi đi học đã vẽ nên bức tranh phong cảnh lưng giậu quê gần gũi, nên thơ qua hình ảnh những chùm quả mùng tơi như những cô bé, cậu bé học trò quê suốt ngày cặp kè lủng lỉnh bên mình lọ mực tím để đi học, với chú bạn chuồn chuồn ớt đỏ thân tình, tình tứ mà tri kỷ: Cứ cúi thơm không ngớt - Vào má bé mùng tơi. ở các thi phẩm, như: Em làm giàn bầu, Hoa học thầm, Hoa bưởi, Trăng rằm - Quả trứng tiên, Sợi dây phơi, Ước gì nhiều mắt như na, Nắng..., người đọc cũng bắt gặp vẻ đẹp hồn nhiên đáng yêu của tâm hồn trẻ thơ qua ngòi bút phác hoạ và khắc dựng tài hoa của nhà thơ.
Hoàng Tá đã thấu hiểu viết cho trẻ thơ phải “Vì trẻ thơ”, nên trong thơ ông thường lựa chọn những đề tài rất gần gũi với các em và mỗi bài thơ ở những mức độ khác nhau đều là những bài học giáo dục nhẹ nhàng, sâu sắc. Chức năng giáo dục trong văn chương, nhất là trong văn chương thiếu nhi luôn là đặc trưng quan trọng, nhưng bản chất và hiệu quả giáo dục trong văn chương không phải là sự khô khan hay áp đặt. Hoàng Tá đã truyền tải chức năng đó thông qua một sự tự tri giác, lĩnh ngộ giản dị mà tự nhiên nhất. Do đó, ông dành rất nhiều trang thơ viết về tình cảm của trẻ thơ với gia đình và cộng đồng, tiêu biểu như: Chiều nhọ cánh cò, Khói chiều, Bà ơi! Mỗi độ hoa cau..., Đôi bạn… Chính qua những vần thơ này, khoảng sâu tâm hồn nhân văn của các em được bộc lộ sâu sắc và đủ đầy nhất. Đó là nỗi nhớ thương của Bé với hình ảnh người bà quá cố mỗi độ hoa cau về rộ nở rơi tím đầy sân; là niềm thương bà, dỗ dành khói đừng làm cay mắt bà trong lúc Bé đang chăn trâu ngoài bãi; là niềm đau đáu xót thương mẹ, thương cha lam lũ ngoài đồng giữa không gian mịt mùng khi chiều đã nhọ cánh cò... Tình cảm ấy của các em, cũng là những tình cảm, ký ức tuổi thơ khiến người đọc rưng rưng xúc động. Với bài thơ Cái sân chơi biết đi, Hoàng Tá đã cùng lúc thành công trên hai phương diện: Tài quan sát và phương thức tái hiện. Trong bức tranh dân dã, nên thơ một chiều bình yên bên dòng kênh xanh, hai anh em nhà Sáo nhảy chơi trên lưng Bê hiền lành đang thảnh thơi gặm cỏ. Hoàng Tá đã phát hiện ra một điều hiển nhiên đến bất ngờ, phi lý mà có lý: Cái sân chơi đó biết đi! Ta hãy lắng nghe nhà thơ nói về niềm vui sướng đầy tinh tế đó qua lối diễn tả đầy ngộ nghĩnh và tài hoa: Sáo em: Hí... Hí... Kìa anh!- Cái sân chơi của chúng mình biết đi...
Thơ Hoàng Tá, bài nào cũng có ý để bình, để tâm đắc. Sự thực, khi “nhảy vào” địa hạt thơ thiếu nhi vốn là sự dấn thân đầy dũng cảm của người cầm bút, bên cạnh yêu cầu về cái Tâm, cái Tài, luôn đòi hỏi nhà thơ cần phải tự “trẻ con - hoá” tâm hồn mình một cách cao độ. Thiết nghĩ với những gì Hoàng Tá để lại trong đời thơ chưa dài của mình, đã làm được sứ mệnh ấy.
***
Với tôi, Hoàng Tá là một nhà thơ, một bậc cha chú. Nhưng trong tôi còn lưu giữ hình ảnh về một Hoàng Tá- Người bạn thơ đáng kính của gia đình mình. Khi tôi đã trưởng thành, niềm ấp ủ được gặp nhà thơ từ thơ bé mới có điều kiện thành hiện thực. Đó là những lần ông tập tễnh đôi nạng gỗ đến nhà tôi chơi (do người nhà khi đèo bằng xe đạp, khi đèo bằng xe máy) để đàm đạo văn chương cùng cha tôi và hân hoan gửi tặng những thi phẩm mới vừa xuất bản. Ông ngồi đó nhỏ nhẹ đôi mắt sáng, không ồn ào nhưng thâm trầm và sâu sắc. Ông sống bình dị bên vợ con trong ngôi nhà, đơn sơ nơi quê nhà. Bên cạnh việc sáng tác thơ, ông còn mở khá nhiều khoá học dạy các em nhỏ quanh vùng về hội hoạ, mỹ thuật “Cơm áo không đùa với khách thơ”- Việc ông gồng mình lên để đêm đêm vắt hồn mình lên trang viết, hay “tăng gia” thêm việc này, việc khác ấy, ngoài là việc “bất khả kháng”, quan trọng hơn là xuất phát từ chính nhu cầu, tình cảm yêu thương của ông với trẻ thơ. Hiện nay, lứa trẻ nhỏ được ông đào tạo ấy, nhiều người đã học tiếp, đã thoát ly và mở xưởng sáng tác riêng. Dấu ấn về làng sen Tuân Chính luôn in đậm trong thơ ông và trong những trang sáng tác, trong tâm hồn học trò ông thuở nào.
Những năm cuối đời, do hoàn cảnh sống và công tác, ông và gia đình chuyển vào thị xã Vĩnh Yên sống tùng tiệm bằng những đồng nhuận bút và thu nhập từ gian hàng nhỏ của vợ. Năm 1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, Trường THPT chuyên Vĩnh Phúc được thành lập, tôi có dịp gặp gỡ ông nhiều hơn. Ngày ngày đến trường tôi đều đi qua nhà ông, tranh thủ lúc rỗi rãi tôi lại vòng xe trên con đường cách nhau vài trăm mét đó đến thăm ông. Trong lúc người vợ tần tảo đang bận rộn bán hàng hay lúi húi việc bếp núc, ông đứng lên bắt tay tiếp tôi thân tình, cởi mở. Trước ông, khoảng cách về tuổi tác giữa hai người hầu như xoá mờ. Ông rót hai ly rượu nhỏ, một đĩa lạc rang và bao thuốc “Du lịch” - như là “chất xúc tác” để hai chú cháu tâm sự về văn chương và cuộc đời. Ông nói ít, lắng nghe nhiều, nụ cười luôn đôn hậu trên môi, điều khiến ông luôn trăn trở và tâm huyết là sự phát triển của Hội VHNT tỉnh nhà, về đội ngũ sáng tác trẻ, về cuộc sống của trẻ thơ nói chung. Tôi được chứng kiến một việc làm rất cảm động của ông mà không phải do ông kể lại. Trong một lần một người thầy giáo- bạn thơ cùng Hội đến thăm và đọc cho ông nghe một bản thảo truyện ngắn của một em học sinh lớp chuyên văn. Ông nghe chăm chú, sau buổi nhất quyết mượn lại bản thảo đó “có việc”. Thời gian ngắn sau, truyện ngắn Hoa Yên yến được in trên Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ. Ngày em Lê Thị Luyến nhận được báo biếu và nhuận bút đã ngỡ ngàng bật khóc... mà không hiểu vì sao. Còn nhà thơ Hoàng Tá chỉ cười đôn hậu…
Trong câu chuyện ông cũng không quên nói về mối quan tâm giáo dục, về vai trò của người thầy trong “Sự nghiệp trồng người”, “Vì tương lai con em chúng ta”. Ông thường cho tôi xem những cuốn vở học, đặc biệt là những bức tranh của bé Hoàng Sáng- con trai ông. Bé mới học tiểu học nhưng đã vẽ được rất nhiều tranh, trong đó một số bức đã được giới thiệu trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn. Ông nâng niu, giữ gìn từng bức vẽ, chụp ảnh và ép plastic cẩn thận. Sức ông ngày một yếu, trong câu chuyện thoáng ánh nhìn đầy xa xăm trong im lặng. Tôi biết đằng sau cái nhìn ấy là sự lo toan cho vợ con, cho tương lai của con cái và trẻ thơ. Đằng sau nụ cười đôn hậu, như ẩn giấu cả những tiếng thở dài...
…Ngày 25 tháng 3 năm 2000, sau một thời gian dài trên giường bệnh, căn bệnh u não ác tính đã cướp đi nhà thơ thân yêu của các em. Hai ngày trước khi li biệt, nhà thơ Hoàng Tá đã kịp đọc cho người vợ tần tảo của mình ghi lại bài thơ Không đề cuối cùng:
Có người em gái nhỏ
Trông em buồn lắm thôi
Anh cũng buồn như em
Cuộc đời sao ngắn ngủi
Hãy vui lên em ơi
Như chim trời ca hát mãi
Không thôi... em ơi!
Không đề cũng chính là một trong những số ít bài thơ ông viết cho “Người lớn”, nhưng trong đó vẫn đau đáu tình đời, đau đáu tuổi thơ. Ông đã đi xa, dẫu hình ảnh ông có chút phai mờ trong tâm trí ai đó, nhưng thơ ông vẫn còn đó trong trẻo và tươi mới. “Đọc thơ lại nhớ đến người”- Ông vẫn mãi là “Chim trời ca hát mãi” trong tâm hồn người yêu thơ, trong thế hệ trẻ thơ hôm nay. Ngôi nhà ông ở khi xưa, nay đã là con đường lớn, trên con đường ấy vẫn có các em thơ ríu rít đến trường, vẫn vang lên tiếng cười, điệu hát của các em nhỏ trường Mầm non.
Nhà thơ Hoàng Tá - như tôi biết là một người có nhân cách sống và nhân cách thơ đáng yêu, đáng kính. Sinh thời ông sống hết mình cho thơ, cho tuổi trẻ, cho cuộc đời. Sinh thời ông sống trong tình thương yêu của bao người thân, bạn bè văn nghệ sĩ cả nước. Chia sẻ với ông trước nỗi bất hạnh, khó khăn trong cuộc đời và niềm vui sáng tạo, nhà thơ Hữu Thỉnh và các bạn văn của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội VHNT Vĩnh Phúc đã thường xuyên đến thăm giúp đỡ ông. Ông mất, nhưng thơ ông vẫn được các thế hệ bạn đọc trân trọng, và gìn giữ. Thiết nghĩ đó cũng là một vinh dự lớn mà trên đời này không phải ai cũng có được. Bài viết nhỏ này, xin làm nén tâm hương của một bạn đọc đã và đang từng say mê những vần thơ của ông, hoà chung tình thương và nỗi đau mà những người bạn văn đã dành cho ông trong giờ phút li xa âm dương đôi ngả:... May mà ưu ái có Nàng Thơ - Có đàn em nhỏ, mảnh vườn mơ - Có đời mở rộng vòng tay lớn - Có trái tim rung động bến bờ. - Khóc anh, tôi khóc một người thân- Thay người, tôi khóc một thi nhân- “Cái sân chơi biết đi” đi mãi - Ru chở hồn anh khắp cõi trần.(*).
(*) Trích hai khổ cuối bài thơ Vĩnh biệt của Phan Hữu Hưởng.
(Báo Văn nghệ)
Phan Hồng Hiệp
Nhà thơ Hoàng Tá sinh ngày 20 tháng 10 năm 1945 tại thôn Thượng, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhắc nhớ đến Hoàng Tá, là mỗi chúng ta nhắc nhớ đến nhà thơ của đồng quê, của thiếu nhi. Tạo hoá ban cho ông tài thơ tài hoa và lãng mạn, nhưng lại quá đỗi bất công và phũ phàng. Căn bệnh viêm tắc tĩnh mạch đã đẩy ông vào tình cảnh nghiệt ngã: Phải tháo khớp đôi chân khi đang ở tuổi đương thì ba mươi đầy sung sức - độ tuổi con người ta ôm ấp thực hiện bao ước mơ, hoài bão cao sáng của cuộc đời. Với sức sống nội lực lớn, ông đã gồng mình vượt bao đớn đau, thử thách để sống cuộc đời ý nghĩa hơn, nhân văn hơn. Thế giới tâm hồn trẻ thơ - nhất là trẻ thơ đồng quê lam lũ và thơ mộng, chính là điểm tựa, nơi neo giữ tâm hồn tươi tắn đặc biệt của ông. Một điều thật giản dị và xúc động lí giải vì sao Hoàng Tá sinh ra đã là nhà thơ của thiếu nhi, chính bởi: “Hoàng Tá yêu thương, khát khao được giao cảm giữa bạn bè, đồng loại. Và trong sự giao lưu ấy, với thế giới trẻ thơ là vui nhất, hồn nhiên nhất, xanh trong nhất. Đó cũng là nguồn gốc nảy sinh ra thi ca - Thơ vốn là tiếng chim gọi đàn, tiếng người gọi bạn” (Vũ Đình Minh)…
Thơ Hoàng Tá dung dị, hồn nhiên, tài hoa và đằm sâu. Thuở nhỏ học tiểu học trường xã, tâm hồn trẻ thơ của tôi đã sớm say mê, bao vần thơ của nhà thơ Hoàng Tá trong tập thơ Mặt trời của bé. Theo tháng năm, những dấu ấn, ký ức và ám ảnh ấy vẫn còn lưu giữ vẹn nguyên như những dấu mực tím học trò thơm mát. Bằng sự đồng cảm và yêu thương, nhà thơ đã viết về bao kỷ niệm rất đỗi thân thương, và những cảm nghĩ hồn nhiên, êm dịu của lứa trẻ thơ quê lấm láp của chúng tôi, như: “Trứng ra đời trước - Thì trứng là chị - Gà con bé nhỏ - Ra sau là em - Vậy sao anh Tân - Gọi cái trứng nhỉ - Con nhép vừa nở - Lại gọi chú gà?”. Hay câu chuyện ngộ nghĩnh Vì tại cái bút giữa Mèo và Thỏ: Mèo vốn dĩ lười học chữ xấu, nhưng lúc nào cũng tự vỗ ngực, vuốt râu tự khen chữ mình “rất... rất đẹp”. Nhưng đến khi lớp thi viết chữ, Thỏ được điểm 10, Mèo lại ngượng nghịu cười bao biện: “Tại... bút tôi mới quá!”. Và một điều ngỡ ngàng hơn là tôi lại được người lớn cho biết nhà thơ Hoàng Tá là người cùng xã nhà ở ngay thôn bên gần trên đường ngày ngày tôi đi học. Cũng từ đó tôi thầm nuôi ước mong được gặp nhà thơ. Lớn lên, văn chương đồng hành với tôi như một duyên phận, tôi có điều kiện lại được đọc thơ ông nhiều hơn, đặc biệt là các tập thơ: Hoa học thầm, Chiều nhọ cánh cò và tập thơ Cái sân chơi biết đi - Giải A Hội Nhà văn 1994, lòng tôi càng thêm yêu kính và cảm phục.
Có thể nói cả cuộc đời, Hoàng Tá đã dành trọn tấm lòng mình để sống, để cho thế giới trẻ thơ bằng tất cả sự am hiểu, đồng cảm và yêu tin sâu nặng. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Tá sinh động, phong phú. Chính sự hồn nhiên trong cách cảm, cách nghĩ và phương thức tái hiện đã đem đến cho thơ ông độ chân tình và nhiều hình tượng có phẩm chất nghệ thuật cao. Đó là sự rung động của tâm hồn trẻ thơ với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời, cây cỏ, với tình cảm người thân, gia đình, bè bạn và cùng những ước mơ, hoài bão giản dị mà sáng trong... Mở đầu tập thơ Cái sân chơi biết đi là bài thơ Con bướm không nhà. Với một tứ thơ độc đáo, xúc động và thấm thía, nhà thơ không những đã đề cập đến một vấn đề có tính thời sự, xã hội bức xúc, mà còn đánh động niềm trắc ẩn đầy nhân văn của con người về thế giới cùng sự chăm lo đến người nghèo, đến những thân phận trẻ thơ tội nghiệp, lang thang, cơ nhỡ: Đêm xui con bướm không nhà - Ngủ nhờ trên cái miệng hoa, tối mò - Cái hoa ngỡ kẹo ai cho - Ngồi ăn hết những giấc mơ bướm vàng.
Ghi nhận thành công nổi bật của thơ thiếu nhi Hoàng Tá là năng lực quan sát, phương thức tái hiện hồn nhiên, tài tình qua chính đôi mắt và điệu hồn của con trẻ về cảnh vật tự nhiên, về tình cảm gắn bó yêu thương với gia đình, bè bạn và quê hương yêu dấu. Nhờ đó, bóng dáng và dấu ấn của làng quê Việt Nam, con người Việt Nam hiện lên qua những trang thơ của ông rất đậm đà, tươi mới. Trong con mắt trẻ thơ, thế giới xung quanh ẩn chứa bao điều đẹp đẽ, đáng yêu cùng bất ngờ thú vị luôn cần được phát hiện, khám phá và lí giải. Bài thơ Thỏ thẻ đã kể về một câu chuyện sinh hoạt đời thường rất ngộ nghĩnh, qua sự sắp xếp tình huống, lập tứ và diễn đạt tự nhiên, khéo léo của nhà thơ. Đứa cháu nhỏ hào hứng nhận phần việc đun nước cho ông pha trà tiếp khách, nhưng lại chạy lên, chạy xuống nhờ ông đủ thứ việc, nào là: Bắt ông xách giúp siêu nước, rút rạ vào bếp, thổi quạt hết khói cay đi, dập bớt ngọn lửa... để đến mức ông phải cười xoa đầu cháu: ông cười xoà: Thế thì - Lấy ai ngồi tiếp khách?. Câu chuyện thơ hóm hỉnh này gợi người đọc nhớ đến câu chuyện cười dân gian giữa ông và cháu: Đồng nào mua mắm, đồng nào mua tương, Bát nào đựng mắm, bát nào đựng tương hồn hậu khi xưa. Cũng với mạch chân cảm hồn nhiên đó, bài thơ Lời của bé, lại lần nữa thể hiện tài quan sát và ngòi bút tài hoa của Hoàng Tá: Quả thị không bôi nước hoa - Mà thơm nức cả vườn nhà, bố ơi - Gió rủ quả thị đi chơi - Lắc đầu nó bảo: Sợ rơi méo đầu!”. Việc quả thị không bôi nước hoa, không dùng đến “hoá mỹ phẩm mà vẫn thơm nức đã là một phát kiến thú vị, nhưng việc quả thị lại biết từ chối không đi chơi vì Sợ rơi méo đầu thì thực sự là một tài hoa mới lạ chỉ Hoàng Tá mới có. Bài thơ Mùa đông lại mở ra những thú vị nhân văn khác: Con trâu cũng biết bỏm bẻm nhai trầu sau buổi làm đồng vất vả để thảnh thơi: Trưa về thả khói bên sân trước sự tò mò ngắm nghía đầy thích thú của Bé: - ồ! Con bò nó vừa ăn thuốc lào.... Từ sự quan sát ấy, nhà thơ đưa Bé đến một cảm nhận đạo đức thấm thía về sự vất vả của người nông dân, của cha, của mẹ qua niềm thương con cò: Thương con cò trắng biết bao - Suốt ngày đứng cắm chân vào ruộng sâu! ... Bé mùng tơi đi học đã vẽ nên bức tranh phong cảnh lưng giậu quê gần gũi, nên thơ qua hình ảnh những chùm quả mùng tơi như những cô bé, cậu bé học trò quê suốt ngày cặp kè lủng lỉnh bên mình lọ mực tím để đi học, với chú bạn chuồn chuồn ớt đỏ thân tình, tình tứ mà tri kỷ: Cứ cúi thơm không ngớt - Vào má bé mùng tơi. ở các thi phẩm, như: Em làm giàn bầu, Hoa học thầm, Hoa bưởi, Trăng rằm - Quả trứng tiên, Sợi dây phơi, Ước gì nhiều mắt như na, Nắng..., người đọc cũng bắt gặp vẻ đẹp hồn nhiên đáng yêu của tâm hồn trẻ thơ qua ngòi bút phác hoạ và khắc dựng tài hoa của nhà thơ.
Hoàng Tá đã thấu hiểu viết cho trẻ thơ phải “Vì trẻ thơ”, nên trong thơ ông thường lựa chọn những đề tài rất gần gũi với các em và mỗi bài thơ ở những mức độ khác nhau đều là những bài học giáo dục nhẹ nhàng, sâu sắc. Chức năng giáo dục trong văn chương, nhất là trong văn chương thiếu nhi luôn là đặc trưng quan trọng, nhưng bản chất và hiệu quả giáo dục trong văn chương không phải là sự khô khan hay áp đặt. Hoàng Tá đã truyền tải chức năng đó thông qua một sự tự tri giác, lĩnh ngộ giản dị mà tự nhiên nhất. Do đó, ông dành rất nhiều trang thơ viết về tình cảm của trẻ thơ với gia đình và cộng đồng, tiêu biểu như: Chiều nhọ cánh cò, Khói chiều, Bà ơi! Mỗi độ hoa cau..., Đôi bạn… Chính qua những vần thơ này, khoảng sâu tâm hồn nhân văn của các em được bộc lộ sâu sắc và đủ đầy nhất. Đó là nỗi nhớ thương của Bé với hình ảnh người bà quá cố mỗi độ hoa cau về rộ nở rơi tím đầy sân; là niềm thương bà, dỗ dành khói đừng làm cay mắt bà trong lúc Bé đang chăn trâu ngoài bãi; là niềm đau đáu xót thương mẹ, thương cha lam lũ ngoài đồng giữa không gian mịt mùng khi chiều đã nhọ cánh cò... Tình cảm ấy của các em, cũng là những tình cảm, ký ức tuổi thơ khiến người đọc rưng rưng xúc động. Với bài thơ Cái sân chơi biết đi, Hoàng Tá đã cùng lúc thành công trên hai phương diện: Tài quan sát và phương thức tái hiện. Trong bức tranh dân dã, nên thơ một chiều bình yên bên dòng kênh xanh, hai anh em nhà Sáo nhảy chơi trên lưng Bê hiền lành đang thảnh thơi gặm cỏ. Hoàng Tá đã phát hiện ra một điều hiển nhiên đến bất ngờ, phi lý mà có lý: Cái sân chơi đó biết đi! Ta hãy lắng nghe nhà thơ nói về niềm vui sướng đầy tinh tế đó qua lối diễn tả đầy ngộ nghĩnh và tài hoa: Sáo em: Hí... Hí... Kìa anh!- Cái sân chơi của chúng mình biết đi...
Thơ Hoàng Tá, bài nào cũng có ý để bình, để tâm đắc. Sự thực, khi “nhảy vào” địa hạt thơ thiếu nhi vốn là sự dấn thân đầy dũng cảm của người cầm bút, bên cạnh yêu cầu về cái Tâm, cái Tài, luôn đòi hỏi nhà thơ cần phải tự “trẻ con - hoá” tâm hồn mình một cách cao độ. Thiết nghĩ với những gì Hoàng Tá để lại trong đời thơ chưa dài của mình, đã làm được sứ mệnh ấy.
***
Với tôi, Hoàng Tá là một nhà thơ, một bậc cha chú. Nhưng trong tôi còn lưu giữ hình ảnh về một Hoàng Tá- Người bạn thơ đáng kính của gia đình mình. Khi tôi đã trưởng thành, niềm ấp ủ được gặp nhà thơ từ thơ bé mới có điều kiện thành hiện thực. Đó là những lần ông tập tễnh đôi nạng gỗ đến nhà tôi chơi (do người nhà khi đèo bằng xe đạp, khi đèo bằng xe máy) để đàm đạo văn chương cùng cha tôi và hân hoan gửi tặng những thi phẩm mới vừa xuất bản. Ông ngồi đó nhỏ nhẹ đôi mắt sáng, không ồn ào nhưng thâm trầm và sâu sắc. Ông sống bình dị bên vợ con trong ngôi nhà, đơn sơ nơi quê nhà. Bên cạnh việc sáng tác thơ, ông còn mở khá nhiều khoá học dạy các em nhỏ quanh vùng về hội hoạ, mỹ thuật “Cơm áo không đùa với khách thơ”- Việc ông gồng mình lên để đêm đêm vắt hồn mình lên trang viết, hay “tăng gia” thêm việc này, việc khác ấy, ngoài là việc “bất khả kháng”, quan trọng hơn là xuất phát từ chính nhu cầu, tình cảm yêu thương của ông với trẻ thơ. Hiện nay, lứa trẻ nhỏ được ông đào tạo ấy, nhiều người đã học tiếp, đã thoát ly và mở xưởng sáng tác riêng. Dấu ấn về làng sen Tuân Chính luôn in đậm trong thơ ông và trong những trang sáng tác, trong tâm hồn học trò ông thuở nào.
Những năm cuối đời, do hoàn cảnh sống và công tác, ông và gia đình chuyển vào thị xã Vĩnh Yên sống tùng tiệm bằng những đồng nhuận bút và thu nhập từ gian hàng nhỏ của vợ. Năm 1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, Trường THPT chuyên Vĩnh Phúc được thành lập, tôi có dịp gặp gỡ ông nhiều hơn. Ngày ngày đến trường tôi đều đi qua nhà ông, tranh thủ lúc rỗi rãi tôi lại vòng xe trên con đường cách nhau vài trăm mét đó đến thăm ông. Trong lúc người vợ tần tảo đang bận rộn bán hàng hay lúi húi việc bếp núc, ông đứng lên bắt tay tiếp tôi thân tình, cởi mở. Trước ông, khoảng cách về tuổi tác giữa hai người hầu như xoá mờ. Ông rót hai ly rượu nhỏ, một đĩa lạc rang và bao thuốc “Du lịch” - như là “chất xúc tác” để hai chú cháu tâm sự về văn chương và cuộc đời. Ông nói ít, lắng nghe nhiều, nụ cười luôn đôn hậu trên môi, điều khiến ông luôn trăn trở và tâm huyết là sự phát triển của Hội VHNT tỉnh nhà, về đội ngũ sáng tác trẻ, về cuộc sống của trẻ thơ nói chung. Tôi được chứng kiến một việc làm rất cảm động của ông mà không phải do ông kể lại. Trong một lần một người thầy giáo- bạn thơ cùng Hội đến thăm và đọc cho ông nghe một bản thảo truyện ngắn của một em học sinh lớp chuyên văn. Ông nghe chăm chú, sau buổi nhất quyết mượn lại bản thảo đó “có việc”. Thời gian ngắn sau, truyện ngắn Hoa Yên yến được in trên Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ. Ngày em Lê Thị Luyến nhận được báo biếu và nhuận bút đã ngỡ ngàng bật khóc... mà không hiểu vì sao. Còn nhà thơ Hoàng Tá chỉ cười đôn hậu…
Trong câu chuyện ông cũng không quên nói về mối quan tâm giáo dục, về vai trò của người thầy trong “Sự nghiệp trồng người”, “Vì tương lai con em chúng ta”. Ông thường cho tôi xem những cuốn vở học, đặc biệt là những bức tranh của bé Hoàng Sáng- con trai ông. Bé mới học tiểu học nhưng đã vẽ được rất nhiều tranh, trong đó một số bức đã được giới thiệu trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn. Ông nâng niu, giữ gìn từng bức vẽ, chụp ảnh và ép plastic cẩn thận. Sức ông ngày một yếu, trong câu chuyện thoáng ánh nhìn đầy xa xăm trong im lặng. Tôi biết đằng sau cái nhìn ấy là sự lo toan cho vợ con, cho tương lai của con cái và trẻ thơ. Đằng sau nụ cười đôn hậu, như ẩn giấu cả những tiếng thở dài...
…Ngày 25 tháng 3 năm 2000, sau một thời gian dài trên giường bệnh, căn bệnh u não ác tính đã cướp đi nhà thơ thân yêu của các em. Hai ngày trước khi li biệt, nhà thơ Hoàng Tá đã kịp đọc cho người vợ tần tảo của mình ghi lại bài thơ Không đề cuối cùng:
Có người em gái nhỏ
Trông em buồn lắm thôi
Anh cũng buồn như em
Cuộc đời sao ngắn ngủi
Hãy vui lên em ơi
Như chim trời ca hát mãi
Không thôi... em ơi!
Không đề cũng chính là một trong những số ít bài thơ ông viết cho “Người lớn”, nhưng trong đó vẫn đau đáu tình đời, đau đáu tuổi thơ. Ông đã đi xa, dẫu hình ảnh ông có chút phai mờ trong tâm trí ai đó, nhưng thơ ông vẫn còn đó trong trẻo và tươi mới. “Đọc thơ lại nhớ đến người”- Ông vẫn mãi là “Chim trời ca hát mãi” trong tâm hồn người yêu thơ, trong thế hệ trẻ thơ hôm nay. Ngôi nhà ông ở khi xưa, nay đã là con đường lớn, trên con đường ấy vẫn có các em thơ ríu rít đến trường, vẫn vang lên tiếng cười, điệu hát của các em nhỏ trường Mầm non.
Nhà thơ Hoàng Tá - như tôi biết là một người có nhân cách sống và nhân cách thơ đáng yêu, đáng kính. Sinh thời ông sống hết mình cho thơ, cho tuổi trẻ, cho cuộc đời. Sinh thời ông sống trong tình thương yêu của bao người thân, bạn bè văn nghệ sĩ cả nước. Chia sẻ với ông trước nỗi bất hạnh, khó khăn trong cuộc đời và niềm vui sáng tạo, nhà thơ Hữu Thỉnh và các bạn văn của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội VHNT Vĩnh Phúc đã thường xuyên đến thăm giúp đỡ ông. Ông mất, nhưng thơ ông vẫn được các thế hệ bạn đọc trân trọng, và gìn giữ. Thiết nghĩ đó cũng là một vinh dự lớn mà trên đời này không phải ai cũng có được. Bài viết nhỏ này, xin làm nén tâm hương của một bạn đọc đã và đang từng say mê những vần thơ của ông, hoà chung tình thương và nỗi đau mà những người bạn văn đã dành cho ông trong giờ phút li xa âm dương đôi ngả:... May mà ưu ái có Nàng Thơ - Có đàn em nhỏ, mảnh vườn mơ - Có đời mở rộng vòng tay lớn - Có trái tim rung động bến bờ. - Khóc anh, tôi khóc một người thân- Thay người, tôi khóc một thi nhân- “Cái sân chơi biết đi” đi mãi - Ru chở hồn anh khắp cõi trần.(*).
(*) Trích hai khổ cuối bài thơ Vĩnh biệt của Phan Hữu Hưởng.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,