Đinh Quang Nhã - Hương vị quê Nam trong tác phẩm
Hoài Anh
Tôi đã đọc truyện Người nuôi bê tông của Đinh Quang Nhã đăng trên báo Văn học, khi anh mới ra tập kết miền Bắc. Khi anh Nhã vào chiến trường, đọc truyện Mùa nấm tràm ký tên Đinh Quang Nhã từ miền Nam gửi ra miền Bắc, tôi thấy người xưa cảnh cũ ở quê Nam sống lại in đậm dấu vết trên từng trang viết của anh, tôi nghĩ thầm anh như "cọp về rừng" tha hồ vùng vẫy. Nhà văn Đoàn Giỏi viết bài giới thiệu Mùa nấm tràm trên Tạp chí Văn nghệ cũng viết:"Cậu Ba à, gà của cậu đã "trổ mã" rồi đấy". Thế nhưng tính vốn điềm đạm chín chắn, anh không bao giờ đưa ngòi bút của mình đi quá đà, mà có sự bình tĩnh chắt lọc từng chi tiết để những dòng chữ của mình có hiệu quả hơn, thấm sâu hơn vào lòng người đọc. Với anh, phải để cho tài liệu, sự việc lắng đọng lại thành tình cảm trong lòng mình đã rồi mới cầm bút viết. Vừa chú ý đến việc xây dựng những tính cách con người Nam Bộ "dọc ngang" cao cả, trọng nghĩa tình, xem thường phú quý và uy quyền, anh còn thể hiện cái bên trong của họ có sự mềm mỏng, ý nhị và đáng yêu. Anh cũng rất quan tâm dựng cảnh sắc của vùng đất Nam Bộ để làm nền hoạt động cho con người.
Nếu có nhà văn Văn nghệ giải phóng nào đó còn đem chi tiết "chém to kho mặn" để đưa vào tác phẩm, thì Đinh Quang Nhã đã có kỹ thuật chiên xào nấu nướng lành nghề. Những truyện viết về chiến sĩ và đồng bào miền Nam dũng cảm quên mình, bền gan đánh Mỹ, anh đều biết đưa thêm vào những chi tiết đậm đà hương vị quê hương, như những cọng rau ngò, nhành thì là điểm vào làm dậy mùi món ăn.
Như chi tiết nấm tràm trong Mùa nấm tràm được anh khai thác khá đắt.
Một cán bộ giải phóng xưng Tôi ghé vào nghỉ ở nhà đồng bào, bà má đi họp về mang theo một ít nấm tràm: "Tôi kinh ngạc hết sức. Hồi "chín năm", tôi từng sống ở rừng U Minh dưới miền Tây. U Minh là rừng tràm lớn nhất, có thể nói là cánh rừng nổi tiếng về nhiều mặt của Nam Bộ. Thế nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói tới nấm tràm cả.
Không kịp xỏ chân vô dép, tôi chạy tới bếp để xem nấm tràm. ờ, những tai nấm tím thắm thiết, óng ả và trang nghiêm. Tai nấm đang búp, vun lên như chiếc bánh bò xốp đổ bằng khuôn đứng. Nấm tràm tím, gợi cho tôi nhìn lại mình, nhìn lại nơi sâu nhất của trái tim mình. Tai nấm không to, giống mọi thứ nấm, duy sắc nấm tôi chưa thấy loại nào có. Nấm tràm cũng làm cho tôi liên tưởng đến một người bạn thân thiết đang ở xa, phía cuối chân trời.
- Nó mọc ở đâu má, trên cây tràm mục à? Ăn được không?
- Trời đất, thằng Tư mày chưa thấy à?
Ông già lại hỏi tôi, nhưng lại trả lời ngay những điều tôi muốn biết. Ra là loại nấm ăn có vị như khổ qua. Càng ăn càng thấy ngọt ở đầu lưỡi và cổ. Nấm tràm là nguồn thức ăn rất ngon và bổ cho bộ đội và đồng bào tản cư.
Nấm gợi lên tình cảm nhưng cũng là món ăn vật chất ngon lành. “... Trong bữa cơm chiều, món ăn ngon nhất có lẽ là tô nấm tràm xào mỡ. Những tai nấm tím, áo ngoài một lớp mỡ, óng mượt lên. Những cọng hành xanh lẫn vào nấm thơm. Thịt nấm mềm mại mà lại giòn, cứ để lại đầu lưỡi dư vị ngòn ngọt đậm đà như đồng quê mộc mạc mà đậm tình”.
Khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, tác giả cũng không quên nấm: "Đêm nay chắc là ngủ ngon lắm đây, tôi nghĩ thầm. Bên cạnh giấc ngủ của tôi có bà mẹ và ông cha che chở cho tôi, giống như bầu trời mịn màng đầy sao trùm xuống cánh đồng nhỏ.
Ông già ngó ra ngoài, che mắt nói lớn:
- Sao mọc dày, mai nắng. Thế nào nấm cũng mọc nhiều”.
Giữa đêm, có hai chiến sĩ Giải phóng ghé vào nghỉ, từ khi biệt chủ nhà lên đường, bà má đưa cho hai anh gói mắm cá lóc và gói nấm tràm, nhưng ác anh chỉ nhận gói nấm tràm, còn gói mắm cá lóc thì không dám cầm vì sợ bọn con gái cười. Cuối truyện vẫn là hình ảnh nấm tràm trở thành biểu tượng chứa ý tư tưởng.
"Tôi ao ước được là một phần của anh út. Chẳng có gì hết, về quê nhà một lát, ăn chén cơm nguội với mắm sống, rồi nằm khèo ra đó ngủ... Nhưng hơn tất cả là được nhận những câu la mắng của người mẹ rồi ra đi. Như những tai nấm sáng ngày sẽ nở nhiều, đêm ngắn ngủi vừa qua làm nảy nở trong anh bao niềm vui, nó mạnh hơn cả sắt, cả thép. Nếu không có ở đây đêm nay, tôi chắc cũng không hiểu được cái qúy giá của góc rừng này giống như những tai nấm nuôi bộ đội và đồng bào quanh vùng, lẫn trong cỏ rậm rất khó thấy được".
Chi tiết rau om đất trong Rau om đất cũng mang tác dụng và giá trị như vậy. Một cán bộ giải phóng ghé vào nghỉ trong nhà một chị bán nước đá, khi bước ra cửa, nhìn thấy: "rải rác trên mặt ruộng rau om mọc xanh theo các vệt trũng. Hết nhìn dưới chân mình, anh lại nhìn ra xa. Rau om còn mọc đến nơi nào? Rau om cũng đang mùa hoa, ở mỗi đầu ngọn rau đều nở một bông tím nao nao. Anh ngắt lên cầm tay nhìn hoài mà có có cảm giác chưa thấy hết màu hoa. Anh băn khoăn: rau om thơm ở hoa hay ở lá?" Chị chủ nhà đang nấu canh rau om om cho anh ăn thì địch đổ quân, chị bảo con đưa anh lánh đến xóm Cây Tràm, còn chị thì gánh súng ống, ba lô đến đó cho anh: "Chị tươi cười đặt gánh trên vai xuống. Vầng trán cao hơi dô của chị mồ hôi lấm tấm. Anh hiểu chị gánh cái gì đến giao cho mình. Nhưng anh không hề nghĩ trên mặt đôi thúng dưới hai đầu gánh, chị phủ ngụy trang một lớp rau om đất xanh non. Vừa cúi người đón lấy các đồ vật, hương rau om làm anh cảm như nó bỗng lan vào tận tim mình, tím ngắt như một khoảng chân trời".
Chi tiết rau om lại được dùng lại một lần nữa trong đoạn cuối: "Anh nằm trên võng mà không hết nghĩ ngợi, đầu gối lên ba lô. Hương rau om đầm ấm đâu đó lại thoảng lên, giống như tiếng gió xạc xào lúc xa lúc gần. Anh thú vị dòm quanh: đất chỗ nào cũng thơm. Giây lâu anh mới tìm thấy: do từ sáng chị bỏ nắm rau om đất ngụy trang trên mặt thúng nên hương rau thấm đẫm vào ba lô mình".
Trên đặt câu hỏi: "Anh băn khoăn: rau om thơm ở hoa hay ở lá?" thì dưới trả lời: "Đất chỗ nào cũng thơm". Hương rau ở đây lại trở thành biểu tượng cho tình đất, tình người.
Chi tiết bằng lăng trong Trên rừng bằng lăng mở đầu miêu tả: "Bạn ơi! ở nơi kia có bao giờ bạn đi dưới một cánh rừng bằng lăng chưa? ấy là các thứ cây rừng bạc trắng, từ xa đã thấy gồ lên cái thế khỏe khoắn sạch sẽ riêng biệt. Gốc bằng lăng thường có nhiều khía, vỏ lỗ chỗ y như thể mưa vừa để lại dấu vết. Bằng lăng bông tím do những cành nhỏ tụ lại giống như kỷ niệm của nhiều năm tháng chảy về. Mùa bông băng lăng cũng là mùa mưa, mùa của tiếng suối sôi réo, mùa măng non trắng".
Bằng lăng ở đây lại là tượng trưng cho cô Dũng, làm nhân viên đánh máy cho một trạm giao liên, sốt sắng giúp đỡ mọi người kể cả việc đi đưa khách thế cho đồng đội. Nghe tin chồng hy sinh, cô vừa nuôi đứa con độ chín tháng sau khi ra đời không biết mặt cha, vừa dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ. Nhân vật Tôi ban đầu tưởng cô không biết chồng mình đã chết, nên kín đáo tặng cô một xấp vải, nhưng cô không nhận, và nói:
"Dạ, em còn có đứa con của chồng em. Bây giờ hai mắt cô đã ráo nước. Em phải gượng dậy làm việc. Em xin hứa chắc với anh như vậy đó, anh Hoằng à.
Tôi thở một hơi mạnh, khoan khoái cảm như có một ngọn gió thổi qua rừng. Cùng với nắng, lá bằng lăng khô rào rào đổ xuống như một đàn bướm. Bướm với nắng từng mảnh nhỏ lẫn vô nhau, lượn ra xa không rớt xuống".
Khi chia tay với cô Dũng: "Cô mò mẫm tìm đến mọi người để chào. Từ giờ đây tôi cũng chia tay với cô, tôi sẽ đi thẳng xuống, cô quay lại với cánh rừng bằng lăng sắp nở hoa tím. Nói gì với cô đây, người phụ nữ lớn hơn vóc dáng của mình, hơn cả cái tên mình?" Nếu ở đoạn trên, bướm lẫn vào với cánh rừng bằng lăng, thì ở đoạn kết hình ảnh cô Dũng lại lẫn vào cánh rừng bằng lăng, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc.
Chi tiết cây tràm khô trong truyện Nước cũng rất gợi cảm.
Nhân vật tôi được một chú giao liên tên út Tặng đưa đi, khi đến trạm giao liên vào nghỉ ở một nhà dân, bắc sàn trên đồng nước, hễ nước lên sàn ngập lại phải lội xuống kê cao lên, không ngờ anh chủ nhà lại chính là bố út Tặng: "Anh chủ nhà vục ấm trà xuống nước, tháo bã cũ để pha một ấm mới uống thêm. Có lẽ cái việc anh dòm tôi hoài là để coi tôi gặp Tặng đó có thật không, chớ còn anh coi chuyện hai cha con anh cũng là sự thường thôi nghĩ ngợi làm chi trên đồng nước này. Vừa lúc đó anh trưởng trạm trắng trẻo từ ngoài kia đã quay vào. Tới thẳng chỗ chúng tôi. Người trưởng trạm cũng chẳng nghĩ gì ghé đít vô ngồi. Vẫn chiếc quần tiều sọc đỏ sáng, trên tay cầm một cây tràm con lượm trong bụi tràm mới đốn kế nhà của cô gái nhà bên".
Đoạn kết, hình ảnh cây tràm khô trở thành tượng trưng cho cái làng trên nước, và biểu tượng cho cuộc chiến đấu ở đây.
Chi tiết ngôi sao trên bầu trời đồng tro trong Đồng tro, cũng có ý nghĩa khái quát: tình yêu trong chiến tranh. Sử một giao liên vùng trắng được lệnh đi đón đồng chí để tìm biện pháp nối lại đường dây bị đứt. Chưa gặp đồng chí mình cần gặp, nhưng thấy người của ta sắp lọt vào ổ phục kích của địch, anh đã nổ súng để báo động cho đồng đội. Mở đầu, tác giả tả cánh đồng cỏ gắn với tình cảm của Sử nhớ người yêu.
Sở dĩ Sử xông ra cứu nguy cho anh em mặc dù không thuộc phạm vi mình phụ trách cũng vì muốn tỏ ta xứng đáng với tình yêu của Ngoan. Đoạn kết, tác giả viết:
"Vừa lướt qua nền sao nhấp nháy, anh liền chợt nhớ: chẳng hiểu chiếc nào là ngôi sao của Ngoan. Tự dưng Sử thấy khuôn mặt một cô gái với vầng trán dô hơi bướng bỉnh, nghịch ngợm. Gió thổi tung món tóc lòa xòa bên thái dương. Cô nhìn anh, đôi môi mỏng ướt đỏ tươi cười: "Chào đồng chí giao liên miền Đông! ác liệt lắm hả anh? Em sung sướng vì anh..."
Có người nói, tình yêu là đề tài vĩnh hằng, nhưng cũng cần phân biệt tình yêu cao cả nâng con người lên và tình yêu thấp hèn dìm con người xuống. Saint - Exupéry nói: "Yêu không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng". Sử và Ngoan ở hai nơi nhưng cùng nhìn về một hướng, nên Sử nhìn ngôi sao mọc trên bầu trời đồng tro cũng như nhìn thấy Ngoan.
Tiểu thuyết không tách rời nổi câu chuyện, bởi vì câu chuyện là cái khung của tiểu thuyết; tiểu thuyết càng không tách rời nổi tình cảm, bởi vì tình cảm là ánh dương của tiểu thuyết. Rodin có một câu danh ngôn: "Nghệ thuật tức là tình cảm".
Nhà tiểu thuyết tại sao phải viết tiểu thuyết? đương nhiên là do sự thúc đẩy của tình cảm. Jean Paul Sartre trong Tại sao viết? chỉ ra: Nhà tiểu thuyết sở dĩ viết, là bởi chịu sự khu sử của một tình cảm mạnh mẽ.
Truyện Đinh Quang Nhã đã thể hiện thứ tình cảm mạnh mẽ đó bằng những màu sắc, cung bậc, hình thái khác nhau. Anh chủ nhà trong Nước, nói về con mình:
"Có đứa nào nữa? Độc nhất một thằng thì đã đi rồi! Anh coi, hồi mới mười tuổi nó đã đòi đi theo giải phóng. Cắt nghĩa cho nó nghe, con nít không biết bắn súng, nấu cơm, tự giặt quần áo... thì không ai người ta chịu thâu nhận vô hàng ngũ đâu. Dỗ dành hoài, giữ lại nhà được hai năm. Năm mười hai tuổi, má nó năn nỉ thêm không được, phải cho theo. Nhưng bộ đội chê. Nhỏ quá. ổng cứ nhè tôi bắt đền và cự má nó: "Tại bây giờ má mới chịu cho đi nên người ta không nhận, chứ hồi đó để người ta đi thì người ta đi được rồi". Anh coi ổng nói ngang như cua không? Nó tán già, cuối cùng má nó vận động được tôi: "Thôi, ba nó coi chỗ nào xin cho con đi, thấy nó bực dọc thương quá". Kỳ cục xin cho nó vô làm giao liên, ngành đường dây bán quân sự.
Anh tiếp:
- Nhưng mà thằng nhỏ tôi ngon lắm anh. Mười hai tuổi thoát ly theo cách mạng, mười ba tuổi thì một mình hạ tại trận chiếc trực thăng vậy hè".
ở đây, tình cảm sung sướng tự hào về con đã thắng tình thương nhỏ hẹp.
Còn cô Dũng thương con lại nựng con bằng cái giọng hờn dỗi, trách mắng: Nè, tôi hỏi lớn làm được cái gì mà khóc hoài vậy cà? Con cái gì không giống ba rồi. Ba mười lăm tuổi đã trốn ông nội bà nội đi theo cách mạng giải phóng đó nghe.
Miệng mắng con nhưng trong thư viết cho chồng cô lại khen con:
"Càng lớn, con càng có nhiều nét giống anh ghê lắm. Con không khó lắm anh à, con bú sữa em không hết, cũng đỡ vất vả anh nhỉ. Con "dữ lắm", lanh nữa, hồi mới hai mươi ngày là vo vo miệng muốn nói, hai con mắt tròn và đen đảo đảo tìm sáng coi thiệt là lanh. Em ngồi viết thơ cho anh đây, thì con đang ngủ. à em quên nói tóc con nhiều lắm, cái tóc cũng giống anh, nhuyễn lại đen nữa. Lúc con bú no là te tét cười coi thiệt là thương".
Cô viết như vậy cho chồng an tâm chứ thật ra lúc đó cô vừa bồng con vừa viết, còn đứa bé cứ nhè nhè khóc, chỉ có cô cười te tét với con. Tình thương chồng thương con của người phụ nữ Nam bộ được tác giả diễn tả thật độc đáo và thấm thía.
Trong Xanh Xanh, màu xanh của cô giao liên lại hòa lẫn với nền trời. Truyện nói về nỗi day dứt gần như đau đớn của một cô giao liên chiến trường vì nổ súng bắn máy bay Mỹ bảo vệ khách nên bị thương, phải về nghỉ dưỡng bệnh ở tuyến sau. Đoạn đầu tác giả viết:
- Cô gái trả lời với một người nào:
- Anh cứ yên lòng, giao liên có chết khách mới chết chứ.
Cô lại cười. Tự nhiên lòng tôi bỗng trở nên dễ chịu. Có lẽ nhờ tiếng cười đó. Cũng có lẽ ở câu cô vừa nói đĩnh đạc, dứt khoát. Và hình như cô đang dòm qua vai chị bác sĩ bạn cùng đoàn hướng tới tôi. Cũng cặp mắt đen huyền. Nhưng trùm lên tất cả là cái màu áo cô đang mặc, như da trời óng xanh. Tôi bỗng giật mình. Cô gái cứ dòm thẳng tôi, cái nhìn làm tôi nhắm lại. "Khi cô bắn máy bay "gió đàn, khói càng cất cao lên nhiều bựng lớn, y thể tới đây khói không vượt qua được bóng dáng thanh thanh mà vững chắc của cô gái đang sổng lưng. Vành môi trên của cô lúc này hình như mím lại. Cô đưa cả hai tay ra sau, búi gọn hai bím tóc. Chiếc áo xanh lại bị căng ra như sắp bay lên. Trực thăng đảo một vòng lớn, đuôi trút xuống, rất khó nhọc mới bay đi được.
... Đương kéo vạt áo cho thẳng thớm, vụt cái cô đã luồn vào buồng khói xách súng lao tới, chỉ còn vương lại trong mắt tôi một chấm xanh xanh... Lửa đỏ ngang dọc đan chéo trước mắt cô. Chiếc trực thăng vòng lại, đuôi nó cơ hồ sắp quật vào chấm xanh nhỏ...
Khi cô hạ được chiếc máy bay, bị thương, phải trở về tuyến sau: "Dáng tròn trịa, dong dỏng trong chiếc áo xanh nâng nâng giống một ngọn cây sức sống tràn trề đang dâng cao giữa đồng. Cô tới đâu, màu trời đan ngút khói ngan ngát xanh xanh theo lên..."
Nếu Xanh Xanh mang đầy chất thơ, thì A lại thấm đẫm chất hiện thực. Tác giả viết về các đồng chí đơn độc hoạt động ở vùng trắng để nói lên cái ý có những con người bên ngoài tưởng chừng như nhát vậy mà lại trụ được ở chiến trường lâu hơn ai hết. A phải nằm hầm, sốt rét, da xanh mét, lại chứng viêm xoang mũi mà vẫn quyết tâm ở lại chiến trường cho đến ngày A cởi áo ra gói các mẩu xương người chết văng ra từ hai cái mả đã bị trúng pháo mang về trả cho thân nhân người chết, là một chi tiết cảm động, bên cạnh hình ảnh đậm đà hương vị quê Nam "Đậu đũa nở bông tim tím lác đác trên giàn, lẳng lặng như có ai lâu buông một tiếng đờn".
Đọc câu trên, tôi nhớ lời Babel nói với Paoutovski: "Một sự so sánh phải chính xác như một định lý toán học và tự nhiên như hương thơm của cây hồi hương". Sự so sánh của Đinh Quang Nhã quả là vừa chính xác vừa tự nhiên. Thí dụ: "Mây trên trời lúc này cũng lạ, dồn đống lại đầu như hình con trâu cồ, đuôi tựa thể cặp chân người đang lội trong nước" ... "Đêm vắng tàn dần. Mới đó ngày lại tới như trời chỉ thiêm thiếp rồi lại bừng mắt. Buổi sớm ở ngay trước mặt Lẫm, đỏ hồng như trái dưa hấu bổ đôi. Sinh khí buổi sớm luồn vào dưới áo sơ mi xanh dợt của anh dịu dàng và lần lần cũng cuồng nhiệt như một sự say đắm".
Trong Đất trong làng (1974) Đinh Quang Nhã đã chọn được hoàn cảnh điển hình: một xã ở Long An gần lộ 4, Long An ở sát nách Sài Gòn, vòng từ phía Nam đến phía Tây thành phố như một cánh cung, đó là bàn đạp quan trọng để tiến vào thành phố mùa xuân 1968. Tiểu thuyết đã chấm đúng vào thời điểm cuối năm 1968 gần đến tết Kỷ Dậu (1969). Về phía Mỹ, chúng cho trực thăng đến xúc dân ra ngoài lộ 4, đồng bào đấu tranh phá nhà tôn rào kẽm gai, trở về làng cũ. Chúng hết đưa bọn áo vàng về khủng bố, chém giết đồng bào, lại đưa tụi áo đen trong đoàn "bình định" về dụ dỗ mua chuộc, nhằm tách cán bộ ta ra khỏi dân để bề dễ "tát nước bắt cá".
Trong hoàn cảnh điển hình đó, tác giả đã xây dựng được một số nhân vật điển hình. Lẫm là một cán bộ xã, sau Tổng tấn công tết Mậu Thân được điều lên tỉnh, nhưng sáu tháng sau lại được cấp trên điều về xã bám đất, bám dân, xây dựng lại phong trào, củng cố cơ sở đoàn thể, vận động quần chúng đấu tranh, tiến hành hoạt động vũ trang, nhằm tạo thế và lực, phá kế hoạch "bình định cấp tốc" của địch.
Thời điểm Lẫm trở về làng, cũng là lúc Sành vợ anh có bầu sắp sanh, việc đó đã tạo cho tiểu thuyết một tình huống khẩn trương. Sành bị giặc đánh chết nhưng đứa con vẫn ra đời, lớn lên trong sự chăm sóc của bà con, chi tiết đó lại có giá trị biểu tượng: dù gian khổ ác liệt nhưng cách mạng giải phóng miền Nam nhất định sẽ thành công, tương lai đã bừng hiện vì đây chỉ là "đêm rớt" trước khi trời sáng, qua đó chủ đề của tiểu thuyết được nêu bật. Nhưng cái đó mới là mâu thuẫn giữa địch và ta, tác giả còn tạo thêm đường dây mâu thuẫn giữa nội bộ nhân dân: ông Chín Thừa, nhà ở cách nhà Lẫm chỉ một con mương, có tính tự tư, khi thấy địch khủng bố ác liệt, ông dao động, lúc đầu định dọn nhà lên thị xã Long An ở. Tỏ, con gái ông và Lẫm yêu nhau, nhưng ông Chín không nhận lời gả Tỏ cho Lẫm, vì còn giận trước đây khi ông hỏi chị của Lẫm cho con trai ông, chị của Lẫm không bằng lòng. Đến khi tên chiêu hồi Chôm cùng đoàn bình định về xã ở ngay trong nhà ông, ông và Tỏ buộc lòng phải tiếp đãi hắn, hắn lại dùng mẹo ly gián xúc xiểm cho mọi người nghi ngờ lẫn nhau, bà mẹ Lẫm ngờ ông Chín và Tỏ chỉ vạch cho địch biết Lẫm đã về làng. Tỏ đã đau khổ vì đã lỡ duyên với Lẫm, đau khổ vì cha mình tự tư cầu an, mắc mưu vừa đe dọa vừa phỉnh phờ của địch, lại càng đau khổ hơn vì mình bị bà mẹ Lẫm nghi ngờ ghét bỏ.
"- Làm gì mà khóc?"
Lẫm muốn an ủi cô. Từ lâu, anh biết Tỏ hay ghen tỵ với người khác vì anh Ba thì đi lính ngụy - chỉ còn anh Hai - nhưng ở tận ngoài Bắc xa xăm. Anh cũng hiểu điều cha con làm trong hai ngày nay, Tỏ không vui chút nào. Nhưng tiếng thở than còn chứa đựng cả nỗi khổ cực trong lòng. Mới hăm hai mà Tỏ tự coi như đã lỡ làng, sau chuyện lứa đôi không thành với Lẫm. Chuyện đó do chị Tư Cải nói khi anh chưa lên tỉnh. Hôm đó thấy anh tới nhà chị, chị bảo giống hồi nào:
- Con Tỏ mới chơi đây về. Cũng nằm đưa võng như cậu.
- Hôm trước thấy ông thày dạy may của cô vô thăm, chắc hai đằng có chuyện gì hả chị?
- Nó ghét cái ông đó dữ lắm. Đờn ông gì đem tóc đi uốn!
- Chê hoài thì biết chừng nào có chồng.
- Thì nó cũng nói hoài với tôi là lỡ làng rồi, không chừng sau này nó xin anh Hai nó một đứa con, cô cháu hủ hỉ với nhau...
Thực ra Lẫm đoán sai. Lúc này trong thâm tâm Tỏ không muốn nghĩ tới cuộc đời mình. Tất cả tựa hồ như một chiếc bánh ngọt non đường, non lửa. Lâu nay, Tỏ hằng nghĩ cái bờ ruộng ngày xưa nay nước ngập mất rồi. Chỉ còn nghĩ phải làm gì để bổn phận người dân của mình được như bà con".
Tỏ vẫn nhớ mối tình cũ, sợ không dám gặp bà mẹ Lẫm, nhưng vẫn lo lắng chăm sóc cho vợ, con Lẫm, mâu thuẫn nội tâm đó đã tạo nên mạch ngầm của chuyện và tiểu thuyết, bật lên từ chất ký và truyện cũng phân biệt với nhau ở đó.
Ngoài việc xây dựng thành công những nhân vật quần chúng đủ loại như chị Tư Cải, út Nhỏ, bà Sáu Mành thuộc... Đinh Quang Nhã còn xây dựng được hai nhân vật độc đáo: Xích và Chôm. Xích là một em nhỏ tự nguyện làm liên lạc cho cách mạng, nhanh nhẹn, tháo vát, dũng cảm, quên mình, nhưng do sống trong xã hội miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy, cộng thêm hoàn cảnh gia đình mồ côi nghèo cực, nên khôn trước tuổi và sính nói tiếng Mỹ:
"Thằng bé chẳng hiểu nghĩ gì, hai tay đều đưa lên ngực lấy hết hơi hít một cái dài. Đoạn lắc đầu như ngao ngán điều gì:
- Trời ơi! Hết biết!
Cũng không hiểu nó định nói gì, nhưng Lẫm nhắc lại câu vừa nói với nó. Thằng bé lắc đầu mái đầu đỏ hoe:
- Nô! Nô!
Hồi lâu Lẫm mới nhận ra nó trả lời bằng tiếng Mỹ: Không, không (thoáng trong trí Lẫm một ý nghĩ: Hễ Mỹ tới đâu thì trẻ con bập bẹ tiếng chúng trước nhất, đâu cũng vậy. Các em như một tờ giấy trắng...) Anh gượng cười thì thằng bé lại nói:
- Dư biết nên mới lựng khựng kiếm chỗ nào chắc ăn mới vô đấy chứ, Chôm là một thanh niên trong làng, bạn cùng đội banh với Lẫm, từng đi theo giải phóng, làm nhơn viên tài chính, nhưng do hủ hóa, bị phê bình cảnh cáo, nên bất mãn chạy theo giặc. Là một tên chiêu hồi, hắn trở thành một trong hai trăm hạt nhân được địch huấn luyện làm công tác tâm lý chiến, đi "bình định bước đầu".
- Để anh Tám bắc nước, em gái đi mượn bàn nạo đi. Chịu khó chút mà, gà này cà ry mới ngon. Bộ lòng thì xào chua ngọt, ba với anh uống ba sợi.
Hắn khà khà cười. Tuy trân tráo sỗ sàng quen thói, song phải công nhận hắn hơn những thằng cùng bọn một cái là biết ít nhiều cách sống với dân mà hắn học được trong những ngày còn theo giải phóng. Nghĩa là hắn có cùng làm. Vả lại một câu nói, một việc làm hôm nay của hắn còn đạt được nhiều kết quả khác nhau: anh em, cha con cho ra thân mật nhưng một nửa muốn dợm bước sang lĩnh vực tình cảm khác. Đó cũng là điều mà mà thiếu tướng cho phép lúc huấn thị hai trăm hạt nhân... Vậy đó, dại gì không làm? Cấp trên người ta nói khéo, chớ ai lại đi nói toạc móng heo ra? Khà, khà. Hắn lại cười vì dòm thấy thêm bên kia bờ mương bà mẹ Lẫm ngồi nhóng cao như có ý nghe ngóng điều gì xẩy ra bên này. Khà khà. Bà già đã chắc để ý coi thái độ gia đình này đối với mình ra sao đây. Được, sẽ "anh anh em em" già lên chút nào. Nghĩ tới đó, mắt trái hắn bỗng như như bị khói thuốc bay vô mắt”. ở đây tác giả đã nêu nên ảnh hưởng của điều kiện văn hóa tinh thần đối với con người, nhưng cũng phân biệt rõ phương tiện và mục đích: Xích sính nói tiếng Mỹ nhưng hết lòng trung thành với cách mạng, Chôm tranh thủ tình cảm của dân để phục vụ cho âm mưu chia rẽ, ly gián nội bộ hàng ngũ cách mạng. Với chiến thuật "vừa đánh vừa xoa", Chôm không những đã khác với bọn Mỹ, bọn áo vàng, mà còn khác với ẩn, tên trưởng đoàn bình định áo đen ở chỗ từng là người của ta, hiểu rành về nội bộ của ta, nhưng phản bội, nên càng nham hiểm thâm độc hơn, khó đối phó hơn. Việc hắn tán tỉnh Tỏ vừa thuộc tính người của hắn, vừa mang tính xã hội ở chỗ nằm trong âm mưu chia rẽ của địch.
Nếu bà con miền Nam thường nói, ta đánh Mỹ là đánh có bài bản thì có thể nói Đinh Quang Nhã viết tiểu thuyết Đất trong làng là "viết có bài bản".
Mỗi nhà văn có một cách viết truyện ngắn. Có người chỉ cần sự hấp dẫn bên ngoài đã có thể viết ngay được một truyện ngắn. Có người cần một sự kiện có sức lay động sâu xa bên trong mới có thể hạ bút viết được. Nếu loại trên đòi hỏi sự thông minh nhạy bén trong việc nắm bắt chi tiết về hành động tính cách nhân vật thì loại dưới lại đòi hỏi phải có xúc động thật sự trong lòng, người viết mới có thể đi vào tình cảm, tâm lý nhân vật, vẽ nên diện mạo tâm hồn của con người. Đinh Quang Nhã thuộc loại nhà văn thứ hai này. Trong tập truyện ngắn Đêm xa của anh, các nhân vật chính đều có một tâm sự, một nỗi niềm, một cảnh ngộ nào đó. Nhiều khi kín đáo và u uẩn, nhưng vẫn toát lên một cái trong sáng và nhân hậu. Một cô gái miền Bắc lấy chồng là cán bộ miền Nam tập kết sau anh hy sinh ở chiến trường. Sau ngày giải phóng, chị ở trong đoàn đại biểu vào thăm tỉnh kết nghĩa nhân đó chị được đặt chân lên mảnh đất quê chồng nơi anh đã sinh ra và lớn lên. Được bà má miền Nam tiếp đón nồng nhiệt hứa làm mai cho chị, chị nói người yêu chị cũng người tỉnh nhà nhưng dấu không nói là anh đã hy sinh để giữ trọn niềm vui cho buổi gặp mặt. Đêm ở nơi xa lạ trở thành gần gũi như trong một gia đình, không phân biệt Bắc Nam (Đêm xa). Một đoàn học sinh cũ hồi chín năm nay đã trở thành người có cương vị xã hội đáng kể, sau ngày giải phóng trở về tìm thăm lại thầy cũ và vợ chồng người lao động của trường hồi kháng chiến chống Pháp, qua đó cảm nhận được hy sinh thầm lặng của bao người không tên tuổi cho cuộc sống hôm nay (Chiều đó). Một em nhỏ tặng con cá lia thia mà em quý nhất cho một anh thanh niên vì hai ngày nữa anh đi bộ đội (Cá lia thia Rạch Giá).
Những con người tốt không phải tự thân mà còn do sự tác động của môi trường, hoàn cảnh chung quanh: cuộc sống mới sau ngày giải phóng đã biến đổi dần con người từ những cái nhỏ nhặt nhưng có ý nghĩa lớn lao, cả với những con người bản thân hay gia đình từng dính líu với họ được hưởng độ lượng, khoan hồng của cách mạng để làm lại cuộc đời. Chi tiết cần xé trứng vịt rớt "coi vậy chứ không bể hết đâu" mang hàm ý triết lý khá đắt (Những quả trứng vỡ).
Tác giả lên án cái xấu cũng bằng giọng thủ thỉ, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu cay. Trên cái nền những người biết lo lắng việc chung, hiện lên lù lù hình ảnh một anh chàng vun vén riêng tư, mặc áo mưa đi đôi giầy bố đen cao cổ phảng phất một thứ "người mang áo bao" của Tsê-khốp (Trong mênh mông).
Hình ảnh anh bộ đội ở chiến trường Campuchia về đối lập gay gắt với hình ảnh hai cô gái ở sạp bán những hàng hóa đắt tiền, anh tài xế tư túi móc ngoặc, những kẻ buôn vé xe chợ đen - mảng còn tối của cuộc sống (Nhiều người đi qua thành phố) - Thái độ của tác giả đối với cái tiêu cực là bình tĩnh, vững tin vào sự chiến thắng của cái tích cực "ngày ngày có bao người lính giản dị đi dưới vòm trời này".
Cái xấu có nguồn gốc sâu xa chớ không phải trong một sớm một chiều, một kẻ đã nhẫn tâm bỏ rơi đồng đội trong chiến trường, thì sau hòa bình, không thể trở thành một người chồng tốt được vì căn bệnh ích kỷ cá nhân càng được thể hoành hành. ý nghĩ của người anh được em gái mời về hỏi ý kiến về người chồng tương lai của nó, chỉ trong buổi sáng và ban đêm đã khác hẳn nhau vì đã nhận thức được điều chủ yếu đó (Buổi sáng và ban đêm).
Cha mẹ không nên chỉ quan tâm đến "chỗ ngồi" của con mình trong cuộc đời có được thuận lợi không mà trước hết phải biết làm gương cho chúng noi theo "Điều đáng quan tâm nhất lại ở ngay lòng mình".
Truyện Mặt đất chưa dứt rung chuyển (tuần báo văn nghệ Tp. HCM từ số 88 đến số 91, tháng 10 - 1979), viết về Lệ, một cô gái trẻ và khá đẹp, bị chấn thương do bom Mỹ gây ra. Bây giờ cô hóa điên (đập phá, chửi mắng bố mẹ, lúc nóng, lúc lạnh, rất thích con trai...). Tác giả viết: "Chuyện nhà của anh Tám chỉ là một ví dụ trong những tội ác lớn nhất: chúng nó làm cho người đang sống cũng thành như người đã chết rồi. Tương lai của cô gái đang phơi phới kia còn gì nữa đâu, nếu ta không lo chữa trị cho nó... Đất dưới chân mình cho tới bây giờ, vẫn chưa dứt rung chuyển vì bom đạn của thằng Mỹ".
Đinh Quang Nhã là một nhà văn viết kỹ và chắc tay. Trong truyện ngắn của anh, các chi tiết đồng hiện, cái tốt, cái xấu đan cài lẫn nhau, chuyển hóa với nhau, động tác tiến chậm nhưng ý vị triết lý thấm dần vào lòng người đọc. Điều đó đôi khi làm cho người đọc nóng tính sốt ruột cho là anh hơi kề cà. Nhưng chính cái đó lại làm nên phong cách riêng biệt của Đinh Quang Nhã. Thích hay không là tùy tạng người, chỉ biết rằng tác giả đã làm việc cần mẫn và nghiêm túc, mong góp một tiếng nói thiện chí giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống ở các tỉnh phía Nam sau ngày giải phóng./.
H . A
(Tạp chí Nhà văn)
Hoài Anh
Tôi đã đọc truyện Người nuôi bê tông của Đinh Quang Nhã đăng trên báo Văn học, khi anh mới ra tập kết miền Bắc. Khi anh Nhã vào chiến trường, đọc truyện Mùa nấm tràm ký tên Đinh Quang Nhã từ miền Nam gửi ra miền Bắc, tôi thấy người xưa cảnh cũ ở quê Nam sống lại in đậm dấu vết trên từng trang viết của anh, tôi nghĩ thầm anh như "cọp về rừng" tha hồ vùng vẫy. Nhà văn Đoàn Giỏi viết bài giới thiệu Mùa nấm tràm trên Tạp chí Văn nghệ cũng viết:"Cậu Ba à, gà của cậu đã "trổ mã" rồi đấy". Thế nhưng tính vốn điềm đạm chín chắn, anh không bao giờ đưa ngòi bút của mình đi quá đà, mà có sự bình tĩnh chắt lọc từng chi tiết để những dòng chữ của mình có hiệu quả hơn, thấm sâu hơn vào lòng người đọc. Với anh, phải để cho tài liệu, sự việc lắng đọng lại thành tình cảm trong lòng mình đã rồi mới cầm bút viết. Vừa chú ý đến việc xây dựng những tính cách con người Nam Bộ "dọc ngang" cao cả, trọng nghĩa tình, xem thường phú quý và uy quyền, anh còn thể hiện cái bên trong của họ có sự mềm mỏng, ý nhị và đáng yêu. Anh cũng rất quan tâm dựng cảnh sắc của vùng đất Nam Bộ để làm nền hoạt động cho con người.
Nếu có nhà văn Văn nghệ giải phóng nào đó còn đem chi tiết "chém to kho mặn" để đưa vào tác phẩm, thì Đinh Quang Nhã đã có kỹ thuật chiên xào nấu nướng lành nghề. Những truyện viết về chiến sĩ và đồng bào miền Nam dũng cảm quên mình, bền gan đánh Mỹ, anh đều biết đưa thêm vào những chi tiết đậm đà hương vị quê hương, như những cọng rau ngò, nhành thì là điểm vào làm dậy mùi món ăn.
Như chi tiết nấm tràm trong Mùa nấm tràm được anh khai thác khá đắt.
Một cán bộ giải phóng xưng Tôi ghé vào nghỉ ở nhà đồng bào, bà má đi họp về mang theo một ít nấm tràm: "Tôi kinh ngạc hết sức. Hồi "chín năm", tôi từng sống ở rừng U Minh dưới miền Tây. U Minh là rừng tràm lớn nhất, có thể nói là cánh rừng nổi tiếng về nhiều mặt của Nam Bộ. Thế nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói tới nấm tràm cả.
Không kịp xỏ chân vô dép, tôi chạy tới bếp để xem nấm tràm. ờ, những tai nấm tím thắm thiết, óng ả và trang nghiêm. Tai nấm đang búp, vun lên như chiếc bánh bò xốp đổ bằng khuôn đứng. Nấm tràm tím, gợi cho tôi nhìn lại mình, nhìn lại nơi sâu nhất của trái tim mình. Tai nấm không to, giống mọi thứ nấm, duy sắc nấm tôi chưa thấy loại nào có. Nấm tràm cũng làm cho tôi liên tưởng đến một người bạn thân thiết đang ở xa, phía cuối chân trời.
- Nó mọc ở đâu má, trên cây tràm mục à? Ăn được không?
- Trời đất, thằng Tư mày chưa thấy à?
Ông già lại hỏi tôi, nhưng lại trả lời ngay những điều tôi muốn biết. Ra là loại nấm ăn có vị như khổ qua. Càng ăn càng thấy ngọt ở đầu lưỡi và cổ. Nấm tràm là nguồn thức ăn rất ngon và bổ cho bộ đội và đồng bào tản cư.
Nấm gợi lên tình cảm nhưng cũng là món ăn vật chất ngon lành. “... Trong bữa cơm chiều, món ăn ngon nhất có lẽ là tô nấm tràm xào mỡ. Những tai nấm tím, áo ngoài một lớp mỡ, óng mượt lên. Những cọng hành xanh lẫn vào nấm thơm. Thịt nấm mềm mại mà lại giòn, cứ để lại đầu lưỡi dư vị ngòn ngọt đậm đà như đồng quê mộc mạc mà đậm tình”.
Khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, tác giả cũng không quên nấm: "Đêm nay chắc là ngủ ngon lắm đây, tôi nghĩ thầm. Bên cạnh giấc ngủ của tôi có bà mẹ và ông cha che chở cho tôi, giống như bầu trời mịn màng đầy sao trùm xuống cánh đồng nhỏ.
Ông già ngó ra ngoài, che mắt nói lớn:
- Sao mọc dày, mai nắng. Thế nào nấm cũng mọc nhiều”.
Giữa đêm, có hai chiến sĩ Giải phóng ghé vào nghỉ, từ khi biệt chủ nhà lên đường, bà má đưa cho hai anh gói mắm cá lóc và gói nấm tràm, nhưng ác anh chỉ nhận gói nấm tràm, còn gói mắm cá lóc thì không dám cầm vì sợ bọn con gái cười. Cuối truyện vẫn là hình ảnh nấm tràm trở thành biểu tượng chứa ý tư tưởng.
"Tôi ao ước được là một phần của anh út. Chẳng có gì hết, về quê nhà một lát, ăn chén cơm nguội với mắm sống, rồi nằm khèo ra đó ngủ... Nhưng hơn tất cả là được nhận những câu la mắng của người mẹ rồi ra đi. Như những tai nấm sáng ngày sẽ nở nhiều, đêm ngắn ngủi vừa qua làm nảy nở trong anh bao niềm vui, nó mạnh hơn cả sắt, cả thép. Nếu không có ở đây đêm nay, tôi chắc cũng không hiểu được cái qúy giá của góc rừng này giống như những tai nấm nuôi bộ đội và đồng bào quanh vùng, lẫn trong cỏ rậm rất khó thấy được".
Chi tiết rau om đất trong Rau om đất cũng mang tác dụng và giá trị như vậy. Một cán bộ giải phóng ghé vào nghỉ trong nhà một chị bán nước đá, khi bước ra cửa, nhìn thấy: "rải rác trên mặt ruộng rau om mọc xanh theo các vệt trũng. Hết nhìn dưới chân mình, anh lại nhìn ra xa. Rau om còn mọc đến nơi nào? Rau om cũng đang mùa hoa, ở mỗi đầu ngọn rau đều nở một bông tím nao nao. Anh ngắt lên cầm tay nhìn hoài mà có có cảm giác chưa thấy hết màu hoa. Anh băn khoăn: rau om thơm ở hoa hay ở lá?" Chị chủ nhà đang nấu canh rau om om cho anh ăn thì địch đổ quân, chị bảo con đưa anh lánh đến xóm Cây Tràm, còn chị thì gánh súng ống, ba lô đến đó cho anh: "Chị tươi cười đặt gánh trên vai xuống. Vầng trán cao hơi dô của chị mồ hôi lấm tấm. Anh hiểu chị gánh cái gì đến giao cho mình. Nhưng anh không hề nghĩ trên mặt đôi thúng dưới hai đầu gánh, chị phủ ngụy trang một lớp rau om đất xanh non. Vừa cúi người đón lấy các đồ vật, hương rau om làm anh cảm như nó bỗng lan vào tận tim mình, tím ngắt như một khoảng chân trời".
Chi tiết rau om lại được dùng lại một lần nữa trong đoạn cuối: "Anh nằm trên võng mà không hết nghĩ ngợi, đầu gối lên ba lô. Hương rau om đầm ấm đâu đó lại thoảng lên, giống như tiếng gió xạc xào lúc xa lúc gần. Anh thú vị dòm quanh: đất chỗ nào cũng thơm. Giây lâu anh mới tìm thấy: do từ sáng chị bỏ nắm rau om đất ngụy trang trên mặt thúng nên hương rau thấm đẫm vào ba lô mình".
Trên đặt câu hỏi: "Anh băn khoăn: rau om thơm ở hoa hay ở lá?" thì dưới trả lời: "Đất chỗ nào cũng thơm". Hương rau ở đây lại trở thành biểu tượng cho tình đất, tình người.
Chi tiết bằng lăng trong Trên rừng bằng lăng mở đầu miêu tả: "Bạn ơi! ở nơi kia có bao giờ bạn đi dưới một cánh rừng bằng lăng chưa? ấy là các thứ cây rừng bạc trắng, từ xa đã thấy gồ lên cái thế khỏe khoắn sạch sẽ riêng biệt. Gốc bằng lăng thường có nhiều khía, vỏ lỗ chỗ y như thể mưa vừa để lại dấu vết. Bằng lăng bông tím do những cành nhỏ tụ lại giống như kỷ niệm của nhiều năm tháng chảy về. Mùa bông băng lăng cũng là mùa mưa, mùa của tiếng suối sôi réo, mùa măng non trắng".
Bằng lăng ở đây lại là tượng trưng cho cô Dũng, làm nhân viên đánh máy cho một trạm giao liên, sốt sắng giúp đỡ mọi người kể cả việc đi đưa khách thế cho đồng đội. Nghe tin chồng hy sinh, cô vừa nuôi đứa con độ chín tháng sau khi ra đời không biết mặt cha, vừa dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ. Nhân vật Tôi ban đầu tưởng cô không biết chồng mình đã chết, nên kín đáo tặng cô một xấp vải, nhưng cô không nhận, và nói:
"Dạ, em còn có đứa con của chồng em. Bây giờ hai mắt cô đã ráo nước. Em phải gượng dậy làm việc. Em xin hứa chắc với anh như vậy đó, anh Hoằng à.
Tôi thở một hơi mạnh, khoan khoái cảm như có một ngọn gió thổi qua rừng. Cùng với nắng, lá bằng lăng khô rào rào đổ xuống như một đàn bướm. Bướm với nắng từng mảnh nhỏ lẫn vô nhau, lượn ra xa không rớt xuống".
Khi chia tay với cô Dũng: "Cô mò mẫm tìm đến mọi người để chào. Từ giờ đây tôi cũng chia tay với cô, tôi sẽ đi thẳng xuống, cô quay lại với cánh rừng bằng lăng sắp nở hoa tím. Nói gì với cô đây, người phụ nữ lớn hơn vóc dáng của mình, hơn cả cái tên mình?" Nếu ở đoạn trên, bướm lẫn vào với cánh rừng bằng lăng, thì ở đoạn kết hình ảnh cô Dũng lại lẫn vào cánh rừng bằng lăng, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc.
Chi tiết cây tràm khô trong truyện Nước cũng rất gợi cảm.
Nhân vật tôi được một chú giao liên tên út Tặng đưa đi, khi đến trạm giao liên vào nghỉ ở một nhà dân, bắc sàn trên đồng nước, hễ nước lên sàn ngập lại phải lội xuống kê cao lên, không ngờ anh chủ nhà lại chính là bố út Tặng: "Anh chủ nhà vục ấm trà xuống nước, tháo bã cũ để pha một ấm mới uống thêm. Có lẽ cái việc anh dòm tôi hoài là để coi tôi gặp Tặng đó có thật không, chớ còn anh coi chuyện hai cha con anh cũng là sự thường thôi nghĩ ngợi làm chi trên đồng nước này. Vừa lúc đó anh trưởng trạm trắng trẻo từ ngoài kia đã quay vào. Tới thẳng chỗ chúng tôi. Người trưởng trạm cũng chẳng nghĩ gì ghé đít vô ngồi. Vẫn chiếc quần tiều sọc đỏ sáng, trên tay cầm một cây tràm con lượm trong bụi tràm mới đốn kế nhà của cô gái nhà bên".
Đoạn kết, hình ảnh cây tràm khô trở thành tượng trưng cho cái làng trên nước, và biểu tượng cho cuộc chiến đấu ở đây.
Chi tiết ngôi sao trên bầu trời đồng tro trong Đồng tro, cũng có ý nghĩa khái quát: tình yêu trong chiến tranh. Sử một giao liên vùng trắng được lệnh đi đón đồng chí để tìm biện pháp nối lại đường dây bị đứt. Chưa gặp đồng chí mình cần gặp, nhưng thấy người của ta sắp lọt vào ổ phục kích của địch, anh đã nổ súng để báo động cho đồng đội. Mở đầu, tác giả tả cánh đồng cỏ gắn với tình cảm của Sử nhớ người yêu.
Sở dĩ Sử xông ra cứu nguy cho anh em mặc dù không thuộc phạm vi mình phụ trách cũng vì muốn tỏ ta xứng đáng với tình yêu của Ngoan. Đoạn kết, tác giả viết:
"Vừa lướt qua nền sao nhấp nháy, anh liền chợt nhớ: chẳng hiểu chiếc nào là ngôi sao của Ngoan. Tự dưng Sử thấy khuôn mặt một cô gái với vầng trán dô hơi bướng bỉnh, nghịch ngợm. Gió thổi tung món tóc lòa xòa bên thái dương. Cô nhìn anh, đôi môi mỏng ướt đỏ tươi cười: "Chào đồng chí giao liên miền Đông! ác liệt lắm hả anh? Em sung sướng vì anh..."
Có người nói, tình yêu là đề tài vĩnh hằng, nhưng cũng cần phân biệt tình yêu cao cả nâng con người lên và tình yêu thấp hèn dìm con người xuống. Saint - Exupéry nói: "Yêu không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng". Sử và Ngoan ở hai nơi nhưng cùng nhìn về một hướng, nên Sử nhìn ngôi sao mọc trên bầu trời đồng tro cũng như nhìn thấy Ngoan.
Tiểu thuyết không tách rời nổi câu chuyện, bởi vì câu chuyện là cái khung của tiểu thuyết; tiểu thuyết càng không tách rời nổi tình cảm, bởi vì tình cảm là ánh dương của tiểu thuyết. Rodin có một câu danh ngôn: "Nghệ thuật tức là tình cảm".
Nhà tiểu thuyết tại sao phải viết tiểu thuyết? đương nhiên là do sự thúc đẩy của tình cảm. Jean Paul Sartre trong Tại sao viết? chỉ ra: Nhà tiểu thuyết sở dĩ viết, là bởi chịu sự khu sử của một tình cảm mạnh mẽ.
Truyện Đinh Quang Nhã đã thể hiện thứ tình cảm mạnh mẽ đó bằng những màu sắc, cung bậc, hình thái khác nhau. Anh chủ nhà trong Nước, nói về con mình:
"Có đứa nào nữa? Độc nhất một thằng thì đã đi rồi! Anh coi, hồi mới mười tuổi nó đã đòi đi theo giải phóng. Cắt nghĩa cho nó nghe, con nít không biết bắn súng, nấu cơm, tự giặt quần áo... thì không ai người ta chịu thâu nhận vô hàng ngũ đâu. Dỗ dành hoài, giữ lại nhà được hai năm. Năm mười hai tuổi, má nó năn nỉ thêm không được, phải cho theo. Nhưng bộ đội chê. Nhỏ quá. ổng cứ nhè tôi bắt đền và cự má nó: "Tại bây giờ má mới chịu cho đi nên người ta không nhận, chứ hồi đó để người ta đi thì người ta đi được rồi". Anh coi ổng nói ngang như cua không? Nó tán già, cuối cùng má nó vận động được tôi: "Thôi, ba nó coi chỗ nào xin cho con đi, thấy nó bực dọc thương quá". Kỳ cục xin cho nó vô làm giao liên, ngành đường dây bán quân sự.
Anh tiếp:
- Nhưng mà thằng nhỏ tôi ngon lắm anh. Mười hai tuổi thoát ly theo cách mạng, mười ba tuổi thì một mình hạ tại trận chiếc trực thăng vậy hè".
ở đây, tình cảm sung sướng tự hào về con đã thắng tình thương nhỏ hẹp.
Còn cô Dũng thương con lại nựng con bằng cái giọng hờn dỗi, trách mắng: Nè, tôi hỏi lớn làm được cái gì mà khóc hoài vậy cà? Con cái gì không giống ba rồi. Ba mười lăm tuổi đã trốn ông nội bà nội đi theo cách mạng giải phóng đó nghe.
Miệng mắng con nhưng trong thư viết cho chồng cô lại khen con:
"Càng lớn, con càng có nhiều nét giống anh ghê lắm. Con không khó lắm anh à, con bú sữa em không hết, cũng đỡ vất vả anh nhỉ. Con "dữ lắm", lanh nữa, hồi mới hai mươi ngày là vo vo miệng muốn nói, hai con mắt tròn và đen đảo đảo tìm sáng coi thiệt là lanh. Em ngồi viết thơ cho anh đây, thì con đang ngủ. à em quên nói tóc con nhiều lắm, cái tóc cũng giống anh, nhuyễn lại đen nữa. Lúc con bú no là te tét cười coi thiệt là thương".
Cô viết như vậy cho chồng an tâm chứ thật ra lúc đó cô vừa bồng con vừa viết, còn đứa bé cứ nhè nhè khóc, chỉ có cô cười te tét với con. Tình thương chồng thương con của người phụ nữ Nam bộ được tác giả diễn tả thật độc đáo và thấm thía.
Trong Xanh Xanh, màu xanh của cô giao liên lại hòa lẫn với nền trời. Truyện nói về nỗi day dứt gần như đau đớn của một cô giao liên chiến trường vì nổ súng bắn máy bay Mỹ bảo vệ khách nên bị thương, phải về nghỉ dưỡng bệnh ở tuyến sau. Đoạn đầu tác giả viết:
- Cô gái trả lời với một người nào:
- Anh cứ yên lòng, giao liên có chết khách mới chết chứ.
Cô lại cười. Tự nhiên lòng tôi bỗng trở nên dễ chịu. Có lẽ nhờ tiếng cười đó. Cũng có lẽ ở câu cô vừa nói đĩnh đạc, dứt khoát. Và hình như cô đang dòm qua vai chị bác sĩ bạn cùng đoàn hướng tới tôi. Cũng cặp mắt đen huyền. Nhưng trùm lên tất cả là cái màu áo cô đang mặc, như da trời óng xanh. Tôi bỗng giật mình. Cô gái cứ dòm thẳng tôi, cái nhìn làm tôi nhắm lại. "Khi cô bắn máy bay "gió đàn, khói càng cất cao lên nhiều bựng lớn, y thể tới đây khói không vượt qua được bóng dáng thanh thanh mà vững chắc của cô gái đang sổng lưng. Vành môi trên của cô lúc này hình như mím lại. Cô đưa cả hai tay ra sau, búi gọn hai bím tóc. Chiếc áo xanh lại bị căng ra như sắp bay lên. Trực thăng đảo một vòng lớn, đuôi trút xuống, rất khó nhọc mới bay đi được.
... Đương kéo vạt áo cho thẳng thớm, vụt cái cô đã luồn vào buồng khói xách súng lao tới, chỉ còn vương lại trong mắt tôi một chấm xanh xanh... Lửa đỏ ngang dọc đan chéo trước mắt cô. Chiếc trực thăng vòng lại, đuôi nó cơ hồ sắp quật vào chấm xanh nhỏ...
Khi cô hạ được chiếc máy bay, bị thương, phải trở về tuyến sau: "Dáng tròn trịa, dong dỏng trong chiếc áo xanh nâng nâng giống một ngọn cây sức sống tràn trề đang dâng cao giữa đồng. Cô tới đâu, màu trời đan ngút khói ngan ngát xanh xanh theo lên..."
Nếu Xanh Xanh mang đầy chất thơ, thì A lại thấm đẫm chất hiện thực. Tác giả viết về các đồng chí đơn độc hoạt động ở vùng trắng để nói lên cái ý có những con người bên ngoài tưởng chừng như nhát vậy mà lại trụ được ở chiến trường lâu hơn ai hết. A phải nằm hầm, sốt rét, da xanh mét, lại chứng viêm xoang mũi mà vẫn quyết tâm ở lại chiến trường cho đến ngày A cởi áo ra gói các mẩu xương người chết văng ra từ hai cái mả đã bị trúng pháo mang về trả cho thân nhân người chết, là một chi tiết cảm động, bên cạnh hình ảnh đậm đà hương vị quê Nam "Đậu đũa nở bông tim tím lác đác trên giàn, lẳng lặng như có ai lâu buông một tiếng đờn".
Đọc câu trên, tôi nhớ lời Babel nói với Paoutovski: "Một sự so sánh phải chính xác như một định lý toán học và tự nhiên như hương thơm của cây hồi hương". Sự so sánh của Đinh Quang Nhã quả là vừa chính xác vừa tự nhiên. Thí dụ: "Mây trên trời lúc này cũng lạ, dồn đống lại đầu như hình con trâu cồ, đuôi tựa thể cặp chân người đang lội trong nước" ... "Đêm vắng tàn dần. Mới đó ngày lại tới như trời chỉ thiêm thiếp rồi lại bừng mắt. Buổi sớm ở ngay trước mặt Lẫm, đỏ hồng như trái dưa hấu bổ đôi. Sinh khí buổi sớm luồn vào dưới áo sơ mi xanh dợt của anh dịu dàng và lần lần cũng cuồng nhiệt như một sự say đắm".
Trong Đất trong làng (1974) Đinh Quang Nhã đã chọn được hoàn cảnh điển hình: một xã ở Long An gần lộ 4, Long An ở sát nách Sài Gòn, vòng từ phía Nam đến phía Tây thành phố như một cánh cung, đó là bàn đạp quan trọng để tiến vào thành phố mùa xuân 1968. Tiểu thuyết đã chấm đúng vào thời điểm cuối năm 1968 gần đến tết Kỷ Dậu (1969). Về phía Mỹ, chúng cho trực thăng đến xúc dân ra ngoài lộ 4, đồng bào đấu tranh phá nhà tôn rào kẽm gai, trở về làng cũ. Chúng hết đưa bọn áo vàng về khủng bố, chém giết đồng bào, lại đưa tụi áo đen trong đoàn "bình định" về dụ dỗ mua chuộc, nhằm tách cán bộ ta ra khỏi dân để bề dễ "tát nước bắt cá".
Trong hoàn cảnh điển hình đó, tác giả đã xây dựng được một số nhân vật điển hình. Lẫm là một cán bộ xã, sau Tổng tấn công tết Mậu Thân được điều lên tỉnh, nhưng sáu tháng sau lại được cấp trên điều về xã bám đất, bám dân, xây dựng lại phong trào, củng cố cơ sở đoàn thể, vận động quần chúng đấu tranh, tiến hành hoạt động vũ trang, nhằm tạo thế và lực, phá kế hoạch "bình định cấp tốc" của địch.
Thời điểm Lẫm trở về làng, cũng là lúc Sành vợ anh có bầu sắp sanh, việc đó đã tạo cho tiểu thuyết một tình huống khẩn trương. Sành bị giặc đánh chết nhưng đứa con vẫn ra đời, lớn lên trong sự chăm sóc của bà con, chi tiết đó lại có giá trị biểu tượng: dù gian khổ ác liệt nhưng cách mạng giải phóng miền Nam nhất định sẽ thành công, tương lai đã bừng hiện vì đây chỉ là "đêm rớt" trước khi trời sáng, qua đó chủ đề của tiểu thuyết được nêu bật. Nhưng cái đó mới là mâu thuẫn giữa địch và ta, tác giả còn tạo thêm đường dây mâu thuẫn giữa nội bộ nhân dân: ông Chín Thừa, nhà ở cách nhà Lẫm chỉ một con mương, có tính tự tư, khi thấy địch khủng bố ác liệt, ông dao động, lúc đầu định dọn nhà lên thị xã Long An ở. Tỏ, con gái ông và Lẫm yêu nhau, nhưng ông Chín không nhận lời gả Tỏ cho Lẫm, vì còn giận trước đây khi ông hỏi chị của Lẫm cho con trai ông, chị của Lẫm không bằng lòng. Đến khi tên chiêu hồi Chôm cùng đoàn bình định về xã ở ngay trong nhà ông, ông và Tỏ buộc lòng phải tiếp đãi hắn, hắn lại dùng mẹo ly gián xúc xiểm cho mọi người nghi ngờ lẫn nhau, bà mẹ Lẫm ngờ ông Chín và Tỏ chỉ vạch cho địch biết Lẫm đã về làng. Tỏ đã đau khổ vì đã lỡ duyên với Lẫm, đau khổ vì cha mình tự tư cầu an, mắc mưu vừa đe dọa vừa phỉnh phờ của địch, lại càng đau khổ hơn vì mình bị bà mẹ Lẫm nghi ngờ ghét bỏ.
"- Làm gì mà khóc?"
Lẫm muốn an ủi cô. Từ lâu, anh biết Tỏ hay ghen tỵ với người khác vì anh Ba thì đi lính ngụy - chỉ còn anh Hai - nhưng ở tận ngoài Bắc xa xăm. Anh cũng hiểu điều cha con làm trong hai ngày nay, Tỏ không vui chút nào. Nhưng tiếng thở than còn chứa đựng cả nỗi khổ cực trong lòng. Mới hăm hai mà Tỏ tự coi như đã lỡ làng, sau chuyện lứa đôi không thành với Lẫm. Chuyện đó do chị Tư Cải nói khi anh chưa lên tỉnh. Hôm đó thấy anh tới nhà chị, chị bảo giống hồi nào:
- Con Tỏ mới chơi đây về. Cũng nằm đưa võng như cậu.
- Hôm trước thấy ông thày dạy may của cô vô thăm, chắc hai đằng có chuyện gì hả chị?
- Nó ghét cái ông đó dữ lắm. Đờn ông gì đem tóc đi uốn!
- Chê hoài thì biết chừng nào có chồng.
- Thì nó cũng nói hoài với tôi là lỡ làng rồi, không chừng sau này nó xin anh Hai nó một đứa con, cô cháu hủ hỉ với nhau...
Thực ra Lẫm đoán sai. Lúc này trong thâm tâm Tỏ không muốn nghĩ tới cuộc đời mình. Tất cả tựa hồ như một chiếc bánh ngọt non đường, non lửa. Lâu nay, Tỏ hằng nghĩ cái bờ ruộng ngày xưa nay nước ngập mất rồi. Chỉ còn nghĩ phải làm gì để bổn phận người dân của mình được như bà con".
Tỏ vẫn nhớ mối tình cũ, sợ không dám gặp bà mẹ Lẫm, nhưng vẫn lo lắng chăm sóc cho vợ, con Lẫm, mâu thuẫn nội tâm đó đã tạo nên mạch ngầm của chuyện và tiểu thuyết, bật lên từ chất ký và truyện cũng phân biệt với nhau ở đó.
Ngoài việc xây dựng thành công những nhân vật quần chúng đủ loại như chị Tư Cải, út Nhỏ, bà Sáu Mành thuộc... Đinh Quang Nhã còn xây dựng được hai nhân vật độc đáo: Xích và Chôm. Xích là một em nhỏ tự nguyện làm liên lạc cho cách mạng, nhanh nhẹn, tháo vát, dũng cảm, quên mình, nhưng do sống trong xã hội miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy, cộng thêm hoàn cảnh gia đình mồ côi nghèo cực, nên khôn trước tuổi và sính nói tiếng Mỹ:
"Thằng bé chẳng hiểu nghĩ gì, hai tay đều đưa lên ngực lấy hết hơi hít một cái dài. Đoạn lắc đầu như ngao ngán điều gì:
- Trời ơi! Hết biết!
Cũng không hiểu nó định nói gì, nhưng Lẫm nhắc lại câu vừa nói với nó. Thằng bé lắc đầu mái đầu đỏ hoe:
- Nô! Nô!
Hồi lâu Lẫm mới nhận ra nó trả lời bằng tiếng Mỹ: Không, không (thoáng trong trí Lẫm một ý nghĩ: Hễ Mỹ tới đâu thì trẻ con bập bẹ tiếng chúng trước nhất, đâu cũng vậy. Các em như một tờ giấy trắng...) Anh gượng cười thì thằng bé lại nói:
- Dư biết nên mới lựng khựng kiếm chỗ nào chắc ăn mới vô đấy chứ, Chôm là một thanh niên trong làng, bạn cùng đội banh với Lẫm, từng đi theo giải phóng, làm nhơn viên tài chính, nhưng do hủ hóa, bị phê bình cảnh cáo, nên bất mãn chạy theo giặc. Là một tên chiêu hồi, hắn trở thành một trong hai trăm hạt nhân được địch huấn luyện làm công tác tâm lý chiến, đi "bình định bước đầu".
- Để anh Tám bắc nước, em gái đi mượn bàn nạo đi. Chịu khó chút mà, gà này cà ry mới ngon. Bộ lòng thì xào chua ngọt, ba với anh uống ba sợi.
Hắn khà khà cười. Tuy trân tráo sỗ sàng quen thói, song phải công nhận hắn hơn những thằng cùng bọn một cái là biết ít nhiều cách sống với dân mà hắn học được trong những ngày còn theo giải phóng. Nghĩa là hắn có cùng làm. Vả lại một câu nói, một việc làm hôm nay của hắn còn đạt được nhiều kết quả khác nhau: anh em, cha con cho ra thân mật nhưng một nửa muốn dợm bước sang lĩnh vực tình cảm khác. Đó cũng là điều mà mà thiếu tướng cho phép lúc huấn thị hai trăm hạt nhân... Vậy đó, dại gì không làm? Cấp trên người ta nói khéo, chớ ai lại đi nói toạc móng heo ra? Khà, khà. Hắn lại cười vì dòm thấy thêm bên kia bờ mương bà mẹ Lẫm ngồi nhóng cao như có ý nghe ngóng điều gì xẩy ra bên này. Khà khà. Bà già đã chắc để ý coi thái độ gia đình này đối với mình ra sao đây. Được, sẽ "anh anh em em" già lên chút nào. Nghĩ tới đó, mắt trái hắn bỗng như như bị khói thuốc bay vô mắt”. ở đây tác giả đã nêu nên ảnh hưởng của điều kiện văn hóa tinh thần đối với con người, nhưng cũng phân biệt rõ phương tiện và mục đích: Xích sính nói tiếng Mỹ nhưng hết lòng trung thành với cách mạng, Chôm tranh thủ tình cảm của dân để phục vụ cho âm mưu chia rẽ, ly gián nội bộ hàng ngũ cách mạng. Với chiến thuật "vừa đánh vừa xoa", Chôm không những đã khác với bọn Mỹ, bọn áo vàng, mà còn khác với ẩn, tên trưởng đoàn bình định áo đen ở chỗ từng là người của ta, hiểu rành về nội bộ của ta, nhưng phản bội, nên càng nham hiểm thâm độc hơn, khó đối phó hơn. Việc hắn tán tỉnh Tỏ vừa thuộc tính người của hắn, vừa mang tính xã hội ở chỗ nằm trong âm mưu chia rẽ của địch.
Nếu bà con miền Nam thường nói, ta đánh Mỹ là đánh có bài bản thì có thể nói Đinh Quang Nhã viết tiểu thuyết Đất trong làng là "viết có bài bản".
Mỗi nhà văn có một cách viết truyện ngắn. Có người chỉ cần sự hấp dẫn bên ngoài đã có thể viết ngay được một truyện ngắn. Có người cần một sự kiện có sức lay động sâu xa bên trong mới có thể hạ bút viết được. Nếu loại trên đòi hỏi sự thông minh nhạy bén trong việc nắm bắt chi tiết về hành động tính cách nhân vật thì loại dưới lại đòi hỏi phải có xúc động thật sự trong lòng, người viết mới có thể đi vào tình cảm, tâm lý nhân vật, vẽ nên diện mạo tâm hồn của con người. Đinh Quang Nhã thuộc loại nhà văn thứ hai này. Trong tập truyện ngắn Đêm xa của anh, các nhân vật chính đều có một tâm sự, một nỗi niềm, một cảnh ngộ nào đó. Nhiều khi kín đáo và u uẩn, nhưng vẫn toát lên một cái trong sáng và nhân hậu. Một cô gái miền Bắc lấy chồng là cán bộ miền Nam tập kết sau anh hy sinh ở chiến trường. Sau ngày giải phóng, chị ở trong đoàn đại biểu vào thăm tỉnh kết nghĩa nhân đó chị được đặt chân lên mảnh đất quê chồng nơi anh đã sinh ra và lớn lên. Được bà má miền Nam tiếp đón nồng nhiệt hứa làm mai cho chị, chị nói người yêu chị cũng người tỉnh nhà nhưng dấu không nói là anh đã hy sinh để giữ trọn niềm vui cho buổi gặp mặt. Đêm ở nơi xa lạ trở thành gần gũi như trong một gia đình, không phân biệt Bắc Nam (Đêm xa). Một đoàn học sinh cũ hồi chín năm nay đã trở thành người có cương vị xã hội đáng kể, sau ngày giải phóng trở về tìm thăm lại thầy cũ và vợ chồng người lao động của trường hồi kháng chiến chống Pháp, qua đó cảm nhận được hy sinh thầm lặng của bao người không tên tuổi cho cuộc sống hôm nay (Chiều đó). Một em nhỏ tặng con cá lia thia mà em quý nhất cho một anh thanh niên vì hai ngày nữa anh đi bộ đội (Cá lia thia Rạch Giá).
Những con người tốt không phải tự thân mà còn do sự tác động của môi trường, hoàn cảnh chung quanh: cuộc sống mới sau ngày giải phóng đã biến đổi dần con người từ những cái nhỏ nhặt nhưng có ý nghĩa lớn lao, cả với những con người bản thân hay gia đình từng dính líu với họ được hưởng độ lượng, khoan hồng của cách mạng để làm lại cuộc đời. Chi tiết cần xé trứng vịt rớt "coi vậy chứ không bể hết đâu" mang hàm ý triết lý khá đắt (Những quả trứng vỡ).
Tác giả lên án cái xấu cũng bằng giọng thủ thỉ, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu cay. Trên cái nền những người biết lo lắng việc chung, hiện lên lù lù hình ảnh một anh chàng vun vén riêng tư, mặc áo mưa đi đôi giầy bố đen cao cổ phảng phất một thứ "người mang áo bao" của Tsê-khốp (Trong mênh mông).
Hình ảnh anh bộ đội ở chiến trường Campuchia về đối lập gay gắt với hình ảnh hai cô gái ở sạp bán những hàng hóa đắt tiền, anh tài xế tư túi móc ngoặc, những kẻ buôn vé xe chợ đen - mảng còn tối của cuộc sống (Nhiều người đi qua thành phố) - Thái độ của tác giả đối với cái tiêu cực là bình tĩnh, vững tin vào sự chiến thắng của cái tích cực "ngày ngày có bao người lính giản dị đi dưới vòm trời này".
Cái xấu có nguồn gốc sâu xa chớ không phải trong một sớm một chiều, một kẻ đã nhẫn tâm bỏ rơi đồng đội trong chiến trường, thì sau hòa bình, không thể trở thành một người chồng tốt được vì căn bệnh ích kỷ cá nhân càng được thể hoành hành. ý nghĩ của người anh được em gái mời về hỏi ý kiến về người chồng tương lai của nó, chỉ trong buổi sáng và ban đêm đã khác hẳn nhau vì đã nhận thức được điều chủ yếu đó (Buổi sáng và ban đêm).
Cha mẹ không nên chỉ quan tâm đến "chỗ ngồi" của con mình trong cuộc đời có được thuận lợi không mà trước hết phải biết làm gương cho chúng noi theo "Điều đáng quan tâm nhất lại ở ngay lòng mình".
Truyện Mặt đất chưa dứt rung chuyển (tuần báo văn nghệ Tp. HCM từ số 88 đến số 91, tháng 10 - 1979), viết về Lệ, một cô gái trẻ và khá đẹp, bị chấn thương do bom Mỹ gây ra. Bây giờ cô hóa điên (đập phá, chửi mắng bố mẹ, lúc nóng, lúc lạnh, rất thích con trai...). Tác giả viết: "Chuyện nhà của anh Tám chỉ là một ví dụ trong những tội ác lớn nhất: chúng nó làm cho người đang sống cũng thành như người đã chết rồi. Tương lai của cô gái đang phơi phới kia còn gì nữa đâu, nếu ta không lo chữa trị cho nó... Đất dưới chân mình cho tới bây giờ, vẫn chưa dứt rung chuyển vì bom đạn của thằng Mỹ".
Đinh Quang Nhã là một nhà văn viết kỹ và chắc tay. Trong truyện ngắn của anh, các chi tiết đồng hiện, cái tốt, cái xấu đan cài lẫn nhau, chuyển hóa với nhau, động tác tiến chậm nhưng ý vị triết lý thấm dần vào lòng người đọc. Điều đó đôi khi làm cho người đọc nóng tính sốt ruột cho là anh hơi kề cà. Nhưng chính cái đó lại làm nên phong cách riêng biệt của Đinh Quang Nhã. Thích hay không là tùy tạng người, chỉ biết rằng tác giả đã làm việc cần mẫn và nghiêm túc, mong góp một tiếng nói thiện chí giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống ở các tỉnh phía Nam sau ngày giải phóng./.
H . A
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,