📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Ngũ Liên Tùng, nhà thơ trào phúng đương đại

0 trả lời, 884 lượt xem — Trang 1 / 1
Ngũ Liên Tùng, nhà thơ trào phúng đương đại

Đặng Hiển

Một năm nay, khi sắp bước sang tuổi 71, nhà thơ Ngũ Liên Tùng sức khoẻ giảm sút nhiều vì bệnh gan nhưng ông vẫn không ngừng sáng tác, thơ ông vẫn xuất hiện trên báo chí tuy có thưa hơn trước. Cách đây hơn tháng, lần đầu tiên ông đã phải vắng mặt trong buổi sinh hoạt Câu lạc bộ thơ Hà Đông mà ông là chủ nhiệm. Người cựu chiến binh, nhà thơ trào phúng kiêm trữ tình ấy thật yêu đời và giàu nghị lực. Ông thường nói với bè bạn đến thăm: “Sinh lão bệnh tử là chuyện thường tình, mình có chết cũng chết trên bàn viết, bên trang sách mở”.

Xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, cha mẹ mất sớm, gia tài để lại cho cậu con trai Trần Xuân Cẩm chỉ là bức hoành phi có ba chữ “nhân chi bản”. Tuổi thơ bất hạnh của cậu đã may mắn sớm gặp được cách mạng. Từ một chú bé giao liên, cậu được vào thiếu sinh quân rồi trở thành chiến sĩ trinh sát pháo binh Điện Biên Phủ và đã được thưởng Huân chương chiến công hạng hai ngay tại mặt trận. Hoà bình lập lại 1954, Trần Xuân Cẩm tham gia văn công rồi được cử đi học và đã tốt nghiệp trường Điện ảnh khóa I, rồi trường Cao đẳng nghệ thuật Quân đội... Trên con đường đi được cách mạng rộng mở, Trần Xuân Cẩm đã nỗ lực phát huy tất cả những tiềm năng của mình đặc biệt là tài thơ trong đó xuất sắc hơn cả là tài làm thơ trào phúng dưới bút danh Ngũ Liên Tùng. Chính bút danh ấy đã đưa ông vào Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2002) nhưng quan trọng hơn, đã đưa ông vào tình cảm và trí nhớ của nhiều bạn đọc.

Đi nhiều, sống nhiều, Ngũ Liên Tùng càng thấy bên cạnh những điều tốt đẹp, có không ít những cái trái với lý tưởng, với đạo đức. Nhận thấy thơ trữ tình không đủ cho mình nói lên những bức xúc trong tâm hồn, ông đã tìm đến vũ khí trào phúng dùng tiếng cười để đưa tiễn những thói hư tật xấu. Ông tuyên bố: Bởi đời lắm chuyện đảo điên / Nên tôi mượn họ Ngũ Liên, tên Tùng / Trống quê tôi đánh thùng thùng / Báo cho họ mạc khắp vùng gần xa... Từ đó xuất hiện nhiều thơ trào phúng Ngũ Liên Tùng, trên mục To nhỏ bảo nhau của Báo Hà Tây và trang hài hước của báo Văn nghệ.

Một hôm đi kiểm tra văn hoá phẩm ở huyện X, ông bắt gặp thủ trưởng cơ quan Y cho chiếu phim đen, ông liền viết bài thơ lên án việc đó. Khi thơ in, huyện X có lời xin lỗi và cách chức thủ trưởng cơ quan Y.

Một trường hợp khác, đi thăm núi Trầm, một thắng cảnh, một di tích lịch sử, văn hóa, thấy người ta phá núi lấy đá nung vôi, ông viết thơ phê phán. Kết quả: việc lấy đá bị đình chỉ và tất cả các lò vôi ở đấy đã bị phá theo lệnh của trên.

Phần lớn các bài thơ ông viết đều xuất phát từ thực tế mắt thấy tai nghe. Thấy huyện Z có việc tôn thần không chính xác, ông đã viết bài Thần chính thần tà. ít hôm sau, một số cụ ở huyện ấy mang quà đến cảm ơn ông về việc đã giúp địa phương biết được sự nhầm lẫn ấy.

Có những chuyện, không đi không thể biết mà viết như chuyện ông chủ tịch xã nọ, “mị dân”, đã tự tiện chặt cây gạo cổ thụ đẹp nhất, ở cổng làng, lấy gỗ, xẻ áo quan biếu các cụ trong xã. Hay chuyện “chia cả xe tăng” phê phán việc huyện kia, khi chia làm hai, đã tháo cả xe tăng chiến lợi phẩm để chia về bảo tàng riêng của huyện mình.

Ngũ Liên Tùng rất nhạy bén với thời cuộc và viết được cả những chuyện “thật là khó nói”. Ví dụ khi trên văn đàn có cuộc đấu khẩu giữa mấy đại gia văn thơ, ông viết bài: Dẫu là (đăng trên báo Văn nghệ 2/2004) phê phán hiện tượng thiếu văn hóa tranh luận đó: “Dẫu là hàng cá, hàng tôm / Thời văn minh hãy ôn tồn bảo nhau / Sao người lắm chữ giỏi câu / Trút phân đổ rác lên đầu nhau chơi”. Hay việc một nhà thơ “cách tân khó hiểu” nọ được một nước ngoài mời sang, đã phát biểu những điều không đúng về đất nước ta ở bên đó, ông đã viết bài Thơ hũ nút đem khoe, phê phán tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật của ông ta...” “Diễn đàn chúng bốc ông lên / Kiếm cớ bêu riếu nhân quyền Việt Nam! Ông huyênh hoang lúc tao đàn / Rằng thơ ông nhất nhì làng cách tân... / Bốn trang - hũ nút ba phần / Tám dòng, độc giả xem lần chẳng ra / Buông tuồng chữ quỷ, câu ma / Còn đem khoe mẽ - ba hoa xứ người... / Ông còn xuyên tạc lôi thôi / ỡm ờ vạch áo cho người xem lưng / Cách tân thường bị thanh trừng / Bao nhà thơ bị tay dừng, bút treo?...”

Đề tài, chất liệu thơ ông xuất phát từ thực tế nhưng cái nhìn phê phán của ông xuất phát từ cái tâm của người chiến sĩ đã tham gia cách mạng từ thủa hoa niên. Bởi có tâm sáng, lập trường tư tưởng vững, phương pháp tư tưởng đúng phân biệt hiện tượng và bản chất nên ông mạnh dạn phê phán cả những tệ nạn trong hàng quan chức mà không sợ bị chụp mũ là chống lãnh đạo, bôi đen chế độ mà trái lại, càng tỏ rõ ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ của ông. Trong thơ trào phúng của ông “chống” đều xuất phát từ “xây”và đều có tác dụng “xây”. Ví dụ “Thịt con trâu chết” lên án việc chiếm đất công của một số quan chức Đất làng chả nhẽ như trâu chết / Tham nhũng ăn chia giễu luật trời / Ông quản ông cai đều giả điếc / Bởi con trâu chết có phần tôi. Hay, bài đả kích chuyện “tham quan” của “quan tham” thực chất là chuyện “ăn”: Quan tham hào hứng tham quan / Bởi đi là đã nhắm hàng cầy tơ... Tiễn chân còn sọt quà quê / Xe quan bẹp lốp đường về lắm phen / Nay bà “bảy món” quan quen / Hôm qua vừa nổi cơn hen tịch rồi / Chỉ còn quán giả cầy thôi/ “Ăn y như chó”, kính mời quan tham. Ngũ Liên Tùng châm biếm thói trưởng giả học làm sang của một số bà quan như: “Dì Tũn - Lơ Mộng Ngọc”. Sau mấy câu đặc tả sinh động sự thay đổi ngoại hình của nhân vật, tác giải viết: Mới xa đồng đất ít lâu thôi / Của đút dì xơi chóng nở người / Lấy được quan tham dì trúng số / Giã từ thị Tũn cái tên ôi! Có ai lên tỉnh thăm dì Tũn / Chớ gọi nhau bằng tên cúng cơm / Nhớ hỏi thăm bà “Lơ Mộng Ngọc” / Gặp bà nâng nhẹ cánh tay hôn. Lên án hiện tượng đảo lộn đạo đức của một bộ phận nhỏ lớp trẻ, Ngũ Liên Tùng viết bài: Quý tử dạy cha một bài thơ cười cay đắng: Cụ khốt ơi, cụ khốt! / Cụ nghe con nói đây /Dân ta lạc hậu lắm / Phải học sống kiểu Tây / Ăn cơm chẳng cần đũa / Tắm biển không mặc quần / Xem phim trần như nhộng / Hè đường cũng ái ân / Sinh con - thuê chửa mướn / Thả sức đi lòng thòng / Cặp bồ đang thịnh mốt / Xả láng sướng đời không... Nghe quý tử “dạy” xong, cụ “khốt” thắp hương vái Phật tổ và tổ tiên xin dạy giúp đứa con Dẫu chưa có mả bố / Nó đã đào lên rồi. Thơ trào phúng của Ngũ Liên Tùng thực chất là mặt bên này của nỗi đau nhân thế, hình chiếu ngược của lòng yêu chế độ của ông. Điều đó đã làm cho thơ ông đọng lại trong tâm thức người đọc và xóa bỏ được những ý nghĩ không đúng về ông xuất phát từ tư tưởng ẫu trĩ “bảo hoàng hơn nhà vua”.

Quá trình sáng tác thơ của Ngũ Liên Tùng là quá trình học hỏi không ngừng, học trong sách, trong đời sống, học các bậc tiền bối, học nhân dân, như học Hồ Xuân Hương nghệ thuật phúng dụ (ẩn dụ kéo dài, biểu tượng nhiều mặt), học Tú Xương cái cười đau, cái cười cay, học Nguyễn Khuyến cái cười mát mẻ mà sâu sắc, học Tú Mỡ cái cười thời sự, học Nguyễn Công Hoan cái cười “nghịch lý”... Học nghệ thuật chơi chữ: Năm “khuyển” chọn giống nào đây? / Giữ “chỉ” nguyên sợi, giữ “cây” “cây còn”. (Chọn khuyển giữ nhà). Đi chui ra bạc ra vàng / Rụt rè “tiến” bước đường quan mịt mùng (Quan tham tuyển chọn dáng đi). Học nghệ thuật hoán dụ: “Hai ông cưỡi hai nghìn con trâu”. (Mỗi chiếc ô tô sang giá bằng 1.000 con trâu), “Chí phèo thắng cuộc” (thắng Bá Kiến trong cuộc kiện đòi chia đất vì nắm được “thóp” của Bá Kiến). Ngũ Liên Tùng vận dụng thành thục ca dao, tục ngữ, truyện cổ dân gian, trong cấu tứ, trong ngôn ngữ, ví dụ “cõng rắn cắn hàng nhà” chỉ bọn buôn lậu hàng nhập ngoại, chuyện “con rắn vuông” phê phán một bài báo nói khoác. Ngũ Liên Tùng cũng mạnh dạn vận dụng yếu tố tục ở văn nghệ dân gian: “Em phơi giống má”, “Cô em dòng giống “cán mai” / Thêu đôi “rồng lượn giữa hai ống quần” (chính ra là con rồng lộn nhưng biên tập sửa đi). Yếu tố dân gian đặc biệt thể hiện trong các bài thơ cười vui như tuyên truyền cho kế hoạch hóa gia đình, ông viết bài Quan thắt, chỉ cái đầu đề cũng đủ gây cười rồi Chẳng phải như quan hoạn thủa nào / Cung đàn hoàng hậu được vua giao / Quan thắt của em vẫn thỏa lòng / Bởi vòng chỉ thắt nhẹ như không... Hay bài Cái tết đông con tác giả bác lại câu tục ngữ xưa Sinh con trời chẳng sinh thêm cỏ / chỉ thấy trời sinh những cái vòi. Ngũ Liên Tùng còn vận dụng các tích văn học Đông Tây Kim Cổ như “Nhà Chư (Chư Bát Giới) kiểm điểm tất niên “Tôn Ngộ Không về hưu”, “Mù mịt Nam Tào”... Ngũ Liên Tùng dùng học nghệ thuật phóng đại điển hình hóa tính cách, nghệ thuật ngụ ngôn (Mười hai con giáp). Ông còn vận dụng hoặc sáng tạo cả những thành ngữ mới như “mì ăn liền” (Phim), “nghiệm thu, nghiệm thú”, “liên hoàn nhai”, “đầu rắn đuôi rồng”. Ngũ Liên Tùng rất thuộc các hình thức thơ cổ với các thể thơ thất ngôn bát cú, tuyệt cú Đường luật, các kiểu thơ yết hậu (Y HY đây Ty), thuận nghịch độc (Ôi khí thải), vĩ tam thanh (Tự trào)...

Ngũ Liên Tùng ít tự trào nhưng mấy bài tự trào của ông rất có duyên Nhớ thời trai trẻ - tiềng tiêng tiếc / Sải cánh Đông Tây - có cỏ cò” (Tự trào) hoặc Lưng dài đeo đẳng túi thơ / Mà sao em chẳng hững hờ với anh? / Em rằng bỏ nghĩa sao đành / Dùi không có trống đâu thành Ngũ Liên... ( Băn khoăn).

Không thể trong một bài chân dung văn học ngắn tổng kết cả một đời sáng tạo của Ngũ Liên Tùng với 1.000 bài thơ trào phúng, đã in rải rác trên 50 tờ báo trung ương và địa phương (Riêng báo Văn nghệ của Hội Nhà văn đã 328 bài!). Trong số đó hơn 500 bài đã được in thành sách (10 tập) và nhiều bài đã đi vào tuyển tập (như Tuyển tập thơ trào phúng Việt Nam).

Tuy nhiên, cũng xin phép được viết đôi dòng kết luận bài viết này:

Thơ trào phúng của Ngũ Liên Tùng là bức tranh liên hoàn về mặt trái của xã hội Việt Nam đương đại trong 4 thập kỷ qua. Trong công việc đó chính cái tâm, sự nỗ lực học tập và lao động nghệ thuật của Ngũ Liên Tùng cùng sự hưởng ứng của nhân dân đã làm nên một Ngũ Liên Tùng, một nhà thơ trào phúng.../.



Đ . H

(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0