Đã rêu mảnh vỡ sau nhà…
Văn Công Hùng
Đấy là cách tôi diễn dịch một câu thơ của Hương Đình, một trong không nhiều gã trai tài hoa và cả… đào hoa mà tôi đã gặp.
Tên thật là Trịnh Đào Chiến, tiến sĩ toán học, hiện là Phó giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Gia Lai, nhưng lại nguyên là học sinh giỏi văn và làm thơ từ rất sớm. Đã từng đoạt giải thưởng “Tác phẩm tuổi xanh” từ cách đây trên chục năm. Đã từng cặm cụi ngồi chép tay rồi trình bày đến mấy tập thơ của cả nhóm làm thơ thời “Hoa học trò”. Cái bút danh Hương Đình cũng chết từ cái hồi thơ học trò ấy cho đến tận bây giờ, khi đã có 2 tập thơ đầy đặn được xuất bản, và tên tuổi cũng đã được bạn đọc chú ý. Tây Nguyên, tôi đánh giá cao “cỗ xe tam mã” là Lê Vĩnh Tài ở Đăk Lắc, Đỗ Tiến Thụy ở Kon Tum và Hương Đình ở Gia Lai. Ba nhà thơ “chưa già” này cùng hàng chục cây bút sung sức khác đang làm cho đời sống văn chương ở Tây Nguyên khởi sắc, hoà nhập vào không khí văn chương đương đại. Xuất thân từ mảnh đất của “bàn thành tứ hữu”, nhà nằm trên cùng đường với nhà của nhà thơ Yến Lan, anh chịu ảnh hưởng của không khí thơ Bình Định từ trong máu. Tôi đã đến nhà anh ở thị trấn Bình Định, đánh đu với đám bạn thơ ngày xưa của anh và nhận ra rằng, ở không khí ấy, môi trường ấy… không thể không… làm thơ…
Cái không khí ấy nó thế này: Đêm cà tàng, lại tiếng đàn se thắt/ Người hát rong và não khúc lưu ly/ Xị đế muộn, bát cháo khuya xì xụp/ Rồi chòng chành mai sáng nối nhau đi. Rồi thế này: Tôi về/ Gác hẹp đong đưa/ Váng vất một tháng mười đâu đấy. Cái phố huyện này đã từng có mặt trong thơ Yến Lan, cũng không khí ấy, nỗi buồn man mác ấy… nhưng ở Hương Đình nỗi ám ảnh nó dịu ngọt hơn, tan loãng hơn so với Yến Lan.
Lên Gia Lai hai chục năm nay, Hương Đình mang cái gió mặn mòi của biển thổi vào màu vàng rực rỡ nhưng cũng se sắt của dã quỳ, của ba zan, thập thững những ý nghĩ cũng chập chùng nhấp nhô như thảo nguyên núi đồi: Lên đồi ngày mùa đông khô mưa không kịp nắng/ Bên kia là cánh rừng ngày nào ánh mắt đốt cháy/ Lá giờ xanh quá thể/ Chúm môi làm bão thổi qua mớ ngôn từ/ Ký ức váng vất, ký ức nhói buốt/ Kỷ niệm khô cong những mảnh bùn non/ Chiều cỏ thiêng ngồi xé bóng mình chắp bóng mình… để rồi nhận ra mình giữa chập chờn hư ảo ký ức: Tôi sẽ thắp cho lòng hai lượt nến/ Khum tay che về phía bão không ngờ/ Rồi phục sinh giữa hai miền sáng ấy/ Như cành thông trong sỏi đứng chơ vơ… và nhận ra cả những thảng thốt gửi vào cõi thức: Phố núi chiều chiều cơn mưa trái nết/ Vui thì lắt thắt/ Buồn thì dầm dề/ Đi dăm phút vương chút mù xa lắc/ Bạn bè còn đây/ Anh khách lạ chưa về…
Bề ngoài, Hương Đình là người thành đạt. Đẹp trai, học giỏi, thăng quan sớm. Nhưng cái nghiệp thơ khiến anh cứ như lạc vào cõi bất an, cô đơn, như nhặt lên tay được kiếp phù du để rồi lại cứ phù du gió, phù du mây, và cả phù du những mối tình rêu bám: Người ta về với người ta/ Ơ hơ mảnh vỡ sau nhà đã rêu. Có cái gì đó vừa mong manh vừa bền chắc trong cái nhìn, trong ý nghĩ, trong cả tiếng hờ bật máu mà lại như nhẹ tênh. Anh nói về nơi mình đã sống, đã gắn bó hơn hai chục năm qua: Cao nguyên/ Nơi này một phần tôi/ Những đứa trẻ hở rốn thun thút bên suối chiều/ Vuốt mặt nhìn chuyến xe qua lặc lè bụi đỏ/ Trung thu ngồi đếm ông sao/ Trung thu đi lùng cá chép/ Mấy giọt đèn thập thững vào đêm…/ Cao nguyên/ Nơi này một phần tôi/ Những tượng mồ ngồi ôm mặt khóc/ Vòng xoang chiều ché chiêng chóng mặt/ Mưa mờ thung lũng xa/ Và gió/ Gió những mùa di trú/ Vách đá chông chênh tiếng hú đại ngàn…/ Và đêm ấy giữa chiêng cồng tôi khóc…
Thơ Hương Đình nhẹ nhàng, thủ thỉ nhưng có sức lan toả. Chất dân ca được anh khai thác khá hữu hiệu. Đọc hai tập thơ đã xuất bản của anh và cả tập đang chuẩn bị xuất bản, thấy anh nhất quán trong cảm hứng tung tẩy mà dồn nén, câu chữ gọt giũa chắt lọc với những hình ảnh rất gợi Giờ xa lắc, biết ai còn đấy nữa/ Cuối đường ray là nẻo nhớ không tên/ Đêm khuya khoắt hụt chân ngoài gác trọ/ Hình như là râu tóc đỡ tôi lên…
Hương Đình say mê cả toán và thơ. Lâu lâu lại thấy chạy sang khoe với tôi một bài toán nào đó vừa được in ở một tạp chí nước ngoài nào đó. Tôi nhìn mà mù tịt. Y lại hào hứng giải thích về sự tương đồng giữa thơ và toán. Và tôi… ngơ ngác nghe. Rồi y lại tất bật vào các công việc sự vụ. Mà y nhiều việc sự vụ lắm, nguyên việc đi… họp đã chiếm của y bao nhiêu thời gian rồi. Mà không thể không họp bởi y là Phó giám đốc Sở kia mà. Y sướng nhất là vào mùa thi. Thế nào y cũng bị “nhốt” để ra đề và duyệt đề. Và y làm… thơ vào lúc ấy. Một “mùa” nhốt y làm được cả chục bài. Gần đây y viết cả truyện ngắn nữa. Đi học quân sự một tháng ở Đà Nẵng, y mang theo cả ba lô sách văn học, sách toán và khoe trước: Sẽ viết xong cái trường ca Sông khát. Tôi đã được đọc ba chương của cái trường ca này, và thấy hy vọng lắm…
V.C.H
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Văn Công Hùng
Đấy là cách tôi diễn dịch một câu thơ của Hương Đình, một trong không nhiều gã trai tài hoa và cả… đào hoa mà tôi đã gặp.
Tên thật là Trịnh Đào Chiến, tiến sĩ toán học, hiện là Phó giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Gia Lai, nhưng lại nguyên là học sinh giỏi văn và làm thơ từ rất sớm. Đã từng đoạt giải thưởng “Tác phẩm tuổi xanh” từ cách đây trên chục năm. Đã từng cặm cụi ngồi chép tay rồi trình bày đến mấy tập thơ của cả nhóm làm thơ thời “Hoa học trò”. Cái bút danh Hương Đình cũng chết từ cái hồi thơ học trò ấy cho đến tận bây giờ, khi đã có 2 tập thơ đầy đặn được xuất bản, và tên tuổi cũng đã được bạn đọc chú ý. Tây Nguyên, tôi đánh giá cao “cỗ xe tam mã” là Lê Vĩnh Tài ở Đăk Lắc, Đỗ Tiến Thụy ở Kon Tum và Hương Đình ở Gia Lai. Ba nhà thơ “chưa già” này cùng hàng chục cây bút sung sức khác đang làm cho đời sống văn chương ở Tây Nguyên khởi sắc, hoà nhập vào không khí văn chương đương đại. Xuất thân từ mảnh đất của “bàn thành tứ hữu”, nhà nằm trên cùng đường với nhà của nhà thơ Yến Lan, anh chịu ảnh hưởng của không khí thơ Bình Định từ trong máu. Tôi đã đến nhà anh ở thị trấn Bình Định, đánh đu với đám bạn thơ ngày xưa của anh và nhận ra rằng, ở không khí ấy, môi trường ấy… không thể không… làm thơ…
Cái không khí ấy nó thế này: Đêm cà tàng, lại tiếng đàn se thắt/ Người hát rong và não khúc lưu ly/ Xị đế muộn, bát cháo khuya xì xụp/ Rồi chòng chành mai sáng nối nhau đi. Rồi thế này: Tôi về/ Gác hẹp đong đưa/ Váng vất một tháng mười đâu đấy. Cái phố huyện này đã từng có mặt trong thơ Yến Lan, cũng không khí ấy, nỗi buồn man mác ấy… nhưng ở Hương Đình nỗi ám ảnh nó dịu ngọt hơn, tan loãng hơn so với Yến Lan.
Lên Gia Lai hai chục năm nay, Hương Đình mang cái gió mặn mòi của biển thổi vào màu vàng rực rỡ nhưng cũng se sắt của dã quỳ, của ba zan, thập thững những ý nghĩ cũng chập chùng nhấp nhô như thảo nguyên núi đồi: Lên đồi ngày mùa đông khô mưa không kịp nắng/ Bên kia là cánh rừng ngày nào ánh mắt đốt cháy/ Lá giờ xanh quá thể/ Chúm môi làm bão thổi qua mớ ngôn từ/ Ký ức váng vất, ký ức nhói buốt/ Kỷ niệm khô cong những mảnh bùn non/ Chiều cỏ thiêng ngồi xé bóng mình chắp bóng mình… để rồi nhận ra mình giữa chập chờn hư ảo ký ức: Tôi sẽ thắp cho lòng hai lượt nến/ Khum tay che về phía bão không ngờ/ Rồi phục sinh giữa hai miền sáng ấy/ Như cành thông trong sỏi đứng chơ vơ… và nhận ra cả những thảng thốt gửi vào cõi thức: Phố núi chiều chiều cơn mưa trái nết/ Vui thì lắt thắt/ Buồn thì dầm dề/ Đi dăm phút vương chút mù xa lắc/ Bạn bè còn đây/ Anh khách lạ chưa về…
Bề ngoài, Hương Đình là người thành đạt. Đẹp trai, học giỏi, thăng quan sớm. Nhưng cái nghiệp thơ khiến anh cứ như lạc vào cõi bất an, cô đơn, như nhặt lên tay được kiếp phù du để rồi lại cứ phù du gió, phù du mây, và cả phù du những mối tình rêu bám: Người ta về với người ta/ Ơ hơ mảnh vỡ sau nhà đã rêu. Có cái gì đó vừa mong manh vừa bền chắc trong cái nhìn, trong ý nghĩ, trong cả tiếng hờ bật máu mà lại như nhẹ tênh. Anh nói về nơi mình đã sống, đã gắn bó hơn hai chục năm qua: Cao nguyên/ Nơi này một phần tôi/ Những đứa trẻ hở rốn thun thút bên suối chiều/ Vuốt mặt nhìn chuyến xe qua lặc lè bụi đỏ/ Trung thu ngồi đếm ông sao/ Trung thu đi lùng cá chép/ Mấy giọt đèn thập thững vào đêm…/ Cao nguyên/ Nơi này một phần tôi/ Những tượng mồ ngồi ôm mặt khóc/ Vòng xoang chiều ché chiêng chóng mặt/ Mưa mờ thung lũng xa/ Và gió/ Gió những mùa di trú/ Vách đá chông chênh tiếng hú đại ngàn…/ Và đêm ấy giữa chiêng cồng tôi khóc…
Thơ Hương Đình nhẹ nhàng, thủ thỉ nhưng có sức lan toả. Chất dân ca được anh khai thác khá hữu hiệu. Đọc hai tập thơ đã xuất bản của anh và cả tập đang chuẩn bị xuất bản, thấy anh nhất quán trong cảm hứng tung tẩy mà dồn nén, câu chữ gọt giũa chắt lọc với những hình ảnh rất gợi Giờ xa lắc, biết ai còn đấy nữa/ Cuối đường ray là nẻo nhớ không tên/ Đêm khuya khoắt hụt chân ngoài gác trọ/ Hình như là râu tóc đỡ tôi lên…
Hương Đình say mê cả toán và thơ. Lâu lâu lại thấy chạy sang khoe với tôi một bài toán nào đó vừa được in ở một tạp chí nước ngoài nào đó. Tôi nhìn mà mù tịt. Y lại hào hứng giải thích về sự tương đồng giữa thơ và toán. Và tôi… ngơ ngác nghe. Rồi y lại tất bật vào các công việc sự vụ. Mà y nhiều việc sự vụ lắm, nguyên việc đi… họp đã chiếm của y bao nhiêu thời gian rồi. Mà không thể không họp bởi y là Phó giám đốc Sở kia mà. Y sướng nhất là vào mùa thi. Thế nào y cũng bị “nhốt” để ra đề và duyệt đề. Và y làm… thơ vào lúc ấy. Một “mùa” nhốt y làm được cả chục bài. Gần đây y viết cả truyện ngắn nữa. Đi học quân sự một tháng ở Đà Nẵng, y mang theo cả ba lô sách văn học, sách toán và khoe trước: Sẽ viết xong cái trường ca Sông khát. Tôi đã được đọc ba chương của cái trường ca này, và thấy hy vọng lắm…
V.C.H
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,