Sắc sảo thơ phái yếu
Hoa Huyền
Chuyện kể rằng, một lần chàng nho sinh Nguyễn Trãi dạo chơi ở kinh thành Thăng Long, bỗng gặp một cô gái bán chiếu, xinh đẹp, liền buông lời tình tứ:
Người ở đâu ta bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa, được mấy con.
Không ngờ cô gái cũng là người hay chữ. Thấy chàng nho sinh ướm ý một cách văn vẻ cô liền trả lời:
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Cớ sao ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh đang độ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, hỏi chi con.
Câu thơ cuối cùng, Nguyễn Thị Lộ đã chơi chữ một cách tài tình. Chồng còn chưa có, hỏi chi con. Ba từ phía cuối thực sự có hai nghĩa. Chồng còn chưa có nói gì đến con, và cũng có thể hiểu là chồng còn chưa có hỏi làm chi hả con. Từ những lời thơ sắc sảo ấy, Nguyễn Thị Lộ đã trở thành người vợ thứ yêu quý của Nguyễn Trãi.
Vua Lê Thánh Tông là người nổi tiếng yêu văn chương. Khi còn là hoàng tử lánh nạn vào Thanh Hóa, một chiều đi dạo trên bờ sông, tình cờ chàng gặp một cô gái đang vo gạo, ở bến sông. Cô gái nhan sắc tuyệt vời khiến hoàng tử không sao đi được. Tần ngần hồi lâu chàng liền đọc một câu tức cảnh:
Gạo trắng, nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả...
Câu văn bỏ lửng, nhưng ý nghĩa đã rõ lắm. Cô gái vẫn làm thinh, mãi lúc cắp rá gạo ra về mới đáp lại:
Cát lầm, gió bụi, lo đời đâu đấy hẵng lo cho...
Câu này cũng bỏ lửng nhưng ý nghĩa cũng quá rõ. ý nói đời đương loạn lạc, nam nhi nên ra tay giúp đỡ đời trước đã, rồi sau có nghĩ đến chuyện mình hay chuyện ai hẵng hay. Đặc biệt hai câu buông lửng của hai trường hợp thành một câu đối rất chỉnh. Nghe lời, hoàng tử càng mến yêu cô gái bội phần. Chàng dò hỏi biết tên cô gái là Ngọc Hằng, con một vị quốc công. Sau này khi lên ngôi vua, Lê Thánh Tông đã cưới cô gái ấy làm vợ.
Đoàn Thị Điểm, biệt hiệu Hồng Hà nữ sĩ nổi tiếng hay chữ từ bé. Một tối anh trai là Đoàn Doãn Luân đang dạo chơi trên bờ ao, nhìn qua cửa sổ thấy em gái đang trang điểm liền đọc một câu để trêu em:
Chiếu kính họa mi nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (Nghĩa là: Soi gương vẽ lông mày, một (cô) Điểm thành hai (cô) Điểm).
Không ngờ cô em đối lại còn hay hơn:
Biên trì ngoạn nguyệt, nhất luân chuyển tác song luân (Nghĩa là: Bên ao ngắm trăng, một (anh) Luân hóa ra hai (anh) Luân. Chữ Luân trong tiếng Hán còn có nghĩa chỉ vầng trăng tròn).
Sau này khi Đoàn Thị Điểm đã là vợ tiến sĩ Nguyễn Kiều, có lần bà phải tiếp sứ nhà Thanh. Viên sứ này vừa kiêu ngạo, khinh nước ta nhỏ, vừa có ý xỏ xiên, ra một vế đối:
An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ thâm canh. (Nghĩa là: An Nam một tấc đất, không biết bao người cày).
Bà liền trả lời rất đáo để:
Bắc quốc chi đại phu, gia do thử đồ xuất. (Nghĩa là: Bắc quốc bao quan lớn, đều từ đó mà ra).
Sứ nhà Thanh đau điếng, nhưng đành ngậm miệng:
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người được mệnh danh là Bà chúa thơ nôm, một lần nhà chức trách thành Thăng Long xin bà một câu đối để mừng quan khâm sai triều đình từ Huế ra, bà vui vẻ viết rằng:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện
Tướng quân thanh thế áp biên thùy.
(Nghĩa đen của câu đối là: Cờ xí của nhà vua giăng khắp chốn che nửa nước. Uy danh của vị khâm sai rất lớn, bao trùm cả ba cõi).
Ai cũng phải công nhận câu đối hay, xứng với triều đình và quan khâm sai. Nhưng sau khi câu đối được chạm khắc sơn son treo lên cổng chào thì một truyền mười, mười truyền trăm, các ông đồ bàn nhau giải nghĩa. Người ta mới vỡ lẽ rằng Hồ Xuân Hương là nhà thơ rất tinh nghịch. Câu thơ chữ Hãn của bà rất dễ gợi cho người ta nhớ đến câu "Chành ra ba góc da còn thiếu" mà bà đã dùng rất phổ biến hồi ấy. Thành thử mặc cho nghĩa đen như thế nào, người ta cứ hiểu rằng: Cờ của vua Gia Long là loại cờ che nửa mảnh và cái tài của vị khâm sai đại thần chỉ là cái tài áp vào ba góc mà thôi. Bởi vậy có thể dịch câu đối trên là:
Che nửa mảnh, rực cờ thiên tử
Chấn ba góc, rõ tài tướng quân.
Nói đến Bà Huyện Thanh Quan hẳn ai cũng nhớ đến bài thơ Qua đèo Ngang. Song bà còn nổi tiếng về tài thơ dí dỏm và tinh nghịch. Một lần ông huyện chồng bà đi vắng, có một phụ nữ tên là thị Đào đưa đơn xin ly dị chồng. Bà cầm bút phê:
Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo, cắm sào đợi ai
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.
Thị Đào được lời về lấy chồng khác. Ông huyện bị quan trên khiển trách, từ đấy ông không cho vợ tham dự vào việc công đường. Nhưng rồi lần khác ông đi vắng, bà vẫn nhận đơn thay ông. Một ông Cống mới đỗ đệ đơn xin mổ trâu để ăn khao trả nợ miệng. Lúc ấy đang mùa cày cấy, lệnh trên không được mổ trâu. Nhưng là một phụ nữ biết làm thơ, bà vừa nể ông Cống, vừa muốn đùa ông bằng văn chơi, bà liền cầm bút phê:
Người ta thì chẳng được đâu
ừ thì ông Cống làm trâu thì làm.
Ông Cống đọc lời phê thấy rõ ý chơi xỏ hóm hỉnh của bà nên hơi đỏ mặt (ừ thì ông Cống muốn làm trâu làm ngựa gì thì làm), nhưng điều ông muốn là "mổ trâu" đã đạt được nên ông im lặng ra về.
Còn một nhà thơ nữ vô danh ở xứ Nghệ chỉ bằng hai câu thơ mà để người đời nhớ mãi:
Chuyện rằng Nguyễn Công Trứ tuy là quan to nhưng rất thích rượu chè, ngâm vịnh, đặc biệt mê hát ả đào "tom, chat". Một lần ông khao thưởng quân sĩ và tổ chức một chầu hát ả đào. Ông đích thân cầm chầu. Một đào nương cất lên câu hát:
Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự...! anh hùng nhớ không?
Nguyễn Công Trứ giật nẩy mình, quẳng dùi trống đứng dậy, nhìn kỹ người vừa hát. Thì ra đó chính là cô gái ông đã gặp khi ông còn là một chàng nho sinh nghèo. Đã có lần Nguyễn Công Trứ cùng cô gái ấy đi trên một cánh đồng dưới trăng thanh gió mát. Xốn xang trước vẻ đẹp của cảnh, của người, cầm lòng không đậu, Nguyễn Công Trứ đã ép cô gái trao tình. Cô cự tuyệt bằng những tiếng ứ hự! Không ngờ quá nửa đời người họ lại gặp nhau. Hai câu thơ tài tình trên đã gợi cho người nghe dù là trong cuộc hay ngoài cuộc vẫn hình dung đúng cái cảnh đã xảy ra trước đó nhiều năm.
Thế mới biết phụ nữ Việt Nam thật sắc sảo và tài hoa./.
(Tạp chí Nhà văn)
Hoa Huyền
Chuyện kể rằng, một lần chàng nho sinh Nguyễn Trãi dạo chơi ở kinh thành Thăng Long, bỗng gặp một cô gái bán chiếu, xinh đẹp, liền buông lời tình tứ:
Người ở đâu ta bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa, được mấy con.
Không ngờ cô gái cũng là người hay chữ. Thấy chàng nho sinh ướm ý một cách văn vẻ cô liền trả lời:
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Cớ sao ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh đang độ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, hỏi chi con.
Câu thơ cuối cùng, Nguyễn Thị Lộ đã chơi chữ một cách tài tình. Chồng còn chưa có, hỏi chi con. Ba từ phía cuối thực sự có hai nghĩa. Chồng còn chưa có nói gì đến con, và cũng có thể hiểu là chồng còn chưa có hỏi làm chi hả con. Từ những lời thơ sắc sảo ấy, Nguyễn Thị Lộ đã trở thành người vợ thứ yêu quý của Nguyễn Trãi.
Vua Lê Thánh Tông là người nổi tiếng yêu văn chương. Khi còn là hoàng tử lánh nạn vào Thanh Hóa, một chiều đi dạo trên bờ sông, tình cờ chàng gặp một cô gái đang vo gạo, ở bến sông. Cô gái nhan sắc tuyệt vời khiến hoàng tử không sao đi được. Tần ngần hồi lâu chàng liền đọc một câu tức cảnh:
Gạo trắng, nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả...
Câu văn bỏ lửng, nhưng ý nghĩa đã rõ lắm. Cô gái vẫn làm thinh, mãi lúc cắp rá gạo ra về mới đáp lại:
Cát lầm, gió bụi, lo đời đâu đấy hẵng lo cho...
Câu này cũng bỏ lửng nhưng ý nghĩa cũng quá rõ. ý nói đời đương loạn lạc, nam nhi nên ra tay giúp đỡ đời trước đã, rồi sau có nghĩ đến chuyện mình hay chuyện ai hẵng hay. Đặc biệt hai câu buông lửng của hai trường hợp thành một câu đối rất chỉnh. Nghe lời, hoàng tử càng mến yêu cô gái bội phần. Chàng dò hỏi biết tên cô gái là Ngọc Hằng, con một vị quốc công. Sau này khi lên ngôi vua, Lê Thánh Tông đã cưới cô gái ấy làm vợ.
Đoàn Thị Điểm, biệt hiệu Hồng Hà nữ sĩ nổi tiếng hay chữ từ bé. Một tối anh trai là Đoàn Doãn Luân đang dạo chơi trên bờ ao, nhìn qua cửa sổ thấy em gái đang trang điểm liền đọc một câu để trêu em:
Chiếu kính họa mi nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (Nghĩa là: Soi gương vẽ lông mày, một (cô) Điểm thành hai (cô) Điểm).
Không ngờ cô em đối lại còn hay hơn:
Biên trì ngoạn nguyệt, nhất luân chuyển tác song luân (Nghĩa là: Bên ao ngắm trăng, một (anh) Luân hóa ra hai (anh) Luân. Chữ Luân trong tiếng Hán còn có nghĩa chỉ vầng trăng tròn).
Sau này khi Đoàn Thị Điểm đã là vợ tiến sĩ Nguyễn Kiều, có lần bà phải tiếp sứ nhà Thanh. Viên sứ này vừa kiêu ngạo, khinh nước ta nhỏ, vừa có ý xỏ xiên, ra một vế đối:
An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ thâm canh. (Nghĩa là: An Nam một tấc đất, không biết bao người cày).
Bà liền trả lời rất đáo để:
Bắc quốc chi đại phu, gia do thử đồ xuất. (Nghĩa là: Bắc quốc bao quan lớn, đều từ đó mà ra).
Sứ nhà Thanh đau điếng, nhưng đành ngậm miệng:
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người được mệnh danh là Bà chúa thơ nôm, một lần nhà chức trách thành Thăng Long xin bà một câu đối để mừng quan khâm sai triều đình từ Huế ra, bà vui vẻ viết rằng:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện
Tướng quân thanh thế áp biên thùy.
(Nghĩa đen của câu đối là: Cờ xí của nhà vua giăng khắp chốn che nửa nước. Uy danh của vị khâm sai rất lớn, bao trùm cả ba cõi).
Ai cũng phải công nhận câu đối hay, xứng với triều đình và quan khâm sai. Nhưng sau khi câu đối được chạm khắc sơn son treo lên cổng chào thì một truyền mười, mười truyền trăm, các ông đồ bàn nhau giải nghĩa. Người ta mới vỡ lẽ rằng Hồ Xuân Hương là nhà thơ rất tinh nghịch. Câu thơ chữ Hãn của bà rất dễ gợi cho người ta nhớ đến câu "Chành ra ba góc da còn thiếu" mà bà đã dùng rất phổ biến hồi ấy. Thành thử mặc cho nghĩa đen như thế nào, người ta cứ hiểu rằng: Cờ của vua Gia Long là loại cờ che nửa mảnh và cái tài của vị khâm sai đại thần chỉ là cái tài áp vào ba góc mà thôi. Bởi vậy có thể dịch câu đối trên là:
Che nửa mảnh, rực cờ thiên tử
Chấn ba góc, rõ tài tướng quân.
Nói đến Bà Huyện Thanh Quan hẳn ai cũng nhớ đến bài thơ Qua đèo Ngang. Song bà còn nổi tiếng về tài thơ dí dỏm và tinh nghịch. Một lần ông huyện chồng bà đi vắng, có một phụ nữ tên là thị Đào đưa đơn xin ly dị chồng. Bà cầm bút phê:
Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo, cắm sào đợi ai
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.
Thị Đào được lời về lấy chồng khác. Ông huyện bị quan trên khiển trách, từ đấy ông không cho vợ tham dự vào việc công đường. Nhưng rồi lần khác ông đi vắng, bà vẫn nhận đơn thay ông. Một ông Cống mới đỗ đệ đơn xin mổ trâu để ăn khao trả nợ miệng. Lúc ấy đang mùa cày cấy, lệnh trên không được mổ trâu. Nhưng là một phụ nữ biết làm thơ, bà vừa nể ông Cống, vừa muốn đùa ông bằng văn chơi, bà liền cầm bút phê:
Người ta thì chẳng được đâu
ừ thì ông Cống làm trâu thì làm.
Ông Cống đọc lời phê thấy rõ ý chơi xỏ hóm hỉnh của bà nên hơi đỏ mặt (ừ thì ông Cống muốn làm trâu làm ngựa gì thì làm), nhưng điều ông muốn là "mổ trâu" đã đạt được nên ông im lặng ra về.
Còn một nhà thơ nữ vô danh ở xứ Nghệ chỉ bằng hai câu thơ mà để người đời nhớ mãi:
Chuyện rằng Nguyễn Công Trứ tuy là quan to nhưng rất thích rượu chè, ngâm vịnh, đặc biệt mê hát ả đào "tom, chat". Một lần ông khao thưởng quân sĩ và tổ chức một chầu hát ả đào. Ông đích thân cầm chầu. Một đào nương cất lên câu hát:
Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự...! anh hùng nhớ không?
Nguyễn Công Trứ giật nẩy mình, quẳng dùi trống đứng dậy, nhìn kỹ người vừa hát. Thì ra đó chính là cô gái ông đã gặp khi ông còn là một chàng nho sinh nghèo. Đã có lần Nguyễn Công Trứ cùng cô gái ấy đi trên một cánh đồng dưới trăng thanh gió mát. Xốn xang trước vẻ đẹp của cảnh, của người, cầm lòng không đậu, Nguyễn Công Trứ đã ép cô gái trao tình. Cô cự tuyệt bằng những tiếng ứ hự! Không ngờ quá nửa đời người họ lại gặp nhau. Hai câu thơ tài tình trên đã gợi cho người nghe dù là trong cuộc hay ngoài cuộc vẫn hình dung đúng cái cảnh đã xảy ra trước đó nhiều năm.
Thế mới biết phụ nữ Việt Nam thật sắc sảo và tài hoa./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,